Những trại tù học tập cải tạo sau ngày 30-4-1975

Những trại tù học tập cải tạo sau ngày 30-4-1975

Bởi  AdminTD

Trần Gia Phụng

25-4-2021

Hai mươi ngày trước khi Sài Gòn sụp đổ, nhà văn Nga Alexandre Soljenitsyne, giải Nobel văn học năm 1970, tuyên bố trên đài truyền hình Paris rằng “Việt Nam sẽ trở thành một nhà tù khổng lồ.” (Michel Tauriac, Hồ sơ đen Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Văn dịch, California: Văn Mới 2002, tr. 36.)

Alexandre Soljenitsyne (1918-2008) là nhà văn Nga chống chế độ Liên Xô, viết nhiều kịch và tiểu thuyết, nổi tiếng là Một ngày của Ivan Denisovich (1962), Quần đảo ngục tù (The Gulag Archipelago) (tập 1 và 2 năm 1974, tập 3 năm 1976).

Alexandre Soljenitsyne tiên đoán như trên dựa theo kinh nghiệm bản thân tại quê hương ông là Liên Xô và những diễn tiến tại Đông Âu và Trung Cộng.

Tại Nga năm 1917, sau khi cầm quyền, CS thiết lập chế độ tù cải tạo vào những năm 1918-1921 và hợp thức hóa bằng luật pháp năm 1933. Tại Trung Cộng, chính sách “lao cải” (lao động cải tạo) được chính thức hóa ngày 26-8-1954 và hội đồng chính phủ chấp thuận thủ tục thi hành chính sách lao cải vào tháng 8-1957. (Phạm Hữu Trác, “Tù cải tạo: Trình bày và phân tích dữ kiện”, đăng trong Vàng, Máu và Nước Mắt, Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do: Canada, 2000, tr. 19.)

Sau hiệp định Genève ngày 20-7-1954, đại đa số công chức, quân nhân chính thể Quốc Gia Việt Nam di cư vào Nam Việt Nam (NVN). Chỉ một số ít còn lại ở Bắc Việt Nam (BVN), liền bị chế độ cộng sản (CS) bắt giam, tù đày. Chính sách cải tạo do quốc hội BVN chính thức quy định vào năm 1961 trong nghị quyết 49-NQTVQH và thông tư số 121-CP của hội đồng chính phủ đặt ra các biện pháp thi hành nghị quyết nầy. (Phạm Hữu Trác, bài đã dẫn.)

Năm 1975, trước khi tấn công Sài Gòn, Ban bí thư Trung ương đảng Lao Động từ Hà Nội đưa ra chỉ thị số 218/CT-TW ngày 18-4-1975, quy định chính sách đối với công chức và sĩ quan VNCH bị bắt như sau:

“Đối với sĩ quan, tất cả đều phải tập trung giam giữ quản lý, giáo dục và lao động; sau nầy tùy sự tiến bộ của từng tên sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyết cụ thể. Những người có chuyên môn kỹ thuật [kể cả lính và sĩ quan] mà ta cần thì có thể dùng vào từng việc trong một thời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lý chặt chẽ, sau nầy tùy theo yêu cầu của ta và tùy theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làm ở các ngành ngoài quân đội. Đối với những phần tử ác ôn, tình báo, an ninh quân đội, sĩ quan tâm lý, bình định chiêu hồi, đầu sỏ đảng phái phản động trong quân đội, thì bất kể là lính, hạ sĩ quan hay sĩ quan, đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toà và quản lý chặt chẽ.” (Huy Đức, Bên thắng cuộc, I: Giải phóng, Saigon – Boston – Los Angeles: Osin Book, 2012, Chương 2: “Cải tạo”, mục “Ngụy quân’, tr. 39.)

Sau ngày 30-4-1975, nhà cầm quyền mới ở Nam Việt Nam (NVN) là Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam do đảng Lao Động tức đảng CS điều khiển, bắt giam tất cả những sĩ quan, công chức cao cấp của chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) nhằm các mục đích chính: 1) Triệt hạ vĩnh viễn quân đội và chính thể VNCH. 2) Giam giữ, bạo hành, trả thù, làm cho tù nhân sợ hãi, không dám chống đối chế độ mới. 3) Tiêu diệt tiềm lực VNCH, vì những người bị bắt học tập cải tạo ở độ tuổi trung niên để làm việc, sản xuất hay tranh đấu, có trình độ văn hóa trung bình cao so với trình độ văn hóa chung của toàn dân. 4) Bóc lột sức lao động của tù nhân, đưa đi canh tác những vùng đất bỏ hoang thời chiến tranh. 5) Đe dọa, trấn áp những gia đình có thân nhân bị tù. Nếu gia đình chống đối, thì tù nhân khó được trở về đoàn tụ gia đình. 6) Làm gương cảnh cáo dân chúng NVN, nếu vọng động thì sẽ bị số phận học tập cải tạo dài hạn không xét xử, làm ai cũng khiếp sợ.

Kế hoạch của CSVN nhằm tiêu diệt hoàn toàn quân đội VNCH rất tinh vi, chia thánh hai phần:

1) Thứ nhứt, vào giữa tháng 6-1975, CSVN ra lệnh cho hạ sĩ quan và công chức cấp thấp VNCH học tập tại chỗ các khóa chính trị tử đến 7 hay 10 ngày tùy địa phương.

2) Thứ hai, CSVN ra lệnh sĩ quan VNCH từ cấp thiếu úy trở lên và công chức cao cấp VNCH phải trình diện từ 13-6 đến 16-6-1975 và chuẩn bị lương thực 30 ngày, để học tập chính sách của “chính phủ cách mạng” trong một tháng. (Bác sĩ Trần Vỹ, “Đời sống trong trại giam ở miền Bắc”, đăng trong Vàng, Máu và Nước Mắt, sđd. tt. 239-250).

Thông báo về “học tập cải tạo”. Nguồn: Internet

Khi đại đa số sĩ quan, công chức VNCH trình diện, thì tất cả bị đưa đi giam trong các trại tù mà CS gọi là trại học tập cải tạo trên các vùng rừng thiêng nước độc, không tuyên án và không thời hạn. Nếu bỏ trốn, không trình diện mà bị CS bắt, sẽ bị án phạt nặng nề. Sau những tuyên truyền huyễn hoặc thời chiến tranh trước năm 1975, đây là cuộc lừa phỉnh công khai vĩ đại của CSVN sau năm 1975 tại NVN, ghi đậm thành tích lừa dối phỉnh gạt của CSVN.

Người tù phải học tập chính sách của nhà nước CS, chủ nghĩa Mác-Lê, phải lao động từ sáng đến tối, dọn mìn, phá rừng, sản xuất, trồng trọt, làm gạch ngói, dựng nhà … Người tù đau ốm không thuốc thang, ăn uống thiếu thốn, đói quanh năm, khẩu phần rất thấp, so với khẩu phần của một tù nhân CS dưới chế độ VNCH. (Bác sĩ Trần Vỹ, bài đã dân.)

Theo bộ Encyclopedia of the Vietnam War, sau năm 1975, số lượng sĩ quan, công chức và cán bộ VNCH bị bỏ tù khoảng hơn 1,000,000 người trên tổng dân số NVN lúc đó khoảng 20 triệu người. Tất cả bị giam tại trên 150 trại giam; theo đó khoảng 500,000 được thả về trong 3 tháng đầu; 200,000 bị giam từ 2 đến 4 năm; 250,000 bị giam ít nhất 5 năm, và năm 1983 (tức sau 8 năm) còn khoảng 60,000 người bị giữ lại. (Spencer C. Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, Vol. two, Santa Barbara, California: 1998, tr. 602. Sách trích tài liệu của Sagan, Ginette and Stephen Denney, Violations of Human Rights in the Socialist Republic of Vietnam, Palo Alto, California: Aurora Foundation, 1983.)

Trong số trên 1,000,000 người bị tù sau năm 1975, theo những cuộc nghiên cứu ở Hoa Kỳ và Âu Châu, có khoảng 165,000 nạn nhân đã từ trần trong các trại tù “cải tạo”. (Anh Do & Hieu Tran Phan, “Millions of lives changed forever with Saigon’s fall”, nhật báo Orange County Register, Chủ Nhật, 29-4-2001, phụ trang đặc biệt về ngày 30-4, tt. 2-3.) Cộng sản hứa hẹn sẽ thả ra khỏi tù những ai học tập cải tạo tốt, nhưng không có tiêu chuẩn xác định thế nào là cải tạo tốt, nên chẳng ai hiểu thế nào là học tập cải tạo tốt để được thả ra. Và cứ thế, CS tùy thích giam cầm quân nhân, công chức VNCH không thời hạn theo sáng kiến của CS.

KẾT LUẬN

Đúng như văn hào Nga Alexandre Soljenitsyne, giải Nobel văn học năm 1970, tiên đoán trước ngày 30-4-1975, “Việt Nam sẽ trở thành một nhà tù khổng lồ.”

Chuyện sĩ quan, công chức cao cấp Việt Nam Cộng Hòa bị bắt giam, bị đày đọa trong các trại tù học tập cải tạo dưới chế độ CS sau năm 1975 là chuyện dài bất tận, vì đàng sau các sự kiện và số liệu trên đây, là nỗi đau khổ triền miên trong gia đình những tù nhân là những chiến sĩ đã tranh đấu cho sự sống còn của chính chúng ta, cho nền tự do dân chủ chẳng những miền NVN mà cho cả toàn quốc nữa..

Cuối cùng, để kết luận, xin được phép nhắc lại lời cuối trong bản nhạc “Cơn mê chiều” của nhạc sĩ Nguyễn Minh Khôi về biến cố Tết Mậu Thân năm 1968 tại Huế, qua cách trình bày tha thiết của nữ ca sĩ Thái Thanh, “Và người ơi xin chớ quên, người ơi xin chớ quên….”

Vâng, xin đừng bao giờ quên những đau thương cùng cực của những chiến sĩ VNCH; đừng bao giờ quên lý tưởng tự do dân chủ cao cả mà những chiến sĩ VNCH đã tận tình bảo vệ. Và cũng đừng bao giờ quên tội lỗi của CSVN, một chế độ “tổng hợp các tội ác ghê tởm của Tân Thủy Hoàng và các vua quan tàn bạo của Trung Quốc, cộng với tội ác của các chế độ phát xít, độc tài. Nó tàn phá cả một dân tộc, hủy hoại tinh anh của nhiều thế hệ. Xét đến cùng, đó là tội nặng nhất về sự vi phạm nhân quyền…” (Trần Độ, Nhật ký rồng rắn, trích đăng trên Việt Báo Online (vietbao.com) số 3489 ngày 21-10-2004.) (Nguồn: Chiến tranh 1954-1975, sẽ xuất bản).

LẠI CHUYỆN THÁNG TƯ

 
May be an image of 1 person and text

Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ…ị…t… mẹ) không chửi thề sao được chớ.

***

LẠI CHUYỆN THÁNG TƯ

Tưởng Năng Tiến

Tác giả câu thơ thượng dẫn là một chính khách rất tài tử, và vô cùng mờ nhạt. Không mấy ai nhớ rằng ông đã từng giữ những chức vụ như Thủ tướng, Phó Tổng thống, và Tổng thống trong thời Đệ II Cộng Hòa – ở miền Nam Việt Nam.

Dân chúng ở miền đất này thường chỉ nhớ đến Trần Văn Hương như một người lập dị. Ổng hay đi làm bằng xe đạp, trong thời gian là Ðô trưởng Sài Gòn, và thỉnh thoảng lại sáng tác ra những câu thơ (hơi) kỳ cục :

Ngồi buồn gãi háng, dái lăn tăn…

Ở miền Bắc phần lớn quí vị chính khách đều hành nghề cách mạng một cách bền bỉ, liên lỉ và chuyên nghiệp hơn nhiều. Họ cũng sính chuyện thơ văn hơn, và cách họ làm thơ (hoặc viết văn) cũng gây lôi thôi phiền phức nhiều hơn – cho cả đống người !

Khi ngồi buồn, họ không gãi háng. Lúc rảnh rỗi, họ cũng không chịu viết văn hay làm thơ chỉ để đọc chơi thôi. Văn thơ của họ khiến cho cả nước phải bận lòng, và không ít người phải bỏ mẹ, hay bỏ mạng ! Xin đơn cử một thí dụ, một câu thơ nổi tiếng hơn, của một chính khách tăm tiếng (và tai tiếng) hơn nhiều :

Bỗng nghe vần thắng vút lên cao…

Nói theo ngôn ngữ của binh pháp thì tác giả câu thơ vừa dẫn, ông Hồ Chí Minh, là một người cư an tư nguy. Ông Trần Văn Hương thì ngược lại. Ổng cư nguy tư an. Nói cách khác, và nói theo kiểu miền Nam, là thằng chả lè phè hết biết luôn !

Nghiêm túc, khẩn trương, hiếu chiến và hiếu thắng… không phải là quan niệm sống riêng của ông Hồ. Thi đua lập chiến công dâng Đảng, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, một người làm việc bằng hai, nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài… là chỉ thị của “trên” đưa xuống và nửa nước bắt buộc phải (triệt để) tuân hành.

Lè phè cũng không phải là thái độ sống chỉ có nơi ông Trần Văn Hương. Ðó là cung cách chung của hầu hết người dân miền Nam. Sự khác biệt giữa ông Trần Văn Hương và dân chúng, có chăng, chỉ là mức độ.

Không mấy người dân miền Nam, lúc buồn, chịu ngồi gãi háng (suông) như ông Tổng thống. Họ thường vừa gãi háng vừa nhậu lai rai (vài xị) cho vui – nếu là đàn ông. Họ đánh tứ sắc, đi coi cải luơng, hoặc đi cầm đồ để mua sầu riêng ăn chơi cho đỡ ghiền – nếu là đàn bà, ở đô thị. Và họ đi Hồng Kông hay Nhựt Bổn để mua đồ lót và son phấn, nếu là bà lớn. Họ đi buôn lậu (không chừng) nếu là ông lớn. Và cả đám đều hân hoan chơi tạt lon, thả diều, đá banh, đá bóng, đá dế, đá cầu, đá kiện, đá cá lia thia hay lắc bầu cua cá cọp – nếu là con nít nhỏ, ở thành phố.

Chuyện đánh đấm là “chuyện riêng” của môt giới người, tụi lính. Hứng chịu bom đạn, tai ương của chiến tranh là nỗi bất hạnh riêng của một số người khác nữa – đám nông dân.

Những chiến dịch hay phong trào hoàn thành kế hoạch nhỏ, nhi đồng cứu quốc, thay trời làm mưa, quyết tâm thu hoạch vượt chỉ tiêu vụ này vụ nọ… nếu phát động ở miền Nam (e) sẽ không có người tham gia, và tác giả của chúng – chắc chắn – sẽ bị dân chúng cũng như báo chí chửi cho… tắt bếp !

Chuyện Nam – Bắc đánh nhau kết thúc ra sao, vào ngày 30 tháng tư năm 1975, mọi người đều rõ. Viết thêm nửa chữ cũng thừa.

Cuộc chiến tàn. Theo sự hứa hẹn của quí vị lãnh tụ (của phe thắng trận) thì từ đây ta sẽ xây dựng đất nước gấp muời lần hơn, ta cũng sẽ đi tắt đón đầu nhân loại, và ta sẽ chuyển đổi từ ăn no mặc ấm qua ăn sang mặc đẹp…

Chuyện dân Việt ăn mặc (sang trọng và đẹp đẽ) ra sao để từ từ rồi tính tới nhưng riêng về cách họ dùng lon, thay gáo, uống nước thì ngó bộ quá tốn công và rất… cầu kỳ – theo như ghi nhận của nhà văn Bùi Ngọc Tấn :

“Lần về phép này Bá có thêm một thứ quà đặc biệt văn minh khác : những vỏ đồ hộp nước giải khát các loại. Các mầu xanh, đỏ, hồng, da cam, vàng, lon Heineken, lon Coca Cola, Pepsi Cola, những lon Tiger, San-Miguel, những lon nước ngọt đã uống cạn mà trong những lần xuống tầu đi nước ngoài anh lượm được cho vào túi ni lông mang về…

Anh Vận chọn ra những vỏ đẹp nhất, mỗi loại một chiếc, không móp, không méo, đem ra giếng súc rửa sạch rồi bầy vào tủ. Và nhặt bốn vỏ lon khác, mỗi chiếc một mầu bảo lũ trẻ con mài trên nền xi măng trong nhà. Mấy đứa trẻ lao vào mài theo đúng hướng dẫn của anh. Tiếng sào sạo sạo sạo ghê người. Chẳng mấy chốc, cái nắp hộp rời ra. Anh xếp bốn chiếc vỏ hộp lên bàn, nở nụ cười mãn nguyện :

– Làm cốc uống nước…

Những chiếc vỏ hộp trên bàn, trong tủ, những dấu vết ấy của văn minh làm nhà anh cứ sáng trưng lên, khác hẳn mọi nhà chung quanh. Nhà anh đã có hơi hướm của một thế giới khác, một thời đại khác khi các nhà chung quanh vẫn còn đang triền miên thời làm nương, thời lúa nước.

Và đến khi lũ trẻ được thoải mái chơi nghịch những vỏ lon còn lại mới thật tưng bừng. Đúng là một ngày hội…” (Bùi Ngọc Tấn, Biển Và Chim Bói Cá, Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2008, tr 436 – 437).

Điều kiện sống, cũng như niềm vui “tưng bừng” trong “ngày hội” của dân Việt, như vừa được mô tả – dường như – có làm cho một số người cảm thấy bất an, hoặc không được hài lòng cho lắm. Tác phẩm Biển Và Chim Bói Cá (trong một buổi hội thảo, do công ty Nhã Nam tổ chức, vào ngày 20 tháng 3 năm 2009) đã được “bình” và “phê” như sau :

“…chi tiết rất quan trọng trong tiểu thuyết. Nhưng đưa quá nhiều chi tiết mà chưa được tổ chức một cách chặt chẽ như Bùi Ngọc Tấn, theo anh không hẳn đã là một thành công. Thanh Sơn cũng nhấn mạnh, sự ngồn ngộn của chi tiết khiến độc giả rất khó đọc, rất mệt để đọc đến những dòng cuối cùng”.

Có lẽ, người ta chỉ cảm thấy bớt mệt (và thở phào nhẹ nhõm) khi Hà Linh – người viết bài tường thuật thượng dẫn – cho biết thêm rằng “Biển và chim bói cá lấy bối cảnh thời bao cấp”. Thiệt là mừng hết lớn.

Đó là một thời đã qua rồi !

Lịch sử đã sang trang. Chuyện cầu cạnh, bon chen, cậy cục, vay muợn, chạy chọt cho có cơ hội được bước xuống tầu viễn dương – làm một chuyến viễn du, hay nói một cách lịch sự và lịch sử là Đông Du – đi đến những chân trời xa lạ (để mang về những cái chai và lon.. rỗng) không còn phải là đặc quyền của riêng một giới người nào nữa.

Hai muơi năm sau, kể từ lúc “Đảng dũng cảm và quyết tâm đổi mới”, vào năm 2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn lớn tiếng hô hào toàn dân “hãy bước ra biển lớn”. Mệnh lệnh của ông đã khiến cho dư luận (hết sức) xôn xao và (vô cùng) phấn khích – trong một thời gian rất dài – qua diễn đàn Vươn Ra Biển Lớn, trên Tuổi Trẻ Online.

Nhiều năm sau nữa, sau khi thuyền (đã) ra cửa biển, cuộc sống – xem chừng – cũng không khác trước là bao. Hãy thử đọc một đoạn văn khác, của một ngòi viết khác, về sinh hoạt của một vùng đất khác – ở Việt Nam – bây giờ :

“Cả bản xôn xao khi thấy người lạ xuất hiện. Đám trẻ con hầu hết không quần áo, hoặc trên mình chỉ mang một trong hai thứ, mặt mày chúng trông bẩn thỉu, lem luốc và chi chít vết ruồi vàng bọ chó cắn.

Tôi hỏi thăm đường đến nhà mấy giáo viên cắm bản, nhưng chẳng có ai biết nói tiếng Kinh cả. Nhìn về phía cuối bản, tôi bỗng thấy một lá cờ đỏ bay phấp phới, đoán rằng đấy chắc là khu vực lớp học, tôi lại nặng nề lê bước về phía đó. Mấy thầy cô giáo thấy tôi xuất hiện, họ không khỏi ngỡ ngàng. Với họ, sự xuất hiện của người Kinh ở bản biên giới này hình như hiếm lắm…

Có lẽ cuộc sống người dân tộc La Hủ ở Pa Ủ cũng đơn giản như chính những ngôi nhà mái tranh vách phên của họ. Đơn giản đến lo ngại như những liếp phên cứ rung lên bần bật bởi gió rừng. Ở những túp lều bé nhỏ đến chật chội vì quá đông người đó, mỗi nơi lại có một câu chuyện về hoàn cảnh và những số phận con người.

Cuộc sống của mỗi gia đình ngày hai bữa sáng, tối phải lót dạ một cách dè dặt với canh sắn, ngô đồ, còn măng và rau sắn thì dường như ngự trị bữa ăn…, để có một nồi cơm độn sắn cũng hết sức khó khăn (“Thương lắm những búp non ở trên cành”, Mạnh Hà, phóng viên TTXVN tại Lai Châu).

Thôi chết mẹ ! Vậy là khi tầu hạ thủy – vì lu bu nhiều chuyện quá – Đảng và Nhà Nuớc đã quên (hú) những người dân ở miền sâu, miền xa, miền rừng núi rồi. Đúng không ?

– Thưa không ! Cả đống còn đang đứng (lóng ngóng) trên bờ, chớ đâu có riêng chi mấy đám dân bản địa.

Trong một cuộc chất vấn dành cho những đại biểu quốc hội, Bộ trưởng Nông nghiệp Cao Đức Phát cho biết ở thôn quê “vẫn còn hàng trăm nghìn đồng bào chỉ được ăn cơm khi ngày lễ, ngày tết, khi bị ốm !”.

Như vậy là đám nông dân, ở miền xuôi, cũng bị bỏ lại luôn sao ?

– Chắc bi họ đông quá nên mang theo (e) quá tải chăng ?

– Thế còn đám công nhân ?

Xin đọc qua đôi dòng tường thuật của ký giả Nguyễn Bay :

“Một ngọn đèn dầu, cái giỏ nhựa đựng đồ nghề đấm bóp, giác hơi, chiếu cói, gối hoa trải sẵn hoặc chỉ là một tấm áo mưa. Thợ giác hơi quanh Khu công nghiệp Tân Tạo đa số là nữ với các ‘chiếu’ trên vỉa hè, ven đường, thậm chí chỉ một mô đất giữa ruộng ; hoạt động từ 18g30 đến 3-4 giờ sáng…

Gần một năm nay, các “chiếu” giác hơi ngày một dài thêm hàng cây số (đường đi Long An, An Sương). Lúp xúp trong bụi cây, bờ cỏ, chúng tôi nhận ra nhiều thợ vốn là công nhân… Những khi tan ca, họ lẫn vào dòng thợ ‘chào hàng’… Tiền công 10.000 – 15.000 đồng/lần, bằng nửa ngày công… làm thợ”.

Dẫy chiếu “ngày một dài thêm” vì vật giá mỗi lúc một tăng mà đồng lương thì không. Lương bổng công nhân Việt Nam không thể nâng cao hơn vì những người lãnh đạo ở xứ sở này đã lựa chọn một… quốc sách thấp – theo lời ông Hồ Xuân Lâm, trưởng phòng quản lý lao động các khu chế xuất – khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh :

“Chúng tôi đã có cuộc họp với Hiệp hội Doanh nghiệp Đài Loan và tư vấn cho họ hãy trả lương cao hơn để tránh đình công. Họ nói là rất muốn trả cao hơn nhưng không thể vì quy định lương của Chính phủ Việt Nam quá thấp, các đối tác nước ngoài dựa vào đó kềm giá đơn hàng nên có muốn cũng không thể tăng hơn được”.

Nói tóm lại – và vẫn nói theo kiểu miền Nam – là thuyền đã ra cửa biển… mình ên ! Nhắc đến miền Nam, tôi lại chợt nhớ đến những chuyến tầu (bay) vội vã rời khỏi Sài Gòn – vào tháng Tư, bốn muơi năm trước – năm 1975. Trên một số những con tầu này chỉ có quí ông qúi bà tai to mặt lớn (cùng với của cải, thân nhân và gia nhân của họ) mà thôi.

Bây giờ, sau khi bước ra biển lớn, kiểm điểm lại cũng chỉ thấy duới thuyền không có ai khác – ngoài những kẻ cầm quyền, cùng với hành lý, thân nhân và gia nhân của họ. Thuyền đi càng xa, khoảng cách giàu nghèo (rõ ràng) càng rộng. Ông bạn Lê Diễn Đức gọi đó là sự đểu cáng thời vươn ra biển lớn.

Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ… mẹ) không chửi thề sao được chớ.

Tưởng Năng Tiến

(Sổ tay Thường dân).

https://kontumquetoi.com/2016/04/23/lai-chuyen-thang-tu-tuong-nang-tien/

Ai giết nghệ sĩ Thanh Nga

Ai giết nghệ sĩ Thanh Nga

Trúc Giang  

1*. Ai giết nghệ sĩ Thanh Nga?

altNSƯT Thanh Nga sống và chết trọn vẹn từng giây phút''

Thanh Nga là một trong những nữ nghệ sĩ nổi tiếng trên sân khấu cải lương miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

Ngày 26-11-1978, cái tin Thanh Nga bị bắn chết đã nhanh chóng lan truyền trong người dân Sài Gòn. Cái chết đột ngột của Thanh Nga gây xôn xao trong dư luận. Giới mộ điệu cải lương vô cùng xúc động trước cái chết của thần tượng của họ. Mọi người bàn tán xôn xao. Câu hỏi đầu tiên là “Ai đã giết Thanh Nga?”

Nhiều người suy đoán, gián điệp Trung Cộng giết Thanh Nga vì chửi bới Trung Cộng. Cũng có ý kiến cho rằng, Tổng Bí Thư Lê Duẩn rất mê Thanh Nga, nên TN ăn đạn do ghen tuông.

Bộ Công An cho báo chí biết, chính bọn “tàn dư Mỹ Ngụy” giết Thanh Nga.

Tất cả không thuyết phục, không đúng. Và câu hỏi “Ai giết Thanh Nga” chưa có câu trả lời chính xác trong một thời gian dài sau đó.

2*. Tóm tắt vụ án Thanh Nga

Khoảng 23 giờ ngày 26-11-1978, sau khi diễn xong vở Thái Hậu Dương Vân Nga ở rạp Cao Đồng Hưng, Bà Chiểu, nữ nghệ sĩ Thanh Nga (TN) lên chiếc xe Wolkswagen màu xám nhạt, do chồng là ông Phạm Duy Lân cầm lái. Thanh Nga ngồi ở băng ghế sau với con trai là Cúc Cu, 5 tuổi. Võ sư Nguyễn Văn Các, cận vệ của TN ngồi phía trước bên cạnh tài xế.

Chiếc xe theo đường Đinh Tiên Hoàng hướng về Ngã Sáu Sài Gòn, chỗ có bức tượng Phù Đổng Thiên Vương cởi ngựa sắt. Xe từ từ ngừng trước cửa nhà Thanh Nga, số 114 đường Ngô Tùng Châu.

Bỗng nhiên, một chiếc Honda phóng tới, thắng gấp, một người nhảy xuống chỉa súng vào gáy của võ sư Nguyễn Văn Các, 34 tuổi, cận vệ của TN, hắn quát “Đứng yên, mày la tao bắn chết”. Hắn đạp mạnh làm cận vệ Các ngã chúi vào trong xe, sau đó có tiếng súng nổ và trẻ con khóc.

Thanh Nga và chồng bị bắn chết tại chỗ vào khoảng 23 giờ 30. Thi hài được đưa vào bịnh viện Sài Gòn.

Cái chết của Thanh Nga gây chấn động trong nước.

3*. Việt Cộng cho rằng đây là vụ bắt cóc tống tiền.

Công An cho rằng việc bắt cóc tống tiền không thành công, mới gây ra án mạng.

Đồng thời liên kết vụ ám sát Thanh Nga với 2 vụ bắt cóc con của nghệ sĩ Kim Cương và con của bác sĩ Nguyễn Lã Hỹ, và cho biết thủ phạm đã nhận tội giết Thanh Nga là Nguyễn Thanh Tân, trung sĩ “biệt động dù ngụy” và Nguyễn Văn Đức là “lính Hải quân ngụy”.

Cả hai nhận tội và bị xử tử hình ngày 23-8-1980.

Cơ quan điều tra Công An cho biết, trong quá trình điều tra thẩm vấn kẻ chủ mưu 2 vụ bắt cóc, mới lòi ra thủ phạm đã giết chết Thanh Nga.

3.1. Vụ bắt cóc con của nghệ sĩ Kim Cương

       altNghệ sĩ Kim Cương

   Nghệ sĩ Kim Cương

Năm 1977.

Ngày 26-6-1977, Công An Sài Gòn nhận được tin báo, cháu Toro 5 tuổi, con của nghệ sĩ Kim Cương bổng nhiên bị mất tích ở nhà trẻ Vườn Hồng. Một người đàn ông giọng Nam bộ, tự xưng là Hải Phong, điện thoại báo cho biết là họ đang giữ đứa trẻ và đòi 100 cây vàng để chuộc mạng. Qua nhiều lần thương lượng hai bên đồng ý 20 cây.

Sau đó, cha của Toro mang vàng đến điểm hẹn, nhận ra chiếc áo của con đang mặc, ông đưa vàng cho kẻ bắt cóc, và không lâu sau đó, Toro được thả tại một bãi cỏ trước nhà thờ Đức Bà Quận 1. Sài Gòn.

Công An không tìm ra thủ phạm.

3.2. Vụ bắt cóc con của bác sĩ Nguyễn Lã Hỷ

ky-3-lo-dien-bang-cuop-khet-tieng-tu-vu-bat-coc-con-bac-si-la-hy_ 1sbc xoa so bang sat thu ban chet vo chong nghe si thanh nga hinh anh 6

        Nguyễn Thanh Tân cùng đồng bọn bắt có con bác sĩ Lã Hỷ tại trường cấp 1, cấp 2 Văn Tây Nhì

Năm 1979.

Ngày 2-3-1979, con trai của bác sĩ Nguyễn Lã Hỷ là bé Nguyễn Phương, bị bắt cóc ở trường phổ thông Tây Nhì, Phú Nhuận. Hung thủ ném chiếc áo bé Phương đang mặc ở trụ điện gần nhà và gọi báo cho bà Bích, là mẹ bé Phương, đòi 100 cây vàng chuộc con. Người gọi tự xưng là Hải Phong, nói giọng Nam bộ.

Bà Bích không hợp tác với Công An vì sợ con bị hại, nhưng CA đã bố trí theo dõi.

Sau 5 lần thương lượng, kẻ bắt cóc chấp nhận 20 cây vàng.

Năm giờ chiều ngày 21-3-1979 , theo yêu cầu của bọn bắt cóc, bà Bích mặc áo bà ba, đội nón lá, đi xe đạp, mang 20 cây vàng đến trước số nhà 95 đường Phan Đăng Lưu, Phú Nhuận.

Khi nhận ra bà Bích, một thanh niên nhảy ra chụp lấy gói vàng và tức thì, một chiếc Honda chạy tới, cả hai vọt đi.

Viên đội trưởng CA bắn theo 5 phát súng. Một viên đạn trúng chân tên lái xe, một viên trúng vào người của tên ngồi sau ôm gói vàng.

Công an mai phục ở các bịnh viện, và bắt tên Hoá ở bịnh viện Chợ Rẫy. Tên Hoá khai, chủ mưu là Nguyễn Thanh Tân, trung sĩ “Biệt động dù” chế độ cũ.

Sau đó, Nguyễn Thanh Tân bị bắt. Bé Phương được tìm thấy ở nhà người em của Thanh Tân ở Sóc Trăng.

Tân khai ra đồng bọn là Nguyễn Văn Đức, lính “hải quân ngụy”.

Đồng thời, Nguyễn Thanh Tân và Nguyễn Văn Đức cũng nhận tội đã giết Thanh Nga và chồng, vì bị thất bại trong vụ bắt cóc vào ngày 26-11-1978.

Trên đây là tài liệu do CA cung cấp cho báo chí.

altalt

             Nguyễn Thanh Tân     Tên Hoá được cáng đến Chợ Rẫy

4*. Khám nghiệm tử thi của Thanh Nga và chồng

Vụ hạ sát Thanh Nga ngày 26-11-1978.

Sáng hôm sau, ngày 27-11-1978, đoàn khám nghiệm đến bịnh viện Sài Gòn, thì thi hài của 2 người đã được đưa vào nhà xác.

Bản báo cáo chuyên án Thanh Nga của ông Võ Tấn Thành, Đội trưởng Đội trọng án Phòng Cảnh sát Hình sự TP/HCM như sau.

“Tử thi Thanh Nga vẫn còn mềm dịu bình thường, tử thi ông Lân (hơn bà 20 tuổi) tay chân đã cứng.

“Thanh Nga thân hình đẹp, hoàn mỹ, giống như hoa hậu thời nay. Vú trái gần vết thương đã trúng đạn, nằm như người ngủ, sắc mặc vẫn tươi đẹp. Ông Lân, người cứng cáp, to bự gấp đôi Thanh Nga, bị một vết thương (đạn bắn) ở ngực trái, xuyên thẳng hướng tim ra lưng” (Báo cáo chuyên án Thanh Nga của ông Võ Tấn Thành, Đội trưởng Đội trọng án Phòng CS Hình sự TP/HCM)

5*. Lời khai của cận vệ Nguyễn Văn Các

Do những bức thơ hăm dọa, bà bầu Thơ, mẹ của Thanh Nga, cử võ sĩ Nguyễn Văn Các bảo vệ Thanh Nga.

Nguyễn Văn Các, 34 tuổi, là nhân viên của đoàn Thanh Minh Thanh Nga, được cử theo bảo vệ Thanh Nga.

Nguyễn Văn Các khai.

“Tối hôm ấy, chính chồng của chị Thanh Nga, tức đạo diễn Phạm Duy Lân cầm lái, Thanh Nga ngồi ở băng ghế sau với cháu Phạm Duy Hà Linh, (Cúc Cu) 5 tuổi. Xe nổ máy, tôi ngồi cạnh anh Lân, chạy từ quận Bình Thạnh, theo đường Đinh Tiên Hoàng hướng về Ngã Sáu Saigòn, chỗ có tượng Phù Đổng Thiên Vương. Xe từ từ ngừng trước cửa nhà TN số 114 đường Ngô Tùng Châu.

Tôi xuống trước, định mở cửa cho TN xuống, nhưng khựng lại vì có một chiếc Honda từ đâu phóng tới, dừng gấp trước cổng nhà nghe cái “xẹt”. Một bóng người vội vã nhảy xuống chìa súng vào gáy tôi, quát: “Đứng yên, mầy la tao bắn chết”.

Hắn đạp mạnh khiến Các ngã chúi xuống, úp mặt vào trong xe phía trước, hắn buộc anh nằm yên.

Chưa kịp hoàn hồn, Các nghe tiếng ông Lân kêu lên “Đừng bắt con tôi, các anh muốn gì thì vợ chồng tôi cũng chịu hết.”

Dường như hai bên có dằn co với nhau rồi một tiếng súng nổ.

Giọng ông Lân thều thào nói với Các: “Các ơi, cậu Ba bị bắn chết rồi”.

Tiếp đó là giọng Thanh Nga hoảng hốt “Bắn thì bắn chết tôi đi chớ đừng bắt con tôi.” Lại có tiếng động như giằng qua giằng lại. Mấy giây sau, Các nghe tiếng nổ thứ hai, và tiếng cháu Cúc Cu gọi thất thanh “Ba ơi, má ơi”.

Một giọng nói lạ vang lên “Thôi, đi”.

Khi ấy, Các có cảm giác không còn bị đè bởi chiếc đệm gối, nên đứng dậy thì thấy 2 bóng người đang rời khỏi chiếc xe hơi. Một tên ngồi lên xe Honda, do ánh đèn lờ mờ nên Các không thấy rõ mặt, chỉ nhận hắn mặc áo màu lam nhạt. Tên kia cầm súng, nước da ngâm ngâm, tóc dài, khoảng 30 tuổi, cao chừng thước sáu, thước bảy, bận quần đen, áo màu gạch đậm.

Bấy giờ đã khuya, ở bên kia đường đối diện với nhà TN, có 2 chị em đang học bài trên lầu, khi nghe súng nổ và tiếng con nít khóc, đã nhìn xuống, thấy hai tên phóng Honda từ nhà TN chạy về phía Ngã Sáu mất dạng. Lúc đó khoảng 23 giờ 30. Thanh Nga được đưa vào Bịnh Viện Sài Gòn.

6*. Đối chiếu lời khai của cận vệ Các với khám nghiệm tử thi

Thanh Nga và ông Lân đều bị bắn vào phần ngực bên trái, vùng trái tim. (Thanh Nga. “Vú trái gần vết thương”. Ông Lân. “Một vết thương (đạn bắn) ở ngực trái, xuyên thẳng hướng tim ra lưng”).

Chứng tỏ sát thủ là một tay chuyên nghiệp, được huấn luyện. Chỉ một viên đạn vào tim là chết liền tại chỗ, khi đến bịnh viện thì hết cứu chữa được.

Nhưng làm thế nào để cả hai đều bị bắn vào vùng ngực trái, vị trí của quả tim?

Ông Lân thì đang ngồi sau tay lái, mà sát thủ thì đứng ngoài xe tức là bên hông của ông Lân. Thanh Nga thì đang ôm bé Cúc Cu trước ngực.

Trong lời khai của cận vệ Các “Dường như hai bên có giằng co với nhau rồi một tiếng nổ”. Giằng co ở đây là tên sát thủ kéo ông Lân quay ngực về phía họng súng để bóp cò.

Trường hợp của TN cũng thế. Sát thủ kéo Cúc Cu ra khỏi vòng tay của TN, cho lòng ngực của TN không còn gì che chắn, để bóp cò cho chết ngay tại chỗ.

Thanh Nga thấy tên sát thủ kéo Cúc Cu ra, thì tưởng rằng hắn muốn bắt Cúc Cu, cho nên mới nói là “Bắn thì bắn đi chớ đừng bắt con tôi”.

7*. Không phải bắt cóc tống tiền

7.1. Ném lựu đạn và những bức thơ cảnh cáo

Trước khi bị ám sát, Thanh Nga đã nhận được nhiều thơ nặc danh cảnh cáo, yêu cầu ngừng đóng vai Trưng Trắc và Thái hậu Dương Vân Nga, nếu không thì sẽ bị thanh toán.

Sau đó, vào tháng 3 năm 1978, khi đang diễn vai Trưng Trắc với Thanh Sang trong vở Tiếng Trống Mê Linh ở rạp Lux B, đường Trần Văn Cừ, thì bị ném lựu đạn lên sân khấu, làm chết tại chỗ hai nhạc công và Thanh Nga bị thương nhẹ, thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

Vụ việc nầy chứng tỏ không phải là bắt cóc tống tiền. 

– Đây không phải là một vụ tống tiền

– Không phải là một vụ bắt cóc

– Mà là một vụ ám sát vì lý do chính trị mà chính Công An VC thực hiện

7.2. Những cái vô lý của Công An Sài Gòn

1). Tàn dư Mỹ Ngụy giết Thanh Nga

  1. Ngay sau vụ án, ông Trần Quyết, thứ trưởng Bộ Nội vụ, phân tích:

“Vụ án Thanh Nga xảy ra trong lúc một số tàn quân của quân đội Saigòn còn lẫn trốn ở các vùng rừng núi, bưng biền, hoạt động chống lại ta. Trước đó, có một số hành vi đe doạ là gởi thơ yêu cầu TN không được đóng vai Trưng Trắc hoặc Thái hậu Dương Vân Nga nữa. Giữa lúc đó, có tin mật báo” Một tổ chức tự xưng là “Lực lượng thống hợp Liên Bang Đông Dương” do sự đở đầu của CIA Mỹ, vừa mở tiệc ăn mừng ở một quán rượu vùng ven Saigòn, do đã bắn chết Thanh Nga theo lịnh cấp trên đưa xuống”.(Hết trích)

  1. Nhận xét về lời tuyên bố trên.

Rõ ràng là câu chuyện bịa đặt

Tổ chức chống Cộng thời đó làm gì mà dám ra quán nhậu để tổ chức ăn mừng đã giết Thanh Nga, vì TN chống quân Tàu.

Thời đó, những gánh hát phải diễn những tuồng “cách mạng” có nội dung chửi bới VNCH như là:

“Người Ven Đô”, do Út Trà Ôn đóng vai Tám Khoẻ, vở Khách Sạn Hào Hoa, vở Cây sầu riêng trổ bông…thế mà có ai lên tiếng chống đối đâu?

2). Thanh Nga chết do việc bắt cóc không thành công

Ban đầu CA cho rằng tàn dư “quân đội ngụy” đã giết chết Thanh Nga, nhưng sau đó thấy không ổn vì không có ai tin chuyện hoang đường như thế.

Kế đó, CA cho rằng vụ án là do việc bắt cóc không thành, nên sinh ra án mạng, và thủ phạm chính là Nguyễn Thanh Tân và Nguyễn Văn Đức, đã từng tổ chức 2 vụ bắt cóc con của Kim Cương và con của bác sĩ Nguyễn Lã Hỷ.

  1. Những điểm vô lý cho rằng bắt cóc không thành

Theo như kế hoạch đã vạch ra, địa điểm, thời gian và tình huống đã nắm vững, đã không có một phản ứng nào, thì tại sao gọi là bắt cóc bất thành? Mục đích của bắt cóc là đòi tiền chuộc, thế thì 

tại sao ông Lân đã chịu nạp tiền mà vẫn bắn chết trong lúc ông tuân lịnh và hợp tác?

  1. Không phải kế hoạch bắt cóc, mà là kế hoạch ám sát.

Điều quan trọng nhất của việc bắt cóc tống tiền là yếu tố bí mật. Yếu tố nầy đã được hai tên thật sự bắt cóc là Tân và Đức thực hiện. Trái lại hai tên công an trong đội Săn Bắt Cướp Sài Gòn, đã công khai thi hành ngay ngoài công lộ, đã không bịt mặt, không đội mủ, không mang kiếng đen, vì tin chắc rằng nạn nhân không còn sống để nhận diện trong trường hợp bị bắt. 

Sau khi giết người, đáng lẻ phải chạy về phía đường vắng người, hướng nhà Thờ Huyện Sĩ gần đó, nhưng không, chúng chạy ra Ngã Sáu, là tụ điểm ăn uống tấp nập ban đêm với hàng chục chiếc xe từ phở, hủ tiếu mì, bánh cuốn, các món nhậu.

Đó không phải là tác phong của kẻ bắt cóc, mà là của kẻ sát nhân. 

8* Những lời lẽ trong tuồng hát gây chết người.

8.1. Lời của Trưng Trắc trong vở Tiếng Trống Mê Linh.

alt

   * “Tổ tiên ta không chịu lùi bước trước quân thù, không nhân nhượng một tấc đất nào cả. Phải chém đầu những kẻ có ý lùi bước trước quân thù.”

“Đói rét chịu được, nhưng nhục mất nước không bao giờ chịu được! Đó là đạo lý của dân tộc ta đời đời truyền lại”

* Nước đã mất thì tránh sao cho được nhục! Phu tướng, giờ đây ta hãy tế cáo với tổ tiên, thề lấy máu mà rửa nhục!”

* Hỡi đồng bào trăm họ! Giặc Đông Hán đang xéo dày đất nước, nhục nào hơn nhục nô lệ ngoại bang! Thà chết mà đứng thẳng, không cam chịu sống quỳ. Đất nước Nam cẩm tú, người dân Nam anh hùng, trước đền thờ quốc tổ, thề hy sinh giết giặc cứu non sông!”

8.2. Lời của Thái hậu Dương Vân Nga.

1547439879-1-49756058_2279978002260902_983795304627175424_n-1547438654-width960height640https://images.hcmcpv.org.vn/res/news/2019/02/02-02-2019-dau-an-100-nam-san-khau-cai-luong-8F9035C8-details.JPG?vs=06022019103111

                            Hai cảnh trong vở Thái Hậu Dương Vân Nga

Vở tuồng chống Nhà Tống

* Không! không! ta không nhượng quân thù một tấc đất nào cả!

* Đây là thanh gươm của tiên vương đã từng dẹp loạn sứ quân để sơn hà bền vững đến hôm nay, Tướng quân hãy nhận lấy để chém đầu kẻ nào có ý lùi bước trước quân thù, cho dù lùi nửa bước để toan liệu về sau”

* “Dù nước nhỏ, đây là tấm áo đầu tiên dân ta dám may, người Đại Cồ Việt dám mặc để lên ngôi hoàng đế. Tấm Long bào nầy là niềm kiêu hảnh của dân ta, một dân tộc dám tự xưng là Đại Cồ Việt. Tôi tin rằng trăm họ sẽ tay nối vòng tay, quyết chống lại sức mạnh bạo tàn của giặc. Đây, bức thơ của nước Đại Cồ Việt phúc đáp với sứ thần. Tấm Long bào nầy, tấm áo thiên tử đầu tiên nầy, ta quyết không bao giờ dâng nạp.”

Hãy cùng nhau sống lại hào khí của Tiếng trống Mê Linh!”

Vài nét về Thái hậu Dương Vân Nga.

Tên thật là Dương Ngọc Vân. Được gọi là hoàng hậu hai triều, triều nhà Đinh và triều Tiền Lê.

Khi Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh) và thái tử Đinh Liễn bị ám sát, con trai 5 tuổi là Đinh Toàn lên nối ngôi, và bà làm nhiếp chính. Nhà Đinh suy yếu, trước sự đe dọa của quân nhà Tống, bà tự ý nhường ngôi lại cho tướng quân Lê Hoàn, lập ra nhà Tiền Lê. Lê Đại Hành. (Nhà Hậu Lê là Lê Lợi). Lê Đại Hành phong bà làm hoàng hậu. Hoàng hậu hai triều là vợ của hai ông vua, Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành.

Trong vở tuồng, Dương Vân Nga đôn đốc tướng quân Lê Hoàn lãnh nhiệm vụ đánh nhà Tống. Lê Đại Hành đánh tan quân Tàu năm 981, bảo vệ nước Đại Cồ Việt.

9*. Chính Việt Cộng đã giết Thanh Nga

9.1. Hoàn cảnh chính trị thời Hồ Chí Minh.

Thời Hồ Chí Minh, Việt Nam đi hàng hai, một chân bên Liên Xô, một chân bên Trung Cộng. Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai là hai người đồng tính luyến ái, nên hai nước Việt-Trung gắn bó chặt chẽ với nhau.

Sau khi Hồ Chí Minh chết, lãnh đạo đảng CSVN ngã hẳn về phía Liên Xô.

Dựa hơi Liên Xô, Việt Cộng công khai ra mặt chống Trung Cộng. Cơ quan truyền thông nhà nước, suốt ngày ra rả chống “Bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh”.

Ủy viên Bộ Chính trị, Hoàng Văn Hoan, thân Trung Cộng, phải đào thoát qua Trung Quốc theo ngã Pakistan.

Ở miền Bắc, người Tàu bị đuổi về Trung Quốc, gây ra tình trạng gọi là “nạn kiều”. Ở miền Nam, người Tàu bị đuổi ra khỏi nước bằng tàu, gọi là xuất cảnh bán chính thức.

Đoàn cải lương Thanh Minh-Thanh Nga (TM/TN) được Sở Văn Hóa Sài Gòn xử dụng làm cái loa tuyên truyền chống “Bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh” qua hai vở tuồng Tiếng Trống Mê Linh và Thái Hậu Dương Vân Nga. Hai vở tuồng do nữ cán bộ Sở Văn Hóa Sài Gòn, thuộc gia đình cách mạng họ “Ca Lê”, là bà Ca Lê Hồng làm đạo diễn.

Trong vở Tiếng Trống Mê Linh, Thanh Nga trong vai Trưng Trắc đánh đuổi thái thú Tô Định về Tàu. Trong vở Thái Hậu Dương Vân Nga, Thanh Nga thủ vai thái hậu, cổ vỏ tướng công Lê Hoàn đánh tan quân Nhà Tống năm 981.

9.2. Tình hình thay đổi. Việt Cộng bị Liên Xô bỏ rơi.

Dựa hơi Liên Xô, trong Hiệp ước quốc phòng có điều 6 ghi như sau: “Trong trường hợp một trong hai bên bị tấn công, hoặc bị đe doạ tấn công, thì hai bên ký hiệp ước sẽ lập tức trao đổi ý kiến với nhau, nhằm loại trừ mối đe doạ đó và áp dụng các biện pháp thích đáng có hiệu lực, để bảo đảm hòa bình và an ninh của hai nước”.

Nhưng khi Trung Cộng bắt đầu đánh chiếm các đảo Trường Sa, Việt Cộng cầu cứu, nhưng quân đội Liên Xô đang đóng ở Cam Ranh, ngoảnh mặt làm ngơ, bình chân như vại. Chính thức bỏ rơi Việt Nam, mặc dù đã có hiệp ước.

Bị Liên Xô bỏ rơi, Việt Cộng lâm vào thế yếu, lực yếu thế cô, vì không có đồng minh nào.

Trong khi đó, Đặng Tiểu Bình thường xuyên tuyên bố “Cho Việt Nam một bài học”. Bài học lừa thầy phản bạn.

Trước tình trạng đó, Việt Nam muốn chấm dứt những tuyên truyền chống Trung Cộng. Cụ thể là buộc Trưng Trắc và Dương Vân Nga phải chấm dứt việc chửi bới bọn Tàu Cộng, bành trướng bá quyền Bắc Kinh.

Nhiều bức thơ nặc danh cảnh cáo đoàn TM/TN, buộc Thanh Nga phải chấm dứt việc tuyên truyền theo chủ trương trước kia của nhà nước. Ỷ lại vào việc Sở Văn Hóa chống lưng, Thanh Nga tiếp tục chửi bới bọn Tàu, nên bị ném lựu đạn ở rạp Lux B, suýt chết trong đường tơ kẽ tóc mà vẫn không chừa. Cuối cùng là cái chết của Thanh Nga và chồng là ông Phạm Duy Lân.

Chính Việt Cộng đã giết Thanh Nga.

Thanh Nga bị bắn chết ngày 26-11-1978, chỉ 3 tháng sau, ngày 17-2-1979, Đặng Tiểu Bình “Dạy cho Việt Nam một bài học” bằng cách đồng loạt tấn công 7 tỉnh miền Bắc: Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Hà Giang.

Thời gian đó, lực lượng quân sự Trung Cộng còn yếu nên không khống chế được 7 tỉnh. Một số quân Trung Cộng vào nội địa chiếm một số thị xã. Trước khi rút lui, binh lính Trung Cộng đập phá toàn bộ những phương tiện, vật liệu và dụng cụ phục vụ kinh tế và đời sống. Từ cái chén, đôi đũa, cái bàn, cái ghế…tất cả mọi thứ không còn xử dụng được. Việt Nam thiệt hại nặng về kinh tế.

Sau đó, Việt Cộng đầu hàng. TBT Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng đến Thành Đô, Tứ Xuyên, họp mật trong hai ngày 3&4 tháng 9 năm 1990. 

“Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….

Phía Trung Quốc đồng ý, và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.…”

Từ đó, các lãnh đạo đảng CSVN phải qua Trung Quốc trình diện, xin phép trước khi đi Mỹ. Tất cả. Không có ngoại lệ nào cả. Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang, Phạm Quang Nghị, Phạm Bình Minh (Qua Tàu 2 lần trước khi đi Mỹ) Nguyễn Phú Trọng, Đinh Thế Huynh, Nguyễn Xuân Phúc.

10*. Tiểu sử và con đường sự nghiệp của Thanh Nga

10.1. Tiểu sử Thanh Nga

Thanh Nga | nhac Thanh Nga2

           Theo nhận xét của giới nghiên cứu kịch trường, thì trong 36 năm sống, Thanh Nga đã đứng hết mình dưới ánh đèn màu suốt 28 năm.

Thanh Nga tên thật là Juliette Nguyễn Thị Nga, sinh ngày 31-7-1942 tại Tây Ninh. Cha là ông Nguyễn Văn Lợi. Mẹ là Nguyễn Thị Thơ, bà Bầu Thơ, trưởng đoàn Thanh Minh Thanh Nga nổi tiếng một thời ở VN.

alt      alt

            Thanh Nga và mẹ là bà bầu Thơ và em là Bảo Quốc

Thanh Nga kết hôn 2 lần.

Lần đầu với thiếu tá Nguyễn Minh Mẫn, lần sau với Luật sư Phạm Duy Lân. Có một con trai với ông Lân, tên là Phạm Duy Hà Linh, sinh năm 1973, nay là một nghệ sĩ hài.

Gia đình Thanh Nga có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng:

– Năm Nghĩa (Cha dượng)

– Bảo Quốc (Em cùng mẹ khác cha)

– Hữu Châu (Con của nghệ sĩ Hữu Thình, anh ruột của TN.)

Bị ám sát cùng chồng ngày 26-11-1978 tại Sài Gòn, an táng tại Nghĩa trang “Chùa Nghệ Sĩ”, Gò Vấp.

Thanh Nga được nhà nước truy tặng danh hiệu Nghệ Sĩ Ưu Tú năm 1984.

10.2. Con đường sự nghiệp của Thanh Nga

Với hơn 230 vở diễn trong 28 năm, kể từ lúc 8 tuổi, TN đã cống hiến cho khán giả biết bao vui buồn với cái tên “Cô Đào Thương nhạy khóc”. Năm 8 tuổi đã có biệt hiệu là “Thần Đồng Thanh Nga” trong những vở Phạm Công Cúc Hoa, Đồ Bàn Di Hận, Lửa Hờn.

Năm 16 tuổi, xuất sắc trong vai Sơn nữ Phà Ca trong vở Mưa Rừng (Người Vợ không bao giờ cưới)

Gây ấn tượng sâu đậm trong lòng khán giả mộ điệu qua những tuồng: Áo cưới trước cổng chùa, Sân khấu về khuya, Đôi mắt người xưa, Ngã rẻ tâm tình, Con gái Chị Hằng.

Đoạt Huy Chương Vàng đầu tiên của Giải Thanh Tâm năm 16 tuổi.

10NSND Ngọc Giàu: Trò câu khách không vực dậy cải lương - Báo Người lao động

       Thanh Nga nhận HCV giải Thanh Tâm năm 1958 Từ trái qua: Thanh Nga – Ngọc Giàu – Lan Chi – Bích Sơn

Tham gia đóng phim và là diễn viên xuất sắc trong Đại Hội Điện Ảnh Á Châu năm 1973 tại Đài Bắc (Đài Loan). Là đại diện nữ duy nhất trong Đại Hội Điện Ảnh Ấn Độ năm 1969, được Thủ tướng Indira Gandhi tiếp đón. TN còn in đậm trong lòng khán giả qua phim Loan Mắt Nhung của Đạo diễn Lê Dân.

11*. Những người tình cũ của Thanh Nga

11.1. Thanh Nga là vợ của Thành Được

Tài liệu của công an.

“Theo tài liệu của Tổng Cục Cảnh Sát Nhân Dân, thì Thành Được có một thời yêu say đắm Thanh Nga nhưng không được yêu lại, vì bà Bầu Thơ ngăn cản. Nhưng ông vẫn theo đuổi và dùng thế lực bên ngoài để kéo người đẹp trên sân khấu về với mình, nên Thanh Nga phải ưng chịu. Dẫu cho đã nên vợ nên chồng, nhưng cá tính hai người xung khắc với nhau và cuối cùng phải chia tay”. (Hết trích)

11.2. Thiếu tá Nguyễn Minh Mẫn là chồng cũ của Thanh Nga

Ông Mẫn thương Thanh Nga khi cô đang sáng chói trên sân khấu cải lương. Người cao lớn, đẹp trai, có tâm hồn nghệ sĩ, là sĩ quan huấn luyện viên môn chiến thuật của trường Bộ Binh Thủ Đức, rồi Chỉ huy phó Yếu Khu Bình Phú (Thủ Đức).

Thanh Nga trong chiếc áo cưới, bước lên xe hoa chính thức cùng người chồng là ông Nguyễn Minh Mẫn. Tiệc cưới được tổ chức linh đình tại nhà hàng Đại La Thiên (Chợ Lớn), báo chí và nghệ sĩ tham dự rất đông.

Rượu Champagne nổ dòn tan, cuộc vui tưởng chừng như bất tận. Nhưng chưa được bao lâu, thì ông Mẫn phải ra toà lảnh án về tội buôn lậu đồ Mỹ.

Nói thêm về vụ buôn lậu của Thiếu tá Nguyễn Minh Mẫn.

Trong khu vực huấn luyện của Trường Bộ Binh Thủ Đức, có một địa điểm kín đáo tên là Hầm Sạn, là nơi mà các tài xế chở hàng PX của Mỹ từ Tân Cảng (New Port-Cầu Sài Gòn) lên kho Long Bình của Mỹ. PX là Post Exchange, hàng hóa miễn thuế bán cho quân đội Mỹ. Quân nhân Mỹ được cho đổi từ đô la xanh sang đô la đỏ để mua hàng ở các hợp tác xã Mỹ. 100 đô la xanh được đổi thành 180 đô la đỏ.

Trong thời gian đầu, không có việc kiểm soát lộ trình từ Tân Cảng đến Long Bình. Những xe tải hạng nặng ở Tân Cảng được đưa hàng lên đầy xe. Đến giờ cho phép vào, chỉ có một tài xế nhận được một phiếu ký tên nơi gởi và khi đến Long Bình, ký nhận, mang xe và phiếu ký nhận về trình Tân Cảng là xong.

Các tay buôn lậu móc nối với tài xế, đổ vài ba thùng hàng xuống Hầm Sạn, nhận 50,000 VNĐ. Không biết những gì trong đó, có khi nhận cả một thùng súng Colt của quân đội.

Tài xế nhận 50,000VNĐ, con buôn bán ra cả trăm ngàn đồng, tùy theo món hàng nhận được. Làm giàu nhanh chóng.

Về phía mấy ông lính Mỹ, thì mấy bà lấy Mỹ, lập danh sách cho các ông, những mặt hàng khan hiếm hoặc bán chạy trên chợ trời. Thế là hàng PX của Mỹ tràn ngập các chợ trời và các sạp bán đồ Mỹ ở các nơi khác.

Sau những vụ mất mát lộ liễu, Mỹ dùng trực thăng kiểm soát các xe hàng. Và Thiếu tá Mẫn bị bắt trong trường hợp đó.

Thiếu tá Mẫn ngồi tù, Thanh Nga phải sống trong những ngày đoạn trường và phải đối mặt với dư luận, những việc không đâu cứ ùa đến, cả những vu oan, tố cáo của người đàn bà trước kia của ông Mẫn. Hôn nhân tan vở.

  1. Thanh Nga là vợ của ông Phạm Duy Lân

Lật lại vụ ám sát vợ chồng NSƯT Thanh Ngaalt

       Ông Lân là luật sư, đạo diễn và có thời làm Đổng Lý Văn phòng của một Bộ trong chính quyền Saigòn, cho nên thường gọi là Ông Đổng Lân. Người to cao, đẹp trai, hơn Thanh Nga 20 tuổi. Ông Lân và TN tuy không sanh cùng ngày, cùng tháng, nhưng đã chết cùng ngày cùng giờ. Con trai duy nhất của 2 người là nghệ sĩ hài Phạm Duy Hà Linh, (Cúc Cu) sinh năm 1973. Có vợ và con gái. Hà Linh là trưởng Nhóm Hài Hà Linh.

altalt

           Phần mộ vợ chồng nghệ sĩ Thanh Nga trong Chùa Nghệ sĩ

13*. Kết luận

Sự thật rõ ràng là vụ án Thanh Nga không phải là vụ bắt cóc tống tiền, như công an đã nói, mà là một vụ ám sát do công an Việt Cộng thực hiện.

Bản chất của mật vụ Việt Cộng là từng bước ngăn cản Thanh Nga và đoàn Thanh Minh-Thanh Nga, ngưng hai vở Tiếng Trống Mê Linh và vở Thái Hậu Dương Vân Nga. Bắt đầu là những bức thơ nặc danh cảnh cáo. Không xong. Ném lựu đạn mà Thanh Nga không chết, thì chính tay mật vụ công an hạ sát bằng súng.

Một nhà nước trung thực, một chính quyền lương thiện thì không hành xử tàn bạo dã man như thế. Đó là bản chất của các chế độ Cộng Sản, kể cả Việt Cộng.

Tóm lại, Việt Cộng đã giết Thanh Nga và chồng là ông Phạm Duy Lân.

Trúc Giang

Minnesota ngày 22-4-2021

Tuyệt đối không được mở rộng Saigon về phía Đông

  May be an image of 2 people and people standing

 

Đây là ảnh vợ chồng Kiến trúc sư trưởng Ngô Viết Thụ thời VNCH. Sau ngày ” giải phóng MN 30/4/1975 ông ấy không đi di tản. Mặc dù Mỹ đưa Trực thăng đến đón cả gia đình ông ấy sang Mỹ!

Mà ở lại góp ý cho chính quyền mới là: Hãy phát triển Saigon (tức HCM) về phía Tây – Bắc. Tuyệt đối không được mở rộng Saigon về phía Đông.

Nhưng họ không nghe, họ mở rộng TP HCM về phía đông (lấp hết ao hồ , kênh rạch)

PS: Vậy Tp HCM mới ngập lụt… như ngày nay! Cho dù đã chi 10.000 tỷ chống lụt… mà vẫn lụt!

Lấp ao hồ, kênh rạch làm nhà… là phá vỡ Quy luật tự nhiên ( Đại Kị ) … Hanoi và Tp HCM … đã trả giá đắt rồi đó. Tương lai sẽ … rất đắt!

PS: Người có tài, có tâm tướng mạo thật đẹp! Tiếc cho 1 nhân tài bị bỏ rơi… và tiếc cho Tp HCM vì đã không dùng ông ấy!

CHÚT HOÀI NIỆM XƯA – VĂN QUANG

Chút hoài niệm xưa nay còn đâu ?

CHÚT HOÀI NIỆM XƯA

VĂN QUANG

Cái “trục văn hóa” từ La Pagode, Givral đến Brodard khác nhau thế nào?

Nằm chung trên đường Tự Do xưa, có ba quán café cùng nổi tiếng như nhau. Bắt đầu từ nhà hàng La Pagode ở góc Lê Thánh Tôn – Tự Do, qua vài nhà hàng đến tiệm sách Xuân Thu, đến hành lang Eden, trong đó có rạp Ciné Eden từ hồi cựu hoàng Bảo Đại mới lên ngôi. Đến góc đường này là NHẢ HÀNG GIVRAL nằm đối diện với khách sạn Continental, sát bên trụ sở Hạ Nghị Viện (nhà hát lớn TP cũ), nhìn chéo sang phải là KHÁCH SẠN CARAVELLE sinh sau đẻ muộn. Đi quá chút nữa là NHÀ HÀNG BRODARD.

Ba tiệm cùng nằm trên một con đường rất gần nhau, chỉ cách khoảng trên dưới 100m và gần như có kiểu kinh doanh giống nhau.. Nhưng thật ra, nếu để ý kỹ, khách hàng thường chia làm 3 loại khác nhau. Ở đây tôi chỉ kể riêng về mặt “sinh hoạt văn hóa”.

NHÀ HẢNG LA PAGODE

Trước hết phải kể đến nhà hàng La Pagode, tôi cho là “cổ kính” nhất. Ngay từ những năm 1953, khi tôi mới biết taxi là “cái giống gì” (bởi ở miến Bắc hồi đó chưa có taxi), tôi đã biết La Pagode.

Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài hành lang, theo lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng đãng. Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt.

Phía trong có một bàn đánh “tin” dành cho khách giải trí chứ không có mục đích cờ bạc kiếm tiền. Ông Hoàng Hải, anh ruột của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, có thể kể là một “nhà vô địch về môn giải trí này. Chúng tôi chỉ cần mua một chục cái jeton, như đồng xu, bỏ vào khe là chơi triền miên. Cứ sắp hết lại kêu ông ông Hoàng Hải “cứu giá”, bonus lại đổ xuống hàng đống jeton tha hồ chơi.

Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết. Thật sự cái nhu cầu chính là đến đây gặp nhau, để… nói dóc, “bình loạn” vài cái tin văn nghệ, thời sự chính trị cho vui thôi.

Cả ba nhà hàng này với những cái “loa ngầm, loa không ai kiểm chứng” nên có thời người ta gọi những tin tức ấy là “radio catinat” (bởi con đường Tự Do, thời Pháp được đặt tên là đường Catinat). Tuy nhiên cũng có những nguồn tin “bí mật quốc gia” rất chính xác bên cạnh những nguồn tin chẳng bao giờ là sự thật. Nó cứ nhập nhằng như thế nên “radio Catinat” chưa chắc đã là “láo toét” như nhiều người kết tội nó.

Vậy tạm gọi Pagode dành cho giới viết lách gặp nhau, xả stress.

NHÀ HÀNG GIVRAL

Givral đông nhất và đáng kể nhất vào mỗi buổi sáng. Phóng viên trẻ thường tụ tập ở nhà hàng này vì nó ở ngay trước trụ sở Hạ Nghị Viện, các ông dân biểu thường ra ngồi giải lao tại đây và “thảo luận” đủ thứ chuyện bên lề. Và chuyện bên lề bao giờ cũng hấp dẫn hơn chuyện trong nghị trường. Chuyện “bí mật quốc gia”, chuyện phe nhóm, “gia nô” và không “gia nô”, chuyện tình bà nghị ông nghị…, cứ nghe mấy ông này là có đủ tin “giật gân” trong ngày. Cánh phóng viên thường bắt mối rất chặt chẽ với các ông bà dân biểu và nghị sĩ thượng hạ nghị viện. Thật ra họ có quyền lợi “hỗ tương”, anh cho tôi tin, báo tôi yểm trợ lập trường của anh.

Trong số những phóng viên, ngoài người Việt Nam còn có một số phóng viên người Mỹ, Pháp từ khách sạn Continental trước mặt ghé sang.

Hoặc cũng có một số phóng viên người Việt làm cho các đài truyền hình, truyền thanh nước ngoài săn tin tại đây.

Có một nhà thơ hàng đầu Việt Nam thời đó là thi sĩ Đinh Hùng, bình thường ông hay ngồi ở La Pagode, nhưng khi “hữu sự” ông lại ngồi ở Givral. Dáng người “thanh thoát” nhỏ nhắn rất thư sinh. Lúc nào ông cũng chải chuốt, complet, cravate, đầu chải mượt gọn gàng, tay luôn xách chiếc cặp da, ông còn giữ nguyên vẻ đỏm dáng, lịch lãm của “công tử Hà Nội” những năm 50. Ông thường hẹn gặp những người ái mộ ở đây.. Tôi để ý thấy hầu hết là những nữ độc giả rất trẻ, đẹp. Khi ông ngồi cùng 3-4 cô, khi ông lại rù rì với một người đẹp duy nhất. Đúng là ông có số đào hoa và dù đã ngoại ngũ tuần nhưng trái tim vẫn còn rất trẻ. Những lúc nhìn ông “say” như thế, tôi có cảm tưởng như ông cũng giống như những cậu trai 20 ngồi bên cô gái 18. Ông sống thật với rung cảm của mình.. Có lẽ vì vậy thơ ông bao giờ cũng mang cái óng mượt, thần thoại rất đặc trưng. Có thể, Givral chính là nơi bắt ngưồn cho những cánh thơ thăng hoa của cảm xúc này. Hôm nay ngồi ở Givral, hình bóng anh Đinh Hùng vẫn quanh quẩn đâu đây.. Nhớ lại, khi tôi viết truyện dài “Đời chưa trang điểm”, tiêu đề này chính là đã mượn trong câu thơ “đời chưa trang điểm mà xuân đã về” của anh. Lúc gặp nhau, anh Đinh Hùng nói với tôi: “Ừ, cái tít ấy có vẻ tiểu thuyết lắm, cứ lấy xài đi, đóng thuế cho tớ một cuốn thôi”. Mới đây mà đã hơn nửa thế kỷ rồi anh Đinh Hùng ơi!

NHÀ HÀNG BRODARD

Còn nhà hàng Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt, bà chị này hành nghề cai quản các em “ca nhe” từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm. Thỉnh thoảng một vài em vũ nữ, thường là loại có hạng như Lệ Hằng, Thủy Điên, Mỹ Khùng… ở mấy cái vũ trường gần đó như Tự Do, Mỹ Phụng, Olympia cũng la cà vào đây tán dóc.

Ba nhà hàng ấy là 3 sắc thái riêng biệt làm nên cái trục “văn hóa không tên”, cái linh hồn của Sài Gòn, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn.

NHÀ HÀNG THANH THẾ

Còn một địa chỉ nữa ở gần chợ Bến Thành là nhà hàng THANH THẾ, nơi này là chỗ gặp nhau của những ký giả thể thao như đàn anh Huyền Vũ, Thiệu Võ và một số những nhà báo miền Nam.

Dù sao cũng xin gửi đến bạn đọc nặng lòng với những hoài niệm cũ, với Sài Gòn xưa, một cái gì đã mất đi không thể tìm lại được./-

Văn Quang

From:TU-PHUNG

Việt Nam tiếp tục xếp cuối bảng về Chỉ số Tự Do Báo chí Thế giới

Việt Nam tiếp tục xếp cuối bảng về Chỉ số Tự Do Báo chí Thế giới

RFA
2021-04-20

Việt Nam tiếp tục xếp cuối bảng về Chỉ số Tự Do Báo chí Thế giới

Hình minh hoạ. Quân đội đứng canh gần tấm biển cổ động cho Đại hội 13 ở Trung tâm Hội nghị Quốc gia ở Hà Nội hôm 26/1/2021

 AFP

Việt Nam bị Tổ chức Phóng viên Không Biên Giới (RSF) xếp thứ 175 trong tổng số 180 quốc gia tên toàn thế giới về tự do báo chí trong báo cáo về Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới được công bố vào ngày 20/4.

Đây là năm thứ hai liên tiếp Việt Nam bị xếp thứ 175 trong báo cáo này của RSF.

Theo RSF, Chính phủ Việt Nam củng cố kiểm soát nội dung mạng xã hội trong khi tiến hành một làn sóng bắt bớ những nhà báo độc lập hàng đầu trước khi tiến tới Đại hội Đảng vào tháng giêng năm 2021. Trong số này có cô Phạm Đoan Trang, người được RSF trao giải Tác Động hồi năm 2019.

Theo báo cáo của RSF, ngành báo chí, một loại vắc xin chống thông tin sai lệch, đã bị chặn hoàn toàn hay một phần tại 73 phần trăm trong tổng số 180 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng.

Chỉ số đưa ra phản ánh tình trạng suy thoái về việc tiếp cận thông tin của người dân và sự gia tăng biện pháp ngăn trở đưa tin từ phía cơ quan chức năng. Dịch COVID-19 được sử dụng như căn cứ để chặn không cho các nhà báo tiếp cận nguồn tin và trực tiếp tác nghiệp ở hiện trường.

Dữ liệu đưa ra trong báo cáo cho thấy các nhà báo nhận ra rằng ngày càng khó tiến hành điều tra và loan những tin nhạy cảm; đặc biệt tại Châu Á, Trung Đông và Châu Âu.

Tổng thư ký Christophe Deloire của RSF được dẫn lời rằng hoạt động sản xuất và loan truyền tin  tức của báo chí thường xuyên bị chặn bởi những yếu tố kinh tế chính trị, kỹ thuật và đôi khi cả yếu tố văn hóa. Đề có thể đối phó với sự lan tràn thông tin sai lệch truyền đi khắp nơi trên những cơ sở số và thông qua mạng xã hội, báo chí cung cấp những phương tiện hữu hiệu nhất nhằm bảo đảm cho những cuộc tranh luận công cộng được dựa vào đa dạng những dữ liệu có xác lập.

Ba nhà báo độc lập thuộc nhóm Báo Sạch bị khởi tố và bắt giam(RFA)

Ba nhà báo độc lập thuộc nhóm Báo Sạch bị khởi tố và bắt giam (RFA)

RFA
2021-04-20

Ba nhà báo thuộc nhóm Báo Sạch: (từ trái qua) Nguyễn Thanh Nhã, Nguyễn Phước Trung Bảo, Đoàn Kiên Giang 

Ba nhà báo độc lập là Nguyễn Thanh Nhã, Đoàn Kiên Giang và Nguyễn Phước Trung Bảo vào ngày 20 tháng tư bị Công an Thành phố Cần Thơ khởi tố và bắt giam với lý do có liên quan đến nhà báo độc lập khác là ông Trương Châu Hữu Danh thuộc Báo Sạch. Ông Trương Châu Hữu Danh đang bị giam giữ để điều tra với cáo buộc vi phạm Điều 331 Bộ Luật Hình sự.

Báo Công An Nhân Dân cho biết cả ba nhà báo mới bị bắt giữ đều thuộc nhóm Báo Sạch. 

Báo Sạch là một báo mạng độc lập không thuộc kiểm soát của Chính phủ. Người đọc chủ yếu đọc thông tin của Báo Sạch qua mạng xã hội Facebook. Tuy nhiên trang báo đã biến mất khỏi Facebook trong khoảng thời gian nhà báo Trương Châu Hữu Danh bị khởi tố và bắt giam.

Mạng báo Pháp Luật trong cùng ngày cho biết biện pháp khởi tố và bắt giam như vừa nêu được tiến hành vì cả ba người bị phát hiện có liên can trong quá trình điều tra mở rộng vụ án ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền/lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân’ xảy ra tại thành phố Cần Thơ và một số tỉnh thành do nhà báo Trương Châu Hữu Danh và một số người khác thực hiện.

Tin cho biết nhà báo Nguyễn Thanh Nhã (sinh năm 1980, cư trú tại căn hộ 3.01 chung cư Flora Anh Đào, phường Phước Long B, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh), nhà báo Đoàn Kiên Giang (sinh năm 1985, cư trú tại căn hộ 5.04 tầng 6 chung cư 241/1/25C, Phường 11, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh), và nhà báo Nguyễn Phước Trung Bảo (sinh năm 1982, cư trú tại 172 Hà Huy Giáp, phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).

Các quyết định khởi tố, bắt tạm giam trên đều được Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phê chuẩn.

Cơ quan chức năng trong khi khám xét nơi ở của ba nhà báo vừa nêu đã thu giữ nhiều đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án.

Nhà báo Trương Châu Hữu Danh bị bắt vào ngày 17 tháng 12 năm ngoái. Ông là nhà báo duy nhất tiếp cận và đưa thông tin vụ án tử tù án oan Hồ Duy Hải xuyên suốt từ giai đoạn điều tra đến nay. Ông Trương Châu Hữu Danh cũng đi đầu trong tất cả các điểm nóng, đi đầu chống BOT bẩn, khai quật những bất công Thủ Thiêm, vào rừng đón ông Đặng Văn Hiến do phản đối việc cưỡng chế bắn chết người ra đầu thú …

VN: NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA VÀ HỘI CHỨNG BỎ VIỆC

VN: NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA VÀ HỘI CHỨNG BỎ VIỆC

  Câu chuyện Bạch Mai có hơn 200 nhân viên bỏ việc chưa kịp chìm xuống thì hơn 600 y bác sĩ xin nghỉ …

Câu chuyện Bạch Mai có hơn 200 nhân viên bỏ việc chưa kịp chìm xuống thì hơn 600 y bác sĩ xin nghỉ việc tại một bệnh viện ở TP HCM phải khiến chúng ta đặt ra những câu hỏi về cách thức sử dụng nguồn lực con người trong xã hội VN hiện nay.

Người Việt vốn ưu “ổn định”, ổn định là một trong những cái đích quan trọng nhất của những người làm công ăn lương, đặc biệt là ở hệ thống công. Nhưng khi tôi nghỉ việc thì đồng thời có 2 người nữa cùng tổ chuyên môn cũng đã rời đi ngay sau đó. Tại một trường học thuộc loại VIP nhất (trường chuyên) của hệ thống trung học mà mỗi năm có hàng chục người bỏ việc thì phải thấy rằng đó là một hiện tượng bất thường.

Tình trạng này ngày càng phổ biến trong hệ thống công lập. Nhưng đó chưa phải là vấn đề lớn nhất. Một nhà báo là bạn thân của tôi nói, chỉ ước có một công việc hay nguồn thu nhập gì khác đủ nuôi con là lập tức bỏ việc ngay. Cũng theo người ấy, dường như không có mấy đồng nghiệp của anh ta còn mặn mà với báo chí nữa. Tâm trạng chán nghề đang bao trùm lên xã hội.

Tại sao thế? Tôi nghĩ, vấn đề lương hay thu nhập là một trong những nguyên nhân quan trọng, nhưng không phải là quan trọng nhất. Đồng nghiệp tôi, nhiều người đang loay hoay tìm cách đổi nghề, họ tỏ rõ sự chán chường và mỏi mệt trong chính cái nghề mà họ đã đèn sách theo đuổi hàng chục năm trời. Cái cung cách quản lý mang tính chuyên chế, môi trường làm việc không có dân chủ, cùng với hàng tá những việc “tẹp nhẹp vô nghĩa lý” đè nặng mỗi ngày. Người lao động, mà lại là lao động trí óc, ngày nay dường như chỉ còn là những công cụ trong tay thủ trưởng, họ hoàn toàn bị phụ thuộc về mọi mặt. Một người giáo viên mà đến chuyên môn còn không có quyền tự chủ thì thử hỏi sẽ tìm niềm vui ở đâu trong nghề nghiệp của mình? Không những bị tước đoạt đi năng lực sáng tạo và sự tự tôn nghề nghiệp, họ còn bị đè ép bới bao nhiêu quy đinh nhiêu khê phiền hà, và lúc nào cũng có thể trở thành nạn nhân bởi sự vui buồn của người đứng đầu. 

Người trí thức bị xúc phạm, thậm chí bị nhục mạ, bị coi khinh, bị tước đi niềm vui trong những tìm tòi và lao động sáng tạo. Thân phận người lao động nói chung và người trí thức nói riêng chưa bao giờ bị rẻ rúng đến thế. Không những không được lao động đúng nghĩa mà còn phải làm những vô nghĩa; không những không được phát tiết trí tuệ mà còn phải làm cả những việc sai trái. Nó là một thảm trạng.

Thử hỏi ai có thể chịu đựng kéo lê mãi một cuộc đời như thế ? Thế mà có đấy, không những có mà còn có nhiều. Bên cạnh những người bỏ việc (thiểu số) là những người tồn tại bằng những cách tiêu cực. Một bộ phận nhân lực thuộc giới “tinh hoa” của xã hội đã buộc phải hạ thấp mục tiêu, tự mài mòn cá tính, và thỏa hiệp để tồn tại. Một tình trạng “làm việc cầm chừng” đang trùm phủ lên xã hội. Không những chỉ cầm chừng, mà tai hại hơn, đối phó – đối phó đang trở thành phương cách làm việc của họ. Đó là con đường của sự tha hóa.

Nguồn tài nguyên vô giá của quốc gia đang bị hủy diệt bởi cung cách quản trị sai lầm, Đó không chỉ là một sự “lãng phí” mà ghê gớm hơn, là một tội ác. Nó không chỉ chặn đứng tương lai đất nước mà quan trọng hơn là, phá hủy con người.

Nguồn nguyên khí thiêng liêng của quốc gia không thể tiếp tục bị hủy hoại nữa. Không thể tiếp tục duy trì một bộ máy với cách thức vận hành phản khoa học như thế nữa. Muốn đất nước phồn thịnh và nhân dân hạnh phúc, không có con đường nào khác ngoài việc cải cách thể chế.

Thái Hạo

From:TU-PHUNG

“XỨ ĐÔNG DƯƠNG” QUA “MẮT XANH” VƯƠNG HỒNG SỂN…

 No photo description available.

“XỨ ĐÔNG DƯƠNG” QUA “MẮT XANH” VƯƠNG HỒNG SỂN…

Tháng 6/2016, Báo Lâm Đồng Cuối tuần có đăng trong chuyên mục “Hồ sơ – Tư liệu” bài viết “Xứ Đông Dương – Một tài liệu tham khảo rất đáng quý” giới thiệu tập hồi ký “Xứ Đông Dương” của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1897-1902), Tổng thống Pháp (1931-1932) xuất bản lần đầu năm 1905 được dịch từ nguyên bản tiếng Pháp L’Indochine Frangcaise (Souvenirs). Tập hồi ký do NXB Thế giới phát hành ra mắt độc giả Việt Nam tháng 3/2016.

Tôi đã tìm mua được “Xứ Đông Dương” và say mê đọc bởi bị phong cách văn chương của Toàn quyền Paul Doumer quyến rũ trước nhiều sự kiện đầu thế kỷ XX ở Việt Nam. Một lần lục lọi kho sách tư gia, bất chợt thấy cuốn “Dỡ mắm” (di cảo, NXB Trẻ tái bản lần thứ nhất 2015) của học giả Vương Hồng Sển có lời tựa “Ngồi buồn dỡ mắm nhau ra/ Mắm ông thì thúi, mắm bà chẳng thơm”. Thấy lý thú nên tò mò lần dở mới hay nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng, học giả Vương Hồng Sển từng đọc hồi ký “Xứ Đông Dương” bằng tiếng Pháp khi phát hành vào thập niên đầu thế kỷ XX.

Nhận xét về tập hồi ký “Xứ Đông Dương”, học giả Vương Hồng Sển trần tình: “… Viết về ông Doumer, tôi đã sửa ngòi bút, suy nghĩ thật nhiều: viết sai thì hổ với lương tâm, bằng bốc thơm ông lại ngại tiếng gièm pha còn mến tiếc Tây đầm. Nhưng ở Hà Nội cầu Long Biên còn đó, ai giẫm chơn lên phải nhớ người xây dựng, mới không thẹn sao “uống nước nỡ quên nguồn”! Ở Huế, cầu Tràng Tiền đổi tên mấy lượt, nhưng vẫn còn sờ sờ, ở Sài Gòn này, cầu Bình Lợi cũng là kỳ công bất hủ của ông Doumer, chớ mấy ai khác. Vậy tôi biết gì, cứ nói.

Doumer qua Việt Nam khi tuổi chưa đầy 40. Người khỏe mạnh, làm việc bằng mười, thêm tài ba xuất chúng. Những kỳ công của ông là:

– Ông thấy xa, lập trường Viễn Đông Bác Cổ, để bảo vệ cổ tích, đền chùa khỏi bị phá phách cắp gỡ, tu bổ cổ tích còn lại. (Doumer từng than tiếc cổ tích Chàm ở Đà Nẵng bị cạy gỡ mất mát nhiều nên năm 1899, ký sắc lịnh cho lập trường Viễn Đông Bác Cổ).

– Ông lập trường cao đẳng ở Hà Nội, để tiện cho học sanh bên Trung Quốc qua học, thêm học trò miền Nam, con cháu điền chủ có tiền, dễ ra học hơn mở trường cao đẳng ở Sài Gòn, học trò Tàu chê xa, và học trò xứ Bắc xứ Trung, phần đông đều con ông đồ ông bảng thanh bạch, giàu chữ hơn giàu tiền làm sao gởi con vào Nam học được nhiều.

– Chính ông năm 1901 đã đến tại chỗ, chọn Đà Lạt thay vì Dankia và đốc thúc, tài trợ cho bác sĩ Yersin thành lập nơi nghỉ mát Đà Lạt như ngày nay đã thấy. Ba cây cầu sắt ông để lại, thật là kỳ công bất hủ:

– Ở Hà Nội, có cầu Long Biên, trước mang tên ông là Pont Doumer: hãng Daydé et Pillé de Creil (Oise) trúng thầu, đặt viên đá đầu tiên tháng 9/1898; cầu dài trên 2.500 m, khúc vào thành (hữu ngạn) trên đất liền, dài 800 thước, khúc giữa trên sông Hồng nối hai bờ, dài 1.680 m, gồm 19 nhịp, toàn sắt thép trứ danh Cantilever; 19 nhịp nằm trên 20 cột chống xây đá, móng cầu cừ đóng và trụ cây phải thọc sâu tới khi đụng đất nạc đất cứng, phải sâu hơn 30 m, từ mặt nước thấp nhất của Hồng hà và phía trên khỏi mặt nước là 13 m 50 nữa, tức cột đo 43 m 50. Một cầu dài nhất ở Á Đông, một kỳ công của kỹ sư thợ cái Pháp và của nhơn công người Việt, đáng mặt để đời. Cũng có thợ hồ, thợ sắt Tàu trợ lực. Khi đặt đá khánh thành, mọi người dự kiến đều hoài nghi sự thành công, nhứt là người An Nam đều cho là còn khó hơn chuyện vá trời, và khi cây cầu làm xong, lại le lưỡi nói: “Việc gì Tây muốn, họ đều làm được”; cầu ăn lễ lạc – thanh tháng 2/1902, một lượt với đoạn đường sắt xuyên Đông Dương sau này (đường sắt Hà Nội xuống Hải Phòng, dài độ 100 km, ông vui lòng được mắt thấy trước khi xuống tàu về Pháp), 5 năm nhiệm vụ đã tròn. (Phí tổn 6.000.000 quan Pháp, ăn 2fr50 mỗi 1$ (bạc 27gr).

– Ở Huế, ông để kỷ niệm lại cầu Tràng Tiền, bắc ngang sông Hương, nối liền xóm Tây qua xóm Việt và Thành nội và đưa đường xuống Đà Nẵng, cầu dài 400 m, cột cầu đóng xuống sâu 20 m, do hãng Pháp Creusot lãnh thầu và xây cất, chính ông làm lễ khánh thành và nhường vua Thành Thái cắt dây tượng trưng cho sự thông thương cho dân và ngày nay xe ô tô, thiết giáp đi (không có đường cho tàu hỏa). Không thấy ghi chi xuất bao nhiêu…

– Ở Sài Gòn, ông giúp cho một cầu sắt nối liền lên Biên Hòa, ấy là cầu Bình Lợi. Ông dự định cầu chịu nổi đường sắt xe lửa xuyên Đông Dương về tương lai, cột cầu dưới mặt nước thấp nhất đo được 31 m và do hãng Levallois-Perret thầu và xây cất, ăn lễ khánh thành vào tháng 2/1902. Cầu có 6 nhịp, một nhịp nơi giữa, dài đến 40 m, vẫn xây mở được để tàu thuyền thông thương.

Ngoài ra Doumer còn để lại nhiều công-tác cầu kỳ (tuy không quan trọng bằng ba cây cầu vĩ đại kia), thành tựu từ 1897 đến 1902, có thể gọi là thời kỳ mở mang Đông Dương, thời kỳ sắt và cầu sắt, đáng kể hơn là ở Bắc, cầu ở Hải Phòng, Hải Dương, Việt Trì, Lào Cai, miền Trung có cầu Thanh Hóa do hãng Daydé et Pillé xây cất, cầu này dài 160 m vòng cầu liên lạc một mạch nối hai bờ sông, không có nhịp ở giữa và khi ráp nối, trải ván rất cam go.

Riêng miền Nam, ông còn có thêm: năm 1901, con lộ đá Sài Gòn đi Tây Ninh để sau này thông thương với Cao Miên, và năm 1903, con lộ đá Sài Gòn đi Bà Rịa, mở thông lên Tánh Linh xứ gỗ súc, sau này sẽ thông thương với miền Trung. Ông còn dự định thiết lập một con đường sắt cho xe lửa chạy, nối liền Sài Gòn lên Nam Vang, nhưng việc này thời đại sau ông bỏ dở, tiếc thay”…

Với nhận xét sắc sảo, công tâm như vậy chứng tỏ người Việt mình rất có đôi “mắt xanh” khi đánh giá chính khách nước ngoài. Rất tiếc độc giả Việt Nam và cũng không mấy người phương Tây có trong tay và đọc “Dỡ mắm”!

NGUYỄN THANH

ĐỊA NGỤC GIÁO DỤC?…

ĐỊA NGỤC GIÁO DỤC?…

Đau xé lòng trước vụ em học sinh Trường Nguyễn Khuyến (TP. HCM) nhảy lầu tự vẫn vì áp lực học hành. Không biết bức thư tuyệt mệnh này có đúng là của em không, nhưng ít nhất đúng như tôi nghĩ lâu nay.

Không dưới một lần, tôi khẳng định triết lý “giáo dục toàn diện” là sai lầm tận gốc. Từ cái gốc này kéo theo Chương trình, Sách giáo khoa và cách đánh giá đã sai lầm một cách toàn diện, gây áp lực nặng nề cho con em chúng ta.

Đây không là vụ duy nhất học sinh tự vẫn. Những trường hợp không tự vẫn, theo tôi, tâm thần đều có dấu hiệu khủng hoảng nặng. Hãy cùng nhau lên tiếng, vì con tôi và con các bạn đều đang là nạn nhân của cách giáo dục này, nếu chúng ta còn chút lương tâm!

Một ngày kia phải ghi tội ác những kẻ làm chương trình và sách giáo khoa vào các trang sử.

CHU MỘNG LONG

————-

Nội dung bức thư:

“Kính thưa các bác lãnh đạo, các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo!

Con xin được trút hết nỗi lòng đã giấu diếm suốt bấy lâu nay và con, cũng như nhiều bạn học sinh khác mong chờ sẽ nhận được những lời chia sẻ, cũng như ý kiến của các bác lãnh đạo, các phụ huynh và các thầy cô.

Đã nhiều năm nay, hầu như cuộc đời của học sinh chúng con chỉ là thức dậy, đi học trên trường, đi học thêm, về nhà và lặp lại. Qua nhiều năm, niềm đam mê học tập của con dần mất đi.

Con bắt đầu kiệt sức, chán nản và tuyệt vọng khi nghe đến chữ HỌC.

Không biết tự bao giờ, thời gian chúng con đi học còn nhiều hơn khoảng thời gian chúng con được ngủ. Đối với con, càng học cao hơn, kiến thức càng trở nên vô nghĩa.

Con biết nói ra điều này thật vô ơn. Để có được những kiến thức hôm nay là công sức đầy gian lao của những người đi trước.

Nhưng con tự nghĩ, vì sao giáo viên chỉ có thể dạy một bộ môn nhưng bản thân một học sinh phải học những mười mấy môn?

Không chỉ vậy, chúng con còn chịu áp lực nặng nề từ thầy cô, phụ huynh và cả xã hội. Một lớp học phải có từ 40 học sinh đạt Giỏi, Khá và không được có học sinh Trung bình.

Đã đi học thì các môn tổng kết cả năm phải từ 8 điểm trở lên, thậm chí là cao hơn. Tỉ lệ tốt nghiệp của trường sau một năm phải đạt 90% trở lên, có trường phải giữ vững mục tiêu là 100%.

Con đã nhiều lần suy nghĩ về những gì chúng con đang được học. Càng nghĩ,con càng cảm thấy nản hơn khi con nhận ra mình gần như không thể tiếp nhận những kiến thức nhà trường dạy.

Bộ não của một người trưởng thành chỉ nặng gần 1400 gam nhưng những người của thế hệ đi trước lại mong chờ chúng con học đều, học tốt lượng kiến thức khổng lồ từ hơn mười môn học khác nhau.

Con sợ lắm! Con sợ mỗi khi ông mặt trời lại lên báo hiệu một ngày đi học nữa lại đến. Con sợ khi điều đầu tiên thầy cô làm khi bước vào lớp là khảo bài, kiểm tra một núi bài tập họ giao cho chúng con.

Con sợ khi tiếng trống giờ về không đồng nghĩa với việc chúng con được về nhà nghỉ ngơi mà nó chỉ đơn thuần là giờ ra chơi giữa giờ học chính khóa và giờ học thêm.

Con sợ khi nhìn các bạn đồng trang lứa ăn vội vàng cái bánh bao và ánh mắt họ đờ đẫn, xa xăm, vô hồn ngồi trên chiếc xe máy giữa dòng người kẹt xe lúc 5h chiều.

Thưa các bác, các bác phụ huynh, các thầy cô!

Còn biết bao nhiêu câu chuyện chưa được kể về những áp lực vô hình mà mọi người đang vô tình đặt lên vai chúng con.

“Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” – Đó là điều đầu tiên con học được khi bước vào lớp 1. Và cho đến giờ, khi đang ở độ tuổi 18, con căm ghét cái câu nói này kinh khủng.

Con xin lỗi khi nói ra những điều này, con biết việc này sẽ khiến cho những người đi trước khó chịu nhưng cho phép con được nói lên nỗi lòng mình: Con ghét đi học.

Con ghét cái cảm giác bước qua cổng trường, mở cuốn SGK, chép từng trang vở. Con cảm giác mình lạc hướng… Từng ngày đi học, chúng con quay cuồng với việc học bài, kiểm tra.

Những năm tháng dần trôi qua một cách vô nghĩa dưới áp lực của việc học hành, của thầy cô, của gia đình.

Chương trình học hiện tại không cho phép học sinh chúng con có quyền sáng tạo. Tất cả bị bó buộc vào những quy luật nhất định và chúng con – những người học sinh bắt buộc phải làm theo chứ không được thay đổi.

Chính bản thân chúng con còn không hiểu mình đang học vì cái gì, vì ai!

Học vì kì vọng của mọi người xung quanh, học vì điểm số, học để qua được một kì kiểm tra ư? Xong rồi sao nữa?

Cuối cùng sau hơn 20 năm học tập miệt mài, căng thẳng chúng con còn phải sống một cuộc đời rất dài và tới lúc đó, chúng con sẽ phải áp dụng những kiến thức đã học được vào cuộc sống.

Nhưng con đã nhiều lần tự hỏi, con có thể sử dụng “Chuyển động tròn đều”, “Chiều tăng giảm của hàm số” hay Vecto trong cuộc đời thật như thế nào?

Chúng con cứ học rồi lại quên, thầy cô thì cứ lao đầu vào giảng, giao bài tập về nhà nhưng họ chưa bao giờ nói cho chúng con nghe ứng dụng của những kiến thức này trong cuộc sống.

Từ một lúc nào đó, mọi người lại đánh giá nhau thông qua những con điểm.

Chì vì những con điểm vô giá trị mà đã đẩy biết bao số phận học sinh vào bước đường cùng, đã khiến cho mối quan hệ giữa cha mẹ – con cái và giáo viên – học sinh trở nên căng thẳng, ngột ngạt.

Cuộc sống của những học sinh giờ đây gần như chỉ xoay quanh HỌC. Chúng con không biết đến khái niệm nghỉ ngơi, thư giãn.

Chúng con gần như không còn hiểu được giá trị của những bữa ăn bên gia đình vì gần như suốt một tuần chúng cháu chỉ gần như học thêm đến khi trời tối mịt.

Người bạn ngồi kế con, bạn ấy học rất giỏi và các thầy cô đều rất yêu quý bạn ấy. Nhưng bạn ấy khổ lắm. Nhà bạn ấy ở Quận 12 và bạn ấy phải đi xe buýt tới Quận 1 để học thêm mỗi ngày.

Từng ngày đi học của bạn ấy bắt đầu từ 5h30 sáng cho tới 11h đêm. Bạn ấy đã kiệt sức rồi, con biết điều đấy. Khuôn mặt bạn phờ phạc, ánh mắt bạn bơ phờ, bạn bị thiếu ngủ và đau dạ dày.

Những người như bạn con không thiếu ngay tại chính TP.HCM này.

Học sinh chúng con sống thờ ơ, lãnh đạm, vô cảm và không có kĩ năng sống. Chúng con không biết phải làm gì nếu có động đất, sóng thần hay gặp một người bị đột quỵ ngay giữa đường.

Người lớn thất vọng vì cách ứng xử của thế hệ trẻ trong khi thế hệ trẻ chúng con lại thất vọng vì đang được giáo dục không có định hướng.

Thưa các bác, là một học sinh, con đã vô cùng xúc động khi nghe chủ trương không dạy thêm. Cái cảm giác vui mừng chợt chạy qua người con khi nghĩ đến cảnh chúng con không còn phải còng lưng ra học bài lúc 11h đêm nữa.

Nhưng hiện thực tàn khốc của việc học đã không cho con được vui mừng lâu.

Trước cảnh mỗi năm đề thi Đại học lại đổi mới một kiểu, trước cảnh cô giáo viên dạy Toán của chúng con quảng cáo về lớp dạy thêm của cô một cách bí mật, con nhận ra mọi chuyện sẽ không hề tốt lên được, sẽ không bao giờ tốt lên được.

Rồi sau tất cả, khi chúng con rời ghế nhà trường, đối diện với cuộc sống thật, chúng con lại lơ ngơ, hoang mang vì hoàn toàn không có những kĩ năng sống cần thiết.

Con cầu xin các bác, các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo: Xin hãy cho chúng con được SỐNG. Xin cho phép chúng con được sống trong những tháng năm tuổi học trò một cách trọn vẹn nhất có thể.

Xin đừng quá kỳ vọng vào tụi con để rồi chính những kì vọng ấy khiến cho mọi người thất vọng. Xin đừng chỉ trích chúng con khi bọn con bị điểm kém.

Xin hãy hiểu rằng mỗi người chỉ có những khả năng nhất định và bọn con không phải là thiên tài.

Cuối cùng, con xin mọi người hãy hiểu: “HỌC SINH CŨNG CHỈ LÀ CON NGƯỜI, KHÔNG PHẢI MÁY MÓC”.

May be an image of text that says 'tuöitre online f THỜI SỰ Nam sinh trường Nguyễn Khuyến viết thư tuyệt mệnh rồi nhảy lầu tự tử 11/04/2018 17:28 GMT+7 TTo Trước khi tự tử, nam học sinh để lại thư tuyệt mệnh với nội dung do áp lực học tập, điểm số và áp lực từ gia đình muốn con mình được học lớp đứng đầu khối.'
You and 163 others
50 Shares
Sad
Sad

 

Comment
Share

  MỘT BÀI HỌC TỪ BIẾN CỐ 30-4-1975 (Nguyễn Gia Kiểng)

May be a black-and-white image of child, standing and outdoors
 

  MỘT BÀI HỌC TỪ BIẾN CỐ 30-4-1975 (Nguyễn Gia Kiểng)

Ông chủ nhiệm báo Việt Luận hỏi tôi chúng ta có thể rút bài học nào từ biến cố 30-4-1975? Câu hỏi thực là khó. Có rất nhiều bài học lịch sử mà chúng ta có thể rút từ cuộc chiến tranh kết thúc ngày 30 tháng 4-1975. Tất cả đều là những bài học lớn cho cuộc vận động dân chủ hiện nay.

Nhưng trước hết xin có vài lời về những bài học lịch sử: phải rất thận trọng và khiêm tốn vì chúng thường sai. Tại sao ? Lịch sử rất quan trọng bởi vì cuộc sống của một quốc gia, cũng như cuộc sống của một người, chủ yếu là thực nghiệm. Tuy vậy chúng ta lại không thể thí nghiệm. Chúng ta không thể thử nghiệm sự sụp đổ hay sự phá sản của một quốc gia. Chúng ta không thể thử nghiệm trên đời sống của một dân tộc để xem cái gì sẽ xảy ra nếu thực hiện chủ nghĩa này hay chính sách nọ, như thế là vô trách nhiệm và cũng có thể là tội ác. Đó là sai lầm to lớn của các chế độ cộng sản. Họ đã đem số phận của các dân tộc để thử nghiệm một chủ nghĩa mà sau này thực tế chứng minh là rất sai.

Lịch sử giúp chúng ta bù lại phần nào sự kiện không thể làm thí nghiệm, một thiếu sót nghiệt ngã trong cố gắng rút ra những kết luận cho tương lai. Cần nhấn mạnh là một phần nào thôi vì các biến cố lịch sử chỉ xảy ra một lần trong khi chúng ta không thể kết luận sau chỉ một lần quan sát. Vả lại các biến cố lịch sử cũng được nhìn và cảm nhận một cách khác nhau ở từng con người tùy góc độ quan sát và kinh nghiệm cá nhân. Như vậy muốn rút ra một bài học lịch sử thì phải cố gắng vượt ra khỏi chính mình để nhìn các biến cố lịch sử dưới nhiều góc khác nhau, so sánh với những biến cố tương tự đã xảy ra trong những điều kiện tương tự tại các nước khác. Và cũng phải phối hợp với những kiến thức mà sự chính xác đã được chứng minh qua thời gian. Rút ra những bài học lịch sử là điều không giản dị chút nào.

Sau sự dè dặt đó và trở lại với câu hỏi được đặt ra, bài học mà tôi chọn để rút ra là một bài học mà đáng lẽ ra chúng ta phải biết mà không cần có biến cố 30 tháng 4-1975 bởi vì nó là một kết luận của tất cả mọi khảo cứu chính trị học, xã hội học và tâm lý học và cũng đã được kinh nghiệm của mọi dân tộc chứng minh. Chúng ta chỉ đã không biết một điều bắt buộc phải biết. Một lý do khác khiến tôi chọn bài học lịch sử này trong rất nhiều bài học lịch sử quan trọng khác là vì, theo nhận xét của tôi, đó là bài học lịch sử mà sau 33 năm chúng ta vẫn chưa hiểu. Đó là đấu tranh chính trị bắt buộc phải có một tư tưởng chính trị và một đội ngũ chính trị. Cuộc chiến vừa qua trước hết là một cuộc đấu tranh chính trị. Nó cũng là lần đầu tiên mà người Việt Nam tàn sát nhau không phải chỉ để tranh giành quyền lực mà còn vì ý thức hệ. Tuyên truyền đã quan trọng hơn các trận đánh, lời nói đã có tác dụng hơn súng đạn.

*

Những năm cuối cùng của tôi ở Paris trước khi về nước cũng là những năm diễn ra hội đàm Paris để giải quyết chiến tranh Việt Nam. Lúc đó tôi lãnh đạo phong trào sinh viên và trí thức Việt Nam ủng hộ chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Ở cương vị này tôi đã được tiếp xúc thường xuyên và một cách thân mật với các yếu nhân VNCH sang tham gia hoặc quan sát hòa đàm Paris. Nói chung họ là những người hiểu biết nhất về chính trị của chế độ này. Khi về Việt Nam phục vụ, ít lâu sau hiệp định Paris, tôi cũng có điều kiện thuận lợi để tiếp xúc và tìm hiểu môi trường chính trị VNCH. Nhận xét rất rõ rệt của tôi là những người cầm vận mệnh miền Nam lúc đó không biết ngay cả những kiến thức cơ bản nhất của đấu tranh chính trị và cũng không thấy cần phải học hỏi gì cả. Họ không phải là một đội ngũ và trong tuyệt đại đa số không phải là những người đấu tranh chính trị dù họ có thể giữ những vai trò chính trị rất quan trọng.

Họ sống co cụm trong một môi trường nhỏ hẹp cách biệt với quần chúng, đa số chỉ có một hiểu biết rất sơ sài về lịch sử và văn hóa Việt Nam, thậm chí ngôn ngữ Việt Nam. (Điều này không có nghĩa là họ nắm vững văn hóa và ngôn ngữ Pháp hoặc Mỹ). Tất cả đều là những người mà sự may mắn hoặc hoàn cảnh tình cờ đặt vào địa vị lãnh đạo trong một thời gian ngắn, tương tự như những nhân viên tạm thời, và không ý thức được rằng mình không thể là một người lãnh đạo. Làm chính trị đối với họ chỉ là quen biết và giao tế. Họ hãnh diện, có khi huênh hoang, tuyên bố là không thuộc đảng nào và không làm chính trị. Kiến thức chính trị của họ, khi có, chỉ là những kiến thức rất đại cương và một vài bài báo. Không một ai có suy tư chiến lược về sự sống còn của chế độ. Tôi cũng không gặp một người nào thực sự tin tưởng vào dân chủ. Chính quyền VNCH là một chính quyền không có nhân sự chính trị, trong khi đó là lý do hiện hữu và điều kiện tồn tại của mọi quốc gia. Tình trạng này đưa tới những yếu kém khó tưởng tượng.

Hãy thử lấy một thí dụ. Tất cả mọi cấp lãnh đạo, dân sự cũng như quân sự, mà tôi có dịp trao đổi đều phục sát đất phe cộng sản là tổ chức tiếp vận giỏi. Họ nói Mỹ dội bom B52 như thế mà “nó” vẫn vận chuyển được đầy đủ vũ khí và lương thực từ hàng ngàn cây số cho một đạo quân đông tới mấy trăm ngàn người. Sự thực thì đảng cộng sản chỉ tiếp vận vũ khí cho lực lượng của họ ở phía Nam mà thôi; còn lương thực, khó vận chuyển gấp nhiều lần so với vũ khí, thì họ mua ngay tại chỗ và bằng vàng. Miền Nam không có mỏ vàng, cũng không ai đem vàng vào Việt Nam mà chỉ có những người đem vàng ra nước ngoài. Vậy mà miền Nam vẫn có rất nhiều vàng và giá vàng thấp hẳn so với thế giới. Vậy ai đem vàng vào Việt Nam nếu không phải lực lượng cộng sản? Đó là một cách tiếp liệu rất thoải mái. Một kilô vàng có thể nuôi một tiểu đoàn đầy đủ quân số trong một tháng. Liên Xô, nước đỡ đầu cho quân đội cộng sản cũng là nước sản xuất vàng số 1 trên thế giới vượt rất xa các nước khác. Khi tôi lý luận như vậy thì mọi người, hành chính cũng như quân sự, đều thấy là rất có lý. Nhưng họ nghe để biết rồi thôi. Đó không phải là việc của họ, dù họ có thể là tướng lãnh hay bộ trưởng. Họ chỉ như những công chức và chỉ lo công việc của họ. Nếu các chính quyền miền Nam ý thức được điều này và có biện pháp đối phó thì chắc chắn quân đội cộng sản đã rất khốn khổ.

Một thí dụ khác là cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân. Quân cộng sản đồng loạt tấn công trên khắp lãnh thổ nhưng chính quyền Sài Gòn bị bất ngờ hoàn toàn, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng, các bộ trưởng và các tướng tá đang vui tết. Thế giới có lý do để khinh thường chế độ VNCH. Chính tôi lúc đó chỉ là một du học sinh tại Paris mà cũng thấy rất xấu hổ.

Đó chỉ là hai thí dụ trong hàng ngàn thí dụ khác. Sở dĩ có những sơ hở kinh khủng như vậy là vì những kết luận chiến lược, và những biện pháp cụ thể để thực hiện chúng, chỉ có thể có được nếu có một đội ngũ lãnh đạo ổn định, gắn bó và quyết tâm để cùng nhau theo dõi các chuyển động, thu thập và phân tích những dữ kiện và rút ra những kết luận. Nhưng VNCH đã chỉ có một lãnh đạo ô hợp không được sàng lọc, không thành đội ngũ, không gắn bó với nhau và do đó không có quyết tâm chung. Trái với một huyền thoại phe cộng sản tuyên truyền rất dở và tổ chức rất luộm thuộm, tình báo của họ cũng rất kém. Nhưng họ là một đội ngũ chính trị và trước mặt họ không có một đội ngũ chính trị nào.

Không phải là những người lãnh đạo VNCH kém. Nếu xét từng cá nhân thì có rất nhiều người giỏi. Trình độ văn hóa nói chung của họ cao hơn hẳn các cấp lãnh đạo cộng sản. Đại đa số trong đời thường cũng là những người lương thiện. Vấn đề là họ chỉ là những cá nhân, không gắn bó trong một tổ chức. Hậu quả là mỗi người lo lấy mình, là chủ nghĩa luồn lách trong đó mỗi người, hay mỗi nhóm bè bạn nhỏ, cố gắng để khôn hơn những người khác, mỗi người chống tất cả, tất cả chống mỗi người. Trong trò chơi không ai có thể tin ai này người tốt cũng thành gian. Và thực tế đã như thế. Nếu miền Nam có một đảng cầm quyền thì tình thế sẽ rất khác. Những người “không làm chính trị” sẽ chỉ có những trách nhiệm chuyên môn, quyền lực chính trị sẽ ở trong tay một đội ngũ của những người gắn bó với nhau trong một số phận và một quyết tâm chung, lấy dân tộc và đất nước làm lý tưởng, coi sự sống còn của VNCH như cuộc chiến đấu của đời mình. Và họ sẽ có bản lĩnh chính trị cao.

Tổ chức là môi trường hội nhập và là sức mạnh, nhưng cũng là một môi trường học hỏi và đào tạo, là nơi sản xuất và sàng lọc ý kiến. Nó cũng tạo điều kiện cho những quyết định và hành động mạnh bạo. Miền Nam không thiếu những người có thể và muốn là thành phần của một đội ngũ như thế, trong đó có những người đã có thể trở thành những cấp lãnh đạo xuất chúng, nhưng họ không có điều kiện để kết hợp với nhau. Kết quả là mặc dù có một khối lượng khổng lồ những người có tiềm năng, kể cả vô số bằng cấp đại học, với những kinh nghiệm để học hỏi hằng ngày, miền Nam vẫn thiếu nhân tài. Các cấp lãnh đạo tài giỏi chỉ có thể đào tạo được trong sinh hoạt tổ chức.

*

Một đặc điểm của các chính quyền quốc gia là không có đảng cầm quyền. Tình trạng này rất không bình thường vì phản ứng tự nhiên trong sinh hoạt chính trị là phải có chính đảng. Ngay trong những thập niên đầu thế kỷ 20 việc đầu tiên của những người muốn đấu tranh giành độc lập là thành lập các đảng. Tại sao lại có tình trạng này? Đó là do một đặc tính bẩm sinh của chính quyền Quốc Gia Việt Nam, sau đổi thành Việt Nam Cộng Hòa. Chính quyền này không do đấu tranh mà có mà chỉ là một bộ máy thuộc địa do người Pháp để lại, và khi để lại họ chuyển giao quyền hành cho những cộng sự viên thân tín và đắc lực nhất của họ, nghĩa là những người không những không quan tâm tới chính trị mà còn thiếu cả ý thức quốc gia dân tộc. Họ không hề biết đến những vấn đề đặt ra cho một quốc gia và cứ tiếp tục làm việc như thường lệ, kể cả coi những người yêu nước như kẻ thù hay ít nhất như những phần tử phải phòng ngừa. Kết quả là họ ngăn cản sự ra đời và phát triển của các chính đảng.

Mẫu người tốt trong các chính quyền quốc gia là mẫu người không có đảng phái và không quan tâm tới chính trị, có bằng cấp cao là tốt, có cha ông làm quan thời Pháp thuộc lại càng đáng tin cậy hơn. Dần dần hình thành một văn hóa chính quyền kỳ lạ trong đó lớp người cầm quyền không bận tâm tới đất nước. Họ cầm quyền như những quan chức ngoại quốc. Một thí dụ: tất cả các bộ trưởng giáo dục đều cho con cái đi học các trường tiểu học và trung học Pháp thay vì trường Việt mà không hề thấy ngượng. Ngô Đình Diệm không hề thay đổi tình trạng này. Ông là người do Pháp đưa lên cầm quyền để tiếp tục một chính quyền do Pháp để lại. Thái độ chống Pháp bề ngoài của ông chỉ là một sự dàn cảnh. Việc đầu tiên ông làm là truy lùng các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt. Sau khi người Mỹ lật đổ ông Diệm, họ đưa lên chính quyền những tướng tá chẳng có một văn hóa nào, chưa nói văn hóa chính trị, phần lớn xuất phát từ quân đội Pháp. Trong một chế độ dân chủ, sinh hoạt chính đảng là cốt lõi. VNCH được tổ chức như một nước dân chủ nhưng lại không có sinh hoạt chính đảng.

Không phải là miền Nam không có đảng phái, ít ra trong mười năm cuối hoạt động đảng phái không bị cấm, nhưng mười năm là một thời gian quá ngắn và bối cảnh cũng không thuận lợi. Hơn nữa các đảng phái cũ đều đã quá suy yếu và lỗi thời vì không đổi mới tư tưởng chính trị, trong khi các chính đảng mới cũng không phát triển được vì cùng một lý do: không có tư tưởng chính trị. Một ngộ nhận vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay trong phe đối lập là người ta cứ đinh ninh rằng có thể thành lập được một chính đảng mà không cần phải có một chủ thuyết chính trị, nghĩa là những định hướng lớn cho đất nước và các chiến lược để thực hiện chúng trong bối cảnh văn hóa, xã hội và lịch sử của mỗi quốc gia. Một chủ thuyết như vậy chỉ có thể là thành quả của một công trình nghiên cứu và suy tư tập thể lâu dài và nhức nhối. Người ta thấy chỉ cần một “chương trình hành động”, và trong hầu hết mọi trường hợp chương trình hành động không khác bao nhiêu so với một bản danh mục rao hàng.

Những người cầm quyền trong phe quốc gia là những người được đưa lên cầm quyền chứ không phải đã giành được chính quyền. Họ đều không có tổ chức. Sau khi đã cầm quyền họ mới khám phá ra sự cần thiết của một đảng cầm quyền. Ông Nhu lập ra đảng Cần Lao, ông Thiệu lập ra đảng Dân Chủ, nhưng đều thất bại. Các chính đảng đúng nghĩa chỉ có thể thành lập được trong đấu tranh khó khăn cho một lý tưởng. Không ai có thể thành lập được một chính đảng đúng nghĩa sau khi đã có chính quyền. Cả ông Nhu lẫn ông Thiệu đã bỏ rơi các đảng vô tích sự mà họ lập ra – để cầm quyền với anh em, họ hàng và bè bạn – trước khi bị đánh đổ. Trước sau các chính quyền quốc gia vẫn có chung một đặc điểm ít được nhấn mạnh dù có thể là độc nhất trên thế giới: đó là những chính quyền không có đảng cầm quyền.

*

Sự kiện những người không thuộc một chính đảng nào được đưa lên cầm quyền và chọn những người không đảng phái làm bộ trưởng là một một điều quái đản xuất phát từ một tật nguyền bẩm sinh của các chính quyền quốc gia. Nó gây tại họa cho đất nước mà họ cai trị và đem lại thất bại cho chính họ, có khi thất bại bi thảm như trường hợp hai ông Diệm và Nhu. Nhưng với thời gian nó đã tạo ra cả một triết lý và một tập quán hoạt động chính trị: chủ nghĩa nhân sĩ. Đó là cách làm chính trị mà không tham gia một chính đảng nào, chỉ cố tạo uy tín cho mình để được biết đến, kể cả cầu cạnh các thế lực ngoại bang, và hy vọng sẽ có lúc thời vận đưa mình lên nắm chính quyền hoặc sẽ có ngày được mời tham chính. Các nhân sĩ cũng có thể không có bất cứ một hoạt động chính trị và một kiến thức chính trị nào nhưng vẫn mong có ngày được làm bộ trưởng, dân biểu, nghị sĩ. Nếu có một di sản của chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà ta phải vứt bỏ một cách không nể nang thì chính là cái chủ nghĩa nhân sĩ này. Tiếc rằng chủ nghĩa nhân sĩ đã ăn rễ quá sâu. Có những người theo chủ nghĩa nhân sĩ mà không ý thức được. Rất nhiều người, trong cũng như ngoài nước, có học thức, có lòng với đất nước, có thiện chí, suy nghĩ lành mạnh và cũng rất muốn dấn thân nhưng không hề thấy nhu cầu phải tham gia một tổ chức chính trị nào cả.

Chủ nghĩa nhân sĩ vẫn còn tiếp tục cho đến nay trong môi trường Việt Nam hải ngoại và là lý do chính giải thích tại sao sau 33 năm chúng ta vẫn chưa có được một tổ chức dân chủ mạnh. Ngoài di sản VNCH cũng còn một lý do quan trọng khác. Đó là sự thiếu văn hóa tổ chức mà những người dân chủ trong nước cũng chia sẻ do hậu quả của một chế độ chuyên chính trong đó mọi kết hợp bị cấm đoán. Nhiều người cũng đã cố gắng thành lập tổ chức (đã có lúc người ta than phiền là có quá nhiều tổ chức chính trị) nhưng rồi đều khám phá ra những khó khăn không ngờ nên hầu như tất cả đều bỏ cuộc và triệt thoái trở lại tập quán nhân sĩ. Thực ra những khó khăn này chỉ không ngờ bởi vì chúng ta thiếu văn hóa chính trị và văn hóa tổ chức mà thôi, chúng chỉ là những vấn đề cổ điển của mọi tổ chức chính trị, hay chính đảng, đã được nghiên cứu kỹ và được trình bày trong nhiều tác phẩm. Thành lập một tổ chức chính trị có bao giờ dễ dàng đâu !

Phân tích các chính đảng không phải là mục đích của bài này. Chỉ xin tóm lược: đấu tranh chính trị bắt buộc phải có một tổ chức mạnh mới có hy vọng thành công; một chính đảng bắt buộc phải được xây dựng trên một tư tưởng chính trị và phải bắt đầu bằng một đội ngũ nòng cốt gắn bó và có bản lĩnh; trong những điều kiện lý tưởng nhất xây dựng một chính đảng cũng đòi hỏi ít nhất một hai thập niên. Xây dựng một chính đảng rất khó nhưng là điều kiện bắt buộc, nếu không thì hoạt động chính trị chỉ là vô ích, có thể còn có hại.

Theo tôi đó là bài học quan trọng nhất cần được rút ra từ biến cố 30 tháng 4-1975, một bài học mà đáng lẽ chúng ta đã phải biết mà không cần có biến cố này vì đó chỉ là một kiến thức cơ bản phải có ngay trong phản xạ của những người hoạt động chính trị. Ngày 30 tháng 4 đã chỉ nhắc lại sự thực hiển nhiên này, một cách rất tàn nhẫn. Những nạn nhân oan ức nhất chính là những quân nhân, công chức và cán bộ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Trong đại đa số họ là những người yêu nước, dũng cảm và đầy khả năng, một số đông đảo có tiềm năng lớn. Nỗi oan nghiệt của họ là đã không có được một lãnh đạo đúng nghĩa. Họ không đáng phải chịu số phận mà ngày 30-4-1975 đã dành cho họ.

Cũng xin được chia sẻ một bài học cá nhân bởi vì nó cũng là một bài học nhỏ trong bài học lớn này. Cho tới ngày 30-4-1975 tôi là một viên chức khá cao cấp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã chứng kiến đoàn quân cộng sản chiến thắng tràn vào Sài Gòn. Sự hân hoan và hãnh diện của họ chỉ có thể so sánh được với thất vọng và tủi nhục của tôi. Tôi nghe như có tiếng nói từ trong lòng mình: “thà làm lính trong một đạo quân chiến thắng còn hơn làm tướng trong một đạo quân chiến bại”. Tôi vẫn hiểu và hành động như thế, nhưng lúc đó tôi hiểu một cách thấm thía lạ lùng. Hình như vẫn còn rất nhiều người chưa hiểu như thế, thậm chí còn nghĩ ngược lại.

*

Chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nếu kể cả tiền thân của nó là Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại, cũng đã chỉ tồn tại được 27 năm và đã sụp đổ từ 33 năm rồi. Trong suốt cuộc sống ngắn ngủi đó, dù đã có rất nhiều người yêu nước và dũng cảm bỏ mình dưới lá cờ của nó, nó chưa bao giờ là một nhà nước Việt Nam đúng nghĩa. Nó do Pháp lập ra và cáo chung khi bị Mỹ bỏ rơi. Nó chưa bao giờ kiểm soát được cả lãnh thổ Việt Nam và cũng chưa bao giờ có được một lãnh đạo đúng nghĩa. Nó cũng là một chế độ rất tham nhũng, dù không tham nhũng bằng chế độ cộng sản hiện nay. Những người dân chủ và yêu nước không có lý do gì để thương tiếc chế độ này, càng không có lý do để lấy nó làm biểu tượng của cuộc đấu tranh vì dân chủ. Trong một giai đoạn, từ 1948 đến 1975, nó đã là một chọn lựa bất đắc dĩ để ngăn chặn sự thiết lập một chế độ cộng sản tại Việt Nam. Đó là một hợp đồng. Hợp đồng đó là tạm thời chịu đựng cái tồi dở để ngăn chặn cái độc hại. Nhưng cái tồi dở đã quá tồi dở và chúng ta đã không ngăn chặn được cái độc hại. Như vậy hợp đồng VNCH đã hoàn toàn chấm dứt. Cuộc vận động dân chủ hiện này là một cuộc đấu tranh hoàn toàn khác. Rút ra những bài học từ kinh nghiệm VNCH chỉ có ý nghĩa nếu có ích cho cuộc đấu tranh mới này. Bài học mà tôi đã chọn vẫn còn rất thời sự. Đáng buồn.

Nguyễn Gia Kiểng (30-4-2008)

 ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC, CÁCH MẠNG GIÁO DỤC LẦN THỨ NHẤT

May be an image of standing and text

 ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC, CÁCH MẠNG GIÁO DỤC LẦN THỨ NHẤT

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Cách đây 110 năm (1907-2017), một số nhà trí thức yêu nước tiên tiến đã thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) tại Hà Nội, khởi đầu một phong trào yêu nước chống phong kiến chống thực dân với tính chất hoàn toàn mới chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam. Ở đây, Nghĩa thục là trường tư thục (do tư nhân mở) vì nghĩa, tức vì lợi ích chung, không vì tư lợi, không thu tiền của người học. Đông Kinh là tên thành Thăng Long thời Hồ Quý Ly, tức Hà Nội hiện nay, địa điểm đặt trường.

ĐKNT do một nhóm sĩ phu Bắc Hà đồng sáng lập: Lương Văn Can (Thục trưởng, tức Hiệu trưởng), Nguyễn Quyền (Giám học) và Lê Đại, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Kỳ, Dương Bá Trạc, Vũ Hoành v.v… Họ đều là các nhà Nho, trong đó cử nhân Dương Bá Trạc mới 23 tuổi, cử nhân Nguyễn Hữu Cầu 28 tuổi, nhiều tuổi nhất là Lương Văn Can 53 tuổi.

Do có cùng chí hướng và nhận thức, lại tiếp thu trào lưu duy tân từ Nhật Bản, Trung Quốc và tư tưởng tiên tiến của hai nhà đại cách mạng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, nên họ đã tự tìm đến với nhau họp bàn và nhất trí chủ trương noi gương Nhật Bản, trước hết mở trường dạy cho đông đảo đồng bào các kiến thức cần thiết nhất để làm cho dân giàu nước mạnh, cuối cùng tiến tới mưu đồ sự nghiệp giải phóng đất nước. Hai cụ Phan có liên hệ chặt chẽ với nhóm này. Do từng thăm trường Khánh ứng Nghĩa thục (Keio Gijuku, lập năm 1868) của Fukuzawa Yukichi ở Tokyo nên hai cụ rất hiểu tác dụng của giáo dục quốc dân đối với việc thực hiện “quốc phú binh cường” (nước giàu, quân mạnh) ở nước Nhật. Vì thế các cụ đã gợi ý nhóm sĩ phu nói trên lập ra ĐKNT.

Theo tài liệu do ĐKNT biên soạn thì đây là trường học đầu tiên được lập ở Việt Nam: “Nước Nhật Bản chỉ có 43 huyện mà có đến 26.824 trường tiểu học. Nước ta hơn 30 tỉnh, hơn 500 huyện mà chưa nghe ai nói tới mở trường. Than ôi! Chẳng phải là đáng giận lắm sao?”[1] Thực ra nước ta ngày ấy tuy chưa có trường học theo nghĩa có trường sở, có bộ máy tổ chức quản lý và giảng dạy, đào tạo học sinh theo một chương trình nhất định, nhưng cũng có không ít cơ sở giảng dạy văn hóa Nho giáo như các lớp học tại gia của thầy đồ. Cơ sở lớn nhất là Quốc tử Giám Văn Miếu, được gọi là “trường đại học đầu tiên”. Nhưng mọi hoạt động giáo dục thời xưa chỉ nhằm đào tạo người làm quan, như đạo Khổng dạy: Học nhi ưu tắc sĩ (Học giỏi thì ắt làm quan). Về sau, từ cuối thế kỷ XIX, Thống sứ Trung Bắc lưỡng kỳ Paul Bert (nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục Pháp) bắt đầu mở một số trường tiểu học Pháp-Việt nhằm đào tạo người làm việc cho thực dân Pháp. Nhưng một trường học kiểu ĐKNT thì đúng là nước ta chưa từng có (kể cả hiện nay)!

ĐKNT khai giảng tháng 3/1907 tại Hà Nội, hai tháng trước khi có giấy phép của chính quyền cai trị. Trường không thu học phí, các tài liệu giảng dạy và tuyên truyền đều phát không cho học viên, hơn nữa còn phát hành trên cả nước. Ai muốn học đều được nhận, bất kể già trẻ gái trai, kể cả nhà Nho muốn học tiếng Pháp. Kinh phí hoạt động dựa vào sự đóng góp tùy tâm của dân; giáo viên thời gian đầu không lĩnh lương. Bộ máy nhà trường gồm 4 ban: Giáo dục (mở lớp và giảng dạy), Tu thư (soạn tài liệu giảng dạy và tuyên truyền), Cổ động (tuyên truyền), Tài chính (lo kinh phí). Trường dạy các môn: Quốc ngữ, chữ Hán (chỉ để đọc tân thư), tiếng Pháp, các thường thức về xã hội, lịch sử, địa dư, chính trị, kinh tế, quyền công dân. Nhà trường có một cơ quan ngôn luận riêng là tờ Đại Việt Tân báo; một thư viện nhiều sách báo với thủ tục cho mượn là chỉ cần đọc xong thì trả lại; một hòm thư trưng cầu ý kiến nhân dân đóng góp xây dựng trường… Với hình thức tổ chức như vậy, ĐKNT đúng là một trường học tiên tiến chưa từng có trong lịch sử nước ta, Trung Quốc thời ấy cũng chưa có.

ĐKNT đặc biệt chú trọng việc biên soạn tài liệu giảng dạy, tuyên truyền. Các lớp bậc cao dùng ngay tân thư Nhật Bản và Trung Quốc (chủ yếu do TQ dịch từ sách Nhật) để giảng dạy, vì học viên đã biết chữ Hán nên có thể trực tiếp đọc sách. Các lớp dưới dùng sách quốc ngữ hoặc chữ Hán do trường biên soạn. Văn thơ của các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền…cũng được dùng để giảng dạy. Nội dung các tài liệu nói trên đều nhằm nâng cao lòng yêu nước, đả phá nền cựu học khoa hoạn phong kiến cùng lối sống cũ, đề xướng tân học cùng lối sống mới, học văn minh phương Tây, học chữ Quốc ngữ và khoa học kỹ thuật, chấn hưng kinh tế …

Hội quán ĐKNT (mới đầu ở nhà số 4 phố Hàng Đào) treo một bản đồ tổ quốc cỡ lớn chưa từng thấy nhằm khích lệ lòng yêu nước một cách trực quan, cảm tính. Đồng bào rủ nhau đến xem rất đông, ai cũng xúc động vì hầu như đây là lần đầu tiên họ được biết hình dạng tổ quốc mình trên trái đất. Một số tài liệu nhà trường phát không cho học viên có nội dung vạch tội ác của thực dân Pháp, kêu gọi đồng bào đứng lên cứu nước. Như “Hải ngoại Huyết thư” của Phan Bội Châu được Lê Đại dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt, chuyển thành thể thơ song thất lục bát có vần điệu rất hay, dễ nhớ dễ truyền khẩu, hầu như cả nước ai cũng thuộc lòng. Những câu như

Đội trời đạp đất ở đời

Sinh ra Nam quốc là người trượng phu

Ai cũng bụng phục thù báo quốc

Thấy giống người nước khác ai ưa?

Cớ sao ngày tháng lần lừa

Rụt rè như thế, đợi chờ ngóng trông?

Lẽ vinh, sỉ, có hai đường ấy

Anh em ta đã nghĩ cho chưa?

Gió tanh xông mũi khó ưa

Gươm sao cắp nách mà ngơ cho đành

Hòn máu uất chất quanh đầy ruột

Anh em ơi, xin tuốt gươm ra!…

Cờ độc lập xa trông phấp phới

Kéo nhau ra đòi lại nước nhà![2]

sao mà kích động lòng người, như tiếng trống trận thúc dục họ đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm, giải phóng tổ quốc!

Với nội dung hoạt động như vậy, ĐKNT lập tức được nhân dân ta vốn giàu lòng yêu nước và hiếu học hăng hái hưởng ứng, ủng hộ. Số học viên từ khoảng dăm chục lúc đầu sau vài tháng lên tới mấy nghìn, và tiếp tục tăng dần. Nhiều nhà trí thức Nho học và Tây học tự nguyện tham gia giảng dạy, như hai nhà Tây học nổi tiếng nhất hồi ấy là Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn giúp dạy tiếng Pháp. Cụ Phan Châu Trinh từ Quảng Nam ra Hà Nội diễn thuyết tuyên truyền cho ĐKNT. Đồng bào các giới nô nức góp tiền của cho trường, có lúc nhiều tới mức thu không xuể. Nhân sĩ khắp ba kỳ kéo nhau đến xem trường, ai nấy đều hồ hởi hoan nghênh, ủng hộ. Thời gian đầu bọn Pháp cũng không ngăn cấm mà còn phỉnh phờ. Phong trào lan ra nhanh chóng. Sĩ phu ở một số tỉnh tự động lập phân hiệu của ĐKNT. Bà con ta truyền nhau mấy câu thơ:

Trường Nghĩa thục đứng đầu dạy dỗ

Khắp ba mươi sáu phố Hà thành

Gái trai nô nức học hành

Giáo sư tám lớp, học sinh non ngàn.

Buổi diễn thuyết người đông như hội

Kỳ bình văn khách tới như mưa.

Trong hoàn cảnh hồi ấy, khi tất cả các cuộc nổi dậy chống Pháp đều bị kẻ địch dìm trong biển máu, lối thoát cho công cuộc giải phóng dân tộc ta rõ ràng chưa thể là khởi nghĩa vũ trang, mà là chuẩn bị lực lượng quần chúng: trau dồi cho đông đảo đồng bào lòng yêu nước và các kiến thức cần thiết nhất để đổi mới xã hội về mọi mặt kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật, làm cho dân giàu nước mạnh. ĐKNT chọn giáo dục quốc dân làm biện pháp chuẩn bị lực lượng cách mạng là sự lựa chọn sáng suốt hồi ấy. Gây dựng được phong trào đông đảo quần chúng hăng hái học tập như thế thật là việc chưa từng có trong lịch sử nước ta.

ĐKNT trước hết tập trung vào chủ đề giáo dục. Nền giáo dục nước ta xưa nay rập khuôn TQ “đặt đạo đức lên đầu, xem trí năng là thứ yếu, cho nên không nói tới giáo dục quốc dân … Chỉ những ai có chí làm công khanh, đại phu mới đi học, chớ không phải là giáo dục quốc dân nhằm phổ biến rộng rãi trong dân chúng, mà là định phân trên dưới, giữ gìn lễ phép. Đường lối giáo dục quốc dân không phải như thế, mà là làm rõ cái lý tương quan giữa nước với dân, sao cho họ biết vị trí của họ trong xã hội, chức phận ra sao, và làm thế nào để gây ý thức ái quốc ái quần, bồi dưỡng tài năng tự trị, tự lập… Một nước không có giáo dục quốc dân thì trăm họ u mê, không biết quốc gia, chính trị là gì.”[3] ĐKNT kêu gọi:

Liệu mà sớm bảo nhau đi

Giàu thì giúp của, nghèo thì gắng công

Khăng khăng ghi lấy một lòng

Sang Âu, sang Mỹ học tòng nghề hay

Bao nhiêu nghề khéo nước ngoài

Học sao cho được hơn người mới nghe

Bấy giờ rồi liệu trở về

Mở trường trong nước lấy nghề dạy nhau.[4]

Nghĩa là ĐKNT muốn làm cuộc cách mạng về đối tượng, mục đích và phương thức giáo dục: từ chỗ chỉ giáo dục một số ít người chuyển sang giáo dục số đông dân chúng; từ chỗ chỉ đào tạo người làm quan chuyển sang đào tạo người làm công dân, từ giáo dục tự nguyện sang giáo dục bắt buộc; từ chỉ học trong nước sang đi học nước ngoài. Nền giáo dục cũ đều dùng chữ Hán, một thứ chữ rất khó học, chỉ một số cực ít người muốn làm quan và có điều kiện mới chịu học. Kiến thức họ được học toàn là các kinh điển Nho giáo, văn chương cổ lỗ có từ hàng nghìn năm trước, xa rời thực tế xã hội, không ích gì cho phát triển kinh tế, chính trị, KHKT, nâng cao đời sống của dân. Hậu quả là các nhà Nho vô dụng lại làm quan cai trị dân. Chính vì thế mà dân ngu nước yếu, không chống nổi ngoại xâm. Đã vậy giới hủ nho lại mù quáng tôn vinh văn minh Nho giáo cổ hủ, tự cao tự đại, khinh thường mọi thứ của người Tây, như văn minh phương Tây, chữ Quốc ngữ (do các giáo sĩ người Âu làm ra), KHKT và văn minh vật chất. Các yếu nhân ĐKNT tuy vốn là nhà Nho song do tiếp thu được tư tưởng duy tân từ Nhật và TQ nên họ thấy rõ muốn dân giàu nước mạnh thì trước hết phải nâng cao dân trí, tức tiến hành giáo dục quốc dân nhằm thực thi “Khai dân trí” – nội dung đầu tiên trong phương châm cách mạng Việt Nam thời ấy “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” do Phan Châu Trinh nêu ra.

Muốn mở dân trí, phải kiên quyết đả phá nạn hủ nho. “Cáo hủ lậu văn” của ĐKNT viết: “Ôi! các bố, có óc thông minh, ở làng cao sang, đọc sách hiền triết, làm mẫu da vàng! Đương lúc này nghe thấy mới lạ, cuộc đời mở mang, sao không ra tay cứu vớt người chìm đắm, đánh thức kẻ mơ màng! Tại hại thay hủ thư! Đục nát bét các bố! Đau đớn thay hủ nho! Làm các bố lầm lỡ!”

Muốn phổ cập giáo dục thì phải dùng chữ Quốc ngữ. “Văn minh Tân học sách” – cuốn sách có tính cương lĩnh của ĐKNT viết: “Người trong nước đi học nên lấy chữ Quốc ngữ làm phương tiện đầu tiên để trong một thời gian vài tháng, đàn bà trẻ con đều biết chữ và có thể dùng … Đó thực là bước đầu tiên để mở mang trí khôn vậy.” Đúng là nhờ biết chữ Quốc ngữ mà tư duy, trí tuệ của người Việt được giải phóng, mở mang, tiến những bước nhảy vọt hơn hẳn mấy nghìn năm trước. Không có chữ Quốc ngữ thì các tư tưởng tiên tiến của ĐKNT sao có thể đến được quần chúng nhân dân. Mười năm sau (1917), học giả Phạm Quỳnh đưa ra nhận định: chữ Quốc ngữ là công cụ giải phóng trí tuệ người Việt.

Làm cho dân ta chấp nhận một loại chữ viết mới thay cho chữ Hán quen dùng hàng nghìn năm là một cuộc cách mạng lớn về văn hóa giáo dục. Hầu hết người trí thức ở ta ngày ấy chỉ biết chữ Hán, thứ chữ viết bằng bút lông có vẻ cao sang. Giới hủ Nho tẩy chay và chê bai chữ Quốc ngữ viết bằng ngòi bút sắt là thứ chữ “mọi rợ”, “ngoằn ngoèo như con giun”. Sử gia Chương Thâu đánh giá: với việc thực hiện dạy chữ Quốc ngữ, ĐKNT đã tiến xa hơn các nhà duy tân TQ chỉ hô hào bỏ khoa cử và lối văn tám vế (bát cổ) nhưng vẫn giữ cổ văn, cho tới năm 1917 mới đề nghị dùng bạch thoại.

ĐKNT đề xướng học không vì bằng cấp, “chỉ cốt học để làm người dân, chứ không học lối từ chương khoa cử (bản copy là “khoa xử”-TB), là cái di độc ngày xưa còn lại, lúc bấy giờ chúng tôi ghét lắm.” (lời giám học Nguyễn Quyền). Sử gia Chương Thâu nhận xét: Lần đầu tiên trong lịch sử, ĐKNT đã thành công tách rời thi cử ra khỏi giáo dục. ĐKNT hô hào: “Thiếu niên chúng ta phải ra sức học cái hữu dụng, chớ để cái học khoa cử phá hỏng chí hưởng của mình.” Nếu cứ học theo lối cũ “thì nước ta sẽ không đời nào hưng thịnh được.”[5]

ĐKNT dạy cho dân biết các kiến thức hiện đại, tiên tiến về chính trị, kinh tế, xã hội mà người Việt Nam chưa từng nghe nói. Chỉ cần điểm qua tên một ít bài trong số 79 bài trong sách “Quốc dân độc bản” (Sách dùng để quốc dân đọc) là đủ thấy điều đó: – Quan hệ giữa nước với dân; – Nỗi bi thảm của quốc gia không được độc lập; – Lòng yêu nước; – Độc lập; – Cạnh tranh; – Chính thể; – Bàn về cái hại của khoa cử; – Thuế khóa; – Pháp luật; – Nước ta nên chấn hưng thực nghiệp; – Máy móc; – Ích lợi của đại công nghiệp; – Tiền công; – Tư bản; – Nhà đại tư bản cũng có ích cho người nghèo; – Thương mại; – Tiền tệ; – Trái phiếu, hối phiếu; – Séc; – Công ty; các bài viết về nước Nhật (chính thể, giáo dục…).

Sách “Luân lý giáo khoa” có các chương nói về nghĩa vụ của quốc dân với tổ quốc, gia đình, bản thân, xã hội, với nhân loại. Từ “quốc dân” ở đây chính là từ “công dân” ta dùng bây giờ, là người dân có các quyền lợi và nghĩa vụ nhất định đối với quốc gia của mình, khác với “thần dân” là người dân chịu sự cai trị của triều đình phong kiến, phải tuyệt đối phục tùng chính quyền, không có quyền lợi gì hết (trong chữ Hán “thần” nghĩa là nô lệ).

Khác hẳn nền cựu học chỉ dạy học sinh thuộc lòng thứ văn chương cao sang khó hiểu viết từ mấy nghìn năm trước, các tài liệu giảng dạy của ĐKNT thường viết dưới dạng thơ ca dễ hiểu dễ học dễ nhớ. Sách “Quốc văn tập đọc” có 19 bài ca như: khuyên học chữ Quốc ngữ, khuyên yêu nước, khuyên họp đàn, mẹ khuyên con, răn người uống rượu, răn người đánh bạc…“Bài ca khuyên người đi tu” viết:

Phen này cắt tóc đi tu

Tụng kinh Độc lập, ở chùa Duy tân

Đêm ngày khấn vái chuyên cần

Cầu cho ích quốc lợi dân mới là…

“Bài vợ khuyên chồng” viết:

Anh làm sao cho ích nước lợi nhà

Mọi nghề tân học ắt là phải thông

Anh làm sao cho nổi tiếng Lạc Hồng

Có khôn mới đứng được trong cõi đời.

Điểm qua vài nét kể trên, có thể thấy ĐKNT đã thực sự làm một cuộc cách mạng giáo dục đầu tiên, với quy mô lớn và tính chất tiên tiến chưa từng thấy trong lịch sử nước ta. Xét tổng thể, ĐKNT không chỉ là một trường học mà thực chất là cả một phong trào cách mạng yêu nước nhằm mục đích giải phóng xã hội và dân tộc khỏi ách phong kiến thực dân.

Thực dân Pháp đã thấy ngay các hoạt động của ĐKNT đe dọa lật đổ ách thống trị của chúng. Vì thế ĐKNT chỉ hoạt động được 9 tháng đã bị chính quyền Pháp ra lệnh đóng cửa và tàn bạo đàn áp. Chúng bắt giam nhiều yếu nhân ĐKNT, kết án họ từ 5 năm tù đến chung thân, tử hình và đày ra Côn Đảo nhằm cách ly với đồng bào. Các tài liệu của ĐKNT đều bị tiêu hủy, ai tàng trữ sẽ bị tù; vì thế cho nên hiện còn rất ít tài liệu để tham khảo. Tuy vậy, ảnh hưởng của ĐKNT vẫn tiếp tục lan ra khắp nơi, khêu gợi lòng yêu nước trong toàn dân, chuẩn bị lực lượng cho các phong trào đấu tranh chống Pháp về sau.

Cao trào yêu nước ĐKNT chứng tỏ Việt Nam là nước châu Á đầu tiên đi theo con đường Duy tân của Nhật, tiếp thu văn minh phương Tây, dùng biện pháp giáo dục quốc dân để nâng cao dân trí, cải cách xã hội, tiến tới thực hiện dân giàu nước mạnh. Cuộc cách mạng giáo dục do ĐKNT tiến hành đã viết nên một trang sáng ngời trong lịch sử giáo dục nước ta.

Phong trào yêu nước ĐKNT vẻ vang như thế lẽ ra phải được tôn vinh, ca ngợi xứng tầm để có thể làm dân tộc này kiêu hãnh ngẩng cao đầu, nhưng không rõ vì sao lâu nay dường như đang bị dư luận chính thống ở ta quên lãng dần. Đây thật là điều vô cùng đáng tiếc. Mong sao các thế hệ sau sẽ sửa được sai lầm này!

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.

Hình: Lớp học của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: Vietnamnet.

—————-

[1] Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục. Nhà XB Văn hóa, Hà nội 1997.

[2] Lê Đại, con người và thơ văn. Chương Thâu và Tôn Long. NXB Văn hóa thông tin. Hà nội, 2001.

[3] Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục.

[4] Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX. Chương Thâu. NXB Hà Nội, 1997.

[5] Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục.