HỌC PHÍ

HỌC PHÍ

Đỗ Duy Ngọc

Cách đây hơn 60 năm, khi tôi bắt đầu đi học, thời đó miền Nam có lẽ là có đời sống tương đối khá hơn miền Bắc XHCN. Tuy vậy, đất nước chắc chắn là không giàu có như bây giờ. Vậy mà suốt thời gian tôi ngồi ở ghế nhà trường, từ Tiểu học cho đến Trung học và cả những năm học Đại học, tôi chẳng phải đóng một đồng học phí nào. Chỉ có những năm tôi học thêm trường tư ban đêm để có thể học nhảy và mấy năm học kiếm thêm cái bằng nữa ở Đại học tư thì đương nhiên phải đóng học phí. Nhưng học phí rất nhẹ. Ở miền Nam trước 1975, có hai hệ thống trường học rất rõ ràng và minh bạch. Đó là trường công lập của nhà nước và trường tư thục của tư nhân. Học trường công thì sẽ không phải đóng một khoản phí nào. Chỉ cần điều kiện là phải thi đỗ vào trường. Học tiểu học thì nạp đơn xin vào học, không thi. Học đến lớp Nhất là lớp Năm bây giờ thì thi vào trường Trung học. Đậu thì học không tiền, rớt thì vào trường tư có học phí. Năm lớp Đệ Nhị tức lớp 11 bây giờ, thi Tú tài 1. Nếu đang học trường tư, thi Tú tài 1 đậu hạng Bình thứ trở lên có thể xin vào trường công lập học tiếp lớp Đệ nhất, khỏi đóng học phí. Ngoài hệ Phổ thông, còn có hệ thống trường Kỹ Thuật ở Vĩnh Long, Sài Gòn, Quy Nhơn, Huế, Đà Nẵng, sau đó thì có thêm Nha Trang, Quảng Ngãi. Phải thi tuyển rất khó khăn mới vào học được trường Kỹ Thuật. Lại còn có hệ thống trường Trung học Nông Lâm Súc. Học sinh ngoài học văn hóa còn được học nghề, chuẩn bị hướng đi cho tương lai. Đa số học sinh Kỹ Thuật khi đậu Tú tài 2 đều thi vào trường Kỹ Sư Phú Thọ, Kiến trúc. Đại học thì có trường phải thi tuyển và một số trường ghi danh. Tuy vậy, ngoài các trường Đại học tư có thu học phí, tất cả các trường Đại học công lập dù thi tuyển hay ghi danh sinh viên cũng không phải đóng tiền học. Học trường thi tuyển như Sư Phạm lại được cấp tiền hàng tháng, số tiền cũng kha khá đối với một sinh viên xa nhà trọ học. Thi Tú tài 2 đậu hạng Bình thứ trở lên, có thể xin học bổng của chính phủ để đi du học các nước Âu châu, Hoa Kỳ, Canada…

Dài dòng như thế chỉ muốn nói lên một điều là ở miền Nam trước 1975 dù xã hội cũng chưa phải là giàu gì lại bị chiến tranh liên miên nhưng học sinh, sinh viên và gia đình không bận tâm đến chuyện học phí. Nhờ thế, rất nhiều con em nhà nghèo đã được học đến nơi đến chốn và rất nhiều học trò tình cảnh gia đình khó khăn đã trở thành Bác sĩ, Kỹ sư, Giáo sư… nhà khoa học, nghệ sĩ tài năng. Đặc biệt, khi tốt nghiệp Đại học trong nước cũng như du học trở về, nhà nước bố trí việc làm phù hợp với khả năng và bằng cấp chuyên môn, không có cảnh thất nghiệp, chạy đôn chạy đáo, lo lót tiền bạc để có việc làm như bây giờ.

Sau năm 1975 và đặc biệt là từ khi mở cửa kinh tế thị trường định hướng XHCN thì trường học từ nhà trẻ cho đến Đại học đều phải đóng tiền. Và học phí càng ngày càng tăng, những gia đình nghèo, đông con, tiền học là gánh nặng. Ngoài học phí, học sinh còn phải đóng nhiều thứ khác nữa và lại thêm tiền mua sách giáo khoa, sắm đồng phục, các khoản này cũng là số tiền không nhỏ. Lại còn nạn học thêm, dạy thêm. Con nhà nghèo đành chịu thất học bởi cha mẹ không kham nổi. Giờ lại nghe tin năm học này tăng học phí, mà tăng không phải là ít. Theo đề xuất này, từ năm học 2021-2022, học phí bậc đại học tăng 12,5%. Học phí bậc mầm non, phổ thông tăng 7,5% so với năm học 2020-2021. Kiểu này những gia đình khó khăn, con đông, ở vùng sâu vùng xa chắc phải bỏ học vì không có tiền đóng học phí. Do dân, vì dân đâu chưa thấy, chỉ thấy dân còng lưng đóng đủ thứ tiền. Chưa xong thuế, lại đóng tiền trạm để đi đường, tiền điện, tiền nước rồi tiền học cho con… cứ tăng ào ào. Khổ mọi bề. Sao không áp dụng kiểu trường công lập và tư thục như xưa để con nhà nghèo phấn đấu vào trường công khỏi tốn tiền học cho đỡ gánh nặng cho cha mẹ, gia đình. Để những nhân tài khỏi phải bị mai một vì nhà nghèo không đi học được.

12.11.2020

#LINHTINHDODUYNGOC

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10157895485323635&id=669643634

https://m.facebook.com/groups/lambaosach/permalink/721326435407804/

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2744463332438242&id=1787344571483461

Đồng Tâm Nhìn Từ Rạch Gốc

Đồng Tâm Nhìn Từ Rạch Gốc

Tưởng Năng Tiến

Dù cũng đọc được lõm bõm một hai ngoại ngữ, tôi rất ít khi rớ tới một tờ báo hay một cuốn sách viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp. Lý do, chả phải là vì tôi có máu bài ngoại hoặc dị ứng với văn hoá thực dân (hay đế quốc) gì ráo trọi mà chỉ tôi chỉ thạo tiếng mẹ đẻ thôi nên rất ngại “đụng” đến tiếng nước ngoài.

Những người cầm bút của nước Việt tuy viết dở hơi nhiều nhưng viết hay cũng đâu có ít. Đọc họ sướng muốn chết, và đọc mệt luôn cũng chưa hết chữ nên bận tâm làm chi đến những tác giả ở tận đâu đâu.

Cả ngày hôm nay tôi xem say mê bút ký Đồng Bằng của nhà văn Nguyên Ngọc. Ông viết như nói vậy đó: lưu loát, tươi cười, bình dị nhưng thâm trầm và lôi cuốn. Thản hoặc, cũng có đôi đoạn hơi cường điệu (hay nói nguyên văn theo cách dùng từ của chính ông là “gồng lên”) nhưng rất ít. Tôi xin phép sẽ đề cập đến sau, khi có dịp.

Riêng hôm nay, xin mời mọi người xem chơi đôi ba đoạn ngắn, Nguyên Ngọc viết về chuyến đi của ông đến miền đất cực Nam của quê hương (Cà Mau) nơi mà T.B.T Lê Duẩn đã từng nương náu.

Khi ghe cặp bờ, tác giả cùng bạn đồng hành được ông Hai Phốc – Chủ Tịch Xã – đón tiếp vô cùng nồng nhiệt. Hai người, nhân dịp này, cũng tìm biết thêm được không ít chuyện thú vị về cuộc khởi nghĩa ở Hòn Khoai (Rạch Gốc) hồi năm 1940:

“Sau thất bại Nam Kỳ Khởi nghĩa, mấy chục ngư dân Rạch Gốc – Cà Mau đều phải đi tù Côn Đảo, về sau Hai Phốc kể với tôi, mấy chục người ấy đã có ai biết chút chữ nghĩa gì đâu, ở tù Côn Đảo họ chỉ làm một nhiệm vụ: mỗi khi ông Lê Duẩn, ông Tôn Đức Thắng và các ông đầu lĩnh cộng sản bị mang ra đánh thì các ông xông ra chịu đòn thay. Có người bỏ mạng ở Côn Đảo, như cha anh Hai Phốc, còn sống trở về đâu không được mươi người, nay chỉ còn mỗi ông Hắc Hổ.”

Thất bại là mẹ thành công nên sau nhiều lần “khởi nghĩa” bất thành – chung cuộc – cách mạng cũng đã “giải phóng” được cả hai miền Nam/Bắc, thống nhất giang sơn. Sau đó, bác Lê say sưa với chiến thắng nên không có dịp trở lại chốn xưa để thăm lại các ngư dân đã nuôi dưỡng ̣(và bảo vệ) mình nhờ vào “vô số kênh rạch chi chít và bí hiểm” ở Cà Mau.

Bác Tôn, xem ra, nhàn nhã hơn thấy rõ:

“Ngoài việc dự các nghi lễ long trọng bắt buộc phải có mặt cụ, cụ không làm việc gì khác ngoài một việc cụ thích thú hơn cả là sửa xe đạp. Làm phó chủ tịch nước, ông thợ máy ngày trước buồn tay buồn chân. Hết xe đạp hỏng cho cụ chữa, anh em bộ đội bảo vệ và nhân viên phục vụ phải lấy xe của người nhà mang vào cho cụ kẻo ngồi không cụ buồn. Thương cụ quá, đôi khi họ còn làm cho xe trục trặc đi để dắt đến nhờ cụ sửa giùm.” (Vũ Thư Hiên. <em><a href=”http://minhtrietviet.net/dem-giua-ban-ngay-chuong-11/”>Đêm Giữa Ban Ngày</a></em>. Văn Nghệ. Westminster, CA: 1997).

Tuy rất rảnh “nhưng ông thợ máy ngày trước” chỉ tìm vui trong việc sửa xe (đạp) để giết thời giờ, từ năm này sang năm khác, chứ cũng chưa lần nào ghé qua Rạch Gốc để thăm hỏi những kẻ đã chịu đòn thay cho mình ngoài ở Côn Đảo – năm nào.

Bác Bằng cũng xử xự y như thế:

“Khi Nguyễn Lương Bằng vượt ngục Sơn La ông được một thanh niên người Thái trắng dẫn đường. Đưa ông đi khỏi địa phận Sơn La xong, trở về nhà anh bị Pháp bắt đem chặt đầu.

Tôi đã tới bản Giảng, cách nhà tù Sơn La vài cây số, vào mùa thu năm 1965, để thăm gia đình anh thanh niên nọ. Trong ngôi nhà sàn xiêu vẹo chỉ còn lại bà mẹ anh, một bà lão lẩm cẩm, điếc lác, hỏi năm câu mới trả lời được một, câu trả lời lại chẳng ăn nhập gì với câu hỏi.

Bác Cả Hà Đông của tôi chưa một lần trở lại bản Giảng để thăm hỏi bà lão tội nghiệp. Rõ ràng, ông là, hoặc đã trở thành, người không có ân nghĩa. (Vũ T. H. s.đ.d. tr. 314).

Đ… mẹ nhân tình đã biết rồi! Lạt như nước ốc bạc như vôi.     

Ấy thế nhưng nói cho nó hết lẽ thì Bác Tôn và bác Bằng vẫn còn chút (nhất điểm) lương tâm. Cả hai chỉ bạc thôi chứ không đến nỗi ác. Bác Hồ thì khác. Bạc bẽo, độc ác, gian trá, thâm hiểm … và không hề từ bất cứ một thủ đoạn đê tiện hay bất nhân nào.

Mụ địa chủ Cát-hanh Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã: 

– Giết chết 14 nông dân. Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.

 – Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người

– Năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.

Trong cuộc phát động quần chúng, đồng bào địa phương đã đưa đủ chứng cớ rõ ràng ra tố cáo. Mẹ con Cát-hanh-Long không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác hại nước hại dân. Thật là: Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng, Rửa không sạch ác, dù tát cạn nước bể!

(21-7-1953) C.B

C.B là một trong những bút danh của Hồ Chí Minh.  Còn Cát Hanh Long là ai?

Theo Wikipedia: “Nguyễn Thị Năm (1906 – 9 tháng 7 năm 1953, quê ở Làng Bưởi, ngoại thành Hà Nội), là một địa chủ có công đóng góp tài sản cho Việt Minh trong kháng chiến chống Pháp. Trong cuộc Cải cách ruộng đất, bà bị nông dân địa phương đấu tố là địa chủ gian ác và bị xử bắn. Bà nguyên là Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Thái Nguyên. Bà còn được gọi là Cát Hanh Long vì đây là tên một hiệu buôn do bà làm chủ ở Hải Phòng.”

Người trong cuộc cho biết thêm chi tiết:

“Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van ‘các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh’. Du kích quát: ‘Đưa đi chỗ giam khác thôi, im!’ Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất…

Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: ‘Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy.” (Trần Đĩnh. Đèn Cù, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

So với bản Giảng (Sơn La) hay Rạch Gốc (Cà Mau) thì Đồng Tâm (Hà Nội) chả là cái đinh gì sất cả. Bản thân ông Nguyễn Đình Kình cũng thế, cũng chả có thành tích gì đáng kể, chưa giúp được một đồng chí lãnh đạo nào vượt ngục, cũng chả chịu đòn thay cho bất cứ ai.

Đã thế, về đường lối chính sách thì Nguyễn Đình Kình lại rất mù mờ. Năm mươi tám tuổi đảng mà chủ trương xuyên suốt (đất đai thuộc quyền quản lý của nhà nước) ông vẫn không thông. Do đó, thay vì bị khai trừ, ông bị khử trừ luôn không phải là chuyện lạ.

Tôi chỉ lạ ở cái thái độ phẫn uất của nhà văn Nguyên Ngọc, khi nghe ông gào thét: “Vụ án Đồng Tâm là một tội ác trời không dung đất không tha.”

Chứ chả lẽ cái chết thảm thiết của bà Cát Hanh Long và của hàng bao nhiêu triệu lương dân khác nữa (ở khắp ba miền đất nước, từ hơn nửa thế kỷ nay) thì đất/trời có thể dung tha được hay sao?

Tưởng Năng Tiến
11/2020

BÀI GIẢNG LỄ KÍNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

BÀI GIẢNG LỄ KÍNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

 ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên – Missouri, 8-8-2014

Kính thưa cộng đoàn,

Ngày 19-6-1988 đã in một nét son trong lịch sử Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam.  Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong 117 vị chân phước tử đạo tại Việt Nam lên hàng hiển thánh, gồm 96 người Việt Nam và 21 vị thừa sai ngoại quốc.  117 thánh tử đạo là con số tiêu biểu cho hơn 100 ngàn Vị Tử Đạo trong thời gian 300 năm Giáo Hội bị bách hại.  Đây là một biến cố quan trọng đối với Dân tộc Việt Nam.  Người Việt Nam vốn đã tự hào về một truyền thống kiên cường trong việc dựng nước và giữ nước, nay càng tự hào hơn vì có những bậc tiền nhân anh hùng kiên vững trong Đức tin.  Quê hương Việt Nam đã xinh đẹp, nay còn xinh đẹp hơn nhờ được tô điểm bằng Đức tin Công giáo.

Tại Quảng trường Đền thờ Thánh Phêrô ở Rôma hôm đó, trước hàng triệu tín hữu, trong số đó có những tín hữu Việt Nam, Vị Cha chung của Giáo Hội Công giáo hoàn vũ đã nhân danh Chúa Ba Ngôi long trọng tuyên bố: kể từ nay, 117 vị Tử đạo Việt Nam được kể vào hàng các thánh và được tôn kính trong toàn thể Giáo Hội.  Để bày tỏ tình thương hiền phụ đối với các tín hữu Việt Nam, vị Thánh Giáo Hoàng đã ngỏ lời với con cháu các thánh Tử đạo bằng ngôn ngữ của họ.  Đây là lần đầu tiên tiếng Việt thân thương của chúng ta được phát âm và xướng lên bởi một vị Giáo Hoàng: “Chào anh chị em Việt Nam thân mến.  Cha gửi lời chào chúng con từ bốn phương trời tuốn về La Mã, vui vẻ hiên ngang mừng các thánh Tử đạo của Giáo Hội chúng con hôm nay.  Xin Chúa chúc lành cho chúng con, và Cha cầu chúc cho chúng con sống xứng đáng là con cháu các vị anh hùng.”

Đã 26 năm từ sự kiện phong thánh, những lời của vị Cha Chung ngỏ lời với con dân Việt vẫn còn vang vọng đâu đây trong tâm khảm của các tín hữu Việt Nam đang sống trong nước cũng như ở hải ngoại.  Bởi lẽ, qua những lời đơn sơ ấy, vị Thánh Giáo Hoàng muốn mời gọi chúng ta tưởng nhớ về một quá khứ đau thương hào hùng của Giáo Hội Công giáo Việt Nam, đồng thời khuyên chúng ta học nơi các ngài bài học sống Đức tin trong cuộc sống hiện tại hôm nay.

– Thứ nhất, hồi tưởng về quá khứ.  Giáo Hội công giáo Việt Nam đã trải qua những thử thách đau thương khốc liệt, giống như cộng đoàn tín hữu tiên khởi tại Rôma ở thế kỷ thứ hai.  Hơn một trăm ngàn người Việt Nam đã phải hy sinh mạng sống chỉ vì một lý do là họ tin vào Chúa.  Họ phải chịu biết bao đau khổ và nhục hình: phân biệt đối xử, phát vãng lưu đày và tử hình.  Có thể thế hệ hôm nay sẽ đặt câu hỏi: các Thánh Tử đạo Việt Nam là những ai?  Thưa họ là những giám mục, linh mục, tu sĩ chủng sinh; họ là những người cha, người mẹ, những người con trong gia đình; họ là những người học hành uyên bác nhưng phần lớn trong số họ là những người bình dân; đa phần trong số họ là những người chân lấm tay bùn, vất vả quanh năm với con trâu, cái cày.  Trong số họ cũng có 21 vị là người ngoại quốc.  Các ngài đến từ những đất nước văn minh và đã chọn Việt Nam là quê hương thứ hai của mình.  Các Thánh Tử đạo Việt Nam, không phân biệt Tây hay Ta, nam hay nữ, giàu hay nghèo, trí thức hay bình dân.  Tất cả đều yêu mến Chúa, yêu quê hương Việt Nam và yêu Giáo Hội Việt Nam đến mức sẵn sàng đổ máu đào để làm chứng cho tình yêu ấy.  Vì thành kiến và thù ghét, người ta đã nghĩ ra biết bao hình khổ ghê rợn hầu làm họ chối bỏ Đức tin, nhưng các ngài vẫn can đảm kiên trung trước lời đe dọa của những nhà cầm quyền.

Chủng sinh 18 tuổi, Tôma Trần Văn Thiện, đã nói với quan: “Đạo dạy tôi thờ Thiên Chúa là đạo thật, tôi sẵn sàng chịu chết chứ không bỏ đạo.”  Thấy Tôma Thiện là một chàng trai trẻ có khuôn mặt khôi ngô tuấn tú, quan muốn nhận làm con rể mình, và sẽ đứng ra lo liệu cưới xin.  Nhưng ngài đã từ chối: “Tôi chỉ mong chức quyền trên trời, chứ không màng đến quyền chức trần thế.”  Thánh Tôma đã thấu hiểu lời Đức Kitô trong Tin mừng Luca: “Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.  Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?”  Sách viết về cuộc đời của các Thánh Tử đạo còn kể lại biết bao chứng tá anh hùng của các ngài.  Các ngài không sợ hình phạt, chỉ sợ mất nghĩa cùng Chúa.  Đi ra pháp trường mà các ngài vui vẻ như đi dự hội.  Với các thánh Phạm Khắc Khoan, Nguyễn Văn Hiếu và Đinh Văn Thanh, các ngài đã chia bè và hát kinh Tạ Ơn “TE DEUM” bằng tiếng Latinh ngay trong nhà giam.  Rồi khi ra pháp trường để chịu tử hình, các ngài lại hát bài ca “Alleluia” như trong đêm vọng Phục Sinh.  Chỉ có một Đức tin kiên trung và lòng phó thác trọn vẹn mới có thể đem lại cho các ngài nghị lực và niềm vui như vậy.

Sống đạo đức thánh thiện và trung thành với Đức tin, các ngài còn là những người sống bác ái với mọi người.  Lịch sử các Thánh Tử đạo còn ghi lại thánh y sĩ Phan Đắc Hòa.  Ngài đã sẵn sàng chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, sẵn lòng cứu giúp những người túng thiếu.  Hay thánh Martinô Thọ, Ngài thường trồng vườn dâu để có thêm thu nhập giúp người nghèo.  Cụ trùm Đích thì thường xuyên góp nhặt tiền bạc để đi thăm viếng trại cùi và nuôi nấng những người dịch tả trong vùng.  Còn với quan Hồ Đình Hy, ngài luôn giúp đỡ những người bơ vơ, mồ côi ngay ở trong nhà, và khi họ qua đời thì lo an táng đàng hoàng như một người bình thường.

– Ôn lại quá khứ, chúng ta là những tín hữu Công giáo Việt Nam học những bài học cụ thể cho cuộc sống hôm nay.  Quả vậy, lòng tự hào về các bậc Tiền Nhân không phải chỉ được ghi lại trong những pho sách sử mà thôi.  Chúng ta ôn lại truyền thống hào hùng được ghi dấu và thấm đẫm máu đào, không giống như chỉ ôn lại một sự kiện lịch sử xa vời, dù rất đẹp nhưng khô cứng và vô hồn.  Chúng ta tự hào về các Thánh Tử Đạo cũng không giống như kiểu lấy công phúc của các ngài để làm vinh dự cho chúng ta.  Việc ôn lại chứng tá của các Thánh Tử đạo nhắc nhớ mỗi người dân Việt, nhất là những tín hữu Công giáo Việt Nam, dù sống trên miền đất nào, cũng cố gắng noi theo lòng đạo đức của các ngài, gìn giữ Đức tin kiên trung vào Chúa, yêu mến Giáo Hội và sống Đức tin trong cuộc sống hằng ngày.

Cuộc sống và chứng từ của các anh hùng Tử đạo cần phải được kể lại cho mọi thế hệ người Công giáo Việt Nam.  Cùng với lòng tự hào là tâm tình tri ân cảm mến và thiện chí noi gương các ngài để sống Đức tin.  Thời tử đạo dẫn đến máu chảy đầu rơi ngày nay không còn nữa, nhưng những ai muốn trung thành với Chúa thời nào cũng phải cân nhắc khôn ngoan để chọn lựa Chúa hay chọn lựa thế gian; chọn lựa hạnh phúc và niềm vui vĩnh cửu hay chọn lựa vinh quang nhất thời; chọn lựa đường đi trong ánh sáng hay cuộc sống trong bóng đêm.  Môi trường nào cũng vậy, ta luôn phải chọn lựa.  Hoàn cảnh nào cũng thế, ta phải sống khôn ngoan.  Cuộc chọn lựa này nhiều khi làm chúng ta phải vượt lên những ràng buộc khắt khe và có khi phải vượt lên chính mình với trái tim rướm máu.  Nếu những cuộc cấm cách tàn khốc đã lùi vào dĩ vãng thì người tín hữu hôm nay lại phải đối diện với những thử thách của thời hiện đại.  Quả vậy, biết bao trào lưu và lối sống mượn chiêu bài tự do để đi ngược với giáo huấn của Tin Mừng, coi thường hoặc lãng quên những thực hành đạo đức, tôn vinh kỹ thuật một cách quá đáng và lãng quên Thiên Chúa là Cội nguồn mọi sự.  Sáng suốt và khôn ngoan để trung thành với Chúa trong cuộc sống hôm nay, đó là một cuộc tử đạo trường kỳ, dai dẳng suốt cuộc đời.

Ơn gọi tử đạo gắn liền với những ai tin vào Chúa Giêsu và muốn làm môn đệ Người.  Nếu chúng ta được sống trong một xã hội dân chủ, an bình, thì đó đây trên thế giới, vẫn còn những nhà truyền giáo bị hành hung và sát hại, vẫn có những ngôi thánh đường Công giáo bị tàn phá, vẫn còn những tín hữu không dám công khai tuyên xưng Đức tin, vẫn còn những người vì hai chữ Công giáo mà bị phân biệt đối xử.  Đây cũng là những cuộc bách hại mang hình thức mới của thời đại và những tín hữu này đang sống từng ngày chứng tá của mình một cách anh hùng.

Kính thưa Cộng đoàn,

Ngày Thánh Mẫu được tổ chức hàng năm tại Missouri đã trở thành điểm hẹn thân thương cho người Việt Nam đang sống tại Hoa Kỳ cũng như tại nhiều nước trên thế giới.  Chúng ta về đây để gặp gỡ nhau, để chia sẻ những vui buồn và nâng đỡ nhau trong cuộc sống.  Chính Đức Mẹ Maria đã quy tụ chúng ta nơi đây.  Mẹ là điểm nối kết giữa những con Dân Việt đang sống xa quê.  Về với Mẹ, chúng ta được Mẹ vỗ về ủi an.  Về với Mẹ, chúng ta có dịp kể lể tâm sự với Mẹ những băn khoăn trăn trở của cuộc sống trần gian.  Về với Mẹ, chúng ta cũng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Mẹ chiếu tỏa qua các nhân đức và sự trung thành can đảm của Mẹ.  Trong Thánh lễ kính các Thánh Tử đạo Việt Nam, chúng ta cùng nhìn lên Mẹ và ca tụng Mẹ là Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo.  Vâng, dưới chân thập giá, Mẹ đứng đó, trong suy niệm và thinh lặng, đau khổ kết hợp với của lễ của Con mình là Đức Giêsu chịu treo trên thập giá.  Mẹ là Đấng Đồng Công cứu chuộc.  Mẹ chia sẻ đau đớn và hiệp thông với Chúa Giêsu.  Mẹ cũng dâng chính bản thân mình làm của lễ lên Chúa Cha.  Mẹ xứng đáng được mang ngành thiên tuế của các vị Tử Đạo.  Về bên Mẹ trong Ngày Thánh Mẫu này, chúng ta xin Mẹ cho chúng ta được lòng cậy trông, chí can đảm và lòng tín thác nơi Chúa trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Đây bài ca ngàn trùng dâng về Thiên Chúa, bài ca thắm nhuộm máu hồng.  Nhìn Chúa đẫm máu trên đồi cao, từng đoàn người anh dũng tiến lên pháp trường.  Một bài ca đẫm máu đào.  Một bài ca hào hùng bất tận.  Bài ca ấy, chính là cuộc đời của các thánh Tử đạo Việt Nam.  Chúng ta, những tín hữu Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại, đang là những người nối tiếp bài ca đã được các ngài xướng lên, để làm vang mãi lời ca tôn vinh Chúa, ca ngợi vẻ đẹp của Giáo Hội và Quê Hương Việt Nam thân thương.

“Cha cầu chúc cho chúng con sống xứng đáng là con cháu các vị anh hùng” – lời chúc thiêng liêng của vị Thánh Giáo Hoàng luôn luôn là một lời mời gọi và là một thông điệp được gửi đến cho mỗi người chúng ta.

Xin Chúa chúc lành cho chúng con.  Xin Mẹ luôn gìn giữ che chở chúng con.  Xin các Thánh Tử đạo Việt Nam cầu bầu cho chúng con.  Amen!

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Tu Dao VN 4.jpg

Nụ hôn  Luật-sư

Nụ hôn  Luật-sư

Vự án có thật như sau:  

Một thanh niên nông dân đi làm đồng về, thấy anh Đại đội  trưởng đóng tại nhà, đang ôm ấp vợ mình. Sẵn cái cuốc trên tay, anh ta phang một cái, Đại đội trưởng chết ngay.

Phiên  tòa mở ra với ý định xử thật nghiêm khắc  tội giết người và làm mờ nhạt các tình tiết khác để giữ uy tín cho bộ đội.

Chủ tọa vai chánh án là Luật sư Lê Văn Chất. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường được chỉ định bào chữa cho tội phạm . Ông chỉ có ít phút gặp thân chủ của mình.

Diễn biến phiên tòa đúng như  định liệu   :

Anh nông dân chịu án tử hình và được phép nói lời cuối cùng. Anh nhìn Chánh tòa, nhìn Luật sư, ngập

ngừng nói: “Xin phép được ôm hôn bà Chánh tòa một lần trước khi chết”.

Bị bất ngờ, Chánh tòa không kịp trấn tĩnh, đập bàn quát mắng anh nông dân rằng tội lỗi đến thế mà còn dám hỗn láo, nói liều.

LS Nguyễn Mạnh Tường nói: “Thưa ông Chánh tòa, ông là người có học thức,  suy nghĩ chín chắn, mà trước một câu nói không đâu của người sắp chết  còn nổi giận ghê gớm như thế.  Phương chi, anh nông dân nghèo ít học  kia, trông thấy người đàn ông khác trong buồng vợ mình thì sự giận dữ đến mức hành động thiếu suy nghĩ là điều có  hể hiểu được”.

Kết  quả cuối cùng, anh nông dân được giảm án, thật ra  là tha bổng vì hồi ấy tỉnh Thái Bình đâu có trại giam. Luật sư Lê Văn Chất, có người vợ  trẻ, đẹp và ông này rất ghen. Biết thóp này Ls Tường chỉ dùng một mẹo   nhỏ nhưng bị cáo đã được cứu mạng.

Dân  gian gọi vụ án đó là vụ “nụ hôn Nguyễn Mạnh Tường”.

Hôm nay Ngày Luật sư Việt Nam, ôn lại chuyện này để chúc mừng các Luật sư, mong các Luật sư có thêm nhiều “nụ hôn” như thế nữa để bảo vệ công lý, mang lại bình yên cho cuộc sống bộn bề hôm nay.

Nguyễn văn Đài

  PS .  Xin nói thêm về luật Sư NGUYỄN MẠNH TƯỜNG , người đã lấy được 2 bằng Thạc sĩ Pháp trong  khi còn rất trẻ  , đến độ báo chí Pháp thời đó phải ca ngợi :

             ” trong 30 năm nay, người bản xứ (Pháp) chưa có ai giỏi được như vậy ! “

               Với lòng yêu nước cao độ , ông về VN  làm việc và được ông Hồ chi Minh mời tham gia chính quyền với chức vụ “cố vấn ” , bằng câu nói khẩn khoản , như sau :

                ” Xin ngài giúp cho … “.

                Nhưng sau khi ông TƯỜNG với lòng khảng khái ngay thẳng phê bình và đề nghị sửa sai vài khuyết điểm trong chính quyền, thì ông bị hạ bệ, không còn chức tước gì nữa .

              Lúc đó ông Tường không buồn và nghĩ rằng :” thì mình hành nghề tư chức  , có sao đâu “

                Nhưng chuyện đời không giản dị như vậy!

                   Ông bị cô lập hoàn toàn . Mở phòng luật ư? Không một thân chủ . Bà vợ , thật giỏi  muốn  dạy học , không  trường nào nhận! . Cô con gái , thật giỏi và lanh lợi đi xin việc làm,  không có ai nhận!  Lý do : Mọi người, mọi cơ sở đã được ” rỉ tai ” thầm  là: không ai được giúp  người Thạc sĩ giỏi nhất nước Pháp, đó ! Hắn phải chết, mà chết nhục cơ, chết đói! 

               Về sau, bạn bè thấy bất nhẫn và thảm thương quá, liều mình ngầm giúp đỡ gia đình ông .

                    Ông TƯỜNG có viết sách để đời sau biết chuyện này . Ông chết ở Pháp, năm 85 tuổi . 

From: TU-PHUNG

Lũ cuốn lượng gỗ “khổng lồ” bít kín cầu Sông Bua

 Lũ cuốn gỗ trôi đầy trên sông. Hình trục vớt gỗ quý tại cầu sông Bua ở Quảng Ngãi. Ông Nguyễn Viết Chưởng – Chủ tịch UBND xã Sơn Bua thông tin, gỗ trôi bít kín cầu Sông Bua làm hư hỏng 2 nhịp cầu số 5 và số 6, gây mất an toàn.

Cái này có phải do đế cuốc Mỹ nó phá rừng nó để gỗ mấy chục năm nay mới trôi xuống không ta ơi

https://dantri.com.vn/…/lu-cuon-luong-go-khong-lo-bit…

Fb Nguyễn Thị Bích Hậu

LÀM QUAN MÀ ĐỂ DÂN GHÉT… LÀ BIẾT THẾ NÀO RỒI!

 

LÀM QUAN MÀ ĐỂ DÂN GHÉT… LÀ BIẾT THẾ NÀO RỒI!

Báo ngày 1.11.2020 đăng tin một kẻ lạ mặt đã vào tận nhà ông Hoàng Văn Trường, nguyên Bí thư Thành uỷ Nha Trang dùng hung khí cắt cổ ông khiến ông bị thương phải chở đi cấp cứu.

Thằng lạ mặt đó cũng gan thiệt chớ, chắc phải căm hận ông Trường lắm mới dám làm thế.

Chợt nhớ trước đây cũng có tin ông Phạm Thế Dũng, cựu chủ tịch tỉnh Gia Lai cũng bị một người khách lạ úp luôn tô phở vào đầu khi ông Dũng đi ăn phở sáng. Nhà ông cũng nhiều lần bị quăng đầu chó vào sân và lôi đi cái cửa của căn nhà đồ sộ. Ông cũng thường bị dân chửi rủa và ném đá khi đi tập thể dục buổi sáng.

Cả hai ông có điểm giống nhau là ông nào cũng có nhà to như lâu đài và tài sản thì ăn ba đời cũng không hết. Cũng còn có điểm tương đồng nữa là lúc đương chức, hai ông gây nhiều tội ác và nhiều sai phạm. “Khuyết điểm của ông Phạm Thế Dũng là nghiêm trọng, để lại nhiều hậu quả khó khắc phục, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm giảm sút uy tín của tổ chức đảng và cá nhân, do đó Bộ Chính trị, UBKTTW quyết định thi hành kỷ luật cảnh cáo đối với ông Phạm Thế Dũng.” Và thế là ông chấm dứt con đường quan lộ, về hưu sớm. Nhưng nhân dân không quên ông, họ căm ghét ông nên luôn nguyền rủa ông.

Cũng có ông một thời là lãnh đạo cấp cao, một thời hét ra lửa. Đến lúc qua đời, mộ luôn bị trét đầy phân, bôi bẩn, viết những lời căm hận. Cuối cùng phải hốt cốt, di dời.

Làm quan mà để dân ghét, dân thù là biết thế nào rồi. Không biết Đảng bố trí nhân sự thế nào mà lắm quan bị dân căm thù đến thế.

Cũng không biết quan ta làm thế nào mà giàu quá vậy, ông nào cũng dinh thự nguy nga, hoành tráng? Những thứ đó lộ rõ như ban ngày mà sao ban chống tham nhũng của Đảng không nhìn thấy nhỉ?

Người xưa bảo: “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng” và “Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Mấy quan này nghe nói cũng đầy bằng cấp mà sao không biết những câu này mà giữ mình nhỉ?

Lòng tham vô độ đã lấn mất lý trí rồi.

3.11.2020

DO DUY NGOC

THẢM HOẠ… AI GÂY?…

THẢM HOẠ… AI GÂY?…

PV Tuổi Trẻ và các tòa soạn từ hiện trường đã cho cộng đồng những cái nhìn đầy ám ảnh.

Em Hồ Thị Điệp học sinh lớp 11 trường THPT Nam Trà My bên mộ bố mẹ ở Trà Leng, trên mộ có những gói mì tôm đã xé ra để thay cho mâm cơm cúng mả.

Em hầu như không biết mình đã trở thành mồ côi cả bố lẫn mẹ, cho đến khi được người làng dẫn đến trước mộ và kể lại vụ tai nạn.

Trước đó em ở khu nội trú, nhận định tình hình mưa bão có thế gây nguy hiểm nên thầy hiệu trưởng không cho các em về nhà vì thế em và nhiều bạn thoát chết.

Khi có tin buồn, thầy hiệu trưởng và 6 thầy đưa em vượt núi về làng để thọ tang. Dọc đường thầy giữ kín mọi chuyện và em chỉ được biết khi đến mộ bố mẹ.

Bố mẹ em đã đi qua nhiều mùa bão lũ, những ngày mưa chỉ ăn mì tôm.

Cái chết, trong một ý nghĩa nào đó đã giải thoát họ, bố mẹ Điệp sẽ chỉ phải dùng mì tôm một lần cuối.

Còn Điệp và những đứa trẻ như em sẽ còn những ngày dài mà mưa lũ ngày càng ác liệt hơn mì tôm chưa chắc đã có để ăn.

Tại trời?

Không.

Trời vẫn chở che bản làng hàng trăm năm nay.

Vậy tại ai?

Tại điều gì?

Có điều hình ảnh mì tôm trên mộ này liệu có đủ lay động những kẻ đã dự phần cùng thiên tai tạo ra thảm họa này là thủy điện cóc và phá rừng không?

HOÀNG LINH

Image may contain: one or more people, outdoor and nature

BÁC CẢ HÀ ĐÔNG

 

BÁC CẢ HÀ ĐÔNG

Phố Nhà Rượu là nơi gia đình tôi ở lâu nhất. Từ nhà 27 Bis chúng tôi dọn tới nhà 65 cùng phố. Nhà 65 là ngôi nhà thứ ba trong cuộc sống không yên chỗ. Nó lớn hơn ngôi nhà thứ hai, có nhiều phòng hơn. Gia đình đã lớn thêm với ba em tôi lần lượt ra đời.

Thay vào chị Nhài Hiên là chị Tường ở quê lên. Chị xấp xỉ tuổi cha mẹ tôi, gọi cha mẹ tôi bằng cậu mợ xưng em, còn chúng tôi gọi chị bằng chị. Cách xưng hô này được giữ mãi. Vì sao lại như thế thì khi tôi về quê được bà chị cả của cha tôi là cô Gái dẫn tích tôi mới hiểu. Duyên do chị Tường là một đứa bé mới đẻ bị mẹ vứt ở bụi tre đầu ngõ, ông nội tôi dậy sớm nghe tiếng trẻ khóc, mới lần ra xem rồi thương tình ông bồng về cho bà nội nuôi.

Chị lớn lên, trở thành người nhà. Cô Gái không giải thích vì sao chị không được coi là con nuôi. Chắc vì gia đình đã đông con cái nên không coi chị là đứa con thêm. Thấp, đậm người, cục mịch, mặt mũi xấu xí, lúc nào cũng cau có, chúng tôi không yêu chị Tường. Không giống chị Nhài Hiên dịu dàng, chị Tường luôn quát nạt, bắt chúng tôi vào khuôn vào phép.

Tôi biết bác Cả Hà Đông năm tôi lên mười.

Một hôm cha tôi trở về, mặt đăm chiêu. Ông nói nhỏ với mẹ tôi:

– Anh Sao Đỏ đã vượt ngục!

– Anh ấy hiện ở đâu? – mẹ tôi lo lắng.

– Đang đợi xem sao. Tụi nó lùng dữ lắm. Treo giải thưởng một vạn đồng Đông Dương cho cái đầu Sao Đỏ.

– Đã có chỗ trốn cho anh ấy chưa?

– Mình phải lo cho anh ấy thôi!

Mẹ tôi nói không nên để Sao Đỏ ở nơi nào khác, mọi chỗ đều không an toàn, đều nguy hiểm, tốt nhất là đưa về nhà mình. Đó mới là chỗ mật thám ít ngờ nhất – Nguyễn Lương Bằng không thể mạo hiểm trốn ở nhà bạn tù vừa được tha.

Hôm sau cha tôi mang về tờ Tin Mới với dòng nhắn tin trong mục Rao vặt: “Ông Cả Hà Đông đang ở đâu, về ngay, cả nhà đợi ông”.

Về khuya hai hôm sau, một người đàn ông gày còm, mặt quắt, vận áo the thâm, quần cháo lòng, một tay cầm cái ô cụp, tay kia xách gói vải trong có một viên ngói tây, gõ cửa vào nhà tôi.

Cha tôi hé cửa cho ông vào nhà. Hai người ôm chầm lấy nhau, cười ra nước mắt.

Trước khi vào nhà tôi, ông ngó nghiêng đống ngói ở nhà bên rồi vờ vào hỏi mua. Người đàn ông ra tiếp ông nhà quê là ông Trần Trọng Kim, về sau làm thủ tướng chính phủ Việt Nam khi Nhật hất cẳng Pháp, độc chiếm Đông Dương.

Năm 2003, nhân trò chuyện với ông Bùi Diễm, cựu đại sứ Việt Nam Cộng hoà ở Hoa Kỳ, ông cho hay ông từng ở chính ngôi nhà số 65 của chúng tôi vào thời gian cuộc chiến Việt-Pháp 1946-1954. Trong cuộc đời không thiếu những tình cờ hi hữu.

Căn phòng nhỏ của chị Tường được dành riêng cho ông Sao Đỏ. Ông ở yên trong đó, không bước chân ra ngoài. Chúng tôi được bố mẹ dặn đi dặn lại rằng nếu bất ngờ có ai hỏi thì nói rằng chỉ có một người đến chơi tên là Bác Cả Hà Đông. Chị Tường ngoan đạo đã được cha mẹ tôi huấn luyện để biết cách bảo vệ cán bộ cách mạng.

Bí danh Ông Cả Hà Đông có từ ngày đó. Nếu nó có trước chắc cha tôi đã không dùng nó để viết trong mục Rao Vặt.

Mẹ tôi bận bịu suốt dưới bếp lo nấu nướng những món tẩm bổ : chim câu tần hạt sen, chân giò hầm thuốc bắc… mang vào tận giường cho bác Cả Hà Đông. Chúng tôi chưa bao giờ được biết đến những món ăn ngon như thế. Khi mẹ tôi nấu nhiều, ông ăn không hết, chúng tôi mới được nếm náp chút ít.

Bận bịu lo kinh tế cho Đảng, cho các đồng chí đang trốn tránh, mẹ tôi mặc chị Tường lo cơm nước. Tôi nhớ rất lâu món rau muống sống chấm bỗng rượu, Rau muống ăn sống thường được chẻ nhỏ, nhưng chị Tường chỉ vặn cọng rau làm đôi làm ba rồi đập vào lòng bàn tay cho giập. Bỗng rượu là đồ cho lợn, được nhà máy rượu thải ra qua những lỗ ở bức tường bao quanh cho những xe bò quây cót chở đi, muốn xin bao nhiêu cũng được.

Trong bảo tàng nhà ngục Sơn La cho đến nay vẫn còn bức ảnh cha tôi và bác Cả Hà Đông chụp chung. Trong ảnh, hai người mặc quần trắng áo trắng có in số tù trên ngực.

Thời Tây đô hộ, chế độ giam cầm xem ra dễ dãi. Người tù được phép chụp ảnh kỷ niệm. Cha tôi kể: bức ảnh do một ông thợ ngoài phố được phép vào trong nhà tù chụp cho tù.

Số phận bức ảnh hai người tù khá long đong. Khi cha tôi bị bắt, nó lập tức bị hạ xuống, bị tiêu huỷ. Nghe nói rồi sau người ta vất vả mới tìm lại được để bổ sung vào số hiện vật cho bảo tàng nhà ngục Sơn La.

Tôi thường ngờ vực nhìn những đồ vật được trưng bày ở các bảo tàng, các nhà lưu niệm – không thể nào biết chúng là đồ thật hay đồ giả. Cây đào Tô Hiệu nổi tiếng trong các hồi ký cách mạng là một cây đào khác được trồng ở chỗ khác. Nếu là trí nhớ của một người thì có thể nhầm. Nhưng đàng này các ông Đặng Kim Giang, Trần Huy Liệu, Lưu Động và cha tôi là bạn tù của Tô Hiệu nhận xét thế thì rõ ràng người ta đã bịa ra một hiện vật. Đến cái máy chữ Hermes Baby trong ảnh cụ Hồ làm việc tại chiến khu Việt Bắc do nhiếp ảnh gia Đinh Đăng Định chụp được trưng bày trong bảo tàng cũng không phải chính nó. Cái máy chữ cũ ấy cha tôi xin cụ Hồ mang về cho tôi, rồi một người bạn mượn không trả. Chắc người ta đã mua một cái Hermes Baby ở chợ giời thay vào.

Chuyện không tôn trọng cái thật, hồn nhiên làm cái giả, không phải chỉ trong lĩnh vực bảo tàng. Ngành làm phim ở các nước xã hội chủ nghĩa cũng thuần thục trong việc chế tạo cảnh giả. Trong phim Việt Nam Chiến Đấu (tên Việt: Việt Nam Trên Đường Thắng Lợi) nhiều cảnh của bậc thầy phim tài liệu Liên Xô Roman Karmen quay cũng là cảnh giả, bố trí để quay, chứ không phải cảnh được quay tại trận. Cũng trong phim ấy, cảnh con hổ Việt Nam đi lại trong rừng, xuống suối uống nước, chính tôi quay bằng máy Eymo 35 ly, cũng là cảnh giả. Người ta phải bẫy con hổ rồi mang cái cũi lim nhốt nó tới một nơi rộng rãi được rào san sát bằng tre gộc. Nói cho công bằng, phim này phải làm cấp tốc để hoàn thành vào năm 1954, những người làm phim không có cả thời gian lẫn thiết bị tốt mà các nhà quay phim thế giới động vật bây giờ có.

Kể từ năm 1954 khi tôn ti trật tự mới do tổng bí thư Trường Chinh kiên trì thiết lập thì trong số bạn bè thời hoạt động bí mật chỉ có bác Cả Hà Đông là người còn thỉnh thoảng lui tới gia đình tôi. Những nhà cách mạng thường xuyên lui tới, trú ngụ trong nhà tôi, nay trở thành “lãnh tụ” hoặc quan chức lớn thì biến mất như bốc hơi.

Bác Cả Hà Đông giàu tình cảm, sống xuề xoà, bình dân, là có thực, kể cả khi ông đã trở thành quan lớn. Bác đến chơi là đến chơi, vậy thôi, hàn huyên với cha mẹ tôi, thăm chúng tôi, những đứa cháu, chứ chẳng có mục đích nào khác.

Thế mà rồi việc bạn bè bình thường đến thăm nhau trong những thời gian sau khi cách mạng đã có chính quyền cũng bị công an theo dõi, mới lạ. Tôi không biết người ta

theo dõi quan hệ giữa cha tôi và ông Nguyễn Lương Bằng từ khi nào.

Sau này tôi đọc nhiều hồi ký mới biết ở nước cộng sản nào cũng vậy, sự theo dõi nhau giữa những người trong đảng, đặc biệt giữa những người có địa vị trong nhóm cầm quyền, là chuyện không hề lạ. Theo dõi và tố cáo được khuyến khích trong toàn xã hội trở thành một thói thường. Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ người dân Cộng hòa Dân chủ Đức mới sững sờ trước những chồng hồ sơ cao ngất: con báo cáo cha mẹ, vợ báo cáo chồng, bè bạn thân thiết báo cáo nhau… ngồn ngộn trong kho lưu trữ của cơ quan an ninh STASI.

Những người trong ban lãnh đạo đảng tất nhiên biết Nguyễn Lương Bằng thân với cha mẹ tôi. Mà tính ngang ngạnh của cha tôi không phải là điều khó thấy. Những câu nói như “Vớ vẩn, xưng vì nhân dân quên mình là ngoa ngôn, là bịp bợm. Chúa Giê Su kêu gọi: “Hãy thương yêu người ta như mình vậy” hai nghìn năm rồi mà loài người chưa theo được, làm gì có chuyện quên mình vì dân”. Hoặc “Dạy học trò phải yêu nước vì nước ta giàu và đẹp là bậy. Thế nếu nước nghèo và xấu thì không yêu nó à?” vv… được đưa vào hồ sơ theo dõi, khi tôi vào tù mới biết. Chuyện người cách mạng cũ nay có chính quyền theo dõi nhau là chuyện bình thường, nhưng từ khi có sự rạn nứt trong đảng về quan điểm cách mạng bạo lực thì sự theo dõi ấy mới được đặc biệt tăng cường.

Ở Hỏa Lò Hà Nội, Huỳnh Ngự, cục phó Cục Chấp pháp, tra hỏi tôi rất nhiều về Nguyễn Lương Bằng, y vặn vẹo đủ đường, cứ như thể ông cũng là một nghi can trong vụ án. Trong khi đó thì ở bên ngoài Hỏa Lò Nguyễn Lương Bằng vẫn đường đường là Chủ nhiệm Ban kiểm tra Trung ương Đảng, người cầm thanh kiếm bảo vệ đảng. Còn hơn thế: ông là một người trong những người chủ trương vụ bắt bớ những đảng viên bất đồng với đường lối chung của đảng.

Thời gian tôi học điện ảnh ở Moskva những năm 50 thế kỷ trước, ông Nguyễn Lương Bằng là đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Liên Xô. Thỉnh thoảng ông gọi tôi đến ăn cơm với ông.

Một hôm đang ăn ông bảo tôi:

– Bác nói điều này, cháu nhớ lấy nhá: “Đàn bà một người thì đoàn kết, hai người thì chia rẽ. Đừng có quên”!

Ông đang buồn phiền vì cuộc cãi vã giữa vợ ông, cũng là một nhân viên sứ quán, với mấy bà khác cùng cơ quan. Nhớ lại câu nói của ông, tôi cứ buồn cười mãi. Có những tình tiết không quan trọng chút nào nhưng chúng lại đọng rất lâu trong trí nhớ.

Tôi rất yêu bác Cả Hà Đông những ngày ấy.

Nhưng tôi đã mất ông, ông bác tôi từng yêu quý.

Vào năm tù thứ ba hay thứ tư tôi không nhớ, tôi phải rất vất vả mới viết được một bức thư để gửi ông. Trong những nhà tù tôi trải qua, người bị giam không có quyền được đọc, thậm chí một mảnh giấy báo bọc đồ tiếp tế cũng bị lột ra, đừng nói tới viết. Tôi phải lấy nhựa thuốc lào đọng trong cái điếu tự tạo làm mực, lấy cật bương làm bút để viết trên mặt sau vỏ bao thuốc lá.

Tôi viết thế này:

“Thưa bác. Cháu đề nghị bác, với tư cách người cầm thanh kiếm bảo vệ sự trong sáng của Đảng, tự mình xem xét vụ án này. Cháu là đứa cháu được bác và bố mẹ giáo dục tinh thần trung thành với sự nghiệp cách mạng. Nếu sau khi kiểm tra bác thấy cháu phản cách mạng thật thì cứ mang ra bắn, nhưng nếu không phải là như thế thì bác phải đưa bọn lạm dụng chức quyền đàn áp những người cách mạng trung thực ra xử. “

Không còn tin gì nữa, không còn trông đợi gì nữa ở cái đảng cộng sản đã bỏ tôi vào tù, tôi hằng tin vẫn còn đâu đó những người đã từng chịu đựng gian nan, tù ngục cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sẽ không chịu cúi đầu làm tay sai cho những tên cơ hội tiếm quyền.

Tôi lầm. Như cách người ta thường nói: tôi ngu lâu.

Bức thư đã được bí mật chuyển ra ngoài nhân một lần tôi được gặp gia đình. Tôi bế con gái lớn lên, nhân lúc mấy người công an giám sát không để ý, tôi nhét nó vào túi áo của con. My Lan khi ấy mới lên bảy, nhưng sáng dạ, biết tôi vội vã nhét vào đấy một cái gì đó, nhưng không rút ra hỏi bố, mà tảng lờ như không có chuyện gì.

Mẹ tôi đã tới gặp Nguyễn Lương Bằng, đưa bức thư ấy cho ông . Ông lẳng lặng đọc, rồi lảng sang chuyện khác. Nhìn thái độ nhớn nhác của ông, mẹ tôi hiểu: ông sợ những con “rệp” được gài trong phòng khách. Khi tiễn mẹ tôi ra cổng, ông mới dám ghé vào tai mẹ tôi thì thào: “Chị ơi, tập thể đã quyết định, tôi đau lòng lắm, nhưng không làm gì được”.

Nguyễn Lương Bằng không làm gì được là phải.

Được Lê Duẩn và Lê Đức Thọ cho vào Ban Chuyên án vụ trấn áp, ông ký cả hai tay. Không thể viện lẽ tổ chức phân công thì ông phải theo. Nếu ông muốn bảo vệ những đồng chí cùng hoạt động với mình trong thời kỳ bí mật mà mình tin tưởng thì ai cấm được ông nói tiếng nói của mình. Là đảng viên, ông vẫn có quyền có ý kiến với công việc được giao. Chưa kể cái quyền lớn nhất mà người đảng viên nào cũng có là thôi không làm đảng viên nữa. Trong chuyện này ông không vô can. Là thành viên Ban Chuyên án, chính ông cũng là một trong những kẻ tống tôi vào tù. Có chân trong Ban Chuyên án ông trở thành người đi bắt để được bảo đảm không bị bắt.

Khi cuộc trấn áp nổ ra, tuân lệnh Lê Đức Thọ ông còn gửi cho cha tôi trong xà lim cấm cố viết một bức thư sặc mùi cán bộ chấp pháp. May mà nay còn có văn bản, ông có muốn chối cũng không được. Ông viết:

“Trước đây, khi biết anh có quan điểm bất đồng với Đảng, tôi đã lấy tình đồng chí và tình đảng viên để khuyên can, nhưng vì một lẽ nào đó, những lời chí tình của tôi không được anh chấp nhận. Trái lại, những tư tưởng và hành động của anh ngày càng đi sâu vào con đường đầy tội lỗi đối với Đảng”.

Tất nhiên, đọc mấy dòng trong bức thư đánh máy đó ắt cha tôi hiểu không phải chính Nguyễn Lương Bằng viết. Hai người cùng hoạt động với nhau nhiều năm, ông thừa biết trình độ học vấn của bạn mình. Nó hoàn toàn không giống với cách viết của con người ít học Nguyễn Lương Bằng. Người ta viết, bảo ông ký thì ông ký.

Dù sao mặc lòng, ông đã đọc, đã ký, chữ ký của ông dưới bức thư là thực. Nó xác nhận một ông Cả Hà Đông ngày xưa đã thành người thế nào trong những ngày ấy.

Kẻ tạo ra sản phẩm bị chính cái sản phẩm do mình tạo ra ấy nhào nặn thành cái mà nó muốn.

Khi Nguyễn Lương Bằng vượt ngục Sơn La năm 1943, ông được một thanh niên người Thái trắng dẫn đường. Trở về nhà anh bị Pháp bắt đem chặt đầu. Tôi đã tới bản Giảng, cách nhà tù Sơn La vài cây số vào mùa thu năm 1965 với tư cách nhà báo để thăm gia đình anh thanh niên nọ. Trong ngôi nhà sàn xiêu vẹo chỉ còn lại mẹ anh, một bà lão lẩm cẩm, điếc lác, hỏi năm câu mới trả lời được một, câu trả lời lại chẳng ăn nhập gì với câu hỏi.

Sau hai mươi hai năm, tính đến chuyến đi của tôi, người tù vượt ngục dẫn tới cái chết của người thanh niên nọ đã không một lần trở lại bản Giảng để thăm hỏi bà lão tội nghiệp.

Rõ ràng, ông là, hoặc đã trở thành, người không có ân nghĩa. Người đem cả sinh mạng mình giúp ông mà ông còn quên, nói chi đến đồng chí.

Vô ơn là một thói thường của những người cách mạng khi xong việc.

Chẳng cứ Nguyễn Lương Bằng, Trường Chinh được cha tôi dẫn đi giấu ở nhà bạn là ông Trần Văn Vần ở Phúc Yên để trốn cuộc tổng khủng bố 1939, ở đấy gần hai năm, được nuôi nấng, được bảo vệ chu đáo, nhưng khi cách mạng thành công ông ta không đến thăm ân nhân của mình lấy một lần. Khi ông Vần đến thăm Trường Chinh, ông ta ban cho ông Vần một gói kẹo.

Người ta coi sự đóng góp của nhân dân, kể cả những việc nguy hiểm đến tính mạng, là việc đương nhiên.

Bây giờ thì ai cũng biết chính quyền cách mạng đối xử với ông bà Trịnh Văn Bô, người đã hiến nhà cửa, tài sản cho cách mạng như thế nào, đến cả ngôi nhà thờ tự cũng chiếm lấy không muốn trả. Hoặc với ông bà Đỗ Đình Thiện hiến cả đồn điền Cố Nghĩa ở Phủ Lý (đồn điền Borel), nơi chính phủ kháng chiến lấy làm nơi trú chân đầu tiên khi rời khỏi Hà Nội, nơi đặt nhà in giấy bạc đầu tiên cho nền tài chính non trẻ, cũng thế. Sau khi về tiếp quản Hà Nội, ông bà còn có ngôi nhà lớn bên hồ Thiền Quang, người ta chỉ cho gia đình ông bà ở tầng dưới, tầng trên thì cấp cho báo Ảnh Việt Nam. Tôi làm việc trong tờ báo ấy, tôi biết gia đình ông bà Thiện phải ở tầng dưới ẩm thấp ra sao.

Bệnh “diễn” cũng vậy. Nhà cầm quyền luôn miệng nói về cái gọi là lập trường công nông, cứ như thể họ chiến đấu vì quyền lợi công nông. Trong thời kỳ hoạt động bí mật, mẹ tôi sát cánh cùng ông và bà Điền, vợ ông Đỗ Đình Thiện, làm công tác kinh tài cho đảng, Nguyễn Lương Bằng thừa biết chị Tường là người ở trong gia đình tôi, đã được cha mẹ tôi giác ngộ để bảo vệ cán bộ. Thế nhưng trong lần đầu tiên có cuộc diễu binh ở Hà Nội vừa được tiếp quản, Nguyễn Lương Bằng sai người đánh ô tô đến nhà tôi để đón chị Tường đến lễ đài, còn mẹ tôi, người làm công việc lo kinh tài cho đảng cùng với ông, người huấn luyện chị Tường biết giúp đỡ những cán bộ cách mạng thì ra hè đứng ngó đoàn quân cuối cùng của cuộc diễu binh đi qua nhà.

Lẽ ra ngay từ đó tôi đã phải biết Nguyễn Lương Bằng đã trở thành người thế nào. Khi cả hai cha con người bạn thân thiết của mình bị tống ngục, ông thừa biết họ không có tội, nhưng ông đã không hề động ngón tay út để can thiệp, đã thế còn hùa theo mấy tên lãnh tụ độc tài.

Hiểu được con người thật không dễ.

Cha tôi quý Nguyễn Lương Bằng vì cùng tù với nhau, ông biết bạn mình là người cách mạng kiên định, không gì có thể lay chuyển. Ông còn quý bạn ở chỗ là người trong sạch, rất liêm khiết, ngay cả khi nắm quyền lực. Trong hoạt động bí mật, Nguyễn Lương Bằng tiết kiệm từng xu cho quỹ đảng. Có lần cha tôi phát bực, to tiếng với ông, bắt ông phải xé ngay những trang sổ tay ghi tỉ mỉ những khoản chi tiêu, từng xu tiền đò, từng hào tiền trọ:

– Ông mà bị bắt với những ghi chép này thì Tây nó biết hết ông đi đâu, liên lạc với ai. Dở hơi vừa vừa chứ!

Đức liêm chính của ông còn ảnh hưởng đến vợ con. Khi ông qua đời, vợ ông trả ngay biệt thự ông được cấp, chỉ xin có một chỗ ở vừa đủ cho gia đình.

Ông liêm, là điều có thực. Ông không chính cũng là điều có thực.

Sau sáu năm bị giam, khi được thả cha tôi còn phải chịu biệt xứ ở Nam Định hai năm nữa rồi mới được trở về nhà mình ở Hà Nội. Nhân dịp ấy ông Nguyễn Lương Bằng có đến thăm, ấp úng nói lời xin lỗi.

Cha tôi phẩy tay:

– Chuyện đã qua, tôi không để bụng. Anh cũng không phải là kẻ gây ra tội.

Từ nhà tù trở về, tôi viết thư cho ông “Chuyện của cháu hãy để đấy cho lịch sử. Nhưng nỗi oan của dân thì cần giải quyết ngay. Cháu đề nghị bác hãy tới các nhà tù để nghe những người tù oan ức. Cháu tình nguyện làm người dẫn đường cho bác… “

Bức thư không có hồi âm.

Trong lần cuối gặp ông khi ông tới nhà tôi, tôi còn cố vật nài:

– Cháu qua bốn nhà tù trong chín năm, được biết rất nhiều chuyện. Oan ức nhiều lắm, bác ơi! Không phải chỉ ở trong nhà tù có những người bị oan, ở mọi nơi đều có những nỗi oan không được giải. Thôi thì chuyện dân để sau, từ từ làm. Nhưng những người tù oan đã nhiều năm thì khổ sở lắm. Bác nghe cháu, bác hãy đến để giải quyết cho họ. Khi nào có thời giờ đến với dân, bác đừng đi ô tô nhà nước để đến với dân bác cứ đi với cháu như ngày xưa bác hoạt động bí mật ấy, cháu sẽ chở bác đi bằng xe máy, cháu lái vững, bác yên tâm, bác sẽ thấy cháu không nói sai đâu.

Đáp lại, ông im lặng.

Tôi hiểu, ông không nói vì ông không thể làm.

Ông không đủ can đảm đối mặt với những gì mà cuộc cách mạng thế hệ ông làm ra đã mang lại cho nhân dân, cho đất nước. Ông không phải không biết, nhưng ông sợ sự đối mặt ấy. Nghĩ được thế còn là tốt. Tôi cho rằng ông còn sợ cái khác, cái lớn hơn, cái ông chắc chắn sẽ nhận được nếu dám trái ý bề trên. Ông biết những người cầm lái bộ máy cai trị là người thế nào.

Nguyễn Lương Bằng được ngành tuyên truyền tung hô như một Bao Công. Tôi nhìn rõ ông – ông đã trút bỏ sạch sành sanh tinh thần của người chiến sĩ cách mạng.

Ông hài lòng sắm vai một Bao công giả. Bộ cánh quan lớn chẳng những vừa vặn mà còn hoàn toàn dễ chịu với ông. Nó không đòi ông phải dũng cảm chống lại cái xấu, cái ác, để trốn tránh hậu quả của sự dũng cảm ấy.

Ông đã học được cách tồn tại.

Tiếc thay! Một con người tốt như thế mà đã đọa ra như thế.

Năm 1835, trong vở kịch Cái Chết Của Danton, nhà văn người Đức Georg Buchner viết: “Cách mạng giống như thần Saturn trong truyện thần thoại ăn thịt những đứa con của mình”. Câu này, như một lời tiên tri, được trích dẫn nhiều.

Khởi đầu, mọi cuộc cách mạng đều hứa hẹn một ngày mai tươi sáng. Nó biến chất khi một thiểu số cơ hội lợi dụng thắng lợi của cách mạng chiếm lấy đỉnh cao quyền lực. Thiểu số này tự cho mình là “duy nhất đúng đắn và vô cùng sáng suốt”, tiêu diệt không nương tay mọi bạn đồng hành không chịu điều hoà với cách quản trị xã hội độc tài (hay chuyên chính cùng một nghĩa). Số còn lại bị biến thành (hoặc tự nguyện biến thành) tay sai trung thành để được quyền tự do đè nén và cướp bóc nhân dân. Số khác thì biết đấy, biết rõ, nhưng vì biết mà cúi đầu tuân theo chỉ để được tồn tại bên ngoài những nhà tù.

Năm 1979, Nguyễn Lương Bằng qua đời.

Buổi sáng, cha tôi gọi tôi:

– Hôm nay đưa tang bác Cả. Con mặc quần áo rồi chở bố đi tiễn bác.

Cùng với tuổi già và bệnh tật mang về từ những nhà tù, cha tôi yếu đi rất nhiều. Đến xe đạp ông cũng không đi được, ngồi được lên yên là ngã. Khi ông muốn đi đâu tôi phải chở ông bằng xe máy.

Tôi nhìn vào mắt bố:

– Con là đứa con luôn vâng lời bố, bố biết. Nhưng lần này thì con xin không nghe.

Tôi biết tôi hẹp hòi, tôi không có được đức độ lượng của cha tôi. Nhưng tôi phải cho cha tôi biết thái độ của mình.

Phải cố gắng lắm tôi mới nói được điều biết trước sẽ làm ông đau lòng:

– Con sẽ bỏ cả ngày để tiễn chân một người anh hùng. Nhưng con sẽ không bỏ một phút để đưa ma một thằng hèn.

Cha tôi im lặng.

Rồi thở dài.   

Người dân miền Trung trải lòng sau bão lụt

 

“Gia đình em qua đợt lũ rồi, nhưng bên trong thì thiên tai thì phải chấp nhận. Đối với bản thân em xong phần hai ông bà già gần 80 tuổi với 7 đứa nhỏ từ 5 tháng đến học lớp 7. Vừa rồi xin nhà nước cầu cứu mà không áp ứng nguyện vọng gì, em cũng buồn nhưng thôi, không đòi hỏi gì nữa. Người vẫn còn là may lắm rồi! Còn cầu cứu mà nhà nước mình không quan tâm gì, kể cả thôn, xã, phường, huyện, tỉnh đều không quan tâm. Chỉ điện thoại tới nói ca nô có rồi mà không có ai tới cứu. Trong khi đó người thân thuộc thì họ tới cứu, còn những người không thân thuộc thì họ không cứu. Các cấp trên thôn, xã, huyện tỉnh, thôn em cầu cứu mà gọi điện thoại không cơ quan chức năng nào bắt máy để tới cứu trợ. May sao nước lên 2m chứ lên khỏi nóc nhà nữa thì chết hết, sạch trơn cả cái làng.”

Người dân miền Trung trải lòng sau bão lụt

RFA.ORG

Người dân miền Trung trải lòng sau bão lụt

Cơn bão số 9 vừa đi qua gây ra nhiều thiệt hại cho người dân các tỉnh miền Trung. RFA liên lạc với một vài người dân tại vùng bão lũ để tìm hiểu về tình hình thực tế.    

Một lớp học ở Mường Nhé- Điện Biên

Có một “đầy tớ” vĩ đại đã từng nói rằng, không nước nào trên thế giới chăm sóc thiếu nhi tốt như ở Việt Nam. Hãy nhìn vào đây: một lớp học ở Mường Nhé- Điện Biên. Tất cả các em bé đều suy dinh dưỡng, quần áo rách rưới, tất cả đều không có dày dép, tất cả các em đều buồn và thiểu nảo…

Phía sau lưng các em là một lớp học, vâng, một lớp học tận cùng tiêu điều và xơ xác. Anh Đào Xuân Tùng, người hay làm công tác thiện nguyện ở Tây Bắc, đã bật khóc nức nở khi chụp tấm hình này. Tôi cũng đã phải nhắm mắt lại sau khi xem kỹ hình ảnh này.

fb Chu Vinh Hai

SỤT LÚN, SẠT LỞ: VIỆN ĐỊA CHẤT GIẢI THÍCH NHƯ TRẺ CON…

8 SÀI GÒN

MUỐN TU NGƯNG CHỬI MÀ CŨNG KHÔNG YÊN VỚI LŨ NÀY…

Đất nước điêu linh, tang thương khắp mọi nơi bởi đủ thảm họa: tham ô, nhũng nhiễu, phá rừng, bão lũ, dịch bệnh, sách giáo khoa, cổng chào, tượng đài, đại hội… quá bất lực đành vào rừng đi tu để quên đi mọi chuyện, nhưng tu cũng không yên với lũ này.

Nghe lũ này nói thế này bảo sao không nổi điên:

“Các chuyên gia thuộc Viện địa chất Việt Nam trả lời VTV sụt lún, sạt lở là do mưa to, lớp đất trên bề mặt nặng hơn, với độ dốc của núi đồi, lớp đất đó tuột xuống”.

Nói vậy thì cần đách chi mấy ông chuyên gia ăn học nghiên cứu cho tốn tiền dân. Nói sạt lở núi là do mưa cũng giống y như nói cháy nhà là do lửa.

Tức hơn nữa là nói ngu như vậy mà vẫn có mấy ông nhà báo, vài ông khoa học lên tiếng a dùa theo để che lấp nguyên nhân sạt lở là do phá rừng trầm trọng.

Douma hết lũ chúng mày. Ông bỏ tu…

HUYNH NGOC CHENH

***

SỤT LÚN, SẠT LỞ: VIỆN ĐỊA CHẤT GIẢI THÍCH NHƯ TRẺ CON…

VTV phỏng vấn các chuyên gia thuộc Viện Địa chất Việt Nam về hiện tượng sạt lở vừa qua ở Quảng Nam. Các chuyên gia đều giải thích: mưa to, lớp đất trên bề mặt nặng hơn, với độ dốc của núi đồi, lớp đất đó sẽ tuột xuống. Tóm lại, núi đổ là do mưa to.

Giải thích như vậy mà cũng học đến giáo sư tiến sĩ!

Tôi xem hình ảnh trên VTV, nơi sạt lở là nơi trồng toàn bạch đàn. Rễ cây bạch đàn chỉ bám trên bề mặt. Theo lời người dân, mưa mới chỉ có một ngày chứ không phải dài ngày. Tôi khẳng định, chính rừng cây bạch đàn đã làm cho lớp đất trên bề mặt núi đồi bị oằn nặng và trượt nhào xuống. Nó giống như trò chơi cầu tuột của trẻ em vậy!

VTV dựa vào lời của các chuyên gia mà cảnh báo: nguy cơ sạt lở sẽ còn tiếp tục, cần di dời dân khỏi vùng nguy cơ sạt lở. Đó là biện pháp mà các chuyên gia và VTV cho là “lâu dài và bền vững”. Khốn khổ cho dân tôi!

Hàng ngàn năm người đồng bào thiểu số sống ở các triền núi, sao không có chuyện sạt lở đồng loạt như vậy? Là bởi rừng núi xưa kia đa dạng sinh thái, có cây cổ thụ, có lớp thực bì bao phủ. Rễ cây bám chặt vào từng lớp đất, các lớp địa chất gắn kết với nhau rất chặt chẽ. Người dân tộc thiểu số sống bám vào rừng, rừng thành nơi che chở cho con người chứ không phải là thảm họa.

Bây giờ thì hãy hình dung sâu hơn.

Trước khi có sạt lở thì thường đã xảy ra rạn nứt và sụt lún. Rạn nứt và sụt lún là do lòng đất bị rỗng. Lớp vỏ bọc trên bề mặt trái đất bị bong vỡ và chỉ cần một cơn mưa thôi đã có thể đổ sập. Rạn nứt, sụt lún hiển nhiên là do các mạch ngầm đã hoàn toàn bị khô kiệt. Có thể hình dung khi các mạch ngầm khô kiệt ắt tạo ra những địa đạo khổng lồ. Ngày xưa, ở vùng núi và trung du, chỉ cần đào giếng vài mét là mạch nước trào ra. Chính rừng cây đã duy trì các mạch ngầm đó. Ngày nay đến mùa nắng, các giếng đào khoan đến cả trăm mét cũng không thấy nước đâu. Không nghi ngờ gì, chính rừng cây bạch đàn đã hút nước đến cạn kiệt. Loài cây này giết chết luôn cả lớp thực bì bao phủ trên bề mặt, hủy hoại môi sinh. Đó là lý do, các quốc gia láng giềng như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan… không trồng bạch đàn trên đất nước họ mà thuê rừng Việt Nam để trồng.

Trong cách nhìn phong thủy xưa, rừng núi linh thiêng vì chính nó tạo ra các long mạch. Phá rừng cũng đồng nghĩa với cắt đứt các long mạch. Xem ra, ngày nay không cần thái thú Cao Biền trảm núi, chặt đứt long mạch nữa, người ta chỉ cần bỏ ra một số tiền thuê rừng trồng bạch đàn là linh khí cạn kiệt!

Thật đấy! Các chuyên gia địa chất và VTV “định hướng tuyên truyền” về thiên tai mà không nói đến nhân tai thì khác nào cổ vũ phá rừng và tàn hại môi sinh? Đến lúc cần quy hoạch việc trồng cây nguyên liệu, không để phá rừng nguyên sinh, trồng bạch đàn bừa bãi từ Nam chí Bắc nữa thì mới là biện pháp bền vững để phục sinh đất nước và ổn định đời sống của muôn dân. Còn nếu vẫn tiếp tục duy trì sự ngu và tham thì ắt phải còn trả giá bằng sinh mệnh của cả quốc gia và dân tộc.

CHU MỘNG LONG

+2

SUY NGHĨ TỪ VỤ SẠT LỞ Ở TRÀ LENG (NAM TRÀ MY)…

SUY NGHĨ TỪ VỤ SẠT LỞ Ở TRÀ LENG (NAM TRÀ MY)…

Vụ sạt lở kinh hoàng đã vùi lấp toàn bộ 11 gia đình ở xóm 1, xã Trà Leng, Nam Trà My, trong đó có gia đình bí thư xã.

Dân cư ở Trà Leng trên 95% là người Mơ Nông. Nghề chính của họ là trồng quế (quế Trà My nổi tiếng), kết hợp trồng các cây dược liệu, ăn quả, thu hoạch sản phẩm rừng. Đất đai ở đây phì nhiêu với chất đất đỏ bazan nổi tiếng của Tây Nguyên, độ cao trên 1200m rất lý tưởng về thời tiết và khí hậu ôn hòa để trồng dược liệu. Địa hình vùng này rất dốc, núi cao, chia cắt bởi các dãy núi và khe suối, sông hình thành từ bao đời nay.

Người M’Nông bao đời nay chung sống với rừng, ở trong rừng, khai thác nguồn lợi từ rừng, bảo vệ rừng để tồn tại và duy trì nòi giống. Họ nghèo, lạc hậu, nhưng cuộc sống bao đời nay ổn định.

Khác với nam Tây Nguyên, khu vực này địa hình rất dốc, không được phá rừng mà phải bảo tồn với sự góp sức của chính người dân bản địa. Sự tàn phá rừng của người Kinh bao năm nay (những Đoàn Nguyên Đức, những Nguyễn Thị Như Loan đêu kiếm hàng trăm triệu đô từ phá rừng khu vực này…) đã gần như làm trụi các khu rừng nguyên sinh, chỉ để lại những cây bụi vô dụng.

10 năm nay sự phát triển của thủy điện (Riêng Nam Trà My có Sông tranh 2 rất lớn cộng gần chục thủy điện nhỏ) tàn phá nốt những gì còn lại của các khu rừng đặc dụng, rừng bảo tồn ở Nam Trà My (xem ảnh vệ tinh khu ngã ba Đông Dương).

Dân vẫn nghèo. Họ không còn khả năng làm những ngôi nhà tranh xinh xắn đặc trưng Tây Nguyên với nhà dài, nhà rông nữa. Họ được “kinh hóa” với nhà mái tôn, với đường giao thông chở gỗ được về xuôi, con cái được đi học, có cả điện… Nhưng họ mất hết rừng tự nhiên là mái nhà nuôi che họ, mất hết nguồn sống truyền thống là dựa vào rừng.

Lũ lụt và sạt lở đất là nguy cơ hiển hiện.

Xóm 1 nằm ngay dưới chân ngọn núi lớn, phía trên là quả núi cao đã bị phá trụi (xem được qua ảnh vệ tinh google).

Và thảm họa đã xảy ra…

Giờ thì đã quá muộn để quay lại như xưa.

Quá muộn để dân cư ở đây có cuộc sống bền vững…

KIM VAN CHINH