LẠI ĐANG CHUẨN BỊ CHO KỊCH BẢN “KHÔNG KHÁNG CÁO” CHĂNG?

Image may contain: one or more people and people standing

LẠI ĐANG CHUẨN BỊ CHO KỊCH BẢN “KHÔNG KHÁNG CÁO” CHĂNG?

(Pham Doan Trang)

Hôm nay là 23/9, còn một tuần nữa là hết thời hạn kháng án cho các bị cáo trong vụ Đồng Tâm.

Cho đến hôm nay, luật sư vẫn chưa nhận được thông tin gì từ 15 bị cáo trong tù, đặc biệt từ hai tử tù Lê Đình Công và Lê Đình Chức.

Điều này là rất đáng lo ngại, bởi vì, căn cứ vào lối hành xử của lực lượng công an, có thể thấy khả năng cao của việc công an o ép, đe dọa để 15 bị cáo không kháng cáo, thậm chí viết thư ra ngoài năn nỉ: “Tôi biết tôi có tội, tôi vô cùng hối hận, tôi không kháng cáo và xin được thi hành án sớm…”.

Xin nhấn mạnh đây là tình huống giả tưởng nhưng không phải là không có khả năng xảy ra. Hãy nghĩ đến việc phần lớn bị cáo, trong lời cuối cùng trước tòa, đều đã phát biểu một kịch bản dập khuôn “xin cảm ơn các thầy cô quản giáo đã giáo dục, dạy dỗ để bị cáo ý thức được tội lỗi của mình”, “bị cáo có lỗi, bị cáo đã nhận ra lỗi”, “xin các luật sư không bào chữa cho bị cáo nữa và không yêu cầu trả hồ sơ lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra”.

Sau khi tòa tuyên án, chiều 14/9, hai ông Lê Đình Công và Lê Đình Chức có ra hiệu cho luật sư bào chữa là họ muốn kháng cáo. Tuy nhiên, cho đến giờ, mọi thông tin từ họ đều bị chặn lại; cánh cửa nhà tù đã đóng chặt.

Rõ ràng, nếu không ai kháng cáo và không có phiên xử phúc thẩm nữa, là điều vô cùng có lợi cho chính quyền công an trị, vì như thế là khép lại được một vụ án đã mang đến cho chúng quá nhiều tai tiếng.

Như Luật Khoa tạp chí đã viết, phán quyết ngày 14/9/2020 của Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội về vụ Đồng Tâm mới là bản án sơ thẩm và chưa có hiệu lực. Việc thi hành án chưa bắt đầu. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị là 15 ngày tính từ ngày kế tiếp (chứ không phải ngày tuyên án), tức là từ ngày 15/9 đến ngày 30/9.

CÁN BỘ LÀM GIÀU

Image may contain: one or more people, outdoor and nature, text that says 'Không chốn dung thân!'
Chau Nguyen Thi   is with 
Vạn Hạnh Huỳnh

CÁN BỘ LÀM GIÀU

Người được giao giữ rừng nhờ rừng bị phá mà giàu

Người được giao chống buôn lậu nhờ buôn lậu phát triển mà giàu

Người được giao thanh tra tham nhũng nhờ bảo kê tham nhũng mà giàu

Người được giao nhiệm vụ không được bỏ sót tội phạm nhờ bỏ sót tội phạm mà giàu

Người được giao xử án cho công minh nhờ không công minh mà giàu

Người được giao nhiệm vụ chọn người tài nhờ chọn người không tài mà giàu

Người được giao chọn người đức nhờ chọn không đức mà giàu

Người được giao giữ tiền cho chặt nhờ giữ không chặt mà giàu

Người được giao việc khen thưởng thành tích xứng đáng nhờ khen không xứng đáng mà giàu

Người được giao coi việc thi cử cho khỏi gian lận nhờ gian lận mà giàu…

Nói tổng quát lại là nếu anh giao cho tôi làm cái việc A thì tôi sẽ làm ngược lại cái việc A đó thì tôi mới có thể giàu. Đúng vậy không ?

Đại loại là hiện nay người Việt nam ta đang làm giàu theo cái cách như vậy đấy !

Tài Thánh cũng chưa hẳn là đã có thể cải tạo được cái trí khôn kỳ quái như trí khôn của người Việt hôm nay !

Khó mơ lắm !

Fb Quỳ Thạch  

Ăn cắp – Văn hóa “Giả Vờ” ở Việt Nam

Ăn cắp – Văn hóa “Giả Vờ” ở Việt Nam

Sống trong một đất nước lúc nào cũng lo sợ bị “Ăn Cắp” và phải cố tập cho mình tính “Giả Vờ”… thật là “Đau Đầu”, “Nhức Óc” !!. Bài viết phiếm luận nầy rất hay vì nói lên đầy đủ những tệ trạng của một xã hội KHÔNG CÒN NHÂN TÍNH CON NGƯỜI.

Tôi không bênh vực những Tiếp viên Hàng không bằng lý do ngô nghê là họ phải đút lót để đựơc có việc làm trong Air VN, nên họ phải buôn lậu chuyển hàng ăn cắp để gỡ vốn chứ ! Mà tôi thực sự thương hại họ, vì ” Quít trồng Giang Nam thì ngọt, trồng Giang Bắc lại chua !”

Ngay khi chào đời, họ đã bị sinh ra trong một bệnh viện “ăn cắp”: Bác sĩ, Y tá “ăn cắp” phong bì của bệnh nhân, “ăn cắp” thuốc tiêm chủng ngừa bằng cách chia phân lượng thuốc tiêm ra nhiều phần, không đủ tiêu chuẩn, “ăn cắp” thủy tinh thể nhân tạo của Mỹ, rồi thay thế bằng sản phẩm Ấn Độ để “ăn cắp” giá tiền sai biệt.

Khi lớn lên, họ lại đi học trong những trường học “ăn cắp”: Giáo sư “ăn cắp” công trình trí tuệ của người khác, học sinh, Sinh viên “ăn cắp” bảng điểm, “ăn cắp” bằng cấp dỏm bằng phong bì.

Khi bắt đầu bước vào xã hội, bước đầu tiên, họ đã bị Lãnh đạo “ăn cắp” tiền đút lót để được có việc làm, nên họ phải tiến vào quỹ đạo ăn cắp, họ ăn cắp dự án, ăn cắp đất của nông dân, họ ăn cắp tiền phạt giao thông, họ ăn cắp sinh mạng của người dân bằng tra tấn, nhục hình …..

Vì vậy , khi tôi nhìn thấy những cô Ca sĩ, Hoa hậu, Người mẫu, vênh váo khoe khoang quần áo, túi xách, giầy dép hàng hiệu, xe “khủng”, nhà “khủng”, tôi thương hại họ quá, họ cũng bị “ăn cắp” trinh tiết, bị “ăn cắp” phẩm giá, anh ạ ! Tôi có con gái, và con gái tôi may mắn, được giáo dục tại trường học phân biệt điều phải, điều trái, được tôn trọng nhân phẩm.

Khi về Việt Nam, nhiều lần, xe người bạn chở tôi đi, bị công an thổi còi, rồi công an vòi vĩnh, xòe tay cầm tiền hối lộ. Tôi rơi nước mắt, họ còn nhỏ tuổi hơn con trai tôi. Con trai tôi có công ăn việc làm, nuôi con cái bằng chính sức lao động của mình, dạy con, làm gương cho con bằng chính nhân cách của mình . Những người công an trẻ đó cũng bị “ăn cắp” lương tâm, phải không anh?. Khi những người công an, đánh người, giết người, họ được bố thí trả công bằng vài bữa ăn nhậu, chút đồng tiền rơi rớt

Khi những phóng viên, bẻ cong ngòi bút, viết xuống những điều trái với lương tâm, sự thật để được bố thí trả công bằng những nấc thang chức vị, những đồng lương tanh tưởi, nhà văn Vũ Hạnh đã gọi đó là “Bút Máu” đấy anh ơi !

Khi những quan tòa, đổi trắng thay đen, cầm cán cân công lý có chứa thủy ngân như trong truyện cổ Việt Nam, họ cũng bị “ăn cắp” nhân tính mất rồi !

Trong xã hội, toàn là “ăn cắp”, vậy thì kẻ cắp là ai? Ai cũng biết, nhưng giả vờ không biết, Vì Văn hóa “giả vờ” là đồng lõa cho xã hội ăn cắp.

Cán bộ lãnh lương 200 đô la một tháng, xây nhà chục triệu đô nhưng giả vờ” đó là công sức lao động tay chân, và trí tuệ, hay quà tặng của cô em “kết nghĩa”? Tôi muốn xin cô em đó cho tôi được làm “con kết nghĩa ” của cô ta quá. Thế mà có những Lãnh đạo, Ủy viên Trung Ương Đảng, Đại biểu Quốc Hội, Ban Nội Chính, Ủy Ban Điều Tra, Quan Tòa “Thiết Diện Vô Tư”, Phóng viên Lề phải, Thành Đoàn, Quân Đội Nhân Dân, Chiến sĩ Công An, Trí thức Yêu Nước, Việt Kiều Yêu Nước sẽ sẵn sàng giả vờ tin vào quà tặng của “cô em kết nghĩa” đó!

Còn có thể trong tương lai, sẽ có nhiều quan chức sẽ nhận được nhà “khủng”, quà tặng của ông anh kết nghĩa, bà chị kết nghĩa, ông bố kết nghĩa, ông cố nội kết nghĩa, khi không tìm ra con người nữa, sẽ tiếp theo con chó kết nghĩa, con trâu kết nghĩa nữa …

Công chúa mặc áo đầm hồng, ưỡn ẹo trên đôi giày cao gót hồng, đi thị sát công trường xây dựng, theo sau là một đoàn Chuyên viên già tuổi tác, thâm niên công vụ, nhưng ai nấy vui vẻ, hớn hở, giả vờ Công chúa là một Chủ tịch tài năng thiên phú, không cần đi học, không cần kinh nghiệm gì cả . Y như tên nhóc Bắc Hàn mặt búng ra sửa Ủn Ỉn, và đoàn tùy tùng Tướng già của thằng con nít đó vậy …

Toàn đảng đều “giả vờ” tin rằng các Hoàng tử, Công chúa đều là thiên tài không đợi tuổi, mặt trẻ ranh mà nhảy lên ngồi trên đầu các nhà cách mạng lão thành, và ai nấy đều “giả vờ” tán tụng khen thơm như múi mít !. Thượng bất chính, hạ tắc loạn:

“Thanh tra, thanh mẹ, thanh gì?
Hễ có phong bì thì Nó “Thank you”!

Tôi buồn lắm, có đôi khi quá tuyệt vọng, tôi tự hỏi, mình có nên quên mình là người Việt Nam như con đà điểu vùi đầu trong cát, như quả chuối ngoài vàng, trong trắng, vì tôi yêu nước Mỹ quá rồi. Nước Mỹ chưa, và có lẽ không bao giờ hoàn hảo, nhưng ở đây, ít nhất không ai có thể “ăn cắp” lương tâm, phẩm giá, và nhân tính của tôi. Tôi được sống như một “CON NGƯỜI” không phải chỉ “giả vờ ” “làm người” đang sống đâu …..

Nhan Chinh

 

From: TU-PHUNG

LỖI TẠI ĐÂU ? VÌ AI ?

Trung ngôn nghịch nhỉ

Lời thật mất lòng

Vì đâu nên nổi

Image may contain: text

LỖI TẠI ĐÂU ? VÌ AI ?

Để thay thế một cơ quan nội tạng, với những người không may mắc bệnh hiểm nghèo, giá có thể lên đến hàng trăm ngàn USD. Nhưng giá để “mua” một bộ óc cực kỳ thông minh, cùng một cơ thể hoàn toàn trẻ khỏe, sung sức, nhiều khi lại chỉ vài chục ngàn USD!

Điều mình nói trên đây có thể gây sốc, có thể có phần “phản cảm”, nhưng mình vẫn viết ra, để thấy sự “khắc nghiệt” có thật của nó.

Bao năm nay rồi, ai cũng hiểu, cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” là một show truyền hình tuyển chọn nhân tài để… đưa ra nước ngoài du học. Hầu hết, hay nói đúng hơn là toàn bộ các bạn đều chọn ở lại nước ngoài, rất hiếm trường hợp về, hay là về rồi cũng đi lại! … Vài chục ngàn USD để “gặt” một bộ não cực kỳ thông minh!

Và không chỉ vậy, họ còn tạo ra một làn sóng cuồng nhiệt. Cuộc thi chung kết, truyền hình quốc gia kết nối nhiều trường, nhiều địa phương. Các thí sinh trở thành niềm tự hào rất lớn của các địa phương ấy. Thậm chí, đã hình thành những “lò luyện thi đường lên đỉnh Olympia”.

Đúng là bọn tư bản “bóc lột”! Chúng “bóc” hết. Và người ta ước ao được để chúng “bóc lột”.

Vì đâu nên nỗi ?

Và… vì ai nên nỗi ?

– Nguyen Danh Lam –

(Nguồn: https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2995156510711200&id=100006506415240)

Chép lại từ FB của anh

Hưng Tam Nguyễn

Án Đồng Tâm đang làm “tươi mới” lịch sử

Án Đồng Tâm đang làm “tươi mới” lịch sử

Ảnh của tuankhanh

tuankhanh

Ngày Hà Nội tuyên án 29 người dân Đồng Tâm cũng là dịp muôn vàn những cảm giác lẫn lộn ập về trong tâm cảm của người Việt Nam.

Đúng, sai, sự dối trá hay độc ác vẫn được bàn bạc không ngớt trên các trang mạng, nhưng quan trọng nhất, nhiều điều bỗng chợt sống lại trong trí nhớ của những người già, lời bàn khiến những người trẻ tò mò giở lại trang sách cũ… Lịch sử đây đó, đã ghi rõ, rành rành. Mọi thứ đột nhiên tươi mới hơn bao giờ hết từ nỗi đau của người dân Đồng Tâm. Tươi mới về cái ác có thật, và cả một chiều dài kiên định của nó.

Gương mặt ngơ ngác của những người nông dân Đồng Tâm ngồi trước phiên tòa được truyền thông nhà nước độc quyền loan đi, cho thấy như khi nhận án tử hình hay chung thân, có người cũng đã không hiểu nổi vì sao họ trở thành kẻ sai phạm. Đất đai đã sống cùng với họ, mồ hôi nước mắt đã cùng cha mẹ, anh em của họ. Rồi một ngày, những người lạ mặt cầm súng đến tuyên bố rằng phải giao nộp đất. Mọi thứ được giải thích lằng nhằng về luật của kẻ mạnh, nhưng toàn cảnh, nó là miền viễn tây Hoa Kỳ thời cướp đất tìm vàng, là bọn thực dân Bồ Đào Nha cầm súng tiến vào đô hộ châu Mỹ, là người Pháp tiến vào chiếm tài nguyên ở châu Phi, và cũng chính là Việt Nam với đồng Nọc Nạn, Bạc Liêu mà căm hờn và nước mắt đã ghi đủ.

Nhưng ở Đồng Tâm, cái ác là một đỉnh điểm, khi sự lật lọng, dối trá, vu cáo và áp bức đã chói lòa trong triều đại của kẻ cầm quyền. Rất nhiều người Việt Nam đã nghĩ rằng cái ác là ngẫu nhiên, là một sai lầm được nhận thức đủ bằng chiếc khăn tay và nước mắt của người đứng đầu Đảng Cộng sản tại Việt Nam sau đợt cải cách ruộng đất kinh hoàng 1953-1956. Ông Hồ Chí Minh đã khóc và xin lỗi những người còn sống. Nhưng sự thật thì những gì thuộc về người đã chết không bao giờ được trả lại, và những người còn sống cũng không bao giờ tìm thấy công bằng. Bà Nguyễn Thị Năm sẽ không bao giờ được làm một ngôi mộ xứng tầm lịch sử cho người dân đến viếng, vì sợ sự nhơ nhuốc của chính quyền còn giữ lại trong tiếng thì thầm. Nhà thơ Hữu Loan muốn sống yên với người vợ, là con một “địa chủ” thoát chết, đã phải lên núi ẩn cư, nhưng mỗi viên đá ông xây nhà đều có ánh mắt dõi theo của nhân viên mật vụ.

Đất đai là thứ trong lịch sử người Cộng sản dễ dàng bôi mặt giết nhau nói riêng, giết cả đồng bào nói chung. Tài liệu mật của ông Chu Đình Xương, Giám đốc Sở Công an Bắc Bộ ghi lại vào tháng 2/1983, cho thấy vì để cướp đất trong cuộc đại Cải cách miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hàng ngàn cán bộ trung thành và sắt máu nhất đã được tập trung bí mật huấn luyện là phải thẳng tay, thậm chí với đồng chí của mình. Trong hồ sơ huấn luyện, Trung Ương còn hà hơi tiếp sức bằng khẳng định “Tất cả những chi bộ ở nông thôn đều là chi bộ của địch”. Trong số hơn 170.000 bị kết tội của cuộc Cải cách ruộng đất, thì có không ít các đảng viên, và đồng chí cũng đã bị xử bắn, hay tự sát… Ghê sợ nhất, là bất chấp thực tế, tất cả các thôn làng đều phải tìm ra cho đủ 5% số địa chủ theo chỉ tiêu từ Trung Ương giao.

Tài liệu của ông Nguyễn Tạo, Vụ trưởng Vụ chấp pháp của Bộ Công an, ghi rằng trải qua cuộc Cải cách, có đến ba vạn đảng viên bị bắn bỏ, ba vạn đảng viên bị đẩy đến chỗ phải tự sát, cuộc cải cách hà khắc đã khiến từ ba đến bốn vạn người dân chết đói…

Cán bộ đảng viên Xô viết Nghệ Tĩnh hình thành theo lời kêu gọi của ông Hồ Chí Minh bị tàn sát gần hết, do bị kết tội là do bọn phản động ngụy tạo nên. Ở Hà Tĩnh, vì chậm cải cách nên có đến 200 trong số 210 bí thư chi bộ của Hà Tĩnh bị bắn; chỉ có 10 người may mắn sống sót là nhờ họ ở vùng núi nên thoát được.

Vậy thì một ông Lê Đình Kình, dù có hơn 50 tuổi đảng, có là gì so với lịch sử ghi lại? Hai người con của ông Lê Đình Kình, cũng có sá gì với kế hoạch tuyệt mật 419A?

Bút mực ghi không xuể.

Máu đã đổ từ đó, đất nước điêu linh từ đó, trải dài từ chiến dịch Xét lại chống đảng, Nhân văn giai phẩm… cho đến năm 1975, từ việc dựng các trại cải tạo, đánh tư sản X1, X2, X3… rồi đến hôm nay: án Đồng Tâm lại một lần nữa, nhắc lại rằng cái ác như truyền đời, vẫn đeo đuổi người Việt với một lời nguyền.

Nhưng cái ác mà chúng ta thấy hôm nay, đã được làm mới, đã hoàn thiện hơn, khi có cả những phiên tòa với chương hồi sử dụng cả nghệ thuật điện ảnh và văn học để trình diễn, có cả những diễn viên ưu tú được tính trước tinh vi cho nỗi buồn và cho những điều không cần thiết.

Cái ác hôm qua, có thể được thực hiện với những kẻ đi chân không, không đủ cả học vấn tiểu học. Cái ác ấy chỉ có thể đơn giản mang theo chiếc khăn tay bên mình, vào giờ phút ngừng giết chóc. Nhưng cái ác hôm nay thì mặc những bộ đồ vest đẹp, mang những đôi giày da đắt tiền, thậm chí thắt lưng có thể lên đến cả ngàn đô la.

Cái ác hôm nay có thể dùng tiền thuế của những người nông dân, để bắn chết người chỉ muốn giữ vẹn những cánh đồng.


* Ông Chu Đình Xương (đeo kính, đứng sau lưng ông Hồ Chí Minh), nguyên là Giám đốc Sở Công an Bắc Bộ, người phụ trách bảo vệ riêng cho ông Hồ Chí Minh. Vốn là một người phản ứng dữ dội với đường lối cách mạng man rợ của Mao Trạch Đông, ông đã gửi thư cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam vào tháng 2 năm 1983 để trình bày về sự nguy hiểm của chủ nghĩa cộng sản Mao Trạch Đông tại Việt Nam. Ông Chu Đình Xương là thân phụ của giáo sư Chu Hảo.

* Tư liệu lịch sử, do giáo sư Ngô Vĩnh Long (Hoa Kỳ) cung cấp.

Chỉ thị Z30 và những điều ko thể tin nổi

Đặng Tuấn Trung

Chỉ thị Z30 và những điều ko thể tin nổi

Image may contain: text that says 'Chi thị Z30'

Những chuyện tui sắp kể đây thì ngay cả các cụ sinh tầm 195x, 196x, 197x có thể đã quên. Còn 198x trở đi thì chắc ko hiểu nổi, nghĩ là tui bịa. Đó là Chỉ thị Z30 !

Chỉ thị Z30 là một chỉ thị miệng, tối mật, có khoảng từ tháng 3 năm 1983 nhằm tịch thu nhà, tài sản của những gia đình có nhà hai tầng trở lên tại Việt Nam !!! Các cụ ko đọc nhầm đâu. Toàn bộ chính quyền các địa phương cả nước đều nhận đc một cú điện thoại (mà cho đến bây giờ ko ai biết là của ai) gọi đến và thông báo như trên. Nghĩa là cứ có nhà từ 2 tầng trở lên là tịch thu, đuổi cả nhà ra lập tức ! Bà con đọc kỹ kẻo lại nghĩ đọc nhầm nhé.

Chỉ thị là mật, không rõ của Ban Bí thư hay của Chính phủ, không có người ký, không có văn bản, không dựa trên bất kỳ một điều khoản pháp luật hiện hành cũng như một chủ trương chính sách của Đảng. Ngay cả cấp bí thư tỉnh uỷ, bộ trưởng bộ công an, Văn phòng Trung ương Đảng và Văn phòng chính phủ cũng không rõ thuộc tính của Chỉ thị, hiệu lực thực thi của Chỉ thị mà chỉ được biết là Hà Nội lúc đó đã làm và các địa phương khác phải làm theo.

Tình hình lúc đó cực kỳ căng thẳng

Hà Nội

Hà Nội dẫn đầu cả nước và đã thực hiện 105 nhà, cơ quan công quyền tịch thu tài sản của người dân mà không cần tòa án và cũng không có bất cứ một bằng chứng nào để có thể khẳng định đó là tài sản bất minh. Tình hình nhân dân bị tịch thu tài sản rất xấu. Có một gia đình bị tịch thu, cả nhà đội khăn tang, bị đẩy lên xe, khóc sướt mướt (thời điểm này Lê Văn Lương làm bí thư và Trần Vĩ là chủ tịch Hà nội)

Hà Nam Ninh

Là tỉnh cũ sau này tách ra thành Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình do Nguyễn Văn An (nguyên chủ tịch Quốc hội sau này) làm bí thư đã đốt danh sách (khoảng 100 quyết định) do công an tỉnh lập để tiến hành tịch thu, đã được đóng dấu ngay trước đêm định thực hiện trong danh sách 200 gia đình xếp theo ABC có nhà hai tầng trở lên, nhưng cuối cùng cũng không thực hiện (ông này làm bí thư tỉnh nhưng mà tốt)

Hải Phòng

Hải Phòng do Đoàn Duy Thành làm bí thư không chịu thực hiện khi chưa thấy Chỉ thị. Giám đốc công an thành phố Hải Phòng – Dương Khắc Thụ – đã bị lãnh đạo Bộ Nội vụ phê bình. Số gia đình có khả năng bị tịch thu tài sản căn cứ theo lý do có nhà trên hai tầng ở Hải Phòng lúc đó là khoảng 500 nhà.

Thành phố Hồ Chí Minh

Lúc đó do Nguyễn Văn Linh làm bí thư thành uỷ từ chối thực hiện Chỉ thị miệng Z30

Báo Nhân dân (vẫn là cái của nợ báo Nhăn răng) của Đảng vào tháng 6 năm 1983 đăng 6 bài, một bài phê phán Bắc Giang và 5 bài phê phán Hải Phòng do không chịu tịch thu tài sản của nhân dân

Bên ủng hộ Chỉ thị là Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười (!), bên chống Chỉ thị tại hội nghị Trung ương tháng 6 năm 1983 là Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Công an Phạm Hùng cùng sự ủng hộ của Đoàn Duy Thành Bí thư Thành ủy Hải phòng, Nguyễn Văn An Bí thư tỉnh ủy Hà Nam Ninh, Nguyễn Văn Linh Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh

Chỉ thị đã làm tiêu tan sinh mạng chính trị của hàng trăm gia đình, đẩy họ vào cảnh khốn khó. Nhiều con người và gia đình họ là nạn nhân của Chỉ thị Z30 này; trong đó có những người khá nổi tiếng như ông “vua lốp” Nguyễn Văn Chẩn. Đến năm 1992-1993 Hà Nội đã báo cáo là căn bản giải quyết xong hậu quả của Chỉ thị Z30. Tuy nhiên, hậu quả của nó về mặt lòng tin và trên tâm lý người dân thì chưa phai mờ.

Tùy quan điểm chính trị mà nhiều người lúc đó đã có các quan điểm trái ngược nhau. Có người coi Chỉ thị Z30 như là biện pháp trong đấu tranh giai cấp, chống hữu khuynh, chống bọn tham nhũng. Người thì cho rằng đó là chỉ thị sai lầm, là trái pháp luật và thiếu đạo lý. Sau này có người cho rằng đó là do tình trạng ấu trĩ của lãnh đạo thời kỳ đó.

Một tài liệu được cho là hồi ký của Đoàn Duy Thành viết: “Giữa thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước mà có những việc làm kỳ lạ như vậy, thật đáng làm một bài học cho các thế hệ cấp uỷ mai sau suy nghĩ và thận trọng. Khi sai sẽ gây ra bao oán thù, nó sẽ tích tụ chồng chất dần lên, thành những hận thù sâu xa đến tận đời con, đời cháu… Khi có biến cố chính trị, những người bị xử sai này dễ ngả về phe chống đối cách mạng mà ta không thể coi thường.”

Nhắc lại chuyện này để thấy khi đó họ đánh giá vì là ĐCSVN còn ấu trĩ. Xin thưa ấu trĩ gì mà lâu thế ? Ấu trĩ từ 1953 cải cách ruộng đất đến 1983 chơi tiếp Z30 vẫn ấu trĩ. Đến nay bước sang năm 2020 của thế kỷ XXI, thế giới văn minh loài người với cách mạng 4.0 rồi mà tái diễn Đồng Tâm vẫn ấu trĩ hay sao ? Ko hề có ai là tội phạm, ko có lệnh bắt, ko có án tử, nửa đêm xông vào nhà riêng bắn chết dân. Tự bà con đánh giá nhá !!!

ĐẤU TRƯỜNG

Đỗ Ngà

ĐẤU TRƯỜNG

Đỗ Ngà

Ngày 07/01/2014 trong phiên tòa xét xử Dương Tự Trọng, nhân chứng Dương Chí Dũng khai đã đưa hối lộ trực tiếp 2 lần với tổng giá trị 510 ngàn đô, lần thứ ba là nhận 1 triệu đô của đại gia Trương Mỹ Lan gởi cho Phạm Quý Ngọ qua người trung gian tên Tiệp. Điều đặc biệt là Dương Chí Dũng có thuật lại lời nói của Tiệp rằng “”Anh yên tâm đi, tôi đã gặp và báo cáo với anh Trần Đại Quang – Bộ trưởng Bộ Công an, để anh Quang có ý kiến với anh Ngọ. Và anh Quang sẽ điện cho anh, để anh Ngọ không can thiệp hay gây khó cho doanh nghiệp nữa.”. Như vậy điều này cho thấy, số tiền một triệu đô này là Ngọ nhận cho Quang, lúc ấy Ngọ đang là thứ trưởng bộ Công An còn Quang là Bộ Trưởng.

Ngày 17/02/2014, Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định tạm đình chỉ nhiệm vụ thứ trưởng Bộ Công an đối với Phạm Quý Ngọ vì liên quan đến vụ án “làm lộ bí mật nhà nước”. Điều đăt biệt là trước ngày Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định khoảng một tháng, báo chí được lệnh đồng loạt tung tin Phạm Quý Ngọ bị ung thư gan. Và kết quả là sau ký quyết định đúng một ngày, Phạm Quý Ngọ chết và vụ án bị đình chỉ điều tra.

Theo khoản 1 điều 2 của Quy định 121-QĐ/TW năm 2018 thì, cán bộ chủ chốt được khám sức khỏe hằng ngày, các ủy viên bộ chính trị khác được khám bệnh ít nhất hai ngày một lần, các ủy viên Trung Ương đảng được khám bệnh ít nhất mỗi tháng một lần. Đó là chế độ chăm sóc sức khỏe của quan chức CS, Phạm Quý Ngọ là Ủy viên Trung Ương đảng, ông ta được chế độ khám bệnh hằng tháng, vậy mà đến khi bị phanh phui tội hối lộ thì mới phát hiện ra bệnh ung thư. Thế mới lạ! Vậy rõ ràng căn bệnh “unng thư” này không phải bởi nguyên nhân chính trị thì là nguyên nhân gì? Còn “kỳ diệu” hơn nữa là Phạm Quý Ngọ chết ngay khi cơ quan điều tra có quyền đụng đến ông, một cái chết kịp lúc để cho Trần Đại Quang thoát tội.

Ở trong chế độ CS có một nguyên tắc rất lạ là, nhiều căn bệnh “ung thư” của các lãnh đạo cấp cao trong ĐCS xuất hiện không phải vì nguyên nhân y học mà nó xuất phát từ nguyên nhân chính trị. Chính vì vậy mà dù cho có quy định chế độ chăm sóc ý tế hàng tháng thì vẫn không tài nào phát hiện ra bệnh mà phải nhờ đến khi bị truy tố thì nó mới xuất hiện là vậy. Trò chơi quyền lực trong nền chính trị độc tài nó thế. Ở nước dân chủ hay nước độc tài thì chính trị vẫn luôn là võ đài, nhưng khác nhau ở chỗ võ đài dân chủ chơi theo luật có trọng tài giám sát, còn võ đài của độc tài chẳng cần đến trọng tài nào cả nên đấu sĩ có quyền dùng mọi đòn bẩn miễn sao có chiến thắng. Vì vậy mà ở vũ đài chính trị độc tài, ta thường thấy kẻ thắng ăn thịt luôn đối thủ. Hãy nhìn sang võ đài chính trị Nga thì sẽ thấy, kẻ chỉ trích Putin đã dính trọng bệnh và phải sang Đức chữa trị. Đấu trường chính trị ở xứ độc tài dậm chất man rợ.

Tham nhũng trong chính quyền CS nó là loại tham nhũng có hệ thống. Việc tham nhũng không phải một cá nhân thực hiện mà nó có cả một chuỗi liên quan. Những chuỗi như thế này nó đã được dệt thành tấm lưới phức tạp phủ kín ĐCS, trong đó mỗi cá nhân tham nhũng nó không chỉ là mắt xích của một chuỗi mà là mắt xích của nhiều chuỗi khác nhau. Chính vì vậy, khi phá một mắt xích thì rất có thể nó nó sẽ kéo cả chuỗi bị dính chàm theo nó. Đó là lý do tại sao khi muốn xử tham nhũng thì ĐCS phải tìm cách cắt đứt mắt xích đó ra khỏi chuỗi để bảo vệ những mắt xích khác (mắt xích phe ta). Có hai cách cắt đứt mắt xích ra khỏi chuỗi, cách thứ nhất dùng mác “bí mật nhà nước” dán vào hồ sơ thì xem như chẳng ai đụng vào “mắt xích phe ta” được, và cách thứ nhì là tuyên án tử bằng căn bệnh “ung thư”. Đây là hai giải pháp mà hiện nay ĐCS rất ưa dùng.

Hôm nay, tất cả báo chí đều đồng loạt đưa tin Nguyễn Đức Chung bị bệnh ung thư. Nguyễn Đức Chung cũng là ủy vên trung ương đảng, ông ta được chế độ khám và chữa bệnh hằng tháng thế nhưng suốt nhiệm kỳ làm chủ tịch Hà Nội không thấy chính quyền CS thông báo gì về bệnh tình của ông ta, đùng một cái lúc ông ta bị điều tra tội “làm lộ bí mật nhà nước” thì căn bệnh “ung thư” lại xuất hiện. Lại một phiên bản Phạm Quý Ngọ 2.0 chăng? Rất có thể.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://thuvienphapluat.vn/…/quyet-dinh-121-qd-tw-2018…

https://www.bbc.com/…/140107_duongtutrong_trial_firstday

https://tuoitre.vn/ong-nguyen-duc-chung-xin-tai-ngoai-de…

 

Image may contain: 1 person, text
You, Dinh Huong, Tai Nguyen and 525 others
71 Comments
79 Shares
Haha
Comment
Share

Một chuyến đi thăm nuôi chồng 

Một chuyến đi thăm nuôi chồng 

Hay và cảm động. cứ nghĩ nếu mình ở trong hoaǹ cảnh đó thì sao.

 Thân chuyển và tha thiết mời đọc cho hết bài viết.

   Những ai chưa phải đi tù cải tạo. Những ai đã đi tù cải tao được “Tạm tha” rồi mà quên lửng đi thời kỳ ở trong tù cải tạo. Những thầy tu, những nhà đạo đức nào từng khuyên các người tù cải tạo nên quên quá khứ, hòa hợp hòa giải. Đều nên đọc bài này.

   Họ, chỉ cần nhớ đoạn: Người vợ đi thăm tù mà không nhận ra được chồng minh.

  Phải ở hoàn cảnh của vợ chồng người tù cải tạo như người này mới hiểu tại sao có những người Chống Cộng Cực Đoan. 

Chân thành cám ơn các Chị, những người vợ quả cảm của người Lính VNCH, các Chị đã không bỏ anh em chúng tôi trong những năm dài tủi nhục trong ngục tù việt cộng. Hận thù này đến chết vẫn không quên.

Tưởng niệm 30 tháng Tư: Một chuyến đi thăm nuôi chồng

Hoàng Yến

 


Tiếng chuyển động rì rì của máy chiếc xe đò loại nhỏ đang chạy trên tuyến đường từ Qui nhơn đi Pleiku, Kontum. Hành khách trên xe bắt đầu chập chờn vào giấc ngủ. Dù có mệt mỏi cho một chuyến đi xa, tôi không thể nào ngủ được, mắt nhìn ra khung cảnh ngoài cửa sổ xe, nhà cửa lui dần khỏi cảnh ồn ào bụi bậm trong thành phố. Nhìn xa xa, những ngọn núi nối tiếp ẩn hiện nhấp nhô, được bao phủ lớp sương mù như mây như khói. Xe bắt đầu tăng ga để leo dốc, con đường dốc ngoằn nghèo thật cao, một bên là vách núi đá một bên là vực sâu, chiếc xe như chênh vênh đang bò bên bờ vực, phía dưới vực rừng cây mờ mờ thật sâu. Tôi không dám nhìn xuống phía dưới, đưa tay áp lấy ngực miệng lâm râm cầu nguyện, cứ tưởng tượng không biết lúc nào chiếc xe sẽ lao xuống vực. Xe leo gần tới đỉnh đèo, ngay khúc quẹo hình chữ V độ dốc thẳng và cao. Đột nhiên xe khựng mạnh và dừng hẳn. Những người trên xe bừng tỉnh nhốn nháo vì đầu máy xe đang bốc khói mù mịt, sợ xe cháy ông tài xế nhảy vọt ra khỏi cửa sổ xe. Chiếc xe không người lái lùi lại từ từ, mọi người trong xe hoảng hốt tìm cách nhảy ra ngoài. Tôi ngồi hàng ghế bên trong, kẹt cứng giữa đám người đang chen nhau thoát ra khỏi xe. Chiếc xe lùi lại thật nhanh. Thất thần mắt nhìn thấy bờ vực cận kề tôi hét to “Lậy Chúa tôi”. Trong lúc chú lơ xe cầm cái cục gỗ chận bánh xe lại, với đà đổ dốc bánh xe trườn trên cục gỗ nẩy mạnh lên và càng lùi nhanh hơn, chú lơ xe không kịp chạy theo. Tiếng la khóc, tiếng kêu cầu cứu Chúa và Phật, Tôi nhắm mắt phó linh hồn trong tay Chúa, biết chắc sẽ chết nơi đây. Giây phút cuối cùng, hình ảnh thân yêu của mẹ và chồng con tôi lóe nhanh trong đầu. Một tiếng “rầm” thật lớn cùng sức dội mạnh như muốn vỡ lồng ngực, mọi người đổ ngã chụm vào nhau, mọi sự chìm trong im lặng, nửa tỉnh nửa mê, không biết mình còn sống hay đã chết. Một phép lạ, chiếc xe đang lùi thật nhanh thì đuôi xe quay ngang đâm vào vách núi và khựng lại, bánh xe kẹt vào khe rãnh thoát nước. Nhờ ơn Trên, mọi người sống sót nhưng vẫn còn thất kinh hồn vía biểu lộ trên khuôn mặt.


Chúng tôi được chuyển qua một chiếc xe khác. Qua cơn hiểm nghèo, ai cũng nguyền rủa ông tài xế không có lương tâm, không có trách nhiệm, nắm giữ hơn 50 sinh mạng, chỉ biết cho mình, còn những người khác coi như cỏ rác. Tôi không nguyền rủa ông ta mà tôi đau cho cả xã hội này, đã đào tạo con người ông giống như CS. Nếu họ có trái tim, người dân đâu chịu khổ, chồng tôi đâu bị đày ải tù tội như thế này. Nhớ tới chồng, tới giây phút vừa thoát hiểm nguy, tôi bật khóc, nếu chiếc xe rớt xuống đèo, tôi không bao giờ còn thấy chồng, đau thương hơn nữa, tôi chết ngay địa danh gần nơi giam giữ chồng tôi, mà anh đang ngóng chờ mong mỏi được gặp tôi.


Xe qua khỏi mấy cái đèo nguy hiểm như đèo An Khê, đèo Măng Giang. Bớt lo sợ, tôi đưa mắt quan sát những hành khách còn trong xe. Bốn người tôi mới quen ở bến xe Qui nhơn tối hôm qua, cùng đồng cảnh đi thăm nuôi như tôi, họ ngồi rải rác những hàng ghế phía khác, mắt tôi chăm chú nhìn một ông lão ngồi ngoài đầu hàng ghế bên kia, cách chỗ tôi ngồi là lối đi giữa của hai hàng ghế. Ông trạc tuổi bố chồng tôi, dáng người nhỏ còm cõi trông rất hom hem. Ông không ngủ, trên khuôn mặt khắc khổ, thỉnh thoảng môi ông nhếch lên mỉm cười, ánh mắt lộ vẻ hân hoan như sắp nhận được món quà quí, hoặc sắp gặp lại gia đình sau một chuyến đi, đôi lúc lại thấy ông tư lự đăm chiêu như đang suy nghĩ một vấn đề gì, hai bàn tay ông ôm chặt cái giỏ vào lòng như sợ nó vuột mất. Bất giác tôi cười thầm nhìn xuống tay mình thì cũng như ông lão thôi, tôi có hai cái giỏ lúc nào cũng bên cạnh không dám rời xa nó, hở một tý là bị lấy cắp.


Bất chợt ông lão nghiêng mặt qua phía tôi, bắt gặp ánh mắt tôi đang nhìn ông. Tôi nhoẻn miệng cười chào hỏi làm quen:


– Dạ chào bác! Bác là người ở trên miền này hả bác?


Ông lão quay hẳn qua phía tôi cười. Răng ông đã rụng gần hết, miệng móm mém. Nhìn ông tôi có cảm tình ngay với đôi mắt và nụ cười hiền hòa phúc hậu của ông. Ông trả lời:


– Không! Tôi không phải người trên miền này cô à. Ông thân thiện. – “Tôi ở xa lắm! Cô có biết Saigon không? Nhà tôi còn ở xa hơn nữa, mãi tận Rạch Giá cô à”. Thấy ông lão vui vẻ, tôi tò mò hỏi tiếp:


– Vậy bác đi thăm con cháu ở trên này à?


Trong ánh mắt ông lão thoáng buồn, nhưng môi ông lại mỉm cười tạo trên khuôn mặt ông nét vừa buồn vừa vui, nửa khóc nửa cười. Tôi không thể nào đoán được ông lão đang nghĩ gì. Thấy ông im lặng, tôi than thở dùm ông lão:


– Trời ơi! Bác lớn tuổi rồi, sao không để con cháu về dưới thăm bác, đường đi xa xôi, lại nguy hiểm bác ngồi xe như thế này mệt lắm.


Miệng ông đang cười, câu nói của tôi như chạm vào nỗi niềm riêng tư của ông, mắt ông nhuốm màu sương khói ngấn lệ. Tôi cảm thấy áy náy cho câu hỏi thăm tự nhiên nhưng vô ý của mình, định ngỏ lời xin lỗi và an ủi ông, thì ông cất lên lời tâm sự cùng tiếng thở dài:


– Cô ơi! Tôi già cả rồi, đi lại rất khó khăn, đâu muốn đi xa như thế này đâu, vì thương con tôi phải đi thôi.


Nghe tới đây tự nhiên trong lòng tôi thật bất mãn người con của ông, thầm trách trong bụng: “Bố già rồi không về thăm bố, lại để bố lặn lội đường xa đi thăm mình, loại con gì vô tâm bất hiếu vậy”. Tôi đang tức dùm cho ông lão. Ông đưa mắt ngó tôi, chép miệng thở than:


– Tội nghiệp thằng con tôi lắm cô ơi! Nó bị nhốt mấy năm nay rồi, nó là lính VNCH cô à. Nói tới đây giọng ông nhỏ lại, đưa mắt lấm lét nhìn xung quanh như sợ người khác nghe. Có thể ông cảm được tôi đồng cảnh đồng thuyền nên ông dễ dàng tâm sự, nhìn tôi ông rỉ rả:


– Nó chưa vợ cô à, nên tôi cứ phải lê thân già đi từng trại tù thăm nó.

Tôi thật xúc động. Ông lão cùng cảnh ngộ với tôi, như một luồng giao cảm, tôi nghiêng người chồm hẳn gần ông lão hỏi nhỏ


– Bác! Vậy chuyến đi này có phải bác đi thăm nuôi ở trại tù Gia trung không ạ?


Mặc dù lần đầu tiên tôi đi đến vùng này, không biết con trai ông có cùng chung trại tù với chồng tôi không? Vừa nghe đến tên trại tù Gia-trung từ miệng tôi, ông lão mở to mắt mừng rỡ:


– Đúng! Tôi đi thăm con tôi ở đó.


Ông bỏ lửng câu nói, mắt nhìn tôi ngập ngừng, e dè nói khẽ: “Cô là người ở đây hay sao mà biết trại tù đó”?


Tôi mỉm cười với tay xoa nhẹ vào tay ông: “Thưa bác! Cháu không phải người trên này mà là cháu đi thăm nuôi nhà cháu ở trại tù đó”.


Mắt ông lão sáng lên. Thế là một già một trẻ cùng cảnh ngộ như nhau trở nên thân thiết. Nhích người chụm đầu vào nhau rủ rỉ chuyện thăm nuôi, chuyện gia đình, thời cuộc đất nước, chuyện khổ cực nghèo đói của mọi người sau ngày mất nước.


Ông tâm sự, người con của ông hiện giờ bị giam ở K3. Tôi đoán chắc không xa nơi giam giữ chồng tôi,vì chồng tôi ở K1. Đã mấy năm trời ông lăn lội đi từng trại tù thăm nuôi con trai ông. Trước ngày miền Nam mất vào tay CS, người con ông có vị hôn thê sắp làm đám cưới. Thời điểm đó đất nước trong cơn hỗn loạn, nơi con ông đóng quân đánh nhau dữ dội nên không thể về làm đám cưới. Ngày 29/4/1975 người vợ chưa cưới theo gia đình xuống tàu trốn chạy CS. Vài tuần sau con ông bị đưa đi tù cải tạo. Bà cụ thì quá gìa yếu bệnh tật liên miên, muốn đi thăm để nhìn thấy mặt con trai mà cũng không sao đi được. Ông chỉ lo bà cụ chờ không được tới khi con ông về.


Giọng ông run run thở dài lo sợ: “Hoặc là con ông không bao giờ có ngày về”. Lời ông đều đều bên tai như muốn tôi chia sẻ nỗi buồn niềm đau với ông. Ông cứ kể, tôi vẫn nghe để cho những gì đang chất chứa trong ông hòa vào với khổ đau tủi cực của tôi. Cùng một cảnh đời, lòng tôi nhói lên theo từng lời kể của ông. Ông lại chép miệng nỉ non:


– Còn hai người con gái lớn đã có gia đình. Thời buổi cuộc sống khó khăn, tất bật kiếm miếng ăn chưa đủ nuôi mấy cháu ngoại của ông, làm sao có thể giúp đỡ ông hoặc đi thăm con trai ông. Ông bà chỉ còn tí mảnh vườn sau nhà, trồng mấy liếp rau nuôi bầy gà lấy trứng, sống lây lất rau cháo qua ngày. Nước mắt ông rưng rưng ứa tràn khóe mắt, giọng ông đứt quãng nghẹn lại. Ông nhận được giấy thăm nuôi của con ông mấy tuần rồi nhưng ông không thể đi thăm con ông sớm được, vì không có tiền, ông biết con ông rất mong ông. Vừa kể ông vừa lấy tay áo chấm nước mắt làm tôi cũng mủi lòng. Hoàn cảnh gia đình ông và gia đình tôi đều giống nhau. Sống trong một xã hội mới không tự do, bơi lội trong khổ đau khốn nghèo và người thân bị đày ải trong lao tù chẳng biết ngày về.


Ông chỉ vào cái giỏ đang ôm trong tay, bờ vai vẫn còn rung nhẹ theo cảm xúc:


– Cô biết không! Tôi phải chờ thêm vài tuần lễ để bầy gà lớn thêm lên mới bán được, rồi mua đồ thăm con, còn tiền xe đi đường tôi được người hàng xóm tốt bụng cho mượn. Lồng ngực của ông hít thật sâu, thả mạnh trong tiếng thở dài như xả những ưu phiền khổ đau, giọng ông não nuột: “Không biết về nhà xoay đâu ra tiền mua lại bầy gà”.


Giấu nỗi buồn lo, ông quay mặt qua hướng cửa sổ, nhìn nghiêng khuôn mặt ông, tôi thấy khóe mắt ông ươn ướt. Tôi cảm được những lo lắng, buồn phiền nhớ thương trong đôi mắt ấy.


Chợt ông quay sang cười với tôi, miệng ông móm mém kéo theo những đường nhăn nhúm hai bên má như thể những nhăn nhúm của cuộc đời hằn nặng trên khuôn mặt ông. Ông lại rỉ rả:


– Tội nghiệp con tôi! Chắc là đang mong và mừng lắm khi thấy tôi đi thăm 


Ông ngó xuống cái giỏ nhỏ để trên đùi, tay vẫn nắm chặt hai quai giỏ. Ông gật gù cái đầu: – Vợ chồng tôi chỉ lo liệu ít đồ ăn trong cái giỏ này thôi, dọc đường phải đổi mấy lượt xe, tôi lo lắm chẳng dám ngủ nghê, sợ bị giật giỏ con tôi chẳng có gì ăn. Ông chép miệng: -“Khổ quá nỗi, thời buổi làm ăn khó khăn mà trộm cắp mọc lên như rươi, chỗ nào cũng có”.


Ông nói giọng Bắc như tôi, cách nói chuyện thật thà miền quê. Tôi cảm thấy thật gần gũi với ông và tội nghiệp cho ông, đường sá xa xôi, thân già lặn lội đi thăm con. Tôi lại nghĩ tới tôi có khác gì ông đâu.


Xe chạy xuống khỏi mấy cái đèo. Ông cụ thấm mệt mắt lim dim, có lẽ ông đang nghĩ đến người con trai mà ông sắp được gặp, và niềm vui con ông nhận được những món quà nhỏ nhoi mà ông dành dụm chắt chiu như một gia tài của ông. Nhìn ông lòng tôi thương chồng, như ông đầy vơi nghĩ đến người con của mình. Quang cảnh hai bên đường đồi núi chập chùng, con đường đến trại tù xa vời vợi. Nghĩ tới chồng, tới sự thoát chết vừa qua, cùng nỗi khổ hiên tại của tôi, nước mắt tôi ứa ra…


Nếu không có ngày đen tối quái ác 30 tháng 4 năm 1975, mọi người dân đâu phải khốn khổ đói rách, chồng tôi đâu bị đi tù cải tạo khổ nhục xa xôi như thế này mà không biết ngày về. nếu đừng có xã hội như thế này, nếu tôi có tiền, nếu tụi du kích CS đừng tịch thu hàng mua bán của tôi. Nếu tôi đừng dùng phương tiện bằng xe lửa đi thăm chồng và còn nhiều cái nếu trong đầu làm lòng tôi quặn đau, khổ thương quay quắt.


Hơn 4 năm rồi,chồng tôi đã chịu bao tủi nhục khổ cực qua hai trại tù, bây giờ Cộng sản lại đưa chồng tôi đi trại khác. Gần một năm bặt tin tức của anh, tôi chẳng dò hỏi được gì về anh và chẳng biết tìm kiếm anh ở đâu. Phần sống trong một xã hội khốn khổ chẳng chút tự do, chỗ nào cũng chận bắt tịch thu giam giữ. Trong khó khăn lầm than, tôi bôn ba vật lộn tìm miếng ăn cho gia đình và cho chính mình thật gian nan vất vả, còn tâm trí lúc nào cũng nghĩ và lo sợ cho số phận chồng trong lao tù CS chẳng biết giam giữ nơi đâu. Tâm hồn tôi bất an phập phồng không thôi, đôi khi tưởng rằng mình đang rơi xuống đáy vực thẳm của cuộc đời. Nhờ tình yêu anh tôi cố bám víu ngoi lên, mong nhìn thấy tia hy vọng về anh dù chỉ là mong manh.


Ngày nhận được thư chồng, không chỉ mình tôi mà cả gia đình và hàng xóm, ai cũng vui mừng, cả xóm huyên náo ồn ào vì biết chồng tôi vẫn còn sống, mọi người đến nhà hỏi thăm, họ cũng như tôi nôn nao mong được gặp anh. Tất cả đều khó khăn nghèo khổ, họ không có gì làm quà để gửi cho chồng tôi, nhưng sự ân cần quan tâm lo lắng của họ đối với chồng tôi cả là niềm an ủi xúc động cho gia đình tôi.

Địa chỉ trại tù giam chồng tôi thật xa lạ và quá xa xôi. Đọc thư chồng nước mắt tôi ngắn dài đầy vơi. Tội nghiệp chồng tôi, trong thơ vỏn vẹn vài câu kín đáo hỏi thăm gia đình và cho biết đã được phép thăm nuôi. Thơ anh viết ngắn, tôi đọc và cảm được biết bao tình cảm của anh gói ghém trong đó dành cho tôi. Anh không dám xin những thứ mà anh cần, mặc dù anh rất cần. Tôi biết anh rất thương tôi. Bố mẹ anh đã già, mọi việc mình tôi cáng đáng lo liệu với hoàn cảnh và xã hội hiện tại. Còn tôi dù cuộc sống khó khăn vất vả, tôi cũng cố xoay sở lo cho chồng, chút an ủi giúp anh thêm nghị lực, và cho tôi chút niềm vui hạnh phúc trong tình nghĩa vợ chồng.

Số tiền tôi cực khổ dành dụm chắt chiu để đi thăm nuôi chồng, số tiền đó cũng bao lần đã muốn lấy mạng sống của tôi. Trong một chuyến hàng tuần trước, tôi đã trở thành trắng tay, cũng may mạng sống tôi vẫn còn. Những lần bị bắt bị tịch thu, chị em bạn chúng tôi thường than thở với nhau: “ Ký ca ký cóp cho cọp nó tha”, rồi lại lăn lộn bôn ba bất chấp nguy hiểm làm lại từ đầu, được tý vốn lại bị tịch thu, cứ xoay vòng trong cuộc sống XHCN. Vậy mà chỗ nào cũng thấy cái bảng tô đỏ hàng chữ “không có gì quý hơn độc lập tự do”.


Trại tù giam chồng tôi mãi tận Pleiku – Kontum có tên là trại Gia Trung, một địa danh tôi chưa bao giờ biết đến. Trước ngày đi thăm chồng, tôi dò hỏi được biết mỗi ngày bến xe Saigon – Miền Trung có hai chuyến chạy suốt về Pleiku. Giá chính thức được bán ra từ 15 tới 20 vé, còn lại bán với giá chợ đen rất mắc, mà phảỉ đứng xếp hàng từ đêm tới sáng may ra mới mua được vé. Tôi ở miền quê ngu ngơ làm sao mua được. Thật khó khăn và tốn kém. Tôi đành chọn giải pháp đi bằng tàu lửa, giá rẻ mà dễ đi . Ga xe lửa tôi đi gần chợ Long Khánh cách nhà tôi khoảng gần 30 cây số.


Nhớ tới giây phút giành giật chen nhau để lên toa xe lửa, bất giác tôi cảm thấy sau gáy và bả vai vẫn còn đau, đưa tay lên rờ phía sau đầu cục sưng u vẫn còn, vì tôi bị những bó củi họ quăng ném vào người. Trời ơi! Tôi không thể nào tưởng tượng được cảnh chen lấn hỗn loạn tại ga xe lửa lúc bấy giờ. Không giống như ga xe lửa trong phim ảnh, kẻ đi người về, kẻ tiễn đưa người đi đón sao êm đềm cảm động nên thơ đến thế. Ga xe lửa này cũng người lên kẻ xuống nhưng trong cảnh xô đẩy chen lấn giành giật cùng tiếng chửi thề xen lẫn tiếng la hét inh ỏi hỗn loạn. Bao nhiêu hàng hóa vừa bao vừa túi, bao than, giỏ đựng gà vịt, bất cứ vật gì cũng đều quăng ném vào toa theo lối cửa sổ, có người quăng cả đứa con nít như quăng một món đồ, kẻ tung lên người ném xuống. Tôi chen lấn trong đám người xô đẩy, kéo lê hai giỏ đồ tới gần cửa lên xuống, tay cố bám vào thành cửa, hy vọng đu được người vào bên trong,nhưng thân người tôi như tàu lá chuối vật vờ đong đưa giữa đám người hỗn độn. Tay tôi bị giật thốc ra khỏi thành cửa làm tôi ngã chúi theo đà xô đẩy, tôi ngồi xuống ôm lấy hai giỏ đồ vừa khóc vừa năn nỉ mọi người:


– Bà con ơi! Tôi có mua vé mà, hãy để tôi lên toa đi.


Mặc cho tôi khóc năn nỉ, họ chẳng để ý, cứ vô tình bước đạp trên hai giỏ đồ và cánh tay tôi làm đà bước lên toa xe, còn quay lại mắng tôi:


– Bộ tưởng một mình cô có vé thôi sao, tụi tui cũng có vé vậy.


Người họ khỏe bám trèo lên bằng lối cửa sổ, tôi thân đàn bà chân yếu tay mềm nên không thể bám và leo lên như họ, còn hai giỏ đồ thăm nuôi tôi làm cách nào đưa lên bằng lối đó. Tiếng còi xe lửa hú lên từng chập như báo hiệu sắp khởi hành, tôi càng quýnh quáng, mọi người càng vội vã chen lấn hơn trước. Sợ lỡ chuyến tàu sẽ trễ ngày thăm chồng, tiếng còi xe lửa hú lên càng làm tôi hốt hoảng. Ôm hai giỏ đồ, mắt đỏ hoe ngó lên toa xe, tôi hết hy vọng vì bánh xe lửa bắt đầu chuyển động trên đường sắt cùng những người còn đang chạy theo bám lấy.


Trong những người xô đẩy vô lương tâm đó, cũng còn một người có chút lương tri. Người đó là một thanh niên, ngồi trên nóc xe nhìn cảnh hỗn loạn phía dưới, thấy tôi ngồi khóc, mặc cho xe lửa đang chuyển bánh, nhảy xuống đất cầm vội hai giỏ đồ của tôi quăng vào lối cửa sổ, không cần biết có trúng ai bên trong hay không và nâng người tôi lên đẩy vào cửa sổ. Tôi chưa kịp cám ơn, người thanh niên đã xa tấm mắt của tôi, ngoái cổ nhìn với theo bên hông tàu, người thanh niên đang tìm cách nhảy lên toa xe và rồi những tàng cây bên đường làm khuất mất hình ảnh người thanh niên đó.


Tôi vui mừng không bị lỡ chuyến tàu, thở phào nhẹ nhõm, nhưng nghĩ tới người thanh niên trong lòng tôi lại áy náy, thấp thỏm không biết người thanh niên tốt bụng đó đã lên được tàu chưa hay là đã lỡ chuyến?


Tìm một chỗ dưới sàn tàu ngồi xuống, người tôi mỏi mệt đau nhừ, nhất là trên đầu phía sau ót và bả vai, tôi bị những bó củi ném trúng làm đau buốt. Thấy mặt tôi nhăn nhó, tay xoa xoa phía sau đầu, một bác ngồi gần bên lấy hộp dầu cù là đưa cho tôi xoa bóp.


Yên trí ngày mai gặp chồng làm tôi nôn nao, những mỏi mệt đau nhừ tan biến nhanh, nhường cho tâm tư sắp đặt những gì muốn nói với anh. Đừng như những lần trước, gặp được anh mừng quá chẳng nói được gì, hết giờ thăm lúc đó mới ngẩn người nuối tiếc. Ừ nhỉ! Nếu ngày mai tên cán bộ có đứng xa xa nơi vợ chồng tôi như ở trại tù Hốc môn, những người đi thăm nuôi như tôi cùng tâm trạng, họ cũng biểu lộ tình cảm như tôi. Tôi sẽ ngả đầu vào vai anh, thủ thỉ với anh bao nỗi nhớ niềm thương, bao buồn phiền tủi cực, bao vất vả đắng cay và biết bao điều muốn nói với anh. Nhưng tôi biết anh không cần nghe tôi nói, chỉ cần nhìn thấy tôi là anh hiểu và nghe nặng cả bao nghĩa ân tình yêu thương, giúp anh thêm nghị lực vượt qua tất cả. Tôi vẫn biết rằng ý chí của anh rất mạnh.


Theo lịch trình 6 giờ chiều xe lửa sẽ tới ga Nha trang, và chuyến xe lửa từ Nha trang đi Qui nhơn khởi hành lúc 6 giờ 45 phút. Tôi thở phào yên trí đủ thời gian mua vé đi Qui nhơn và tôi cũng không lo ngại nếu có cảnh chen lấn như ở ga Long khánh.

Quá mỏi mệt, tôi tìm cách tựa lưng vào thùng đồ của ai để bên cạnh nhắm mắt thiu thiu vì chuyến đi còn dài, chân tôi gác lên kẹp lấy một giỏ đồ còn một giỏ tôi lấy khăn tay cột quai giỏ vào cánh tay của mình, lỡ ngủ mệt sợ có người lấy cắp. Nhắm mắt để đó chứ không ngủ được, phấn ồn ào, phần háo hức sắp được gặp chồng làm tôi nôn nao. Không biết khi vợ chồng tôi gặp nhau, sự mừng rỡ sẽ như thế nào? Con người tôi rất tình cảm và xấu tính, buồn cũng khóc vui cũng khóc. Cả hai nhập lại không biết lúc đó tôi như thế nào? Còn hình dáng chồng tôi có khác lạ không? Gần một năm trời rồi, tôi chưa được nhìn thấy anh. Trong đầu tưởng tượng về anh, về nơi giam giữ anh. Họ đưa anh đi xa xôi thế này chắc là thăm nuôi đễ dãi và được ở lại đêm với chồng như là trại tù Phước-long mà chị Thái cùng xóm đi thăm chồng đã kể lại cho tôi nghe. Nếu lần thăm này mà giống như trạị tù Phước-long, không biết tôi có trải được tình cảm yêu thương với chồng tôi không, mặc dù tôi rất yêu anh, rất nhớ anh. Tôi không muốn bị CS xỉ nhục bằng cách đê tiện này, càng nghĩ trái tim tôi càng bị bóp nghẽn. Tôi hy vọng rằng chồng tôi cùng quan điểm với tôi, thông cảm cho tôi nếu đúng như điều tôi đang nghĩ.

Tôi giật mình bởi tiếng nổ lớn do xe lửa bị đứt ống hơi, thỉnh thoảng cứ phải nghe như vậy vì mấy người đi buôn họ dựt đứt để xe lửa ngừng lại, lần đầu tiên tôi đi xe lửa nên không biết cảnh này, cũng vì vậy tôi thật lo sợ muốn khóc tại ga Nha trang.


Xe lửa ngừng tại ga Nha trang là lúc tôi không biết phải làm sao xoay sở vì quá trễ, chuyến xe lửa đi Qui nhơn đã khởi hành trước đó 1 giờ. Trời đã tối, mọi người trong sân ga lần lượt đi mỗi người mỗi ngả, càng lúc càng thưa thớt người. Tôi định ở lại sân ga chờ chuyến xe lửa khác. Khung cảnh sân ga trở nên vắng vẻ im lìm. Tôi bơ vơ lạc lõng nơi xa lạ, lo sợ nhìn tứ phía, nước mắt rưng rưng, thật sự hoảng hốt không biết đi ngã nào, lạ người lạ cảnh. May quá từ xa một người đạp xích lô đang đến. Tôi hỏi thăm được biết ngày mai mới có chuyến xe lửa đi Qui nhơn. Nhìn tôi còn trẻ và giọng nói người khác miền, chú xích lô khuyên tôi không nên ở lại sân ga ban đêm vắng vẻ không người, sợ điều không tốt xảy đến cho tôi. Nghe chú nói người tôi run lên vì sợ, tôi cố trấn tĩnh nhưng sao giọng tôi run như muốn khóc. Chú gợi ý chở tôi tới nhà trọ nghỉ đêm chờ sáng ngày mai đi Qui nhơn. Nghe tới nhà trọ tôi càng sợ thêm vì nghĩ không biết chú ấy có tà ý gì, nơi lạ lẫm với giòng đời đầy lừa lọc gian trá liệu tôi có tin chú ấy không? Ánh đèn vàng vọt, sân ga không đủ sáng cho khung cảnh vắng vẻ như thế này. Tôi nhìn chung quanh rồi lại nhìn chú xích lô lưỡng lự. Không còn cách lựa chọn, đánh bạo tôi đành nhờ chú ấy chở đến bến xe đò Qui nhơn, nơi đó có lẽ an toàn cho tôi hơn. Ngồi trên xe xích lô tôi vẫn lo sợ, miệng lâm râm cầu nguyện cho tôi được bình an.


Tôi ngồi ngay trước quày bán vé đi Qui nhơn, hy vọng sáng sớm hôm sau tôi là người đầu tiên mua vé. Khung cảnh nơi đây sáng sủa hơn, có người qua lại bán quà rong, những gian hàng nhỏ đèn điện còn sáng. Tôi an tâm khoan khoái đặt lưng nằm xuống đất, đầu gối lên hai giỏ đồ để ngủ. Trời đã về khuya sao mặt nền đất vẫn còn nóng bỏng, hâm hâm dưới lưng tôi, mùi khen khét xông cả vào mũi thấm tận trong bụng tôi, quá mệt tôi cố chịu để dỗ cho đôi mắt nhắm lại. Chưa kịp nhắm mắt thì một tiếng thét thất thanh vang trong đêm. Tôi nhổm dậy, một người đàn bà đang chạy theo một người thanh niên còn rất trẻ ngang qua chỗ tôi, tay bà với với phía trước, tiếng thất thần kêu cầu cứu của bà “bắt lấy nó …, ăn cướp, ăn cướp bà con ơi”. Nhưng tiếng kêu cầu cứu ấy rơi trong đêm, giữa bao con mắt nhìn theo hờ hững. Người thanh niên tung cái giỏ cho một người khác hứng lấy chạy vào ngõ tối, rồi nhẩn nha đi như người đi dạo, làm như không có chuyện gì xẩy ra. Người đàn bà ngồi bệt xuống đất òa khóc tức tưởi cách tuyệt vọng. “Trời ơi! Nó lấy hết của tôi rồi, cả giấy tờ nữa, làm sao tôi về nhà được đây hở trời? Sao thất nhơn thất đức quá nè, Trời ơi!”. Tiếng than não lòng của bà như xé lòng Trời mà không làm động lòng người.


Nhìn bà tôi lại nghĩ đến tôi, tay rờ nhanh vào bụng, cái ví nhỏ bọc nhựa vẫn còn nằm trong lưng quần. Tôi chỉ có ít tiền đi đường và tờ giấy đi thăm nuôi trong đó, nếu bị mất, không biết sự đau khổ của tôi như thế nào, vì sẽ không được thăm chồng, lại lo lắng hai giỏ đồ thăm nuôi, thời buổi này bất cứ cái gì cũng sợ. Tôi khệ nệ vừa rê vừa xách tới gần hàng bán cháo ở góc xa, mua một chén cháo để làm quen và như là một nơi an toàn cho mình, mặc dù tôi chẳng thấy đói.


Gần về sáng ngoài đường bắt đầu nhộn nhịp, xe chạy qua chạy lại trong bến, xích lô máy xích lô đạp chạy tới chạy lui, hàng quán mở cửa. Bóng người qua lại tiếng cười tiếng nói ồn ào. Nhìn về phía quầy bán vé đã có vài người đứng xếp hàng ở đó. Tôi chào cảm ơn bà bán cháo cho tôi một đêm an toàn bên cạnh bà, rồi đến quày bán vé đi Qui nhơn, vậy mà tôi cũng chẳng mua được vé chuyến đầu tiên vì ở đó người ta đã đặt từng gói đồ, từng khúc củi, cả cái sô nước theo hàng dài để giữ chỗ. Cuối cùng tôi cũng đi tới Qui nhơn.


Tiếng chú lơ xe la to: Tới Gia Trung rồi bà con ơi, ai xuống Gia Trung chuẩn bị đồ đạc đi bà con ơi. Tôi giật mình trở về hiện tại. Xe từ từ vào sát lề đường. Tiếng của chú lơ xe đơn độc hai chữ Gia Trung mà không thêm tiếng trại cải tạo. Tôi tưởng tên gọi Gia Trung là tên của một thành phố, ngơ ngẩn ngó ra ngoài, chẳng thấy nhà cửa hoặc trại tù, chỉ thấy rừng cây cao vút, chung quanh hoang vắng. Tôi nhìn quanh quẩn tự hỏi trại cải tạo ở đâu. Trên xe mọi người lục đục kẻ kéo người xách, lách người xuống xe. Ông cụ ngồi gần bên ôm giỏ đồ đứng lên, thấy tôi còn ngơ ngác, gục gặc đầu nói:


-Tới nơi rồi cô ơi! Họ xuống xe cả rồi, mình cũng xuống đi thôi kẻo không kịp, từ đây vô tới trại còn xa lắm.


Tôi lật đật xuống xe theo mấy người đó. Số người đi thăm nuôi khoảng 12 người. Tôi thật bỡ ngỡ, khung cảnh chung quanh vắng vẻ quạnh hiu không bóng người, ngoài tốp người mới xuống khỏi xe, đang đi trên con đường đất vào sâu hút bên trong.


Vừa đi tôi vừa ngó hai bên đường, những cây cao cây thấp, chỗ dầy chỗ thưa làm ánh sáng chỗ âm u chỗ sáng rực. Tôi lẹt đẹt đàng sau xa nhóm người đi phía trước. Họ đã đi thăm nuôi nhiều lần, nên họ có người nhà đi theo để phụ giúp xách đồ, còn tôi vướng hai giỏ loay hoay tay xách đầu đội, lúc mỏi cổ đau tay tôi lại hất cái giỏ trên đầu xuống bả vai để vác. Vai tôi vẫn còn đau vì hai ngày trước bị củi ném trúng ở ga xe lửa Long-khánh, vừa đi vừa nghiêng cổ vẹo người, dáng người tôinghiêng nghiêng như bóng nắng dưới đường, mồ hôi đổ theo thấm chung từng giọt nước mắt. Xa xa phía trước, ông già lúp xúp đi như chạy để theo kịp họ, ông vừa đi vừa ngoái cổ ra phía sau, tay vời vời ra hiệu cho tôi đi nhanh lên. Những người phía trước bỏ tôi khoảng cách thật xa và khuất hẳn vào khúc đường cong.


Qua khỏi khúc đường quẹo, một trạm kiểm soát với tên công an mặc áo vàng ngồi bên trong. Tôi giật mình theo phản xạ tự nhiên – “chết rồi lại gặp công an”, giữ bình tĩnh tôi thầm nghĩ – “mình đi thăm nuôi chứ buôn bán gì mà sợ tịch thu”. Tấm bảng nhỏ ghi hàng chữ “Trình giấy tờ tại đây”. Tôi bước đến, tên công an nhìn còn rất trẻ tươi cười chào thân mật:


– Chị đi thăm người nhà phải không?


Sự thật là tôi không có thiện cảm với những người mặc bộ đồ công an, tôi đã khổ nhiều với họ rồi, họ không cùng giới tuyến với tôi và họ là người đang giam giữ chồng tôi. Tôi không cười, đưa trình tờ giấy thăm nuôi để ra khỏi chỗ này thật nhanh, vì tôi dị ứng không muốn nhìn họ. Khi nhìn vào thẻ Chứng minh nhân dân của tôi, tên công an mặt hớn hở reo lên:


– Ồ! Quê chị ở Đông Phú – Tiền Hải – Thái Bình, vậy là cùng quê với em. Còn thân mật như là người nhà của tôi: “Gia đình thầy mẹ em còn đang ở ngoài ấy, mà chị cùng họ Đinh với em, chả nhẽ chị em mình có họ hàng với nhau.”


Tôi lườm thầm trong bụng: “Họ hàng gì với chú mà chú nhận, tôi bên Quốc Gia, chú là CS, không thể họ hàng được”. Không muốn mất đi vẻ lịch sự của người miền Nam, tôi hơi mỉm cười nói mát:


– Tôi người miền Nam còn chú miền Bắc sao mà có họ hàng được.


Tên công an ngẩn người như suy nghĩ câu nói của tôi. Cử chỉ vồn vã, nét mặt vui tươi thân thiện của hắn khi biết tôi cùng quê cùng họ, làm như trong tôi có vết thương đang bị muối xát vào. Cùng mẹ VN một dòng máu, một màu da, nhưng không cùng lý tưởng. Biết đâu người công an này có họ hàng với tôi và cũng có thể những người coi tù là bà con với chồng tôi. Với nghiệt cảnh hiện tại, làm sao tránh khỏi anh em cốt nhục tương tàn.


Tôi được chỉ đường tới K1 là nơi giam giữ chồng tôi, đường vẫn còn dài, tôi đến ngồi dưới bóng mát gốc cây bên vệ đường. Phía xa cùng con đường, một người đàn bà đầu đội tay xách như tôi còn dẫn theo một bé gái, vừa đi bé gái vừa khóc, người đàn bà rất trẻ, đứa bé gái khoảng tuổi con tôi. Hình như bé gái không chịu đi bộ nên người mẹ cúi xuống vừa đỡ con vừa kéo lết giỏ đồ trông khó nhọc lê thê. Có lúc người mẹ bỏ giỏ đồ bên vệ đường, gập lưng xuống để cõng con, một tay đưa ra phía sau đỡ lấy con trên lưng mình còn một tay xách giỏ đồ, dáng xiêu xiêu bước đi nặng nề mỏi mệt giữa trưa nắng như lửa đốt. Đi được vài bước, người mẹ lại xốc đứa con trên lưng để khỏi bị tuột xuống, lưng người mẹ còng hẳn xuống, tay vuốt mồ hôi trên mặt và quay lại vuốt nhè nhẹ vào má đứa bé như thể dỗ đành vỗ về. Người mẹ cõng đứa con tới gốc cây tôi đang ngồi, thả con xuống và nhờ tôi trông chừng rồi trở lại chỗ cũ xách giỏ đồ còn lại. Cứ như vậy suốt con đường, thay phiên cõng con và xách đồ từng chặng, thật vất vả khổ sở. Nếu không cùng hoàn cảnh, không thể nào cảm được cái cảnh đi thăm chồng. Trên thân người đàn bà đó đã chịu bao nỗi khổ trong cuộc sống, giờ đây đang cố gắng gồng giữ niềm yêu thương của mình..


Đứa bé gái trông thật xinh, mặt bé đỏ au dưới ánh nắng mặt trời, tóc ướt mồ hôi dính chặt trên vầng trán, mắt bé tròn như hai hòn bi, thơ ngây nhìn tôi an tâm không khóc. Đến khi nhìn thấy một người công an gánh hai thùng nước đang đến gần, những giọt nước sóng sánh toát ra ngoài theo nhịp bước, mắt tôi và bé gái đều sáng lên, tôi còn chịu đựng được nhưng bé gái gào khóc lên gọi mẹ vì thấy nước. Người mẹ ngước về phía con lo lắng, chân bước thật nhanh đến con mình, thấy mẹ, đứa bé vừa khóc vừa chỉ về hướng người công an:


– Mẹ! Con muốn uống nước, con khát nước quá mẹ ơi.


Người mẹ liếc nhìn tên công an như thể thấy một hung thần, cúi xuống dỗ con.


– Đừng khóc nữa con, gần tới chỗ bố rồi, tha hồ uống nước con ạ.


Nhưng vì quá khát nước, đứa bé càng khóc to hơn.


– Không! Mẹ ơi con muốn uống nước bây giờ, không có nước con sẽ chết.


Người mẹ không còn biết làm sao dỗ con, đành bứt mấy lá cây rừng, cuốn tròn lại thành cái phễu, đánh bạo đến gần người công an để xin nước cho con mình.


– Xin cán bộ cho con tôi tý nước.


Mặt người công an lạnh lùng cau mày gắt lên:


– Chị là vợ của những tên ngụy quân, ngụy quyền, là loại phản động phản quốc, được nhà nước khoan hồng cho đi thăm nuôi, mà còn đòi thế nọ thế kia, ở đây không có nước cho các chị.


Người mẹ nhìn về phía con đang gào khóc đòi nước, cố nén tủi nhục, nhẫn nại năn nỉ:

 

– Không! Tôi không xin nước cho tôi. Người mẹ chỉ tay về đứa con đang khóc, hầu mong khơi dậy một chút tình người. “Cán bộ nhìn thấy đứa bé đang khóc đàng kia kìa, từ sáng đến giờ nó chưa được uống nước. Cán bộ làm ơn cho tí nước đi cán bộ”. Người mẹ giở cái phễu lá rừng năn nỉ:


– Tôi chỉ xin một chút nước đựng trong này thôi, không nhiều đâu cán bộ.


Tên công an đứng bật lên, gánh nước bước đi, trút đổ bao hận thù xuống người mẹ.


– Toàn là thứ phản động, theo đế quốc Mỹ, sống sung sướng quen rồi, nóng một tý mà cũng không chịu được. Chị tưởng tôi là đầy tớ gánh nước cho chị hả, đồ thứ phản quốc.


Người mẹ chạy lại ôm chặt con mình, ép nỗi uất đau òa theo tiếng khóc của con. Tiếng khóc hai mẹ con vang trong rừng vắng không làm vơi thù hận của những kẻ không trái tim không tình người.


Ôi quê hương tôi không còn chiến tranh, không còn nghe tiếng súng mà vẫn còn đè nặng bởi thù hận và khổ đau. Hình ảnh vừa rồi thật trái ngược với hình ảnh năm nào của những người lính Sư đoàn 18 VNCH trong một buổi chiều dừng quân nơi thôn làng tôi ở. Họ chỉ có một vài giờ nghỉ chân mà còn tìm cách giúp đỡ những người dân trong thôn làng, người gánh nước người chẻ củi, cứ thấy công việc nào người dân đang làm là họ xúm lại phụ giúp. Hình ảnh thân thương đầy tình người, gần gũi với đồng bào đã ở mãi trong tim tôi.


Con đường đi vòng trên sườn đồi, nhìn xa xa phía dưới, những dãy nhà lợp tôn lẫn lợp lá hiện ra thấp thoáng. Trong lòng tôi vừa mừng vừa hồi hộp biết là nơi đó có chồng tôi, tự dưng đầu tôi quay mòng mòng, chân tôi muốn quỵ xuống. Mãi tận rừng núi hoang vu, hàng hàng lớp lớp nhà tù, đang giam giữ chồng tôi và những người sống vì chính nghĩa, chịu bao nhục hình của bầy thú dữ, nước mắt tôi lại chảy, chỉ biết gọi thầm tên anh. Mong rằng anh cảm nhận được tiếng gọi của tôi và biết rằng tôi đang đến gần anh.


Căn nhà thăm nuôi của K1 nằm bên phải con đường phía dưới chân đồi, nhìn rất rõ vì cây rừng đã được phá hoang, thỉnh thoảng còn lại ít cây to rải rác. Thấy con đường vòng hơi xa, nóng lòng gặp chồng, tôi tìm cách đi lối khác. Tôi thả hai giỏ đồ đã được cột chặt lăn xuống theo sườn đồi, còn tôi thì cột hai ống quần vào cổ chân rồi ngồi tụt xuống, vì độ dốc rất cao. Cũng may tôi mặc cái quần vải thun dầy nên không bị rách, chỉ bị trầy chút da chân và tay vì vướng vào cành chà.


Tôi tới nhà thăm nuôi đã gần chiều, có mấy người cùng chuyến xe tới trước cũng đang ở đó. Nhà thăm nuôi hẹp và dài, được chia ra nhiều ngăn, mái lợp lá, vách đắp bằng đất trộn rơm. Ngăn đầu có một lối ra vào không cánh cửa, ở giữa kê một cái bàn gỗ dài, hai cái ghế dài hai bên, có lẽ là chỗ gặp thân nhân. Gần lối ra vào, một cái bảng nội qui ghi những điều luật cấm.Những điều luật cấm thì trại tù nào cũng như nhau, nhưng thời gian thăm nuôi thì tôi như hụt hẫng với bao mơ ước dự tính trong đầu khi nhìn con số 15 phút thăm gặp. Lòng tôi sôi quặn, trời ơi ba ngày đường xa xôi, lặn lội rừng sâu mà chỉ được gặp chồng có 15 phút thôi sao. Chưa gặp mặt chồng mà nước mắt tôi đã ứa bờ mi.


Trước sân nhà thăm nuôi là con suối nhỏ, bên kia con suối, những dãy nhà tù thật xa, dù thấy bóng người tù cũng không thể nhận diện được ai vì quá xa. Tôi mon men đến gần sát bờ suối, mắt hướng về phía trại tù mong ngóng hình bóng yêu thương của mình qua thần giao cách cảm.


Trời gần nhá nhem tối, thêm được hai chị đi thăm chồng ở K4 và K5 đến tạm ngủ chung với chúng tôi cho qua đêm, chờ sáng hôm sau trở lại chỗ cũ để gặp chồng. Chúng tôi chẳng ai biết ai, nhưng cùng hoàn cảnh nên dễ thân thiết, ngồi chụm chung lại với nhau nói chuyện. Thật là khủng khiếp kinh sợ khi nghe các chị kể chuyện, ngay tại nhà thăm nuôi K1 này, đêm đêm có một bóng ma, hiện lên lơ lửng phía sau nhà, chỗ cây cao nhiều cành lá. Ngôi nhà này vách sau có những cửa sổ không cánh, chấn song bằng những cành tre nhỏ nên có thể nhìn qua lại rất rõ. Tin đồn có một chị đi thăm chồng, không biết vì vấn đề gì đã treo cổ tự tử ngay cây cao phía sau nhà, nên bây giờ hồn chị luẩn quẩn quanh đây, hiện ra với âm thanh rên rỉ khóc than theo tiếng gió vi vu thật rợn người. Trời chưa tối hẳn, tôi đã thấy sờ sợ, ngồi chen vào giữa các chị. Có chị quả quyết là chị không tin người đàn bà đó tự tử, trong khi cực khổ đi thăm chồng, đã đến tới nơi sắp gặp được chồng, cớ gì lại tự tử. Có thể người đó tới đây, không có ai cùng thăm nuôi, đêm vắng vẻ bị tụi công an hãm hiếp, rồi giết treo cổ chị trên cây để không chứng cớ và gán cho chị là tự tử. Hai chị thăm nuôi K4 và K5 đều nói cũng nghe tin đồn đó, nên hai chị tìm đến với chúng tôi để không bị nguy hại. Phần tôi, nếu không nghe được chuyện này, lần đầu tiên đến đây, một mình đêm vắng, có thể cũng như người đàn bà bị treo cổ trên cây kia.


Ngoài sân màn đêm đã bao phủ một màu đen đặc, ếch nhái ngoài bờ suối ì ộp kêu. Đàng xa, có ánh đèn bin đang rọi đi tới nhà thăm nuôi, một chị khều tay nói khẽ, “kiến vàng đang đến” (ý nói Công An). Chờ trời tối, công an mới đến kiểm tra có bao nhiêu người ở đó để phát mùng mền. Tới lượt tôi, tên công an cầm súng chỉa thẳng vào tôi, sợ trường hợp bất cẩn, tôi nói với tên công an:


– Cán bộ làm ơn đưa họng súng qua hướng khác, đừng chỉa vào tôi lỡ tay rất nguy hiểm.

Tên công an sừng sộ:

– Vợ tụi ngụy không tin được, phải cảnh giác.


Và họng súng vẫn hướng về phía tôi. Tôi là người sau cùng vô tới trại, công việc nấu cơm theo thứ tự, tới phiên tôi là chót. Ở đây có một cái bếp và một cái nồi móp méo, người này nấu xong dỡ cơm ra rồi đến người kế tiếp. Cũng có người không nấu cơm, họ mua các loại bánh đưa vào ăn, còn tôi tiền bạc eo hẹp, mua được hai lon gạo, nấu ăn đêm nay và ngày hôm sau, cũng may tôi còn một quả trứng luộc mua dọc đường chưa kịp ăn..


Nấu cơm xong đã quá nửa đêm, tôi dỡ cơm vào chiếc khăn tay ướt nắm lại cho chắc và chia thành hai nắm, một nắm ăn ngay, còn một nắm dành cho ngày mai. Tôi cạo vét những hạt cơm cháy dưới đáy nồi để còn rửa sạch cho người khác nấu. Nhìn những hạt cơm bất chợt lòng tôi nhói buốt xót xa. Hình ảnh hai người tù cải tạo hồi chiều đã làm tôi rơi nước mắt, ruột co thắt và tim gan như xé ra từng mảnh.


Lúc tôi đứng bên bờ suối nhìn sang trại giam. Một chị đưa nồi ra suối rửa, những hạt cơm theo nước trôi, nằm đọng dưới nước lẫn lộn đất cát và sỏi đá. Một người tù cải tạo lao động gần đó, đưa mắt liếc nhanh, chờ cho chị ấy bước hẳn lên bờ, người tù vội vàng bước thật nhanh xuống lòng suối, giả bộ cúi xuống rửa mặt, nhanh tay mò nhặt những hạt cơm lẫn chung với đất cát bỏ vội vào miệng của mình. Hình ảnh đó thu nhanh vào mắt tôi, vào đáy lòng của tôi. Ôi! Thật đau khổ dường nào, xót xa dường nào. Trời ơi! Chồng tôi cũng như thế sao?


Khi tôi ra bìa rừng nhặt mấy nhánh củi khô để nấu cơm, một người tù cải tạo đang chặt cây rừng, mon men lại gần phía tôi lấm lét nói nhỏ, ánh mắt như cầu khẩn:


– Chị ơi! Khi nào chị nấu cơm xong, chị đừng đưa nồi ra suối rửa, chị làm ơn dấu cái nồi trong bụi rậm này cho chúng tôi chị nhé.


Hai hình ảnh đó làm tôi như chết lặng. Trời ơi! Những người tù cải tạo, những con người khốn khổ sao ra nông nỗi này? Sao biến đổi như thế này? Cộng sản quá ti tiện bẩn thỉu, hành hạ người tù bằng cách này.


Hai nắm cơm trắng nằm trong chiếc khăn tay. Tự nhiên hình ảnh chồng tôi qua hình ảnh hai người tù cải tạo ấy làm tôi chẳng thấy đói. Một nắm tôi gói lại cho chồng, một nắm tôi bỏ lại trong nồi cùng ít cơm cháy, chờ trời sáng tôi dấu vào bụi rậm, không biết người tù nào may mắn được ăn nắm cơm này.


Đặt lưng xuống chiếc giường tre, tôi không ngủ được, trằn trọc thao thức đếm từng tiếng chim cú kêu ngoài rừng, đếm từng tiếng gà rừng gáy. Chỉ còn vài giờ đồng hồ là tôi được gặp người chồng yêu thương của tôi. Thời gian trôi qua chậm lòng tôi bồn chồn nôn nao khó diễn tả, bao nhiêu hình ảnh của chồng, bao nhiêu tâm tình muốn nói với chồng đầy ắp trong đầu, không biết sắp xếp câu nào trước câu nào sau, vì chỉ có 15 phút. Mắt cứ mở lớn nhìn trên nóc mùng, từng bầy rệp, họ hàng nhà rệp, phải nói là cả xã hội rệp lớn nhỏ có đủ, vừa ngửi thấy hơi người, thi nhau bò theo hàng theo lớp thật nhanh xuống chỗ tôi nằm để hút máu, cái mền cũng vậy, rệp bò lổn ngổn lúc nhúc, mùi tanh tanh ngai ngái đến lợm giọng. Bỏ mền ra thì lạnh, cái lạnh của miền núi rừng cao nguyên tê buốt thấu xương, ra ngoài ngồi thì bị muỗi rừng chích, tôi đành chịu để rệp hút máu. Nhìn đoàn rệp bò như hội chợ, con no máu bụng căng phồng chậm chạp bò lên nóc mùng, con nào còn thèm thuồng lại bò xuống, cứ như vậy bò lên bò xuống suốt đêm. Tôi thương tôi bị rệp hút máu, tôi lại đau xót cho đất nước và đồng bào tôi, chịu để bị tàn phá rỉa róc đến tận xương tủy.


Trời hừng hừng sáng, tiếng kẻng lanh lảnh phát ra từ trong trại tù, hàng loạt vang dội vào tai tôi đến nhức óc, tiếng kẻng báo hiệu những người tù đi làm khổ sai. Mọi người lăng xăng háo hức xếp đồ thăm nuôi gọn gàng chờ gặp người thân, có người sắp đồ để bên cạnh cái bàn như thể chồng mình đang ở đó. Tôi cũng nôn nao hồi hộp, mắt hướng về bên kia bờ suối mong ngóng. Từ đàng xa, người công an dẫn những người tù đi đến, tất cả mọi người chúng tôi chạy ùa ra đứng cạnh bờ suối, chỉ mong nhìn thấy chồng mình trước, nhưng những người tù đó rẽ ra hướng khác làm mọi người hụt hẫng ngơ ngác. Tôi không ngạc nhiên, biết chắc tốp tù đó không có chồng tôi, vì họ mắc bộ đồ tù màu xám nhạt, trước ngực và sau lưng đều đeo bảng số, người nào cũng như bộ xương biết đi được khoác lên bộ đồ tù rộng thùng thình, vạt và tay áo phất phơ như hình thằng bù nhìn mà nông dân thường treo ngoài ruộng rẫy để đuổi chim. Thêm hai lớp tù nữa đi qua, họ đi bên kia bờ suối khoảng cách hơi xa, nhưng họ cứ ngoái lại nhìn chúng tôi, trông thật tội nghiệp. Mặt người nào cũng còm cõi hốc hác. Tôi đoán họ là tù hình sự, chắc bị hành hạ tra tấn dữ lắm nên thân xác họ tiều tụy như vậy. Tiếng các bác các chị nhao nhao:


– Đang ra kìa! Đang đến nữa kìa, chắc lần này đúng rồi.


Tôi bước ra chỗ khác để nhìn cho rõ, vẫn thấy hai người công an mặc áo màu vàng cầm súng đi chung với tù cải tạo, nhưng tốp này ít người tù hơn. Họ cũng mặc áo tù màu xám có bảng số. Tôi nhìn dửng dưng, người tôi đang mong đợi là chồng tôi, chứ không phải những người tù hình sự đó. Những người tù đến gần bờ suối, người nào cũng hướng về chúng tôi, mắt tôi nhìn về một người vì người ấy nhìn tôi mỉm cười. Tôi thấy tội nghiệp vì bộ đồ tù quá rộng phủ lên người đó, còn tóc cắt ngắn gần như trọc nhẵn. Mắt tôi vẫn trông theo người đó, tôi hơi ngạc nhiên, người đó xa lạ tôi không quen tại sao cứ nhìn thẳng vào tôi. Quay sang chị bên cạnh, tôi chỉ vào người tù đó:


– Chị ơi! Tôi không quen người tù đó, mà sao nhìn tôi cười.


Chị ta nhìn theo hướng tay tôi chỉ:


– Chắc người nhà chị, cười với chị, chứ tui đây sao không cười với tui. Chị ta cười nói đùa:


– Trời ơi! Nhìn thấy chồng mà mặt làm bộ tỉnh queo.


Tôi cãi lại: “Chồng tôi nhìn đâu như vậy”. Những người tù qua hẳn bên này suối, khoảng cách thật gần, cách tôi chừng 5 bước. Bỗng mắt tôi hoa lên, chân đứng không vững, bầu trời như sập xuống. Tôi mở to mắt nhìn, như không vào mắt mình, tim tôi đập mạnh trong lồng ngực. Ôm lấy ngực, cắn chặt môi để không thét thành tiếng, tim tôi đau nhói.


Ôi! Chồng tôi, chồng tôi đấy ư! Chồng tôi ra nông nỗi này sao? Không lẽ là anh, lúc này tôi nhận rõ anh qua ánh mắt. Ánh mắt ngày xưa nhìn tôi yêu thương nồng nàn, bây giờ cũng ánh mắt ấy nằm trong một hốc sâu trông thật xót xa. Đôi mắt to tròn đầy cương nghị chỉ còn là hai hố sâu hoắm trên cái đầu lâu được bọc da. Đau xót thương cảm tôi nghẹn ngào, nước mắt cuồn cuộn thi nhau chảy. Trời ơi! Hình dạng chồng tôi hao mòn biến đổi ra thế này ư. Tôi đưa tay bụm chặt lấy miệng để tiếng khóc không thoát ra ngoài, mặt tôi dàn dụa nước mắt, tim nhói đau theo nhịp tiếng khóc trong cổ họng. Hình ảnh chồng tôi lung linh qua làn nước mắt. Anh nhìn tôi đau khổ, đầy nước mắt khô,môi anh khẽ mấp máy:


– Nín đi em, nín đi em. Anh đây! Anh không sao, anh còn sống!


Tôi đứng nhìn anh chết sững, Tôi biết những dòng nước mắt của tôi sẽ làm anh khổ, nhưng tôi không thể nào cầm lòng được khi nhìn thấy chồng như thế này. Tôi muốn chạy lại ôm chặt lấy anh, ôm lấy hình hài như da bọc xương của anh, san sẻ cho anh chút sinh lực hơi ấm nơi tôi. Nhưng tôi không làm được, cặp mắt hai tên công an cầm súng trừng trừng nhìn chúng tôi như ngầm bảo “không được lại gần những người tù”, chúng tôi thật gần mà khoảng cách thật xa bởi quyền lực.


Sáu người tù đứng theo hàng trước nhà thăm nuôi. Tôi chờ tiếng nói của 2 tên công an cho phép gặp gỡ người tù, sẽ chạy đến bên anh, đưa anh vào chỗ nơi tôi để sẵn giỏ đồ thăm nuôi. Nhưng tên công an ra lệnh mấy người tù thứ tự theo hàng đứng vào một bên hàng ghế, còn một bên hàng ghế đối diện, tên công an hất mặt lại phía những người đi thăm nuôi.


– Này! Ai là người nhà, chỉ được một người thôi, ngồi phía bên kia người nhà của mình.

Chúng tôi lần lượt như một cái máy bước nhanh vào chỗ ngồi đối diện. Những người tù ngồi bất động, xót đau nhìn người thân của mình, kiên nhẫn chờ đợi. Người công an đứng ở đầu bàn hắng dặng, gằn giọng nói:


– Trước khi người nhà tâm sự với nhau, phải tuân theo điều luật, động viên các anh ấy học tập tốt, nhất là không được khóc làm nản chí học tập các anh ấy. Phải biết là nhà nước cách mạng đánh đuổi Mỹ- Ngụy ra khỏi nước, nhà nước đã khoan hồng cho các anh ấy học tập để không còn theo Mỹ-Ngụy đánh đổ nhà nước, bây giờ đã hòa bình, xã hội chủ nghĩa là xã hội tự do vv…Ôi chao, tên công an cứ như con vẹt đọc bài thuộc lòng, những lời tên công an không lọt vào tai chúng tôi. Mắt và đầu óc tôi chỉ chăm chú vào chồng tôi, nước mắt tôi vẫn không ngừng rơi.


Trong phòng thăm nuôi im lặng, ngoài tiếng nấc, tiếng sụt xịt nghẹn ngào trong cuống họng và tiếng giảng thuyết lên lớp của tên công an, kéo dài như cố tình quên 15 phút thăm gặp. Những giọt nước mắt của tôi như động lực đưa bàn tay anh về phía tôi, như muốn vỗ về an ủi mà trước đây mỗi lần tôi khóc. Bàn tay anh rướn gần tới bàn tay tôi thì ngừng lại, vì tên công an cầm súng tiến gần phía sau lưng tôi, ngón tay anh run rẩy như những lóng xương đang động đậy. Lòng tôi đau như cắt, chẳng nói được gì ngoài hai hàng nước mắt, tôi muốn vươn tới nắm lấy bàn tay xương xẩu của anh, nhưng cặp mắt của tên công an vừa nói vừa liếc nhìn chúng tôi. Dưới gầm bàn, tôi cảm được bàn chân chồng tôi đang động đậy kiếm bàn chân tôi, trút vội cái dép khỏi chân tôi đưa chân mình lần mò đặt lên chân anh, để chồng tôi nhận hơi ấm và tình cảm của tôi lén lút gửi qua bàn chân anh. Bàn chân chồng tôi đang lạnh từ từ ấm lên, tôi khóc mà cảm được hạnh phúc qua đôi bàn chân. Cho tới khi tên công an cho phép trao đổi tâm tình, thời gian chỉ còn 5 phút ngắn ngủi, tôi chẳng nói được gì với chồng tôi, ngoài tiếng nấc nghẹn ngào, gật đầu và lắc đầu theo tiếng hỏi thăm của chồng tôi về bố mẹ và hàng loạt người thân mà chồng tôi nhớ tới. Hết giờ thăm nuôi.


Tới lúc kiểm tra đồ thăm nuôi, có món mẹ tôi cố công làm gửi cho anh và vài món khác không hợp lệ bị gạt ra. Tôi hồi hộp nhìn những món đang kiểm tra, tới món mỡ chưng hấp với đường cát trắng, tôi nặn óc nghĩ mãi cách qua mặt tên công an, mở gói mỡ ra, những miếng mỡ trong veo bọc với đường cát trắng trông giống như miếng mứt bí, tên công an cầm từng miếng lên ngửi, thắc mắc hỏi tôi:


– Cái này là thứ gì?


Tôi trả lời nhanh để hắn khỏi nghi ngờ:


– Thưa cán bộ, thứ này là mứt bí, Tết qua lâu rồi sợ bị hư, tôi gởi cho chồng tôi để ăn tết muộn ạ.


Như thể tên công an chưa bao giờ nhìn và nghe nói mứt bí, vẫn thắc mắc:


– Mứt bí là cái thứ gì?


Có lẽ người ngoài Bắc không hiểu tiếng người trong Nam. Tôi lại giải nghĩa:


– Mứt này cứ vào dịp tết, chúng tôi lấy quả bí đao cắt lát, ướp với đường phơi khô thành mứt, gọi là mứt bí.


Tôi thở phào khi tên công an bỏ miếng mỡ heo vào gói và đẩy về phía chồng tôi, anh nhanh tay bỏ vào giỏ của mình, chỉ sợ bị lấy lại. Tên công an giả lả:


– Mất bí đao thì cứ gọi là mất bí đao. nói là mứt..mứt …,ai mà biết.


Vài tiếng cười khúc khích nho nhỏ của mấy người đi thăm nuôi đứng gần đó. Tên công an quay lại gừ lên: – Các chị cười cái gì vậy. Còn nắm cơm, tôi gói vào tờ giấy đã nguội ngắt, hắn cầm lên sừng xỏ với tôi:


– A! Chị này giỏi thật. Dám xỉ nhục cách mạng. Chị tưởng nhà nước chúng tôi bỏ đói chồng chị hả, tôi bỏ lại hết đồ thăm nuôi của chị bây giờ.


Lúc đó tôi run quá, vì thương chồng mà làm hại tới anh. Sợ chồng tôi không được nhận những món đồ thăm nuôi, tôi định lấy lại nắm cơm và xin lỗi tên công an, nhưng thấy ánh mắt chồng tôi nhìn vào nắm cơm. Tôi thật đau lòng và xấu hổ cho sự hèn nhát yếu đuối của mình khi phải nói những gì không đúng sự thật, giọng tôi run run uất ức:


– Thưa cán bộ! Tôi biết nhà nước cách mạng khoan hồng cho chồng tôi, được đi học tập cải tạo như vậy là tốt, để chồng tôi thông suốt đường lối, sống tốt với nhà nước với nhân dân. Còn tôi đâu dám xỉ nhục nhà nước, nắm cơm này tôi nắm để ăn, còn thừa đã hơn một ngày rồi, nó bắt đầu hơi thiu, bỏ đi thì tiếc. Tôi để lại cho chồng tôi ăn, nếu không còn ăn được, chồng tôi vất đi cũng được mà.


Những lời tôi nói làm dịu lòng tên công an, cầm cuốn sổ tay, tên công an gõ vào cạnh bàn, nói.


– Chị hiểu được nhà nước như vậy là tốt, thôi được, cho phép chồng chị lấy nắm cơm thiu này. Chồng tôi chỉ chờ có vậy, cầm vội nắm cơm bỏ vào giỏ và bước nhanh vào hàng đi theo hai tên công an vào lại trại.


Chúng tôi nước mắt tiễn đưa những người thân tới bờ suối, ranh giới của chia cách. Những người tù ngoái lại nhìn chúng tôi trông rất thương cảm xót xa, không biết có lần sau gặp lại vợ mình, người nhà của mình nữa không?


Mọi người trở vào thu xếp để đi về. Bóng chồng đã khuất hẳn, tôi thẫn thờ nán lại bên bờ suối, nhìn về hướng trại giam như để hy vọng còn nhìn thấy anh. Tiếng các chị gọi ơi ới:


– Không gặp lại nữa đâu, đi về đi.


Bước vào nhà thăm nuôi, nhìn từng chỗ vẫn thấy hình ảnh chồng tôi, từ chỗ anh đứng xếp hàng, chỗ ngồi vào ghế, lúc anh đứng nhích tới để xếp đồ vào giỏ, từng hình ảnh một hiện lại trong mắt tôi. Tôi ngồi vào ngay chỗ anh ngồi, tưởng tượng anh còn đang ngồi với tôi, tay tôi xoa xoa mặt bàn tìm chút hơi ấm còn đọng lại của anh. Nước mắt tôi lại trào ra, chỉ là tưởng tượng, mặt bàn trống trải lạnh tanh, hơi lạnh chuyền vào tay thấm tới tim tôi, ngơ ngác tôi như còn muốn kiếm tìm.


Mặt trời đã lên cao. Tôi ra về mà lòng trĩu nặng xót đau, hình ảnh tù tội khốn khổ của chồng luẩn quẩn quanh tôi là hành trang yêu thương theo tôi suốt cả cuộc đời. Từng bước chân nặng nề bước trên con đường dốc ven đồi, đầu tôi ngoái lại như hồn còn ở giữa núi rừng hoang vu.


Từ xa, nơi ngã ba đường, hình dáng như quen thộc đang tiến vào con đường tôi đang đi. Ồ! Thì ra ông cụ cùng chuyến xe sáng hôm qua. Tôi đứng lại chờ, dáng ông thất thểu lom khom từng bước chậm chạp, không còn vẻ nhanh nhẹn như hôm qua. Thấy tôi ông chỉ hơi nhếch mép, vẫn cái miệng móm mém của ông, tôi nhanh nhẩu chào:


– Chào bác! Hai bác cháu mình có duyên gặp lại nhau, sao bác? Con trai bác có khỏe không?


Tôi chào hỏi để có chuyện nói chứ cùng cảnh thăm tù, thấy người thân nỗi đau như xé ruột gan. Ông cụ òa lên khóc, tiếng khóc nỉ non ai oán.


– Tôi khổ quá cô ơi! Lặn lộn đường xa mong gặp con mà chẳng được gặp.


Tôi cầm lấy tay ông lắc lắc, lo sợ!


– Sao vậy bác! Anh ấy bị làm sao?


Như cào vào nỗi đau thương của ông, mếu máo ông càng khóc to hơn:


– Tội nghiệp cho con tôi, nếu tôi đi thăm một tuần trước đây thì đâu đến nỗi này, con tôi bị giam vào nhà đá mấy bữa nay rồi cô ơi. Ông khóc hu hu, giọng nghẹn ngào đứt quãng: “ Khổ thân con tôi! Sao con khổ vậy, con làm gì nên tội mà họ hành hạ con”!


Nước mắt tôi chảy theo nước mắt ông, cùng hoàn cảnh và tâm trạng. Kẻ khổ không gặp được con, người đau nhìn chồng thân xác hao mòn xác xơ. Một già một trẻ chung niềm đau, chậm chạp lê bước trên đường.…


Sau này, những đêm nằm gối đầu trên cánh tay chồng, tôi thường nghĩ đến những năm tháng sống trong đen tối khổ đau, những tủi nhục khổ cực mà chồng tôi chịu đựng trong nhà tù khổ sai mà Cộng sản gọi là “ tập trung cải tạo”. Tôi thì thầm hỏi anh nghĩ gì mỗi lần nhìn thấy tôi và ngày đó ở trại tù Gia Trung, cảm giác của anh khi bàn chân tôi tìm để trên bàn chân anh dưới gầm bàn, anh bóp nhè nhẹ bờ vai tôi cách âu yếm. Ngày mất nước, anh mất tất cả. Ngày vào tù, coi như anh đã chết. Những lần thấy tôi, nhìn tôi tàn tạ héo úa, anh rất khổ. Anh bất lực trong hoàn cảnh không thể an ủi xoa dịu tôi, anh không khóc được như tôi đã khóc, anh dồn nén niềm đau của mình càng làm anh đau hơn. Nhưng anh vẫn nhìn thấy nơi tôi một vùng trời đầy hy vọng, giúp anh thêm niềm tin và nghị lực. Và lần đó, anh không nhận được hơi ấm từ bàn chân tôi, có thể chân anh và tôi khoảng cách hơi xa, nên chân tôi đặt lên bàn chân người bạn tù ngồi kế bên.. Thôi thì người bạn tù đó cũng cảm được sự an ủi, hạnh phúc nghĩ đó là chân của vợ mình.


Anh quàng tay ôm chặt lấy tôi, như thể bàn tay anh còn quá hẹp, không đủ ôm cả niềm yêu thương hạnh phúc của mình. Còn tôi, rúc vào cổ vào ngực anh, hạnh phúc nghe được nhịp tim và hơi ấm, như đang nghe điệu nhạc dịu êm, ru tôi vào giấc ngủ trong vòng tay ấm áp của anh, mà trước đây tôi thường phập phồng lo sợ tưởng rằng mình không bao giờ còn có những giây phút này.


24/4/2014

Hoàng Yến

From: Bác sĩ: Hanh Van Phung

Những Điều Ghi Nhớ Mãi Trên Đất Bắc

Những Điều Ghi Nhớ Mãi Trên Đất Bắc
 

“Nhớ Đào Quốc Đương, Hiến và Tiến”

– Phần cuối –

Mạc Thiên

Mấy ngày nay trời đã bắt đầu lác đác những trận mưa đầu mùa, nhưng trận mưa buổi sáng hôm nay quá lớn. Nước từ núi cao tràn xuống ào ào như thác vỡ, mực nước hồ Thác Bà dâng lên cao tràn vào cả sân trại, ngập đến gần đầu gối. Cả trại được nghỉ, nhưng được triển khai thành buổi sinh hoạt học tập. Khởi đầu buổi sinh hoạt nào cũng giống nhau: quản giáo chủ tọa, đội trưởng khai mạc buổi sinh hoạt bằng ba bài hát của tập thể đội do một anh trại viên được chỉ định “cầm càng” (chữ của thiếu úy quản giáo Đặng Quang Ba: “Anh Ích đứng dậy cầm càng cho tập thể đội làm vài bài…”). Sau này, không biết do ai khởi xướng mà “làm vài bài” đã biến thành “làm vài bãi…” Sinh hoạt đội có nghĩa là phê bình, bới móc nhau, rồi tự bới móc mình, nhận khuyết điểm, ưu điểm, tự đánh giá thái độ cải tạo, đồng thời hạ quyết tâm định “phương hướng tới”. Tôi được Đặng Quang Ba chỉ định phát biểu đầu tiên:

– Thưa cán bộ, thưa tập thể đội, tuần vừa qua, tôi phạm nhiều khuyết điểm, một là tôi đã làm thơ ủy mị khiến cán bộ trên đoàn phải xuống “làm việc”. Cán bộ đoàn đã chỉ vẽ cho tôi những sai phạm. Tôi hoàn toàn thành khẩn nhận lỗi và được cán bộ ghi nhận những nhận thức mới của tôi là có tiến bộ. Khuyết điểm thứ hai là phải nghỉ mất ba ngày để “làm việc”, nên không đảm bảo ngày công trong tháng, trong tuần. Tôi thành khẩn nhận khuyết điểm trước đội và rút kinh nghiệm để sửa chữa. Tôi xin hết!”. Đặng Quang Ba can thiệp liền:

– Không được nhận khuyết điểm chung chung như vậy! Thơ phải đọc lên, chỉ rõ những nhận thức sai trái của mình trước đội, có như thế mới nhận ra những sai lầm. Riêng phần kỷ luật là do trên quyết định sau.

Tôi nhẫn nhịn:

– Vâng, tôi cũng muốn đọc lên, nhận khuyết điểm trước cán bộ và tập thể, nhưng vị cán bộ đoàn cấm tôi không được nhớ, không được đọc những bài thơ sai trái đó, giờ quản giáo ra lệnh, tôi xin tuân theo!

Đặng Quang Ba nghe tôi nói như vậy, vội vã giơ tay ngăn:

– Thôi, đồng chí cán bộ cấp trên đã chỉ thị như thế thì chúng ta phải tuân hành thông qua, các anh đồng ý không?

Như những chiếc máy, 50 cái miệng gào lên thật lớn: “Đồng ý!” để khỏi bị bắt gào đi, gào lại mấy lần.

Cũng chiều hôm ấy, tôi lên cơn sốt, có lẽ vì thấm mưa chiều hôm trước, và do hơi đất ngột ngạt bốc lên. Cũng tối hôm đó, tối thứ 5, toàn trại phải lên hội trường học hát, trời vẫn mưa lác đác, nước rút đi để trơ lại bùn lầy, tôi cáo bệnh, xin đội trưởng ở lại lán. Chừng nửa tiếng đồng hồ sau, trại có lệnh cho tất cả phải lên hội trường, dẫu đau ốm, miễn là còn sống. Tôi thấy Đặng Quang Ba gọi “Bẩy Xe Lửa” và Lữ Văn S, tổ trưởng tổ 3, và đội phó Nguyễn Văn X ra nhỏ to, chắc là có chỉ thị gì đặc biệt.

Đến 9 giờ 30 tối, tất cả về lán, lán tối đen và lầy lội những bùn. Bỗng có 7 người bỗng dưng hô hoán là mất đồ để trên “dàn giá ba lô”. Cuộc điều tra khởi đầu ngay tức khắc, phát hiện ra 7 chiếc ba lô “quân từ trang” của 7 anh em bị mất. Hàng rào tre nứa bị vẹt ra, vết giày ba ta còn in trên nền đất. Kết luận được đưa ra là nhân lúc toàn đội lên học hát, kẻ gian đã xâm nhập, ăn cắp đồ của trại viên. Tất cả thật rõ ràng. Sáng hôm sau, đội trưởng, đội phó và 5 tổ trưởng được lệnh ở lại trại để “sinh hoạt lãnh đạo đội.” Tối hôm đó, trời lại đổ mưa, sinh hoạt đội được triển khai rất sớm. Dưới ánh đèn dầu tù mù, mọi thủ tục được lập lại, Đặng Quang Ba đứng giữa lán, vẻ mặt gian ác. Trong lán không một tiếng động, chỉ còn lại âm thanh của những giọt mưa gõ trên mái nứa. Gã nhìn từng người, ánh mắt chứa đựng vẻ uy hiếp và cất cao giọng, hai hàm răng xít lại làm tôi nhớ đến tấm bia trên bãi tác xạ ngày mới vào quân trường:

– Sự việc xẩy ra tối hôm qua, bẩy trại viên đã bị “âm mưu đen tối của thế lực thù địch” ăn cắp với mưu đồ nghiêm trọng. Làm thế nào người ngoài biết được trong các ba lô để trên “sự nghiệp dàn giá ba lô” chứa quần “gan”, quần “tẹc”, vậy thì phải có sự tiếp tay “nội bộ tổ chức”, ý đồ thâm độc là móc ngoặc với dân để “âm mưu trốn trại”. Sự việc ấy đã rõ ràng. Hôm nay ta phải tìm ra kẻ địch “trong lòng dân tộc, tổ chức” để “ngăn chận kịp thời âm mưu đen tối phát sinh từ những ý đồ xấu xa.” Ban chỉ huy trại và hội đồng cán bộ dưới ánh sáng vinh quang của đảng, đã tìm ra kẻ đó là ai. Tuy nhiên, để thực hiện tính dân chủ, tổ chức đội lấy biểu quyết, nếu quá bán thì kẻ đó có tội và bị thi hành kỷ luật, nếu không đủ quá bán, kẻ đó vô tội. Thủ phạm gian tham phản động hôm nay được đưa ra trước tòa án của tập thể đội, đó chính là tên “Mạc Thiên”, và hắn phải đền tội.

Tôi đã dự đoán được âm mưu này, vì chiều nay, ánh mắt của tên Bẩy nhìn tôi khác lạ. Tôi biết số mạng của tôi đã được quyết định thông qua bàn tay của anh em. Tôi giơ tay xin phát biểụ Đặng Quang Ba chặn lại:

– Không cho phép mày phát biểu!

Tôi phản ứng quyết liệt:

– Tôi xin phát biểu để thể hiện tính dân chủ mà cán bộ vừa nói!

Tôi nhìn thẳng vào mắt y, y có vẻ bối rối:

– Cho phép mày nói 5 phút!

– Tôi chỉ cần 2 phút!

– Được, cho phép!

Tôi vẫn ngồi im tại chỗ, nhìn khắp lượt anh em. Nhiều người cúi đầu hoặc rút vào bóng tối. Giọng tôi đanh lại nhưng chứa đầy tình cảm. Tôi biết sự sống chết của tôi là lúc này:

– Thưa anh em toàn đội! Các anh, tất cả chúng ta đều có học, biết phán đoán đúng, sai. Tôi chấp nhận sự phán quyết của anh em, và sinh mạng tôi đặt trong tay anh em. Các anh phán quyết tôi theo lương tâm của mình. “Các ngươi đong cho ai bằng đấu nào, ta sẽ đong cho các ngươi bằng đấu đó!” Lời của Thượng Đế đã phán truyền, máu của kẻ vô tội sẽ chảy trên đầu con cái chúng ta. Tôi xin hết!

Cuộc biểu quyết lập đi lập lại câu hỏi “ai cho rằng tên Mạc Thiên có tội hãy giơ tay biểu quyết!”. Cả đội im phăng phắc. Một vài cánh tay ngập ngừng rồi bỏ xuống, trừ tên Bẩy, tên Xuân là giơ thẳng cánh. Đặng Quang Ba tím mặt, giọng hắn rít lên:

– Ai cho thằng Thiên không có tội, giơ tay lên!

Tất cả những cánh tay giơ cao, trừ hai tên Bẩy và tên Xuân.

Tên quản giáo hùng hổ hét lớn:

– À, thì ra chúng mày toa rập! Ông cho mục xương, mục xương!

Nói xong, y vội vã bước ra khỏi lán.

Bỗng dưng tôi cảm thấy một khoảng không mở ra trong lòng tôi, một cơn mệt lạ lùng dìm tôi xuống trong một cảm giác mơ hồ.

Cùng lúc đó, ngoài trời đêm, nhiều ánh đuốc bập bùng, một đoàn người khá đông tiến vào trại áp giải theo một người bị trói thúc ké, thủ phạm ăn cắp đã bị bắt ở chợ, khi y đem quần áo, tư trang ăn cắp của 7 trại viên ra chợ bán và bị công an tóm giải về trại.

Hắn chính là tên bộ đội quản chế trêu chọc Mận hôm trước, và hắn cũng chính là tên gác đêm hôm qua lúc chúng tôi lên hội trường học hát. Sự việc vỡ lở, cả trại xôn xao, ban chỉ huy trại không thể dấu nhẹm được. Ba ngày sau, tên Bẩy bỗng thổ huyết. Ôi, “Chúa có bàn tay của Chúa!”…

*

Lần đầu tiên tôi nếm mùi “kỷ luật” cũng do một bài thơ. Để chào mừng “quốc khánh” 2975, tất cả mọi trại viên phải tham gia “viết báo tường” với chủ đề “học tập tốt, lao động tốt”. Thời hạn nộp bài là ba ngày. Ngày ấy mới vào Long Giao, lao động chỉ quẩn quanh trong khu vực doanh trại, dọn dẹp vệ sinh, tu sửa nơi ăn chốn ở, làm cỏ và trồng tỉa. Mùa mưa đã đến được trên ba tháng, đám lau sậy đã cao hơn đầu người, mà cuốc xẻng chỉ là những cọc sắt đập dẹp đầu và uốn cong lại, do đó, những bàn tay phồng rộp, xây xát, cả đội cũng đã khẩn hoang được một khu đất rộng gần chừng một mẫu, chia cho 5 tổ đảm trách việc trồng trọt, ai muốn trồng gì cũng được, miễn là cho kín khu đất. Từ cảm hứng ngậm ngùi ấy, tôi đã viết bài thơ “Một ngày lao động tốt”:

Này luống khoai xanh, luống đất hồng

Đây vòm sắn mượt cụm rau non

Mồ hôi nhỏ xuống từng vuông cỏ

Ý đất, lòng khoai có biết không?

Mạch sống nhen theo mạch núi rừng

Chòm cây lối cỏ nhớ sương trong

Mưa nguồn chớp bể đêm qua đó

Chắc hẳn chưa tàn nụ hướng dương.

Nhát cuốc ta phăng bụi cỏ này

Ngại gì không mạnh sức đôi tay

Mai kia nắng dạt chiều đông xám

Và gió hừng đông lả bóng cây.

Ôi, đó đời ta, mảnh đất này

Bụi cà chen chúc cụm rau đay

Vui buồn trộn lẫn vài công đất

Ý lá, lòng hoa, hương cỏ may.

Bẩy ngày kỷ luật hưởng theo tiêu chuẩn trại giam. “Trại giam” là một cái thùng conex được chôn trong lòng đất, chằng chịt kẽm gai bao quanh. Trời nắng thì van trời, đêm mưa thì lạy đất.

Lần thứ hai, tai họa đến từ buổi học tập “nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là ưu việt”. Mọi người phải phát biểu ý kiến, triển khai ca ngợi đảng và xã hội chủ nghĩa, sau đó viết bài thu hoạch. Tôi ngồi khuất vào góc phòng, lơ đãng nghe anh em moi óc tìm cho ra những từ ngữ có thể tìm được để ca tụng “xã hội chủ nghĩa ưu việt”. Vẻ lơ đãng của tôi lọt vào mắt cú vọ của tên quản giáo Đặng Quang Ba, và hắn yêu cầu tôi đứng lên phát biểu. Hắn bảo:

– Anh hãy nhận xét những ưu và khuyết điểm của nền kinh tế ưu việt của xã hội chủ nghĩa!

Không lẽ tôi lập lại những “lời hay ý đẹp” mà anh em trong đội nặn óc nghĩ ra, và sẽ bị đánh giá là không chịu “động não”, là chung chung, là thiếu sâu sắc. Thôi vậy, tôi phải nói những điều tôi đã nghĩ, đã được đọc:

– Thưa cán bộ quản giáo, thưa anh em, trong tác phẩm vĩ đại “Công cuộc cách mạng nhân dân” của “cụ” Tổng Bí Thư Lê Duẩn, trang 506, dòng 14 có một đoạn viết rằng, “nhân một lần về thăm một xã nghèo thuộc tỉnh Nam Hà, “cụ” Tổng Bí Thư đã nói với lãnh đạo của xã ấy như sau:

“Nếu xã viên không có trên 3 sào ruộng đất, thì không nên vào hợp tác xã, cứ để cho họ làm ăn riêng lẻ, như vậy thành quả sẽ cao hơn, mới đủ sống.” Tại sao như thế? Tại sao làm ăn riêng lẻ lại có kết quả tốt hơn vào hợp tác xã? Chúng ta vẫn thường nghe các cụ, tổ tiên chúng ta nhắc đi nhắc lại câu nói “cha chung không ai khóc”, vì vào hợp tác xã, chẳng ai muốn tận lực ra sức làm việc, do dó thành quả sẽ thấp hơn canh tác cá nhân. Chẳng ai vạ gì đổ mồ hôi tận lực, trong khi những người khác lơ là, làm chiếu lệ. Tuy nhiên, tôi được biết, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa, phải xây dựng con người chủ nghĩa xã hội.” Cái khuyết điểm về yếu tố tâm lý dựa dẫm ấy, đã được Hồ Chủ Tịch nhìn thấy, nên mới quan tâm đến nhân sự, đến “con người chủ nghĩa xã hội”. Do đó, tôi xét thấy rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng có mặt hạn chế của nó!”

Gương mặt tên quản giáo xạm lại, mọi người nín thở, và tôi tự trách mình dại dột, dù đã mang hai nhân vật “vĩ đại” ra làm cái khiên che chắn, thế nhưng, chỉ ba ngày sau, tôi lại phải vào trại kỷ luật.

Chưa đầy hai năm, kể từ lần cùm đầu tiên, lần này là lần thứ ba, và cũng như lần đầu, tai họa đến từ những vần thơ. Theo tử vi, cặp văn xương, văn khúc, gọi tắt là văn khúc, là cát tinh riêng đối với tôi, nó đúng là hung tinh số một (và 14 năm sau, tôi lại bị “hạn” xương khúc lần nữa, và lần này nặng hơn nhiều).

Lần thứ 3 xẩy ra hơn một tháng sau ngày chấm dứt buổi “làm việc” với viên đại tá. Không một ai trong trại biết tôi bị kỷ luật. Lần này không hề đọc lệnh bắt giam, lệnh thi hành kỷ luật đối với trại viên phạm lỗi, bởi vì cái tội của tôi khó viết thành văn tự.

“Con ạ, từ khi bố vắng nhà

Đến nay, thắm thoát mấy năm qua

Khi đi con hãy còn măng sữa

Thơ dại nào hay buổi thiếu cha

Người ta bảo bố phải yên lòng

Hài tội mình ra giữa đám đông

Con ơi, tội bố nhiều ghê lắm

Nặng nhất là vì tội nhớ con!

Tôi bị cùm hai chân trong nhà ngục chìm một nửa trong lòng đất, tường xây bằng đá tảng với muối, không một chút ánh sáng, buổi trưa ngày nắng dội, trong ngục cũng chỉ lờ mờ một thứ ánh sáng như đêm trăng suông. Hai bên bệ xi măng cao chừng 30 cm (hoàn toàn giống như một ngôi mộ) là hai trụ đá, xuyên qua hai trụ đá là một thanh sắt lớn. Hai chiếc cùm chữ U lồng vào hai cổ chân, và thanh sắt dài xuyên qua hai vòng khuy của mỗi thanh sắt chữ U, xiết hai cổ chân rồi xuyên qua bức tường khóa cứng ở bên ngoài.

Viên cán bộ có cặp chân mày sâu róm và ánh mắt hung bạo lấy làm thú vị khi hai thanh sắt chữ U nịt chặt lấy cổ chân của tôi. Y cười gằn, vung vẫy chùm chìa khóa:

– Chết cha mày nghe con, đây là mồ chôn của mày, mày sẽ cạp cứt mà chết, chuyên chính sẽ nghiền nát mày như cám bụi!

Nói xong, y vung chùm chìa khóa quật vào mặt tôi, cũng may, tôi tránh kịp, nhưng tôi lại không thể tránh được những cú đạp túi bụi vào người, tôi phải gồng mình lên mà chịu đựng. Khi cửa hầm sập lại, căn hầm tối đen. Tôi ngồi im trong bóng tối mịt mùng, đầu óc trống rỗng. Bầy muỗi đói ào ra, trong im lìm, tiếng muỗi bay lớn dị thường. Cũng may, bộ đồ tù tôi mặc trên người là bộ đồ trận của Biệt Động Quân, tuy thế, cũng không cản được những cái vòi như kim châm của bầy muỗi đói. Đó là ngày 19/5/1977, ngày sinh của ông Hồ (?). Đó là ngày thứ nhất và ngày sau cùng, làm sao biết được là bao giờ, vì lần này không có lệnh kỷ luật, nên không có thời hạn.

Tôi ngồi im như thế không biết là bao lâu. Khi hai nhượng chân gác đè lên thanh sắt, đôi chân từ cảm giác tê dại đã chuyển thành nhức buốt. Cũng may, đôi dép râu của tôi y đã quên không tịch thu, do đó, tôi dùng nó đỡ cho hai gót chân hổng lên, để khỏi đè lên thanh sắt. Cũng nhờ thế mà sau này tôi còn đi lại được. (Ôi, đôi dép sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!)

Dẫu trong hoàn cảnh nào cũng phải sửa soạn cho cuộc đầy ải, bằng tất cả những gì có thể có được. Tôi cởi áo lót trùm kín lên đầu, xé chiếc quần đùi đang mặc bao lấy đôi bàn chân, phòng thủ cuộc tấn công hung bạo của bầy muỗi. Tôi ngả lưng xuống và thiếp đi. Mỗi một ngày, cửa hầm chỉ mở một lần vào buổi chiều để mang cơm cho tù. Trong phòng, ngoài trừ một ống vầu để tiểu tiện, một để đại tiện, còn một ống vầu cắt ngắn để đựng vừa đủ hai giá cơm, khoảng hơn một chén, và một ống vầu chứa một lít nước uống. Gọi là cơm, thật ra, từ ngày ra Bắc, lương thực của chúng tôi quẩn quanh chỉ toàn là bo bo, sắn lát, và cao cấp nhất là bắp xay. Tội thay, có hôm nhà bếp quên muối, có hôm lại bỏ muối mặn chát, phải bốc mà ăn, hai bàn tay lép nhép chùi đại vào quần áo, mùi hôi kết hợp từ mọi thứ, nồng nặc, song rồi mãi cũng quen.

Tôi đã qua đi được mùa hè, một mùa hè lửa đổ trong căn hầm đá được xây bằng muối, ban ngày nóng đến độ “lè lưỡi như chó tháng sáu”, ban đêm lạnh buốt như cứa da. Bộ quần áo đã dày cứng như mo nang, do hai bàn tay lép nhép. Sau đó, tôi đã thầm cám ơn Thượng Đế đã cho ta mái tóc. Tóc dài xòa xuống cổ, hai bàn tay được “chùi rửa” trên mái tóc. Ôi, cảm giác sạch sẽ của bàn tay được tóc lau đi sung sướng làm sao! Rồi mái tóc cũng bết lại, xòa xuống, che được cần cổ, phòng chống hữu hiệu bầy muỗi bạo tàn…

Chỉ sau khoảng một tháng, vòng sắt chữ U đã rộng ra do hai cổ chân teo lại. Sang tháng thứ ba, chỉ còn bị cùm một chân. Hạnh phúc thật vô ngần khi một chân được tự do!

Hàng ngày, để giết thì giờ, tôi kể cho tôi nghe tất cả những bộ truyện mà tôi đọc được như Tam Quốc Chí, Thủy Hử, Võ Lâm Ngũ Bá, Anh Hùng Xa Điêu, Lục Mạch Thần Kiếm, Cô Gái Đồ Long, Tiếu Ngạo Giang Hồ, kể cả bộ Lộc Đỉnh Ký. Tôi cố nặn óc, cố nhớ lại. Kỳ lạ thay, trong cơn đói khổ tận cùng, trí nhớ của tôi dường như lại tốt hơn lên. Những nhân vật trong toàn bộ tác phẩm của Kim Dung tôi nhớ gần như nguyên vẹn, nhờ đó mà sau này tôi được tấn phong ngôi Giáo chủ, Lệnh Hồ Công Tử…

Tôi tự nhủ tôi không được nhớ thương, không được buồn khổ…, nhưng rồi, cho đến một ngày, tôi biết mình sắp chết, cái chết lảng vảng quanh tôi. Nhiều lần tôi đã phải cố gắng vùng vẫy để thoát ra khỏi cái hố thăm thẳm của cái chết, và tôi cũng biết rằng sự cố gắng ấy chẳng còn kéo dài được bao lâu nữa.

Đã qua một mùa đông phải phấn đấu chống chọi với cái lạnh, tôi mơ hồ cảm thấy trái tim tôi như đứng lại, ngập ngừng từng nhịp rã rời. Tôi phải dùng tay mình xoa nóng cho nó, vỗ về nó, van xin nó đừng ngừng lại. Rồi một mùa hè nóng ngộp lại tới. Tôi há miệng thở dốc từng cơn. Tôi không thể, vâng, tôi biết tôi không thể vùng vẫy ra khỏi cái hố tối tăm đang mở lớn, từng lúc, từng lúc nhận chìm tôi xuống cõi miên viễn. Cho đến một hôm, tôi không thể nào nuốt trôi được hai củ sắn luộc đã có mùi thiu và trơn nhợt. Miệng tôi đắng ngắt, khô lại, cùng một lúc tôi nghe tiếng gió thổi lạnh buốt từ đốt xương sống dâng lên. Tôi nghe ở xa lắm tiếng gọi mơ hồ trong chính thân thể mình, và trong óc tôi, sự lịm tắt của sự sống dường như đã khởi đầu, mù mờ, sương khói trong đôi mắt nặng nề, và bóng tối kỳ dị của sự chết đang bước tới. Tôi cố gắng vùng vẫy để thoát ra. Tôi không sợ hãi, không kinh hoàng, nhưng thoáng chút ngậm ngùi hình ảnh mơ hồ của đứa con chưa biết mặt. Đứa bé ấy là trai hay gái, vì khi nó được sinh ra, tôi không được tin tức mảy may nào của Mẹ con nó…

… Con ra đời giữa lúc đời tan tác

Mà đau thương còn quặn đến hôm nay

Trời tháng Tư lấp đầy cơn ác mộng

Biển nghìn năm còn vọng nỗi đau này.

Không! Ta không thể nào chết được! Không! Lạy Chúa! Và tôi chìm đi trong hố sâu thăm thẳm của vô cùng. Tôi thấy một vùng sáng như sữa bao bọc quanh tôi, một cảm giác nhẹ nhàng như sương khói…

Bỗng dưng tôi cảm thấy giá buốt. Tôi nghe thấy có tiếng động xào xạt, tôi mở mắt, ánh lửa bập bùng hắt lên tàng cây cao, dường như tôi cất tiếng rên… Tôi bỗng nghe có tiếng người nói lớn:

– Báo cáo anh bộ đội, anh T còn sống! Hãy còn sống…

Có tiếng hỏi vọng tới, dường như từ phía dưới ngọn đồi:

– Sao? Cái gì? Khẩn trương lên mà về!

– Anh T còn sống!

– Sống đếch gì được mà sống, cùng lắm là sáng mai nó cũng chết, chôn mẹ nó đi, khỏi mất công khiêng đi khiêng lại!

Thì ra lịm đi. Họ nghĩ rằng tôi đã chết và mang đi chôn, nhưng giữa chừng, tôi đã tỉnh lại. Ôi, tỉnh lại mà làm gì! Nỗi cay đắng đầy ắp trong tôi. Tôi sẽ bị chôn sống!? Cuộc đời tôi đến thế này sao?

Bỗng có tiếng gọi thất thanh từ phía dưới:

– Chết mẹ rồi, trại cháy! Bỏ mẹ nó đấy, về chữa cháy, mau lên!

Hai người tù tự giác, là những tù biệt kích bị bắt năm xưa, quẳng xẻng cuốc lao đi. Cảnh vật yên tĩnh, tôi cố gắng, sự cố gắng lạ thường, và tôi đã ngồi dậy được. Bó đuốc còn cắm gần đó, huyệt mộ đã đào gần xong. Tự nhiên, như một thôi thúc bí mật của sự sống, tôi cố gắng bò lết và đã bò chui vào được một bụi rậm. Tôi dựa lưng vào một tảng đá và thiếp đi… Không biết bao lâu, tôi lại nghe tiếng chân đi lạo xạo, và một giọng hốt hoảng:

– Chết mẹ, thằng chả biến đâu mất rồi?!

Một giọng khác thì thầm:

– Hay là chả trốn rồi?

– Trốn sao được, ngáp ngáp rồi còn trốn với chạy thế đếch nào được!

– Hay là… bị cọp tha mất xác rồi!

– Bây giờ làm sao?

– Hay là mình báo cáo cho thằng cớm nhí?

– Báo cáo lại mang khổ vào thân, thôi cứ coi như mình đã chôn rồi, cọp xơi cũng vậy, đất nuốt cũng vậy!

Tiếng động của một tảng đá được lăn xuống, tiếng lấp đất. Một lúc sau có tiếng vọng từ xa:

– Xong chưa?

– Xong rồi!

– Thôi về! Mất mẹ nó một đêm!

Ánh đuốc mờ dần dưới triền đồi, và tôi lại thiếp đi. Tôi bỗng mơ thấy một người, một lão ông râu tóc bạc, vỗ vào vai tôi:

– Dậy đi con, ráng bò lại bên ánh lửa, con sẽ tìm được sự sống!

Tôi giật mình mở mắt, qua tàn lá rợp, tôi thấy có ánh lửa thoắt bùng lên, thoắt tắt ngấm, ở một nơi cách chỗ tôi nằm chừng vài chục mét. Trong đêm sương lạnh, ánh lửa nồng ấm có một sức mạnh kỳ lạ lôi kéo tôi, dựng tôi lên. Tôi bò lết từng tấc đất về hướng lửa. Khoảng vài chục mét, với tôi lúc này như ngàn dậm, một sự phấn đấu vượt qua sức còn lại của tôi. Tôi ngừng lại nghỉ. Không khí trong lành của đêm khuya trên đồi cao đã giúp tôi tỉnh táo. Tôi tự thúc giục mình: “Ráng đi! Ráng đi! Phải sống! Cuộc đời còn phía trước, kẻ thù còn phía trước, ráng lên!…” Tôi tự khuyến khích mình trong sự rã rời của chân tay, và tiếp tục lết bò đi từng chút một. Cỏ gai cứa lên mặt tôi, đất sỏi xiết chà trên thân thể rã mục. Tôi lết đi, cho đến một lúc thể xác không thể tuân theo mệnh lệnh của ý chí… thì tôi đụng phải một vật, rồi tôi nhận ra tôi đang bò lết trong khu nương rẫy của người Dao, và cái vật mà tôi vừa đụng phải là một trái bí đỏ còn non. Trong suốt cuộc đời tôi, từ quá khứ cho đến khi nhắm mắt, sẽ không có một loại trái cây nào có thể sánh bằng với trái bí đỏ non đêm hôm đó. Tôi không thể tả được nó ngon đến dường nào, và cũng từ đó, tôi không hề muốn ăn bất cứ loại trái cây nào khác. Và cho đến hôm nay, trên đất Mỹ này, những người thân yêu thường cho tôi là kẻ dại dột, không biết ăn trái cây. Tôi không biết nói làm sao cho phải, thường cười mà đùa rằng “Tôi tuổi Tỵ, mà lại là Tân Tỵ, cầm tinh Mãng Xà Vương, các vị có thấy con rắn nào ăn trái cây bao giờ không”. Có ai biết đâu rằng, đối với tôi, ngay cả loại đào tiên trong truyền thuyết của Tây Vương Mẫu cũng chẳng thể sánh bằng được “trái bí đỏ non” đã cứu mạng tôi đêm đó.

Tôi ăn hết ba trái bí non bằng nắm tay. Kỳ diệu thay, một nguồn sống mới đã nhen nhúm lại trong tôi, và tôi đã bò đến được bên đống lửa trong một chòi lá giữa rừng núi hoang dại. Đây là chòi lửa của dân tộc Dao dựng lên giữa khu nương rẫy để canh phòng thú rừng phá hoại hoa mầu… Mỗi lần cơn gió thổi qua, tàn tro tung bay, và ngọn lửa lại bùng lên. Lửa âm ỉ ngày đêm ngúm mãi trong những thân gỗ lớn. Tôi bỗng chợt phát hiện một trái bí già vùi giữa đống than tro, có lẽ của chủ nhân khu rẫy này nướng sẵn và bỏ quên. Tôi ăn hết trái bí đỏ nướng, ngọt như mật, cho đến khi bao tử không còn chỗ nào nhét thêm được, mà miệng thì vẫn cứ muốn ăn, tôi hiểu được tại sao trong trận đói tháng Ba năm Ất Dậu, người ta chết vì đói, và sau đó lại chết vì quá no!

Trời đã gần sáng, tôi bò vào một lùm rậm, cạnh một thân cây lớn, ngả mình giữa hai chiếc rễ khổng lồ và ngủ thiếp đi.

Tôi bừng mắt dậy, tuy không phải là ánh nắng, lần đầu tiên sau 419 ngày trong hầm tối, tôi chạm phải ánh sáng ban ngày, đôi mắt tôi nhức buốt như kim châm, nhưng theo tiếng động, tôi cũng kịp nhìn thấy nòng súng chĩa vào đầu tôi. Hai người Dao, người đàn ông cầm súng săn có lẽ nghĩ rằng tôi là một con quái thú, toan bóp cò, và nhanh tay hơn, người đàn bà đã kịp đẩy nòng súng lên cao, súng nổ, viên đạn cắm vào thân cây sát trên đỉnh đầu tôi. Tôi lấy hai tay ôm mặt, che bớt ánh sáng ban ngày của ngày tàn hạ. Tôi không hiểu được hai người Dao đã trao đổi gì với nhau. Sau đó, người đàn ông lấy một cành khô gạt bàn tay tôi ra, vén mớ tóc dài lòa xòa phủ trên mặt tôi và quan sát. Ông ta gật gù như nhận ra tôi là một con người, một con người khốn khổ.

Có lẽ mùi hôi thối từ người tôi tỏa ra khiến ông ta nhăn mặt, mũi ông ta chun lại và hắt hơi. Người đàn bà, áng chừng là người vợ, đưa cho chồng chiếc khăn quàng. Ông ta bịt khăn quanh mũi, đưa súng cho vợ và xốc tôi lên, cõng tôi trên vai. Tôi xúc dộng đến trào nước mắt. Lòng thương xót của một con người với một con người, và đó là bản năng không chỉ của con người với nhau, mà cả đến loài ác thú cũng có trong đồng loại. Tôi tự hỏi, lòng nhân ái của con người đối với đồng loại mình. Đôi khi không bằng loài cầm thú, chẳng lẽ những người cộng sản đã không còn bản chất người, bản chất của các loài động vật? Tôi thiết tha hy vọng là tôi đã nghĩ sai, nhưng ý nghĩ ấy không lúc nào rời bỏ tôi từ ấy… Tôi ngủ thiếp trên vai người chồng, lên dốc, xuống đèo, không biết bao lâu thì tôi được đặt xuống. Ánh nắng đã lên cao. Đôi mắt tôi nhức buốt khi mở ra. Tôi được đặt nhẹ nhàng xuống bên một tảng đá. Người vợ đưa cho chồng chai dầu mùi ngãi cứu, đổ lên đầu tôi. Một thoáng sau đó, mùi hắc đã không còn, chỉ còn lại mùi thơm tỏa quanh người. Ông chồng lấy chiếc kéo cắt mớ tóc của tôi, những bệt tóc hơn một năm không được tắm gội rơi xuống lả chả như vỏ cây. Ông ta cắt tóc như một người nhà nghề, dĩ nhiên là “cắt bốc” theo kiểu “tiền văn minh – hậu sư cụ”. Sau đó, người vợ đưa cho tôi một nắm xôi bắp nếp đã nguội và ra dấu cho tôi ăn. Tôi gọi là xôi bắp, thật ra, đó chỉ là loại cơm ngô dẻo quánh. Tôi ăn thoáng đã hết. Tôi liếm sạch sẽ mảnh lá chuối khô cho đến khi không còn hạt bắp nào dính lại. Người chồng trao cho tôi ly nước nóng, nước chát quánh như trà quặn. Một lúc sau, ông chồng đỡ tôi đến một vòi nước; nước được truyền xuống từ một dòng suối trên cao, chảy theo những chiếc máng làm bằng thân cây vồi được bổ đôi, từ cao hạ thấp từ từ và chuyền đến tận nhà. Nước trong vắt và mát lạnh, nước xối xả lên đầu, lên vai, lên cổ tôi. Bộ quần áo mục rách ngấm nước mủn ra khỏi thân thể, và nước từ trong vắt biến dần thành đen sậm khi chảy qua người tôi. Tôi chà xát, kỳ cọ và da tôi hiện ra trắng nhợt như xác chết, người còn da bọc xương với những đường gân xanh nổi lên chằng chịt.

Người đàn ông, sau một lúc tần ngần, đã lấy ra một cục sà bông “đế” được bọc cẩn thận trong tấm giấy dầu, chà lên đầu, lên cổ tôi, giúp tôi kỳ cọ sau lưng. Ông nhìn thân hình tôi và lắc đầu ái ngại, rồi ông đem cho tôi một bộ quần áo màu xanh lam với nhiều chỗ vá. Dù trong suốt thời gian bị cùm, tôi vẫn thường xuyên luyện tập đôi chân, vậy mà tôi không thể tự mình đứng dậy nổi. Ông chồng đưa cho tôi cây gậy chống, khuyến khích tôi tập đi. Tôi đi run rẩy và loạng choạng như một ông già trăm tuổi. Nếu cứ tính “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” thì ít ra tôi đã có tuổi hàng triệu năm, vậy thì có gì làm lạ khi tôi như một ông già trăm tuổi!

(Tôi ở trong tù trước sau gần tròn 20 năm, tức là 7 ngàn đêm lẻ chốn lao lung, nhân với thiên thu, là nhân với một ngàn, tính ra tôi đã thọ được 7 triệu tuổi! Xin cám ơn người anh em “vô sản”!)

***

Tôi được vợ chồng người Dao cưu mang khoảng một tuần lễ, tuy nhiên, tôi không được xuống “dưới nhà”. Trong suốt tuần lễ ấy, họ dấu tôi trên gác. Gác thật ra chỉ là những tấm ván được gác ngang qua hai đà ngang. Tôi chỉ được xuống nhà dưới khi đêm xuống để làm vệ sinh cá nhân. Ngày hai lần, cơm là bắp nếp được xay ra và nấu như gạo, ngon ngọt vô cùng, đôi lúc được ăn với mật ong. Sức khỏe của tôi dần dần hồi phục. Tôi cố gắng xoa bóp đôi chân bằng loại thuốc nước của rễ cây nào đó mà ông người Dao đưa cho. Gân cốt cứng cáp trở lại và tôi đi được không cần đến gậy chống, dù còn yếu…

Một hôm, hai vợ chồng người Dao nhỏ to với nhau và chỉ chỏ lên chỗ tôi nằm. Rồi một buổi sáng sớm, họ đưa tôi xuống và dìu tôi đi. Họ đưa tôi trở lại chốn cũ, nơi chòi lửa và bảo tôi ngồi đợi… Khoảng hơn một giờ sau, một viên thượng úy và hai vệ binh đi tới. Tôi nói với viên Thượng úy:

– Xin cứ việc giết tôi, tôi không hề oán trách, trước sau gì tôi cũng chết!

Tôi hình dung đến căn hầm kỷ luật và quả thật, cái chết chính là một ân huệ. Gã thượng úy cười hiền lành, nhưng nụ cười lại làm tôi rợn tóc gáy. Tôi bỗng nhớ đến viên đại tá đã làm việc với tôi ngày trước. Gã bảo:

– Sao anh lại nói thế? Chúng tôi rất tiếc vì sự lầm lẫn của đồng chí y sĩ khám nghiệm nói rằng anh đã chết. Chúc mừng anh đã hồi sinh! À này! Làm sao anh ra khỏi huyệt mộ?

– Thưa ông, huyệt đào rất cạn, tôi moi đất chui lên và sau đó được vợ chồng người Dao cứu vớt.

Tôi được dẫn về trại, cách ly với các phạm nhân khác và được bồi dưỡng 3 ngày (mỗi ngày 2 chén cơm độn bắp và một chén canh rau, tiêu chuẩn của vệ binh). Ngày thứ ba, tôi được đưa đi cân. Viên y sĩ (?) bảo tôi:

– Cho anh ba mươi bẩy ký! (Có nghĩa là tôi chưa được 37 kg)

– Xin cám ơn tấm lòng rộng lượng của cán bộ!

Tôi nhìn y. Y thản nhiên nhận lời cám ơn châm biếm của tôi. Ba ngày sau, tôi được chuyển về trại Nam Hà (tức trại Ba Sao). Tôi được dặn đi nhắc lại là không được nhắc đến bất cứ điều gì về những ngày tôi được “an dưõng”.

Cho đến hôm nay, tôi cũng không biết nơi tôi đã được “an dưỡng” suốt 419 ngày đêm là đâu, và điều ray rức nhất là tôi chẳng biết tên vợ chồng người Dao đã cứu tôi ngày đó. Hình ảnh cặp vợ chồng đầy lòng từ tâm ấy mãi mãi không phai mờ trong lòng tôi, cho đến lúc lìa đời…

Bao nhiêu đêm muộn bấy nhiêu ngày

Ta sống hay là đang chết đây

Ngục tối khác chi lòng huyệt tối

Nghìn trùng ngay tự lúc chia tay.

(Trần Thúc Vũ)

Tám trăm trại tù được đánh số từ AH.1 đến AH.800 thống thuộc đoàn 776, chia thành nhiều liên trại, nằm rải rác trong rừng sâu suốt một giải biên thùy Hoa – Việt. Những Cổng Trời, Nghĩa Lộ, Văn Bàng, Sơn La, Yên Bái… Con số 800 trại tù chỉ được tính bằng ký hiệu AH, đó là ký hiệu thuộc thẩm quyền quản lý của quân đội, chưa kể đến các trại thuộc Trung Ương do công an quản lý, hay đúng hơn, đó chỉ là các trại tù dọc theo biên giới cực Bắc.

Trên toàn quốc Việt Nam, còn vô số những trại tù của từng địa phương mang những ám số khác nhau, dưới quyền sinh sát của các bạo chúa khác nhau. Đoàn 776 dưới tay bạo chúa Đàm Quang Trung, trung tướng tư lệnh quân khu Tả Ngạn. Mỗi trại thuộc đoàn 776, số tù nhân xê dịch từ 400 đến 500, tính đổ đồng tổng cộng chừng 35 ngàn người. Nếu tính theo số thì tù nhân hiện nay trên toàn cõi Việt Nam có khoảng chừng 2 triệu người (Đây là con số mà một viên thiếu tá công an vô tình nói với tôi vào cuối năm 1997). Đây là một con số khủng khiếp, tỷ lệ 1/35 người dân Việt Nam bị đày trong ngục tối, ấy là chưa kể đến số dân còn lại, cuộc sống cũng chẳng khá gì hơn số phận của những tù nhân.

Tôi đã làm một con tính nhẩm, chỉ riêng với số tù nhân 2 triệu với mỗi ngày nửa ký lô gạo lương thực và nửa ký lô qui ra tiền thực phẩm không thôi, thì mỗi ngày phải tiêu phí 2.000 tấn gạo, chưa kể đến ngân sách nuôi dưỡng, cung cấp cho hệ thống kềm kẹp này, cùng những chi phí điều hành cho 2 cục quản lý trại giam… thì con số có thể lên tới 720 ngàn tấn gạo hàng năm, tính đổ đồng tiền gạo đổ ra để duy trì, điều hành toàn bộ hệ thống nhà tù ở Việt Nam… Tất cả chi phí này đều do nhân dân Việt Nam è cổ ra gánh vác để tạo điều kiện cho sư thu nhập của đảng. Thành quả sức lao động của hai triệu tù nhân là một món béo bở, vô tội vạ. Mỗi tù nhân phải lao động mỗi ngày 8 giờ chật vật, chưa kể những ngày Chúa nhật bị trưng dụng cho cái gọi là “ngày lao động xã hội chủ nghĩa”. Con số ấy vẫn chưa dừng tại đó, vì rằng, những mánh khóe bóc lột tù nhân một cách tinh vi chưa đề cập tới. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên gì khi nhà tù càng ngày càng đông thì đảng càng béo bở, càng giầu xụ, và luật pháp càng ngày càng khắt khe, tạo cho xã hội càng ngày càng băng hoại. Bề ngoài đảng cộng sản khoe khoang đang cải tiến chế độ lao tù, cho thăm nuôi, cho tự túc, song thực chất chỉ là để tạo điều kiện vơ vét, bóc lột xương máu của thân nhân những người tù. Và việc “chống tham nhũng” cũng nằm trong mục đích ấy. Tôi xin nói rõ để minh chứng điều này:

Trong mỗi trại, cán bộ thăm nuôi, “giáo dục” và điều tra hoàn cảnh của từng tù nhân, khuyến khích các tù nhân thuộc gia đình khá giả ra “tự túc”, và những thành phần này được ưu đãi, nghĩa là được tự do tương đối. Diện “tự túc” được chia làm nhiều loại. Mỗi trại viên muốn ra tự túc phải nộp cho trại hàng tháng 200.000$ (hai trăm ngàn đồng), chưa kể những món tiền dấu mặt đút lót riêng cho cán bộ quản giáo, cán bộ thăm nuôi, cán bộ giáo dục và bày tỏ lòng tri ơn bằng những giá trị vật chất khác mỗi lần thăm gặp gia đình. Cán bộ trực trại cũng không được lãng quên, rồi đến cán bộ quản giáo, quản chế phải cung phụng hàng ngày, kể cả việc chưa kể nếu muốn được thăm nuôi “24” hay “48”, nghĩa là gia đình được ở lại với tù nhân trong khu vực thăm nuôi, thiết kế từng phòng như “nhà chứa”. Muốn được ở lại, thân nhân phải trả tiền phòng, tiền đủ thứ, ủng hộ cái này, đóng góp cái khác, và nếu muốn ở lại lâu hơn, cứ có tiền bỏ ra là được. Tuy nhiên, đối tượng phạm nhân phải được đánh giá là tiến bộ, và việc đánh giá này hoàn toàn nằm trong tay cán bộ quản giáo. “Tiền là tiên, là Phật, là sức bật con người, là nụ cười của tuổi trẻ… Tiền hết ý!” Tù nhân bình thường là thế, còn tù nhân kinh tế thì sao? Và điều này khiến cho tham nhũng càng ngày càng nhiều, càng chống càng đông.

Một gã tù kinh tế với án tù chung thân, vốn là giám đốc một đại công ty, đã nói với tôi: “miễn là đừng bị án tử hình là đủ!”. Y ở trong một cơ ngơi riêng cách trại khoảng 500 mét, bên cạnh một hồ nước lớn, có TV, tủ lạnh, kể cả máy lạnh và những tiện nghi rất hiện đại khác. Vợ con y, người tình nhí, với xế hộp bóng lộn, muốn đến lúc nào thì đến, muốn ở bao lâu thì ở, ăn uống như một ông hoàng, hàng tuần cưỡi xế hộp về Sài Gòn dong chơi, không bao giờ mặc đồ tù, thong thả ra vào, không bị chi phối bởi những điều nội qui trại, nghênh ngang, láo xược. Y cho biết, nếu biết điều thì dù tù chung thân khổ sai, cũng chỉ sau 10 đến 13 năm là được ân xá. Và những dịp ân xá hàng năm là cơ hội thu nhập khổng lồ cho đảng.

Y bị kết án vì tội biển thủ 40 tỷ đồng Việt Nam, đó chỉ là con số bề ngoài, thực chất thì có thể nhiều hơn thế. Sau một thời gian giam giữ để điều tra, trong khi giam giữ, phòng giam của y có giường nệm, quạt máy, ăn uống, thăm gặp gia đình thả dàn nếu biết tung tiền ra. Khi tòa tuyên án xong, gia đình y đi “mua đất”, nghĩa là mua nơi giam giữ, mua trại – hoàn toàn đúng với nghĩa đen của nó – bỏ tiền ra xây nhà. Tiền càng nhiều, tự do càng mở rộng. Và dĩ nhiên, sau một thời gian, khi hắn ra khỏi tù, cơ ngơi và mọi thứ xây dựng trên đất của trại đều thành tài sản của trại. Khi y được chuyển đến trại giam thì mọi thứ đã sẵn sàng. Y được giao cho một cái ao mênh mông, để “lao động tự túc”, y thả cá tùy ý, mỗi năm phải đóng góp cho trại 100 triệu đồng Việt Nam, y phải bỏ vào ao vài chục ngàn con cá giống, phải mua thực phẩm cho cá và giao cho trại toàn quyền thu hoạch lợi tức. Những cam kết ấy, y phải tự động ngầm dâng hiến. Trại cho y 2,3 tù nhân làm việc nuôi cá, cắt cỏ, bỏ mồi và hầu hạ y, bù lại, y phải trả cho trại hàng tháng 200.000 đồng Việt Nam cho mỗi tù nhân phục dịch, và phải nuôi ăn cho những người phục dịch này. Y phải gánh vác những chi phí đột xuất cho trại, tuyệt đối giữ kín, đồng thời cũng phải quà cáp, tiền bạc, biếu xén cho những “yếu nhân” trong trại. Đối với cán bộ cấp thấp hơn, y phải là một người rộng rãi về ăn uống, hút sách, trà lá. Hàng tháng sinh hoạt đội bình bầu, y phải lấy được điểm “tốt”, hay tệ nhất cũng phải loại “khá”. Nếu bị điểm “trung bình” hoặc xấu, có nghĩa là y không biết phải quấy, là “vứt đi”, là bị đưa vào trại, và mọi thứ thành trắng tay.

Sau 7 năm đầu, y được “vỡ án”, và nếu biết lo 2 cây vàng cho một năm ở trại, 3 cây cho tào án, y sẽ được giảm 2 năm, nhưng tối đa cho hạn ân giảm là 5 năm. Vậy là khi “vỡ án” vào năm thứ bẩy, y đã được coi như ở tù 12 năm, qua năm sau thứ 8, giảm thêm 4 năm nữa, rồi năm sau kế là y coi như y đã “chấp hành xong án phạt tù” với toàn bộ chi phí chừng 10 tỷ đồng. Khi ra về, sau 9, 10 năm “buôn bán”, y lời đứt 30 tỷ đồng và thảnh thơi phủi tay, xóa hết ân oán, giang hồ.

Do đó, chúng ta hiểu tại sao, đảng càng chống tham nhũng, tham nhũng càng nở rộ, và tại sao nhà tù càng rộng mở, đảng cộng sản Việt Nam lại càng béo bở giàu to. Nhà tù là một phương tiện bắt nhân dân gánh vác mọi chi phí, còn đảng thì ních cho đầy túi tham một cách tinh vi. Tuy nhiên, xin nói rõ là những “ưu đãi” này rất khó mà “ban cho” những tù nhân chính trị. Trong thời gian tù cải tạo trước đây, sức lao động đảng vắt cho kiệt lực là nguồn thu nhập của đảng, bởi đó mà số trại viên dần dần giảm hẳn…

“… Sáng ra chỉ có dăm người chết

Chẳng biết bao lâu đến lượt mình

Căm uất sinh ly thà tử biệt

Oán hờn thấu tận mấy trời xanh…”

Có hàng chục nỗi chết uất ức khác nhau: tai nạn lao động, cây đè, đá nghiến, vực sâu nát thân, đáy hồ chìm khuất, đói khát, bệnh tật, hành hạ, đánh đập, bọn vệ binh háo sát, lấy cái chết của tù nhân làm trò giải trí, trả thù… Không biết hàng bao nhiêu nỗi chết cay đắng, nhục hình.

*

Mùa đông năm 1977, nhiệt độ xuống thấp 1 độ 7, mặt hồ Thác Bà se lại như muốn đóng băng, gió Bấc thổi thấu xương, tên quản giáo đội 4 bắt hai tù nhân uống 2 tô nuớc muối để lặn xuống nước mò cá trong “đăng”, cả hai đều vỡ tim, hộc máu mà chết. Vậy mà vẫn chưa yên, xác bị bỏ lại bên hồ qua đêm, sáng sớm hôm sau, tập họp trại viên, tên trưởng trại đọc lệnh cảnh cáo đối với hai xác chết vì “đã thiếu an toàn lao động” rồi sau đó mới cho đi chôn. Tất cả mọi xác chết đều để lại qua đêm, đều giống nhau ở một điểm: hai con ngươi bị móc, tai, mũi, môi biến mất, cả đến tay và chân, lũ chuột đói cũng không từ. Chúng chui vào quần gậm nhấm, rút rỉa. Trên khuôn mặt nát bét, hai hố mắt sâu thẳm, đọng máu khô, chập chờn bóng tối.

“Từ giã từng nỗi sầu trong mắt anh

Ngậm ngùi đời đưa anh về theo đất

Sương đẫm những đêm ru anh ngủ vùi

Từ đây rừng ôm ấp anh ngàn năm

Bao nhiêu những oan hồn


Giờ đã về mãi đâu

Vực sâu xót thân lưu đày


… Mắt nhắm còn đắng cay

Những ngày đói rét bầm tím thân

Từng chiều mưa gió căm căm

Buồn đau đến bao lâu

Ôi đời! Giá buốt đắng chát

Ôi! Hồn chất chứa uất ức

Hãy xin nguôi dần đi

Nhớ thương thêm đau lòng… mà thôi

Đêm nay rừng khuya hiu hắt

Thương ôi! Từng cơn giá buốt

Đưa anh vào canh khuya

Ngấn nước mắt bao ngày

Còn vương lối đi

Vàng võ hồn anh

Sầu vỡ hồn anh đêm đêm…”

Bài hát ấy, tôi thường hát, như lời kinh chiêu hồn, những lần vuốt mắt cho những người anh em bất hạnh… và ôi, máu tươi ộc ra từ chiếc – miệng – không môi, tôi nghe như có tiếng nấc từ lồng ngực, từ hốc mắt hun hút những nghìn thu, máu tươi cũng ứa ra, từ đó, ôi, những dòng huyết lệ!….

Nhìn những cái chết thê lương ấy, ngẫm dến phận mình, và trong giấc ngủ, những cơn ác mộng kinh hoàng kéo dài suốt đời người còn lại.

“… Cả đến chiêm bao cũng hãi hùng

Tỉnh ra còn thảng thốt hư không..”

Ấy thế mà trong tất cả những nhục hình đày dọa thân xác, nếu đem so với thủ đoạn đày đọa tinh thần thì nào có thấm vào đâu! Cho đến tận hôm nay, những đêm “sinh hoạt”, “phê bình, kiểm điểm” diễn ra thường xuyên mỗi tối, đã làm cho thần kinh người tù như lịm tắt, rã rời hơn cả một ngày cực nhọc. Cho mãi đến tận sau này, được thả ra, rời Việt Nam sang đến đất người, mà nó còn theo đuổi khiến cho một số anh em HO… vẫn còn như nửa khùng, nửa điên, nửa ngơ ngẩn, nửa dại khờ… và không ít anh em đã bị chết dần mòn bởi những ám ảnh từ quá khứ kinh hoàng không thể khuây lãng được. Nỗi đau thương ấy gậm nhấm hao mòn anh em suốt quãng đời còn lại. Khi chiến tranh nổ ra giữa cộng sản Việt Nam và người anh em Trung quốc vĩ đại của họ, lần lượt hàng ngàn trại viên từ những trại dọc theo biên giới Hoa Việt đều được di chuyển, phân tán về các trại Trung Ương do công an Bộ Nội Vụ quản lý. Tôi là một trong số 500 tù nhân trong số những thành phần được coi là nguy hiểm, có nợ máu với nhân dân… như tình báo, chiến tranh chính trị, cảnh sát đặc biệt gom lại từ các trại thuộc đoàn 776 áp giải về trại Nam Hà.

Từ đoàn xe Molotova bịt bùng, khởi hành từ Tuyên Quang, bỏ lại sau lưng núi rừng, bỏ lại những tháng ngày rét mướt, đói khát… và những con vắt rằn ri khủng khiếp. Thiếu tá Nguyễn Thanh Hải, SQ /CTCT Cục Công Binh, người anh em đôi con Dì của tôi, mấy năm trước tóc còn xanh, mà nay, mái tóc trở thành xác xơ, bạc trắng như cước… thở dài:

– Thế nào cũng được! Đi đâu thì đi! Miễn là rời khỏi vùng độc hại này! Muỗi hút máu người, vắt hút máu ngưòi, người hút máu người! Trời ơi!

Tiếng kêu than xé ruột. Bây giờ, ở bên kia thế giới, liệu linh hồn anh có còn bị ám ảnh những tháng ngày trong cõi a tỳ của trần thế hay không?

Đoàn xe chở chúng tôi đi ngang Hà Nội. Hà Nội của tôi năm xưa mà nỗi nhớ quặn thắt trong suốt hơn hai mươi năm chia lìa, những lần Sài Gòn chớm lạnh… Hà Nội đó, cột đồng hồ năm xưa còn kia, phố xá vẫn còn đấy, rêu xanh, hoang phế, điêu tàn, già nua và tệ hại hơn ngày tôi rời bỏ Hà Nội năm nào. Những khung cửa sổ không còn cửa kính được bít bùng lại bằng những miếng ván chấp vá, những đôi mắt ngơ ngác, thẩn thờ trên đường phố loang lổ và rác rưởi… Lòng tôi ngậm ngùi, đắng chát như kẻ bỗng dưng gặp lại người tình ngày niên thiếu, tả tơi vàng võ trong nhà chứa; cùng một lúc, nỗi căm hận bùng lên làm tôi nghẹt thở. Thủ đô của nước “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” đã xuất hiện như thế qua khe hở của tấm vải bạt bít bùng…

Mạc Thiên

From: BS Hanh Van Phung

ĐƯỢC VÀ MẤT QUA VỤ ĐỒNG TÂM…

ĐƯỢC VÀ MẤT QUA VỤ ĐỒNG TÂM…

Qua vụ Đồng Tâm, cái được duy nhất của chính quyền là nuốt trọn được 59 ha đất ở Đồng Sênh, mảnh đất mà nói như nhà văn Tạ Duy Anh (lão Tạ) là mảnh đất “chó ăn đá, gà ăn sỏi, nếu tính theo giá đền bù thì chưa chắc đã bằng cái số lẻ mà ông nghị Phạm Phú Quốc đã bỏ ra để mua chui một suất quốc tịch đảo Sip”.

Để chiếm được mảnh đất ấy, người ta đã phải sử dụng rất nhiều mưu hèn kế bẩn.

Thứ nhất là điều tới 3.000 quân “đặc biệt tinh nhuệ” trang bị đến tận răng về làng Hoành xã Đồng Tâm, nơi không có bất cứ một người dân nào bị khởi tố vì bất cứ một hành vi trái pháp luật nào, nghĩa là một ngôi làng hoàn toàn lương thiện, một cách trái pháp luật vào ban đêm, chỉ để giết, để phanh bụng một cụ già hơn Tổng bí thư-Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tới 8 tuổi đời và 6 tuổi đảng, phải ngồi xe lăn do chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung tặng, vì năm 2017 đã bị “các đồng chí” của mình ở công an Hà Nội đạp gẫy chân, và bắt đi 29 người dân vô tội.

Thứ hai, là cấm tiệt báo chí và các nhân sỹ, các tổ chức đến làng Hoành để thực hiện những cuộc điều tra độc lập, cấm cả việc quay phim về đám tang cụ Lê Đình Kình.

Thứi ba, vu cho cụ Lê Đình Kình là khủng bố để phong tỏa tài khoản tiếp nhận tiền phúng viếng của người dân cả nước gửi về phúng viếng cụ.

Thứ tư, là huy động cả một đội ngũ báo chí vô cùng đông đảo nhẩy vào đấu tố, kết tội cụ Lê Đình Kình và 29 người dân vô tội bị bắt ở làng Hoành ngày 9/1/2020 trước khi tòa án kết tội họ, nào là sắm sửa vũ khí thô sơ, mua lựu đạn, mua xăng, nào lên mạng tuyên bố sẽ giết từ 300 đến 500 công an nếu công an kéo vào, thậm chí thiếu tướng Tô Ân Xô, chánh văn phòng, người phát ngôn của bộ công an còn trắng trợn vu cho cụ Lê Đình Kình là “một loại cường hào địa chủ mới”… nhưng càng đấu tố, càng chứng tỏ lực lượng công an Hà Nội vừa quan liêu vừa ngu. Đã biết họ có những hành vi đó, sao không khởi tố đi? đến 20 giờ ngày 8/1/2020, không ai ở làng Hoành bị khởi tố, nghĩa là không ai có những hành vi đó. Vậy tại sao lại giết người, phanh thây người, bắt người?

Thứ năm, là tìm mọi cách gây khó khăn cho các luật sư bảo vệ 29 người dân làng Hoành tại phiên tòa sơ thẩm, xử án một cách cuống quýt, vội vội vàng vàng, không thèm chú ý đến bất cứ một bằng chứng nào, đè ra tuyên 2 con trai của cụ Lê Đình Kình án tử hình, quyết tâm lặp lại vụ án Lệ Chi Viên năm 1442 giết cả nhà khai quốc công thần Nguyễn Trãi, một lần nữa, ngay trong thời đại 4.0 này…

Và còn rất nhiều mưu hèn kế bẩn khác nữa.

Bấy nhiêu mưu hèn kế bẩn chỉ để đổi lấy 59 ha đất ở đồng Sênh, mà là lấy đất ấy cho tập đoàn viễn thông quân đội chứ có phải để xây sân bay hay công trình nào để phục vụ cho việc phòng thủ đất nước đâu?

CÒN CÁI MẤT?

Cái mất lớn nhất, và cũng là thứ nhất, là mất tính chính danh. Cho đến nay, không có bất cứ một lãnh đạo nào từ lớn đến nhỏ đưa ra được một căn cứ nào để biện minh cho việc phải điều 3.000 quân với đầy đủ súng ống và các phương tiện quân sự tối tân nhất đến một ngôi làng không có ai bị khởi tố vì bất cứ một hành vi trái pháp luật nào vào ban đêm rồi giết người, phanh thây người, bắt người. Nói là để bảo vệ cho quân đội xây tường rào bảo vệ sân bay Miếu Môn ư? tường rào đã xây xong trước ngày 30/12/2019 cả tuần rồi. Nói là để bảo vệ an ninh ở Đồng Tâm ư? Đồng Tâm có mất an ninh trật tự đâu mà bảo vệ? Cả làng Hoành đang sống bình yên, không có bất cứ ai vi phạm pháp luật, vì tin vào lời hứa của ủy viên TW đảng, chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung: không truy cứu TNHS người dân làng Hoành sau vụ bắt giữ 38 chiến sỹ công an và cán bộ năm 2017. Vả lại, bảo vệ an ninh sao lại tập kích vào làng, giết người, bắt người?

Cái mất thứ hai, là phơi bày ra trước bàn dân thiên hạ cái vụng dại, cái yếu của một đội quân lâu nay vẫn tự hào là thiện chiến, là giỏi nhất thế giới. 3 chú lần lượt ngã xuống một cái hố bé tý, mà người ngã trước không biết cảnh báo cho người sau. Lọt xuống hố rồi, dù cái giếng trời đó đã được trổ cửa sổ bằng kính ở độ cao 2 mét, mà không biết đập vỡ cửa kính để chui ra, lại cứ như những con cừu đứng yên đó để cho người dân đổ xăng ra chậu mà hắt xuống, không chỉ một lần mà nhiều lần (theo cáo trạng của VKS). Cả một đội quân “còn đảng còn mình” 3000 người dầy đặc xung quanh, sao lại khoanh tay đứng yên, không biết nổ súng tiêu diệt kẻ đổ xăng để cứu đồng đội ? tình đồng đội đi đâu mất rồi?

Cái mất thứ ba, là làm sụp đổ hoàn toàn uy tín của ngành tư pháp. Ngành tư pháp xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng, mấy năm nay đã lao đao vì những Nguyễn Thanh Chấn, Huỳnh Văn Nén, Hàn Đức Long, Hồ Duy Hải…thì nay, vụ án Đồng Tâm như một nhát búa cuối cùng, nhát búa chí mạng giáng thẳng vào nó một cách không thương tiếc, khiến nó sụp đổ tan tành. Sau vụ án này, liệu còn ai tin rằng nền tư pháp đó là công minh, khách quan?

Cái mất thứ tư, là đã dựng tượng trong lòng nhân dân cho cụ Lê Đình Kình. Cứ nhìn những người dân làng Hoành được tha về sau khi nghe TAND thành phố Hà Nội tuyên án ngày 14/9/2020 thì biết. Sau hơn 8 tháng bị giam cầm, bị bức cung, bị nhục hình và trăm ngàn thứ cay đắng khác. Nhưng được tha, họ chưa về nhà mà hãy chạy ra viếng mộ cụ Lê Đình Kình trước đã. Có hàng trăm người ra cùng với họ. Tại đó, tiếng khóc vang trời. Từ ngày 9/1/2020 đến nay, hình dáng của cụ Lê Đình Kình đã tạc sừng sững vào lịch sử. Lê Đình Kình đã trở thành “muôn năm” trong lòng người dân một cách tự nguyện chứ không phải thứ “muôn năm” treo nhan nhản khắp nơi, kể cả đầu đường xó chợ.

Và cái mất thứ năm, là phơi bày ra trước công luận một vụ án dựng tội, đổ tội, với mục đích duy nhất là giết người. Thật đáng tự hào khi trên thế giới, chỉ duy nhất có nước ta là nước ban đêm vào tận giường ngủ nhà dân giết người mà không cần khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Xin lưu ý, điều 40 của BLHS năm 2015 đã quy định: không thi hành án tử hình đối với người từ đủ 75 tuổi trở lên. Cụ Lê Đình Kình đã 84 tuổi.

VŨ HỮU SỰ

Image may contain: 1 person, text

Nếu Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) là thiên đường thì sao khi du học con lãnh đạo không chọn là Trung Quốc hay Bắc Triều Tiên?

Minh Phuong Nguyen  and Hai Tran  shared a post.

Mộc Miên

Tôi sinh ra giữa lòng cộng sản. Tôi lớn lên giữa khô cằn sỏi đá Miền Trung. Quê tôi nằm bên trong Vĩ Tuyến nhưng là cái nôi của cách mạng ngày xưa. Tôi không biết Mỹ, Nguỵ là gì? Cũng không biết Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) là gì? Cũng chưa bao giờ biết sự phồn hoa của Đô Thành Sài Gòn một thời mà ông Lý Quang Diệu hằng mơ ước.

Tôi không học nhiều nhưng thời học sinh của tôi là cháu ngoan Bác Hồ là đoàn viên ưu tú dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN). Ngày xưa tập thơ gối đầu của tôi là “Theo Chân Bác”. Tôi vẫn cứ yêu đảng yêu bác cho đến chết nếu facebook không du nhập vào Việt Nam. Tôi đã được mở rộng tầm mắt, rồi từ đó tôi biết những gì tôi học, những gì tôi bị nhét vào đầu là dối trá, dối trá một cách trơ trẽn.

Chỉ cần đặt một vài câu hỏi nhỏ thôi ví dụ như là: Nếu Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) là thiên đường thì sao khi du học con lãnh đạo không chọn là Trung Quốc hay Bắc Triều Tiên?

Tại sao con cháu của những vị tướng lừng danh như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Quốc Thước lại chọn Pháp, Mỹ để sống mà không phải là Việt Nam?

Tại sao Nguyễn Công Khế, Hồ Thị Thu Hồng một thời chửi Mỹ hay hơn hát rồi cuối cùng lại chọn Mỹ định cư?

Nhiều lắm, nhưng tại sao lắm không thể nào kể hết trong một Stt được. Câu cuối cùng tôi muốn hỏi hơn 90 triệu dân Việt Nam ai đã từng được cầm lá phiếu bầu lãnh đạo thể hiện quyền của một con người chưa?

Tôi lưu lạc khắp nơi để chỉ nói lên những điều mình thấy, viết những điều mình biết. Tôi đủ lớn và cũng đủ già để chịu trách nhiệm với những gì mình viết và nói ra không liên quan gì tới những người thân của tôi cả. Vì thế đừng chơi trò đe doạ và méc phụ huynh. Đời người một lần sống và một lần chết bình tĩnh “Đối Mặt” thôi ! (St)

#HoàngThịThuýMiên

Image may contain: 1 person, selfie, closeup and indoor