Hơn 60% người già ở Việt Nam không có lương hưu và trợ cấp xã hội

Hơn 60% người già ở Việt Nam không có lương hưu và trợ cấp xã hội

Apr 15, 2021 

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Trong số 13.4 triệu người già thì có khoảng 64.4% không có lương hưu và trợ cấp, phải sống dựa vào người thân hoặc tiếp tục tìm cách mưu sinh khi tuổi đã cao, mang trong mình nhiều bệnh tật.

Báo VNExpress cho hay sáng 15 Tháng Tư, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội phối hợp với Trường Đại Học Justus Liebig Giessen (Đức) công bố phúc trình quốc gia “Việt Nam-một xã hội đang già hóa.”

Rất nhiều người già làm nghề nhặt rác trên phố Hà Nội để mưu sinh. (Hình: Ngọc Thành/VNExpress)

Theo Phó Giáo Sư Nguyễn Tuấn Anh, phó Khoa Xã Hội Học, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội, vấn đề đáng lo ngại nhất với tình trạng già hóa dân số ở Việt Nam là hiện phần lớn người cao tuổi vẫn đang phải làm việc để tự tạo thu nhập.

“Gần 46% người từ 60 đến 64 tuổi; gần 30% người từ 70 đến 79 tuổi và 10% người hơn 80 tuổi vẫn phải lao động để kiếm sống,” ông Tuấn Anh cho biết.

Nếu dựa trên “chuẩn nghèo quốc gia” thu nhập dưới 1 triệu đồng ($43) mỗi người/tháng ở nông thôn và dưới 1.3 triệu đồng ($56) ở thành thị, thì hiện Việt Nam có 16% người trên 60 tuổi thuộc diện nghèo.

Năm 2019, trong số 13.4 triệu người cao tuổi thì chỉ có 23.5% được hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng từ nguồn ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội. Trong khi đó, 64.4% người cao tuổi không có lương hưu và trợ cấp.

“Nghĩa là những người này phải sống dựa vào con cháu, gia đình, họ hàng hoặc phải tiếp tục đi làm để mưu sinh,” ông Tuấn Anh phân tích.

Kể với báo Lao Động, bà Trần Thị Biền (64 tuổi, ở xã Vũ Vinh, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình) cho biết bà về hưu trước năm 1993, trước đây bà nghe theo lời kêu gọi đi xây dựng kinh tế mới, bà rời quê hương, lên Tuyên Quang làm tại một công ty lâm nghiệp thuộc nhà nước. Công việc của bà rất vất vả, phải trực tiếp khai thác nứa, gỗ ở rừng.

Làm việc được 16 năm, do sức khỏe suy giảm không thể tiếp tục nên đến năm 1991, bà Biền phải về hưu trước tuổi. Trải qua nhiều lần tăng lương, hiện nay mức lương hưu của bà chỉ là 2.2 triệu đồng ($95)/tháng, khiến bà không đủ trang trải cho cuộc sống của một người già mang nhiều bệnh tật.

“Tôi thấy mức lương hưu của mình là thấp, không đủ để trang trải cho bản thân khi về già. Mỗi khi ốm đau phải vào viện là các con phải phụ giúp. Tôi khá lo lắng khi không có khoản tiền phòng thân, nhất là khi sức khỏe của mình ngày càng suy giảm. Như nhiều người khác cùng cảnh, tôi muốn mức lương hưu của mình cao hơn để bảo đảm cuộc sống khi về già,” bà Biền nói.

Bà Biền chỉ là một trong số rất nhiều người già về hưu trước năm 1993 có mức lương hưu thấp. Theo thống kê của Bộ Lao Động  Thương Binh và Xã Hội, số người hưởng lương hưu trước 1993 hiện nay ở Việt Nam là hơn 592,000 người.

Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Quang Minh, trưởng bộ môn Nghiên Cứu Phát Triển Quốc Tế, đề cập đến tình trạng Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng, nhưng bắt đầu “già hóa dân số” từ năm 2019 với 10.4 triệu người hơn 65 tuổi, chiếm 7.7% dân số. Trong khi đó, các nước trên thế giới thường có tốc độ “già hóa dân số” chậm hơn, như Thụy Điển 85 năm, Úc 73 năm, Ba Lan 74 năm, Trung Quốc 27 năm…

“Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng thời kỳ dân số vàng chưa qua, dân số già đã ập tới, là quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Khoảng thời gian để tăng tỷ trọng người già từ 7% lên 14%, dự báo chỉ trong hai thập kỷ (2015-2035). Đáng lo là khác với nhiều nước, Việt Nam ‘già hóa dân số’ trước khi giàu. Đây là thách thức rất lớn,” ông Minh nhận xét.

Nhiều người về hưu có mức lương rất thấp đang phải sống rất khó khăn, chật vật khi tuổi đã cao. (Hình: T.Đ/Lao Động)

Thách thức khác với các nhà làm chính sách ở Việt Nam là nhiều người già đang mắc các bệnh không lây nhiễm như tiểu đường, cao huyết áp… Vì vậy, phúc trình khuyến nghị Việt Nam “cần xây dựng các chính sách để thích ứng với thời kỳ dân số già,” qua đó giúp người già có thể tự lo được cuộc sống.

Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Đức Vinh, viện trưởng Viện Xã Hội Học, nêu dự báo giai đoạn đến năm 2035, cứ hai người trong độ tuổi lao động ở Việt Nam sẽ phải “gánh” không quá một người ngoài tuổi lao động. Nhưng sau năm 2035, cứ bốn người trong độ tuổi lao động phải “gánh” đến ba người.

Trong 10 năm qua, dân số Việt Nam tăng 11 triệu người, đồng thời số người già tăng gần bốn triệu. Đây là mức tăng dân số già rất cao so với các nước trong khu vực.

Việt Nam hiện có 11.4 triệu người hơn 60 tuổi, chiếm gần 12% dân số. Chỉ số già hóa tăng từ 36% năm 2009, lên gần 49% năm 2019. Từ năm 2026, tỷ trọng người trên 65 tuổi sẽ chiếm hơn 10% và Việt Nam “chấm dứt cơ cấu dân số vàng tồn tại từ năm 2007, bước vào thời kỳ dân số già.” (Tr.N) 

Lê Chí Thành, 38 tuổi, cựu đại úy công an vừa nộp hồ sơ ứng cử đại biểu QH bị bắt với cáo buộc “chống người thi hành công vụ.

 

*** Lê Chí Thành, 38 tuổi, cựu đại úy công an vừa nộp hồ sơ ứng cử đại biểu QH bị bắt với cáo buộc “chống người thi hành công vụ.” ***

– Càng ngày càng có nhiều thanh niên trẻ , thậm chí là những cựu đảng viên, nhìn thấy sự thối nát của nhà nước cầm quyền, thức tỉnh, bắt đầu chống lại chế độ CS , họ không phải là người của VNCH củ, họ là con cháu của HCM.

Được biết Ông Lê Chí Thành, 38 tuổi, cựu đại úy công an từng nhiều lần lên tiếng trên Facebook về tệ tham nhũng trong ngành công an .

Truyền thông Việt Nam loan tin ông Lê Chí Thành bị bắt sau khi cảnh sát giao thông phát hiện lái xe “không có giấy đăng ký hợp lệ” trên xa lộ Hà Nội, ở quận Thủ Đức. Báo Công an Thành phố cho biết ông Thành “có hành vi cản trở lực lượng chức năng làm nhiệm vụ” khi xe của ông bị cẩu đi.

Nhiều người trên mạng xã hội bày tỏ thắc mắc tại sao nhà của ông Thành ở quận 12 bị an ninh khám xét sau vụ “vi phạm giao thông” ở Thủ Đức.

Nhà hoạt động Bùi Tuấn Lâm hôm 14/4 viết trên Facebook: “Hôm nay, cựu đại uý Lê Chí Thành bị bắt vì tội chống người thi hành công vụ, nhưng đó chỉ là cái cớ họ chụp mũ cho anh. Thật sự anh bị bắt vì là cái gai trong mắt ngành công an lâu nay, do tố cáo giám thị trại giam và những tiêu cực trong ngành công an.”

“Bản thân tôi nghĩ một người như anh ấy trước sau gì cũng sẽ bị bắt vì những việc làm, lời nói, và hành động của anh rất thiết thực và đụng chạm đến lợi ích của ngành công an.

“Cái nguy hiểm luôn chực chờ anh ấy, nhiều khả năng là người ta tìm cách này hay cách khác để bắt anh ấy thôi.”

Luật sư Lê Quốc Quân ở Hà Nội viết trên Facebook: “Chiều nay 14/4, cựu đại uý Lê Chí Thành, người đã rất nổi tiếng về việc chống tham nhũng trong ngành công an và là người đã “đốt quân phục, bằng cấp”, đã bị công an Tp. Thủ Đức bắt về hành vi “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015.”

“Theo như những video tôi thường được xem của anh Thành quay gần đây thì anh chỉ thực thi quyền “giám sát” theo luật định đối với các CSGT. Thế nhưng ai cũng biết rằng, việc giám sát đó chắc chắn ảnh hưởng đến “bánh mì” của các “đồng chí,”” Luật sư Lê Quốc Quân nhận định.

Trong một livestream hôm 9/3, ông Lê Chí Thành nói rằng ông vừa đến Sở Nội vụ Thành Hồ nộp hồ sơ “ứng cử đại biểu QH” khóa XV.

Trong một livestream khác hôm 13/4 với nhan đề “Lê Chí Thành bị đuổi khỏi thành phố”, ông cho biết công an đã nhiều lần sách nhiễu và kiểm tra hành chính đối với ông.

Báo Công an Thành phố cho biết ông Lê Chí Thành thường xuyên livestream trên mạng xã hội, “có nhiều nội dung xuyên tạc, bôi nhọ, cản trở lực lượng chức năng thực thi công vụ.”

TL – VOA.

Sài Gòn : FB “Duy Quách” bị tuyên 4 năm tù và 6 tháng tù giam.

Hoa Lys  is with Võ HongLy

15.04.2021

Sài Gòn : FB “Duy Quách” bị tuyên 4 năm tù và 6 tháng tù giam.

Sáng nay, 15/04/2021, TAND quận Tân Phú đã tuyên xử anh Quách Duy, sinh năm 1982, ngụ tài Sài Gòn, 4 năm 6 tháng tù về cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.”

Theo cáo trạng của nhà cầm quyền CSVN, anh Quách Duy đã đăng tải những bài viết xác định chính kiến của mình trên trang FB cá nhân và được cho là xúc phạm đến ông Trần Đại Quang, ông Nguyễn Tấn Dũng…

Nguồn : https://m.plo.vn/…/bi-cao-quach-duy-bi-phat-4-nam-6…

Tôi đi tìm một cuốn sách để giúp mình nuôi hy vọng

Tôi đi tìm một cuốn sách để giúp mình nuôi hy vọng

Tương lai lúc nào cũng tối. Thay đổi không phải là đi đến tiệm tạp hóa rồi quay về nhà.

 13/04/2021

By  NGUYÊN SA

Ảnh minh họa: Fanatic Studio/ Getty Studio.

  Nếu bạn là người quan tâm đến chuyện tạo ra thay đổi ở Việt Nam, thời gian vừa rồi hẳn là tăm tối.

Ở Ba Đình, Quốc hội khóa cũ họp để hoàn tất một mục tiêu gọi là kiện toàn bộ máy. Sau tấm màn che, quyền lực thay đổi, một nội các mới hình thành. Chẳng người dân nào biết đấy là đâu. Trong khi đó, người dân được kêu gọi thực hành quyền và nghĩa vụ của mình sau hơn một tháng nữa, để chọn ra những người đại diện cho họ. Những đại diện đó sau khi được bầu ra làm nốt vai trò lịch sử: tán thành phương án kiện toàn của những người tiền nhiệm. Mọi người ai ngồi yên chỗ nấy, chuyện đâu vào đấy.

Trên khắp đất nước, có những người quyết định thực hành quyền chính trị của mình bằng cách tự ứng cử đại biểu Quốc hội. Có người vừa nộp hồ sơ xong thì an ninh đã tìm đến tận nhà. Có những người tự ứng cử khác bị bắt. Phần lớn thì như dự đoán, bị loại ra một cách rất đúng quy trình, thông qua những vòng hiệp thương.

Vài ngày trước, Nguyễn Thúy Hạnh bị bắt. Ba người phụ nữ được cho là can đảm nhất trong phong trào phản kháng tại Việt Nam đều đã phải vào tù. Đáng buồn hơn là, những tiếng phản đối cũng nhỏ dần đi rồi tắt hẳn. Chẳng ai muốn nói gì nữa. Một lời than vãn bây giờ cũng được định giá rõ: 7,5 triệu đồng.

Phạm Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Thúy Hạnh. Ảnh: Luật Khoa/ PhotoMania.

Chính quyền có vẻ là đang thắng trên mọi mặt trận. Vừa làm được việc họ muốn, vừa giữ được tính chính danh.

Tôi phải đi tìm một cuốn sách để giúp mình nuôi hy vọng.

***

“Đối thủ của bạn muốn bạn tin rằng mọi thứ là vô vọng, rằng bạn chẳng có quyền lực gì, rằng chẳng có lý do gì để hành động cả, rằng bạn không thể thắng. Hy vọng là một món quà mà bạn không cần phải từ bỏ, một quyền năng bạn không buộc phải ném đi.”

Rebecca Solnit mở đầu cuốn sách của mình như vậy. “Hope in the Dark“, ra đời năm 2003, được ví như một chiếc đèn pin để các nhà hoạt động (activists) soi vào tương lai tăm tối. Cuốn sách được viết khi bản thân tác giả, một nhà hoạt động, đối diện với nỗi thất vọng vì nước Mỹ quyết định bắt đầu cuộc chiến tại Iraq. Nó mời gọi người đọc thay đổi cách nghĩ về chính sự thay đổi, nhắc lại những thành tựu trong lịch sử mà người ta thường bỏ quên trong sự hỗn loạn của đời sống thường ngày, và bồi đắp thêm nền tảng cho hy vọng đứng vững.

Thú thực là những câu chuyện về thay đổi trong lịch sử không làm tôi ấn tượng. Bức tường Berlin, Cách mạng Hoa Nhài ở Tunisia, Mùa xuân Ả Rập v.v…, những sự kiện ấy tôi đều đã được nghe cả, và chúng diễn ra ở những bối cảnh xa xôi chẳng liên quan đến tôi. Sự tối tăm ở Việt Nam là một kiểu khác, sự thờ ơ với chính trị và sự thoải mái với việc bị cai trị ngấm sâu vào đời sống ở Việt Nam là một mức độ trầm trọng khác – tôi nghĩ vậy.

Chiếc đèn pin của Rebecca Solnit chỉ bắt đầu rọi đến tôi ở chương sách thứ 10, khi bà nói về vấn đề trong sự sốt ruột của những nhà hoạt động. “Changing the Imagination of Change” (Thay đổi những hình dung về sự thay đổi) là tiểu luận khởi đầu của cuốn sách “Hope in the Dark”. Nó nhìn vào nội hàm của sự tham gia chính trị, chạm vào những tình cảm, những mong muốn vừa riêng tư lại vừa phổ quát của những người đòi hỏi thay đổi, và lý do khiến cho họ dễ thất vọng.

Một cuộc biểu tình đòi quyền lợi cho người da màu tại Washington D.C., Mỹ vào năm 1963. Ảnh: Steve Schapiro/ Corbis/ Getty Images.

“Nhiều nhà hoạt động có một cái nhìn máy móc về thay đổi, hoặc có lẽ họ mong chờ điều mà những viên thuốc giảm cân giả quảng cáo, “bảo đảm hiệu quả nhanh và dễ dàng”. Họ mong chờ kết quả sau cùng, sự xác quyết, những mối quan hệ nguyên nhân – kết quả dễ thấy, những lợi ích ngay lập tức. Để rồi kết quả là họ chỉ thấy sự thất vọng, về sau trở thành những nỗi cay đắng, sự nghi ngờ, thái độ biết-thừa-là-thể-nào-cũng-sẽ-thua. Họ làm mọi thứ trên một giả thuyết rằng với mỗi hành động, đều phải có một hành động đáp trả tương ứng và kịp thời, nếu không thì là thất bại.”

(Sao người ta bị bắt liên tục thế mà chẳng ai nói gì nhỉ, thật là tệ! Tôi bắt đầu thấy nhột khi sự sốt ruột của mình bị nhìn thấu.)

Lịch sử nhắc chúng ta rằng những sự thay đổi không diễn ra giống như một ván cờ có hồi kết. Nó giống như thời tiết, bao gồm nhiều hiện tượng phức tạp với những hiệu ứng trộn lẫn vào nhau, và nó cứ như thế mãi. Một cú đập cánh của một con bướm ở châu lục này có thể tạo ra một cơn bão ở châu lục khác, nhưng quá trình ấy có thể kéo rất dài.

Cần một thế kỷ để chấm dứt chủ nghĩa nô lệ ở Mỹ, nhưng những hậu quả của nó đến giờ vẫn tồn tại. Cần một thế kỷ để phụ nữ được quyền đi bầu, nhưng cuộc chiến với các định kiến giới thì chưa từng kết thúc. Hành trình tạo ra thay đổi không giống như đi bộ đến cửa hàng tạp hóa ở góc phố để mua một món hàng rồi quay về nhà. Trái lại, nó là sự dấn thân vào vùng bất định.

Những người phụ nữ biểu tình tại Washington D.C., Mỹ vào năm 1915, đòi quyền được bỏ phiếu như nam giới. Ảnh: Harris & Ewing/ Buyenlarge/ Getty Images.

“Tương lai lúc nào cũng tối”, Solnit biện luận, nhưng sự tối tăm đó không nhất thiết là tồi tệ, nó chỉ có nghĩa là bí ẩn. Nếu chúng ta tiếp tục lần mò trong bóng tối đó và tìm cách đi tới, nhiều khả năng khác sẽ có cơ hội xảy ra.

Cơ sở mạnh mẽ nhất của hy vọng là sự bất định. Chỉ có một điều chắc chắn thôi, là mọi thứ sẽ thay đổi. Sự bi quan rằng mọi thứ rồi sẽ như cũ về căn bản là không đúng. Sự lạc quan rằng mọi thứ rồi sẽ tốt lên cũng không hề có cơ sở. Và cả hai lời khẳng định chắc nịch này đều là lý do để từ chối hành động. Hy vọng thì khác. Cơ sở của hy vọng là niềm tin rằng những hành động của chúng ta có hiệu ứng. Nhưng hiệu ứng vào lúc nào, tác động đến ai, như thế nào thì ta không biết trước. Quan trọng là ta bắt tay vào làm.

Hy vọng không có nghĩa là ngồi yên trên ghế sofa của mình đeo cặp kính hồng và tin mọi thứ sẽ ổn. Hy vọng kéo chúng ta đứng lên, xô chúng ta ra khỏi cửa, mời gọi chúng ta bắt tay vào hành động. Sai hay đúng, thành hay không thành, là chuyện quá sớm để phán xét. Tuyệt vọng khi chưa làm hết những thứ có thể làm chẳng qua là một lựa chọn dễ dãi hơn.

***

Ở Việt Nam bây giờ cũng tối. Trong mắt tôi, những động lực thay đổi chưa từng yếu như lúc này. Nhưng cuốn sách của Rebecca Solnit gợi ý rằng đó có thể là do tôi lười tìm kiếm thôi. Chuyện có thêm ai đó bị bắt không nên khiến tôi tuyệt vọng, thay vào đó, tôi nên bắt đầu tìm hiểu về những việc họ làm trước khi bị bắt, và kể lại những thay đổi nhỏ mà họ đã góp phần tạo ra. Những ký ức đó sẽ giúp chúng ta không bị hiện tại tối tăm đánh lừa rằng mọi thứ lâu nay vẫn thế.

Nguyễn Thúy Hạnh trong một lần biểu tình vào năm 2016 tại Hà Nội, với biểu ngữ đòi trả tự do cho hai tù nhân lương tâm. Ảnh: Facebook Nguyễn Thúy Hạnh/ RFA.

Đó là một bài tập thể dục tinh thần có thể cần thiết cho cả bạn, nếu bạn cũng đang tìm một lý do để giữ một ngọn lửa nhỏ trong mình. Nếu lửa tắt, hãy nghĩ về những người đang ở trong tù. Tối tăm mà chúng ta nhìn thấy ở đây đâu là gì so với họ.

Nếu tất cả những gì chính quyền muốn là chúng ta bỏ cuộc, buông xuôi, thì hy vọng bản thân nó đã là một hành động phản kháng.

Nghĩ về nỗi sợ hãi và hòa giải dân tộc

Nghĩ về nỗi sợ hãi và hòa giải dân tộc

Bởi  AdminTD

Thái Hạo

14-4-2021

Vài ngày trước, một người bạn vong niên của tôi, người từng tham gia trong cuộc “20 năm nội chiến từng ngày” với tư cách một người lính của Miền Nam VN, kể rằng khi phóng viên hỏi ông: “Làm thế nào để hòa giải dân tộc?”, ông trả lời “Chỉ có thể hàn gắn khi cả hai bên đều hiểu rõ tính chất của cuộc chiến tranh này, một cuộc chiến tranh mà bên nào cũng là nạn nhân của trò chơi chính trị trong tay các siêu cường”.

Cả câu hỏi và câu trả lời đều làm tôi suy nghĩ, nó vừa khơi lên nỗi chua chát cùng tận vừa bất mãn mơ hồ. Và tôi muốn thử tìm một lý giải cho mình bên ngoài câu chuyện chính trị.

Người Việt phải chăng đã bất hòa với nhau từ lâu xa trong quá khứ chứ không phải từ 1954 hay 1975? Chúng ta bất hòa từ trong gia đình đến họ tộc, làng xóm; Bất hòa từ trong nhà ra đồng lúa, từ tông tộc đến xã hội. Con cái và cha mẹ không phải là “gia hòa vạn sự hưng” mà là áp đặt và nghe lời; Vợ chồng không phải “tương kính như tân” mà là trên dưới một chiều, anh em không phải “như thể chân tay” mà là “quyền huynh thế phụ”…

Người trong nhà rất ít nói chuyện với nhau. Khi nhỏ thì thường là cha nói con nghe, khi lớn lên thì im lặng xâm chiếm, mà hễ mỗi khi có chuyện cần bàn thì ngồi lại là liền xung đột. Vợ chồng mới cưới thì ríu rít được vài hôm, ngày qua tháng lại chưa lâu thì “mở miệng là cãi nhau”. “Đi họ bênh anh em nhà, đi chợ bênh anh em họ”.

Hãy nhìn nông thôn Bắc và Trung bộ, khó tìm thấy một đám hiếu hỉ ma chay nào mà không lời qua tiếng lại, anh em cự cãi, chửi bới, từ mặt. Nhà càng đông người, nguy cơ “mất đoàn kết” càng lớn. Hễ chung bờ rào là chửi chó mắng gà, rào đường cách lối, nói xấu sau lưng. Hễ chung bờ ruộng là mắng cỏ bới lúa, là xách đòn gánh rượt nhau. Cái cách nói “dân Thanh Hóa, dân Nghệ An, dân xyz” thường mang hàm nghĩa phân biệt vùng miền với ý kỳ thị hoặc tự tôn…

Tại sao thế? Những tín điều như “tình làng nghĩa xóm”, như “tối lửa tắt đèn”, như bầu bí nhiễu điều… phần nhiều là để an ủi và phỉnh phờ hơn là một thực tế. Sự ganh ghét đố kỵ, thói ngồi lê đôi mách và nạn “tin giả” (fake news) đã có từ nhiều trăm năm trước.

Có một cái gì rất dễ đổ vỡ trong các mối quan hệ Việt. Người ta hoặc gắng gượng, hoặc màu mè, hoặc chịu đựng, hoặc miễn cưỡng… để “che mắt thiên hạ”. Người Việt rất sợ bị “cười” nên họ sẵn sàng “đóng cử bảo nhau”, “tốt đẹp khoe ra xấu xa đậy lại”. Cả khen và chê đều không mấy khi thật lòng mà thường cốt để làm đẹp lòng nhau. Khen thì khen hết lời, lúc chê thì thành mạt sát hủy nhục. Những sự nối kết giữa người với người rất mong manh, nhưng kỳ lạ thay dù “cơm không lành, canh chẳng ngọt” nhưng người ta lại có thể sống suốt đời cùng nhau; chê nhưng không bỏ, khinh nhưng không từ, oán mà không than. Đó là một trạng thái quái gở của quan hệ người – người trong cộng đồng Việt.

Ngay cả những người được cho/tự nhận là “đấu tranh dân chủ” ngày nay cũng khó mà ngồi lại cùng nhau. Cùng với việc chửi chính quyền là chửi nhau. Cái “cộng đồng” ấy chia rẽ một cách đáng kinh ngạc. Chính quyền, dân và “giới bất đồng” dường như chẳng bao giờ gặp nhau. Cứ mỗi người một ốc đảo mà hễ lại gần là nghi ngờ, là bất hòa, là tranh cãi.

Nói rất nhiều mà dường như chẳng có người nghe. Cãi rất to mà chỉ như tiếng ồn. Giữa người với người dường chỉ có những âm thanh hỗn tạp. Không ai thấy cần thiết phải nghe ai. Tất cả những cái tôi đều to đùng. Một điều tệ hại mà chúng ta ít thấy trong lịch sử: Người trí thức ngày càng trở nên vô hình trong mắt dân cày. Người ta không còn trọng tri thức và trí thức nữa. Đây là tiếng chuông báo điểm sự suy tàn tột độ của một xã hội.

Phải chăng, chúng ta là một dân tộc “dũng cảm” như lời tụng ca? Điều ấy đáng ngờ. Hình như NỖI SỢ HÃI mới chính là “bản sắc” của nòi giống? Mặc cảm nghèo hèn, mặc cảm nhược tiểu, mặc cảm dốt nát… đè nặng lên dân tộc suốt trường kỳ lịch sử. Càng mặc cảm thì biểu hiện ra càng trái ngược. Kẻ yếu nhược thường hung hăng, người nghèo hèn thường khoe mẽ, dốt thì hay nói chữ… Cái cơ chế phòng vệ này là một sự tinh quái của bản ngã; sự tinh quái đánh lừa chủ nhân của nó có thể suốt cuộc đời; và như thế là suốt chiều dài lịch sử của một cộng đồng.

Chúng ta đã bị kẻ láng giềng to con và thâm hiểm bắt nạt suốt cả ngàn năm. Rồi chính chúng ta cũng đã du nhập một chế độ đẳng cấp bất công vào mỗi ngôi nhà, mỗi xóm làng; chúng ta cai trị kẻ khác bằng con đường của chuyên chế. Chồng độc đoán với vợ, cha độc đoán với con, anh độc đoán với em, quan độc đoán với dân, giàu độc đoán với nghèo, lớn độc đoán với nhỏ. Đó là một loại khế ước của “mạnh vì gạo, bạo vì tiền”. Nó thâm nhiễm vào tất cả mọi cá thể, và từ nạn nhân của sự cai trị độc đoán, người ta sẽ trở thành những bàn tay độc đoán ngay khi có cơ hội. Đáng sợ hơn, ngày nay cái thiết chế ấy còn phủ trùm trên thân thể xã hội bằng cách nhân danh những thứ thật mỹ miều.

Sự coi thường, khinh bỉ hay nỗi sợ hãi và tính hèn hạ được sinh ra từ cái thiết chế “gạo tiền” này. Chúng ta giàu tự ái hơn là lòng tự trọng; chúng ta tự cao hơn là tự tôn; tự phụ hơn tự chủ, tự huyễn hơn tự học… Chúng ta theo đuổi mảnh bằng hơn là truy tầm chân lý; chúng ta theo đuổi tiền bạc mà bỏ quên mục đích của đời sống; theo đuổi địa vị mà quên đi trách nhiệm. Chúng ta nổi nóng với vợ con nhưng dạ vâng trước cường quyền; chúng ta làm từ thiện khắp nơi nhưng bỏ bê họ hàng; chúng ta ngọt ngào với thiên hạ nhưng cộc cằn với người nhà…

Một đằng là “tạo dựng hình ảnh”, đằng kia là thể hiện quyền lực. Cả hai đều là biểu hiện sự yếu nhược của một cái tôi nhiều tổn thương và đổ vỡ. Chúng ta cố chống chọi với sự khiếm khuyết của nhân cách mình bằng những lối tiêu cực nhất như thế.

Nỗi sợ hãi là căn nguyên của tất cả? Càng sợ hãi, người ta càng hung dữ, càng sợ hãi người ta càng làm màu. Người Việt sợ nhất là bị “cười”, không được để người khác cười, phải mạnh mẽ lên, phải sang trọng lên, phải giàu lên, phải đẹp lên… Phải chứng tỏ rằng “ta đây chẳng kém ai”. Cuộc đời đã bị đánh mất bằng những cách như thế. Người ta bỏ lại phía sau tất cả để trưng ra một hình ảnh “đẹp” nhất – vì cái mặc cảm ấy nên suốt đời họ phải “sống cho người khác xem”.

Người ta nhìn nhau để sống, đua nhau để làm: Xây nhà to, sắm đồ sang, mua điện thoại xịn, tậu túi xách và đồng hồ hàng hiệu… ngay cả khi không có tiền. “Giải quyết khâu oai” là mục tiêu của mỗi cuộc đời. Oai vì đồ đạc, oai vì áo quần, và đau khổ nhất là oai vì con cái. Để thỏa mãn sự đói khát truyền kiếp, người ta bấp chấp ước mơ của con cái để sẵn sàng đẩy chúng vào những cuộc chiến khốc liệt của trường chuyên lớp chọn, đẩy chúng vào những lớp học thêm bất kể ngày đêm. Họ sẵn sàng “hi sinh đời bố, củng cố đời con”, nhưng thực ra đó là hi sinh đời con cho đời bố nở mặt. Cái sự “hiếu học” của người Việt có lẽ nên nhìn từ một góc độ khác: Mặc cảm, mặc cảm của nhiều thế hệ. Người ta quên đi những chân giá trị của sự hiểu biết để tìm những chỗ dựa tiêu cực cho cái bản ngã thất bại của mình.

Chúng ta đổ vỡ từ bên trong bởi thân phận nô lệ và yếu nhược, nó làm thành một cuộc chiến tranh triền miên qua các thế hệ trong mỗi cá nhân. Từ sự bất hòa bên trong tinh thần dẫn tới những xung đột bên ngoài xã hội; từ những động loạn của thế giới vô thức biến hiện thành những cuộc chiến của những cái tôi. Ở thế kỷ 21 này, có lẽ tư duy nhị nguyên bị phát tướng nặng nề bậc nhất là trên xứ sở của chúng ta. Đẹp xấu, giàu nghèo, sang hèn, cao thấp… luôn sẵn sàng lao vào nhau để nổ tung thành các mảnh vỡ của xã hội.

Cuộc chiến tranh Nam – Bắc đã đi qua gần nửa kỷ mà mặc cảm còn đè nặng thành những lễ kỷ niệm, thành những khúc hoan ca, thành “ngày quốc hận”, thành những trận chiến bất tận trên mạng xã hội.

Mọi thứ chỉ có thể được hàn gắn khi mặc cảm được xua tan bởi sự lớn dậy của tư thế con người vượt lên trên thắng bại để sống với những giá trị tự thân mà không cần đến những thứ trang sức “anh hùng”, “thắng cuộc”, “văn minh”… Chừng nào người ta còn phải viện đến những món đồ ấy để làm sang, chừng ấy cuộc chiến còn chưa thể kết thúc. “Không ai có thể làm ta ô uế, cũng không ai có thể làm ta trong sạch”, “như người uống nước, nóng lạnh tự biết” – đó chính là sự trung thực tự thức về giá trị của bản thân. Và ở đây, liêm sỉ và sự tự tôn luôn phải song hành.

Những giá-trị-người, mà căn bản nhất và cũng sâu xa nhất là NHÂN PHẨM, phải được đánh thức và nuôi lớn. Nếu không “phổ cập” cái nền móng này trong tất cả cá nhân để mỗi người tự vượt lên trên những cơm áo gạo tiền danh vị mà sống đàng hoàng với sự tôn nghiêm thẳm sâu thì sẽ không cách gì hòa giải được.

Bài học của nội chiến Mỹ còn nguyên ở đó, khi cả 2 cùng tôn trọng nhau và tự trọng chính mình. Muốn hàn gắn dân tộc, trước hết cần tự hàn gắn những vết thương do mặc cảm gây nên. Và bên cạnh tất cả những điều ấy, có lẽ chúng ta cần một nỗi đau chung thay cho niềm tự hào? Trên tinh thần đó, sự hòa giải không phải chỉ là câu chuyện Nam – Bắc, mà căn bản hơn là câu chuyện của con người với con người, nhìn như lịch sử của cả một cộng đồng trong suốt chiều dài văn hóa của nó.

Thực hư chuyện ‘có 3 bằng đại học nhưng vẫn thất nghiệp…’

Đài Á Châu Tự Do

“Có những 3 bằng đại học nhưng vẫn thất nghiệp là một hiện thực của Việt Nam”… Đó là phát biểu của Đại biểu Quốc hội Bùi Sỹ Lợi nêu lên tại buổi tọa đàm khoa học: ‘Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045’ hôm 11/4/2021.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng, Vụ Giáo dục chuyên nghiệp cũng có mặt tại buổi Tọa đàm cho rằng, đây là nhận định không cẩn trọng. Ông Vinh còn cho rằng phát biểu như ông Lợi là làm méo mó chính sách về phát triển nhân lực chất lượng cao của quốc gia trong thập kỷ tới.

Cụ thể theo ông Vinh, người có ba bằng đại học thất nghiệp có phải số đông hay không? Hay chỉ một hai trường hợp cá biệt? Ông Vinh còn đòi ông Lợi cho biết người ấy tốt nghiệp ngành gì, trường nào, ở đâu… (!?)

Hôm 14/4, chúng tôi cũng nêu vấn đề với chuyên gia giáo dục Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, nguyên giảng viên trường đại học Liège – Bỉ, hiện sống và làm việc ở Việt Nam, và được ông nhận định:

“Tôi cũng có cảm giác không phải tin đồn đâu, trong những năm gần đây sinh viên ra trường khó kiếm chỗ làm, nhất là chỗ làm phù hợp với kết quả tốt nghiệp của mình. Cái này là sự thật nhưng không có một thống kê chính thức rõ ràng, vì nhà nước cũng không muốn công bố một cách tỏ rõ. Nhưng mà chỉ nhìn những sinh viên mà tôi quen biết ra trường thì phần lớn họ bị khó khăn. Chỉ cần đi xe ôm Grab ở Sài Gòn thì có thể bắt gặp rất đông đảo những em phải chạy Grab để kiếm sống thêm là những em vừa tốt nghiệp đại học. Họ là cử nhân nhưng không có được chỗ làm ưng ý và họ bắt buộc phải kiếm ăn bằng cách khác.”

Cũng tại buổi Tọa đàm, Đại biểu Quốc hội Bùi Sỹ Lợi cho rằng nên phân luồng giáo dục theo hướng ở giai đoạn đầu tiên là Trung học Cơ sở (cấp hai) sẽ có ít nhất 30% học sinh đi học nghề còn 70% học tiếp lên bậc Trung học Phổ thông (cấp ba). Theo ông Lợi, không thể nói trường nghề không được dạy văn hóa, như vậy là sai tinh thần của Nghị quyết Trung ương về phân luồng giáo dục. Sau khi học nghề, học sinh vừa có bằng nghề vừa có bằng văn hóa. Tại sao lại ngăn cấm?

Ông Lợi còn cho rằng, hết Trung học Phổ thông thì 70% đi học nghề và chỉ 30% đại học thôi… vì học đại học nhiều để làm gì… có những 3 bằng đại học nhưng vẫn thất nghiệp.

Tuy nhiên Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh, cho rằng nói vậy là tô hồng cho hệ thống khác và tô xám giáo dục đại học Việt Nam. (!?)

Một người đã tốt nghiệp đại học, hiện sống tại Hà Nội, không muốn nêu tên cho RFA biết do không xin được việc làm đúng ngành học, nên chỉ làm kinh doanh nhỏ:

“Tôi học để sau này xin việc mức lương cao hơn. Nhưng khi tốt nghiệp thì chạy chọt mãi không tìm được việc làm phù hợp với tấm bằng mà mình học. Nên tôi lựa chọn một nghề phổ thông khác phù hợp với khả năng.”

Khi trả lời RFA từ thành phố Hồ Chí Minh, một cựu sinh viên đã tốt nghiêp, cho biết hoàn cảnh của mình:

“Sau khi ra trường thì em cũng cố gắng tìm công việc phù hợp với mình. Nhưng vì khả năng, cũng vì số lượng, với vì nền kinh tế nên cũng chưa tìm được việc làm đúng với ngành nghề của mình.”

Trong một diễn biến liên quan, tại chương trình ‘Đưa trường học đến thí sinh năm 2021’, tổ chức ngày 11/4 tại trường Trung học Phổ thông chuyên Lương Văn Chánh, tỉnh Phú Yên… PGS.TS. Trương Nguyễn Luân Vũ – Phó trưởng Khoa Cơ khí chế tạo máy, ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM cam kết nếu sinh viên học ngành Cơ khí kỹ thuật tại trường mà không có việc sau khi tốt nghiệp, trường sẽ trả lại 100% học phí.

Tuy nhiên khi trao đổi với RFA tối 14/4 từ Sài Gòn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Dũng, hiện đang giảng dạy ngôn ngữ học tại trường Đại học Sư phạm TP.HCM (ĐHSP), cho rằng không phải cứ học sư phạm là có việc làm:

“Trước đây một số trường đại học như ĐHSP là cứ ngồi chờ đấy, nhà nước sẽ phân công công tác ở một nơi nào đó. Do đó vào ngành sư phạm dù lương thấp nhưng nhiều người cũng muốn vào vì chỗ làm việc chắc chắn. Dần dần người ta không còn làm theo cách đó nữa, tốt nghiệp ĐHSP cũng phải nộp đơn vào một sở giáo dục nào đó. Và sở giáo dục họ tổ chức một kỳ thi, tôi chưa nói họ tổ chức kỳ thi đó tốt hay không, có chạy chọt hay không… nếu đậu thì tùy nhu cầu của trường, sở sẽ phân công về trường đó. Như thế cũng có nghĩa là không phải cứ tốt nghiệp trường ĐHSP là có việc làm.”

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Dũng, Tốt nghiệp ĐHSP không có ưu thế gì cả, cũng giống các trường khác, cũng phải xin việc, người ta thấy được thì người ta chọn. Thành ra cách tiếp nhận thầy cô giáo để đi dạy như hiện nay là khác xa so với ngày xưa. Và dĩ nhiên nếu ngày xưa tốt nghiệp ĐHSP là không thể thất nghiệp, thì ngày nay có một tỷ lệ thất nghiệp nhất định.

Một sinh viên vừa tốt nghiêp ngành sư phạm, hiện đang làm thêm tại Sài Gòn, khi trả lời RFA cho biết dự định của mình:

“Em sẽ đi làm ở ngoài khoảng một năm, rồi sau đó nếu được về trường thì em sẽ về dưới quê. Nếu được nhận vào một trường cấp hai thì em sẽ làm. Bây giờ trong xã hội phải có người quen, mới được vào trong các trường đó, đó cũng là một cản trở lớn đối với em.”

Theo Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, có nhiều lý do dẫn đến tình trạng sinh viên tốt nghiệp đại học mà không có việc làm. Thứ nhất theo ông là nguyên nhân khách quan, do không có sự phát triển kinh tế chuyên biệt để có công ăn việc làm phong phú cho kỹ sư ra trường. Trừ một vài ngành như tin học thì sẽ dễ kiếm viêc làm. Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng nói về nguyên nhân chủ quan:

“Thứ hai là lý do về chủ quan, ở Việt Nam hiện nay muốn có công việc làm ổn định làm cho nhà nước như giảng dạy, thì tôi nghe các bạn nói muốn kiếm một chân giảng dạy trong một trường trung học là rất khó bởi vì có chính sách có thể nói là con ông cháu cha. Tức những người không có trình độ cao thì lại dễ dàng có công việc, trong khi những người có trình độ cao lại rất khó khăn để có công ăn việc làm. Muốn có việc làm ổn định thì phải bỏ ra một số tiền không nhỏ. Cho nên là vấn đề tham nhũng trong phân bổ chức năng công việc đã có những tha hóa trầm trọng.”

Theo Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, do các trường đại học ở Việt Nam trong những năm gần đây lại được mở ra khá thoải mái. Gần như tỉnh nào cũng có một trường đại học, trong khi đó thì chương trình giảng dạy và đội ngũ giảng viên không được chỉn chu và không có chất lượng. Cho nên những sinh viên ra trường sau 4 năm đại học rất đông đảo nhưng lại không đáp ứng được chất lượng.

“Dân chủ cuội”, “Đảng cử Đảng bầu”.

“Dân chủ cuội”, “Đảng cử Đảng bầu”.

* Người dân hỏi: Bầu hết rồi, tháng 5 lại còn đi bầu Quốc Hội làm gì nữa?

– Nhiều người Việt Nam cũng như ngoại quốc đặt vấn đề rằng ĐCSVN đã bầu và sắp xếp xong hết các chức danh, nhân sự nhà nước cấp cao rồi, vậy vì sao còn bắt người dân đi bầu Đại biểu Quốc hội tới đây nữa ???.

“Trong dân chúng ở Việt Nam hiện nay, rất nhiều người thấy việc này rất vô lý,”.

Rõ ràng người dân đã nhận thấy đi bầu là việc của đảng với nhà nước, còn làm gì cứ bắt người dân phải đi bầu nhiều lần cho tốn tiền, tốn công sức ra.

Thật ra thì ai cũng biết, đây chỉ là 1 cái trò “dân chủ mị dân” của Đảng CSVN, sau khi đã có danh mục nhân sự của đảng rồi, thì cần Quốc Hội hợp thức hóa để cho nó có vẻ danh ngôn chính thuận.

Không những thế, Đảng CSVN lại làm trước cả khi có Quốc hội mới, đúng là 1 trò hề tréo cẳng ngỗng, đầy kịch tính. Trên thế giời nầy, chỉ có ở xứ CHXH CN VN mới có chuyện như vậy:

– Nhà nước giữ bí mật nhưng 3 tháng trước ai cũng biết ai sẽ được chỉ định các chức vụ “Chủ Tịch nước, Thủ Tướng và Chủ Tịch QH “.

– Dân không bầu, và QH khóa mới chưa có nhưng “bộ tam sên” nầy vẩn đắc cử gần như 100%.

* Có lẽ mấy bác lãnh đạo cho rằng đúng quy trình “Dân chủ cuội” thì phải như vậy.

– Giờ thì ai cũng biết bầu cử chỉ là màn kịch dân chủ do CSVN đạo diễn!

TL – BBC

H1: Bộ tam sên Lãnh đạo vừa được đảng cử đảng bầu.

H2: Đảng cử Đảng bầu.

Công an Bình Thuận thả ông Nguyễn Văn Sơn Trung sau 5 ngày tạm giữ để hỏi chuyện “tự ứng cử”

 

Ông Nguyễn Văn Sơn Trung, một Facebooker có nhiều bài viết bất đồng chính kiến với chính quyền vừa được cơ quan an ninh tỉnh Bình Thuận trả tự do vào chiều 13-4-2021 sau 5 ngày tạm giữ để thẩm vấn về các bài viết trên mạng xã hội về “tự ứng cử Đại biểu Quốc hội” của hai người bạn.

Ông Trung cho hay, mình bị bắt vào chiều ngày 9-4 y như một vụ bắt cóc, sau khi lên tiếng về việc nhà thơ Đồng Chuông Tử bị bắt. Không có lệnh bắt giữ nào được đọc và ông còn bị còng tay. Ông kể lại 5 ngày làm việc với cơ quan an ninh như sau:

“Trong 5 ngày làm việc, họ chỉ yêu cầu tôi ký xác nhận những cái bài viết mà tôi đã đăng tải trên trang Facebook cá nhân của tôi.

Rồi cái vấn đề trong group bạn bè liên lạc với nhau, họ bảo là nói gì với nhau thì khai. Họ cũng bảo nói về vấn đề ứng cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp mà trong nhóm có anh Huy và Tín đã từng nói và đăng lên Facebook cá nhân của họ.

Những người bạn đều biết luật bầu cử Việt Nam là người đủ 21 tuổi trở lên, đủ quyền công dân là có thể ứng cử. Thì họ có nói về chuyện ứng cử trong thời điểm Việt Nam có bầu cử thôi.

Họ cũng hỏi tôi về các nhóm xã hội trên Facebook, về mối quan hệ của tôi với Việt Tân, anh Nguyễn Văn Đài và anh Hải.

Hỏi tôi có tham gia vào các nhóm nước ngoài để chống phá Đảng và Nhà nước hay không.”

Theo ông Trung thì những người thẩm vấn ông tự xưng là đến từ phòng PA02 – An ninh Đối nội, Phòng PA83 – An ninh Chính trị nội bộ và An ninh của thành phố Phan Thiết.

Trong đó, ông cáo buộc một viên công an đã tát tai ông 3 cái và một người khác thì vỗ vào đầu ông khi vừa mới về đồn.

Công an Bình Thuận thả ông Nguyễn Văn Sơn Trung sau 5 ngày tạm giữ để hỏi chuyện "tự ứng cử"

Vì sao tại Việt Nam hôm nay cái ác trỗi dậy?

Vì sao tại Việt Nam hôm nay cái ác trỗi dậy?

Bởi  AdminTD

Lê Thiên

13-4-2021

Gần đây, truyền thông xã hội bỗng sôi nổi về một bài báo của Lê Kiên Thành, con trai nguyên Tổng Bí thư đảng CSVN Lê Duẩn. Bài viết của Lê Kiên Thành có tựa đề là “Tôi cầu mong chúng ta sẽ thức tỉnh”.

Lê Kiên Thành viết: “Điều rõ nhất tôi cảm nhận được là chưa bao giờ cái xấu và tội ác đến với chúng ta bình thản như thế này. Người ta nhìn nó thản nhiên, như là điều tất yếu”.

Thành vạch rõ: “Đó là buổi sáng, khi tôi đọc tin về một cậu thanh niên cứa cổ đứa bé 8 tháng tuổi; đó là khi tôi đọc tin về những người dân cùng xông vào đánh chết một kẻ trộm chó…”

Thành phê phán: “Có những người trong chúng ta hôm nay dùng cái ác và cái xấu để sinh tồnViệc một tên cướp bị tuyên án tử hình vì chém đứt tay một người và trước đó đã chém 14 người, nhưng bà mẹ đẻ ra thằng bé đó không hề mảy may ân hận. Đó là hình ảnh đáng sợ nhất: một người mẹ biết quý con mà không còn coi sự sống của người khác ra gì”.

Quý tử của Lê Duẩn còn nêu ra hàng loạt những “hành động gian ác” của người Việt Nam trong cái xã hội “xã hội chủ nghĩa” Việt Nam mà Thành cho là “có thể con người VN hôm nay dường như đang gặp phải một sai lầm nào đó trong tổ chức cuộc sống, khiến cho tình cảm, lòng thương người, sự vị tha đang bị biến dạng một cách ghê gớm. Đó là điều quá lạ lùng với xã hội này”.

Lê Kiên Thành còn phỏng đoán (vì không dám quả quyết) rằng: “Có lẽ chưa từng có một giai đoạn nào trong quá khứ mà người VN phải trải qua tình cảnh như ngày hôm nay. Người Việt từng sống dưới ách nô lệ cả nghìn năm của các triều đại phương Bắc, từng bị đế quốc, thực dân đô hộ, chịu đựng đủ sự tàn ác, bóc lột từ ngoại bang. Nhưng chưa bao giờ tôi nghe được về chuyện người Việt tàn ác với chính đồng bào của mình. Chưa bao giờ người Việt đối xử với nhau hằn học đến thế, man rợ đến thế. Chúng ta không nghèo như ngày xưa, không đói như ngày xưa, tại sao chúng ta lại ác hơn ngày xưa?”

Không ít thức giả, học giả trong nước lên tiếng trực tiếp hay gián tiếp phản bác luận điệu của Lê Kiên Thành, như Dương Quốc Chính với “Tại sao dân Việt Nam lại tàn bạo với đồng loại như vậy (Báo Tiếng Dân ngày 4/4/2021); Lưu Trọng Văn Hãy đọc lời cầu mong ấy và thức tỉnh (Báo Tiếng Dân ngày 4/4/2021);  Thái Hạo Về Lý lịch bần nông (Báo Tiếng Dân ngày 6/4/2021); Song Chi, “Tháng Tư-giữa thời khắc tuyệt vọng, nhìn về phía mặt trời” (Blog RFA & Báo Tiếng Dân ngày 8/4/2021); Phạm Đình Trọng Hội chứng đám đông (Báo Tiếng Dân ngày 10/4/2021).

Nhưng dường như chưa bài phản biện nào chỉ rõ cái gốc của cái ác trong xã hội cả nước lẫn trong nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ sau năm 1975 đến nay.

***

Phần chúng tôi, hồi năm 2019 đã có bài chứng minh nguồn gốc di chứng bạo lực và sự tàn ác của người Việt Nam sau tháng 4/1975 đến nay, qua bài viết sau đây (đã từng được Báo Tiếng Dân và Dân Làm Báo giới thiệu ngày 19/9/2019) nay xin đưa lên lại:

Di sản vĩ đại của chủ tịch vĩ đại

Năm nay, CSVN ồn ào kỷ niệm 50 năm (1969-2019) di chúc Hồ Chí Minh (HCM). Truyền thông CSVN dồn nỗ lực, khuếch đại âm lượng tán tụng những bịa đặt trơ trẽn nâng lên hàng di sản với tên gọi “di sản Hồ Chí Minh”.

Người viết mạo muội chia sẻ đôi điều về di sản Hồ Chí Minh mà truyền thông CSVN tuyệt đối không dám ú ớ. Đó là cái di sản nổi trội nhất trong các di sản của Hồ Chí Minh: Cổ võ bạo lực và gieo mầm hung hãn trong dân, đặc biệt trong đầu óc tuổi thơ Việt Nam.

Giết! Giết! Giết!

Người Việt Nam có lẽ không ai quên khẩu hiệu: “Trí, phú, địa, hào – Đào tận gốc, tróc tận rễ”. Nó không đơn thuần là một khẩu hiệu, mà là một mệnh lệnh mang tính cưỡng bách tuyệt đối, đặc biệt trong Chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất năm 1956-1958, đến nỗi XUÂN DIỆU đã phải nhanh chóng rao truyền cổ võ, diễn đạt lệnh ấy thành thơ thấm sâu vào lòng người, nhất là giới trẻ:

Anh em ơi, quyết chung lưng
Đấu tranh tiêu diệt tàn hung tử thù
Địa hào, đối lập ra tro
Lừng chừng phản động đến giờ tan xương
Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốc cho sáng đình làng hôm nay
Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống, đọa đầy chết thôi.

Chẳng phải chỉ mỗi Xuân Diệu mà cả Tố Hữu (Văn công tuyên huấn đảng, về sau leo lên tới đỉnh Ủy viên Bô Chính trị Đảng CSVN) cũng dùng thơ rao truyền bá đạo, hò hét sắt máu:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,
Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt”

Ôi chao! Giết “cho đảng bền lâu” chưa đủ! Mà giết “để thờ hai tên đồ tể khát máu của nhân loại! Ghê gớm thật! Khốn nạn thật!

Chính vì cái mệnh lệnh “giết, giết nữa, bàn tay không phú nghỉ” mà hàng vạn sinh linh dân Việt Nam ở miền Bắc máu đổ đầu rơi hoặc trở thành những bóng ma tàn phế thất thểu suốt đời!

Người ta không quên vị đại ân nhân của cả Hồ Chí Minh lẫn cái đám đồng chí cấp cao quanh ông Hồ là bà Nguyễn Thị Năm – Cát Hanh Long, đã bị xử tử oan nghiệt bởi phát súng mở đầu Chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất ở Miền Bắc thời 1956-1958.

Đê hèn và nham hiểm hơn nữa, theo Trần Đĩnh qua bộ sách Đèn Cù, hôm xử án bà Nguyễn Thị Năm, Hồ Chí Minh và Trường Chinh đã hèn hạ hóa trang cải dạng, rình rập theo dõi cuộc xử sau khi Hồ ký tên “C.B.” tung lên báo Nhân Dân bài viết “Địa chủ ác ghê” gán cho bà Nguyễn Thị Năm những tội ác tày trời, “đất không dung, người không tha!” song lại chẳng một lời về nghĩa cử cao đẹp của bà Cát Hanh Long dâng cho Hồ và đảng CSVN hàng trăm lượng vàng, và hiến cả hai con trai mình phục vụ “Cách mạng” trong bộ đội bác.

Tuyên dương dũng sĩ hay cổ súy hung hăng bạo lực?

Chuyện về hành tung của Hồ Chí Minh cổ súy bạo lực và gieo mầm hung hãn vào bộ não của tuổi thơ VN thì nhiều lắm, dẫy đầy, kể mãi không hết. Ở đây, chỉ xin nêu một hai bằng chứng điển hình về những con nít đã hành động bạo lực kiểu người lớn được tuyên dương là “dũng sĩ” và được Hồ Chí Minh đón tiếp, cổ võ… như hình ảnh dưới đây:

Nữ dũng sĩ diệt Mỹ Hồ Thị Thu (áo trắng) đang kể về chiến công của mình với bác Hồ và bác Tôn. Xem hình này, mấy ai tin rằng Hồ Thị Thu ở tuổi 13 hay dưới 13? (Nguồn: Báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 19/5/2010 – “Dũng sĩ diệt Mỹ tuổi 13 và 3 lần gặp Bác Hồ”, của tác giả Hà Minh).

Một mẩu đối thoại ngắn giữa “bác” và cháu bé Hồ Thị Thu được báo SGGP thuật lại như sau:

– Cháu có phải là Hồ Thị Thu không?

– Thưa Bác, phải ạ!

– Cháu học lớp mấy rồi?

– Dạ thưa Bác, cháu chưa biết chữ, ba cháu mất sớm, nhà cháu nghèo quá, lại đông anh chị em nên cháu không được đi học ạ!…

Sau đó lần lượt các dũng sĩ kể chuyện cho Bác nghe. Riêng chị kể chuyện phá 13 khẩu súng bằng cát, sỏi… Nghe xong, Bác hỏi:

– Thằng Mỹ to thế, cháu lại nhỏ thế này, đánh Mỹ có sợ không?

– Thưa Bác, mấy trận đầu cháu có sợ, nhưng về sau, cháu quen dần vì bên cạnh cháu có các cô, các chú và các bạn nên cháu hết sợ.

Tối đó, bên bàn ăn cơm, Bác vừa ân cần hỏi thăm, căn dặn từng người trong đoàn “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình…”

Đoàn Văn Luyện, thôn Trung An, xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, cũng là một trong những “dũng sĩ diệt Mỹ” có nhiều chiến công được “Bác” tiếp. (Báo Quảng Ngãi 28/12/2017 – Ký ức của “Dũng sĩ diệt Mỹ. Trong hình trên, Đào Văn Luyện ngồi ngoài cùng bên phải).

Hồ Chí Minh còn lấy làm hãnh diện lôi những đứa con nít “dũng sĩ diệt Mỹ” đi khoe với bầu bạn quốc tế vô sản Cu Ba như hình dưới đây:

Hồ Chí Minh và các “Dũng sĩ diệt Mỹ” tiếp Phái đoàn Cuba qua thăm Việt Nam năm 1969. Nguồn: Báo Quảng Ngãi

Báo chí CSVN huênh hoang: “Tháng 2.1969, có phái đoàn Cuba sang thăm Việt Nam. Bác cho gọi tất cả dũng sĩ ‘tí hon’ đã từng diệt Mỹ đến giới thiệu với lãnh đạo nước bạn. Bác cho từng người kể về những chiến công của mình….”

Mầm mống bạo lực hung hăng

Phải chăng chính nhờ tuyên dương bạo lực bằng những hành động tung hô “dũng sĩ” hung bạo giết người mà đến tận ngày nay, tinh thần “dũng sĩ” cứ được nhân lên khắp cả nước: Dũng sĩ diệt cha, dũng sĩ diệt mẹ, dũng sĩ diệt anh chị em, dũng sĩ diệt thân nhân, diệt họ hàng, diệt bè bạn, diệt hết những ai đụng chạm đến mình, đụng chạm đến quyền lợi mình, dù là thứ quyền lợi giá trị ba xu.

Giết nhau vì tiền, giết nhau vì tình, giết nhau vì đất đai, giết nhau vì chút quyền lợi nhỏ, và cả giết nhau chẳng do duyên cớ nào cả. Thậm chí, một cái nhìn bị cho là “nhìn đểu” cũng dễ dàng rước lấy cái chết thảm cho người nhìn đằng sau cái hả hệ của “người bị nhìn” đã “dứt điểm” được “kẻ nhìn đểu”!

Bạo lực xã hội, bạo lực hè phố, bạo lực học đường, bạo lực gia đình… tràn lan.

Bạo lực ở mọi nơi với mọi giới, mọi cấp, mọi giai tầng xã hội Việt Nam!

Bạo lực len lỏi bành trướng vào cả những vùng thôn quê hẻo lánh trước đây nổi tiếng hiền hòa… Cả trong các bệnh viện, bệnh xá cũng xảy ra chém giết nhau… chỉ vì những chuyện không đâu, bé xé to!

Đâu đâu cũng nổi cộm những trò đâm chém giết hại nhau một cách dã man mà kẻ gây ác ung dung bộ mặt và tư thái máu lạnh, xem hành động của mình là chuyện… thường ngày ở huyện.

Trong một môi trường nhiễm độc từ thế hệ này sang thế hệ khác đã không được tẩy rửa mà còn được tán dương ca tụng, thì đừng ai thắc mắc nữa vì sao tuổi trẻ Việt Nam băng hoại đến thê thảm, vì sao giáo dục Việt Nam hiện nay tiếp tục chôn vùi mục tiêu ĐỨC DỤC!

Lẽ nào, chúng ta, những người Việt Nam còn quan tâm tới tiền đồ quốc gia dân tộc, lại cứ mãi cam chịu cái tài “trồng người” của “Bác” ấy với những trò tuyên dương dũng sĩ, hồ đồ kích động bạo lực (kể cả dựng chuyện láo khoét như chuyện dũng sĩ Lê Văn Tám, tẩm xăng làm đuốc sống diệt giặc…), mặc kệ nó tung hoành “tỏa sáng” thói hung hăng tàn bạo khắp đất nước VN, tiếp tục biến con người thành ác thú?

Trò úp mở “vì sao cái ác trỗi dậy”

Vừa viết xong bài này, chúng tôi bất ngờ đọc thấy bài Báo động bạo lực gia đình bùng phát: Vì sao cái ác trỗi dậy? của hai tác giả Dương Lê – Thanh Hà trên báo Tiền Phong của CSVN, ngày 19/9/2019.

Bài báo nêu rõ: “Một phần nguyên nhân dẫn đến các vụ bạo lực gia đình, thậm chí án mạng là do đạo đức suy đồi, phần khác bắt nguồn từ sự thờ ơ của các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội.”

Tác giả bài báo đưa ra nhiều dẫn chứng cụ thể như: Xuất phát từ mâu thuẫn đất đai không được giải quyết triệt để, sáng 1/9/2019, ông Nguyễn Văn Đông (SN 1966, trú xã Hồng Hà, Đan Phượng, Hà Nội) vác dao bầu sang truy sát cả gia đình người em ruột là Nguyễn Văn Hải (SN 1969, ở sát nhà Đông). Hậu quả, ông Hải cùng vợ và 2 người khác tử vong, trong đó có cháu bé 14 tháng tuổi….

Lại chiều tối 14/9/2019, ông Bùi Xuân Hồng (TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên) tới nhà em gái là Bùi Thị Hà (cũng tại TP Thái Nguyên) để đòi món nợ 3,6 tỷ đồng… Không đòi được tiền do cô em lại hẹn, ông Hồng rút dao đâm Nguyễn Thành Vương (SN 1981, con rể bà Hà) gục tại chỗ. Thấy con rể bị tấn công, bà Hà cùng chồng là Nguyễn Văn Thành (SN 1954) lao vào ngăn cản và bị ông Hồng dùng dao đâm. Vợ chồng bà Hà tử vong, anh Vương nhập viện.

Bài báo quả quyết: “Ngoài tranh chấp tài sản, người trong gia đình còn có thể lấy mạng nhau chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt…” mà nguyên nhân chính là do “Ðạo đức xuống cấp”. Trong khi Thượng tá CA CSVN Nguyễn Xuân Hùng, nguyên Đội trưởng Đội Thanh tra Pháp luật, PC01 – Công an Hà Nội, thì lại cho rằng, nguyên nhân còn là sự thờ ơ của các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội.

Ông Hùng nói: “Thậm chí là do sự thiếu chủ động và kém hiệu quả của các biện pháp phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ của các cơ quan chức năng nên khi con người rơi vào hoàn cảnh bế tắc trong giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn về tiền bạc, tài sản… thì dẫn đến những hành động mất nhân tính”.

Ông Hùng quả quyết: Sự thiếu nghiêm khắc, xuê xoa, hời hợt trong xử lý các hành vi vi phạm… cũng là mầm mống dẫn đến những mâu thuẫn, hành vi vi phạm pháp luật”.

Tiếc thay! Tờ Tiền Phong cũng như tác giả bài “Vì sao cái ác trỗi dậy” không dám nhìn thẳng, nhìn sâu vào nguyên nhân cốt lỏi “vì sao cái ác trỗi dậy” như chúng tôi đã chỉ ra ở trên.

Một vài di sản đình đám khác của Hồ Chí Minh, xin hẹn sẽ tiếp tục phơi bày.

THÁNG TƯ BUỒN!

THÁNG TƯ BUỒN!

Tháng tư về, trăn trở bao nổi buồn mênh mang khi nghĩ về các anh, người lính VNCH, các anh phải trải qua những đau đớn thăng thầm trong đời người, những uẩn khúc đau thương, những vết tích cho một dân tộc luôn giày xé tâm can.

Có người phải bỏ quê hương ra đi trên bờ sinh tử, người ở lại sống trong đớn đau, nhọc nhằn…

Có người bỏ xác trên quê hương đất mẹ mà không có được ngôi mồ riêng của mình …

Tháng tư về

. .Kính dâng nén hương lên ngôi mộ này . Ngôi mộ tập thể ở đằng sau tường rào khu nghĩa trang quân đội VNCH cũ. Có khoảng 500 người lính VNCH chết trận, được đưa về nghĩa trang quân đội VNCH ở Bình An chưa kịp an táng, ở trong nhà xác nghĩa trang . CS vào tiếp quản cho người đưa họ xuống hố, chôn tập thể rồi san bằng.

Một thời gian sau, ông chủ đầu tư trường Đồng An được dân ở đây kể cho nghe. Ông đã cho làm lại khu mộ và dựng nhà bia tưởng niệm.

Rằm mồng một cho soạn lễ vật hương khói đàng hoàng.

Hiện ngôi mộ nằm trong khuôn viên trường cao đẳng công nghệ cao Đồng An.

Nguyện xin ơn trên gìn giữ họ an nghỉ trong bình yên ở nơi này .

Liên Trà

(Đăng lại)

May be an image of one or more people and outdoors

Nhà thơ người Chăm từng tuyên bố tự ứng cử đại biểu Quốc hội, mất tích sau khi bị công an mời làm việc

Nhà thơ người Chăm từng tuyên bố tự ứng cử đại biểu Quốc hội, mất tích sau khi bị công an mời làm việc

RFA.ORG

Một nhà thơ người Chăm mất tích 2 ngày sau khi bị công an mời lên làm việc. Bạn bè và gia đình của nhà thơ cho phóng viên Đài Á Châu Tự Do biết như vậy hôm 9/4.