Việt Nam đang sử dụng công nghệ mới để theo dõi, quấy rối công dân

 

 Báo cáo về tình hình thực hiện nhân quyền quốc gia lần thứ 45 của Bộ Ngoại giao Mỹ nêu rõ Chính phủ Việt Nam đang áp dụng một loại các biện pháp hạn chế quyền tự do internet. Các biện pháp đó gồm kiểm duyệt nội dung trực tuyến, ngăn chặn các website trong nước và nước ngoài bị cho không phù hợp; hạn chế và làm gián đoạn quyền truy cập vào internet, bắt giữ và áp đặt các bản án hình sự đối với những người đăng tải những thông tin chỉ trích Chỉnh phủ hoặc bày tỏ quan điểm khác biệt trên internet. Đặc biệt, báo cáo cũng chỉ ra rằng, Chính phủ Việt Nam đang “dày công” kiểm soát thông tin cá nhân và việc sử dụng internet hàng ngày của người dân.
Việt Nam đang sử dụng công nghệ mới để theo dõi, quấy rối công dân
RFA.ORG

Việt Nam đang sử dụng công nghệ mới để theo dõi, quấy rối công dân

Một trong những xu hướng nhân quyền mà Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken nêu ra tại buổi công bố Báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền thế giới của Bộ Ngoại giao Mỹ hôm 30/3  là việc các chính phủ độc tài đang sử dụng những c….

Một trong những xu hướng nhân quyền mà Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken nêu ra tại buổi công bố Báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền thế giới của Bộ Ngoại giao Mỹ hôm 30/3  là việc các chính phủ độc tài đang sử dụng những công nghệ mới để theo dõi, quấy rối công dân và truyền bá những thông tin sai lệch trong nước và nước ngoài. Tình hình này được phản ánh rõ nét trong phần trình bày về Việt Nam của báo cáo.

Theo dõi chặt chẽ người dân sử dụng internet

Báo cáo về tình hình thực hiện nhân quyền quốc gia lần thứ 45 của Bộ Ngoại giao Mỹ nêu rõ, Chính phủ Việt Nam đang áp dụng một loại các biện pháp hạn chế quyền tự do internet. Các biện pháp đó gồm kiểm duyệt nội dung trực tuyến, ngăn chặn các website trong nước và nước ngoài bị cho không phù hợp; hạn chế và làm gián đoạn quyền truy cập vào internet, bắt giữ và áp đặt các bản án hình sự đối với những người đăng tải những thông tin chỉ trích Chỉnh phủ hoặc bày tỏ quan điểm khác biệt trên internet. Đặc biệt, báo cáo cũng chỉ ra rằng, Chính phủ Việt Nam đang “dày công” kiểm soát thông tin cá nhân và việc sử dụng internet hàng ngày của người dân.

“Chính phủ cấm truy cập trực tiếp vào internet thông qua các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và yêu cầu họ cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và không gian làm việc cho các nhân viên an ninh để họ có thể giám sát các hoạt động internet. Bộ Công an từ lâu đã yêu cầu các “đại lý internet”, bao gồm cả các quán cà phê internet, đăng ký thông tin cá nhân của khách hàng, lưu trữ hồ sơ các trang web mà khách hàng truy cập và tham gia vào các cuộc điều tra của chính phủ về hoạt động trực tuyến. Các quán cà phê internet tiếp tục cài đặt và sử dụng phần mềm được chính phủ phê duyệt để theo dõi các hoạt động trực tuyến của khách hàng” – báo cáo viết.

Tại một quán cafe internet ở Việt Nam. Ảnh AFP

Báo cáo cũng cho biết Chính phủ Việt Nam đã tiếp tục gây áp lực với Facebook và Google, yêu cầu họ xóa các “tài khoản giả” và các  thông tin “độc hại” trong đó có các tài liệu chống Nhà nước.

“Vào tháng 10/2019, Bộ Thông tin và Truyền thông thông báo Google đã gỡ bỏ gần 8.200 video clip, YouTube chặn 19 kênh YouTube, và Facebook đã chặn gần 2.500 liên kết, 249 tài khoản giả mạo và 249 liên kết nói xấu Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ.” – báo cáo cho biết và thêm rằng Bộ Quốc phòng Việt Nam đã xây dựng hẳn một đơn vị, có tên gọi là Lực lượng 47, để tìm kiếm những thông tin sai lệch và hoạt động tuyên truyền chống phá Nhà nước.

Đối xử phi nhân tính với tù nhân chính trị

Một vi phạm nhân quyền nghiêm trọng khác được báo cáo chỉ ra đó là tình trang đối xử phi nhân tính đối với tù chính trị, trong đó có việc hạn chế khẩu phần ăn, cung cấp thức ăn bẩn hay đơn giản chỉ là cố tình giam giữ tù nhân xa nhà.

“Khẩu phần ăn của tù nhân chính trị dường như hạn chế hơn so với những người khác. Các cựu tù nhân chính trị cho biết họ chỉ nhận được hai bát cơm nhỏ và rau hàng ngày và những thức ăn này thường trộn với các vật lạ như côn trùng hoặc đá. Người thân của nhiều nhà hoạt động bị cầm tù đã hoặc đang bị bệnh, cho biết, điều trị y tế là không đầy đủ và dẫn đến các biến chứng sức khỏe lâu dài”– báo cáo viết.

Báo cáo cũng đưa ra ví dụ về trường hợp người nhà của tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Đức Độ đã phải gửi đơn đến Trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai cáo buộc rằng, những người bảo vệ nhà tù đã hành hung ông Độ, bắt ông vào biệt giam, cho ông thức ăn trộn lẫn với chất thải của người và yêu cầu trại giam chấm dứt tình trạng đối xử phi nhân tính này.

“Chính quyền nhà tù cũng thường giam giữ tù nhân chính trị ở nơi xa nhà, khiến cho gia đình họ khó thăm viếng và cũng không thường xuyên thông báo cho người thân của họ khi chuyển họ đến một trại mới” – báo cáo cho biết và đưa ví dụ  vợ ông Võ Thượng Trung khi đến thăm chồng tại một nhà tù ở tỉnh Đồng Nai vào ngày 27/2/2020 thì mới biết ông Trung đã được chuyển đến Trại giam Gia Trung, tỉnh Gia Lai, cách đó gần 540 km. Một ví dụ khác là nhà hoạt động Nguyễn Tường Thụy vốn sinh sống và bị bắt tại Hà Nội thì được chuyển đến Thành phố Hồ Chí Minh để giam giữ vào tháng 5/2020.

“Chính quyền Biden-Harris sẽ nhân đôi nỗ lực của chúng tôi để hỗ trợ các nhà báo, những người bảo vệ nhân quyền, các nhà hoạt động chống tham nhũng, các nhà tổ chức công đoàn và những người ủng hộ khác trên khắp thế giới, những người hy sinh mọi thứ để  bảo vệ nhân quyền” – Trích phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Anthony Blinken tại buổi công bố Báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền thế giới ngày 30/3/2021.

Xét xử không công bằng

Theo báo cáo, tình trạng thiếu công bằng trong xét xử  và sự thiếu độc lập của cơ quan tư pháp, những rào cản đối với luật sư vẫn là những vấn đề nghiêm trọng ở Việt Nam.

“Thẩm quyền của Đảng đặc biệt nổi bật trong các vụ án cấp cao khi chính quyền buộc tội một người với tội tham nhũng, thách thức hoặc gây tổn hại cho Đảng hoặc nhà nước, hoặc cả hai. Các luật sư bào chữa thường xuyên phàn nàn rằng, trong nhiều trường hợp, có vẻ như các thẩm phán đã quyết định tội danh trước khi phiên tòa diễn ra” – báo cáo viết và cũng cho hay việc chính quyền gây áp lực đối với luật sư, không cho họ bào chữa cho các nhà hoạt đông tôn giáo, dân chủ hoặc trừng phạt họ vì các hoạt động này tiếp tục được ghi nhận.

Cơ quan điều tra khám xét văn phòng làm việc của luật sư Trần Vũ Hải. Ảnh nguoiduatin/ RFA biên tập

“Tiếp tục có những báo cáo đáng tin cậy rằng chính quyền gây áp lực buộc các luật sư bào chữa không bào chữa cho các nhà hoạt động tôn giáo hoặc dân chủ và đặt câu hỏi về động cơ của họ để làm như vậy” – báo cáo khẳng định đồng thời cho biết chính quyền cũng hạn chế, sách nhiễu, bắt giữ và loại bỏ các luật sư nhân quyền đại diện cho các nhà hoạt động chính trị mà điển hình là vụ việc kết  tội luật sư Trần Vũ Hải vợ ông vì tội chiếm đoạt thuế vì ông đề nghị được bào chữa cho nhà hoạt động Trương Duy Nhất.

“Ví dụ là vụ Luật sư Trần Vũ Hải. Ngày 21/2, tòa phúc thẩm tại Khánh Hòa giữ nguyên mức án tù đối với luật sư Trần Vũ Hải và vợ bị kết án từ tháng 11/2019 đến 12 đến 15 tháng tù về tội ‘trốn thuế’. Những cáo buộc đó được đưa ra vào tháng 7/2019 để Bộ Công an từ chối yêu cầu bào chữa cho nhà hoạt động bị cầm tù Trương Duy Nhất của ông Hải. Họ cũng cho phép công an khám xét văn phòng của ông Hải và tịch thu các tài liệu nhạy cảm liên quan đến việc bảo vệ các nhà hoạt động nhân quyền, trong đó có ông Trương Duy Nhất”- báo cáo viết.

“Những quốc gia nơi sự bất đồng quan điểm được hoan nghênh, nơi các quan chức tham nhũng và lạm dụng bị trừng phạt, nơi luật lao động được tôn trọng, nơi mọi người thuộc mọi thành phần đều có khả năng tiếp cận và cơ hội bình đẳng – những quốc gia đó có nhiều khả năng hòa bình, thịnh vượng và ổn định. Họ ít có khả năng rơi vào xung đột hơn. Họ có nhiều khả năng có nền kinh tế đang phát triển và trở thành thị trường cho hàng hóa và dịch vụ của chính chúng ta” – Trích phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Anthony Blinken tại buổi công bố Báo cáo thường niên về tình hình nhân quyền thế giới ngày 30/3/2021.

Đồng Tâm – hội tụ những bất thường về tố tụng

Vụ việc Đồng Tâm không chỉ được báo cáo đưa ra như một ví dụ về sự đụng độ giữa người dân địa phương và chính quyền về vấn đề thu hồi đất đai không thỏa đáng, dẫn đến bạo lực mà còn nhiều lần được đề cập làm ví dụ về “những bất thường nghiêm trọng” trong quá trình xét xử, tố tụng tại Việt Nam. Bất thường được nhìn thấy ở nhiều góc độ, từ những thủ thuật tra tấn bị cáo đến việc ngăn cản người nhà và luật sư bào chữa thực hiện những quyền hợp pháp của họ.

Phiên toà xử 29 người dân Đồng Tâm ở Hà nội ngày 7/9/2020. Ảnh: congluan.vn

“Một trong những người dân làng Đồng Tâm bị bắt giam và sau đó được thả sau cuộc đụng độ ngày 9/1/2020 cáo buộc rằng các thẩm vấn viên của Bộ Công an đã tra tấn nhiều người trong số 29 bị cáo bằng nhiều cách khác nhau, kể cả điện giật, dí thuốc lá làm cháy da ở nhiều vùng trên cơ thể, trấn nước, và các phương pháp khác không để lại dấu vết vật lý” – báo cáo cho biết.

Cũng theo báo cáo, trong thời gian diễn ra phiên tòa sơ thẩm xét xử 29 người dân Đồng Tâm vào tháng 9/2020, các lực lượng an ninh đã ngăn không cho người dân Đồng Tâm, người nhà của các bị cáo và các nhà hoạt động nổi tiếng rời khỏi nhà của họ. Tại phiên tòa một số quyền của bị cáo và luật sư đã không được bảo đảm. Ví dụ theo luật pháp Việt Nam, bị cáo có quyền trao đổi với luật sư nếu họ đang bị xét xử về tội hình sự có thể dẫn đến bản án 15 năm hoặc lâu hơn nhưng các luật sư bào chữa tại phiên tòa xét xử vụ việc Đồng Tâm cho biết “ban đầu công an đã ngăn cản họ nói chuyện với thân chủ và chỉ cho phép họ làm vậy sau nhiều lần yêu cầu và có đơn chính thức gửi đến tòa án.”

Và tình trạng chính quyền lạm dụng sử dụng các video clips để thao túng phiên tòa cũng như cảm nhân của công chúng về nghi phạm và vụ án trong các phiên tòa ở Việt Nam cũng được sử dụng tại phiên tòa xử sơ thẩm 29 người dân Đồng Tâm.

Trong phiên tòa xét xử 29 người dân thôn Đồng Tâm vào tháng 9/2020, công tố đã phát nhiều video clip trong đó các bị cáo tỏ ra thú nhận về những tội danh đã gây ra cho họ. Luật sư tư vấn pháp lý cho các bị cáo đã phản ánh trên mạng xã hội rằng video bóp méo các bị cáo – những người đã bị ép phải thú nhận trên video” – báo cáo cho biết. 

Hoa Cứt Lợn – Tưởng Năng Tiến

Hoa Cứt Lợn – Tưởng Năng Tiến

Tôi ít học và lười đọc nên mãi đến năm 2011 mới được nhà văn Vũ Thư Hiên giới thiệu cho tập Tùy Tưởng Lục của Ba Kim. Qua tác phẩm này, tôi lại biết thêm một người cầm bút (danh tiếng) khác của đất nước Trung Hoa – Lão Xá.

Ông cũng là một nạn nhân bi thảm trong cuộc Cách Mạng Văn Hoá. Cứ theo như  lời của Ba Kim thì Lão Xá đã “ngậm hờn mà chết.” Ông trầm mình vào ngày 24 tháng 4 năm 1966, với lời trối trăn (“Tôi yêu nước ta lắm chứ, thế nhưng ai yêu tôi?”) khiến ai cũng cảm thấy ngậm ngùi.

Nỗi đắng cay của Lão Xá cũng khiến tôi nhớ đến đôi lời cay đắng (khác) nghe được ngay sau khi Chiến Tranh Việt Nam vừa chấm dứt:

Gần nhà tôi có cụ Lập, hơn bảy chục tuổi, thổi clarinette dàn nhạc cung đình của Bảo Đại, cùng dàn nhạc theo cách mạng, đánh Pháp rồi tập kết ra Bắc… Sống một mình. Nghèo, đói…

Bây giờ, tôi mau mắn mừng cụ sắp được đoàn tụ gia đình. Nhưng cụ nắm tay tôi:

– Cảm ơn ông, đoàn với ai, tụ với ai? Vợ con chưa biết hiện ở đâu, đi theo nhà khác mất rồi có khi. Họ hàng thì chết trong Tết Mậu Thân… Tôi về đó vẫn lại trơ làm thằng tập kết đợt hai trơ trọi một mình… Ra đi để thống nhất đất nước, bây giờ ai thống nhất với thân già tôi? (Trần Đĩnh. Đèn Cù II. Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Cụ Lập, tất nhiên, không phải là người duy nhất sống “nghèo đói” và “trơ trọi một mình” như thế. Tôi còn biết thêm nhiều ông cụ nữa, cũng rơi vào hoàn cảnh bẽ bàng (và lỡ làng) tương tự:

“Điển hình nhất là ông Đốc Huệ và ông Đốc Thỉnh của tỉnh Bến Tre. Một học giả uyên thâm có bằng cử nhân Văn chương Pháp thời Pháp thuộc có được mấy người. Nếu ở lại với Pháp thì ông đã vinh thân phì da vào hạng nhất Nam kỳ, nhưng ông đã đem cả gia đình đi kháng chiến. Ra Bắc về Nam hai lần. Khi hiệp ước Hòa Bình 54 được ký kết ông Thỉnh bị bỏ quên…

Riêng ông Mười Huệ chủ tịch tỉnh Bến Tre chín năm liền, ra Bắc được phong cho chức Thư ký của Hội Việt Pháp Hữu Nghị ở đường Lý Thường Kiệt và được cho ở trong một cái garage tồi tàn dột nát đầy sách nát của Tây vứt lại trước khi chúng chuồn. Ông Mười có bệnh cánh tay phải, không được săn sóc, không có cả bếp để nấu cơm phải đi ăn vất vưởng ở hợp tác xã bữa có, bữa không hoặc bằng những ổ bánh mì nguội nài nỉ mua bằng những hào bạc hiếm hoi còn sót lại của tháng lương chết đói.

Ngồi viết những dòng này tôi còn trông thấy ông trên những nẻo đường kháng chiến của Ba Tri, Giồng Trôm, Tán Kế mà tôi kính yêu như một thần tượng. Ôi kháng chiến mà chi. Anh dũng mà chi. Thành Đồng Đất Thép để làm gì? Tất cả đều đút vào mồm con sói mặt đỏ Bắc kỳ tên là Hồ Chí Minh thôi. Một tên sát nhân, một thằng bịp lớn nhất lịch sử Việt Nam.” (Xuân Vũ & Dương Đình Lôi. 2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi. QII. California: Xuân Thu, 1998).

Tôi hoàn toàn chia sẻ cái tâm cảm uất hận của nhà văn Xuân Vũ. Tuy thế, tôi e rằng ông không được hoàn toàn khách quan khi mang hết đám dân miền Nam tập kết bỏ chung vào … một rọ để cho “một thằng bịp lớn nhất lịch sử Việt Nam” lạm dụng. Thực tế thì cũng có kẻ này, kẻ nọ, chớ Bác và Đảng đâu có bạc đãi tất cả mọi người.

Gần đây, trên trang Vietnamnet (đọc được vào hôm 13/05/2020) Ths Vũ Thị Kim Yến có những ghi nhận như sau :

Đến năm 1975, hơn 15.000 học sinh miền Nam được đào tạo qua bậc đại học và sau đại học ở các trường đại học trong và ngoài nước. Phần lớn các “hạt giống đỏ” mà Bác Hồ, Đảng ta và nhân dân miền Bắc gieo trồng ngày nào đã nẩy mầm thành những cây vạm vỡ, vững chắc.

Trong số này, có 6 ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TƯ Đảng; 18 nguyên ủy viên TƯ Đảng, 3 Bí thư Tỉnh ủy; 18 Thứ trưởng và Chủ tịch tỉnh…

Điển hình như nguyên Phó Chủ tịch QH Trương Quang Được, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm UB Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Trần Thị Thanh Thanh, nguyên Bộ trưởng Văn hoá Nguyễn Khoa Điềm, nguyên Trưởng Ban Nội chính TƯ Nguyễn Bá Thanh…

Nhiều học sinh miền Nam trở thành lãnh đạo cấp cao trong lực lượng công an, quân đội như Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn, Thượng tướng Trương Quang Khánh, Trung tướng Bùi Quang Bền…

Đặc biệt, hiện tại, nhiều học sinh miền Nam vẫn đang đảm nhận những trọng trách rất quan trọng của đất nước như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình, Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân, Chánh án TAND tối cao Nguyễn Hòa Bình…

Không ai chối cãi được rằng có những hạt giống đỏ miền Nam mà Bác và Đảng gieo trồng nay đã đơm bông. Chỉ có điều đáng tiếc lại là loại hoa hôi. Tuy đều “đảm nhận những trọng trách rất quan trọng của đất nước nhưng những nhân vật thượng dẫn đều không thực hiện được một thành quả nào ráo, ngoài những lời lẽ mị dân hoặc những câu tuyên bố ngây ngô hay sáo rỗng:

Nguyễn Thiện Nhân: “Đến năm 2010, giáo viên sống được bằng lương.”

Nguyễn Xuân Phúc: “Hợp tác xã là con đường để đưa nhân dân đến gần hơn với lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa xã hội.”

Nguyễn Bá Thanh: “Sắp tới tôi sẽ rà một số cái, cho hốt liền, khỏi nói nhiều.”

Nguyễn Hòa Bình: “Nếu không có đủ căn cứ chứng minh là tội nặng thì phải quyết có tội nhưng tội nhẹ.”

Nguyễn Khoa Điềm: “Bây giờ tôi chỉ còn chường cái mặt tôi ra trong thơ.”

Gọi họ là những tinh hoa của miền Nam trong đám người tập kết thì (nghe chừng) không ổn. Về hạn từ này, dịch giả Phạm Nguyên Trường đã rất cẩn thận khi dụng bút: “Nghĩa của từ ELITE: the richest, most powerful, best-educated, or best-trained group in a society cho nên nếu luôn luôn dịch là TINH HOA thì e rằng không đúng.” Vẫn theo lời ông thì có lắm kẻ chỉ đáng gọi là thuộc giới ăn trên ngồi trốc.

Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là  những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!

Tưởng Năng Tiến

03/2021

 

TẦNG ĐỊA NGỤC – Uyên Nguyên

 No photo description available.

   

TẦNG ĐỊA NGỤC – Uyên Nguyên

Nơi Gặp Gỡ Không Hẹn Mà Ðến:

Ðiểm gặp gỡ không hẹn mà đến của nhóm “Ngụy Quân Ngụy Quyền Sài Gòn ” thoạt tiên là Trại Cải Tạo Long Thành, tọa lạc tại Long Thành Tỉnh Ðồng Nai do Ủy Ban Quân Quản quản lý . Sau trở thành Trải Tạo 15 NV do Bộ Nội Vụ quản lý.

Sáng ra, chúng tôi mới định thần và chuẩn bị tinh thần cho một sống đổi đời bắt đầu. Tôi được phân bổ ở nhà 6. Ðội trưởng Ðội 3 là Phạm Ngọc Cửu. Nhà Trưởng là Trần Tấn Toan.

Ngày đầu đến trại chúng tôi nhận diện được những nhân vật có tên tuổi sau đây:

Về phía đảng phái gồm có Nghị Sĩ , LS Trần Văn Tuyên, Vũ Hồng Khanh…

Về phía Nghị sĩ , có Trần Tấn Toan, nguyên trước là chủ tịch Hội Ðồng Tỉnh Gia Ðịnh.

Về phía dân biểu có Ông Nguyễn Bá Lương, chủ tịch hạ Viện, Quốc Hội Ðệ Nhị Cộng Hòa, Dân biểu Lê Minh Ðăng, Khiếu Thiện Kế, Trần Ngọc Châu….

Về phía toà án thì có rất nhiều Chánh Án, Biện Lý, Dự Thẩm các toà án ở Sài Gòn và các tỉnh ở Miền Nam Việt Nam. Trong đó có những ông chánh án mà người viết biết tên, biết mặt như ông Trần Ðại Khâm, Nguyễn Cần (tức Tú Gàn), Ðào Minh Lượng, Nguyễn Ðắc Trọng, Ngô Văn Cân, Biện Lý Trần Thành Ðô, Dự Thẩm Nguyễn Thành Hương, Trần Cẩm Tựu, Phạm Minh Tâm, Hoàng Phùng Võ, Dương Lân, Ðặng Xuân Nhẫn, Nguyễn Công Ðàn ( tục là “Bò Ðàn” , tiếng chúng tôi hay gọi thân thiết vì anh ta phụ trách giữ mấy con bò cho trại) , Trần Gia Tá, Cao Quãng Chơn…. .

Về phía Phó Tỉnh Trưởng Hành Chánh : Phạm Ngọc Cửu ( Bình Thuận); Nguyễn Thanh Sử ( Bình Tuy, Trần Huỳnh Thanh, Nguyễn Văn Thích ( Bình Ðịnh); Nguyễn Chí Vy ( Quảng Ngãi ) Nguyền Văn Hoàng (Phú Yên) và còn nhiều phó tỉnh trưởng hành chánh khác nữa mà tôi quên tên và nơi phục vụ rồi.

Về phía hành chánh cao cấp : Kỹ sư Dương Kích Nhưởng, Phó Thủ Tướng; Lê Văn Trường, Bộ Trưở ng Tài Chánh; Nguyễn Văn Chi, Tổng Giám Ðốc Trung Tâm Chuẩn Chi- Bộ Tài Chánh; Bùi Hữu Tiể n, Tổng Giám Ðốc Ðiền Ðịa; Trần Huỳnh Châu, Tổng Thư Ký Bộ Nội Vụ; Nguyễn Văn Tương, Ðặc Ủy Trưởng Hành Chánh, Kỹ Sư Ngô Trọng Anh, Cưụ Tổng Trưởng Công Chánh Nội Các Nguyễn Cao Kỳ, Kiến Trúc Sư Ngô Viết Thụ, Ông Phạm Trọng Nhân, cựu Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Lào và các Phó Tổng Giám Ðốc Thuế Vụ, Kế Hoạch thuộc các Bộ nữa mà tôi quên mất tên rồi. Ngoài ra còn có rất nhiều Giám Ðốc Nha Sở thuộc Hành Chánh Trung Ương, một số Quận Trưởng các Quận như Trung Tá Kiều Văn Út mà người viết biết mặt, biết tên và cũng như các Ty, Sở Trưởng, Phó Quận Hành Chánh thuộc hành chánh địa phương, các tỉnh thành cũng có mặt trong nhóm này.

Về phía cảnh sát thì ngoài những cấp chỉ huy cảnh sát trung ương như Thiếu Tá Ðoàn Ðình Từ,Trung Tá Phấn Bộ Tư Lệnh Cách Sát Quốc Gia… còn có một số Trưởng Ty Cảnh Sát điạ phương mà người viết được biết như Trung Tá Phan Trần Bảo… và còn nhiều người nữa, lâu quá quên tên.

Ngoài ra cũng có một số nhân viên thuộc Trung Ương Tình Báo, Thiên Nga…

Những nhân vật này lần lược được chuyển trại dưới hình thức mà chúng tôi gọi là Bao Bố . Ở đây tôi xin mở một dấu ngoặc để giải thích tại sao có tên là Bao Bố. Những đợt chuyển trại lớn, đông người thường xảy ra trong đêm khuya để dễ bề kiếm soát an ninh lộ trình , người ngoài không ai hay biết. Ðợt chuyển trại đầu tiên đi ra Bắc gọi là Bao Bố I vì sau khi có lệnh tập trung trong đêm khuya, và gọi tên từng người rồi sau đó trao cho mỗi người môt cái bao bố đựng gạo để bỏ hành trang đi tù vào. Ðợt chuyển trại nầy gồm những nhân vật cao cấp trong chính phủ cũng như trong hàng ngũ đảng phái, cảnh sát, trung ương tình Báo…. Ðợt di chuyến ra Bắc lần thứ hai được gọi là Bao bố II đa phần gồm những giám đốc, nha sở thuộc trung ương. Ðể trấn an các trại viên cũng như để bảo dảm an ninh lộ trình, Ban Chỉ Huy Trại đã động viên tất bằng cách nói láo rằng các anh được di chuyển đến những địa điểm học tập an toàn hơn. Nếu có người thắc mắc hỏi có phải chuyển đi Bắc không thì được cán bộ trấn an bằng cách trả lời không thật là các anh sẽ được đưa về miền Nam như Rừng Ðước, Năm Căn… Nhưng thật tình là xuống tàu ra Bắc cải tạo mút mùa lệ thủy.

Sau hai đợt chuyển trại ra Bắc, Trại chỉ còn độ 250 trại viên. Chúng tôi được tái phân bổ lực lượng lao động và tôi đã được công tác trong tổ Vệ Sinh cho đế n ngày chuyển lên trại Xuyên Mộc Ðồng Nai và tiếp lao động cải tạo trong Ðội trồng trọt, rồi tiếp đến là Ðội Văn Nghệ cho đến khi “ học tập tiến bộ” đượ c trại xét tha về vào cuối tháng 8 năm 1989.

Trong thời gian đầu học tập chính trị, chúng tôi có dịp học chung với những chịnh trị gia quen thuộc. Trong đó phải kể đến LS Trần Văn Tuyên, Vũ Hồng Khanh . Không biết mấy ông này trình diện vì lý do gì . Chắc thuộc đảng phái thì phải. Nghe nói Luật Sư Tuyên vì liên hê đến bà vợ nhỏ nên bị kẹt lại và đi tù luôn. Nhiều chánh khách, nhà ngoại giao, hành chánh cao cấp cũng đã rơi vào trường hợp này, hối không kịp vì đã vào rọ rồi. Ngày trở về còn xa lắm nếu không muốn nói là bỏ thây nơi những trại giam nổi tiếng là hắc ám nhất ở miền Bắc. Ls Trần Văn Tuyên là một điển hình. Tôi còn nhớ khi lên lớp học chính trị, sau khi giảng xong bài , cán bộ giảng huấn kêu Ls Trần Văn Tuyên đứng dậy và dùng lời lẽ thô bạo để mắng chưởi ông ta. LS Tuyên đã nói một câu rất bất hủ: “Việc tôi làm chỉ có lịch sử phán xét chứ không ai có quyền phán xét tôi” . Sau bữa lên lớp đó, thì chúng tôi không thấy mặt của LS Tuyên nữa vì người ta đã dẫn ông ta đi đâu mất rồi.

Làm ở đội rau xanh một thời gian tôi được xung vào Ðội Văn Nghệ Trại. Tôi nhớ không lầm đội Trưởng là nhạc sĩ Vũ Thành An. Vì chức vụ cuối cùng của anh ta là trưởng cơ sở Dân Vận & Chiêu Hồi Tỉnh Gia Ðịnh, cho nên anh phải đi trình diện học tập cải tạo theo diện “Ngụy Quân Ngụy Quyền” .

Có một điều cũng nên nói ở đây mặc dù Vũ Thành An nổi tiếng với những ca khúc không tên trước 75 nhưng khi vào trại bên cạnh ca khúc anh viết nhân đêm giao thừa năm đầu tiên ở trại 1975 có đoạn rất hay và rất “ tiểu tư sản” và được mọi người chấp nhận : “Thắp nến hồng lên em, giao thừa về rồi đó. Ánh sáng bừng trong đêm. Như bình minh đã lên….” Nhưng khi anh viết theo nhu cầu chính trị tuyên truyền anh lại viết một ca khúc lạc lõng, không giống ai. Lời ca như một lời xưng tội và sặc màu “vô sản chuyên chính” . Tôi nghĩ rằng chỉnh những ngườ i bị rối loạn tâm thần, đánh mất bản ngã, lương tri thì mới viết một ca khúc tồi như thế. Vì vậy anh đã bị hết thảy trại viên chê trách và lên án dữ dội.. Ca khúc có đoạn : “ Nếu biết rõ đế quốc Mỹ là quân xâm lược. Lũ ngụy quyền là bọn tay sai. Bao nhiêu năm cặm cụi miệt mài…”. Ðộc hại hơn nữa là các trại viên bị bắt buộc phải hát ca khúc này trong những lần sinh hoạt vă n nghệ. Nhưng dù anh có viết trăm ngàn bài ca tôn vinh chế độ đáng nguyền rủa kể trên thì cộng sản cũng không tha cho anh đâu và thực tế anh phải ra Bắc sau đó và cải tạo dài dài hơn mười năm mới được tha về vì anh thuộc diện “ác ôn” ( dân vận chiêu hồi bên hành chánh- chiến tranh chính trị hay chiến tranh tâm lý bên quân đội ) . Kịp đến khi Vũ Thành An bị chuyển ra Bắc thì người thay thế anh ta là anh Trần Thiên Ân . Anh nầy là một người còn rất trẻ, xuất thân từ học viện quốc gia hành chánh, chức vụ cuối cùng là phó quận trưởng ở đâu đó. Vì có một thời gian học ở chủng viện khi còn nhỏ, nên nhạc lý anh ta rất rành và rất vững. Anh viết hòa âm cho những bài hợp xướng rất dễ dàng và rất hay.

Kịp đến khi nhóm hình sự di chuyển về đây thì Ðội Văn Nghệ có sự tăng cường nam và đặc biệt là nữ trại viên thì sinh hoạt văn nghệ trại khởi sắc hơn. Có những giọng ca trẻ tân nhạc cũng như cổ nhạc, kịch.. dưới sự dìu dắt và hướng dẫn của anh em trại viên thuộc diện chính trị chúng tôi. Trong đó có tôi dù sau này tôi không còn ờ trong Ðội Văn Nghệ nữa mà ở trong Tổ Vệ Sinh.

Chuyện anh Nguyễn Văn Tri :

Anh Tri là người cũng xuất từ học viên quốc gia hành chánh, làm giám đốc hành chánh Tổng Nha Ðiền Ðịa do kỹ sư Bùi Hữu Tiển làm Tổng Giám Ðốc. Sau khi học tập cải tạo ở trại một thời gian thì anh Tri có triệu chứng bất bình thường. Cứ vào lúc trời mưa, chúng tôi thấy anh ta ra ngồi ngoài mưa. Miệng thì lẩm bẩm những câu gì không ai hiểu cả. Một thời gian sau đó không biết sao anh ta được trại thả về. Không biết vì lý do bị bệnh tâm thần hay anh thuộc ngành mà cách mạng đang cần người hay không hay vì nguyên do khác không ai hay biết. Chỉ biết rằng sau khi được thả về một thời gian sau thì người ta thấy anh ở Sài Gòn và không có biểu hiện gì bất bình thường cả. Ðược thêm sau đó anh và gia đình qua Mỹ theo diện HO.

Chuyện Cụ Nguyễn Bá Lương, cựu chủ tịch Hạ Viện, Quốc Hội Ðệ Nhi Việt Nam Cộng Hòa.

Cụ Nguyễn Bá Lương, vốn là một dân biểu. Người ta thường gọi cụ là “Dượng Năm Xe Ðò Bủu Hiệp”. Cụ có người con trai -thiếu Tá Nguyễn Bá Di. Khi cụ nhập trại thì tuổi của cụ khá cao, sức khỏe yếu kém nên chỉ có thể lao động nhẹ mà thôi. Ở tù được mấy năm trại xét tha cụ và cho cụ về. Trước đó Ban Giám Thị trại đã mời cụ lên dùng trà và mời thuốc đồng thời thông báo cho cụ hay là cụ đã được nhà nước cách mạng xét tha. Nhưng ói ăm thay về đâu chẳng thấy mà chỉ thấy bỏ thây nơi rừng thiêng nước độc- trại Xuyên Mộc Ðồng Nai. Số là như vầy : sau khi mời cụ ra trại và thông báo quyết định tha cụ, Giám Thị trại dự tính là sáng hôm sau sẽ ký lệnh xuất trại .. Nhưng chưa kịp ký lệnh thì thành phố gọi giám thị về họp khẩn. Cho nên lệnh xuất trại chưa được ký và sẽ được ký khi họp xong. Nhưng than ôi, sau khi đi họp về thì lệnh xuất trại của cụ đã không được ký vì quyết định tha cụ đã bị đình hoãn lại trong một thời gian nữa cho đến khi có lệnh mới của trung ương. Thế là hy vọng được sớm trở về sum họp với gia đình tiêu tan theo mây khói. Kịp đến khi nhóm hình sự đã “đủ lông đủ cánh” để điều hành trại thì toàn bộ trại viên “khối chính trị” còn lại ở Trại Long Thành phải chuyển lên Trại Xuyên Mộc Ðồng Nai. Một thời gian sau đó vì không chịu nổi thời tiết khí hậu khắc nghiệt của núi rừng Xuyên Mộc, cụ đã ngã bệnh và qua đời . Sáng cụ ra đi vì tôi bị bệnh nên tôi đã có mặt nơi chỗ cụ nằm, vuốt mắt cho cụ và nguyện cầu hương linh cụ sớm về nơi chín suối chấm dứt những chuỗi ngày đen tối nhất của cuộc đời. Trong thời gian ở Trại Xuyên Mộc, tôi có dịp đàm đạo với cụ và được cụ kể nhiều chuyện thuộc loại “ thâm cung bí sử” ít ai biết trong cuộc đời tình ái và sinh họat chính trị chính em của cụ. Rất sôi nổi vì theo diện tướng số cụ có khuôn mặt tướng hầu. Ngoài ra giới “ thân cận” của cụ có nói cho tôi biết cụ có thêm một cái ẩn tướng khác là “gậy”, “ của quý” của cụ chạm đất khi cụ ngồi chổm hổm. Không biêt có đúng không. Nếu đúng thì cụ từ một thư ký đồn điền rồi lên làm Dượng Năm Xe Ðò Bủu Hiệp , rồi đắc cử dân biểu Hạ Viện. Rồi đắc cử chủ tịch Hạ Viện cũng là lẽ thường tình dễ hiểu thôi. Như ông Thiệu có tướng hầu như cụ, làm đến chức cao nhất nước thì cũng không ngoa gì. Tướng số nhiều khi cũng đúng cho nhiều người lắm.

Ăn mà cấm không được nói cho ai biết. Thế mới là lạ chứ.

Những ngày bên Thành :

Vào khoảng cuối năm 1978 trong khi các trại viên thuộc diện chính trị còn lại ở Trại Long Thành phải chuyển trại lên Trại Xuyên Mộc Ðồng Nai, tôi và Phạm Ngọc Thành được “may mắn” ở lại trại để tiếp tục gánh vác một số công việc mà chưa thể giao ngay cho nhóm hình sự vừa mới chuyển đến từ các trại như Bù Ðăng , Bù Gia Mập …. Nhóm này bị tù từ sau ngày Sài Gòn mất. Sau một thời gian dài bị giam trong các trại lao động khổ sai, thiếu đủ mọi thứ nên khi chúng nó về đây chúng nó chết như rạ. Do đó với nhu cầu “ đột xuất”, tổ Vệ Sinh của chúng tôi phải làm một lúc hai công tác. Một là công tác đổ phân . Hai là công tác “khâm liệm” cũng như “di quan” người vừa mới chết ra nghĩa địa liền tù tì. Có ngày có đến hơn 5 đứa “mò- cua” ( tiếng lóng là chết ). Có khi cả chục đứa cho nên tổ Vệ Sinh của chúng tôi rất đắt khách . Chúng tôi phải “ khẩn trương” đem đi chôn mệt nghỉ cả ngày lẫn đêm. . Nhiều khi phải đem đi chôn vào giữa ban đêm ngày rằm. Không có một chút ánh sáng gì ngoài ánh trăng chiếu vằng vặc. Vào những đêm như thế này, không biết các bạn của tôi nghĩ ra sao chứ riêng tôi tôi rất thích vì bản tính nghệ sĩ, ưa mơ mộng của tôi dù phải lao động cật lực để có thể về trại sớm để ngày mai có sức “đi cày” tiếp . Chuyện sợ ma thì không thể nào nghĩ đến vì làm việc bở hơi tai thì giờ đâu mà nghĩ chuyện vu vơ. Phải nói mệt nhất là việc đào huyệt vì nghĩa địa, nói cho oai chứ thực ra là một mô đất cao toàn là đá ong, cứng như đá nên đào huyệt không thể nào đào sâu được, khoảng chừng độ hơn nửa thước là cùng. Không có vật dụng gì khác ngoài mấy cái xẻn cùn. Sức người là chính. Sở dĩ tôi phải dông dài như vầy là vì có liên hệ đến việc đi chôn cất Thành sau này.

Vì phải di chuyển khiêng phân hằng ngày hay phải khiêng quan tài đem đi chôn nên tôi thường gặp Thành trong bồ đồ lính được nhuộm đen và trên đầu đội một cái mũ “phở” không giống ai đi rảo trong trại. Chúng tôi chỉ chào nhau rồi ai làm phận sự người ấy. Thành vốn người dong dỏng cao, nước da tái tái . Nước da này vốn dĩ như vậy kể cả lúc còn làm Phó Quận Hàm Thuận rồi Hòa Ða. Ngoài ra không có biểu hiện gì là bệnh hoạn cả.

Thời gian cứ trôi đi. Rồi đến kỳ thăm nuôi . Bà xã của tôi và bà xã của Thành đi thăm nuôi chúng tôi cùng một ngày vào dịp cuối năm 1978 . Tôi được Trại bố trí thăm nuôi trước, Thành thăm nuôi sau. Trước đó bà xã của tôi cũng đã gặp Thành ở nhà thăm gặp , có chào hỏi đôi điều và cũng không thấy Thành không có biểu hiện gì là bệnh hoạn trầm trọng cả.

Một thời gian ngắn sau khi thăm nuôi nhất là gần Tết năm đó sức khỏe của Thành có triệu chứng giảm sút thấy rõ. Mắt và da trở nên vàng nhiều, triệu chứng của bệnh viêm gan. Mặc dù Thành được BS cán bộ tên Hùng cũng như BS trại viên Tùng giúp đỡ rất nhiều nhưng không có kết quả gì vì thiếu thuốc đặc chế. Vì vậy thể theo đề nghị của BS trại Viên Tùng và được đồng ý của BS Hùng, trưởng trạm xá đã ghi cho Thành một toa thuốc và xin cho người nhà của Thành đem lên cho Thành. Nhưng than ôi! chưa kịp đem lên thì Thành đã ra người thiên cổ. Tôi nhớ không lầm là Thành ra đi vào ngày mồng một Tết (nhằm ngày 28 tháng giêng) năm 1979 .

Nghe tin Thành qua đời tôi tìm cách để viếng thăm anh. Ðược biết xác Thành được để ở bệnh xá Trại, trong một gian phòng tối như bưng.

Tôi cứ nhớ mãi cây đèn cầy duy nhất mà tôi đã thắp lên quan tài của Thành. Cây đèn cầy này tôi đã cất kỹ trong gói “hành trang” khi đi tù vì nghĩ rằng sẽ có dịp để xử dụng nó. Nhưng chưa có dịp nào để xử dụng thì nay lại đem ra cắm trên quan tài của người bạn đồng môn hành chánh và cũng là người bạn thiết thân lúc còn làm việc chung với nhau ở tỉnh Bình Thuận. Dù cây đèn cầy đã bị gãy nhưng dù sao cũng là vật quý báu và rất cần thiết trong lúc này. Chắc Thành cũng thông cảm cho tôi vì cây đèn cầy không phải đơn thuần là một vật vô tri vô giác nhưng nó biểu tượng cho sự tiếc thương cũng như gói ghép một tình cảm thiết thân không thể phai nhòa.

Một điều hy hữu là khi Thành mất tổ Vệ Sinh của chúng lo tẩm liệm và đem Thành ra nghĩa địa. Chúng tôi chỉ biết ngậm ngùi thương tiếc cho người bạn xấu số đã ra đi quá sớm như vậy. Chúng tôi cố ngăn những dòng lệ nhưng không thể nào được. Những giọt nước mắt cứ tuông chảy, cứ lăn dài trên má . Khóc cho Thành một phần mà khóc cho số phận của kiếp đọa đày của những người tù còn lại như chúng tôi thì nhiều.

Thành đã từ giã cõi đời bỏ lại vợ con và các bạn tù. Bây giờ Thành có thể yên phận về phần nơi chín suối, không bị ràng buộc với những hệ lụy khổ đau nơi trần thế nữa. Còn lại chúng tôi tiếp tục chịu đựng số kiếp đọa đày nơi chốn tù ngục. Còn lại gia đình với vợ và các con trong nỗi thương đau chất ngất…

NHỮNG CHUYỆN BÊN LỀ:

Chuyện Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn

Nhà văn Nguyễn mạnh Côn , nổi tiếng với tác phẩm “Ðem Tâm Tình Viết Lịch Sử” cũng được mọi người biết đến khi ông ta tuyệt thực để phản đối chính sách giam cầm của cộng sản. Rồi ông ông bệnh, ông chết ở đây.

Chuyện ông Hồ Hữu Tường:

Khi chúng tôi đến đây thì có gặp nhà văn Hồ Hữu Tường. Ông Tường nổi tiếng với “Phi Lạc SangTàu”.

Hằng ngày, tập họp đi lao động thấy ông gánh đôi gánh. Nghe nói ông bị bệnh phù nên ông được bố trí làm công việc nhẹ là nấu nước cho đội uống. Ông Tường dáng người thấp lùn vả lại ông bị chứng phù thủng nên hai chân ông phù ra. Dáng đi chậm chạp uể oải. Biết ông là nhà văn, là người hiểu biết rộng nên trại đã trao giấy bút để ông viết “thu hoạch, hiến kế.” Nghe nói sau một thời gian sợ ông chết trong trại nên trại đã cho ông về nhà và một thời gian sau thì ông mất.

Lại chuyện Ông Nguyễn Bá Lương, dân biểu quốc Hội, chủ tịch Hạ Viện:

Sau khi ông mất một cơ hội trở về sum họp với gia đình ờ trại Cải Tạo Long Thành, ông phải theo chúng tôi lên Khu B Xuyên Mộc Ðồng Nai. Ông được bố trí ở cùng phòng với chúng tôi. Lúc này ông bị bệnh thường hay ở nhà. Khi có dịp rảnh rỗi tôi thường là cà đến nói chuyện với ông. Ông kể cho tôi rất nhiều chuyện thuộc diện “thâm cung bí sử”. Ðiển hình là gán ghép ông và Bà DS Nguyễn Cao Thăng. Không biết ông nói có thật không hay ông phịa ra nhưng chính tai tôi nghe được như vầy: Khi ông Nguyễn Cao Thăng qua đời, giới dân biểu thân chính quyền muốn gán ghép ông với Bà Thăng nhưng chuyện không thành.

Ở Khu B một thời gian thì ông bị bệnh nặng và qua đời. Ngày ông mất tôi bệnh phải ở nhà và đã đến tại chỗ nằm của ông để vuốt mắt cho ông .

Cuộc vui nào rồi cũng tàn. Chúng tôi đã đi vào giấc ngủ với nhiều mộng đẹp và ước vọng tương lai khi đèn của trại tắt.

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi đuợc lệnh trịệu tập, mang theo hành lý để di chuyển sang Khu B làm thủ tục xuất trại.

Chúng tôi đã đến văn phòng làm việc của trại lúc 9 giờ sáng hôm đó. Lần lượt các trại viên ký tên nhận lệnh xuất trại, giấy ra trại và 10 đồng lộ phí đi đường.

Khi đã xa cách trại một khoảng khá xa rồi thì tôi bắt đầu vẫy các xe đi qua để xin quá giang. Từng chiếc rồi từng chiếc xe đủ loại đủ cỡ đi qua nhưng không có chiếc xe nào dừng lại cả. May thay cuối cùng có một chiếc xe chở rạ còn ướt vì vừa mới gặt ngừng lại và cho tôi quá giang. Nhìn cách phục sức của tôi, Anh ta hỏi tôi có phải là dân tù cải tạo mới ra không và định về đâu. Tôi trả lời tôi về Sài Gòn. Anh ta bảo tôi chỉ về Biên hòa mà thôi. Tôi đồng ý .

Trong khoang xe chất đầy người nên tôi phải ngồi, rồi nằm ngất ngưởng trên đống rạ. Ngước nhìn trời cao và hít thở không khí tự do mà từ lâu vắng bóng và nghĩ về một cuộc đoàn viên trùng phùng sắp đến.

Ðến ngã ba Biên Hòa tôi xin anh tài xế cho tôi xuống xe và từ đó tôi lên xe để về Sài Gòn. Vì trong túi tôi chỉ có vỏn vẹn 10 đồng trại phát nên tôi đưa ra cho anh tài xế xe lam. Anh ta nhìn tôi rồi hỏi “dân tù cải tạo mới về hả? rồi anh ta nhận tiền và mời tôi lên xe và không nói thêm một lời nào nữa.

Xe đến đường Ðinh Tiên Hoàng, tôi xin tụt xuống và không quên ngỏ lời cám ơn anh tài xế tốt bụng. Trên đường về tôi hình dung đến bài học thuộc lòng của Thanh Tịnh rồi lẩm bẩm trong miệng “cảnh vật xung quanh tôi hoàn toàn thay đổi như chính lòng tôi đang có một sự thay đổi lớn hôm nay tôi trở về lại mái nhà xưa.”

Vì cha mẹ của tôi ở xa lắm tận Cam Ranh nên địa chỉ tôi về là nhà của Cha Mẹ vợ của tôi.

Bước vào nhà người đầu tiên tôi gặp không phải là bà xã của tôi vì bà đi làm chưa về,mà là ông gia của tôi. Ông ôm tôi với ràng rụa nước mắt. Rồi đến mẹ vợ tôi, cũng với hai hàng nước mắt . Rồi đến con trai út của tôi. Hai đứa lớn đi học chưa về. Nhìn đứa con trai út của tôi thấy thân hình nó gầy ốm tôi không cầm được nước mắt.

Trong đêm trước khi từ giã trại, tôi mường tượng cảnh đoàn viên và cứ tưởng người tôi gặp đầu tiên là vợ tôi và tôi sẽ ôm vợ tôi vào lòng hôn lên môi lên má cho vơi đi những nhớ thương. Nhưng tất cả những sự kiện vừa mới xảy ra ngoài sự tiên đoán của tôi. Nhưng tôi không ân hận điều gì vì trước sau gì tôi cũng sẽ gặp lại vợ con tôi dù hơi muộn màng, không như mình tưởng.

Cuối cùng tôi đã gặp vợ con tôi trong sự xúc động đến nghẹn ngào. Tôi ôm hôn vợ tôi, các con tôi cùng với những giọt nước mắt trào dâng vì sung sướng. Hy vọng những ngày tiếp theo sẽ là những ngày hoan ca, hạnh phúc dù tôi biết sẽ rất ngắn ngủi vì sẽ phải đối đầu với những khó khăn, bất trắc, hiểm nguy chực chờ bủa vây trước mặt. ..

SanDiego

Uyên Nguyên

Sự Thật về “Thành quả Giải phóng” miền Nam

Sự Thật về “Thành quả Giải phóng” miền Nam! Sự dối trá, lừa bịp đã không giảm từ ngày ấy… mà ngày càng trắng trợn, đểu cáng hơn gấp bội!

Chúng ta cùng nhìn lại nửa thế kỷ về trước đã tuyên truyền, bịp bợm dân miền Bắc thế nào?!

***

NHỚ LỜI BÁC HỒ & ĐẢNG ĐĨ DẠY!

“Hạt gạo cắn làm tư,

một phần giữ lại, một phần nuôi quân,

phần viện trợ cho các nước anh em Lào, Cam pu chia

và một phần chi viện vào Nam để nuôi đồng bào đói khổ”.

Cuộc tuyên truyền xảo trá ra rả hết ngày sang tháng, hết tháng sang năm, ngưòi dân không có bất cứ một phương tiện nào khác để tìm hiểu sự thật. Kết qủa là sau này đã được kể lại như sau:

“ Bây giờ nghĩ lại, chúng em thấy không hiểu tại sao thời ấy cả miền Bắc lại ngu ngốc đến như thế. Phần chúng em còn trẻ thì không nói làm gì, khi vào lớp chỉ nghe thầy cô bảo là trong Nam vô cùng đói khổ vì bọn Mỹ xâm lược.

Người dân nhiều khi phải ăn cả lá cỏ như nạn đói ở ngoài bắc vào năm 1945. Đã thế, không có vải che thân, phải lấy những túi bóng (ý nói những túi nylong để đựng đồ đi chợ) mà quấn vào người thay quần áo.

Các em ở đây, tuy có khó khăn, có ăn ít hơn một tý, nhưng vẫn có cơm gạo, có bác và đảng chăm lo, bảo vệ cho đời sống, nên đời sống còn sung sướng và hạnh phúc gấp trăm ngàn lần đồng bào ta ở trong Nam.

Nên chúng ta phải nhất trí thi đua, phải hoàn thành chiến dịch một chén gạo cho đồng bào ruột thịt miền Nam như bác đã đề ra…

Nghe thế là chúng em tin ngay, cả lớp òa lên khóc, rồi bảo nhau về nhà vận động. Không được thì lấy trộm gạo đem vào lớp để mà hoàn thành kế hoạch nuôi quân và cứu đói miền Nam.”

“Anh biết rồi đấy, gạo thì nhà nào có hộ khẩu thì được mua theo tiêu chuẩn người lớn, trước là bẩy ký, sau còn có năm, còn trẻ em thì 3 ký. Gạo bán theo tiêu chuẩn như thế, dĩ nhiên là phải ăn đói, nhưng chúng em vẫn cứ nghe cô thầy nói, về nhà lấy trộm gạo đem vào lớp gởi cho quĩ cứu đói miền Nam.” (Bác Hồ dạy chúng cháu thói bòn rút, ăn cắp từ đây…)

Người kể là một học sinh lớp tám vào niên khoá 74-75 tại trường trung học phổ thông tại Hà Nội.

Đến sau ngày “giải phóng”, chỉ có mấy hôm thôi, cả trường chúng em xôn xao lên vì bản tin ở chợ Đống Đa có bán gạo từ trong Nam mang ra.

Giời ơi, chúng em đến giờ nghỉ bỏ trường, chen lấn nhau vào hàng gạo để nhìn xem. Cả thầy, cả cô rồi mọi người đều kinh ngạc, mở toét cả mắt ra mà nhìn những hạt gạo dài, đầy đặn, trắng phau để trong những cái bao lớn.

Thật tình là cả đời chúng em ở miền Bắc chưa bao giờ nom thấy những hạt gạo trắng như thế. Có người nhanh chân mua sớm được vài ký. Nhưng ngay buổi chiều thì công an đến thu hết.

Họ bảo, gạo của Ngụy trong Nam để lại có tẩm thuốc độc, nhà nước phải đem về điều tra xử lý.

Giời ơi, chỉ có nói phét thôi anh ạ. Chúng cướp về chia nhau mà ăn đấy. Riêng bà bán gạo thì được đi cải tạo cả mấy tháng sau mới tha về.

Rồi ít lâu sau thì đến cán bộ nhớn nhỏ, chở từng xe cam nhông hàng , lấy ở miền Nam ra. Nào là tivi, tủ lạnh, máy quạt, đài, cho đến bàn ghế, giường tủ, không thiếu một thứ gì.

Ai nhìn thấy cũng lấy làm lạ, xầm xì hỏi nhau xem nó là cái gì. Mà có ai biết nó là cái gì đâu. Dễ thường cả đời chưa nhìn thấy lần nào thì làm sao mà biết nó là cái gì!

Khi đi xem về rồi mọi người đều bảo nhau. Giỏi , giỏi thật, chúng nó nói láo giỏi thật!

Vậy mà bảo rằng hạt gạo cắn làm tư và người trong ấy phải lấy túi giấy bóng mà mặc thay quần áo !!!

Bây giờ nghĩ lại, chúng em thấy không hiểu tại sao thời ấy cả miền Bắc lại ngu ngốc đến như thế.

Chuyện người trong Nam phải lấy túi bóng che thân là do tác giả “Vang bóng một thời” Nguyễn Tuân sáng tác ra đấy.

Nhưng sau này, Nguyễn Tuân vào Nam, mắt mở toét ra mà nhìn hàng vải cao cấp dệt bằng sợi nylông ở trong Nam, Tuân biết sự thật, nhưng không có liêm sỉ để nói lên một lời tạ lỗi.

Mà nào có riêng một Nguyễn Tuân láo lếu đâu! bọn văn nô Cộng phỉ thì cũng một phường! Họ viết theo “đơn đặt hàng ” kiếm cơm, kiếm rượu!

Chả thế mà Nguyễn Tuân phải thì thầm thú nhận :”tớ còn sống được tới ngày hôm nay, là nhờ biết sợ đấy”

May be an image of 2 people, people standing and outdoors

MỘT CUỘC ĐỜI ÂM THẦM-Giỗ lần thứ 46 của Cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn, CSsR

28.03: 1975-2021

Giỗ lần thứ 46 của Cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn, CSsR (08.09.1922-28.03.1975)

MỘT CUỘC ĐỜI ÂM THẦM

*Tôma Nguyễn

Ngày 28 tháng 3 năm 2021 là ngày giỗ thứ 46 của cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn, Dòng Chúa Cứu Thế, người đã sống một cuộc đời âm thầm để chuyển ngữ toàn bộ cuốn Kinh Thánh gồm Tân Ước và Cựu Ước từ tiếng Hipri, Aram và Hilạp ra tiếng Việt. Cuộc sống âm thầm là vậy, nhưng cái chết của ngài còn âm thầm lặng lẽ hơn so với những người đã chết tức tưởi trong vụ chôn sống tập thể tại Huế – Thừa Thiên hồi Tết Mậu Thân 1968. Cha Thuấn ra đi, để lại một công trình dịch thuật Thánh Kinh còn dang dở. Ngài chưa dịch xong ba quyển: Yob, Cách Ngôn, và Baruk. Khi xuất bản toàn bộ cuốn Kinh Thánh, ban Xuất bản gồm học trò và bạn bè của ngài đã dịch ba quyển này từ bản tiếng Pháp ‘Bible de Jerusalem’.

Ngày 28 tháng 3 năm 2021 là Chúa Nhật Lễ Lá, nhưng ngày 28 tháng 3 của năm 1975 là Thứ Sáu Tuần Thánh. Thân mời các bạn trở lại với bối cảnh của khu vực tỉnh Lâm Đồng khi chiến cuộc Việt Nam đang ở vào giai đoạn dầu sôi lửa bỏng nhất. Sau khi chiếm huyện Di Linh được một hai tuần, quân Cộng sản đã thủ tiêu cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn tại đồn điền Nguyễn Ngọc, xã Châu Thành, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Một Hạ sĩ quan Truyền Tin của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã can đảm vùi xác ngài tại vùng đó. Người ta nói ngài bị Cộng sản cuốc vào đầu, gây thêm một cái chết oan khiên vô tội vào một chiều Thứ Sáu Tuần Thánh. Nhưng tôi tin rằng, cha Thuấn trước khi chết đã theo gương Đấng mình tin để nói lên trong lòng,“Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm” (Luca 23 34).

Trong cuốn sách “Cha Eugène Larouche, 51 năm Thừa Sai Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt-Nam”, linh mục Rôcô Nguyễn Tự Do, CssR, có viết một đoạn về cha Thuấn:

“Năm 1945, quân Nhật chiếm Huế và giam giữ các cha Canada tại Morin. Cha Nguyễn Thế Thuấn lúc đó còn là một chú Đệ Tử đã dùng chữ Nho để bút đàm với viên sĩ quan Nhật lúc họ lui tới nhà Dòng, mà theo sự suy nghĩ của Cha Thuấn là ‘nhờ đó tạo được bầu không khí cởi mở hơn, thân thiện hơn'”.

Nhưng năm 1975, cha Thuấn đã không tạo được bầu không khí thuận lợi đó tại Di Linh với những người đồng chủng Việt Nam theo cộng sản khi ngài đi giảng Tuần Thánh ở Xứ đạo Di Linh theo lời mời của linh mục Chánh xứ Yuse Phùng Thanh Quang. Đây cũng là lý do dẫn đến cái chết của cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn, người thầy kính yêu của tôi.

Qua việc thủ tiêu một linh mục khá nổi tiếng như cha Thuấn, người Cộng sản đã để lộ chính sách: “Thà giết lầm hơn bỏ sót” của họ, đồng thời cũng để trấn áp bất cứ một suy nghĩ nào gây bất lợi cho chính sách đó. Trong thực tế, suốt trong chiều dài của cuộc chiến Việt Nam và nhất là sau biến cố 1975, chính sách dã tâm này của Cộng sản đã gây ra không biết bao nhiêu cái chết vô tội.

Giờ phút này, tôi nhớ đến câu chuyện của “Người Samari nhân hậu” trong Phúc âm Thánh Luca khi nghĩ đến người Hạ sĩ quan QLVNCH, người cũng mang một quả tim nhân hậu vì đã mai táng người thầy của tôi. Khi có ý định viết bài này, tôi đã liên lạc về Việt Nam tìm tông tích người Hạ sĩ quan ân nhân hầu tôi có thể biết thêm chi tiết về cái chết, việc chôn cất và dời hài cốt của cha Thuấn về nghĩa trang DCCT Đà Lạt, nhưng được biết người Hạ sĩ quan tốt bụng này cũng đã qua đời cách đây hơn chục năm.

Sau biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh Nguyễn Ngọc Lan, lúc ấy còn là linh mục, đã nhanh chóng áp dụng bài học bà Rebecca dạy cho Yacób để xin Bộ Thông Tin Văn Hóa-Cục Báo Chí Xuất Bản cấp giấy phép xuất bản toàn bộ cuốn Kinh Thánh. Khi xin phép, anh Nguyễn Ngọc Lan chỉ xin in cuốn Kinh thánh Tân Ước của cha Nguyễn Thế Thuấn có trước năm 1975, nhưng tiện dịp nên đã in luôn phần Cựu Ước. Tân Ước hay Cựu Ước cũng là Kinh Thánh cả và cũng cùng một dịch giả.

Tôi biết khá rõ chuyện này vì thời gian đó tôi còn ở tại quê nhà. Đó là cuốn sách in lậu đầu tiên sau năm 75 dưới chế độ Cộng sản. Thầy Robert Nguyễn Sĩ Nhàn phải chạy mượn tiền của giáo dân để mua thêm giấy lụa bên tòa Tổng Giám mục Sàigòn. Lần đó, tổng số in được 10.000 cuốn, vì không biết đến bao giờ mới được in lại.

Khi Nhà In Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã sắp chữ gần xong phần Tân Ước, ban Xuất Bản cử thầy Nguyễn Gia Trần và tôi lên giáo xứ Di Linh gặp cha Quang xin lại cuốn Tân Ước cha Thuấn hay dùng, nếu còn. Ý định là xem cha Thuấn có sửa chữa hay thêm bớt gì trong cuốn Tân Ước hay không, để có thể có một cuốn Tân Ước hoàn chỉnh theo ý dịch giả.

Chúng tôi lấy chuyến xe sớm nhất đi Đà Lạt, đến giáo xứ Di Linh thì chúng tôi xuống xe. Lúc này dân chúng còn đi lại không cần xin giấy phép của địa phương, chỉ có các linh mục bị phải cấm cung tại chỗ, do đó khi chúng tôi vào nhà xứ thì được gặp ngay cha Quang là chánh xứ họ đạo Di Linh.

Sau vài câu chào hỏi và biết sự yêu cầu của chúng tôi, cha Quang lúc đó đang cầm sẵn trong tay chiếc mũ “di tích” của cha Thuấn (không biết làm sao mà cha Quang lại có được hiếc mũ này) nói với anh em chúng tôi:

– Các thầy cho tôi cái mũ này để đội, xin cha Thuấn che chở cái đầu cho tôi.

Tôi trả lời:

– Thưa cha, cha muốn lấy cái gì để làm kỷ niệm cũng được, chúng con chỉ xin cuốn Tân Ước.

Tiếp đó, cha Quang bước vào bên trong mang ra chiếc cặp táp của cha Thuấn. Tôi nhận ra ngay chiếc cặp này, vì cha Thuấn thường đeo nó bên mình mỗi khi đi ra khỏi nhà Dòng. Tôi nhận chiếc cặp từ tay cha Quang và đi vội ra khỏi nhà xứ để tránh bị theo dõi.

Chúng tôi đi về cổng nhà thờ, liếc mắt nhìn phía nhà xứ thì thấy một tên công an cũng đang lò dò đi vào. Chúng tôi đi lên chợ Di Linh đón xe đi tiếp lên Đà Lạt và sáng sớm hôm sau về lại Sàigòn. Nhiệm vụ coi như đã hoàn thành.

Sau này, khoảng năm 1993, khi hội “Hột Lúa” của Madame Geneviève Jouan, người Pháp, có giúp giáo xứ Di Linh thuốc men để chữa bệnh cho người nghèo, tôi có dịp gặp lại cha Quang nhiều lần nhưng vấn đề cái chết của cha Thuấn quá ư là tế nhị nên tôi chẳng dám hé môi hỏi thêm điều gì.

Một thời gian sau, tôi được tin cha Yuse Phùng Thanh Quang cũng đã qua đời tại bệnh viện Nguyễn Trải, Sàigòn, hưởng thọ 77 tuổi. Ngài qua đời ngày 31 tháng 10 năm 2003, đúng vào ngày sinh nhật của mình. Cha Quang vẫn tin là cha Thuấn đã chết thay cho mình.

Cách đây vài năm, tôi tình cờ may mắn gặp được hai sĩ quan Địa phương quân VNCH đã đóng quân ở Di Linh trước năm 1975. Họ cho tôi biết chính cha Quang đã rửa tội cho Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu khi cha làm Tuyên Úy trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Nhưng khi Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, cha Quang đã không lợi dụng sự quen biết trước kia để trục lợi cho giáo xứ của mình.

Một lần Tổng Thống Thiệu lên Đà Lạt họp, có cho trực thăng đến đón cha Quang nhưng ngài từ chối. Cha nói, ban phép bí tích rửa tội là công việc mục vụ, chẳng vì quen biết mà làm mất ý nghĩa thánh thiêng.

Cuộc đời của cha Yuse Nguyễn Thế Thuấn đã âm thầm lặng lẽ bao nhiêu thì cái chết của ngài càng lặng lẽ hơn nhiều.

Năm 1958, cha Yacôbê Nguyễn Hữu Sơn là bạn học cùng lớp với cha Thuấn dẫn một số Đệ tử Huế lên Đà Lạt nghỉ hè một tháng. Chúng tôi được trú ngụ tại nhà bà Paul trong Giáo xứ Tùng Lâm và thường được vào Nhà Dòng Đà Lạt chơi mà chẳng nghe cha Sơn nói gì về cha Thuấn.

Phải đến năm 1964 khi cuốn Tân Ước chào đời, chúng tôi mới biết Dòng mình có một cha biết dịch Kinh thánh từ tiếng Hipri là cha Nguyễn Thế Thuấn. Tôi nhớ là cha Gérard Gagnon, DCCT, cũng có dịch Kinh thánh nhưng chắc là từ tiếng Pháp. Lúc đó chúng tôi thán phục cha Gagnon về khả năng tiếng Việt của cha.

Cha Thuấn sống âm thầm để dịch cho xong cuốn Tân ước rồi mới bắt đầu đi giảng hay dạy học ở những nơi khác ngoài Học viện DCCT Đà Lạt. Các thầy Học viện cũng đã có dịp thấy bà con của cha Thuấn tới thăm ngài và đùa với ngài, “Chúng con biết cha có tổ quốc nhưng lại tưởng cha vô gia đình chứ”.

Tôi nghĩ, nếu ngài tiếp tục cấm cung trong phòng để dịch tiếp cho xong cuốn Cựu ước như ngài đã làm để hoàn tất cuốn Tân Ước thì hôm nay chúng ta đã có một bản dịch trọn bộ Kinh thánh của dịch giả Nguyễn Thế Thuấn.

Bản dịch nguyên thủy toàn bộ Kinh Thánh của cha Nguyễn Thế Thuấn, theo ngài cho biết, đã chứa đựng đầy đủ tính chất xác thực và tinh thần thần học xác tín của ngài. Nói cách khác, ngài không muốn có một sự sửa đổi nào của ai khác, nếu không được ngài thông qua.

Tôi cũng nhớ ngài có viết một bài đăng trên báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp để đính chính những chỗ trong bản dịch Kinh Thánh của mình mà linh mục Yuse Trần Hữu Thanh, DCCT, tự ý sửa đổi. Cha Thanh đã có sửa đổi một vài từ ngữ mà không hỏi qua ý kiến của cha Thuấn khi dùng bản dịch Tân Ước của cha Thuấn để in sách Kinh thánh theo chương trình “Mỗi quân nhân, một Tân Ước” trước năm 1975. Nghĩa là, khi cho in toàn bộ cuốn Kinh thánh, ban Xuất Bản đã thay thế một ít danh từ mà có thể họ cho là không quan trọng. Đặc biệt danh xưng ‘Thần Linh’ trong bản dịch đã được thay bằng danh từ ‘Thiên Chúa’ có lẽ để cho phù hợp với thông thường”.

Trong bản dịch nguyên thủy, khi dùng chữ Thần Linh, dịch giả Nguyễn Thế Thuấn có ý nói đến sự ‘Mặc khải tiệm tiến’ của Thiên Chúa dành cho con người. Ý của ngài muốn cho chúng ta biết rằng loài người trong quá trình nhận biết về Thiên Chúa cũng đã phải trải qua nhiều giai đoạn trong cuộc hành trình đức tin, nghĩa là chúng ta phải dần dần mới hiểu thêm về Thiên Chúa. Điều này dễ nhận ra hơn khi nói rằng con người, trong cuộc sống hằng ngày, cũng cần phải có yếu tố thời gian và kinh nghiệm rồi mới hoàn toàn hiểu được cuộc đời là gì. Huống hồ đây là một phạm trù của khoa Thánh kinh học.

Hiện nay tôi không có trong tay bài đính chính viết trên báo Đức Mẹ HCG của cha Thuấn, nhưng nếu tôi nhớ không lầm thì trong Phúc âm Thánh Luca (13,10) cha Thanh đã sửa chữ “Nhân ngày Hưu lễ” thành “Ngay ngày Hưu lễ”. Và cha Thuấn đã phải đính chính lại. Ngài phải đính chính ngay cả những chữ xem ra bình thường, huống chi là “danh xưng Thần Linh” đã bị thay thế bằng “danh từ Thiên Chúa”.

Thế mới biết lãnh vực kinh điển thật là tỉ mỉ từng chữ. Nhưng khi in bản Cựu Ước thì linh mục dịch giả Nguyễn Thế Thuấn đã qua đời. Ngài là dịch giả nhưng cũng chẳng có cơ hội để viết thêm vào trước bản dịch một lời tâm sự với người đọc bản dịch của mình. Ngài sống âm thầm, và chết cũng rất âm thầm. Âm thầm như chính công việc của ngài.

Rồi những lợi ích tinh thần mà bao nhiêu người lĩnh hội được do việc cha giảng dạy hoặc nhờ đọc cuốn Kinh Thánh của ngài dịch, cũng âm thầm chẳng kém. Tôi có một kỷ niệm liên quan đến tinh thần Kinh Thánh của cha Thuấn.

Năm 1965, ngài ra giảng tại Nhà Dòng Huế. Một anh bạn cùng lớp với tôi vào xưng tội với ngài về việc “chọc gái” sao đó. Tôi không nhớ anh ta lãnh bao nhiêu kinh phải đọc để đền tội để xem việc giải tội của một giáo sư Kinh thánh có màu sắc Kinh thánh không. Bù vào đó, người bạn có tâm sự với tôi điều cha Thuấn đã khuyên anh ta trong tòa giải tội. Cha khuyên bạn tôi: “Người ta không phải là đồ chơi”. Đến nay, tôi vẫn không quên lời khuyên đó. Sau này, một lần khi ngồi xem phim “Toy Story”, tôi thấy Woody nói to vào mặt Buzz, “You are a toy. T- O- Y”. Thỉnh thoảng khi có dịp dạy bảo con cái, tôi cũng nói với các con tôi, “We are not a toy”.

Từ “triết lý” của câu nói đó, tôi tìm ra một điều tâm niệm cho mình. Đó là, trong suốt cuộc đời tôi luôn ráng sống sao để không đối xử với người khác, nam cũng như nữ, và ngay chính bản thân mình nữa, như là đồ chơi. Tôi cảm thấy mình trưởng thành hơn nhờ vào bài học hàm chứa trong lời khuyên của cha Thuấn mà bạn tôi đã chia sẻ. Nhưng dù sao đó cũng chỉ là điều tôi gián tiếp học được qua câu chuyện của một người bạn.

Còn câu nói: “Các thầy đừng phí uổng cuộc đời, vì chỉ có một lần” thì chính tai tôi đã trực tiếp nghe và học được nơi cha Thuấn là giảng sư của lớp tôi ở Nhà Tập. Những lần phí phạm cuộc đời, tôi nhớ đến câu nói này.

Có thể cha Thuấn không hẳn là tác giả nguyên thủy của ý tưởng trong câu nói này, nhưng đối với tôi, tôi xem đó là của cha Thuấn vì lần đầu tôi nghe cha nói mà trước đó tôi chưa đọc được ở đâu hoặc nghe ai nói đến. Thông điệp của câu nói đó đã âm thầm nâng đỡ và dẫn lối cho tôi rất nhiều, nhất là trong thời gian tôi còn tu tập.

Trong khi viết bài này, tôi muốn tìm một tấm hình của cha Thuấn để kèm theo bài thì may mắn được cha Louis Đặng Đức Anh, DCCT, tiếp tay. Cha gửi ngay cho tôi một tấm ảnh hiếm quí của cha Thuấn mà một nhân viên trại gà Scala cũ ở Đà Lạt, chị Minh Phượng, còn giữ lại được qua bao năm tháng. Tấm ảnh do cha Bosco Phạm Minh Thiện, DCCT, học trò lớp đầu tiên của cha Thuấn, bấm máy. Hình chụp năm 1972 khi cha Đại diện Tổng quyền DCCT Roma qua kinh lý xem trại gà Scala hoạt động có đúng đường lối của Thánh Anphongsô trong phát triển kinh tế cho người nghèo hay không. Trong hình có cha Bề trên Giám Tỉnh Bạch Văn Lộc và cha Thuấn, khi đó đang là bề trên Nhà Dòng Đà Lạt.

Chân thành cám ơn cha Louis Anh và chị Minh Phượng đã chia sẻ tấm hình có một không hai của cha Thuấn, và cầu xin cho cha Bosco Thiện được hưởng nhan thánh Chúa.

Phước Long “ Chứng tích kẻ chạy làng ”

 Trận đánh Phước Long là khởi đầu cho việc thất thủ của miền Nam VN…. Đọc để thấy QLVNCH chiến đấu thật kiêu hùng dù cuối cùng… chịu thua cuộc!!!

Chiếm được Phước Long là bằng chứng cụ thể cho chế độ CS miền Bắc biết chắc nước Mỹ đã giữ lời hứa với Tàu cộng… và cũng để dân quân VNCH thấy rõ bộ mặt của kẻ “phản bội đồng minh”!!!

***

Phước Long “ Chứng tích kẻ chạy làng ”

Lê Đắc Lực

Ngày đầu năm 1975, đang hành quân ở Tây Ninh, Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù nhận được lệnh của Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III, phải gấp rút đưa đơn vị về Biên Hòa, nhận nhiệm vụ mới, chỉ để lại một Biệt Đội tăng cường, phòng thủ tại Phi trường Quân sự Trảng Lớn.

Nhiệm vụ mới, không nói mà cả Liên Đoàn ai cũng nhận biết được, đó là chiến trường Phước Long, một chiến trường “dầu sôi lửa bỏng, thập tử nhất sinh” cần khẩn cấp tiếp cứu.

Mặt trận Phước Long bắt đầu từ ngày 12 tháng 12 năm 1974, kéo dài cũng đã gần một tháng. Áp lực địch càng ngày càng mạnh. Bốn Quận của Phước Long đã bị Việt cọng đánh chiếm cả. Năm Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, với quân số còn lại, rút về phòng thủ quanh Thị Xã, ngoài ra còn được tăng cường thêm Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 7, Sư Đoàn 5 Bộ Binh, ba Đại Đội Trinh Sát của các Sư Đoàn 5, 18 và 25 Bộ Binh. Nếu cọng thêm với lực lượng ít ỏi của các đơn vị của Tiểu Khu, kể cả Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát và Cảnh Sát Dã Chiến, Nghĩa Quân, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, không hy vọng chống trả lại được với lực lượng đầy đủ và sung mãn tinh thần “điên khùng” của Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 7 Bắc Việt xâm lược, cọng với một Tiểu Đoàn Đặc công, và hai Chi Đoàn Chiến xa T-54.

Vào thời điểm đó, quân cộng sản có nhiều thuận lợi về nguồn tiếp tế. Hướng Đông Bắc là căn cứ Bùi Gia Mập, hướng Tây Bắc là căn cứ Bù Đốp, cả hai nơi đều đã bị địch chiếm cứ và trở thành mật khu của chúng. Chắc chắn hậu cần và quân tiếp ứng, nếu cần, sẽ từ hướng nầy tuôn xuống một cách dồi dào. Phía Đông là hai Thị Trấn Gia Nghĩa và Bảo Lộc, không giúp đỡ gì được cho quân trú phòng. Quận Chơn Thành và Đồng Xoài ở phía Nam cũng đã bị địch chiếm mất rồi. Phía Tây Tỉnh Bình Long, cũng chưa hoàn toàn hồi sức từ sau trận chiến Mùa Hè 1972.

Tình hình quân sự đã căng như thế, trong khi Sài Gòn nhiều phong trào đang biểu tình dữ dội: “Phụ nữ đòi quyền sống, Ký giả đi ăn mày và Chống tham nhũng”. Tình hình chính trị như thế chỉ có lợi cho địch quân mà không chắc ở Sài Gòn có người nào nghĩ đến những người lính ở Phước Long đang lâm vào cảnh “thập tử nhất sinh”.

Về tới căn cứ, nắm biết được tình hình như thế, thêm vào đó trong lòng mang nỗi chán nản vì hành động vi phạm Hiệp Định Paris một cách trắng trợn của bọn Việt cọng. Biết là Biệt Đội cũng sắp sửa nhảy vào Phước Long, tôi vừa xúc động vừa buồn, không như ba năm trước đây, tại chiến trường Bình Long, An Lộc. Lúc đó, tôi cũng mang đầy lo lắng, nhưng nôn nóng, sôi sục muốn nhảy vào chiến trường, sớm chừng nào hay chừng đó, để chia xẻ và gánh vác gian nguy cùng Đồng Đội, Chiến Hữu.

Rạng sáng ngày 3 tháng 1 năm 1975, Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật do Trung Tá Vũ Xuân Thông chỉ huy, đã cùng Biệt Đội 811 Xung Kích, Biệt Đội Trưởng là Đại Úy Trương Việt Lâm và Biệt Đội 814 Xung Kích, Biệt Đội Trưởng là tôi, được chuyển vận tới Sân bay Quân Sự tại Căn cứ Long Bình. Đoàn Quân Biệt Cách Nhảy Dù, nằm trải dài trên bãi chờ Trực Thăng, được lót trải bằng những tấm vỉ sắt kết nối nhau, trong một khoảng thời gian dài, từ sáng cho đến quá trưa. Mãi tới 2 giờ chiều, một Phi Đội Trực Thăng do Phi Đội Trưởng Thiếu Tá Đào Vũ Anh Hùng chỉ huy, mới đáp xuống. Đến 2 giờ 30, các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù Biệt Đội 814 đã sẵn sàng lâm trận.

Từng chiếc UH.1B cất cánh, rồi nối đuôi theo sau chiếc C&C của Đại Tá Phan Văn Huấn trực chỉ về hướng Bắc. Khoảng cách từ Căn cứ Long Bình lên Phước Long theo đường chim bay trên 100 cây số. Khi đoàn Trực Thăng vừa đến vùng trời Phước Long, cao xạ 12.7 ly và 37 ly của bọn giặc cọng thay nhau bắn lên xối xả, dưới đất thì khói bụi mịt mù bay lên che khuất một vùng trời, các phi tuần A.37 oanh kích triệt hạ phòng không địch trên núi Bà Rá chẳng thấy xuất hiện.

Đoàn Trực Thăng bay lượn hai vòng trên trời cao, họ có thể đã ước tính, không còn đủ nhiên liệu và thời gian để đáp thả Biệt Đội 814, rồi quay trở về bốc thả tiếp Biệt Đội 811 và Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật còn lại, thì trời đã quá chiều tối, nên đã đồng loạt bay về hướng Nam, đáp khẩn xuống ở Tiểu Khu Định Quán để tiếp tế nhiên liệu, rồi bay đáp trở lại ở Phi Trường Long Bình.Thêm một đêm nằm ngủ giữa trời sao trôi qua nhanh.

Từ sáng sớm ngày 4 tháng 1 năm 1975, hai Biệt Đội đã túc trực chuẩn bị hành trang lên đường. Vào khoảng 9 giờ, đoàn Trực Thăng chở Biệt Đội 814 cùng Trung Tá Vũ Xuân Thông và BCH 1 Chiến Thuật cất cánh, bay cặp theo dòng Sông Bé về hướng Bắc, vừa qua khỏi Thị Xã Phước Long, đoàn Trực Thăng quay vòng trở lại hướng Nam, bay qua Sông Dak- Lung thì lần lượt đáp xuống lơ lửng trên một ngọn đồi, cây cối bị pháo địch bắn cháy, còn ngổn ngang gốc cành, nằm rãi rác khắp cả khu đồi, cách Thị Xã chừng 500 mét về hướng Bắc. Từ độ cao cách mặt đất khoảng 2 mét, các Trung Đội nhanh chóng nhảy xuống tìm nơi ẩn núp và phòng thủ, nhất là để tránh địch có thể trực xạ đại bác 75 ly từ đỉnh núi Bà Rá.

Tôi đã được cấp trên cảnh giác về tình huống nầy. Bà Rá đã bị Việt cọng chiếm ngay ngày đầu năm Dương Lịch. Bà Rá, Bà Đen và cả Mây Tào, là những ngọn núi cuối cùng của dãy Trường Sơn. Bà Rá có độ cao 736 mét, là con mắt và lỗ tai của Thị Xã Phước Long. Với vị trí chiến lược này, ngay từ đầu, Quân Đội VNCH đã đặt căn cứ trên đỉnh Bà Rá. Từ trên đó, chúng ta có thể quan sát khắp vùng, điều chỉnh và yểm trợ phi pháo cho các đơn vị Quân Đội, khóa họng súng của địch mỗi khi chúng pháo kích vào Thành Phố. Tại căn cứ nầy cũng có các Đài Truyền tin, phát tuyến, nối tiếp làn sóng với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa và giữa các đơn vị trong và ngoài khu vực Thị Xã Phước Long.

Tình hình căn cứ Bà Rá bây giờ ở thế ngược. Sau khi chiếm được đỉnh núi nầy, địch được ba cái lợi: Bố trí phòng không 12.7 ly trên núi và 37 ly dưới chân núi, Việt cọng gây khó khăn cho các hoạt động của Không Quân ta. Cũng từ đây, địch có thể trực xạ đại bác 75 ly vào vị trí của chúng ta, và cũng từ đây, địch dễ dàng quan sát cả Thị Xã, các hướng tiến quân của ta để điều chỉnh pháo binh đang bố trí chung quanh Phước Long mà tác xạ chính xác, hiệu quả.

Trong khi Biệt Đội 814 và BCH 1 Chiến Thuật đang trên đường tiến quân, thì Biệt Đội 811 và Thiếu Tá Nguyễn Sơn Chỉ Huy Phó, cũng đang đổ bộ xuống một bãi trống, nằm chếch về hướng Tây Bắc của Thị Xã Phước Long, để từ đó cánh quân này sẽ tiến vào bắt tay phối hợp với Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, với Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 và năm Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, đang phòng thủ trong Thị Xã và Tòa Hành Chánh Tỉnh.

Biệt Đội 814 và BCH 1 Chiến Thuật tiếp tục băng qua các cánh đồng khô, các khu nhà, các dãy phố hoang tàn đổ nát, một vài nơi đã biến thành bình địa, không một tiếng súng, nhưng thỉnh thoảng đạn pháo địch vẫn nổ rải rác vài nơi trong trung tâm Thị Xã, mọi hiểm nguy vẫn chờ chực cận kề, thì ngay lúc này xuất hiện một chiếc xe jeep của BCH/ Tỉnh đến đón một mình Trung Tá Thông rời khỏi đội ngũ.

Tiếp tục theo như lệnh đã được ban hành tại Căn cứ Hành Quân ở Suối Máu. Biệt Đội 814 tiến sát hơn vào bên trong Thị Xã, đơn vị trú phòng mà Biệt Đội 814 tiếp cận đầu tiên để cùng phối hợp tác chiến là Ty Cảnh Sát Quốc Gia, nằm ngay góc một ngã tư đường lộ chính, dẫn vào Trung tâm Thị Xã. Nơi đây tôi được tiếp xúc cùng Thiếu Tá Nguyễn Văn Tư, Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia, và qua Ông tôi nắm biết phần nào về lực lượng địch, cùng hệ thống bố phòng của các đơn vị bạn trên trục tiến quân của Biệt Đội 814. Dĩ nhiên Ông ta và các chiến hữu của Ông hết sức mừng rỡ khi có Biệt Cách Nhảy Dù đến tiếp ứng.

Vượt qua Ty Cảnh Sát, là Doanh Trại của Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến, cũng nằm ngay góc ngã tư đường kế tiếp, mặt trước là cổng chính ngó vô Thành Phố, mặt hông phải, bên kia đường là khu nhà dân, nhà cửa hầu hết tan hoang không còn nguyên vẹn, vài nơi vẫn còn lửa cháy âm ỉ, khói bốc lên lan tỏa mờ nhòa tầm quan sát cả một khu vực, không có đơn vị nào còn phòng ngự ở đây, kể cả trong phòng tuyến của Trại Cảnh Sát Dã Chiến, họ đã rút về bố phòng tại các giao thông hào của Ty Cảnh Sát.

Vừa lúc đó, thì đạn pháo của địch không biết xuất phát từ đâu đã rơi xuống nổ khắp nơi. Tôi tức tốc cho lệnh các Trung Đội lao xuống bố trí tại các hầm hố, giao thông hào bao quanh ba mặt trong Trại Cảnh Sát Dã Chiến, chuẩn bị sẵn sàng tác chiến, đề phòng địch mở đợt tấn công. Bỗng đâu một tiếng súng nổ chát chúa, phá thủng một “cô-nét” gần bờ rào chính diện gây tử thương cho Hạ Sĩ I Sơn, một hiệu thính viên của Biệt Đội, hai trái đạn kế tiếp nổ ngay trên đường, sát bờ rào Ty Cảnh Sát. Đây là những viên đạn Đại bác 75 ly do địch trực xạ từ trên đỉnh Núi Bà Rá. Pháo Binh của ta đã hoàn toàn tê liệt, không còn có khả năng phản pháo.

Đạn pháo vừa ngưng, tiếng gầm rú của các xe tăng của địch lại từ từ tiến lên, không có bộ đội tùng thiết, xe tăng vừa chạy vừa quay nòng đại bác tác xạ như để áp đảo tinh thần đối phương, nhưng bọn chúng đã không ngờ đang đụng phải khắc tinh của chúng.

Từ bên trong các công sự chiến đấu, những hỏa tiễn M.72 của các xạ thủ Biệt Đội 814 đã dương cao sẵn sàng chờ đợi. Ầm..ầm..ầm, Hạ Sĩ I Ẩn và Hạ Sĩ Sáng, Trung Đội 2, đã tác xạ chính xác chiếc T.54 chạy đầu tiên, lửa đang rực cháy thiêu rụi toàn bộ đám địch quân. Hai T.54 kế tiếp vẫn trườn lên, ầm..ầm..ầm, chiếc trước đứng sững lại một chốc, xong tiếp tục chạy trườn tới tông sập đổ cột trụ đèn, rồi chạy thẳng ra bìa rừng hướng Tây Bắc, chiếc còn lại quay đầu, leo lấn lên lề đường, Thiếu Úy Nguyễn Tấn Mẫn, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1, không chần chờ bắn ngay một quả M.72, đạn trúng bên hông trái, phía đàng sau đuôi, chiến xa địch hầu như chẳng hề hấn gì, vẫn cứ chạy trên đường lộ, về hướng Tây rồi mất hút trong màn đêm đang đổ xuống toàn Thị Xã Phước Long.

Đêm hôm đó, thời gian đang chầm chậm trôi đi trong yên tĩnh. Nhưng rất bất ngờ, Đại Úy Thứ gọi điện thọai thông báo : Trung Tá Thông ra lệnh cho các Biệt Đội Biệt Cách Dù sửa soạn rút quân, theo hai hướng khác nhau, BCH 1 Chiến Thuật, Đặc Huấn và Ban Quân Y sẽ rút về một hướng (?), còn Biệt Đội 811 và 814 sẽ rút lui theo một hướng khác (?).

Tôi thật qúa đổi ngạc nhiên, khó khăn lắm mới vào được đây để tiếp cứu, vừa chân ướt chân ráo, chưa được một ngày một đêm, và cũng chỉ mới đụng độ sơ khởi với địch, chẳng có tổn thất gì lớn lao, trầm trọng, mà sao Trung Tá Thông lại cho lệnh rút quân.

Tôi suy đoán, chắc có điều gì không ổn chăng ? Hay cấp trên đã nhận thấy kế hoạch thả hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù vào Phước Long, trong biển lửa này như những con thiêu thân, như đem muối bỏ biển, như đem con bỏ chợ, chỉ là làm vật hy sinh tế thần, nên đã cho lệnh triệt thoái khẩn cấp ?

Sáng hôm sau, ngày 5 tháng 1 năm 1975, Biệt Đội liên lạc với BCH 1 Chiến Thuật để am tường rỏ ràng về kế hoạch rút quân, nhưng chẳng có động tỉnh hay lệnh lạc gì khác cả. Và nếu như theo đúng diễn tiến hành quân từ trước, thì Biệt Đội 814 sẽ tiến lên hướng Công viên Lệ Thủy, gần khoảng giữa Trung tâm Thị Xã, để bắt tay cùng các Đại Đội Trinh Sát, sau đó sẽ mở đường, giải tỏa áp lực địch để tiến vào Tòa Hành Chánh Tỉnh.

Chưa kịp hành động, thì đạn pháo của địch bắt đầu tác xạ và nổ ầm ỉ khắp nơi. Trước hỏa lực pháo tới tấp này, với kinh nghiệm chiến đấu cùng giặc cộng ở mặt trận An Lộc, Quảng Trị, tôi biết chắc chắn trước sau gì địch cũng sẽ tấn công, nên cho Biệt Đội nằm yên tại các giao thông hào, chờ đợi nghênh chiến với lủ giặc Cộng. Đúng y như tôi dự đoán, Việt cọng mở cuộc tấn công ào ạt, lực lượng chính của nó vẫn là xe tăng.

Bốn chiếc xe tăng T-54, không phải từ phía ngoài bìa rừng, hướng Tây, hướng Bắc hay hướng Đông, mà từ hướng Nam trong Thành Phố, tiến thẳng về phía phòng tuyến Cảnh Sát Dã Chiến mà Biệt Đội 814 đang trấn giữ. Hai bên mỗi xe tăng, là năm sáu tên bộ đội tùng thiết, cầm AK, CKC, B.40 và B.41 lom khom chạy theo. Tới ngã tư giao lộ, chúng chạy tản ra hai phía, như để bao vây, rồi xoay pháo tháp nổ súng bắn thẳng vào bên trong Đồn Cảnh Sát Dã Chiến.

Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngọc, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2, với M.72 trên vai, nhắm ngay chiếc T.54 đang rẽ hướng về phải, ngay trước tuyến phòng ngự. Lửa từ chiếc xe tăng bùng lên, bọn bộ đội tùng thiết hoảng loạn, chạy dạt vào một bên vệ đường, nhưng không còn kịp, Đại Liên 60, Phóng Lựu M.79, Lựu Đạn của Trung Đội 3 đã tiêu diệt chúng, không còn một tên sống sót. Chiếc T.54 kế tiếp vẫn liều lĩnh chạy tới, càn qua hàng rào kẽm gai, để tiến vào bên trong, nhưng đã bị các vòng dây kẽm gai cuộn, dính chặt trong các mắt xích, xe đứng khựng lại, ngay tức thì, Hạ Sĩ Dữ, một xạ thủ XM. 202 của Trung Đội 2 đứng lên tác xạ, quả đầu tiên bị trượt, quả thứ 2, thứ 3, thứ 4 đều trúng vào thành xe tăng, nhưng không kết quả gì, xe tăng vẫn gầm rú, nhưng chỉ nhúc nhích một hai thước.

Không chần chờ, Thượng sĩ Hùng, Trung Đội Phó, cùng Trung sĩ Sơn, Tiểu Đội Trưởng, đã nhanh nhẹn bò lên, mở nắp pháo tháp, tung vào bên trong hai quả lựu đạn. Chiếc T.54 giờ đây đã hoàn toàn bất động. Dĩ nhiên, không có tên nào trong và ngoài xe có thể sống sót, không có “phép lạ” đến với chúng cả, dù là phép lạ của ông Lenin, ông Mác, ông Mao hay ông Hồ. Có một điều kỳ lạ, là đã hai ba lần sử dụng M.72 và XM.202 tác xạ diệt tăng, nhưng đều không hiệu quả, chẳng lẽ hai loại hỏa tiễn nầy chưa thích ứng hoặc vô hiệu với chiến thuật diệt xe tăng hay Việt cọng rút kinh nghiệm, có thể chúng che chắn thêm cho xe tăng bằng một thứ vật liệu gì đó, khiến trái hỏa tiễn không thể xuyên thủng được.

Hai chiếc T.54 chạy về hướng cổng chính của Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến và Ty Cảnh Sát cũng đã bị Trung Đội 3 và 4 dưới sự chỉ huy của Chuẩn Úy Chuyển và Chuẩn Úy Lân, đã chận đứng và tiêu diệt hai đợt xung phong của đám bộ đội tùng thiết, và sau khi sử dụng M.72 bắn nhưng không chận đứng được chiếc T.54 đang húc đổ cổng trại Cảnh Sát Dã Chiến, Tổ vũ khí nặng, dưới sự điều động của Trung Úy Qúi, Biệt Đội Phó, đã mang Đại bác 90 ly không giựt tác xạ phá hủy, lửa bốc cháy hừng hực, đã làm cho chiếc T.54 theo sau quay bánh xích, gầm rú tháo chạy mất dần về hướng cũ, sau những khu nhà đổ nát, mờ mịt bụi khói mù trời.

Trời tối, đêm dần dần trôi qua trong lo lắng.

Tờ mờ sáng ngày 6 tháng 1 năm 1975, Việt cộng cố dứt điểm trận chiến Phước Long. Sau nhiều đợt pháo kích dữ dội bằng đại pháo, không riêng gì ở Núi Bà Rá, mà tất cả các phía chung quanh, nã vào cái Tỉnh Lỵ nhỏ bé mỗi bề chưa tới nửa cây số, như rải cát trên đầu chúng tôi vậy. Không nơi nào không bị đạn pháo cày xới tơi tả. Quân địch dốc toàn bộ 2 Tiểu Đoàn Xe Tăng và các Trung Đoàn Bộ Binh của Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 7 tràn ngập các cứ điểm còn lại của Quân Đội ta đang trú phòng.

Từ dưới phố, từ bìa rừng hướng Tây Tây Nam, xe tăng địch ào ạt chạy lên đông vô số kể. Thật ra, không phải đông vô số kể, nhưng ít ra cũng phải đếm bằng con số chục, không phải bằng con số lẻ. Tình hình nầy thì “căng lắm đây”, tôi thầm nghĩ ! Biệt Đội 814 không có đủ Hỏa tiễn M-72, lại không có loại mìn tự chế của Đại Tá Huấn như ở trận Bình Long, hai cấp số đạn dược mang theo cũng đã tiêu tán trong hơn một ngày qua, trong khi tình trạng tiếp tế rất khó khăn. Ở cứ điểm núi Bà Rá, với nhiều loại vũ khí phòng không, hầu như địch quân đã khống chế bầu trời Phước Long. Máy bay yểm trợ của Sư Đoàn 3 Không Quân Biên Hòa, không bay thấp được, dù là máy bay tiếp tế hay oanh tạc cơ, còn trên đường bộ thì xe tăng của chúng đang đầy rẫy khắp các ngỏ ngách, để chuẩn bị cho một cuộc tấn công qui mô.

Trong khi tại Đồn Cảnh Sát Dã Chiến, Biệt Đội đang tả xông hữu đột, vật vả chống trả các đợt tấn công của bộ binh địch và xe tăng ở hướng bên hông và hướng trước mặt thành phố, thì bất ngờ, một đơn vị Việt cộng khác, từ phía Ty Cảnh Sát, đã vượt rào cản, tràn lên đánh ập vào hậu tuyến Biệt Đội, nhưng bọn chúng gặp phải sức kháng cự của Ban Chỉ Huy Biệt Đội, đã sử dụng lựu đạn và M.79 tiêu diệt hơn 10 tên địch quân. Lúc bấy giờ, tôi mới biết là Ty Cảnh Sát đã hoàn toàn bỏ trống, toàn bộ nhân viên trong Ty và Cảnh Sát Dã Chiến đã di tản, tháo chạy từ trong đêm hôm qua.

Ngay trong thời điểm đang phải chiến đấu cam go, nóng bỏng, hiểm nguy như thế này, thì Âm thọai viên Biệt Đội cho tin: “Đại Úy Thứ vừa gọi máy, thông báo lệnh của Trung Tá Thông, toàn bộ đơn vị sẳn sàng rút quân. Lại rút quân !!!”.

Nghe tin, chưa kịp định thần, thì ba bốn chiến xa T.54 của địch đã cán sập tường rào, lù lù càn tới, bất kể sự phản công mãnh liệt của Biệt Đội. Đại bác 75, XM.202, M.72 hết hiệu quả tác xạ trong tầm quá ngắn, chỉ còn Đại Liên, XM.16, M.79 và lựu đạn là còn xử dụng, để tiêu diệt đám Cộng quân tùng thiết, đang la hét khủng hoảng tinh thần đối phương và chận đứng các xe tăng địch, đang nặng nề xoay chuyển trong Doanh Trại Cảnh Sát Dã Chiến, với đầy dẫy kẽm gai và công sự.

Đã quá trưa, tình hình chiến sự trong toàn khu vực vẫn còn sôi động, Cộng quân không ngừng pháo và tấn công khắp nơi. Tôi vẫn bình tĩnh chỉ huy Biệt Đôi. Một mặt vẫn giử liên lạc với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật để nhận chỉ thị, một mặt biết chắc không thể tiếp tục đối đầu cùng địch, trước những đàn chiến xa mỗi lúc mỗi gia tăng. Tuân hành theo lệnh rút quân đã được ban hành từ Trung Tá Thông, mà cũng nhằm để bảo toàn lực lượng, tôi quyết định rút Biệt Đội ra khỏi Đồn Cảnh Sát Dã Chiến, di chuyển khoảng 1 cây số, về hướng Đông Bắc, chiếm lĩnh lợi thế trên một đồi rừng non, đâu lưng với sông Dak-Lung chừng 500 mét.

Các Trung Đội dàn trải đội hình bao quanh đỉnh đồi, đào hầm hố, bố trí sẵn sàng nghênh chiến. Và, y như rằng, không đợi lâu, bọn Việt cọng đã đuổi theo truy kích, chúng lố nhố, vừa leo đồi vừa nổ súng bắn tới tấp, bất chấp sự phản công ác liệt của các Chiến sĩ Biệt Cách Dù Biệt Đội 814 từ trên cao điểm. Tuy nhiên, sau hơn hai giờ giao tranh, mặc dù Biệt Đội tiêu diệt được nhiều địch quân, chận đứng kịp thời các đợt xung phong, tiến chiếm đỉnh đồi của địch, nhưng Biệt Đội đã phải hy sinh Thượng Sĩ Thủy Trung Đội Phó và B.1 Tài khinh binh, riêng Trung Đội Trưởng Trung Đội 2, Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngọc thì bị trọng thương, máu chảy lênh láng, Trung sĩ Đức Y Tá Biệt Đội phải sử dụng nhiều lượng thuốc cầm máu, rửa sạch vết thương, nẹp cây hai bên cánh tay để băng bó mới dứt hẳn được.

Ngay trong lúc này, hai công việc tôi phải làm : Việc trước tiên là tiếp tục liên lạc vô tuyến với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật và được biết BCH đã rút ra khỏi Tòa Hành Chánh Tỉnh. Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Long hầu như đã bị Việt cộng chiếm cứ mất rồi. Giờ này chắc Trung Tá Thông, Thiếu Tá Sơn, đang trên đường bôn tập, không biết có được an toàn?. Nếu có nhanh chân tẩu thoát được, thì đang ẩn núp, lẩn trốn đâu đó. Việc thứ hai, dù khó khăn, nguy hiểm thế nào đi chăng nữa, dưới tầm pháo địch, Biệt Đội cũng phải đào hố chôn cất thi hài Thượng Sĩ Thủy và Binh I Tài, những chiến binh đã Anh Dũng Hy Sinh đền nợ Nước.

Trời chiều xuống dần, cả một không gian mờ nhạt bao trùm Tỉnh Lỵ Phước Long, trong giờ phút này đã hoàn toàn rơi vào tay giặc cọng. Thấp thoáng từ xa, một vài đám cháy rãi rác trong Thị Xã, thỉnh thoảng bùng sáng lên, rồi lại lụn tắt dần cùng với ánh chiều tà.

Phước Long thật sự đã mất, mất theo với Đại Tá Nguyễn Thống Thành, Tỉnh Trưởng Tỉnh Phước Long, với Trung Tá Quận Trưởng Quận Châu Thành, với Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2, Sư Đoàn 5 Bộ Binh và còn nhiều nhiều Quân Dân Cán Chính khác nữa, làm sao kể xiết.

Liên lạc với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật để báo cáo tình hình và kế hoạch rút quân, nhưng đường vô tuyến bị nhiễu loạn. Không thể chậm trể, chiến trường đã phó mặc cho tôi chỉ huy chiến đấu sống còn, thì tự tôi phải biết định đoạt vận mạng cho các Chiến sĩ và bản thân. Chỉ cần một đợt pháo hỏa tập của địch, cùng với sự hợp đồng tác xạ đại bác 75 ly từ đỉnh Núi Bà Rá, thì Biệt Đội 814, tất cả đều sẽ trở thành cát bụi.

Không còn chần chờ, mạng sống của trên 150 Binh sĩ Biệt Đội 814 đều nằm trong giải pháp dứt khoát của tôi. Lợi dụng màn đêm buông xuống, tôi ra lệnh cho các Trung Đội cấp tốc, lặng lẽ rút xuống đồi, di chuyển về hướng Đông Bắc tiếp cận bờ sông Dak-Lung, nơi đây bằng mọi giá, ngay trong đêm, phải tìm cách vượt sông Dak-Lung. Qua bên kia sông, Biệt Đội sẽ được an toàn hơn.

Dòng sông Dak-Lung nước chảy xiết, rất mạnh. Hai bờ sông cách nhau khá xa, ít nhất là 50 mét. Một số Binh sĩ không biết bơi, với vũ khí đạn dược còn lại trên người, sẽ không an toàn tính mạng. Sau một thoáng suy nghĩ, tôi quyết định cho một Toán Tiền Sát dưới sự chỉ huy của Trung Úy Biệt Đội Phó Nguyễn Văn Qúi, đi ngược bờ sông hy vọng sẽ tìm thấy một khúc sông hẹp hơn.

Cũng trong lúc này, đức tin của một Phật Tử trổi dậy trong lòng, tôi chắp tay ngưỡng mặt lên trời với vô số vì sao, thầm cầu nguyện đến Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, hầu mong Đấng Từ Bi gia hộ phù trì cho tôi tìm ra sinh lộ, đưa Biệt Đội thoát cơn nguy biến. Và như linh ứng hay là một trùng hợp thiêng liêng, chỉ sau một quãng thời gian ngắn, Trung Úy Qúi báo về, đã tìm thấy được mấy cái bè tre của người Thượng Stieng cư ngụ vùng nầy bỏ lại, đang neo đậu bên một lùm cây cổ thụ.

Nhờ vào khả năng bơi lội của người vùng biển Nha Trang, Trung Úy Qúi đã đưa một Tiểu Đội qua sông, và trong sáng kiến chung, những sợi dây rừng, dây ba chạc, dây dù “mưu sinh thoát hiểm” được nhanh chóng kết nối, nhờ vậy mà cả Biệt Đội lần lượt vượt sông nhanh chóng, chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ, trong im ắng nhưng cũng đầy bất trắc có thể xảy ra.

Trong ngày qua, hôm nay và ngay thời điểm này, rất đông đồng bào Tỉnh Lỵ Phước Long, đã liều chết băng qua cây Cầu Thác Mơ, nằm về hướng Đông Thị Xã, bắc ngang sông Dak-Lung. Việt cọng tuy không ra đón đường ngăn chặn đồng bào, nhưng từ nhiều phía, chúng đã rót pháo vào đoàn người chạy giặc, nhiều thường dân không nhanh chân, đã bị chết hay bị thương, không người cấp cứu, nằm lăn lóc trên bờ đường, phía bên này và bên kia cầu. Cũng như ở Quảng Trị, cũng như ở Bình Long năm 1972, Việt cọng đã gây nên ở đây, một “Đại Lộ kinh hoàng” giữa rừng hoang, đem lại thảm khốc cho người dân lành vô tội.

Lẫn lộn trong đám người chạy loạn đó, có một số Quân Nhân, Cán Bộ, Cảnh sát… trong giờ phút này không thể phân biệt được. Họ đã nhập đàn, lũ lượt cùng với Biệt Đội 814, để vạch lá băng rừng chạy thoát giặc cọng.

Suốt đêm, Biệt Đội cứ theo La Bàn nhắm về hướng Đông Đông Bắc mà đi, đi mãi, không ai nghỉ ngơi hay chợp mắt ngủ. Tôi tránh không đi lên hướng Đông Bắc, phía có mật khu Bùi Gia Mập. Đó là phía Cộng quân di chuyển, tiếp tế hoặc tăng viện cho chiến trường Phước Long.

Theo hướng Đông Đông Bắc, đường đi Gia Nghĩa, Bảo Lộc, dẫu sao cũng an toàn, bất ngờ hơn, dù rừng rậm, rất hiểm trở, nhưng hy vọng không phải đụng độ với địch quân. Đồng Bào đang đi theo sau Biệt Đội, nếu có chạm địch, chắc chắn Cộng quân sẽ không ngần ngại khi bắn vào dân chúng, thiệt hại không nhỏ.

Khi mặt trời lố dạng, nhìn vào tấm Bản Đồ thì Biệt Đội đã vượt xa hơn 10 cây số.

Biệt Đội 814 vào trận ngày 4 tháng 1. Phước Long thất thủ hôm qua, ngày 6 tháng 1. Đã một đêm, một ngày trôi qua, tầng số máy PRC.25 truyền tin cứ bị giao thoa, nhiễu sóng, chẳng liên lạc được ai và chẳng ai liên lạc được. Di chuyển suốt cả ngày, chỉ ăn qua loa, cầm chừng bằng gạo sấy, không có nước sôi, không một phút nghỉ ngơi, chợp mắt. Với tình trạng này, đêm nay không cho Biệt Đội lấy lại sức, lỡ bất ngờ tao ngộ chiến, Biệt Đội không còn một chút hơi tàn nào để cầm cự.

Sáng hôm sau, Biệt Đội tiếp tục lên đường. Nhìn lại đoạn đường Biệt Đội đã đi qua, thì Phước Long bấy giờ đã quá mịt mù, xa lắc xa lơ. Rừng núi từ đây tương đối thấp dễ đi, thỉnh thoảng có nhiều con suối nước trong và chảy xiết. Khoảng gần trưa, Biệt Đội vừa băng qua một trảng trống, thì Hạ Sĩ Huệ, truyền tin Biệt Đội, với bộ mặt mừng rỡ, trao ống bồ đàm cho tôi và nói :

– “Đại Úy, Thái Dương đang gọi Đại Úy”.

Đây là lần đầu tiên liên lạc được với cấp Chỉ Huy cao nhất của Liên Đoàn : Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn, sau gần một tuần lễ chiến đấu và bôn tập. Tiếng nói từ Đại Tá đã xoa dịu được phần nào nỗi trầm uất của một đội quân chiến bại, đang trên đường cao bay xa chạy.

Suốt ngày nay, vị Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn không ăn không ngủ. Thất lạc những đứa con: Biệt Đội 811 và 814 cùng Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật, Đại Tá Huấn lo lắng, bồn chồn như ngồi trên đống lửa.

Ông liên tục theo Phi cơ Quan Sát L.19, bay miết trên vòm trời cao của Phước Long, để tìm kiếm cho ra những chiến binh của mình. Hỏa tiễn Việt cọng bắn lên dữ dội, khiến Ông phải dùng L.19 cho được an toàn. Có khi Ông muốn dùng trực thăng, bay thấp hơn, để dễ tìm thấy, nhưng cao xạ phòng không của địch vẫn là mối đe dọa, không thể liều lĩnh được.

Vậy là sau hai đêm, hai ngày, Đại Tá Huấn tìm ra được Biệt Đội 814.

Sau khi chấm tọa độ chính xác vị trí của Biệt Đội đang dừng quân. Theo hướng dẫn của Đại Tá từ trên Phi cơ L.19, Biệt Đội rẽ về hướng chính Đông, lội qua một con suối, đi chừng khoảng nửa cây số thì dừng quân bố trí tại một trảng tranh rộng nằm lọt giữa một khu rừng tre dày đặc.

Không đầy một giờ đồng hồ sau, một đoàn Trực Thăng UH.1B tuần tự đáp xuống, bốc Biệt Đội 814 đưa về Căn cứ Hành Quân tại Suối Máu, Biên Hòa. Tiếp theo sau là số Quân Dân chạy loạn. Tất cả cũng đều được Đại Tá Huấn đưa về Biên Hòa, chuyển giao cho Quân Đoàn III, Phòng Xã Hội chăm sóc.

Khi tôi vừa từ Trực Thăng phóng ra là đã thấy một số đông phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền hình đứng đầy trên bãi. Phước Long mất đã hai ngày nay rồi. Dân chúng Saigon dao động, lo lắng. Bóng ma cọng sản gần kề hơn!!!

Đang bắt tay cùng các chiến hữu, với nét mặt vui tươi, mừng rỡ, chào đón Biệt Đội tôi sống sót trở về từ cỏi chết, thì một cô gái người nhỏ nhắn, mảnh mai, trong bộ trang phục quần Tây dài, áo bốn túi, màu xanh nhạt, bước đến bên tôi, vừa bắt tay vừa tự giới thiệu tên là : “Thục Viên, phóng viên Nhật Báo Sóng Thần, muốn phỏng vấn…”

Tôi chưa kịp nói gì cả, cảm thấy chân tay như rã rời, chỉ thèm được uống một ly cà phê đá, hay một ly soda chanh cho đã cái khát chất chứa trong suốt mấy ngày qua. Nhưng, miễn cưỡng, tôi nghĩ cũng khó mà từ chối trước lời đề nghị nhiệt thành và đầy thân thiện của cô ta. Thế là một hai câu hỏi và trả lời bắt đầu và trôi qua.

Về sau, tình cờ tôi đọc được bài phỏng vấn này trên Nhật Báo Sóng Thần, với lời mở đầu đầy hài tính, nhưng phản ảnh trung thực về cá tính của con người tôi :

“Sau khi Phước Long thất thủ, các đơn vị tham chiến tại đây, trong đó có Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật và hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù đã phải tìm đường thoát nạn. Sau hai ngày hai đêm băng rừng, vượt núi, đơn vị đầu tiên được Đại Tá Phan Văn Huấn tìm thấy và đưa trở về lại căn cứ hành quân trú đóng tại Biên Hòa, đó là Biệt Đội 814 do Đại Úy Lê Đắc Lực chỉ huy.

Đại Úy Lê Đắc Lực, người cao to, có để bộ râu mép đậm dài, tướng đi bệ vệ trông chẳng khác gì một con gấu. Nhưng khi tôi tiếp xúc phỏng vấn thì thấy Đại Úy Lực rất hiền lành, trả lời câu hỏi từ tồn, nhã nhặn, chân tình, nhìn Đại Úy Lực lúc này thì lại giống như một con nai, phản ảnh trái ngược hoàn toàn với tướng dáng con người của Đại Úy Lê Đắc Lực……”

Ngay chiều hôm đó và qua sáng ngày hôm sau, Đại Tá Phan Văn Huấn đã tìm và đưa được Biệt Đội 811, Đại Úy Trương Việt Lâm, cùng Trung Tá Thông, Thiếu Tá Sơn và một số Quân nhân của Bộ Chỉ Huy I Chiến Thuật trở về. Nhưng Liên Đoàn và riêng Đại Tá Phan Văn Huấn, vẫn mang nặng nỗi đau buồn lớn lao khi đã để lại tại chiến trường Phước Long một số xác thân của các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù đã hy sinh, và còn nhiều quân nhân khác vẫn chưa tìm thấy, mà sau này được biết đã bị Việt cọng bắt làm tù binh bao gồm: Trung Úy Đức, Chuẩn Úy Cấp, Chuẩn Úy Phước (BCH.I / CT), Thiếu Úy Long, Chuẩn Úy Bảo, Chuẩn Úy Lịch, Chuẩn Úy Linh (BĐ.811). Mãi cho đến ngày Miền Nam sụp đổ họ mới được trở về, để rồi sau đó không lâu lại phải đi tù “ cải tạo” khổ sai.

*******

Trên bãi Trực Thăng dã chiến, tại Căn cứ Hành Quân Suối Máu, Biên Hòa, một Nghi Lễ được tổ chức để tưởng thưởng Huy Chương, Cấp Bậc cho hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù và Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật “Bại trận trở về”.

Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, vừa thay thế Trung Tướng Dư Quốc Đống, trong chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III, đứng trước mặt tôi, cầm chiếc Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, dí hai mũi kim vào trên nắp túi áo trái ấn mạnh, kim chạm vào ngực làm hơi buốt nhói, tôi cảm nhận máu đang ứa rỉ bên trong, nhưng đó chỉ là những bụi máu nhỏ so với muôn ngàn dòng máu thắm mà Đồng Đội tôi, Chiến Hữu tôi của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã chảy đổ ra để hiến dâng cho Tổ Quốc, trong suốt chiều dài của cuộc chiến tranh Quốc cộng. Tôi bắt chặt tay Trung Tướng Tư Lệnh, rồi kính cẩn chào trong nỗi xót xa, đau đớn tận cùng.

Và tôi đã khóc, vì tôi cảm thấy chưa hoàn thành sứ mạng : “ Bảo Quốc An Dân ”.

– Mot hop doan truc thang UH1 bat trong lua dan hoang hon .jpg

– Cac chien si LD81BCND chuan bi nhay vao Phupc Long .jpg

– CAC CHIEN SI LD81 BIET CACH NHAY DU PHUC KICH DICH.jpg

– Truc thang đổ quân phi truong TK Phuoc Long .jpg

Trí thức Miền Nam sau 1975

Trí thức Miền Nam sau 1975

Bởi  AdminTD

Huy Đức

25-3-2021

LGT: Ông Huỳnh Kim Báu, cựu Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước thành phố, cựu chủ nhiệm CLB Lê Hiếu Đằng đã qua đời lúc 7h30′ sáng 25-3-2021. Nhân dịp này, xin được giới thiệu một phần nội dung có liên quan tới ông Báu, được trích trong “Chương VI: Vượt Biên“, sách “Bên Thắng Cuộc”, của tác giả Huy Đức:

Sau ngày 30-4-1975, Chu Phạm Ngọc Sơn là một nhà chuyên môn hợp tác toàn diện với chế độ. Ông và một số nhà khoa học khác, thường không câu nệ khi nhận các đơn đặt hàng thực hiện những công trình “khoa học” phục vụ nhu cầu chính trị. Theo Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh Huỳnh Kim Báu: “Những năm ấy, các trí thức Sài Gòn vẫn nhận được điện thoại từ Văn phòng Thành ủy hỏi xem: ‘Có công trình khoa học chào mừng 3-2 hay 19-5 không?’. Những Giáo sư như Phạm Biểu Tâm, Lê Văn Thới thì mắng ngay: ‘Không có thứ khoa học nào gọi là khoa học chào mừng cả’. Nhưng một số người khác thì có, người thì làm ra chất tẩy rửa ‘pentonic’, người chứng minh ‘ăn mấy ký khoai mì bổ bằng một ký thịt bò’, người thì ‘ăn bo bo nhiều dinh dưỡng hơn cả gạo’. Nhưng ngay cả những ‘nỗ lực’ đó cũng không giúp kiến tạo được lòng tin”.

Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn kể: “Nhìn vào lý lịch, thấy trước đây năm nào tôi cũng đi Mỹ nghiên cứu hoặc đi dạy, người ta cứ thắc mắc sao đi Mỹ quá trời. Tôi nộp đơn xin vô Hội Trí thức Yêu nước, mấy lần bị từ chối”. Năm 1980, trong thời gian Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn đi Liên Xô, một người con của ông vượt biên không thành. Người con gái của ông cũng cảm thấy bế tắc khi thi không đậu vào dự bị y khoa. Biết chuyện, ông Võ Văn Kiệt thỉnh thoảng qua lại, trò chuyện, khi hiểu thêm nội tình, ông nói với Giáo sư Sơn: “Thôi, anh cứ để cho cô ấy và mấy cháu đi, đi chính thức. Bên đó có điều kiện cho các cháu học hành. Sau này nếu các cháu trở về thì tốt, nếu không, tôi với anh cũng được làm tròn bổn phận”.

Ông Huỳnh Kim Báu kể: Sau giải phóng, Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn vào Sài Gòn, sau khi nghe Mai Chí Thọ, Trần Trọng Tân báo cáo tình hình, ông nói: “Nãy giờ có một chiến lợi phẩm rất lớn mà các đồng chí không đề cập, đó là lực lượng trí thức được đào tạo từ nhiều nguồn. Lenin nói, không có trí thức là không có xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Kim Báu, cách mà chính quyền sử dụng trí thức chủ yếu là “làm kiểng”.

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ tuy ở thời điểm đó vẫn còn là Hiệu phó Đại học Khoa học, nhưng theo ông Báu: “Đấy chỉ là một chức vụ bù nhìn, không có vai trò gì trong giáo dục”. Giáo sư Hộ là Hiệu phó nhưng không phải đảng viên, nên khi có vấn đề gì thì những người trong Đảng họp riêng, quyết định xong, có việc nói với ông, có việc ông không bao giờ được biết. Từ rất sớm, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã phản đối cách đào tạo đưa thời gian học chính trị quá nhiều vào chương trình. Ông cảnh báo: “Nếu chính trị can dự quá mạnh, các nhà khoa học sẽ mất căn bản”.

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ nói lên điều này sau khi chính ông đã được trải nghiệm trong những ngày học chính trị. Năm 1977, một lớp học kéo dài mười tám tháng về “Chủ nghĩa xã hội khoa học” dành riêng cho các trí thức miền Nam đã được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Ba, người tham gia tổ chức lớp học này, kể: “Chính quyền tưởng rằng sau lớp học sẽ có được một tầng lớp trí thức của chế độ cũ yêu mến và phụng sự chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nếu như Marxism đã từng được các trí thức miền Nam quan tâm như là một môn khoa học, thì giờ đây họ lại nghe những giảng sư miền Bắc nói về Marx hết sức giáo điều. Chưa kể, những người đứng lớp còn rao giảng với tư thế của người chiến thắng, tự tôn, tự đắc”. Những đảng viên tham gia lớp học như ông Võ Ba cũng thừa nhận: “Trước giới trí thức Sài Gòn, chính quyền đã thất bại ngay trong lần trình diễn đầu tiên”.

Chưa kết thúc lớp học, Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung, một giáo sư triết học nổi tiếng của Sài Gòn, một người được coi là “hằn học với Giáo hội”, đã coi cộng sản cũng là “một giáo hội”. Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung cho rằng hình thức “kiểm điểm” mà cộng sản áp dụng trong sinh hoạt chính là một thứ “xưng tội man rợ”. Về đường lối, ông cho rằng: “Có thể có những điều Lenin nói đã đúng vào năm 1916, nhưng sau bảy mươi năm mà ta áp dụng là không lý trí”. Thậm chí, tại thời điểm kinh tế tan hoang, Thành ủy đã họp khẩn vấn kế các trí thức, Ông Kiệt đã thực bụng trải lòng: “Các Anh Chị suy nghĩ đề xuất giải pháp, nếu một năm nữa tình hình không chuyển biến, các Anh Chị tùy ý ra đi hay ở lại”. Gs Trung đã khẳng khái đáp: “Khi đó, nếu còn lòng tự trọng, các Anh nên tự xử cho hợp lẽ, tại sao lại đặt vấn đề chúng tôi ra đi!?”. Ông Mai Chí Thọ tím mặt. Đêm đó đòi bắt Gs Trung, nhưng Ông Kiệt “năn nỉ” bỏ qua.

Còn Giáo sư Châu Tâm Luân thì khi nghe các giảng sư miền Bắc say sưa nói về con đường “tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản” đã mỉa mai: “Sao không tìm hiểu xem sau chủ nghĩa cộng sản là gì để nhân tiện bỏ qua, mình bỏ qua luôn hai, ba bước”. Giáo sư Châu Tâm Luân lấy bằng tiến sỹ về kinh tế nông nghiệp ở Đại học Illinois, Mỹ, năm hai mươi lăm tuổi, trở về dạy cùng lúc ở hai trường đại học Minh Đức và Vạn Hạnh. Ông là một trong những trí thức phản chiến hàng đầu, bị chế độ Sài Gòn bắt giam đầu năm 1975 cho tới những ngày cuối tháng 4-1975 mới được Chính quyền Dương Văn Minh thả ra. Giáo sư Châu Tâm Luân là một thành viên của nhóm “sứ giả” được ông Dương Văn Minh phái vào trại Davis và được giữ lại ở đây cho đến trưa ngày 30-4-1975. Sau giải phóng, chính quyền xếp ông vào diện “người của ta”. Ông là đại biểu khóa I Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời là ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Về phía mình, Giáo sư Châu Tâm Luân cũng là một trong những trí thức kỳ vọng nhiều vào chế độ mới. Mấy tháng “sau giải phóng”, giá cả sinh hoạt tăng vọt lên, trong khi dân tình lo âu thì ông lại cho là giá tăng vì “tâm lý”, giống như cách giải thích thời ấy của chính quyền. Sau khi cho rằng nhà nước không thể dùng ngoại tệ để nhập hàng như trước đây, Giáo sư Châu Tâm Luân viết: “Giờ đây không còn bọn tay sai đem máu của con em nhân dân đổi lấy đô la nữa thì cần phải tiết kiệm tối đa số ngoại tệ mà dân phải lao động đổ mồ hôi mới đem về được cho quốc gia… Vì vậy ngoài sự tiếp tay chánh quyền kiểm soát gian thương, chúng ta cũng cần kềm hãm bớt kẻ địch ở ngay trong lòng mình…”

Khi trao cho Giáo sư Châu Tâm Luân nhiều trọng trách, Chính quyền nghĩ đơn giản ông là người “dùng” được. Nhưng, cũng như nhiều trí thức Sài Gòn, ông đã không hành xử như là một công cụ. Từ năm 1976, Giáo sư Châu Tâm Luân không được đứng lớp vì kiến thức kinh tế của ông là “kinh tế tư bản”, tuy nhiên, ông vẫn còn được để ngồi trong Hội đồng Khoa học của trường. Chỉ ít lâu sau, Đảng ủy trường nhận xét ông muốn “tranh giành lãnh đạo với Đảng”.

Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi ngạc nhiên, chế độ cũ hai lần giao chức cho tôi mà tôi có màng tới đâu”. Nhưng té ra vấn đề không phải là “ghế”, mà là những ý kiến của ông ở Hội đồng Khoa học luôn luôn khác với ý kiến của chi bộ. Trong một cuộc họp, khi nghe ông Đỗ Mười thao thao nói về “hợp tác hóa”, về chủ trương phải đưa những người bần cố nông lên làm lãnh đạo hợp tác và “phải đào tạo họ”, Giáo sư Luân hỏi: “Nhà nước định đào tạo trong bao lâu?”. Ông Đỗ Mười nói: “Tình hình gấp rút, đào tạo ba ngày”. Giáo sư Châu Tâm Luân nhớ lại: “Tôi bắt đầu ngao ngán vì muốn thay đổi thì phải bắt đầu từ cái đầu, mà những ‘cái đầu’ thì như thế!”. Sau lần gặp ông Đỗ Mười, nhà kinh tế nông nghiệp Châu Tâm Luân được đưa về Viện Khoa học Xã hội. Không chỉ có những đụng độ tại cơ quan. Ở Hội đồng Nhân dân, Giáo sư Châu Tâm Luân là trưởng Ban Nông nghiệp. Trong một phiên họp toàn thể thảo luận về các chương trình khoa học của Thành phố, sau khi nghe ông Luân tranh luận, một đại biểu trong Hội đồng mặc quân phục đứng dậy xin ngưng cuộc cãi vã, và lớn tiếng: “Các chuyên viên đã để ra rất nhiều thời giờ soạn thảo, đại biểu đó tư cách gì mà đòi sửa qua sửa lại”. Ông Luân cố dằn lòng: “Tôi xin ngưng cuộc thảo luận, bởi như vị đại biểu vừa nói, đã có các chuyên viên nghiên cứu cho chúng ta rồi thì chúng ta chỉ còn là chuyên viên giơ tay thôi”. Chủ trì phiên họp, ông Mai Chí Thọ không nói gì, chỉ yêu cầu biểu quyết. Nhìn thấy ông Luân không giơ tay, ông Mai Chí Thọ hỏi: “Ai không chấp thuận?”. Ông Luân cũng không giơ tay, ông nói: “Toàn thể chấp thuận, một phiếu trắng”.

Một số cán bộ cách mạng tốt bụng bắt đầu lo lắng cho vị giáo sư trẻ tuổi này, một Trưởng Ban Đảng khuyên: “Tôi sáu mươi tuổi, người ta vẫn xem tôi như con nít, phải ăn nói thận trọng lắm. Anh nhớ, anh chỉ mới hơn ba mươi tuổi”. Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tại diễn đàn của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi đề nghị phải áp dụng ‘kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước”. Ông Xuân Thủy nghe, nói với tôi: ‘Anh phải có người đỡ đầu, anh về nói với Sáu Dân đi”. Tôi trả lời ông Xuân Thủy: ‘Nếu tôi nói đúng thì các anh phải nghe chứ sao lại cần người đỡ đầu?’.

Sau đó, ông Mai Chí Thọ nhắc: ‘Cậu đúng, nhưng áp dụng như vậy thì phức tạp quá, làm sao chúng tôi quản lý được. Muốn làm phải có những người như cậu. Mà nói thật chúng tôi chưa thể tin hoàn toàn những người như cậu’”.Theo ông Luân: “Những năm ấy, tôi chê ông Võ Văn Kiệt nhát, ‘xé rào’ là vá víu; phải “phá vỡ ” để áp dụng kinh tế thị trường, chứ không thể phá những đoạn rào. Ông Mai Chí Thọ nghe, nhắc: ‘Phải giữ chính quyền trước hết, chính sách sai thì còn sửa được chứ mất chính quyền là mất hết”. Về sau tôi mới thấy ông Mai Chí Thọ đã nói rất thật lòng, họ đã ngủ rừng hàng chục năm để có chính quyền, làm sao họ để mất cái mà họ vừa giành được đó”.

Hai vợ chồng Giáo sư Châu Tâm Luân đều học ở Mỹ. Trước năm 1975, gia đình ông đã định cư ở một nước Bắc Âu, nhưng cả hai đều chọn con đường về nước. Sau năm năm cố gắng chòi đạp trong chế độ mới, ông không tìm thấy một cơ may thay đổi nào. Đầu năm 1979, ông vẫn còn được trả lời phỏng vấn các phóng viên nước ngoài, nhưng càng về sau thì không thấy nhà báo nào gặp ông nữa. Giáo sư Châu Tâm Luân nói: “Tôi bắt đầu có dự cảm bất ổn. Khi tình cờ gặp một vài phóng viên, nghe họ nói mấy lần đến Việt Nam xin gặp tôi, đều được chính quyền trả lời là Giáo sư Châu Tâm Luân đang đi công tác xa. Tôi biết tôi đang dần dần bị cô lập”.

Dù từng hoạt động trong các phong trào chống đối dưới chế độ Sài Gòn, ông Huỳnh Kim Báu vẫn phải thừa nhận: “Trước 1975, mặc dù chính quyền bị coi là bù nhìn, nhưng trí thức vẫn được trọng dụng, họ có quyền thực sự trong chuyên môn. Sau giải phóng, chính quyền được nói là của mình, nhưng trí thức gần như chỉ được dùng như bù nhìn, trong khi đa phần họ là những người khẳng khái”.

Năm 1977, có lần hệ thống nước máy của Thành phố bị đục, ông Võ Văn Kiệt mời các nhà trí thức tới hiến kế. Nhiều người phát biểu, riêng ông Phạm Biểu Tâm ngồi im. Ông Kiệt hỏi: “Sao vậy anh Tâm?”. Ông Phạm Biểu Tâm nguyên là chủ tịch Hội Sinh viên Hà Nội trước 1945. Năm 1963, con gái Ngô Đình Nhu là Ngô Đình Lệ Thủy thi Y khoa đã bị ông đánh rớt, dù bị nhà Ngô gây áp lực. Ông là một nhà giáo được sinh viên kính nể. Ông Tâm được nói là rất quý ông Kiệt, nhưng có lẽ do quá bị dồn nén, ông đứng dậy nói: “Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức khỏe, vì cái gì cũng đã có mấy anh nghĩ hết. Nước dùng hàng ngày là chuyện mấy anh đâu phải chuyện tụi tui”.

Một thời gian sau, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ trả lại chức Hiệu phó. Trường sợ mang tiếng không nhận, ông khóa phòng, giao chìa khóa, tự chấm dứt vai trò “chim kiểng” của mình. Theo ông Võ Văn Kiệt, Thành ủy vẫn để Giáo sư Phạm Hoàng Hộ hàng năm sang Pháp dạy học. Trong một lần đi Pháp, ông ở lại luôn bên đó rồi viết thư về cho ông Kiệt nói rằng, công việc nghiên cứu nhiều, ông cần phải ở nơi có phương tiện cho ông làm việc, khi nào đất nước thực sự cần, ông sẽ về.

Còn Giáo sư Châu Tâm Luân, nhân một buổi tối rủ ông Võ Ba tới nhà chơi, đã đưa cho Võ Ba coi một tập đánh máy hai mươi trang về “tình hình kinh tế nông nghiệp miền Nam”, rồi nói: “Võ Ba ơi, mình rất mừng vì bản báo cáo này của mình đã được Mặt trận Tổ quốc đánh máy gởi đi. Hai lần trước thì họ không chịu đánh máy. Nhưng, Võ Ba ạ, họ đánh sai hết, những thuật ngữ như ma trận họ đánh thành mặt trận ông ạ”. Mấy hôm sau, Võ Ba chạy qua nhà Giáo sư Luân thì thấy cửa đóng, bên trong thấp thoáng bóng mấy công an đến “chốt nhà”. Cho dù, sang tới Thái Lan ông bị các thuyền nhân khác đánh rất đau, khi viết thư về, trả lời câu hỏi của ông Huỳnh Kim Báu, “liệu vượt biên có phải là một quyết định sai lầm”, Giáo sư Châu Tâm Luân vẫn cả quyết: “Không, Báu! Dù phải trả giá đắt, mình vẫn thấy đi là đúng”.

Trong số các trí thức miền Nam, ông Võ Văn Kiệt “xếp” Giáo sư Châu Tâm Luân vào hàng “khó tính”. Tuy nhiên, ông kể: “Đến nhà Châu Tâm Luân mình rất thích vì ảnh thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy, có khi như búa bổ. Ảnh hy vọng khi đất nước hòa bình, với sự phì nhiêu của đất đai miền Nam, sẽ có dịp thi thố giúp phát triển nền nông nghiệp. Nhưng một thời gian sau, thấy cơ chế như thế thì không thể nào đóng góp được”.

Một người khác từng quen biết Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt nhưng cũng phải vượt biên là Kỹ sư Phạm Văn Hai, giám đốc nhà máy dệt Phong Phú. Ông Phạm Văn Hai là người đưa kỹ nghệ nhuộm vào miền Nam. Ông có hai người con, một người được đặt tên là Phạm Chí Minh, một người là Phạm Ái Quốc. Sau ngày 30-4, ông Phạm Văn Hai vẫn nhiệt tình tư vấn để phục hồi ngành dệt và nghiên cứu chất kích thích cây cỏ. Nhưng năm 1977 ông quyết định “đi”. Vượt biên hai lần, cả hai lần đều bị bắt. Lần đầu bị bắt ở Kiên Giang, Thành ủy lãnh. Lần hai, bị bắt ở thành phố, ông Võ Văn Kiệt vào thăm, ông Hai nói: “Cho dù anh quan tâm nhưng như thế này thì không làm được”. Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận: “Những người như Kỹ sư Phạm Văn Hai, như Giáo sư Châu Tâm Luân…, nếu chỉ khó khăn về cuộc sống họ sẽ vượt qua, nhưng nếu bị đặt vào hoàn cảnh không thể đóng góp thì họ không chịu được. Tôi cũng không biết làm gì hơn, chỉ đề nghị mấy ảnh đừng vượt biên nguy hiểm”.

Ông Võ Văn Kiệt nhớ lại: “Tôi tiếc đứt ruột khi để những anh em trí thức ấy ra đi, nhưng biết là nếu họ ở lại, thì cơ chế hiện thời cũng chưa cho phép mình sử dụng họ”. Trước khi vượt biên, ông Dương Kích Nhưỡng, một công trình sư cầu cống, thủy điện, nói với ông Võ Văn Kiệt: “Ước mơ của các anh rất đẹp, nhưng các anh làm như thế này là không được. Đi đâu cũng nghe nói tới nghị quyết, làm cái gì cũng chỉ theo tinh thần nghị quyết này, chủ trương kia thay vì theo pháp luật. Trị nước mà bằng nghị quyết và chỉ thị chung chung thì không được”.

Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Huỳnh Kim Báu nhớ lại: ông Kiệt biết là các trí thức bắt đầu vượt biên, ông gọi tôi lên và dặn “Nghe ngóng, nếu có anh em trí thức bị bắt ở đâu, anh phải lãnh về”. Khi nhận được tin công an Bình Thuận bắt giam Kỹ sư Dương Tấn Tước, ông Kiệt cấp giấy cho ông Báu ra Bình Thuận xin “di án về Thành phố”. Ông Báu kể: “Công an Bình Thuận thấy giấy của Thành ủy thì cho nhận ‘can phạm’. Nhưng khi anh Tước thấy tôi mừng quá định kêu lên, tôi đã phải giả vờ làm mặt lạnh, bước tới, còng tay anh Tước. Dọc đường, tôi cứ phải làm thinh mặc cho Kỹ sư Dương Tấn Tước ngơ ngác. Qua khỏi Bình Thuận, tôi mới mở còng và giải thích: Công an Bình Thuận mà biết, người ta chụp đầu cả tôi”.

Đích thân ông Kiệt cũng nhiều lần đến các trại giam để bảo lãnh các trí thức.

Theo ông Phạm Văn Hùng và Nguyễn Văn Huấn, hai người giúp việc thời đó của ông Kiệt, hình thức “xử lý” đối với những trí thức vượt biên của “Anh Sáu Dân” là kêu tụi tôi đích thân đi làm lại hộ khẩu và sổ gạo cho họ. Nhưng phần lớn các trí thức đã ra đi lặng lẽ. Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi đi tất cả sáu lần. Lần bị giữ lâu nhất là ở Rạch Giá, cả tháng trời. Nhưng tôi không khai mình là ai. Như bốn lần trước, ở nhà cứ lo một cây vàng thì được thả”.

Có những người không chịu nhờ Thành ủy, hoặc “lo” bằng vàng. Theo ông Huỳnh Kim Báu, khi vượt biên bị bắt, Giáo sư Lê Thước đã tự sát…

Bác sĩ… ngụy

Bác sĩ… ngụy

Có những câu nói sẽ thay đổi theo từng ngữ cảnh, theo từng thời gian và thậm chí còn đi ngược lại ý nghĩa ban đầu, chẳng hạn như chữ “ngụy”. Khi “bên thắng cuộc” vào Miền Nam năm 1975, người Sài Gòn thường nhíu mày, khó chịu khi nghe đến chữ “ngụy”.

Ấy thế mà 45 năm sau, đôi khi lập lại cũng từ ngữ đó người ta lại cảm thấy “ngụy” không còn là cách nói miệt thị, không phải cứ “ngụy” là xấu mà trái lại nó tượng trưng cho điều gì đó tốt đẹp. Bằng chứng cụ thể, ngày nay có nhiều người ca ngợi… Bác sĩ Ngụy!

Chỉ mới đây thôi, một cuộc giải phẫu tách rời hai trẻ sơ sinh dính liền nhau từ trong bụng mẹ đã được dư luận, kể cả lề trái lẫn lề phải, bàn tán xôn xao. Có đến gần 100 y bác sĩ tham gia cuộc mổ mà trong đó người đứng đầu ê-kíp lại là một bác sĩ tuổi đã ngoài 70, được đào tạo từ thời còn “mồ ma” VNCH!

   Cặp song sinh Trúc Nhi – Diệu Nhi cùng bố mẹ trước khi mổ tách rời

Cũng vị bác sĩ quân y này năm 1988 đã là “nhạc trưởng” vì ông giữ vai trò phẫu thuật viên chính ca mổ tách cặp song sinh dính liền Nguyễn Việt – Nguyễn Đức với sự hỗ trợ thiết bị của Nhật Bản. Sự thành công của ông vang danh thế giới và được ghi tên vào Sách kỷ lục Guinness Thế giới năm 1991.

   Cặp song sinh Việt – Đức trên báo Nhật Bản

Hơn 30 năm sau ông lại là một trong 9 bác sĩ ngoại viện chủ chốt, tham vấn cho kíp mổ tách rời hai cháu Trúc Nhi – Diệu Nhi, lúc này ông đã ở vào tuổi 79. Đó là Bác sĩ Trần Đông A, ông tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn theo diện tình nguyện nhập ngũ để sẽ phục vụ ngành quân y trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Sau khi ra trường, ông phục vụ trong Binh chủng Nhảy dù, từng tham gia Trận Làng Vây và Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh với tư cách là một Bác sĩ Quân y. Ông được khen thưởng nhiều huy chương trong đó có anh dũng bội tinh, kể cả một huân chương của Sư đoàn Không kỵ Hoa Kỳ.

BS Đông A đã  từng được gửi đi tu nghiệp phẫu thuật tại Texas, Hoa Kỳ. Năm 1975, ông là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn Quân y, Sư đoàn Nhảy dù Quân lực VNCH, với cấp bậc Thiếu tá. Sau 2 năm học tập cải tạo tại Suối Máu, ông được phân công về công tác tại Bệnh viện Nhi đồng 2

    Bác sĩ Trần Đông A sau ca mổ song sinh ngày 15/7/2020

VNCH đào tạo sĩ quan quân y ra sao? 

Trong bài viết “Khóa 21 Sinh viên Sĩ quan Quân y Hiện dịch” của Bạch Thế Thức & Phạm Anh Dũng chúng ta được biết nhiều thông tin về việc huấn luyện “bác sĩ khoác áo lính” trong quân lực VNCH:

“Đa số họ gia nhập Quân y khi còn là sinh viên y khoa năm thứ 1 hay thứ 2. Học qua hết học trình Y Khoa, các năm thứ 3, năm thứ 4, năm thứ 5 và năm thứ 6. Sau khi ra trường, chúng tôi có một thời gian ngắn học Hành Chánh ở trường Quân Y và thêm về Cấp cứu Hồi sinh ở Tổng Y Viện Cộng Hòa rồi cuối cùng ra đơn vị… Thời gian khi là sinh viên quân y của chúng tôi ít nhất là 5 năm hay 6 năm hoặc có vài trường hợp 7, 8 năm nếu là những người học lớp trước bị ở lại…”

Trường Quân Y là một trong ba trường “sĩ quan hiện dịch” của Quân Lực VNCH, các trường kia là Võ bị Quốc gia Đà Lạt và trường Chiến tranh Chính trị. Những trường Sĩ quan Hải quân và Sĩ quan Không Quân đào tạo “sĩ quan trừ bị”, giống như trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.

Tân sinh viên Quân y ngoài việc “huấn nhục” thể xác và tinh thần, họ vẫn còn thêm sự lo lắng như những sinh viên Y Nha Dược ngoài dân sự, vẫn phải đi học, vẫn phải “gạo” bài. Nếu không thi đỗ thì bị ở lại lớp hay “ra trường sớm” tức là bị loại khỏi trường nếu thi trượt hai lần.

Trong sáu tuần lễ huấn nhục, ngày nào cũng vậy, sáng dậy sớm tập thể dục một giờ rồi mới đi đến trường Y Khoa học và buổi chiều về lại học thêm môn cơ bản thao diễn. Buổi tối lại còn có những lớp “đặc biệt”, xếp hàng học căn bản quân sự. Có nghĩa là học bù đầu, từ sáng sớm cho đến tối.

    Huấn nhục tại Trường Quân Y

   (Tranh của Y Sĩ Đại Úy Nguyễn Hữu Thường thuộc Tiểu Đoàn 1 Quân y Nhảy dù)

Suốt cuộc đời sinh viên quân y, ngoại trừ lúc có lý do như ốm đau, đi nghỉ phép… mỗi sáng Thứ Hai phải mặc quân phục, đeo khăn đỏ, đi sớm vào trường Quân Y để làm lễ chào cờ hàng tuần và nhận chỉ thị. Quên lễ chào cờ sẽ bị phạt trọng cấm.

Riêng việc huấn luyện quân sự, vào mùa hè sinh viên phải đi đến các trường huấn luyện, mỗi kỳ kéo dài 6 tuần lễ. Có khóa được gửi về Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt nhưng cũng có khóa đến Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức và Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.

    Lễ mãn khóa Quân y VNCH

Trong thời gian “học tập cải tạo” tôi đã có dịp tiếp xúc và sinh hoạt với nhiều “bác sĩ ngụy”. Chúng tôi được đưa đến Trảng Lớn, Tây Ninh, trại cải tạo mang bí số L1T5, “hòm thơ” 7590. Nơi đây đã nảy sinh nột thứ tình bạn “chân chính” giữa những người cùng cảnh ngộ trong thời “điêu linh”.

Cũng là điều may mắn khi bạn “ăn cùng thau cơm” với những bác sĩ quân y. Thật tình trước khi vào đây họ chỉ là những người mà công việc thường ngày là thuốc men nhưng vẫn bị coi là “có nợ máu với nhân dân”. Họ chỉ biết “truyền máu” chứ làm sao có thể “hút máu” người bệnh?

Bác sĩ Lâm thường được anh em gọi là “Lâm Bột” chỉ vì anh trắng như bột trong vóc dáng thư sinh. Bs Như là “một cây văn nghệ” thường giúp vui anh em bằng những bản “nhạc vàng” trong những buổi tối vắng bóng quản giáo, vệ binh. Anh tên Như nhưng lại có biệt danh là “Nhôn Lừ”, một cái tên xuất phát từ lối nói lái!

Bác sĩ Sơn là dân trường Tây nên thỉnh thoảng vẫn xưng “toa, moa” với bạn bè. Anh có dáng người to con nhưng lúc nào cũng hòa nhã trong giao tế. Chúng tôi còn có “Tý Điệu” đặt tên theo truyện tranh “Xì Trum” (Schtroumpf) của Pháp. Bác sĩ “Tý Điệu” là người nhỏ tuổi nhất trong nhóm nhưng lại có tài “xủi” (khắc) những thanh nhôm săn nhặt được ở phi trường L19 bỏ hoang trong căn cứ.

Người lớn tuổi nhất là trong nhóm là Đại úy Quân y, Bác sĩ Phạm Kỳ Nam, trước khi “tan hàng” anh phục vụ tại Quân y viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Nam thuộc tuýp người “ăn to, nói lớn” lại còn có tác phong “lãnh đạo” nên trong những buổi lao động anh đứng ra điều khiển cả nhóm.

Anh cũng có máu “tiếu lâm” nên thường kể cho anh em nghe những chuyện vui để quên ngày tháng “các chậu, chim lồng”. Cũng có những lúc buồn cho tương lai của mình anh lại than thở: “Không biết mai này sẽ ra sao… chẳng lẽ lại cưới một cô bộ đội cái, đít to như cái lu?”.

Đại úy Nam là người được ra trại sớm nhất trong bọn tôi sau hơn 2 năm ở trong trại. Anh được về Nông trường Phú Mỹ, Củ Chi, rồi sau chuyển về Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình, trước đây là Bệnh viện Sùng Chính ở quận 5. Cuộc đời của anh thăng tiến trong ngành y cũng chẳng kém gì Bác sĩ Trần Đông A, có khác chăng là ở lý tưởng chính trị.

Bác sĩ Đông A sau này dấn thân vào chính trị, con cưng của nhà nước, được chính phủ tặng Huân chương Lao động và danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân. Ông còn là đại biểu Quốc hội khóa XI và XII, đại diện cho Thành phố Hồ Chí Minh. Lại còn nghe đồn ông là… đảng viên!

Trong khi đó, Bác sĩ Nam chỉ hoạt động thuần túy trong lãnh vực y tế nhưng cũng đã thành công trên lãnh vực tình cảm với việc kết hôn với ca sĩ Phương Hồng Quế, “TV chi bảo”, vì cô thường xuất hiện trên đài truyền hình trước năm 1975 với những bản nhạc ca tụng chiến sĩ VNCH.

Cặp “bác sĩ – nghệ sĩ” có với nhau 2 đứa con, một trai một gái, nay cả hai cháu đã đều thành đạt. Chỉ tiếc một điều “Nam Già” (còn được gọi là “Nam Đầu Bạc”) đã bỏ lại sau lưng tất cả để về cõi vĩnh hằng năm 2012.

R.I.P. Bác sĩ Phạm Kỳ Nam, người bạn đồng cam cộng khổ!

     Bác sĩ Phạm Kỳ Nam với người thân tại Sài Gòn

Với chủ đề “Bác sĩ Ngụy”, chúng tôi qua bài viết này muốn vẽ lại bức tranh của các bác sĩ đã được đào tạo từ thời VNCH. Bức tranh có những nét chấm phá, chỗ sáng – chỗ tối, khi đậm khi lạt, kể cả lúc đúng lúc sai.

Phần nhận xét và phê bình còn tùy thuộc vào chính kiến của người đọc.

Nguyễn Ngọc Chính

From: TU-PHUNG

Gia đình 3 người bị bắt, công an đòi xử lý hình sự ông Trịnh Bá Khiêm vì live stream lên mạng

 Hôm 24-3-2021, công an huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình mời ông Trịnh Bá Khiêm lên làm việc, đồng thời yêu cầu xóa bỏ các video phát trực tiếp trên Facebook và không chia sẻ các bài đăng khác nếu không sẽ bị xử lý hình sự.

Gia đình ông Trịnh Bá Khiêm hiện có 3 người hiện đang bị chính quyền Việt Nam giam giữ vì các cáo buộc “phát tán tài liệu nhằm chống nhà nước” gồm vợ là bà Cấn Thị Thêu và 2 con trai là Trịnh Bá Phương và Trịnh Bá Tư.

Gia đình 3 người bị bắt, công an đòi xử lý hình sự ông Trịnh Bá Khiêm vì live stream lên mạng
RFA.ORG

Gia đình 3 người bị bắt, công an đòi xử lý hình sự ông Trịnh Bá Khiêm vì live stream lên mạng 

Hôm 24-3-2021, công an huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình mời ông Trịnh Bá Khiêm lên làm việc, đồng thời yêu cầu xóa bỏ các video phát trực tiếp trên Facebook và không chia sẻ các bài đăng khác nếu không sẽ bị xử lý hình sự.

Gia đình ông Trịnh Bá Khiêm hiện có 3 người hiện đang bị chính quyền Việt Nam giam giữ vì các cáo buộc “phát tán tài liệu nhằm chống nhà nước” gồm vợ là bà Cấn Thị Thêu và 2 con trai là Trịnh Bá Phương và Trịnh Bá Tư.

Ông Khiêm vào chiều cùng ngày thuật lại buổi làm việc với phóng viên Đài Á Châu Tự Do như sau:

“Họ lấy các thông tin mà tôi live stream trên mạng xã hội và họ yêu cầu tôi là không được live stream trên mạng xã hội nữa. 

Họ nói là ‘Tôi nói như vậy sẽ gây cho nhân dân hoang mang và nói xấu đảng Cộng sản, không tố cáo cá nhân mà lại nói chung cả đảng Cộng sản’ và yêu cầu tôi không được live stream trên mạng xã hội. 

Nếu còn live stream trên mạng xã hội như thế nữa thì chế độ Cộng Sản sẽ bắt giam tôi và xử án nặng, những viên công quyền nó nói với tôi là như vậy.

Tôi dùng những lời lẽ bác bỏ hết tất cả những những điều quy chụp của bọn cộng sản dành cho tôi. 

Tôi bảo với bọn cơ quan công quyền, công an hôm nay là ‘nếu không có Đảng Cộng sản thì người dân chúng tôi đã không bị mất đất’. 

Nó bảo tôi sao không làm đơn kiện, nó bảo kiện từng cá nhân. Tôi bảo: ‘Kiện từng cá nhân nhưng chế độ Cộng sản có giải quyết đâu?’.”

Trong đoạn video ông Khiêm phát trực tiếp trên Facebook cá nhân vào sáng ngày 24-3 cho thấy, một người trong đoàn công tác yêu cầu ông phải xóa bỏ các video có dấu hiệu vi phạm luật An ninh mạng. Người này nói:

“Chúng tôi đề nghị, yêu cầu anh thứ nhất là xóa bỏ những video clip có nội dung vi phạm ví dụ như là chửi…, ví dụ như là anh gây hoang mang, các video có nội dung đi ngược lại với đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Đề nghị anh là gỡ bỏ!

Thứ hai là không tiếp tục đăng tải, chia sẻ những bài viết, video có các nội dung có thể – như chúng tôi nói là dẫn đến việc anh phải chịu trách nhiệm hình sự.”

Ông Trịnh Bá Khiêm nhận định rằng, có đến 70% khả năng chính quyền sẽ bắt giữ ông theo sau việc bắt giữ 3 thành viên của gia đình, nhưng ông không lo lắng và khẳng định rằng:
“Tôi không lo sợ một tí nào cả, vợ con tôi đang ở trong tù thì máu của tôi lúc nào cũng sôi lên đối diện với bọn cộng sản chúng nó. 

Tôi coi thường chúng nó, không coi chúng nó là cái gì. Tôi đã xác định rồi!

Dù thế nào thì tôi cũng không sợ bọn cộng sản, dù bọn cộng sản có bắt giam tù tôi 20 năm.

Tôi tuyên bố với bọn cộng sản, Bộ Công an, an ninh tỉnh Hòa Bình như vậy. 

Hai mươi năm tôi cũng không sợ, kể cả chết trong tù tôi cũng không sợ chế độ độc tài của bọn cộng sản. Tôi không lo lắng một tí nào!”

Trong buổi làm việc, ông Khiêm cũng đồng thời yêu cầu được gặp con trai là nhà hoạt động Trịnh Bá Phương, hiện bị công an Hà Nội chuyển từ trại tạm giam sang bệnh viện Tâm thần trung ương 1 để giám định từ hồi đầu tháng 3 vì giữ quyền im lặng và bất hợp tác với an ninh điều tra.

Ông Trịnh Bá Khiêm làm một người nông dân khiếu kiện đất đai ở phường Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Ông và những người dân làng cho rằng, đất đai bị chính quyền tịch thu giao cho doanh nghiệp với giá đền bù rẻ mạt.

Hồi năm 2014, ông Khiêm bị tuyên án 15 tháng tù giam với cáo buộc “chống người thi hành công vụ”, trong khi đó các video về cuộc cưỡng chế đất cho thấy ông bị các nhân viên an ninh đeo băng đỏ trấn áp.
Vợ của ông là bà Cấn Thị Thêu bị tuyên 18 tháng tù cùng một tội danh khi chỉ đứng trên chòi cao và quay phim lại vụ việc cưỡng chế.

Các tiểu xảo của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam

Các tiểu xảo của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

23-3-2021

Từ trái sang, bà Cấn Thị Thêu và hai con trai Trịnh Bá Phương và Trịnh Bá Tư. Ảnh cắt từ video clip và MXH

Hôm qua, bà Phạm Thanh Nghiên, một người hoạt động trong nước, cho biết, ông Trịnh Bá Phương bị đưa đến một bệnh viện tâm thần.

Tôi không hề bất ngờ trước quyết định này của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Đó chỉ là một trong nhiều tiểu xảo mà họ sử dụng để cai trị dân chúng.

Ông Phương là một trong ba người trong gia đình bị bắt vào ngày 24/6/2020, với tội danh bị nhà nước CSVN gán cho là: “Làm, tàng trữ, phát tán và tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm nhằm chống nhà nước Việt Nam”. Hai người kia là mẹ ông Phương, bà Cấn Thị Thêu và em trai ông, là Trịnh Bá Tư.

Ông Phương cũng như các thành viên trong gia đình ông, nhất là bà Cấn Thị Thêu, thuộc tầng lớp có nhận thức hiếm hoi trong số nông dân Việt Nam hiện nay. Xuất phát từ việc bị cướp đất, giống như hàng ngàn nông dân Việt Nam khác, họ hiểu được nguyên nhân của mọi nguyên nhân trong thảm trạng xã hội Việt Nam hiện nay, chính là sự độc quyền cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như cái gọi là “ý thức hệ” của đảng này.

Chính vì sự thấu hiểu đó, mà sau những lần vào tù ra khám, ông Phương, bà Thêu và cả gia đình ông chuyển từ việc đấu tranh đòi quyền lợi trực tiếp, sang một cuộc đấu tranh bao quát hơn, có quy củ hơn, có lý tưởng hơn. Mặt khác, họ vẫn là những người gần gũi với những nông dân Việt Nam, vì thế họ dễ trở thành những thủ lĩnh của giới nông dân, là điều mà đảng CSVN rất lo sợ. Việc bắt giam cả gia đình ông Phương là điều không làm cho giới quan sát ngạc nhiên.

Điều mà nhà cầm quyền bất ngờ trước những nông dân có ý thức như gia đình ông Phương, là họ trưởng thành trong phong trào dân sự Việt Nam (dù hiện nay phong trào có bị yếu đi rất nhiều), nên họ đối diện với nhà cầm quyền một cách tự tin, như việc ông Phương giữ quyền im lặng của mình, dẫn đến việc ông bị đưa vào bệnh viện tâm thần.

***

Đây không phải là lần đầu tiên người cộng sản áp dụng tiểu xảo này, và là một trong những tiểu xảo mà họ áp dụng với các tù nhân lương tâm.

Tiểu xảo thường thấy là họ bắt người vì một lý do này rồi sau đó kết án, giam giữ vì một lý do khác. Trường hợp ông Phương bị bắt vì lý do “phản động” như “tuyên truyền chống nhà nước”, nhưng nay họ giam ông vì “bệnh tâm thần”, một lý do rất dễ biện hộ khi đối diện với những áp lực từ bên ngoài, hơn là lý do tuyên truyền chống chế độ rất mù mờ mà họ đưa ra ban đầu. Những gì ông Phương đăng tải trên trang Facebook cá nhân của ông rất “hiền lành” so với hàng ngàn trang khác, nhưng họ bắt ông vì ông gần với giới nông dân như tôi trình bày ở trên.

Trường hợp hai ông Cù Huy Hà Vũ và Trần Huỳnh Duy Thức thì lại bị bắt vì lý do mang tính tội phạm hình sự (trường hợp ông Vũ, ông ở trong phòng với một người phụ nữ, với “hai bao su đã qua sử dụng” và gian lận thương mại trong trường hợp ông Thức), nhưng khi đưa họ ra tòa xử sau đó, chính quyền cộng sản buộc họ vào những tội “chính trị phản động” không liên quan gì đến tội danh đã được dựng lên để bắt họ ban đầu. Cả hai người này đều là người có quan hệ rộng, cư trú ở thành thị, bắt họ với những lý do “chính trị” ban đầu sẽ khó thành công hơn.

Khi trục xuất tù chính trị, nhà cầm quyền cộng sản lại thực hiện bằng một tiểu xảo khác, nói rằng người bị trục xuất cần được chăm sóc sức khỏe, cần đoàn tụ gia đình,… vì thế họ “cho phép” những người này ra đi “vì lý do nhân đạo”. Khi thực hiện tiểu xảo này, họ sẽ tiếp tục biện hộ với thế giới bên ngoài là họ không có tù nhân chính trị, không có tù nhân vì lý do tôn giáo…

Một tiểu xảo khác dùng để kềm chế các cuộc biểu tình của người dân chống Trung Quốc xâm lược, hay kỷ niệm các sự kiện có liên quan tới yếu tố Trung Quốc… là họ cho các nhóm công an mặc thường phục, giả dạng làm “quần chúng tự phát”. Tiểu xảo “quần chúng tự phát” được họ sử dụng từ những ngày mới lên cầm quyền, từng thực hiện trong cải cách ruộng đất, cho đến nay.

Tiểu xảo “quần chúng tự phát” cũng được áp dụng trong “hiệp thương, xác nhận tư cách ứng cử viên Quốc hội”, dùng để loại những người tự ra ứng cử làm đại biểu Quốc hội, chứ không được “Đảng cử”. Quần chúng trong tiểu xảo này là tổ chức Mặt trận Tổ quốc, các tổ dân phố,… đem người bị nhắm đến ra đấu tố để loại trừ.

Nhưng đỉnh cao của loại tiểu xảo này chính là việc dựng lên các tổ chức bình phong của Đảng, như thời kỳ chiến tranh Việt Nam, họ dựng lên Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.

Trong lĩnh vực tuyên truyền ở thời đại mạng xã hội, họ dùng một tiểu xảo mới là, cho phép người dân theo dõi một cách thoải mái các kênh tin vịt ở hải ngoại, hay trong nước, vì tin vịt đánh hạ uy tín của nền dân chủ Mỹ (chuyện các thuyết âm mưu về gian lận bầu cử Mỹ), để đánh gục uy tín của những người chống Cộng. Họ khá thành công trong việc này, như tôi đã trình bày trong bài viết: “Tuyên giáo Việt Nam và các Youtuber hải ngoại: Hai đồng minh bất ngờ”.

Trong các nền dân chủ phương Tây, không phải các chính trị gia không có những tiểu xảo chính trị với các đối thủ của họ, nhưng tam quyền phân lập, cùng với tự do báo chí, đã làm cho họ khó thực hiện được.

Ở Việt Nam hiện nay, cũng như ở Trung Quốc và các nước độc tài (chính quyền quân phiệt Miến Điện buộc tội bà Aung San Suu Kyi, đối thủ chính trị của họ, là … buôn lậu máy bộ đàm), các tiểu xảo này luôn được sử dụng, dưới vỏ bọc “giữ vững an ninh chính trị” và các tiểu xảo trở thành thuộc tính của những xã hội này. Mà khi tiểu xảo bị biến thành dòng chủ lưu của xã hội, thì nhà cầm quyền đang tự hủy hoại xã hội mà họ đang sống.

“Xâm hại lòng tin của nhân dân với Đảng” bác sĩ khoa nhi bị bắt

“Xâm hại lòng tin của nhân dân với Đảng” bác sĩ khoa nhi bị bắt

Một bác sĩ mở phòng khám tư nhân Duy Nhi tại xã Viên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An vừa bị cơ quan an ninh điều tra bắt giữ hôm 22-3-2021 vì bị cho rằng hành vi đăng tải các bài viết trên mạng xã hội đã làm “xâm hại lòng tin của nhân dân với Đảng”.


Đây là trường hợp bị bắt giữ nằm trong đợt trấn áp mới nhất của chính quyền Việt Nam trước cuộc bầu cử Quốc hội và bầu ra 3 lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội Việt Nam.

Mạng báo Công an Nhân dân cho hay, bác sĩ Nguyễn Duy Hướng, 34 tuổi, bị bắt giữ với cáo buộc “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo điều 117 Bộ luật hình sự.

Cơ quan An ninh điều tra quy kết, từ năm 2018 đến thời điểm bị bắt giữ, ông Nguyễn Duy Hướng đã sử dụng tài khoản Facebook có tên “Bảo kiếm” để đăng tải nhiều nội dung bị cho là xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân.

Ngoài ra, ông Hướng còn bị cho là đã lợi dụng những sự kiện nhạy cảm để viết bài, đăng tải, chia sẻ hình ảnh, bài viết có nội dung nói xấu chính quyền, bôi nhọ, xúc phạm hoạt động của cơ quan công quyền, xúc phạm người thực thi nhiệm vụ.

Cơ quan ngôn luận của Bộ Công an Việt Nam cho rằng, hành vi của ông Nguyễn Duy Hướng xâm hại đến lòng tin của nhân dân đối với đảng, với chế độ XHCN, phá hoại sự thống nhất về chính trị, tư tưởng trong xã hội, vì vậy cần phải điều tra, xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Trong một bài viết trên Facebook Bảo Kiếm ngày 20-2-2021 với tiêu đề “Tại sao phải công kích ông Nguyễn Phú Trọng?”, bác sĩ Nguyễn Duy Hướng cho rằng, “thành quả của Đảng dành cho đất nước trước đây là không thể chối cãi, nhưng ở hiện tại Đảng là một vũng lầy, là một gánh nặng của Đất Nước.”

Đồng thời khẳng định “việc mà tôi làm, tôi hi sinh cả gia đình cả công việc ổn định chính là để thay đổi Đảng, thay đổi đất nước.

Tôi nguyện hiến dâng cả tính mạng của mình cho điều đó. Phải cải cách để cho nhân dân làm chủ, phải cải cách để Đảng trong sạch, cải cách để đất nước tiến lên phía trước.

Còn cách làm như ông Nguyễn Phú Trọng và tầng lớp chóp bu chỉ là những kẻ nguỵ quân tử, diệt một vài con sâu để bảo vệ cho cả bầy sâu, múc một gáo bùn mà sạch được cả đầm lầy là việc không có.

Chúng ta phải tỉnh táo về điều đó, để nhận diện cho được chân giả trong cuộc sống.”

Hôm 10-3-2021, một người tự ứng cử Đại biểu Quốc hội là ông Trần Quốc Khánh cũng bị công an tỉnh Ninh Bình bắt tạm giam 4 tháng với cùng tội danh.

#RFAVietnamese #NguyenDuyHuong #WhatishappeninginVietnam

 
May be an image of ‎1 person, standing and ‎text that says '‎RFA ادوغود IÁO SƯ ĐÀIÁ CHÂU DO "Xâm hại lòng tin của nhân dân với Đảng" bác sĩ khoa nhi bị bắt‎'‎‎

CÂY KIM MAY…

CÂY KIM MAY…

Mới đây xe của ông Phạm Nhật Vượng bị hàng loạt trục trặc kỹ thuật, gãy sườn, hỏng máy… Tôi xin đăng lại bài viết vè cây kim may để thấy rằng việc phát triển công nghiệp hiện đại sẽ rất gian khổ. Và Việt Nam chúng ta thậm chí chưa đứng ở vạch xuất phát và còn lớ ngớ, chưa biết xuất phát như thế nào, nói chi tới chuyện phát triển. Nhà nước ta “ngây thơ” một cách dễ sợ và rất dễ bị lừa.

***

Vào khoảng năm 1978, 1979 gì đó, khi còn làm phóng viên báo Tuổi Trẻ, tôi được (hay bị) đưa đi “vô sản hoá” tại nhà máy Sinco ở Sàigòn.

Nhà máy này vốn của chế độ cũ để lại, chuyên sản xuất máy may lấy hiệu là Sinco. Khi các “tồng chí” tiếp quản được ít lâu thì hết mẹ nó phụ tùng nên đếch hoạt động được.

Lúc tôi đến xin làm công nhân ở đó (có lẽ người ta định sau này “cơ cấu” tôi làm Tổng Bí thư nên cho tôi bắt chước đồng chí Nguyễn Văn Cừ đi vô sản hoá ở các mỏ than Hòn Gay năm nào!) thì thấy Giám đốc cùng mấy anh kỹ sư, thợ tiện, thợ phay, thợ nguội… đang ngồi bàn cách phục hồi hoạt động của nhà máy, để chế tạo cho được một cái máy may mang thương hiệu Việt Nam chính cống.

Các linh kiện của một chiếc máy may bàn đạp khá đơn giản nên không bàn tới. Mọi người đều tập trung nghiên cứu làm cái ổ thuyền, vì đó là bộ phận khó làm nhất.

Muốn làm cái ổ thuyền phải qua rất nhiều công đoạn: thiết kế bản vẽ, chọn nguyên liệu. Sau đó là thi công: những thợ phay, thợ tiện, thợ mài… giỏi nhất làm đi làm lại nhiều lần, rồi tới thợ nguội đo đạc chính xác từng “zem”, rồi đánh bóng, kiểm tra… rồi cho chạy thử.

Sau nhiều lần trục trặc, chiếc máy may nhãn hiệu Sinco do Việt Nam sản xuất cũng ra đời. Tuy nhiên hôm họp báo công bố sản phẩm, giám đốc nhà máy đã làm tôi ngạc nhiên khi nói:

“Thưa các đồng chí, chúng tôi có thể tự hào tuyên bố rằng chúng ta đã sản xuất được một chiếc máy may hoàn chỉnh, trừ… cây kim!”

Bỏ mẹ! Tôi nghĩ thầm, cái ổ thuyền khó như vậy mà còn làm được, sao cây kim lai chịu thua?!

Kể từ đó đến nay, cái sản phẩm đầy tâm huyết, đầy tim óc của tập thể giám đốc, kỹ sư, công nhân nhà máy Sinco, cái “niềm thự hào thương hiệu Việt Nam” kia biến mất tăm và nhà máy Sinco chắc cũng đã bị phù phép thành cái quỷ quái gì rồi.

Bốn mươi năm sau, tôi gặp một cô bé công nhân trên xe buýt, nó nói:

– Con làm trong một nhà máy của Nhật tại khu chế xuất Tân Thuận.

– Chế cái gì?

– Cái kim may

*

Thưa quý vị,

Như vậy là cho đến năm 2018 này. Sau 40 năm, Việt Nam chúng ta cũng chưa chế tạo được cái kim may. Và cái máy may Sinco (không có kim) mà Việt Nam chế tạo được chắc cũng đang nằm trong viện bảo tàng!

Không phải nòi giống ta đần độn. Không phải dân tộc ta lười biếng…

Vậy thì vì cái gì?

Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế từng nói:

“Thế giới gồm nước phát triển, nước đang phát triển, nước chậm phát triển nhưng Việt Nam có lẽ là mô hình đặc biệt nhất. Đó là nước… không chịu phát triển! Đầu tư nhiều đến thế, ODA nhiều đến thế (20 năm qua lượng ODA đổ vào Việt Nam lên tới gần 90 tỉ USD) nhưng đến bây giờ vẫn không phát triển được thì chỉ có thể là… không chịu phát triển!”

Sao vậy?

Vì thực ra “các quan” không có khả năng lãnh đạo đất nước. Và vì chẳng biết làm cái cóc khô gì cả nên họ đã chọn công việc dễ nhất và hiệu quả nhất là tham nhũng.

*

Bây giờ tới chuyện “sản xuất ô-tô hiện đại” xem ra cũng chỉ là lắp ráp theo dây chuyền công nghệ và linh kiện của nước ngoài.

Chuyện đó cũng chẳng mới mẻ gì vì Toyota. Huyndai, Fiat, Samsung, Sony… đã và đang làm.

Tôi ủng hộ anh bạn Mì Gói và cầu chúc anh thành công. Nhưng tôi muốn anh hiểu rằng đừng khoác lác. Đừng nổ. Vì nó rất kỳ!

Con đuòng còn dài lắm, chúng ta còn phải học hỏi nhiều, nhiều, nhiều, nhiều lắm.

Rất mong chúng ta đừng quên câu chuyên về nhà máy Sinco.

Họ đã cố gắng hết sức để làm cho được cái ổ thuyền vậy mà còn cái kim may cho đến giờ vẫn chưa làm được, thì cái ô-tô Vinfast của anh thực chất nó là con cái nhà ai?

Ngày 3/10/2018

ĐÀO HIẾU

May be an image of text that says 'SINCO'