Jacquou họ Trịnh

 

Image may contain: 4 people, text

Ngô Thứ

Jacquou họ Trịnh

Jacquou là tên nhân vật chính trong tác phẩm Jacquou le Croquant của nhà văn Pháp Eugène Le Roy, xuất bản từ năm 1899. Gia đình ông bà cha mẹ Jacquou có truyền thống chống áp bức trong xã hội phong kiến đương thời. Jacquou là một nông dân trẻ làm cách mạng chống bọn ác quỷ quí tộc “the story of a young peasant who leads a revolt against an evil nobleman”. Truyện được truyền hình Pháp thực hiện thành phim năm 1969.

Có thể sự loạng choạng chính trị từ sau 1975 khi người dân cả nước “sáng mắt sáng lòng” về sự Tự do Dân chủ và sung túc tại miền Nam. Có thể vì sự thật hiển hiện trước mắt đó tự nó đưa đến nghi ngờ về việc bị đảng tuyên truyền “miền Nam bị bọn đế quốc Mỹ và tay sai áp bức và bóc lột”. Do đó phải phổ biến hình ảnh nông dân Jacquou làm cách mạng ngay tại phương Tây, cái nôi của chủ nghĩa tư bản, để xác định đảng đang đi đúng hướng? Phim thu hút được người xem giữa thời buổi chập choạng lúc bấy giờ.

Tựa bản dịch là Người Nông Dân Nổi Dậy, đã hẳn chế độ muốn xác định lại “họ chính là đại diện cho công nhân, nông dân làm cách mạng chống bọn đế quốc bóc lột”!

Hiện tại, 45 năm sau 1975, “cách mạng chống áp bức và bóc lột” đã “thành công” đến mức độ nào thì xin hãy xem hình ảnh công an cắt khóa cửa, bắt 3 trụ cột của gia đình nông dân Trịnh Bá Khiêm, tự nó là câu trả lời chính xác!

Việc tranh đấu của gia đình nông dân Cấn Thị Thêu, mẹ của Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, là câu chuyện dài, có sẵn trên mạng. Và sẽ còn rất dài. Cứ vào Google gõ khơi khơi Cấn Thị Thêu trong vòng 0,53 giây sẽ xuất hiện 199.000 kết quả.

Vấn đề ở đây là, chế độ hiện tại tự nhận là “người đại diện cho công nhân, nông dân chống áp bức và bóc lột” nhưng đã và đang biến gia đình nông dân Cấn Thị Thêu từ nông dân chân chính trở thành các nhà đấu tranh chống áp bức và bóc lột. Họ đang là biểu trưng cho tiếng nói phản kháng quyết liệt của nông dân với chế độ!

Khởi đầu phong trào phản kháng quyết liệt nầy từ tiếng súng hoa cải của nông dân Đoàn Văn Vươn tại đầm Cống Rộc. Ông Đoàn Văn Vươn quyết giữ đầm do công sức gia đình quai đê lấn biển hợp pháp gây dựng tại Tiên Lãng, Hải phòng, ngày 5/1/2012. Tiếp đến là tiếng súng của ông Đặng Ngọc Viết, nổ ngay tại văn phòng Trụ sở UBND thành phố Thái Bình, ngày 14/9/2013, mà hoàn toàn không phải vì tư thù cá nhân.

Những tiếng súng đó phải được hiểu là bắn thẳng vào bản chất chế độ với luật đất đai. Nạn nhân trên danh nghĩa là “được đền bù thu hồi đất” nhưng sự thật là bị cướp, do đảng đồng lõa với nhóm lợi ích.

Thời gian đằng đẵng từ Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Vườn rau Lộc Hưng và vô số kể những mảnh đời oan trái vì bị áp bức, cướp đất trên cả nước. Mới và đang rất gay cấn là vụ 3000 công an tấn công xã Đồng Tâm xử tử và phanh thây cụ Lê Đình Kình, người lãnh đạo tinh thần Đồng Tâm quyết giữ đất Đồng Sênh. Nông dân Trịnh Bá Phương là người gắn bó mật thiết với sư kiện đã đưa tin cực nóng về hành động man rợ đó ra công luận ngay từ ngày Đồng Tâm còn nội bất xuất, ngoại bất nhập! Vì thế cá nhân Trịnh Bá Phương là cái gai trong mắt đảng!

Chế độ “ưu việt” ở chỗ họ biến không biết bao nhiêu gia đình từ chủ nhân trở thành “dân oan” trên cả nước!

Hôm qua, 24/6/2020, ngay tại thời điểm công an đang dùng kiềm cắt khóa cửa nhà, nông dân Trịnh Bá Phương bình tĩnh tường thuật cho đến giây phút cuối trước khi bị còng tay. Anh mô tả sự việc đang xảy ra và xác nhận với công luận tình trạng sức khỏe anh rất tốt, nên nếu bị chết là do công an giết chứ không phải anh tự tử như hơn 200 nạn nhân chết tại đồn mà báo cáo của công an thường cho là “nạn nhân tự tử”. Anh yêu cầu không chôn xác, để minh chứng tội ác của cộng sản!

Can đảm và minh bạch ngay trong giây phút căng thẳng tột độ như vậy tự nó đã xác định anh chính là Jacquou trong phim Người Nông Dân Nổi Dậy!

Nhưng Jacquou Trịnh Bá Phương đang ở thì hiện tại. Là người thật, việc thật. Không phải là nhân vật của phim.

Đảng từng dùng hình ảnh Jacquou của phim để tuyên truyền. Coi Jacquou là biểu trưng cách mạng thì tại sao còng tay một Jacquou bằng xương bằng thịt trước mắt?

Vì thế, cho dù có dùng cả hệ thống báo chí tuyên truyền nhồi sọ cũng không thể xuyên tạc được hình ảnh Jacquou Trịnh Bá Phương. Hơn thế nữa, với dòng chảy thông tin cuồn cuộn và bất tận của internet thì cho dù đảng có sức mạnh khổng lồ cũng vô phương ngăn chặn hay bóp méo được sự thật.

Có điều, Jacquou trên phim thọ được 90 tuổi, còn tuổi thọ Jacquou Trịnh Bá Phương và cả gia đình họ Trịnh thì, phần nào đó, rất cần đến sự hợp lực tranh đấu bền bỉ của mọi người. Vì yêu cái Thiện Lành phải chống cái Độc Ác cho đến tận cùng.

25.06.2020
Hồ Phú Bông

Một ngôi làng, một gia đình…

Trần Bang
BÀI VIẾT DÀI, NHƯNG ĐÁNG ĐỌC!

Một ngôi làng, một gia đình…

Giữa một thời mà Việt Nam tự hào là nước yêu hoà bình, gìn giữ hoà bình, giải quyết xung đột chủ quyền bằng phương pháp đối thoại hoà bình…mà trong một dêm hàng ngàn cảnh sát chính quy được huy động súng ống, đạn dược tấn công một ngôi làng quê.

4 người chết vì đạn bắn, dao đâm, lửa đốt và gần 30 người nông dân già trẻ, trai gái bị bắt vì tội ” giết người ”.

Sự việc để lại bàng hoàng trong lòng người dân Việt Nam, nhiều lời cảm thán nén trong lòng như.

-Ta đang sống thời nào đây?

Hàng ngàn đứa trẻ tuổi đôi mươi được nhà nước huy động lên mạng xã hội chửi rủa những người dân làng kia, họ được nhồi nhét tư tưởng thành những kẻ khát máu, sùng sục căm hơn. Chúng buông đủ mọi lời lẽ man rợ và thô tục như đm thằng già Kình phải treo xác mày lên, giết cả họ nhà mày, băm thây bọn dân làng này…

Không những chúng căm dân làng ấy, chúng căm hận cả nhưng ai cất tiếng nói đòi làm rõ ngọn nguồn.

Chứng kiến một cuộc tấn công đầy mùi súng đạn chiến tranh và chết chóc ở ngôi làng kia đã là một vết thương lớn trong lòng người có lương tri, hậu quả vết thương này sẽ còn lâu lắm mới nguôi ngoai. Nhưng đau xót hơn là những việc như thế không có gì bảo đảm sẽ không còn xảy ra. Đọc những gì mà đám thanh niên đang ở trong công an, quân đội tung lên mang xã hội. Chúng ta thấy rằng với tính chất khát máu được nhồi sọ như vậy vào những người lính trẻ trong lực lượng vũ trang, những cuộc đàn áp đẫm tang thương như thế trong đất nước này sẽ còn tái diễn.

Một thanh niên khát máu trong lực lượng vũ trang, đoàn viên như thế ít nhất là có 2 người thân là bố mẹ. Nếu tính ông bà, anh em ruột thì bình quân một thanh niên ấy có đến 4 người thân tất cả. Đấy lại là một nỗi xót xa nữa, những người như thế thấy con em mình thái độ khát máu như vậy, không can ngăn hoặc không biết, hoặc còn ủng hộ chúng suy nghĩ như vậy.

Nghĩ xem tương lai đất nước này sẽ là gì ? là những khối người, những giai cấp đang nung nấu trong lòng sự thù hận lẫn nhau. Xã hội Việt Nam ngày nay đang phân hoá sâu sắc giữa người giàu và người nghèo, giữa những ngừoi hưởng đặc quyền, đặc lợi và những người bị đối xử bất công. Từ những phân hoá ấy được hỗ trợ thêm bằng lòng thù hận sẽ dẫn đến những hành động độc ác từ cái lớn như pháp luật ở phiên toà, thái độ của quốc hội đến những cái nhỏ nhất như mớ rau, con cá tẩm hoá chất. Có nghĩa làm gì được lợi cho mình, chết người khác cũng mặc mẹ nó.

Kẻ quan chức, dân biểu nghĩ như vậy. Kẻ bán rau, thịt cũng nghĩ như vậy.

Từ đâu mà một gia đình nông dân bình thường, thuần chất như gia đình bà Cấn Thị Thêu trở thành người phản kháng lại nhà nước?

Nói chính xác họ phản kháng lại những chính sách, quyết định bất công của nhà nước. Từ những chính sách, quyết định bất công ấy đã khiến họ phải bất đắc dĩ trở thành người phản kháng.

Hãy nhìn cuộc sống của họ xem, họ làm nông, trồng cây lấy trái bán,. Họ chăm chỉ sớm khuy bên chậu cua đồng ngoài chợ. Họ tần tảo, lam lũ như bản tính nông dân của cha ông họ hàng ngàn năm trước. Họ quây quần vợ chồng, con cháu ấm êm trong một mái nhà.

Những người nông dân thuần chất như thế không thể hứng lên mà thành phản động chống nhà nước. Chỉ có nhà nước dồn ép họ thành người phải phản đối lại chính sách nhà nước bằng thứ vũ khí đơn sơ nhất mà ai cũng mang trên người, đó là lời nói.

Hôm nay xem clip Trịnh Bá Phương nói trong lúc công an dùng kiềm cộng lực phá cửa nhà Phương. Phương bình thản nói khúc chiết, không cao giọng, không hận thù, hình ảnh đứa bé con Phương mới sinh được vài ngày nằm trong nhà. Ngoài kia là một lũ người đang sừng sực khí thế đàn áp phá cửa.

Tôi ứa nước mắt, tôi đau đớn trước thái độ bình thản của Trịnh Bá Phương lắm. Một người nông dân, một người cha, một người đàn ông hàng ngày ngồi chợ bốc cua cân bán, nào phải anh hùng gì đâu, được tôi luyện rèn giũa như quân đội , công an đâu. Cái khí chất ấy không phải khí chất của một anh hùng, một tráng sĩ. Đó là phản ứng của một con người hiền lành, chất phác đã tuyệt vọng về đạo lý, pháp luật ở xã hội này.

Cái đó mới gây xót xa, càng ngẫm càng xót xa cho phận người địa vị nhỏ nhoi trong xã hội.

Tuyêt vọng về đạo lý khi thấy hàng triệu người dân khác thờ ơ, bàng quan trước những bất công. Tuyệt vọng về pháp luật khi chứng kiến sự công bằng bị chà đạp trắng trợn.

Thủ đoạn bắt cả gia đình một lúc thật dã man, đòn khủng bố này sẽ đánh vào tình ruột thịt. Ai cũng muốn nhận tội về mình để mẹ, anh trai, em trai của mình về. Với tâm lý ấy, thành ra ai cũng là người nhận tội nhiều nhất. Người ta sẽ dùng thủ đoạn, mày nhận đi tao sẽ để anh mày, em mày, mẹ mày, con mày về chẳng hạn.

Ai mà đủ tỉnh táo để khước từ lời đề nghị như thế?

Một ngôi làng tang tóc, một gia đình tang thương. Một xã hội hận thù nhau từ thượng tầng đến hạ tầng. Từ những đồng chí trong uỷ viên bộ chính trị hận thù nhau đến xương tuỷ, ngày đêm bày mưu tính kế để diệt cả dòng họ nhau. Đến những người dân đen bán rau, bán cá cũng dùng hoá chất hại người một cách thản nhiên như lẽ sống ở đời này là phải thế.

Khi tôi viết những dòng chữ này, con trai tôi vào hỏi, bố làm việc à, bố có thấy Picachu của con đâu không? Tôi chỉ chỗ Picachu, con trai tôi ôm con thú bông Picachu thơm rồi nói con cảm ơn bố.

Một thiếu niên 15 tuổi, cao bằng bố, đi tìm Picachu để ôm ngủ, nói lên điều gì?

Là xã hội, cuộc sống mà nó đang ở đó không phải xã hội mà 10 năm trước nó sống.

10 năm trước lúc nó 5 tuổi. Nhìn thái độ của mẹ nó khi nghe điện thoại, nó hỏi mẹ nó.

– Mẹ ơi, bố lại bị người ta bắt rồi à.?

Con của Trịnh Bá Tư, Trịnh Bá Phương giờ chắc đang ngủ say….

Facebooker Thanh Hieu Bui

(Copy FB Phạm Nguyên Trường )

Image may contain: 4 people

TỔNG CỘNG 6 NGƯỜI BỊ BẮT CÙNG NGÀY VỚI CÁO BUỘC CHỐNG NHÀ NƯỚC.

Image may contain: 1 person
Image may contain: 1 person
Image may contain: 4 people

Ngô Duy QuyềnFollow

TỔNG CỘNG 6 NGƯỜI BỊ BẮT CÙNG NGÀY VỚI CÁO BUỘC CHỐNG NHÀ NƯỚC.
– – – – – – – – – – – – – –
Theo Fb Phạm Thanh Nghiên:

Ngoài 4 dân oan Dương Nội bị bắt vào sáng 24/5/2020 là bà Nguyễn Thị Tâm, bà Cấn Thị Thêu và hai con trai, anh Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, còn có hai người khác bị bắt cùng ngày.

Ông Vũ Tiến Chi, sinh năm 1966 quê Nam Định, cư trú tại Bảo Lộc , Lâm Đồng. Báo chí nhà sản nói rằng ông Chi bị bắt khi đang livestream … nói xấu đảng.

Người còn lại là bà Nguyễn Thị Cẩm Thuý, sinh năm 1976, từng là một giáo viên dạy cấp 2 nhưng đã bị đuổi việc do quan điểm chính trị đối kháng với đảng cộng sản. Bà Cẩm Thuý bị kết tội “đốt quốc kỳ và hình hồ chí minh”.

Cả 6 người trên đều bị bắt giam với cáo buộc “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống NNCHXHCN VN”- điều 117 BLHS năm 2015.

Tóm lại, cả 6 người bị bắt “can tội” nói thật, không chịu thoả hiệp, khuất phục trước chế độ độc tài. Nực cười ở chỗ họ bị buộc tội chống cái không có thật. Ông Trọng, TBT kiêm CTN từng khẳng định, cuối thế kỷ 21 chưa chắc VN đã có xã hội chủ nghĩa. Chưa phải nhà nước XHCN mà kết tội dân chống NN XHCN thì là vu khống, là chống cái không tồn tại, không có thật, chống ma chống quỷ chứ cái gì nữa.
Lộn ruột.

Bà Nguyễn Thị Tâm, Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Phương đã bị công an bắt đi vào sáng nay 24/6/2020

Từ Thức to TT GROUP

Bắt hết, nhốt hết, bịt miệng hết

Image may contain: 6 people, people standing and flower
Image may contain: 1 person, outdoor
Image may contain: 1 person, standing
Image may contain: 1 person, text

Phạm Thanh Nghiên is with Trịnh Bá Phương.

TIN KHỦNG BỐ:

Ba người hoạt động nhân quyền nổi tiếng và cũng là những dân oan tại Dương Nội là bà Nguyễn Thị Tâm, Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Phương đã bị công an bắt đi vào sáng nay 24/6/2020. Tin cho hay, hàng chục công an đã xông vào nhà Trịnh Bá Phương và lôi anh đi. Trong khi đó, bà Cấn Thị Thêu đang ở nhà con gái cũng bị bắt đi từ sáng sớm. Theo tin từ bà Lân Tường Thụy, vợ của ông Nguyễn Tường Thuỵ, người mới bị bắt hôm 23/5 thì cả bà Thêu và Phương đều bị đánh trong khi bị bắt.

Hiện chưa có thông tin gì về lệnh lệnh khởi tố hoặc bắt giam ba nhà hoạt động trên. Nhưng rất có thể đây không phải là vụ câu lưu, khủng bố thông thường (tức bắt rồi thả) mà là một vụ bắt giữ có tính toán từ trước của nhà nước. Nhiều nhà hoạt động khác tại Hà Nội cho biết họ bị canh gác và bị cấm ra khỏi nhà.

Trịnh Bá Phương là một gương mặt khá trẻ, có uy tín không chỉ đối với những dân oan mất đất mà các hoạt động của anh được giới đấu tranh nhân quyền quan tâm và ủng hộ. Trong vụ án công an giết cụ Lê Đình Kình và đánh đập, bắt giữ nhiều người dân Đồng Tâm, Trịnh Bá Phương là một trong những nhân vật được chú ý nhất bởi các tin tức nhanh, kịp thời và liên tục được anh cập nhật và chuyển đến công luận. Những ngày gần đây, Trịnh Bá Phương thường xuyên nhận được nhiều lời đe doạ từ những kẻ lạ mặt. Báo chí quốc doanh thậm chí còn viết bài xuyên tạc và tấn công anh. Việc làm ăn, sinh sống (bán cua đồng) của Phương cũng bị gây khó khăn.

Một tin quan trọng cần chú ý là vợ Phương mới sinh con thứ hai, một bé trai vào hôm 20/6/2020, cách đây mới bốn ngày. Việc công ban bắt Trịnh Bá Phương và bà Cấn Thị Thêu không đơn giản chỉ là hai án tù, mà còn là sự huỷ hoại về cả thể chất lẫn tinh thần nhằm vào các thành viên còn lại trong gia đình bà Thêu, nhất là đối với con dâu và cháu nội của bà.

Bà Cấn Thị Thêu được biết tới như là một thủ lĩnh của dân oan Dương nội không chỉ bởi sự thông minh, sắc sảo, lòng quả cảm và ý chí kiên cường của bà. Bà Thêu đã trải qua hai lần tù cộng sản. Nếu lần này bị truy tố, bà Cấn Thị Thêu sẽ lập kỷ lục không mong muốn là đi tù lần thứ ba, nhiều nhất so với các nhà hoạt động nhân quyền đương thời. Ông Trịnh Bá Khiêm, chồng bà Thêu cũng từng bị bắt chung với bà và bị án tù chỉ vì đấu tranh bảo vệ tài sản của gia đình, chống bất công xã hội. Con trai thứ hai của bà Thêu là anh Trịnh Bá Tư cũng là một nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng.

Bà Nguyễn Thị Tâm, còn có biệt danh khác là Tâm Dương Nội nổi tiếng bởi các video trực tiếp bà tường thuật tại những điểm nóng như khi đi kiện tụng, các lần biểu tình hoặc phỏng vấn dân oan. Giống như bà Thêu, bà Tâm là người phụ nữ mạnh mẽ, sắc sảo, thông minh và can trường. Bà từng làm đơn khởi kiện chủ tịch UBND quận Hà Đông và đã nhận được thống báo và giấy triệu tập cho phiên toà sắp tới.Theo giấy triệu tập, vào 8g ngày 7/7/2020 sẽ diễn ra phiên toà trong Vụ án hành chính giữa người khởi kiện là ông Nguyễn Đình Thiệp và bà Nguyễn Thị Tâm với người bị kiện là chủ tịch UBND quận Hà Đông. Phiên toà được mở tại trụ sở TAND cấp cao tại Hà Nội và bà Tâm phải có mặt với tư cách người khởi kiện.

Nhắc đến vụ bà Nguyễn Thị Tâm kiện người của phe cộng sản, thấy … quen quen. Hồi tôi đang theo đuổi vụ kiện UNND TP Hà Nội (vì không cho dân biểu tình) thì đùng một cái, tôi cũng bị bắt đi 4 mùa hoa mía. Thế nhưng khi tôi đang ăn cơm tù thì thanh tra Hà Nội lại gửi giấy mời tôi đến trụ sở của họ để … làm việc. Tức là phe nhà nước hay dùng luật để đùa dân lắm. Mà đùa thế chả vui tẹo nào.

Trước thềm đại hội đoảng, những người dân nói thật, và nói to, nói nhiều cứ chuẩn bị tinh thần vào rọ là vừa. Nhưng đã nói thật thì phải nói to cho thiên hạ biết, vì đấy là trách nhiệm của một người chân chính, yêu lẽ phải.

(Hình (1) bà Cấn Thị Thêu ra tù lần hai và hình (3) bà đón cháu nội mới chào đời 4 hôm trước.
Hình 2: Trịnh Bá Phương
Hình: Bà Nguyễn Thị Tâm).

Cập nhật:
Tin từ chồng bà Thêu là Trịnh Bá Khiêm cho hay, trong khi vợ và con trai lớn Trịnh Bá Phương bị bắt ở Dương Nội, thì công an cũng lùa quân lên Hòa Bình bắt con trai thứ hai của ông là Trịnh Bá Tư.

LIỆU VIỆT NAM CÓ TRỞ THÀNH KHU TỰ TRỊ CỦA TRUNG QUỐC ???

Phan Thị Hồng
LIỆU VIỆT NAM CÓ TRỞ THÀNH KHU TỰ TRỊ CỦA TRUNG QUỐC ???

NẾU TRỞ THÀNH MỘT KHU TỰ TRỊ CỦA TRUNG QUỐC, VIỆT NAM SẼ RA SAO?

(Xin đăng lại bài quan trọng)

(Trần Đình Sử – Giáo sư – Nhà Giáo Nhân Dân).

Trước hết tên nước bị xóa mất.
Dân Tàu tràn sang ta.

Chữ Hán là ngôn ngữ chính, tiếng Việt như tiếng Chuang (dân tộc thiểu số của Trung cộng) bây giờ.

LIỆU VIỆT NAM CÓ TRỞ THÀNH KHU TỰ TRỊ CỦA TRUNG QUỐC ???

Vì có một số ý kiến quan trọng của các bậc trí thức và được sự đồng ý, nên nhà báo Sương Quỳnh Hoa Kim Ngo tổng hợp đưa hắn riêng một stt để các bạn tiện theo dõi

TS Hà Sĩ Phu:

“Tôi rất đồng ý với bác Trần Đình Sử (bạn đồng môn của tôi, ở Đại học ngoại ngữ, học tiếng Nga để chuẩn bị đi Nga làm NCS, nhưng tôi lại chuyển sang đi Tiệp). Một số bạn bè vẫn lên tiếng mạnh mẽ tâm sự với tôi: Biết rằng bây giờ dù có nói mấy cũng không ích gì nữa, ván đã đóng thuyền, “chơi cờ” với thằng Tàu, đi lầm một nước đã đủ chết huống chi “cố tình” đi nhầm từ đầu đến cuối hàng trăm nước cờ, không ai ngăn được thì cứu cái nỗi gì? Ta lên tiếng bây giờ là để con cháu sau này biết rằng”thời ấy” không phải mọi người dân Việt đều ngu si hay đểu giả cả đâu. Tôi chỉ cười và bảo: Chút hy vọng hậu được hậu thế biết ơn như thế cũng mong manh lắm, chắc gì?

Vì NẾU VIỆT NAM thuộc Tàu thì ngay cả những Bà Trưng, Bà Triệu, Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung, … (tất nhiên không có HCM trong danh sách bị bôi xấu này) cũng bị liệt vào những tên GIẶC CỎ, thiểu số nổi lên chống lại Triều đình Trung ương Bắc Kinh thôi…!

Mất nước là mất hết gia phả. Chỉ còn một số tên đã có công giúp Bắc Kinh thu hồi giang sơn về một mối là được giữ lại cho hưởng chút cơm thừa canh cặn của Tàu thôi!

(Vậy chiến công cuối cùng của cuộc Cách mạng Vô sản Việt Nam là “Đánh cho dân tộc tan hoang, trận đánh đẹp phải ghi vào lịch sử!”)

Xây dựng Tổ quốc thì 4000 năm chứ xóa thì chi chỉ 4 tháng là xong. Vậy làm thế nào để đập tan được chữ NẾU ấy để nó không thành hiện thực?

Kính thư
Hà Sĩ Phu “

*

GS. Lê Xuân Khoa:

Xin phổ biến rộng rãi lời báo động dưới đây tới mọi giới nhân dân và các đảng viên ĐCS, kể cả quân đội và công an. Chỉ có sự thức tỉnh của toàn dân, toàn quân mới có hi vọng cứu được dân tộc Việt Nam thoát khỏi họa vong quốc và diệt chủng.

GS. Lê Xuân Khoa

*

Đăng lại bài của nhà giáo Trần Đình Sử.

NẾU TRỞ THÀNH MỘT KHU TỰ TRỊ CỦA TRUNG QUỐC, VIỆT NAM SẼ RA SAO?

(Trần Đình Sử – Giáo sư – Nhà Giáo Nhân Dân).

Trước hết tên nước bị xóa mất.
Dân Tàu tràn sang ta.
Chữ Hán là ngôn ngữ chính, tiếng Việt như tiếng Chuang bây giờ.

Người Việt sẽ bị di dời đi qua nhiều nơi hẻo lánh của Trung Quốc, bị phân tán triệt để để không còn tập trung, không có sức để khôi phục lại nước cũ.

Quân đội Việt Nam sẽ sang trấn thủ phía biên giới Ấn Độ, Pakistan, Duy Ngô nhĩ, đánh nhau, chết ở đó, còn quân Tứ Xuyên Quý Châu, Quảng Đông sang bảo vệ các thành phố lớn Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, …

Các nhân sĩ yêu nước bị đàn áp.
Các sách vở quý hiếm trong viện Hán Nôm sẽ bị thủ tiêu dần cho đến khi không còn dấu tích.

Lịch sử sẽ bị viết lại hoàn toàn. Các cuộc chiến tranh anh hùng của ông cha ta với các thống lĩnh như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi Quang Trung…, bị viết thành các cuộc nổi loạn chống lại trung ương. Bọn Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Hoàng Văn Hoan là những nhà yêu nước vĩ đại, đâu đâu cũng có tượng đài của chúng.

Có một bọn văn nô viết bài ca ngợi: Lạc Việt lại trở về trong lòng Bách Việt.. Bọn khác thì khảo chứng mối quan hệ thân thiết giữa vua Hùng với các hoàng đế Trung Hoa, rồi các mục trên báo “Chuyện bây giờ mới kể” nở rộ.

Dải đất hình chữ S vẫn còn mà giống người Việt, văn hóa Việt không còn nữa …

Thật đau lòng!

Trần Đình Sử

Giáo sư – Nhà Giáo Nhân Dân.

Image may contain: 1 person

KHÍ PHÁCH NGUYỄN THÁI HỌC

Từ Thức
KHÍ PHÁCH NGUYỄN THÁI HỌC

Dưới đây là một tài liệu lịch sử: lá thư hào hùng của NGUYỄN THÁI HỌC gởi quốc hội Pháp, năm 1930, sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại. Khác hẳn ngôn ngữ, tư cách của các tướng lãnh đời nay, khóc lóc, van xin khi ra toà về tội trộm cắp..

Ngày 17/6/1930, Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính cùng 11 đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng bị thực dân Pháp xử tử ở Yên Bái:

‘’Việt Nam muôn năm !’’, một đầu rơi rụng
‘’Việt Nam muôn năm’’, người kế tiến lên
Và tử thần kính cẩn đứng ghi tên
Những liệt sĩ vào tên người tuẫn quốc ‘’
( Đằng Phương)

————————————————

THƯ NGUYỄN THÁI HỌC ( 1902-1930)

Gởi Quốc Hội Pháp

Thưa quý vị dân biểu,

Trên mặt công chính: quyền của mỗi công dân mong muốn tổ quốc mình được tự do. Trên phương diện nhân đạo: bổn phận của bất cứ cá nhân nào là cứu vãn người anh em bất hạnh

Tôi thấy gì ? Từ 60 năm nay, nước tôi bị các ông, người Pháp, đô hộ. Anh em tôi đau khổ dưới sự thống trị của các ông, sự sống còn của dân tộc tôi bị đe doạ. Tôi có bổn phận, và nhiệm vụ, bảo vệ nước tôi, anh em tôi.

Mới đầu, tôi đã nghĩ có thể đạt mục đích đó bằng cách cộng tác với các ông. Những thất bại liên tiếp khiến tôi hiểu rằng người Pháp không thành thực muốn sự cộng tác đó, và không thể phục vụ đồng bào tôi khi các ông còn làm chủ đất nước này.

Vì vậy, tôi thành lập, năm 1927, Việt Nam Quốc Dân Đảng với mục tiêu :1. Đánh đuổi người Pháp ra khỏi lãnh thổ , 2: thành lập một chính phủ cộng hoà An Nam, thực sự dân chủ.

Tôi nhận trách nhiệm hoàn toàn về những biến chuyển chính trị từ ngày đó, do tôi tổ chức. Tôi là thủ phạm thực sự, duy nhất; cái chết của tôi là đủ. Tôi xin ân xá cho những người khác.

Tôi tuyên bố: từ nay, nếu muốn tìm cách cai trị Đông Dương một cách bình yên, không bị các hành động cách mạng cản trở, người Pháp phải 1. từ bỏ tất cả những phương pháp tàn bạo, vô nhân đạo. 2. Hành xử như những người bạn của người An Nam, thay vì là người chủ tàn ác 3. tìm cách xoa dịu những thống khổ tinh thần, thể xác của người An Nam, bằng cách trả lại các quyền căn bản của mỗi cá nhân: tự do đi lại. tự do học hỏi, tự do hội họp, tự do báo chí. 4. Ngưng dung túng tệ trạng tham nhũng và các hành xử tồi tệ của công chức 5. Phát triển giáo dục, thương mại, kỹ nghệ bản xứ.

Xin quý vị dân biểu nhận nơi đây sự kính trọng của tôi.

Kẻ thù của quý vị, nhà cách mạng THÁI HỌC.’’

( Tài liệu trích dẫn trong ‘’Viet Nam, la tragédie indo-chinoise’’, của Louis Roubaud. Paris, Librairie, 1931. Séminaire ASIOC. Mémoires d’Indochine-Guillermot)

(tuthuc-paris-blog.com)
—————————————————

THƯ NTH, NGUYÊN BẢN TIẾNG PHÁP

Messieurs les députés,

En équité : le droit de tout citoyen est de vouloir sa patrie libre. En humanité : le devoir de tout individu est de secourir son frère malheureux.
Que vois-je ? Depuis plus de soixante ans ma patrie est asservie par vous, Français. Mes frères souffrent sous votre domination, ma race est menacée dans son existence. J’ai donc le droit et le devoir de défendre mon pays et mes frères.
J’avais d’abord pensé atteindre ce but en collaborant avec vous. Mes échecs répétés m’ont conduit à comprendre que les Français ne désiraient pas sincèrement cette collaboration et qu’il me serait impossible de servir mes compatriotes aussi longtemps que vous serez les maîtres de mon pays.
J’ai alors, en 1927, organisé le parti nationaliste annamite [VNQDĐ] dont l’action devait tendre : 1° à chasser les Français du territoire ; 2° à former un gouvernement républicain annamite sincèrement démocrate.
Je me rends personnellement responsable de tous les événements politiques survenus dans mon pays depuis cette date et organisés par moi. Je suis le seul et vrai coupable, ma mort doit donc suffire. Je demande grâce pour les autres.
Ceci dit, je tiens à vous déclarer que si les Français veulent désormais occuper l’Indochine en toute tranquillité, sans être gênés par aucun mouvement révolutionnaire, ils doivent : 1° abandonner toute méthode brutale et inhumaine ; 2° se comporter en amis des Annamites, non plus en maîtres cruels ; 3° s’efforcer d’atténuer les misères morales et matérielles en restituant aux Annamites les droits élémentaires de l’individu: liberté de voyage, liberté d’instruction, liberté d’association, liberté de la presse; 4° ne plus favoriser la concussion des fonctionnaires ni leurs mauvaises mœurs; 5° donner l’instruction au peuple, développer le commerce et l’industrie indigène…
Veuillez agréer, Messieurs les députés, l’expression de mes sentiments de respect.
Votre ennemi, le révolutionnaire, THAI HOC.
Cité par Louis ROUBAUD, Viet-Nam la tragédie indo-chinoise, Paris, Librairie Valois, 1931, pp. 147-148. Séminaire ASIOC. Mémoires d’Indochine – Guillemot

———————————————-

NGÀY TANG YÊN BÁI
Thơ Đằng Phương (Nguyễn Ngọc Huy)

Kính tặng hương hồn những liệt sĩ đã bỏ mình trong cuộc khởi nghĩa Yên Báy

——

Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!
Trong bình minh sương lạnh phủ âm thầm.
Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt.
Toan lay tỉnh cả toàn dân nước Việt.

Gió căm hờn rền rĩ tiếng gào than.
Từ lưng trời, sương trắng rủ màn tang.
Ánh mờ nhạt của bình minh rắc nhẹ
Trên Yên Báy âu sầu và lặng lẽ,
Giữa mấy hàng gươm súng toả hào quang,
Mười ba người liệt sĩ Việt hiên ngang
Thong thả tiến đến trước đài Danh Dự:
Trong quần chúng đứng cúi đầu ủ rũ,
Vài cụ già đầu bạc lệ ràn rơi
Ngất người sau tiếng rú: Ối con ơi!
Nét u buồn chợt mơ màng thoáng gợn
Trên khoé mắt đã từng khinh đau đớn
Của những trang anh kiệt sắp lìa đời,
Nhưng chỉ trong giây phút vẻ tươi cười
Lại xuất hiện trên mặt người quắc thước.
Đã là kẻ hiến thân đền nợ nước,
Tình thân yêu quyến thuộc phải xem thường,
Éo le thay! muốn phụng sự quê hương
Phải dẫm nát bao lòng mình kính mến.
Nhưng này đây, phút thiêng liêng đã đến.
Sau cái nhìn chào non nước bi ai,
Họ thản nhiên, lần lượt bước lên đài
Và dõng dạc buông tiếng hô hùng dũng.
“Việt Nam muôn năm!” Một đầu rơi rụng,
“Việt Nam muôn năm!” Người kế tiến lên.
Và Tử Thần kính cẩn đứng ghi tên
Những liệt sĩ vào bia người tuẫn quốc,
Sau Đức Chính, đây là phiên Thái Học,
Anh nghiêng mình trước xác những anh em,
Rồi mĩm cười, Anh ngảnh mặt nhìn xem
Những kẻ đến quan chiêm đoàn liệt sĩ
Để từ biệt những bạn đồng tâm chí.
Tiếng tung hô bổng nổi, vang trời cao,
Nhưng liền theo Anh đã bị xô vào
Chiếc gươm máy giăng tay chào, lặng lẽ.
Đao xuống, đầu rơi, máu đào tung toé.
Người anh hùng nước Việt thôi còn đâu!
Lũ thực dân giám sát đúng nhìn nhau
Như trút sạch hết những đìều lo ngại
Và xoa tay chúng thở dài khoan khoái,
Trong rừng người ứa lệ, Nguyễn Thị Giang
Nén nỗi đau như cắt xé can tràng
Đứng ngơ ngác lặng người bên Hữu Cảnh.
Trong nắng sớm, gió căm hờn quát mạnh
Như thề cùng những tử sĩ anh linh
Vang dội cùng trên đất Việt điêu linh
Những tiếng thét uy hùng vì giống Việt.

Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!
Như tan trong gió mạnh khóc vang rầm
Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt
Cố lay tỉnh cả toàn dân nước Việt.

Thân anh hùng đã nát dưới ngàn cây
Nhưng tiếng hô còn phảng phất đâu đây,
Mười lăm năm sau ngày sầu Yên Báy,
Toàn thể giống Tiên Rồng cùng đứng dậy,
Cố đuổi loài tham bạo khỏi non sông,
Hơn hai năm đất Việt máu pha hồng
Mà chiến sĩ vẫn một lòng cương quyết
Thề tranh đấu đến khi nào nước Việt
Được hoàn toàn đôc lập mới ngừng tay.
Thế là dòng máu vọt dưới trời mây
Một buổi sáng mười lăm năm về trước
Đã vẽ được cảnh anh hùng nguyện ước.
Đưa non sông ra khỏi chốn u trầm
Cả toàn dân nước Việt đến muôn năm
Vẫn ghi tạc trong tâm ngày hôm ấy,
Ngày hôm ấy, ôi! ngày tang Yên Báy!

Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!
Xé nát màn sương lạnh phủ âm thầm,
Mười ba tiếng tung hô bao tráng liệt
Đã lay tỉnh cả toàn dân nước Việt.

Image may contain: 1 person

Facebooker “Giáo sư hớt tóc” bị tuyên 6 năm tù vì cáo buộc phát tán thông tin chống nhà nước

Nguyễn Đình Ngọc

Bà Phạm Thị Xuân, vợ ông Nguyễn Văn Nghiêm vào chiều 23 tháng 6 xác nhận thông tin này với phóng viên Đài Á Châu Tự Do và cho biết thêm, chồng bà đã từ chối luật sư nên trong phiên tòa sơ thẩm chỉ có ông Nghiêm tự bào chữa. Bà Xuân nói qua điện thoại như sau:

“Anh nhà em từ chối không thuê luật sư. Anh ấy dặn dò gia đình, vợ con là ‘giữ gìn sức khỏe, anh đi vài năm rồi anh về’.”

Thông tấn xã Việt Nam dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Hòa Bình cho biết, từ năm 2011, ông Nguyễn Văn Nghiêm đã đăng ký, quản lý, sử dụng nhiều tài khoản cá nhân trên mạng xã hội để đăng, chia sẻ bài viết và các video thể hiện quan điểm cá nhân về tình hình chính trị của đất nước và nhiều vấn đề tiêu cực của xã hội.

Nhà hoạt động Lê Văn Dũng hay còn gọi là Lê Dũng Vova cũng thường xuyên dùng mạng xã hội để phát các bài nói chuyện phản biện các vấn đề chính trị, xã hội Việt Nam có nhận xét như sau:

“Khi mà chúng tôi phản biện trên mạng xã hội thì chúng tôi đã đọc hiểu rõ và có hàng chục năm nghiên cứu luật, chúng tôi nói những gì hoàn toàn dựa trên luật hiện hành của Nhà nước, cũng đúng luật.

Thế nên việc nhà nước bỏ tù là việc của họ, họ có trách nhiệm phải giải trình với cộng đồng và Quốc tế, vấn đề ở đây là tôi muốn nói tới vai trò của quốc tế, của Liên Hợp Quốc.

Liên Hiệp Quốc bây giờ cho Việt Nam vào, ký kết các thứ rồi quyền này quyền kia của công dân sử dụng internet, nhưng khi một quốc gia vào cam kết đủ thứ rồi lại bỏ tù một người dân chỉ có ngồi nói vài câu trên video internet, trên Facebook, YouTube rồi bỏ tù họ chứng tỏ rằng hệ thống của Liên Hợp Quốc hiện giờ đang chẳng có vai trò gì cả.”

Ngày 23 tháng 1 năm 2018, ông Nghiêm bị UBND thành phố Hòa Bình ra Quyết định phạt hành chính 49 triệu đồng do đăng tải hai video có nội dung bị quy kết là “xuyên tạc sự thật lịch sử; xúc phạm uy tín, danh dự người khác” tuy nhiên ông Nghiêm không nộp phạt.

Cũng theo nội dung Cáo trạng, từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019, ông Nguyễn Văn Nghiêm đã đăng ký, quản lý, sử dụng tài khoản Facebook “Nghiêm Nguyễn, Tiến sỹ hớt tóc”, quản trị 3 trang Facebook gồm “Giáo sư hớt tóc”, “Vừa hớt tóc vừa kể chuyện”, “Học sinh trung học Mường Bi” và tạo, quản lý, sử dụng kênh Youtube cá nhân “Tiến sỹ hớt tóc” để phát trực tiếp và đăng tải, chia sẻ nhiều video lên mạng xã hội.

Trong đó, Cáo trạng quy kết là có 31 video mang nội dung “xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, nhằm mục đích chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Ông Nguyễn Văn Nghiêm sinh năm 1963 làm nghề hớt tóc vỉa hè ở Hòa Bình. Ông Nghiêm bị công an ập vào nhà bắt giam vào ngày 5 tháng 11 năm 2019 khi đang quay video nói chuyện trực tiếp trên mạng xã hội để phản biện các vấn đề xã hội như thường lệ.

Bản thân ông Nguyễn Văn Nghiêm được cộng đồng mạng biết đến qua những video phát trực tiếp trên kênh Facebook và YouTube, với các chủ đề được ghi nhận là: Dấu hiệu Trung Quốc tiếp tục xâm lược bãi Tư Chính của Việt Nam, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh liệu có vào lò, Bài học sâu sắc là bài học nào?, Tướng hèn đông như quân Nguyên, và bài Xin đừng gọi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là ”cóc”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Hòa Bình cho biết, từ năm 2011, ông Nguyễn Văn Nghiêm đã đăng ký, quản lý, sử dụng nhiều tài khoản cá nhân trên mạng xã hội để đăng, chia sẻ bài viết và các video thể hiện quan điểm cá nhân v…..
RFA.ORG

Facebooker “Giáo sư hớt tóc” bị tuyên 6 năm tù vì cáo buộc phát tán thông tin chống nhà nước

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Hòa Bình cho biết, từ năm 2011, ông Nguyễn Văn Nghiêm đã đăng ký, quản lý, sử dụng nhiều tài khoản cá nhân trên mạng xã hội để đăng, chia sẻ bài viết và các video thể hiện quan điểm cá nhân v…..

Tôi đi bịnh viện

Tôi đi bịnh viện

(Tôi rất hy vọng bài viết này của tôi sẽ được ai đó làm trong bệnh viện Bình Dân đọc được)

Sau 6 tháng nằm nhà uống thuốc tan sỏi thận vì sợ con Corona Vũ Hán, cũng đến lúc phải đi siêu âm lại rồi. Cầm kết quả siêu âm ghi rõ sỏi niệu quản 13 li, thận ứ nước độ 2 (6 tháng trước viên sỏi còn nằm trong thận phải, giờ nó rớt xuống niệu quản) tôi gọi điện thoại cho rất nhiều người để tư vấn rồi chốt với chồng:

” Phải đi Bình Dân thôi anh à!, anh nghĩ coi một ngày mà mổ 100 con gà, thì tay nghề sẽ tốt gấp trăm lần 10 ngày mới mổ một con”
Vợ chồng dắt nhau đi khám ở khu dịch vụ công nghệ cao, vì nghĩ rằng trả tiền nhiều thì sẽ được ưu tiên và chăm sóc tốt hơn. Vào đến nơi mới biết mình bé cái nhầm, khi nhìn người bệnh nhiều như quân Nguyên ngồi chật kín khắp nơi.

Sau 2 ngày làm hết các loại xét nghiệm, chụp X quang, chụp CT, siêu âm tim, đo điện tim và hẹn với bác sĩ sẽ mổ nội soi vào ngày thứ hai đầu tuần (15 tháng 6) vợ chồng ra về, chồng còn hào hứng nói “Nếu chỉ ở có một ngày trong bệnh viện thì mổ xong mình xin về nhà luôn”.

Sáng 15 tôi dậy lúc 5 giờ, nấu một bát cháo loãng ăn theo lời khuyên của bác sĩ rồi theo chồng vào bệnh viện, người còn khỏe mạnh tươi tỉnh nên vào chào bác sĩ mổ rồi đi đến phòng xếp hồ sơ ngồi chờ.

8h00 cô điều dưỡng xuất hiện dắt cả đoàn chừng chục người leo cầu vượt sang bên khu phẫu thuật. Vào phòng thấy rất đông bệnh nhân ngồi và 3 cô y tá đang sắp xếp các loại hồ sơ. Một lúc một cô lanh lảnh gọi:
“Chu thị Hồng Hạnh”
– Có tôi đây
– Có bị tiểu đường không?
– Cô không bị tiểu đường, chỉ bị huyết áp cao.
– Đề nghị bệnh nhân hỏi gì nói nấy nhá!
– Có bị huyết áp cao không?
– Thì cô vừa mới nói cô bị huyết áp cao mà.
Tôi ngồi im re nhìn những người khác bị kêu tên đi bổ sung hồ sơ do bác sĩ dặn không kĩ nên người thì chưa xét nghiệm máu, người thì chưa chụp CT, người thiếu siêu âm tim…
Khoảng một tiếng sau, hộ lý tới gom chừng chục người chúng tôi sang căn phòng khác (gọi là phòng chờ), trong đó cả đàn ông đàn bà đã ngồi kín trên các giường rồi dặn chúng tôi chờ, khi nào kêu tên thì vào phòng mổ. Cô phát cho mỗi người một bộ quần áo bệnh nhân và một con dao cạo râu rồi chỉ vào cái nhà vệ sinh bé tí xíu kêu chúng tôi tự xử. Tôi trợn tròn mắt nhớ lại cách đây 20 năm sinh mổ con gái ở bệnh viện Từ Dũ thì việc này là hộ lý làm cho chúng tôi mà. Tiền xét nghiệm đã hết hơn 2 triệu, tiền mổ đã đóng tạm ứng 17 triệu mà lại khổ thế này.
Vào bên trong không sữa tắm, không xà bông gì hết nên ai cũng phải hì hụi chừng 20 phút đến nửa tiếng mới chui ra. Nằm sát cạnh tôi là một chị ốm yếu, xanh xao vì phải đi từ Kiên Giang lên từ lúc 10 giờ đêm và chưa hề ăn chút gì, chị kêu chóng mặt quá. Tôi bảo chị nói người nhà đi mua cho viên kẹo ngậm tạm đi. Giường sát bên một bà lão hơn 80 tuổi than thở rằng tháng nào cũng phải lặn lội từ quê lên Sài Gòn thay ống nhựa trong người, nếu có 30 triệu đặt ống kim loại thì mang đến lúc chết nhưng 7 đứa con đều nghèo rớt không gom đủ tiền cho mẹ nên thân già đành chịu khổ. Nhìn xung quanh toàn những khuôn mặt khắc khổ, nhợt nhạt vì mệt. Đúng lúc đó Zalo,Viber của 2 người đàn ông ré lên, thế là họ say sưa bật loa ngoài tám chuyện ầm ầm. Tôi mấy lần nhắc họ đừng nói to cho bà con cô bác nghỉ trước khi mổ nhưng họ cứ lờ tịt đi. Cửa phòng thỉnh thoảng mở ra, hộ lý gọi tên mấy người đã nằm chờ từ hôm thứ sáu tuần trước (hôm nay là thứ hai) đi trước.
Rốt cuộc cũng gọi tới tên tôi. Tôi mừng hụt vì lại bị đưa vào phòng khám gặp bác sĩ chỉ để hỏi khi leo cầu thang có bị mệt không. Sau khi trả lời rằng “nếu vừa leo vừa nghỉ tôi có thể leo được 20 tầng” thì cô y tá lúc trước nói:
– Giờ bệnh nhân đi về phòng chờ nghỉ ngơi đi
– Thôi con cho cô ngồi tạm phòng này chứ về đấy cô vỡ tung đầu vì nghe điện thoại, phòng chừng 15 mét vuông mà nhốt đến hơn 20 người
– Tại bệnh nhân đông quá, bệnh viện quá tải, đang xây bệnh viện mới đấy cô.

Ngồi lủi thủi một góc, chờ đến 12 giờ hộ lý tới kêu (Bên ngoài chồng tôi cũng chờ từ 8h sáng)
“Bệnh nhân Chu thị Hồng Hạnh”
Tôi mừng rỡ xách túi đồ mang ra cửa giao cho chồng, cả đôi dép, điện thoại với cặp kính cũng bị tháo ra đưa nốt. Tôi tròng cái mũ ni lông lên đầu, xỏ chân vào hai bịch ni lông rồi mò mẫm đi theo hộ lý vì mắt tôi một bên mù, một bên cận 6 độ không có kính nhìn gì cũng nhòe. Tôi ngồi chừng mười phút thì thấy có người vỗ nhẹ vào vai rồi cười
” Chị Hồng Hạnh phải không, chút xíu nữa tôi mổ cho chị”

Tôi mừng quá cảm ơn rồi thấy người ấy biến nhanh như cơn lốc. Bệnh viện quá tải, bệnh nhân đông, phòng mổ thiếu. Bệnh nhân của bác sĩ nào khám thì bác sỹ ấy mổ. Tôi ngồi chờ mãi. Thỉnh thoảng lại có người tới ngồi bên cạnh, người thì sỏi 9 mm, người 15 mm, họ đều được kêu tên vào phòng mổ còn tôi cứ ngồi trơ trọi một chỗ. Đến khi thấy lâu quá tôi đành liều hỏi mấy giờ rồi và giật mình khi biết là đã 2 giờ chiều (chồng tôi vẫn chờ bên ngoài và nghĩ khoảng 45 phút sẽ đón tôi về phòng nghỉ hồi sức như lời bác sĩ nói).Tôi lại quờ quạng đi thẳng ra cửa, mấy cô hộ lý la lên
– Cô đi đâu đấy, ai cho cô ra ngoài
– Cô chỉ nói với chồng cô một câu thôi
(Suốt 6 tiếng mà chồng tôi vẫn chờ trước phòng mổ, chỉ đứng và đi đi, lại lại vì không có chỗ ngồi để chờ kêu người nhà bệnh nhân..)
Tôi đẩy cửa ra và kêu:
– Anh ơi họ vẫn chưa mổ cho em, anh đi ăn uống vệ sinh đi.
Rồi đóng ngay cửa vào nhưng cũng kịp nghe được tiếng chồng tôi “Trời ơi là trời! anh khát nước và mắc tiểu từ sáng đến giờ “
Tôi lại lê bước về chỗ cũ, tiếp tục ngồi chờ, khoảng 20 phút sau, một cô y tá mập mạp, trắng trẻo kéo cái xe nhỏ ra, cô bảo tôi.
– Cô đưa tay ra đây
Sau đó buộc ga rô cổ tay tôi lại, tôi không biết làm gì nên hỏi
– Làm gì hả con?
– Lấy ven
– Có đau không?
Chỉ hỏi có vậy thôi mà cô sừng sộ, tháo ngay garo ra rồi hất tay tôi.
– Thôi không làm cho cô nữa, tí vào phòng mổ làm.
Tôi điếng người, chị bệnh nhân kế bên giải thích
“Lấy ven để chút nữa cắm ống truyền dịch chị à!”
Nói xong, cô y tá lấy ven cho chị và không thèm nhìn tôi lấy một cái. Sau khi chị ấy vào phòng phẫu thuật thì một người đàn ông khác lại tới ngồi bên cạnh. Cô kia lại đến lấy ven, tôi mới chìa tay ra giải thích
– Con làm cho cô đi, mấy hôm trước cô bị lấy máu xét nghiệm liên tục nên cô đau quá mới hỏi con vậy thôi!
Cô ta lạnh lùng
– Không, cô chờ vào phòng phẫu thuật mà lấy.
Rồi quay sang lấy ven cho bệnh nhân kia.
Huyết áp tôi bắt đầu lên. Ông trời ơi! tôi đã nộp cho các người cả đống tiền mà các người cư xử với tôi như vậy à? Tôi uất ức muốn bỏ về luôn thì một người y tá khác ra dẫn tôi vào gian mổ. Hỏi giờ đã gần 4 giờ rồi. (vậy là tôi vào đây ngồi đã gần 4 tiếng rồi).
Cô bác sĩ gây mê nói chuyện rất nhẹ nhàng, tình cảm, tôi nói
– Con làm ơn đo huyết áp giúp cô, cô thấy không ổn rồi.
– 170/110 cô
– Con báo lại cho bác sĩ giúp cô nhé, bình thường nếu uống thuốc rồi huyết áp cô chỉ khoảng 135/85 thôi.
Cô bác sĩ vừa chích thuốc tê vừa nói
– Cô cứ yên tâm, bác sĩ sẽ biết cách xử lý.
Chừng 2 phút sau khi chân tôi tê cứng lại và mất hết cảm giác thì bác sỹ xuất hiện và bắt đầu mổ, vừa làm bác sĩ vừa hỏi
– Chị làm nghề giáo hả?
– Trước kia tôi là giáo viên.
– Tại tôi thấy cách nói chuyện của chị nên đoán vậy.
Tôi nhìn lên màn hình thấy có cái gì giống như mũi khoan đang nhắm thẳng vào viên sỏi của tôi bắn nát ra rồi sau đó máu ra đỏ kín màn hình.
Ca mổ từ lúc bắt đầu cho đến kết thúc kéo dài chừng 10 phút.
Sau khi cột vào tay tôi cái bịch nilon có mấy miếng sỏi lụn vụn họ đẩy tôi về cuối dãy nằm cạnh những người đã mổ xong để theo dõi. Khoảng 30 phút sau khi ngón chân tôi bắt đầu nhúc nhích thì một cô điều dưỡng đến kéo giường tôi đi. Vừa ra đến cửa cô gọi to
“Người nhà Chu Thị Hồng Hạnh đâu”

Chồng tôi vừa chạy tới chạm tay vào cáng băng ca thì cô lôi tôi như tên bắn, quẹo phải, quẹo trái, vào thang máy, xoay vòng vòng rồi lại quẹo tiếp, bảo chồng tôi đẩy, còn cô thì kéo lên cầu vượt sang khu bên kia đường, (Tôi là người ngồi máy bay qua vùng thời tiết xấu, lộn nhào đủ kiểu cũng không sao) giờ đây tôi thấy chóng mặt, quay cuồng, buồn nôn quá. Tôi kêu lên với chồng “Em mắc ói quá”
Vừa kịp vào phòng, chồng tôi đưa cho cái bịch nilon tôi ói ra mật xanh, mật vàng, toàn nước.
Sau khi dặn dò chồng tôi cách đổ nước tiểu cô y tá đi ngay (Lúc này đã đúng 5h30).
Phòng rộng 10 mét vuông kê được 2 cái giường giá 1.1 triệu đồng /giường/ngày. Giường bên cạnh là của một bệnh nhân nam, sỏi có 5 li nhưng vì đau nên phải mổ.
Cứ khoảng nửa tiếng thì phải đi đổ nước tiểu một lần nhưng từ 10 giờ rưỡi đêm thì chồng tôi nói nước tiểu không chảy ra nữa. Tôi bảo
Thôi anh leo lên giường ráng nghỉ ngơi chút đi.
Hai vợ chồng xếp chặt cứng trên giường, đến 2 giờ sáng tôi lay chồng
“Anh đi gọi y tá đi, bụng em cứng lại rồi”
Chồng tôi dụi mắt đi 2 lần liền đều quay về nói không tìm thấy ai.
– Anh đi nữa đi em chịu hết nổi rồi! Tôi năn nỉ
Lại đi. Lần này y tá tới chỉ cho cách mở túi để thông khí thì tôi mới tiểu được.
Hơn 3 giờ dịch truyền hết .Tôi lại lay
“Anh ơi! dịch truyền hết rồi”
Chồng tôi ngái ngủ làu nhàu
– Anh mới chợp mắt được, để yên cho anh ngủ
– Anh gỡ ra đi không máu nó chảy ngược ra này
Chồng tôi rướn người kéo bình dịch truyền xuống.
6 giờ sáng y tá vào chích thuốc cho tôi. Sau đó máy điện thoại báo có tin nhắn. Là Bác sỹ Phạm Ngọc Thắng chúc mừng Sinh nhật. Tôi lấy cái tay còn đang cắm một mớ kim run run bấm mấy chữ cảm ơn anh.
7 giờ một cô điều dưỡng vào tịch thu remote máy lạnh, bắt mở toang cửa thông thoáng để hưởng ứng lời kêu gọi của UBND phòng trừ dịch CoViD (Thật nực cười, tiết kiệm điện thì có). Sau đó bác sĩ của bệnh nhân giường bên đến khám rồi cho làm thủ tục xuất viện. Một lúc sau đến lượt bác sĩ của tôi đến khám và cũng cho tôi được xuất viện sau khi chích mũi cuối cùng lúc 11 giờ. Hẹn tái khám rút ống trong người tôi ra sau 1 tháng (ngày 15 tháng 7).
Buổi tối hôm trước có người khách của bệnh nhân giường bên cạnh nói cho tôi biết, bệnh viện Bình Dân quá tải, chất lượng phục vụ rất kém nên cứ khám ở Bình Dân nhưng thỏa thuận với bác sĩ đến mổ ở bệnh viện khác vì tay nghề của bác sĩ Bình Dân rất cao. Tôi mà biết trước thì tôi đã không khổ sở thế này.
Xuất viện, chồng tôi xin chứng từ để làm thanh toán với Bảo hiểm (tôi mua bảo hiểm Bảo Việt) Nhân viên văn phòng nói
“Bệnh viện phải giữ lại tất cả hồ sơ của bệnh nhân, sao chú không photo lại trước đi”
– Các phiếu chỉ định của bác sĩ và kết quả siêu âm, xét nghiệm bên bảo hiểm họ điều yêu cầu phải có. (Chồng tôi nói)
– Vậy chú phải làm đơn xin trưởng khoa đề nghị cấp bản pho to và đóng 30 ngàn chiều mai chú đến lấy.
Về nhà, hôm sau chồng tôi xem lại chi tiết thanh toán rồi nói.
Cái chỗ mà em ngồi chen chúc mấy tiếng chờ đó họ tính nữa ngày 240 ngàn đồng , còn giường em nằm từ 5h30 chiều hôm trước đến 11 giờ trưa hôm sau họ tính một ngày rưỡi là 1.65 triệu đó.
Đi buôn cái gì mà lời bằng mở bệnh viện ở Việt Nam?
Nhưng thôi. Chỉ cần 10, 20 năm nữa chẳng may em lại bị đi bệnh viện thì chỉ mong khi người ta gọi người nhà bệnh nhân… là thấy anh, thế là được rồi. Già cũng được, chậm cũng được, lẫn cũng được, lầu nhàu cũng được. Miễn là còn nhìn thấy nhau.

Chu Thị Hồng Hạnh
share từ FB Dung Tran

Báo chí “Cách mạng” hay “Phản Tiến Bộ”?

Đài Á Châu Tự Do

 Nhân trong nước đang sơ kết đợt kỷ niệm 95 năm ngày “báo chí cách mạng”, thiết tưởng nên nhắc lại một phát biểu nổi tiếng của Karl Marx, vốn được những người CSVN vinh danh là bậc thầy cách mạng vô sản: “Ở đâu có báo chí ở đó có tự do báo chí”.

Ấy vậy mà những người học trò ngày nay của Marx đã không làm theo lời giáo huấn ấy của sư phụ.

Theo “Thông cáo báo chí của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam (HNBĐL)”, nhà cầm quyền trong nước lâu nay đã và đang thẳng tay đàn áp trắng trợn, đối xử tàn độc đối với HNBĐL Việt Nam nói riêng và các tổ chức xã hội dân sự nói chung, cũng như những tiếng nói công dân khác sử dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mình.

 
About this website

 

RFA.ORG
Nhân trong nước đang sơ kết đợt kỷ niệm 95 năm ngày “báo chí cách mạng”, thiết tưởng nên nhắc lại một phát biểu nổi tiếng của Karl Marx, vốn được những người CSVN vinh danh là bậc thầy cách mạng vô sản: “Ở đâu có báo chi…

DANH DỰ và PHẨM CÁCH DÂN TỘC

Tích Lê Văn

Năm 1905, cụ Phan Bội Châu cùng một số đồng chí của Cụ ( Cụ Tăng Bạt Hổ và cụ Đặng Tử Kính ) tìm đường sang Nhật Bản để cầu viện, cứu quốc. Đến ga tàu hỏa Tokyo, các cụ muốn tìm đến nơi ở của một người quen là Ân Thừa Hiến để tạm tá túc. Cụ Phan gọi một người phu kéo xe đến, nhưng ông ta không biết chữ, vội đi tìm một người khác biết chữ tới gặp nhóm khách Việt Nam. Cứ theo địa chỉ cụ Phan viết ra, người kéo xe đưa cả đoàn tới nơi, nhưng Ân Thừa Hiến không còn ở đó nữa.

Đang lúc cụ Phan bối rối vô cùng thì người phu xe Nhật Bản bảo cả nhóm chờ rồi tự mình đi tìm địa chỉ ông Ân Thừa Hiến. Suốt từ 2 giờ chiều, đến 5 giờ chiều thì ông ta quay lại, hớn hở báo tin rằng đã tìm thấy địa chỉ, rồi kéo xe đưa Phan Bội Châu và những người khác đến nơi. Rồi ông ấy hỏi xin hai hào rưỡi (0,25 Yên) tiền kéo xe.

Cảm phục, biết ơn và cũng muốn đền đáp công sức của người phu xe, Phan Bội Châu cảm tạ và xin trả ông ấy 1 đồng. Người phu xe kiên quyết từ chối. Và để an lòng nhóm cụ Phan, ông ấy nói:

“Chiếu theo quy luật Nội vụ sảnh đã định, thì từ ga Đông Kinh đến nhà này giá xe chỉ có ngần ấy. Và lại ý ta nghĩ các người là người ngoại quốc, yêu mến nước Nhật Bản mà đến, vậy nên ta hoan nghênh các người, chứ không phải hoan nghênh tiền đâu. Bây giờ các người cho tiền quá lệ, thì là khinh bạc người Nhật Bản rồi đó.”

Sau này Phan Bội Châu nhớ lại, cụ viết:

“Chúng tôi nghe lời ấy, từ tạ anh ta xong, mà tự nghĩ càng thêm tủi. Than ôi! Trí thức trình độ dân nước ta, xem với người phu Nhật Bản chẳng đáng chết thẹn lắm hay sao!”
(Phan Bội Châu, Toàn tập, tập 6, Nxb Thuận Hóa, 2000, tr. 153-154.)

ĐÓ LÀ CHUYỆN CỦA GẦN 115 NĂM VỀ TRƯỚC.

Còn hôm nay, ở nước ta, giữa thế kỷ 21 này, một gã lái xe xích lô tên Phạm Văn Dũng (48 tuổi) ở Tp. Hồ Chí Minh đã thừa cơ lừa đảo, thu của một cụ già người Nhật Bản tên là Oki Toshiyuki (83 tuổi) 500.000 đồng cho 1 cuốc xe khoảng 5 phút. Dã man hơn, khi cụ già ngoại quốc trả tiền, hắn còn chộp ví, cướp đoạt thêm của cụ 2.400.000 đồng nữa.

Thật là khốn nạn, đê tiện hết chỗ nói.

Nhưng chuyện đó, dù có tệ, cũng chưa thấm vào đâu so với chuyện ở Hà Nội.
Cả nhóm chuyên gia Nhật Bản lội xuống dòng sông Tô Lịch, bất chấp nắng mưa, ô nhiễm dầm mình để thí nghiệm, tìm cách ứng dụng công nghệ cao để làm sạch dòng sông thiêng giữa lòng Thủ đô.

Thế mà nhân danh “đúng quy trình”, người ta xả nước vào sông giữa lúc thí nghiệm chưa xong. Khi bị chất vấn còn cãi nhem nhẻm, rằng “đúng quy trình”, “bất khả kháng” vv…

Nếu có lương tâm, trách nhiệm, sao trước khi xả nước, họ không thảo luận kĩ với nhóm chuyên gia Nhật?

Sao họ không tìm giải pháp khác???

Nói như cụ Phan hơn 114 năm trước: Thật đáng chết thẹn lắm!
Cụ Phan ơi! Hơn 100 năm trước, cụ đã mượn lời người khác để mắng mỏ dân tộc mình: “dã man quen thói ngu hèn”.

Cụ mắng thế là mong cho người mình thấy hổ thẹn mà sửa mình để lớn lên, sao cho xứng với nhân quần thế giới. Nhưng đã hơn 100 năm qua rồi, dân tộc mình vẫn thế.
….
Hổ thẹn lắm cụ Phan Bội Châu ơi!

Kính gửi tới ông Oki Toshiyuki : toàn dân Việt Nam chúng tôi thành thật xin lỗi ông.

——-
nguồn fb Phạm Tứ Kỳ

Image may contain: one or more people, people sitting, eyeglasses, hat and text

Hồi ký của Hà Nguyên Phổ

Hồi ký của Hà Nguyên Phổ

Tặng Văn Quang, Ngự Thuyết,Lại Đình Cẩn, Nguyễn Vũ Trường-Sơn…
Xin gửi đến các anh Phan, Nguyển Mạnh Trinh, những người mà tôi chưa hề quen biết…
Xin chân thành cám ơn các anh Nguyển Thượng Vũ, Nguyễn Gia Tường đã cung cấp rất nhiều tài liệu và dữ kiện cho bài viết này.

Tôi sinh ra ở Huế, “người miền giữa,” vì lêu lổng ham chơi nên  bị “lưu đày” vào nội trú ở trường trung-học Yersin, Đà lạt từ năm 12 đến năm 18 tuổi.Tôi chỉ được sống ở Saigon vỏn vẹn 8 năm khi theo học “trường thuốc” ở đây(sinh-viên Y khoa chỉ cần bảy năm là tốt nghiệp thành  đốc- tờ rồi, nhưng vì tôi muốn học cho kỹ nên mới phải tốn đến tám năm). Tám năm trôi qua nhanh, thấm thoắt như thoi đưa. Và cùng với tôi, Saigon trãi qua bao nhiêu biến động, từ những vụ biểu tình xuống đường của sinh viên-học sinh,những lần đảo chánh thành công hay thất bại, những vụ tự thiêu,những đêm giới nghiêm thiết quân luật. Saigon bị bóp mũi, bịt miệng, chỉ ú ớ tiêng xe tuần của cảnh sát và quân đội,chỉ nghe trong không gian uất nghẹn ấy tiêng đại bác vọng về từ ngoại ô, đại bác đêm đêm dội về thành phố…

Chiến tranh thì càng ngày càng khốc liệt, vây quanh chúng tôi đến ngẹt thở.Vậy mà Saigon vẫn “phây phây”, vẫn “vô tư”, vẫn mini jupe trên đường Tự do, vẫn “lá đỗ để đưa đường cho người tình Trưng Vương”, vẫn “cây dài bóng mát con đường Duy Tân”, vẫn chợt mưa chợt nắng bất thường như tâm tình người con gái Saigon, vẫn chen chúc ồn ào chợ Vườn chuối, vẫn tâp nập “ngựa xe như nước, áo quần như nêm” quanh bồn binh chợ Bến Thành, vẫn cyclo đạp tà tà, vẫn cyclo máy khói bay mù mịt phụ họa với tiếng máy ồn ào, vẫn xe ba bánh đi vào tận trung tâm thành phố,vẫn những bà mệnh phụ, những cô tiểu thư con nhà giàu bận áo bà ba , quần lảnh Mya, bước xuống từ những xe hơi Peugeot 404, DS 19 bóng loáng có “chauffeur” đàng hoàng, sà vào một gánh bò bía,một xe khô bò, hay uống một ly nứơc mía Viễn đông, ”vô tư và hồn nhiên”…

Còn bao nhiêu nét đặc trưng, đặc thù, đăc biệt của Saigon, kể sao cho hết, nói sao cho vừa. Cứ mỗi lần tôi về thăm lại Saigon, hình như tôi nhận thấy và cảm thấy Saigon lại mất đi một mảnh hồn, thay đổi một phần cơ-thể. Tôi hoang mang lo sợ một ngày nào đó, khi tôi về, tôi sẽ nghẹn ngào hát thầm: ”Saigon ơi, tôi đã mất Người trong cuộc đời, Saigon ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời”, và Saigon không còn là Saigon ngày tháng cũ của tôi. Tôi sẽ đứng giữa Saigon mà cảm thấy xa lạ, cô đơn và hụt hẵng, như đang đứng giữa lòng Paris, London, New York, hay San Francisco, và xót xa nghĩ rằng “một nửa hồn tôi bỗng dại khờ,” dại khờ vì những mất mác, thay đổi đó. Trong niềm suy tư đó, tôi phải vội vã ghi lại  tất cã những gì tôi nhớ về Saigon ngày tháng cũ, như một lời tạ tội với Saigon,như một níu kéo quá khứ cho tôi, cho ban bè tôi, để hoài niệm, để hồi tưởng, để thương  nhớ. Nhà văn Văn Quang, cũng có cùng một tâm sự như tôi, khi viết “Saigon, 25 năm nhìn lại,” nhưng với một cái “nhìn” và cái “cảm nhận” của một người đang “được” sống giữa lòng Saigon, của một người “lưu lạc” trong chính đất nước của mình, viết chuyện hiện tại mà nghe vương vất những chập chờn của quá khứ (chữ nghĩa của Nguyễn Mạnh Trinh).

Xin được trích một đoạn trong bài Lẫm cẫm Saigon thiên hạ sự, của Văn Quang, số 233,ngày 5 tháng 11 năm 2007:

“…trên những con đường Hồ xuân Hương, Tú Xương, Mạc đỉnh Chi mà “hồi xưa” chúng tôi gọi là “phố tây,” vắng ngắt chỉ còn hai hàng cây lim dim ngủ, bỗng cảm khái lạ lùng. Nhớ nhung ở đâu tràn về mà chẳng thể xác định được mình nhớ cái gì. Nhớ “Saigòn muôn năm cũ,” nhớ lung tung, nhớ ban bè, nhớ người tình,khung cảnh bác xích lô cô đơn trong bóng đêm, cô gái ăn sương đứng dưới bóng đêm, thằng bé đánh giày ngủ trong mái hiên…Tất cả đều thắm thiết từ trong đáy lòng nhưng lại nhạt nhòa lẫn lộn. Không gian và thời gian này là “Saigòn của chúng tôi.” Nó chỉ là thật sự của chúng tôi vào khoảnh khắc bất chợt đêm đó và nó chỉ sống lại trong những giây phút hiếm hoi như thế này. Ai còn, ai mất, ai ở đâu, lãng đãng rất xa, rất lưu lạc, mà lại rất gần. Dường như anh em còn ở quanh đây, hồn họ vẫn còn ở đây. Tôi cố đánh lừa cảm giác mình, nhưng không thoát được tiếng thở dài. Đấy là tâm tình của một người Saigon hôm nay “lẩm cẩm” nhớ về Saigòn xưa,nhớ cả tình, cả cảnh, nhớ tất cả, chẳng thiếu thứ gì…”

Những con đường xưa.

Saigon có trên mười đại lộ, trên trăm con đường lớn,trên ngàn con đường nhỏ, và cả vạn con hẻm và ngỏ ngách của những khu Bàn cờ, Phú nhuận, những xóm Trương Minh Giảng,Tân định…Nghe “Xóm đêm” của Phạm đình Chương : ”Qua phên vênh có bao mái đầu,hắt hiu vàng ánh điện khâu “ mà nảo nùng hình dung những khu phố chật chội,nghèo nàn đó. Địa chỉ nhà của em mà có đến 3 hay 4 cái “sur”-phụ đề Việt ngữ là “trên” (sau gần nửa thế kỹ,tôi nhớ hình như là 192 sur 74 sur 2B,khu chợ Vườn chuối) thì anh “biết mô mà tìm,thì mần răng mà anh đến nhà của em để ra mắt Ba Mạ được.”

Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài viết này, tôi chỉ có thể nhớ về và nhắc lại một vài con đường mà tôi có nhiều kỷ niệm, những dấu ấn của một thời niên thiếu. Tôi biết rằng những con đường không được nêu tên trong bài này sẽ ghét tôi,sẽ giận tôi,và biết đâu sẽ tìm cách “trả thù vặt” khi tôi trở lại Saigon.

Đường Catinat.

Đường Catinat, hay đường Tự do (từ năm 1954), và bây giờ tên là Đồng Khởi (từ năm 1975). Sự thay tên đổi họ này đã đươc dân gian đặt câu vè: Đồng khởi ra đời mất Tự do. Catinat là một con đường rất ngắn nối một đầu từ bờ sông Thủ Thiêm Saigon, khách sạn Majestic đến cuối đường là nhà thờ lớn Saigon tức Vương Cung Thánh Đường và khu Bưu điện. Sau lưng nhà thờ, bên kia đường Thống Nhất là đường Duy Tân.Đối với tôi, Catinat của Saigon tuy ngắn hơn nhưng đẹp hơn Champ Elysees của Paris, tuy nhỏ hơn nhưng  xinh hơn Ramblas của Barcelona,tuy không náo nhiệt nhưng có tình hơn Nanjing của Thượng hải…

Bây giờ, tôi xin mời các bạn cùng tôi đi “tham quan” con đường Catinat, bắt đầu từ phía nhà thờ. Đi đươc trên 100 mét,bên phía tay mặt,ở góc đường Lê thánh Tôn, là quán café La Pagode, nơi hò hẹn của giới văn nghệ sĩ. Ở đó,ngày ngày ta bắt gặp nhừng Mai Thảo, Thanh Nam, Nguyễn đình Toàn, TháiTthủy, những Hoài Bắc, Cung Tiến…Một nhân vật đặc biệt cần đươc nhắc đến là thi sĩ Đinh Hùng của ”Đường vào tình sử.” Theo anh Văn Quang thì trong những năm 55-67, thi sĩ Đinh Hùng hàng ngày thường có mặt tại La Pagode để gặp bạn bè “trong làng” và tại nhà hàng Givral (cách đó chừng 50 mét) để “hẹn hò” với các độc giả, thính giả, nhất là “nữ độc giả và nữ sinh” hâm mộ yêu mến thơ của ông. Ở đó (La Pagode), chỉ cần gọi một ly cà phê là ta có thể ngồi từ sáng đến chiều mà không ai thèm để ý và làm phiền đến mình (nếu ta không có việc gì làm ngoài chuyện ngồi tán phét và ngắm nhìn thiên hạ dạo phố). Quán La Pagode đăc biệt không có cửa, không có kính, không có màn, nên nếu ngồi ở những bàn gần đường, hay ở những bàn còn kê dài dài ở ngoài hè phố, ta có thể thoáng cảm nhận phất phơ tà áo đi ngang qua, hay thoáng ngửi mùi nưóc hoa sang trọng Chanel Number 5 từ những cô gái con nhà giàu  hay mùi nước hoa quyến rủ Tabou từ những em cave. Tuy đươc gọi là nhà hàng, nhưng hình như La Pagode không có món ăn nào, hoăc “thực khách” chỉ là những “ẩm khách,” chỉ biết order một ly cà phê hay một chai bia 33, bia Larue con cọp, rồi thơ thới hân hoan mà nhìn đời, mà ngắm người (theo “thổ ngữ “ người Huế là “ nghễ” đàn bà con gái).

Bên kia đường,nhìn chênh chếch về phía trái là một công viên, không thấy bóng dáng những “homeless” hay những cặp tình nhân ôm nhau mùi mẫn, không có “lá đổ, không chờ mong em chin đỏ trái sầu.” Cũng ở bên kia đường,hơi xa về phía tay phải là Café Terrasse của Hotel Continental, nơi đó là chỗ đóng đô của mấy ông tây bà đầm, và của giới truyền thông ký giã ngoại quốc trú ngụ tại hotel Continental. Sáng sáng, họ ngồi đó để ăn “petit dejeuner,” đọc báo, viết bài, săn lùng tin tức .

Rời La Pagode, ta gặp nhà sách Xuân Thu,tức Albert  Portail. Có hai cửa vào,một từ dường Tự do, một từ hông passage Eden. Đây là một nhà sách không lớn nhất Saigon, nhưng có đầy đủ sách báo,từ báo Le Figaro, Equipe đến Paris Match, Le Monde, Cinemonde, Ciné Revue, từ Time, Newsweek, Reader’s Digest đến Washington Post,,Times of London, Daily telegraph; từ những sách về văn học nghệ thuật, đền những cuốn sách truyện trinh thám mới ra lò. Sinh viên đói rách như chúng tôi tha hồ đên dấy mà đoc “cọp,” đọc “ké”, nhân viên bán hàng biết tình cảnh “kinh tế  tài chánh” của chúng tôi nên cũng “tha tào,” để chúng tôi “cứ vô tư” mà trau dồi kiến thức.

Bên hông nhà sách Xuân Thu là passage Eden, có hình chử Y, ăn thông từ dường Tự do sang đường Lê Lợi và đường Nguyển Huệ. Trong đó chiếm một diên tích lớn là rạp cine’ Eden của gia đính họ Huỳnh Phú.

Tiếp đó là nhà hang Givral, nằm ở góc đừơng Lê lợi. Nhà hàng có cửa kính, có máy lạnh,và cũng có cà phê, sữa tươi, bánh ngọt, pâté chaud, oeuf sur plat đàng hoàng. Givral là quán café đựơc giới trẻ “con nhà giàu,” “tây con và đầm non” như dân học sinh Marie Curie, Chasseloup Laubat  ưa thích. Và nhất là giới nhà báo, tình báo điệp viên (tôi chĩ đoán mò thôi vì làm sao mà nhận diện được họ) vì địa điểm quan sát rất thuận lợi.Từ Givral, ta có thể nhìn trước mặt là Hạ viện (nhà Hát lớn ngày xưa), phía đương Lê lợi là một công viên nhỏ, ở đó thường xảy ra những vụ xuống đường của sinh viên, và những cuộc họp báo “đột xuất” của những chính khách  đối lập…Hai “nhân vật” nổi tiếng thường trực ở Givral là ông một ông tướng, có tài, có đức, nhưng “cứng đầu” nên không được trọng dụng, rồi bất mản, coi trời bằng vung, say sưa chửi thề suốt ngày- hay suốt đời. Ông tướng này đặt bản doanh tại hai nhà hàng Givral (phụ) và Brodard (chính), chỉ cách nhau chừng 50 mét. Và một ông nhà báo-tình báo có tên Phạm xuân Ẩn, trước làm cho hảng Reuters và từ năm 1965, làm cho tờ báo Time. Ông đeo lon đại tá “ngầm” trước 75 và thiếu tướng sau 75. Bỏ qua một bên chính trị, chính kiến, giới tuyến, quốc gia-cộng sãn, con người Phạm Xuân Ẩn là một con người bôc trưc, có lòng và có tình với bạn bè, hết mình với đồng nghiệp, không hại “anh em khác giới tuyến” vào những ngày cuối tháng tư,1975, có lẽ vì lòng nhân hậu (cha mẹ sanh ra) và  sự tôn trọng tự do cá nhân(hấp thụ từ Mỹ). Ông Ẩn đã qua đời vào tháng 9,2006 sau 31 năm ngồi chơi xơi nước.

Từ trong quán Givral, ta tha hồ ngắm nhìn những mini jupe, những áo Montagu kiểu mới nhất từ Paris, những” tà áo lụa Hà đông em đi mà chợt mát.” Và những anh thợ chụp hình dạo,thường hành nghề trước Nhà Hát Lớn, sau khi “dụ dỗ” được một du khách rồi mới cười ruồi xin “chụp lại một pô nữa cho chắc ăn” vì “pô” trước chỉ là chụp vờ.

Nhà hát lớn Saigon, hay nhà Quốc hội, là một kiến trúc nguy nga, đồ sộ, được xây lên từ thời pháp- thuộc, có một hê thống âm thanh không thua kém những rạp hát trứ danh ở Paris hay London, nằm giữa hai khách sạn lớn nhất Saigon thời xưa là Continental và Caravelle. Một bên Caravelle là trụ sỡ của hảng Air France, ở đó những cô nhân viên nói tiếng tây hay hơn đầm. Trong khuôn viên của Hotel Caravelle, có phòng trà ca nhạc Caravelle, do ca sĩ Jo Marcel bao sân thời gian đầu. Kế đó là tiệm bán máy hình và chụp ảnh Long Biên, có công tữ Dz. Long Biên hào hoa phong nhã.

Qua khỏi đường Lê lợi, đi dăm ba bước là ta gặp nhà hàng Brodard. Brodard cũng tương tợ như Givral, nhưng có vẻ kín đáo hơn, và thức ăn có thể ngon hơn, và ít ồn ào xô bồ hơn Givral.Brodard có hai tầng, ngồi ở tầng trên thì tha hồ mà “gỡ gạc,” tha hồ bàn chuyên “áp phe” và chuyện chính trị. Trước khi đến Brodard là rạp cinéma Catinat, nơi đóng dô của mấy anh tây “pê đê,” rạp vừa nhỏ, vừa hôi,v ừa bẩn.

Bên kia đường, xế về phía tay phải, môt góc là tiêm Alimentation generale Thái thạch, bán đủ loai thưc phẩm của Pháp như beurre Bretel, pâté foie d’Alsace, rượu chát Bordeaux, fromage Camembert,Roquefort…Đối diện với Thái thạch, bên kia góc đường là dancing La Croix du Sud-sau này là vũ trường Tự do của ông chủ tên Cường, có ban nhạc Phi-luật tân do nhac trưởng tên Taning, người Phi luật tân, có những ca sĩ như Lệ Thu, Bích Chiêu, Bạch Yến… và nhất là có những em cave nổi tiếng một thời như Tâm Điệu, Tuyết Điệu, Cúc, Mỹ, Thơm, Dung 45,Thanh Thúy “tàu” (nổi tiếng nhờ một sắc đẹp sang trọng diễm kiều, lại có cái tên trùng hợp với một ca sĩ  thời đó). Dancing này có một thời phãi đổi thành phòng trà ca nhạc Tự do, vì thời đó “nhẩy đầm là phạm thuần phong mỹ tục.”

Gần đó là tiệm may nổi tiếng Aux Ciseaux d’or-sau này là nhà may Tân Tân. Và hình như ở gần đâu đó là tiêm cà rem bánh ngọt Aux Delices của cụ Đốc T… Kế bên là tiệm La Mode, bán đồ gốm, đồ cổ của bà cụ Phán N., trong gia đình có cậu “ấm” tên L., tự L. Ph, hào hoa phong nhã, lè phè đúng tác phong của một người con nhà giàu, học không giỏi, không đẹp trai nhưng lại có tội “đông bạc”, và chịu chơi hết mình.

Tiếp tục đi về phía bờ sông, sát một bên hotel Majestic, những năm đầu thập niên 70 mọc lên một tiêm rất đặc biệt: đó là tiệm  Pole Nord , tiệm chỉ có hai bàn đánh “tilt”-máy chơi bi điện-của một anh tây rất “vắng” tiếng tây là anh Francois, mê mắm tôm hơn mê fromage. Để chờ đến phiên của mình thì có thể nhâm nha ly nước “Orangeade au Rhum” rất “parisien.” Dân đến tiêm “tilt” này là dân ăn chơi thời thượng, sang trọng đúng mốt, đi giày Santiago đóng ở tiệm Gia (dành cho sinh viên học sinh “vắng tiền”), hay giày kiểu Bally của tiệm Trinh (dành cho dân “đông bạc”) cả hai tiệm đều ở tận bên Khánh hội; măc áo quần của nhà may Văn Quân hay Tân Tân,hay Ích Tân; hớt tóc ở tiệm Đàm đường Hiền Vương (tay thợ tên Đàm dân Bắc kỳ chính hiệu, chỉ hớt tóc bằng kéo, vừa hớt vừa đấu láo về đủ mọi đề tài, từ chính trị, thể thao, văn học nghệ thuật…).

Và cuối đường Catinat là khách sạn Majestic, không sang trọng bằng Continental và Caravelle, nhưng được lợi thế nằm gần bờ sông Saigon nên có gió mát và phong cảnh hửu tình. Bên cạnh khách sạn là phòng trà ca nhạc Maxim’s do Nhạc sĩ Hoàng thi Thơ và vũ sư Trịnh Toàn điều khiển, đêm đêm có vũ dân tộc và vũ trống. Nơi đây là chổ hò hẹn của dân làm áp phe, và những ông chủ già hay những ông quan lớn đi du hí với đào nhí.

Bên kia dường Bạch đằng là bờ sông Saigon, ở đây không còn cái “không khí, bộ mặt” của Catinat nữa. Tôi không nhớ gì ở đây ngoài hình ảnh những cặp tình nhân muốn tránh cái “nóng nung người của Saigon” ra đây để tình tự và hóng gió mát từ sông Saigon; và những người bán hang rong, bán đủ thứ từ mía ghim, hột vịt lộn dến bắp nướng…Hằng đêm, vô tình ngắm nhìn những hình ảnh quen thuộc này là bức tượng đức Thánh Trần Hưng Đạo. Xa xa về phía tay mặt là nhà hàng nổi Mỹ cảnh, có “gió mát” và có “sóng nước,“ đi vào thì nặng mà đi ra thì nhẹ, “túi tiền nhẹ tênh”. Và cách đó chừng 100 mét là nhà hàng Tây “Pointe des blagueurs,” mà ông Vương Hồng Sển dịch là “mủi đất của  những tay nói phét,” trước là cột cờ thủ phủ, sau đổi thành một nhà hàng “tây,” mấy anh tây bà đầm, mấy anh “marine marchande” thường đến đó để “boire un coup” và lẽ dĩ nhiên là để “blaguer” -đấu láo tán dóc-. Tôi nhớ một hôm,bàn bên cạnh chúng tôi có ba bốn anh tây, có lẽ là dân “tàu buôn-marine marchande,” sau khi “dô” dăm bảy ly Cognac, Hennessy, cũng đã gần “ngoắc cần câu” rồi, một anh bỗng lè nhè phát ngôn:”Je sens un mal de mer” -tao cảm thấy say song biển- cứ như là đang lênh đênh trên biển cả. Say rượu mà nói là say sóng, tán phét như vậy là số một rồi.

Con đường Catinat có rất nhiều tiệm vàng và hột xoàn, nhưng nổi tiếng và sang trong nhất là tiêm hột xoàn Đức Âm, có mặt ở Saigon từ năm 1954, sau khi di cư từ phố Tràng Thi ở Hà nội vào. Có nhiều tiệm vải, những tiệm tơ lụa Tô châu có nhiều mặt hàng nhập cảng từ Tô châu bên Tàu và lụa tơ tằm từ miền Bắc. Và ta cũng không quên  tiệm bán tranh sơn mài Thành Lễ, với những sản phẩm sơn mài và đồ gốm rất có giá trị về mỹ thuật và thủ công nghệ, tuy hơi đắt tiền nhưng lại được du khách ưa chuộng. Và sau 1965, mọc lên rất nhiều quán bar quán rựou. Và từ đó, đêm đêm không còn vắng vẽ như trong bài hát của Trần văn Trach: ”Đêm đêm một mình lang thang trên đường Catinat.”

Hà Nguyên Phố
tức Hà Xuân Du QYHD-Khóa 10

Diễn Đàn Sinh Viên Quân Y
© 2010

From: TRUONG LE