Để TQ xây chui nhà máy 20.000m2, Chánh văn phòng Sở Xây dựng Bắc Ninh: “Bờ biển mới sợ, chứ ở chỗ này sợ gì”
NEWSREADERR.COM
Để TQ xây chui nhà máy 20.000m2, Chánh văn phòng Sở Xây dựng Bắc Ninh: “Bờ biển mới sợ, chứ ở chỗ này sợ gì” – Thư viện cuộc sông
Về việc DN Trung Quốc xây “chui” nhà máy, Chánh văn phòng Sở Xây dựng Bắc Ninh nói: “Bờ biển mới sợ, chứ ở chỗ này sợ gì”. Như Báo phản ánh trong bài viết: “Bắc Ninh: Doanh nghiệp (DN) Trung Quốc xây xong nhà máy mới xin… giấy ph…
Đường Sài Gòn ngập tới yên xe, người dân ngã nhào trong nước ngập
Lo đóng tiền chống ngập nha.
Vừa ngập vừa bị mất tiền !!!
Dấu chấm hỏi dành cho người CSVN
Dấu chấm hỏi dành cho người CSVN
Nguyễn Ngọc Già (Danlambao) – Lương Hữu Phước – người đàn ông ngoại ngũ tuần đã nhảy lầu tự tử vào chiều 29 tháng Năm năm 2020 vì cho rằng bị oan ức, sau khi tòa án tỉnh Bình Phước do bà Lê Hồng Hạnh làm chủ tọa phiên phúc thẩm – vào sáng 29 tháng Năm năm 2020 – tuyên án 3 năm tù giam về tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Mức án được giữ đúng như trong phiên sơ thẩm.
Cho đến khi tin ông Phước nhảy lầu được lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội, dư luận mới ngỡ ngàng và bàng hoàng về số phận một người đàn ông, vốn chịu nhiều đau khổ trước đó, với một cuộc đời bất hạnh bị dòng đời xô dạt theo cái chết của người con gái…
Trôi từ Long An, ông Phước cùng 2 người chị dạt về Đồng Xoài, mua được mấy mẫu đất trong suối Bàu Năng, cuối cùng mảnh rẫy của ba chị em cũng bị thu hồi không một đồng đền bù!
Có lẽ Lương Hữu Phước đã chọn cho mình một cách ứng xử ẩn nhẫn nhất, cốt chỉ mong được sống một cuộc đời bình lặng, sau những dập vùi!
Lương Hữu Phước – một người đàn ông bình thường – không ai biết tới ngoài vài người bạn cũng bình thường nốt – lại trở thành đại diện cho nỗi oan ức của người Việt Nam – bằng cái chết bi thảm trong một vụ án thật… đơn giản (!)
Dấy lên trong suy nghĩ của người đời, lại là chi tiết “được tại ngoại” suốt 3 năm qua, để giấc sáng của phiên phúc thẩm nghe tuyên án, rồi giờ chiều cùng ngày, Lương Hữu Phước chọn ngay trụ sở tòa Bình Phước để nhảy lầu, không phải một nơi nào khác…
Có lẽ suốt 3 năm tại ngoại, sự việc người bạn chết cũng dần phai nhạt trong tâm trí Lương Hữu Phước – bởi vốn dĩ ngay cả luật sư cũng xác định, lỗi không phải của ông?
Có lẽ cũng vì thế, người ta có thể hiểu được tâm trạng của Lương Hữu Phước – một tâm trạng của người đinh ninh mình vô tội?
Có lẽ cũng vì thế, Lương Hữu Phước sốc nặng với lời tuyên án lạnh lùng từ bà thẩm phán Lê Hồng Hạnh?
Có lẽ cũng vì thế, trước khi nhảy lầu tự vẫn, ông Phước đã viết trên facebook cá nhân: “Nếu cái chết của tôi làm thức tỉnh nền tư pháp tỉnh Bình Phước thì cũng đáng lắm chớ!”?
Ba năm tù giam không phải là thời gian quá dài cho một cuộc đời, tại sao hành động nông nổi vậy?
Ba năm tù giam để đánh đổi cả một sinh mạng là điều dại dột?
Biết bao nhiêu người oan khiên gấp trăm lần, người ta vẫn không chọn cái chết, tại sao Lương Hữu Phước chọn?
Hồ Duy Hải – một thanh niên vô tội bị kết án tử hình vẫn thiết tha sống kia mà?
Tại sao Lương Hữu Phước không sống để đi đòi công lý?
Cái chết của Lương Hữu Phước “đáng” cho những ai và cho điều gì?
Người ta không kịp hỏi hay ông Phước chưa kịp nói trong tâm trạng tuyệt vọng tột độ vào lúc đó?
Bất giác, những câu nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bỗng vang lên:
Người nằm co như loài thú khi mùa đông về
Người nằm yên không kêu than buốt xương da mình
Từng tiếng người, nhiều tiếng người gọi hoài giữa đêm
Người nằm co như loài thú trong rừng sương mù
Người nằm yên không kêu than chết trên căn phần…
Dáng người đàn ông nằm chết cong queo như dấu chấm hỏi…
Quá nhiều dấu chấm hỏi từ cái chết của Lương Hữu Phước nhưng có lẽ người dân Việt Nam không cần câu trả lời từ “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”?
Và một dấu chấm hỏi cuối cùng, hỏi thay giùm Lương Hữu Phước:
Cái chết mang hình dấu chấm hỏi của người đàn ông bình thường, tội nghiệp đó, có bao giờ người Cộng Sản Việt Nam hồi đáp bằng lương tri và lương tâm làm người?
02.06.2020
Vì tại dân nên họ dự tính dân phải đóng phí chống ngập.
Tôi tưởng mình đọc nhầm nhưng không, hoàn toàn là sự thật khi Thanh niên thông tin “Giá dịch vụ chống ngập trên địa bàn TP.HCM được đề xuất là 3.668 đồng/m2/tháng đang gây nhiều tranh cãi. Bởi xã hội hóa đồng nghĩa với việc người dân TP sẽ phải đóng phí chống ngập”!
À thì ra ngập ngang ngực, ngập tràn lan, ngập ngút ngàn, ngập như sông… là tại dân chứ không phải ông Trời hay ông A bà C hoặc quản lý tồi!
Vì tại dân nên họ dự tính dân phải đóng phí chống ngập. Có lẽ họ nghĩ đã vô số phí rồi thì thêm 1 vài loại phí nữa cũng chẳng chết ai!
KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định tác nhân gây ngập k phải tại dân mà ” do phát triển thiếu bền vững, đô thị hóa tràn lan, nhà cao tầng bạ đâu “cắm” đấy, thiếu không gian dành cho nước và không nâng cấp hạ tầng. Bằng chứng là có rất nhiều khu vực như “rốn ngập” Nguyễn Hữu Cảnh, trước đây không ngập. Từ khi hàng loạt dự án, cao ốc mọc lên thì vừa mưa đã ngập. Mặt khác, việc các dự án được “cắm” vô tội vạ, bê tông hóa toàn TP gây ngập là hệ quả của việc buông lỏng quản lý trong cấp phép quy hoạch, xây dựng.
Nhưng 1 số vị thì lại k nghĩ thế, họ nhấm nháy rằng phải dựa trên nguyên tắc thu đủ bù chi, nếu ngân sách k đáp ứng được thì thu thêm!
Giàng ơi! cứ chi k đủ thì lại thu cho đủ à?
Và họ còn bảo rằng so với nước ABCD nào đó thì dân SG mới đóng 10% thuế bảo vệ môi trường vào tiền nước, quá thấp chứ ở các nước ấy thuế phí gấp 2,3 lần giá nước sạch!
Vẫn như mọi khi, dường như họ lờ đi rằng dân mình nghèo bỏ bu, sao k so thu nhập đầu người?
Nhưng quan trọng hơn cả là từ chục năm nay đã bao lần các ông ấy hứa cần X đồng thì năm Y sẽ hết ngập, để rồi đổ vào đấy hàng chục ngàn tỷ mà vẫn chưa biết năm Z sẽ ngụp lặn thế nào?
Nhưng cái đích to nhất là thu phí nước ngập thần thánh lại bắt đầu đưa ra thăm dò để có phản ứng gì thì lại xem xét rồi tìm cách rập rình chen vào… Hãi quá!
– Hà Phan


Dân muốn hết ngập thì phải đóng tiền chống ngập?
Nguyễn Đình Ngọc
Giả sử đóng rồi, Việt Cộng có bảo đảm hết ngập không? 100% là không. Tại sao? Trong quản trị quốc gia nói chung cũng như quản trị hành chánh nói riêng, LÒNG TIN là đòn bẫy lớn nhất cho 1 nhà cầm quyền. LÒNG TIN của người dân Việt Nam dành cho người dân Việt Cộng đã khô cạn từ lâu!
Diễm Thi
Dù rất khổ sở với tình trạng nước ngập triền miên sau mỗi cơn mưa lớn nhưng khi nghe đóng tiền chống ngập, người dân thành phố vẫn không đồng tình vì nhiều lý do. Cô Trần Kim Tuyết nêu ý kiến của mình:
“Bắt người dân đóng tiền chống ngập đó thì em sẽ không đóng vì nhà nước phải có trách nhiệm. Trách nhiệm của nhà nước thì mấy ổng phải tự giải quyết với nhau chứ. Nước ngập ngoài đường sao lại bắt dân đóng? Dân đã đóng đủ thứ tiền rồi. Mấy ổng thu, mấy ổng ăn thì mấy ổng phải chi ra để chống ngập. Không thể bắt dân đóng vì nhà nước thu đủ thứ tiền, từ tiền cầu đường, tiền cầu cống…cái gì cũng thu.”
Cô Tuyết cho biết đóng bao nhiêu loại phí mà không khí vẫn ô nhiễm, đường vẫn kẹt xe nên cô không tin chính quyền sẽ giải quyết được nạn nước ngập.

Một video của Leonardo DiCaprio…kêu gọi chấm dứt nạn ô nhiễm ở làng nổi Cái Bèo
Từ Thức
Một video của Leonardo DiCaprio, trên Instagram, kêu gọi chấm dứt nạn ô nhiễm ở làng nổi Cái Bèo, thắng cảnh nổi tiếng trên thế giới, đã có trên 1 triệu ( 1.143.644) người coi, hôm thứ Tư
DiCaprio viết phong cảnh vịnh Cái Bèo, cách vịnh Hạ Long 10 kms, như một thiên đàng hạ giới, đã bị tàn phá bởi ô nhiễm đủ loại, từ đồ phế thải tới nước ô uế.
Vịnh Hạ Long cũng như các vịnh, đảo trong vùng đã thu hút hàng triệu du khách, nhưng chính quyền và những người khai …
See More

Leonardo DiCaprio’s Instagram video on polluted Vietnamese bay hits 1 milion views – Ghanamma.com
Leonardo DiCaprio’s Instagram video on polluted Vietnamese bay hits 1 milion views June 3, 2020 Facebook Twitter WhatsApp Email Linkedin Pinterest ReddIt Print By dpa 31m agoShare this article:ShareTweetShareShareShareEmailShareHanoi – A video posted on Leonardo DiCaprio’s Instagram account ca…
Xã hội sa đọa – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê
Xã hội sa đọa – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê
- Nguyễn Hiến Lê
- Ðiều đáng ngại nhất là sa đọa về tinh thần, tới mất nhân phẩm.
Ở tỉnh nào cũng có một số cán bộ tham nhũng cấu kết với nhau thành một tổ chức ăn đút ăn lót một cách trắng trợn, không cần phải lén lút. Có giá biểu đàng hoàng: xin vô hộ khẩu một thành phố lớn thì bao nhiêu tiền, một thị xã nhỏ thì bao nhiêu, một ấp thì bao nhiêu. Muốn mua một vé máy bay, vé xe lửa thì bao nhiêu. Muốn được một chân công nhân viên, phải nộp bao nhiêu… Cái tệ đó còn lớn hơn thời trước.
Nếu một cán bộ nào bị dân tố cáo nhiều quá thì người ta cũng điều tra, đưa cán bộ đó tới một cơ quan khác (có khi còn dễ kiếm ăn hơn cơ quan cũ), đem người khác (cũng tham nhũng nữa) lại thay. Ít tháng sau dân chúng nguôi ngoai rồi, người ta lại đưa kẻ có tội về chỗ cũ. Người ta bênh vực nhau (cũng là đảng viên cả mà) vì ăn chịu với nhau rồi. Dân thấy vậy, chán, không phí sức tố cáo nữa. Có người bảo: “Chống chúng làm gì? Nên khuyến khích chúng sa đọa thêm chứ để chúng mau sụp đổ”.
Có những ông trưởng ti mỗi ngày một ve Whisky (tôi không biết giá mấy trăm đồng), hút hai ba gói thuốc thơm 555 (30 đồng một gói). Bọn đàn em của họ cũng hút thuốc thơm, điểm tâm một tô phở 6 đồng, một li cà phê sữa 4 đồng, sáng nào cũng như sáng nấy mà lương chỉ có 60-70 đồng một tháng.
Như vậy thì tất phải có những vụ ăn cắp của công (Kho một trung tâm điện lực nọ cứ bốn năm tháng lại mất trộm một lần mà không tra ra thủ phạm; rất nhiều bồn xăng bị rút cả ngàn lít xăng rồi thay bằng nước…), thụt két, ôm vàng trong ngân hàng để vượt biên, có khi tạo ra những vụ kho bị cướp, bị cháy, v.v… Y tá ăn bớt thuốc của bệnh nhân rồi tố cáo lẫn nhau, giám đốc biết mà không làm gì được. Lớn ăn cắp lớn, nhỏ ăn cắp nhỏ. Ăn cắp nhỏ thì chỉ bị đuổi chớ không bị tội, vì “họ nghèo nên phải ăn cắp”, mà nhốt khám họ thì chỉ tốn gạo nuôi. Vì vậy chúng càng hoành hành, ăn cắp, ăn cướp giữa chợ, cảnh sát làm lơ, còn dân chúng thì không dám la, sợ bọn chúng hành hung. Ăn cắp lớn, không thể ỉm được thì phải điều tra, bắt giam ít lâu, rồi nhân một lễ lớn nào đó, ân xá; không xin ân xá cho họ được thì đồng đảng tổ chức cho vượt ngục rồi cùng với gia đình vượt biên yên ổn.
Nạn “phe phẩy” (buôn lậu, làm chợ đen) còn bành trướng hơn nữa. Có thể nói một phần ba dân miền Nam (ở Bắc chắc ít hơn) làm nghề đó. Họ móc nối với những nhân viên kiểm soát, với giới xe đò; và cứ năm chuyến bị tịch thu một chuyến thì họ vẫn còn sống được. Chỉ có nghề đó là đủ ăn, đôi khi phè phỡn nữa, còn làm nghề gì khác cũng sạt nghiệp. Bọn “lơ xe” bán vé cho bọn buôn lậu đó, giấu hàng cho họ, kiếm mỗi ngày được 200 đồng, bằng lương tháng một bộ trưởng. Dĩ nhiên họ cũng phải chia một phần cho công an, kiểm soát viên. Họ hút toàn thuốc thơm, uống toàn cà phê fin (filtre: lọc), ăn một tô phở 6 đồng (giá 1980), bận toàn đồ Mĩ. Người ta gọi họ là các “ông lơ”. Một đứa cháu của tôi học lớp 9, vào hạng tiên tiến, thấy họ sống sung sướng như vậy, muốn bỏ học để học làm lơ xe, cũng bắt đầu hút thuốc lá, uống cà phê rồi.
Ngoài Bắc không có gạo ăn mà miền Tây trong Nam làng nào cũng cả chục lò -nghe nói có làng cả 100 lò- nấu rượu lậu để đưa lên Cao Miên và tiêu thụ ngay trong miền. Người ta pha vào trong rượu một chất hóa học gì đó -thuốc trừ sâu- cho nồng độ của rượu cao; uống rất có hại.
Người ta nói đã có những vụ buôn lậu thuốc phiện; nếu có thì cũng nhỏ thôi, kém xa thời Mĩ, Thiệu. Nhưng đồ lậu như vải, thuốc thơm, thuốc tây… thì khoảng một năm nay lan tràn thị trường: tàu Thái Lan đậu ngoài khơi, ghe tàu của mình từ bờ băng ra, đưa vàng ra đổi các thứ đó, cả đồng hồ điện tử từ Singapore hay Nhật Bản nữa.
Lại thêm dọc biên giới Việt – Miên, Miên – Thái có nhiều đường buôn lậu từ Thái qua Miên rồi qua Việt. Không biết vàng Việt Nam mỗi năm chạy ra nước ngoài bao nhiêu.
Có đồ lậu thì luôn luôn có đồ giả. Bọn tàu Chợ lớn cái gì cũng làm giả được, từ rượu tới thuốc hút, dầu thơm… nhiều nhất là dược phẩm Tây phương, vì thứ này vừa hiếm vừa đắt. Một bác sĩ khuyên tôi đừng mua Ampicilline, B12, Vitamine C (chích), Syncortyl ở chợ trời. Chị hốt rác trong khu tôi ở mỗi buổi sáng thấy trong thùng rác một bọc lớn đầy ống Vitamine C để chích. Có tới 200 ống, mỗi ống 2cc, mà chỉ bán cho người ta có 6 đồng. Chỉ khổ dân quê. Thế nào cũng có y sĩ, y tá chích cho họ thứ đó và chém 5 hay 3 đồng một mũi.
Nạn cờ bạc không công khai như trước, nhưng nạn “xổ số đuôi” thì công khai rồi; người ta bàn nhau nên đánh số nào, số nào ở ngay giữa chợ. Xưa mỗi tuần chỉ xổ số một lần, nay mỗi tuần bảy tám lần vì tỉnh nào cũng xổ số, tự trị mà! Người dân chỉ ngong ngóng chờ giờ xổ số để dò số mà bỏ bê công việc. Nhiều người sạt nghiệp, nhưng cũng có nhiều người nhờ đó kiếm được miếng ăn; thầy giáo hồi hưu, đại úy đi cải tạo về, ngồi bán giấy số ở chợ, kiếm được mươi đồng một ngày.
Nạn cho vay nặng lãi cũng kinh khủng. Một cán bộ giáo dục, đảng viên, cho bạn trong sở vay 100 đồng, mỗi tuần trả lời 20 đồng, tính ra mỗi năm 1.000 đồng, vốn được nhân lên gấp 10. Bạn hàng ở chợ không chơi hụi tháng như xưa nữa, mà chơi hụi tuần, hụi ngày!
Nạn đĩ điếm đã hết đâu. Ngay cuối năm 1975, một cán bộ cách mạng đã bảo các bạn kháng chiến ở bưng về mắc bệnh hoa liễu hết rồi; một số cán bộ rất nghiêm trang đạo mạo -có kẻ ngoài 70 tuổi- từ Hà nội vào, năn nỉ các bạn trong Nam chỉ chỗ cho họ hưởng thú mê li đó một lần cho biết mùi. Chỉ khác là bây giờ người ta làm nghề đó một cách không lộ liễu quá như trước. Họ rất thích sách khiêu dâm, các loại sách này loại truyện chưởng lan ra Bắc từ mấy năm nay rồi.
Tóm lại bao nhiêu xấu xa thời trước vẫn còn đủ mà có phần còn tởm hơn nữa.
Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê (Tập 3)
Đăng lại từ Diễn Đàn Thế Kỷ (Diendantheky.net)
Xem thêm:
Chuyện ngành tư pháp sau 1975 – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

M.TRITHUCVN.ORG
Từ năm 1975, trường luật bị bãi bỏ. Sinh viên luật có thể xin chuyển qua ngành kinh tế, ra làm các ngân hàng. Nhưng đa số bỏ học, làm phu khuân vác…
Chuyện ngành tư pháp sau 1975 – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê
- Nguyễn Hiến Lê
- •
Ðó là chuyện năm 1975. Nay thì thanh niên trí thức làm đủ các việc lao động rồi, bổ củi mướn, chở cát, vác gạo…, không ai ngạc nhiên mà cũng không ai thương hại cho họ nữa, họ dễ dàng kiếm được vài ba chục đồng một ngày mà lại tự do, chứ làm thư kí ngân hàng 40 đồng một tháng thì sống sao nổi. Vả lại lao động là vinh quang mà. Nữ sinh viên thì bán thuốc lá rời hoặc quần áo cũ ở lề đường.
Trong Nam trước 1975 chưa có bộ luật mới, tạm dùng bộ luật cũ. Còn ở Bắc bỏ luật cũ mà không có luật mới (nghe nói năm 1981 người ta mới tính thảo bộ luật mới), không có trường luật thì tôi không hiểu người ta dạy xử án ra sao.
Năm 1975 có lần tổ chúng tôi họp để xử một người trong tổ mắc một tội nào đó tôi không nhớ. Ông tổ trưởng đề nghị hai cách trừng trị: một là bắt người đó bồi thường, nếu không bồi thường được thì tịch thu tài sản; hai là bắt người đó đi cải tạo một thời gian. Cách nào được nhiều người đồng ý thì theo cách đó.
Khi phường có tòa án nhân dân rồi (năm 1978?) thì để tòa xử. Một “ông tòa” là học trò cũ của bạn tôi. Tôi hỏi cậu ta: “Cháu xử theo luật nào?” Cậu ta cười đáp: “Cháu đặt ra luật để xử” – “Thực vậy sao?” – “Dạ, bây giờ ai đặt luật cũng được. Vì có bộ luật nào đâu?”
Cũng có luật sư do chính quyền chỉ định để bênh vực cho bị cáo. Luật sư ăn lương, theo nguyên tắc không được nhận thù lao của thân chủ. Nhưng một người bà con tôi đậu cử nhân luật thời tiền chiến, năm 1970 làm thị phó Hải phòng, rồi hồi hưu, được làm luật sư, bảo tôi nếu giúp đỡ được nhiều cho thân chủ thì người ta cũng đền công mình, và mỗi năm được vài ba vụ, cộng với số tiền lương, gia đình ông sống phong lưu.
Chính phủ bênh vực giai cấp vô sản; hạng bần dân dù bị tội nặng cũng xử nhẹ – trừ tội phản động dĩ nhiên. Những vụ ăn trộm, ăn cắp thì luôn luôn cảnh cáo qua loa rồi thả, bảo người đi thưa: “Người ta nghèo nên phải ăn trộm, anh có của thì anh phải giữ. Muốn bỏ tù người ta thì anh phải nuôi cơm”.
Nếu trong khi bắt kẻ trộm, lỡ tay đánh nó bị thương thì mình có lỗi, chứ kẻ trộm không có lỗi.
Có lẽ vì vậy mà 5-6 năm nay gần như không có nhà nào trong tổ tôi không bị ăn trộm, ngay ông tổ trưởng cũng mấy lần bị mất xe đạp, máy thâu thanh. Tôi còn bị trộm nhiều hơn nữa. Còn việc bẻ trộm trái cây, bắt trộm gà vịt thì rất thường, tới nỗi không ai muốn trồng trọt, chăn nuôi gì cả.
Một ông tổ trưởng có một vườn măng cụt, sầu riêng, chôm chôm ở Lái thiêu, huê lợi trước 1975 rất khá, mà năm 1978 phải bỏ vì nạn ăn cắp. Ðó là một nguyên nhân kinh tế suy sụp, của công bị mất cắp, ngân hàng bị thụt két.
Một người khác có một vườn trồng mấy trăm gốc chuối, chỉ trong một đêm chúng hạ hết những buồng nào gần ăn được. Dừa, nhãn, xoài, đu đủ… đâu đâu cũng vậy. Cứ kể như mình phải chia cho chúng một nửa huê lợi thì mới được yên thân. Tôi không hiểu ở Bắc ra sao và như vậy rồi sẽ đi tới đâu.
Hiến pháp vẫn trọng quyền tư hữu nhỏ, nhưng đảng còn trọng lập trường giai cấp hơn. Giai cấp được trọng nhất là giai cấp đảng viên, như giai cấp quí tộc đời Chu ba ngàn năm trước: họ phạm một tội gì như ăn cắp, hối lộ, ức hiếp dân, giết dân v.v… thì đảng xét xử trước, nếu cần mới đưa họ ra tòa; thường thì chỉ cảnh cáo họ thôi chứ không đưa ra tòa; tòa không được bắt giam họ, trừng trị họ (trừ vài trường hợp đặc biệt) nếu không được phép của đảng. Giai cấp yên thân nhất là giai cấp vô gia cư, vô nghề nghiệp.
Tôi nói với một anh bạn học cũ, làm “tòa” -danh từ mới là gì tôi không biết- rằng đời Chu ở Trung Hoa, hình pháp của triều đình chỉ để xử bọn dân đen, còn bọn quí tộc có tội thì họ xử lẫn nhau bằng “lễ” tức tục lệ riêng của họ. Ðó là ý nghĩa câu: “Hình bất tướng đại phu, lễ bất há thứ dân”. Bây giờ ngược lại. Ðó là thắng lợi nhất của giai cấp vô sản. Mà có lẽ đó cũng là áp dụng một phần chính sách làm chủ tập thể nữa chăng?
Tôi không được biết hiến pháp đầu tiên của chế độ. Quốc hội đã họp nhiều lần để sửa hiến pháp đó ngay khi quốc gia được thống nhất, nhưng mãi đến 1981, mới ban bố hiến pháp mới, còn bộ luật thì chắc phải đợi nhiều năm nữa.
Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê (Tập 3)
Đăng lại từ Diễn Đàn Thế Kỷ (Diendantheky.net)
Từ Chung/Lê Anh Hùng & Trương Duy Nhất
Từ Chung/Lê Anh Hùng & Trương Duy Nhất
Ở đất nước này có bao nhiêu người đã đi qua cuộc đời mà không làm gì khác hơn là nói láo và viết láo.
Tác giả Võ Văn Quản vừa có bài viết hơi bất ngờ và khá thú vị (“Bốn Nhân Vật Dân Sự Xuất Sắc Của Việt Nam Cộng Hòa Có Thể Bạn Chưa Diết”) trên Tạp Chí Luật Khoa:
- Giáo sư Nguyễn Văn Bông
- Bộ trưởng Cao Văn Thân
- Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy
- Nhà báo Từ Chung
Xin được ghi lại đôi ba đoạn chính về nhân vật cuối:
“Từ Chung là biên tập viên, là cây bút của tạp chí Chính Luận, một trong những tờ báo độc lập được đón đọc và nể trọng nhất miền Nam Việt Nam thời điểm bấy giờ… Sự trỗi dậy của tờ báo phần lớn nhờ vào tầm nhìn và chủ trương của ông Đặng Văn Sung, một nghị sĩ có tiếng, và hoạt động quản trị của thư ký – biên tập viên Từ Chung.
Cuối năm 1965, sau nhiều loạt bài chỉ trích hành vi tấn công dân thường và các hoạt động quân sự không phù hợp của phe Việt Cộng, Đặng Văn Sung và Từ Chung nhận tối hậu thư của phe này: một là im lặng – hai là chết.
Vài ngày sau khi nhận được tối hậu thư, Từ Chung thay mặt tòa soạn viết thư trả lời phe Việt Cộng đăng trên Chính Luận. Theo ghi nhận của ‘Vietnam Information Notes’ do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lưu trữ, Từ Chung khẳng định rằng Chính Luận là một tờ báo trung lập và từng vạch trần tất cả sai phạm của mọi bên trong chính trường miền Nam, song duy chỉ có Việt Cộng là đưa ra kiểu đe dọa vô pháp như vậy. Ông khẳng định: Các anh có thể giết chúng tôi, nhưng tinh thần của chúng tôi sẽ còn sống mãi. Ngày 30 tháng 12 năm 1965, sau hai năm quản lý tờ báo, Từ Chung bị Việt Cộng (nhiều khả năng là biệt động Sài Gòn) bắn chết ngay trước cửa nhà ông bằng bốn phát đạn.”
Nhà báo Thụy Giao cho biết thêm chi tiết: “Từ Chung là anh cả trong một gia đình gồm bảy anh em trai, thế nhưng chỉ có hai người anh lớn trong nhà là Vũ Mạnh Sơn Nhất Huy và Vũ Mạnh Sơn Nhị Hoàng vào được miền Nam, năm người em phải ở lại miền Bắc với cộng sản sau năm 1954. Từ Chung mất đi để lại một vợ trẻ và bốn con thơ, cháu lớn nhất mới 12 tuổi…
Từ Chung đỗ tú tài tại Hà Nội, vào Nam, ông được học bổng du học tại Thụy Sĩ năm năm và đậu bằng Tiến Sĩ Kinh Tế tại Fribourg năm 1961. Về nước, ông được Linh Mục Cao Văn Luận, Viện Trưởng Viện Ðại Học Huế mời giảng dạy tại trường Luật, và sau đó được mời làm ủy viên trong Hội Ðồng Cố Vấn Kinh Tế nhưng ông từ chối vì yêu nghề viết báo.
Từ Chung viết rất nhiều thể loại, từ điểm sách, văn chương, văn hóa đến chính trị, kinh tế v.v… nhưng nổi tiếng nhất là các bài xã luận về kinh tế. Từ Chung là người Việt Nam đầu tiên đã giản dị hóa môn học khô khan khó hiểu là kinh tế học, đưa môn học này về gần với quần chúng bình dân. Những bài xã luận của Từ Chung về kinh tế được độc giả thuộc mọi trình độ khác nhau, từ các ông giáo sư đại học, các chuyên viên kinh tế thượng thặng đến các cậu sinh viên, các bà nội trợ đều thấu hiểu tường tận những biến chuyển kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến mình. Những bài viết xã luận về kinh tế của ông thường được một số trí thức gọi đùa là ‘mục kinh tế chợ’ đã có ảnh hưởng rất lớn đến mọi tầng lớp giai cấp và thế hệ độc giả khác nhau. Về dịch thuật, Từ Chung có dịch cuốn ‘Bí Danh’ (Secret Name) của Lâm Ngữ Ðường.”
Ký giả Lê Thiệp kết luận: “Lập trường chống cộng của Chính Luận rất rõ rệt và đối với người Cộng sản thì đây là một mối nguy phải được dập tắt. Họ chọn cách dễ nhất là bạo lực. Ðặc công Việt Cộng đã bắn gục Từ Chung khi ông trên đường về nhà. Ba vị ký giả từng ký vào bản văn hứa sẽ không lùi trước nỗ lực đóng góp cho vận mệnh đất nước, ông Từ Chung là người đầu tiên đã trả giá cho nỗ lực đó bằng chính sinh mạng của mình.”
Xem thêm: Phùng Cung giữa Trăng Sao & Mộ Chí
Từ Chung sinh năm 1924, bị giết chết vào năm 1965. Tám năm sau (1973) thì một nhà báo khác, Lê Anh Hùng, mới mở mắt chào đời. Tuy giữa hai người là một khoảng cách thời gian dài đến nửa thế kỷ nhưng sự nghiệp cầm bút của họ lại không khác nhau là mấy – theo tường trình của Charlie Campbell ( “Internet Censorship Is Taking Root in Southeast Asia”) đọc được tạp chí Time, số phát hành hôm 18 tháng 7 năm 2013:
“Mỗi lần cầm bút là Lê Anh Hùng nghĩ đến ba đứa con thơ. Người đàn ông 38 tuổi này đã hai lần vào tù, vì viết blog về nhân quyền và nạn hối lộ, hiện đang sống phấp phỏng trong căn nhà của ông ở Hà Nội. Tuy thế, ông nói, ‘Tôi biết điều mình lựa chọn là nguy hiểm nhưng tôi chấp nhận trận chiến này.” Every time Le Anh Hung starts to write he thinks of his three young children. The 38-year-old has already been imprisoned twice for blogging about human rights and corruption from his home in Hanoi and lives half-expecting another fateful knock at the door. And yet ‘I’m not scared,’ he says, ‘I know what I choose to do is risky but I accept the fight.”
Chung cuộc, theo RFA: “Hôm 1 Tháng Tư, 2019, blogger Lê Anh Hùng, người bị Cơ Quan An Ninh Điều Tra bắt giữ vào ngày 5 Tháng Bảy năm ngoái với cáo buộc ‘Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước’ nhưng chưa ra tòa, đột nhiên bị đưa vào bệnh viện tâm thần trung ương 1 ở Thường Tín, Hà Nội.”
Một năm sau, vào ngày 9 tháng 3 năm 2020, đến lượt một nhà báo khác (Trương Duy Nhất) ra tòa (lần thứ hai). Ông bị tuyên phạt 10 năm tù, tổng cộng (2 lần) là 12 năm chẵn. So với mấy viên đạn dành cho nhà báo Từ Chung thuở trước thì phương thức mà nhà đương cuộc Hà Nội loại trừ những tiếng nói đối lập hiện nay – xem ra – “nhẹ nhàng” và “nhân văn” hơn thấy rõ. Phải dụng công đưa nạn nhân vào nhà thương tâm thần, hay ra toà xử (tới đôi ba bận) hẳn hòi. Thiệt là điệu nghệ hết biết luôn!
Theo như thư lời của TBT Nguyễn Phú Trọng thì đây là cách “tạo điều kiện thuận lợi để Hội Nhà báo Việt Nam, giới báo chí hoàn thành tốt nhiệm vụ.” Trừ khử mọi ngòi bút đối lập cho khỏi vướng thì đúng là Đảng đã “tạo điều kiện thuận lợi cho giới báo chí hoàn thành tốt nhiệm vụ” rồi. Chỉ có điều đáng tiếc là tuy được độc quyền (múa gậy vường hoang) nhưng đội ngũ cầm bút quốc doanh cũng chả thực hiện được điều chi tốt đẹp, nếu chưa muốn nói là ngược lại.
Sau ba năm làm đặc phái viên cho A.F.P. tại Việt Nam, từ 1994 đến 1997, một nhà báo ngoại quốc đã có nhận xét như sau:
“Dân Việt dùng báo Nhân Dân để đi cầu, chớ còn tin tức thì họ nghe từ chương trình phát thanh tiếng Việt của đài BBC, RFI và VOA. Vietnamese may have found Nhan Dan useful in the bathroom, but for information they turned to their radios and the Vietnamese language services of BBC, RFI and VOA.” (Robert Templer. Shadows And Wind. Penguin Group. New York: 1988, 165).
Và đó là chuyện của thế kỷ trước. Tháng ba vừa qua, giữa mùa dịch coronavirus, nhìn hình ảnh người dân VN đổ xô mua giấy đi cầu người ta mới biết rằng công dụng của báo Nhân Dân ở trong bathroom hay restroom cũng không còn nữa. Tuy thế, ngày 06/4/2020 vừa qua, đồng chí TBT (to be) Trần Quốc Vượng vẫn thản nhiên “thông báo kết luận của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về việc mua và đọc báo, tạp chí của Đảng.”
FB Lưu Trọng Văn chất vấn:
Xin ông Vượng hỏi ngay vợ con và các cháu của ông có ai đọc báo Nhân Dân không?
Xin ông hỏi mấy cảnh vệ và lái xe của ông chắc chắn đều là đảng viên xem có ai đọc báo Nhân Dân không?
Rõ ràng là hai câu hỏi dễ. Chùi cũng chả ai dám, nói chi đến đọc!
‘Thẳng lưng là dị tật!’
‘Thẳng lưng là dị tật!’







