Trí thức Miền Nam sau 1975

Trí thức Miền Nam sau 1975

Bởi  AdminTD

Huy Đức

25-3-2021

LGT: Ông Huỳnh Kim Báu, cựu Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước thành phố, cựu chủ nhiệm CLB Lê Hiếu Đằng đã qua đời lúc 7h30′ sáng 25-3-2021. Nhân dịp này, xin được giới thiệu một phần nội dung có liên quan tới ông Báu, được trích trong “Chương VI: Vượt Biên“, sách “Bên Thắng Cuộc”, của tác giả Huy Đức:

Sau ngày 30-4-1975, Chu Phạm Ngọc Sơn là một nhà chuyên môn hợp tác toàn diện với chế độ. Ông và một số nhà khoa học khác, thường không câu nệ khi nhận các đơn đặt hàng thực hiện những công trình “khoa học” phục vụ nhu cầu chính trị. Theo Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh Huỳnh Kim Báu: “Những năm ấy, các trí thức Sài Gòn vẫn nhận được điện thoại từ Văn phòng Thành ủy hỏi xem: ‘Có công trình khoa học chào mừng 3-2 hay 19-5 không?’. Những Giáo sư như Phạm Biểu Tâm, Lê Văn Thới thì mắng ngay: ‘Không có thứ khoa học nào gọi là khoa học chào mừng cả’. Nhưng một số người khác thì có, người thì làm ra chất tẩy rửa ‘pentonic’, người chứng minh ‘ăn mấy ký khoai mì bổ bằng một ký thịt bò’, người thì ‘ăn bo bo nhiều dinh dưỡng hơn cả gạo’. Nhưng ngay cả những ‘nỗ lực’ đó cũng không giúp kiến tạo được lòng tin”.

Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn kể: “Nhìn vào lý lịch, thấy trước đây năm nào tôi cũng đi Mỹ nghiên cứu hoặc đi dạy, người ta cứ thắc mắc sao đi Mỹ quá trời. Tôi nộp đơn xin vô Hội Trí thức Yêu nước, mấy lần bị từ chối”. Năm 1980, trong thời gian Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn đi Liên Xô, một người con của ông vượt biên không thành. Người con gái của ông cũng cảm thấy bế tắc khi thi không đậu vào dự bị y khoa. Biết chuyện, ông Võ Văn Kiệt thỉnh thoảng qua lại, trò chuyện, khi hiểu thêm nội tình, ông nói với Giáo sư Sơn: “Thôi, anh cứ để cho cô ấy và mấy cháu đi, đi chính thức. Bên đó có điều kiện cho các cháu học hành. Sau này nếu các cháu trở về thì tốt, nếu không, tôi với anh cũng được làm tròn bổn phận”.

Ông Huỳnh Kim Báu kể: Sau giải phóng, Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn vào Sài Gòn, sau khi nghe Mai Chí Thọ, Trần Trọng Tân báo cáo tình hình, ông nói: “Nãy giờ có một chiến lợi phẩm rất lớn mà các đồng chí không đề cập, đó là lực lượng trí thức được đào tạo từ nhiều nguồn. Lenin nói, không có trí thức là không có xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Kim Báu, cách mà chính quyền sử dụng trí thức chủ yếu là “làm kiểng”.

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ tuy ở thời điểm đó vẫn còn là Hiệu phó Đại học Khoa học, nhưng theo ông Báu: “Đấy chỉ là một chức vụ bù nhìn, không có vai trò gì trong giáo dục”. Giáo sư Hộ là Hiệu phó nhưng không phải đảng viên, nên khi có vấn đề gì thì những người trong Đảng họp riêng, quyết định xong, có việc nói với ông, có việc ông không bao giờ được biết. Từ rất sớm, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã phản đối cách đào tạo đưa thời gian học chính trị quá nhiều vào chương trình. Ông cảnh báo: “Nếu chính trị can dự quá mạnh, các nhà khoa học sẽ mất căn bản”.

Giáo sư Phạm Hoàng Hộ nói lên điều này sau khi chính ông đã được trải nghiệm trong những ngày học chính trị. Năm 1977, một lớp học kéo dài mười tám tháng về “Chủ nghĩa xã hội khoa học” dành riêng cho các trí thức miền Nam đã được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Võ Ba, người tham gia tổ chức lớp học này, kể: “Chính quyền tưởng rằng sau lớp học sẽ có được một tầng lớp trí thức của chế độ cũ yêu mến và phụng sự chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nếu như Marxism đã từng được các trí thức miền Nam quan tâm như là một môn khoa học, thì giờ đây họ lại nghe những giảng sư miền Bắc nói về Marx hết sức giáo điều. Chưa kể, những người đứng lớp còn rao giảng với tư thế của người chiến thắng, tự tôn, tự đắc”. Những đảng viên tham gia lớp học như ông Võ Ba cũng thừa nhận: “Trước giới trí thức Sài Gòn, chính quyền đã thất bại ngay trong lần trình diễn đầu tiên”.

Chưa kết thúc lớp học, Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung, một giáo sư triết học nổi tiếng của Sài Gòn, một người được coi là “hằn học với Giáo hội”, đã coi cộng sản cũng là “một giáo hội”. Tiến sỹ Nguyễn Văn Trung cho rằng hình thức “kiểm điểm” mà cộng sản áp dụng trong sinh hoạt chính là một thứ “xưng tội man rợ”. Về đường lối, ông cho rằng: “Có thể có những điều Lenin nói đã đúng vào năm 1916, nhưng sau bảy mươi năm mà ta áp dụng là không lý trí”. Thậm chí, tại thời điểm kinh tế tan hoang, Thành ủy đã họp khẩn vấn kế các trí thức, Ông Kiệt đã thực bụng trải lòng: “Các Anh Chị suy nghĩ đề xuất giải pháp, nếu một năm nữa tình hình không chuyển biến, các Anh Chị tùy ý ra đi hay ở lại”. Gs Trung đã khẳng khái đáp: “Khi đó, nếu còn lòng tự trọng, các Anh nên tự xử cho hợp lẽ, tại sao lại đặt vấn đề chúng tôi ra đi!?”. Ông Mai Chí Thọ tím mặt. Đêm đó đòi bắt Gs Trung, nhưng Ông Kiệt “năn nỉ” bỏ qua.

Còn Giáo sư Châu Tâm Luân thì khi nghe các giảng sư miền Bắc say sưa nói về con đường “tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản” đã mỉa mai: “Sao không tìm hiểu xem sau chủ nghĩa cộng sản là gì để nhân tiện bỏ qua, mình bỏ qua luôn hai, ba bước”. Giáo sư Châu Tâm Luân lấy bằng tiến sỹ về kinh tế nông nghiệp ở Đại học Illinois, Mỹ, năm hai mươi lăm tuổi, trở về dạy cùng lúc ở hai trường đại học Minh Đức và Vạn Hạnh. Ông là một trong những trí thức phản chiến hàng đầu, bị chế độ Sài Gòn bắt giam đầu năm 1975 cho tới những ngày cuối tháng 4-1975 mới được Chính quyền Dương Văn Minh thả ra. Giáo sư Châu Tâm Luân là một thành viên của nhóm “sứ giả” được ông Dương Văn Minh phái vào trại Davis và được giữ lại ở đây cho đến trưa ngày 30-4-1975. Sau giải phóng, chính quyền xếp ông vào diện “người của ta”. Ông là đại biểu khóa I Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời là ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Về phía mình, Giáo sư Châu Tâm Luân cũng là một trong những trí thức kỳ vọng nhiều vào chế độ mới. Mấy tháng “sau giải phóng”, giá cả sinh hoạt tăng vọt lên, trong khi dân tình lo âu thì ông lại cho là giá tăng vì “tâm lý”, giống như cách giải thích thời ấy của chính quyền. Sau khi cho rằng nhà nước không thể dùng ngoại tệ để nhập hàng như trước đây, Giáo sư Châu Tâm Luân viết: “Giờ đây không còn bọn tay sai đem máu của con em nhân dân đổi lấy đô la nữa thì cần phải tiết kiệm tối đa số ngoại tệ mà dân phải lao động đổ mồ hôi mới đem về được cho quốc gia… Vì vậy ngoài sự tiếp tay chánh quyền kiểm soát gian thương, chúng ta cũng cần kềm hãm bớt kẻ địch ở ngay trong lòng mình…”

Khi trao cho Giáo sư Châu Tâm Luân nhiều trọng trách, Chính quyền nghĩ đơn giản ông là người “dùng” được. Nhưng, cũng như nhiều trí thức Sài Gòn, ông đã không hành xử như là một công cụ. Từ năm 1976, Giáo sư Châu Tâm Luân không được đứng lớp vì kiến thức kinh tế của ông là “kinh tế tư bản”, tuy nhiên, ông vẫn còn được để ngồi trong Hội đồng Khoa học của trường. Chỉ ít lâu sau, Đảng ủy trường nhận xét ông muốn “tranh giành lãnh đạo với Đảng”.

Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi ngạc nhiên, chế độ cũ hai lần giao chức cho tôi mà tôi có màng tới đâu”. Nhưng té ra vấn đề không phải là “ghế”, mà là những ý kiến của ông ở Hội đồng Khoa học luôn luôn khác với ý kiến của chi bộ. Trong một cuộc họp, khi nghe ông Đỗ Mười thao thao nói về “hợp tác hóa”, về chủ trương phải đưa những người bần cố nông lên làm lãnh đạo hợp tác và “phải đào tạo họ”, Giáo sư Luân hỏi: “Nhà nước định đào tạo trong bao lâu?”. Ông Đỗ Mười nói: “Tình hình gấp rút, đào tạo ba ngày”. Giáo sư Châu Tâm Luân nhớ lại: “Tôi bắt đầu ngao ngán vì muốn thay đổi thì phải bắt đầu từ cái đầu, mà những ‘cái đầu’ thì như thế!”. Sau lần gặp ông Đỗ Mười, nhà kinh tế nông nghiệp Châu Tâm Luân được đưa về Viện Khoa học Xã hội. Không chỉ có những đụng độ tại cơ quan. Ở Hội đồng Nhân dân, Giáo sư Châu Tâm Luân là trưởng Ban Nông nghiệp. Trong một phiên họp toàn thể thảo luận về các chương trình khoa học của Thành phố, sau khi nghe ông Luân tranh luận, một đại biểu trong Hội đồng mặc quân phục đứng dậy xin ngưng cuộc cãi vã, và lớn tiếng: “Các chuyên viên đã để ra rất nhiều thời giờ soạn thảo, đại biểu đó tư cách gì mà đòi sửa qua sửa lại”. Ông Luân cố dằn lòng: “Tôi xin ngưng cuộc thảo luận, bởi như vị đại biểu vừa nói, đã có các chuyên viên nghiên cứu cho chúng ta rồi thì chúng ta chỉ còn là chuyên viên giơ tay thôi”. Chủ trì phiên họp, ông Mai Chí Thọ không nói gì, chỉ yêu cầu biểu quyết. Nhìn thấy ông Luân không giơ tay, ông Mai Chí Thọ hỏi: “Ai không chấp thuận?”. Ông Luân cũng không giơ tay, ông nói: “Toàn thể chấp thuận, một phiếu trắng”.

Một số cán bộ cách mạng tốt bụng bắt đầu lo lắng cho vị giáo sư trẻ tuổi này, một Trưởng Ban Đảng khuyên: “Tôi sáu mươi tuổi, người ta vẫn xem tôi như con nít, phải ăn nói thận trọng lắm. Anh nhớ, anh chỉ mới hơn ba mươi tuổi”. Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tại diễn đàn của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi đề nghị phải áp dụng ‘kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước”. Ông Xuân Thủy nghe, nói với tôi: ‘Anh phải có người đỡ đầu, anh về nói với Sáu Dân đi”. Tôi trả lời ông Xuân Thủy: ‘Nếu tôi nói đúng thì các anh phải nghe chứ sao lại cần người đỡ đầu?’.

Sau đó, ông Mai Chí Thọ nhắc: ‘Cậu đúng, nhưng áp dụng như vậy thì phức tạp quá, làm sao chúng tôi quản lý được. Muốn làm phải có những người như cậu. Mà nói thật chúng tôi chưa thể tin hoàn toàn những người như cậu’”.Theo ông Luân: “Những năm ấy, tôi chê ông Võ Văn Kiệt nhát, ‘xé rào’ là vá víu; phải “phá vỡ ” để áp dụng kinh tế thị trường, chứ không thể phá những đoạn rào. Ông Mai Chí Thọ nghe, nhắc: ‘Phải giữ chính quyền trước hết, chính sách sai thì còn sửa được chứ mất chính quyền là mất hết”. Về sau tôi mới thấy ông Mai Chí Thọ đã nói rất thật lòng, họ đã ngủ rừng hàng chục năm để có chính quyền, làm sao họ để mất cái mà họ vừa giành được đó”.

Hai vợ chồng Giáo sư Châu Tâm Luân đều học ở Mỹ. Trước năm 1975, gia đình ông đã định cư ở một nước Bắc Âu, nhưng cả hai đều chọn con đường về nước. Sau năm năm cố gắng chòi đạp trong chế độ mới, ông không tìm thấy một cơ may thay đổi nào. Đầu năm 1979, ông vẫn còn được trả lời phỏng vấn các phóng viên nước ngoài, nhưng càng về sau thì không thấy nhà báo nào gặp ông nữa. Giáo sư Châu Tâm Luân nói: “Tôi bắt đầu có dự cảm bất ổn. Khi tình cờ gặp một vài phóng viên, nghe họ nói mấy lần đến Việt Nam xin gặp tôi, đều được chính quyền trả lời là Giáo sư Châu Tâm Luân đang đi công tác xa. Tôi biết tôi đang dần dần bị cô lập”.

Dù từng hoạt động trong các phong trào chống đối dưới chế độ Sài Gòn, ông Huỳnh Kim Báu vẫn phải thừa nhận: “Trước 1975, mặc dù chính quyền bị coi là bù nhìn, nhưng trí thức vẫn được trọng dụng, họ có quyền thực sự trong chuyên môn. Sau giải phóng, chính quyền được nói là của mình, nhưng trí thức gần như chỉ được dùng như bù nhìn, trong khi đa phần họ là những người khẳng khái”.

Năm 1977, có lần hệ thống nước máy của Thành phố bị đục, ông Võ Văn Kiệt mời các nhà trí thức tới hiến kế. Nhiều người phát biểu, riêng ông Phạm Biểu Tâm ngồi im. Ông Kiệt hỏi: “Sao vậy anh Tâm?”. Ông Phạm Biểu Tâm nguyên là chủ tịch Hội Sinh viên Hà Nội trước 1945. Năm 1963, con gái Ngô Đình Nhu là Ngô Đình Lệ Thủy thi Y khoa đã bị ông đánh rớt, dù bị nhà Ngô gây áp lực. Ông là một nhà giáo được sinh viên kính nể. Ông Tâm được nói là rất quý ông Kiệt, nhưng có lẽ do quá bị dồn nén, ông đứng dậy nói: “Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức khỏe, vì cái gì cũng đã có mấy anh nghĩ hết. Nước dùng hàng ngày là chuyện mấy anh đâu phải chuyện tụi tui”.

Một thời gian sau, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ trả lại chức Hiệu phó. Trường sợ mang tiếng không nhận, ông khóa phòng, giao chìa khóa, tự chấm dứt vai trò “chim kiểng” của mình. Theo ông Võ Văn Kiệt, Thành ủy vẫn để Giáo sư Phạm Hoàng Hộ hàng năm sang Pháp dạy học. Trong một lần đi Pháp, ông ở lại luôn bên đó rồi viết thư về cho ông Kiệt nói rằng, công việc nghiên cứu nhiều, ông cần phải ở nơi có phương tiện cho ông làm việc, khi nào đất nước thực sự cần, ông sẽ về.

Còn Giáo sư Châu Tâm Luân, nhân một buổi tối rủ ông Võ Ba tới nhà chơi, đã đưa cho Võ Ba coi một tập đánh máy hai mươi trang về “tình hình kinh tế nông nghiệp miền Nam”, rồi nói: “Võ Ba ơi, mình rất mừng vì bản báo cáo này của mình đã được Mặt trận Tổ quốc đánh máy gởi đi. Hai lần trước thì họ không chịu đánh máy. Nhưng, Võ Ba ạ, họ đánh sai hết, những thuật ngữ như ma trận họ đánh thành mặt trận ông ạ”. Mấy hôm sau, Võ Ba chạy qua nhà Giáo sư Luân thì thấy cửa đóng, bên trong thấp thoáng bóng mấy công an đến “chốt nhà”. Cho dù, sang tới Thái Lan ông bị các thuyền nhân khác đánh rất đau, khi viết thư về, trả lời câu hỏi của ông Huỳnh Kim Báu, “liệu vượt biên có phải là một quyết định sai lầm”, Giáo sư Châu Tâm Luân vẫn cả quyết: “Không, Báu! Dù phải trả giá đắt, mình vẫn thấy đi là đúng”.

Trong số các trí thức miền Nam, ông Võ Văn Kiệt “xếp” Giáo sư Châu Tâm Luân vào hàng “khó tính”. Tuy nhiên, ông kể: “Đến nhà Châu Tâm Luân mình rất thích vì ảnh thẳng thắn, nghĩ sao nói vậy, có khi như búa bổ. Ảnh hy vọng khi đất nước hòa bình, với sự phì nhiêu của đất đai miền Nam, sẽ có dịp thi thố giúp phát triển nền nông nghiệp. Nhưng một thời gian sau, thấy cơ chế như thế thì không thể nào đóng góp được”.

Một người khác từng quen biết Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt nhưng cũng phải vượt biên là Kỹ sư Phạm Văn Hai, giám đốc nhà máy dệt Phong Phú. Ông Phạm Văn Hai là người đưa kỹ nghệ nhuộm vào miền Nam. Ông có hai người con, một người được đặt tên là Phạm Chí Minh, một người là Phạm Ái Quốc. Sau ngày 30-4, ông Phạm Văn Hai vẫn nhiệt tình tư vấn để phục hồi ngành dệt và nghiên cứu chất kích thích cây cỏ. Nhưng năm 1977 ông quyết định “đi”. Vượt biên hai lần, cả hai lần đều bị bắt. Lần đầu bị bắt ở Kiên Giang, Thành ủy lãnh. Lần hai, bị bắt ở thành phố, ông Võ Văn Kiệt vào thăm, ông Hai nói: “Cho dù anh quan tâm nhưng như thế này thì không làm được”. Ông Võ Văn Kiệt thừa nhận: “Những người như Kỹ sư Phạm Văn Hai, như Giáo sư Châu Tâm Luân…, nếu chỉ khó khăn về cuộc sống họ sẽ vượt qua, nhưng nếu bị đặt vào hoàn cảnh không thể đóng góp thì họ không chịu được. Tôi cũng không biết làm gì hơn, chỉ đề nghị mấy ảnh đừng vượt biên nguy hiểm”.

Ông Võ Văn Kiệt nhớ lại: “Tôi tiếc đứt ruột khi để những anh em trí thức ấy ra đi, nhưng biết là nếu họ ở lại, thì cơ chế hiện thời cũng chưa cho phép mình sử dụng họ”. Trước khi vượt biên, ông Dương Kích Nhưỡng, một công trình sư cầu cống, thủy điện, nói với ông Võ Văn Kiệt: “Ước mơ của các anh rất đẹp, nhưng các anh làm như thế này là không được. Đi đâu cũng nghe nói tới nghị quyết, làm cái gì cũng chỉ theo tinh thần nghị quyết này, chủ trương kia thay vì theo pháp luật. Trị nước mà bằng nghị quyết và chỉ thị chung chung thì không được”.

Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Huỳnh Kim Báu nhớ lại: ông Kiệt biết là các trí thức bắt đầu vượt biên, ông gọi tôi lên và dặn “Nghe ngóng, nếu có anh em trí thức bị bắt ở đâu, anh phải lãnh về”. Khi nhận được tin công an Bình Thuận bắt giam Kỹ sư Dương Tấn Tước, ông Kiệt cấp giấy cho ông Báu ra Bình Thuận xin “di án về Thành phố”. Ông Báu kể: “Công an Bình Thuận thấy giấy của Thành ủy thì cho nhận ‘can phạm’. Nhưng khi anh Tước thấy tôi mừng quá định kêu lên, tôi đã phải giả vờ làm mặt lạnh, bước tới, còng tay anh Tước. Dọc đường, tôi cứ phải làm thinh mặc cho Kỹ sư Dương Tấn Tước ngơ ngác. Qua khỏi Bình Thuận, tôi mới mở còng và giải thích: Công an Bình Thuận mà biết, người ta chụp đầu cả tôi”.

Đích thân ông Kiệt cũng nhiều lần đến các trại giam để bảo lãnh các trí thức.

Theo ông Phạm Văn Hùng và Nguyễn Văn Huấn, hai người giúp việc thời đó của ông Kiệt, hình thức “xử lý” đối với những trí thức vượt biên của “Anh Sáu Dân” là kêu tụi tôi đích thân đi làm lại hộ khẩu và sổ gạo cho họ. Nhưng phần lớn các trí thức đã ra đi lặng lẽ. Giáo sư Châu Tâm Luân kể: “Tôi đi tất cả sáu lần. Lần bị giữ lâu nhất là ở Rạch Giá, cả tháng trời. Nhưng tôi không khai mình là ai. Như bốn lần trước, ở nhà cứ lo một cây vàng thì được thả”.

Có những người không chịu nhờ Thành ủy, hoặc “lo” bằng vàng. Theo ông Huỳnh Kim Báu, khi vượt biên bị bắt, Giáo sư Lê Thước đã tự sát…

Bác sĩ… ngụy

Bác sĩ… ngụy

Có những câu nói sẽ thay đổi theo từng ngữ cảnh, theo từng thời gian và thậm chí còn đi ngược lại ý nghĩa ban đầu, chẳng hạn như chữ “ngụy”. Khi “bên thắng cuộc” vào Miền Nam năm 1975, người Sài Gòn thường nhíu mày, khó chịu khi nghe đến chữ “ngụy”.

Ấy thế mà 45 năm sau, đôi khi lập lại cũng từ ngữ đó người ta lại cảm thấy “ngụy” không còn là cách nói miệt thị, không phải cứ “ngụy” là xấu mà trái lại nó tượng trưng cho điều gì đó tốt đẹp. Bằng chứng cụ thể, ngày nay có nhiều người ca ngợi… Bác sĩ Ngụy!

Chỉ mới đây thôi, một cuộc giải phẫu tách rời hai trẻ sơ sinh dính liền nhau từ trong bụng mẹ đã được dư luận, kể cả lề trái lẫn lề phải, bàn tán xôn xao. Có đến gần 100 y bác sĩ tham gia cuộc mổ mà trong đó người đứng đầu ê-kíp lại là một bác sĩ tuổi đã ngoài 70, được đào tạo từ thời còn “mồ ma” VNCH!

   Cặp song sinh Trúc Nhi – Diệu Nhi cùng bố mẹ trước khi mổ tách rời

Cũng vị bác sĩ quân y này năm 1988 đã là “nhạc trưởng” vì ông giữ vai trò phẫu thuật viên chính ca mổ tách cặp song sinh dính liền Nguyễn Việt – Nguyễn Đức với sự hỗ trợ thiết bị của Nhật Bản. Sự thành công của ông vang danh thế giới và được ghi tên vào Sách kỷ lục Guinness Thế giới năm 1991.

   Cặp song sinh Việt – Đức trên báo Nhật Bản

Hơn 30 năm sau ông lại là một trong 9 bác sĩ ngoại viện chủ chốt, tham vấn cho kíp mổ tách rời hai cháu Trúc Nhi – Diệu Nhi, lúc này ông đã ở vào tuổi 79. Đó là Bác sĩ Trần Đông A, ông tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn theo diện tình nguyện nhập ngũ để sẽ phục vụ ngành quân y trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Sau khi ra trường, ông phục vụ trong Binh chủng Nhảy dù, từng tham gia Trận Làng Vây và Chiến dịch Đường 9 – Khe Sanh với tư cách là một Bác sĩ Quân y. Ông được khen thưởng nhiều huy chương trong đó có anh dũng bội tinh, kể cả một huân chương của Sư đoàn Không kỵ Hoa Kỳ.

BS Đông A đã  từng được gửi đi tu nghiệp phẫu thuật tại Texas, Hoa Kỳ. Năm 1975, ông là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn Quân y, Sư đoàn Nhảy dù Quân lực VNCH, với cấp bậc Thiếu tá. Sau 2 năm học tập cải tạo tại Suối Máu, ông được phân công về công tác tại Bệnh viện Nhi đồng 2

    Bác sĩ Trần Đông A sau ca mổ song sinh ngày 15/7/2020

VNCH đào tạo sĩ quan quân y ra sao? 

Trong bài viết “Khóa 21 Sinh viên Sĩ quan Quân y Hiện dịch” của Bạch Thế Thức & Phạm Anh Dũng chúng ta được biết nhiều thông tin về việc huấn luyện “bác sĩ khoác áo lính” trong quân lực VNCH:

“Đa số họ gia nhập Quân y khi còn là sinh viên y khoa năm thứ 1 hay thứ 2. Học qua hết học trình Y Khoa, các năm thứ 3, năm thứ 4, năm thứ 5 và năm thứ 6. Sau khi ra trường, chúng tôi có một thời gian ngắn học Hành Chánh ở trường Quân Y và thêm về Cấp cứu Hồi sinh ở Tổng Y Viện Cộng Hòa rồi cuối cùng ra đơn vị… Thời gian khi là sinh viên quân y của chúng tôi ít nhất là 5 năm hay 6 năm hoặc có vài trường hợp 7, 8 năm nếu là những người học lớp trước bị ở lại…”

Trường Quân Y là một trong ba trường “sĩ quan hiện dịch” của Quân Lực VNCH, các trường kia là Võ bị Quốc gia Đà Lạt và trường Chiến tranh Chính trị. Những trường Sĩ quan Hải quân và Sĩ quan Không Quân đào tạo “sĩ quan trừ bị”, giống như trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.

Tân sinh viên Quân y ngoài việc “huấn nhục” thể xác và tinh thần, họ vẫn còn thêm sự lo lắng như những sinh viên Y Nha Dược ngoài dân sự, vẫn phải đi học, vẫn phải “gạo” bài. Nếu không thi đỗ thì bị ở lại lớp hay “ra trường sớm” tức là bị loại khỏi trường nếu thi trượt hai lần.

Trong sáu tuần lễ huấn nhục, ngày nào cũng vậy, sáng dậy sớm tập thể dục một giờ rồi mới đi đến trường Y Khoa học và buổi chiều về lại học thêm môn cơ bản thao diễn. Buổi tối lại còn có những lớp “đặc biệt”, xếp hàng học căn bản quân sự. Có nghĩa là học bù đầu, từ sáng sớm cho đến tối.

    Huấn nhục tại Trường Quân Y

   (Tranh của Y Sĩ Đại Úy Nguyễn Hữu Thường thuộc Tiểu Đoàn 1 Quân y Nhảy dù)

Suốt cuộc đời sinh viên quân y, ngoại trừ lúc có lý do như ốm đau, đi nghỉ phép… mỗi sáng Thứ Hai phải mặc quân phục, đeo khăn đỏ, đi sớm vào trường Quân Y để làm lễ chào cờ hàng tuần và nhận chỉ thị. Quên lễ chào cờ sẽ bị phạt trọng cấm.

Riêng việc huấn luyện quân sự, vào mùa hè sinh viên phải đi đến các trường huấn luyện, mỗi kỳ kéo dài 6 tuần lễ. Có khóa được gửi về Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt nhưng cũng có khóa đến Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức và Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.

    Lễ mãn khóa Quân y VNCH

Trong thời gian “học tập cải tạo” tôi đã có dịp tiếp xúc và sinh hoạt với nhiều “bác sĩ ngụy”. Chúng tôi được đưa đến Trảng Lớn, Tây Ninh, trại cải tạo mang bí số L1T5, “hòm thơ” 7590. Nơi đây đã nảy sinh nột thứ tình bạn “chân chính” giữa những người cùng cảnh ngộ trong thời “điêu linh”.

Cũng là điều may mắn khi bạn “ăn cùng thau cơm” với những bác sĩ quân y. Thật tình trước khi vào đây họ chỉ là những người mà công việc thường ngày là thuốc men nhưng vẫn bị coi là “có nợ máu với nhân dân”. Họ chỉ biết “truyền máu” chứ làm sao có thể “hút máu” người bệnh?

Bác sĩ Lâm thường được anh em gọi là “Lâm Bột” chỉ vì anh trắng như bột trong vóc dáng thư sinh. Bs Như là “một cây văn nghệ” thường giúp vui anh em bằng những bản “nhạc vàng” trong những buổi tối vắng bóng quản giáo, vệ binh. Anh tên Như nhưng lại có biệt danh là “Nhôn Lừ”, một cái tên xuất phát từ lối nói lái!

Bác sĩ Sơn là dân trường Tây nên thỉnh thoảng vẫn xưng “toa, moa” với bạn bè. Anh có dáng người to con nhưng lúc nào cũng hòa nhã trong giao tế. Chúng tôi còn có “Tý Điệu” đặt tên theo truyện tranh “Xì Trum” (Schtroumpf) của Pháp. Bác sĩ “Tý Điệu” là người nhỏ tuổi nhất trong nhóm nhưng lại có tài “xủi” (khắc) những thanh nhôm săn nhặt được ở phi trường L19 bỏ hoang trong căn cứ.

Người lớn tuổi nhất là trong nhóm là Đại úy Quân y, Bác sĩ Phạm Kỳ Nam, trước khi “tan hàng” anh phục vụ tại Quân y viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Nam thuộc tuýp người “ăn to, nói lớn” lại còn có tác phong “lãnh đạo” nên trong những buổi lao động anh đứng ra điều khiển cả nhóm.

Anh cũng có máu “tiếu lâm” nên thường kể cho anh em nghe những chuyện vui để quên ngày tháng “các chậu, chim lồng”. Cũng có những lúc buồn cho tương lai của mình anh lại than thở: “Không biết mai này sẽ ra sao… chẳng lẽ lại cưới một cô bộ đội cái, đít to như cái lu?”.

Đại úy Nam là người được ra trại sớm nhất trong bọn tôi sau hơn 2 năm ở trong trại. Anh được về Nông trường Phú Mỹ, Củ Chi, rồi sau chuyển về Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình, trước đây là Bệnh viện Sùng Chính ở quận 5. Cuộc đời của anh thăng tiến trong ngành y cũng chẳng kém gì Bác sĩ Trần Đông A, có khác chăng là ở lý tưởng chính trị.

Bác sĩ Đông A sau này dấn thân vào chính trị, con cưng của nhà nước, được chính phủ tặng Huân chương Lao động và danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân. Ông còn là đại biểu Quốc hội khóa XI và XII, đại diện cho Thành phố Hồ Chí Minh. Lại còn nghe đồn ông là… đảng viên!

Trong khi đó, Bác sĩ Nam chỉ hoạt động thuần túy trong lãnh vực y tế nhưng cũng đã thành công trên lãnh vực tình cảm với việc kết hôn với ca sĩ Phương Hồng Quế, “TV chi bảo”, vì cô thường xuất hiện trên đài truyền hình trước năm 1975 với những bản nhạc ca tụng chiến sĩ VNCH.

Cặp “bác sĩ – nghệ sĩ” có với nhau 2 đứa con, một trai một gái, nay cả hai cháu đã đều thành đạt. Chỉ tiếc một điều “Nam Già” (còn được gọi là “Nam Đầu Bạc”) đã bỏ lại sau lưng tất cả để về cõi vĩnh hằng năm 2012.

R.I.P. Bác sĩ Phạm Kỳ Nam, người bạn đồng cam cộng khổ!

     Bác sĩ Phạm Kỳ Nam với người thân tại Sài Gòn

Với chủ đề “Bác sĩ Ngụy”, chúng tôi qua bài viết này muốn vẽ lại bức tranh của các bác sĩ đã được đào tạo từ thời VNCH. Bức tranh có những nét chấm phá, chỗ sáng – chỗ tối, khi đậm khi lạt, kể cả lúc đúng lúc sai.

Phần nhận xét và phê bình còn tùy thuộc vào chính kiến của người đọc.

Nguyễn Ngọc Chính

From: TU-PHUNG

Gia đình 3 người bị bắt, công an đòi xử lý hình sự ông Trịnh Bá Khiêm vì live stream lên mạng

 Hôm 24-3-2021, công an huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình mời ông Trịnh Bá Khiêm lên làm việc, đồng thời yêu cầu xóa bỏ các video phát trực tiếp trên Facebook và không chia sẻ các bài đăng khác nếu không sẽ bị xử lý hình sự.

Gia đình ông Trịnh Bá Khiêm hiện có 3 người hiện đang bị chính quyền Việt Nam giam giữ vì các cáo buộc “phát tán tài liệu nhằm chống nhà nước” gồm vợ là bà Cấn Thị Thêu và 2 con trai là Trịnh Bá Phương và Trịnh Bá Tư.

Gia đình 3 người bị bắt, công an đòi xử lý hình sự ông Trịnh Bá Khiêm vì live stream lên mạng
RFA.ORG

Gia đình 3 người bị bắt, công an đòi xử lý hình sự ông Trịnh Bá Khiêm vì live stream lên mạng 

Hôm 24-3-2021, công an huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình mời ông Trịnh Bá Khiêm lên làm việc, đồng thời yêu cầu xóa bỏ các video phát trực tiếp trên Facebook và không chia sẻ các bài đăng khác nếu không sẽ bị xử lý hình sự.

Gia đình ông Trịnh Bá Khiêm hiện có 3 người hiện đang bị chính quyền Việt Nam giam giữ vì các cáo buộc “phát tán tài liệu nhằm chống nhà nước” gồm vợ là bà Cấn Thị Thêu và 2 con trai là Trịnh Bá Phương và Trịnh Bá Tư.

Ông Khiêm vào chiều cùng ngày thuật lại buổi làm việc với phóng viên Đài Á Châu Tự Do như sau:

“Họ lấy các thông tin mà tôi live stream trên mạng xã hội và họ yêu cầu tôi là không được live stream trên mạng xã hội nữa. 

Họ nói là ‘Tôi nói như vậy sẽ gây cho nhân dân hoang mang và nói xấu đảng Cộng sản, không tố cáo cá nhân mà lại nói chung cả đảng Cộng sản’ và yêu cầu tôi không được live stream trên mạng xã hội. 

Nếu còn live stream trên mạng xã hội như thế nữa thì chế độ Cộng Sản sẽ bắt giam tôi và xử án nặng, những viên công quyền nó nói với tôi là như vậy.

Tôi dùng những lời lẽ bác bỏ hết tất cả những những điều quy chụp của bọn cộng sản dành cho tôi. 

Tôi bảo với bọn cơ quan công quyền, công an hôm nay là ‘nếu không có Đảng Cộng sản thì người dân chúng tôi đã không bị mất đất’. 

Nó bảo tôi sao không làm đơn kiện, nó bảo kiện từng cá nhân. Tôi bảo: ‘Kiện từng cá nhân nhưng chế độ Cộng sản có giải quyết đâu?’.”

Trong đoạn video ông Khiêm phát trực tiếp trên Facebook cá nhân vào sáng ngày 24-3 cho thấy, một người trong đoàn công tác yêu cầu ông phải xóa bỏ các video có dấu hiệu vi phạm luật An ninh mạng. Người này nói:

“Chúng tôi đề nghị, yêu cầu anh thứ nhất là xóa bỏ những video clip có nội dung vi phạm ví dụ như là chửi…, ví dụ như là anh gây hoang mang, các video có nội dung đi ngược lại với đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Đề nghị anh là gỡ bỏ!

Thứ hai là không tiếp tục đăng tải, chia sẻ những bài viết, video có các nội dung có thể – như chúng tôi nói là dẫn đến việc anh phải chịu trách nhiệm hình sự.”

Ông Trịnh Bá Khiêm nhận định rằng, có đến 70% khả năng chính quyền sẽ bắt giữ ông theo sau việc bắt giữ 3 thành viên của gia đình, nhưng ông không lo lắng và khẳng định rằng:
“Tôi không lo sợ một tí nào cả, vợ con tôi đang ở trong tù thì máu của tôi lúc nào cũng sôi lên đối diện với bọn cộng sản chúng nó. 

Tôi coi thường chúng nó, không coi chúng nó là cái gì. Tôi đã xác định rồi!

Dù thế nào thì tôi cũng không sợ bọn cộng sản, dù bọn cộng sản có bắt giam tù tôi 20 năm.

Tôi tuyên bố với bọn cộng sản, Bộ Công an, an ninh tỉnh Hòa Bình như vậy. 

Hai mươi năm tôi cũng không sợ, kể cả chết trong tù tôi cũng không sợ chế độ độc tài của bọn cộng sản. Tôi không lo lắng một tí nào!”

Trong buổi làm việc, ông Khiêm cũng đồng thời yêu cầu được gặp con trai là nhà hoạt động Trịnh Bá Phương, hiện bị công an Hà Nội chuyển từ trại tạm giam sang bệnh viện Tâm thần trung ương 1 để giám định từ hồi đầu tháng 3 vì giữ quyền im lặng và bất hợp tác với an ninh điều tra.

Ông Trịnh Bá Khiêm làm một người nông dân khiếu kiện đất đai ở phường Dương Nội, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Ông và những người dân làng cho rằng, đất đai bị chính quyền tịch thu giao cho doanh nghiệp với giá đền bù rẻ mạt.

Hồi năm 2014, ông Khiêm bị tuyên án 15 tháng tù giam với cáo buộc “chống người thi hành công vụ”, trong khi đó các video về cuộc cưỡng chế đất cho thấy ông bị các nhân viên an ninh đeo băng đỏ trấn áp.
Vợ của ông là bà Cấn Thị Thêu bị tuyên 18 tháng tù cùng một tội danh khi chỉ đứng trên chòi cao và quay phim lại vụ việc cưỡng chế.

Các tiểu xảo của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam

Các tiểu xảo của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

23-3-2021

Từ trái sang, bà Cấn Thị Thêu và hai con trai Trịnh Bá Phương và Trịnh Bá Tư. Ảnh cắt từ video clip và MXH

Hôm qua, bà Phạm Thanh Nghiên, một người hoạt động trong nước, cho biết, ông Trịnh Bá Phương bị đưa đến một bệnh viện tâm thần.

Tôi không hề bất ngờ trước quyết định này của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Đó chỉ là một trong nhiều tiểu xảo mà họ sử dụng để cai trị dân chúng.

Ông Phương là một trong ba người trong gia đình bị bắt vào ngày 24/6/2020, với tội danh bị nhà nước CSVN gán cho là: “Làm, tàng trữ, phát tán và tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm nhằm chống nhà nước Việt Nam”. Hai người kia là mẹ ông Phương, bà Cấn Thị Thêu và em trai ông, là Trịnh Bá Tư.

Ông Phương cũng như các thành viên trong gia đình ông, nhất là bà Cấn Thị Thêu, thuộc tầng lớp có nhận thức hiếm hoi trong số nông dân Việt Nam hiện nay. Xuất phát từ việc bị cướp đất, giống như hàng ngàn nông dân Việt Nam khác, họ hiểu được nguyên nhân của mọi nguyên nhân trong thảm trạng xã hội Việt Nam hiện nay, chính là sự độc quyền cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng như cái gọi là “ý thức hệ” của đảng này.

Chính vì sự thấu hiểu đó, mà sau những lần vào tù ra khám, ông Phương, bà Thêu và cả gia đình ông chuyển từ việc đấu tranh đòi quyền lợi trực tiếp, sang một cuộc đấu tranh bao quát hơn, có quy củ hơn, có lý tưởng hơn. Mặt khác, họ vẫn là những người gần gũi với những nông dân Việt Nam, vì thế họ dễ trở thành những thủ lĩnh của giới nông dân, là điều mà đảng CSVN rất lo sợ. Việc bắt giam cả gia đình ông Phương là điều không làm cho giới quan sát ngạc nhiên.

Điều mà nhà cầm quyền bất ngờ trước những nông dân có ý thức như gia đình ông Phương, là họ trưởng thành trong phong trào dân sự Việt Nam (dù hiện nay phong trào có bị yếu đi rất nhiều), nên họ đối diện với nhà cầm quyền một cách tự tin, như việc ông Phương giữ quyền im lặng của mình, dẫn đến việc ông bị đưa vào bệnh viện tâm thần.

***

Đây không phải là lần đầu tiên người cộng sản áp dụng tiểu xảo này, và là một trong những tiểu xảo mà họ áp dụng với các tù nhân lương tâm.

Tiểu xảo thường thấy là họ bắt người vì một lý do này rồi sau đó kết án, giam giữ vì một lý do khác. Trường hợp ông Phương bị bắt vì lý do “phản động” như “tuyên truyền chống nhà nước”, nhưng nay họ giam ông vì “bệnh tâm thần”, một lý do rất dễ biện hộ khi đối diện với những áp lực từ bên ngoài, hơn là lý do tuyên truyền chống chế độ rất mù mờ mà họ đưa ra ban đầu. Những gì ông Phương đăng tải trên trang Facebook cá nhân của ông rất “hiền lành” so với hàng ngàn trang khác, nhưng họ bắt ông vì ông gần với giới nông dân như tôi trình bày ở trên.

Trường hợp hai ông Cù Huy Hà Vũ và Trần Huỳnh Duy Thức thì lại bị bắt vì lý do mang tính tội phạm hình sự (trường hợp ông Vũ, ông ở trong phòng với một người phụ nữ, với “hai bao su đã qua sử dụng” và gian lận thương mại trong trường hợp ông Thức), nhưng khi đưa họ ra tòa xử sau đó, chính quyền cộng sản buộc họ vào những tội “chính trị phản động” không liên quan gì đến tội danh đã được dựng lên để bắt họ ban đầu. Cả hai người này đều là người có quan hệ rộng, cư trú ở thành thị, bắt họ với những lý do “chính trị” ban đầu sẽ khó thành công hơn.

Khi trục xuất tù chính trị, nhà cầm quyền cộng sản lại thực hiện bằng một tiểu xảo khác, nói rằng người bị trục xuất cần được chăm sóc sức khỏe, cần đoàn tụ gia đình,… vì thế họ “cho phép” những người này ra đi “vì lý do nhân đạo”. Khi thực hiện tiểu xảo này, họ sẽ tiếp tục biện hộ với thế giới bên ngoài là họ không có tù nhân chính trị, không có tù nhân vì lý do tôn giáo…

Một tiểu xảo khác dùng để kềm chế các cuộc biểu tình của người dân chống Trung Quốc xâm lược, hay kỷ niệm các sự kiện có liên quan tới yếu tố Trung Quốc… là họ cho các nhóm công an mặc thường phục, giả dạng làm “quần chúng tự phát”. Tiểu xảo “quần chúng tự phát” được họ sử dụng từ những ngày mới lên cầm quyền, từng thực hiện trong cải cách ruộng đất, cho đến nay.

Tiểu xảo “quần chúng tự phát” cũng được áp dụng trong “hiệp thương, xác nhận tư cách ứng cử viên Quốc hội”, dùng để loại những người tự ra ứng cử làm đại biểu Quốc hội, chứ không được “Đảng cử”. Quần chúng trong tiểu xảo này là tổ chức Mặt trận Tổ quốc, các tổ dân phố,… đem người bị nhắm đến ra đấu tố để loại trừ.

Nhưng đỉnh cao của loại tiểu xảo này chính là việc dựng lên các tổ chức bình phong của Đảng, như thời kỳ chiến tranh Việt Nam, họ dựng lên Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.

Trong lĩnh vực tuyên truyền ở thời đại mạng xã hội, họ dùng một tiểu xảo mới là, cho phép người dân theo dõi một cách thoải mái các kênh tin vịt ở hải ngoại, hay trong nước, vì tin vịt đánh hạ uy tín của nền dân chủ Mỹ (chuyện các thuyết âm mưu về gian lận bầu cử Mỹ), để đánh gục uy tín của những người chống Cộng. Họ khá thành công trong việc này, như tôi đã trình bày trong bài viết: “Tuyên giáo Việt Nam và các Youtuber hải ngoại: Hai đồng minh bất ngờ”.

Trong các nền dân chủ phương Tây, không phải các chính trị gia không có những tiểu xảo chính trị với các đối thủ của họ, nhưng tam quyền phân lập, cùng với tự do báo chí, đã làm cho họ khó thực hiện được.

Ở Việt Nam hiện nay, cũng như ở Trung Quốc và các nước độc tài (chính quyền quân phiệt Miến Điện buộc tội bà Aung San Suu Kyi, đối thủ chính trị của họ, là … buôn lậu máy bộ đàm), các tiểu xảo này luôn được sử dụng, dưới vỏ bọc “giữ vững an ninh chính trị” và các tiểu xảo trở thành thuộc tính của những xã hội này. Mà khi tiểu xảo bị biến thành dòng chủ lưu của xã hội, thì nhà cầm quyền đang tự hủy hoại xã hội mà họ đang sống.

“Xâm hại lòng tin của nhân dân với Đảng” bác sĩ khoa nhi bị bắt

“Xâm hại lòng tin của nhân dân với Đảng” bác sĩ khoa nhi bị bắt

Một bác sĩ mở phòng khám tư nhân Duy Nhi tại xã Viên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An vừa bị cơ quan an ninh điều tra bắt giữ hôm 22-3-2021 vì bị cho rằng hành vi đăng tải các bài viết trên mạng xã hội đã làm “xâm hại lòng tin của nhân dân với Đảng”.


Đây là trường hợp bị bắt giữ nằm trong đợt trấn áp mới nhất của chính quyền Việt Nam trước cuộc bầu cử Quốc hội và bầu ra 3 lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội Việt Nam.

Mạng báo Công an Nhân dân cho hay, bác sĩ Nguyễn Duy Hướng, 34 tuổi, bị bắt giữ với cáo buộc “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo điều 117 Bộ luật hình sự.

Cơ quan An ninh điều tra quy kết, từ năm 2018 đến thời điểm bị bắt giữ, ông Nguyễn Duy Hướng đã sử dụng tài khoản Facebook có tên “Bảo kiếm” để đăng tải nhiều nội dung bị cho là xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân.

Ngoài ra, ông Hướng còn bị cho là đã lợi dụng những sự kiện nhạy cảm để viết bài, đăng tải, chia sẻ hình ảnh, bài viết có nội dung nói xấu chính quyền, bôi nhọ, xúc phạm hoạt động của cơ quan công quyền, xúc phạm người thực thi nhiệm vụ.

Cơ quan ngôn luận của Bộ Công an Việt Nam cho rằng, hành vi của ông Nguyễn Duy Hướng xâm hại đến lòng tin của nhân dân đối với đảng, với chế độ XHCN, phá hoại sự thống nhất về chính trị, tư tưởng trong xã hội, vì vậy cần phải điều tra, xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Trong một bài viết trên Facebook Bảo Kiếm ngày 20-2-2021 với tiêu đề “Tại sao phải công kích ông Nguyễn Phú Trọng?”, bác sĩ Nguyễn Duy Hướng cho rằng, “thành quả của Đảng dành cho đất nước trước đây là không thể chối cãi, nhưng ở hiện tại Đảng là một vũng lầy, là một gánh nặng của Đất Nước.”

Đồng thời khẳng định “việc mà tôi làm, tôi hi sinh cả gia đình cả công việc ổn định chính là để thay đổi Đảng, thay đổi đất nước.

Tôi nguyện hiến dâng cả tính mạng của mình cho điều đó. Phải cải cách để cho nhân dân làm chủ, phải cải cách để Đảng trong sạch, cải cách để đất nước tiến lên phía trước.

Còn cách làm như ông Nguyễn Phú Trọng và tầng lớp chóp bu chỉ là những kẻ nguỵ quân tử, diệt một vài con sâu để bảo vệ cho cả bầy sâu, múc một gáo bùn mà sạch được cả đầm lầy là việc không có.

Chúng ta phải tỉnh táo về điều đó, để nhận diện cho được chân giả trong cuộc sống.”

Hôm 10-3-2021, một người tự ứng cử Đại biểu Quốc hội là ông Trần Quốc Khánh cũng bị công an tỉnh Ninh Bình bắt tạm giam 4 tháng với cùng tội danh.

#RFAVietnamese #NguyenDuyHuong #WhatishappeninginVietnam

 
May be an image of ‎1 person, standing and ‎text that says '‎RFA ادوغود IÁO SƯ ĐÀIÁ CHÂU DO "Xâm hại lòng tin của nhân dân với Đảng" bác sĩ khoa nhi bị bắt‎'‎‎

CÂY KIM MAY…

CÂY KIM MAY…

Mới đây xe của ông Phạm Nhật Vượng bị hàng loạt trục trặc kỹ thuật, gãy sườn, hỏng máy… Tôi xin đăng lại bài viết vè cây kim may để thấy rằng việc phát triển công nghiệp hiện đại sẽ rất gian khổ. Và Việt Nam chúng ta thậm chí chưa đứng ở vạch xuất phát và còn lớ ngớ, chưa biết xuất phát như thế nào, nói chi tới chuyện phát triển. Nhà nước ta “ngây thơ” một cách dễ sợ và rất dễ bị lừa.

***

Vào khoảng năm 1978, 1979 gì đó, khi còn làm phóng viên báo Tuổi Trẻ, tôi được (hay bị) đưa đi “vô sản hoá” tại nhà máy Sinco ở Sàigòn.

Nhà máy này vốn của chế độ cũ để lại, chuyên sản xuất máy may lấy hiệu là Sinco. Khi các “tồng chí” tiếp quản được ít lâu thì hết mẹ nó phụ tùng nên đếch hoạt động được.

Lúc tôi đến xin làm công nhân ở đó (có lẽ người ta định sau này “cơ cấu” tôi làm Tổng Bí thư nên cho tôi bắt chước đồng chí Nguyễn Văn Cừ đi vô sản hoá ở các mỏ than Hòn Gay năm nào!) thì thấy Giám đốc cùng mấy anh kỹ sư, thợ tiện, thợ phay, thợ nguội… đang ngồi bàn cách phục hồi hoạt động của nhà máy, để chế tạo cho được một cái máy may mang thương hiệu Việt Nam chính cống.

Các linh kiện của một chiếc máy may bàn đạp khá đơn giản nên không bàn tới. Mọi người đều tập trung nghiên cứu làm cái ổ thuyền, vì đó là bộ phận khó làm nhất.

Muốn làm cái ổ thuyền phải qua rất nhiều công đoạn: thiết kế bản vẽ, chọn nguyên liệu. Sau đó là thi công: những thợ phay, thợ tiện, thợ mài… giỏi nhất làm đi làm lại nhiều lần, rồi tới thợ nguội đo đạc chính xác từng “zem”, rồi đánh bóng, kiểm tra… rồi cho chạy thử.

Sau nhiều lần trục trặc, chiếc máy may nhãn hiệu Sinco do Việt Nam sản xuất cũng ra đời. Tuy nhiên hôm họp báo công bố sản phẩm, giám đốc nhà máy đã làm tôi ngạc nhiên khi nói:

“Thưa các đồng chí, chúng tôi có thể tự hào tuyên bố rằng chúng ta đã sản xuất được một chiếc máy may hoàn chỉnh, trừ… cây kim!”

Bỏ mẹ! Tôi nghĩ thầm, cái ổ thuyền khó như vậy mà còn làm được, sao cây kim lai chịu thua?!

Kể từ đó đến nay, cái sản phẩm đầy tâm huyết, đầy tim óc của tập thể giám đốc, kỹ sư, công nhân nhà máy Sinco, cái “niềm thự hào thương hiệu Việt Nam” kia biến mất tăm và nhà máy Sinco chắc cũng đã bị phù phép thành cái quỷ quái gì rồi.

Bốn mươi năm sau, tôi gặp một cô bé công nhân trên xe buýt, nó nói:

– Con làm trong một nhà máy của Nhật tại khu chế xuất Tân Thuận.

– Chế cái gì?

– Cái kim may

*

Thưa quý vị,

Như vậy là cho đến năm 2018 này. Sau 40 năm, Việt Nam chúng ta cũng chưa chế tạo được cái kim may. Và cái máy may Sinco (không có kim) mà Việt Nam chế tạo được chắc cũng đang nằm trong viện bảo tàng!

Không phải nòi giống ta đần độn. Không phải dân tộc ta lười biếng…

Vậy thì vì cái gì?

Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế từng nói:

“Thế giới gồm nước phát triển, nước đang phát triển, nước chậm phát triển nhưng Việt Nam có lẽ là mô hình đặc biệt nhất. Đó là nước… không chịu phát triển! Đầu tư nhiều đến thế, ODA nhiều đến thế (20 năm qua lượng ODA đổ vào Việt Nam lên tới gần 90 tỉ USD) nhưng đến bây giờ vẫn không phát triển được thì chỉ có thể là… không chịu phát triển!”

Sao vậy?

Vì thực ra “các quan” không có khả năng lãnh đạo đất nước. Và vì chẳng biết làm cái cóc khô gì cả nên họ đã chọn công việc dễ nhất và hiệu quả nhất là tham nhũng.

*

Bây giờ tới chuyện “sản xuất ô-tô hiện đại” xem ra cũng chỉ là lắp ráp theo dây chuyền công nghệ và linh kiện của nước ngoài.

Chuyện đó cũng chẳng mới mẻ gì vì Toyota. Huyndai, Fiat, Samsung, Sony… đã và đang làm.

Tôi ủng hộ anh bạn Mì Gói và cầu chúc anh thành công. Nhưng tôi muốn anh hiểu rằng đừng khoác lác. Đừng nổ. Vì nó rất kỳ!

Con đuòng còn dài lắm, chúng ta còn phải học hỏi nhiều, nhiều, nhiều, nhiều lắm.

Rất mong chúng ta đừng quên câu chuyên về nhà máy Sinco.

Họ đã cố gắng hết sức để làm cho được cái ổ thuyền vậy mà còn cái kim may cho đến giờ vẫn chưa làm được, thì cái ô-tô Vinfast của anh thực chất nó là con cái nhà ai?

Ngày 3/10/2018

ĐÀO HIẾU

May be an image of text that says 'SINCO'

CHUYỆN CÁI GIỌNG SÀI GÒN

May be an image of 2 people

CHUYỆN CÁI GIỌNG SÀI GÒN

Giọng Sài Gòn cũng như văn hóa và con người Sài Gòn là một sự pha trộn và giao thoa đến hợp nhất của nhiều nơi.

Đó là những người Chăm bản địa, những người khách Hoa, những người miền Trung đầu tiên đến đất Gia Định. Từ đó hình thành một loại ngôn ngữ vừa bản địa, vừa vay mượn của những người đi mở đất.

Giọng người Sài Gòn được xem là giọng chuẩn mực của miền Nam, cũng như giọng người Hà Nội được xem là giọng chuẩn mực của miền Bắc. Giọng chuẩn mực tức là giọng không pha trộn, không bị cải biến đi qua thời gian.

Như nói về giọng chuẩn mực của người Hà Nội, người ta nói đến chất giọng ấm nhẹ, khi trầm khi bổng, khi sắc khi thanh, và chẳng ai phủ nhận người Hà Nội nói chuyện rất hay và “điêu luyện”.

Cái “điêu luyện” ấy như thuộc về bản chất của người Hà Nội mà chỉ người Hà Nội mới có được.

Nếu nói là người Việt Nam nói như hát, thì đúng ra chỉ có người Hà Nội là “nói như hát” mà thôi, họa chăng chỉ có giọng Huế của người con gái Huế trầm tư mới cùng được ví von thế.

Người Sài Gòn thì khác, giọng Sài Gòn cũng khác. Không ngọt ngào mía lùi như một số người dân Tây Nam Bộ ven vùng sông nước mênh mang chín rồng phù sa; không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam Bộ nóng cháy da thịt; giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng là cái ngọt thanh hơn, nhẹ hơn.

Đó là chất giọng “thành thị” đầy kiêu hãnh của người Sài Gòn, chẳng lẫn vào đâu được mà dù người khác có bắt chước cũng khó lòng.

Dường như qua nhiều năm cùng với đất Gia Định – Sài Gòn phù hoa trong nhịp sống thì giọng nói của người Sài Gòn cũng trở nên “cao sang” hơn. Dù vậy, có cái “thanh” của một vùng đất một thời là thủ phủ Nam Bộ, nhưng cũng chẳng mất đi đâu cái mộc mạc không bỏ được của cái gốc chung Nam Bộ.

Giọng người Sài Gòn nói lên nghe là biết liền. Ngồi nghe hai người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau ở một quán nước, bên đường hay qua điện thoại, dễ dàng nhận ra họ. Cái giọng không cao như người Hà Nội, không nặng như người Trung, mà cứ ngang ngang sang sảng riêng. Mà điều đặc biệt trong cách người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau là mấy từ “nghen, hen, hén” ở cuối câu.

Người miền khác có khoái, có yêu người Sài Gòn thì cũng vì cách dùng từ “nghen, hen” này. Khách đến nhà chơi, chủ nhà tiếp. Khách về, cười rồi buông một câu : “Thôi, tôi dìa nghen!” – Chủ nhà cũng cười : “Ừ, dzậy anh dìa hen!”.

Nói chuyện điện thoại đã đời, để kết câu chuyện và cúp máy, một người nói : “Hổng còn gì nữa, dzậy thôi hen!”

“Thôi” ở đây nghĩa là dừng lại, kết thúc, chấm dứt gì đó. Hai đứa bạn nói chuyện cùng nhau, bắt gặp cái gì vui, quay đầu sang đứa kế bên : “Hay hén mậy ?” bằng giọng điệu thoải mái.

Người Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung, có thói quen dùng từ “dạ” khi nói chuyện, khác với người miền Bắc lại dùng từ “vâng”.

Để ý sẽ thấy ít có người Sài Gòn nào nói từ “vâng”. Khi có ai gọi, một người Sài Gòn nói “vâng !” là trong dáng dấp của câu nói đó có giọng đùa, cười cợt. Khi nói chuyện với người lớn hơn mình, người dưới thường đệm từ “dạ” vào mỗi câu nói. “Mày ăn cơm chưa con ?”

– “Dạ, chưa !”; “Mới dìa/dzề hả nhóc ?”

– “Dạ, con mới !”

Cái tiếng “dạ” đó, không biết sao trong cảm giác nghe của một người Sài Gòn với một người Sài Gòn thấy nó “thương” lạ dễ chịu mà gần gũi, nhẹ nhàng mà tình cảm lắm lắm. Cảm giác nó thật riêng so với những nơi khác. Nghe một tiếng “dạ” là biết ngay tên này là dân miền Nam cái đã rồi hẵng hay.

Một người miền khác, có thể là Bắc hoặc Trung, diễn tả một khoảng thời gian ngắn vài ngày thì nói “Từ bữa đó đến bữa nay”, còn người Sài Gòn thì nói “hổm nay” người khác nghe sẽ không hiểu, vì nói chi mà ngắn gọn ghê.

(Lại phát hiện thêm một điều là người Sài Gòn hay dùng từ “ghê” phía sau câu nói để diễn tả một sắc thái tình cảm riêng. Tiếng “ghê” đó chẳng hàm ý gì nhiều, nó mang ý nghĩa là “nhiều”, là “lắm”. Nói “Nhỏ đó đẹp ghê” nghĩa là khen cô bé đó lắm vậy) Lại so sánh từ “hổm nay” với “hổm rày” hay nghe ở các vùng quê Nam Bộ, cũng một ý nghĩa như nhau, nhưng lại không hoàn toàn giống nhau.

Nghe người Sài Gòn dùng một số từ “hổm rày, miết” là người Sài Gòn bắt chước người miền sông nước vậy. Nhưng nghe vẫn không trái tai, không cảm thấy gượng, vì trong người Sài Gòn vẫn còn cái chất Nam Bộ chung mà.

Nghe một đứa con trai Sài Gòn nói về đứa bạn gái nào đó của mình xem. “Nhỏ đó đẹp lắm !”, “Nhỏ đó ngoan !”

Tiếng “nhỏ” mang ý nghĩa như tiếng “cái” của người Hà Nội. Người Sài Gòn gọi “nhỏ Thúy, nhỏ Lý, nhỏ Uyên” thì cũng như “cái Thúy, cái Uyên, cái Lý” của người Hà Nội thôi.

Giọng nói người Sài Gòn không sang trọng, điệu đà như giọng người dân đất Bắc, cũng chẳng trầm lắng, thanh thanh như tiếng Huế Thần Kinh, cái giọng Sài Gòn đi vào tai, vào lòng, vào cách cảm, và nỗi nhớ nhung của người Sài Gòn lẫn dân miền khác bằng sự ngọt ngào của sông nước Nam Bộ, bằng cái chân chất thật thà của truyền thống xa xưa, và bằng cả cái “chất Sài Gòn” chảy mạnh trong từng mạch máu người dân Sài Gòn. Đi đâu, xa xa Sài Gòn, bỗng dưng nghe một tiếng “Dạ !” cùng những tiếng “hen, nghen” lại thấy đất Sài Gòn như đang hiện ra trước mắt với những nhớ thương.

Giọng người Sài Gòn đôi khi diễn đạt cùng một câu nói, nhưng lại bằng nhiều cung bậc giọng điệu khác nhau lại mang ý nghĩa khác nhau. Đám nhỏ quậy, nghịch phá, người chị mắng, giọng hơi gằn lại và từng tiếng một, có chút hóm hỉnh trong đó : “Dzui dzữ hen !”.

Đám bạn cùng tuổi, ngồi chơi chung, cười đùa, một người nói giọng cao cao vui vẻ : “Dzui dzữ hen !” Người Sài Gòn có thói quen hay “đãi” giọng ở chữ cuối làm câu nói mang một sắc thái khác khi hờn giận, khi đùa vui như : “Hay dzữuuu !”, “Giỏi dzữưưu !”

Nghe người Sài Gòn nói chuyện, trong cách nói, bắt gặp “Thôi à nghen”, “Thôi à !” khá nhiều, như một thói quen và cái “duyên” trong giọng Sài Gòn.

Người Sài Gòn nói chuyện, không phát âm được một số chữ, và hay làm người nghe lẫn lộn giữa âm “d,v,gi” cũng như người Hà Nội phát âm lẫn các từ có phụ âm đầu “r” vậy. Nói thì đúng là sai, nhưng viết và hiểu thì chẳng sai đâu, đó là giọng Sài Gòn mà, nghe là biết liền.

Mà cũng chẳng biết có phải là do thật sự người Sài Gòn không phát âm được những chữ ấy không nữa, hay là do cách nói lẫn từ “d,v,gi” ấy là do quen miệng, thuận miệng và hợp với chất giọng Sài Gòn.

Ví như nói “Đi chơi dzui dzẻ hen mậy !” thì người Sài Gòn nói nó thuận miệng và tự nhiên hơn nhiều so với nói “Đi chơi vui vẻ hen !”. Nói là “vui vẻ” vẫn được đấy chứ nhưng cảm giác nó ngường ngượng miệng làm sao đó.

Nói một ai đó chậm chạp, người Sài Gòn kêu : “Thằng đó làm gì mà cứ cà rề cà rề nhìn phát bực !”

Nghe cứ như là đùa, chẳng làm câu nói nặng nề lắm. Một người lớn hơn gọi: “Ê, nhóc lại nói nghe !” hay gọi người bán hàng rong : “Ê, cho chén chè nhiều nhiều tiền ít coi !”

“Ê” là tiếng Sài Gòn đó, coi gọi trổng không vậy mà chẳng có ý gì đâu, có thể nói đó là thói quen trong cách nói của người Sài Gòn.

Mà người Sài Gòn cũng lạ, mua hàng gì đó, thường “quên” mất từ “bán”, chỉ nói là “cho chén chè, cho tô phở”.

“Cho” ở đây là mua đó nghen. Nghe người Sài Gòn nói chuyện với nhau, thường bắt gặp thế này: “Lấy cái tay ra coi !”; “Ngon làm thử coi !”; “Cho miếng coi !”; “Nói nghe coi !”

“Làm thử” thì còn “coi” được, chứ “nói” thì làm sao mà “coi” cho được nè ? Vậy mà người Sài Gòn lại nói, từ “coi” cũng chỉ như là một từ đệm, dân Sài Gòn nói dzậy mà. Ngồi mà nghe người Sài Gòn nói chuyện cùng nhau thì quái lắm, lạ lắm, không ít người sẽ hỏi : “mấy từ đó nghĩa là gì dzậy ta ?”

– Mà “dzậy ta” cũng là một thứ “tiếng địa phương” của người Sài Gòn à. Người Sài Gòn có thói quen hay nói: “Sao kỳ dzậy ta ?”;

“Sao rồi ta ?”; “Được hông ta ?”

Nghe như là hỏi chính mình vậy đó, mà hổng phải dzậy đâu nghen, kiểu như là nửa hỏi người, nửa đùa đùa vậy mà.

Tiếng Sài Gòn là thế đó, nếu bạn giả giọng Sài Gòn nói chuyện, dù có giống cách mấy mà bỏ quên mấy tiếng đệm, mấy tiếng Sài Gòn riêng riêng này thì đúng là “bạn hông biết gì hết chơn hết chọi !”

Bài của HẢI PHAN

———

1967 street vendor downtown Saigon. Photo by Daniel P. Cotts. Ngon ghê! Chị này đúng là quán nhậu lưu động: nem, gỏi cuốn, tôm càng nướng có đủ chỉ thiếu bia. Ngoài ra cái bếp nhỏ của chị chắc chắn là dùng để làm bún bò xào. Dòm kỹ thúng bên trái có thể thấy chuôi một cái chảo nhỏ thò ra ngoài và tô thịt bò ở trên. Khi khách gọi bún bò xào, chị mới lôi cái chảo ra đặt lên bếp, xào thịt bò với hành sả rồi đổ lên tô bún với rau thơm. Mấy động tác này tới giờ tui vẫn còn nhớ bởi hồi đó tui thích đứng gần mấy chị này để “khảo sát”. Mấy cô bán bar là khách hàng số một của mấy chị. Đừng nói oan tui nhé! Tui không “khảo sát” mấy cô bán bar.

Hà Nội: Ông Trịnh Bá Phương bị công an chuyển sang viện tâm thần do “giữ quyền im lặng”

Hà Nội: Ông Trịnh Bá Phương bị công an chuyển sang viện tâm thần do “giữ quyền im lặng”

Ông Trịnh Bá Phương – một nhà hoạt động nhân quyền nổi tiếng hôm 22-3 được điều tra viên công an Hà Nội thông báo với gia đình cho hay, ông đã bị chuyển sang bệnh viện Tâm thần Trung ương số 1 – Thường Tín, Hà Nội để “xác minh, điều tra”.

Người nhà nghi ngờ rằng có thể lý do chuyển ông Phương đi là do ông này từng cho biết sẽ “giữ quyền im lặng cho đến khi nào gặp được luật sư”.

Bà Đỗ Thị Thu, vợ ông Phương trưa ngày 22-3 nói với phóng viên Đài Á Châu Tự Do như sau:

“Sáng nay thì em gọi cho anh Nguyễn Thế Bắc (điều tra viên thụ lý vụ án – PV) thì anh Nguyễn Thế Bắc nghe máy.


Anh ấy bảo là đã đưa chồng em đến giám định tại Viện Tâm Thần Trung Ương 1 ở huyện Thường Tín.

Họ không nói chuyển đi khi nào và hẹn gia đình em đến lấy giấy thông báo, chiều nay em sẽ đi đến lấy giấy thông báo.

Em có hỏi lý do vì sao họ chuyển chồng em đi thì bảo là để xác minh điều tra”.

Người nhà ông Phương cho biết, gia đình từng bị cơ quan an ninh điều tra công an Hà Nội triệu tập để hỏi về tiền sử của gia đình có ai bị tâm thần hay không vì ông Phương “không nhìn điều tra viên và cũng không trả lời những câu hỏi của điều tra viên”.

“Ngày 3 tháng 9 năm 2020 thì họ triệu tập em đến, họ hỏi em là: ‘Tình hình anh Phương ở nhà tâm lý có sao không và gia đình có ai bị tâm thần hay không?’

Em cũng trả lời họ là: ‘Ở nhà thì anh Phương khỏe mạnh, yêu thương vợ con và gia đình em cũng chả có ai bị tâm thần.’

Họ cũng nói rằng trong quá trình điều tra thì anh Phương không trả lời và cũng không nhìn họ, anh lấy giữ quyền im lặng!

Tháng 12 năm 2020, anh Phương cũng nhờ một người gọi điện ra cho em và người đó bảo rằng anh Phương sẽ giữ quyền im lặng cho đến khi gặp được luật sư và cũng nhắc nhở gia đình không phải nói gì hết bởi vì mình có quyền im lặng”.

PV Đài Á Châu Tự Do ngay lập tức gọi cho Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 thì người trực máy cho hay, không biết có ai tên là Trịnh Bá Phương được chuyển vào đây vì cả bệnh viện có đến 600 người bệnh.

Người này cũng cho biết, phải biết khoa bệnh nào thì họ mới có thể tìm kiếm được.

Nhà hoạt động Lê Anh Hùng – một blogger của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ VOA cũng bị chuyển vào Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 từ năm 2019, chỉ 1 năm sau khi bị tạm giam để điều tra vì cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước’.

Hồi tháng 2-2021, bạn bè đến thăm ông Hùng thì được báo là ông bị biệt giam và canh giữ trong điều kiện hết sức nghiêm ngặt.

Ảnh: Ông Trịnh Bá Phương gặp một viên chức chính trị của Đại sứ quán Mỹ trước khi bị bắt.

#RFAVietnamese #TrinhBaPhuong #VienTamthanTrunguong1 #Vietnam #Hanoi #VietnamHumanRights #WhatishappeninginVietnam

May be an image of 2 people, people standing and text

NỬA HỒN XUÂN LỘC

May be a black-and-white image of 1 person, standing and military uniform

Trại tạm giam đột ngột chuyển trại đối với ông Trịnh Bá Phương, gia đình mất tung tích

Trại tạm giam đột ngột chuyển trại đối với ông Trịnh Bá Phương, gia đình mất tung tích

RFA
2021-03-19  

Hình minh hoạ. Ba người thuộc gia đình ông Trịnh Bá Phương (từ trái qua): Trịnh Bá Tư, Trịnh Bá Phương, Cấn Thị Thêu. Họ đều bị bắt giữ vì những hoạt động đòi quyền đất đai cho người dân

 FB Nhà vườn Trịnh Bá Phương – Tư

Cán bộ Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội hôm 19-3-2021 thông báo cho gia đình của nhà hoạt động đất đai Trịnh Bá Phương rằng ông đã bị chuyển trại cách đây từ 2-3 tuần nhưng còn chuyển đi đâu thì họ không báo cho gia đình. 

Vợ ông Phương, bà Đỗ Thị Thu, bày tỏ sự lo lắng đối với phóng viên Đài Á Châu Tự Do vào chiều cùng ngày như sau:

“Hôm nay ngày 19 tháng 3 năm 2021 thì em đến Trại giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội. 

Đến nơi họ bảo anh Phương đã chuyển đi nhưng còn trại nào thì họ không biết.

Họ cũng bàn giao cho em số tiền lưu ký còn thừa là 1.500.000 (đồng). 

Như bình thường em thấy nếu mà họ chuyển trại thì họ sẽ thông báo cho người nhà, cái số tiền lưu ký này thì cũng sẽ phải theo anh Phương, nghĩa là phải đi theo tới chỗ trại mà anh Phương ở. 

Em cũng không biết là nguyên nhân tại sao họ lại chuyển chồng em đi một cách đột ngột như vậy, không biết họ có tra tấn hay là làm gì chồng em không.”

Vợ của ông Phương cũng đã gọi điện cho cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội nơi có điều tra viên Nguyễn Thế Bắc thụ lý vụ án ông Trịnh Bá Phương tuy nhiên thư ký cho biết người này đã đi công tác. 

Phóng viên Đài Á Châu Tự Do cũng gọi trực tiếp cho cơ quan này để hỏi về vụ việc, nhưng người công an nhấc máy yêu cầu phóng viên cầm giấy giới thiệu đến trực tiếp cơ quan, chứ họ “không làm việc qua điện thoại” 

Ông Trịnh Bá Phương là một nhà hoạt động vì quyền đất đai nổi tiếng tại Hà Nội. 

Ông bị bắt giữ cùng em trai là Trịnh Bá Tư và mẹ là Cấn Thị Thêu trong cùng ngày 24-6-2020 với cáo buộc tội danh “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Một người dân Dương Nội khác cũng bị bắt trong cùng một vụ việc là bà Nguyễn Thị Tâm. 

Cả 4 người đều là những người lên tiếng và đưa tin mạnh mẽ về vụ việc 3000 cảnh sát nửa đêm tấn công vào làng Đồng Tâm vào ngày 9/1/2020, bắn chết ông Lê Đình Kình, thủ lĩnh tinh thần của người dân trong việc đòi đất Đồng Sênh.

Đảng Viên Nhưng Mà Tốt

Đảng Viên Nhưng Mà Tốt

Tưởng Năng Tiến

Hơn 10 năm trước TS Vũ Minh Khương có một bài viết ngắn (“Việt Nam: Chặt Cầu Để Tiến Lên?”) với nhiều câu hỏi dài nhưng rất khó quên:

  1. Chúng ta có thấy xót xa hổ thẹn về vị thế hiện nay của dân tộc mình không?
  2. Chúng ta có thấy lo lắng cho tương lai của đất nước mình không?
  3. Nếu có cơ hội, thế hệ chúng ta có đủ sức đưa dân tộc mình đến một vị thế vẻ vang (hơn mức hiện nay rất nhiều) không?
  4. Cơ chế hiện thời có cho bạn làm được điều mà bạn hết lòng khao khát làm cho đất nước mình không?

Cách nhìn, và đặt vấn đề, của TS Vũ Minh Khương cũng khiến cho nhiều độc giả phải “động tâm” vì hiện tình của xứ sở:

“Khó khăn trong quyết định của mỗi người chúng ta hôm nay không phải là làm cách gì để đất nước tiến lên mà là làm gì để chúng ta không lùi tiếp nữa, bởi đường lùi của chúng ta còn rộng rãi thênh thang lắm.
Ông cha chúng ta để lại cho chúng ta đất đai ở vị thế đẹp và nhiều tài nguyên quí giá. Thế giới lại thương cảm chúng ta đã trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt. Thế hệ chúng ta chỉ cần cho nhượng thuê đất trong các dự án đầu tư dễ dãi, bán tài nguyên, và vay nợ quốc tế cũng đủ sống xênh xang được 20-30 năm nữa. Ta nhượng đất của ông cha làm sân golf và dân ta sẽ không thể đói nhờ nghề nhặt bóng và đánh giày.”

Sau khi bị “rút” khỏi trang Tuần Việt Nam, bài viết thượng dẫn đã được đăng lại trên diễn đàn talawas (vào hôm 13/07/2009) và nhận được khá nhiều phản hồi sôi nổi :

  • Hoài Quốc Việt: “Rất đáng khâm phục lòng quả cảm của những nhà báo chân chính, không sờn lòng trước bắt bớ, răn đe, thải hồi chức vụ đã xảy ra trước đây với các đồng nghiệp của các anh.”
  • Nguyễn Việt: “Một blog khá nổi tiếng khác từ Hà Nội cũng đăng bài này từ sáng sớm hôm nay. Sau khi tôi cảnh báo với ông bạn blogger là bài gốc bị xóa rồi, cậu ta cũng xóa ngay. Tuy nhiên hàng trăm ngàn người đã đọc đuợc trên các trang web như vậy trước lúc nó bị xóa. Kẻ thì hả hê đuợc ăn trái cấm, kẻ thì nhăn nhó hít hà vì ớt xanh cay quá.”
  • Phùng Tường Vân: “Thứ Hai là ngày mà nhiều người cho là cái “ổ gà” (pothole) của đường đời, được đọc hai bài thật thích thú: bài này của TS Vũ Minh Khương và bài “Mọi” của Duy Ngọc, mỗi bài một vẻ nhưng đầy hàm súc, rất mong được quần hào phản hồi sôi nổi.”
  • Lê Điều : “Ông sinh năm 1959, vào Đảng năm 1981 (22 tuổi), nay đã có 28 tuổi Đảng, từng giữ nhiều chức vụ không nhỏ trong bộ máy lãnh đạo chính trị và kinh tế tại Việt Nam… Một đảng viên loại một nói ra những lời ấy thì trong nội bộ ĐCSVN quả là còn có những lực lượng khác đang sôi sục!”

Vũ Minh Khương, rõ ràng, là một đảng viên nhưng mà tốt. Chỉ có điều đáng tiếc là ông không đủ can đảm để bỏ đảng chạy lấy người (như bao nhiêu nhân vật thức thời khác) nên không tốt được lâu, và cũng chả “sục sôi” được mãi!

VMK hết “cay” hay đã “nguội” tự lúc nào thì không ai rõ nhưng thiên hạ đều thấy ông “sọc dưa” từ ngày 25/01/2021, hôm mà ông trả lời phỏng vấn BBC về vấn đề nhân sự của Đại Hội 13. Xin trích dẫn đôi câu để rộng đường dư luận:

BBCCó một số học giả, nhà phân tích, và nhà quan sát chính trị Việt Nam đưa ra dự đoán, phỏng đoán về nhân sự “Tứ trụ” theo đó dự kiến đề xuất ông Nguyễn Phú Trọng tiếp tục giữ chức Tổng bí thư, ông Nguyễn Xuân Phúc giữ chức Chủ tịch nước, ông Phạm Minh Chính giữ chức Thủ tướng và ông Vương Đình Huệ đảm nhận chức Chủ tịch Quốc hội. Trong trường hợp đây đúng là giải pháp cho bài toán nhân sự cấp lãnh đạo cao nhất thì theo ông phương án này có hợp lý hay không?

VMK: “Tôi cho đây là một phương án rất đặc sắc, có tính gây kinh ngạc cho thế giới. Cả bốn con người này tôi đều đã gặp rồi nên tôi hiểu rất rõ. Họ đều thể hiện khá rõ về tầm hiến dâng cho sự phát triển của đất nước. Họ đều có tư duy rất thực tế và có kinh nghiệm nhiều trong công tác Đảng cũng như lãnh đạo chính quyền.

Họ đều một lòng một dạ làm gì đó để có di sản để lại về sau. Nhiều khi người ta băn khoăn lo lắng về người lên chức lãnh đạo là tích lũy tài sản hay này khác nhưng lần này thì cả bốn người đều có phẩm chất hiến dâng rất cao thì đó là điều rất đáng quý. Tôi có tham khảo ở Việt Nam thì mọi người đều đồng thuận và phấn khởi với phương án này.”

Những lời có cánh vừa ghi – tiếc thay – không được “mọi người đều đồng thuận và phấn khởi” gì cho lắm, nếu chưa muốn nói là ngược lại:

  • Phạm Minh Vũ: “Đại hội đảng cộng sản ngoài phục vụ cho mục đích cai trị của đảng, cuộc hội tụ của những cá nhân tham quyền cố vị, bất chấp mọi thứ để đạt được mục đích bằng mọi giá, thì chẳng có mục đích nào khác. Những lời lẽ có cánh như vì dân, cho dân đều là dối trá.”
  • Võ Thị Hảo : “Tôi tin rằng việc sửa giới hạn nhiệm kỳ và tuổi tác trong điều lệ Đảng là để dọn đường cho những ông Vua Đỏ của Việt Nam, nắm mọi quyền lực trong tay.”
  •  Jackhammer : “Xem bài trả lời BBC Việt ngữ của ông Vũ Minh Khương …, tôi cứ ngỡ bài của ông Võ Văn Thưởng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương của Đảng trả lời. Tất cả là một màu hồng rực rỡ!”
  • Dũng Lê Minh: “Tôi cũng đã đọc bài này trên BBC. Nói chung nền tảng tư tưởng không khác gì đồng chí Quang ‘lùn’ nhưng vì có bằng cấp lại ở cơ quan nghiên cứu của Singapore nên được BBC phỏng vấn. Trả lời trôi chảy, giọng văn ‘thánh thót’ hơn nhưng ý tưởng mang tính ‘đột phá’ có lẽ còn kém xa đồng chí Quang ‘lùn’.”
  • Nguyễn Đình Cống: “Đó chẳng qua là ngụy biện của những kẻ nịnh hót, của những bồi bút, của những người quen quỳ gối, khom lưng, cúi đầu.”

Khi chê bai hay chỉ trích Vũ Minh Khương không tiếc lời, có lẽ, không mấy ai nhớ đến tình cảnh của một vị trí thức khoa bảng khác – TS Phạm Chí Dũng.  Nhân vật này đã bỏ đảng từ lâu, hiện đang bị giam cầm bởi một bản án vô cùng khắc nghiệt chỉ vì tính tiết tháo và lòng chính trực.

Cái giá để làm một người tốt ở Việt Nam, xem chừng, hơi mắc. Do đó, khi một cá nhân quyết định lựa chọn một vị thế rẻ rúng và khiêm tốn (“quỳ gối, khom lưng, cúi đầu”) nhưng “vừa với khả năng của mình” thì chả phải là điều hoàn toàn đáng trách.

Thời gian và tuổi đời vẫn thường được ví như cái gạt tàn thuốc lá, càng đầy nó càng bẩn. Tuổi đảng lại còn bẩn hơn nhiều nên TS Vũ Minh Khương gắng gượng “tốt” được mãi đến hôm nay (tưởng) cũng đã là kỳ tích của một đảng viên cộng sản VN!

Tưởng Năng Tiến
1/2021

Một số nữ tù chính trị Việt Nam bị đày đọa hà khắc

Một số nữ tù chính trị Việt Nam bị đày đọa hà khắc

Giang Nguyễn
2021-03-19 

Bà Vũ Thị Dung và Nguyễn Thị Ngọc Sương tại Tòa án Nhân dân cấp cao thành phố Hồ Chí Minh hôm 23/9/2019.

Courtesy of FB Manh Dang

02:48/06:23

Chị Đoàn Thị Hồng, thành viên của nhóm Hiến Pháp, mãn án tù ngày 9 tháng 3 lên tiếng báo động về trình trạng sức khỏe của Tù nhân lương tâm  Nguyễn Thị Ngọc Sương.

Theo lời kể của chị Đoàn thị Hồng thì TNLT Nguyễn Thị Ngọc Sương đang thụ án tại trại giam An Phước lâu nay không được điều trị đúng mức dù bệnh nặng.

Chị thuật lại với Đài Á Châu Tự Do:

“Chị Nguyễn Thị Ngọc Sương ở chung đội với em. Hiện tại chị Sương bệnh rất là nặng, da chị rất bị vàng và mặt và chân chị bị sưng, lúc thì dẹp lúc thì sưng. Chị bệnh một năm mấy nay rồi chỉ cho chị đi khám một lần. Lúc em gần về thì em có nói với cán bộ đề xuất cho chị đi khám bệnh viện lớn, ở thành phố, thì cán bộ nói là thứ nhất, do dịch nên không đi được và thứ hai là do gần Tết nên cán bộ rất bận không đi được.” 

Tù nhân lương tâm Nguyễn Thị Ngọc Sương, 53 tuổi, bị giam từ tháng 10 năm 2018. Một năm sau, bà bị tuyên án 5 năm tù về cáo buộc “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước”.

Chị Hồng cho biết thêm:

“Ăn Tết xong thì có lẽ cán bộ biết em gần về đời rồi, cán bộ sợ em nói thông tin này ra. Ngày 9 tháng 3 em về thì mùng 8 tháng 3 họ bốc chị Sương đi khám bệnh ở tỉnh Bình Phước. Nhưng khám về rồi thì không nói chị có bệnh gì mà cứ cho uống thuốc ở bên trạm y tế. Không phải là thuốc đặc trị mà thuốc gì đó. Và hiện tại da của chị rất là vàng và hai con mắt của chị bị sưng, chân cũng sưng. Hai môi của chị bị sưng, tiếng nói không có rõ ràng nữa và cái cổ của chị bị mọc bướu”.

Chị cho biết, bà Sương vốn đã bị bệnh gan và thận.

“Nói chung là chị Sương bệnh rất nặng, mà mình nói ra thì sợ bị cho là trù ẻo người ta. Em nghĩ là chị Sương không biết có về nổi hay không.”

Tù Nhân Lương Tâm Đoàn Thị Hồng cùng con gái.Courtesy: Đoàn Thị Khánh

Cùng thời gian với chị Đoàn thị Hồng và bà Nguyễn Thị Ngọc Sương có khoảng một chục nữ tù chính trị bị giam ở trại An Phước, Bình Dương. Đội này được gọi là “đội an ninh quốc gia”.

“Rất là nhiều, có chị Dung nè, chị Dung nhỏ, chị Dung lớn, chị Vang cùng phòng ngủ với em. Khoảng 10 người”… 

Những người này trước đây lao động trong trại giam, nhưng cô Hồng kể lại từ sau Tết, đội bị xuất ra ngoài hội trường lao động ngoài nắng chang chang, mùi hôi, làm việc cực nhọc khiến bà Sương ăn cơm không nổi.

Tuy có gia đình đi thăm thường xuyên nhưng các nữ TNLT cảm thấy họ không được thế giới bên ngoài quan tâm. Chị Hồng kế:

“Trước khi em về mấy chị có nhắn nhủ với em là tâm tư nguyện vọng của mấy chị là muốn nhân quyền và Đại sứ quán vô thăm, quan tâm đến mấy chị. Bởi vì hiện tại, gia đình không để cho mấy chị cô đơn, nhưng mấy chị nghĩ là bên nhân quyền với Đại Sứ quán không quan tâm đến mấy chị. Nói chung mấy chị tủi thân. Mấy chị cũng muốn có một sự quan tâm bên nhân quyền để hỏi thăm mấy chị. ”.

Theo lời kể của những tù nhân sau khi được ra khỏi nơi giam giữ, tình trạng trong lao tù Việt Nam, nhất là đối với các tù chính trị đặc biệt khắt khe. Họ phải chịu từ tra tấn, hăm dọa đến biện pháp trừng phạt như không cho gặp luật sư, gia đình hoặc không cho phép tù nhân được khám bệnh.

Bà Grace Bùi, thành viên vận động của tổ chức The 88 Project, cho biết người cai tù dùng các chiến thuật đó để buộc tù nhân làm theo ý của mình, khiến có nhiều người đã không được điều trị bệnh và “được thả” chỉ để sau đó chết vì bệnh hoạn.

Theo hồ sơ của The 88 Project, ở Việt Nam hiện có 249 người hoạt động nhân quyền đang bị đe dọa bởi chính quyền, trong đó có 83 người thuộc phái nữ. Trong số đó, sau khi chị Đoàn Thị Hồng được thả thì hiện còn 27 nữ TNLT đang bị giam.

Bà Grace nói những phụ nữ đứng lên phải đối mặt với những thách thức riêng của phái nữ:

“Khi những người phụ nữ bị bắt như vậy thì dĩ nhiên những người cai tù hay những người làm việc trong tù sẽ rất coi thường họ. Dĩ nhiên khi một phụ nữ bị bắt như vậy thì họ có những cái sự khó khăn, như mỗi tháng khi họ bị period (kinh nguyệt) thì rất là khó khăn đòi hỏi những tấm băng vệ sinh. Thay quần áo thì bị người ta nhìn, rồi phải xa con cái thì cái sự đấu tranh của người phụ nữ ở bên Việt Nam rất là khó khăn”. 

Bà Nguyễn Thị Ngọc Sương được biết cũng có con nhỏ còn đi tuổi học. Chị Đoàn Thị Hồng là một người mẹ đơn thân, khi bị bắt, con gái dưới 3 tuổi trong một năm không được thăm mẹ.

Nhân ngày Phụ nữ Quốc tế, The 88 Project đã dành tháng 3 để lên tiếng cho các nữ TNTL, như nhà báo Phạm Đoan Trang, hai dân oan Cấn Thị Thêu, Nguyễn Thị Tâm và Facebooker Huỳnh Thị Tố Nga.

Hình minh hoạ. Bà Cấn Thị Thêu trước phiên toà xét xử ở Hà Nội hôm 30/11/2016. AFP

Bà Grace cũng cho biết, có những TNLT được nhắc đến nhiều như Phạm Đoan Trang, Cấn thị Thêu. Có những người khác thì ít ai biết đến nhưng không phải vì các tổ chức nhân quyền quên họ.

“Những người như là Huỳnh Thị Tố Nga hay là Sương mà gia đình của họ không ký giấy để chấp thuận cho Liên Hiệp Quốc thì không có ai được làm việc hết. Nhưng mà những tổ chức (nhân quyền) vẫn nêu tên những người này ra (khi đi vận động)”.

Nhiều gia đình TNLT còn phải phấn đấu với nỗi sợ hãi không biết sự lên tiếng bênh vực cho người thân của mình có bị chính quyền lợi dụng quấy rối hay ngược đãi thêm với tù nhân.

Đài Á Châu Tự Do đã tìm cách liên lạc với gia đình bà Nguyễn Thị Ngọc Sương nhưng chưa được hồi âm.