CHUYỆN CÁI GIỌNG SÀI GÒN

May be an image of 2 people

CHUYỆN CÁI GIỌNG SÀI GÒN

Giọng Sài Gòn cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi.

Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định. Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất.

Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn mực của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn mực của miền Bắc. Giọng chuẩn mực tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian.

Như nói về giọng chuẩn mực của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”.

Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được.

Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế.

Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa; không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt; giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn.

Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng.

Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.

Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng. Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu.

Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu : “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười : “Ừ, dzậy anh dìa hen!”.

Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói : “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!”

“Thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên : “Hay hén mậy ?” bằng giọng điệu thoải mái.

Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”.

Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng !” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con ?”

– “Dạ, chưa !”; “Mới dìa/dzề hả nhóc ?”

– “Dạ, con mới !”

Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẵng hay.

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “hổm nay” người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê.

(Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó đẹp ghê” nghĩa là khen cô bé đó lắm vậy) Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau.

Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem. “Nhỏ đó đẹp lắm !”, “Nhỏ đó ngoan !”

Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thúy, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thúy, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Giọng nói người Sài Gòn không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước Nam Bộ, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ !” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương.

Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó : “Dzui dzữ hen !”.

Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ : “Dzui dzữ hen !” Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như : “Hay dzữuuu !”, “Giỏi dzữưưu !”

Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen”, “Thôi à !” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn.

Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền.

Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn.

Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy !” thì người Sài Gòn nói nó thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen !”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu : “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề nhìn phát bực !”

Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi: “Ê, nhóc lại nói nghe !” hay gọi người bán hàng rong : “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi !”

“Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn.

Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”.

“Cho” ở đây là mua đó nghen. Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này: “Lấy cái tay ra coi !”; “Ngon làm thử coi !”; “Cho miếng coi !”; “Nói nghe coi !”

“Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi : “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?”

– Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói: “Sao kỳ dzậy ta ?”;

“Sao rồi ta ?”; “Được hông ta ?”

Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi !”

Bài của HẢI PHAN

———

1967 street vendor downtown Saigon. Photo by Daniel P. Cotts. Ngon ghê! Chị này đúng là quán nhậu lưu động: nem, gỏi cuốn, tôm càng nướng có đủ chỉ thiếu bia. Ngoài ra cái bếp nhỏ của chị chắc chắn là dùng để làm bún bò xào. Dòm kỹ thúng bên trái có thể thấy chuôi một cái chảo nhỏ thò ra ngoài và tô thịt bò ở trên. Khi khách gọi bún bò xào, chị mới lôi cái chảo ra đặt lên bếp, xào thịt bò với hành sả rồi đổ lên tô bún với rau thơm. Mấy động tác này tới giờ tui vẫn còn nhớ bởi hồi đó tui thích đứng gần mấy chị này để “khảo sát”. Mấy cô bán bar là khách hàng số một của mấy chị. Đừng nói oan tui nhé! Tui không “khảo sát” mấy cô bán bar.

Hà Nội: Ông Trịnh Bá Phương bị công an chuyển sang viện tâm thần do “giữ quyền im lặng”

Hà Nội: Ông Trịnh Bá Phương bị công an chuyển sang viện tâm thần do “giữ quyền im lặng”

Ông Trịnh Bá Phương – một nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng hôm 22-3 được điều tra viên công an Hà Nội thông báo với gia đình cho hay, ông đã bị chuyển sang bệnh viện Tâm thần Trung ương số 1 – Thường Tín, Hà Nội để “xác minh, điều tra”.

Người nhà nghi ngờ rằng có thể lý do chuyển ông Phương đi là do ông này từng cho biết sẽ “giữ quyền im lặng cho đến khi nào gặp được luật sư”.

Bà Đỗ Thị Thu, vợ ông Phương trưa ngày 22-3 nói với phóng viên Đài Á Châu Tự Do như sau:

“Sáng nay thì em gọi cho anh Nguyễn Thế Bắc (điều tra viên thụ lý vụ án – PV) thì anh Nguyễn Thế Bắc nghe máy.


Anh ấy bảo là đã đưa chồng em đến giám định tại Viện Tâm Thần Trung Ương 1 ở huyện Thường Tín.

Họ không nói chuyển đi khi nào và hẹn gia đình em đến lấy giấy thông báo, chiều nay em sẽ đi đến lấy giấy thông báo.

Em có hỏi lý do vì sao họ chuyển chồng em đi thì bảo là để xác minh điều tra”.

Người nhà ông Phương cho biết, gia đình từng bị cơ quan an ninh điều tra công an Hà Nội triệu tập để hỏi về tiền sử của gia đình có ai bị tâm thần hay không vì ông Phương “không nhìn điều tra viên và cũng không trả lời những câu hỏi của điều tra viên”.

“Ngày 3 tháng 9 năm 2020 thì họ triệu tập em đến, họ hỏi em là: ‘Tình hình anh Phương ở nhà tâm lý có sao không và gia đình có ai bị tâm thần hay không?’

Em cũng trả lời họ là: ‘Ở nhà thì anh Phương khỏe mạnh, yêu thương vợ con và gia đình em cũng chả có ai bị tâm thần.’

Họ cũng nói rằng trong quá trình điều tra thì anh Phương không trả lời và cũng không nhìn họ, anh lấy giữ quyền im lặng!

Tháng 12 năm 2020, anh Phương cũng nhờ một người gọi điện ra cho em và người đó bảo rằng anh Phương sẽ giữ quyền im lặng cho đến khi gặp được luật sư và cũng nhắc nhở gia đình không phải nói gì hết bởi vì mình có quyền im lặng”.

PV Đài Á Châu Tự Do ngay lập tức gọi cho Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 thì người trực máy cho hay, không biết có ai tên là Trịnh Bá Phương được chuyển vào đây vì cả bệnh viện có đến 600 người bệnh.

Người này cũng cho biết, phải biết khoa bệnh nào thì họ mới có thể tìm kiếm được.

Nhà hoạt động Lê Anh Hùng – một blogger của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ VOA cũng bị chuyển vào Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 từ năm 2019, chỉ 1 năm sau khi bị tạm giam để điều tra vì cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước’.

Hồi tháng 2-2021, bạn bè đến thăm ông Hùng thì được báo là ông bị biệt giam và canh giữ trong điều kiện hết sức nghiêm ngặt.

Ảnh: Ông Trịnh Bá Phương gặp một viên chức chính trị của Đại sứ quán Mỹ trước khi bị bắt.

#RFAVietnamese #TrinhBaPhuong #VienTamthanTrunguong1 #Vietnam #Hanoi #VietnamHumanRights #WhatishappeninginVietnam

May be an image of 2 people, people standing and text

NỬA HỒN XUÂN LỘC

May be a black-and-white image of 1 person, standing and military uniform

Trại tạm giam đột ngột chuyển trại đối với ông Trịnh Bá Phương, gia đình mất tung tích

Trại tạm giam đột ngột chuyển trại đối với ông Trịnh Bá Phương, gia đình mất tung tích

RFA
2021-03-19  

Hình minh hoạ. Ba người thuộc gia đình ông Trịnh Bá Phương (từ trái qua): Trịnh Bá Tư, Trịnh Bá Phương, Cấn Thị Thêu. Họ đều bị bắt giữ vì những hoạt động đòi quyền đất đai cho người dân

 FB Nhà vườn Trịnh Bá Phương – Tư

Cán bộ Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội hôm 19-3-2021 thông báo cho gia đình của nhà hoạt động đất đai Trịnh Bá Phương rằng ông đã bị chuyển trại cách đây từ 2-3 tuần nhưng còn chuyển đi đâu thì họ không báo cho gia đình. 

Vợ ông Phương, bà Đỗ Thị Thu, bày tỏ sự lo lắng đối với phóng viên Đài Á Châu Tự Do vào chiều cùng ngày như sau:

“Hôm nay ngày 19 tháng 3 năm 2021 thì em đến Trại giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội. 

Đến nơi họ bảo anh Phương đã chuyển đi nhưng còn trại nào thì họ không biết.

Họ cũng bàn giao cho em số tiền lưu ký còn thừa là 1.500.000 (đồng). 

Như bình thường em thấy nếu mà họ chuyển trại thì họ sẽ thông báo cho người nhà, cái số tiền lưu ký này thì cũng sẽ phải theo anh Phương, nghĩa là phải đi theo tới chỗ trại mà anh Phương ở. 

Em cũng không biết là nguyên nhân tại sao họ lại chuyển chồng em đi một cách đột ngột như vậy, không biết họ có tra tấn hay là làm gì chồng em không.”

Vợ của ông Phương cũng đã gọi điện cho cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội nơi có điều tra viên Nguyễn Thế Bắc thụ lý vụ án ông Trịnh Bá Phương tuy nhiên thư ký cho biết người này đã đi công tác. 

Phóng viên Đài Á Châu Tự Do cũng gọi trực tiếp cho cơ quan này để hỏi về vụ việc, nhưng người công an nhấc máy yêu cầu phóng viên cầm giấy giới thiệu đến trực tiếp cơ quan, chứ họ “không làm việc qua điện thoại” 

Ông Trịnh Bá Phương là một nhà hoạt động vì quyền đất đai nổi tiếng tại Hà Nội. 

Ông bị bắt giữ cùng em trai là Trịnh Bá Tư và mẹ là Cấn Thị Thêu trong cùng ngày 24-6-2020 với cáo buộc tội danh “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Một người dân Dương Nội khác cũng bị bắt trong cùng một vụ việc là bà Nguyễn Thị Tâm. 

Cả 4 người đều là những người lên tiếng và đưa tin mạnh mẽ về vụ việc 3000 cảnh sát nửa đêm tấn công vào làng Đồng Tâm vào ngày 9/1/2020, bắn chết ông Lê Đình Kình, thủ lĩnh tinh thần của người dân trong việc đòi đất Đồng Sênh.

Đảng Viên Nhưng Mà Tốt

Đảng Viên Nhưng Mà Tốt

Tưởng Năng Tiến

Hơn 10 năm trước TS Vũ Minh Khương có một bài viết ngắn (“Việt Nam: Chặt Cầu Để Tiến Lên?”) với nhiều câu hỏi dài nhưng rất khó quên:

  1. Chúng ta có thấy xót xa hổ thẹn về vị thế hiện nay của dân tộc mình không?
  2. Chúng ta có thấy lo lắng cho tương lai của đất nước mình không?
  3. Nếu có cơ hội, thế hệ chúng ta có đủ sức đưa dân tộc mình đến một vị thế vẻ vang (hơn mức hiện nay rất nhiều) không?
  4. Cơ chế hiện thời có cho bạn làm được điều mà bạn hết lòng khao khát làm cho đất nước mình không?

Cách nhìn, và đặt vấn đề, của TS Vũ Minh Khương cũng khiến cho nhiều độc giả phải “động tâm” vì hiện tình của xứ sở:

“Khó khăn trong quyết định của mỗi người chúng ta hôm nay không phải là làm cách gì để đất nước tiến lên mà là làm gì để chúng ta không lùi tiếp nữa, bởi đường lùi của chúng ta còn rộng rãi thênh thang lắm.
Ông cha chúng ta để lại cho chúng ta đất đai ở vị thế đẹp và nhiều tài nguyên quí giá. Thế giới lại thương cảm chúng ta đã trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt. Thế hệ chúng ta chỉ cần cho nhượng thuê đất trong các dự án đầu tư dễ dãi, bán tài nguyên, và vay nợ quốc tế cũng đủ sống xênh xang được 20-30 năm nữa. Ta nhượng đất của ông cha làm sân golf và dân ta sẽ không thể đói nhờ nghề nhặt bóng và đánh giày.”

Sau khi bị “rút” khỏi trang Tuần Việt Nam, bài viết thượng dẫn đã được đăng lại trên diễn đàn talawas (vào hôm 13/07/2009) và nhận được khá nhiều phản hồi sôi nổi :

  • Hoài Quốc Việt: “Rất đáng khâm phục lòng quả cảm của những nhà báo chân chính, không sờn lòng trước bắt bớ, răn đe, thải hồi chức vụ đã xảy ra trước đây với các đồng nghiệp của các anh.”
  • Nguyễn Việt: “Một blog khá nổi tiếng khác từ Hà Nội cũng đăng bài này từ sáng sớm hôm nay. Sau khi tôi cảnh báo với ông bạn blogger là bài gốc bị xóa rồi, cậu ta cũng xóa ngay. Tuy nhiên hàng trăm ngàn người đã đọc đuợc trên các trang web như vậy trước lúc nó bị xóa. Kẻ thì hả hê đuợc ăn trái cấm, kẻ thì nhăn nhó hít hà vì ớt xanh cay quá.”
  • Phùng Tường Vân: “Thứ Hai là ngày mà nhiều người cho là cái “ổ gà” (pothole) của đường đời, được đọc hai bài thật thích thú: bài này của TS Vũ Minh Khương và bài “Mọi” của Duy Ngọc, mỗi bài một vẻ nhưng đầy hàm súc, rất mong được quần hào phản hồi sôi nổi.”
  • Lê Điều : “Ông sinh năm 1959, vào Đảng năm 1981 (22 tuổi), nay đã có 28 tuổi Đảng, từng giữ nhiều chức vụ không nhỏ trong bộ máy lãnh đạo chính trị và kinh tế tại Việt Nam… Một đảng viên loại một nói ra những lời ấy thì trong nội bộ ĐCSVN quả là còn có những lực lượng khác đang sôi sục!”

Vũ Minh Khương, rõ ràng, là một đảng viên nhưng mà tốt. Chỉ có điều đáng tiếc là ông không đủ can đảm để bỏ đảng chạy lấy người (như bao nhiêu nhân vật thức thời khác) nên không tốt được lâu, và cũng chả “sục sôi” được mãi!

VMK hết “cay” hay đã “nguội” tự lúc nào thì không ai rõ nhưng thiên hạ đều thấy ông “sọc dưa” từ ngày 25/01/2021, hôm mà ông trả lời phỏng vấn BBC về vấn đề nhân sự của Đại Hội 13. Xin trích dẫn đôi câu để rộng đường dư luận:

BBCCó một số học giả, nhà phân tích, và nhà quan sát chính trị Việt Nam đưa ra dự đoán, phỏng đoán về nhân sự “Tứ trụ” theo đó dự kiến đề xuất ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục giữ chức Tổng bí thư, ông Nguyễn Xuân Phúc giữ chức Chủ tịch nước, ông Phạm Minh Chính giữ chức Thủ tướng và ông Vương Đình Huệ đảm nhận chức Chủ tịch Quốc hội. Trong trường hợp đây đúng là giải pháp cho bài toán nhân sự cấp lãnh đạo cao nhất thì theo ông phương án này có hợp lý hay không?

VMK: “Tôi cho đây là một phương án rất đặc sắc, có tính gây kinh ngạc cho thế giới. Cả bốn con người này tôi đều đã gặp rồi nên tôi hiểu rất rõ. Họ đều thể hiện khá rõ về tầm hiến dâng cho sự phát triển của đất nước. Họ đều có tư duy rất thực tế và có kinh nghiệm nhiều trong công tác Đảng cũng như lãnh đạo chính quyền.

Họ đều một lòng một dạ làm gì đó để có di sản để lại về sau. Nhiều khi người ta băn khoăn lo lắng về người lên chức lãnh đạo là tích lũy tài sản hay này khác nhưng lần này thì cả bốn người đều có phẩm chất hiến dâng rất cao thì đó là điều rất đáng quý. Tôi có tham khảo ở Việt Nam thì mọi người đều đồng thuận và phấn khởi với phương án này.”

Những lời có cánh vừa ghi – tiếc thay – không được “mọi người đều đồng thuận và phấn khởi” gì cho lắm, nếu chưa muốn nói là ngược lại:

  • Phạm Minh Vũ: “Đại hội đảng cộng sản ngoài phục vụ cho mục đích cai trị của đảng, cuộc hội tụ của những cá nhân tham quyền cố vị, bất chấp mọi thứ để đạt được mục đích bằng mọi giá, thì chẳng có mục đích nào khác. Những lời lẽ có cánh như vì dân, cho dân đều là dối trá.”
  • Võ Thị Hảo : “Tôi tin rằng việc sửa giới hạn nhiệm kỳ và tuổi tác trong điều lệ Đảng là để dọn đường cho những ông Vua Đỏ của Việt Nam, nắm mọi quyền lực trong tay.”
  •  Jackhammer : “Xem bài trả lời BBC Việt ngữ của ông Vũ Minh Khương …, tôi cứ ngỡ bài của ông Võ Văn Thưởng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương của Đảng trả lời. Tất cả là một màu hồng rực rỡ!”
  • Dũng Lê Minh: “Tôi cũng đã đọc bài này trên BBC. Nói chung nền tảng tư tưởng không khác gì đồng chí Quang ‘lùn’ nhưng vì có bằng cấp lại ở cơ quan nghiên cứu của Singapore nên được BBC phỏng vấn. Trả lời trôi chảy, giọng văn ‘thánh thót’ hơn nhưng ý tưởng mang tính ‘đột phá’ có lẽ còn kém xa đồng chí Quang ‘lùn’.”
  • Nguyễn Đình Cống: “Đó chẳng qua là ngụy biện của những kẻ nịnh hót, của những bồi bút, của những người quen quỳ gối, khom lưng, cúi đầu.”

Khi chê bai hay chỉ trích Vũ Minh Khương không tiếc lời, có lẽ, không mấy ai nhớ đến tình cảnh của một vị trí thức khoa bảng khác – TS Phạm Chí Dũng.  Nhân vật này đã bỏ đảng từ lâu, hiện đang bị giam cầm bởi một bản án vô cùng khắc nghiệt chỉ vì tính tiết tháo và lòng chính trực.

Cái giá để làm một người tốt ở Việt Nam, xem chừng, hơi mắc. Do đó, khi một cá nhân quyết định lựa chọn một vị thế rẻ rúng và khiêm tốn (“quỳ gối, khom lưng, cúi đầu”) nhưng “vừa với khả năng của mình” thì chả phải là điều hoàn toàn đáng trách.

Thời gian và tuổi đời vẫn thường được ví như cái gạt tàn thuốc lá, càng đầy nó càng bẩn. Tuổi đảng lại còn bẩn hơn nhiều nên TS Vũ Minh Khương gắng gượng “tốt” được mãi đến hôm nay (tưởng) cũng đã là kỳ tích của một đảng viên cộng sản VN!

Tưởng Năng Tiến
1/2021

Một số nữ tù chính trị Việt Nam bị đày đọa hà khắc

Một số nữ tù chính trị Việt Nam bị đày đọa hà khắc

Giang Nguyễn
2021-03-19 

Bà Vũ Thị Dung và Nguyễn Thị Ngọc Sương tại Tòa án Nhân dân cấp cao thành phố Hồ Chí Minh hôm 23/9/2019.

Courtesy of FB Manh Dang

02:48/06:23

Chị Đoàn Thị Hồng, thành viên của nhóm Hiến Pháp, mãn án tù ngày 9 tháng 3 lên tiếng báo động về trình trạng sức khỏe của Tù nhân lương tâm  Nguyễn Thị Ngọc Sương.

Theo lời kể của chị Đoàn thị Hồng thì TNLT Nguyễn Thị Ngọc Sương đang thụ án tại trại giam An Phước lâu nay không được điều trị đúng mức dù bệnh nặng.

Chị thuật lại với Đài Á Châu Tự Do:

“Chị Nguyễn Thị Ngọc Sương ở chung đội với em. Hiện tại chị Sương bệnh rất là nặng, da chị rất bị vàng và mặt và chân chị bị sưng, lúc thì dẹp lúc thì sưng. Chị bệnh một năm mấy nay rồi chỉ cho chị đi khám một lần. Lúc em gần về thì em có nói với cán bộ đề xuất cho chị đi khám bệnh viện lớn, ở thành phố, thì cán bộ nói là thứ nhất, do dịch nên không đi được và thứ hai là do gần Tết nên cán bộ rất bận không đi được.” 

Tù nhân lương tâm Nguyễn Thị Ngọc Sương, 53 tuổi, bị giam từ tháng 10 năm 2018. Một năm sau, bà bị tuyên án 5 năm tù về cáo buộc “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước”.

Chị Hồng cho biết thêm:

“Ăn Tết xong thì có lẽ cán bộ biết em gần về đời rồi, cán bộ sợ em nói thông tin này ra. Ngày 9 tháng 3 em về thì mùng 8 tháng 3 họ bốc chị Sương đi khám bệnh ở tỉnh Bình Phước. Nhưng khám về rồi thì không nói chị có bệnh gì mà cứ cho uống thuốc ở bên trạm y tế. Không phải là thuốc đặc trị mà thuốc gì đó. Và hiện tại da của chị rất là vàng và hai con mắt của chị bị sưng, chân cũng sưng. Hai môi của chị bị sưng, tiếng nói không có rõ ràng nữa và cái cổ của chị bị mọc bướu”.

Chị cho biết, bà Sương vốn đã bị bệnh gan và thận.

“Nói chung là chị Sương bệnh rất nặng, mà mình nói ra thì sợ bị cho là trù ẻo người ta. Em nghĩ là chị Sương không biết có về nổi hay không.”

Tù Nhân Lương Tâm Đoàn Thị Hồng cùng con gái.Courtesy: Đoàn Thị Khánh

Cùng thời gian với chị Đoàn thị Hồng và bà Nguyễn Thị Ngọc Sương có khoảng một chục nữ tù chính trị bị giam ở trại An Phước, Bình Dương. Đội này được gọi là “đội an ninh quốc gia”.

“Rất là nhiều, có chị Dung nè, chị Dung nhỏ, chị Dung lớn, chị Vang cùng phòng ngủ với em. Khoảng 10 người”… 

Những người này trước đây lao động trong trại giam, nhưng cô Hồng kể lại từ sau Tết, đội bị xuất ra ngoài hội trường lao động ngoài nắng chang chang, mùi hôi, làm việc cực nhọc khiến bà Sương ăn cơm không nổi.

Tuy có gia đình đi thăm thường xuyên nhưng các nữ TNLT cảm thấy họ không được thế giới bên ngoài quan tâm. Chị Hồng kế:

“Trước khi em về mấy chị có nhắn nhủ với em là tâm tư nguyện vọng của mấy chị là muốn nhân quyền và Đại sứ quán vô thăm, quan tâm đến mấy chị. Bởi vì hiện tại, gia đình không để cho mấy chị cô đơn, nhưng mấy chị nghĩ là bên nhân quyền với Đại Sứ quán không quan tâm đến mấy chị. Nói chung mấy chị tủi thân. Mấy chị cũng muốn có một sự quan tâm bên nhân quyền để hỏi thăm mấy chị. ”.

Theo lời kể của những tù nhân sau khi được ra khỏi nơi giam giữ, tình trạng trong lao tù Việt Nam, nhất là đối với các tù chính trị đặc biệt khắt khe. Họ phải chịu từ tra tấn, hăm dọa đến biện pháp trừng phạt như không cho gặp luật sư, gia đình hoặc không cho phép tù nhân được khám bệnh.

Bà Grace Bùi, thành viên vận động của tổ chức The 88 Project, cho biết người cai tù dùng các chiến thuật đó để buộc tù nhân làm theo ý của mình, khiến có nhiều người đã không được điều trị bệnh và “được thả” chỉ để sau đó chết vì bệnh hoạn.

Theo hồ sơ của The 88 Project, ở Việt Nam hiện có 249 người hoạt động nhân quyền đang bị đe dọa bởi chính quyền, trong đó có 83 người thuộc phái nữ. Trong số đó, sau khi chị Đoàn Thị Hồng được thả thì hiện còn 27 nữ TNLT đang bị giam.

Bà Grace nói những phụ nữ đứng lên phải đối mặt với những thách thức riêng của phái nữ:

“Khi những người phụ nữ bị bắt như vậy thì dĩ nhiên những người cai tù hay những người làm việc trong tù sẽ rất coi thường họ. Dĩ nhiên khi một phụ nữ bị bắt như vậy thì họ có những cái sự khó khăn, như mỗi tháng khi họ bị period (kinh nguyệt) thì rất là khó khăn đòi hỏi những tấm băng vệ sinh. Thay quần áo thì bị người ta nhìn, rồi phải xa con cái thì cái sự đấu tranh của người phụ nữ ở bên Việt Nam rất là khó khăn”. 

Bà Nguyễn Thị Ngọc Sương được biết cũng có con nhỏ còn đi tuổi học. Chị Đoàn Thị Hồng là một người mẹ đơn thân, khi bị bắt, con gái dưới 3 tuổi trong một năm không được thăm mẹ.

Nhân ngày Phụ nữ Quốc tế, The 88 Project đã dành tháng 3 để lên tiếng cho các nữ TNTL, như nhà báo Phạm Đoan Trang, hai dân oan Cấn Thị Thêu, Nguyễn Thị Tâm và Facebooker Huỳnh Thị Tố Nga.

Hình minh hoạ. Bà Cấn Thị Thêu trước phiên toà xét xử ở Hà Nội hôm 30/11/2016. AFP

Bà Grace cũng cho biết, có những TNLT được nhắc đến nhiều như Phạm Đoan Trang, Cấn thị Thêu. Có những người khác thì ít ai biết đến nhưng không phải vì các tổ chức nhân quyền quên họ.

“Những người như là Huỳnh Thị Tố Nga hay là Sương mà gia đình của họ không ký giấy để chấp thuận cho Liên Hiệp Quốc thì không có ai được làm việc hết. Nhưng mà những tổ chức (nhân quyền) vẫn nêu tên những người này ra (khi đi vận động)”.

Nhiều gia đình TNLT còn phải phấn đấu với nỗi sợ hãi không biết sự lên tiếng bênh vực cho người thân của mình có bị chính quyền lợi dụng quấy rối hay ngược đãi thêm với tù nhân.

Đài Á Châu Tự Do đã tìm cách liên lạc với gia đình bà Nguyễn Thị Ngọc Sương nhưng chưa được hồi âm.

TOÀ ÁN PHÚ YÊN XỬ SƠ THẨM NỮ NHÀ BÁO VÌ “TỘI VIẾT BÁO BÔI NHỌ ĐÍT NỒI”

TOÀ ÁN PHÚ YÊN XỬ SƠ THẨM NỮ NHÀ BÁO VÌ “TỘI VIẾT BÁO BÔI NHỌ ĐÍT NỒI”

————

FB LS Nguyễn Khả Thành:

22-3-2021 XÉT XỬ NGUYÊN NHÀ BÁO TRẦN THỊ TUYẾT DIỆU

Trần Thị Tuyết Diệu sinh: 1988, trú thôn Xuân Thạnh 1, xã Hòa Tân Tây, H. Tây Hòa, tỉnh Phú Yên) Tốt nghiệp khoa báo chí và truyền thông Trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn TPHCM, từ năm 2011 đến tháng 12 năm 2017 Trần Thị Tuyết Diệu là phóng viên Báo Phú Yên.

Em bị khởi tố ở khoản 1 điều 117 Bộ luật hình sự “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tôi này thuộc nhóm tội Xâm phạm an ninh quốc gia, khoản 1 có mức hình phạt từ 05 năm đến 12 năm

Trần Thị Tuyết Diệu bị bắt ngày 22/8/2020 đã bị tạm giam gần 8 tháng. Văn phòng chúng tôi vừa nhận được Quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên sẽ xét xử theo thủ tục sơ thẩm vào sáng ngày 22/3/2021…

(Nguồn FB LS Nguyễn Khả Thành)

Thầy lang Võ Hoàng Yên trở thành ‘thần y’ ra sao?

Thầy lang Võ Hoàng Yên trở thành ‘thần y’ ra sao?

Diễm Thi, RFA
2021-03-16

Thầy lang Võ Hoàng Yên trở thành ‘thần y’ ra sao?

Ông Võ Hoàng Yên trong một lần chữa bệnh

 Photo: plo.vn

00:00/06:18

Sáng 15 tháng Ba năm 2021, ông Đỗ Thiết Khiêm, Chủ tịch UBND huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xác nhận với truyền thông trong nước rằng Công an tỉnh đang điều tra, xác minh hiệu quả chữa bệnh của Lương y Võ Hoàng Yên cho người dân địa phương hồi tháng Bảy năm 2020. Lúc đó, huyện Bình Sơn đã mời ông Yên về để chữa bệnh miễn phí cho khoảng 1.000 người nghèo bị khuyết tật vận động, câm, điếc bẩm sinh… không có điều kiện để chạy chữa.

Mười năm trước, báo Công an Nhân dân cho biết, vào chiều ngày 26 tháng Tám năm 2011, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước, ông Trương Tấn Thiệu đã tổ chức cuộc họp với lãnh đạo các sở, ngành để bàn giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho ông Võ Hoàng Yên điều trị bệnh cho nhân dân.

Tại cuộc họp này, UBND tỉnh Bình Phước hoan nghênh ông Võ Hoàng Yên chữa bệnh có trách nhiệm và có tâm với người bệnh và cộng đồng. Ông Thiệu đề nghị các ngành chức năng tham mưu đề xuất với UBND tỉnh, đặc biệt là Sở Y tế, Sở Khoa học và Công nghệ, Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật và Hội Đông y tỉnh cần nghiên cứu chủ trương, tìm ra những giải pháp cụ thể để ông Yên sớm có giấy phép hành nghề.

Tháng Năm năm 2012, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước Nguyễn Huy Phong trao tặng bằng khen cho lương y Võ Hoàng Yên nhờ những đóng góp của ông trong việc chữa bệnh cứu người cho nhân dân trong tỉnh. Đến tháng 12 cùng năm, ông Võ Hoàng Yên chính thức được công nhận là lương y và có giấy phép hành nghề.

Trong khi đó, mới hôm 10 tháng Ba năm 2021, báo Lao Động dẫn lời khẳng định của PGS-TS Nguyễn Thế Thịnh – Cục trưởng Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền thuộc Bộ Y tế rằng, “Chưa có bất kỳ một cơ sở khoa học nào về phương pháp của ông Võ Hoàng Yên có thể chữa được bệnh và bản thân ông Võ Hoàng Yên cũng chưa đăng ký ở bất kỳ đâu, chưa ai công nhận phương pháp của ông này có thể chữa được bệnh…”

Ông Thịnh cũng cho biết đang cho điều tra, đồng thời có công văn yêu cầu Sở Y tế Bình Thuận và một số Sở Y tế các tỉnh khác yêu cầu báo cáo Bộ Y tế về trường hợp này.

Tất cả những gì về ông Võ Hoàng Yên được người dân biết đến chủ yếu qua các kênh truyền thông Nhà nước. Vậy ai phải chịu trách nhiệm trong vụ việc liên quan ông Võ Hoàng Yên?

Nhà báo Minh Hải nêu ý kiến của ông:

“Vấn đề ở đây là PR không rõ ràng. Lẫn lộn giữa PR và quảng cáo. Nó nhập nhằng như thế cho nên bây giờ đổ bể ra thì chỉ vì tiền hết thôi. Tất cả là tiền hết chứ không phải lương tâm nhà báo đâu. Có tiền là mua được hết mà, có gì đâu.”

Ông Đỗ Cao Cường, từng là phóng viên báo Pháp Luật, nêu quan điểm của ông về trách nhiệm của truyền thông trong những vụ việc như ông Võ Hoàng Yên:

Trách nhiệm của truyền thông trong vấn đề này là khi họ yêu ghét theo kiểu cảm tính, họ đưa tin mà không gặp trực tiếp những bệnh nhân cụ thể. Họ tạo ra lòng tin và người dân vô tình tin theo. Bây giờ khi ông Yên bị vợ chồng ông Dũng lò vôi tố cáo thì truyền thông lại tin vào bà ấy. Vấn đề ở đây chủ yếu là do truyền thông định hướng. Nó có chỉ đạo lèo lái dư luận để người dân quên đi những vụ khác, những sự kiện quan trọng khác như vụ Đồng Tâm chẳng hạn. Muốn lên làm trưởng đại diện tòa báo thì bắt buộc phải kiếm cái hợp đồng truyền thông về cho tòa soạn.”

Tháng Chín năm 2020, một số tờ báo chính thống tại Việt Nam đã bị xử phạt hành chính với cáo buộc đưa tin sai sự thật và thực hiện không đúng tôn chỉ, mục đích ghi trong giấy phép hoạt động.

Hình minh hoạ. Một người dân đọc báo Nhân Dân trên đường phố Hà Nội. AFP

Bộ Thông tin và Truyền thông nêu ra những sai phạm như báo điện tử Dân Việt đã đưa thông tin bị cho sai sự thật trong bài viết “Khởi tố, bắt tạm giam ông Tất Thành Cang, cựu phó bí thư TP.HCM”. Vi phạm này được xác định “do lỗi kỹ thuật trong quá trình chuyển đổi hệ thống quản lý tin bài đã xuất bản tin chờ”.

Báo điện tử Tổ Quốc bị nói vi phạm đưa thông tin sai sự thật trong bài viết về hội thảo khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người sáng lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”.

Báo VnExpress bị cho đưa thông tin sai sự thật trong bài viết về lễ kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống ngành tuyên giáo của Đảng và báo Thanh Niên bị xử phạt do đưa “thông tin sai sự thật trong loạt bài viết đăng tháng 5/2020 về một số dự án đầu tư xây dựng theo hình thức BT tại Hải Phòng”.

Theo Nhà báo Võ Văn Tạo, báo chí đưa thông tin sai có nhiều nguyên nhân. Ông nói:

“Nó có rất nhiều nguyên nhân. Truyền thông mà sai lầm có khi là do cẩu thả, có khi là những sai sót, sơ hở, thậm chí có những tai nạn nghề nghiệp khó tránh.

Bà Kim Ngân hồi còn làm Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã từng gởi giấy khen cho những người tìm mộ liệt sĩ bằng ngoại cảm, tâm linh… Sau này một phóng viên của VTV làm một chương trình bóc trần sự thật trong việc tìm mộ ra. Lúc ấy cả nước mới vỡ lẽ.”

Với trường hợp ông Võ Hoàng Yên, nhà báo Võ Văn Tạo cho rằng, phóng viên không phải là những người thông thạo trong mọi lĩnh vực nên với những hiện tượng có tính chất kỳ bí thì không nên đưa tin một cách liều mạng mà phải để cho hội đồng khoa học đánh giá rõ ràng trước khi đưa tin.

Theo con số từ Bộ Thông tin và Truyền thông đưa ra vào cuối  năm 2020, Việt Nam có khoảng 840 cơ quan báo chí, gần 70 đài phát thanh truyền hình với đội ngũ nhà báo lên tới khoảng 40.000 người. Tất cả các cơ quan báo chí này đều phải chịu sự kiểm soát của nhà nước theo định hướng của Ban Tuyên giáo Trung ương. Trong quy hoạch báo chí đến năm 2025, chính phủ Việt Nam một lần nữa khẳng định báo chí là công cụ tuyên truyền, vũ khí tư tưởng quan trọng của đảng và nhà nước.

Biện pháp kiểm soát gắt gao nhằm mục tiêu nhằm khống chế, triệt tiêu những tiếng nói phản biện, đối lập; còn đối với những thông tin ‘vô thưởng, vô phạt’, cả những chuyện mê tín- dị đoan, ‘tình-tiền-tù- tội’ … lại thấy nhan nhản trên các báo chính thức được phát hành trong nước.

VÌ SAO SỰ LỪA GẠT CÓ HỆ THỐNG VẪN CỨ MỌC NHƯ NẤM Ở VIỆT NAM?

Van Pham

 VÌ SAO SỰ LỪA GẠT CÓ HỆ THỐNG VẪN CỨ MỌC NHƯ NẤM Ở VIỆT NAM?

Đỗ Ngà

Thông thường sự sáng suốt và trung thực sẽ đi đôi với nhau, và ở thái cực bên kia thì sự ngu muội và gian trá cũng thường song hành với nhau. Xã hội nào đưa sự sáng suốt và tính trung thực thành tính phổ quát cho toàn dân xã hội đó là văn minh. Còn ngược lại, xã hội nào đưa sự ngu dốt và sự gian trá trở thành tính phổ quát thì đó là xã hội mông muội. Sự văn minh không đo bằng thước đó thu nhập đầu người mà nó đo bằng những giá trị như vừa đề cập. Tuy nhiên thực tế cho thấy, thường là quốc gia giàu có thì quốc gia đó là văn minh.

Để có sự sáng suốt thì phải có tri thức, ở đây không phải chỉ là tri thức về chuyên môn. Thứ tri thức về chuyên môn nó là giá trị tạo nên của cải vật chất cho xã hội và dùng để kiếm tiền cho bản thân, nó hoàn toàn không xây dựng nên cái văn minh cho bản thân và đóng góp cho cái văn minh của cả xã hội. Văn minh là nói về vấn đề khác, đó là giá trị tích lũy tạo nên nhân cách con người, trong đó sự sáng suốt là một trong những giá trị nền tảng. Để có sự sáng suốt, điều cốt lõi là con người phải biết chấp nhận khác biệt, biết chấp nhận sự khác biệt mới nhìn vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau từ đó có niềm tin vào sự đúng đắn. Biết chấp nhận sự khác biệt là tự trong nhân cách đã hình thành tính bao dung, đấy là một giá trị nền tảng để tạo nên một xã hội nhân bản.

Để có sự trung thực thì con người phải biết tôn trọng sự thật. Nếu lỡ sai lầm thì phải dám thừa nhận. Như vậy nếu ai tập cho bản thân biết thừa nhận sai lầm thì tự trong con người đó cũng hình thành nên sự can đảm. Nếu cả xã hội biết tôn trọng sự thật mà có lòng can đảm thì ắt dân khí của quốc gia sẽ mạnh lên. Dân khí Việt Nam trăm năm vẫn chưa mạnh là dân tộc Việt Nam đang còn thiếu những giá trị như thế.

Sự ngu muội là là tin một cách thái quá vào những điều xằng bậy. Để con người tin vào những điều xằng bậy và cố chấp theo đuổi điều xằng bậy đó thì nền tảng là không biết chấp nhận sự khác biệt. Chỉ biết nghe những lời nói mùi tai rồi tự chấp nhận nó là chân lý (đối với bản thân), và với nền tảng không chịu lắng nghe nên con người ấy trượt theo niềm tin mù quáng một cách kiên định. Không biết tôn trọng chủ nghĩa đa nguyên thì con người không biết nhìn vấn đề ở nhiều góc độ, mà không biết nhìn ở nhiều góc độ thì họ không thể tìm ra sự thật. Nếu toàn xã hội mà theo một khuôn mẫu giáo dục như vậy thì xã hội ấy rất dễ bị dắt mũi bởi những trò lừa gạt, mà đặt biệt là lừa gạt có tính hệ thống thì có thể dắt mũi được toàn xã hội.

Nói đến sự lừa gạt thì sự lừa vĩ đại nhất đó chính là chủ nghĩa cộng sản. Nếu có lí trí thì con người sẽ nhìn ra ngay mục tiêu “làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu” của Karl Marx là chứa mâu thuẫn và từ đó phải biết nó là một ước mơ không tưởng. Tuy nhiên, một mục tiêu mâu thuẫn như thế nó lại nảy nở và trở thành niềm tin mãnh liệt trong những xã hội ngu muội. Đó là nền tảng để bộ máy lừa gạt khổng lồ của ĐCS vận hành trơn tru.

Trong bộ máy nhà nước CS nó chứa 2 thứ quan trọng, đó là bộ phận lừa gạt và bộ phận đe dọa. Bộ phận lừa gạt chính là ban tuyên giáo, bộ Thông tin và truyền thông và nền giáo dục nhồi sọ. Bộ phận đe dọa chính là công an và hệ thống tòa án, chính nó không xem trọng việc thực thi công lý mà xem trọng trách nhiệm bảo vệ đảng, nên thay vì nó bảo vệ dân thì nó lại là hệ thống đe dọa sự an nguy của dân. Có thể nói, nhà nước CS là bộ máy lừa gạt khổng lồ nhất mà nhân loại từng có. Nó chỉ sống được trên nền tảng một xã hội ngu muội để họ dễ dàng dắt mũi toàn dân.

Sự ngu muội của xã hội được ví như là vùng đất tốt, bộ máy lừa gạt của ĐCS được ví như là loại cây đặc thù cho loại đất đó. Với loại đất này, một khi bộ máy lừa gạt của ĐCS sống tốt thì những bộ máy lừa gạt khác cũng mọc lên và sống tốt vậy? Vì chúng cùng sử dụng một loại dinh dưỡng mà? Nếu nói cây lừa gạt CHXHCNVN là cây đại thụ trong vườn thì “Thần y Võ Hoàng Yên và đồng bọn” cũng cùng loại như vậy nhưng là cây con, vì họ cũng hành nghề lừa gạt mà? Nếu nói “Thần Y Võ Hoàng Yên và đồng bọn” sống tốt thì bọn buôn thần bán thánh kiểu “du lịch tâm linh” cũng sống tốt vậy? Vì họ cũng sống bằng trò lừa gạt lòng tin người dân chứ có khác gì nhau?! Đấy là thực tế. Như vậy nhổ “Hoàng Yên” này thì ắt sau này cũng có “Hoàng Yên” khác mọc lên, hay dẹp “Chùa Ba Vàng” thì “Chùa Tam Chúc” cũng mọc lên vậy?! Không bao giờ mảnh đất này hết những trò lừa gạt mang tính hệ thống như vậy, bởi đơn giản mảnh đất ngu muội vẫn còn đó. Cây đại thụ CHXHCNVN còn đó thì những cây cỏ dại như “Võ Hoàng Yên”, “Chùa Tam Chúc”, “Chùa Ban Vàng” sẽ mọc lên ăn hôi phần dinh dưỡng thừa của cây đại thụ này.

Như đã nói, sáng suốt và trung thực là một cặp song hành, nó thuộc về thế giới văn minh; sự ngu muội và gian trá nó cũng là một cặp song hành, nó thuộc về thế giới mông muội. Ở Việt Nam, với ngu muội là nền tảng thì không bao giờ dẹp được sự gian trá cả. Chuyện lừa đảo dựa trên sự ngu muội nó không bao giờ hết, trừ khi “chế độ lừa gạt vĩ đại CHXHCNVN” không còn./.

-Đỗ Ngà-

KÝ ỨC THÁNG TƯ ĐEN…

 

KÝ ỨC THÁNG TƯ ĐEN…

Trần Trung Đạo

Bên bờ biển Palawan

Có một em bé gái

Tuổi mới chừng lên sáu lên năm

Đang ngồi đếm từng viên sỏi nhỏ

Và nói chuyện một mình

Như nói với xa xăm

– Em đến từ Việt Nam

Câu trả lời thường xuyên và duy nhất

Hai tiếng rất đơn sơ mà nhiều người quên mất

Chỉ hai tiếng này thôi

Em nhớ kỹ trong lòng

Em chỉ ra ngoài Đông Hải mênh mông

Cho tất cả những câu hỏi khác

Mẹ em đâu?

– Ngủ ngoài biển cả

Em của em đâu?

– Sóng cuốn đi rồi

Chị của em đâu?

– Nghe chị thét trên mui

Ba em đâu?

Em lắc đầu không nói

– Bé thức dậy thì chẳng còn ai nữa

Chiếc ghe nhỏ vớt vào đây mấy bữa

Trên ghe sót lại chỉ dăm người

Lạ lùng thay một em bé mồ côi

Đã sống sót sau sáu tuần trên biển

Họ kể lại em từ đâu không biết

Cha mẹ em đã chết đói trên tàu

Chị của em hải tặc bắt đi đâu

Sóng cuốn mất người em trai một tuổi

Kẻ sống sót trong sáu tuần trôi nổi

Đã cắt thịt mình lấy máu thắm môi em

Ôi những giọt máu Việt Nam

Linh diệu vô cùng

Nuôi sống em

Một người con gái Việt

Mai em lớn dù phương nào cách biệt

Nhớ đừng bao giờ đổi máu Việt Nam

Máu thương yêu đã chảy bốn ngàn năm

Và sẽ chảy cho muôn đời còn lại

– Viên kẹo tròn này để dành cho Mẹ

Viên kẹo vuông này để lại cho Ba

Viên kẹo nhỏ này để qua cho chị

Viên kẹo lớn này để lại cho em

Còn viên kẹo thật to này… là phần Bé đấy

Suốt tuần nay em vẫn ngồi

Một mình lẩm bẩm

Ngơ ngác nhìn ra phía biển xa xôi

Như thuở chờ Mẹ đi chợ về

– Thật trễ làm sao

Em tiếp tục thì thầm

Những câu nói vẩn vơ

Mẹ ngày xưa vẫn thường hay trách móc

Em cúi đầu nhưng không ai vuốt tóc

Biển ngậm ngùi mang thương nhớ ra đi

Mai này ai hỏi Bé yêu chi

Em sẽ nói là em yêu biển

Nơi cha chết không trống kèn đưa tiễn

Nơi tiếng chị rên

Nghe buốt cả thịt da

Nơi Mẹ chẳng về dù đêm tối đi qua

Nơi em trai ở lại

Với muôn trùng sóng vỗ

Bé thơ ơi cuộc đời em viên sỏi

Khóc một lần nước mắt chảy thiên thu

Trần Trung Đạo

Gạc Ma: Trung Quốc xâm lược và thảm sát không phải chỉ là một ngày 14/3/1988 (RFA)

Gạc Ma: Trung Quốc xâm lược và thảm sát không phải chỉ là một ngày 14/3/1988
RFA.ORG

Gạc Ma: Trung Quốc xâm lược và thảm sát không phải chỉ là một ngày 14/3/1988

Việt Nam mất Gạc Ma vào tay Trung Quốc đến nay đã 33 năm, nhưng vẫn còn những điều chưa được làm sáng tỏ. Việt Nam cần làm gì để bảo vệ chủ quyền biển đảo khi Trung Quốc ngày càng hung hăng và đe dọa chiến tranh?

Diễm Thi phỏng vấn nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc, tác giả của nhiều nghiên cứu về chủ quyền biển, đảo Việt Nam về những vấn đề liên quan.

Diễm Thi: Thưa ông Đinh Kim Phúc, xin ông cho biết từ khi nào Trung Quốc có âm mưu đánh chiếm quần đảo Trường Sa?

Đinh Kim Phúc: Âm mưu đánh chiếm quần đảo Trường Sa của Việt Nam đã được Trung Quốc lên kế hoạch từ sau ngày 19 tháng Một năm 1974 (ngày Trung Quốc cưỡng chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa).

Trước tình hình đó, trong tháng Tư năm 1975, Hải quân Nhân dân Việt Nam đã mở chiến dịch Trường Sa và đánh chiếm, thu hồi năm đảo từ tay quân đội Sài Gòn gồm Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa Lớn. Việc Hải quân Nhân dân Việt Nam thu hồi và đóng giữ tại 5 đảo quan trọng này đã bước đầu ngăn chặn âm mưu thôn tính quần đảo Trường Sa của Trung Quốc.

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, Trung Quốc đã vạch một chiến lược khác để thôn tính Trường Sa và xâm lấn chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông. Thay vì chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” như đã làm ở Hoàng Sa năm 1974, Trung Quốc thực hiện chiến lược “vết dầu loang” và Việt Nam trở thành đối tượng tác chiến chủ yếu của quân đội Trung Quốc.

Diễm Thi: Theo ông, sự kiện Gạc Ma có thể gọi là trận hải chiến hay đó là cuộc thảm sát của phía hải quân Trung Quốc?

Đinh Kim Phúc: Chiến dịch CQ-88 (tên đầy đủ là Chiến dịch Chủ quyền 1988) là một chuỗi các hoạt động quân sự trên biển Đông do Hải quân Nhân dân Việt Nam tiến hành từ năm 1978 đến năm 1988 nhằm thiết lập quyền kiểm soát đối với các thực thể địa lý tại quần đảo Trường Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Chiến dịch được tiến hành trong hoàn cảnh có 6 quốc gia và vùng lãnh thổ (Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei) cùng tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và có các hành động chiếm đóng quân sự đối với một số thực thể địa lý tại quần đảo này.

Cuối tháng 12 năm 1986, Trung Quốc cho máy bay và tàu thuyền có cả tàu chiến hoạt động trinh sát, thăm dò từ khu vực đảo Song Tử Tây đến khu vực đảo Thuyền Chài. Trong khi đó, Philippines đẩy mạnh việc vận chuyển xây dựng công trình trên các đảo của họ đóng giữ (Song Tử Đông, Panatag). Cùng lúc đó ở phía nam Trường Sa, Malaysia bí mật đưa lực lượng ra chiếm đóng bãi đá Kỳ Vân, và tháng Một năm 1987, Malaysia chiếm đóng bãi đá Kiều Ngựa, làm cho tình hình thêm căng thẳng.

Trong khi đó, Hải quân Nhân dân Việt Nam vào cuối những năm 1970 và những năm 1980 còn mỏng và yếu (trong tháng Tư năm 1975, nếu như phần lớn các chiến đấu cơ của VNCH bay sang đất Thái, thì phần lớn các chiến hạm quan trọng của VNCH đã bỏ chạy sang Subic Bay của Philippines) nhưng với “Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa – một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta”, Hải quân nhân dân Việt Nam đã bảo vệ chủ quyền với tất cả những gì đang có và bằng máu của người lính biển.

Hình minh hoạ. Biểu tình phản đối Trung Quốc ở Hà Nội hôm 9/12/2012. AFP

Trận đánh giữ Gạc Ma là đỉnh điểm trong Chiến dịch CQ-88. Trong trận đánh này, Việt Nam bị thiệt hại ba tàu bị bắn cháy và chìm, ba người tử trận, 11 người khác bị thương, 70 người bị mất tích. Sau này Trung Quốc đã trao trả cho phía Việt Nam chín người bị bắt, 61 người vẫn mất tích và được xem là đã tử trận.

Việt Nam bị chiếm đảo Gạc Ma nhưng vẫn bảo vệ được chủ quyền tại các đảo Cô Lin và Len Đao cho đến nay.

Trong trận chiến ngày 14 tháng Ba, phía Trung Quốc thống kê họ đã bắn tổng cộng 285 viên đạn pháo 100 mm và 266 viên đạn pháo 37 mm, chưa kể các cỡ đạn nhỏ. Việc Trung Quốc dùng trọng pháo và súng phòng không tiêu diệt 64 chiến sĩ Công binh và Hải quân quân Việt Nam tay không đang giữ đảo là một cuộc thảm sát.

Cho đến hôm nay, 56 xương cốt của các cán bộ chiến sĩ Việt Nam vẫn nằm lại Gạc Ma, đã cho thấy bản lĩnh của các nhà lãnh đạo Việt Nam trong tình hữu nghị với Trung Quốc hiện nay.

Diễm Thi: Lệnh “Không được nổ súng” hay “không được nổ súng trước” được hiểu như thế nào, thưa ông?

Đinh Kim Phúc: Đã có nhiều tranh luận về tin đồn việc Bộ trưởng Quốc phòng lúc bấy giờ ra lệnh “không được nổ súng”?

Từng là người lính, nhưng tôi không tham gia trận đánh Gạc Ma. Với tư cách là người học lịch sử, dạy-học và nghiên cứu lịch sử, tôi chỉ nói rằng: nhìn toàn cục chiến dịch CQ-88 với những hy sinh, mất mát của những người trong cuộc, để ngày nay, Việt Nam mở rộng khu vực kiểm soát của mình lên 21 thực thể địa lý với 33 điểm đóng quân, kiểm soát một vùng nước rộng gần 100.000 km2 trên Biển Đông. Và cũng kể từ năm 1988 đến nay, Việt Nam không mất thêm một thực thể nào trên biển.

“Mệnh lệnh chiến đấu”? Hãy để các thế hệ lãnh đạo chiến dịch CQ-88 và những người trong cuộc lên tiếng. Xin đừng đứng trên bờ và ngồi trong phòng máy lạnh mà làm suy yếu niềm tin của nhân dân với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước.

Người dân tham dự buổi tưởng niệm 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam bị thảm sát hôm 14/3/1988. Ảnh chụp hôm 14/3/2013 tại Hà Nội. AFP

Diễm Thi: Sự kiện Gạc Ma phải chăng thúc đẩy tiến trình trở lại quan hệ bình thường với Trung Quốc bằng mật ước Thành Đô năm 1990?

Đinh Kim Phúc: Nếu nói chỉ một sự kiện Gạc Ma vào năm 1988 để dẫn đến tiến trình trở lại quan hệ bình thường với Trung Quốc là không đầy đủ.

Tại Đại hội lần thứ sáu của Đảng cộng sản Việt Nam, một trong những phương hướng chính về đối ngoại được thông qua đó là “sẵn sàng đàm phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, bình thường hóa quan hệ giữa hai nước”.

Cũng cần nhắc lại là tại hội nghị không chính thức giữa Trung Quốc và Việt Nam tại Thành Đô trong hai ngày ba và bốn tháng Chín năm 1990, có chín nguyên tắc được thông qua, trong đó bảy nguyên tắc về mặt quốc tế của vấn đề Campuchia và hai nguyên tắc về bình thường hóa quan hệ Việt Nam Trung Quốc.

Diễm Thi: Ông nhận định thực chất quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay ra sao, thưa ông?

Đinh Kim Phúc: Kể từ khi tuyên bố thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa vào năm 2007, 14 năm qua Trung Quốc tăng cường quấy phá, uy hiếp an ninh khu vực Biển Đông.

Trung Quốc trong các năm gần đây liên tục điều các tàu chấp pháp, dân quân biển vào các vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng bao gồm Việt Nam, quấy nhiễu hoạt động khai thác dầu khí của các quốc gia này.

Trong 14 năm qua, theo tôi, Trung Quốc có hai hành động tại Biển Đông được coi là đe dọa trực tiếp đến an ninh của Việt Nam. Thứ nhất là việc Trung Quốc kéo giàn khoan HD 981 và thềm lục địa của Việt Nam. Trong sự việc này cần phải ghi nhớ rằng Trung Quốc đã 30 lần từ chối tiếp xúc với Việt Nam. Thứ hai, tờ Hoàn Cầu Thời Báo của Trung Quốc hôm ba tháng Ba cho hay, cuộc tập trận ở vùng biển cách xa Hoa lục nhưng không cho biết rõ địa điểm, tuy nhiên tờ South China Morning Post của Hồng Kông ngày bốn tháng Ba lại cho hay, địa điểm diễn ra cuộc tập trận là đảo Tri Tôn, thuộc quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1974.

Tại sao nói chuyện Trung Quốc tập trận đổ bộ chiếm đảo tại đảo Tri tôn đầu tháng Ba năm 2021 nghiêm trọng nhiều lần hơn vụ giàn khoan HD 981 năm 2014.

Vụ HD 981 năm 2014 là Trung Quốc tìm cách “khẳng định chủ quyền lãnh thổ và hải phận quốc gia” tại khu vực đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã thất bại vì bị Việt Nam một mặt phản đối trên mặt trận ngoại giao, mặt khác đưa tàu cảnh sát biển ra ngăn cản. Biến cố này cho dư luận thế giới thấy rằng quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ “có tranh chấp” chớ không phải thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Cuộc tập trận đổ bộ ở đảo Tri tôn của quân đội Trung Quốc nhằm mục đích răn đe Việt Nam (và các quốc gia có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Trung Quốc như Đài Loan, Nhật Bản, Philippines, Malaysia). Như vậy ngoài Việt Nam, các quốc gia có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc có thể “có xung đột quân sự” với Trung Quốc từ nay đến cuối năm 2021.

Năm 2021 là năm kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng CS Trung Quốc. Năm 2022 cũng là năm Tập Cận Bình hết nhiệm kỳ Chủ tịch nước thứ hai (hai nhiệm kỳ 10 năm). Tập Cận Bình cần một dấu ấn về kinh tế hoặc quân sự để khẳng định mình, hòng tìm thêm một vài nhiệm kỳ nữa.

Diễm Thi: Với tất cả những gì Trung Quốc đã làm và đang làm với Việt Nam về Biển Đông, ông nghĩ Việt Nam nên có giải pháp gì để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ?

Đinh Kim Phúc: Trước khi bàn đến giải pháp cho vấn đề Biển Đông và chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, điều đầu tiên theo tôi, Nhà nước cần phải khẳng định và ra một nghị quyết thành lập Huyện đảo Hoàng Sa. Phải có dân, phải có chính quyền và phải có lãnh thổ vì Trung Quốc đã có cái gọi là thành phố Tam Sa. Đó là yêu cầu đầu tiên mà chúng ta phải làm cho bằng được.

Vấn đề thứ hai là vấn đề chiến lược ngoại giao của Việt Nam nói chung và Biển Đông nói riêng là vấn đề tuyệt mật của Đảng và Nhà nước. Vậy giới nghiên cứu trong nước và các học giả trên thế giới dựa trên các dữ kiện nào để đánh giá, phân tích và góp ý?

Vấn đề thứ ba là quan điểm chính thức của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay đối với Công hàm Phạm Văn Đồng như thế nào? Thừa nhận hay phủ nhận? Những giải thích trên mặt trận truyền thông là “ta nói để ta nghe” hay nói để “Tòa án Công lý quốc tế” nghe?

Vấn đề thứ tư, trong lịch sử bang giao giữa VNDCCH và Trung Quốc từ năm 1949 đến 1975, ngoài Công hàm Phạm Văn Đồng còn có thỏa thuận nào khác không?

Tại hội nghị không chính thức ở Thành Đô vào tháng Chín năm 1990, ngoài chín nguyên tắc thỏa thuận để giải quyết vấn đề Campuchia và bình thường hóa quan hệ Trung-Việt, còn có thỏa thuận nào khác không để giải quyết vấn đề Hoàng Sa và vấn đề Trường Sa?

Nếu không có câu trả lời cho bốn vấn đề trên thì Việt Nam chỉ còn cách căng mình ra đối phó với Trung Quốc mà không chỉ ngày một ngày hai. Và vấn đề kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế sẽ không bao giờ xảy ra.

Diễm Thi: Cảm ơn ông đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn này.  

BỨC THƯ CON GÁI ÔNG BÙI VIẾT HIỂU GỬI BỐ.

  May be an image of 1 person and text that says '"Đời người chỉ có một lần chết, hãy để cho bố chết vì dân vì làng. Chết vinh còn hơn sống nhục" lời ông Bùi Viết Hiểu nói với con gái ông'

Ông Bùi Viết Hiểu 76 tuổi, bị y án16 năm tù giam trong vụ án cướp đất Đồng Tâm. Nếu còn sống đến ngày mãn hạn tù, ông sẽ 92 tuổi. Tòa đã lờ đi tất cả chứng cứ thuyết phục của các luật sư, chứng minh toàn thể dân Đồng Tâm vô tội nhưng tòa vẫn xử án nặng nề.

 ***

BỨC THƯ CON GÁI ÔNG BÙI VIẾT HIỂU GỬI BỐ.

Bố kính yêu của con. Nếu có kiếp sau con vẫn muốn được làm con của bố. Bố là người đàn ông tuyệt vời nhất trong đời này mà con từng gặp. Con biết giờ đây bố đang phải gánh chịu những nỗi đau về thể xác lẫn tinh thần. Bố là một người lính thương binh kiên cường không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù gian ác. Trừ khi họ dùng mưu hèn kế bẩn, bộ não bị điều khiển không làm chủ được bản thân sẽ biến mình thành một người khác, nói ra những lời không đúng với lương tâm mà bố đang nghĩ , đang làm và đang phải chịu đựng.

Con tin ở bố. Dân Đồng Tâm tin bố , dân oan cả nước tin bố. Một cán bộ về hưu nghèo xác xơ. Một đảng viên từ bỏ lối sống của đảng. Một anh thương binh cống hiến cả tuổi xuân để đổi lại bình yên cho đất nước.

Vậy mà lại bị chính quyền nhà nước tiêu diệt, vì bất đồng chính kiến, giúp dân đòi lại đất đai mà chính quyền đã cướp. Xã hội này tàn ác lắm. Họ sẽ tiêu diệt hết những người tài giỏi. Và bố cũng không phải ngoại lệ của họ.

Bố đã từng nói đời người chỉ có một lần chết , hãy để cho bố chết vì dân vì làng. Chết vinh còn hơn sống nhục. Các con đừng ngăn cản bố. Con đường bố chọn bố sẽ chịu chách nhiệm vì nó. Nên mọi người đừng lo cho bố.

Lời nói ấy văng vẳng bên tai con. Và rồi cái gì đến sẽ đến. Dù sau này bản án có như thế nào chúng con cũng vẫn ngẩng cao đầu và tự hào về bố. Bố mãi mãi là người hùng trong lòng chúng con. Chúng con yêu bố nhiều lắm. Trọn kiếp này chúng con vẫn làm con của bố.

Con gái ông Bùi Viết Hiểu

Nguồn: FB Nhung Cao

Hình: Internet