Xin đừng gọi tôi là: Việt cộng

Image may contain: outdoor
Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: one or more people, sky and outdoor
Image may contain: one or more people, car, outdoor and nature
Image may contain: sky and outdoor
+2
Hoang Le Thanh

Xin đừng gọi tôi là: Việt cộng

Le Dinh

Posted on 27.09.2012

Nếu tôi có làm anh buồn, giận anh muốn chửi tôi là đồ ma-cô, đĩ điếm, quân chó đẻ, … hay những gì bỉ ổi xấu xa nhất cũng được, nhưng xin đừng bảo tôi mầy là thằng: Việt cộng.

Hai tiếng này, tôi không hiểu sao, cho đến ngày nay, nó trở thành hai tiếng xấu xa, kinh tởm nhất trong số những danh từ để ám chỉ những hạng người mà ai ai cũng oán ghét, hận thù và muốn xa lánh. Nhưng hai tiếng Việt Cộng nguyên thủy đâu có gì là xấu xa, nó chỉ là một danh từ ghép thường thôi, như rừng núi, biển khơi, đồng áng, … nhưng theo thời gian biến đổi, nó trở thành một danh từ ghê tởm và rùng rợn lúc nào chúng ta không hay.

Nếu ai chỉ một tên nào đó mà nói “Mầy là thằng Việt Cộng” thì có nghĩa người đó là một người xấu xa nhất trong xã hội hiện nay. Chẳng thà chửi cha người ta, người ta không giận bằng chửi “Mầy là thằng Việt Cộng”. Như vậy đủ biết hai chữ Việt Cộng bị người đời thù ghét như thế nào rồi. Mà nghĩ cũng đúng thôi.

Nhớ lúc tôi còn nhỏ, năm tôi 11 tuổi, còn học ở trường Tiểu học Vĩnh Lợi, cách làng Vĩnh Hựu của tôi chừng ba cây số. Mỗi sáng thứ hai đầu tuần, mẹ tôi phải đưa tôi đến trường và tôi lưu trú tại nhà dì tôi cho đến cuối tuần mới trở về Vĩnh Hựu. Một buổi sáng thứ hai đầu tuần, cũng như mọi khi, mẹ tôi xếp đâu 2 chục trứng gà vào một cái giỏ để khi đưa tôi đến trường xong là mẹ tôi ra chơ bán 2 chục trứng gà đó, lấy tiền mua các thức ăn khô khác. Hai mẹ con đang đi, độ còn nửa đường là tới làng Vĩnh Lợi, thình lình trong một bụi cây rậm rạp, có một người mặc đồ đen, tay cầm khẩu súng ngắn sáng loáng, nhảy ra chận mẹ con tôi lại, quát to: Đứng lại! Anh ta đưa họng súng ngay truớc trán mẹ tôi, rồi đưa sang qua tôi, quơ qua quơ lại trên đầu tôi, hỏi mẹ con tôi có phải đem trứng ra chợ để bán cho Tây không? (Lúc đó, ở tại chợ Vĩnh Lợi, ngay phía bên kia đầu cầu sắt, có một cái đồn của người Pháp đóng tại đó). Mẹ tôi run run nói:

– Dạ thưa ông, đâu phải, tôi đem trứng này ra chợ bán để lấy tiền mua thức ăn.

– Chứ không phải mẹ con bà đem lương thực cung cấp cho Tây sao?

– Dạ thưa ông, đâu có phải như vậy.

– Thôi lần này tôi tha cho mẹ con bà đó, nhưng giỏ trứng thì bị Ủy ban tịch thu. Nhớ lần sau, còn gặp mẹ con bà đem trứng ra chợ như vậy nữa là tôi sẽ bắn bỏ.

– Dạ mẹ con tôi đội ơn ông.

Thật hú hồn hú vía. Lần đầu tiên trong đời, tôi mới nhìn thấy khẩu súng lục. Sao nó uy dũng, hiên ngang, trông rất dễ sợ. Và cũng lần đầu tiên trong đời tôi mới biết đó là những kẻ gọi là Việt Minh, những người mặc đồ đen, đầu quấn khăn rằn, rồi sau này trở thành Việt Cộng và hai chữ Việt Cộng đã ám ảnh tôi từ suốt thời bé thơ cho đến khi khôn lớn.

Nếu không có lần bị đón đường, bị đe dọa bắn bỏ hôm đó, tôi đã trở thành một tên Việt Minh từ thời trẻ dại này rồi. Tôi còn nhớ rất rõ, ở tuổi 11, 12, tôi say mê những bài hát êm đềm, như:

“Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo lắng suối reo, ngàn thông reo
Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo đoàn quân réo, đạn bay vèo…”

Hay hùng dũng, như:

“ Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta ra đi theo tiếng gọi sơn hà nguy biến…”

Hoặc:

“Đoàn giải phóng quân một lòng ra đi
Nào có sá chi đâu ngày trở về…”

Và còn nữa:

“Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng
Kiếm nguồn tươi sáng…”

Hay là những bài thơ mà giờ đây hơn 60 năm qua, tôi vẫn còn nguyên trong trí nhớ:

“Tôi muốn tôi là một cứu thương
Cạnh theo chiến sĩ đến sa trường
Nằm lăn trên lá hay rơm ủ
Băng trắng đầu mình những vết thương”

Thật là lãng mạn, thật là dễ thương. Làm sao mà tôi không bị quyến rũ bởi nét nhạc, lời thơ như vậy được. Cho nên tôi có ý nghĩ là mình sẽ phải theo mấy anh lớn để được vào bưng, được nghe tiếng suối reo, ngàn thông reo, được nằm lăn trên lá hay rơm ủ, được nữ y tá săn sóc vết thương, … Rồi một ngày nọ, tôi được theo đoàn biểu tình đi bộ từ làng Vĩnh Hựu của tôi lên tới tỉnh Gò Công, cách xa làng tôi 14 cây số, để gọi là … ủng hộ Việt Minh. Thức dậy từ 3 giờ khuya, chuẩn bị cơm vắt muối mè, tập hợp lại rồi tháp tùng đoàn người, đi theo nhịp trống quân hành “rập rập thùng, rập rập thùng”… lội bộ suốt 14 cây số, nhờ vừa đi vừa hát “Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đàng”, cho nên thằng con nít 11 tuổi như tôi, khi đến nơi, nào có thấy chút mệt mỏi gì đâu? Nhưng sau lần gặp gã Việt Minh với khẩu súng giết người đó, tôi đã bừng tỉnh giấc mơ bỏ học, trốn cha mẹ để ra bưng biền.

Việt Cộng! Chỉ hai tiếng thôi, nhưng sao thiên hạ hoảng hốt, kinh hoàng khi nghe đến nó. Năm 1954, gần một triệu đồng bào miền Bắc, cũng vì hai tiếng này mà phải bỏ hết của cải, quê hương, làng xóm, mồ mả ông bà để chạy vô miền Nam xa lắc xa lơ, trốn khỏi bè lũ Việt Cộng. Năm 1975 cũng vậy, vì hai tiếng này mà hơn hai triệu người dân miền Nam phải liều chết, bằng đủ mọi cách để lánh xa loài quỷ dữ. Ở thôn quê miền Nam, khi nghe mấy tiếng “Việt Cộng về” hay “Mấy ổng về” là bà con gồng gánh, già trẻ, bé lớn chạy trối chết về phía thành phố để trốn khỏi bọn Việt Cộng. Rồi nào Việt Cộng pháo kích vào thành phố, vào quận lỵ giết hại dân lành, giết hại trẻ thơ nơi trường học. Việt Cộng đào lộ, đấp mô, đặt mìn, phá cầu, … Còn Việt Cộng ngày nay thì ngoài tham nhũng còn tội bán nước, buôn dân, bàn tay chúng phạm trăm ngàn thứ tội ác. Việt Cộng ngày nay bán rừng, bán biển, bán giang sơn cha ông cho Tàu, Việt Cộng ngày nay độc ác, tàn nhẫn với dân chúng, nhưng co ro, cúm rúm trước thằng Tàu như sợ ông nội, ông cố của chúng, bắt dân bỏ tù nếu dân đứng lên yêu nước chống lại lũ Hán xâm lăng.

Rồi tôi miên man suy gẫm, không biết những tên như Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng nghĩ sao – nhưng không biết những tên này có biết suy nghĩ không – chúng có thấy rằng sao mình đi đến đâu, thiên hạ bỏ chạy hết vậy? Mình giành được phân nửa xứ sở miền Bắc, đáng lẽ dân chúng phải ở lại với mình để kiến thiết xứ sở chứ, sao gần cả triệu người lại bỏ chạy vào Nam. Rồi mình cướp được luôn phân nửa miền Nam còn lại, thiên hạ lại ùn ùn bỏ chạy nữa, cả hơn hai triệu người xa lánh mình.

Tại sao và tại sao?

Chúng không tự đặt câu hỏi đó với chính chúng sao? Mình đi đến đâu thì người ta chạy trối chết khỏi nơi đó. Mình là thứ gì vậy? Nhìn hình ảnh cuộc di cư năm 1954, trên những chiếc tàu há mồm, nhìn những gương mặt hớt hơ hớt hãi, mất hồn, chạy đôn chạy đáo để rời khỏi Saigon tháng tư năm 1975, rồi nhìn những cảnh liều chết vượt biển lên đến cao điểm, từ năm 1975- 1980, nếu chúng là người, chúng phải suy nghĩ chứ? Mình cũng là người như họ, đầu, mắt tay chân cũng đầy đủ như họ, tại sao họ sợ mình mà chạy hết như thế? Mình có phải là quỷ dữ hay ác thú gì đâu?

Nhưng tôi nghĩ: Việt Cộng còn đáng sợ hơn là quỷ dữ nữa.

Nhìn lại, từ cái thời bé thơ, thuở mà mẹ con tôi đem hai chục trứng gà ra chợ bán để có tiền mua thức ăn cho gia đình, đến ngày nay, đã hơn 60 năm trôi qua, tôi cảm thấy rùng mình, ghê sợ. Từ những việc bắt người cho mò tôm, thả xác trôi sông thuở đó, cho đến những vụ lường gạt, gian dối cướp giật của Việt Cộng ngày nay, nhìn sự dã man tàn ác của Việt Cộng đối với người dân cùng chung máu mủ, … thật không thể nào tưởng tượng nổi. Quỷ chỉ nhát, chỉ hù người ta thôi, chứ không hại người ta, mà nếu quỷ có hại thì chỉ hại một người thôi. Còn Việt Cộng hại cả một dân tộc, tiệu diệt tất cả, đất đai, sông biển, núi rừng không còn, nhưng đó là nói về mặt những gì còn nhìn thấy được. Còn về mặt không nhìn thấy được thì là Việt Cộng tàn phá cả đạo đức, dung dưỡng tội ác, giết chết sự trong trắng trong lòng trẻ thơ, đưa nhiều thế hệ con em chúng ta vào vòng tối ám, dạy chúng dối trá, dạy chúng tội ác, …

Nhưng như vậy cũng chưa đủ. Những nguời đã quá sợ chúng mà bỏ xứ ra đi, để xứ cho chúng ở cũng chưa được yên thân. Chúng còn cho tay chân bộ hạ, núp bóng dưới danh nghĩa này, danh nghĩa nọ, chạy theo ra ngọai quốc để quyết hành hạ những người tỵ nạn Cộng sản này cho đủ … 36 kiểu của chúng. Thật trời không dung, đất không tha. Ngày xưa, chúng đã chiếm được phân nửa nước Việt Nam, tưởng đâu rằng chúng cùng miền Nam thi đua làm cho dân giàu nước mạnh, nhưng như chúng ta đã biết, Việt Cộng cho đến 1975, còn chưa thấy cái thang máy “biết tàng hình” là gì, chưa được nhìn chiếc đồng hồ “12 trụ, 2 cửa sổ, không người lái” là gì, không hiểu cái bồn cầu “để rửa rau” hay để làm gì, trong khi miến Nam lúc đó đã là một trong những quốc gia tân tiến ở Đông Nam Á châu. Rồi lòng tham vô đáy, thực hành chủ nghĩa Cộng sản toàn cầu của chúng, chúng cướp luôn miền Nam. Thiên hạ lại bỏ chạy, chúng rượt theo ra đến ngọai quốc để áp dụng … 36 kiểu lên đầu lên cổ người đã sợ chúng mà bỏ chạy 36 năm trước.

Nếu tôi có làm anh muôn vàn bực tức, xin anh cứ chửi tôi là thằng mất dạy, thằng láu cá, thằng bỉ ổi, thằng đê tiện, thằng vô học, thằng … thằng gì cũng được, hay bảo tôi là thằng không cha không mẹ, hay là thằng do … con gì sanh ra cũng được nốt, nhưng xin đừng bảo tôi là Việt Cộng. Mầy là thằng “Việt Cộng”, hai tiếng này nặng lắm, anh biết không? Nói như thế là anh chửi tôi đấy, mà chửi tôi thât nặng, đó là tiếng chửi ghê gớm nhất, đáng sợ nhất trong những tiếng chửi đương thời. Vì hai tiếng này đồng nghĩa với ác nhân, hung đảng, ác quỷ, ác tinh, man di, mọi rợ, lưu manh, gian xảo, côn đồ, thảo khấu, … lọai quỷ quái tinh ma, nghĩa là bọn trời đánh thánh đâm, trời tru đất diệt.

— Lê Dinh
https://saohomsaomai.wordpress.com/…/xin-dung-goi-toi-la-v…/

========

Vietnam 1970-71 by Inspector T. Xe đò trúng mìn. Thành tích của mấy ông ve chai.

Một chiếc cam-nhông (camion) bị trúng mìn của quý ông ve chai khủng bố. Đánh xe đò, giết toàn dân lành, đó là thành tích của Bên Thắng Cuộc. 1968. A civilian truck that hit a mine as our convoy was passing. Photo and caption by Gary Grace.

Thành tích vẻ vang của quý ông ve chai. Xe đò đụng mìn trên Quốc lộ 14 năm 1969. Photo by Michael T. Cunningham.

Hình chụp tháng Bảy 1969 tại Vĩnh Bình. Một chiếc xe đò bị trúng mìn của quý ông ve chai khủng bố. Đánh xe đò, giết toàn dân lành, đó là thành tích của Bên Thắng Cuộc.

Xe Lam đụng mìn Việt Cộng trên QL-1. This is a Lambretta that didn’t wait for us to complete a mine sweep of Ql-1. B Co 8th Engineer Bn 1st Cavalry. Photo and caption by Les White.

Cơ cấu tổ chức, nhân sự không thể thay đổi dưới thể chế độc đảng!

About this website

RFA.ORG

Cơ cấu tổ chức, nhân sự không thể thay đổi dưới thể chế độc đảng!

Gần đây xuất hiện một số đề nghị liên quan cơ cấu tổ chức, cơ cấu nhân sự cho bộ máy đảng, chính phủ và cả quốc hội Việt Nam. Những đề xuất như thế có giúp cải thiện bộ máy điều hành đất nước Việt Nam hiện nay hay khô…

Thêm một người ‘bất ngờ’ chết liên quan vụ án tử tù Hồ Duy Hải

LONG AN, Việt Nam (NV) – Vụ án tử tù Hồ Duy Hải trong thời gian qua, điều ly kỳ là liên tiếp trong nhiều năm xảy ra những cái chết của những người liên quan, từ công an đến điều tra viên, luật sư, nhân chứng.

Mới đây, hôm 10 Tháng Sáu, ông Trần Thanh Lâm, 38 tuổi, phó công an xã Nhị Thành, đột ngột tử vong trong lúc đang trực đêm tại trụ sở.

Theo báo Long An, buổi sáng cùng ngày, ông Lâm “đi tuần tra với các công an viên ở xã và có than đau đầu.” “Khi đang nằm võng xem TV thì các dân phòng nhìn thấy ông Lâm gồng người lên mấy lần, giống như bị khó thở. Mọi người lại kiểm tra thì phát hiện ông Lâm bất tỉnh và tím tái nên đưa đi cấp cứu nhưng ông đã tử vong. Suy đoán ban đầu là ông Lâm bị suy tim, suy phổi cấp dẫn đến tử vong đột ngột,” báo Long An tường thuật.

Báo Long An cũng cho hay gia đình ông Lâm thuộc diện khó khăn, hai con ông còn nhỏ. Hiện nhà chức trách đã giảo nghiệm tử thi và “đang điều tra, xác minh làm rõ nguyên nhân cái chết của ông Lâm.”

Liên quan vụ này, bản tin trên báo VOV của Đài Tiếng Nói Việt Nam tiết lộ: “Một đồng nghiệp trực chung ca cho biết, sau khi vào ngủ tầm 15 phút thì mọi người nghe có tiếng động mạnh tại giường ông Lâm nằm. Các đồng nghiệp chạy vào bật đèn thì thấy ông còn thở nhưng rất yếu và lịm đi sau vài phút. Sức khỏe của ông Lâm ngày thường rất tốt, hay đi tuần tra đêm cùng đồng nghiệp và về sinh hoạt bình thường.”

Xã Nhị Thành là nơi đặt bưu điện Cầu Voi, nơi xảy ra vụ án Hồ Duy Hải vào đêm 13 Tháng Giêng, 2008.

Facebooker Hoàng Dũng cho hay trên trang cá nhân rằng ông Trần Thanh Lâm vào ngành công an năm 2007. Ngày 21 Tháng Ba, 2008, ông Lâm thời điểm đó là công an viên, được ghi nhận “phát hiện ra đống than nằm giữa lối đi từ nhà bà Nguyễn Thị Loan, mẹ Hồ Duy Hải, sang nhà người dì của anh Hải.”

Liên quan tình tiết này, một số báo nhà nước dẫn cáo trạng nói anh Hải “khai nhận đống than là do đốt quần áo phi tang sau khi giết hai nữ nhân viên bưu điện Cầu Voi.”

Cổng vào xã Nhị Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. (Hình: longan.gov.vn)

Hôm 23 Tháng Năm, nhà báo Trương Châu Hữu Danh, phóng viên trang Báo Sạch, tiết lộ trên trang cá nhân rằng ông Nguyễn Thanh Long, nhân chứng cuối cùng nhìn thấy một trong hai nạn nhân ở bưu điện Cầu Voi, người ký bút lục 262, đã qua đời hồi năm ngoái ở tuổi 47.

Trước đó, hồi Tháng Mười Hai, 2019, Luật Sư Trần Hồng Phong, người trợ giúp pháp lý cho anh Hồ Duy Hải tại phiên xử “giám đốc thẩm,” kể trên trang cá nhân về hiện tượng “kỳ lạ” – bốn người tham gia trong vụ án Hồ Duy Hải đều bị đột tử. Đó là Huỳnh Văn Minh (công an viên xã Nhị Thành, đột tử trong lúc đang trực đêm vào năm 2009), Nguyễn Thanh Hải (công an viên chết năm 2010 vì tai nạn giao thông), Phạm Văn Tiến (phó ban chuyên án, trưởng phòng Cảnh Sát Điều Tra, người phát ngôn với báo chí về vụ Hồ Duy Hải, đột tử tại trụ sở cơ quan vào năm 2012) và ông Trần Ngọc Lẫm (kiểm sát viên cao cấp thuộc Viện Kiểm Sát Tối Cao tại Sài Gòn, người giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm xử Hồ Duy Hải, đột tử năm 2013 tại tư gia).

Ngoài ra còn một cái chết khác là Luật Sư Võ Thành Quyết, người từ công an chuyển sang làm luật sư và được chỉ định bào chữa cho anh Hải. Tờ Lao Động hồi Tháng Năm cho biết ông Quyết đã qua đời, “nhưng những gì còn lưu lại cho thấy ông đã không cố ‘cãi’ cho Hồ Duy Hải vô tội.”

Diễn biến mới nhất của vụ Hồ Duy Hải trên báo đảng là hôm 31 Tháng Năm, Ủy Ban Tư Pháp Quốc Hội thông báo đã tiếp nhận đơn cầu cứu mới nhất của bà Nguyễn Thị Loan. (N.H.K) [qd]

NGUOI-VIET.COM

Thêm một người ‘bất ngờ’ chết liên quan vụ án tử tù Hồ Duy Hải

Vụ án tử tù Hồ Duy Hải trong thời gian qua, điều ly kỳ là liên tiếp trong nhiều năm xảy ra những cái chết của những người liên quan.

Thêm một thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập bị bắt

Anh Lê Hữu Minh Tuấn, một thành viên trẻ của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam, vào ngày 12 tháng 6 bị cơ quan chức năng thành phố Hồ Chí Minh triệu tập làm việc và bắt đưa về Trại giam Chí Hòa.

Nhà báo độc lập/nhà hoạt động Phạm Đoan Trang vào tối ngày 12 tháng 6 xác nhận tin vừa nêu với Đài Á Châu Tự Do:

“Người nhà báo, Lê Hữu Minh Tuấn bị triệu tập làm việc rồi bị bắt đưa về Trại giam Chí Hòa. Đã có lệnh bắt.Tuấn là một người ôn hòa, kín tiếng và không phải là một nhà bất đồng chính kiến.”

Theo nhà báo độc lập/nhà hoạt động Phạm Đoan Trang thì anh Lê Hữu Minh Tuấn, 30 tuổi, thường được gọi là Lê Tuấn, ghi danh tham gia Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam từ năm 2015.

Anh Lê Hữu Minh Tuấn đã tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học Lịch sử tại Đại học Đà Nẵng. Hiện anh đang học thêm tại Đại học Luật Hà Nội.

Trong thời gian qua, sau khi chủ tịch Hội Nhà Báo Độc lập Việt Nam Phạm Chí Dũng bị bắt, anh Lê Hữu Minh Tuấn thường xuyên bị cơ quan an ninh mời, triệu tập làm việc.

Chủ tịch Hội Nhà báo Độc Lập Phạm Chí Dũng bị bắt vào ngày 21 tháng 11 năm ngoái và vào ngày 23 tháng 5 vừa qua, phó chủ tịch Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam Nguyễn Tường Thụy cũng bị bắt đưa từ Hà Nội vào giam tại Chí Hòa.

RFA.ORG

Thêm một thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập bị bắt

Anh Lê Hữu Minh Tuấn, một thành viên trẻ của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam, vào ngày 12 tháng 6 bị cơ quan chức năng thành phố Hồ Chí Minh triệu tập làm việc và bắt đưa về Trại giam Chí Hòa.

Không được thăm nuôi, tù nhân Việt kiều Úc Châu Văn Khảm ‘có thể chết’

Ngoc Luc

Không được thăm nuôi, tù nhân Việt kiều Úc Châu Văn Khảm ‘có thể chết’

*
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Hôm 7 Tháng Sáu, gia đình tù nhân Châu Văn Khảm, nói với tờ The Guardian (Anh Quốc) rằng không ai trong gia đình hoặc đại diện chính phủ Úc được phép gặp, gửi đồ thăm nuôi ông trong gần bốn tháng qua.

Ông Khảm, 70 tuổi, là công dân Úc gốc Việt, thành viên đảng Việt Tân, đang thi hành án 12 năm tù tại Việt Nam với tội danh “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” mà ông phủ nhận.

Ông Khảm và những người bạn thuộc “Hội Anh Em Dân Chủ” tại Việt Nam, bị y án sơ thẩm qua một phiên tòa xử “án bỏ túi” tại Sài Gòn hồi đầu Tháng Ba năm nay. Luật sư và gia đình ông Khảm cho biết rằng tình trạng bệnh tật của ông khiến bản án 12 năm tù “giống như bản án tử.”

Em gái ông, người sống ở Việt Nam, cho biết đã đi thăm ông trong tù lần gần nhất là vào Tháng Hai, gửi tiền và các loại thuốc trị bệnh cao huyết áp và mức cholesterol, bệnh tăng nhãn áp và sỏi thận, theo The Guardian.

Thời điểm đó, gia đình được thông báo rằng ông Khảm không còn ở trại giam B34 của Bộ Công An CSVN tại Sài Gòn nhưng không cho biết nơi ông được chuyển đến. Vài tuần sau, gia đình ông được báo tin rằng ông ấy đã bị chuyển đến một nhà tù “cách Sài Gòn hơn ba giờ chạy xe” nhưng vẫn chưa được liên lạc với ông.

Các chuyến thăm lãnh sự của sứ quán Úc Châu dự trù diễn ra từ Tháng Hai đến Tháng Năm đều bị hủy bỏ vì lo ngại về sự lây lan của COVID-19. Giấy phép cho một chuyến thăm vào Tháng Sáu được ghi nhận “đang chờ phê duyệt.”

Anh Dennis Châu, được tờ báo dẫn lời: “Bố tôi bây giờ đã già yếu mà không được giao tiếp với thế giới bên ngoài. Tôi lo lắng sức khỏe và tinh thần ông bị suy sụp. Bây giờ, trước mắt bố tôi là một hành trình dài cho đến ngày được ra tù mà không nhận được bất kỳ sự trợ giúp nào từ chính phủ Úc, có vẻ như họ đã quên mất ông rồi.”

 

NGUOI-VIET.COM
Hôm 7 Tháng Sáu, gia đình tù nhân Châu Văn Khảm, nói với tờ The Guardian rằng không ai trong gia đình hoặc đại diện chính phủ Úc được phép gặp, gửi đồ thăm nuôi ông

Bữa ăn của mẹ con chị Kiều!

Lê Vi

Bữa ăn của mẹ con chị Kiều!

Do Cty Huê Phong ở Gò Vấp nơi chị Nguyễn Thị Kiều làm công nhân giảm đơn hàng nên thu nhập của chị chỉ còn hơn 3,2 triệu đồng/tháng.

Sau khi trừ tiền nhà trọ, điện, nước hết 1,7 triệu, chị còn 1,5 triệu đồng để trang trải chi phí ăn uống.

Như vậy tổng chi cho ba bữa ăn sáng, trưa, tối của ba mẹ con chị không được quá 50.000 đồng!

Tương đương với một bát phở, cho cả ba người ăn, ba bữa trong ngày.
Ba mẹ con thống nhất mỗi ngày ăn uống không được quá 50.000 đồng.
Chị chia sẻ, thực đơn những ngày hậu dịch Covid-19 của ba mẹ thường trực “rau là rau”.

Chị cười: “5.000 đồng rau muống, 2 quả trứng chiên hoặc luộc, lấy nước rau làm canh. Vậy là xong một bữa”.

Bữa thịt gần đây nhất của ba mẹ con cách đây đã gần 1 tuần. “Tôi mua 40.000 đồng thịt gà về kho sả ớt, ăn cả ngày. Muốn có vị thịt heo thì mua 20.000 đồng da heo về phi tỏi ớt cũng ra một món.

Muốn có vị thịt bò thì mua 20.000 đồng bò viên hoặc gân bò về xào đậu ve. Sáng một gói mì tôm hoặc 5.000 đồng xôi” Tằn tiện như thế rồi bữa ăn bữa thèm cũng qua.

Chị Kiều quê Quảng Nam. Chị vào TP.HCM làm công nhân gần 20 năm. Chồng chị bỏ đi theo người khác khi đứa con gái nhỏ được 4 tuổi. Chị ở vậy gần 10 năm qua, một mình nuôi hai con.

Chị Kiều dù ở SG nhưng đã nghèo, nghèo quá rồi chứ k phải cận nghèo như những nhà ở Thanh Hóa nữa!

Tôi k biết anh chị thế nào chứ đưa tôi 50.000 đ để xoay xở 1 bữa cho 3 người thôi đã khó vô cùng tận chứ huống gì 3 bữa!

Người như chị Kiều những ngày này tôi nghĩ có lẽ không phải ít vì như chị nói “Dịch ập tới, ai cũng khổ hết, nên ba mẹ con cùng bảo nhau cố gắng thôi”. Riêng ở Huê Phong đã cắt giảm hơn 2000 lao động.

Còn tôi nghĩ, thôi thì cứ an ủi nhau ăn rau là sở thích như mấy đứa bé người Mông ăn ve sầu trên Đắk Lắk vậy!

Nguồn: Cuocsongantoan.vn

Fb Hà Phan

Image may contain: 1 person

Tự ý sửa điểm bài thi, quan có công cũng bị xử tử

Tự ý sửa điểm bài thi, quan có công cũng bị xử tử

  • Quê Hương Online
  • Thứ Sáu, 29/05/2020 • 20.9k Lượt Xem
  • Vì sửa điểm mà Tiến sĩ Ngô Sách Tuân mặc dù là bậc đại khoa, công thần của triều đình đương thời vẫn bị thắt cổ chết.

Ngô Sách Tuân (1648-1697) là người xã Tam Sơn, huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh). Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng bậc nhất lúc bấy giờ. Bản thân gia đình Ngô Sách Tuân có cha và anh trai cùng đỗ tiến sĩ và làm quan to trong triều.

Ông đỗ tiến sĩ năm Bính Thìn (1676) đời Lê Hy Tông khi 29 tuổi, làm quan thời vua Lê Hy Tông và chúa Trịnh Căn, từng được thăng tới chức Hữu thị lang bộ Lại. Khi trấn giữ vùng Lạng Sơn, ông đã lập công lớn trong việc dùng mưu bắt được dư đảng nhà Mạc lẩn tránh tận Trung Quốc.

Nhưng chỉ vì một sai lầm trong việc chấm bài thi mà cuộc đời cũng như danh tiếng của ông đã tiêu tan thành bọt nước. Không những phải mất mạng, Ngô Sách Tuân còn để lại một “vết đen” trong lịch sử khoa bảng nước nhà.

Các thí sinh đi vào trường thi Nam Ðịnh (năm 1897), họ phải tự làm lều và đặt chõng để viết bài.

Chuyện bắt đầu từ tháng 7-1694, Ngô Sách Tuân tố cáo Tham tụng Lê Hy lên triều đình về chuyện ông này lén lút đưa người con là Lê Thuyên và học trò là Tô Hinh vốn không có năng lực vào quan trường. Sự việc được tấu trình lên nhưng nhà vua xét thấy không đủ bằng cớ để kết tội Lê Hy nên đã giáng chức Ngô Sách Tuân. Hai người giữ mối hiềm khích kể từ đó.

Sau này, khi Ngô Sách Tuân giữ chức Phó chủ khảo trường thi ở Thanh Hóa thì trước khi đi ông có đến yết kiến Lê Hy.

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (quyển 34) chép lại nội dung câu chuyện này như sau:

Lê Hy bèn đem hình dáng giấy đóng quyển thi của các con mình cho Sách Tuân biết.

Nhưng, sau vì thấy quyển thi của các con Lê Hy không được xếp vào hạng trúng cách Sách Tuân muốn nhân dịp này xoá mối hiềm khích với Lê Hy, bèn lấy quyển thi của con Lê Hy đưa cho các quan giám khảo, bảo họ phê lấy đỗ.

Quan Đề điệu trường thi này là Phó đô ngự sử Ngô Hải biết chuyện, có thề với Sách Tuân là sẽ giấu kín việc này nhưng quan Tham chính Thanh Hóa là Phan Tự Cường phát giác được, tâu lên.

Triều đình giao cho các quan văn võ họp bàn, khép Ngô Sách Tuân vào tội giảo (bắt phải thắt cổ mà chết), Ngô Hải vì không biết lòng chính trực nên bị bãi chức, các quan giám khảo và phúc khảo đều bị phạt, còn Tự Cường được thăng chức Thiêm đô ngự sử.

Chép xong chuyện này, các sử gia thời Nguyễn đã có Lời cẩn án rất sắc sảo như sau:

Lê Hy làm Tể tướng một nước, thế mà gởi gắm con mình cho viên quan giữ việc chấm thi và Sách Tuân xu nịnh với riêng bậc đại thần mà mình nhận lời kí thác, đặt trong phép nước mà xét thì tội hai người như nhau, vậy mà chỉ mình Sách Tuân bị trị còn cha con Lê Hy thì không ai xét hỏi gì đến, như thế thì còn gọi là phép nước làm sao được nữa!

Phan Tự Cường biết hạch tội Sách Tuân mà không một lời nào đả động đến Lê Hy, thế thì so với người nịnh hót Lê Hy cũng chẳng hơn kém nhau bao nhiêu vậy. Tự Cường cũng cùng một loại với Sách Tuân mà thôi.

Có lời bình rằng:

Có mỗi một khoa thi Hương, kẻ đỗ cao nhất cũng chỉ là Cử nhân, vậy mà hỏng một cách thảm hại lại là bốn vị Tiến sĩ lừng danh: Lê Hy, Ngô Sách Tuân, Phan Tự Cường và Ngô Hải, nhục thay! Chư vị sử gia thời Nguyễn, sắc sảo thì quả là thật sắc sảo, song chừng như chư vị chỉ muốn mượn Lời cẩn án để kí thác chút tâm sự với thời cuộc đó thôi.

Tự cổ, búa rìu của phép nước vẫn giáng từ trên xuống, có đâu lại vung từ dưới lên, vung lên như thế, lỡ bay đầu Tể tướng, bay luôn đầu cả Chúa lẫn Vua, thiên hạ như gà con mất mẹ, biết nương tựa vào đâu. Vả chăng, vung lên lâu ngày quen tay thành tật, chư vị ngồi trong kinh thành, nhỡ bị họa lây thì lấy ai mà viết sử?

Kẻ hậu sinh này viết tới đây, ngẩn ngơ mà tình cờ dừng lại, ngắm mãi cái gì đen đen trong trang sử cũ, một lúc sau mới chợt nhận ra đó chính là xác Tiến sĩ Ngô Sách Tuân đang treo lủng lẳng, khô như một nét sổ của trang chữ Hán lạnh lùng. Mạo muội dịch ra quốc ngữ, lại nhìn kĩ lần nữa, thì chao ơi, cái xác treo lủng lẳng ấy bay vào trang đánh máy, chẳng khác gì cái dấu chấm than. Hóa ra, dấu chấm hết cuộc đời của Tiến sĩ Ngô Sách Tuân lại là dấu chấm than!

Tổng hợp theo bài viết “Dấu chấm hết cuộc đời Ngô Sách Tuân”
Theo Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần
Đăng tại tạp chí Quê Hương Online (quehuongonline.vn)

Con người mất nhân phẩm – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

Con người mất nhân phẩm – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

  • Nguyễn Hiến Lê
  • Trong một xã hội như vậy, con người dễ mất hết nhân phẩm, hóa ra đê tiện, tham lam, bất lương, nói láo, không còn tình người gì cả.
  • Tiếp theo phần trước

Năm 1975 đa số cán bộ, công nhân viên ở Bắc vào thăm gia đình, họ hàng ở trong Nam, còn giữ chút thể diện “cách mạng”, bà con trong này tặng họ gì thì họ nhận, chứ không đòi; về sau họ không còn giữ kẽ nữa, tặng họ một thì họ xin hai, không tặng họ cũng đòi, khiến một ông bạn tôi bực mình, nhất định đóng cửa không tiếp một người bà con, bạn bè nào ở Bắc vào nữa.

Gởi họ mang ra giùm một cuốn sách tặng một người ở Hà nội, họ giữ lại 5-6 tháng, vợ chồng con cái, bạn bè coi cho hết lượt, sách nhàu rồi, họ mới đem lại cho người nhận sách; có khi họ lấy luôn, nhắc họ, họ bảo thất lạc, để kiếm. Mà ba người nhận được sách thì chỉ có một người cảm ơn tôi.

Một nhà văn đất Bắc làm cho một tờ báo nọ nhờ một nhà văn trong Nam viết bài, hứa sẽ trả bao nhiêu đó. Viết rồi, đưa họ, họ đăng, nhưng kí tên của họ rồi đưa cho nhà văn trong Nam nửa số tiền nhuận bút thôi, còn họ giữ lại một nửa. Vừa ăn cắp văn, vừa ăn chặn tiền. Chưa bao giờ miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy. Một bạn học giả của tôi ở Bắc khuyên tôi đừng giao bản thảo của tôi cho ai hết, không tin ai được cả, họ sẽ đạo văn.

Thời Pháp thuộc, không bao giờ nhân viên bưu chính ăn cắp đồ trong các bưu kiện. Thời Nguyễn Văn Thiệu thỉnh thoảng có một vụ ăn cắp nhưng nhỏ thôi. Từ bốn năm nay ở khắp miền Nam, cứ 10 bưu kiện ở ngoại quốc gởi về thì có 6-7 bưu kiện bị ăn cắp hoặc đánh tráo vài ba món, thường là dược liệu và vải. Kêu nài thì nhân viên bưu chính bảo: “Không nhận thì thôi; có muốn khiếu nại thì cứ làm đơn đi”. Không ai buồn khiếu nại cả vì cả năm chưa có kết quả, mà nếu có thì số bồi thường không bõ. Cho nên chúng tha hồ ăn cắp, ăn cướp một cách trắng trợn. Trắng trợn nhất là chúng lấy trộm tất cả bưu kiện trong một kho, như ở Long xuyên năm 1981; nếu là kho lớn thì chúng đốt kho như ở Tân Sơn Nhất hai năm trước.

Nhơ nhớp nhất là vụ một cán bộ nọ vào hàng phó giám đốc, mưu mô với vợ, làm bộ tổ chức vượt biên cho vợ chồng con cái một đứa cháu ruột, bác sĩ ở Sài Gòn, nhận mấy chục lượng vàng của cháu (và sáu chục lượng vàng của gia đình bên vợ đứa cháu đó nữa vì họ cũng muốn vượt biên), rồi lừa gạt người ta, tố cáo với công an bắt hết cả nhóm trên mười người khi họ ra Vũng Tàu chờ ghe đưa ra khơi. Ða số cán bộ ở Nam đã tư bản hóa rồi, một xã hội chủ nghĩa xã hội mà như vậy thì chủ nghĩa đó chỉ còn cái tên thôi.

Sống dưới chế độ cộng sản, con người hóa ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia. Ngay một phó viện trưởng cũng làm việc điểm chỉ đó mà bạn trong viện không hay. Dĩ nhiên kẻ kiểm soát đó lại bị người khác kiểm soát lại. Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó.

Nạn làm tiền, tống tiền lan tràn khắp các ngành, cả trong ngành cứu nhân độ thế và ngành tống táng. Ðể cho bác sĩ ngụy đủ sống mà khỏi vượt biên, chính phủ năm 1980 cho phép họ ngoài giờ làm việc được khám bệnh ở nhà và định cho họ số tiền thù lao là 1 đồng ở Sài Gòn, 0.8 đồng ở tỉnh. Nhưng ở Long Xuyên bác sĩ nào cũng thu của bệnh nhân 10 đồng. Có kẻ ra một cái toa cần 9 thứ thuốc toàn đắt tiền, trị đủ các bệnh: tim, phổi, gan, thận, bao tử… cho một bà lão suy nhược, rồi bảo lại mua của một tên buôn lậu đồng lõa với họ. Tính ra toa đó mua cho đủ thì mất cả triệu đồng cũ (2.000 đồng mới). Một số bác sĩ không làm tiền cách đó, không ra toa mà bắt bệnh nhân mỗi ngày lại để các ông ấy cho thuốc và chích cho, và phải trả các ông ấy từ 60 đồng đến 100 đồng mỗi lần. Năm 1981, tiền thù lao từ 10 đồng đã hạ xuống còn 5 đồng, có lẽ vì bác sĩ làm riêng khá đông, cạnh tranh nhau. Và tháng 7-1981 có lệnh không cho bác sĩ công làm tư tại nhà nữa, mà muốn làm tư thì lại dưỡng đường làm ngoài giờ làm việc. Chưa thấy ai theo.

Bệnh nhân lỡ mà chết thì bị hàng xăng tống tiền: quốc doanh định giá 45 đồng kể cả một bịch thuốc lá và 4 thước vải thô, nhưng tang gia phải trả 400 đồng thì xăng mới được ghép lại kĩ, khỏi trống hổng trống hoảng với 8 cây đinh đóng hờ. Rồi tới nhà đòn cũng đầu cơ: hạ huyệt xong, phủ qua một lớp đất cho bằng mặt, muốn có cái mồ cho ra mồ thì phải đưa thêm vài trăm đồng nữa. Nếu đem thiêu mà cứ nộp đúng lệ thì xương ống, xương hông bị ném riêng vào một chỗ, chứ không thiêu hết. Ai nỡ để cha mẹ mình què!

Tất cả chỉ tại cái lệ chính phủ định giá, định lương rẻ quá không đủ cho dân sống, dân phải xoay sở lấy, bóc lột lẫn nhau. Cổ kim chưa có một xã hội nào phi lí như vậy. Vì biết mình phi lí nên chính quyền làm ngơ cho bác sĩ làm ăn, cho phép các giáo viên ngụy dạy thêm tại nhà.

Nói cho ngay, thời nào trong xã hội cũng có một số người lương thiện. Và ông Phạm Văn Ðồng đã nhận rằng thời này hạng đó thiệt thòi nhất. Tôi được biết một hai cán bộ trung cấp liêm khiết, chịu nghèo, nuôi heo thêm, chứ không tham nhũng. Gia đình họ phải ăn rau muống; quần áo thì vá đụp; có thể nói họ nghèo như các nông dân nghèo nhất thời xưa.

Tóm lại sau 5 năm chúng ta không thấy chút tiến bộ nào cả mà chỉ thấy sự chia rẽ trong xã hội, sự tan rã trong gia đình, sự sa đọa của con người, sự suy sụp của kinh tế.

Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê (Tập 3)
Đăng lại từ Diễn Đàn Thế Kỷ (Diendantheky.net)

Nền công nghiệp sau 1975 – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

Nền công nghiệp sau 1975 – Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê

• Nguyễn Hiến Lê

• Xí nghiệp quốc doanh nào cũng lỗ nặng. Người ta không hề tính sản xuất một hóa phẩm phí tổn mất bao nhiêu, bán ra được bao nhiêu, lời hay lỗ. Cứ việc sản xuất, lỗ cũng không sao, bán không được thì bắt dân tiêu thụ hoặc đổ đi.
Một kĩ sư ở Nga về đã trên mười năm, năm 1967 vào tham quan các xí nghiệp lớn miền Nam bảo tôi rằng cảm tưởng đầu tiên và mạnh nhất của ông ta là các xí nghiệp này chú trọng đến cái “profit” (lời) quá. Ông ta không hiểu nổi đó là một điều tự nhiên. Một cơ quan xuất bản, một tờ báo của chính quyền có lỗ cũng không sao, vì công việc đó có mục đích giáo dục quần chúng, không có tính cách thương mãi. Nhưng sản xuất một món hàng để xuất khẩu mà không tính lời, lỗ thì kinh tế làm sao đứng vững được.

Ngay như một tổ hợp vận tải trong nước mà lỗ hoài thì cũng phải dẹp tiệm, vì hết vốn, không có tiền mua xe mới để thay thế xe cũ.

Từ bia, nước ngọt, đến tôm cá, đồ hộp như khóm, màn trúc, quần áo may sẵn, đồ sơn mài… bất kì món gì, mới đầu phẩm còn kha khá, sau cứ mỗi ngày một tệ, bị ngoại quốc gởi trả về. Bia, nước ngọt có hồi bị trả về nhiều quá, bán cho công nhân viên không hết, tung ra bán cho dân, nhà nào cũng có một tuần lễ được mua một hai lần; kì cục nhất là đường thì thiếu cho dân dùng mà nước ngọt thì dân tha hồ uống.

Tôi hỏi một người bà con ở Hà Nội, họ bảo ở Bắc cũng vậy: công nghiệp mỗi ngày một xuống dốc. Những năm đầu (1955-1960), xe đạp chế tạo còn tốt, bây giờ tồi quá, dùng chưa đầy sáu tháng đã hư một vài bộ phận, lốp đã bể. Xe đạp là thứ cần thiết nhất, phổ thông nhất trong nước, mà như vậy thì những máy móc khác mới ra sao?

“Vua lốp” Nguyễn Văn Chẩn, một trong những cá nhân nổi bật với nhiều lần vào tù ra tội thời bấy giờ. (Ảnh bổ sung – Ảnh qua tienphong.vn)
Nguyên nhân rất nhiều: quản lí dở, thiếu kĩ thuật gia giỏi – những kĩ sư giỏi không được dùng hoặc phải ở dưới quyền một kẻ dốt, có tuổi đảng cao hơn; chương trình, kế hoạch không bao giờ thực hiện được đúng vì thiếu nguyên liệu, nhiên liệu, thiếu đủ thứ; vì các cơ quan không phối trí với nhau, chèn ép nhau là khác; vì chính sách làm chủ tập thể, máy móc không ai săn sóc, vật liệu không ai tiếc, tha hồ phí phạm, nhiều khi ăn cắp nữa; không có tinh thần trách nhiệm, ai cũng làm việc tà tà; lương ít quá, không đủ sống, mà siêng năng cũng chẳng được lợi gì, sáu năm mới lên một bực, lương tháng thêm mười đồng, mua được hai tô phở hay một kí đường.

Ngoài Bắc có câu: Làm thì đói, nói thì no, bò thì sướng, bướng thì chết.
Trong Nam lại thêm câu rằng: Làm cho lắm tắm không quần thay, làm lai rai ngày thay ba bộ.

Ðảng cộng sản là đảng của vô sản, của thợ thuyền, mà công nhân trong các xưởng tinh thần như vậy đó.

Lại còn cái này nữa: sở nào có việc nhờ sở khác giúp, muốn mau được việc, phải hối lộ sở đó; ngay sở công an cũng bị làm tiền. Việc thanh toán tiền nong giữa các sở với nhau rất bê bối! Sở thiếu nợ ỳ ra không chịu trả, sở chủ nợ không thu được, thiếu tiền, phải tạm ngưng hoạt động. Kiện ai?

Quyền của ngân hàng rất lớn. Cơ quan nào thu được bao nhiêu tiền cũng phải nộp ngân hàng, cần rút ra bao nhiêu cũng phải xin ngân hàng; mà ngân hàng có thể từ chối không phát hoặc lấy cớ là không đủ ngân khoản nên chưa phát. Vì vậy cơ quan nào cũng làm thân với ngân hàng, mua quà cáp tặng nhân viên ngân hàng, đãi đằng họ… Xứ nào, thời nào mà chẳng vậy: kẻ giữ tiền mới thực sự làm chủ.

Các công ti công tư hợp doanh cũng lỗ vì công với tư rất khó hợp tác với nhau: công làm chủ thì tư tà tà, mà công thì quản lí rất dở, kĩ thuật rất kém, nghi kị tư, bao nhiêu quyền lợi, ôm lấy trọn.

Công ti hợp doanh chỉ đứng được ít năm rồi cũng phải đóng cửa vì chính phủ cho số lời ít quá, thu thuế nặng quá, nhất là vì thiếu nguyên liệu, nhiên liệu. Như Công ti Giấy Bảo Lộc (trong đó tôi có ít cổ phần nhờ xin rút được tiền ngân hàng để giúp trong việc sản xuất) hoạt động được hai năm thì miền Bảo Lộc bị hạn chế điện, mỗi ngày máy chỉ chạy được 4 giờ buổi tối; rồi thiếu tre để làm bột giấy; chính phủ tự ý tăng giá tre bán cho công ti mà không cho tăng giá giấy bán cho chính phủ, rốt cuộc công ti lỗ nặng, phải tặng hết tài sản cho chính phủ (tôi cũng đã tặng cổ phần của tôi, trị giá hai triệu đồng cũ).

Các tổ hợp làm tiểu công nghệ của tư nhân như tổ hợp làm màn trúc, tranh sơn mài, đan áo, thêu, may áo… lây lất sống được là may, đa số phải ngưng hoạt động vì xuất khẩu không được, bán trong nước cũng không được.

Một ông bạn tôi mới cho hay chính quyền đã phải nhận rằng mức sản xuất của mình lúc này kém quá, có ngành chỉ được 5% ngành nào phát triển nhất cũng chỉ được 30% khả năng thôi. Thế thì biết đời kiếp nào mới xây dựng xong xã hội chủ nghĩa?

Ðã không sản xuất mà còn phá tài nguyên trong nước: phá rừng thông trên núi, rừng phi lao ở bờ biển, phá cả vườn cao su để lấy củi (bán ở Sài Gòn), dùng mìn và đồ rà điện để bắt cá lớn cá nhỏ trong sông rạch (cá linh còn nhỏ bằng đầu đũa mà đã bắt để bán ở Long Xuyên), bắn thú và chim, không có luật gì ngăn cấm cả. Làm chủ tập thể, nên không ai cấm ai được. Do đó nước mình trước kia tự hào là tiền rừng bạc bể mà nay đứng vào hàng mười nước nghèo nhất thế giới, có người nói hàng áp chót trên thế giới nữa. Lợi tức trung bình mỗi năm tính theo đầu người thì được 50 Mĩ kim, hai phần trăm của Nhật.

Trích hồi ký Nguyễn Hiến Lê (Tập 3)

Đăng lại từ Diễn Đàn Thế Kỷ (Diendantheky.net)

M.TRITHUCVN.NET

Công nghiệp mỗi ngày một xuống dốc. Những năm đầu (1955-1960), xe đạp chế tạo còn tốt, bây giờ tồi quá, dùng chưa đầy sáu tháng đã hư…