VN: NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA VÀ HỘI CHỨNG BỎ VIỆC

VN: NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA VÀ HỘI CHỨNG BỎ VIỆC

  Câu chuyện Bạch Mai có hơn 200 nhân viên bỏ việc chưa kịp chìm xuống thì hơn 600 y bác sĩ xin nghỉ …

Câu chuyện Bạch Mai có hơn 200 nhân viên bỏ việc chưa kịp chìm xuống thì hơn 600 y bác sĩ xin nghỉ việc tại một bệnh viện ở TP HCM phải khiến chúng ta đặt ra những câu hỏi về cách thức sử dụng nguồn lực con người trong xã hội VN hiện nay.

Người Việt vốn ưu “ổn định”, ổn định là một trong những cái đích quan trọng nhất của những người làm công ăn lương, đặc biệt là ở hệ thống công. Nhưng khi tôi nghỉ việc thì đồng thời có 2 người nữa cùng tổ chuyên môn cũng đã rời đi ngay sau đó. Tại một trường học thuộc loại VIP nhất (trường chuyên) của hệ thống trung học mà mỗi năm có hàng chục người bỏ việc thì phải thấy rằng đó là một hiện tượng bất thường.

Tình trạng này ngày càng phổ biến trong hệ thống công lập. Nhưng đó chưa phải là vấn đề lớn nhất. Một nhà báo là bạn thân của tôi nói, chỉ ước có một công việc hay nguồn thu nhập gì khác đủ nuôi con là lập tức bỏ việc ngay. Cũng theo người ấy, dường như không có mấy đồng nghiệp của anh ta còn mặn mà với báo chí nữa. Tâm trạng chán nghề đang bao trùm lên xã hội.

Tại sao thế? Tôi nghĩ, vấn đề lương hay thu nhập là một trong những nguyên nhân quan trọng, nhưng không phải là quan trọng nhất. Đồng nghiệp tôi, nhiều người đang loay hoay tìm cách đổi nghề, họ tỏ rõ sự chán chường và mỏi mệt trong chính cái nghề mà họ đã đèn sách theo đuổi hàng chục năm trời. Cái cung cách quản lý mang tính chuyên chế, môi trường làm việc không có dân chủ, cùng với hàng tá những việc “tẹp nhẹp vô nghĩa lý” đè nặng mỗi ngày. Người lao động, mà lại là lao động trí óc, ngày nay dường như chỉ còn là những công cụ trong tay thủ trưởng, họ hoàn toàn bị phụ thuộc về mọi mặt. Một người giáo viên mà đến chuyên môn còn không có quyền tự chủ thì thử hỏi sẽ tìm niềm vui ở đâu trong nghề nghiệp của mình? Không những bị tước đoạt đi năng lực sáng tạo và sự tự tôn nghề nghiệp, họ còn bị đè ép bới bao nhiêu quy đinh nhiêu khê phiền hà, và lúc nào cũng có thể trở thành nạn nhân bởi sự vui buồn của người đứng đầu. 

Người trí thức bị xúc phạm, thậm chí bị nhục mạ, bị coi khinh, bị tước đi niềm vui trong những tìm tòi và lao động sáng tạo. Thân phận người lao động nói chung và người trí thức nói riêng chưa bao giờ bị rẻ rúng đến thế. Không những không được lao động đúng nghĩa mà còn phải làm những vô nghĩa; không những không được phát tiết trí tuệ mà còn phải làm cả những việc sai trái. Nó là một thảm trạng.

Thử hỏi ai có thể chịu đựng kéo lê mãi một cuộc đời như thế ? Thế mà có đấy, không những có mà còn có nhiều. Bên cạnh những người bỏ việc (thiểu số) là những người tồn tại bằng những cách tiêu cực. Một bộ phận nhân lực thuộc giới “tinh hoa” của xã hội đã buộc phải hạ thấp mục tiêu, tự mài mòn cá tính, và thỏa hiệp để tồn tại. Một tình trạng “làm việc cầm chừng” đang trùm phủ lên xã hội. Không những chỉ cầm chừng, mà tai hại hơn, đối phó – đối phó đang trở thành phương cách làm việc của họ. Đó là con đường của sự tha hóa.

Nguồn tài nguyên vô giá của quốc gia đang bị hủy diệt bởi cung cách quản trị sai lầm, Đó không chỉ là một sự “lãng phí” mà ghê gớm hơn, là một tội ác. Nó không chỉ chặn đứng tương lai đất nước mà quan trọng hơn là, phá hủy con người.

Nguồn nguyên khí thiêng liêng của quốc gia không thể tiếp tục bị hủy hoại nữa. Không thể tiếp tục duy trì một bộ máy với cách thức vận hành phản khoa học như thế nữa. Muốn đất nước phồn thịnh và nhân dân hạnh phúc, không có con đường nào khác ngoài việc cải cách thể chế.

Thái Hạo

From:TU-PHUNG

“XỨ ĐÔNG DƯƠNG” QUA “MẮT XANH” VƯƠNG HỒNG SỂN…

 No photo description available.

“XỨ ĐÔNG DƯƠNG” QUA “MẮT XANH” VƯƠNG HỒNG SỂN…

Tháng 6/2016, Báo Lâm Đồng Cuối tuần có đăng trong chuyên mục “Hồ sơ – Tư liệu” bài viết “Xứ Đông Dương – Một tài liệu tham khảo rất đáng quý” giới thiệu tập hồi ký “Xứ Đông Dương” của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1897-1902), Tổng thống Pháp (1931-1932) xuất bản lần đầu năm 1905 được dịch từ nguyên bản tiếng Pháp L’Indochine Frangcaise (Souvenirs). Tập hồi ký do NXB Thế giới phát hành ra mắt độc giả Việt Nam tháng 3/2016.

Tôi đã tìm mua được “Xứ Đông Dương” và say mê đọc bởi bị phong cách văn chương của Toàn quyền Paul Doumer quyến rũ trước nhiều sự kiện đầu thế kỷ XX ở Việt Nam. Một lần lục lọi kho sách tư gia, bất chợt thấy cuốn “Dỡ mắm” (di cảo, NXB Trẻ tái bản lần thứ nhất 2015) của học giả Vương Hồng Sển có lời tựa “Ngồi buồn dỡ mắm nhau ra/ Mắm ông thì thúi, mắm bà chẳng thơm”. Thấy lý thú nên tò mò lần dở mới hay nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng, học giả Vương Hồng Sển từng đọc hồi ký “Xứ Đông Dương” bằng tiếng Pháp khi phát hành vào thập niên đầu thế kỷ XX.

Nhận xét về tập hồi ký “Xứ Đông Dương”, học giả Vương Hồng Sển trần tình: “… Viết về ông Doumer, tôi đã sửa ngòi bút, suy nghĩ thật nhiều: viết sai thì hổ với lương tâm, bằng bốc thơm ông lại ngại tiếng gièm pha còn mến tiếc Tây đầm. Nhưng ở Hà Nội cầu Long Biên còn đó, ai giẫm chơn lên phải nhớ người xây dựng, mới không thẹn sao “uống nước nỡ quên nguồn”! Ở Huế, cầu Tràng Tiền đổi tên mấy lượt, nhưng vẫn còn sờ sờ, ở Sài Gòn này, cầu Bình Lợi cũng là kỳ công bất hủ của ông Doumer, chớ mấy ai khác. Vậy tôi biết gì, cứ nói.

Doumer qua Việt Nam khi tuổi chưa đầy 40. Người khỏe mạnh, làm việc bằng mười, thêm tài ba xuất chúng. Những kỳ công của ông là:

– Ông thấy xa, lập trường Viễn Đông Bác Cổ, để bảo vệ cổ tích, đền chùa khỏi bị phá phách cắp gỡ, tu bổ cổ tích còn lại. (Doumer từng than tiếc cổ tích Chàm ở Đà Nẵng bị cạy gỡ mất mát nhiều nên năm 1899, ký sắc lịnh cho lập trường Viễn Đông Bác Cổ).

– Ông lập trường cao đẳng ở Hà Nội, để tiện cho học sanh bên Trung Quốc qua học, thêm học trò miền Nam, con cháu điền chủ có tiền, dễ ra học hơn mở trường cao đẳng ở Sài Gòn, học trò Tàu chê xa, và học trò xứ Bắc xứ Trung, phần đông đều con ông đồ ông bảng thanh bạch, giàu chữ hơn giàu tiền làm sao gởi con vào Nam học được nhiều.

– Chính ông năm 1901 đã đến tại chỗ, chọn Đà Lạt thay vì Dankia và đốc thúc, tài trợ cho bác sĩ Yersin thành lập nơi nghỉ mát Đà Lạt như ngày nay đã thấy. Ba cây cầu sắt ông để lại, thật là kỳ công bất hủ:

– Ở Hà Nội, có cầu Long Biên, trước mang tên ông là Pont Doumer: hãng Daydé et Pillé de Creil (Oise) trúng thầu, đặt viên đá đầu tiên tháng 9/1898; cầu dài trên 2.500 m, khúc vào thành (hữu ngạn) trên đất liền, dài 800 thước, khúc giữa trên sông Hồng nối hai bờ, dài 1.680 m, gồm 19 nhịp, toàn sắt thép trứ danh Cantilever; 19 nhịp nằm trên 20 cột chống xây đá, móng cầu cừ đóng và trụ cây phải thọc sâu tới khi đụng đất nạc đất cứng, phải sâu hơn 30 m, từ mặt nước thấp nhất của Hồng hà và phía trên khỏi mặt nước là 13 m 50 nữa, tức cột đo 43 m 50. Một cầu dài nhất ở Á Đông, một kỳ công của kỹ sư thợ cái Pháp và của nhơn công người Việt, đáng mặt để đời. Cũng có thợ hồ, thợ sắt Tàu trợ lực. Khi đặt đá khánh thành, mọi người dự kiến đều hoài nghi sự thành công, nhứt là người An Nam đều cho là còn khó hơn chuyện vá trời, và khi cây cầu làm xong, lại le lưỡi nói: “Việc gì Tây muốn, họ đều làm được”; cầu ăn lễ lạc – thanh tháng 2/1902, một lượt với đoạn đường sắt xuyên Đông Dương sau này (đường sắt Hà Nội xuống Hải Phòng, dài độ 100 km, ông vui lòng được mắt thấy trước khi xuống tàu về Pháp), 5 năm nhiệm vụ đã tròn. (Phí tổn 6.000.000 quan Pháp, ăn 2fr50 mỗi 1$ (bạc 27gr).

– Ở Huế, ông để kỷ niệm lại cầu Tràng Tiền, bắc ngang sông Hương, nối liền xóm Tây qua xóm Việt và Thành nội và đưa đường xuống Đà Nẵng, cầu dài 400 m, cột cầu đóng xuống sâu 20 m, do hãng Pháp Creusot lãnh thầu và xây cất, chính ông làm lễ khánh thành và nhường vua Thành Thái cắt dây tượng trưng cho sự thông thương cho dân và ngày nay xe ô tô, thiết giáp đi (không có đường cho tàu hỏa). Không thấy ghi chi xuất bao nhiêu…

– Ở Sài Gòn, ông giúp cho một cầu sắt nối liền lên Biên Hòa, ấy là cầu Bình Lợi. Ông dự định cầu chịu nổi đường sắt xe lửa xuyên Đông Dương về tương lai, cột cầu dưới mặt nước thấp nhất đo được 31 m và do hãng Levallois-Perret thầu và xây cất, ăn lễ khánh thành vào tháng 2/1902. Cầu có 6 nhịp, một nhịp nơi giữa, dài đến 40 m, vẫn xây mở được để tàu thuyền thông thương.

Ngoài ra Doumer còn để lại nhiều công-tác cầu kỳ (tuy không quan trọng bằng ba cây cầu vĩ đại kia), thành tựu từ 1897 đến 1902, có thể gọi là thời kỳ mở mang Đông Dương, thời kỳ sắt và cầu sắt, đáng kể hơn là ở Bắc, cầu ở Hải Phòng, Hải Dương, Việt Trì, Lào Cai, miền Trung có cầu Thanh Hóa do hãng Daydé et Pillé xây cất, cầu này dài 160 m vòng cầu liên lạc một mạch nối hai bờ sông, không có nhịp ở giữa và khi ráp nối, trải ván rất cam go.

Riêng miền Nam, ông còn có thêm: năm 1901, con lộ đá Sài Gòn đi Tây Ninh để sau này thông thương với Cao Miên, và năm 1903, con lộ đá Sài Gòn đi Bà Rịa, mở thông lên Tánh Linh xứ gỗ súc, sau này sẽ thông thương với miền Trung. Ông còn dự định thiết lập một con đường sắt cho xe lửa chạy, nối liền Sài Gòn lên Nam Vang, nhưng việc này thời đại sau ông bỏ dở, tiếc thay”…

Với nhận xét sắc sảo, công tâm như vậy chứng tỏ người Việt mình rất có đôi “mắt xanh” khi đánh giá chính khách nước ngoài. Rất tiếc độc giả Việt Nam và cũng không mấy người phương Tây có trong tay và đọc “Dỡ mắm”!

NGUYỄN THANH

ĐỊA NGỤC GIÁO DỤC?…

ĐỊA NGỤC GIÁO DỤC?…

Đau xé lòng trước vụ em học sinh Trường Nguyễn Khuyến (TP. HCM) nhảy lầu tự vẫn vì áp lực học hành. Không biết bức thư tuyệt mệnh này có đúng là của em không, nhưng ít nhất đúng như tôi nghĩ lâu nay.

Không dưới một lần, tôi khẳng định triết lý “giáo dục toàn diện” là sai lầm tận gốc. Từ cái gốc này kéo theo Chương trình, Sách giáo khoa và cách đánh giá đã sai lầm một cách toàn diện, gây áp lực nặng nề cho con em chúng ta.

Đây không là vụ duy nhất học sinh tự vẫn. Những trường hợp không tự vẫn, theo tôi, tâm thần đều có dấu hiệu khủng hoảng nặng. Hãy cùng nhau lên tiếng, vì con tôi và con các bạn đều đang là nạn nhân của cách giáo dục này, nếu chúng ta còn chút lương tâm!

Một ngày kia phải ghi tội ác những kẻ làm chương trình và sách giáo khoa vào các trang sử.

CHU MỘNG LONG

————-

Nội dung bức thư:

“Kính thưa các bác lãnh đạo, các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo!

Con xin được trút hết nỗi lòng đã giấu diếm suốt bấy lâu nay và con, cũng như nhiều bạn học sinh khác mong chờ sẽ nhận được những lời chia sẻ, cũng như ý kiến của các bác lãnh đạo, các phụ huynh và các thầy cô.

Đã nhiều năm nay, hầu như cuộc đời của học sinh chúng con chỉ là thức dậy, đi học trên trường, đi học thêm, về nhà và lặp lại. Qua nhiều năm, niềm đam mê học tập của con dần mất đi.

Con bắt đầu kiệt sức, chán nản và tuyệt vọng khi nghe đến chữ HỌC.

Không biết tự bao giờ, thời gian chúng con đi học còn nhiều hơn khoảng thời gian chúng con được ngủ. Đối với con, càng học cao hơn, kiến thức càng trở nên vô nghĩa.

Con biết nói ra điều này thật vô ơn. Để có được những kiến thức hôm nay là công sức đầy gian lao của những người đi trước.

Nhưng con tự nghĩ, vì sao giáo viên chỉ có thể dạy một bộ môn nhưng bản thân một học sinh phải học những mười mấy môn?

Không chỉ vậy, chúng con còn chịu áp lực nặng nề từ thầy cô, phụ huynh và cả xã hội. Một lớp học phải có từ 40 học sinh đạt Giỏi, Khá và không được có học sinh Trung bình.

Đã đi học thì các môn tổng kết cả năm phải từ 8 điểm trở lên, thậm chí là cao hơn. Tỉ lệ tốt nghiệp của trường sau một năm phải đạt 90% trở lên, có trường phải giữ vững mục tiêu là 100%.

Con đã nhiều lần suy nghĩ về những gì chúng con đang được học. Càng nghĩ,con càng cảm thấy nản hơn khi con nhận ra mình gần như không thể tiếp nhận những kiến thức nhà trường dạy.

Bộ não của một người trưởng thành chỉ nặng gần 1400 gam nhưng những người của thế hệ đi trước lại mong chờ chúng con học đều, học tốt lượng kiến thức khổng lồ từ hơn mười môn học khác nhau.

Con sợ lắm! Con sợ mỗi khi ông mặt trời lại lên báo hiệu một ngày đi học nữa lại đến. Con sợ khi điều đầu tiên thầy cô làm khi bước vào lớp là khảo bài, kiểm tra một núi bài tập họ giao cho chúng con.

Con sợ khi tiếng trống giờ về không đồng nghĩa với việc chúng con được về nhà nghỉ ngơi mà nó chỉ đơn thuần là giờ ra chơi giữa giờ học chính khóa và giờ học thêm.

Con sợ khi nhìn các bạn đồng trang lứa ăn vội vàng cái bánh bao và ánh mắt họ đờ đẫn, xa xăm, vô hồn ngồi trên chiếc xe máy giữa dòng người kẹt xe lúc 5h chiều.

Thưa các bác, các bác phụ huynh, các thầy cô!

Còn biết bao nhiêu câu chuyện chưa được kể về những áp lực vô hình mà mọi người đang vô tình đặt lên vai chúng con.

“Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” – Đó là điều đầu tiên con học được khi bước vào lớp 1. Và cho đến giờ, khi đang ở độ tuổi 18, con căm ghét cái câu nói này kinh khủng.

Con xin lỗi khi nói ra những điều này, con biết việc này sẽ khiến cho những người đi trước khó chịu nhưng cho phép con được nói lên nỗi lòng mình: Con ghét đi học.

Con ghét cái cảm giác bước qua cổng trường, mở cuốn SGK, chép từng trang vở. Con cảm giác mình lạc hướng… Từng ngày đi học, chúng con quay cuồng với việc học bài, kiểm tra.

Những năm tháng dần trôi qua một cách vô nghĩa dưới áp lực của việc học hành, của thầy cô, của gia đình.

Chương trình học hiện tại không cho phép học sinh chúng con có quyền sáng tạo. Tất cả bị bó buộc vào những quy luật nhất định và chúng con – những người học sinh bắt buộc phải làm theo chứ không được thay đổi.

Chính bản thân chúng con còn không hiểu mình đang học vì cái gì, vì ai!

Học vì kì vọng của mọi người xung quanh, học vì điểm số, học để qua được một kì kiểm tra ư? Xong rồi sao nữa?

Cuối cùng sau hơn 20 năm học tập miệt mài, căng thẳng chúng con còn phải sống một cuộc đời rất dài và tới lúc đó, chúng con sẽ phải áp dụng những kiến thức đã học được vào cuộc sống.

Nhưng con đã nhiều lần tự hỏi, con có thể sử dụng “Chuyển động tròn đều”, “Chiều tăng giảm của hàm số” hay Vecto trong cuộc đời thật như thế nào?

Chúng con cứ học rồi lại quên, thầy cô thì cứ lao đầu vào giảng, giao bài tập về nhà nhưng họ chưa bao giờ nói cho chúng con nghe ứng dụng của những kiến thức này trong cuộc sống.

Từ một lúc nào đó, mọi người lại đánh giá nhau thông qua những con điểm.

Chì vì những con điểm vô giá trị mà đã đẩy biết bao số phận học sinh vào bước đường cùng, đã khiến cho mối quan hệ giữa cha mẹ – con cái và giáo viên – học sinh trở nên căng thẳng, ngột ngạt.

Cuộc sống của những học sinh giờ đây gần như chỉ xoay quanh HỌC. Chúng con không biết đến khái niệm nghỉ ngơi, thư giãn.

Chúng con gần như không còn hiểu được giá trị của những bữa ăn bên gia đình vì gần như suốt một tuần chúng cháu chỉ gần như học thêm đến khi trời tối mịt.

Người bạn ngồi kế con, bạn ấy học rất giỏi và các thầy cô đều rất yêu quý bạn ấy. Nhưng bạn ấy khổ lắm. Nhà bạn ấy ở Quận 12 và bạn ấy phải đi xe buýt tới Quận 1 để học thêm mỗi ngày.

Từng ngày đi học của bạn ấy bắt đầu từ 5h30 sáng cho tới 11h đêm. Bạn ấy đã kiệt sức rồi, con biết điều đấy. Khuôn mặt bạn phờ phạc, ánh mắt bạn bơ phờ, bạn bị thiếu ngủ và đau dạ dày.

Những người như bạn con không thiếu ngay tại chính TP.HCM này.

Học sinh chúng con sống thờ ơ, lãnh đạm, vô cảm và không có kĩ năng sống. Chúng con không biết phải làm gì nếu có động đất, sóng thần hay gặp một người bị đột quỵ ngay giữa đường.

Người lớn thất vọng vì cách ứng xử của thế hệ trẻ trong khi thế hệ trẻ chúng con lại thất vọng vì đang được giáo dục không có định hướng.

Thưa các bác, là một học sinh, con đã vô cùng xúc động khi nghe chủ trương không dạy thêm. Cái cảm giác vui mừng chợt chạy qua người con khi nghĩ đến cảnh chúng con không còn phải còng lưng ra học bài lúc 11h đêm nữa.

Nhưng hiện thực tàn khốc của việc học đã không cho con được vui mừng lâu.

Trước cảnh mỗi năm đề thi Đại học lại đổi mới một kiểu, trước cảnh cô giáo viên dạy Toán của chúng con quảng cáo về lớp dạy thêm của cô một cách bí mật, con nhận ra mọi chuyện sẽ không hề tốt lên được, sẽ không bao giờ tốt lên được.

Rồi sau tất cả, khi chúng con rời ghế nhà trường, đối diện với cuộc sống thật, chúng con lại lơ ngơ, hoang mang vì hoàn toàn không có những kĩ năng sống cần thiết.

Con cầu xin các bác, các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo: Xin hãy cho chúng con được SỐNG. Xin cho phép chúng con được sống trong những tháng năm tuổi học trò một cách trọn vẹn nhất có thể.

Xin đừng quá kỳ vọng vào tụi con để rồi chính những kì vọng ấy khiến cho mọi người thất vọng. Xin đừng chỉ trích chúng con khi bọn con bị điểm kém.

Xin hãy hiểu rằng mỗi người chỉ có những khả năng nhất định và bọn con không phải là thiên tài.

Cuối cùng, con xin mọi người hãy hiểu: “HỌC SINH CŨNG CHỈ LÀ CON NGƯỜI, KHÔNG PHẢI MÁY MÓC”.

May be an image of text that says 'tuöitre online f THỜI SỰ Nam sinh trường Nguyễn Khuyến viết thư tuyệt mệnh rồi nhảy lầu tự tử 11/04/2018 17:28 GMT+7 TTo Trước khi tự tử, nam học sinh để lại thư tuyệt mệnh với nội dung do áp lực học tập, điểm số và áp lực từ gia đình muốn con mình được học lớp đứng đầu khối.'
You and 163 others
50 Shares
Sad
Sad

 

Comment
Share

  MỘT BÀI HỌC TỪ BIẾN CỐ 30-4-1975 (Nguyễn Gia Kiểng)

May be a black-and-white image of child, standing and outdoors
 

  MỘT BÀI HỌC TỪ BIẾN CỐ 30-4-1975 (Nguyễn Gia Kiểng)

Ông chủ nhiệm báo Việt Luận hỏi tôi chúng ta có thể rút bài học nào từ biến cố 30-4-1975? Câu hỏi thực là khó. Có rất nhiều bài học lịch sử mà chúng ta có thể rút từ cuộc chiến tranh kết thúc ngày 30 tháng 4-1975. Tất cả đều là những bài học lớn cho cuộc vận động dân chủ hiện nay.

Nhưng trước hết xin có vài lời về những bài học lịch sử: phải rất thận trọng và khiêm tốn vì chúng thường sai. Tại sao ? Lịch sử rất quan trọng bởi vì cuộc sống của một quốc gia, cũng như cuộc sống của một người, chủ yếu là thực nghiệm. Tuy vậy chúng ta lại không thể thí nghiệm. Chúng ta không thể thử nghiệm sự sụp đổ hay sự phá sản của một quốc gia. Chúng ta không thể thử nghiệm trên đời sống của một dân tộc để xem cái gì sẽ xảy ra nếu thực hiện chủ nghĩa này hay chính sách nọ, như thế là vô trách nhiệm và cũng có thể là tội ác. Đó là sai lầm to lớn của các chế độ cộng sản. Họ đã đem số phận của các dân tộc để thử nghiệm một chủ nghĩa mà sau này thực tế chứng minh là rất sai.

Lịch sử giúp chúng ta bù lại phần nào sự kiện không thể làm thí nghiệm, một thiếu sót nghiệt ngã trong cố gắng rút ra những kết luận cho tương lai. Cần nhấn mạnh là một phần nào thôi vì các biến cố lịch sử chỉ xảy ra một lần trong khi chúng ta không thể kết luận sau chỉ một lần quan sát. Vả lại các biến cố lịch sử cũng được nhìn và cảm nhận một cách khác nhau ở từng con người tùy góc độ quan sát và kinh nghiệm cá nhân. Như vậy muốn rút ra một bài học lịch sử thì phải cố gắng vượt ra khỏi chính mình để nhìn các biến cố lịch sử dưới nhiều góc khác nhau, so sánh với những biến cố tương tự đã xảy ra trong những điều kiện tương tự tại các nước khác. Và cũng phải phối hợp với những kiến thức mà sự chính xác đã được chứng minh qua thời gian. Rút ra những bài học lịch sử là điều không giản dị chút nào.

Sau sự dè dặt đó và trở lại với câu hỏi được đặt ra, bài học mà tôi chọn để rút ra là một bài học mà đáng lẽ ra chúng ta phải biết mà không cần có biến cố 30 tháng 4-1975 bởi vì nó là một kết luận của tất cả mọi khảo cứu chính trị học, xã hội học và tâm lý học và cũng đã được kinh nghiệm của mọi dân tộc chứng minh. Chúng ta chỉ đã không biết một điều bắt buộc phải biết. Một lý do khác khiến tôi chọn bài học lịch sử này trong rất nhiều bài học lịch sử quan trọng khác là vì, theo nhận xét của tôi, đó là bài học lịch sử mà sau 33 năm chúng ta vẫn chưa hiểu. Đó là đấu tranh chính trị bắt buộc phải có một tư tưởng chính trị và một đội ngũ chính trị. Cuộc chiến vừa qua trước hết là một cuộc đấu tranh chính trị. Nó cũng là lần đầu tiên mà người Việt Nam tàn sát nhau không phải chỉ để tranh giành quyền lực mà còn vì ý thức hệ. Tuyên truyền đã quan trọng hơn các trận đánh, lời nói đã có tác dụng hơn súng đạn.

*

Những năm cuối cùng của tôi ở Paris trước khi về nước cũng là những năm diễn ra hội đàm Paris để giải quyết chiến tranh Việt Nam. Lúc đó tôi lãnh đạo phong trào sinh viên và trí thức Việt Nam ủng hộ chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Ở cương vị này tôi đã được tiếp xúc thường xuyên và một cách thân mật với các yếu nhân VNCH sang tham gia hoặc quan sát hòa đàm Paris. Nói chung họ là những người hiểu biết nhất về chính trị của chế độ này. Khi về Việt Nam phục vụ, ít lâu sau hiệp định Paris, tôi cũng có điều kiện thuận lợi để tiếp xúc và tìm hiểu môi trường chính trị VNCH. Nhận xét rất rõ rệt của tôi là những người cầm vận mệnh miền Nam lúc đó không biết ngay cả những kiến thức cơ bản nhất của đấu tranh chính trị và cũng không thấy cần phải học hỏi gì cả. Họ không phải là một đội ngũ và trong tuyệt đại đa số không phải là những người đấu tranh chính trị dù họ có thể giữ những vai trò chính trị rất quan trọng.

Họ sống co cụm trong một môi trường nhỏ hẹp cách biệt với quần chúng, đa số chỉ có một hiểu biết rất sơ sài về lịch sử và văn hóa Việt Nam, thậm chí ngôn ngữ Việt Nam. (Điều này không có nghĩa là họ nắm vững văn hóa và ngôn ngữ Pháp hoặc Mỹ). Tất cả đều là những người mà sự may mắn hoặc hoàn cảnh tình cờ đặt vào địa vị lãnh đạo trong một thời gian ngắn, tương tự như những nhân viên tạm thời, và không ý thức được rằng mình không thể là một người lãnh đạo. Làm chính trị đối với họ chỉ là quen biết và giao tế. Họ hãnh diện, có khi huênh hoang, tuyên bố là không thuộc đảng nào và không làm chính trị. Kiến thức chính trị của họ, khi có, chỉ là những kiến thức rất đại cương và một vài bài báo. Không một ai có suy tư chiến lược về sự sống còn của chế độ. Tôi cũng không gặp một người nào thực sự tin tưởng vào dân chủ. Chính quyền VNCH là một chính quyền không có nhân sự chính trị, trong khi đó là lý do hiện hữu và điều kiện tồn tại của mọi quốc gia. Tình trạng này đưa tới những yếu kém khó tưởng tượng.

Hãy thử lấy một thí dụ. Tất cả mọi cấp lãnh đạo, dân sự cũng như quân sự, mà tôi có dịp trao đổi đều phục sát đất phe cộng sản là tổ chức tiếp vận giỏi. Họ nói Mỹ dội bom B52 như thế mà “nó” vẫn vận chuyển được đầy đủ vũ khí và lương thực từ hàng ngàn cây số cho một đạo quân đông tới mấy trăm ngàn người. Sự thực thì đảng cộng sản chỉ tiếp vận vũ khí cho lực lượng của họ ở phía Nam mà thôi; còn lương thực, khó vận chuyển gấp nhiều lần so với vũ khí, thì họ mua ngay tại chỗ và bằng vàng. Miền Nam không có mỏ vàng, cũng không ai đem vàng vào Việt Nam mà chỉ có những người đem vàng ra nước ngoài. Vậy mà miền Nam vẫn có rất nhiều vàng và giá vàng thấp hẳn so với thế giới. Vậy ai đem vàng vào Việt Nam nếu không phải lực lượng cộng sản? Đó là một cách tiếp liệu rất thoải mái. Một kilô vàng có thể nuôi một tiểu đoàn đầy đủ quân số trong một tháng. Liên Xô, nước đỡ đầu cho quân đội cộng sản cũng là nước sản xuất vàng số 1 trên thế giới vượt rất xa các nước khác. Khi tôi lý luận như vậy thì mọi người, hành chính cũng như quân sự, đều thấy là rất có lý. Nhưng họ nghe để biết rồi thôi. Đó không phải là việc của họ, dù họ có thể là tướng lãnh hay bộ trưởng. Họ chỉ như những công chức và chỉ lo công việc của họ. Nếu các chính quyền miền Nam ý thức được điều này và có biện pháp đối phó thì chắc chắn quân đội cộng sản đã rất khốn khổ.

Một thí dụ khác là cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân. Quân cộng sản đồng loạt tấn công trên khắp lãnh thổ nhưng chính quyền Sài Gòn bị bất ngờ hoàn toàn, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng, các bộ trưởng và các tướng tá đang vui tết. Thế giới có lý do để khinh thường chế độ VNCH. Chính tôi lúc đó chỉ là một du học sinh tại Paris mà cũng thấy rất xấu hổ.

Đó chỉ là hai thí dụ trong hàng ngàn thí dụ khác. Sở dĩ có những sơ hở kinh khủng như vậy là vì những kết luận chiến lược, và những biện pháp cụ thể để thực hiện chúng, chỉ có thể có được nếu có một đội ngũ lãnh đạo ổn định, gắn bó và quyết tâm để cùng nhau theo dõi các chuyển động, thu thập và phân tích những dữ kiện và rút ra những kết luận. Nhưng VNCH đã chỉ có một lãnh đạo ô hợp không được sàng lọc, không thành đội ngũ, không gắn bó với nhau và do đó không có quyết tâm chung. Trái với một huyền thoại phe cộng sản tuyên truyền rất dở và tổ chức rất luộm thuộm, tình báo của họ cũng rất kém. Nhưng họ là một đội ngũ chính trị và trước mặt họ không có một đội ngũ chính trị nào.

Không phải là những người lãnh đạo VNCH kém. Nếu xét từng cá nhân thì có rất nhiều người giỏi. Trình độ văn hóa nói chung của họ cao hơn hẳn các cấp lãnh đạo cộng sản. Đại đa số trong đời thường cũng là những người lương thiện. Vấn đề là họ chỉ là những cá nhân, không gắn bó trong một tổ chức. Hậu quả là mỗi người lo lấy mình, là chủ nghĩa luồn lách trong đó mỗi người, hay mỗi nhóm bè bạn nhỏ, cố gắng để khôn hơn những người khác, mỗi người chống tất cả, tất cả chống mỗi người. Trong trò chơi không ai có thể tin ai này người tốt cũng thành gian. Và thực tế đã như thế. Nếu miền Nam có một đảng cầm quyền thì tình thế sẽ rất khác. Những người “không làm chính trị” sẽ chỉ có những trách nhiệm chuyên môn, quyền lực chính trị sẽ ở trong tay một đội ngũ của những người gắn bó với nhau trong một số phận và một quyết tâm chung, lấy dân tộc và đất nước làm lý tưởng, coi sự sống còn của VNCH như cuộc chiến đấu của đời mình. Và họ sẽ có bản lĩnh chính trị cao.

Tổ chức là môi trường hội nhập và là sức mạnh, nhưng cũng là một môi trường học hỏi và đào tạo, là nơi sản xuất và sàng lọc ý kiến. Nó cũng tạo điều kiện cho những quyết định và hành động mạnh bạo. Miền Nam không thiếu những người có thể và muốn là thành phần của một đội ngũ như thế, trong đó có những người đã có thể trở thành những cấp lãnh đạo xuất chúng, nhưng họ không có điều kiện để kết hợp với nhau. Kết quả là mặc dù có một khối lượng khổng lồ những người có tiềm năng, kể cả vô số bằng cấp đại học, với những kinh nghiệm để học hỏi hằng ngày, miền Nam vẫn thiếu nhân tài. Các cấp lãnh đạo tài giỏi chỉ có thể đào tạo được trong sinh hoạt tổ chức.

*

Một đặc điểm của các chính quyền quốc gia là không có đảng cầm quyền. Tình trạng này rất không bình thường vì phản ứng tự nhiên trong sinh hoạt chính trị là phải có chính đảng. Ngay trong những thập niên đầu thế kỷ 20 việc đầu tiên của những người muốn đấu tranh giành độc lập là thành lập các đảng. Tại sao lại có tình trạng này? Đó là do một đặc tính bẩm sinh của chính quyền Quốc Gia Việt Nam, sau đổi thành Việt Nam Cộng Hòa. Chính quyền này không do đấu tranh mà có mà chỉ là một bộ máy thuộc địa do người Pháp để lại, và khi để lại họ chuyển giao quyền hành cho những cộng sự viên thân tín và đắc lực nhất của họ, nghĩa là những người không những không quan tâm tới chính trị mà còn thiếu cả ý thức quốc gia dân tộc. Họ không hề biết đến những vấn đề đặt ra cho một quốc gia và cứ tiếp tục làm việc như thường lệ, kể cả coi những người yêu nước như kẻ thù hay ít nhất như những phần tử phải phòng ngừa. Kết quả là họ ngăn cản sự ra đời và phát triển của các chính đảng.

Mẫu người tốt trong các chính quyền quốc gia là mẫu người không có đảng phái và không quan tâm tới chính trị, có bằng cấp cao là tốt, có cha ông làm quan thời Pháp thuộc lại càng đáng tin cậy hơn. Dần dần hình thành một văn hóa chính quyền kỳ lạ trong đó lớp người cầm quyền không bận tâm tới đất nước. Họ cầm quyền như những quan chức ngoại quốc. Một thí dụ: tất cả các bộ trưởng giáo dục đều cho con cái đi học các trường tiểu học và trung học Pháp thay vì trường Việt mà không hề thấy ngượng. Ngô Đình Diệm không hề thay đổi tình trạng này. Ông là người do Pháp đưa lên cầm quyền để tiếp tục một chính quyền do Pháp để lại. Thái độ chống Pháp bề ngoài của ông chỉ là một sự dàn cảnh. Việc đầu tiên ông làm là truy lùng các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt. Sau khi người Mỹ lật đổ ông Diệm, họ đưa lên chính quyền những tướng tá chẳng có một văn hóa nào, chưa nói văn hóa chính trị, phần lớn xuất phát từ quân đội Pháp. Trong một chế độ dân chủ, sinh hoạt chính đảng là cốt lõi. VNCH được tổ chức như một nước dân chủ nhưng lại không có sinh hoạt chính đảng.

Không phải là miền Nam không có đảng phái, ít ra trong mười năm cuối hoạt động đảng phái không bị cấm, nhưng mười năm là một thời gian quá ngắn và bối cảnh cũng không thuận lợi. Hơn nữa các đảng phái cũ đều đã quá suy yếu và lỗi thời vì không đổi mới tư tưởng chính trị, trong khi các chính đảng mới cũng không phát triển được vì cùng một lý do: không có tư tưởng chính trị. Một ngộ nhận vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay trong phe đối lập là người ta cứ đinh ninh rằng có thể thành lập được một chính đảng mà không cần phải có một chủ thuyết chính trị, nghĩa là những định hướng lớn cho đất nước và các chiến lược để thực hiện chúng trong bối cảnh văn hóa, xã hội và lịch sử của mỗi quốc gia. Một chủ thuyết như vậy chỉ có thể là thành quả của một công trình nghiên cứu và suy tư tập thể lâu dài và nhức nhối. Người ta thấy chỉ cần một “chương trình hành động”, và trong hầu hết mọi trường hợp chương trình hành động không khác bao nhiêu so với một bản danh mục rao hàng.

Những người cầm quyền trong phe quốc gia là những người được đưa lên cầm quyền chứ không phải đã giành được chính quyền. Họ đều không có tổ chức. Sau khi đã cầm quyền họ mới khám phá ra sự cần thiết của một đảng cầm quyền. Ông Nhu lập ra đảng Cần Lao, ông Thiệu lập ra đảng Dân Chủ, nhưng đều thất bại. Các chính đảng đúng nghĩa chỉ có thể thành lập được trong đấu tranh khó khăn cho một lý tưởng. Không ai có thể thành lập được một chính đảng đúng nghĩa sau khi đã có chính quyền. Cả ông Nhu lẫn ông Thiệu đã bỏ rơi các đảng vô tích sự mà họ lập ra – để cầm quyền với anh em, họ hàng và bè bạn – trước khi bị đánh đổ. Trước sau các chính quyền quốc gia vẫn có chung một đặc điểm ít được nhấn mạnh dù có thể là độc nhất trên thế giới: đó là những chính quyền không có đảng cầm quyền.

*

Sự kiện những người không thuộc một chính đảng nào được đưa lên cầm quyền và chọn những người không đảng phái làm bộ trưởng là một một điều quái đản xuất phát từ một tật nguyền bẩm sinh của các chính quyền quốc gia. Nó gây tại họa cho đất nước mà họ cai trị và đem lại thất bại cho chính họ, có khi thất bại bi thảm như trường hợp hai ông Diệm và Nhu. Nhưng với thời gian nó đã tạo ra cả một triết lý và một tập quán hoạt động chính trị: chủ nghĩa nhân sĩ. Đó là cách làm chính trị mà không tham gia một chính đảng nào, chỉ cố tạo uy tín cho mình để được biết đến, kể cả cầu cạnh các thế lực ngoại bang, và hy vọng sẽ có lúc thời vận đưa mình lên nắm chính quyền hoặc sẽ có ngày được mời tham chính. Các nhân sĩ cũng có thể không có bất cứ một hoạt động chính trị và một kiến thức chính trị nào nhưng vẫn mong có ngày được làm bộ trưởng, dân biểu, nghị sĩ. Nếu có một di sản của chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà ta phải vứt bỏ một cách không nể nang thì chính là cái chủ nghĩa nhân sĩ này. Tiếc rằng chủ nghĩa nhân sĩ đã ăn rễ quá sâu. Có những người theo chủ nghĩa nhân sĩ mà không ý thức được. Rất nhiều người, trong cũng như ngoài nước, có học thức, có lòng với đất nước, có thiện chí, suy nghĩ lành mạnh và cũng rất muốn dấn thân nhưng không hề thấy nhu cầu phải tham gia một tổ chức chính trị nào cả.

Chủ nghĩa nhân sĩ vẫn còn tiếp tục cho đến nay trong môi trường Việt Nam hải ngoại và là lý do chính giải thích tại sao sau 33 năm chúng ta vẫn chưa có được một tổ chức dân chủ mạnh. Ngoài di sản VNCH cũng còn một lý do quan trọng khác. Đó là sự thiếu văn hóa tổ chức mà những người dân chủ trong nước cũng chia sẻ do hậu quả của một chế độ chuyên chính trong đó mọi kết hợp bị cấm đoán. Nhiều người cũng đã cố gắng thành lập tổ chức (đã có lúc người ta than phiền là có quá nhiều tổ chức chính trị) nhưng rồi đều khám phá ra những khó khăn không ngờ nên hầu như tất cả đều bỏ cuộc và triệt thoái trở lại tập quán nhân sĩ. Thực ra những khó khăn này chỉ không ngờ bởi vì chúng ta thiếu văn hóa chính trị và văn hóa tổ chức mà thôi, chúng chỉ là những vấn đề cổ điển của mọi tổ chức chính trị, hay chính đảng, đã được nghiên cứu kỹ và được trình bày trong nhiều tác phẩm. Thành lập một tổ chức chính trị có bao giờ dễ dàng đâu !

Phân tích các chính đảng không phải là mục đích của bài này. Chỉ xin tóm lược: đấu tranh chính trị bắt buộc phải có một tổ chức mạnh mới có hy vọng thành công; một chính đảng bắt buộc phải được xây dựng trên một tư tưởng chính trị và phải bắt đầu bằng một đội ngũ nòng cốt gắn bó và có bản lĩnh; trong những điều kiện lý tưởng nhất xây dựng một chính đảng cũng đòi hỏi ít nhất một hai thập niên. Xây dựng một chính đảng rất khó nhưng là điều kiện bắt buộc, nếu không thì hoạt động chính trị chỉ là vô ích, có thể còn có hại.

Theo tôi đó là bài học quan trọng nhất cần được rút ra từ biến cố 30 tháng 4-1975, một bài học mà đáng lẽ chúng ta đã phải biết mà không cần có biến cố này vì đó chỉ là một kiến thức cơ bản phải có ngay trong phản xạ của những người hoạt động chính trị. Ngày 30 tháng 4 đã chỉ nhắc lại sự thực hiển nhiên này, một cách rất tàn nhẫn. Những nạn nhân oan ức nhất chính là những quân nhân, công chức và cán bộ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Trong đại đa số họ là những người yêu nước, dũng cảm và đầy khả năng, một số đông đảo có tiềm năng lớn. Nỗi oan nghiệt của họ là đã không có được một lãnh đạo đúng nghĩa. Họ không đáng phải chịu số phận mà ngày 30-4-1975 đã dành cho họ.

Cũng xin được chia sẻ một bài học cá nhân bởi vì nó cũng là một bài học nhỏ trong bài học lớn này. Cho tới ngày 30-4-1975 tôi là một viên chức khá cao cấp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã chứng kiến đoàn quân cộng sản chiến thắng tràn vào Sài Gòn. Sự hân hoan và hãnh diện của họ chỉ có thể so sánh được với thất vọng và tủi nhục của tôi. Tôi nghe như có tiếng nói từ trong lòng mình: “thà làm lính trong một đạo quân chiến thắng còn hơn làm tướng trong một đạo quân chiến bại”. Tôi vẫn hiểu và hành động như thế, nhưng lúc đó tôi hiểu một cách thấm thía lạ lùng. Hình như vẫn còn rất nhiều người chưa hiểu như thế, thậm chí còn nghĩ ngược lại.

*

Chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nếu kể cả tiền thân của nó là Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại, cũng đã chỉ tồn tại được 27 năm và đã sụp đổ từ 33 năm rồi. Trong suốt cuộc sống ngắn ngủi đó, dù đã có rất nhiều người yêu nước và dũng cảm bỏ mình dưới lá cờ của nó, nó chưa bao giờ là một nhà nước Việt Nam đúng nghĩa. Nó do Pháp lập ra và cáo chung khi bị Mỹ bỏ rơi. Nó chưa bao giờ kiểm soát được cả lãnh thổ Việt Nam và cũng chưa bao giờ có được một lãnh đạo đúng nghĩa. Nó cũng là một chế độ rất tham nhũng, dù không tham nhũng bằng chế độ cộng sản hiện nay. Những người dân chủ và yêu nước không có lý do gì để thương tiếc chế độ này, càng không có lý do để lấy nó làm biểu tượng của cuộc đấu tranh vì dân chủ. Trong một giai đoạn, từ 1948 đến 1975, nó đã là một chọn lựa bất đắc dĩ để ngăn chặn sự thiết lập một chế độ cộng sản tại Việt Nam. Đó là một hợp đồng. Hợp đồng đó là tạm thời chịu đựng cái tồi dở để ngăn chặn cái độc hại. Nhưng cái tồi dở đã quá tồi dở và chúng ta đã không ngăn chặn được cái độc hại. Như vậy hợp đồng VNCH đã hoàn toàn chấm dứt. Cuộc vận động dân chủ hiện này là một cuộc đấu tranh hoàn toàn khác. Rút ra những bài học từ kinh nghiệm VNCH chỉ có ý nghĩa nếu có ích cho cuộc đấu tranh mới này. Bài học mà tôi đã chọn vẫn còn rất thời sự. Đáng buồn.

Nguyễn Gia Kiểng (30-4-2008)

 ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC, CÁCH MẠNG GIÁO DỤC LẦN THỨ NHẤT

May be an image of standing and text

 ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC, CÁCH MẠNG GIÁO DỤC LẦN THỨ NHẤT

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Cách đây 110 năm (1907-2017), một số nhà trí thức yêu nước tiên tiến đã thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) tại Hà Nội, khởi đầu một phong trào yêu nước chống phong kiến chống thực dân với tính chất hoàn toàn mới chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam. Ở đây, Nghĩa thục là trường tư thục (do tư nhân mở) vì nghĩa, tức vì lợi ích chung, không vì tư lợi, không thu tiền của người học. Đông Kinh là tên thành Thăng Long thời Hồ Quý Ly, tức Hà Nội hiện nay, địa điểm đặt trường.

ĐKNT do một nhóm sĩ phu Bắc Hà đồng sáng lập: Lương Văn Can (Thục trưởng, tức Hiệu trưởng), Nguyễn Quyền (Giám học) và Lê Đại, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Kỳ, Dương Bá Trạc, Vũ Hoành v.v… Họ đều là các nhà Nho, trong đó cử nhân Dương Bá Trạc mới 23 tuổi, cử nhân Nguyễn Hữu Cầu 28 tuổi, nhiều tuổi nhất là Lương Văn Can 53 tuổi.

Do có cùng chí hướng và nhận thức, lại tiếp thu trào lưu duy tân từ Nhật Bản, Trung Quốc và tư tưởng tiên tiến của hai nhà đại cách mạng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, nên họ đã tự tìm đến với nhau họp bàn và nhất trí chủ trương noi gương Nhật Bản, trước hết mở trường dạy cho đông đảo đồng bào các kiến thức cần thiết nhất để làm cho dân giàu nước mạnh, cuối cùng tiến tới mưu đồ sự nghiệp giải phóng đất nước. Hai cụ Phan có liên hệ chặt chẽ với nhóm này. Do từng thăm trường Khánh ứng Nghĩa thục (Keio Gijuku, lập năm 1868) của Fukuzawa Yukichi ở Tokyo nên hai cụ rất hiểu tác dụng của giáo dục quốc dân đối với việc thực hiện “quốc phú binh cường” (nước giàu, quân mạnh) ở nước Nhật. Vì thế các cụ đã gợi ý nhóm sĩ phu nói trên lập ra ĐKNT.

Theo tài liệu do ĐKNT biên soạn thì đây là trường học đầu tiên được lập ở Việt Nam: “Nước Nhật Bản chỉ có 43 huyện mà có đến 26.824 trường tiểu học. Nước ta hơn 30 tỉnh, hơn 500 huyện mà chưa nghe ai nói tới mở trường. Than ôi! Chẳng phải là đáng giận lắm sao?”[1] Thực ra nước ta ngày ấy tuy chưa có trường học theo nghĩa có trường sở, có bộ máy tổ chức quản lý và giảng dạy, đào tạo học sinh theo một chương trình nhất định, nhưng cũng có không ít cơ sở giảng dạy văn hóa Nho giáo như các lớp học tại gia của thầy đồ. Cơ sở lớn nhất là Quốc tử Giám Văn Miếu, được gọi là “trường đại học đầu tiên”. Nhưng mọi hoạt động giáo dục thời xưa chỉ nhằm đào tạo người làm quan, như đạo Khổng dạy: Học nhi ưu tắc sĩ (Học giỏi thì ắt làm quan). Về sau, từ cuối thế kỷ XIX, Thống sứ Trung Bắc lưỡng kỳ Paul Bert (nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục Pháp) bắt đầu mở một số trường tiểu học Pháp-Việt nhằm đào tạo người làm việc cho thực dân Pháp. Nhưng một trường học kiểu ĐKNT thì đúng là nước ta chưa từng có (kể cả hiện nay)!

ĐKNT khai giảng tháng 3/1907 tại Hà Nội, hai tháng trước khi có giấy phép của chính quyền cai trị. Trường không thu học phí, các tài liệu giảng dạy và tuyên truyền đều phát không cho học viên, hơn nữa còn phát hành trên cả nước. Ai muốn học đều được nhận, bất kể già trẻ gái trai, kể cả nhà Nho muốn học tiếng Pháp. Kinh phí hoạt động dựa vào sự đóng góp tùy tâm của dân; giáo viên thời gian đầu không lĩnh lương. Bộ máy nhà trường gồm 4 ban: Giáo dục (mở lớp và giảng dạy), Tu thư (soạn tài liệu giảng dạy và tuyên truyền), Cổ động (tuyên truyền), Tài chính (lo kinh phí). Trường dạy các môn: Quốc ngữ, chữ Hán (chỉ để đọc tân thư), tiếng Pháp, các thường thức về xã hội, lịch sử, địa dư, chính trị, kinh tế, quyền công dân. Nhà trường có một cơ quan ngôn luận riêng là tờ Đại Việt Tân báo; một thư viện nhiều sách báo với thủ tục cho mượn là chỉ cần đọc xong thì trả lại; một hòm thư trưng cầu ý kiến nhân dân đóng góp xây dựng trường… Với hình thức tổ chức như vậy, ĐKNT đúng là một trường học tiên tiến chưa từng có trong lịch sử nước ta, Trung Quốc thời ấy cũng chưa có.

ĐKNT đặc biệt chú trọng việc biên soạn tài liệu giảng dạy, tuyên truyền. Các lớp bậc cao dùng ngay tân thư Nhật Bản và Trung Quốc (chủ yếu do TQ dịch từ sách Nhật) để giảng dạy, vì học viên đã biết chữ Hán nên có thể trực tiếp đọc sách. Các lớp dưới dùng sách quốc ngữ hoặc chữ Hán do trường biên soạn. Văn thơ của các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền…cũng được dùng để giảng dạy. Nội dung các tài liệu nói trên đều nhằm nâng cao lòng yêu nước, đả phá nền cựu học khoa hoạn phong kiến cùng lối sống cũ, đề xướng tân học cùng lối sống mới, học văn minh phương Tây, học chữ Quốc ngữ và khoa học kỹ thuật, chấn hưng kinh tế …

Hội quán ĐKNT (mới đầu ở nhà số 4 phố Hàng Đào) treo một bản đồ tổ quốc cỡ lớn chưa từng thấy nhằm khích lệ lòng yêu nước một cách trực quan, cảm tính. Đồng bào rủ nhau đến xem rất đông, ai cũng xúc động vì hầu như đây là lần đầu tiên họ được biết hình dạng tổ quốc mình trên trái đất. Một số tài liệu nhà trường phát không cho học viên có nội dung vạch tội ác của thực dân Pháp, kêu gọi đồng bào đứng lên cứu nước. Như “Hải ngoại Huyết thư” của Phan Bội Châu được Lê Đại dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt, chuyển thành thể thơ song thất lục bát có vần điệu rất hay, dễ nhớ dễ truyền khẩu, hầu như cả nước ai cũng thuộc lòng. Những câu như

Đội trời đạp đất ở đời

Sinh ra Nam quốc là người trượng phu

Ai cũng bụng phục thù báo quốc

Thấy giống người nước khác ai ưa?

Cớ sao ngày tháng lần lừa

Rụt rè như thế, đợi chờ ngóng trông?

Lẽ vinh, sỉ, có hai đường ấy

Anh em ta đã nghĩ cho chưa?

Gió tanh xông mũi khó ưa

Gươm sao cắp nách mà ngơ cho đành

Hòn máu uất chất quanh đầy ruột

Anh em ơi, xin tuốt gươm ra!…

Cờ độc lập xa trông phấp phới

Kéo nhau ra đòi lại nước nhà![2]

sao mà kích động lòng người, như tiếng trống trận thúc dục họ đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm, giải phóng tổ quốc!

Với nội dung hoạt động như vậy, ĐKNT lập tức được nhân dân ta vốn giàu lòng yêu nước và hiếu học hăng hái hưởng ứng, ủng hộ. Số học viên từ khoảng dăm chục lúc đầu sau vài tháng lên tới mấy nghìn, và tiếp tục tăng dần. Nhiều nhà trí thức Nho học và Tây học tự nguyện tham gia giảng dạy, như hai nhà Tây học nổi tiếng nhất hồi ấy là Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn giúp dạy tiếng Pháp. Cụ Phan Châu Trinh từ Quảng Nam ra Hà Nội diễn thuyết tuyên truyền cho ĐKNT. Đồng bào các giới nô nức góp tiền của cho trường, có lúc nhiều tới mức thu không xuể. Nhân sĩ khắp ba kỳ kéo nhau đến xem trường, ai nấy đều hồ hởi hoan nghênh, ủng hộ. Thời gian đầu bọn Pháp cũng không ngăn cấm mà còn phỉnh phờ. Phong trào lan ra nhanh chóng. Sĩ phu ở một số tỉnh tự động lập phân hiệu của ĐKNT. Bà con ta truyền nhau mấy câu thơ:

Trường Nghĩa thục đứng đầu dạy dỗ

Khắp ba mươi sáu phố Hà thành

Gái trai nô nức học hành

Giáo sư tám lớp, học sinh non ngàn.

Buổi diễn thuyết người đông như hội

Kỳ bình văn khách tới như mưa.

Trong hoàn cảnh hồi ấy, khi tất cả các cuộc nổi dậy chống Pháp đều bị kẻ địch dìm trong biển máu, lối thoát cho công cuộc giải phóng dân tộc ta rõ ràng chưa thể là khởi nghĩa vũ trang, mà là chuẩn bị lực lượng quần chúng: trau dồi cho đông đảo đồng bào lòng yêu nước và các kiến thức cần thiết nhất để đổi mới xã hội về mọi mặt kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, làm cho dân giàu nước mạnh. ĐKNT chọn giáo dục quốc dân làm biện pháp chuẩn bị lực lượng cách mạng là sự lựa chọn sáng suốt hồi ấy. Gây dựng được phong trào đông đảo quần chúng hăng hái học tập như thế thật là việc chưa từng có trong lịch sử nước ta.

ĐKNT trước hết tập trung vào chủ đề giáo dục. Nền giáo dục nước ta xưa nay rập khuôn TQ “đặt đạo đức lên đầu, xem trí năng là thứ yếu, cho nên không nói tới giáo dục quốc dân … Chỉ những ai có chí làm công khanh, đại phu mới đi học, chớ không phải là giáo dục quốc dân nhằm phổ biến rộng rãi trong dân chúng, mà là định phân trên dưới, giữ gìn lễ phép. Đường lối giáo dục quốc dân không phải như thế, mà là làm rõ cái lý tương quan giữa nước với dân, sao cho họ biết vị trí của họ trong xã hội, chức phận ra sao, và làm thế nào để gây ý thức ái quốc ái quần, bồi dưỡng tài năng tự trị, tự lập… Một nước không có giáo dục quốc dân thì trăm họ u mê, không biết quốc gia, chính trị là gì.”[3] ĐKNT kêu gọi:

Liệu mà sớm bảo nhau đi

Giàu thì giúp của, nghèo thì gắng công

Khăng khăng ghi lấy một lòng

Sang Âu, sang Mỹ học tòng nghề hay

Bao nhiêu nghề khéo nước ngoài

Học sao cho được hơn người mới nghe

Bấy giờ rồi liệu trở về

Mở trường trong nước lấy nghề dạy nhau.[4]

Nghĩa là ĐKNT muốn làm cuộc cách mạng về đối tượng, mục đích và phương thức giáo dục: từ chỗ chỉ giáo dục một số ít người chuyển sang giáo dục số đông dân chúng; từ chỗ chỉ đào tạo người làm quan chuyển sang đào tạo người làm công dân, từ giáo dục tự nguyện sang giáo dục bắt buộc; từ chỉ học trong nước sang đi học nước ngoài. Nền giáo dục cũ đều dùng chữ Hán, một thứ chữ rất khó học, chỉ một số cực ít người muốn làm quan và có điều kiện mới chịu học. Kiến thức họ được học toàn là các kinh điển Nho giáo, văn chương cổ lỗ có từ hàng nghìn năm trước, xa rời thực tế xã hội, không ích gì cho phát triển kinh tế, chính trị, KHKT, nâng cao đời sống của dân. Hậu quả là các nhà Nho vô dụng lại làm quan cai trị dân. Chính vì thế mà dân ngu nước yếu, không chống nổi ngoại xâm. Đã vậy giới hủ nho lại mù quáng tôn vinh văn minh Nho giáo cổ hủ, tự cao tự đại, khinh thường mọi thứ của người Tây, như văn minh phương Tây, chữ Quốc ngữ (do các giáo sĩ người Âu làm ra), KHKT và văn minh vật chất. Các yếu nhân ĐKNT tuy vốn là nhà Nho song do tiếp thu được tư tưởng duy tân từ Nhật và TQ nên họ thấy rõ muốn dân giàu nước mạnh thì trước hết phải nâng cao dân trí, tức tiến hành giáo dục quốc dân nhằm thực thi “Khai dân trí” – nội dung đầu tiên trong phương châm cách mạng Việt Nam thời ấy “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” do Phan Châu Trinh nêu ra.

Muốn mở dân trí, phải kiên quyết đả phá nạn hủ nho. “Cáo hủ lậu văn” của ĐKNT viết: “Ôi! các bố, có óc thông minh, ở làng cao sang, đọc sách hiền triết, làm mẫu da vàng! Đương lúc này nghe thấy mới lạ, cuộc đời mở mang, sao không ra tay cứu vớt người chìm đắm, đánh thức kẻ mơ màng! Tại hại thay hủ thư! Đục nát bét các bố! Đau đớn thay hủ nho! Làm các bố lầm lỡ!”

Muốn phổ cập giáo dục thì phải dùng chữ Quốc ngữ. “Văn minh Tân học sách” – cuốn sách có tính cương lĩnh của ĐKNT viết: “Người trong nước đi học nên lấy chữ Quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên để trong một thời gian vài tháng, đàn bà trẻ con đều biết chữ và có thể dùng … Đó thực là bước đầu tiên để mở mang trí khôn vậy.” Đúng là nhờ biết chữ Quốc ngữ mà tư duy, trí tuệ của người Việt được giải phóng, mở mang, tiến những bước nhảy vọt hơn hẳn mấy nghìn năm trước. Không có chữ Quốc ngữ thì các tư tưởng tiên tiến của ĐKNT sao có thể đến được quần chúng nhân dân. Mười năm sau (1917), học giả Phạm Quỳnh đưa ra nhận định: chữ Quốc ngữ là công cụ giải phóng trí tuệ người Việt.

Làm cho dân ta chấp nhận một loại chữ viết mới thay cho chữ Hán quen dùng hàng nghìn năm là một cuộc cách mạng lớn về văn hóa giáo dục. Hầu hết người trí thức ở ta ngày ấy chỉ biết chữ Hán, thứ chữ viết bằng bút lông có vẻ cao sang. Giới hủ Nho tẩy chay và chê bai chữ Quốc ngữ viết bằng ngòi bút sắt là thứ chữ “mọi rợ”, “ngoằn ngoèo như con giun”. Sử gia Chương Thâu đánh giá: với việc thực hiện dạy chữ Quốc ngữ, ĐKNT đã tiến xa hơn các nhà duy tân TQ chỉ hô hào bỏ khoa cử và lối văn tám vế (bát cổ) nhưng vẫn giữ cổ văn, cho tới năm 1917 mới đề nghị dùng bạch thoại.

ĐKNT đề xướng học không vì bằng cấp, “chỉ cốt học để làm người dân, chứ không học lối từ chương khoa cử (bản copy là “khoa xử”-TB), là cái di độc ngày xưa còn lại, lúc bấy giờ chúng tôi ghét lắm.” (lời giám học Nguyễn Quyền). Sử gia Chương Thâu nhận xét: Lần đầu tiên trong lịch sử, ĐKNT đã thành công tách rời thi cử ra khỏi giáo dục. ĐKNT hô hào: “Thiếu niên chúng ta phải ra sức học cái hữu dụng, chớ để cái học khoa cử phá hỏng chí hưởng của mình.” Nếu cứ học theo lối cũ “thì nước ta sẽ không đời nào hưng thịnh được.”[5]

ĐKNT dạy cho dân biết các kiến thức hiện đại, tiên tiến về chính trị, kinh tế, xã hội mà người Việt Nam chưa từng nghe nói. Chỉ cần điểm qua tên một ít bài trong số 79 bài trong sách “Quốc dân độc bản” (Sách dùng để quốc dân đọc) là đủ thấy điều đó: – Quan hệ giữa nước với dân; – Nỗi bi thảm của quốc gia không được độc lập; – Lòng yêu nước; – Độc lập; – Cạnh tranh; – Chính thể; – Bàn về cái hại của khoa cử; – Thuế khóa; – Pháp luật; – Nước ta nên chấn hưng thực nghiệp; – Máy móc; – Ích lợi của đại công nghiệp; – Tiền công; – Tư bản; – Nhà đại tư bản cũng có ích cho người nghèo; – Thương mại; – Tiền tệ; – Trái phiếu, hối phiếu; – Séc; – Công ty; các bài viết về nước Nhật (chính thể, giáo dục…).

Sách “Luân lý giáo khoa” có các chương nói về nghĩa vụ của quốc dân với tổ quốc, gia đình, bản thân, xã hội, với nhân loại. Từ “quốc dân” ở đây chính là từ “công dân” ta dùng bây giờ, là người dân có các quyền lợi và nghĩa vụ nhất định đối với quốc gia của mình, khác với “thần dân” là người dân chịu sự cai trị của triều đình phong kiến, phải tuyệt đối phục tùng chính quyền, không có quyền lợi gì hết (trong chữ Hán “thần” nghĩa là nô lệ).

Khác hẳn nền cựu học chỉ dạy học sinh thuộc lòng thứ văn chương cao sang khó hiểu viết từ mấy nghìn năm trước, các tài liệu giảng dạy của ĐKNT thường viết dưới dạng thơ ca dễ hiểu dễ học dễ nhớ. Sách “Quốc văn tập đọc” có 19 bài ca như: khuyên học chữ Quốc ngữ, khuyên yêu nước, khuyên họp đàn, mẹ khuyên con, răn người uống rượu, răn người đánh bạc…“Bài ca khuyên người đi tu” viết:

Phen này cắt tóc đi tu

Tụng kinh Độc lập, ở chùa Duy tân

Đêm ngày khấn vái chuyên cần

Cầu cho ích quốc lợi dân mới là…

“Bài vợ khuyên chồng” viết:

Anh làm sao cho ích nước lợi nhà

Mọi nghề tân học ắt là phải thông

Anh làm sao cho nổi tiếng Lạc Hồng

Có khôn mới đứng được trong cõi đời.

Điểm qua vài nét kể trên, có thể thấy ĐKNT đã thực sự làm một cuộc cách mạng giáo dục đầu tiên, với quy mô lớn và tính chất tiên tiến chưa từng thấy trong lịch sử nước ta. Xét tổng thể, ĐKNT không chỉ là một trường học mà thực chất là cả một phong trào cách mạng yêu nước nhằm mục đích giải phóng xã hội và dân tộc khỏi ách phong kiến thực dân.

Thực dân Pháp đã thấy ngay các hoạt động của ĐKNT đe dọa lật đổ ách thống trị của chúng. Vì thế ĐKNT chỉ hoạt động được 9 tháng đã bị chính quyền Pháp ra lệnh đóng cửa và tàn bạo đàn áp. Chúng bắt giam nhiều yếu nhân ĐKNT, kết án họ từ 5 năm tù đến chung thân, tử hình và đày ra Côn Đảo nhằm cách ly với đồng bào. Các tài liệu của ĐKNT đều bị tiêu hủy, ai tàng trữ sẽ bị tù; vì thế cho nên hiện còn rất ít tài liệu để tham khảo. Tuy vậy, ảnh hưởng của ĐKNT vẫn tiếp tục lan ra khắp nơi, khêu gợi lòng yêu nước trong toàn dân, chuẩn bị lực lượng cho các phong trào đấu tranh chống Pháp về sau.

Cao trào yêu nước ĐKNT chứng tỏ Việt Nam là nước châu Á đầu tiên đi theo con đường Duy tân của Nhật, tiếp thu văn minh phương Tây, dùng biện pháp giáo dục quốc dân để nâng cao dân trí, cải cách xã hội, tiến tới thực hiện dân giàu nước mạnh. Cuộc cách mạng giáo dục do ĐKNT tiến hành đã viết nên một trang sáng ngời trong lịch sử giáo dục nước ta.

Phong trào yêu nước ĐKNT vẻ vang như thế lẽ ra phải được tôn vinh, ca ngợi xứng tầm để có thể làm dân tộc này kiêu hãnh ngẩng cao đầu, nhưng không rõ vì sao lâu nay dường như đang bị dư luận chính thống ở ta quên lãng dần. Đây thật là điều vô cùng đáng tiếc. Mong sao các thế hệ sau sẽ sửa được sai lầm này!

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.

Hình: Lớp học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: Vietnamnet.

—————-

[1] Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục. Nhà XB Văn hóa, Hà nội 1997.

[2] Lê Đại, con người và thơ văn. Chương Thâu và Tôn Long. NXB Văn hóa thông tin. Hà nội, 2001.

[3] Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục.

[4] Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX. Chương Thâu. NXB Hà Nội, 1997.

[5] Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục.

Hơn 60% người già ở Việt Nam không có lương hưu và trợ cấp xã hội

Hơn 60% người già ở Việt Nam không có lương hưu và trợ cấp xã hội

Apr 15, 2021 

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Trong số 13.4 triệu người già thì có khoảng 64.4% không có lương hưu và trợ cấp, phải sống dựa vào người thân hoặc tiếp tục tìm cách mưu sinh khi tuổi đã cao, mang trong mình nhiều bệnh tật.

Báo VNExpress cho hay sáng 15 Tháng Tư, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội phối hợp với Trường Đại Học Justus Liebig Giessen (Đức) công bố phúc trình quốc gia “Việt Nam-một xã hội đang già hóa.”

Rất nhiều người già làm nghề nhặt rác trên phố Hà Nội để mưu sinh. (Hình: Ngọc Thành/VNExpress)

Theo Phó Giáo Sư Nguyễn Tuấn Anh, phó Khoa Xã Hội Học, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội, vấn đề đáng lo ngại nhất với tình trạng già hóa dân số ở Việt Nam là hiện phần lớn người cao tuổi vẫn đang phải làm việc để tự tạo thu nhập.

“Gần 46% người từ 60 đến 64 tuổi; gần 30% người từ 70 đến 79 tuổi và 10% người hơn 80 tuổi vẫn phải lao động để kiếm sống,” ông Tuấn Anh cho biết.

Nếu dựa trên “chuẩn nghèo quốc gia” thu nhập dưới 1 triệu đồng ($43) mỗi người/tháng ở nông thôn và dưới 1.3 triệu đồng ($56) ở thành thị, thì hiện Việt Nam có 16% người trên 60 tuổi thuộc diện nghèo.

Năm 2019, trong số 13.4 triệu người cao tuổi thì chỉ có 23.5% được hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng từ nguồn ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội. Trong khi đó, 64.4% người cao tuổi không có lương hưu và trợ cấp.

“Nghĩa là những người này phải sống dựa vào con cháu, gia đình, họ hàng hoặc phải tiếp tục đi làm để mưu sinh,” ông Tuấn Anh phân tích.

Kể với báo Lao Động, bà Trần Thị Biền (64 tuổi, ở xã Vũ Vinh, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình) cho biết bà về hưu trước năm 1993, trước đây bà nghe theo lời kêu gọi đi xây dựng kinh tế mới, bà rời quê hương, lên Tuyên Quang làm tại một công ty lâm nghiệp thuộc nhà nước. Công việc của bà rất vất vả, phải trực tiếp khai thác nứa, gỗ ở rừng.

Làm việc được 16 năm, do sức khỏe suy giảm không thể tiếp tục nên đến năm 1991, bà Biền phải về hưu trước tuổi. Trải qua nhiều lần tăng lương, hiện nay mức lương hưu của bà chỉ là 2.2 triệu đồng ($95)/tháng, khiến bà không đủ trang trải cho cuộc sống của một người già mang nhiều bệnh tật.

“Tôi thấy mức lương hưu của mình là thấp, không đủ để trang trải cho bản thân khi về già. Mỗi khi ốm đau phải vào viện là các con phải phụ giúp. Tôi khá lo lắng khi không có khoản tiền phòng thân, nhất là khi sức khỏe của mình ngày càng suy giảm. Như nhiều người khác cùng cảnh, tôi muốn mức lương hưu của mình cao hơn để bảo đảm cuộc sống khi về già,” bà Biền nói.

Bà Biền chỉ là một trong số rất nhiều người già về hưu trước năm 1993 có mức lương hưu thấp. Theo thống kê của Bộ Lao Động  Thương Binh và Xã Hội, số người hưởng lương hưu trước 1993 hiện nay ở Việt Nam là hơn 592,000 người.

Giáo Sư Tiến Sĩ Phạm Quang Minh, trưởng bộ môn Nghiên Cứu Phát Triển Quốc Tế, đề cập đến tình trạng Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng, nhưng bắt đầu “già hóa dân số” từ năm 2019 với 10.4 triệu người hơn 65 tuổi, chiếm 7.7% dân số. Trong khi đó, các nước trên thế giới thường có tốc độ “già hóa dân số” chậm hơn, như Thụy Điển 85 năm, Úc 73 năm, Ba Lan 74 năm, Trung Quốc 27 năm…

“Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng thời kỳ dân số vàng chưa qua, dân số già đã ập tới, là quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Khoảng thời gian để tăng tỷ trọng người già từ 7% lên 14%, dự báo chỉ trong hai thập kỷ (2015-2035). Đáng lo là khác với nhiều nước, Việt Nam ‘già hóa dân số’ trước khi giàu. Đây là thách thức rất lớn,” ông Minh nhận xét.

Nhiều người về hưu có mức lương rất thấp đang phải sống rất khó khăn, chật vật khi tuổi đã cao. (Hình: T.Đ/Lao Động)

Thách thức khác với các nhà làm chính sách ở Việt Nam là nhiều người già đang mắc các bệnh không lây nhiễm như tiểu đường, cao huyết áp… Vì vậy, phúc trình khuyến nghị Việt Nam “cần xây dựng các chính sách để thích ứng với thời kỳ dân số già,” qua đó giúp người già có thể tự lo được cuộc sống.

Phó Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Đức Vinh, viện trưởng Viện Xã Hội Học, nêu dự báo giai đoạn đến năm 2035, cứ hai người trong độ tuổi lao động ở Việt Nam sẽ phải “gánh” không quá một người ngoài tuổi lao động. Nhưng sau năm 2035, cứ bốn người trong độ tuổi lao động phải “gánh” đến ba người.

Trong 10 năm qua, dân số Việt Nam tăng 11 triệu người, đồng thời số người già tăng gần bốn triệu. Đây là mức tăng dân số già rất cao so với các nước trong khu vực.

Việt Nam hiện có 11.4 triệu người hơn 60 tuổi, chiếm gần 12% dân số. Chỉ số già hóa tăng từ 36% năm 2009, lên gần 49% năm 2019. Từ năm 2026, tỷ trọng người trên 65 tuổi sẽ chiếm hơn 10% và Việt Nam “chấm dứt cơ cấu dân số vàng tồn tại từ năm 2007, bước vào thời kỳ dân số già.” (Tr.N) 

Lê Chí Thành, 38 tuổi, cựu đại úy công an vừa nộp hồ sơ ứng cử đại biểu QH bị bắt với cáo buộc “chống người thi hành công vụ.

 

*** Lê Chí Thành, 38 tuổi, cựu đại úy công an vừa nộp hồ sơ ứng cử đại biểu QH bị bắt với cáo buộc “chống người thi hành công vụ.” ***

– Càng ngày càng có nhiều thanh niên trẻ , thậm chí là những cựu đảng viên, nhìn thấy sự thối nát của nhà nước cầm quyền, thức tỉnh, bắt đầu chống lại chế độ CS , họ không phải là người của VNCH củ, họ là con cháu của HCM.

Được biết Ông Lê Chí Thành, 38 tuổi, cựu đại úy công an từng nhiều lần lên tiếng trên Facebook về tệ tham nhũng trong ngành công an .

Truyền thông Việt Nam loan tin ông Lê Chí Thành bị bắt sau khi cảnh sát giao thông phát hiện lái xe “không có giấy đăng ký hợp lệ” trên xa lộ Hà Nội, ở quận Thủ Đức. Báo Công an Thành phố cho biết ông Thành “có hành vi cản trở lực lượng chức năng làm nhiệm vụ” khi xe của ông bị cẩu đi.

Nhiều người trên mạng xã hội bày tỏ thắc mắc tại sao nhà của ông Thành ở quận 12 bị an ninh khám xét sau vụ “vi phạm giao thông” ở Thủ Đức.

Nhà hoạt động Bùi Tuấn Lâm hôm 14/4 viết trên Facebook: “Hôm nay, cựu đại uý Lê Chí Thành bị bắt vì tội chống người thi hành công vụ, nhưng đó chỉ là cái cớ họ chụp mũ cho anh. Thật sự anh bị bắt vì là cái gai trong mắt ngành công an lâu nay, do tố cáo giám thị trại giam và những tiêu cực trong ngành công an.”

“Bản thân tôi nghĩ một người như anh ấy trước sau gì cũng sẽ bị bắt vì những việc làm, lời nói, và hành động của anh rất thiết thực và đụng chạm đến lợi ích của ngành công an.

“Cái nguy hiểm luôn chực chờ anh ấy, nhiều khả năng là người ta tìm cách này hay cách khác để bắt anh ấy thôi.”

Luật sư Lê Quốc Quân ở Hà Nội viết trên Facebook: “Chiều nay 14/4, cựu đại uý Lê Chí Thành, người đã rất nổi tiếng về việc chống tham nhũng trong ngành công an và là người đã “đốt quân phục, bằng cấp”, đã bị công an Tp. Thủ Đức bắt về hành vi “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015.”

“Theo như những video tôi thường được xem của anh Thành quay gần đây thì anh chỉ thực thi quyền “giám sát” theo luật định đối với các CSGT. Thế nhưng ai cũng biết rằng, việc giám sát đó chắc chắn ảnh hưởng đến “bánh mì” của các “đồng chí,”” Luật sư Lê Quốc Quân nhận định.

Trong một livestream hôm 9/3, ông Lê Chí Thành nói rằng ông vừa đến Sở Nội vụ Thành Hồ nộp hồ sơ “ứng cử đại biểu QH” khóa XV.

Trong một livestream khác hôm 13/4 với nhan đề “Lê Chí Thành bị đuổi khỏi thành phố”, ông cho biết công an đã nhiều lần sách nhiễu và kiểm tra hành chính đối với ông.

Báo Công an Thành phố cho biết ông Lê Chí Thành thường xuyên livestream trên mạng xã hội, “có nhiều nội dung xuyên tạc, bôi nhọ, cản trở lực lượng chức năng thực thi công vụ.”

TL – VOA.

Sài Gòn : FB “Duy Quách” bị tuyên 4 năm tù và 6 tháng tù giam.

Hoa Lys  is with Võ HongLy

15.04.2021

Sài Gòn : FB “Duy Quách” bị tuyên 4 năm tù và 6 tháng tù giam.

Sáng nay, 15/04/2021, TAND quận Tân Phú đã tuyên xử anh Quách Duy, sinh năm 1982, ngụ tài Sài Gòn, 4 năm 6 tháng tù về cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.”

Theo cáo trạng của nhà cầm quyền CSVN, anh Quách Duy đã đăng tải những bài viết xác định chính kiến của mình trên trang FB cá nhân và được cho là xúc phạm đến ông Trần Đại Quang, ông Nguyễn Tấn Dũng…

Nguồn : https://m.plo.vn/…/bi-cao-quach-duy-bi-phat-4-nam-6…

Tôi đi tìm một cuốn sách để giúp mình nuôi hy vọng

Tôi đi tìm một cuốn sách để giúp mình nuôi hy vọng

Tương lai lúc nào cũng tối. Thay đổi không phải là đi đến tiệm tạp hóa rồi quay về nhà.

 13/04/2021

By  NGUYÊN SA

Ảnh minh họa: Fanatic Studio/ Getty Studio.

  Nếu bạn là người quan tâm đến chuyện tạo ra thay đổi ở Việt Nam, thời gian vừa rồi hẳn là tăm tối.

Ở Ba Đình, Quốc hội khóa cũ họp để hoàn tất một mục tiêu gọi là kiện toàn bộ máy. Sau tấm màn che, quyền lực thay đổi, một nội các mới hình thành. Chẳng người dân nào biết đấy là đâu. Trong khi đó, người dân được kêu gọi thực hành quyền và nghĩa vụ của mình sau hơn một tháng nữa, để chọn ra những người đại diện cho họ. Những đại diện đó sau khi được bầu ra làm nốt vai trò lịch sử: tán thành phương án kiện toàn của những người tiền nhiệm. Mọi người ai ngồi yên chỗ nấy, chuyện đâu vào đấy.

Trên khắp đất nước, có những người quyết định thực hành quyền chính trị của mình bằng cách tự ứng cử đại biểu Quốc hội. Có người vừa nộp hồ sơ xong thì an ninh đã tìm đến tận nhà. Có những người tự ứng cử khác bị bắt. Phần lớn thì như dự đoán, bị loại ra một cách rất đúng quy trình, thông qua những vòng hiệp thương.

Vài ngày trước, Nguyễn Thúy Hạnh bị bắt. Ba người phụ nữ được cho là can đảm nhất trong phong trào phản kháng tại Việt Nam đều đã phải vào tù. Đáng buồn hơn là, những tiếng phản đối cũng nhỏ dần đi rồi tắt hẳn. Chẳng ai muốn nói gì nữa. Một lời than vãn bây giờ cũng được định giá rõ: 7,5 triệu đồng.

Phạm Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Nguyễn Thúy Hạnh. Ảnh: Luật Khoa/ PhotoMania.

Chính quyền có vẻ là đang thắng trên mọi mặt trận. Vừa làm được việc họ muốn, vừa giữ được tính chính danh.

Tôi phải đi tìm một cuốn sách để giúp mình nuôi hy vọng.

***

“Đối thủ của bạn muốn bạn tin rằng mọi thứ là vô vọng, rằng bạn chẳng có quyền lực gì, rằng chẳng có lý do gì để hành động cả, rằng bạn không thể thắng. Hy vọng là một món quà mà bạn không cần phải từ bỏ, một quyền năng bạn không buộc phải ném đi.”

Rebecca Solnit mở đầu cuốn sách của mình như vậy. “Hope in the Dark“, ra đời năm 2003, được ví như một chiếc đèn pin để các nhà hoạt động (activists) soi vào tương lai tăm tối. Cuốn sách được viết khi bản thân tác giả, một nhà hoạt động, đối diện với nỗi thất vọng vì nước Mỹ quyết định bắt đầu cuộc chiến tại Iraq. Nó mời gọi người đọc thay đổi cách nghĩ về chính sự thay đổi, nhắc lại những thành tựu trong lịch sử mà người ta thường bỏ quên trong sự hỗn loạn của đời sống thường ngày, và bồi đắp thêm nền tảng cho hy vọng đứng vững.

Thú thực là những câu chuyện về thay đổi trong lịch sử không làm tôi ấn tượng. Bức tường Berlin, Cách mạng Hoa Nhài ở Tunisia, Mùa xuân Ả Rập v.v…, những sự kiện ấy tôi đều đã được nghe cả, và chúng diễn ra ở những bối cảnh xa xôi chẳng liên quan đến tôi. Sự tối tăm ở Việt Nam là một kiểu khác, sự thờ ơ với chính trị và sự thoải mái với việc bị cai trị ngấm sâu vào đời sống ở Việt Nam là một mức độ trầm trọng khác – tôi nghĩ vậy.

Chiếc đèn pin của Rebecca Solnit chỉ bắt đầu rọi đến tôi ở chương sách thứ 10, khi bà nói về vấn đề trong sự sốt ruột của những nhà hoạt động. “Changing the Imagination of Change” (Thay đổi những hình dung về sự thay đổi) là tiểu luận khởi đầu của cuốn sách “Hope in the Dark”. Nó nhìn vào nội hàm của sự tham gia chính trị, chạm vào những tình cảm, những mong muốn vừa riêng tư lại vừa phổ quát của những người đòi hỏi thay đổi, và lý do khiến cho họ dễ thất vọng.

Một cuộc biểu tình đòi quyền lợi cho người da màu tại Washington D.C., Mỹ vào năm 1963. Ảnh: Steve Schapiro/ Corbis/ Getty Images.

“Nhiều nhà hoạt động có một cái nhìn máy móc về thay đổi, hoặc có lẽ họ mong chờ điều mà những viên thuốc giảm cân giả quảng cáo, “bảo đảm hiệu quả nhanh và dễ dàng”. Họ mong chờ kết quả sau cùng, sự xác quyết, những mối quan hệ nguyên nhân – kết quả dễ thấy, những lợi ích ngay lập tức. Để rồi kết quả là họ chỉ thấy sự thất vọng, về sau trở thành những nỗi cay đắng, sự nghi ngờ, thái độ biết-thừa-là-thể-nào-cũng-sẽ-thua. Họ làm mọi thứ trên một giả thuyết rằng với mỗi hành động, đều phải có một hành động đáp trả tương ứng và kịp thời, nếu không thì là thất bại.”

(Sao người ta bị bắt liên tục thế mà chẳng ai nói gì nhỉ, thật là tệ! Tôi bắt đầu thấy nhột khi sự sốt ruột của mình bị nhìn thấu.)

Lịch sử nhắc chúng ta rằng những sự thay đổi không diễn ra giống như một ván cờ có hồi kết. Nó giống như thời tiết, bao gồm nhiều hiện tượng phức tạp với những hiệu ứng trộn lẫn vào nhau, và nó cứ như thế mãi. Một cú đập cánh của một con bướm ở châu lục này có thể tạo ra một cơn bão ở châu lục khác, nhưng quá trình ấy có thể kéo rất dài.

Cần một thế kỷ để chấm dứt chủ nghĩa nô lệ ở Mỹ, nhưng những hậu quả của nó đến giờ vẫn tồn tại. Cần một thế kỷ để phụ nữ được quyền đi bầu, nhưng cuộc chiến với các định kiến giới thì chưa từng kết thúc. Hành trình tạo ra thay đổi không giống như đi bộ đến cửa hàng tạp hóa ở góc phố để mua một món hàng rồi quay về nhà. Trái lại, nó là sự dấn thân vào vùng bất định.

Những người phụ nữ biểu tình tại Washington D.C., Mỹ vào năm 1915, đòi quyền được bỏ phiếu như nam giới. Ảnh: Harris & Ewing/ Buyenlarge/ Getty Images.

“Tương lai lúc nào cũng tối”, Solnit biện luận, nhưng sự tối tăm đó không nhất thiết là tồi tệ, nó chỉ có nghĩa là bí ẩn. Nếu chúng ta tiếp tục lần mò trong bóng tối đó và tìm cách đi tới, nhiều khả năng khác sẽ có cơ hội xảy ra.

Cơ sở mạnh mẽ nhất của hy vọng là sự bất định. Chỉ có một điều chắc chắn thôi, là mọi thứ sẽ thay đổi. Sự bi quan rằng mọi thứ rồi sẽ như cũ về căn bản là không đúng. Sự lạc quan rằng mọi thứ rồi sẽ tốt lên cũng không hề có cơ sở. Và cả hai lời khẳng định chắc nịch này đều là lý do để từ chối hành động. Hy vọng thì khác. Cơ sở của hy vọng là niềm tin rằng những hành động của chúng ta có hiệu ứng. Nhưng hiệu ứng vào lúc nào, tác động đến ai, như thế nào thì ta không biết trước. Quan trọng là ta bắt tay vào làm.

Hy vọng không có nghĩa là ngồi yên trên ghế sofa của mình đeo cặp kính hồng và tin mọi thứ sẽ ổn. Hy vọng kéo chúng ta đứng lên, xô chúng ta ra khỏi cửa, mời gọi chúng ta bắt tay vào hành động. Sai hay đúng, thành hay không thành, là chuyện quá sớm để phán xét. Tuyệt vọng khi chưa làm hết những thứ có thể làm chẳng qua là một lựa chọn dễ dãi hơn.

***

Ở Việt Nam bây giờ cũng tối. Trong mắt tôi, những động lực thay đổi chưa từng yếu như lúc này. Nhưng cuốn sách của Rebecca Solnit gợi ý rằng đó có thể là do tôi lười tìm kiếm thôi. Chuyện có thêm ai đó bị bắt không nên khiến tôi tuyệt vọng, thay vào đó, tôi nên bắt đầu tìm hiểu về những việc họ làm trước khi bị bắt, và kể lại những thay đổi nhỏ mà họ đã góp phần tạo ra. Những ký ức đó sẽ giúp chúng ta không bị hiện tại tối tăm đánh lừa rằng mọi thứ lâu nay vẫn thế.

Nguyễn Thúy Hạnh trong một lần biểu tình vào năm 2016 tại Hà Nội, với biểu ngữ đòi trả tự do cho hai tù nhân lương tâm. Ảnh: Facebook Nguyễn Thúy Hạnh/ RFA.

Đó là một bài tập thể dục tinh thần có thể cần thiết cho cả bạn, nếu bạn cũng đang tìm một lý do để giữ một ngọn lửa nhỏ trong mình. Nếu lửa tắt, hãy nghĩ về những người đang ở trong tù. Tối tăm mà chúng ta nhìn thấy ở đây đâu là gì so với họ.

Nếu tất cả những gì chính quyền muốn là chúng ta bỏ cuộc, buông xuôi, thì hy vọng bản thân nó đã là một hành động phản kháng.

Nghĩ về nỗi sợ hãi và hòa giải dân tộc

Nghĩ về nỗi sợ hãi và hòa giải dân tộc

Bởi  AdminTD

Thái Hạo

14-4-2021

Vài ngày trước, một người bạn vong niên của tôi, người từng tham gia trong cuộc “20 năm nội chiến từng ngày” với tư cách một người lính của Miền Nam VN, kể rằng khi phóng viên hỏi ông: “Làm thế nào để hòa giải dân tộc?”, ông trả lời “Chỉ có thể hàn gắn khi cả hai bên đều hiểu rõ tính chất của cuộc chiến tranh này, một cuộc chiến tranh mà bên nào cũng là nạn nhân của trò chơi chính trị trong tay các siêu cường”.

Cả câu hỏi và câu trả lời đều làm tôi suy nghĩ, nó vừa khơi lên nỗi chua chát cùng tận vừa bất mãn mơ hồ. Và tôi muốn thử tìm một lý giải cho mình bên ngoài câu chuyện chính trị.

Người Việt phải chăng đã bất hòa với nhau từ lâu xa trong quá khứ chứ không phải từ 1954 hay 1975? Chúng ta bất hòa từ trong gia đình đến họ tộc, làng xóm; Bất hòa từ trong nhà ra đồng lúa, từ tông tộc đến xã hội. Con cái và cha mẹ không phải là “gia hòa vạn sự hưng” mà là áp đặt và nghe lời; Vợ chồng không phải “tương kính như tân” mà là trên dưới một chiều, anh em không phải “như thể chân tay” mà là “quyền huynh thế phụ”…

Người trong nhà rất ít nói chuyện với nhau. Khi nhỏ thì thường là cha nói con nghe, khi lớn lên thì im lặng xâm chiếm, mà hễ mỗi khi có chuyện cần bàn thì ngồi lại là liền xung đột. Vợ chồng mới cưới thì ríu rít được vài hôm, ngày qua tháng lại chưa lâu thì “mở miệng là cãi nhau”. “Đi họ bênh anh em nhà, đi chợ bênh anh em họ”.

Hãy nhìn nông thôn Bắc và Trung bộ, khó tìm thấy một đám hiếu hỉ ma chay nào mà không lời qua tiếng lại, anh em cự cãi, chửi bới, từ mặt. Nhà càng đông người, nguy cơ “mất đoàn kết” càng lớn. Hễ chung bờ rào là chửi chó mắng gà, rào đường cách lối, nói xấu sau lưng. Hễ chung bờ ruộng là mắng cỏ bới lúa, là xách đòn gánh rượt nhau. Cái cách nói “dân Thanh Hóa, dân Nghệ An, dân xyz” thường mang hàm nghĩa phân biệt vùng miền với ý kỳ thị hoặc tự tôn…

Tại sao thế? Những tín điều như “tình làng nghĩa xóm”, như “tối lửa tắt đèn”, như bầu bí nhiễu điều… phần nhiều là để an ủi và phỉnh phờ hơn là một thực tế. Sự ganh ghét đố kỵ, thói ngồi lê đôi mách và nạn “tin giả” (fake news) đã có từ nhiều trăm năm trước.

Có một cái gì rất dễ đổ vỡ trong các mối quan hệ Việt. Người ta hoặc gắng gượng, hoặc màu mè, hoặc chịu đựng, hoặc miễn cưỡng… để “che mắt thiên hạ”. Người Việt rất sợ bị “cười” nên họ sẵn sàng “đóng cử bảo nhau”, “tốt đẹp khoe ra xấu xa đậy lại”. Cả khen và chê đều không mấy khi thật lòng mà thường cốt để làm đẹp lòng nhau. Khen thì khen hết lời, lúc chê thì thành mạt sát hủy nhục. Những sự nối kết giữa người với người rất mong manh, nhưng kỳ lạ thay dù “cơm không lành, canh chẳng ngọt” nhưng người ta lại có thể sống suốt đời cùng nhau; chê nhưng không bỏ, khinh nhưng không từ, oán mà không than. Đó là một trạng thái quái gở của quan hệ người – người trong cộng đồng Việt.

Ngay cả những người được cho/tự nhận là “đấu tranh dân chủ” ngày nay cũng khó mà ngồi lại cùng nhau. Cùng với việc chửi chính quyền là chửi nhau. Cái “cộng đồng” ấy chia rẽ một cách đáng kinh ngạc. Chính quyền, dân và “giới bất đồng” dường như chẳng bao giờ gặp nhau. Cứ mỗi người một ốc đảo mà hễ lại gần là nghi ngờ, là bất hòa, là tranh cãi.

Nói rất nhiều mà dường như chẳng có người nghe. Cãi rất to mà chỉ như tiếng ồn. Giữa người với người dường chỉ có những âm thanh hỗn tạp. Không ai thấy cần thiết phải nghe ai. Tất cả những cái tôi đều to đùng. Một điều tệ hại mà chúng ta ít thấy trong lịch sử: Người trí thức ngày càng trở nên vô hình trong mắt dân cày. Người ta không còn trọng tri thức và trí thức nữa. Đây là tiếng chuông báo điểm sự suy tàn tột độ của một xã hội.

Phải chăng, chúng ta là một dân tộc “dũng cảm” như lời tụng ca? Điều ấy đáng ngờ. Hình như NỖI SỢ HÃI mới chính là “bản sắc” của nòi giống? Mặc cảm nghèo hèn, mặc cảm nhược tiểu, mặc cảm dốt nát… đè nặng lên dân tộc suốt trường kỳ lịch sử. Càng mặc cảm thì biểu hiện ra càng trái ngược. Kẻ yếu nhược thường hung hăng, người nghèo hèn thường khoe mẽ, dốt thì hay nói chữ… Cái cơ chế phòng vệ này là một sự tinh quái của bản ngã; sự tinh quái đánh lừa chủ nhân của nó có thể suốt cuộc đời; và như thế là suốt chiều dài lịch sử của một cộng đồng.

Chúng ta đã bị kẻ láng giềng to con và thâm hiểm bắt nạt suốt cả ngàn năm. Rồi chính chúng ta cũng đã du nhập một chế độ đẳng cấp bất công vào mỗi ngôi nhà, mỗi xóm làng; chúng ta cai trị kẻ khác bằng con đường của chuyên chế. Chồng độc đoán với vợ, cha độc đoán với con, anh độc đoán với em, quan độc đoán với dân, giàu độc đoán với nghèo, lớn độc đoán với nhỏ. Đó là một loại khế ước của “mạnh vì gạo, bạo vì tiền”. Nó thâm nhiễm vào tất cả mọi cá thể, và từ nạn nhân của sự cai trị độc đoán, người ta sẽ trở thành những bàn tay độc đoán ngay khi có cơ hội. Đáng sợ hơn, ngày nay cái thiết chế ấy còn phủ trùm trên thân thể xã hội bằng cách nhân danh những thứ thật mỹ miều.

Sự coi thường, khinh bỉ hay nỗi sợ hãi và tính hèn hạ được sinh ra từ cái thiết chế “gạo tiền” này. Chúng ta giàu tự ái hơn là lòng tự trọng; chúng ta tự cao hơn là tự tôn; tự phụ hơn tự chủ, tự huyễn hơn tự học… Chúng ta theo đuổi mảnh bằng hơn là truy tầm chân lý; chúng ta theo đuổi tiền bạc mà bỏ quên mục đích của đời sống; theo đuổi địa vị mà quên đi trách nhiệm. Chúng ta nổi nóng với vợ con nhưng dạ vâng trước cường quyền; chúng ta làm từ thiện khắp nơi nhưng bỏ bê họ hàng; chúng ta ngọt ngào với thiên hạ nhưng cộc cằn với người nhà…

Một đằng là “tạo dựng hình ảnh”, đằng kia là thể hiện quyền lực. Cả hai đều là biểu hiện sự yếu nhược của một cái tôi nhiều tổn thương và đổ vỡ. Chúng ta cố chống chọi với sự khiếm khuyết của nhân cách mình bằng những lối tiêu cực nhất như thế.

Nỗi sợ hãi là căn nguyên của tất cả? Càng sợ hãi, người ta càng hung dữ, càng sợ hãi người ta càng làm màu. Người Việt sợ nhất là bị “cười”, không được để người khác cười, phải mạnh mẽ lên, phải sang trọng lên, phải giàu lên, phải đẹp lên… Phải chứng tỏ rằng “ta đây chẳng kém ai”. Cuộc đời đã bị đánh mất bằng những cách như thế. Người ta bỏ lại phía sau tất cả để trưng ra một hình ảnh “đẹp” nhất – vì cái mặc cảm ấy nên suốt đời họ phải “sống cho người khác xem”.

Người ta nhìn nhau để sống, đua nhau để làm: Xây nhà to, sắm đồ sang, mua điện thoại xịn, tậu túi xách và đồng hồ hàng hiệu… ngay cả khi không có tiền. “Giải quyết khâu oai” là mục tiêu của mỗi cuộc đời. Oai vì đồ đạc, oai vì áo quần, và đau khổ nhất là oai vì con cái. Để thỏa mãn sự đói khát truyền kiếp, người ta bấp chấp ước mơ của con cái để sẵn sàng đẩy chúng vào những cuộc chiến khốc liệt của trường chuyên lớp chọn, đẩy chúng vào những lớp học thêm bất kể ngày đêm. Họ sẵn sàng “hi sinh đời bố, củng cố đời con”, nhưng thực ra đó là hi sinh đời con cho đời bố nở mặt. Cái sự “hiếu học” của người Việt có lẽ nên nhìn từ một góc độ khác: Mặc cảm, mặc cảm của nhiều thế hệ. Người ta quên đi những chân giá trị của sự hiểu biết để tìm những chỗ dựa tiêu cực cho cái bản ngã thất bại của mình.

Chúng ta đổ vỡ từ bên trong bởi thân phận nô lệ và yếu nhược, nó làm thành một cuộc chiến tranh triền miên qua các thế hệ trong mỗi cá nhân. Từ sự bất hòa bên trong tinh thần dẫn tới những xung đột bên ngoài xã hội; từ những động loạn của thế giới vô thức biến hiện thành những cuộc chiến của những cái tôi. Ở thế kỷ 21 này, có lẽ tư duy nhị nguyên bị phát tướng nặng nề bậc nhất là trên xứ sở của chúng ta. Đẹp xấu, giàu nghèo, sang hèn, cao thấp… luôn sẵn sàng lao vào nhau để nổ tung thành các mảnh vỡ của xã hội.

Cuộc chiến tranh Nam – Bắc đã đi qua gần nửa kỷ mà mặc cảm còn đè nặng thành những lễ kỷ niệm, thành những khúc hoan ca, thành “ngày quốc hận”, thành những trận chiến bất tận trên mạng xã hội.

Mọi thứ chỉ có thể được hàn gắn khi mặc cảm được xua tan bởi sự lớn dậy của tư thế con người vượt lên trên thắng bại để sống với những giá trị tự thân mà không cần đến những thứ trang sức “anh hùng”, “thắng cuộc”, “văn minh”… Chừng nào người ta còn phải viện đến những món đồ ấy để làm sang, chừng ấy cuộc chiến còn chưa thể kết thúc. “Không ai có thể làm ta ô uế, cũng không ai có thể làm ta trong sạch”, “như người uống nước, nóng lạnh tự biết” – đó chính là sự trung thực tự thức về giá trị của bản thân. Và ở đây, liêm sỉ và sự tự tôn luôn phải song hành.

Những giá-trị-người, mà căn bản nhất và cũng sâu xa nhất là NHÂN PHẨM, phải được đánh thức và nuôi lớn. Nếu không “phổ cập” cái nền móng này trong tất cả cá nhân để mỗi người tự vượt lên trên những cơm áo gạo tiền danh vị mà sống đàng hoàng với sự tôn nghiêm thẳm sâu thì sẽ không cách gì hòa giải được.

Bài học của nội chiến Mỹ còn nguyên ở đó, khi cả 2 cùng tôn trọng nhau và tự trọng chính mình. Muốn hàn gắn dân tộc, trước hết cần tự hàn gắn những vết thương do mặc cảm gây nên. Và bên cạnh tất cả những điều ấy, có lẽ chúng ta cần một nỗi đau chung thay cho niềm tự hào? Trên tinh thần đó, sự hòa giải không phải chỉ là câu chuyện Nam – Bắc, mà căn bản hơn là câu chuyện của con người với con người, nhìn như lịch sử của cả một cộng đồng trong suốt chiều dài văn hóa của nó.

Thực hư chuyện ‘có 3 bằng đại học nhưng vẫn thất nghiệp…’

Đài Á Châu Tự Do

“Có những 3 bằng đại học nhưng vẫn thất nghiệp là một hiện thực của Việt Nam”… Đó là phát biểu của Đại biểu Quốc hội Bùi Sỹ Lợi nêu lên tại buổi tọa đàm khoa học: ‘Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045’ hôm 11/4/2021.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng, Vụ Giáo dục chuyên nghiệp cũng có mặt tại buổi Tọa đàm cho rằng, đây là nhận định không cẩn trọng. Ông Vinh còn cho rằng phát biểu như ông Lợi là làm méo mó chính sách về phát triển nhân lực chất lượng cao của quốc gia trong thập kỷ tới.

Cụ thể theo ông Vinh, người có ba bằng đại học thất nghiệp có phải số đông hay không? Hay chỉ một hai trường hợp cá biệt? Ông Vinh còn đòi ông Lợi cho biết người ấy tốt nghiệp ngành gì, trường nào, ở đâu… (!?)

Hôm 14/4, chúng tôi cũng nêu vấn đề với chuyên gia giáo dục Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, nguyên giảng viên trường đại học Liège – Bỉ, hiện sống và làm việc ở Việt Nam, và được ông nhận định:

“Tôi cũng có cảm giác không phải tin đồn đâu, trong những năm gần đây sinh viên ra trường khó kiếm chỗ làm, nhất là chỗ làm phù hợp với kết quả tốt nghiệp của mình. Cái này là sự thật nhưng không có một thống kê chính thức rõ ràng, vì nhà nước cũng không muốn công bố một cách tỏ rõ. Nhưng mà chỉ nhìn những sinh viên mà tôi quen biết ra trường thì phần lớn họ bị khó khăn. Chỉ cần đi xe ôm Grab ở Sài Gòn thì có thể bắt gặp rất đông đảo những em phải chạy Grab để kiếm sống thêm là những em vừa tốt nghiệp đại học. Họ là cử nhân nhưng không có được chỗ làm ưng ý và họ bắt buộc phải kiếm ăn bằng cách khác.”

Cũng tại buổi Tọa đàm, Đại biểu Quốc hội Bùi Sỹ Lợi cho rằng nên phân luồng giáo dục theo hướng ở giai đoạn đầu tiên là Trung học Cơ sở (cấp hai) sẽ có ít nhất 30% học sinh đi học nghề còn 70% học tiếp lên bậc Trung học Phổ thông (cấp ba). Theo ông Lợi, không thể nói trường nghề không được dạy văn hóa, như vậy là sai tinh thần của Nghị quyết Trung ương về phân luồng giáo dục. Sau khi học nghề, học sinh vừa có bằng nghề vừa có bằng văn hóa. Tại sao lại ngăn cấm?

Ông Lợi còn cho rằng, hết Trung học Phổ thông thì 70% đi học nghề và chỉ 30% đại học thôi… vì học đại học nhiều để làm gì… có những 3 bằng đại học nhưng vẫn thất nghiệp.

Tuy nhiên Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh, cho rằng nói vậy là tô hồng cho hệ thống khác và tô xám giáo dục đại học Việt Nam. (!?)

Một người đã tốt nghiệp đại học, hiện sống tại Hà Nội, không muốn nêu tên cho RFA biết do không xin được việc làm đúng ngành học, nên chỉ làm kinh doanh nhỏ:

“Tôi học để sau này xin việc mức lương cao hơn. Nhưng khi tốt nghiệp thì chạy chọt mãi không tìm được việc làm phù hợp với tấm bằng mà mình học. Nên tôi lựa chọn một nghề phổ thông khác phù hợp với khả năng.”

Khi trả lời RFA từ thành phố Hồ Chí Minh, một cựu sinh viên đã tốt nghiêp, cho biết hoàn cảnh của mình:

“Sau khi ra trường thì em cũng cố gắng tìm công việc phù hợp với mình. Nhưng vì khả năng, cũng vì số lượng, với vì nền kinh tế nên cũng chưa tìm được việc làm đúng với ngành nghề của mình.”

Trong một diễn biến liên quan, tại chương trình ‘Đưa trường học đến thí sinh năm 2021’, tổ chức ngày 11/4 tại trường Trung học Phổ thông chuyên Lương Văn Chánh, tỉnh Phú Yên… PGS.TS. Trương Nguyễn Luân Vũ – Phó trưởng Khoa Cơ khí chế tạo máy, ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM cam kết nếu sinh viên học ngành Cơ khí kỹ thuật tại trường mà không có việc sau khi tốt nghiệp, trường sẽ trả lại 100% học phí.

Tuy nhiên khi trao đổi với RFA tối 14/4 từ Sài Gòn, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Dũng, hiện đang giảng dạy ngôn ngữ học tại trường Đại học Sư phạm TP.HCM (ĐHSP), cho rằng không phải cứ học sư phạm là có việc làm:

“Trước đây một số trường đại học như ĐHSP là cứ ngồi chờ đấy, nhà nước sẽ phân công công tác ở một nơi nào đó. Do đó vào ngành sư phạm dù lương thấp nhưng nhiều người cũng muốn vào vì chỗ làm việc chắc chắn. Dần dần người ta không còn làm theo cách đó nữa, tốt nghiệp ĐHSP cũng phải nộp đơn vào một sở giáo dục nào đó. Và sở giáo dục họ tổ chức một kỳ thi, tôi chưa nói họ tổ chức kỳ thi đó tốt hay không, có chạy chọt hay không… nếu đậu thì tùy nhu cầu của trường, sở sẽ phân công về trường đó. Như thế cũng có nghĩa là không phải cứ tốt nghiệp trường ĐHSP là có việc làm.”

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Dũng, Tốt nghiệp ĐHSP không có ưu thế gì cả, cũng giống các trường khác, cũng phải xin việc, người ta thấy được thì người ta chọn. Thành ra cách tiếp nhận thầy cô giáo để đi dạy như hiện nay là khác xa so với ngày xưa. Và dĩ nhiên nếu ngày xưa tốt nghiệp ĐHSP là không thể thất nghiệp, thì ngày nay có một tỷ lệ thất nghiệp nhất định.

Một sinh viên vừa tốt nghiêp ngành sư phạm, hiện đang làm thêm tại Sài Gòn, khi trả lời RFA cho biết dự định của mình:

“Em sẽ đi làm ở ngoài khoảng một năm, rồi sau đó nếu được về trường thì em sẽ về dưới quê. Nếu được nhận vào một trường cấp hai thì em sẽ làm. Bây giờ trong xã hội phải có người quen, mới được vào trong các trường đó, đó cũng là một cản trở lớn đối với em.”

Theo Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, có nhiều lý do dẫn đến tình trạng sinh viên tốt nghiệp đại học mà không có việc làm. Thứ nhất theo ông là nguyên nhân khách quan, do không có sự phát triển kinh tế chuyên biệt để có công ăn việc làm phong phú cho kỹ sư ra trường. Trừ một vài ngành như tin học thì sẽ dễ kiếm viêc làm. Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng nói về nguyên nhân chủ quan:

“Thứ hai là lý do về chủ quan, ở Việt Nam hiện nay muốn có công việc làm ổn định làm cho nhà nước như giảng dạy, thì tôi nghe các bạn nói muốn kiếm một chân giảng dạy trong một trường trung học là rất khó bởi vì có chính sách có thể nói là con ông cháu cha. Tức những người không có trình độ cao thì lại dễ dàng có công việc, trong khi những người có trình độ cao lại rất khó khăn để có công ăn việc làm. Muốn có việc làm ổn định thì phải bỏ ra một số tiền không nhỏ. Cho nên là vấn đề tham nhũng trong phân bổ chức năng công việc đã có những tha hóa trầm trọng.”

Theo Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, do các trường đại học ở Việt Nam trong những năm gần đây lại được mở ra khá thoải mái. Gần như tỉnh nào cũng có một trường đại học, trong khi đó thì chương trình giảng dạy và đội ngũ giảng viên không được chỉn chu và không có chất lượng. Cho nên những sinh viên ra trường sau 4 năm đại học rất đông đảo nhưng lại không đáp ứng được chất lượng.

“Dân chủ cuội”, “Đảng cử Đảng bầu”.

“Dân chủ cuội”, “Đảng cử Đảng bầu”.

* Người dân hỏi: Bầu hết rồi, tháng 5 lại còn đi bầu Quốc Hội làm gì nữa?

– Nhiều người Việt Nam cũng như ngoại quốc đặt vấn đề rằng ĐCSVN đã bầu và sắp xếp xong hết các chức danh, nhân sự nhà nước cấp cao rồi, vậy vì sao còn bắt người dân đi bầu Đại biểu Quốc hội tới đây nữa ???.

“Trong dân chúng ở Việt Nam hiện nay, rất nhiều người thấy việc này rất vô lý,”.

Rõ ràng người dân đã nhận thấy đi bầu là việc của đảng với nhà nước, còn làm gì cứ bắt người dân phải đi bầu nhiều lần cho tốn tiền, tốn công sức ra.

Thật ra thì ai cũng biết, đây chỉ là 1 cái trò “dân chủ mị dân” của Đảng CSVN, sau khi đã có danh mục nhân sự của đảng rồi, thì cần Quốc Hội hợp thức hóa để cho nó có vẻ danh ngôn chính thuận.

Không những thế, Đảng CSVN lại làm trước cả khi có Quốc hội mới, đúng là 1 trò hề tréo cẳng ngỗng, đầy kịch tính. Trên thế giời nầy, chỉ có ở xứ CHXH CN VN mới có chuyện như vậy:

– Nhà nước giữ bí mật nhưng 3 tháng trước ai cũng biết ai sẽ được chỉ định các chức vụ “Chủ Tịch nước, Thủ Tướng và Chủ Tịch QH “.

– Dân không bầu, và QH khóa mới chưa có nhưng “bộ tam sên” nầy vẩn đắc cử gần như 100%.

* Có lẽ mấy bác lãnh đạo cho rằng đúng quy trình “Dân chủ cuội” thì phải như vậy.

– Giờ thì ai cũng biết bầu cử chỉ là màn kịch dân chủ do CSVN đạo diễn!

TL – BBC

H1: Bộ tam sên Lãnh đạo vừa được đảng cử đảng bầu.

H2: Đảng cử Đảng bầu.