Bữa ăn của mẹ con chị Kiều!

Lê Vi

Bữa ăn của mẹ con chị Kiều!

Do Cty Huê Phong ở Gò Vấp nơi chị Nguyễn Thị Kiều làm công nhân giảm đơn hàng nên thu nhập của chị chỉ còn hơn 3,2 triệu đồng/tháng.

Sau khi trừ tiền nhà trọ, điện, nước hết 1,7 triệu, chị còn 1,5 triệu đồng để trang trải chi phí ăn uống.

Như vậy tổng chi cho ba bữa ăn sáng, trưa, tối của ba mẹ con chị không được quá 50.000 đồng!

Tương đương với một bát phở, cho cả ba người ăn, ba bữa trong ngày.
Ba mẹ con thống nhất mỗi ngày ăn uống không được quá 50.000 đồng.
Chị chia sẻ, thực đơn những ngày hậu dịch Covid-19 của ba mẹ thường trực “rau là rau”.

Chị cười: “5.000 đồng rau muống, 2 quả trứng chiên hoặc luộc, lấy nước rau làm canh. Vậy là xong một bữa”.

Bữa thịt gần đây nhất của ba mẹ con cách đây đã gần 1 tuần. “Tôi mua 40.000 đồng thịt gà về kho sả ớt, ăn cả ngày. Muốn có vị thịt heo thì mua 20.000 đồng da heo về phi tỏi ớt cũng ra một món.

Muốn có vị thịt bò thì mua 20.000 đồng bò viên hoặc gân bò về xào đậu ve. Sáng một gói mì tôm hoặc 5.000 đồng xôi” Tằn tiện như thế rồi bữa ăn bữa thèm cũng qua.

Chị Kiều quê Quảng Nam. Chị vào TP.HCM làm công nhân gần 20 năm. Chồng chị bỏ đi theo người khác khi đứa con gái nhỏ được 4 tuổi. Chị ở vậy gần 10 năm qua, một mình nuôi hai con.

Chị Kiều dù ở SG nhưng đã nghèo, nghèo quá rồi chứ k phải cận nghèo như những nhà ở Thanh Hóa nữa!

Tôi k biết anh chị thế nào chứ đưa tôi 50.000 đ để xoay xở 1 bữa cho 3 người thôi đã khó vô cùng tận chứ huống gì 3 bữa!

Người như chị Kiều những ngày này tôi nghĩ có lẽ không phải ít vì như chị nói “Dịch ập tới, ai cũng khổ hết, nên ba mẹ con cùng bảo nhau cố gắng thôi”. Riêng ở Huê Phong đã cắt giảm hơn 2000 lao động.

Còn tôi nghĩ, thôi thì cứ an ủi nhau ăn rau là sở thích như mấy đứa bé người Mông ăn ve sầu trên Đắk Lắk vậy!

Nguồn: Cuocsongantoan.vn

Fb Hà Phan

Image may contain: 1 person

Tự ý sửa điểm bài thi, quan có công cũng bị xử tử

Tự ý sửa điểm bài thi, quan có công cũng bị xử tử

  • Quê Hương Online
  • Thứ Sáu, 29/05/2020 • 20.9k Lượt Xem
  • Vì sửa điểm mà Tiến sĩ Ngô Sách Tuân mặc dù là bậc đại khoa, công thần của triều đình đương thời vẫn bị thắt cổ chết.

Ngô Sách Tuân (1648-1697) là người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh). Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng bậc nhất lúc bấy giờ. Bản thân gia đình Ngô Sách Tuân có cha và anh trai cùng đỗ tiến sĩ và làm quan to trong triều.

Ông đỗ tiến sĩ năm Bính Thìn (1676) đời Lê Hy Tông khi 29 tuổi, làm quan thời vua Lê Hy Tông và chúa Trịnh Căn, từng được thăng tới chức Hữu thị lang bộ Lại. Khi trấn giữ vùng Lạng Sơn, ông đã lập công lớn trong việc dùng mưu bắt được dư đảng nhà Mạc lẩn tránh tận Trung Quốc.

Nhưng chỉ vì một sai lầm trong việc chấm bài thi mà cuộc đời cũng như danh tiếng của ông đã tiêu tan thành bọt nước. Không những phải mất mạng, Ngô Sách Tuân còn để lại một “vết đen” trong lịch sử khoa bảng nước nhà.

Các thí sinh đi vào trường thi Nam Ðịnh (năm 1897), họ phải tự làm lều và đặt chõng để viết bài.

Chuyện bắt đầu từ tháng 7-1694, Ngô Sách Tuân tố cáo Tham tụng Lê Hy lên triều đình về chuyện ông này lén lút đưa người con là Lê Thuyên và học trò là Tô Hinh vốn không có năng lực vào quan trường. Sự việc được tấu trình lên nhưng nhà vua xét thấy không đủ bằng cớ để kết tội Lê Hy nên đã giáng chức Ngô Sách Tuân. Hai người giữ mối hiềm khích kể từ đó.

Sau này, khi Ngô Sách Tuân giữ chức Phó chủ khảo trường thi ở Thanh Hóa thì trước khi đi ông có đến yết kiến Lê Hy.

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (quyển 34) chép lại nội dung câu chuyện này như sau:

Lê Hy bèn đem hình dáng giấy đóng quyển thi của các con mình cho Sách Tuân biết.

Nhưng, sau vì thấy quyển thi của các con Lê Hy không được xếp vào hạng trúng cách Sách Tuân muốn nhân dịp này xoá mối hiềm khích với Lê Hy, bèn lấy quyển thi của con Lê Hy đưa cho các quan giám khảo, bảo họ phê lấy đỗ.

Quan Đề điệu trường thi này là Phó đô ngự sử Ngô Hải biết chuyện, có thề với Sách Tuân là sẽ giấu kín việc này nhưng quan Tham chính Thanh Hóa là Phan Tự Cường phát giác được, tâu lên.

Triều đình giao cho các quan văn võ họp bàn, khép Ngô Sách Tuân vào tội giảo (bắt phải thắt cổ mà chết), Ngô Hải vì không biết lòng chính trực nên bị bãi chức, các quan giám khảo và phúc khảo đều bị phạt, còn Tự Cường được thăng chức Thiêm đô ngự sử.

Chép xong chuyện này, các sử gia thời Nguyễn đã có Lời cẩn án rất sắc sảo như sau:

Lê Hy làm Tể tướng một nước, thế mà gởi gắm con mình cho viên quan giữ việc chấm thi và Sách Tuân xu nịnh với riêng bậc đại thần mà mình nhận lời kí thác, đặt trong phép nước mà xét thì tội hai người như nhau, vậy mà chỉ mình Sách Tuân bị trị còn cha con Lê Hy thì không ai xét hỏi gì đến, như thế thì còn gọi là phép nước làm sao được nữa!

Phan Tự Cường biết hạch tội Sách Tuân mà không một lời nào đả động đến Lê Hy, thế thì so với người nịnh hót Lê Hy cũng chẳng hơn kém nhau bao nhiêu vậy. Tự Cường cũng cùng một loại với Sách Tuân mà thôi.

Có lời bình rằng:

Có mỗi một khoa thi Hương, kẻ đỗ cao nhất cũng chỉ là Cử nhân, vậy mà hỏng một cách thảm hại lại là bốn vị Tiến sĩ lừng danh: Lê Hy, Ngô Sách Tuân, Phan Tự Cường và Ngô Hải, nhục thay! Chư vị sử gia thời Nguyễn, sắc sảo thì quả là thật sắc sảo, song chừng như chư vị chỉ muốn mượn Lời cẩn án để kí thác chút tâm sự với thời cuộc đó thôi.

Tự cổ, búa rìu của phép nước vẫn giáng từ trên xuống, có đâu lại vung từ dưới lên, vung lên như thế, lỡ bay đầu Tể tướng, bay luôn đầu cả Chúa lẫn Vua, thiên hạ như gà con mất mẹ, biết nương tựa vào đâu. Vả chăng, vung lên lâu ngày quen tay thành tật, chư vị ngồi trong kinh thành, nhỡ bị họa lây thì lấy ai mà viết sử?

Kẻ hậu sinh này viết tới đây, ngẩn ngơ mà tình cờ dừng lại, ngắm mãi cái gì đen đen trong trang sử cũ, một lúc sau mới chợt nhận ra đó chính là xác Tiến sĩ Ngô Sách Tuân đang treo lủng lẳng, khô như một nét sổ của trang chữ Hán lạnh lùng. Mạo muội dịch ra quốc ngữ, lại nhìn kĩ lần nữa, thì chao ơi, cái xác treo lủng lẳng ấy bay vào trang đánh máy, chẳng khác gì cái dấu chấm than. Hóa ra, dấu chấm hết cuộc đời của Tiến sĩ Ngô Sách Tuân lại là dấu chấm than!

Tổng hợp theo bài viết “Dấu chấm hết cuộc đời Ngô Sách Tuân”
Theo Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần
Đăng tại tạp chí Quê Hương Online (quehuongonline.vn)

Con người mất nhân phẩm – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

Con người mất nhân phẩm – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

  • Nguyễn Hiến Lê
  • Trong một xã hội như vậy, con người dễ mất hết nhân phẩm, hóa ra đê tiện, tham lam, bất lương, nói láo, không còn tình người gì cả.
  • Tiếp theo phần trước

Năm 1975 đa số cán bộ, công nhân viên ở Bắc vào thăm gia đình, họ hàng ở trong Nam, còn giữ chút thể diện “cách mạng”, bà con trong này tặng họ gì thì họ nhận, chứ không đòi; về sau họ không còn giữ kẽ nữa, tặng họ một thì họ xin hai, không tặng họ cũng đòi, khiến một ông bạn tôi bực mình, nhất định đóng cửa không tiếp một người bà con, bạn bè nào ở Bắc vào nữa.

Gởi họ mang ra giùm một cuốn sách tặng một người ở Hà nội, họ giữ lại 5-6 tháng, vợ chồng con cái, bạn bè coi cho hết lượt, sách nhàu rồi, họ mới đem lại cho người nhận sách; có khi họ lấy luôn, nhắc họ, họ bảo thất lạc, để kiếm. Mà ba người nhận được sách thì chỉ có một người cảm ơn tôi.

Một nhà văn đất Bắc làm cho một tờ báo nọ nhờ một nhà văn trong Nam viết bài, hứa sẽ trả bao nhiêu đó. Viết rồi, đưa họ, họ đăng, nhưng kí tên của họ rồi đưa cho nhà văn trong Nam nửa số tiền nhuận bút thôi, còn họ giữ lại một nửa. Vừa ăn cắp văn, vừa ăn chặn tiền. Chưa bao giờ miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy. Một bạn học giả của tôi ở Bắc khuyên tôi đừng giao bản thảo của tôi cho ai hết, không tin ai được cả, họ sẽ đạo văn.

Thời Pháp thuộc, không bao giờ nhân viên bưu chính ăn cắp đồ trong các bưu kiện. Thời Nguyễn Văn Thiệu thỉnh thoảng có một vụ ăn cắp nhưng nhỏ thôi. Từ bốn năm nay ở khắp miền Nam, cứ 10 bưu kiện ở ngoại quốc gởi về thì có 6-7 bưu kiện bị ăn cắp hoặc đánh tráo vài ba món, thường là dược liệu và vải. Kêu nài thì nhân viên bưu chính bảo: “Không nhận thì thôi; có muốn khiếu nại thì cứ làm đơn đi”. Không ai buồn khiếu nại cả vì cả năm chưa có kết quả, mà nếu có thì số bồi thường không bõ. Cho nên chúng tha hồ ăn cắp, ăn cướp một cách trắng trợn. Trắng trợn nhất là chúng lấy trộm tất cả bưu kiện trong một kho, như ở Long xuyên năm 1981; nếu là kho lớn thì chúng đốt kho như ở Tân Sơn Nhất hai năm trước.

Nhơ nhớp nhất là vụ một cán bộ nọ vào hàng phó giám đốc, mưu mô với vợ, làm bộ tổ chức vượt biên cho vợ chồng con cái một đứa cháu ruột, bác sĩ ở Sài Gòn, nhận mấy chục lượng vàng của cháu (và sáu chục lượng vàng của gia đình bên vợ đứa cháu đó nữa vì họ cũng muốn vượt biên), rồi lừa gạt người ta, tố cáo với công an bắt hết cả nhóm trên mười người khi họ ra Vũng Tàu chờ ghe đưa ra khơi. Ða số cán bộ ở Nam đã tư bản hóa rồi, một xã hội chủ nghĩa xã hội mà như vậy thì chủ nghĩa đó chỉ còn cái tên thôi.

Sống dưới chế độ cộng sản, con người hóa ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia. Ngay một phó viện trưởng cũng làm việc điểm chỉ đó mà bạn trong viện không hay. Dĩ nhiên kẻ kiểm soát đó lại bị người khác kiểm soát lại. Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó.

Nạn làm tiền, tống tiền lan tràn khắp các ngành, cả trong ngành cứu nhân độ thế và ngành tống táng. Ðể cho bác sĩ ngụy đủ sống mà khỏi vượt biên, chính phủ năm 1980 cho phép họ ngoài giờ làm việc được khám bệnh ở nhà và định cho họ số tiền thù lao là 1 đồng ở Sài Gòn, 0.8 đồng ở tỉnh. Nhưng ở Long Xuyên bác sĩ nào cũng thu của bệnh nhân 10 đồng. Có kẻ ra một cái toa cần 9 thứ thuốc toàn đắt tiền, trị đủ các bệnh: tim, phổi, gan, thận, bao tử… cho một bà lão suy nhược, rồi bảo lại mua của một tên buôn lậu đồng lõa với họ. Tính ra toa đó mua cho đủ thì mất cả triệu đồng cũ (2.000 đồng mới). Một số bác sĩ không làm tiền cách đó, không ra toa mà bắt bệnh nhân mỗi ngày lại để các ông ấy cho thuốc và chích cho, và phải trả các ông ấy từ 60 đồng đến 100 đồng mỗi lần. Năm 1981, tiền thù lao từ 10 đồng đã hạ xuống còn 5 đồng, có lẽ vì bác sĩ làm riêng khá đông, cạnh tranh nhau. Và tháng 7-1981 có lệnh không cho bác sĩ công làm tư tại nhà nữa, mà muốn làm tư thì lại dưỡng đường làm ngoài giờ làm việc. Chưa thấy ai theo.

Bệnh nhân lỡ mà chết thì bị hàng xăng tống tiền: quốc doanh định giá 45 đồng kể cả một bịch thuốc lá và 4 thước vải thô, nhưng tang gia phải trả 400 đồng thì xăng mới được ghép lại kĩ, khỏi trống hổng trống hoảng với 8 cây đinh đóng hờ. Rồi tới nhà đòn cũng đầu cơ: hạ huyệt xong, phủ qua một lớp đất cho bằng mặt, muốn có cái mồ cho ra mồ thì phải đưa thêm vài trăm đồng nữa. Nếu đem thiêu mà cứ nộp đúng lệ thì xương ống, xương hông bị ném riêng vào một chỗ, chứ không thiêu hết. Ai nỡ để cha mẹ mình què!

Tất cả chỉ tại cái lệ chính phủ định giá, định lương rẻ quá không đủ cho dân sống, dân phải xoay sở lấy, bóc lột lẫn nhau. Cổ kim chưa có một xã hội nào phi lí như vậy. Vì biết mình phi lí nên chính quyền làm ngơ cho bác sĩ làm ăn, cho phép các giáo viên ngụy dạy thêm tại nhà.

Nói cho ngay, thời nào trong xã hội cũng có một số người lương thiện. Và ông Phạm Văn Ðồng đã nhận rằng thời này hạng đó thiệt thòi nhất. Tôi được biết một hai cán bộ trung cấp liêm khiết, chịu nghèo, nuôi heo thêm, chứ không tham nhũng. Gia đình họ phải ăn rau muống; quần áo thì vá đụp; có thể nói họ nghèo như các nông dân nghèo nhất thời xưa.

Tóm lại sau 5 năm chúng ta không thấy chút tiến bộ nào cả mà chỉ thấy sự chia rẽ trong xã hội, sự tan rã trong gia đình, sự sa đọa của con người, sự suy sụp của kinh tế.

Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê (Tập 3)
Đăng lại từ Diễn Đàn Thế Kỷ (Diendantheky.net)

Nền công nghiệp sau 1975 – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

Nền công nghiệp sau 1975 – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

• Nguyễn Hiến Lê

• Xí nghiệp quốc doanh nào cũng lỗ nặng. Người ta không hề tính sản xuất một hóa phẩm phí tổn mất bao nhiêu, bán ra được bao nhiêu, lời hay lỗ. Cứ việc sản xuất, lỗ cũng không sao, bán không được thì bắt dân tiêu thụ hoặc đổ đi.
Một kĩ sư ở Nga về đã trên mười năm, năm 1967 vào tham quan các xí nghiệp lớn miền Nam bảo tôi rằng cảm tưởng đầu tiên và mạnh nhất của ông ta là các xí nghiệp này chú trọng đến cái “profit” (lời) quá. Ông ta không hiểu nổi đó là một điều tự nhiên. Một cơ quan xuất bản, một tờ báo của chính quyền có lỗ cũng không sao, vì công việc đó có mục đích giáo dục quần chúng, không có tính cách thương mãi. Nhưng sản xuất một món hàng để xuất khẩu mà không tính lời, lỗ thì kinh tế làm sao đứng vững được.

Ngay như một tổ hợp vận tải trong nước mà lỗ hoài thì cũng phải dẹp tiệm, vì hết vốn, không có tiền mua xe mới để thay thế xe cũ.

Từ bia, nước ngọt, đến tôm cá, đồ hộp như khóm, màn trúc, quần áo may sẵn, đồ sơn mài… bất kì món gì, mới đầu phẩm còn kha khá, sau cứ mỗi ngày một tệ, bị ngoại quốc gởi trả về. Bia, nước ngọt có hồi bị trả về nhiều quá, bán cho công nhân viên không hết, tung ra bán cho dân, nhà nào cũng có một tuần lễ được mua một hai lần; kì cục nhất là đường thì thiếu cho dân dùng mà nước ngọt thì dân tha hồ uống.

Tôi hỏi một người bà con ở Hà Nội, họ bảo ở Bắc cũng vậy: công nghiệp mỗi ngày một xuống dốc. Những năm đầu (1955-1960), xe đạp chế tạo còn tốt, bây giờ tồi quá, dùng chưa đầy sáu tháng đã hư một vài bộ phận, lốp đã bể. Xe đạp là thứ cần thiết nhất, phổ thông nhất trong nước, mà như vậy thì những máy móc khác mới ra sao?

“Vua lốp” Nguyễn Văn Chẩn, một trong những cá nhân nổi bật với nhiều lần vào tù ra tội thời bấy giờ. (Ảnh bổ sung – Ảnh qua tienphong.vn)
Nguyên nhân rất nhiều: quản lí dở, thiếu kĩ thuật gia giỏi – những kĩ sư giỏi không được dùng hoặc phải ở dưới quyền một kẻ dốt, có tuổi đảng cao hơn; chương trình, kế hoạch không bao giờ thực hiện được đúng vì thiếu nguyên liệu, nhiên liệu, thiếu đủ thứ; vì các cơ quan không phối trí với nhau, chèn ép nhau là khác; vì chính sách làm chủ tập thể, máy móc không ai săn sóc, vật liệu không ai tiếc, tha hồ phí phạm, nhiều khi ăn cắp nữa; không có tinh thần trách nhiệm, ai cũng làm việc tà tà; lương ít quá, không đủ sống, mà siêng năng cũng chẳng được lợi gì, sáu năm mới lên một bực, lương tháng thêm mười đồng, mua được hai tô phở hay một kí đường.

Ngoài Bắc có câu: Làm thì đói, nói thì no, bò thì sướng, bướng thì chết.
Trong Nam lại thêm câu rằng: Làm cho lắm tắm không quần thay, làm lai rai ngày thay ba bộ.

Ðảng cộng sản là đảng của vô sản, của thợ thuyền, mà công nhân trong các xưởng tinh thần như vậy đó.

Lại còn cái này nữa: sở nào có việc nhờ sở khác giúp, muốn mau được việc, phải hối lộ sở đó; ngay sở công an cũng bị làm tiền. Việc thanh toán tiền nong giữa các sở với nhau rất bê bối! Sở thiếu nợ ỳ ra không chịu trả, sở chủ nợ không thu được, thiếu tiền, phải tạm ngưng hoạt động. Kiện ai?

Quyền của ngân hàng rất lớn. Cơ quan nào thu được bao nhiêu tiền cũng phải nộp ngân hàng, cần rút ra bao nhiêu cũng phải xin ngân hàng; mà ngân hàng có thể từ chối không phát hoặc lấy cớ là không đủ ngân khoản nên chưa phát. Vì vậy cơ quan nào cũng làm thân với ngân hàng, mua quà cáp tặng nhân viên ngân hàng, đãi đằng họ… Xứ nào, thời nào mà chẳng vậy: kẻ giữ tiền mới thực sự làm chủ.

Các công ti công tư hợp doanh cũng lỗ vì công với tư rất khó hợp tác với nhau: công làm chủ thì tư tà tà, mà công thì quản lí rất dở, kĩ thuật rất kém, nghi kị tư, bao nhiêu quyền lợi, ôm lấy trọn.

Công ti hợp doanh chỉ đứng được ít năm rồi cũng phải đóng cửa vì chính phủ cho số lời ít quá, thu thuế nặng quá, nhất là vì thiếu nguyên liệu, nhiên liệu. Như Công ti Giấy Bảo Lộc (trong đó tôi có ít cổ phần nhờ xin rút được tiền ngân hàng để giúp trong việc sản xuất) hoạt động được hai năm thì miền Bảo Lộc bị hạn chế điện, mỗi ngày máy chỉ chạy được 4 giờ buổi tối; rồi thiếu tre để làm bột giấy; chính phủ tự ý tăng giá tre bán cho công ti mà không cho tăng giá giấy bán cho chính phủ, rốt cuộc công ti lỗ nặng, phải tặng hết tài sản cho chính phủ (tôi cũng đã tặng cổ phần của tôi, trị giá hai triệu đồng cũ).

Các tổ hợp làm tiểu công nghệ của tư nhân như tổ hợp làm màn trúc, tranh sơn mài, đan áo, thêu, may áo… lây lất sống được là may, đa số phải ngưng hoạt động vì xuất khẩu không được, bán trong nước cũng không được.

Một ông bạn tôi mới cho hay chính quyền đã phải nhận rằng mức sản xuất của mình lúc này kém quá, có ngành chỉ được 5% ngành nào phát triển nhất cũng chỉ được 30% khả năng thôi. Thế thì biết đời kiếp nào mới xây dựng xong xã hội chủ nghĩa?

Ðã không sản xuất mà còn phá tài nguyên trong nước: phá rừng thông trên núi, rừng phi lao ở bờ biển, phá cả vườn cao su để lấy củi (bán ở Sài Gòn), dùng mìn và đồ rà điện để bắt cá lớn cá nhỏ trong sông rạch (cá linh còn nhỏ bằng đầu đũa mà đã bắt để bán ở Long Xuyên), bắn thú và chim, không có luật gì ngăn cấm cả. Làm chủ tập thể, nên không ai cấm ai được. Do đó nước mình trước kia tự hào là tiền rừng bạc bể mà nay đứng vào hàng mười nước nghèo nhất thế giới, có người nói hàng áp chót trên thế giới nữa. Lợi tức trung bình mỗi năm tính theo đầu người thì được 50 Mĩ kim, hai phần trăm của Nhật.

Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê (Tập 3)

Đăng lại từ Diễn Đàn Thế Kỷ (Diendantheky.net)

M.TRITHUCVN.NET

Công nghiệp mỗi ngày một xuống dốc. Những năm đầu (1955-1960), xe đạp chế tạo còn tốt, bây giờ tồi quá, dùng chưa đầy sáu tháng đã hư…

Tả quân Lê Văn Duyệt trong hồi ký của John White và John Crawfurd

Tả quân Lê Văn Duyệt trong hồi ký của John White và John Crawfurd

Patrick. J. Honey   

Năm 1822, toàn quyền Anh tại Ấn Độ, nhân danh triều đình Anh gởi sang Việt Nam một phái bộ để điều đình việc giao thương. John Crawfurd cầm đầu phái bộ, khi về nước đã cho ấn hành bản nhật ký cuộc du hành đến nước ta, mà khi ấy họ còn gọi là nước Cochin China[1]. Xin giới thiệu với bạn đọc để chúng ta biết thêm người ngoại quốc nhận xét về Tả Quân như thế nào.

…Người Mỹ đầu tiên đặt chân lên đất việt Nam là ông John White, tới Sài Gòn năm 1819. Ông ta rất khâm phục thành Sài Gòn thời ấy[2]. Theo lời ông White ghi chép lại thì “Đi ngược dòng từ Vũng Tàu trở lên, đây là mô đất cao đầu tiên, so với mặt nước sông thì cao hơn chừng 20 thước. Trước đây Sài Gòn là một vùng đồi, có rừng cây bao phủ, nhưng tổ phụ nhà vua Gia Long đã cho san bằng ngọn đồi và đào hào sâu chung quanh, lấy nước sông qua các ngòi lạch dẫn vào hào. Chung quanh thành là một bức tường dày đắp bằng gạch, cao chừng 6, 7 thước. Thành hình chữ nhật, nhưng gần như vuông, mỗi bề độ ba phần tư dặm (khoảng hơn một cây số). Đứng đầu thành này có quan Tổng trấn, hồi ấy là Tả quân Lê Văn Duyệt, dưới trướng có nhiều võ quan khác. Bên trong thành, vườn hoa ngoạn mục, ở giữa là cung điện nhà vua, có hàng rào cao vây quanh. Cung điện là một tòa nhà lớn, một chiều chừng 30 thước và chiều kia khoảng hơn 20 thước, làm bằng gạch, có hành lang bốn phía. Sàn nhà cao hơn mặt đất, lát gỗ, có cầu thang bắc lên cửa chính vào cung điện. Mái nhà lợp bằng ngói tráng men bóng lộn, đắp rồng phượng có màu sắc sặc sỡ. Hoàng Đế không hề vào thăm đất Sài Gòn từ khi bình xong nội chiến và vì thế cung điện không có ai ở, chỉ dùng để cất giữ ấn tín nhà vua và các văn thư. Trong thành có đủ chỗ để đóng tới 50 ngàn quân một cách dễ dàng…”

Nhân vật xuất chúng bấy giờ hiển nhiên là Lê Văn Duyệt. Ông White đã tỏ ý rất kính phục Tả quân ngay sau lần hội diện đầu tiên. Ông có ghi lại như sau: “Dáng diệu và phong độ của ông này (Lê Văn Duyệt) có vẻ uy nghi lẫm liệt. Ông có vẻ một đại thần đầy kinh nghiệm nhưng vẫn giữ được đức độ cương trực của con nhà tướng. Tính tò mò muốn hiểu biết và cách thức ông lựa vấn đề đem bàn tỏ ra ông là người có đầu óc phóng khoáng, luôn luôn muốn trau dồi kiến thức. Những lời bàn chính đáng của ông trong nhiều vấn đề tỏ ra ông có một khả năng tự nhiên rất mạnh và tầm kiến thức rất rộng. Chiến sự, chính trị, tôn giáo và những phong tục tập quán của các nước Âu Tây là những vấn đề mà ông bàn cãi đến một cách chăm chú… Khi óc tò mò của ông đã được thỏa về những đặc điểm ấy, thì ông tỏ vẻ khâm phục trí thông minh, tài khéo léo và sức mạnh của “Olan” (Hòa Lan) mà nói đến Hòa Lan tức là ông muốn nói đến Âu Tây. Rồi ông xúc động, như thể lòng tự ái bị tổn thương, ông than phiền về tình trạng tương đối còn thô lậu dã man trong đất nước ông”. Xuống dưới nữa, John White viết: “Sau khi gặp gỡ bậc vĩ nhân đó, ai cũng phải cảm thấy tiếc rằng lịch sử đã không xui khiến để ngôi báu lọt vào tay ông, vì ông mới là người biết dùng quyền lực để bồi đắp sự vinh quang và hạnh phúc của dân tộc, hơn hẳn ông vua độc tài thuở ấy…”.

Đối với những quan lại khác mà ông gặp thì John White chỉ tỏ ý khinh bỉ. John White kể lại rằng họ có những bộ điệu ta đây, làm ra quan trọng, nhưng cư xử như những đồ phàm tục, luôn luôn ngửa tay xin rượu Tây và uống cho đến khi say túy lúy và cãi nhau om sòm. Bọn quan lại này luôn luôn xin quà, bất cứ cái gì họ xin được của người Mỹ là họ đem về nhà. Trong sự giao dịch hành chánh thì họ vừa bất lực vùa tham nhũng, họ đớn hèn đến nỗi có thể đương kiểm tiền của người, mà ăn cắp mấy đồng nhét vội vào tay áo. Khi vị Khâm sai Lê Văn Duyệt không có mặt tại Sài Gòn thì vị quan quyền chức này có cái thói xấu là hay ném pháo để dọa khách khứa và mua tích trữ những số đường lớn để cho giá đường lên cao rồi đem bán cho khách ngoại quốc. White còn tả hệ thống quan liêu rất phức tạp của rất nhiều viên chức. Ai muốn tới buôn bán cũng phải đút lót những viên chức ấy. Nếu không chịu lễ lạc một phần tử nào trong cả guồng máy ấy thì tức thời công việc không những bị đình trệ mà bị những hậu quả trái ngược rất rõ rệt.

…Phái bộ mà toàn quyền Anh ở Bengale gởi qua Thái Lan và Việt Nam để mở liên lạc thương mại với hai nước này đã tới Vũng Tàu vào năm 1822. Ông trưởng phái đoàn này, John Crawfurd, sau này được bổ làm toàn quyền Tân Gia Ba, đã qua Sài Gòn nhưng chỉ ở lại đất Việt mấy ngày. Không như thuyền trưởng Mỹ White đã tới Sài Gòn trước ông ít lâu, Crawfurd cũng qua thăm cả Trung kỳ, đáp tàu men theo bờ biển tới Tourane[3] rồi từ đó dùng đường bộ lên kinh đô Huế. Crawfurd đã giữ một tập nhật ký về chuyến công du này và tôi muốn được trình bày cùng quý vị về những cảm tưởng và ý kiến mà ông đã phát biểu trong tài liệu đó.

Để tàu ở lại Cần Giờ là nơi tất cả thuyền bè ngoại quốc phải tới khai báo với viên chức hữu trách, Crawfurd và phái đoàn của ông lên Sài Gòn bằng những con thuyền nhỏ được cử ra để chở phái đoàn của ông lên Sài Gòn. Từ Sài Gòn, chính quyền địa phương đã phái bốn con thuyền và bảy viên quan ra tiếp phái đoàn Anh. Chất lượng những con thuyền này có thể được lượng định bởi thời gian đi ngược dòng sông lên Sài Gòn mất tất cả 10 giờ đồng hồ[4]. Mỗi con thuyền được chèo bởi 40 thủy thủ, người nào người nấy đều mặc quần áo đỏ và đội những nón lá có điểm thêm lông gà trống.

Bài của Crawfurd mô tả thành phố Sài Gòn cũng tương tự như Sài Gòn của John White. Tuy nhiên, Crawfurd đã nói thành phố này hồi đó gồm hai thị trấn, cái bây giờ gọi là Chợ Lớn thì hồi đó gọi là Sài Gòn, cái bây giờ gọi là Sài Gòn thì hồi đó gọi là Bến Nghé[5]. Một trong những thói tục kỳ lạ ở đó mà White đã không nhắc tới là tục trả lộ phí sang sông. Nhận thấy chỉ đàn bà con gái là phải trả tiền đò, còn đàn ông con trai được miễn tiền, Crawfurd bèn hỏi nguyên do thì được biết rằng tất cả trai tráng được coi như làm việc cho chính quyền nên được miễn đò phí.

Theo Crawfurd thì nhà cửa của thương gia Trung Hoa trông đồ sộ hơn nhà cửa của người Việt nhiều. Đang khi ông đi thơ thẩn trong thành phố thì ba gia đình Trung Hoa loại khá giả nhất đã ra cửa mời ông vào chơi. Bên trong những ngôi nhà của họ trông thật rộng rãi, đồ đạc rất nhiều và tiện nghi cũng đầy đủ. Và Crawfurd lại càng lấy làm ngạc nhiên khi thấy họ đã làm những bữa ăn thịnh soạn để thết đãi không những ông và tuỳ tùng mà cả những quân sĩ Ấn và Việt theo hầu nữa. Những người Trung Hoa đó, tự giới thiệu là con cháu của những người đã di cư từ Trung Quốc sang từ hàng mấy thế kỷ trước, những người đó đã khiến Crawfurd rất cảm phục vì ông đã mô tả họ như những người “rất thông minh và lịch thiệp”.

Điểm đáng chú ý thứ hai trong bản tường trình của Crawfurd là khi ông mô tả phong độ Tả quân Lê Văn Duyệt, Crawfurd đã viết như sau về đức Tả quân: “Ai cũng biết Tả quân xuất thân làm hoạn quan, nhưng nếu không được người khác cho biết thế thì chúng tôi đã không thể nào tự tìm hiểu được điều đó. Đã đành là ông hoàn toàn không có râu, nhưng râu ria người Nam kỳ là điều rất hiếm mặc dầu họ rất ưa để mọc ít nhiều. Giọng nói của ông thì cũng nhỏ nhẹ nhưng không tới độ khiến ta nghi ngờ. Là người đã đóng góp một phần quan trọng trong cuộc chiến và cuộc cách mệnh vừa qua ở Nam kỳ, ông là một nhân vật hoạt bát và thông minh. Ông cũng là một người nhỏ nhắn và mảnh khảnh nhưng trông vẫn khỏe và chẳng hề đau ốm gì trừ bệnh đau răng đã khiến cho ông bị mất gần hết hàm răng. Những vị quan lại khác thì bận những thứ quần áo lụa thêu thùa đủ kiểu, nhưng Tả quân thì trái lại, hình như hoàn toàn không để ý tới cách ăn bận và chỉ mặc một bộ áo dài thâm và vấn quanh đầu một chiếc khăn nhiễu cũng màu đen”.

Tả quân Lê Văn Duyệt đã cho trình bày với phái đoàn Anh mấy trò giải trí trong thành. Theo nguyên văn của Crawfurd thì “rất nhiều người Việt Nam đã tới xem cuộc vui này để được chứng kiến một vụ xung đột giữa hổ và voi. Con hổ này đã được buộc vào một sợi dây thừng lỏng dài chừng 30 thước cho nó có thể đi lại xung quanh một cột gỗ đóng dưới đất.

Mõm con vật đáng phàn nàn này đã được khâu lại trước cuộc tranh tài, môi dưới và môi trên sát hẳn với nhau để nó không thể mở mõm. Móng hổ đã bị rút bằng kìm để cho con vật không làm hại được voi. Tuy nhiên, con hổ đó, một con vật rất lực lưỡng, trông rất khỏe mạnh và giận dữ. Đối diện với hổ ở một khoảng xa là 46 con voi đực to lớn và trên cổ mỗi con voi đều có một anh quản tượng. Khi lệnh đánh được ban ra thì con voi thứ nhất bèn tiến lên hùng dũng và cứ trông con mắt của voi thì chúng tôi cứ tưởng nó sẽ đánh tan xác đối thủ của nó ngay. Vào vòng chiến, con voi bèn lấy ngà húc con hổ và ném hổ ta ra xa tới 6, 7 thước. Nhưng con hổ đâu chịu thua và nhảy lên mình voi định với đánh luôn cả anh quản tượng đang vắt vẻo trên đầu voi. Con voi sợ quá, co cẳng chạy mất. Con hổ đuổi theo cho tới khi bị thừng ngắt lại mới thôi. Con vật chạy trốn, tuy chẳng bị thương tích gì nhưng gầm lên một cách rất thảm thương và người quản tượng không làm được cách nào cho nó tái chiến. Sau đó ít lâu thì chúng tôi thấy một kẻ bị trói do hai sĩ quan đưa lên Tả quân.

Người đó là viên quản tượng xấu số và ngay lúc đó y bị phạt 100 trượng. Kẻ bị đánh bị nọc xuống đất, một người ngồi lên đầu, một người khác giữ chân anh ta và một số quân sĩ khác tiếp tay đánh cho đủ số 100 hèo. Hình phạt cử hành xong thì hai người khác đến khiêng kẻ bị phạt đi vì lúc đó anh ta đã chết ngất. Trong khi hình phạt này diễn ra thì Tả quân vẫn cứ nhìn cuộc đấu giữ voi và hổ một cách bình thản như chẳng có gì đặc biệt xảy ra.

Sau khi 10 hay 12 con voi đã tiến đánh con hổ thì con vật này mới chết, phần lớn là bị voi húc rồi quẳng xuống đất. Sức lực của những giống vật này thật vượt quá những gì tôi có thể tưởng tượng được. Có con đã ném được con hổ xa tới 10 thước khi hổ ta gần chết và không chống cự được nữa. Chúng tôi không khỏi kinh hãi khi nghĩ rằng chính những con vật đó có nhiệm vụ hành quyết những kẻ tội phạm bị án tử hình. Vào những dịp đó thì chỉ cần một cái ném như mô tả ở trên cũng đủ để giết tội nhân. Ai cũng bảo với tôi như thế.”

Đây là một trong những trò giải trí có thể xem được ở Sài Gòn vào thuở ấy. Lại còn một tập quán của người Việt, một tập quán đã mất đi từ lâu, đã được phái bộ Crawfurd chứng kiến khi đi chơi trong thành phố. Ở một đường phố, họ gặp hai người đang cãi nhau dữ dội. Cả hai đều ngồi dưới đất và một người thì níu lấy thắt lưng của người kia. Đó là một chị đàn bà đang giữ một anh hoạn quan và the thé tố cáo anh ta đã lấy đồ vật hay tiền bạc gì của chị ta. Hình như làm vậy tức là chị ta đã làm theo một thói tục của người Việt. Theo thói này thì khi ai muốn tố cáo một người khác lấy của mình bất cứ cái gì thì mình chỉ cần níu lấy thắt lưng của người đó. Và luật pháp buộc người bị níu phải chịu để cho người bắt giữ và không được kháng cự chi cả.

Phái bộ Anh không ở lại Sài Gòn lâu vì Crawfurd rất nóng lòng muốn ra Huế đề nghị liên lạc thương mại với vua Minh Mạng. Trước khi đi, ông ngạc nhiên thấy rằng Tả quân Lê Văn Duyệt đã từ chối những tặng phẩm mang lên biếu người, nói rằng nếu nhận những tặng phẩm thì người nợ phái đoàn Anh một món nợ và phải thúc giục vua Minh Mạng chấp nhận đề nghị của người Anh. Tả quân chủ trương rằng những đề nghị của phái đoàn Anh phải được cứu xét căn cứ trên chân giá trị của chúng và nhà vua có quyết định gì thì sự quyết định đó phải ở bên ngoài sự tán vào của những ông quan đã nhận quà biếu của phái đoàn Anh. Tả quân cũng cho biết rằng ông sẵn sàng nhận quà của phái đoàn Anh một khi cuộc đàm phán giữa hai nước kết thúc. Thái độ của Tả quân càng đáng kính phục khi ta nhớ rằng khi ấy các viên chức khắp châu Á xem những quà biếu như một quyền hạn và lắm lúc còn đòi khách ngoại quốc phải biếu xén họ…

Patrick. J. Honey
Trương Ngọc Phú chú giải
Trích “Tả Quân Lê Văn Duyệt và Vùng Đất Nam Bộ – tạp chí Xưa & Nay”

Đăng lại từ Fanpage Thú Chơi Sách

Chú thích:

[1] Xem: John Crawfurd, Journal of an embassy from the Governor – general of India to the courts of Siam and Cochin China. Henry Colburn, 1828, London.

[2] Thành này gọi là thành Phiên An, rất kiên cố, đủ cả hào và lũy. Năm 1835, sau sự biến Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng cho san bằng thành này và xây lại thành khác nhỏ hơn ở gần rạch Thị Nghè ( nay là sở Ba Son). Nhưng thành xây sau này cũng bị phá đi khi Pháp chiếm được Gia Định năm 1859. Năm 1877, khi đào móng xây nhà thờ Đức Bà, người ta còn thấy di tích của thành Phiên An cũ, một lớp tàn tro dày chừng 30 phân (theo Lê Đình Chân, sđd, trang 159).

[3] Tức Đà Nẵng ngày nay.

[4] So với phương tiện thủy ngày nay thì vẫn còn quá nhanh.

[5] Năm 1777, quân Tây Sơn vào đốt phá tan tành Nông Nại Đại Phố (cù lao Phố) ở Trấn Biên. Nhóm người Minh Hương bèn di chuyển xuống phía Nam ven hữu ngạn sông Sài Gòn mà lập thị trấn mới, tức Chợ Lớn ngày nay. Còn Sài Gòn là trung tâm hành chánh của Phiên Trấn và lưu dân khắp nơi tụ tập về sinh sống, nhỏ hơn Chợ Lớn nhiều. Qua nhiều đợt tiếp nhận dân nhập cư từ khắp nơi đổ về, Sài Gòn mới có bộ mặt như ngày nay.

Để TQ xây chui nhà máy 20.000m2, Chánh văn phòng Sở Xây dựng Bắc Ninh: “Bờ biển mới sợ, chứ ở chỗ này sợ gì”

NEWSREADERR.COM

Để TQ xây chui nhà máy 20.000m2, Chánh văn phòng Sở Xây dựng Bắc Ninh: “Bờ biển mới sợ, chứ ở chỗ này sợ gì” – Thư viện cuộc sông

Về việc DN Trung Quốc xây “chui” nhà máy, Chánh văn phòng Sở Xây dựng Bắc Ninh nói: “Bờ biển mới sợ, chứ ở chỗ này sợ gì”. Như Báo phản ánh trong bài viết: “Bắc Ninh: Doanh nghiệp (DN) Trung Quốc xây xong nhà máy mới xin… giấy ph…

Đường Sài Gòn ngập tới yên xe, người dân ngã nhào trong nước ngập

Ngô Thứ

 

Lo đóng tiền chống ngập nha.
Vừa ngập vừa bị mất tiền !!!

Cơn mưa lớn chiều ngày 4.6 khiến đường Tô Ngọc Vân (quận Thủ Đức, TPHCM) chìm trong biển nước, có đoạn ngập sâu đến yên xe máy.

Dấu chấm hỏi dành cho người CSVN

Dấu chấm hỏi dành cho người CSVN

Nguyễn Ngọc Già (Danlambao) – Lương Hữu Phước – người đàn ông ngoại ngũ tuần đã nhảy lầu tự tử vào chiều 29 tháng Năm năm 2020 vì cho rằng bị oan ức, sau khi tòa án tỉnh Bình Phước do bà Lê Hồng Hạnh làm chủ tọa phiên phúc thẩm – vào sáng 29 tháng Năm năm 2020 – tuyên án 3 năm tù giam về tội “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Mức án được giữ đúng như trong phiên sơ thẩm.

Cho đến khi tin ông Phước nhảy lầu được lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội, dư luận mới ngỡ ngàng và bàng hoàng về số phận một người đàn ông, vốn chịu nhiều đau khổ trước đó, với một cuộc đời bất hạnh bị dòng đời xô dạt theo cái chết của người con gái…

Trôi từ Long An, ông Phước cùng 2 người chị dạt về Đồng Xoài, mua được mấy mẫu đất trong suối Bàu Năng, cuối cùng mảnh rẫy của ba chị em cũng bị thu hồi không một đồng đền bù!

Có lẽ Lương Hữu Phước đã chọn cho mình một cách ứng xử ẩn nhẫn nhất, cốt chỉ mong được sống một cuộc đời bình lặng, sau những dập vùi!

Lương Hữu Phước – một người đàn ông bình thường – không ai biết tới ngoài vài người bạn cũng bình thường nốt – lại trở thành đại diện cho nỗi oan ức của người Việt Nam – bằng cái chết bi thảm trong một vụ án thật… đơn giản (!)

Dấy lên trong suy nghĩ của người đời, lại là chi tiết “được tại ngoại” suốt 3 năm qua, để giấc sáng của phiên phúc thẩm nghe tuyên án, rồi giờ chiều cùng ngày, Lương Hữu Phước chọn ngay trụ sở tòa Bình Phước để nhảy lầu, không phải một nơi nào khác…

Có lẽ suốt 3 năm tại ngoại, sự việc người bạn chết cũng dần phai nhạt trong tâm trí Lương Hữu Phước – bởi vốn dĩ ngay cả luật sư cũng xác định, lỗi không phải của ông?

Có lẽ cũng vì thế, người ta có thể hiểu được tâm trạng của Lương Hữu Phước – một tâm trạng của người đinh ninh mình vô tội?

Có lẽ cũng vì thế, Lương Hữu Phước sốc nặng với lời tuyên án lạnh lùng từ bà thẩm phán Lê Hồng Hạnh?

Có lẽ cũng vì thế, trước khi nhảy lầu tự vẫn, ông Phước đã viết trên facebook cá nhân: “Nếu cái chết của tôi làm thức tỉnh nền tư pháp tỉnh Bình Phước thì cũng đáng lắm chớ!”?

Ba năm tù giam không phải là thời gian quá dài cho một cuộc đời, tại sao hành động nông nổi vậy?

Ba năm tù giam để đánh đổi cả một sinh mạng là điều dại dột?

Biết bao nhiêu người oan khiên gấp trăm lần, người ta vẫn không chọn cái chết, tại sao Lương Hữu Phước chọn?

Hồ Duy Hải – một thanh niên vô tội bị kết án tử hình vẫn thiết tha sống kia mà?

Tại sao Lương Hữu Phước không sống để đi đòi công lý?

Cái chết của Lương Hữu Phước “đáng” cho những ai và cho điều gì?

Người ta không kịp hỏi hay ông Phước chưa kịp nói trong tâm trạng tuyệt vọng tột độ vào lúc đó?

Bất giác, những câu nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bỗng vang lên:

Người nằm co như loài thú khi mùa đông về

Người nằm yên không kêu than buốt xương da mình

Từng tiếng người, nhiều tiếng người gọi hoài giữa đêm

Người nằm co như loài thú trong rừng sương mù

Người nằm yên không kêu than chết trên căn phần…

Dáng người đàn ông nằm chết cong queo như dấu chấm hỏi…

Quá nhiều dấu chấm hỏi từ cái chết của Lương Hữu Phước nhưng có lẽ người dân Việt Nam không cần câu trả lời từ “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”?

Và một dấu chấm hỏi cuối cùng, hỏi thay giùm Lương Hữu Phước:

Cái chết mang hình dấu chấm hỏi của người đàn ông bình thường, tội nghiệp đó, có bao giờ người Cộng Sản Việt Nam hồi đáp bằng lương tri và lương tâm làm người?

02.06.2020

 Nguyễn Ngọc Già

 danlambaovn.blogspot.com

Vì tại dân nên họ dự tính dân phải đóng phí chống ngập.

Tôi tưởng mình đọc nhầm nhưng không, hoàn toàn là sự thật khi Thanh niên thông tin “Giá dịch vụ chống ngập trên địa bàn TP.HCM được đề xuất là 3.668 đồng/m2/tháng đang gây nhiều tranh cãi. Bởi xã hội hóa đồng nghĩa với việc người dân TP sẽ phải đóng phí chống ngập”!

À thì ra ngập ngang ngực, ngập tràn lan, ngập ngút ngàn, ngập như sông… là tại dân chứ không phải ông Trời hay ông A bà C hoặc quản lý tồi!

Vì tại dân nên họ dự tính dân phải đóng phí chống ngập. Có lẽ họ nghĩ đã vô số phí rồi thì thêm 1 vài loại phí nữa cũng chẳng chết ai!

KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định tác nhân gây ngập k phải tại dân mà ” do phát triển thiếu bền vững, đô thị hóa tràn lan, nhà cao tầng bạ đâu “cắm” đấy, thiếu không gian dành cho nước và không nâng cấp hạ tầng. Bằng chứng là có rất nhiều khu vực như “rốn ngập” Nguyễn Hữu Cảnh, trước đây không ngập. Từ khi hàng loạt dự án, cao ốc mọc lên thì vừa mưa đã ngập. Mặt khác, việc các dự án được “cắm” vô tội vạ, bê tông hóa toàn TP gây ngập là hệ quả của việc buông lỏng quản lý trong cấp phép quy hoạch, xây dựng.

Nhưng 1 số vị thì lại k nghĩ thế, họ nhấm nháy rằng phải dựa trên nguyên tắc thu đủ bù chi, nếu ngân sách k đáp ứng được thì thu thêm!
Giàng ơi! cứ chi k đủ thì lại thu cho đủ à?

Và họ còn bảo rằng so với nước ABCD nào đó thì dân SG mới đóng 10% thuế bảo vệ môi trường vào tiền nước, quá thấp chứ ở các nước ấy thuế phí gấp 2,3 lần giá nước sạch!

Vẫn như mọi khi, dường như họ lờ đi rằng dân mình nghèo bỏ bu, sao k so thu nhập đầu người?

Nhưng quan trọng hơn cả là từ chục năm nay đã bao lần các ông ấy hứa cần X đồng thì năm Y sẽ hết ngập, để rồi đổ vào đấy hàng chục ngàn tỷ mà vẫn chưa biết năm Z sẽ ngụp lặn thế nào?

Nhưng cái đích to nhất là thu phí nước ngập thần thánh lại bắt đầu đưa ra thăm dò để có phản ứng gì thì lại xem xét rồi tìm cách rập rình chen vào… Hãi quá!

– Hà Phan

Image may contain: car and outdoor
Image may contain: outdoor and water