ĐẤU TRƯỜNG

Đỗ Ngà

ĐẤU TRƯỜNG

Đỗ Ngà

Ngày 07/01/2014 trong phiên tòa xét xử Dương Tự Trọng, nhân chứng Dương Chí Dũng khai đã đưa hối lộ trực tiếp 2 lần với tổng giá trị 510 ngàn đô, lần thứ ba là nhận 1 triệu đô của đại gia Trương Mỹ Lan gởi cho Phạm Quý Ngọ qua người trung gian tên Tiệp. Điều đặc biệt là Dương Chí Dũng có thuật lại lời nói của Tiệp rằng “”Anh yên tâm đi, tôi đã gặp và báo cáo với anh Trần Đại Quang – Bộ trưởng Bộ Công an, để anh Quang có ý kiến với anh Ngọ. Và anh Quang sẽ điện cho anh, để anh Ngọ không can thiệp hay gây khó cho doanh nghiệp nữa.”. Như vậy điều này cho thấy, số tiền một triệu đô này là Ngọ nhận cho Quang, lúc ấy Ngọ đang là thứ trưởng bộ Công An còn Quang là Bộ Trưởng.

Ngày 17/02/2014, Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định tạm đình chỉ nhiệm vụ thứ trưởng Bộ Công an đối với Phạm Quý Ngọ vì liên quan đến vụ án “làm lộ bí mật nhà nước”. Điều đăt biệt là trước ngày Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định khoảng một tháng, báo chí được lệnh đồng loạt tung tin Phạm Quý Ngọ bị ung thư gan. Và kết quả là sau ký quyết định đúng một ngày, Phạm Quý Ngọ chết và vụ án bị đình chỉ điều tra.

Theo khoản 1 điều 2 của Quy định 121-QĐ/TW năm 2018 thì, cán bộ chủ chốt được khám sức khỏe hằng ngày, các ủy viên bộ chính trị khác được khám bệnh ít nhất hai ngày một lần, các ủy viên Trung Ương đảng được khám bệnh ít nhất mỗi tháng một lần. Đó là chế độ chăm sóc sức khỏe của quan chức CS, Phạm Quý Ngọ là Ủy viên Trung Ương đảng, ông ta được chế độ khám bệnh hằng tháng, vậy mà đến khi bị phanh phui tội hối lộ thì mới phát hiện ra bệnh ung thư. Thế mới lạ! Vậy rõ ràng căn bệnh “unng thư” này không phải bởi nguyên nhân chính trị thì là nguyên nhân gì? Còn “kỳ diệu” hơn nữa là Phạm Quý Ngọ chết ngay khi cơ quan điều tra có quyền đụng đến ông, một cái chết kịp lúc để cho Trần Đại Quang thoát tội.

Ở trong chế độ CS có một nguyên tắc rất lạ là, nhiều căn bệnh “ung thư” của các lãnh đạo cấp cao trong ĐCS xuất hiện không phải vì nguyên nhân y học mà nó xuất phát từ nguyên nhân chính trị. Chính vì vậy mà dù cho có quy định chế độ chăm sóc ý tế hàng tháng thì vẫn không tài nào phát hiện ra bệnh mà phải nhờ đến khi bị truy tố thì nó mới xuất hiện là vậy. Trò chơi quyền lực trong nền chính trị độc tài nó thế. Ở nước dân chủ hay nước độc tài thì chính trị vẫn luôn là võ đài, nhưng khác nhau ở chỗ võ đài dân chủ chơi theo luật có trọng tài giám sát, còn võ đài của độc tài chẳng cần đến trọng tài nào cả nên đấu sĩ có quyền dùng mọi đòn bẩn miễn sao có chiến thắng. Vì vậy mà ở vũ đài chính trị độc tài, ta thường thấy kẻ thắng ăn thịt luôn đối thủ. Hãy nhìn sang võ đài chính trị Nga thì sẽ thấy, kẻ chỉ trích Putin đã dính trọng bệnh và phải sang Đức chữa trị. Đấu trường chính trị ở xứ độc tài dậm chất man rợ.

Tham nhũng trong chính quyền CS nó là loại tham nhũng có hệ thống. Việc tham nhũng không phải một cá nhân thực hiện mà nó có cả một chuỗi liên quan. Những chuỗi như thế này nó đã được dệt thành tấm lưới phức tạp phủ kín ĐCS, trong đó mỗi cá nhân tham nhũng nó không chỉ là mắt xích của một chuỗi mà là mắt xích của nhiều chuỗi khác nhau. Chính vì vậy, khi phá một mắt xích thì rất có thể nó nó sẽ kéo cả chuỗi bị dính chàm theo nó. Đó là lý do tại sao khi muốn xử tham nhũng thì ĐCS phải tìm cách cắt đứt mắt xích đó ra khỏi chuỗi để bảo vệ những mắt xích khác (mắt xích phe ta). Có hai cách cắt đứt mắt xích ra khỏi chuỗi, cách thứ nhất dùng mác “bí mật nhà nước” dán vào hồ sơ thì xem như chẳng ai đụng vào “mắt xích phe ta” được, và cách thứ nhì là tuyên án tử bằng căn bệnh “ung thư”. Đây là hai giải pháp mà hiện nay ĐCS rất ưa dùng.

Hôm nay, tất cả báo chí đều đồng loạt đưa tin Nguyễn Đức Chung bị bệnh ung thư. Nguyễn Đức Chung cũng là ủy vên trung ương đảng, ông ta được chế độ khám và chữa bệnh hằng tháng thế nhưng suốt nhiệm kỳ làm chủ tịch Hà Nội không thấy chính quyền CS thông báo gì về bệnh tình của ông ta, đùng một cái lúc ông ta bị điều tra tội “làm lộ bí mật nhà nước” thì căn bệnh “ung thư” lại xuất hiện. Lại một phiên bản Phạm Quý Ngọ 2.0 chăng? Rất có thể.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://thuvienphapluat.vn/…/quyet-dinh-121-qd-tw-2018…

https://www.bbc.com/…/140107_duongtutrong_trial_firstday

https://tuoitre.vn/ong-nguyen-duc-chung-xin-tai-ngoai-de…

 

Image may contain: 1 person, text
You, Dinh Huong, Tai Nguyen and 525 others
71 Comments
79 Shares
Haha
Comment
Share

Một chuyến đi thăm nuôi chồng 

Một chuyến đi thăm nuôi chồng 

Hay và cảm động. cứ nghĩ nếu mình ở trong hoaǹ cảnh đó thì sao.

 Thân chuyển và tha thiết mời đọc cho hết bài viết.

   Những ai chưa phải đi tù cải tạo. Những ai đã đi tù cải tao được “Tạm tha” rồi mà quên lửng đi thời kỳ ở trong tù cải tạo. Những thầy tu, những nhà đạo đức nào từng khuyên các người tù cải tạo nên quên quá khứ, hòa hợp hòa giải. Đều nên đọc bài này.

   Họ, chỉ cần nhớ đoạn: Người vợ đi thăm tù mà không nhận ra được chồng minh.

  Phải ở hoàn cảnh của vợ chồng người tù cải tạo như người này mới hiểu tại sao có những người Chống Cộng Cực Đoan. 

Chân thành cám ơn các Chị, những người vợ quả cảm của người Lính VNCH, các Chị đã không bỏ anh em chúng tôi trong những năm dài tủi nhục trong ngục tù việt cộng. Hận thù này đến chết vẫn không quên.

Tưởng niệm 30 tháng Tư: Một chuyến đi thăm nuôi chồng

Hoàng Yến

 


Tiếng chuyển động rì rì của máy chiếc xe đò loại nhỏ đang chạy trên tuyến đường từ Qui nhơn đi Pleiku, Kontum. Hành khách trên xe bắt đầu chập chờn vào giấc ngủ. Dù có mệt mỏi cho một chuyến đi xa, tôi không thể nào ngủ được, mắt nhìn ra khung cảnh ngoài cửa sổ xe, nhà cửa lui dần khỏi cảnh ồn ào bụi bậm trong thành phố. Nhìn xa xa, những ngọn núi nối tiếp ẩn hiện nhấp nhô, được bao phủ lớp sương mù như mây như khói. Xe bắt đầu tăng ga để leo dốc, con đường dốc ngoằn nghèo thật cao, một bên là vách núi đá một bên là vực sâu, chiếc xe như chênh vênh đang bò bên bờ vực, phía dưới vực rừng cây mờ mờ thật sâu. Tôi không dám nhìn xuống phía dưới, đưa tay áp lấy ngực miệng lâm râm cầu nguyện, cứ tưởng tượng không biết lúc nào chiếc xe sẽ lao xuống vực. Xe leo gần tới đỉnh đèo, ngay khúc quẹo hình chữ V độ dốc thẳng và cao. Đột nhiên xe khựng mạnh và dừng hẳn. Những người trên xe bừng tỉnh nhốn nháo vì đầu máy xe đang bốc khói mù mịt, sợ xe cháy ông tài xế nhảy vọt ra khỏi cửa sổ xe. Chiếc xe không người lái lùi lại từ từ, mọi người trong xe hoảng hốt tìm cách nhảy ra ngoài. Tôi ngồi hàng ghế bên trong, kẹt cứng giữa đám người đang chen nhau thoát ra khỏi xe. Chiếc xe lùi lại thật nhanh. Thất thần mắt nhìn thấy bờ vực cận kề tôi hét to “Lậy Chúa tôi”. Trong lúc chú lơ xe cầm cái cục gỗ chận bánh xe lại, với đà đổ dốc bánh xe trườn trên cục gỗ nẩy mạnh lên và càng lùi nhanh hơn, chú lơ xe không kịp chạy theo. Tiếng la khóc, tiếng kêu cầu cứu Chúa và Phật, Tôi nhắm mắt phó linh hồn trong tay Chúa, biết chắc sẽ chết nơi đây. Giây phút cuối cùng, hình ảnh thân yêu của mẹ và chồng con tôi lóe nhanh trong đầu. Một tiếng “rầm” thật lớn cùng sức dội mạnh như muốn vỡ lồng ngực, mọi người đổ ngã chụm vào nhau, mọi sự chìm trong im lặng, nửa tỉnh nửa mê, không biết mình còn sống hay đã chết. Một phép lạ, chiếc xe đang lùi thật nhanh thì đuôi xe quay ngang đâm vào vách núi và khựng lại, bánh xe kẹt vào khe rãnh thoát nước. Nhờ ơn Trên, mọi người sống sót nhưng vẫn còn thất kinh hồn vía biểu lộ trên khuôn mặt.


Chúng tôi được chuyển qua một chiếc xe khác. Qua cơn hiểm nghèo, ai cũng nguyền rủa ông tài xế không có lương tâm, không có trách nhiệm, nắm giữ hơn 50 sinh mạng, chỉ biết cho mình, còn những người khác coi như cỏ rác. Tôi không nguyền rủa ông ta mà tôi đau cho cả xã hội này, đã đào tạo con người ông giống như CS. Nếu họ có trái tim, người dân đâu chịu khổ, chồng tôi đâu bị đày ải tù tội như thế này. Nhớ tới chồng, tới giây phút vừa thoát hiểm nguy, tôi bật khóc, nếu chiếc xe rớt xuống đèo, tôi không bao giờ còn thấy chồng, đau thương hơn nữa, tôi chết ngay địa danh gần nơi giam giữ chồng tôi, mà anh đang ngóng chờ mong mỏi được gặp tôi.


Xe qua khỏi mấy cái đèo nguy hiểm như đèo An Khê, đèo Măng Giang. Bớt lo sợ, tôi đưa mắt quan sát những hành khách còn trong xe. Bốn người tôi mới quen ở bến xe Qui nhơn tối hôm qua, cùng đồng cảnh đi thăm nuôi như tôi, họ ngồi rải rác những hàng ghế phía khác, mắt tôi chăm chú nhìn một ông lão ngồi ngoài đầu hàng ghế bên kia, cách chỗ tôi ngồi là lối đi giữa của hai hàng ghế. Ông trạc tuổi bố chồng tôi, dáng người nhỏ còm cõi trông rất hom hem. Ông không ngủ, trên khuôn mặt khắc khổ, thỉnh thoảng môi ông nhếch lên mỉm cười, ánh mắt lộ vẻ hân hoan như sắp nhận được món quà quí, hoặc sắp gặp lại gia đình sau một chuyến đi, đôi lúc lại thấy ông tư lự đăm chiêu như đang suy nghĩ một vấn đề gì, hai bàn tay ông ôm chặt cái giỏ vào lòng như sợ nó vuột mất. Bất giác tôi cười thầm nhìn xuống tay mình thì cũng như ông lão thôi, tôi có hai cái giỏ lúc nào cũng bên cạnh không dám rời xa nó, hở một tý là bị lấy cắp.


Bất chợt ông lão nghiêng mặt qua phía tôi, bắt gặp ánh mắt tôi đang nhìn ông. Tôi nhoẻn miệng cười chào hỏi làm quen:


– Dạ chào bác! Bác là người ở trên miền này hả bác?


Ông lão quay hẳn qua phía tôi cười. Răng ông đã rụng gần hết, miệng móm mém. Nhìn ông tôi có cảm tình ngay với đôi mắt và nụ cười hiền hòa phúc hậu của ông. Ông trả lời:


– Không! Tôi không phải người trên miền này cô à. Ông thân thiện. – “Tôi ở xa lắm! Cô có biết Saigon không? Nhà tôi còn ở xa hơn nữa, mãi tận Rạch Giá cô à”. Thấy ông lão vui vẻ, tôi tò mò hỏi tiếp:


– Vậy bác đi thăm con cháu ở trên này à?


Trong ánh mắt ông lão thoáng buồn, nhưng môi ông lại mỉm cười tạo trên khuôn mặt ông nét vừa buồn vừa vui, nửa khóc nửa cười. Tôi không thể nào đoán được ông lão đang nghĩ gì. Thấy ông im lặng, tôi than thở dùm ông lão:


– Trời ơi! Bác lớn tuổi rồi, sao không để con cháu về dưới thăm bác, đường đi xa xôi, lại nguy hiểm bác ngồi xe như thế này mệt lắm.


Miệng ông đang cười, câu nói của tôi như chạm vào nỗi niềm riêng tư của ông, mắt ông nhuốm màu sương khói ngấn lệ. Tôi cảm thấy áy náy cho câu hỏi thăm tự nhiên nhưng vô ý của mình, định ngỏ lời xin lỗi và an ủi ông, thì ông cất lên lời tâm sự cùng tiếng thở dài:


– Cô ơi! Tôi già cả rồi, đi lại rất khó khăn, đâu muốn đi xa như thế này đâu, vì thương con tôi phải đi thôi.


Nghe tới đây tự nhiên trong lòng tôi thật bất mãn người con của ông, thầm trách trong bụng: “Bố già rồi không về thăm bố, lại để bố lặn lội đường xa đi thăm mình, loại con gì vô tâm bất hiếu vậy”. Tôi đang tức dùm cho ông lão. Ông đưa mắt ngó tôi, chép miệng thở than:


– Tội nghiệp thằng con tôi lắm cô ơi! Nó bị nhốt mấy năm nay rồi, nó là lính VNCH cô à. Nói tới đây giọng ông nhỏ lại, đưa mắt lấm lét nhìn xung quanh như sợ người khác nghe. Có thể ông cảm được tôi đồng cảnh đồng thuyền nên ông dễ dàng tâm sự, nhìn tôi ông rỉ rả:


– Nó chưa vợ cô à, nên tôi cứ phải lê thân già đi từng trại tù thăm nó.

Tôi thật xúc động. Ông lão cùng cảnh ngộ với tôi, như một luồng giao cảm, tôi nghiêng người chồm hẳn gần ông lão hỏi nhỏ


– Bác! Vậy chuyến đi này có phải bác đi thăm nuôi ở trại tù Gia trung không ạ?


Mặc dù lần đầu tiên tôi đi đến vùng này, không biết con trai ông có cùng chung trại tù với chồng tôi không? Vừa nghe đến tên trại tù Gia-trung từ miệng tôi, ông lão mở to mắt mừng rỡ:


– Đúng! Tôi đi thăm con tôi ở đó.


Ông bỏ lửng câu nói, mắt nhìn tôi ngập ngừng, e dè nói khẽ: “Cô là người ở đây hay sao mà biết trại tù đó”?


Tôi mỉm cười với tay xoa nhẹ vào tay ông: “Thưa bác! Cháu không phải người trên này mà là cháu đi thăm nuôi nhà cháu ở trại tù đó”.


Mắt ông lão sáng lên. Thế là một già một trẻ cùng cảnh ngộ như nhau trở nên thân thiết. Nhích người chụm đầu vào nhau rủ rỉ chuyện thăm nuôi, chuyện gia đình, thời cuộc đất nước, chuyện khổ cực nghèo đói của mọi người sau ngày mất nước.


Ông tâm sự, người con của ông hiện giờ bị giam ở K3. Tôi đoán chắc không xa nơi giam giữ chồng tôi,vì chồng tôi ở K1. Đã mấy năm trời ông lăn lội đi từng trại tù thăm nuôi con trai ông. Trước ngày miền Nam mất vào tay CS, người con ông có vị hôn thê sắp làm đám cưới. Thời điểm đó đất nước trong cơn hỗn loạn, nơi con ông đóng quân đánh nhau dữ dội nên không thể về làm đám cưới. Ngày 29/4/1975 người vợ chưa cưới theo gia đình xuống tàu trốn chạy CS. Vài tuần sau con ông bị đưa đi tù cải tạo. Bà cụ thì quá gìa yếu bệnh tật liên miên, muốn đi thăm để nhìn thấy mặt con trai mà cũng không sao đi được. Ông chỉ lo bà cụ chờ không được tới khi con ông về.


Giọng ông run run thở dài lo sợ: “Hoặc là con ông không bao giờ có ngày về”. Lời ông đều đều bên tai như muốn tôi chia sẻ nỗi buồn niềm đau với ông. Ông cứ kể, tôi vẫn nghe để cho những gì đang chất chứa trong ông hòa vào với khổ đau tủi cực của tôi. Cùng một cảnh đời, lòng tôi nhói lên theo từng lời kể của ông. Ông lại chép miệng nỉ non:


– Còn hai người con gái lớn đã có gia đình. Thời buổi cuộc sống khó khăn, tất bật kiếm miếng ăn chưa đủ nuôi mấy cháu ngoại của ông, làm sao có thể giúp đỡ ông hoặc đi thăm con trai ông. Ông bà chỉ còn tí mảnh vườn sau nhà, trồng mấy liếp rau nuôi bầy gà lấy trứng, sống lây lất rau cháo qua ngày. Nước mắt ông rưng rưng ứa tràn khóe mắt, giọng ông đứt quãng nghẹn lại. Ông nhận được giấy thăm nuôi của con ông mấy tuần rồi nhưng ông không thể đi thăm con ông sớm được, vì không có tiền, ông biết con ông rất mong ông. Vừa kể ông vừa lấy tay áo chấm nước mắt làm tôi cũng mủi lòng. Hoàn cảnh gia đình ông và gia đình tôi đều giống nhau. Sống trong một xã hội mới không tự do, bơi lội trong khổ đau khốn nghèo và người thân bị đày ải trong lao tù chẳng biết ngày về.


Ông chỉ vào cái giỏ đang ôm trong tay, bờ vai vẫn còn rung nhẹ theo cảm xúc:


– Cô biết không! Tôi phải chờ thêm vài tuần lễ để bầy gà lớn thêm lên mới bán được, rồi mua đồ thăm con, còn tiền xe đi đường tôi được người hàng xóm tốt bụng cho mượn. Lồng ngực của ông hít thật sâu, thả mạnh trong tiếng thở dài như xả những ưu phiền khổ đau, giọng ông não nuột: “Không biết về nhà xoay đâu ra tiền mua lại bầy gà”.


Giấu nỗi buồn lo, ông quay mặt qua hướng cửa sổ, nhìn nghiêng khuôn mặt ông, tôi thấy khóe mắt ông ươn ướt. Tôi cảm được những lo lắng, buồn phiền nhớ thương trong đôi mắt ấy.


Chợt ông quay sang cười với tôi, miệng ông móm mém kéo theo những đường nhăn nhúm hai bên má như thể những nhăn nhúm của cuộc đời hằn nặng trên khuôn mặt ông. Ông lại rỉ rả:


– Tội nghiệp con tôi! Chắc là đang mong và mừng lắm khi thấy tôi đi thăm 


Ông ngó xuống cái giỏ nhỏ để trên đùi, tay vẫn nắm chặt hai quai giỏ. Ông gật gù cái đầu: – Vợ chồng tôi chỉ lo liệu ít đồ ăn trong cái giỏ này thôi, dọc đường phải đổi mấy lượt xe, tôi lo lắm chẳng dám ngủ nghê, sợ bị giật giỏ con tôi chẳng có gì ăn. Ông chép miệng: -“Khổ quá nỗi, thời buổi làm ăn khó khăn mà trộm cắp mọc lên như rươi, chỗ nào cũng có”.


Ông nói giọng Bắc như tôi, cách nói chuyện thật thà miền quê. Tôi cảm thấy thật gần gũi với ông và tội nghiệp cho ông, đường sá xa xôi, thân già lặn lội đi thăm con. Tôi lại nghĩ tới tôi có khác gì ông đâu.


Xe chạy xuống khỏi mấy cái đèo. Ông cụ thấm mệt mắt lim dim, có lẽ ông đang nghĩ đến người con trai mà ông sắp được gặp, và niềm vui con ông nhận được những món quà nhỏ nhoi mà ông dành dụm chắt chiu như một gia tài của ông. Nhìn ông lòng tôi thương chồng, như ông đầy vơi nghĩ đến người con của mình. Quang cảnh hai bên đường đồi núi chập chùng, con đường đến trại tù xa vời vợi. Nghĩ tới chồng, tới sự thoát chết vừa qua, cùng nỗi khổ hiên tại của tôi, nước mắt tôi ứa ra…


Nếu không có ngày đen tối quái ác 30 tháng 4 năm 1975, mọi người dân đâu phải khốn khổ đói rách, chồng tôi đâu bị đi tù cải tạo khổ nhục xa xôi như thế này mà không biết ngày về. nếu đừng có xã hội như thế này, nếu tôi có tiền, nếu tụi du kích CS đừng tịch thu hàng mua bán của tôi. Nếu tôi đừng dùng phương tiện bằng xe lửa đi thăm chồng và còn nhiều cái nếu trong đầu làm lòng tôi quặn đau, khổ thương quay quắt.


Hơn 4 năm rồi,chồng tôi đã chịu bao tủi nhục khổ cực qua hai trại tù, bây giờ Cộng sản lại đưa chồng tôi đi trại khác. Gần một năm bặt tin tức của anh, tôi chẳng dò hỏi được gì về anh và chẳng biết tìm kiếm anh ở đâu. Phần sống trong một xã hội khốn khổ chẳng chút tự do, chỗ nào cũng chận bắt tịch thu giam giữ. Trong khó khăn lầm than, tôi bôn ba vật lộn tìm miếng ăn cho gia đình và cho chính mình thật gian nan vất vả, còn tâm trí lúc nào cũng nghĩ và lo sợ cho số phận chồng trong lao tù CS chẳng biết giam giữ nơi đâu. Tâm hồn tôi bất an phập phồng không thôi, đôi khi tưởng rằng mình đang rơi xuống đáy vực thẳm của cuộc đời. Nhờ tình yêu anh tôi cố bám víu ngoi lên, mong nhìn thấy tia hy vọng về anh dù chỉ là mong manh.


Ngày nhận được thư chồng, không chỉ mình tôi mà cả gia đình và hàng xóm, ai cũng vui mừng, cả xóm huyên náo ồn ào vì biết chồng tôi vẫn còn sống, mọi người đến nhà hỏi thăm, họ cũng như tôi nôn nao mong được gặp anh. Tất cả đều khó khăn nghèo khổ, họ không có gì làm quà để gửi cho chồng tôi, nhưng sự ân cần quan tâm lo lắng của họ đối với chồng tôi cả là niềm an ủi xúc động cho gia đình tôi.

Địa chỉ trại tù giam chồng tôi thật xa lạ và quá xa xôi. Đọc thư chồng nước mắt tôi ngắn dài đầy vơi. Tội nghiệp chồng tôi, trong thơ vỏn vẹn vài câu kín đáo hỏi thăm gia đình và cho biết đã được phép thăm nuôi. Thơ anh viết ngắn, tôi đọc và cảm được biết bao tình cảm của anh gói ghém trong đó dành cho tôi. Anh không dám xin những thứ mà anh cần, mặc dù anh rất cần. Tôi biết anh rất thương tôi. Bố mẹ anh đã già, mọi việc mình tôi cáng đáng lo liệu với hoàn cảnh và xã hội hiện tại. Còn tôi dù cuộc sống khó khăn vất vả, tôi cũng cố xoay sở lo cho chồng, chút an ủi giúp anh thêm nghị lực, và cho tôi chút niềm vui hạnh phúc trong tình nghĩa vợ chồng.

Số tiền tôi cực khổ dành dụm chắt chiu để đi thăm nuôi chồng, số tiền đó cũng bao lần đã muốn lấy mạng sống của tôi. Trong một chuyến hàng tuần trước, tôi đã trở thành trắng tay, cũng may mạng sống tôi vẫn còn. Những lần bị bắt bị tịch thu, chị em bạn chúng tôi thường than thở với nhau: “ Ký ca ký cóp cho cọp nó tha”, rồi lại lăn lộn bôn ba bất chấp nguy hiểm làm lại từ đầu, được tý vốn lại bị tịch thu, cứ xoay vòng trong cuộc sống XHCN. Vậy mà chỗ nào cũng thấy cái bảng tô đỏ hàng chữ “không có gì quý hơn độc lập tự do”.


Trại tù giam chồng tôi mãi tận Pleiku – Kontum có tên là trại Gia Trung, một địa danh tôi chưa bao giờ biết đến. Trước ngày đi thăm chồng, tôi dò hỏi được biết mỗi ngày bến xe Saigon – Miền Trung có hai chuyến chạy suốt về Pleiku. Giá chính thức được bán ra từ 15 tới 20 vé, còn lại bán với giá chợ đen rất mắc, mà phảỉ đứng xếp hàng từ đêm tới sáng may ra mới mua được vé. Tôi ở miền quê ngu ngơ làm sao mua được. Thật khó khăn và tốn kém. Tôi đành chọn giải pháp đi bằng tàu lửa, giá rẻ mà dễ đi . Ga xe lửa tôi đi gần chợ Long Khánh cách nhà tôi khoảng gần 30 cây số.


Nhớ tới giây phút giành giật chen nhau để lên toa xe lửa, bất giác tôi cảm thấy sau gáy và bả vai vẫn còn đau, đưa tay lên rờ phía sau đầu cục sưng u vẫn còn, vì tôi bị những bó củi họ quăng ném vào người. Trời ơi! Tôi không thể nào tưởng tượng được cảnh chen lấn hỗn loạn tại ga xe lửa lúc bấy giờ. Không giống như ga xe lửa trong phim ảnh, kẻ đi người về, kẻ tiễn đưa người đi đón sao êm đềm cảm động nên thơ đến thế. Ga xe lửa này cũng người lên kẻ xuống nhưng trong cảnh xô đẩy chen lấn giành giật cùng tiếng chửi thề xen lẫn tiếng la hét inh ỏi hỗn loạn. Bao nhiêu hàng hóa vừa bao vừa túi, bao than, giỏ đựng gà vịt, bất cứ vật gì cũng đều quăng ném vào toa theo lối cửa sổ, có người quăng cả đứa con nít như quăng một món đồ, kẻ tung lên người ném xuống. Tôi chen lấn trong đám người xô đẩy, kéo lê hai giỏ đồ tới gần cửa lên xuống, tay cố bám vào thành cửa, hy vọng đu được người vào bên trong,nhưng thân người tôi như tàu lá chuối vật vờ đong đưa giữa đám người hỗn độn. Tay tôi bị giật thốc ra khỏi thành cửa làm tôi ngã chúi theo đà xô đẩy, tôi ngồi xuống ôm lấy hai giỏ đồ vừa khóc vừa năn nỉ mọi người:


– Bà con ơi! Tôi có mua vé mà, hãy để tôi lên toa đi.


Mặc cho tôi khóc năn nỉ, họ chẳng để ý, cứ vô tình bước đạp trên hai giỏ đồ và cánh tay tôi làm đà bước lên toa xe, còn quay lại mắng tôi:


– Bộ tưởng một mình cô có vé thôi sao, tụi tui cũng có vé vậy.


Người họ khỏe bám trèo lên bằng lối cửa sổ, tôi thân đàn bà chân yếu tay mềm nên không thể bám và leo lên như họ, còn hai giỏ đồ thăm nuôi tôi làm cách nào đưa lên bằng lối đó. Tiếng còi xe lửa hú lên từng chập như báo hiệu sắp khởi hành, tôi càng quýnh quáng, mọi người càng vội vã chen lấn hơn trước. Sợ lỡ chuyến tàu sẽ trễ ngày thăm chồng, tiếng còi xe lửa hú lên càng làm tôi hốt hoảng. Ôm hai giỏ đồ, mắt đỏ hoe ngó lên toa xe, tôi hết hy vọng vì bánh xe lửa bắt đầu chuyển động trên đường sắt cùng những người còn đang chạy theo bám lấy.


Trong những người xô đẩy vô lương tâm đó, cũng còn một người có chút lương tri. Người đó là một thanh niên, ngồi trên nóc xe nhìn cảnh hỗn loạn phía dưới, thấy tôi ngồi khóc, mặc cho xe lửa đang chuyển bánh, nhảy xuống đất cầm vội hai giỏ đồ của tôi quăng vào lối cửa sổ, không cần biết có trúng ai bên trong hay không và nâng người tôi lên đẩy vào cửa sổ. Tôi chưa kịp cám ơn, người thanh niên đã xa tấm mắt của tôi, ngoái cổ nhìn với theo bên hông tàu, người thanh niên đang tìm cách nhảy lên toa xe và rồi những tàng cây bên đường làm khuất mất hình ảnh người thanh niên đó.


Tôi vui mừng không bị lỡ chuyến tàu, thở phào nhẹ nhõm, nhưng nghĩ tới người thanh niên trong lòng tôi lại áy náy, thấp thỏm không biết người thanh niên tốt bụng đó đã lên được tàu chưa hay là đã lỡ chuyến?


Tìm một chỗ dưới sàn tàu ngồi xuống, người tôi mỏi mệt đau nhừ, nhất là trên đầu phía sau ót và bả vai, tôi bị những bó củi ném trúng làm đau buốt. Thấy mặt tôi nhăn nhó, tay xoa xoa phía sau đầu, một bác ngồi gần bên lấy hộp dầu cù là đưa cho tôi xoa bóp.


Yên trí ngày mai gặp chồng làm tôi nôn nao, những mỏi mệt đau nhừ tan biến nhanh, nhường cho tâm tư sắp đặt những gì muốn nói với anh. Đừng như những lần trước, gặp được anh mừng quá chẳng nói được gì, hết giờ thăm lúc đó mới ngẩn người nuối tiếc. Ừ nhỉ! Nếu ngày mai tên cán bộ có đứng xa xa nơi vợ chồng tôi như ở trại tù Hốc môn, những người đi thăm nuôi như tôi cùng tâm trạng, họ cũng biểu lộ tình cảm như tôi. Tôi sẽ ngả đầu vào vai anh, thủ thỉ với anh bao nỗi nhớ niềm thương, bao buồn phiền tủi cực, bao vất vả đắng cay và biết bao điều muốn nói với anh. Nhưng tôi biết anh không cần nghe tôi nói, chỉ cần nhìn thấy tôi là anh hiểu và nghe nặng cả bao nghĩa ân tình yêu thương, giúp anh thêm nghị lực vượt qua tất cả. Tôi vẫn biết rằng ý chí của anh rất mạnh.


Theo lịch trình 6 giờ chiều xe lửa sẽ tới ga Nha trang, và chuyến xe lửa từ Nha trang đi Qui nhơn khởi hành lúc 6 giờ 45 phút. Tôi thở phào yên trí đủ thời gian mua vé đi Qui nhơn và tôi cũng không lo ngại nếu có cảnh chen lấn như ở ga Long khánh.

Quá mỏi mệt, tôi tìm cách tựa lưng vào thùng đồ của ai để bên cạnh nhắm mắt thiu thiu vì chuyến đi còn dài, chân tôi gác lên kẹp lấy một giỏ đồ còn một giỏ tôi lấy khăn tay cột quai giỏ vào cánh tay của mình, lỡ ngủ mệt sợ có người lấy cắp. Nhắm mắt để đó chứ không ngủ được, phấn ồn ào, phần háo hức sắp được gặp chồng làm tôi nôn nao. Không biết khi vợ chồng tôi gặp nhau, sự mừng rỡ sẽ như thế nào? Con người tôi rất tình cảm và xấu tính, buồn cũng khóc vui cũng khóc. Cả hai nhập lại không biết lúc đó tôi như thế nào? Còn hình dáng chồng tôi có khác lạ không? Gần một năm trời rồi, tôi chưa được nhìn thấy anh. Trong đầu tưởng tượng về anh, về nơi giam giữ anh. Họ đưa anh đi xa xôi thế này chắc là thăm nuôi đễ dãi và được ở lại đêm với chồng như là trại tù Phước-long mà chị Thái cùng xóm đi thăm chồng đã kể lại cho tôi nghe. Nếu lần thăm này mà giống như trạị tù Phước-long, không biết tôi có trải được tình cảm yêu thương với chồng tôi không, mặc dù tôi rất yêu anh, rất nhớ anh. Tôi không muốn bị CS xỉ nhục bằng cách đê tiện này, càng nghĩ trái tim tôi càng bị bóp nghẽn. Tôi hy vọng rằng chồng tôi cùng quan điểm với tôi, thông cảm cho tôi nếu đúng như điều tôi đang nghĩ.

Tôi giật mình bởi tiếng nổ lớn do xe lửa bị đứt ống hơi, thỉnh thoảng cứ phải nghe như vậy vì mấy người đi buôn họ dựt đứt để xe lửa ngừng lại, lần đầu tiên tôi đi xe lửa nên không biết cảnh này, cũng vì vậy tôi thật lo sợ muốn khóc tại ga Nha trang.


Xe lửa ngừng tại ga Nha trang là lúc tôi không biết phải làm sao xoay sở vì quá trễ, chuyến xe lửa đi Qui nhơn đã khởi hành trước đó 1 giờ. Trời đã tối, mọi người trong sân ga lần lượt đi mỗi người mỗi ngả, càng lúc càng thưa thớt người. Tôi định ở lại sân ga chờ chuyến xe lửa khác. Khung cảnh sân ga trở nên vắng vẻ im lìm. Tôi bơ vơ lạc lõng nơi xa lạ, lo sợ nhìn tứ phía, nước mắt rưng rưng, thật sự hoảng hốt không biết đi ngã nào, lạ người lạ cảnh. May quá từ xa một người đạp xích lô đang đến. Tôi hỏi thăm được biết ngày mai mới có chuyến xe lửa đi Qui nhơn. Nhìn tôi còn trẻ và giọng nói người khác miền, chú xích lô khuyên tôi không nên ở lại sân ga ban đêm vắng vẻ không người, sợ điều không tốt xảy đến cho tôi. Nghe chú nói người tôi run lên vì sợ, tôi cố trấn tĩnh nhưng sao giọng tôi run như muốn khóc. Chú gợi ý chở tôi tới nhà trọ nghỉ đêm chờ sáng ngày mai đi Qui nhơn. Nghe tới nhà trọ tôi càng sợ thêm vì nghĩ không biết chú ấy có tà ý gì, nơi lạ lẫm với giòng đời đầy lừa lọc gian trá liệu tôi có tin chú ấy không? Ánh đèn vàng vọt, sân ga không đủ sáng cho khung cảnh vắng vẻ như thế này. Tôi nhìn chung quanh rồi lại nhìn chú xích lô lưỡng lự. Không còn cách lựa chọn, đánh bạo tôi đành nhờ chú ấy chở đến bến xe đò Qui nhơn, nơi đó có lẽ an toàn cho tôi hơn. Ngồi trên xe xích lô tôi vẫn lo sợ, miệng lâm râm cầu nguyện cho tôi được bình an.


Tôi ngồi ngay trước quày bán vé đi Qui nhơn, hy vọng sáng sớm hôm sau tôi là người đầu tiên mua vé. Khung cảnh nơi đây sáng sủa hơn, có người qua lại bán quà rong, những gian hàng nhỏ đèn điện còn sáng. Tôi an tâm khoan khoái đặt lưng nằm xuống đất, đầu gối lên hai giỏ đồ để ngủ. Trời đã về khuya sao mặt nền đất vẫn còn nóng bỏng, hâm hâm dưới lưng tôi, mùi khen khét xông cả vào mũi thấm tận trong bụng tôi, quá mệt tôi cố chịu để dỗ cho đôi mắt nhắm lại. Chưa kịp nhắm mắt thì một tiếng thét thất thanh vang trong đêm. Tôi nhổm dậy, một người đàn bà đang chạy theo một người thanh niên còn rất trẻ ngang qua chỗ tôi, tay bà với với phía trước, tiếng thất thần kêu cầu cứu của bà “bắt lấy nó …, ăn cướp, ăn cướp bà con ơi”. Nhưng tiếng kêu cầu cứu ấy rơi trong đêm, giữa bao con mắt nhìn theo hờ hững. Người thanh niên tung cái giỏ cho một người khác hứng lấy chạy vào ngõ tối, rồi nhẩn nha đi như người đi dạo, làm như không có chuyện gì xẩy ra. Người đàn bà ngồi bệt xuống đất òa khóc tức tưởi cách tuyệt vọng. “Trời ơi! Nó lấy hết của tôi rồi, cả giấy tờ nữa, làm sao tôi về nhà được đây hở trời? Sao thất nhơn thất đức quá nè, Trời ơi!”. Tiếng than não lòng của bà như xé lòng Trời mà không làm động lòng người.


Nhìn bà tôi lại nghĩ đến tôi, tay rờ nhanh vào bụng, cái ví nhỏ bọc nhựa vẫn còn nằm trong lưng quần. Tôi chỉ có ít tiền đi đường và tờ giấy đi thăm nuôi trong đó, nếu bị mất, không biết sự đau khổ của tôi như thế nào, vì sẽ không được thăm chồng, lại lo lắng hai giỏ đồ thăm nuôi, thời buổi này bất cứ cái gì cũng sợ. Tôi khệ nệ vừa rê vừa xách tới gần hàng bán cháo ở góc xa, mua một chén cháo để làm quen và như là một nơi an toàn cho mình, mặc dù tôi chẳng thấy đói.


Gần về sáng ngoài đường bắt đầu nhộn nhịp, xe chạy qua chạy lại trong bến, xích lô máy xích lô đạp chạy tới chạy lui, hàng quán mở cửa. Bóng người qua lại tiếng cười tiếng nói ồn ào. Nhìn về phía quầy bán vé đã có vài người đứng xếp hàng ở đó. Tôi chào cảm ơn bà bán cháo cho tôi một đêm an toàn bên cạnh bà, rồi đến quày bán vé đi Qui nhơn, vậy mà tôi cũng chẳng mua được vé chuyến đầu tiên vì ở đó người ta đã đặt từng gói đồ, từng khúc củi, cả cái sô nước theo hàng dài để giữ chỗ. Cuối cùng tôi cũng đi tới Qui nhơn.


Tiếng chú lơ xe la to: Tới Gia Trung rồi bà con ơi, ai xuống Gia Trung chuẩn bị đồ đạc đi bà con ơi. Tôi giật mình trở về hiện tại. Xe từ từ vào sát lề đường. Tiếng của chú lơ xe đơn độc hai chữ Gia Trung mà không thêm tiếng trại cải tạo. Tôi tưởng tên gọi Gia Trung là tên của một thành phố, ngơ ngẩn ngó ra ngoài, chẳng thấy nhà cửa hoặc trại tù, chỉ thấy rừng cây cao vút, chung quanh hoang vắng. Tôi nhìn quanh quẩn tự hỏi trại cải tạo ở đâu. Trên xe mọi người lục đục kẻ kéo người xách, lách người xuống xe. Ông cụ ngồi gần bên ôm giỏ đồ đứng lên, thấy tôi còn ngơ ngác, gục gặc đầu nói:


-Tới nơi rồi cô ơi! Họ xuống xe cả rồi, mình cũng xuống đi thôi kẻo không kịp, từ đây vô tới trại còn xa lắm.


Tôi lật đật xuống xe theo mấy người đó. Số người đi thăm nuôi khoảng 12 người. Tôi thật bỡ ngỡ, khung cảnh chung quanh vắng vẻ quạnh hiu không bóng người, ngoài tốp người mới xuống khỏi xe, đang đi trên con đường đất vào sâu hút bên trong.


Vừa đi tôi vừa ngó hai bên đường, những cây cao cây thấp, chỗ dầy chỗ thưa làm ánh sáng chỗ âm u chỗ sáng rực. Tôi lẹt đẹt đàng sau xa nhóm người đi phía trước. Họ đã đi thăm nuôi nhiều lần, nên họ có người nhà đi theo để phụ giúp xách đồ, còn tôi vướng hai giỏ loay hoay tay xách đầu đội, lúc mỏi cổ đau tay tôi lại hất cái giỏ trên đầu xuống bả vai để vác. Vai tôi vẫn còn đau vì hai ngày trước bị củi ném trúng ở ga xe lửa Long-khánh, vừa đi vừa nghiêng cổ vẹo người, dáng người tôinghiêng nghiêng như bóng nắng dưới đường, mồ hôi đổ theo thấm chung từng giọt nước mắt. Xa xa phía trước, ông già lúp xúp đi như chạy để theo kịp họ, ông vừa đi vừa ngoái cổ ra phía sau, tay vời vời ra hiệu cho tôi đi nhanh lên. Những người phía trước bỏ tôi khoảng cách thật xa và khuất hẳn vào khúc đường cong.


Qua khỏi khúc đường quẹo, một trạm kiểm soát với tên công an mặc áo vàng ngồi bên trong. Tôi giật mình theo phản xạ tự nhiên – “chết rồi lại gặp công an”, giữ bình tĩnh tôi thầm nghĩ – “mình đi thăm nuôi chứ buôn bán gì mà sợ tịch thu”. Tấm bảng nhỏ ghi hàng chữ “Trình giấy tờ tại đây”. Tôi bước đến, tên công an nhìn còn rất trẻ tươi cười chào thân mật:


– Chị đi thăm người nhà phải không?


Sự thật là tôi không có thiện cảm với những người mặc bộ đồ công an, tôi đã khổ nhiều với họ rồi, họ không cùng giới tuyến với tôi và họ là người đang giam giữ chồng tôi. Tôi không cười, đưa trình tờ giấy thăm nuôi để ra khỏi chỗ này thật nhanh, vì tôi dị ứng không muốn nhìn họ. Khi nhìn vào thẻ Chứng minh nhân dân của tôi, tên công an mặt hớn hở reo lên:


– Ồ! Quê chị ở Đông Phú – Tiền Hải – Thái Bình, vậy là cùng quê với em. Còn thân mật như là người nhà của tôi: “Gia đình thầy mẹ em còn đang ở ngoài ấy, mà chị cùng họ Đinh với em, chả nhẽ chị em mình có họ hàng với nhau.”


Tôi lườm thầm trong bụng: “Họ hàng gì với chú mà chú nhận, tôi bên Quốc Gia, chú là CS, không thể họ hàng được”. Không muốn mất đi vẻ lịch sự của người miền Nam, tôi hơi mỉm cười nói mát:


– Tôi người miền Nam còn chú miền Bắc sao mà có họ hàng được.


Tên công an ngẩn người như suy nghĩ câu nói của tôi. Cử chỉ vồn vã, nét mặt vui tươi thân thiện của hắn khi biết tôi cùng quê cùng họ, làm như trong tôi có vết thương đang bị muối xát vào. Cùng mẹ VN một dòng máu, một màu da, nhưng không cùng lý tưởng. Biết đâu người công an này có họ hàng với tôi và cũng có thể những người coi tù là bà con với chồng tôi. Với nghiệt cảnh hiện tại, làm sao tránh khỏi anh em cốt nhục tương tàn.


Tôi được chỉ đường tới K1 là nơi giam giữ chồng tôi, đường vẫn còn dài, tôi đến ngồi dưới bóng mát gốc cây bên vệ đường. Phía xa cùng con đường, một người đàn bà đầu đội tay xách như tôi còn dẫn theo một bé gái, vừa đi bé gái vừa khóc, người đàn bà rất trẻ, đứa bé gái khoảng tuổi con tôi. Hình như bé gái không chịu đi bộ nên người mẹ cúi xuống vừa đỡ con vừa kéo lết giỏ đồ trông khó nhọc lê thê. Có lúc người mẹ bỏ giỏ đồ bên vệ đường, gập lưng xuống để cõng con, một tay đưa ra phía sau đỡ lấy con trên lưng mình còn một tay xách giỏ đồ, dáng xiêu xiêu bước đi nặng nề mỏi mệt giữa trưa nắng như lửa đốt. Đi được vài bước, người mẹ lại xốc đứa con trên lưng để khỏi bị tuột xuống, lưng người mẹ còng hẳn xuống, tay vuốt mồ hôi trên mặt và quay lại vuốt nhè nhẹ vào má đứa bé như thể dỗ đành vỗ về. Người mẹ cõng đứa con tới gốc cây tôi đang ngồi, thả con xuống và nhờ tôi trông chừng rồi trở lại chỗ cũ xách giỏ đồ còn lại. Cứ như vậy suốt con đường, thay phiên cõng con và xách đồ từng chặng, thật vất vả khổ sở. Nếu không cùng hoàn cảnh, không thể nào cảm được cái cảnh đi thăm chồng. Trên thân người đàn bà đó đã chịu bao nỗi khổ trong cuộc sống, giờ đây đang cố gắng gồng giữ niềm yêu thương của mình..


Đứa bé gái trông thật xinh, mặt bé đỏ au dưới ánh nắng mặt trời, tóc ướt mồ hôi dính chặt trên vầng trán, mắt bé tròn như hai hòn bi, thơ ngây nhìn tôi an tâm không khóc. Đến khi nhìn thấy một người công an gánh hai thùng nước đang đến gần, những giọt nước sóng sánh toát ra ngoài theo nhịp bước, mắt tôi và bé gái đều sáng lên, tôi còn chịu đựng được nhưng bé gái gào khóc lên gọi mẹ vì thấy nước. Người mẹ ngước về phía con lo lắng, chân bước thật nhanh đến con mình, thấy mẹ, đứa bé vừa khóc vừa chỉ về hướng người công an:


– Mẹ! Con muốn uống nước, con khát nước quá mẹ ơi.


Người mẹ liếc nhìn tên công an như thể thấy một hung thần, cúi xuống dỗ con.


– Đừng khóc nữa con, gần tới chỗ bố rồi, tha hồ uống nước con ạ.


Nhưng vì quá khát nước, đứa bé càng khóc to hơn.


– Không! Mẹ ơi con muốn uống nước bây giờ, không có nước con sẽ chết.


Người mẹ không còn biết làm sao dỗ con, đành bứt mấy lá cây rừng, cuốn tròn lại thành cái phễu, đánh bạo đến gần người công an để xin nước cho con mình.


– Xin cán bộ cho con tôi tý nước.


Mặt người công an lạnh lùng cau mày gắt lên:


– Chị là vợ của những tên ngụy quân, ngụy quyền, là loại phản động phản quốc, được nhà nước khoan hồng cho đi thăm nuôi, mà còn đòi thế nọ thế kia, ở đây không có nước cho các chị.


Người mẹ nhìn về phía con đang gào khóc đòi nước, cố nén tủi nhục, nhẫn nại năn nỉ:

 

– Không! Tôi không xin nước cho tôi. Người mẹ chỉ tay về đứa con đang khóc, hầu mong khơi dậy một chút tình người. “Cán bộ nhìn thấy đứa bé đang khóc đàng kia kìa, từ sáng đến giờ nó chưa được uống nước. Cán bộ làm ơn cho tí nước đi cán bộ”. Người mẹ giở cái phễu lá rừng năn nỉ:


– Tôi chỉ xin một chút nước đựng trong này thôi, không nhiều đâu cán bộ.


Tên công an đứng bật lên, gánh nước bước đi, trút đổ bao hận thù xuống người mẹ.


– Toàn là thứ phản động, theo đế quốc Mỹ, sống sung sướng quen rồi, nóng một tý mà cũng không chịu được. Chị tưởng tôi là đầy tớ gánh nước cho chị hả, đồ thứ phản quốc.


Người mẹ chạy lại ôm chặt con mình, ép nỗi uất đau òa theo tiếng khóc của con. Tiếng khóc hai mẹ con vang trong rừng vắng không làm vơi thù hận của những kẻ không trái tim không tình người.


Ôi quê hương tôi không còn chiến tranh, không còn nghe tiếng súng mà vẫn còn đè nặng bởi thù hận và khổ đau. Hình ảnh vừa rồi thật trái ngược với hình ảnh năm nào của những người lính Sư đoàn 18 VNCH trong một buổi chiều dừng quân nơi thôn làng tôi ở. Họ chỉ có một vài giờ nghỉ chân mà còn tìm cách giúp đỡ những người dân trong thôn làng, người gánh nước người chẻ củi, cứ thấy công việc nào người dân đang làm là họ xúm lại phụ giúp. Hình ảnh thân thương đầy tình người, gần gũi với đồng bào đã ở mãi trong tim tôi.


Con đường đi vòng trên sườn đồi, nhìn xa xa phía dưới, những dãy nhà lợp tôn lẫn lợp lá hiện ra thấp thoáng. Trong lòng tôi vừa mừng vừa hồi hộp biết là nơi đó có chồng tôi, tự dưng đầu tôi quay mòng mòng, chân tôi muốn quỵ xuống. Mãi tận rừng núi hoang vu, hàng hàng lớp lớp nhà tù, đang giam giữ chồng tôi và những người sống vì chính nghĩa, chịu bao nhục hình của bầy thú dữ, nước mắt tôi lại chảy, chỉ biết gọi thầm tên anh. Mong rằng anh cảm nhận được tiếng gọi của tôi và biết rằng tôi đang đến gần anh.


Căn nhà thăm nuôi của K1 nằm bên phải con đường phía dưới chân đồi, nhìn rất rõ vì cây rừng đã được phá hoang, thỉnh thoảng còn lại ít cây to rải rác. Thấy con đường vòng hơi xa, nóng lòng gặp chồng, tôi tìm cách đi lối khác. Tôi thả hai giỏ đồ đã được cột chặt lăn xuống theo sườn đồi, còn tôi thì cột hai ống quần vào cổ chân rồi ngồi tụt xuống, vì độ dốc rất cao. Cũng may tôi mặc cái quần vải thun dầy nên không bị rách, chỉ bị trầy chút da chân và tay vì vướng vào cành chà.


Tôi tới nhà thăm nuôi đã gần chiều, có mấy người cùng chuyến xe tới trước cũng đang ở đó. Nhà thăm nuôi hẹp và dài, được chia ra nhiều ngăn, mái lợp lá, vách đắp bằng đất trộn rơm. Ngăn đầu có một lối ra vào không cánh cửa, ở giữa kê một cái bàn gỗ dài, hai cái ghế dài hai bên, có lẽ là chỗ gặp thân nhân. Gần lối ra vào, một cái bảng nội qui ghi những điều luật cấm.Những điều luật cấm thì trại tù nào cũng như nhau, nhưng thời gian thăm nuôi thì tôi như hụt hẫng với bao mơ ước dự tính trong đầu khi nhìn con số 15 phút thăm gặp. Lòng tôi sôi quặn, trời ơi ba ngày đường xa xôi, lặn lội rừng sâu mà chỉ được gặp chồng có 15 phút thôi sao. Chưa gặp mặt chồng mà nước mắt tôi đã ứa bờ mi.


Trước sân nhà thăm nuôi là con suối nhỏ, bên kia con suối, những dãy nhà tù thật xa, dù thấy bóng người tù cũng không thể nhận diện được ai vì quá xa. Tôi mon men đến gần sát bờ suối, mắt hướng về phía trại tù mong ngóng hình bóng yêu thương của mình qua thần giao cách cảm.


Trời gần nhá nhem tối, thêm được hai chị đi thăm chồng ở K4 và K5 đến tạm ngủ chung với chúng tôi cho qua đêm, chờ sáng hôm sau trở lại chỗ cũ để gặp chồng. Chúng tôi chẳng ai biết ai, nhưng cùng hoàn cảnh nên dễ thân thiết, ngồi chụm chung lại với nhau nói chuyện. Thật là khủng khiếp kinh sợ khi nghe các chị kể chuyện, ngay tại nhà thăm nuôi K1 này, đêm đêm có một bóng ma, hiện lên lơ lửng phía sau nhà, chỗ cây cao nhiều cành lá. Ngôi nhà này vách sau có những cửa sổ không cánh, chấn song bằng những cành tre nhỏ nên có thể nhìn qua lại rất rõ. Tin đồn có một chị đi thăm chồng, không biết vì vấn đề gì đã treo cổ tự tử ngay cây cao phía sau nhà, nên bây giờ hồn chị luẩn quẩn quanh đây, hiện ra với âm thanh rên rỉ khóc than theo tiếng gió vi vu thật rợn người. Trời chưa tối hẳn, tôi đã thấy sờ sợ, ngồi chen vào giữa các chị. Có chị quả quyết là chị không tin người đàn bà đó tự tử, trong khi cực khổ đi thăm chồng, đã đến tới nơi sắp gặp được chồng, cớ gì lại tự tử. Có thể người đó tới đây, không có ai cùng thăm nuôi, đêm vắng vẻ bị tụi công an hãm hiếp, rồi giết treo cổ chị trên cây để không chứng cớ và gán cho chị là tự tử. Hai chị thăm nuôi K4 và K5 đều nói cũng nghe tin đồn đó, nên hai chị tìm đến với chúng tôi để không bị nguy hại. Phần tôi, nếu không nghe được chuyện này, lần đầu tiên đến đây, một mình đêm vắng, có thể cũng như người đàn bà bị treo cổ trên cây kia.


Ngoài sân màn đêm đã bao phủ một màu đen đặc, ếch nhái ngoài bờ suối ì ộp kêu. Đàng xa, có ánh đèn bin đang rọi đi tới nhà thăm nuôi, một chị khều tay nói khẽ, “kiến vàng đang đến” (ý nói Công An). Chờ trời tối, công an mới đến kiểm tra có bao nhiêu người ở đó để phát mùng mền. Tới lượt tôi, tên công an cầm súng chỉa thẳng vào tôi, sợ trường hợp bất cẩn, tôi nói với tên công an:


– Cán bộ làm ơn đưa họng súng qua hướng khác, đừng chỉa vào tôi lỡ tay rất nguy hiểm.

Tên công an sừng sộ:

– Vợ tụi ngụy không tin được, phải cảnh giác.


Và họng súng vẫn hướng về phía tôi. Tôi là người sau cùng vô tới trại, công việc nấu cơm theo thứ tự, tới phiên tôi là chót. Ở đây có một cái bếp và một cái nồi móp méo, người này nấu xong dỡ cơm ra rồi đến người kế tiếp. Cũng có người không nấu cơm, họ mua các loại bánh đưa vào ăn, còn tôi tiền bạc eo hẹp, mua được hai lon gạo, nấu ăn đêm nay và ngày hôm sau, cũng may tôi còn một quả trứng luộc mua dọc đường chưa kịp ăn..


Nấu cơm xong đã quá nửa đêm, tôi dỡ cơm vào chiếc khăn tay ướt nắm lại cho chắc và chia thành hai nắm, một nắm ăn ngay, còn một nắm dành cho ngày mai. Tôi cạo vét những hạt cơm cháy dưới đáy nồi để còn rửa sạch cho người khác nấu. Nhìn những hạt cơm bất chợt lòng tôi nhói buốt xót xa. Hình ảnh hai người tù cải tạo hồi chiều đã làm tôi rơi nước mắt, ruột co thắt và tim gan như xé ra từng mảnh.


Lúc tôi đứng bên bờ suối nhìn sang trại giam. Một chị đưa nồi ra suối rửa, những hạt cơm theo nước trôi, nằm đọng dưới nước lẫn lộn đất cát và sỏi đá. Một người tù cải tạo lao động gần đó, đưa mắt liếc nhanh, chờ cho chị ấy bước hẳn lên bờ, người tù vội vàng bước thật nhanh xuống lòng suối, giả bộ cúi xuống rửa mặt, nhanh tay mò nhặt những hạt cơm lẫn chung với đất cát bỏ vội vào miệng của mình. Hình ảnh đó thu nhanh vào mắt tôi, vào đáy lòng của tôi. Ôi! Thật đau khổ dường nào, xót xa dường nào. Trời ơi! Chồng tôi cũng như thế sao?


Khi tôi ra bìa rừng nhặt mấy nhánh củi khô để nấu cơm, một người tù cải tạo đang chặt cây rừng, mon men lại gần phía tôi lấm lét nói nhỏ, ánh mắt như cầu khẩn:


– Chị ơi! Khi nào chị nấu cơm xong, chị đừng đưa nồi ra suối rửa, chị làm ơn dấu cái nồi trong bụi rậm này cho chúng tôi chị nhé.


Hai hình ảnh đó làm tôi như chết lặng. Trời ơi! Những người tù cải tạo, những con người khốn khổ sao ra nông nỗi này? Sao biến đổi như thế này? Cộng sản quá ti tiện bẩn thỉu, hành hạ người tù bằng cách này.


Hai nắm cơm trắng nằm trong chiếc khăn tay. Tự nhiên hình ảnh chồng tôi qua hình ảnh hai người tù cải tạo ấy làm tôi chẳng thấy đói. Một nắm tôi gói lại cho chồng, một nắm tôi bỏ lại trong nồi cùng ít cơm cháy, chờ trời sáng tôi dấu vào bụi rậm, không biết người tù nào may mắn được ăn nắm cơm này.


Đặt lưng xuống chiếc giường tre, tôi không ngủ được, trằn trọc thao thức đếm từng tiếng chim cú kêu ngoài rừng, đếm từng tiếng gà rừng gáy. Chỉ còn vài giờ đồng hồ là tôi được gặp người chồng yêu thương của tôi. Thời gian trôi qua chậm lòng tôi bồn chồn nôn nao khó diễn tả, bao nhiêu hình ảnh của chồng, bao nhiêu tâm tình muốn nói với chồng đầy ắp trong đầu, không biết sắp xếp câu nào trước câu nào sau, vì chỉ có 15 phút. Mắt cứ mở lớn nhìn trên nóc mùng, từng bầy rệp, họ hàng nhà rệp, phải nói là cả xã hội rệp lớn nhỏ có đủ, vừa ngửi thấy hơi người, thi nhau bò theo hàng theo lớp thật nhanh xuống chỗ tôi nằm để hút máu, cái mền cũng vậy, rệp bò lổn ngổn lúc nhúc, mùi tanh tanh ngai ngái đến lợm giọng. Bỏ mền ra thì lạnh, cái lạnh của miền núi rừng cao nguyên tê buốt thấu xương, ra ngoài ngồi thì bị muỗi rừng chích, tôi đành chịu để rệp hút máu. Nhìn đoàn rệp bò như hội chợ, con no máu bụng căng phồng chậm chạp bò lên nóc mùng, con nào còn thèm thuồng lại bò xuống, cứ như vậy bò lên bò xuống suốt đêm. Tôi thương tôi bị rệp hút máu, tôi lại đau xót cho đất nước và đồng bào tôi, chịu để bị tàn phá rỉa róc đến tận xương tủy.


Trời hừng hừng sáng, tiếng kẻng lanh lảnh phát ra từ trong trại tù, hàng loạt vang dội vào tai tôi đến nhức óc, tiếng kẻng báo hiệu những người tù đi làm khổ sai. Mọi người lăng xăng háo hức xếp đồ thăm nuôi gọn gàng chờ gặp người thân, có người sắp đồ để bên cạnh cái bàn như thể chồng mình đang ở đó. Tôi cũng nôn nao hồi hộp, mắt hướng về bên kia bờ suối mong ngóng. Từ đàng xa, người công an dẫn những người tù đi đến, tất cả mọi người chúng tôi chạy ùa ra đứng cạnh bờ suối, chỉ mong nhìn thấy chồng mình trước, nhưng những người tù đó rẽ ra hướng khác làm mọi người hụt hẫng ngơ ngác. Tôi không ngạc nhiên, biết chắc tốp tù đó không có chồng tôi, vì họ mắc bộ đồ tù màu xám nhạt, trước ngực và sau lưng đều đeo bảng số, người nào cũng như bộ xương biết đi được khoác lên bộ đồ tù rộng thùng thình, vạt và tay áo phất phơ như hình thằng bù nhìn mà nông dân thường treo ngoài ruộng rẫy để đuổi chim. Thêm hai lớp tù nữa đi qua, họ đi bên kia bờ suối khoảng cách hơi xa, nhưng họ cứ ngoái lại nhìn chúng tôi, trông thật tội nghiệp. Mặt người nào cũng còm cõi hốc hác. Tôi đoán họ là tù hình sự, chắc bị hành hạ tra tấn dữ lắm nên thân xác họ tiều tụy như vậy. Tiếng các bác các chị nhao nhao:


– Đang ra kìa! Đang đến nữa kìa, chắc lần này đúng rồi.


Tôi bước ra chỗ khác để nhìn cho rõ, vẫn thấy hai người công an mặc áo màu vàng cầm súng đi chung với tù cải tạo, nhưng tốp này ít người tù hơn. Họ cũng mặc áo tù màu xám có bảng số. Tôi nhìn dửng dưng, người tôi đang mong đợi là chồng tôi, chứ không phải những người tù hình sự đó. Những người tù đến gần bờ suối, người nào cũng hướng về chúng tôi, mắt tôi nhìn về một người vì người ấy nhìn tôi mỉm cười. Tôi thấy tội nghiệp vì bộ đồ tù quá rộng phủ lên người đó, còn tóc cắt ngắn gần như trọc nhẵn. Mắt tôi vẫn trông theo người đó, tôi hơi ngạc nhiên, người đó xa lạ tôi không quen tại sao cứ nhìn thẳng vào tôi. Quay sang chị bên cạnh, tôi chỉ vào người tù đó:


– Chị ơi! Tôi không quen người tù đó, mà sao nhìn tôi cười.


Chị ta nhìn theo hướng tay tôi chỉ:


– Chắc người nhà chị, cười với chị, chứ tui đây sao không cười với tui. Chị ta cười nói đùa:


– Trời ơi! Nhìn thấy chồng mà mặt làm bộ tỉnh queo.


Tôi cãi lại: “Chồng tôi nhìn đâu như vậy”. Những người tù qua hẳn bên này suối, khoảng cách thật gần, cách tôi chừng 5 bước. Bỗng mắt tôi hoa lên, chân đứng không vững, bầu trời như sập xuống. Tôi mở to mắt nhìn, như không vào mắt mình, tim tôi đập mạnh trong lồng ngực. Ôm lấy ngực, cắn chặt môi để không thét thành tiếng, tim tôi đau nhói.


Ôi! Chồng tôi, chồng tôi đấy ư! Chồng tôi ra nông nỗi này sao? Không lẽ là anh, lúc này tôi nhận rõ anh qua ánh mắt. Ánh mắt ngày xưa nhìn tôi yêu thương nồng nàn, bây giờ cũng ánh mắt ấy nằm trong một hốc sâu trông thật xót xa. Đôi mắt to tròn đầy cương nghị chỉ còn là hai hố sâu hoắm trên cái đầu lâu được bọc da. Đau xót thương cảm tôi nghẹn ngào, nước mắt cuồn cuộn thi nhau chảy. Trời ơi! Hình dạng chồng tôi hao mòn biến đổi ra thế này ư. Tôi đưa tay bụm chặt lấy miệng để tiếng khóc không thoát ra ngoài, mặt tôi dàn dụa nước mắt, tim nhói đau theo nhịp tiếng khóc trong cổ họng. Hình ảnh chồng tôi lung linh qua làn nước mắt. Anh nhìn tôi đau khổ, đầy nước mắt khô,môi anh khẽ mấp máy:


– Nín đi em, nín đi em. Anh đây! Anh không sao, anh còn sống!


Tôi đứng nhìn anh chết sững, Tôi biết những dòng nước mắt của tôi sẽ làm anh khổ, nhưng tôi không thể nào cầm lòng được khi nhìn thấy chồng như thế này. Tôi muốn chạy lại ôm chặt lấy anh, ôm lấy hình hài như da bọc xương của anh, san sẻ cho anh chút sinh lực hơi ấm nơi tôi. Nhưng tôi không làm được, cặp mắt hai tên công an cầm súng trừng trừng nhìn chúng tôi như ngầm bảo “không được lại gần những người tù”, chúng tôi thật gần mà khoảng cách thật xa bởi quyền lực.


Sáu người tù đứng theo hàng trước nhà thăm nuôi. Tôi chờ tiếng nói của 2 tên công an cho phép gặp gỡ người tù, sẽ chạy đến bên anh, đưa anh vào chỗ nơi tôi để sẵn giỏ đồ thăm nuôi. Nhưng tên công an ra lệnh mấy người tù thứ tự theo hàng đứng vào một bên hàng ghế, còn một bên hàng ghế đối diện, tên công an hất mặt lại phía những người đi thăm nuôi.


– Này! Ai là người nhà, chỉ được một người thôi, ngồi phía bên kia người nhà của mình.

Chúng tôi lần lượt như một cái máy bước nhanh vào chỗ ngồi đối diện. Những người tù ngồi bất động, xót đau nhìn người thân của mình, kiên nhẫn chờ đợi. Người công an đứng ở đầu bàn hắng dặng, gằn giọng nói:


– Trước khi người nhà tâm sự với nhau, phải tuân theo điều luật, động viên các anh ấy học tập tốt, nhất là không được khóc làm nản chí học tập các anh ấy. Phải biết là nhà nước cách mạng đánh đuổi Mỹ- Ngụy ra khỏi nước, nhà nước đã khoan hồng cho các anh ấy học tập để không còn theo Mỹ-Ngụy đánh đổ nhà nước, bây giờ đã hòa bình, xã hội chủ nghĩa là xã hội tự do vv…Ôi chao, tên công an cứ như con vẹt đọc bài thuộc lòng, những lời tên công an không lọt vào tai chúng tôi. Mắt và đầu óc tôi chỉ chăm chú vào chồng tôi, nước mắt tôi vẫn không ngừng rơi.


Trong phòng thăm nuôi im lặng, ngoài tiếng nấc, tiếng sụt xịt nghẹn ngào trong cuống họng và tiếng giảng thuyết lên lớp của tên công an, kéo dài như cố tình quên 15 phút thăm gặp. Những giọt nước mắt của tôi như động lực đưa bàn tay anh về phía tôi, như muốn vỗ về an ủi mà trước đây mỗi lần tôi khóc. Bàn tay anh rướn gần tới bàn tay tôi thì ngừng lại, vì tên công an cầm súng tiến gần phía sau lưng tôi, ngón tay anh run rẩy như những lóng xương đang động đậy. Lòng tôi đau như cắt, chẳng nói được gì ngoài hai hàng nước mắt, tôi muốn vươn tới nắm lấy bàn tay xương xẩu của anh, nhưng cặp mắt của tên công an vừa nói vừa liếc nhìn chúng tôi. Dưới gầm bàn, tôi cảm được bàn chân chồng tôi đang động đậy kiếm bàn chân tôi, trút vội cái dép khỏi chân tôi đưa chân mình lần mò đặt lên chân anh, để chồng tôi nhận hơi ấm và tình cảm của tôi lén lút gửi qua bàn chân anh. Bàn chân chồng tôi đang lạnh từ từ ấm lên, tôi khóc mà cảm được hạnh phúc qua đôi bàn chân. Cho tới khi tên công an cho phép trao đổi tâm tình, thời gian chỉ còn 5 phút ngắn ngủi, tôi chẳng nói được gì với chồng tôi, ngoài tiếng nấc nghẹn ngào, gật đầu và lắc đầu theo tiếng hỏi thăm của chồng tôi về bố mẹ và hàng loạt người thân mà chồng tôi nhớ tới. Hết giờ thăm nuôi.


Tới lúc kiểm tra đồ thăm nuôi, có món mẹ tôi cố công làm gửi cho anh và vài món khác không hợp lệ bị gạt ra. Tôi hồi hộp nhìn những món đang kiểm tra, tới món mỡ chưng hấp với đường cát trắng, tôi nặn óc nghĩ mãi cách qua mặt tên công an, mở gói mỡ ra, những miếng mỡ trong veo bọc với đường cát trắng trông giống như miếng mứt bí, tên công an cầm từng miếng lên ngửi, thắc mắc hỏi tôi:


– Cái này là thứ gì?


Tôi trả lời nhanh để hắn khỏi nghi ngờ:


– Thưa cán bộ, thứ này là mứt bí, Tết qua lâu rồi sợ bị hư, tôi gởi cho chồng tôi để ăn tết muộn ạ.


Như thể tên công an chưa bao giờ nhìn và nghe nói mứt bí, vẫn thắc mắc:


– Mứt bí là cái thứ gì?


Có lẽ người ngoài Bắc không hiểu tiếng người trong Nam. Tôi lại giải nghĩa:


– Mứt này cứ vào dịp tết, chúng tôi lấy quả bí đao cắt lát, ướp với đường phơi khô thành mứt, gọi là mứt bí.


Tôi thở phào khi tên công an bỏ miếng mỡ heo vào gói và đẩy về phía chồng tôi, anh nhanh tay bỏ vào giỏ của mình, chỉ sợ bị lấy lại. Tên công an giả lả:


– Mất bí đao thì cứ gọi là mất bí đao. nói là mứt..mứt …,ai mà biết.


Vài tiếng cười khúc khích nho nhỏ của mấy người đi thăm nuôi đứng gần đó. Tên công an quay lại gừ lên: – Các chị cười cái gì vậy. Còn nắm cơm, tôi gói vào tờ giấy đã nguội ngắt, hắn cầm lên sừng xỏ với tôi:


– A! Chị này giỏi thật. Dám xỉ nhục cách mạng. Chị tưởng nhà nước chúng tôi bỏ đói chồng chị hả, tôi bỏ lại hết đồ thăm nuôi của chị bây giờ.


Lúc đó tôi run quá, vì thương chồng mà làm hại tới anh. Sợ chồng tôi không được nhận những món đồ thăm nuôi, tôi định lấy lại nắm cơm và xin lỗi tên công an, nhưng thấy ánh mắt chồng tôi nhìn vào nắm cơm. Tôi thật đau lòng và xấu hổ cho sự hèn nhát yếu đuối của mình khi phải nói những gì không đúng sự thật, giọng tôi run run uất ức:


– Thưa cán bộ! Tôi biết nhà nước cách mạng khoan hồng cho chồng tôi, được đi học tập cải tạo như vậy là tốt, để chồng tôi thông suốt đường lối, sống tốt với nhà nước với nhân dân. Còn tôi đâu dám xỉ nhục nhà nước, nắm cơm này tôi nắm để ăn, còn thừa đã hơn một ngày rồi, nó bắt đầu hơi thiu, bỏ đi thì tiếc. Tôi để lại cho chồng tôi ăn, nếu không còn ăn được, chồng tôi vất đi cũng được mà.


Những lời tôi nói làm dịu lòng tên công an, cầm cuốn sổ tay, tên công an gõ vào cạnh bàn, nói.


– Chị hiểu được nhà nước như vậy là tốt, thôi được, cho phép chồng chị lấy nắm cơm thiu này. Chồng tôi chỉ chờ có vậy, cầm vội nắm cơm bỏ vào giỏ và bước nhanh vào hàng đi theo hai tên công an vào lại trại.


Chúng tôi nước mắt tiễn đưa những người thân tới bờ suối, ranh giới của chia cách. Những người tù ngoái lại nhìn chúng tôi trông rất thương cảm xót xa, không biết có lần sau gặp lại vợ mình, người nhà của mình nữa không?


Mọi người trở vào thu xếp để đi về. Bóng chồng đã khuất hẳn, tôi thẫn thờ nán lại bên bờ suối, nhìn về hướng trại giam như để hy vọng còn nhìn thấy anh. Tiếng các chị gọi ơi ới:


– Không gặp lại nữa đâu, đi về đi.


Bước vào nhà thăm nuôi, nhìn từng chỗ vẫn thấy hình ảnh chồng tôi, từ chỗ anh đứng xếp hàng, chỗ ngồi vào ghế, lúc anh đứng nhích tới để xếp đồ vào giỏ, từng hình ảnh một hiện lại trong mắt tôi. Tôi ngồi vào ngay chỗ anh ngồi, tưởng tượng anh còn đang ngồi với tôi, tay tôi xoa xoa mặt bàn tìm chút hơi ấm còn đọng lại của anh. Nước mắt tôi lại trào ra, chỉ là tưởng tượng, mặt bàn trống trải lạnh tanh, hơi lạnh chuyền vào tay thấm tới tim tôi, ngơ ngác tôi như còn muốn kiếm tìm.


Mặt trời đã lên cao. Tôi ra về mà lòng trĩu nặng xót đau, hình ảnh tù tội khốn khổ của chồng luẩn quẩn quanh tôi là hành trang yêu thương theo tôi suốt cả cuộc đời. Từng bước chân nặng nề bước trên con đường dốc ven đồi, đầu tôi ngoái lại như hồn còn ở giữa núi rừng hoang vu.


Từ xa, nơi ngã ba đường, hình dáng như quen thộc đang tiến vào con đường tôi đang đi. Ồ! Thì ra ông cụ cùng chuyến xe sáng hôm qua. Tôi đứng lại chờ, dáng ông thất thểu lom khom từng bước chậm chạp, không còn vẻ nhanh nhẹn như hôm qua. Thấy tôi ông chỉ hơi nhếch mép, vẫn cái miệng móm mém của ông, tôi nhanh nhẩu chào:


– Chào bác! Hai bác cháu mình có duyên gặp lại nhau, sao bác? Con trai bác có khỏe không?


Tôi chào hỏi để có chuyện nói chứ cùng cảnh thăm tù, thấy người thân nỗi đau như xé ruột gan. Ông cụ òa lên khóc, tiếng khóc nỉ non ai oán.


– Tôi khổ quá cô ơi! Lặn lộn đường xa mong gặp con mà chẳng được gặp.


Tôi cầm lấy tay ông lắc lắc, lo sợ!


– Sao vậy bác! Anh ấy bị làm sao?


Như cào vào nỗi đau thương của ông, mếu máo ông càng khóc to hơn:


– Tội nghiệp cho con tôi, nếu tôi đi thăm một tuần trước đây thì đâu đến nỗi này, con tôi bị giam vào nhà đá mấy bữa nay rồi cô ơi. Ông khóc hu hu, giọng nghẹn ngào đứt quãng: “ Khổ thân con tôi! Sao con khổ vậy, con làm gì nên tội mà họ hành hạ con”!


Nước mắt tôi chảy theo nước mắt ông, cùng hoàn cảnh và tâm trạng. Kẻ khổ không gặp được con, người đau nhìn chồng thân xác hao mòn xác xơ. Một già một trẻ chung niềm đau, chậm chạp lê bước trên đường.…


Sau này, những đêm nằm gối đầu trên cánh tay chồng, tôi thường nghĩ đến những năm tháng sống trong đen tối khổ đau, những tủi nhục khổ cực mà chồng tôi chịu đựng trong nhà tù khổ sai mà Cộng sản gọi là “ tập trung cải tạo”. Tôi thì thầm hỏi anh nghĩ gì mỗi lần nhìn thấy tôi và ngày đó ở trại tù Gia Trung, cảm giác của anh khi bàn chân tôi tìm để trên bàn chân anh dưới gầm bàn, anh bóp nhè nhẹ bờ vai tôi cách âu yếm. Ngày mất nước, anh mất tất cả. Ngày vào tù, coi như anh đã chết. Những lần thấy tôi, nhìn tôi tàn tạ héo úa, anh rất khổ. Anh bất lực trong hoàn cảnh không thể an ủi xoa dịu tôi, anh không khóc được như tôi đã khóc, anh dồn nén niềm đau của mình càng làm anh đau hơn. Nhưng anh vẫn nhìn thấy nơi tôi một vùng trời đầy hy vọng, giúp anh thêm niềm tin và nghị lực. Và lần đó, anh không nhận được hơi ấm từ bàn chân tôi, có thể chân anh và tôi khoảng cách hơi xa, nên chân tôi đặt lên bàn chân người bạn tù ngồi kế bên.. Thôi thì người bạn tù đó cũng cảm được sự an ủi, hạnh phúc nghĩ đó là chân của vợ mình.


Anh quàng tay ôm chặt lấy tôi, như thể bàn tay anh còn quá hẹp, không đủ ôm cả niềm yêu thương hạnh phúc của mình. Còn tôi, rúc vào cổ vào ngực anh, hạnh phúc nghe được nhịp tim và hơi ấm, như đang nghe điệu nhạc dịu êm, ru tôi vào giấc ngủ trong vòng tay ấm áp của anh, mà trước đây tôi thường phập phồng lo sợ tưởng rằng mình không bao giờ còn có những giây phút này.


24/4/2014

Hoàng Yến

From: Bác sĩ: Hanh Van Phung

Những Điều Ghi Nhớ Mãi Trên Đất Bắc

Những Điều Ghi Nhớ Mãi Trên Đất Bắc
 

“Nhớ Đào Quốc Đương, Hiến và Tiến”

– Phần cuối –

Mạc Thiên

Mấy ngày nay trời đã bắt đầu lác đác những trận mưa đầu mùa, nhưng trận mưa buổi sáng hôm nay quá lớn. Nước từ núi cao tràn xuống ào ào như thác vỡ, mực nước hồ Thác Bà dâng lên cao tràn vào cả sân trại, ngập đến gần đầu gối. Cả trại được nghỉ, nhưng được triển khai thành buổi sinh hoạt học tập. Khởi đầu buổi sinh hoạt nào cũng giống nhau: quản giáo chủ tọa, đội trưởng khai mạc buổi sinh hoạt bằng ba bài hát của tập thể đội do một anh trại viên được chỉ định “cầm càng” (chữ của thiếu úy quản giáo Đặng Quang Ba: “Anh Ích đứng dậy cầm càng cho tập thể đội làm vài bài…”). Sau này, không biết do ai khởi xướng mà “làm vài bài” đã biến thành “làm vài bãi…” Sinh hoạt đội có nghĩa là phê bình, bới móc nhau, rồi tự bới móc mình, nhận khuyết điểm, ưu điểm, tự đánh giá thái độ cải tạo, đồng thời hạ quyết tâm định “phương hướng tới”. Tôi được Đặng Quang Ba chỉ định phát biểu đầu tiên:

– Thưa cán bộ, thưa tập thể đội, tuần vừa qua, tôi phạm nhiều khuyết điểm, một là tôi đã làm thơ ủy mị khiến cán bộ trên đoàn phải xuống “làm việc”. Cán bộ đoàn đã chỉ vẽ cho tôi những sai phạm. Tôi hoàn toàn thành khẩn nhận lỗi và được cán bộ ghi nhận những nhận thức mới của tôi là có tiến bộ. Khuyết điểm thứ hai là phải nghỉ mất ba ngày để “làm việc”, nên không đảm bảo ngày công trong tháng, trong tuần. Tôi thành khẩn nhận khuyết điểm trước đội và rút kinh nghiệm để sửa chữa. Tôi xin hết!”. Đặng Quang Ba can thiệp liền:

– Không được nhận khuyết điểm chung chung như vậy! Thơ phải đọc lên, chỉ rõ những nhận thức sai trái của mình trước đội, có như thế mới nhận ra những sai lầm. Riêng phần kỷ luật là do trên quyết định sau.

Tôi nhẫn nhịn:

– Vâng, tôi cũng muốn đọc lên, nhận khuyết điểm trước cán bộ và tập thể, nhưng vị cán bộ đoàn cấm tôi không được nhớ, không được đọc những bài thơ sai trái đó, giờ quản giáo ra lệnh, tôi xin tuân theo!

Đặng Quang Ba nghe tôi nói như vậy, vội vã giơ tay ngăn:

– Thôi, đồng chí cán bộ cấp trên đã chỉ thị như thế thì chúng ta phải tuân hành thông qua, các anh đồng ý không?

Như những chiếc máy, 50 cái miệng gào lên thật lớn: “Đồng ý!” để khỏi bị bắt gào đi, gào lại mấy lần.

Cũng chiều hôm ấy, tôi lên cơn sốt, có lẽ vì thấm mưa chiều hôm trước, và do hơi đất ngột ngạt bốc lên. Cũng tối hôm đó, tối thứ 5, toàn trại phải lên hội trường học hát, trời vẫn mưa lác đác, nước rút đi để trơ lại bùn lầy, tôi cáo bệnh, xin đội trưởng ở lại lán. Chừng nửa tiếng đồng hồ sau, trại có lệnh cho tất cả phải lên hội trường, dẫu đau ốm, miễn là còn sống. Tôi thấy Đặng Quang Ba gọi “Bẩy Xe Lửa” và Lữ Văn S, tổ trưởng tổ 3, và đội phó Nguyễn Văn X ra nhỏ to, chắc là có chỉ thị gì đặc biệt.

Đến 9 giờ 30 tối, tất cả về lán, lán tối đen và lầy lội những bùn. Bỗng có 7 người bỗng dưng hô hoán là mất đồ để trên “dàn giá ba lô”. Cuộc điều tra khởi đầu ngay tức khắc, phát hiện ra 7 chiếc ba lô “quân từ trang” của 7 anh em bị mất. Hàng rào tre nứa bị vẹt ra, vết giày ba ta còn in trên nền đất. Kết luận được đưa ra là nhân lúc toàn đội lên học hát, kẻ gian đã xâm nhập, ăn cắp đồ của trại viên. Tất cả thật rõ ràng. Sáng hôm sau, đội trưởng, đội phó và 5 tổ trưởng được lệnh ở lại trại để “sinh hoạt lãnh đạo đội.” Tối hôm đó, trời lại đổ mưa, sinh hoạt đội được triển khai rất sớm. Dưới ánh đèn dầu tù mù, mọi thủ tục được lập lại, Đặng Quang Ba đứng giữa lán, vẻ mặt gian ác. Trong lán không một tiếng động, chỉ còn lại âm thanh của những giọt mưa gõ trên mái nứa. Gã nhìn từng người, ánh mắt chứa đựng vẻ uy hiếp và cất cao giọng, hai hàm răng xít lại làm tôi nhớ đến tấm bia trên bãi tác xạ ngày mới vào quân trường:

– Sự việc xẩy ra tối hôm qua, bẩy trại viên đã bị “âm mưu đen tối của thế lực thù địch” ăn cắp với mưu đồ nghiêm trọng. Làm thế nào người ngoài biết được trong các ba lô để trên “sự nghiệp dàn giá ba lô” chứa quần “gan”, quần “tẹc”, vậy thì phải có sự tiếp tay “nội bộ tổ chức”, ý đồ thâm độc là móc ngoặc với dân để “âm mưu trốn trại”. Sự việc ấy đã rõ ràng. Hôm nay ta phải tìm ra kẻ địch “trong lòng dân tộc, tổ chức” để “ngăn chận kịp thời âm mưu đen tối phát sinh từ những ý đồ xấu xa.” Ban chỉ huy trại và hội đồng cán bộ dưới ánh sáng vinh quang của đảng, đã tìm ra kẻ đó là ai. Tuy nhiên, để thực hiện tính dân chủ, tổ chức đội lấy biểu quyết, nếu quá bán thì kẻ đó có tội và bị thi hành kỷ luật, nếu không đủ quá bán, kẻ đó vô tội. Thủ phạm gian tham phản động hôm nay được đưa ra trước tòa án của tập thể đội, đó chính là tên “Mạc Thiên”, và hắn phải đền tội.

Tôi đã dự đoán được âm mưu này, vì chiều nay, ánh mắt của tên Bẩy nhìn tôi khác lạ. Tôi biết số mạng của tôi đã được quyết định thông qua bàn tay của anh em. Tôi giơ tay xin phát biểụ Đặng Quang Ba chặn lại:

– Không cho phép mày phát biểu!

Tôi phản ứng quyết liệt:

– Tôi xin phát biểu để thể hiện tính dân chủ mà cán bộ vừa nói!

Tôi nhìn thẳng vào mắt y, y có vẻ bối rối:

– Cho phép mày nói 5 phút!

– Tôi chỉ cần 2 phút!

– Được, cho phép!

Tôi vẫn ngồi im tại chỗ, nhìn khắp lượt anh em. Nhiều người cúi đầu hoặc rút vào bóng tối. Giọng tôi đanh lại nhưng chứa đầy tình cảm. Tôi biết sự sống chết của tôi là lúc này:

– Thưa anh em toàn đội! Các anh, tất cả chúng ta đều có học, biết phán đoán đúng, sai. Tôi chấp nhận sự phán quyết của anh em, và sinh mạng tôi đặt trong tay anh em. Các anh phán quyết tôi theo lương tâm của mình. “Các ngươi đong cho ai bằng đấu nào, ta sẽ đong cho các ngươi bằng đấu đó!” Lời của Thượng Đế đã phán truyền, máu của kẻ vô tội sẽ chảy trên đầu con cái chúng ta. Tôi xin hết!

Cuộc biểu quyết lập đi lập lại câu hỏi “ai cho rằng tên Mạc Thiên có tội hãy giơ tay biểu quyết!”. Cả đội im phăng phắc. Một vài cánh tay ngập ngừng rồi bỏ xuống, trừ tên Bẩy, tên Xuân là giơ thẳng cánh. Đặng Quang Ba tím mặt, giọng hắn rít lên:

– Ai cho thằng Thiên không có tội, giơ tay lên!

Tất cả những cánh tay giơ cao, trừ hai tên Bẩy và tên Xuân.

Tên quản giáo hùng hổ hét lớn:

– À, thì ra chúng mày toa rập! Ông cho mục xương, mục xương!

Nói xong, y vội vã bước ra khỏi lán.

Bỗng dưng tôi cảm thấy một khoảng không mở ra trong lòng tôi, một cơn mệt lạ lùng dìm tôi xuống trong một cảm giác mơ hồ.

Cùng lúc đó, ngoài trời đêm, nhiều ánh đuốc bập bùng, một đoàn người khá đông tiến vào trại áp giải theo một người bị trói thúc ké, thủ phạm ăn cắp đã bị bắt ở chợ, khi y đem quần áo, tư trang ăn cắp của 7 trại viên ra chợ bán và bị công an tóm giải về trại.

Hắn chính là tên bộ đội quản chế trêu chọc Mận hôm trước, và hắn cũng chính là tên gác đêm hôm qua lúc chúng tôi lên hội trường học hát. Sự việc vỡ lở, cả trại xôn xao, ban chỉ huy trại không thể dấu nhẹm được. Ba ngày sau, tên Bẩy bỗng thổ huyết. Ôi, “Chúa có bàn tay của Chúa!”…

*

Lần đầu tiên tôi nếm mùi “kỷ luật” cũng do một bài thơ. Để chào mừng “quốc khánh” 2975, tất cả mọi trại viên phải tham gia “viết báo tường” với chủ đề “học tập tốt, lao động tốt”. Thời hạn nộp bài là ba ngày. Ngày ấy mới vào Long Giao, lao động chỉ quẩn quanh trong khu vực doanh trại, dọn dẹp vệ sinh, tu sửa nơi ăn chốn ở, làm cỏ và trồng tỉa. Mùa mưa đã đến được trên ba tháng, đám lau sậy đã cao hơn đầu người, mà cuốc xẻng chỉ là những cọc sắt đập dẹp đầu và uốn cong lại, do đó, những bàn tay phồng rộp, xây xát, cả đội cũng đã khẩn hoang được một khu đất rộng gần chừng một mẫu, chia cho 5 tổ đảm trách việc trồng trọt, ai muốn trồng gì cũng được, miễn là cho kín khu đất. Từ cảm hứng ngậm ngùi ấy, tôi đã viết bài thơ “Một ngày lao động tốt”:

Này luống khoai xanh, luống đất hồng

Đây vòm sắn mượt cụm rau non

Mồ hôi nhỏ xuống từng vuông cỏ

Ý đất, lòng khoai có biết không?

Mạch sống nhen theo mạch núi rừng

Chòm cây lối cỏ nhớ sương trong

Mưa nguồn chớp bể đêm qua đó

Chắc hẳn chưa tàn nụ hướng dương.

Nhát cuốc ta phăng bụi cỏ này

Ngại gì không mạnh sức đôi tay

Mai kia nắng dạt chiều đông xám

Và gió hừng đông lả bóng cây.

Ôi, đó đời ta, mảnh đất này

Bụi cà chen chúc cụm rau đay

Vui buồn trộn lẫn vài công đất

Ý lá, lòng hoa, hương cỏ may.

Bẩy ngày kỷ luật hưởng theo tiêu chuẩn trại giam. “Trại giam” là một cái thùng conex được chôn trong lòng đất, chằng chịt kẽm gai bao quanh. Trời nắng thì van trời, đêm mưa thì lạy đất.

Lần thứ hai, tai họa đến từ buổi học tập “nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là ưu việt”. Mọi người phải phát biểu ý kiến, triển khai ca ngợi đảng và xã hội chủ nghĩa, sau đó viết bài thu hoạch. Tôi ngồi khuất vào góc phòng, lơ đãng nghe anh em moi óc tìm cho ra những từ ngữ có thể tìm được để ca tụng “xã hội chủ nghĩa ưu việt”. Vẻ lơ đãng của tôi lọt vào mắt cú vọ của tên quản giáo Đặng Quang Ba, và hắn yêu cầu tôi đứng lên phát biểu. Hắn bảo:

– Anh hãy nhận xét những ưu và khuyết điểm của nền kinh tế ưu việt của xã hội chủ nghĩa!

Không lẽ tôi lập lại những “lời hay ý đẹp” mà anh em trong đội nặn óc nghĩ ra, và sẽ bị đánh giá là không chịu “động não”, là chung chung, là thiếu sâu sắc. Thôi vậy, tôi phải nói những điều tôi đã nghĩ, đã được đọc:

– Thưa cán bộ quản giáo, thưa anh em, trong tác phẩm vĩ đại “Công cuộc cách mạng nhân dân” của “cụ” Tổng Bí Thư Lê Duẩn, trang 506, dòng 14 có một đoạn viết rằng, “nhân một lần về thăm một xã nghèo thuộc tỉnh Nam Hà, “cụ” Tổng Bí Thư đã nói với lãnh đạo của xã ấy như sau:

“Nếu xã viên không có trên 3 sào ruộng đất, thì không nên vào hợp tác xã, cứ để cho họ làm ăn riêng lẻ, như vậy thành quả sẽ cao hơn, mới đủ sống.” Tại sao như thế? Tại sao làm ăn riêng lẻ lại có kết quả tốt hơn vào hợp tác xã? Chúng ta vẫn thường nghe các cụ, tổ tiên chúng ta nhắc đi nhắc lại câu nói “cha chung không ai khóc”, vì vào hợp tác xã, chẳng ai muốn tận lực ra sức làm việc, do dó thành quả sẽ thấp hơn canh tác cá nhân. Chẳng ai vạ gì đổ mồ hôi tận lực, trong khi những người khác lơ là, làm chiếu lệ. Tuy nhiên, tôi được biết, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa, phải xây dựng con người chủ nghĩa xã hội.” Cái khuyết điểm về yếu tố tâm lý dựa dẫm ấy, đã được Hồ Chủ Tịch nhìn thấy, nên mới quan tâm đến nhân sự, đến “con người chủ nghĩa xã hội”. Do đó, tôi xét thấy rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng có mặt hạn chế của nó!”

Gương mặt tên quản giáo xạm lại, mọi người nín thở, và tôi tự trách mình dại dột, dù đã mang hai nhân vật “vĩ đại” ra làm cái khiên che chắn, thế nhưng, chỉ ba ngày sau, tôi lại phải vào trại kỷ luật.

Chưa đầy hai năm, kể từ lần cùm đầu tiên, lần này là lần thứ ba, và cũng như lần đầu, tai họa đến từ những vần thơ. Theo tử vi, cặp văn xương, văn khúc, gọi tắt là văn khúc, là cát tinh riêng đối với tôi, nó đúng là hung tinh số một (và 14 năm sau, tôi lại bị “hạn” xương khúc lần nữa, và lần này nặng hơn nhiều).

Lần thứ 3 xẩy ra hơn một tháng sau ngày chấm dứt buổi “làm việc” với viên đại tá. Không một ai trong trại biết tôi bị kỷ luật. Lần này không hề đọc lệnh bắt giam, lệnh thi hành kỷ luật đối với trại viên phạm lỗi, bởi vì cái tội của tôi khó viết thành văn tự.

“Con ạ, từ khi bố vắng nhà

Đến nay, thắm thoát mấy năm qua

Khi đi con hãy còn măng sữa

Thơ dại nào hay buổi thiếu cha

Người ta bảo bố phải yên lòng

Hài tội mình ra giữa đám đông

Con ơi, tội bố nhiều ghê lắm

Nặng nhất là vì tội nhớ con!

Tôi bị cùm hai chân trong nhà ngục chìm một nửa trong lòng đất, tường xây bằng đá tảng với muối, không một chút ánh sáng, buổi trưa ngày nắng dội, trong ngục cũng chỉ lờ mờ một thứ ánh sáng như đêm trăng suông. Hai bên bệ xi măng cao chừng 30 cm (hoàn toàn giống như một ngôi mộ) là hai trụ đá, xuyên qua hai trụ đá là một thanh sắt lớn. Hai chiếc cùm chữ U lồng vào hai cổ chân, và thanh sắt dài xuyên qua hai vòng khuy của mỗi thanh sắt chữ U, xiết hai cổ chân rồi xuyên qua bức tường khóa cứng ở bên ngoài.

Viên cán bộ có cặp chân mày sâu róm và ánh mắt hung bạo lấy làm thú vị khi hai thanh sắt chữ U nịt chặt lấy cổ chân của tôi. Y cười gằn, vung vẫy chùm chìa khóa:

– Chết cha mày nghe con, đây là mồ chôn của mày, mày sẽ cạp cứt mà chết, chuyên chính sẽ nghiền nát mày như cám bụi!

Nói xong, y vung chùm chìa khóa quật vào mặt tôi, cũng may, tôi tránh kịp, nhưng tôi lại không thể tránh được những cú đạp túi bụi vào người, tôi phải gồng mình lên mà chịu đựng. Khi cửa hầm sập lại, căn hầm tối đen. Tôi ngồi im trong bóng tối mịt mùng, đầu óc trống rỗng. Bầy muỗi đói ào ra, trong im lìm, tiếng muỗi bay lớn dị thường. Cũng may, bộ đồ tù tôi mặc trên người là bộ đồ trận của Biệt Động Quân, tuy thế, cũng không cản được những cái vòi như kim châm của bầy muỗi đói. Đó là ngày 19/5/1977, ngày sinh của ông Hồ (?). Đó là ngày thứ nhất và ngày sau cùng, làm sao biết được là bao giờ, vì lần này không có lệnh kỷ luật, nên không có thời hạn.

Tôi ngồi im như thế không biết là bao lâu. Khi hai nhượng chân gác đè lên thanh sắt, đôi chân từ cảm giác tê dại đã chuyển thành nhức buốt. Cũng may, đôi dép râu của tôi y đã quên không tịch thu, do đó, tôi dùng nó đỡ cho hai gót chân hổng lên, để khỏi đè lên thanh sắt. Cũng nhờ thế mà sau này tôi còn đi lại được. (Ôi, đôi dép sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!)

Dẫu trong hoàn cảnh nào cũng phải sửa soạn cho cuộc đầy ải, bằng tất cả những gì có thể có được. Tôi cởi áo lót trùm kín lên đầu, xé chiếc quần đùi đang mặc bao lấy đôi bàn chân, phòng thủ cuộc tấn công hung bạo của bầy muỗi. Tôi ngả lưng xuống và thiếp đi. Mỗi một ngày, cửa hầm chỉ mở một lần vào buổi chiều để mang cơm cho tù. Trong phòng, ngoài trừ một ống vầu để tiểu tiện, một để đại tiện, còn một ống vầu cắt ngắn để đựng vừa đủ hai giá cơm, khoảng hơn một chén, và một ống vầu chứa một lít nước uống. Gọi là cơm, thật ra, từ ngày ra Bắc, lương thực của chúng tôi quẩn quanh chỉ toàn là bo bo, sắn lát, và cao cấp nhất là bắp xay. Tội thay, có hôm nhà bếp quên muối, có hôm lại bỏ muối mặn chát, phải bốc mà ăn, hai bàn tay lép nhép chùi đại vào quần áo, mùi hôi kết hợp từ mọi thứ, nồng nặc, song rồi mãi cũng quen.

Tôi đã qua đi được mùa hè, một mùa hè lửa đổ trong căn hầm đá được xây bằng muối, ban ngày nóng đến độ “lè lưỡi như chó tháng sáu”, ban đêm lạnh buốt như cứa da. Bộ quần áo đã dày cứng như mo nang, do hai bàn tay lép nhép. Sau đó, tôi đã thầm cám ơn Thượng Đế đã cho ta mái tóc. Tóc dài xòa xuống cổ, hai bàn tay được “chùi rửa” trên mái tóc. Ôi, cảm giác sạch sẽ của bàn tay được tóc lau đi sung sướng làm sao! Rồi mái tóc cũng bết lại, xòa xuống, che được cần cổ, phòng chống hữu hiệu bầy muỗi bạo tàn…

Chỉ sau khoảng một tháng, vòng sắt chữ U đã rộng ra do hai cổ chân teo lại. Sang tháng thứ ba, chỉ còn bị cùm một chân. Hạnh phúc thật vô ngần khi một chân được tự do!

Hàng ngày, để giết thì giờ, tôi kể cho tôi nghe tất cả những bộ truyện mà tôi đọc được như Tam Quốc Chí, Thủy Hử, Võ Lâm Ngũ Bá, Anh Hùng Xa Điêu, Lục Mạch Thần Kiếm, Cô Gái Đồ Long, Tiếu Ngạo Giang Hồ, kể cả bộ Lộc Đỉnh Ký. Tôi cố nặn óc, cố nhớ lại. Kỳ lạ thay, trong cơn đói khổ tận cùng, trí nhớ của tôi dường như lại tốt hơn lên. Những nhân vật trong toàn bộ tác phẩm của Kim Dung tôi nhớ gần như nguyên vẹn, nhờ đó mà sau này tôi được tấn phong ngôi Giáo chủ, Lệnh Hồ Công Tử…

Tôi tự nhủ tôi không được nhớ thương, không được buồn khổ…, nhưng rồi, cho đến một ngày, tôi biết mình sắp chết, cái chết lảng vảng quanh tôi. Nhiều lần tôi đã phải cố gắng vùng vẫy để thoát ra khỏi cái hố thăm thẳm của cái chết, và tôi cũng biết rằng sự cố gắng ấy chẳng còn kéo dài được bao lâu nữa.

Đã qua một mùa đông phải phấn đấu chống chọi với cái lạnh, tôi mơ hồ cảm thấy trái tim tôi như đứng lại, ngập ngừng từng nhịp rã rời. Tôi phải dùng tay mình xoa nóng cho nó, vỗ về nó, van xin nó đừng ngừng lại. Rồi một mùa hè nóng ngộp lại tới. Tôi há miệng thở dốc từng cơn. Tôi không thể, vâng, tôi biết tôi không thể vùng vẫy ra khỏi cái hố tối tăm đang mở lớn, từng lúc, từng lúc nhận chìm tôi xuống cõi miên viễn. Cho đến một hôm, tôi không thể nào nuốt trôi được hai củ sắn luộc đã có mùi thiu và trơn nhợt. Miệng tôi đắng ngắt, khô lại, cùng một lúc tôi nghe tiếng gió thổi lạnh buốt từ đốt xương sống dâng lên. Tôi nghe ở xa lắm tiếng gọi mơ hồ trong chính thân thể mình, và trong óc tôi, sự lịm tắt của sự sống dường như đã khởi đầu, mù mờ, sương khói trong đôi mắt nặng nề, và bóng tối kỳ dị của sự chết đang bước tới. Tôi cố gắng vùng vẫy để thoát ra. Tôi không sợ hãi, không kinh hoàng, nhưng thoáng chút ngậm ngùi hình ảnh mơ hồ của đứa con chưa biết mặt. Đứa bé ấy là trai hay gái, vì khi nó được sinh ra, tôi không được tin tức mảy may nào của Mẹ con nó…

… Con ra đời giữa lúc đời tan tác

Mà đau thương còn quặn đến hôm nay

Trời tháng Tư lấp đầy cơn ác mộng

Biển nghìn năm còn vọng nỗi đau này.

Không! Ta không thể nào chết được! Không! Lạy Chúa! Và tôi chìm đi trong hố sâu thăm thẳm của vô cùng. Tôi thấy một vùng sáng như sữa bao bọc quanh tôi, một cảm giác nhẹ nhàng như sương khói…

Bỗng dưng tôi cảm thấy giá buốt. Tôi nghe thấy có tiếng động xào xạt, tôi mở mắt, ánh lửa bập bùng hắt lên tàng cây cao, dường như tôi cất tiếng rên… Tôi bỗng nghe có tiếng người nói lớn:

– Báo cáo anh bộ đội, anh T còn sống! Hãy còn sống…

Có tiếng hỏi vọng tới, dường như từ phía dưới ngọn đồi:

– Sao? Cái gì? Khẩn trương lên mà về!

– Anh T còn sống!

– Sống đếch gì được mà sống, cùng lắm là sáng mai nó cũng chết, chôn mẹ nó đi, khỏi mất công khiêng đi khiêng lại!

Thì ra lịm đi. Họ nghĩ rằng tôi đã chết và mang đi chôn, nhưng giữa chừng, tôi đã tỉnh lại. Ôi, tỉnh lại mà làm gì! Nỗi cay đắng đầy ắp trong tôi. Tôi sẽ bị chôn sống!? Cuộc đời tôi đến thế này sao?

Bỗng có tiếng gọi thất thanh từ phía dưới:

– Chết mẹ rồi, trại cháy! Bỏ mẹ nó đấy, về chữa cháy, mau lên!

Hai người tù tự giác, là những tù biệt kích bị bắt năm xưa, quẳng xẻng cuốc lao đi. Cảnh vật yên tĩnh, tôi cố gắng, sự cố gắng lạ thường, và tôi đã ngồi dậy được. Bó đuốc còn cắm gần đó, huyệt mộ đã đào gần xong. Tự nhiên, như một thôi thúc bí mật của sự sống, tôi cố gắng bò lết và đã bò chui vào được một bụi rậm. Tôi dựa lưng vào một tảng đá và thiếp đi… Không biết bao lâu, tôi lại nghe tiếng chân đi lạo xạo, và một giọng hốt hoảng:

– Chết mẹ, thằng chả biến đâu mất rồi?!

Một giọng khác thì thầm:

– Hay là chả trốn rồi?

– Trốn sao được, ngáp ngáp rồi còn trốn với chạy thế đếch nào được!

– Hay là… bị cọp tha mất xác rồi!

– Bây giờ làm sao?

– Hay là mình báo cáo cho thằng cớm nhí?

– Báo cáo lại mang khổ vào thân, thôi cứ coi như mình đã chôn rồi, cọp xơi cũng vậy, đất nuốt cũng vậy!

Tiếng động của một tảng đá được lăn xuống, tiếng lấp đất. Một lúc sau có tiếng vọng từ xa:

– Xong chưa?

– Xong rồi!

– Thôi về! Mất mẹ nó một đêm!

Ánh đuốc mờ dần dưới triền đồi, và tôi lại thiếp đi. Tôi bỗng mơ thấy một người, một lão ông râu tóc bạc, vỗ vào vai tôi:

– Dậy đi con, ráng bò lại bên ánh lửa, con sẽ tìm được sự sống!

Tôi giật mình mở mắt, qua tàn lá rợp, tôi thấy có ánh lửa thoắt bùng lên, thoắt tắt ngấm, ở một nơi cách chỗ tôi nằm chừng vài chục mét. Trong đêm sương lạnh, ánh lửa nồng ấm có một sức mạnh kỳ lạ lôi kéo tôi, dựng tôi lên. Tôi bò lết từng tấc đất về hướng lửa. Khoảng vài chục mét, với tôi lúc này như ngàn dậm, một sự phấn đấu vượt qua sức còn lại của tôi. Tôi ngừng lại nghỉ. Không khí trong lành của đêm khuya trên đồi cao đã giúp tôi tỉnh táo. Tôi tự thúc giục mình: “Ráng đi! Ráng đi! Phải sống! Cuộc đời còn phía trước, kẻ thù còn phía trước, ráng lên!…” Tôi tự khuyến khích mình trong sự rã rời của chân tay, và tiếp tục lết bò đi từng chút một. Cỏ gai cứa lên mặt tôi, đất sỏi xiết chà trên thân thể rã mục. Tôi lết đi, cho đến một lúc thể xác không thể tuân theo mệnh lệnh của ý chí… thì tôi đụng phải một vật, rồi tôi nhận ra tôi đang bò lết trong khu nương rẫy của người Dao, và cái vật mà tôi vừa đụng phải là một trái bí đỏ còn non. Trong suốt cuộc đời tôi, từ quá khứ cho đến khi nhắm mắt, sẽ không có một loại trái cây nào có thể sánh bằng với trái bí đỏ non đêm hôm đó. Tôi không thể tả được nó ngon đến dường nào, và cũng từ đó, tôi không hề muốn ăn bất cứ loại trái cây nào khác. Và cho đến hôm nay, trên đất Mỹ này, những người thân yêu thường cho tôi là kẻ dại dột, không biết ăn trái cây. Tôi không biết nói làm sao cho phải, thường cười mà đùa rằng “Tôi tuổi Tỵ, mà lại là Tân Tỵ, cầm tinh Mãng Xà Vương, các vị có thấy con rắn nào ăn trái cây bao giờ không”. Có ai biết đâu rằng, đối với tôi, ngay cả loại đào tiên trong truyền thuyết của Tây Vương Mẫu cũng chẳng thể sánh bằng được “trái bí đỏ non” đã cứu mạng tôi đêm đó.

Tôi ăn hết ba trái bí non bằng nắm tay. Kỳ diệu thay, một nguồn sống mới đã nhen nhúm lại trong tôi, và tôi đã bò đến được bên đống lửa trong một chòi lá giữa rừng núi hoang dại. Đây là chòi lửa của dân tộc Dao dựng lên giữa khu nương rẫy để canh phòng thú rừng phá hoại hoa mầu… Mỗi lần cơn gió thổi qua, tàn tro tung bay, và ngọn lửa lại bùng lên. Lửa âm ỉ ngày đêm ngúm mãi trong những thân gỗ lớn. Tôi bỗng chợt phát hiện một trái bí già vùi giữa đống than tro, có lẽ của chủ nhân khu rẫy này nướng sẵn và bỏ quên. Tôi ăn hết trái bí đỏ nướng, ngọt như mật, cho đến khi bao tử không còn chỗ nào nhét thêm được, mà miệng thì vẫn cứ muốn ăn, tôi hiểu được tại sao trong trận đói tháng Ba năm Ất Dậu, người ta chết vì đói, và sau đó lại chết vì quá no!

Trời đã gần sáng, tôi bò vào một lùm rậm, cạnh một thân cây lớn, ngả mình giữa hai chiếc rễ khổng lồ và ngủ thiếp đi.

Tôi bừng mắt dậy, tuy không phải là ánh nắng, lần đầu tiên sau 419 ngày trong hầm tối, tôi chạm phải ánh sáng ban ngày, đôi mắt tôi nhức buốt như kim châm, nhưng theo tiếng động, tôi cũng kịp nhìn thấy nòng súng chĩa vào đầu tôi. Hai người Dao, người đàn ông cầm súng săn có lẽ nghĩ rằng tôi là một con quái thú, toan bóp cò, và nhanh tay hơn, người đàn bà đã kịp đẩy nòng súng lên cao, súng nổ, viên đạn cắm vào thân cây sát trên đỉnh đầu tôi. Tôi lấy hai tay ôm mặt, che bớt ánh sáng ban ngày của ngày tàn hạ. Tôi không hiểu được hai người Dao đã trao đổi gì với nhau. Sau đó, người đàn ông lấy một cành khô gạt bàn tay tôi ra, vén mớ tóc dài lòa xòa phủ trên mặt tôi và quan sát. Ông ta gật gù như nhận ra tôi là một con người, một con người khốn khổ.

Có lẽ mùi hôi thối từ người tôi tỏa ra khiến ông ta nhăn mặt, mũi ông ta chun lại và hắt hơi. Người đàn bà, áng chừng là người vợ, đưa cho chồng chiếc khăn quàng. Ông ta bịt khăn quanh mũi, đưa súng cho vợ và xốc tôi lên, cõng tôi trên vai. Tôi xúc dộng đến trào nước mắt. Lòng thương xót của một con người với một con người, và đó là bản năng không chỉ của con người với nhau, mà cả đến loài ác thú cũng có trong đồng loại. Tôi tự hỏi, lòng nhân ái của con người đối với đồng loại mình. Đôi khi không bằng loài cầm thú, chẳng lẽ những người cộng sản đã không còn bản chất người, bản chất của các loài động vật? Tôi thiết tha hy vọng là tôi đã nghĩ sai, nhưng ý nghĩ ấy không lúc nào rời bỏ tôi từ ấy… Tôi ngủ thiếp trên vai người chồng, lên dốc, xuống đèo, không biết bao lâu thì tôi được đặt xuống. Ánh nắng đã lên cao. Đôi mắt tôi nhức buốt khi mở ra. Tôi được đặt nhẹ nhàng xuống bên một tảng đá. Người vợ đưa cho chồng chai dầu mùi ngãi cứu, đổ lên đầu tôi. Một thoáng sau đó, mùi hắc đã không còn, chỉ còn lại mùi thơm tỏa quanh người. Ông chồng lấy chiếc kéo cắt mớ tóc của tôi, những bệt tóc hơn một năm không được tắm gội rơi xuống lả chả như vỏ cây. Ông ta cắt tóc như một người nhà nghề, dĩ nhiên là “cắt bốc” theo kiểu “tiền văn minh – hậu sư cụ”. Sau đó, người vợ đưa cho tôi một nắm xôi bắp nếp đã nguội và ra dấu cho tôi ăn. Tôi gọi là xôi bắp, thật ra, đó chỉ là loại cơm ngô dẻo quánh. Tôi ăn thoáng đã hết. Tôi liếm sạch sẽ mảnh lá chuối khô cho đến khi không còn hạt bắp nào dính lại. Người chồng trao cho tôi ly nước nóng, nước chát quánh như trà quặn. Một lúc sau, ông chồng đỡ tôi đến một vòi nước; nước được truyền xuống từ một dòng suối trên cao, chảy theo những chiếc máng làm bằng thân cây vồi được bổ đôi, từ cao hạ thấp từ từ và chuyền đến tận nhà. Nước trong vắt và mát lạnh, nước xối xả lên đầu, lên vai, lên cổ tôi. Bộ quần áo mục rách ngấm nước mủn ra khỏi thân thể, và nước từ trong vắt biến dần thành đen sậm khi chảy qua người tôi. Tôi chà xát, kỳ cọ và da tôi hiện ra trắng nhợt như xác chết, người còn da bọc xương với những đường gân xanh nổi lên chằng chịt.

Người đàn ông, sau một lúc tần ngần, đã lấy ra một cục sà bông “đế” được bọc cẩn thận trong tấm giấy dầu, chà lên đầu, lên cổ tôi, giúp tôi kỳ cọ sau lưng. Ông nhìn thân hình tôi và lắc đầu ái ngại, rồi ông đem cho tôi một bộ quần áo màu xanh lam với nhiều chỗ vá. Dù trong suốt thời gian bị cùm, tôi vẫn thường xuyên luyện tập đôi chân, vậy mà tôi không thể tự mình đứng dậy nổi. Ông chồng đưa cho tôi cây gậy chống, khuyến khích tôi tập đi. Tôi đi run rẩy và loạng choạng như một ông già trăm tuổi. Nếu cứ tính “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” thì ít ra tôi đã có tuổi hàng triệu năm, vậy thì có gì làm lạ khi tôi như một ông già trăm tuổi!

(Tôi ở trong tù trước sau gần tròn 20 năm, tức là 7 ngàn đêm lẻ chốn lao lung, nhân với thiên thu, là nhân với một ngàn, tính ra tôi đã thọ được 7 triệu tuổi! Xin cám ơn người anh em “vô sản”!)

***

Tôi được vợ chồng người Dao cưu mang khoảng một tuần lễ, tuy nhiên, tôi không được xuống “dưới nhà”. Trong suốt tuần lễ ấy, họ dấu tôi trên gác. Gác thật ra chỉ là những tấm ván được gác ngang qua hai đà ngang. Tôi chỉ được xuống nhà dưới khi đêm xuống để làm vệ sinh cá nhân. Ngày hai lần, cơm là bắp nếp được xay ra và nấu như gạo, ngon ngọt vô cùng, đôi lúc được ăn với mật ong. Sức khỏe của tôi dần dần hồi phục. Tôi cố gắng xoa bóp đôi chân bằng loại thuốc nước của rễ cây nào đó mà ông người Dao đưa cho. Gân cốt cứng cáp trở lại và tôi đi được không cần đến gậy chống, dù còn yếu…

Một hôm, hai vợ chồng người Dao nhỏ to với nhau và chỉ chỏ lên chỗ tôi nằm. Rồi một buổi sáng sớm, họ đưa tôi xuống và dìu tôi đi. Họ đưa tôi trở lại chốn cũ, nơi chòi lửa và bảo tôi ngồi đợi… Khoảng hơn một giờ sau, một viên thượng úy và hai vệ binh đi tới. Tôi nói với viên Thượng úy:

– Xin cứ việc giết tôi, tôi không hề oán trách, trước sau gì tôi cũng chết!

Tôi hình dung đến căn hầm kỷ luật và quả thật, cái chết chính là một ân huệ. Gã thượng úy cười hiền lành, nhưng nụ cười lại làm tôi rợn tóc gáy. Tôi bỗng nhớ đến viên đại tá đã làm việc với tôi ngày trước. Gã bảo:

– Sao anh lại nói thế? Chúng tôi rất tiếc vì sự lầm lẫn của đồng chí y sĩ khám nghiệm nói rằng anh đã chết. Chúc mừng anh đã hồi sinh! À này! Làm sao anh ra khỏi huyệt mộ?

– Thưa ông, huyệt đào rất cạn, tôi moi đất chui lên và sau đó được vợ chồng người Dao cứu vớt.

Tôi được dẫn về trại, cách ly với các phạm nhân khác và được bồi dưỡng 3 ngày (mỗi ngày 2 chén cơm độn bắp và một chén canh rau, tiêu chuẩn của vệ binh). Ngày thứ ba, tôi được đưa đi cân. Viên y sĩ (?) bảo tôi:

– Cho anh ba mươi bẩy ký! (Có nghĩa là tôi chưa được 37 kg)

– Xin cám ơn tấm lòng rộng lượng của cán bộ!

Tôi nhìn y. Y thản nhiên nhận lời cám ơn châm biếm của tôi. Ba ngày sau, tôi được chuyển về trại Nam Hà (tức trại Ba Sao). Tôi được dặn đi nhắc lại là không được nhắc đến bất cứ điều gì về những ngày tôi được “an dưõng”.

Cho đến hôm nay, tôi cũng không biết nơi tôi đã được “an dưỡng” suốt 419 ngày đêm là đâu, và điều ray rức nhất là tôi chẳng biết tên vợ chồng người Dao đã cứu tôi ngày đó. Hình ảnh cặp vợ chồng đầy lòng từ tâm ấy mãi mãi không phai mờ trong lòng tôi, cho đến lúc lìa đời…

Bao nhiêu đêm muộn bấy nhiêu ngày

Ta sống hay là đang chết đây

Ngục tối khác chi lòng huyệt tối

Nghìn trùng ngay tự lúc chia tay.

(Trần Thúc Vũ)

Tám trăm trại tù được đánh số từ AH.1 đến AH.800 thống thuộc đoàn 776, chia thành nhiều liên trại, nằm rải rác trong rừng sâu suốt một giải biên thùy Hoa – Việt. Những Cổng Trời, Nghĩa Lộ, Văn Bàng, Sơn La, Yên Bái… Con số 800 trại tù chỉ được tính bằng ký hiệu AH, đó là ký hiệu thuộc thẩm quyền quản lý của quân đội, chưa kể đến các trại thuộc Trung Ương do công an quản lý, hay đúng hơn, đó chỉ là các trại tù dọc theo biên giới cực Bắc.

Trên toàn quốc Việt Nam, còn vô số những trại tù của từng địa phương mang những ám số khác nhau, dưới quyền sinh sát của các bạo chúa khác nhau. Đoàn 776 dưới tay bạo chúa Đàm Quang Trung, trung tướng tư lệnh quân khu Tả Ngạn. Mỗi trại thuộc đoàn 776, số tù nhân xê dịch từ 400 đến 500, tính đổ đồng tổng cộng chừng 35 ngàn người. Nếu tính theo số thì tù nhân hiện nay trên toàn cõi Việt Nam có khoảng chừng 2 triệu người (Đây là con số mà một viên thiếu tá công an vô tình nói với tôi vào cuối năm 1997). Đây là một con số khủng khiếp, tỷ lệ 1/35 người dân Việt Nam bị đày trong ngục tối, ấy là chưa kể đến số dân còn lại, cuộc sống cũng chẳng khá gì hơn số phận của những tù nhân.

Tôi đã làm một con tính nhẩm, chỉ riêng với số tù nhân 2 triệu với mỗi ngày nửa ký lô gạo lương thực và nửa ký lô qui ra tiền thực phẩm không thôi, thì mỗi ngày phải tiêu phí 2.000 tấn gạo, chưa kể đến ngân sách nuôi dưỡng, cung cấp cho hệ thống kềm kẹp này, cùng những chi phí điều hành cho 2 cục quản lý trại giam… thì con số có thể lên tới 720 ngàn tấn gạo hàng năm, tính đổ đồng tiền gạo đổ ra để duy trì, điều hành toàn bộ hệ thống nhà tù ở Việt Nam… Tất cả chi phí này đều do nhân dân Việt Nam è cổ ra gánh vác để tạo điều kiện cho sư thu nhập của đảng. Thành quả sức lao động của hai triệu tù nhân là một món béo bở, vô tội vạ. Mỗi tù nhân phải lao động mỗi ngày 8 giờ chật vật, chưa kể những ngày Chúa nhật bị trưng dụng cho cái gọi là “ngày lao động xã hội chủ nghĩa”. Con số ấy vẫn chưa dừng tại đó, vì rằng, những mánh khóe bóc lột tù nhân một cách tinh vi chưa đề cập tới. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên gì khi nhà tù càng ngày càng đông thì đảng càng béo bở, càng giầu xụ, và luật pháp càng ngày càng khắt khe, tạo cho xã hội càng ngày càng băng hoại. Bề ngoài đảng cộng sản khoe khoang đang cải tiến chế độ lao tù, cho thăm nuôi, cho tự túc, song thực chất chỉ là để tạo điều kiện vơ vét, bóc lột xương máu của thân nhân những người tù. Và việc “chống tham nhũng” cũng nằm trong mục đích ấy. Tôi xin nói rõ để minh chứng điều này:

Trong mỗi trại, cán bộ thăm nuôi, “giáo dục” và điều tra hoàn cảnh của từng tù nhân, khuyến khích các tù nhân thuộc gia đình khá giả ra “tự túc”, và những thành phần này được ưu đãi, nghĩa là được tự do tương đối. Diện “tự túc” được chia làm nhiều loại. Mỗi trại viên muốn ra tự túc phải nộp cho trại hàng tháng 200.000$ (hai trăm ngàn đồng), chưa kể những món tiền dấu mặt đút lót riêng cho cán bộ quản giáo, cán bộ thăm nuôi, cán bộ giáo dục và bày tỏ lòng tri ơn bằng những giá trị vật chất khác mỗi lần thăm gặp gia đình. Cán bộ trực trại cũng không được lãng quên, rồi đến cán bộ quản giáo, quản chế phải cung phụng hàng ngày, kể cả việc chưa kể nếu muốn được thăm nuôi “24” hay “48”, nghĩa là gia đình được ở lại với tù nhân trong khu vực thăm nuôi, thiết kế từng phòng như “nhà chứa”. Muốn được ở lại, thân nhân phải trả tiền phòng, tiền đủ thứ, ủng hộ cái này, đóng góp cái khác, và nếu muốn ở lại lâu hơn, cứ có tiền bỏ ra là được. Tuy nhiên, đối tượng phạm nhân phải được đánh giá là tiến bộ, và việc đánh giá này hoàn toàn nằm trong tay cán bộ quản giáo. “Tiền là tiên, là Phật, là sức bật con người, là nụ cười của tuổi trẻ… Tiền hết ý!” Tù nhân bình thường là thế, còn tù nhân kinh tế thì sao? Và điều này khiến cho tham nhũng càng ngày càng nhiều, càng chống càng đông.

Một gã tù kinh tế với án tù chung thân, vốn là giám đốc một đại công ty, đã nói với tôi: “miễn là đừng bị án tử hình là đủ!”. Y ở trong một cơ ngơi riêng cách trại khoảng 500 mét, bên cạnh một hồ nước lớn, có TV, tủ lạnh, kể cả máy lạnh và những tiện nghi rất hiện đại khác. Vợ con y, người tình nhí, với xế hộp bóng lộn, muốn đến lúc nào thì đến, muốn ở bao lâu thì ở, ăn uống như một ông hoàng, hàng tuần cưỡi xế hộp về Sài Gòn dong chơi, không bao giờ mặc đồ tù, thong thả ra vào, không bị chi phối bởi những điều nội qui trại, nghênh ngang, láo xược. Y cho biết, nếu biết điều thì dù tù chung thân khổ sai, cũng chỉ sau 10 đến 13 năm là được ân xá. Và những dịp ân xá hàng năm là cơ hội thu nhập khổng lồ cho đảng.

Y bị kết án vì tội biển thủ 40 tỷ đồng Việt Nam, đó chỉ là con số bề ngoài, thực chất thì có thể nhiều hơn thế. Sau một thời gian giam giữ để điều tra, trong khi giam giữ, phòng giam của y có giường nệm, quạt máy, ăn uống, thăm gặp gia đình thả dàn nếu biết tung tiền ra. Khi tòa tuyên án xong, gia đình y đi “mua đất”, nghĩa là mua nơi giam giữ, mua trại – hoàn toàn đúng với nghĩa đen của nó – bỏ tiền ra xây nhà. Tiền càng nhiều, tự do càng mở rộng. Và dĩ nhiên, sau một thời gian, khi hắn ra khỏi tù, cơ ngơi và mọi thứ xây dựng trên đất của trại đều thành tài sản của trại. Khi y được chuyển đến trại giam thì mọi thứ đã sẵn sàng. Y được giao cho một cái ao mênh mông, để “lao động tự túc”, y thả cá tùy ý, mỗi năm phải đóng góp cho trại 100 triệu đồng Việt Nam, y phải bỏ vào ao vài chục ngàn con cá giống, phải mua thực phẩm cho cá và giao cho trại toàn quyền thu hoạch lợi tức. Những cam kết ấy, y phải tự động ngầm dâng hiến. Trại cho y 2,3 tù nhân làm việc nuôi cá, cắt cỏ, bỏ mồi và hầu hạ y, bù lại, y phải trả cho trại hàng tháng 200.000 đồng Việt Nam cho mỗi tù nhân phục dịch, và phải nuôi ăn cho những người phục dịch này. Y phải gánh vác những chi phí đột xuất cho trại, tuyệt đối giữ kín, đồng thời cũng phải quà cáp, tiền bạc, biếu xén cho những “yếu nhân” trong trại. Đối với cán bộ cấp thấp hơn, y phải là một người rộng rãi về ăn uống, hút sách, trà lá. Hàng tháng sinh hoạt đội bình bầu, y phải lấy được điểm “tốt”, hay tệ nhất cũng phải loại “khá”. Nếu bị điểm “trung bình” hoặc xấu, có nghĩa là y không biết phải quấy, là “vứt đi”, là bị đưa vào trại, và mọi thứ thành trắng tay.

Sau 7 năm đầu, y được “vỡ án”, và nếu biết lo 2 cây vàng cho một năm ở trại, 3 cây cho tào án, y sẽ được giảm 2 năm, nhưng tối đa cho hạn ân giảm là 5 năm. Vậy là khi “vỡ án” vào năm thứ bẩy, y đã được coi như ở tù 12 năm, qua năm sau thứ 8, giảm thêm 4 năm nữa, rồi năm sau kế là y coi như y đã “chấp hành xong án phạt tù” với toàn bộ chi phí chừng 10 tỷ đồng. Khi ra về, sau 9, 10 năm “buôn bán”, y lời đứt 30 tỷ đồng và thảnh thơi phủi tay, xóa hết ân oán, giang hồ.

Do đó, chúng ta hiểu tại sao, đảng càng chống tham nhũng, tham nhũng càng nở rộ, và tại sao nhà tù càng rộng mở, đảng cộng sản Việt Nam lại càng béo bở giàu to. Nhà tù là một phương tiện bắt nhân dân gánh vác mọi chi phí, còn đảng thì ních cho đầy túi tham một cách tinh vi. Tuy nhiên, xin nói rõ là những “ưu đãi” này rất khó mà “ban cho” những tù nhân chính trị. Trong thời gian tù cải tạo trước đây, sức lao động đảng vắt cho kiệt lực là nguồn thu nhập của đảng, bởi đó mà số trại viên dần dần giảm hẳn…

“… Sáng ra chỉ có dăm người chết

Chẳng biết bao lâu đến lượt mình

Căm uất sinh ly thà tử biệt

Oán hờn thấu tận mấy trời xanh…”

Có hàng chục nỗi chết uất ức khác nhau: tai nạn lao động, cây đè, đá nghiến, vực sâu nát thân, đáy hồ chìm khuất, đói khát, bệnh tật, hành hạ, đánh đập, bọn vệ binh háo sát, lấy cái chết của tù nhân làm trò giải trí, trả thù… Không biết hàng bao nhiêu nỗi chết cay đắng, nhục hình.

*

Mùa đông năm 1977, nhiệt độ xuống thấp 1 độ 7, mặt hồ Thác Bà se lại như muốn đóng băng, gió Bấc thổi thấu xương, tên quản giáo đội 4 bắt hai tù nhân uống 2 tô nuớc muối để lặn xuống nước mò cá trong “đăng”, cả hai đều vỡ tim, hộc máu mà chết. Vậy mà vẫn chưa yên, xác bị bỏ lại bên hồ qua đêm, sáng sớm hôm sau, tập họp trại viên, tên trưởng trại đọc lệnh cảnh cáo đối với hai xác chết vì “đã thiếu an toàn lao động” rồi sau đó mới cho đi chôn. Tất cả mọi xác chết đều để lại qua đêm, đều giống nhau ở một điểm: hai con ngươi bị móc, tai, mũi, môi biến mất, cả đến tay và chân, lũ chuột đói cũng không từ. Chúng chui vào quần gậm nhấm, rút rỉa. Trên khuôn mặt nát bét, hai hố mắt sâu thẳm, đọng máu khô, chập chờn bóng tối.

“Từ giã từng nỗi sầu trong mắt anh

Ngậm ngùi đời đưa anh về theo đất

Sương đẫm những đêm ru anh ngủ vùi

Từ đây rừng ôm ấp anh ngàn năm

Bao nhiêu những oan hồn


Giờ đã về mãi đâu

Vực sâu xót thân lưu đày


… Mắt nhắm còn đắng cay

Những ngày đói rét bầm tím thân

Từng chiều mưa gió căm căm

Buồn đau đến bao lâu

Ôi đời! Giá buốt đắng chát

Ôi! Hồn chất chứa uất ức

Hãy xin nguôi dần đi

Nhớ thương thêm đau lòng… mà thôi

Đêm nay rừng khuya hiu hắt

Thương ôi! Từng cơn giá buốt

Đưa anh vào canh khuya

Ngấn nước mắt bao ngày

Còn vương lối đi

Vàng võ hồn anh

Sầu vỡ hồn anh đêm đêm…”

Bài hát ấy, tôi thường hát, như lời kinh chiêu hồn, những lần vuốt mắt cho những người anh em bất hạnh… và ôi, máu tươi ộc ra từ chiếc – miệng – không môi, tôi nghe như có tiếng nấc từ lồng ngực, từ hốc mắt hun hút những nghìn thu, máu tươi cũng ứa ra, từ đó, ôi, những dòng huyết lệ!….

Nhìn những cái chết thê lương ấy, ngẫm dến phận mình, và trong giấc ngủ, những cơn ác mộng kinh hoàng kéo dài suốt đời người còn lại.

“… Cả đến chiêm bao cũng hãi hùng

Tỉnh ra còn thảng thốt hư không..”

Ấy thế mà trong tất cả những nhục hình đày dọa thân xác, nếu đem so với thủ đoạn đày đọa tinh thần thì nào có thấm vào đâu! Cho đến tận hôm nay, những đêm “sinh hoạt”, “phê bình, kiểm điểm” diễn ra thường xuyên mỗi tối, đã làm cho thần kinh người tù như lịm tắt, rã rời hơn cả một ngày cực nhọc. Cho mãi đến tận sau này, được thả ra, rời Việt Nam sang đến đất người, mà nó còn theo đuổi khiến cho một số anh em HO… vẫn còn như nửa khùng, nửa điên, nửa ngơ ngẩn, nửa dại khờ… và không ít anh em đã bị chết dần mòn bởi những ám ảnh từ quá khứ kinh hoàng không thể khuây lãng được. Nỗi đau thương ấy gậm nhấm hao mòn anh em suốt quãng đời còn lại. Khi chiến tranh nổ ra giữa cộng sản Việt Nam và người anh em Trung quốc vĩ đại của họ, lần lượt hàng ngàn trại viên từ những trại dọc theo biên giới Hoa Việt đều được di chuyển, phân tán về các trại Trung Ương do công an Bộ Nội Vụ quản lý. Tôi là một trong số 500 tù nhân trong số những thành phần được coi là nguy hiểm, có nợ máu với nhân dân… như tình báo, chiến tranh chính trị, cảnh sát đặc biệt gom lại từ các trại thuộc đoàn 776 áp giải về trại Nam Hà.

Từ đoàn xe Molotova bịt bùng, khởi hành từ Tuyên Quang, bỏ lại sau lưng núi rừng, bỏ lại những tháng ngày rét mướt, đói khát… và những con vắt rằn ri khủng khiếp. Thiếu tá Nguyễn Thanh Hải, SQ /CTCT Cục Công Binh, người anh em đôi con Dì của tôi, mấy năm trước tóc còn xanh, mà nay, mái tóc trở thành xác xơ, bạc trắng như cước… thở dài:

– Thế nào cũng được! Đi đâu thì đi! Miễn là rời khỏi vùng độc hại này! Muỗi hút máu người, vắt hút máu ngưòi, người hút máu người! Trời ơi!

Tiếng kêu than xé ruột. Bây giờ, ở bên kia thế giới, liệu linh hồn anh có còn bị ám ảnh những tháng ngày trong cõi a tỳ của trần thế hay không?

Đoàn xe chở chúng tôi đi ngang Hà Nội. Hà Nội của tôi năm xưa mà nỗi nhớ quặn thắt trong suốt hơn hai mươi năm chia lìa, những lần Sài Gòn chớm lạnh… Hà Nội đó, cột đồng hồ năm xưa còn kia, phố xá vẫn còn đấy, rêu xanh, hoang phế, điêu tàn, già nua và tệ hại hơn ngày tôi rời bỏ Hà Nội năm nào. Những khung cửa sổ không còn cửa kính được bít bùng lại bằng những miếng ván chấp vá, những đôi mắt ngơ ngác, thẩn thờ trên đường phố loang lổ và rác rưởi… Lòng tôi ngậm ngùi, đắng chát như kẻ bỗng dưng gặp lại người tình ngày niên thiếu, tả tơi vàng võ trong nhà chứa; cùng một lúc, nỗi căm hận bùng lên làm tôi nghẹt thở. Thủ đô của nước “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” đã xuất hiện như thế qua khe hở của tấm vải bạt bít bùng…

Mạc Thiên

From: BS Hanh Van Phung

ĐƯỢC VÀ MẤT QUA VỤ ĐỒNG TÂM…

ĐƯỢC VÀ MẤT QUA VỤ ĐỒNG TÂM…

Qua vụ Đồng Tâm, cái được duy nhất của chính quyền là nuốt trọn được 59 ha đất ở Đồng Sênh, mảnh đất mà nói như nhà văn Tạ Duy Anh (lão Tạ) là mảnh đất “chó ăn đá, gà ăn sỏi, nếu tính theo giá đền bù thì chưa chắc đã bằng cái số lẻ mà ông nghị Phạm Phú Quốc đã bỏ ra để mua chui một suất quốc tịch đảo Sip”.

Để chiếm được mảnh đất ấy, người ta đã phải sử dụng rất nhiều mưu hèn kế bẩn.

Thứ nhất là điều tới 3.000 quân “đặc biệt tinh nhuệ” trang bị đến tận răng về làng Hoành xã Đồng Tâm, nơi không có bất cứ một người dân nào bị khởi tố vì bất cứ một hành vi trái pháp luật nào, nghĩa là một ngôi làng hoàn toàn lương thiện, một cách trái pháp luật vào ban đêm, chỉ để giết, để phanh bụng một cụ già hơn Tổng bí thư-Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tới 8 tuổi đời và 6 tuổi đảng, phải ngồi xe lăn do chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung tặng, vì năm 2017 đã bị “các đồng chí” của mình ở công an Hà Nội đạp gẫy chân, và bắt đi 29 người dân vô tội.

Thứ hai, là cấm tiệt báo chí và các nhân sỹ, các tổ chức đến làng Hoành để thực hiện những cuộc điều tra độc lập, cấm cả việc quay phim về đám tang cụ Lê Đình Kình.

Thứi ba, vu cho cụ Lê Đình Kình là khủng bố để phong tỏa tài khoản tiếp nhận tiền phúng viếng của người dân cả nước gửi về phúng viếng cụ.

Thứ tư, là huy động cả một đội ngũ báo chí vô cùng đông đảo nhẩy vào đấu tố, kết tội cụ Lê Đình Kình và 29 người dân vô tội bị bắt ở làng Hoành ngày 9/1/2020 trước khi tòa án kết tội họ, nào là sắm sửa vũ khí thô sơ, mua lựu đạn, mua xăng, nào lên mạng tuyên bố sẽ giết từ 300 đến 500 công an nếu công an kéo vào, thậm chí thiếu tướng Tô Ân Xô, chánh văn phòng, người phát ngôn của bộ công an còn trắng trợn vu cho cụ Lê Đình Kình là “một loại cường hào địa chủ mới”… nhưng càng đấu tố, càng chứng tỏ lực lượng công an Hà Nội vừa quan liêu vừa ngu. Đã biết họ có những hành vi đó, sao không khởi tố đi? đến 20 giờ ngày 8/1/2020, không ai ở làng Hoành bị khởi tố, nghĩa là không ai có những hành vi đó. Vậy tại sao lại giết người, phanh thây người, bắt người?

Thứ năm, là tìm mọi cách gây khó khăn cho các luật sư bảo vệ 29 người dân làng Hoành tại phiên tòa sơ thẩm, xử án một cách cuống quýt, vội vội vàng vàng, không thèm chú ý đến bất cứ một bằng chứng nào, đè ra tuyên 2 con trai của cụ Lê Đình Kình án tử hình, quyết tâm lặp lại vụ án Lệ Chi Viên năm 1442 giết cả nhà khai quốc công thần Nguyễn Trãi, một lần nữa, ngay trong thời đại 4.0 này…

Và còn rất nhiều mưu hèn kế bẩn khác nữa.

Bấy nhiêu mưu hèn kế bẩn chỉ để đổi lấy 59 ha đất ở đồng Sênh, mà là lấy đất ấy cho tập đoàn viễn thông quân đội chứ có phải để xây sân bay hay công trình nào để phục vụ cho việc phòng thủ đất nước đâu?

CÒN CÁI MẤT?

Cái mất lớn nhất, và cũng là thứ nhất, là mất tính chính danh. Cho đến nay, không có bất cứ một lãnh đạo nào từ lớn đến nhỏ đưa ra được một căn cứ nào để biện minh cho việc phải điều 3.000 quân với đầy đủ súng ống và các phương tiện quân sự tối tân nhất đến một ngôi làng không có ai bị khởi tố vì bất cứ một hành vi trái pháp luật nào vào ban đêm rồi giết người, phanh thây người, bắt người. Nói là để bảo vệ cho quân đội xây tường rào bảo vệ sân bay Miếu Môn ư? tường rào đã xây xong trước ngày 30/12/2019 cả tuần rồi. Nói là để bảo vệ an ninh ở Đồng Tâm ư? Đồng Tâm có mất an ninh trật tự đâu mà bảo vệ? Cả làng Hoành đang sống bình yên, không có bất cứ ai vi phạm pháp luật, vì tin vào lời hứa của ủy viên TW đảng, chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung: không truy cứu TNHS người dân làng Hoành sau vụ bắt giữ 38 chiến sỹ công an và cán bộ năm 2017. Vả lại, bảo vệ an ninh sao lại tập kích vào làng, giết người, bắt người?

Cái mất thứ hai, là phơi bày ra trước bàn dân thiên hạ cái vụng dại, cái yếu của một đội quân lâu nay vẫn tự hào là thiện chiến, là giỏi nhất thế giới. 3 chú lần lượt ngã xuống một cái hố bé tý, mà người ngã trước không biết cảnh báo cho người sau. Lọt xuống hố rồi, dù cái giếng trời đó đã được trổ cửa sổ bằng kính ở độ cao 2 mét, mà không biết đập vỡ cửa kính để chui ra, lại cứ như những con cừu đứng yên đó để cho người dân đổ xăng ra chậu mà hắt xuống, không chỉ một lần mà nhiều lần (theo cáo trạng của VKS). Cả một đội quân “còn đảng còn mình” 3000 người dầy đặc xung quanh, sao lại khoanh tay đứng yên, không biết nổ súng tiêu diệt kẻ đổ xăng để cứu đồng đội ? tình đồng đội đi đâu mất rồi?

Cái mất thứ ba, là làm sụp đổ hoàn toàn uy tín của ngành tư pháp. Ngành tư pháp xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng, mấy năm nay đã lao đao vì những Nguyễn Thanh Chấn, Huỳnh Văn Nén, Hàn Đức Long, Hồ Duy Hải…thì nay, vụ án Đồng Tâm như một nhát búa cuối cùng, nhát búa chí mạng giáng thẳng vào nó một cách không thương tiếc, khiến nó sụp đổ tan tành. Sau vụ án này, liệu còn ai tin rằng nền tư pháp đó là công minh, khách quan?

Cái mất thứ tư, là đã dựng tượng trong lòng nhân dân cho cụ Lê Đình Kình. Cứ nhìn những người dân làng Hoành được tha về sau khi nghe TAND thành phố Hà Nội tuyên án ngày 14/9/2020 thì biết. Sau hơn 8 tháng bị giam cầm, bị bức cung, bị nhục hình và trăm ngàn thứ cay đắng khác. Nhưng được tha, họ chưa về nhà mà hãy chạy ra viếng mộ cụ Lê Đình Kình trước đã. Có hàng trăm người ra cùng với họ. Tại đó, tiếng khóc vang trời. Từ ngày 9/1/2020 đến nay, hình dáng của cụ Lê Đình Kình đã tạc sừng sững vào lịch sử. Lê Đình Kình đã trở thành “muôn năm” trong lòng người dân một cách tự nguyện chứ không phải thứ “muôn năm” treo nhan nhản khắp nơi, kể cả đầu đường xó chợ.

Và cái mất thứ năm, là phơi bày ra trước công luận một vụ án dựng tội, đổ tội, với mục đích duy nhất là giết người. Thật đáng tự hào khi trên thế giới, chỉ duy nhất có nước ta là nước ban đêm vào tận giường ngủ nhà dân giết người mà không cần khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Xin lưu ý, điều 40 của BLHS năm 2015 đã quy định: không thi hành án tử hình đối với người từ đủ 75 tuổi trở lên. Cụ Lê Đình Kình đã 84 tuổi.

VŨ HỮU SỰ

Image may contain: 1 person, text

Nếu Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) là thiên đường thì sao khi du học con lãnh đạo không chọn là Trung Quốc hay Bắc Triều Tiên?

Minh Phuong Nguyen  and Hai Tran  shared a post.

Mộc Miên

Tôi sinh ra giữa lòng cộng sản. Tôi lớn lên giữa khô cằn sỏi đá Miền Trung. Quê tôi nằm bên trong Vĩ Tuyến nhưng là cái nôi của cách mạng ngày xưa. Tôi không biết Mỹ, Nguỵ là gì? Cũng không biết Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) là gì? Cũng chưa bao giờ biết sự phồn hoa của Đô Thành Sài Gòn một thời mà ông Lý Quang Diệu hằng mơ ước.

Tôi không học nhiều nhưng thời học sinh của tôi là cháu ngoan Bác Hồ là đoàn viên ưu tú dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN). Ngày xưa tập thơ gối đầu của tôi là “Theo Chân Bác”. Tôi vẫn cứ yêu đảng yêu bác cho đến chết nếu facebook không du nhập vào Việt Nam. Tôi đã được mở rộng tầm mắt, rồi từ đó tôi biết những gì tôi học, những gì tôi bị nhét vào đầu là dối trá, dối trá một cách trơ trẽn.

Chỉ cần đặt một vài câu hỏi nhỏ thôi ví dụ như là: Nếu Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) là thiên đường thì sao khi du học con lãnh đạo không chọn là Trung Quốc hay Bắc Triều Tiên?

Tại sao con cháu của những vị tướng lừng danh như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Quốc Thước lại chọn Pháp, Mỹ để sống mà không phải là Việt Nam?

Tại sao Nguyễn Công Khế, Hồ Thị Thu Hồng một thời chửi Mỹ hay hơn hát rồi cuối cùng lại chọn Mỹ định cư?

Nhiều lắm, nhưng tại sao lắm không thể nào kể hết trong một Stt được. Câu cuối cùng tôi muốn hỏi hơn 90 triệu dân Việt Nam ai đã từng được cầm lá phiếu bầu lãnh đạo thể hiện quyền của một con người chưa?

Tôi lưu lạc khắp nơi để chỉ nói lên những điều mình thấy, viết những điều mình biết. Tôi đủ lớn và cũng đủ già để chịu trách nhiệm với những gì mình viết và nói ra không liên quan gì tới những người thân của tôi cả. Vì thế đừng chơi trò đe doạ và méc phụ huynh. Đời người một lần sống và một lần chết bình tĩnh “Đối Mặt” thôi ! (St)

#HoàngThịThuýMiên

Image may contain: 1 person, selfie, closeup and indoor

Kẻ hưởng lợi trên vụ án Đồng Tâm

Kẻ hưởng lợi trên vụ án Đồng Tâm

18:36 | Posted by BVN1

Lưu Trọng Văn

Bình tĩnh soi và xét trên cái nền các dự báo và thông tin tổng thể thì vụ án Đồng Tâm nói cho cùng kẻ hưởng lợi nhất là ai?

Trước hết phải tổng kết vụ Đồng Tâm tạo nên những gì cho Đất nước đã?

  1. Lòng Dân bất an.
  2. Niềm tin vào pháp luật và công lý giảm sút tới đáy.
  3. Nhân Dân và đảng, chính quyền mâu thuẫn cực độ trong lúc trước nguy cơ ở Biển Đông lẽ ra phải đoàn kết hơn bao giờ hết.
  4. Hình ảnh Đất nước bị bôi đen với thế giới dân chủ, văn minh, trong lúc hơn bao giờ hết VN cần niềm tin và vòng tay của bè bạn tử tế.
  5. Lực lượng an ninh khủng hoảng, suy yếu vì mất niềm tin của Dân.
  6. Các kết quả chống tham nhũng bị lu mờ.
  7. Một loạt thành tựu trong đó có chống dịch covid bị lu mờ.
  8. Uy tín của những lãnh đạo cương quyết chống tham nhũng và có đường lối độc lập thoát Trung bị sa sút nghiêm trọng vì sập bẫy Chính trị Đồng Tâm.

Có nghĩa là Đất nước bị suy yếu nghiêm trọng bởi vụ án này mà di hại của nó còn kéo dài tàn phá sức mạnh của Đất nước.

Kẻ nào hưởng lợi nhất trước những thảm hại trên?

Ngoài lũ cướp đất của Dân không ai khác chính là bè lũ lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc.

Tại Bắc Kinh ngoạ sơn quan hổ đấu: anh em Việt một nhà chém giết nhau, chửi bới nhau, lúc này chúng mở rượu Mao đài mừng vui.

Cộng sản Trung Quốc mừng vui vì VN suy yếu, nội bộ chia rẽ thì sẽ càng phụ thuộc vào chúng.

Cộng sản Trung Quốc mừng vui vì những nhóm lợi ích thân chúng, chịu ảnh hưởng của chúng đang tập hợp lực lượng để tạo sức mạnh chi phối chính trường VN và tách rời Mỹ – kẻ thù của chúng.

Sẽ là ngây thơ chính trị nếu không đặt câu hỏi tình báo Hoa Nam mà tướng Trương Giang Long từng vạch mặt cùng các con bài của chúng đã nhúng bàn tay quỷ tác động vụ án Đồng Tâm này đến đâu nếu chỉ xét trên bình diện thua, thắng trên.

L.T.V.

Tác giả gửi BVN

André Menras: ‘Vụ Đồng Tâm – Đảng CSVN từ mị dân đến coi dân là kẻ thù’

Hoang Le Thanh  is with  Menras André

André Menras: ‘Vụ Đồng Tâm – Đảng CSVN từ mị dân đến coi dân là kẻ thù’

Mỹ Hằng

BBC News Tiếng Việt

14 tháng 9 2020, 11:25 +07

Ảnh 2:

Nhà làm phim người Pháp André Menras từng về Đồng Tâm trực tiếp dự cuộc họp bàn giữ đất của người dân. Ảnh:

Menras André

Chụp lại hình ảnh,

Nhà làm phim người Pháp André Menras từng về Đồng Tâm trực tiếp dự cuộc họp bàn giữ đất của người dân

Nhà làm phim người Pháp André Menras từng về Đồng Tâm trực tiếp dự cuộc họp bàn giữ đất của người dân – chỉ ít lâu trước khi ông Lê Đình Kình bị bắn chết – và ‘ngạc nhiên’ vì thấy họ ‘một lòng tin Đảng’. Khi thảm kịch xảy ra, ông cho rằng đảng CSVN đang chuyển dần từ giai đoạn mị dân tới tự cô lập mình.

André Menras, tên tiếng Việt là Hồ Cương Quyết, mang hai quốc tịch Pháp – Việt. Ông được biết đến với các hoạt động xuống đường trong Chiến tranh Việt Nam và mới đây qua các phim tài liệu như “Hoàng Sa – Việt Nam: nỗi đau mất mát” và “Việt Nam: Tiếng gào thét từ bên trong”.

– Vụ án Đồng Tâm: Nhà nước VN sẽ lại thắng người dân?

– Mạng xã hội giúp dân Đồng Tâm hay giúp chính quyền nhiều hơn?

– Vụ án Đồng Tâm gây tâm lý ‘sợ hãi, bất lực’ trong giới trẻ Việt Nam

Trước ngày tuyên án 29 người Đồng Tâm, ông André Menras có cuộc trao đổi với BBC News Tiếng Việt:

‘Một thảm kịch được báo trước’

André Menras: Là người đã theo dõi vụ xung đột ngay từ ngày đầu cho đến trận võ trang tấn công lần thứ nhì, dẫn tới cuộc tàn sát cụ Lê Đình Kình, các vụ bắt bớ tàn bạo, chính sách khủng bố, vu khống, sách nhiễu nông dân Đồng Tâm, tôi không còn một chút hi vọng nào vào một vụ xử án công bằng.

Các bị can đã bị bắt giữ một cách phi pháp. Vụ án rõ ràng sẽ diễn ra theo kiểu các vụ án thời Stalin. Ám muội và tàn độc hơn cả vụ xử Hồ Duy Hải. Đồng Tâm sẽ là hình ảnh tiêu biểu cho một chế độ cùng đường, coi nhân dân là kẻ thù.

Tôi được gặp cụ Kình và bà con Đồng Tâm tại nhà cụ, vào ngày 8/3/2019. Cảm tưởng của tôi là như được gặp những lão nông dân miền Nam nước Pháp, một vùng đất quen thuộc của tôi. Đôi mắt nhìn thẳng, bàn tay chai sần, da mặt sạm nắng, nói cười bộc trực thẳng thắn. Những người đàn ông đàn bà lương thiện, sống bằng bàn tay và mồ hôi của mình. Họ nhận thức sâu sắc là họ có quyền làm chủ mảnh đất đã nuôi dưỡng họ.

Họ thuộc từng tấc đất, và biết đoàn kết gắn bó nhau để bảo vệ từng tấc đất. Họ là những con người dũng cảm và tự hào: không thể đập phá cửa nhà họ mà xông vào được đâu.

Cuộc đấu tranh của họ hoàn toàn hợp pháp, luôn luôn dựa vào pháp luật và Hiến pháp.

Đồng Tâm sẽ là hình ảnh tiêu biểu cho một chế độ cùng đường, coi nhân dân là kẻ thù.BBC

Đồng Tâm sẽ là hình ảnh tiêu biểu cho một chế độ cùng đường, coi nhân dân là kẻ thù.

Ảnh 1:

André Menras, Pháp

BBC: Được biết ông đã tích cực kêu gọi sự can thiệp từ giới chính trị gia trước khi vụ Đồng Tâm nổ ra?

André Menras: Phải nói là đi thăm Đồng Tâm rồi trở về Pháp, tôi linh cảm tấn thảm kịch có thể ập tới, tôi đã gửi một lá thư cảnh báo cho đại sứ Việt Nam tại Pháp.

Tôi đã khẩn thiết và cương quyết yêu cầu ông khuyến cáo lãnh đạo cấp cao của đảng CSVN, hãy dùng những biện pháp hoà bình và hợp pháp để tháo gỡ cuộc bùng nổ có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Tôi thật là ngây thơ. Thư gửi đi, không có một hồi âm nào.

– Vụ Đồng Tâm: ‘Đảng CSVN cần xét lại chiến lược truyền thông của nhà nước’

– Đồng Tâm: Luật sư các vụ án ‘nhạy cảm’ phải đối mặt với nguy hiểm?

– Đồng Tâm: ‘Vụ án để lại nỗi đau cho dân tộc Việt Nam’

Cuộc phỏng vấn của tôi với cụ Lê Đình Kình và dân làng Đồng Tâm nay thành những tư liệu lịch sử. Trong bối cảnh mà những vụ chiếm đoạt đất đai trở thành môn thể thao thời thượng của đám cán bộ tham nhũng và bọn đầu cơ côn đồ, thảm kịch Đồng Tâm và những hệ quả xã hội sâu sắc của nó sẽ đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong lịch sử những cuộc đấu tranh nông dân nhằm gìn giữ đất đai do cha ông để lại.

Sẽ có nhiều Đồng Tâm khác, bởi vì bạo lực mà chế độ độc tài thối nát này gây ra, đương nhiên sẽ vấp phải sự kháng cự bạo liệt tương xứng. Đánh vào nông dân, đánh vào cái gì quý báu nhất của người nông dân, chế độ này đang cưa gãy cái cành mà nó đang ngồi trên đó. Chính thể này chỉ có thể chọn một trong hai con đường : hoặc là nó tự chuyển đổi thành một Nhà nước pháp quyền thực thụ, hoặc là nó tự tiêu diệt.

Nếu tôi là một nông dân Đồng Tâm, thì hôm nay, chắc chắn là tôi sẽ đang đứng trước vành móng ngựa, để lên án các thẩm phán ngồi trước mặt.

Thế nhưng, tôi khá ngạc nhiên nhận thấy họ hoàn toàn tin tưởng ở đảng CSVN, vào những người lãnh đạo cấp cao đã phản bội họ và sẽ giầy xéo lên họ.

‘Dân Đồng Tâm hoàn toàn tin vào Đảng’

Ảnh 3:

Ông Andre Menras nói ông trong cuộc họp đất đai của dân Đồng Tâm mà ông được tham dự, người dân một lòng tin Đảng

NGUỒN HÌNH ẢNH, ANDRE MENRAS

Chụp lại hình ảnh,

BBC: Dựa vào đâu ông nhận định rằng dân Đồng Tâm hoàn toàn tin đảng CSVN?

André Menras: Trong cuộc gặp dân làng Đồng Tâm và cụ Lê Đình Kình, sự tin tưởng của họ vào Đảng sau khi đã bị tấn công dã man và lừa đảo năm 2017, làm tôi bị sốc.

Tôi sốc là do chính là cách ứng xử của họ đối với tôi, tôn trọng và thân thiết, coi tôi là đồng chí, đồng bào, “phấn khởi” thấy tôi mang họ Hồ của Bác, như lời cụ Kình.

Điều này giải thích tại sao họ muốn tâm sự, kể lại mọi tình tiết. Họ không coi tôi là một phóng viên nước ngoài tạt qua làng, mà coi tôi như là một đảng viên.

Trong suốt mấy tiếng đồng hồ, họ không có một lời nào chống Đảng. Họ luôn luôn tự xác định là những người cộng sản, góp phần vào “công tác chống tham nhũng” của Đảng.

– Ông Nguyễn Đức Chung là ‘mắt xích quan trọng’ trong vụ Đồng Tâm?

– Đồng Tâm: Luật sư của 3 công an ‘biến tòa thành nhà tang lễ’?

– Vang tiếng Thủ Thiêm, Đồng Tâm trong phim ‘VN: Tiếng gào thét từ bên trong’

Ngày tôi ra phi trường Nội Bài rời Hà Nội, người ta đã réo tên tôi bằng loa gọi tôi đến “làm việc” với ba nhân viên an ninh về chuyến thăm Đồng Tâm. Họ muốn thuyết phục tôi rằng năm 2017 nhân dân Đồng Tâm đã dùng bạo lực, trong khi chính họ – chính quyền – bị tấn công.

Trong cuộc nói chuyện rất lịch sự ấy, một trong ba an ninh nói với tôi là nếu tôi làm điều gì tổn hại thanh danh của Đảng thì tôi sẽ phải gánh chịu các hậu quả. Qua đó, tôi hiểu là ĐCSVN đứng ở phía nào, hiểu họ coi vụ Đồng Tâm quan trọng như thế nào.

‘Chính sách mị dân’

Ảnh 4:

Ông Lê Đình Kình, người bị bắn chết trong vụ công an đổ quân vào thôn Hoành tháng 1/2020, đã có 58 năm tuổi Đảng

NGUỒN HÌNH ẢNH, BBVC

Chụp lại hình ảnh,

BBC:Dựa vào những gì ông biết về chính trị, xã hội và con người Việt Nam sau hàng chục năm gắn bó, ông có thể lý giải vì sao họ vẫn giữ niềm tin đó?

André Menras: Đó là nhờ chính sách mị dân của đảng CSVN đã thành công. Theo ý tôi, vì mấy lý do.

Trước tiên, đối với những thế hệ cao niên, uy tín của đảng CSVN trong quá khứ rất lớn. Vai trò của đảng CSVN là đoàn kết, hy sinh chống thực dân và trong kháng chiến chống Mỹ rất quan trọng.

Thứ hai, rõ ràng từ sau chiến tranh, Việt Nam đã phát triển, và nhờ đó đảng CSVN đã giữ được ánh hào quang mặc dù cán bộ đã bòn rút biết bao của cải từ sự phát triển.

Thứ ba, liên quan tới thế hệ trẻ: Chính sách giáo dục chính trị hoá từ lớp mẫu giáo. Những mảng lớn của lịch sử đã bị “bỏ quên” hay bóp méo. Chính sách nhồi sọ đi đôi với tình trạng bàng quan đối với đời sống chính trị xã hội, mỗi người lo phận mình, lãnh cảm, ích kỷ trước chuyện chung.

Thứ tư, sự khống chế toàn diện của Ban Tuyên giáo trong lãnh vực thông tin. Điều này, những lãnh đạo cao nhất không hề giấu giếm. Truyền thông phải phục vụ và bảo vệ đường lối của đảng CSVN. 700 tờ báo, mấy kênh truyền hình VTV, nhưng chỉ có một tiếng nói: Tiếng nói của Bộ Chính trị. Đó là không nói tới tâm trạng lo sợ bị trừng phạt tức khắc và nghiêm khắc đối với bất cứ ai đi chệch hướng.

Thêm vào đó, truyền thống văn hoá Việt Nam vốn ngại ngùng trong việc đặt lại vấn đề đối với tôn ti trật tự có sẵn.

Đó là những nguyên nhân có thể giải thích tại sao chính sách mị dân của một chính đảng độc tài, bạo nghiệt và thối nát vẫn thành công cho đến bây giờ.

Giai đoạn đảng CSVN tự cô lập mình

Ảnh 5:

Luật sư Ngô Anh Tuấn (trước) và luật sư Đặng Đình Mạnh thu thập bằng chứng tại giếng trời, được cho là nơi ba công an rơi xuống, tại nhà ông Lê Đình Kình, Đồng Tâm, Hà Nội

NGUỒN HÌNH ẢNH, LS LE HOA

Chụp lại hình ảnh,

BBC: Vụ Đồng Tâm gây chấn động dư luận này sẽ ảnh hưởng tới mức độ nào vào niềm tin đó và tới vị thế của đảng CSVN?

André Menras: Có một điều có thể khẳng định được: Đồng Tâm đánh dấu một giai đoạn mới trong quá trình tự cô lập của đảng Cộng sản đối với nhân dân, đặc biệt là thành phần nông dân.

Đảng cầm quyền đã tuyên chiến với toàn bộ một xã, đã sử dụng vũ lực để chiếm đoạt đất đai của những người nông dân mà số đông là đảng viên. Nó đã hành động như một tên thực dân tàn bạo.

Nó đã vượt khỏi lằn ranh đỏ, qua khỏi đó thì không còn gì là lòng tin và trọng thị.

Nó đã gây đổ máu, làm ô uế thân xác các nạn nhân, nhục mạ thanh danh họ. Nó đã dấy lên sự căm thù của người nông dân, và còn hơn thế nữa. Nó đã tạo ra và biện minh cho những căm hận mới.

BBC: Con đường tiến tới xã hội pháp quyền của VIệt Nam, từ vụ Đồng Tâm, trong quan điểm của ông, sẽ như thế nào?

André Menras: Đồng Tâm là một thất bại nặng nề trong cuộc chiến tranh mà đảng Cộng sản của Nguyễn Phú Trọng đã tiến hành chống lại nhân dân Việt Nam. Sớm hay muộn, nó sẽ phải trả giá cho những hậu quả.

Bởi vì, như lịch sử ngàn năm của Việt Nam cho thấy rõ, nhân dân Việt Nam có một sức chịu đựng đau khổ và oan ức hiếm có, nhưng họ không phải là những con cừu. Và, theo cung cách của mình, họ không bao giờ ngưng nghỉ kháng cự. Điều đó, những kẻ tiếm quyền hiện nay hiểu rất rõ.

Họ đang ngồi chễm chệ trên nhánh cây của nhân dân mà đa số là nông dân, họ đã thừa hưởng hoa trái của cành cây, và ngày nay họ đang cưa cành cây để bán nốt gỗ. Leo cao thì họ sẽ ngã đau.

Không ai có thể tiên đoán con đường tiến lên nhà nước pháp quyền của người Việt Nam bao giờ sẽ diễn ra và như thế nào. Nồi nước sẽ nổ tung, từ bên trong Đảng hay từ ngoài Đảng, hay cả hai cùng một lúc, nhưng sự bùng nổ là tất yếu, nhất là nếu ông bạn Trung Quốc nhúng tay vào.

Bởi vì không có nền hoà bình nào có thể lâu bền, không một xã hội nào có thể tồn tại mà không có một nhà nước pháp quyền thực sự, mà không có sự tôn trọng tối đa các quyền con người và quyền công dân.

Nguồn: BBC

Lòng dân nói lên tất cả

Lòng dân nói lên tất cả

Cụ Kình bị bọn bằng tuổi con, tuổi cháu cụ gọi là thằng, là cường hào ác bá. Cụ là đảng viên, chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, Bí thư Đảng ủy xã từ khi chúng còn chưa sinh ra… nhưng nhà cụ không bằng cái chuồng xí nhà chúng.

Dù cụ là quan chức cấp thấp nhưng thử hỏi trên đất nước này, có vị quan chức cấp cao nào, dù được truyền thông pr, lại được nhiều người dân yêu mến như yêu mến cụ?

Có công vụ nào được thi hành lúc nửa đêm, tấn công bất ngờ vào nhà dân khi dân đang ngủ, trong khi ngư dân ngoài biển thì lúc nào cũng lo sợ bị Trung Quốc đuổi đánh.

Có bản án nào thuyết phục khi nhân chứng khẳng định cụ bị giết, tay cầm gậy không vững chứ đừng nói tới cầm lựu đạn, và quả lựu đạn cụ cầm đang ở đâu? thằng bán lựu đạn là thằng nào sao không xuất hiện? Đi thi hành kiểu gì mà để đồng đội cháy đen trong khi nơi cháy không đen, thiếu oxy, cần rất nhiều thời gian…

Dù thế nào đi nữa, “toà án nhân dân” không quan trọng bằng toà án lương tâm, tòa án lịch sử.

NGƯỜI ĐỒNG TÂM

NGƯỜI ĐỒNG TÂM

Ngay tối 14/9/2020, rất đông những người dân ở Đồng Tâm đã đón người thân bịt bắt, bị giam, bị tra khảo hơn 8 tháng trở về thôn Hoành, trước tiên là họ ra thắp hương cho ông Kình. Rất đông người khóc thương bên mộ ông.

Cũng như năm 2017, ông nằm trên giường trở về với cái chân gãy, dân Đồng Tâm đón ông trong sự vui mừng và chật kín người.

Ông là cường hào ác bá ư? Người dân chân chất thật thà chắc hẳn không có tình cảm sai bao giờ.

Đạo đức Hồ Chí Minh: Từ Cát Hanh Long tới Lê Đình Kình.

Than Ngoc Pham

Đạo đức Hồ Chí Minh: Từ Cát Hanh Long tới Lê Đình Kình.

Khi nói tới cái chết của ông Lê Đình Kình nhiều người liên tục nhắc tới những đóng góp mà ông Lê Đình Kình đã bỏ ra suốt cuộc đời, hay đúng hơn là 58 năm tuổi đảng. Cái chết của ông dễ làm người ta liên tưởng tới một cái chết khác cách đây gần 70 năm khi cuộc Cải cách ruộng đất bắt đầu thì bà Nguyễn Thị Năm, tức bà Cát Hanh Long là người đầu tiên bị đấu tố và tử hình.

Ông Kình và bà Năm giống nhau ở điểm: Ông Kình bỏ ra gần 60 năm phục vụ cho Đảng, tức bỏ công sức cả đời ra cho tổ chức mà ông theo đuổi. Bà Năm bỏ gần hết cơ nghiệp gia đình ra để ủng hộ Việt Minh, tiền thân của Đảng hiện nay. Với số vàng và tài sản đóng góp kể cả bao che cho những cán bộ Việt Minh sau này giữ những cương vị quan trọng như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh…..bà Nguyễn Thị Năm được xem là có công với cách mạng nhưng cái công đó bị chính ông Hồ Chí Minh khước từ. Ông Kình cũng bị khước từ những đóng góp suốt đời để nhận hậu quả là cái chết giữa đêm khuya.

Ông Hồ Chí Minh của quá khứ và ông Nguyễn Phú Trọng của hiện tại có khác gì nhau? Bởi một điều chắc chắn ông Nguyễn Phú Trọng phải được báo cáo xin chỉ thị trước khi hành quân hạ sát ông Kình, Thế nhưng không có văn bản nào có chữ ký của ông Trọng giống như ông Hồ Chí Minh không bao giờ ký vào bản án bà Nguyễn Thị Năm. Hai cái chết đều không có chữ ký của cấp cao nhất nước nói lên sự phủi tay trước trách nhiệm cần có, vậy thì có đạo đức không?

Lịch sử luôn lập lại nhưng lần này có lẽ là lần sau cùng một chính quyền luôn luôn chiến thắng dân sẽ khó mà ăn ngon ngủ yên như gần 70 năm trước bởi giờ đây người dân đã kịp trang bị cho mình kiến thức thật sự từ mạng lưới toàn cầu, họ không còn dễ dàng cả tin vào những người đầy tớ mà chất phản phúc lúc nào cũng lộ ra trên những chiếc khăn tay chậm nước mắt sau khi giết chủ.

Canhco/RFA

Riley Galang

Câu chuyện Đồng Tâm: Đúng, sai? Có cần thiết phải xử lý như vậy không?

Chính quyền đúng hay người dân đúng trong việc giành chủ quyền vài chục hecta đất ở Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội? Thật sự tôi cũng không tỏ tường. Bởi để rõ ai đúng ai sai phải có một trọng tài phân xử, dựa trên tài liệu, pháp luật thanh minh. Bên đại diện cho nhà nước là công an, quân đội, tư pháp, chánh quyền. Bên đại diện cho người dân Đồng Tâm là các luật sư, họ mới được đọc hồ sơ, am hiểu luật pháp. Hai bên phải tranh luận sòng phẳng để đến được kết luận bên nào đúng, bên nào sai. Ở đây, tiếng nói chỉ được nghe từ phía chính quyền. Còn phía luật sư thì không được tranh luận. Vậy sao hiểu được ai đúng ai sai? Biểu rằng, mấy chục hộ dân ĐT đúng thì e quá cảm tính. Biểu rằng, chính quyền nói chính quyền đúng, phải nghe, thì quá độc tài!…

Thôi thì cứ cho là dân sai, và đặc biệt là cụ ông đảng viên cọng sản trên 80 tuổi, người cầm đầu vụ tranh chấp, là sai. Thì việc bắt cụ, đánh gãy chân là đúng hay sao? Và việc đưa công an súng ống đầy đủ, rạng sáng 09/1/20 đồng loạt tấn công nhà ông Kình, bắn chết ông và vì vậy mà 3 cậu sĩ quan công an “sụp hầm” chết là có cần thiết hay không?

Cứ cho là dân ĐT sai, họ đã lấn chiếm trái phép đất quân sự ở đồng Sênh. Họ đã xây dựng nhà ở trái phép trên đất đó. Thì, việc sai trái này chắc đã diễn ra từ rất lâu rồi. Cụ thể là họ đã mấy đời sinh ra lớn lên từ đây. Mà cái sai đó nếu đã không được chính quyền “hợp thức hoá” thì họ đâu có ăn ở bình yên trên đất đó được đã bấy lâu nay. Vậy cái sai là bởi chính quyền. Chính quyền những năm nào thì cũng là chính quyền của nước CHXHCNVN, cũng do một đảng CS lãnh đạo thôi mà. Vậy đảng cũng có sai chứ đâu mỗi dân sai?…

Và trong hiến pháp “đất đai là sở hữu toàn dân”, thì dân có “vặt” một ít đất xây nhà cày ruộng thì cũng giống như bánh trái trong nhà là để các con, rủi có thằng nào “ăn vụng” vài cái bánh thì hắn cũng lỡ nuốt vào bụng rồi, móc họng, moi bụng ra cũng chẳng để làm gì, sao không phạt con bằng cách khác, như sẽ không cho con ăn thêm chè, thêm trái???

Chính quyền có trong tay 362 ngàn ki lô mét vuông đất ( là tôi được học thuộc lòng từ lớp tiểu học, bây giờ còn bao nhiêu tôi không biết). Nay muốn giao vài trăm hecta đất cho công ty quốc phòng làm nhà máy, thì trấu cha chỗ, cần chi phải đến Đồng Tâm. Và nếu cần thiết phải đến ĐT thì “hẹm” đi vài ngàn mét vuông trong cả trăm hecta thì cũng chả “bỏ bèn” gì, chẳng ảnh hưởng gì đến dây chuyền, công nghệ sản xuất…Có cần thiết phải ngay lập tức lập lại trật tự nghiêm minh bằng cả một lực lượng võ trang an ninh hùng hậu của chính quyền như trong thời chiến???

Sao không khoanh vùng lại, tạm thời để đó. Phần xây thì cứ xây. Phần đất tranh chấp thì chỉ đạo cho chính quyền địa phương. Tuyệt đối không được mua bán, đổi cho. Không cấp phép xây dựng trên đó….Sống trên miếng đất mà biết rằng đang bị “bất hợp pháp”, không mở mang, bán mua được, sở hữu mà như vô sở hữu, thì đến hết đời con ông Kình, họ cũng chán mà dọn đi nơi khác, cần gì phải “đánh úp”, tấn công?…

Rồi bắt bớ, giam cầm 29 người dân, rồi đưa ra toà với những khuôn mặt sứt sẹo, ánh mắt thảng thốt hoảng sợ, những hình hài người dân xiêu vẹo…, phỏng được lợi ích gì. Rồi kết án tử hình! Bao nhiêu quan tham đã ăn không biết bao nhiêu hecta đất, hại không biết bao gia đình, để họ sống mà như chết, tham ô cả ngàn tỷ đồng, đã biết, sao không bắt, không nhốt, không tử hình. Giết hai người con cụ Kình, liệu có đáng cho sự nghiệp dài lâu của một đảng mà ông Hồ hằng mong ước là được sống mãi trong lòng dân???

Tối 15/9, mở ti vi thấy tin toà Đồng Tâm, chừng như cô phát thanh viên cũng chẳng đặng đừng phải thông báo tin trên, khuôn mặt cô cũng thoảng một nét buồn. Và lòng tôi cũng nghe quặn thắt!

Ôi đất đai, nhà cửa. Con giết cha, anh giết em, vợ giết chồng…, quá khổ đau!. Và bây chừ trên thanh thiên bạch nhật. Chính quyền giết thêm hai người nữa cho đủ 3, để trả đúng mối thù 3 người công an đã chết. Buồn thay!…

Quyền lực trong tay. Có biết bao nhiêu cách để xử lý hay hơn. Có cần thiết phải mở màn và kết thúc vụ tranh chấp đất đai Đồng Tâm theo cái cách đã làm này không?

16.9.20

Nguyễn Quang Chơn

 Người dân phản ứng thế nào đối với bản án đối với 29 người dân Đồng Tâm?

 

 

 Người dân phản ứng thế nào đối với bản án đối với 29 người dân Đồng Tâm?

“Tôi bảo cả đảng Cộng sản này nó điếc và nó mù hết rồi! Bởi vì nó điếc và nó mù cho nên là nó chỉ áp đặt ý muốn của nó mà thôi, và như thế đó là một bọn hết sức tàn bạo, vô nhân đạo, phản dân.”

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một nhà bất đồng chính kiến từ Hà Nội phản ứng như thế sau khi biết bản án mà tòa án Hà Nội tuyên.

Chị Nguyễn Thị Duyên, cháu dâu ông Lê Đình Kình bày tỏ suy nghĩ cho biết, chị không quá bất ngờ trước bản án và sẽ tiếp tục gửi đơn tranh đấu cho những người dân Đồng Tâm.

“Thật ra em cũng không bất ngờ lắm vì chuẩn bị tinh thần trước biết chắc chắn rằng họ sẽ giữ nguyên bản án.

Các bước tiếp theo sẽ phải làm dần dần thôi chứ không thể nào thay đổi cục diện hay tâm trí của họ rồi. Chắc chắn họ sẽ ép người dân Đồng Tâm chịu cảnh ngục tù rất là lâu.”

Luật sư Nguyễn Văn Miếng, người bào chữa cho những người dân Đồng Tâm chiều ngày 14-9 nhận xét về các bản án như sau:

“Tôi không biết phải nhận xét như thế nào nhưng mà bây giờ hôm ở tòa tôi cũng đã nói nói rồi, trong vụ án này đã có 4 người chết rồi cần phải điều tra xem xét lại 4 cái chết đó.

Chưa có đủ căn cứ 3 người đó chết là do ông Công, ông Chức và những người khác.

Bây giờ nếu chúng ta thêm hai án tử hình và một án chung thân nữa thì tôi cho rằng đó là một bản án không tiếp tục thuyết phục!”

Nhà hoạt động nhân quyền Nguyễn Trường Sơn viết trên Facebook cá nhân:

“Theo luật sư Luân Lê thì bà Nối bị tăng hình phạt, cụ thể là viện kiểm sát đề nghị mức 4-5 năm tù, nhưng toà xử bà 6 năm tù.

Đây rõ ràng là hành động trả thù đối với những bài phát biểu tuy ngắn nhưng vô cùng chí lý và lay động lòng người của bà Nối trong những ngày diễn ra phiên xử.

Chúng ta đang bị cai trị bởi một chế độ vô nhân tính!”

Bà Bùi Thị Nối, con nuôi của ông Lê Đình Kình trong phiên tòa đã leo lên ghế, chất vấn Hội đồng xét xử, nhắc lại vụ việc hồi tháng 4-2017 và hỏi tại sao không bắt ông Kình một cách đàng hoàng, có luật mà sao không xài luật.

Bạn nghĩ sao?

#RFAVietnamese #DongTam #VuanDongTam #LeDinhKinh #DongTamVillage

 Image may contain: one or more people, text that says 'TTXVN RFA BICAD #Đong Tâm #RFA Người dân phản úng thế nào vê bản án đoi với 29 người Đông Tâm? RFA RFAVietnam rfavietnamese RFAVietnamese DaiAChauTuDo rfa.org/vietnamese'

“Các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá trên nhiều lĩnh vực!”

 “Các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá trên nhiều lĩnh vực!”

Thượng tướng Lê Quý Vương, Thứ trưởng Bộ Công an phát biểu như thế vào sáng 14-9-2020 trong buổi báo cáo của Chính phủ về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật thời gian qua.

“Các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá trên nhiều lĩnh vực.

An ninh nội địa còn tiềm ẩn nhiều nhân tố có thể gây bất ổn; an ninh kinh tế diễn biến phức tạp.

Tình trạng lộ, lọt bí mật nhà nước trên không gian mạng ngày càng nghiêm trọng. Hoạt động nhập cảnh trái phép diễn biến phức tạp.” – Thượng tướng Lê Quý Vương, thứ trưởng Bộ Công an nói và cho biết thêm là tình trạng “chống người thi hành công vụ gia tăng đột biến trong thời gian cao điểm phòng chống dịch COVID-19 và triển khai Nghị định số 100 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt”.

Chính quyền cộng sản Việt Nam hiện nay coi những người dân lên tiếng về dân chủ, nhân quyền và những người bất đồng chính kiến là “thế lực thù địch” và nhiều lần tuyên bố sẽ “đấu tranh không khoan nhượng”.

Bạn nghĩ sao về phát biểu này?

#RFAVietnamese

Image may contain: 1 person, text