VẪN CÒN CÁI GỐC

 

 Diem Chi

 TRUYỆN

VẪN CÒN CÁI GỐC

Tiểu Tử

Tôi sanh ra vào thời Pháp thuộc, lớn lên, ra đời với Mỹ Diệm, Mỹ Thiệu rồi… già trước tuổi sau ngày “cách mạng thành công” ! Để thấy tôi đã có cái may mắn biết thằng Tây, biết Chú Sam, biết Bác. Thằng Tây đội nón cối thực dân ngồi trên đầu thằng dân đội nón lá. Chú Sam với cái nhãn bàn tay của chú nắm bàn tay người bạn mà chú giúp đỡ – cái nhãn chưa kịp tróc, chú đã buông rơi thằng bạn như buông rơi một vật vô tri! Trải qua ba trào như vậy mà tôi đã không thành Tây, không thành Mỹ, cũng không thành Bôn-sê-vít, nhờ truyền thống của ông cha: Biết giữ gìn cái gốc. Điều này, tôi rất tự hào.

Bây giờ, tôi xin tự giới thiệu …

Tôi tên là Tư – Lê Di Tư – Theo ông nội tôi kể lại thì tôi thuộc dòng họ Lê Di ở Huế, một dòng họ nổi tiếng khoa bảng. Hồi đó, ông sơ ông sờ gì của tôi đã làm quan lớn trong triều đình. Ổng được lệnh vua, đưa dân đi dài vào Nam khai hoang, dựng làng lập ấp, để mở mang bờ cõi. Khi ổng vào đến vùng rừng thiêng nước độc mà sau này người ta gọi là Tây Ninh, ổng ngã bịnh rồi chết. Sau đó, không nghe ông nội tôi kể tiếp. Điều mà tôi biết là đến đời ông nội tôi, cái gia tài quyền quy chữ nghĩa của dòng họ Lê Di chỉ còn lại đủ để ông nội tôi…bắt mạch hốt thuốc độ nhựt! Rồi qua đến đời cha tôi, đời anh chị tôi…chỉ còn làm ruộng dài dài, mà mớ chữ nghĩa thì vừa đủ để ngâm nga mấy truyện thơ bình dân như Chàng Nhái Kiểng Tiên hay Bạch Viên Tôn Các.

Hồi đó, có người thắc mắc tại sao tôi đã mang cái họ Lê Di rất văn vẻ, rất …quí phái mà lại có cái tên Tư nghe quá cộc lốc khô khan? Nói cho có vẻ…văn chương, cái họ của tôi như tấm lụa mềm mà sao cái tên của tôi thì như hòn sỏi nhám? Đó là do bản chất thật thà của cha tôi. Ổng đặt tên anh em chúng tôi giống như ổng đếm bầy con! Đầu tiên là anh cả tôi: Lê Di Một. Kế đó là anh Lê Di Hai. Tiếp theo là chị tôi: Lê Thị Ba. À! Chỗ này được cha tôi giải thích…gọn bâng: Tại nó là con gái, mang họ Lê Di sao được, nữ sanh ngoại tộc mà ! Cuối cùng là tôi, Lê Di Tư, sanh cách chị tôi đến chín năm. Vì vậy, ở nhà gọi tôi là thằng Út, còn hàng xóm thì gọi tôi là Út Tư, chắc là để khỏi lầm với những thằng Út khác.

Năm đó, tôi đến tuổi vào trường tiểu học. Cha tôi xách xe đạp chạy ra nhà việc (hồi đó, chỗ ban hội tề –là những người chức trách trong làng – làm việc được gọi là nhà việc, cũng có người gọi là nhà vuông bởi vì ngôi nhà đó có bốn cạnh bằng nhau) để trích lục khai sanh của tôi. Khi ổng về đến nhà, ổng cầm tờ khai sanh vừa chỉ chỏ vừa phàn nàn: “Con mẹ thằng lục bộ! Hồi đó tao khai là Lê Di Tư, nó nghe rõ chớ, lại còn gục gặc đầu nói đứa thứ bốn phải không. Vậy mà nó đánh dấu ư cách xa chữ u đến cả thước lận, thành ra là dấu sắc. Bây giờ thằng chả chết mất rồi, lấy ai mà đối chất đây? Còn thằng lục bộ mới này thì nó đọc sao là chép y ra vậy. Con mẹ nó! Làm thằng nhỏ bây giờ tên là Tú. Coi vô duyên không?”

Vậy là trong khai sanh – và mãi về sau này – tôi tên là Lê Di Tú! Phiền một điều là hồi đó cái tên Tú này tôi nghe không quen lỗ tai. Cho nên, ngày đầu trong trường tiểu học, khi thầy giáo điểm danh, gọi đến Tú là tôi vẫn tĩnh bơ ngồi yên. Còn dòm qua ngó lại coi là đứa nào! Cũng may là thầy giáo lớp chót đó là cậu Sáu An – bà con bạn dì với má tôi – nên cẩu đã biết qua cái sự trục trặc trong cái tên của tôi. Thẩy bèn gọi ‘’ Tư ‘’ làm tôi giựt mình dạ một tiếng lớn. Cả lớp cười rộ. Rồi mấy ngày sau đó, khi gọi đến Tú là thẩy… chêm ngay tiếng Tư cho xong chuyện. Trẻ con dễ thấm, nên chỉ mấy hôm sau là tôi đã quen với cái tên Tú văn vẻ đó, như đã quen lâu !

Lật bật rồi tôi cũng trèo tới lớp nhứt, rồi đậu xép-phi-ca (certificat). Hồi này, ở nhà trúng mấy mùa lúa, nên cha tôi quyết định cho tôi học tới. Ổng nói: ‘’Thằng Út nó lanh lợi, bắt nó làm ruộng cũng uổng ‘’ (Bây giờ nhớ lại, tôi không khỏi phì cười : ổng làm như phải là …cù lần mới đi làm ruộng!) Vậy là tôi được xuống Sàigòn thi vào trường lớn (hồi đó, bậc trung học đã được gọi là trường lớn, bởi vì nó… lớn hơn trường tiểu học). Tôi thi đậu và ở nội trú.. Cha tôi sắm cho tôi cái nón cối hiệu Con Gà Trống và đôi xăng-đan (sandales). Xưa nay, lúc nào tôi cũng đầu trần và đi chân không – đôi guốc chỉ dùng để…rửa chân ban đêm trước khi leo lên ván ngủ. Bây giờ, vào trường lớn phải khác !

Ở trường lớn, người ta gọi tôi là Tú Lê để phân biệt với thằng Tú Phạm học cùng lớp và cũng ở nội trú như tôi. Tôi mang cái tên Tú Lê được hai năm thì trong nước có giặc. Sàigòn bị đồng minh gì gì đó dội bom. Trường lớp bị đóng cửa, dân chúng thị thành tản cư. Cha tôi vội vã đem tôi về làng. Từ đó, tôi tập tành làm ruộng. Điều này không đi đúng với sự mong muốn của cha tôi. Lâu lâu ổng hay nhắc :’’Con mẹ nó! Nếu không có giặc thì thằng nhỏ đã không phải về làm ruộng. Giòng họ Lê Di bây giờ chỉ còn có mình nó là khá. Vậy mà…’’. Câu nói thường bị bỏ lửng. Để thấy ổng cũng hơi phiền trách ông Trời đã không giúp tôi đi theo “con đường chữ nghĩa” cho dòng họ Lê Di được nở mặt, mà đẩy tôi về với ruộng lúa, con trâu, cái cày…Riêng tôi thì lại thích được như vậy. Có lẽ tại vì cái gốc “ruộng” của tôi đã ăn quá sâu vào đất. Tôi sung sướng được trở về với cái tên “Út Tư” bình dị mà hàng xóm dùng để gọi tôi từ thuở ấu thời. Và tôi cũng quên dễ dàng cái tên “Tú Lê” văn vẻ đã bỏ lại ở một góc sân nào đó trong trường lớn…

Vào thời ông Diệm/ông Thiệu, tôi “đi” dân vệ. Để được ở lại làng giúp gia đình làm ruộng ngoài giờ công tác ở đơn vị địa phương. Bởi vì gia đình tôi không có tá điền tá thổ gì hết. Ngoại trừ mùa cấy hay mùa gặt phải mướn thêm người giúp cho “kịp mưa kịp nắng”, kỳ dư đều do người trong gia đình tôi làm lấy, kể cả mẹ tôi, mấy chị dâu anh rể tôi và vợ tôi nữa (hồi này tôi đã có vợ con). Kể lại như vậy để thấy rằng gia đình chúng tôi thuộc loại “tay làm hàm nhai” chớ không phải loại “chỉ tay năm ngón, ngồi không trục lợi” ! Và nhờ trời, gia đình tôi làm ruộng mà “lúa ăn không hết”…

Sau biến cố tháng Tư 1975, tôi đi học tập hết ba hôm rồi về nhà tiếp tục làm ruộng. Yên chí rằng mình thuộc giới công nông đem “mồ hôi đổi lấy bát cơm”, lấy sức “lao động làm nên của cải” (mấy câu này tôi mới học được của mấy cán bộ cách mạng, cha nào cha nấy nói y như nhau, còn lập đi lập lại nữa nên…dễ nhớ!) Chớ không thuộc loại “Mỹ Ngụy ác ôn” hay “trí thức vong bản” hay “địa chủ phú nông , cường hào ác bá “ gì gì…Tôi đã thật tình tin tưởng rằng mình “không có nợ máu với nhân dân” thì không có gì phải lo âu sợ sệt. Chẳng dè ít lâu sau ruộng bị “sung” vào hợp tác xã, còn chúng tôi thì làm công lại cho họ. Ngang ngược một cách rất…tự nhiên! (May quá! Cha mẹ tôi đã thất lộc trước ngày “cách mạng thành công”. Mừng cho ổng bả!)

Vào hợp tác xã chưa đủ. Còn phải đi lao động (làm như đi làm ruộng mỗi ngày chưa phải là lao động!) Rồi đi họp hành, học tập đường lối chủ trương (làm như phải có những thứ đó thì lúa…mới tốt!) Rồi đi mết tinh, rồi hô khẩu hiệu, rồi khai lý lịch khai tới khai lui…Có đêm tôi nằm trăn trở, nghĩ tiếc cho cái gốc của ông bà để lại, bây giờ không còn đứng vững nữa. Cái gì không giống cái gì hết ! Lai căn tạp nhạp.

Vậy là sau một thời gian nhẫn nhục làm một “nhân khẩu“ của chế độ, tôi thấy tối ngày cứ hô “sống mãi, sống mãi, sống mãi” chắc… chết quá! Tôi đành liều mạng mang vợ con vượt biên. Nhờ ơn trên phò hộ, chúng tôi đi thoát và tấp lên đảo Pulau Bidong (Mã Lai).

Sau hơn bốn tháng “nằm” đảo, chúng tôi được chánh quyền Pháp nhận cho định cư. Đó là nhờ chút ít tiếng Pháp còn sót lại của thuở thiếu thời xa xưa. Thuở đó, mỗi ngày học trò phải chào cờ “Đại Pháp”, phải hát bài “Maréchal ! Nous voilà !”. Vào lớp phải đứng thẳng, đợi thầy nói “Asseyez-vous” rồi chấm câu với tiếng roi mây hay cây thước bảng đập lên bàn. Chừng đó, cả lớp đồng nói “Nous nous asseyons” rồi mới ngồi xuống. Ở cái thời như vậy mà sao cái “gốc” vẩn còn. Có lẽ nhờ truyền thống của ông cha và nhờ mấy quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư đã âm thầm nhen nhúm tình thương quê hương dân tộc.

Chúng tôi được “bốc” về đất liền ở thị xã Trenganu, rồi từ đó về Kuala Lampur, thủ đô Mã Lai, để làm thủ tục giấy tờ.

Hôm chuẩn bị lên xe để ra phi trường Kuala Lampur “bay” đi Paris, lòng tôi như mở hội. Ngày mai chẳng biết ra sao, nhưng chân trời mới này đã thấy rộng thênh thang. Không phải cho tôi, mà là cho hai thằng con tôi đang trong tuổi lớn ! Điều này tôi muốn chia xẻ với những người ti. nạn đang đứng chùm nhum ở lãnh sự quán Pháp đợi gọi lên xe ca, nhưng tiếc quá họ toàn là người Tàu Nam Vang và người Miên người Lào. Họ không biết tiếng Việt Nam, thành ra tôi… cụt hứng.

Chính ông phó lãnh sự gọi tên từng gia đình để trao thông hành và mời lên xe. Khi ổng gọi đến gia đình “Lơ đi”, chẳng thấy ai nhúc nhích. Ổng đưa mắt tìm trong đám đông rồi cái nhìn của ổng ngừng lại ở tôi. Ổng mỉm cười hỏi bằng tiếng Pháp:”Gia đình ông người Việt phải không?”. Tôi gật đầu “Ùy mong xiừ” mà tự hỏi làm sao ổng nhận ra cái gốc Việt Nam của mình? Ổng bèn trao tờ thông hành rồi chúc thượng lộ bình an. Lên xe ca, tôi đọc tấm giấy thấy đề :”Nom: Ledi- Prénom: Tu”. Tôi nhổm dậy định xuống xe phân trần, nhưng xe đã rồ máy và tôi cũng nghĩ lại: Cái vốn Pháp ngữ quá ít ỏi của mình không đủ để giải thích những gút mắt của cái họ cái tên Việt Nam, của dấu ê dấu sắc trong tiếng Việt Nam. Tôi đành ngồi xuống, thở dài… : Thân phận lưu vong, bỏ hết mất hết đã đành, chỉ có cái họ cái tên là mang theo được bên mình, vậy mà bây giờ nó cũng không còn nguyên vẹn hình hài và âm thanh của nó nữa ! Nghĩ đến đó, tôi bỗng nghe tủi thân đến ứa nước mắt….

Ở Pháp, tôi không “hành” nghề làm ruộng. Tôi làm thợ nhà in. Chắc tổ tiên dòng họ Lê Di, nhứt là vong hồn của cha tôi, muốn cho tôi -dù sống ở xứ người- cũng vẫn được gần với…chữ nghĩa ! Ở đây, người ta hay gọi tôi bằng cả họ lẫn tên “Ledi Tu”, bởi vì phát âm ‘Lơ đi tuy‘ theo tiếng Pháp có nghĩa là “ Mầy có nói ra không? “.Tôi không thích, nhưng phải chấp nhận, như tôi đã chấp nhận định cư ở xứ này, bởi vì điều quan trọng vẫn là tương lai của hai thằng con. Tuy nhiên, lâu lâu tôi vẫn thèm được nghe gọi “Út Tư”, cái tên có âm thanh hiền lành bình dị, cái tên sao mà gợi nhớ quê cha đất mẹ vô cùng…

Bây giờ tôi đã về hưu. Ngày ngày tôi “chăn” bầy cháu nội, dạy dỗ chúng nó từng chút để chúng nó đừng thành “Tây con”. Khi nói chuyện với cha mẹ của chúng, tôi thường ví von: ”Ba giống như cây bần cây đước đã bị cơn bão năm 1975 bứng ra khỏi đất. Trôi nổi bập bềnh theo sống gió đại dương đến khi đụng một bến bờ nào đó, cho dù đất khô đá cứng, cây bần cây đước đó vẫn cố bám rễ . Để giữ lấy cái gốc. Bởi vì những nhánh nhóc bên trên rồi sẽ đâm chồi nẩy lộc. Cái gốc đó – chắc các con còn nhớ – nó tên là Việt Nam“.

Tiểu Tử

TẤM BẰNG GIẢ CHO CHẾ ĐỘ

TẤM BẰNG GIẢ CHO CHẾ ĐỘ

Đỗ Ngà

Mục đích của tấm bằng giả là gì? Đó là một “vật thể” dùng để chứng nhận danh hiệu cho một con người về những giá trị mà họ không hề có. Tri thức của anh chỉ biết đọc biết viết, nhưng anh muốn xã hội thừa nhận anh là bậc khoa bản. Vậy thì anh tìm đến với “bằng giả”.

Để xây dựng hình ảnh lãnh tụ, người ta không thể dùng tấm bằng giả làm bằng giấy vô tri vô giác như thế trương lên truyền thông để lừa gạt dân được, mà phải dùng vật thể khác thuyết phục hơn. Một vật thể chết như tấm bằng giả bằng giấy kia không đủ khả năng biến con người bình thường thành thánh nhân được, mà cần phải có một tấm bằng giả đặc biệt hơn nhiều, tấm bằng ấy phải là một “vật thể sống”. Tức người ta cần một con người thay cho một tờ giấy để xác nhận những thứ mà chính bậc “vĩ nhân” đó không có. Chỉ có như thế mới biến con người bình thường thành thánh nhân được.

Ông Hoàng Chí Bảo là một giáo sư tiến sĩ chuyên về triết học Marx Lenin, là thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương. Công việc của ông là đi khắp nơi kể chuyện bác Hồ. Và “nghiên cứu” thực sự của ông lại là “sáng tác”. Trong 26 năm ông đã sưu tầm và sáng tác hàng ngàn câu chuyện về bác Hồ của ông để xây dựng và củng cố hình ảnh lãnh tụ trong mắt dân chúng. Khoảng 5 năm trước đây, trên mạng xã hội có lan truyền clip ông Hoàng Chí Bảo kẻ về “bác Hồ của ông nói được 29 thứ tiếng”. Rõ ràng nếu là người có lí trí thì không khó để nhận ra đây là câu chuyện tô vẽ về những khả năng mà ông Hồ Chí Minh không có. Với hàng ngàn mẩu chuyện, ông đã vẽ vào trong não bộ của rất nhiều người rằng, “bác rất siêu phàm”.

Thực ra để cấy vào trong đầu người dân Việt suy nghĩ về điều không có thực về lãnh tụ thì không chỉ riêng một mình ông Hoàng Chí Bảo làm việc đó mà có có cả bộ máy tuyên giáo vào hệ thống giáo dục. Nếu ví ông Hoàng Chí Bảo là “tấm bằng giả sống” của ông Hồ Chí Minh thì thực tế ông Hồ có vô số thứ “bằng giả sống” như thế. Và kết quả ĐCS đã biến một con người được thế giới liệt vào những nhà độc tài khát máu bên cạnh Pol Pot, Mao, Stalin vv.. thành một ông thánh và được rất nhiều người sùng bái.

Chủ thuyết Marx – Lenin nó đã được lịch sử kiểm chứng là giả, tức là những gì chủ thuyết này nói đến trên giấy nó hoàn toàn ngược lại khi thực hành. CS tự tô vẽ XHCN là “thiên đường” thì lịch sử thế giới đã xác nhận nó chính là địa ngục. Tuy nhiên để cấy vào đầu rất nhiều thế hệ trẻ của Việt Nam rằng “chủ thuyết này vẫn rất tốt đẹp” thì tất ĐCS phải tạo ra cho chủ thuyết này một thứ “bằng giả” tương tự như “bằng giả sống” mà họ đã dành cho ông Hồ. Thứ “Bằng giả sống” cho chủ thuyết, cho chế độ này không gì khác, đó chính là “công tác tuyên giáo”. Hiện nay Ban Tuyên Giáo vẫn mở hết công suất để cấy vào nhận thức của người dân về một thứ tốt đẹp về “định hướng XHCN” nào đó.

Với một chủ thuyết sống nhờ “bằng giả”, một chế độ tồn tại cũng nhờ “bằng giả”, một hình ảnh lãnh tụ cũng được xây dụng dự trên những “bằng giả” ấy thì liệu một bộ máy nhà nước nằm trong 2 lớp rọ giả tạo đó chuộng “bằng thật” được sao? Vậy nên, bằng giả ở cơ quan nhà nước nó như trăm hoa đua nở là điều không thể nào tránh khỏi, một xã hội với nạn buôn bán bằng giả nhộn nhịp và công khai không bao giờ loại trừ được. Nó thuộc về một phần của bản chất chế độ.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://www.youtube.com/watch?v=JkXi5HsLVB4…

https://www.baogiaothong.vn/nguoi-26-nam-ke-nghin-chuyen…

https://baophapluat.vn/…/gs-ts-hoang-chi-bao-pho-su…

https://www.sggp.org.vn/mua-ban-su-dung-bang-cap-gia-van…

Image may contain: 1 person
You and 72 others
6 Comments
8 Shares

TRẦN HUỲNH DUY THỨC, SỨC KHỎE SUY YẾU: “HÃY TẬN DỤNG SỰ RA ĐI CỦA TÔI”

 

TRẦN HUỲNH DUY THỨC, SỨC KHỎE SUY YẾU: “HÃY TẬN DỤNG SỰ RA ĐI CỦA TÔI”

Vào ngày 30/11/2020 gia đình đã có buổi thăm gặp anh Thức, anh cho biết đã tuyệt thực được 7 ngày, anh bị giảm 3.5 kg và tụt huyết áp, anh đang trong tình trạng rất mệt mỏi.

Khi gia đình hỏi thì anh cho biết Trại giam 6 không gây cản trở gì, các đơn gửi đến tòa án của anh đều được họ chuyển đến nơi nhận theo đúng quy trình. Mặc cho nỗ lực của tất cả mọi người, tòa án vẫn tiếp tục im lặng, vì vậy mà anh Thức đã quyết tâm đấu tranh đến cùng, thậm chí có phải chết để nhà nước thượng tôn pháp luật đi nữa. Anh động viên gia đình là mình sẽ cố gắng đến cùng, tuy nhiên anh cũng dặn dò gia đình phải tính đến trường hợp xấu nhất.

Anh nhờ gia đình gửi lời nhắn nhủ đến mọi người:

“Xin lỗi ba, cả nhà và mọi người.

Tôi xin lỗi vì đã không đi được đến thành công với các bạn, hãy tiếp tục con đường khai sáng cho dân tộc và cho nhân loại, các cuộc đấu tranh cần hướng đến thượng tôn Quyền Con Người, hãy tận dụng sự ra đi của tôi để đẩy cuộc đấu tranh này đến cuối cùng trong năm nay và năm sau. Cảm ơn mọi người, tôi sẽ luôn nhớ theo các bạn.”

Như vậy tính đến thời điểm này anh Thức đã tuyệt thực được 9 ngày, gia đình đang vô cùng lo lắng về sức khỏe của anh Thức, chúng tôi sẽ tiếp tục làm đơn và đòi hỏi các cơ quan chức năng phải thực hiện trách nhiệm của mình. Rất mong mọi người sẽ quan tâm và hỗ trợ gia đình. Chúng tôi cần câu trả lời của tòa án, sự im lặng của tòa án chính là bức tử tù nhân lượng tâm Trần Huỳnh Duy Thức!

Nguồn FB Trần Huỳnh Duy Thức

#FreeThuc #TrầnHuỳnhDuyThức #ViệtTân

Image may contain: 1 person, text

Việt Nam chúc mừng, mời tổng thống tân cử của Mỹ tới thăm

 

 Sau gần một tháng in lặng trước tin ông Joe Biden giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, lãnh đạo Việt Nam đã chính thức đưa ra lời chúc mừng và lời mời vị tổng thống tân cử Hoa Kỳ tới thăm “trong thời gian sớm nhất.”

Lời chúc mừng của các lãnh đạo Việt Nam được đưa ra gần một tuần sau khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chúc mừng ông Biden giành chiến thắng dù trước đó quốc gia Cộng sản láng giềng của Việt Nam nêu lý do muốn “theo thông lệ quốc tế” cho việc không nhanh chóng chúc mừng ông Biden như nhiều nước khác.

Truyền thông Mỹ hôm 30/11 đưa tin Winsconsin và Arizona, là hai bang cuối cùng trong số 6 tiểu bang chiến địa mà Tổng thống Trump yêu cầu đếm phiếu lại trước tranh cãi về thất bại của ông trong cuộc bầu cử tổng thống lần này, chứng nhận ông Biden giành chiến thắng, khiến các nỗ lực muốn lật ngược kết quả bầu cử của ông Trump càng khó trở thành hiện thực.

Trong cùng ngày, truyền thông Việt Nam cho biết các lãnh đạo Hà Nội chính thức gửi lời chúc mừng ông Biden.

“Nhân dịp ông Joseph Robinette Biden Jr. được bầu làm Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, ngày 30/11/2020, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã gửi điện chúc mừng,” Thông tin Chính phủ, trang Facebook chính thức của Chính phủ Việt Nam, cho biết.

Trong thông điệp chúc mừng được các trang mạng trong nước đăng tải lại, người đứng đầu Đảng Cộng sản và người đứng đầu chính phủ Việt Nam “bày tỏ tin tưởng với nền tảng quan hệ đã được xây dựng trong 25 năm qua.” Ông Trọng và ông Phúc cũng mong muốn “quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ sẽ tiếp tục phát triển, đi vào chiều sâu, hiệu quả và bền vững, góp phần mang lại lợi ích cho nhân dân hai nước và hoà bình, an ninh, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.”

Kết quả bầu cử tổng thống Mỹ đã gây tranh cãi trong nhiều tuần qua khi tổng thống đương nhiệm từ chối chấp thất cử và đưa ra những cáo buộc mà không có bằng chứng về “sự gian lận” trong hệ thống bầu cử.

Thủ tướng Phúc, người nhanh chóng chúc mừng Tổng thống Trump khi ông đắc cử năm 2016, trước đó nói rằng “Việt Nam tôn trọng quyết định của người dân Mỹ” trong lúc các lãnh đạo Việt Nam vẫn không có một tuyên bố chính thức nào trước việc ông Biden được dự báo là tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ.

Theo thủ tục và luật pháp Mỹ, kết quả kiểm phiếu ở 50 tiểu bang sẽ được chứng nhận sau khi hoàn tất và Đại cử tri sẽ bỏ phiếu bầu chọn theo kết quả của các tiểu bang vào ngày 14/12. Theo đó, ông Biden dự kiến sẽ nhậm chức vào ngày 20/1 năm sau.

Cùng ngày 30/11, Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh cũng đã gửi điện mừng tới Phó Tổng thống đắc cử Kamala Harris.

“Nhân dịp này, lãnh đạo cấp cao Việt Nam trân trọng mời Tổng thống và Phó Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ thăm Việt Nam vào thời gian sớm nhất,” thông điệp chúc mừng của ông Trọng và ông Phúc viết.

Theo nhận định của Giáo sư Carl Thayer của Đại học New South Wales với VOA hồi đầu tháng này, “một khi chính quyền Biden nhậm chức, Việt Nam sẽ nhanh chóng mở các cuộc tiếp xúc và chuẩn bị cho sự trao đổi các chuyến thăm của các quan chức.”

Cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam David Shear trước đó nói với VOA rằng Việt Nam “chắc chắn là một đối tác mạnh” của Mỹ và ông hình dung “chính quyền mới (của ông Biden) sẽ muốn tăng cường quan hệ song phương, cũng như mở rộng và củng cố hợp tác đa phương.”

Trong những tuần vừa qua, các quan chức cấp cao của chính quyền Trump, gồm Bộ trưởng Ngoại giao Mike Pompeo và Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Rober O’Brien, đã có những chuyến thăm tới Việt Nam nhân kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai cựu thù. Các chuyến thăm này được cho là bất ngờ trong những tháng cuối cùng của nhiệm kỳ Tổng thống Trump.

(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link voaviet2019.com hoặc vn3000.info để vượt tường lửa)

VOATIENGVIET.COM

Việt Nam chúc mừng, mời tổng thống tân cử của Mỹ tới thăm

Sau gần một tháng in lặng trước tin ông Joe Biden giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, lãnh đạo Việt Nam đã chính thức đưa ra lời chúc mừng và lời mời vị tổng thống tân cử Hoa Kỳ tới thăm “trong thời gian sớm nhất…

Việt Nam chúc mừng, mời tổng thống tân cử của Mỹ tới thăm
VOATIENGVIET.COM
Việt Nam chúc mừng, mời tổng thống tân cử của Mỹ tới thăm
Sau gần một tháng in lặng trước tin ông Joe Biden giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, lãnh đạo Việt Nam đã chính thức đưa ra lời chúc mừng và lời mời vị tổng thống tân cử Hoa Kỳ tới thăm “trong thời gian sớm nhất…

Đi! Vì sao phải ra đi?

Đi! Vì sao phải ra đi?

Tác giả Huy Phương

Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thật sự ắt phải dựa vào lực lượng của nông dân. Ðồng bào nông dân sẵn có lực lượng to lớn, sẵn có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn có chí khí kiên quyết đấu tranh và hy sinh. Nông dân vừa là động lực, vừa là lực lượng đông đảo, nòng cốt, và cũng là đối tượng vận động của cách mạng.”

Ðiều đó trước kia chưa chắc đã đúng mà bây giờ hóa ra sai bét!

Nông dân bỏ ruộng vì đói. Ngày trước, người ta tranh đấu để được chia ruộng để được cày bừa, giờ thì nông dân đua nhau trả ruộng để bỏ xứ đi làm mướn. Ði làm thợ hồ, mỗi ngày, một người kiếm được 180,000 đồng, mỗi tháng có chừng 5 triệu bạc. Làm ruộng bây giờ  thu nhập vài triệu một tháng, không đủ đong gạo ăn cả năm và nông dân mang nợ vì giống má, phân bón, thuốc trừ sâu, xăng dầu… trăm thứ tốn kém, nếu lỡ chẳng may mất mùa thì mang nợ suốt đời, tơi nón đi ăn xin.

Chuyện “những cánh đồng 5 tấn” chỉ là chuyện xưa, tích cũ. Một năm hai vụ lúa, ruộng chỉ cấy một vụ, rồi bỏ hoang. Nông dân sống nhờ ruộng bây giờ lại có phong trào trả ruộng. Dọc sông Hồng, có những ngôi làng bị bỏ hoang vì nông dân đã bỏ làng ra đi.

Lớp thanh niên nông thôn, sau mười mấy năm, xong trung học phổ thông, đã tìm mọi cách đi khỏi làng. May mắn có khả năng thì vào đại học, không thì đi học nghề, lái xe taxi, hoặc theo nhóm bạn làng đi buôn ve chai, đồng nát, chạy xe ôm, đi làm công nhân… Miễn là chạy khỏi xóm làng, khi ruộng đồng không cho đủ hạt cơm bỏ vào miệng.

Thái Bình, Nam Ðịnh, phong trào “lên Hà Nội khai hoang” bộc phát, nghĩa là thoát ly ruộng đồng, không bao giờ quay lại quê hương.

Nhưng rồi cuộc sống ở quê nhà cũng không lấy gì làm tốt đẹp, lương 3 triệu không đủ ăn, chỉ có một con đường “xuất khẩu” đi lao động. Hết hợp đồng lao động rồi, về nước cũng khổ, đành trốn ra ngoài làm việc lậu, bị bắt và trục xuất về nước vì vi phạm pháp luật tại nước sở tại. Ở Nhật không xong, về nước không yên, lại tính đường du lịch Nam Hàn trốn ở lại để đi làm chui. Có cả một khu xóm, anh em, bà con đùm bọc che chở cho nhau mà sống tha phương như vậy!

 Cùng đường về nước rồi thì câu trả lời “làm gì sau khi về nước” là lại ra đi. Không đi lao động tiếp ở Nam Hàn được thì trở qua Ðài Loan theo diện du lịch 6 tháng. Làm hết 6 tháng về nước, sau đó lại quay lại vòng vòng như vậy, không biết bao nhiêu lần cho một cuộc đời vô định, nghĩa là phải đi. Ai đó trả lời giùm tôi: “Vì sao phải ra đi?”

Miền Trung không có phương tiện thì sang Lào, Kampuchea, cả Trung Quốc, những quốc gia chẳng giàu có gì hơn mình để kiếm miếng ăn.

Con người vốn quý? Nay con người như con tôm, con cá, con heo, củ khoai, nải chuối, con người cũng là loại “xuất khẩu”. Ðược “xuất khẩu,” mà lại phải lo lót, bán nhà vay nợ, mỉa mai tột cùng mà lại háo hức vui mừng, hãnh diện được đi làm “culi” xứ người.

Việt Nam ít ra tự vấn, phải đặt câu hỏi, sao công dân nước mình lại phải “tha phương cầu thực,” không giống một ai trên thế giới, rồi vì chuyện đi, chuyện trốn ở lại, mang tiếng xấu cho người Việt Nam.

Ra đi từ các tỉnh miền Bắc, công nhân phải trả một số tiền khoảng 300 triệu đồng để đổi lấy một công việc chân tay vất vả ở xứ người. Ðã vậy con người Việt Nam lại lừa đối, lường gạt nhau sang Nhật, Ðài Loan… rồi bỏ nhau giữa đường, không ngôn ngữ, không tiền bạc, không thân thích.

Người Việt ở Nhật lại giả danh kỹ sư để lừa gạt những sinh viên tu nghiệp mới tới Nhật, vì kỹ sư thì được ký visa dài hạn, nếu cưới vợ thì vợ cũng có quyền ở lại Nhật.

Ở quê hương mình, bây giờ nếu ai hỏi: “Em ước mơ mơ gì, tuổi mười hai, tuổi mười ba? “

Một đứa trẻ ở Hải Phòng hay Nam Ðịnh có thể lớn lên với không khí ô nhiễm đầy những mưu toan, dự liệu, ấp ủ chuyện “đi,” dù đó là đi lao động, đi ở đợ, hay đi lấy chồng. Ở Hải Phòng có thành ngữ “làm hôn thê” ai cũng hiểu – thậm chí kể cả đi… bán thân. Còn như với chuyện tìm được những con đường mới để đi Tây Âu, Úc, Canada, Bắc Âu… là cả những chuyện xa vời, hơn cả một cõi thiên đường trong trí tưởng.

Một người trong nước đã viết những dòng khá đau xót: “Bạn bè tôi đã đi không phải vì hết sinh kế, cũng không phải vì nuôi ảo tưởng rằng ở nước ngoài sung sướng (tất cả đều ý thức rất rõ về sự vất vả của xã hội tư bản, và hiểu xã hội nào cũng có vấn đề riêng). Chỉ đơn giản là đi thì tốt hơn. Buồn bã, bặm môi mà đi, nhưng vẫn tốt hơn. Ðiều gì đã tạo ra thôi thúc này, và nếu không thể thực hiện trong đời mình, bao người đã truyền lại sự ước muốn đó cho đời con?”

Và ở một đoạn khác: “Lấy chồng Ðài Loan cũng đã trở thành con đường thoát. Chỉ còn đâu vài đứa trai làng buồn bã nhìn người bạn gái từ thời thơ ấu leo lên chiếc xe hơi với gã đàn ông Trung Hoa già nua, để lại đằng sau một đám bụi mù. Vài đứa may mắn, được nhà chồng cho ra ngoài đi làm, dành dụm một khoản tiền riêng gởi về, cha mẹ thay nhà mái tranh thành nhà ngói đỏ. Những bà mẹ nhà mái tranh khác, thúc giục đứa con gái vừa đủ tuổi đi ra khách sạn đứng xếp hàng!”.

Ði và trốn ở lại quả là một điều nhục nhã cho hai chữ Việt Nam. Người ta mới tiết lộ ra, chín người trong đoàn Quốc Hội CSVN do bà Nguyễn Thị Kim Ngân, chủ tịch Quốc hội dẫn đầu, đã bỏ trốn bất hợp pháp tại Nam Hàn. Sự việc xảy ra hồi tháng 12-2018 nhưng nay truyền thông Nam Hàn mới loan tin.

Phái đoàn của Quốc Hội VN sau khi làm việc tại Bunsan và Seoul để gặp mặt với Quốc hội Nam Hàn, hội kiến Tổng Thống Moon Jae In và tham gia diễn đàn Thương mại Ðầu tư Hàn-Việt, sau đó quay trở về Việt Nam từ sân bay Incheon, nhưng 9 thành viên trong đoàn đã vắng mặt trong chuyến bay hồi hương.

Chín người Việt trong phái đoàn này trốn ở lại là ai? Dân biểu, Bộ Trưởng hay một ai đó đã chạy tiền lo lót cho Chủ Tịch Quốc Hội “Kim Ngân phá luật lệ” để có một chỗ trong phái đoàn với âm mưu trốn ở lại?

Cả một phái đoàn Quốc Hội Việt Nam còn như vậy, ai còn dám ngẩng mặt nhìn thiên hạ nữa? Còn gì là quốc thể?

Tôi nhắc lại câu viết của Vũ Ðông Hà trong “Dân Làm Báo,” khi nói về hoàn cảnh của những thiếu nữ bán thân ở Ðài Loan: “Tôi rời Ðài Loan mang theo lời của Trang: ‘Anh nói tụi em khổ còn hơn nô lệ. Em thì thấy ở nhà còn khổ hơn.’ Lời nói ấy đã dẫn đến một bước ngoặt của một đời….” 

Và lời văn ông, như một câu thơ buồn:

“Những người đàn ông đã rời khỏi mảnh đất không còn gì để mà sống.

Những đứa con gái tới tuổi mười bảy, mười tám là bỏ cái làng không còn gì mơ ước để mà đi.”

Huy Phương

THAM NHŨNG CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ BẢO VỆ NHÓM LỢI ÍCH

 

THAM NHŨNG CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ BẢO VỆ NHÓM LỢI ÍCH

Đỗ Ngà

Tham nhũng chính sách là dùng quyền lực nhà nước làm chính sách để cho nhóm lợi ích trục lợi. Sai phạm Thủ Thiêm là một dạng tham nhũng chính sách, nó đã kéo dài hơn 20 năm và cho đến nay nhóm lợi ích đó cứ nhởn nhơ, có kẻ thì về hưu hưởng thụ đống vàng cướp được, có kẻ còn tại vị và tiếp tục bảo vệ nhóm. Còn về phần thiệt hại của người dân thì mãi giải quyết không xong.

Để mở rộng thành phố sang hướng Đông Nam, ngày 4 tháng 6 năm 1996 ông Võ Văn Kiệt ký Quyết định số 367/TTg phê duyệt quy hoạch xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm. Đây là phát súng lệnh của Trung Ương, dựa vào đây nhóm cá mập Sài Gòn bỗng nhìn thấy miếng mồi ngon hơn bao giờ hết. Tuy nhiên nếu căn theo quyết định của thủ tướng thì sẽ không thỏa được lòng tham nhóm này, và thế là nhóm đã tìm cách thay thế bản quy hoạch gốc từ quyết định của thủ tướng. Phải tự thiết kế chính sách để trục lợi thì bao giờ cũng tốt hơn là kiếm ăn dựa vào chính sách của kẻ khác ban cho.

Được sự trợ lực của bố già Lê Thanh Hải, ngày 27 tháng 12 năm 2005, Nguyễn Văn Đua đã ký Quyết Định 6565 thay thế Quyết Định 367 của Thủ tướng phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng khu trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm. Theo đó, quy hoạch chung của khu đô thị mới Thủ Thiêm được thay đổi khá nhiều so với quyết định phê duyệt ban đầu của Thủ tướng. Kết quả là những đầu nậu đất lấy giá của dân rẻ bèo chỉ với 18 triệu đồng/m2 và bán lại với giá 350 triệu đồng/m2 tạo nên nỗi bức xúc cho người dân Thủ Thiêm. Tất nhiên những khoản lợi nhuận béo bở đó không thể thiếu phần cho nhóm lợi ích Lê Thanh Hải.

Nhờ vào quyết định của Nguyễn Văn Đua ấy mà tháng 11/2013, Tất Thành Cang với tư cách là giám đốc sở GTVT đã kí tắt với công ty Cổ phần Đại Quang Minh hợp đồng thi công 4 tuyến đường ở khu đô thị Thủ Thiêm tổng cộng dài gần 12km với giá 12000 tỷ đồng, tức giá 1 tỷ đồng/m. Kinh khủng! Với giá này thì báo chí đã phải buộc miệng gọi nó là “đường dát vàng”. Thế nhưng rất tiếc là, 12km đường ấy vẫn chỉ là đường rải nhựa như mọi con đường khác, phần “vàng” dùng để “dát đường” ấy sẽ trao vào tay ai thì mọi người tự hiểu.

Khi nhóm lợi ích Sài Gòn bị tấn công qua sai phạm Thủ Thiêm thì ngày 2/5/2018, Võ Văn Hoan với tư cách là chánh Văn phòng kiêm người phát ngôn của UBND Thành phố đã xác nhận bản đồ quy hoạch khu đô thị mới Thủ Thiêm tỷ lệ 1/5.000 kèm theo Quyết định số 367/QĐ-TTg ngày 4/6/1996 của Thủ tướng Chính phủ “đã bị thất lạc”. Vâng! Họ đã phi tang chứng cứ như thế đấy. Đứng đằng sau chỉ đạo phi tang hồ sơ chính là những cái tên cộm cán trong nhóm lợi ích như Lê Thanh Hải, Nguyễn Văn Đua, Tất Thành Cang, Lê Hoàng Quân chứ không ai khác. Hơn 20 năm, người dân Thủ Thiêm kêu oan và có người phải tự vẫn vì nó, ấy vậy mà nhóm lợi ích này vẫn cứ trơ trơ. Họ vô tư đạp lên sự đau khổ của người dân Thủ Thiêm mà hưởng lợi trên đống vàng cướp được.

Để giải quyết rốt ráo vấn đề Thủ Thiêm, chính quyền CS phải cho đám Lê Thanh Hải, Nguyễn Văn Đua, Tất Thành Cang, Lê Hoàng Quân tống vào tù và sau đó giải quyết những bức xúc của người dân hiện nay, chứ không còn cách nào khác. Thế nhưng cái khó của chính quyền CS là họ xử lý tham nhũng bằng cách dùng quyền lực lớn đánh bại quyền lực yếu hơn chứ hoàn toàn không dựa vào pháp quyền. Vậy nên với sức mạnh của nhóm Hải – Quân – Cang – Đua thì gần như ông Nguyễn Phú Trọng chẳng làm gì được, nó như một cái boong ke vững chắc bất khả xâm phạm. Lúc ông Trọng tóm Lê Tấn Hùng em trai của bố già Lê Thanh Hải làm người ta cứ nghĩ ông ta phá được Boong ke, thế nhưng không phải thế. Đến nay hơn 1 năm, vụ án Lê Tấn Hùng cũng dậm chân tại chỗ mà chẳng moi được gì hơn. Siêu quyền lực trong tay ông Trọng vẫn chưa đủ để phá được những nhóm lợi ích lớn nhất như nhóm Nguyễn Tấn Dũng ở Kiên Giang và nhóm Lê Thanh Hải ở Sài Gòn. Chống tham nhũng bằng quyền lực nó chỉ đạt tới ngưỡng đó. Chống tham nhũng kiểu Nguyễn Phú Trọng sẽ không bao giờ có thể truy tố được những con người ở đỉnh cao quyền lực như nhà nước pháp quyền Hàn Quốc đã làm với bà Park Geun – hye.

Không dẹp nổi nhóm lợi ích Lê Thanh Hải nên cuối cùng các quan chức CS đời sau lại đi đổ vỏ cho nhóm Hải – Quân – Cang – Đua. Hết Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Thị Quyết Tâm cứ gặp dân rồi hứa lèo chứ không giải quyết gì được. Những kẻ ăn cướp đang ngủ trên đống vàng thì không dám động đến mà lại dùng ba tấc lưỡi thuyết phục nạn nhân chấp nhận, vậy làm sao người ta chấp nhận được? Bế tắc là phải.

Hôm nay ngày 27/11/2020 trên báo Tuổi Trẻ có bài “Chiều nay Thanh tra Chính phủ đối thoại với 50 hộ dân Thủ Thiêm” đã cho biết, chính quyền CS cũng lại đưa thanh tra chính phủ và quan chức thành phố dùng ba tấc lưỡi để thuyết phục dân y hệt như bài cũ mà Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Quyết Tâm đã làm. Điều đáng nói là phía chính quyền CS Sài Gòn lại cử Võ Văn Hoan xuống gặp dân Thủ Thiêm để nói chuyện. Võ Văn Hoan là ai vậy? Xin thưa, đó chính là kẻ mà năm 2018 đã thủ tiêu Bản Đồ quy hoạch 1/5000 và quyết định thủ tướng để phi tang chứng cứ. Nói thẳng, ông Võ Văn Hoan là một phần tử trong nhóm lợi ích Hải – Quân – Cang – Đua thì ông ta mang lại được quyền lợi gì cho người dân? Ông ta đang ngồi trên đống vàng cướp được từ bà con Thủ Thiêm thì ông ta hòa giải thế nào được? Chắc đợi đến… tết Công Gô thì bà con Thủ Thiêm mới có được công bằng. Đấy! Lại một trò mị dân bảo vệ nhóm lợi ích của CS. Đâu cũng vào đấy, quân ăn cướp vẫn được bảo vệ, thiệt hại vẫn là về phía dân, mãi mãi không khác được.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://www.nguoiduatin.vn/can-canh-4-tuyen-duong-dat…

https://tuoitre.vn/chieu-nay-thanh-tra-chinh-phu-doi…

Image may contain: text

Những Thằng Có Súng A.K

Những Thằng Có Súng A.K

Chắc bạn đã từng nghe – và dám – cũng đã từng nói những câu ngây ngô và dại đột (đại loại) như sau, khi còn thơ ấu:

– Tám à, mày ăn vụng sữa bột của em hả?
– Dạ, đâu có!
– Vậy sao hộp sữa Guigoz mới mở mà lưng liền vậy?
– Chắc con mèo đó má à!

Với thời gian, cùng với trí khôn và ý thức trách nhiệm tăng dần, phần lớn những người trưởng thành sẽ không còn tiếp tục chối bỏ hay đổ thừa một cách rất ngờ nghệch như thuở lên năm/lên bẩy nữa. Nói phần lớn, chứ không phải tất cả, vì đôi khi do hoàn cảnh (hay cá tính) có thể khiến cho một cá nhân không được phát triển bình thường. Xin xem qua vài ba trường hợp cá biệt.

Khi còn tại chức, bà Phan Thúy Thanh – Phát Ngôn Viên Bộ Ngoại Giao của nước CHXHCNVN – có nuôi một con két nói năng rất sõi. Một hôm, nó xổ lồng bay mất. Bà Thanh nhờ báo đăng để tìm lại con thú cưng nhưng báo chưa kịp ra mà đã có người đến gõ cửa.

Hỏi: Sao biết là con vẹt này của tôi.

Đáp: Nó chối leo lẻo suốt ngày nên nhà cháu biết ngay là của bà chứ còn ai vào đây nữa.

Sau đó, sau khi nghỉ việc, bà Phan Thúy Thanh phải bán con két để lấy tiền bù đắp vào số lương hưu ít ỏi. Mua xong, chủ nhân mới hí hửng mang về nhà giao ngay cho vợ rồi tiếp tục đến sở làm. Chiều về, đương sự hấp tấp hỏi ngay:

– Con vẹt đâu rồi?

– Ở trong lò chứ đâu.

– Ối Giời, vẹt mua cả ngàn đô la mà đem nướng à!

– Vẹt gì mà giá cả ngàn Mỹ Kim?

– Chứ bộ tôi nói đùa chắc. Nó nói được 29 thứ tiếng cơ đấy.

– Thế mà ban nẫy gạn hỏi mãi nó vẫn cứ chối đây đẩy nên ai mà biết!

Con vẹt đã xong đời và bà Thanh đã hưu trí tự rất lâu rồi. Tuy thế, truyền thống chối (xoen xoét) và đổ thừa (ngay tắp lự) thì vẫn cứ được giữ nguyên, không hề suy suyển:

  • T.T. Nguyễn Xuân Phúc: “Các vụ việc sạt lở đất nghiêm trọng vừa qua có nguyên nhân chính là kết cấu địa chất bị ảnh hưởng do mưa lớn kéo dài, lượng mưa lớn.”
  • P.T.T. Trịnh Đình Dũng: “Lũ cao thì do mưa lớn kéo dài, nắng lắm mưa nhiều – đó là qui luật của trời đất.”
  • Viện Trường Viện Hoa Học Địa Chất Trần Xuân Văn: “Sạt lở tại miền Trung đột ngột là do thời tiết.”
  • Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Lâm Nghiệp Nguyễn Quốc Trị: “Lũ lụt ở miền Trung là do biến đổi khí hậu, không phải do phá rừng?
  • B.T. Nguyễn Xuân Cường: “Rừng mất do Mỹ rải chất hóa học.”
  • B.T. Trần Hồng Hà: “Mưa lũ lịch sử ở miền Trung là Trời đổ nước chứ không phải mưa.”

Cũng cái ông Bộ Trưởng Tài Nguyên Môi Trường này, hồi tháng ba năm 2017, đã giải thích rằng “vệt nước đỏ xuất hiện ở cảng Vũng Áng (xã Kỳ Lợi, thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh) và Cảng Sơn Dương của Công ty Formosa là do hiện tượng tảo nở hoa,” chớ nước biển nơi đây chả có hề bị ô nhiễm gì ráo trọi.

T.T. Nguyễn Xuân Phúc, cùng những nhân vật trong nội các của ông, đều phát ngôn và hành sử ngô nghê như những đứa bé lên năm. Miệng họ cứ chối nằng nặc là không ăn vụng, dù ai cũng thấy môi mép của tất cả đều dính đầy sữa bột. Họ cũng luôn mồm kêu gọi “tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng” nhưng lại chính là những kẻ thẳng tay tận diệt sơn lâm, bất chấp hậu quả!

Blogger Hoàng Hoành Sơn phàn nàn: “Những người đứng đầu nhà nước VN vẫn thản nhiên đổ mọi thiên tai nhân họa là ‘quy luật trời đất’, để rồi huề cả làng chăng?”

Thì buộc phải “huề” thôi, chứ  còn có “trăng” với “sao” gì nữa? Và nào có phải là chuyện mới mẻ gì đâu. Ngay từ năm 1954, L.S Nguyễn Mạnh Tường cũng đã than phiền (y) như thế rồi mà:

“Nguyên tắc ‘không thể sai lầm’ và ‘không chịu trách nhiệm của Đảng đã mở cửa cho biết bao chuyện kỳ quặc, bệnh hoạn, tự tung tự tác và hậu quả là đưa đến những hành động phạm pháp bởi mọi tầng cán bộ, bởi các đảng viên hay những người được Đảng nặn ra.”

Nói cách khác là gần hai phần ba thế kỷ qua, ĐCSVN đã liên tiếp “nặn ra” mấy thế hệ nhi đồng “kỳ quặc, bệnh hoạn, tự tung tự tác,” hoàn toàn vô trách nhiệm (và nhất định không chịu trưởng thành) nhưng được độc quyền sở hữu A.K. để … lãnh đạo quốc gia! Đây cũng là nguyên do khiến đất nước rơi vào bi kịch (“không chịu phát triển”) theo như cách nói, khá hài, của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan : 

“Trên thế giới chia ra gồm nước phát triển, nước đang phát triển, nước chậm phát triển nhưng Việt Nam có lẽ là mô hình đặc biệt nhất. Đó là nước… không chịu phát triển! Đầu tư nhiều đến thế, ODA nhiều đến thế (20 năm qua lượng ODA đổ vào Việt Nam lên tới gần 90 tỉ USD) nhưng đến bây giờ vẫn không phát triển được thì chỉ có thể là… không chịu phát triển!”

Giới quan chức VN hiện nay có thể đổ thừa mọi tệ đoan xã hội là do tàn tích của chế độ cũ, kinh tế lụn bại là do sự phá hoại của những thế lực thù địch (và đạo đức xuống cấp, tham nhũng tràn lan là hậu quả của nền kinh tế thị trường) nhưng họ không thể chối bỏ được con số hằng trăm tỉ Mỹ Kim ODA đã không cánh mà bay trong mấy thập niên năm qua, cùng với món nợ công cao ngất ở xứ sở này.

Theo tạp chí Tài Chính Doanh Nghiệp (số ra ngày 4 tháng 11 năm 2020) thì mọi công dân VN, kể cả đứa bé vừa mới chào đời, đều phải mang trên vai 1,700 U.S.D tiền nợ. Với viễn ảnh này thì khó mà đồng ý với T.T Nguyễn Xuân Phúc là “mây đen phủ lên toàn cầu nhưng mặt trời vẫn đang toả sáng ở Việt Nam.”

Tuy khó nhưng rồi toàn dân cũng sẽ phải “đồng ý” cả thôi vì ngoài món nợ công trên vai, lại còn có thêm nòng súng (A.K) sẵn sàng dí ngay vào gáy nữa.

Báo Pháp Luật (số ra ngày 29 tháng 10 năm 2020) vừa hớn hở loan tin là qua khảo sát thì có đến “96,45% người dân được phỏng vấn đều trả lời là họ cảm thấy hài lòng, hoặc rất hài lòng, đối với sự phục vụ của những cơ quan công an trên toàn quốc.”

Thế còn gần năm phần trăm dân số còn lại?

Cái đám thiểu số này thì hoàn toàn không đáng kể vì chỉ là những kẻ khuyết tật, loại …  điếc nên không sợ súng, và phần lớn đều bị nhốt tù hết trơn rồi!

Tưởng Năng Tiến
11/2020

20.11: GIÁO DỤC XHCN HAY PHONG KIẾN?

20.11: GIÁO DỤC XHCN HAY PHONG KIẾN?

Một Hội Cựu giáo chức của một trường đại học nọ tổ chức lễ 20.11 để vinh danh… nhà giáo đã nghỉ hưu. Nhiều người dự lễ xong kháo nhau rằng, trong buổi lễ toàn những người nghỉ hưu mà cũng có biển đề chức danh đặt trước từng ghế: Nguyên Bí thư đảng uỷ, Nguyên Hiệu trưởng, Nguyên Hiệu phó, Nguyên Trưởng khoa. Không ai vinh danh công trạng thì tự vinh danh mình bằng cái bảng tên cho cái ghế mỗi năm đến ngày 20.11 được ngồi một lần?

Nghe kháo như vậy, tôi phải bật cười và hỏi: Giáo dục cộng sản hay giáo dục phong kiến vậy? Nghỉ hưu rồi mà chức vẫn còn nguyên? Thời phong kiến gọi là bậc tiên chỉ đấy! Nói hỗn với các cụ, lần sau mỗi khi được ngồi mâm trên thì nhớ thó cái đôi móng giò cho vào túi mang về cho đúng phong cách bậc tiên chỉ của làng Vũ Đại nhé!

Thảo nào, một lần đương kim Hiệu trưởng giao Trưởng phòng Tổ chức cán bộ in giấy mời mời “nguyên Hiệu trưởng” vào dự liên hoan cuối năm. Trưởng phòng Tổ chức cán bộ bị vị “nguyên” Hiệu trưởng điện thoại mắng te tát vì giấy mời ghi thiếu “nguyên” nhiều chức danh: “Bí thư Đảng uỷ, Nhà giáo ưu tú…”. Rồi dỗi, quyết không vào dự. Vậy là một suất ăn phải đổ… cho chó.

Mà cũng lạ. Có ghi vào giấy mời đủ nguyên cả ba chức thì cũng ăn chỉ được một suất chứ chẳng nhẽ ăn hết ba suất như phụ cấp lúc đương chức?

Thì ra cái chức “nguyên” nó quan trọng đến vậy, cho nên Anh Cả mới có sáng kiến “cách chức nguyên” lãnh đạo vi phạm. Dư luận cười chứ tôi thấy rất thâm. Mất “nguyên” cái chức là mất cái đôi móng giò mỗi khi ra đình ăn cỗ đấy chứ!

Đấy, Việt Nam còn lâu mới có nền giáo dục khai phóng hay chí ít là cộng sản đúng nghĩa. Vẫn là giáo dục phong kiến đặc sệt từ trong máu của lãnh đạo cộng sản. Họ tự lấy họ làm trung tâm chứ không có chuyện lấy người học hay người dân làm trung tâm. Họ tuyên bố lấy chủ nghĩa Marx làm kim chỉ nam cho hành động: đấu tranh chống phong kiến, chống tư sản, đến mức một thời từng “đào tận gốc, trốc tận rễ” những gì hủ bại của chế độ phong kiến để lại, nhưng cái đầu của họ còn phong kiến hơn cả phong kiến. Vẫn cái bệnh có chức thì cứ đòi phải được trọng vọng, được ăn trên ngồi trốc, quyết không chịu đối xử bình đẳng với nhau. George Orwell mà còn sống cũng phải bật cười lần nữa khi đọc lại tiểu thuyết Trại súc vật của mình, rằng mọi con vật sinh ra đều bình đẳng, nhưng có những con vật được đối xử bình đẳng hơn.

Truy lại 15 điều trong Hiến chương nhà giáo mà các lãnh đạo công đoàn cộng sản đưa ra tại Hội nghị Warszawa (1949), có điều nào nói khôi phục tinh thần “Tôn sư trọng đạo” của giáo dục phong kiến, tức tôn cái ghế “nguyên” đâu hè? Hiệp ước này đòi tự do, bình đẳng giữa nhà giáo với nhà giáo, giữa nhà giáo với người học, và đặc biệt chỉ đề cao trách nhiệm của chính quyền đối với nhà giáo, của nhà giáo đối với sự phát triển cá tính của trẻ em. Xa hơn, chủ nghĩa Marx còn đòi lật đổ hoàn toàn tôn ti luận phong kiến, đánh bật gốc thói háo danh và hám lợi của kẻ thống trị chứ có chỗ nào nói “nguyên” lãnh đạo thì được suy tôn thành bậc tiên chỉ để được ăn trên ngồi trốc?

CHU MỘNG LONG

Image may contain: 4 people

 ĐỔI TIỀN

 
Image may contain: one or more people, people sitting and hat

 

 ĐỔI TIỀN

Chính sách đổi tiền của chính phủ càng thất nhân tâm hơn nữa. Vụ đổi tiền lần thứ nhất xảy ra tháng chín hay tháng mười 1975, và xảy ra rất đột ngột.

Sáng sớm hôm đó dân chúng mới hay rằng phải đổi tiền nội trong 24 giờ và mỗi người dân già trẻ lớn bé được đổi một số tiền là bao nhiêu đó tôi quên rồi, chỉ còn nhớ số tiền này như gia đình tôi chỉ đủ tiêu trong một tháng hay tháng rưỡi là cùng. Những người làm chủ một hãng, như hãng buôn, nhà in, xưởng chế tạo… có giấy chứng nhận của phường, quận… mới được đổi thêm 1.000 đồng mới (1 đồng mới ăn 500 đồng cũ), tính ra cũng chỉ đủ chi tiêu trong một tháng. Chính quyền không cho biết số tiền còn lại, sẽ giữ tại ngân hàng và sẽ cho rút ra lần lần tùy nhu cầu; thành thử ai cũng hiểu lầm rằng số đó sẽ bị hủy bỏ. Do đó rất nhiều người phẫn uất, tuyệt vọng; có người tự tử, có người đốt hằng thúng giấy bạc, hoặc từ trên lầu vãi giấy bạc xuống đường, không ai thèm lượm; ở Mỹ tho, nhiều tiệm Trung hoa thồn giấy bạc vào cà roòng, thả trôi sông.

Chỉ thị phải đổi nội trong 24 giờ làm cho mọi người hoảng hốt, tranh nhau đổi, sợ trễ. Nhưng chỉ thị đó, chính cán bộ không tuân theo; ở phường tôi họ cứ nhởn nha làm việc; chín giờ sáng mới tới phòng đổi tiền để xếp đặt công việc, mười một giờ mới quyết định xong, thì nghỉ ăn cơm; một giờ mới phát cho dân đơn khai số tiền có trong nhà. Dân chen chúc nhau ở cửa phòng, đưa sổ gia đình để họ xét họ xét rất lâu như sợ có sổ giả mạo, rồi mới chịu phát đơn. Các tổ trưởng đề nghị tiếp tay họ trong việc đó, họ không cho vì ngờ có thể gian lận.

Đem đơn về nhà khai xong, lại mang tới đề nộp, lại chen lấn nhau lần nữa. Hai vợ chồng tôi thay nhau làm những việc xin đơn, nộp đơn, chiều đó mới xong, mệt đừ.

Trên đơn họ tính trong nhà có bao nhiêu người, cho phép đổi bao nhiêu, tính xong thì khuya rồi, đề sáng hôm sau mới đổi. Họ làm việc rất chậm, mãi nửa đêm hôm sau mới đổi xong. Như vậy là lệnh của chính phủ không được tuân. Có phường năm ngày mà đổi vẫn chưa xong, vì họ phải xét đi xét lại một điều gì đó, tôi không hiểu. Dân chầu chực suốt 5 ngày 5 đêm ở ngoài nắng, dưới mưa, lại không có tiền tiêu (vì trong lúc chở đổi tiền, giấy bạc cũ vô dụng, giấy bạc mới chưa có), nổi lên phản kháng, biểu tình, họ bắt giam một số. Nhưng cũng có chỗ đổi rất mau, chỉ 24 giờ là xong.

Vậy là cấp trên không biết tồ chức hoặc biết tổ chức mà cấp dưới không thèm nghe, tự ý làm sao thì làm, và hạng người ngu dốt, được cơ hội, tha hồ hách dịch, làm khó dân.

Một cái tệ nữa là không có sự kiểm soát, khiến nhiều cán bộ gian lận, làm giàu. Các cơ quan đổi bao nhiêu tiền cũng được, chỉ cần làm tờ khai. Cơ quan có trong quĩ 100 triệu đồng cũ chẳng hạn thì khai 150 triệu, 50 triệu dư đó đem mua tiền của dân. Dân có tiền không đổi được, bán rẻ cho cơ quan, lấy 50%, 30% thôi, cơ quan lời 50%, 70% chia cho nhau. Thí dụ : tôi có dư 1 triệu đồng cũ không đổi được, đưa cho cơ quan đổi, cơ quan chỉ giao cho tôi nửa triệu (50%) tức 1.000 đồng mới; cơ quan giữ lại nửa triệu, để chia nhau. Đó là chỗ thân tình lắm chứ giá thường là 30%, và gần tới giờ chót chỉ còn 10%. Nửa ngày cuối cùng, người ta tấp nập mua bán như vậy, công an phường chắc biết dư mà chẳng thấy phát giác vụ nào cả.

Lần đó là lần đầu tiên tôi thất vọng, thấy rõ chân tướng chẳng tốt đẹp gì của các đồng chí cách mạng trong chủ nghĩa xã hội đã được Hồ chủ tịch dạy dỗ mấy chục năm. Họ bỉ ổi, bê bối còn hơn chế độ tư bản nữa. Tôi không vơ đũa cả nắm. Cũng có một số liêm khiết, xã hội nào cũng vậy.

Đêm đó 11 giờ khuya tôi mới đổi tiền xong, trả phần của một đứa cháu trong nhà, và trả cho nhà tôi số tiền tiêu riêng của nhà tôi rồi, chỉ còn đâu có 6-7 chục đồng, mà mỗi tháng chúng tôi tiêu ít nhất 50 đồng mới đủ. Tôi chìa cho nhà tôi xem, bảo: “Bao nhiêu tiền tiết kiệm của mình chỉ còn có mấy tấm giấy này thôi!” Nhà tôi làm thinh. Tôi cất tiền rồi, mệt quá, đi ngủ liền.

Sáng hôm sau dậy sớm mới thấy buồn thấm thía. Còn trà tàu Đài loan của một độc giả cho, tôi pha một bình nhỏ, rót một chén đem xuống cho nhà tôi đương quét sân. Rồi tôi đi dạo trong xóm xem dân tình: ai cũng lặng lẽ, đăm chiêu. Nửa giờ sau về nhà. Nhà tôi cho hay đã bán được một lon sữa đặc đủ đi chợ một ngày. Tôi bảo: “Cần gì phải như vậy. Mình còn nhiều đồ khác để bán mà.” Nói vậy, nhưng nước mắt tôi cũng rưng rưng vì cảm động.

Mấy hôm sau, có lẽ chính phủ thấy chính sách đó khắc nghiệt quá, cho nên ra lệnh cho đổi thêm một số nữa bằng số lần trước. Lại khai báo, lại chầu chực, nhưng lần này mau hơn. Ngân hàng trả lại tôi một số tiền nữa, còn bao nhiêu ghi vào sổ tiết kiệm của tôi. Vậy là chưa mất hết. Từ đó mỗi tháng vợ chồng tôi được rút ra 60 đồng cho hai người, lại bán thêm được một ít sách nữa, cho nên đủ tiêu. Được đâu một năm như vậy rồi chẳng hề có thông cáo, thông báo gì cả, ngân hàng cứ lẳng lặng không phát thêm nữa. Hiện nay trong sổ tiết kiệm của tôi còn mấy ngàn đồng, tôi không nhớ. Sổ đó đã vô dụng rồi, tôi giữ làm kỉ niệm của một thời.

Tóm lại chính sách của nhà nước là muốn quản lí tiền bạc của dân: chỉ cho mỗi gia đình giữ một số đủ mua gạo, rau… trong một hai tháng, còn bao nhiêu gởi ngân hàng hết, phải có lí do chính đáng như đau ốm, cưới hỏi, ma chay… mới được rút ra. Tiến bộ hơn Nga nhiều. Nhưng hậu quả là không ai muốn gởi tiền ngân hàng nữa, và chính sách đó phải bỏ.

Gần đây đọc một cuốn sách tôi được biết chính phủ Sô viết ở Nga sau cách mạng 1917 cũng có một lần đổi tiền cho dân: cứ dưới 3000 rúp (rouble) (tôi không biết một rúp thời đó bằng bao nhiêu quan Pháp) thì một rúp cũ đổi lấy một rúp mới, còn trên số đó thì hai rúp ca đổi một rúp mới. Chính sách đó nhân đạo hơn, không gây bất mãn trong dân chúng. Chính phủ mình đã theo chính sách đổi tiền của họ Mao chăng?

Ba năm sau, năm 1978 lại đổi tiền một lần nữa, mà lần này ở khắp nước. Cũng đột ngột, cũng hạn chế số tiền được đổi, nhưng có tổ chức hơn, đỡ khổ cho dân.

Dù dùng mọi cách đề bình sản (tức quân bình tài sản, san phẳng tài sản), dù dùng mọi cách để trừng trị sự làm giàu thì bất kì thời nào, trong xã hội nào, cũng chỉ được ít tháng lại có sự bất bình đẳng, có kẻ giàu người nghèo. Một người đã nói: phát cho hai người, mỗi người một ổ bánh mì, chỉ một ngày sau đã có sự bất bình đẳng rồi: kẻ ăn hết ổ bánh đã hóa nghèo hơn kẻ chỉ ăn ba phần tư ổ thôi, để dành một phần tư. Như vậy là có sự tích lũy tài sản rồi. Cho nên tại các nước cộng sản lâu lâu phải đổi tiền một lần, hạn chế số tiền được đổi, tịch thu một số tiền quá lớn nữa. Nghe nói ở Nga từ 1917 đến nay đã đồi tiền non 20 lần, không biết lời đó đúng không.

Vụ đổi tiền năm 1978 làm Bắc Việt xôn xao cũng bằng ở trong Nam và cũng có đủ các tệ như ở Nam.

Lần này người ta biết tin trước vài ngày: ai có nhiều tiền (ở Bắc cũng như ở Nam) cũng tung tiền ra mua vàng, xe đạp, vải, tủ lạnh, chén đĩa, bất kì thứ gì với bất cứ giá nào. Có thứ tăng giá lên gấp 10 như vàng, thứ nào tăng ít nhất cũng gấp năm. Có người không biết mua gì, năn nỉ hàng xóm để lại cho con gà, con vịt. Người nghèo có từ nải chuối trở đi cũng đem bán. Ở Bắc có kẻ nhiều tiền quá thồn cả vào một cái bao, chở trên xe đạp, đến một chỗ vắng, làm bộ đánh rớt xuống đường rồi phóng đi như bay. Hạn chế, kiểm soát rất gắt, vậy mà ở Hà nội ngay tối đêm mới đổi tiền, công an lại xét một nhà thấy một số tiền gấp trăm số gia đình đó được phép đổi. Và chính phủ cũng phải làm ngơ.

Sau một phần tư thế kỉ được giáo hóa mà như vậy thì chúng ta phải kết luận ra sao? Có chế độ nào thay đổi được bản tính con người trong một hai thế kỉ không? Bao giờ mới đào tạo được con người xã hội chủ nghĩa để họ xây dựng xã hội chủ nghĩa đây, như Hồ chủ tịch nói?

Mỗi lần đổi tiền là một lần lạm phát. Cứ xét giá sinh hoạt từ 1975 đến nay ở miền Nam thì ít nhất cũng đã có sự lạm phát gấp 10 lần rồi: giá vàng 1975 là 400$ mới, bây giờ (tháng 5-1980) trên 6000$; gạo bán ở chợ thời đó vào khoảng 20 xu mỗi một lít, bây giờ từ 2$ tới 6$, 8$ tùy nơi. Vật giá cũng tăng lên ít nhất là 10 lần.

Giá chính thức thì trái lại, tăng lên rất ít, nhiều lắm là gấp hai; nhưng chỉ công nhân viên được mua gạo với giá đó thôi, còn những nhu yếu phẩm khác thì không có để phân phối; rốt cuộc họ phải mua rất nhiều món ở chợ với giá gấp 10 lần, mà lương không tăng. Tình cảnh của họ thật bi đát. Nạn tà tà, vô kỉ luật, tham nhũng, ăn cắp, buôn lậu phát ra từ đó.

Còn thêm một hậu quả nữa. Dân sợ sự đổi tiền quá, không còn làm ăn gì được; mà dân càng sợ thì càng có nhiều kẻ tung tin vịt ra; mới đổi năm 1978, qua năm 1979 lại có tin đổi tiền nữa, kinh tế hóa khó khăn trong vài tháng, một số kẻ làm giàu thêm, một số nghèo thêm, rồi đầu năm 1980 lại có tin đổi tiền nữa, lần này cũng vịt nữa. Đời sống không được ổn định, dân lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, chẳng trách bệnh bao tử phát dữ dội, gấp mấy thời trước. Không ai muốn tiết kiệm nữa, kiếm được đồng nào tiêu hết đồng đó; những quán ăn, tiệm cà phê nhiều hơn và đông khách hơn trước ngày 30-4-1975.

Trích “Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê”.

HỌC PHÍ

HỌC PHÍ

Đỗ Duy Ngọc

Cách đây hơn 60 năm, khi tôi bắt đầu đi học, thời đó miền Nam có lẽ là có đời sống tương đối khá hơn miền Bắc XHCN. Tuy vậy, đất nước chắc chắn là không giàu có như bây giờ. Vậy mà suốt thời gian tôi ngồi ở ghế nhà trường, từ Tiểu học cho đến Trung học và cả những năm học Đại học, tôi chẳng phải đóng một đồng học phí nào. Chỉ có những năm tôi học thêm trường tư ban đêm để có thể học nhảy và mấy năm học kiếm thêm cái bằng nữa ở Đại học tư thì đương nhiên phải đóng học phí. Nhưng học phí rất nhẹ. Ở miền Nam trước 1975, có hai hệ thống trường học rất rõ ràng và minh bạch. Đó là trường công lập của nhà nước và trường tư thục của tư nhân. Học trường công thì sẽ không phải đóng một khoản phí nào. Chỉ cần điều kiện là phải thi đỗ vào trường. Học tiểu học thì nạp đơn xin vào học, không thi. Học đến lớp Nhất là lớp Năm bây giờ thì thi vào trường Trung học. Đậu thì học không tiền, rớt thì vào trường tư có học phí. Năm lớp Đệ Nhị tức lớp 11 bây giờ, thi Tú tài 1. Nếu đang học trường tư, thi Tú tài 1 đậu hạng Bình thứ trở lên có thể xin vào trường công lập học tiếp lớp Đệ nhất, khỏi đóng học phí. Ngoài hệ Phổ thông, còn có hệ thống trường Kỹ Thuật ở Vĩnh Long, Sài Gòn, Quy Nhơn, Huế, Đà Nẵng, sau đó thì có thêm Nha Trang, Quảng Ngãi. Phải thi tuyển rất khó khăn mới vào học được trường Kỹ Thuật. Lại còn có hệ thống trường Trung học Nông Lâm Súc. Học sinh ngoài học văn hóa còn được học nghề, chuẩn bị hướng đi cho tương lai. Đa số học sinh Kỹ Thuật khi đậu Tú tài 2 đều thi vào trường Kỹ Sư Phú Thọ, Kiến trúc. Đại học thì có trường phải thi tuyển và một số trường ghi danh. Tuy vậy, ngoài các trường Đại học tư có thu học phí, tất cả các trường Đại học công lập dù thi tuyển hay ghi danh sinh viên cũng không phải đóng tiền học. Học trường thi tuyển như Sư Phạm lại được cấp tiền hàng tháng, số tiền cũng kha khá đối với một sinh viên xa nhà trọ học. Thi Tú tài 2 đậu hạng Bình thứ trở lên, có thể xin học bổng của chính phủ để đi du học các nước Âu châu, Hoa Kỳ, Canada…

Dài dòng như thế chỉ muốn nói lên một điều là ở miền Nam trước 1975 dù xã hội cũng chưa phải là giàu gì lại bị chiến tranh liên miên nhưng học sinh, sinh viên và gia đình không bận tâm đến chuyện học phí. Nhờ thế, rất nhiều con em nhà nghèo đã được học đến nơi đến chốn và rất nhiều học trò tình cảnh gia đình khó khăn đã trở thành Bác sĩ, Kỹ sư, Giáo sư… nhà khoa học, nghệ sĩ tài năng. Đặc biệt, khi tốt nghiệp Đại học trong nước cũng như du học trở về, nhà nước bố trí việc làm phù hợp với khả năng và bằng cấp chuyên môn, không có cảnh thất nghiệp, chạy đôn chạy đáo, lo lót tiền bạc để có việc làm như bây giờ.

Sau năm 1975 và đặc biệt là từ khi mở cửa kinh tế thị trường định hướng XHCN thì trường học từ nhà trẻ cho đến Đại học đều phải đóng tiền. Và học phí càng ngày càng tăng, những gia đình nghèo, đông con, tiền học là gánh nặng. Ngoài học phí, học sinh còn phải đóng nhiều thứ khác nữa và lại thêm tiền mua sách giáo khoa, sắm đồng phục, các khoản này cũng là số tiền không nhỏ. Lại còn nạn học thêm, dạy thêm. Con nhà nghèo đành chịu thất học bởi cha mẹ không kham nổi. Giờ lại nghe tin năm học này tăng học phí, mà tăng không phải là ít. Theo đề xuất này, từ năm học 2021-2022, học phí bậc đại học tăng 12,5%. Học phí bậc mầm non, phổ thông tăng 7,5% so với năm học 2020-2021. Kiểu này những gia đình khó khăn, con đông, ở vùng sâu vùng xa chắc phải bỏ học vì không có tiền đóng học phí. Do dân, vì dân đâu chưa thấy, chỉ thấy dân còng lưng đóng đủ thứ tiền. Chưa xong thuế, lại đóng tiền trạm để đi đường, tiền điện, tiền nước rồi tiền học cho con… cứ tăng ào ào. Khổ mọi bề. Sao không áp dụng kiểu trường công lập và tư thục như xưa để con nhà nghèo phấn đấu vào trường công khỏi tốn tiền học cho đỡ gánh nặng cho cha mẹ, gia đình. Để những nhân tài khỏi phải bị mai một vì nhà nghèo không đi học được.

12.11.2020

#LINHTINHDODUYNGOC

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10157895485323635&id=669643634

https://m.facebook.com/groups/lambaosach/permalink/721326435407804/

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2744463332438242&id=1787344571483461

Đồng Tâm Nhìn Từ Rạch Gốc

Đồng Tâm Nhìn Từ Rạch Gốc

Tưởng Năng Tiến

Dù cũng đọc được lõm bõm một hai ngoại ngữ, tôi rất ít khi rớ tới một tờ báo hay một cuốn sách viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp. Lý do, chả phải là vì tôi có máu bài ngoại hoặc dị ứng với văn hoá thực dân (hay đế quốc) gì ráo trọi mà chỉ tôi chỉ thạo tiếng mẹ đẻ thôi nên rất ngại “đụng” đến tiếng nước ngoài.

Những người cầm bút của nước Việt tuy viết dở hơi nhiều nhưng viết hay cũng đâu có ít. Đọc họ sướng muốn chết, và đọc mệt luôn cũng chưa hết chữ nên bận tâm làm chi đến những tác giả ở tận đâu đâu.

Cả ngày hôm nay tôi xem say mê bút ký Đồng Bằng của nhà văn Nguyên Ngọc. Ông viết như nói vậy đó: lưu loát, tươi cười, bình dị nhưng thâm trầm và lôi cuốn. Thản hoặc, cũng có đôi đoạn hơi cường điệu (hay nói nguyên văn theo cách dùng từ của chính ông là “gồng lên”) nhưng rất ít. Tôi xin phép sẽ đề cập đến sau, khi có dịp.

Riêng hôm nay, xin mời mọi người xem chơi đôi ba đoạn ngắn, Nguyên Ngọc viết về chuyến đi của ông đến miền đất cực Nam của quê hương (Cà Mau) nơi mà T.B.T Lê Duẩn đã từng nương náu.

Khi ghe cặp bờ, tác giả cùng bạn đồng hành được ông Hai Phốc – Chủ Tịch Xã – đón tiếp vô cùng nồng nhiệt. Hai người, nhân dịp này, cũng tìm biết thêm được không ít chuyện thú vị về cuộc khởi nghĩa ở Hòn Khoai (Rạch Gốc) hồi năm 1940:

“Sau thất bại Nam Kỳ Khởi nghĩa, mấy chục ngư dân Rạch Gốc – Cà Mau đều phải đi tù Côn Đảo, về sau Hai Phốc kể với tôi, mấy chục người ấy đã có ai biết chút chữ nghĩa gì đâu, ở tù Côn Đảo họ chỉ làm một nhiệm vụ: mỗi khi ông Lê Duẩn, ông Tôn Đức Thắng và các ông đầu lĩnh cộng sản bị mang ra đánh thì các ông xông ra chịu đòn thay. Có người bỏ mạng ở Côn Đảo, như cha anh Hai Phốc, còn sống trở về đâu không được mươi người, nay chỉ còn mỗi ông Hắc Hổ.”

Thất bại là mẹ thành công nên sau nhiều lần “khởi nghĩa” bất thành – chung cuộc – cách mạng cũng đã “giải phóng” được cả hai miền Nam/Bắc, thống nhất giang sơn. Sau đó, bác Lê say sưa với chiến thắng nên không có dịp trở lại chốn xưa để thăm lại các ngư dân đã nuôi dưỡng ̣(và bảo vệ) mình nhờ vào “vô số kênh rạch chi chít và bí hiểm” ở Cà Mau.

Bác Tôn, xem ra, nhàn nhã hơn thấy rõ:

“Ngoài việc dự các nghi lễ long trọng bắt buộc phải có mặt cụ, cụ không làm việc gì khác ngoài một việc cụ thích thú hơn cả là sửa xe đạp. Làm phó chủ tịch nước, ông thợ máy ngày trước buồn tay buồn chân. Hết xe đạp hỏng cho cụ chữa, anh em bộ đội bảo vệ và nhân viên phục vụ phải lấy xe của người nhà mang vào cho cụ kẻo ngồi không cụ buồn. Thương cụ quá, đôi khi họ còn làm cho xe trục trặc đi để dắt đến nhờ cụ sửa giùm.” (Vũ Thư Hiên. <em><a href=”http://minhtrietviet.net/dem-giua-ban-ngay-chuong-11/”>Đêm Giữa Ban Ngày</a></em>. Văn Nghệ. Westminster, CA: 1997).

Tuy rất rảnh “nhưng ông thợ máy ngày trước” chỉ tìm vui trong việc sửa xe (đạp) để giết thời giờ, từ năm này sang năm khác, chứ cũng chưa lần nào ghé qua Rạch Gốc để thăm hỏi những kẻ đã chịu đòn thay cho mình ngoài ở Côn Đảo – năm nào.

Bác Bằng cũng xử xự y như thế:

“Khi Nguyễn Lương Bằng vượt ngục Sơn La ông được một thanh niên người Thái trắng dẫn đường. Đưa ông đi khỏi địa phận Sơn La xong, trở về nhà anh bị Pháp bắt đem chặt đầu.

Tôi đã tới bản Giảng, cách nhà tù Sơn La vài cây số, vào mùa thu năm 1965, để thăm gia đình anh thanh niên nọ. Trong ngôi nhà sàn xiêu vẹo chỉ còn lại bà mẹ anh, một bà lão lẩm cẩm, điếc lác, hỏi năm câu mới trả lời được một, câu trả lời lại chẳng ăn nhập gì với câu hỏi.

Bác Cả Hà Đông của tôi chưa một lần trở lại bản Giảng để thăm hỏi bà lão tội nghiệp. Rõ ràng, ông là, hoặc đã trở thành, người không có ân nghĩa. (Vũ T. H. s.đ.d. tr. 314).

Đ… mẹ nhân tình đã biết rồi! Lạt như nước ốc bạc như vôi.     

Ấy thế nhưng nói cho nó hết lẽ thì Bác Tôn và bác Bằng vẫn còn chút (nhất điểm) lương tâm. Cả hai chỉ bạc thôi chứ không đến nỗi ác. Bác Hồ thì khác. Bạc bẽo, độc ác, gian trá, thâm hiểm … và không hề từ bất cứ một thủ đoạn đê tiện hay bất nhân nào.

Mụ địa chủ Cát-hanh Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã: 

– Giết chết 14 nông dân. Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.

 – Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người

– Năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.

Trong cuộc phát động quần chúng, đồng bào địa phương đã đưa đủ chứng cớ rõ ràng ra tố cáo. Mẹ con Cát-hanh-Long không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác hại nước hại dân. Thật là: Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng, Rửa không sạch ác, dù tát cạn nước bể!

(21-7-1953) C.B

C.B là một trong những bút danh của Hồ Chí Minh.  Còn Cát Hanh Long là ai?

Theo Wikipedia: “Nguyễn Thị Năm (1906 – 9 tháng 7 năm 1953, quê ở Làng Bưởi, ngoại thành Hà Nội), là một địa chủ có công đóng góp tài sản cho Việt Minh trong kháng chiến chống Pháp. Trong cuộc Cải cách ruộng đất, bà bị nông dân địa phương đấu tố là địa chủ gian ác và bị xử bắn. Bà nguyên là Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Thái Nguyên. Bà còn được gọi là Cát Hanh Long vì đây là tên một hiệu buôn do bà làm chủ ở Hải Phòng.”

Người trong cuộc cho biết thêm chi tiết:

“Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van ‘các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh’. Du kích quát: ‘Đưa đi chỗ giam khác thôi, im!’ Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất…

Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: ‘Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy.” (Trần Đĩnh. Đèn Cù, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

So với bản Giảng (Sơn La) hay Rạch Gốc (Cà Mau) thì Đồng Tâm (Hà Nội) chả là cái đinh gì sất cả. Bản thân ông Nguyễn Đình Kình cũng thế, cũng chả có thành tích gì đáng kể, chưa giúp được một đồng chí lãnh đạo nào vượt ngục, cũng chả chịu đòn thay cho bất cứ ai.

Đã thế, về đường lối chính sách thì Nguyễn Đình Kình lại rất mù mờ. Năm mươi tám tuổi đảng mà chủ trương xuyên suốt (đất đai thuộc quyền quản lý của nhà nước) ông vẫn không thông. Do đó, thay vì bị khai trừ, ông bị khử trừ luôn không phải là chuyện lạ.

Tôi chỉ lạ ở cái thái độ phẫn uất của nhà văn Nguyên Ngọc, khi nghe ông gào thét: “Vụ án Đồng Tâm là một tội ác trời không dung đất không tha.”

Chứ chả lẽ cái chết thảm thiết của bà Cát Hanh Long và của hàng bao nhiêu triệu lương dân khác nữa (ở khắp ba miền đất nước, từ hơn nửa thế kỷ nay) thì đất/trời có thể dung tha được hay sao?

Tưởng Năng Tiến
11/2020

BÀI GIẢNG LỄ KÍNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

BÀI GIẢNG LỄ KÍNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

 ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên – Missouri, 8-8-2014

Kính thưa cộng đoàn,

Ngày 19-6-1988 đã in một nét son trong lịch sử Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam.  Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong 117 vị chân phước tử đạo tại Việt Nam lên hàng hiển thánh, gồm 96 người Việt Nam và 21 vị thừa sai ngoại quốc.  117 thánh tử đạo là con số tiêu biểu cho hơn 100 ngàn Vị Tử Đạo trong thời gian 300 năm Giáo Hội bị bách hại.  Đây là một biến cố quan trọng đối với Dân tộc Việt Nam.  Người Việt Nam vốn đã tự hào về một truyền thống kiên cường trong việc dựng nước và giữ nước, nay càng tự hào hơn vì có những bậc tiền nhân anh hùng kiên vững trong Đức tin.  Quê hương Việt Nam đã xinh đẹp, nay còn xinh đẹp hơn nhờ được tô điểm bằng Đức tin Công giáo.

Tại Quảng trường Đền thờ Thánh Phêrô ở Rôma hôm đó, trước hàng triệu tín hữu, trong số đó có những tín hữu Việt Nam, Vị Cha chung của Giáo Hội Công giáo hoàn vũ đã nhân danh Chúa Ba Ngôi long trọng tuyên bố: kể từ nay, 117 vị Tử đạo Việt Nam được kể vào hàng các thánh và được tôn kính trong toàn thể Giáo Hội.  Để bày tỏ tình thương hiền phụ đối với các tín hữu Việt Nam, vị Thánh Giáo Hoàng đã ngỏ lời với con cháu các thánh Tử đạo bằng ngôn ngữ của họ.  Đây là lần đầu tiên tiếng Việt thân thương của chúng ta được phát âm và xướng lên bởi một vị Giáo Hoàng: “Chào anh chị em Việt Nam thân mến.  Cha gửi lời chào chúng con từ bốn phương trời tuốn về La Mã, vui vẻ hiên ngang mừng các thánh Tử đạo của Giáo Hội chúng con hôm nay.  Xin Chúa chúc lành cho chúng con, và Cha cầu chúc cho chúng con sống xứng đáng là con cháu các vị anh hùng.”

Đã 26 năm từ sự kiện phong thánh, những lời của vị Cha Chung ngỏ lời với con dân Việt vẫn còn vang vọng đâu đây trong tâm khảm của các tín hữu Việt Nam đang sống trong nước cũng như ở hải ngoại.  Bởi lẽ, qua những lời đơn sơ ấy, vị Thánh Giáo Hoàng muốn mời gọi chúng ta tưởng nhớ về một quá khứ đau thương hào hùng của Giáo Hội Công giáo Việt Nam, đồng thời khuyên chúng ta học nơi các ngài bài học sống Đức tin trong cuộc sống hiện tại hôm nay.

– Thứ nhất, hồi tưởng về quá khứ.  Giáo Hội công giáo Việt Nam đã trải qua những thử thách đau thương khốc liệt, giống như cộng đoàn tín hữu tiên khởi tại Rôma ở thế kỷ thứ hai.  Hơn một trăm ngàn người Việt Nam đã phải hy sinh mạng sống chỉ vì một lý do là họ tin vào Chúa.  Họ phải chịu biết bao đau khổ và nhục hình: phân biệt đối xử, phát vãng lưu đày và tử hình.  Có thể thế hệ hôm nay sẽ đặt câu hỏi: các Thánh Tử đạo Việt Nam là những ai?  Thưa họ là những giám mục, linh mục, tu sĩ chủng sinh; họ là những người cha, người mẹ, những người con trong gia đình; họ là những người học hành uyên bác nhưng phần lớn trong số họ là những người bình dân; đa phần trong số họ là những người chân lấm tay bùn, vất vả quanh năm với con trâu, cái cày.  Trong số họ cũng có 21 vị là người ngoại quốc.  Các ngài đến từ những đất nước văn minh và đã chọn Việt Nam là quê hương thứ hai của mình.  Các Thánh Tử đạo Việt Nam, không phân biệt Tây hay Ta, nam hay nữ, giàu hay nghèo, trí thức hay bình dân.  Tất cả đều yêu mến Chúa, yêu quê hương Việt Nam và yêu Giáo Hội Việt Nam đến mức sẵn sàng đổ máu đào để làm chứng cho tình yêu ấy.  Vì thành kiến và thù ghét, người ta đã nghĩ ra biết bao hình khổ ghê rợn hầu làm họ chối bỏ Đức tin, nhưng các ngài vẫn can đảm kiên trung trước lời đe dọa của những nhà cầm quyền.

Chủng sinh 18 tuổi, Tôma Trần Văn Thiện, đã nói với quan: “Đạo dạy tôi thờ Thiên Chúa là đạo thật, tôi sẵn sàng chịu chết chứ không bỏ đạo.”  Thấy Tôma Thiện là một chàng trai trẻ có khuôn mặt khôi ngô tuấn tú, quan muốn nhận làm con rể mình, và sẽ đứng ra lo liệu cưới xin.  Nhưng ngài đã từ chối: “Tôi chỉ mong chức quyền trên trời, chứ không màng đến quyền chức trần thế.”  Thánh Tôma đã thấu hiểu lời Đức Kitô trong Tin mừng Luca: “Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.  Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?”  Sách viết về cuộc đời của các Thánh Tử đạo còn kể lại biết bao chứng tá anh hùng của các ngài.  Các ngài không sợ hình phạt, chỉ sợ mất nghĩa cùng Chúa.  Đi ra pháp trường mà các ngài vui vẻ như đi dự hội.  Với các thánh Phạm Khắc Khoan, Nguyễn Văn Hiếu và Đinh Văn Thanh, các ngài đã chia bè và hát kinh Tạ Ơn “TE DEUM” bằng tiếng Latinh ngay trong nhà giam.  Rồi khi ra pháp trường để chịu tử hình, các ngài lại hát bài ca “Alleluia” như trong đêm vọng Phục Sinh.  Chỉ có một Đức tin kiên trung và lòng phó thác trọn vẹn mới có thể đem lại cho các ngài nghị lực và niềm vui như vậy.

Sống đạo đức thánh thiện và trung thành với Đức tin, các ngài còn là những người sống bác ái với mọi người.  Lịch sử các Thánh Tử đạo còn ghi lại thánh y sĩ Phan Đắc Hòa.  Ngài đã sẵn sàng chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, sẵn lòng cứu giúp những người túng thiếu.  Hay thánh Martinô Thọ, Ngài thường trồng vườn dâu để có thêm thu nhập giúp người nghèo.  Cụ trùm Đích thì thường xuyên góp nhặt tiền bạc để đi thăm viếng trại cùi và nuôi nấng những người dịch tả trong vùng.  Còn với quan Hồ Đình Hy, ngài luôn giúp đỡ những người bơ vơ, mồ côi ngay ở trong nhà, và khi họ qua đời thì lo an táng đàng hoàng như một người bình thường.

– Ôn lại quá khứ, chúng ta là những tín hữu Công giáo Việt Nam học những bài học cụ thể cho cuộc sống hôm nay.  Quả vậy, lòng tự hào về các bậc Tiền Nhân không phải chỉ được ghi lại trong những pho sách sử mà thôi.  Chúng ta ôn lại truyền thống hào hùng được ghi dấu và thấm đẫm máu đào, không giống như chỉ ôn lại một sự kiện lịch sử xa vời, dù rất đẹp nhưng khô cứng và vô hồn.  Chúng ta tự hào về các Thánh Tử Đạo cũng không giống như kiểu lấy công phúc của các ngài để làm vinh dự cho chúng ta.  Việc ôn lại chứng tá của các Thánh Tử đạo nhắc nhớ mỗi người dân Việt, nhất là những tín hữu Công giáo Việt Nam, dù sống trên miền đất nào, cũng cố gắng noi theo lòng đạo đức của các ngài, gìn giữ Đức tin kiên trung vào Chúa, yêu mến Giáo Hội và sống Đức tin trong cuộc sống hằng ngày.

Cuộc sống và chứng từ của các anh hùng Tử đạo cần phải được kể lại cho mọi thế hệ người Công giáo Việt Nam.  Cùng với lòng tự hào là tâm tình tri ân cảm mến và thiện chí noi gương các ngài để sống Đức tin.  Thời tử đạo dẫn đến máu chảy đầu rơi ngày nay không còn nữa, nhưng những ai muốn trung thành với Chúa thời nào cũng phải cân nhắc khôn ngoan để chọn lựa Chúa hay chọn lựa thế gian; chọn lựa hạnh phúc và niềm vui vĩnh cửu hay chọn lựa vinh quang nhất thời; chọn lựa đường đi trong ánh sáng hay cuộc sống trong bóng đêm.  Môi trường nào cũng vậy, ta luôn phải chọn lựa.  Hoàn cảnh nào cũng thế, ta phải sống khôn ngoan.  Cuộc chọn lựa này nhiều khi làm chúng ta phải vượt lên những ràng buộc khắt khe và có khi phải vượt lên chính mình với trái tim rướm máu.  Nếu những cuộc cấm cách tàn khốc đã lùi vào dĩ vãng thì người tín hữu hôm nay lại phải đối diện với những thử thách của thời hiện đại.  Quả vậy, biết bao trào lưu và lối sống mượn chiêu bài tự do để đi ngược với giáo huấn của Tin Mừng, coi thường hoặc lãng quên những thực hành đạo đức, tôn vinh kỹ thuật một cách quá đáng và lãng quên Thiên Chúa là Cội nguồn mọi sự.  Sáng suốt và khôn ngoan để trung thành với Chúa trong cuộc sống hôm nay, đó là một cuộc tử đạo trường kỳ, dai dẳng suốt cuộc đời.

Ơn gọi tử đạo gắn liền với những ai tin vào Chúa Giêsu và muốn làm môn đệ Người.  Nếu chúng ta được sống trong một xã hội dân chủ, an bình, thì đó đây trên thế giới, vẫn còn những nhà truyền giáo bị hành hung và sát hại, vẫn có những ngôi thánh đường Công giáo bị tàn phá, vẫn còn những tín hữu không dám công khai tuyên xưng Đức tin, vẫn còn những người vì hai chữ Công giáo mà bị phân biệt đối xử.  Đây cũng là những cuộc bách hại mang hình thức mới của thời đại và những tín hữu này đang sống từng ngày chứng tá của mình một cách anh hùng.

Kính thưa Cộng đoàn,

Ngày Thánh Mẫu được tổ chức hàng năm tại Missouri đã trở thành điểm hẹn thân thương cho người Việt Nam đang sống tại Hoa Kỳ cũng như tại nhiều nước trên thế giới.  Chúng ta về đây để gặp gỡ nhau, để chia sẻ những vui buồn và nâng đỡ nhau trong cuộc sống.  Chính Đức Mẹ Maria đã quy tụ chúng ta nơi đây.  Mẹ là điểm nối kết giữa những con Dân Việt đang sống xa quê.  Về với Mẹ, chúng ta được Mẹ vỗ về ủi an.  Về với Mẹ, chúng ta có dịp kể lể tâm sự với Mẹ những băn khoăn trăn trở của cuộc sống trần gian.  Về với Mẹ, chúng ta cũng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Mẹ chiếu tỏa qua các nhân đức và sự trung thành can đảm của Mẹ.  Trong Thánh lễ kính các Thánh Tử đạo Việt Nam, chúng ta cùng nhìn lên Mẹ và ca tụng Mẹ là Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo.  Vâng, dưới chân thập giá, Mẹ đứng đó, trong suy niệm và thinh lặng, đau khổ kết hợp với của lễ của Con mình là Đức Giêsu chịu treo trên thập giá.  Mẹ là Đấng Đồng Công cứu chuộc.  Mẹ chia sẻ đau đớn và hiệp thông với Chúa Giêsu.  Mẹ cũng dâng chính bản thân mình làm của lễ lên Chúa Cha.  Mẹ xứng đáng được mang ngành thiên tuế của các vị Tử Đạo.  Về bên Mẹ trong Ngày Thánh Mẫu này, chúng ta xin Mẹ cho chúng ta được lòng cậy trông, chí can đảm và lòng tín thác nơi Chúa trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Đây bài ca ngàn trùng dâng về Thiên Chúa, bài ca thắm nhuộm máu hồng.  Nhìn Chúa đẫm máu trên đồi cao, từng đoàn người anh dũng tiến lên pháp trường.  Một bài ca đẫm máu đào.  Một bài ca hào hùng bất tận.  Bài ca ấy, chính là cuộc đời của các thánh Tử đạo Việt Nam.  Chúng ta, những tín hữu Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại, đang là những người nối tiếp bài ca đã được các ngài xướng lên, để làm vang mãi lời ca tôn vinh Chúa, ca ngợi vẻ đẹp của Giáo Hội và Quê Hương Việt Nam thân thương.

“Cha cầu chúc cho chúng con sống xứng đáng là con cháu các vị anh hùng” – lời chúc thiêng liêng của vị Thánh Giáo Hoàng luôn luôn là một lời mời gọi và là một thông điệp được gửi đến cho mỗi người chúng ta.

Xin Chúa chúc lành cho chúng con.  Xin Mẹ luôn gìn giữ che chở chúng con.  Xin các Thánh Tử đạo Việt Nam cầu bầu cho chúng con.  Amen!

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Tu Dao VN 4.jpg