Nhà Xuất bản Tự do nghi ngờ công an Phú Yên giam giữ trái pháp luật người đưa sách 18 tháng qua

Đài Á Châu Tự Do 

Nhà Xuất bản Tự do hôm 6/5 ra thông cáo báo chí tố cáo Cơ quan An ninh điều tra của Công an tỉnh Phú Yên đã giam giữ một người đưa sách của mình suốt 18 tháng trái pháp luật trước khi cho báo chí Nhà nước đưa tin đồng loạt về vụ bắt giữ này vào ngày 5/5 vừa qua.

Truyền thông Nhà nước Việt Nam hôm 5/5 đồng loạt đưa tin ông Nguyễn Bảo Tiên (sinh năm 1986) bị Công an tỉnh Phú Yên khởi tố và bắt tạm giam về tội “Tàng trữ, tuyên truyền tài liệu nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo Điều 117 Bộ Luật Hình sự.

Báo chí Nhà nước trích nguồn tin từ Công an tỉnh Phú Yên cho biết, ông Tiên đã nhận phát tán sách của Nhà Xuất bản Tự do (NXB), một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực xuất bản chưa được cơ quan chức năng cho phép. Theo cáo buộc của Công an, từ tháng 8 đến tháng 10/2019, Nguyễn Bảo Tiên nhận 68 bưu phẩm có những cuốn sách bị cho mang nội dung ‘tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống Nhà nước CHXHCNVN’. Trong số nhận được, có 24 bưu phẩm được chuyển đến cho người khác.

Tuy nhiên, trong thông cáo báo chí của NXB, ông Tiên có khả năng bị bắt vào khoảng tháng 10 năm 2019 khi NXB mất liên lạc với ông bắt đầu từ ngày 2/10/2019, và vào khoảng tháng 11 và tháng 12 cùng năm, NXB nhận được thông tin của độc giả về việc công an đang câu lưu những người được cho là cộng tác với NXB.

“Cho đến tận ngày hôm qua, 05/05/2021 báo chí Việt Nam mới đồng loạt đưa tin về vụ bắt giữ và khởi tố đối với anh Nguyễn Bảo Tiên, nghĩa là sau 18 tháng kể từ khi anh Tiên mất tích”, thông cáo báo chí của NXB viết.

Nhà Xuất bản Tự do nghi ngờ công an Phú Yên giam giữ trái pháp luật người đưa sách 18 tháng qua
RFA.ORG

Nhà Xuất bản Tự do nghi ngờ công an Phú Yên giam giữ trái pháp luật người đưa sách 18 tháng qua

Nhà Xuất bản Tự do hôm 6/5 ra thông cáo báo chí tố cáo Cơ quan Điều tra An ninh điều tra của Công an tỉnh Phú Yên đã giam giữ một người đưa sách của mình suốt 18 tháng trái pháp luật trước khi cho báo chí Nhà nước đưa tin đồng loạt v… 

PHẢI BỊT MỒM CHÚNG LẠI…

PHẢI BỊT MỒM CHÚNG LẠI…

Hiện nay rất nhiều thành phần phản động đang phê phán đường lối của đảng và nhà nước. Anh chị em hãy chung tay xây dựng và bảo vệ đất nước. Hãy dập tắt ngay bọn chúng, không cần tranh luận gì dài dòng, vì bọn chúng thường là cũng có tri thức hơn người nên tranh luận rất khó. Cứ áp dụng chiêu chụp mũ, bỏ bóng đá người là hiệu quả nhất.

Vào trận, hãy phủ đầu bằng câu hỏi “Bạn đã làm gì cho Tổ quốc chưa”, để chúng lộ ra thân phận của mình. Rồi tùy từng tình huống mà sử dụng cẩm nang sau đây:

– Nếu kẻ phê phán đã lớn tuổi thì ta bảo bọn họ thù hằn quá khứ, chỉ biết moi móc chứ làm được gì.

– Nếu chúng còn trẻ thì ta bảo là lũ trẻ trâu chưa biết sự đời, phải đi làm, có va vấp rồi hãy lên tiếng.

– Nếu đã đi làm thì ta bảo toàn kẻ bất mãn vì thất bại.

– Nếu đã thành công có sự nghiệp thì hãy bảo chúng không có cái tâm, không phải trí thức thật sự, được voi đòi tiên, sau khi đã no thân ấm cật bây giờ muốn mưu triều soán vị, tham danh tiếng.

– Nếu là trí thức hẳn hoi, tầm đã được thừa nhận ko thể cãi thì ta bảo họ chẳng có kinh nghiệm chính trị, dân khoa học biết gì chính trị mà bàn.

– Nếu có kinh nghiệm chính trị ta sẽ bảo chúng có dã tâm chính trị, mưu đồ bất chính.

– Nếu là dân thường ta thách chúng thử nhìn từ khía cạnh của người lãnh đạo để thấy cái khó. Giỏi thì thử làm lãnh đạo đi…

– Nếu là lãnh đạo, đảng viên kỳ cựu thì ta bảo chúng là bọn phản bội, ăn cháo đá bát.

– Nếu chưa đi ra nước ngoài ta bảo hãy ra ngoài để hiểu Việt Nam tốt thế nào, nước nào chẳng như nhau.

– Nếu đã ra nước ngoài thì ta bảo là lũ vọng ngoại, lũ ham bơ thừa sữa cặn, cõng rắn cắn gà nhà.

– Nếu ở hải ngoại ta bảo chúng là bọn đu càng, tàn dư Mỹ ngụy, bè lũ tư bản, giỏi về VN đấu tranh này.

– Nếu ở trong nước ta bảo chúng bị kích động, nhận tiền của các thế lực thù địch, lũ bị giựt dây, cút ra nước ngoài mà sống.

– Nếu viết bài trên mạng ta bảo bọn chỉ biết gõ bàn phím, ăn không ngồi rồi, sao không hành động đi.

– Nếu hành động xuống đường biểu tình đòi quyền lợi, ta nói toàn bọn gây rối mất trật tự xã hội, lo ở nhà làm ăn đi.

Cuối cùng, nếu thấy không thể lập luận được nữa thì hãy công nhận thằng phản động giỏi đi, nhưng bảo nó là SỐNG TÍCH CỰC LÊN CHỨ ĐỪNG NHÌN CÁI GÌ CŨNG TIÊU CỰC THẾ CHO KHỔ ĐỜI RA. Mình đảm bảo là nó hết đường phản biện

Mình tổng hợp sưu tầm từ nhiều nguồn và từ thực tế nên không giữ bản quyền. Anh chị em xem còn gì thì bổ sung để hoàn thiện cẩm nang và tùy ý chia sẻ. Phải bịt mồm chúng lại.

NGUYÊN TỐNG

No photo description available.

NHỮNG NGÀY VUI

Chuong BK  is with Thuy Nguyen

 NHỮNG NGÀY VUI

luật sư Nguyễn Hữu Thụy

(Hình chân dung Pre.75)

Lại sắp đến 30/4 thôi lại nói đến chuyện tù cho hợp thời vụ. Sống trong tù cộng sản , sự tàn bạo kể sao cho xiết, nhưng muốn sống sót nên quên đi những điều mà Việt cộng đặt ra để hành tù mà chỉ nghĩ đến những điều vui tươi cho ngày tù ngắn lại. Những nhân vật tôi nhắc đến ở đây tôi thường kèm chức vụ của những vị này cho khỏi lẫn lộn với người khác, và phần lớn đã ra người thiên cổ nên không đối chứng được, nhưng tôi thề chỉ nói sự thật chỉ sự thật mà thôi, và…như thế là công lý.

Sau ngày 30/4 cộng sản ra thông cáo đi “học tập “ đem tiền ăn trong một tháng. Nhiều người cả tin là sẽ bị giữ trong một tháng rồi ra về. Tôi không tin như vậy vì đây không phải là lần đầu tôi gặp người bạn khó ưa này, cộng sản. Trước đây năm 1953, tôi cũng đã nếm mùi trại tù cải tạo một lần, trong một năm, vì là con điạ chủ. Tại đây tôi đã bị giam chung với một người tù mà sau này lại được ngộ cố tri trong trại tù Long Thành là luật sư Nguyễn Hữu Hiệu.

Ngày đi tù tuy là luật sư, nhưng đã đi lính và mang cấp bậc thiếu tá, thẩm phán quân sự. Tôi có thể nạp mạng với tư cách quân nhân với chức vụ thiếu tá. Tôi cũng có thể trà trộn vào đám tù dân sự với tư cách thẩm phán . Tôi chọn đi tù dân sự để tránh việc có thể những quân nhân trước đây đã chẳng may có dịp đáo tụng đình và đã gặp tôi với tư cách thẩm phán công tố, điều đó sẽ kém vui đi. Do đó tôi trình diện ở trường Gia Long, nơi gặp gỡ của người tù dân sự.

Vào trường Gia Long chúng tôi bị giải đến trại tù Long Thành. Trại tù Long Thành, trước đây là làng cô nhi Long Thành của sư trụ trì tên là Tư Sự. Trước ngày l30/4 không lâu, với tư cách thẩm phán công tố, tôi đã có dịp gặp Tư Sự vì tội hoạt động cho việt cộng và bị tòa án Quân Dự Mặt Trận vùng 3 bắt giữ. Sau này lên Long Thành tôi mới biết Tư Sự là đại tá việt cộng. Tôi muốn tránh gặp lại người cũ nhưng rốt cuộc lại ở nhà người bạn cũ là TS chủ làng cô nhi Long Thành. Cũng may, chắc Tư sự lúc này làm lớn lắm nên chẳng gặp tôi làm gì.

Tại nhà tù Long Thành, đời tôi chưa đến nỗi khắt khe lắm, vẫn còn mang một tên thơ mộng là trường cải tạo 15 NV. Tôi đã gặp cụ Lê Tài Triển , ngày tôi tuyên thệ luật sư thì cụ là Chánh nhất tòa thượng thẩm Sài Gòn, sau này giữ chức vụ gì bên bộ ngoại giao thì tôi không nhớ. Cụ Triển đi lao động vai vác cuốc nhưng vẫn giữ phong thái của một người trí thức chân mang giầy tây và áo bỏ trong quần. Cụ Lưu Đình Việp, Chửơng lý tòa Thượng thẩm Sài Gòn đi tù còn cố mang theo một cái đệm hơi để tối nằm cho êm.

Ngày đi tù, theo sắp xếp, tôi ở đội các thẩm phán. Lúc đó tôi chưa đến tuổi 40, còn trẻ chán, nhưng lại ở tổ toàn những vị cao niên, phần lớn là các vị thẩm phán tối cao. Ngày ngày đi làm vườn cụ Vũ Tiến Tuân chưởng lý tối cao pháp viện, vì đau chân không ngồi xổm để nhổ cỏ được cụ kiếm được một mảnh gỗ làm ghế ngồi. Vì mảnh gỗ này cụ Tuân bị bọn cán bộ quấy rầy hoài , “ đi lao động mà còn ngồi ghế kiểu phong kiến”. Cụ Nguyễn Mạnh Nhu chưởng lý được giao một đàn dê . Lúc nào trong túi cụ cũng chứa đầy đá. Dê chạy nhanh cụ đuổi không kịp nên phải dùng đá ném để gom chúng nó về.

Cụ Phạm Văn Hiền, chánh nhất tòa thượng thẩm Huế, người hiền lành nhưng cũng không kém phần dí dỏm. Một lần tôi đi đổ rác với cụ Rác đựng trên một cái cáng, cụ đi phía trước tôi khiêng phía sau. Tới chỗ rẽ, tôi nhắc, cụ nghiêm nghị quay lại bảo tôi: “ Con đường chính trị tôi có thể lầm, nhưng con đường đổ rác thì tôi biết ông ạ “

Cụ Trịnh Xuân Ngạn người có thể biết thiên kinh vạn quyển, nhưng những chuyện đời thường, rất đời thường thì có khi lại không biết. Một lần cụ hớn hở tìm tôi như Archimede tìm ra sức đẩy của nước và khoe rằng :” Cái dây thép bẻ đi bẻ lại một lúc thì nó gẫy ông ạ .”

Ở tù hơn một năm thì đến tết, tù được thăm nuôi, anh Vũ Mạnh dự thẩm, nhân vật này tôi biết là còn sống vì thấy tên trong hội ái hữu Luật khoa San Jose, có người chú làm tướng việt cộng đến thăm. Tôi thấy anh Mạnh có vẻ chuẩn bị tư tưởng dữ lắm, vì đây là cuộc gặp gỡ của những người từ hai bên chiến tuyến. Từ nhà thăm nuôi trở về, anh Mạnh báo cáo là sau khi hỏi thăm chuyện gia đình, ông chú anh đã nghiêm nghị trách:” Sao nhà cháu đi hết rồi mà cháu còn ở lại đây”

Ở tù thì phải hát những bài của việt cộng. Anh Trần Tấn Toan, Thựơng nghị sĩ, người phụ trách văn nghệ của đội, sáng tác bài “ Giữ vững niềm tin “ và đưa lên ban giám thị trại để kiểm duyệt. Bài hát được chấp nhận, nhưng đội tập tành hát chưa được bao lâu thì có lệnh xuống là cấm hát. Không biết chúng nó giữ vững niềm tin nhưng là tin cái gì tình ai?

Những năm còn đi học, tôi được moị người biết đến với cái tên ông táo trường luật. Năm học sau, mọi người bắt tôi làm ông táo nữa, tôi từ chối, làm mãi cũng nhàm. Tuy nhiên khi đi tù, để giúp vui mọi người đang độ buồn phiền, tôi đành làm Táo hai lần nữa, nhưng những lần sau này, tôi không tự viết sớ táo nữa mà để người khác viết. Tôi chỉ sửa lại cho hợp ý táo thôi. Lần đầu ở trại long Thành do dự thẩm Nguyễn Ý Nhạc viết và lần thứ hai ở trại Quảng Ninh do đại sứ Phạm Trọng Nhân viết. “Những màn trình diễn cũng “ Mua vui cũng được một vài trống canh” ( Nguyễn Du).

Bây giờ đi tù, không phải chỉnh trang sắc đẹp như hồi đi làm nữa, nên tôi để râu dài như ông đạo dừa và lại được anh em đặt cho một tên mới là ông đạo. Một ngày không biết là có đẹp trời hay không, tôi gặp một tên cán bộ có vẻ để ý đến tôi, tôi tránh lối khác, chẳng nên dây với hủi, nhưng y cũng chẳng tha. Y đi nhanh vòng lối khác và chặn lối tôi: “ Để râu chống cộng hả?” thế là y lôi tôi đi cạo bén hàm râu. Râu đi rồi nhưng cái tên ông đạo thì còn, cho đến bây giờ thỉnh thoảng vẫn có người gọi

Sau những buổi học tập chính trị trên hội trường, chúng tôi phải về họp tổ để kiểm điểm và viết bản thu hoạch xem tù học hành như thế nào. Trong chiếu ngồi họp tổ, tôi với Hội thẩm. Dương Thiệu được phân công mỗi người nhìn về một phía làm lính gác bọn cán bộ trại. Chúng tôi ngồi nói chuyện tầm phào nhưng bỗng nhiên thấy hội thẩm Sinh hoặc tôi đổi giọng thì mọi người lập tức chuyển sang chuyện thảo luận chính trị có vẻ hăng say, tạm gác sang bên chuyện trời, trăng , mây , gió.

Ở trại giam Long Thành hơn một năm thì tôi cùng một số lớn tù nhân khác chuyển về Thủ Đức giam trong một trại dành cho các nữ ngày trước. Những nữ phạm nhân ngày trước không còn, nhưng cảnh thì vẫn là cảnh cũ để nhớ lại những ngày còn làm luật sư đi thăm thân chủ ở đây. Tại trại trại Thủ Đức tôi nằm cạnh và ăn chung với hai vị là giáo sư Bùi Từơng Huân tổng trưởng quốc phòng của chính phủ Dương văn Minh và đại sứ Phạm Trọng Nhân, cuối cùng làm giám đốc nghi lễ phủ tổng thống. Những ngày ở Thủ Đức, thức ăn của chúng tôi còn nhiều vì nhà mới thăm nuôi . Hai người ăn chung với tôi đều đã du học ở Pháp nên thời sinh viên đã nấu nướng giỏi lắm, còn tôi ở Việt Nam, cả đời cơm bưng nước rót nên chẳng biết gì. Để người ta nấu ăn cho mình mãi cũng khó coi nên một ngày nọ tôi tình nguyện làm đầu bếp. Các tù nhân nấu ăn trong lon sữa Guigoz. Trại cung cấp một bếp than đá cho tù nhân. Tôi lóng ngóng đặt lon trên bếp. Đồ ăn sôi, nắp lon bật ra, tôi bị phỏng. Thế là từ đó hai vị kia tiếp tục nấu nướng, tôi chỉ có việc ăn thôi. Tôi lẩm bẩm tuyên bố:” Đời tôi chưa bao giờ huy hoàng đến thế, bồi tổng trưởng mà bếp đại sứ.”

Giáo sư Huân đánh cờ tướng cao hơn tôi nhiều. Tôi thuộc loại cờ thấp nhưng không gọi là cờ thấp mà là “ cờ lùn” Tôi vừa đánh cờ vừa lẩm bẩn chọc ghẹo nên giáo sư Huân thua tôi hoài.

Ở trại giam Thủ Đức một thời gian ngắn thì chúng tôi bị lùa xuống hầm tàu Hồng Hà đem ra ngoài Bắc lưu đày. Nơi ở mới là trại giam Quảng Ninh.

Đêm đầu tiên ở trại Quảng Ninh, trại đón tiếp những người tù chính trị mới tới bằng một đêm do đội văn nghệ hình sự, những người tù phụ trách. Chúng tôi mệt mỏi ngồi xem. Một nữ ca sĩ phấn son lên trình bầy bản :” Người ơi xin ở đừng về.” Tù khổ sai biệt xứ mà năn nỉ người ơi xin ở đừng về thì kẹt nhau quá.

Thời gian này là gần tết nên giám thị trại yêu cầu tù làm văn nghệ mừng xuân. Đêm văn nghệ nghe anh Trần Huỳnh Châu tổng thư ký nội bộ nội vụ, chơi mandolin bản The Blue Danube, bọn cán bộ xem ra đã không bằng lòng vì cho là nhạc ngụy, nhưng đến khi nghe trung tá cảnh sát Kiều Đắc Thời, nặng 150 ký trình bày bản “ Bé yêu bác Hồ” tay chấp lên má, đầu nghiêng nghiêng rất là ngây thơ, thì bọn cán bộ không chịu nổi, đuổi tất cả về phòng giam. Vẫn chưa hết, vào phòng giam thấy một bàn bầy biện đàng hoàng, cán bộ lại hét lên :” Ai cho các anh làm bàn thờ tổ quốc trong phòng giam mà lại cắm hoa cứt lợn!” Thế là văn nghệ cũng dẹp mà bàn thờ cũng dẹp luôn.

Hết văn nghệ lại học tập chính trị rồi yêu cầu tù xung phong viết chuyên đề. Trong chuyên đề, việt cộng muốn khai thác và thu lượm những kiến thức của người tù. Tôi tình nguyện viết với đề tài là: Địch muốn gì qua luật người cày có ruộng. Nghe tựa có vẻ kêu nên việt cộng chấp nhận. Tôi chưa bao giờ đọc luật người cày có ruộng, nhưng biết việt cộng dốt nên cứ viết lung tung. Bao nhiêu chữ hóc hiểm nhớ được là tuôn ra hết. Tên cán bộ quản giáo thỉnh thoảng vào đọc và bình phẩm :” sao tôi thấy anh viết văn chương thì rất chải chuốt mà tôi đọc chẳng hiểu gì cả. “ Tôi an ủi:” Đây Là những tài liệu chuyên môn nên cán bộ xem không hiểu, nhưng cán bộ trên bộ nội vụ xuống nghiên cứu thì họ sẽ biết. Tôi nghĩ thầm : tao viết mà còn chẳng biết là tao viết cái gì thì làm sao mày hiểu. Mỗi ngày tôi chỉ viết năm trang chữ to bằng con bò còn dành thì giờ để nghỉ ngơi chứ. Những ngày sau thấy tên cán bộ quản giáo thập thò, tôi dơ tay xin ngòi bút, xin giấy viết. Bị quấy rầy những lần sao y chỉ đứng ở cửa nhìn vào chẳng bao giờ đến tận nơi xem tôi viết lách nữa.

Trốn việc quan đi ở chùa trong việc viết chuyên đề được gần một năm rồi cũng đến lúc bị chúng nó lùa ra ngoài đi làm lao động khổ sai. Ở tù muốn sống sót phải tìm cách làm càng ít càng tốt. Nứơc sông công tù mà. Trồng ngô thì một người đi trước, cầm cọc nhọn chọc một lỗ, người đi sau bỏ một hạt ngô xuống và lấp đất lại. Mỗi lỗ như thế tôi bỏ một nắm ngô cho chống hết. Cuốc đất thì phải cuốc từng lát mỏng mới có thể làm đất mịn để trồng trọt. Mỗi nhát cuốc của tôi chừng hai gang tay cho chóng đạt chỉ tiêu.

Thời gian này tù bắt đầu đói thê thảm. Đói ăn và đói cả thuốc hút nữa. Bây giờ ở đây no đủ rồi, việc bỏ thuốc có vẻ dễ dàng nhưng trong tù thì khó lắm. Đói ăn mà lại đói cả thuốc hút nữa thì chịu không nổi. Riêng tôi đã có lần nhịn cả phần ăn ít ỏi để đổi lấy thuốc hút. Đến giai đoạn này thuốc điếu đã thành xa xỉ phẩm vì thuốc đắt và hút chóng hết nên mọi người chuyển sang hút thuốc lào.

Giường tủ có hai từng, sàn trên và sàn dưới. Tôi nằm ở sàn trên bên dưới là anh Nguyễn Cao Quyền. Anh Quyền góc đại tá quân Pháp nhưng đã sang ngoại giao và nhiệm sở là tòa đại sứ ở anh nhưng tham bằng tiến sĩ nên mò về Việt Nam trình luận án. Kẹt lại đành đi tù với mọi người cho có anh có em. Một đêm thèm thuốc quá mà chẳng còn tí thuốc nào tôi lấy cái điếu cày ra kéo khan một hơi cho đỡ nhớ thuốc. Nghe tiếng điếu kêu lọc sọc anh Quyền ngốc đầu lên :” Có gì vui không toa (toi)”. thấy chẳng có khói và mặt tôi cũng chẳng hấp dẫn gì nên đành buồn rầu nằm xuống.

Mỗi lần có thuốc lào hút , sợ say ngã từ sàn

trên xuống đất có thể vỡ đầu , tôi đều leo xuống ngồi giữa nhà hút. Bao giờ tôi hút cũng có đại sứ Phạm Trọng Nhân đứng canh chừng. Thấy tôi say nằm giữa sàn nhà , có người thương hại chạy lại đỡ dậy vì sợ tôi trúng gió, thì người canh cho tôi cản lại và dõng dạc tuyên bố rằng: “ Hắn đang sướng đừng có đụng vào”

Kỹ sư Dương Kích Nhữơng, tổng trưởng giao thông công chính, cũng đói lắm, đi làm gặp con gì cũng bắt bỏ vào túi áo chờ khi về phòng giam sẽ hóa kiếp cho chúng để thêm thắt vào bữa ăn. Tuy nhiên ngày tổng trưởng rất ham đọc sách về đến phòng giam là chúi mũi vào đọc và đọc. Lũ cóc nhái tự do bò ra khỏi miệng túi áo và nhảy nhót tung tăng.

Tàu cộng và việt cộng chuẩn bị chỏang nhau nên chúng tôi lại được ưu ái chuyển về trại 5 Thanh hóa. Tại Thanh hóa điều kiện sinh hoạt còn tồi tệ hơn nữa nên đã nổ ra một cuộc tuyệt thực toàn trại mà anh bạn đồng nghiệp luật sư Ngô Văn Tiệp đã tường trình. Tôi không được cái hân hạnh ở bộ ba biệt giam “ Lạc, Chí, Tiệp” nhưng cũng được ưu ái xếp vào đội trừng giới.

Chế độ ăn uống của tù chia ra làm ba giai cấp: những người làm vựơt hơn tiêu chuẩn mà việt cộng quy định thì ăn 18kg thực phẩm, người làm mức trung bình 15 ký, còn ở mức kỷ luật là 13 kg. Một lần bị kỷ luật là ăn 13kg trong ba tháng. Tôi là khách hàng hầu như là thường xuyên của cơm kỷ luật. Chẳng phải tôi chống đối gì ghê gớm mà chẳng qua vì chỉ vì vạ miệng. Bọn chỉ điểm thì đội nào cũng có, do cán bộ trại chọn trong số những anh em tù tinh thần bị chao đảo để làm việc cho chúng rồi cài vào mỗi đội để theo dõi và báo cho cán bộ trại. Tôi rất ưu ái được bọn này chiếu cố.

Một lần tôi có lon Guigoz đường bị kiến vào vừa ngồi lắc lon cho kiến đi vừa lẩm bẩm một mình:” bác đang cùng chúng cháu hành quân” thế là đến tai cán bộ trại và lãnh 13kg kỷ lụât.

Một lần khác, tôi làm mấy cái khoen để đêm về có thể mắc mùng ngủ nhanh chóng, khỏi phải buộc dây lôi thôi. Vừa làm vừa nhắc lời “đồng chí “!Lê Duẫn để tự khen mình:” khoa học kĩ thuật là then chốt.” lại đến tai cán bộ trại và lại ăn 13kg

Những chuyện lẩm cẩm như thế xảy ra cho tôi không biết bao nhiêu lần.

Sau bao năm lưu đầy, chuyến xe lửa chở tù xuôi Nam rồi cũng xảy ra. Bọn Việt cộng muốn đưa những bộ xương cách trí từ những nhà tù miền Bắc về Nam cho gần để gia đình tù vỗ béo cho thân nhân tù trước khi thả ra trông cho được một chút. Trong chuyến xe lửa xuôi Nam, những nhân viên hoả xa vẫn phải giữ nét mặt lạnh lùng cho phải phép, nhưng những gói xôi, những trái chuối, những gói thuốc lá đã được kín đáo ném ra cho tù.

Về nam ở trại Long Khánh đời sống dễ chịu hẳn. Gần gia đình nên phần lớn tù được nhà thăm nuôi. Thái độ của bọn cán bộ trại cũng thay đổi hẳn. Chúng nịnh tù để được cho quà. Tên cán bộ trực trại anh em tù gọi đùa là đại tá. Một hôm trời đã khuya mà anh em trong phòng giam còn tụ tập. Tên cán bộ trực trại đứng lại hỏi:” Giờ này mà mấy ông tướng còn thức làm gì đây. “. Trả lời:” đại tá đi chỗ khác chơi, để các tướng làm việc.” Tên cán bộ trực trại bỏ đi, không nói một lời.

Nhốt mãi rồi cũng phải thả. Tôi đã nhận lệnh tha nhưng ngày hôm đó còn chờ cho các đội xuất trại đi lao động rồi mới đến được thả tù. Trong lúc ngồi đợi, tôi lấy đàn ra gẩy từng tưng. Biện lý Nguyễn Hồng Nhuận Tâm đi qua cằn nhằn :” về không lo chuẩn bị về còn ngồi đó mà đàn với địch.

Rồi nhà tù cũng mở cổng cho tôi ra. Tôi lóng ngóng không biết đường về nhà. Gặp được một bà cũng có vẻ đứng tuổi rồi, bụng mang bầu, để hỏi thăm bến xe đò về Sài Gòn. Người chỉ đường cho tôi, gọi tôi bằng bác và xưng con. Mình đã khám phá ra một điều là những năm tù đã biến mình từ một ngừơi trai trẻ thành một ông già.

Từ nhà tù nhỏ sang nhà tù lớn, chuyện quản chế, chuyện công an khu vực, và còn nhiều chuyện vui khác, nhưng đây chỉ nói chuyện tù, nói nữa là lạc đề nên đành chấm dứt.

luật sư Nguyễn Hữu Thụy

From: Truong Le

46 Năm Sau Cuộc Chiến Và Những Câu Hỏi Còn Bỏ Ngỏ

46 Năm Sau Cuộc Chiến Và Những Câu Hỏi Còn Bỏ Ngỏ –

Song Chi

Đã 46 năm kể từ khi chiến tranh VN kết thúc. Thời gian dài gần bằng hai thế hệ.

Người cộng sản luôn tự hào là họ đã kết thúc được cuộc chiến, thống nhất được đất nước! Cứ mỗi dịp này báo chí nhà nước ở VN lại chạy hết công suất để nhắc lại những “chiến công” lừng lẫy trong “cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam”…còn bên kia ở hải ngoại nhắc lại những nỗi đau của “tháng Tư đen”.

Chỉ vài năm gần đây, những cụm từ như “chế độ ngụy, tay sai bán nước” một thời thường được “bên thắng cuộc” dùng để nói đến chế độ VNCH cũ đã bớt đi, một số bài viết cũng khéo léo dùng chữ “mừng ngày thống nhất đất nước” hơn là “mừng ngày chiến thắng”

Ngược lại, theo thời gian ngôn từ căm hận trong những bài viết của “bên thua cuộc” cũng nhẹ bớt. Nhưng tôi thấy vẫn còn đó nỗi đau, sự tiếc nuối cho một chữ “nếu” của lịch sử trớ trêu.

Cùng với nỗi đau chung cho đất nước là nỗi đau về những mất mát riêng của từng cá nhân, từng gia đình khi một biến cố lịch sử ập đến, đã làm đổi thay bao nhiêu số phận.

Có cả những câu chuyện của những người thuộc phe chiến thắng nhưng cũng ẩn chứa những nỗi đau khác, có người ngay sau ngày tiếng súng vừa tắt, đã ngồi bên vệ đường Sài Gòn để khóc vì biết mình bị lừa dối, uổng phí cả một thời tuổi trẻ để đi “giải phóng” một quốc gia tự do, nhân bản, văn minh, phồn thịnh hơn quốc gia nơi mình sinh ra và lớn lên, có người nhiều năm sau mới ngậm ngùi nhận ra mặt trái của tấm huân chương…

Cuộc đời của mỗi con người, mỗi gia đình Việt Nam tự nó đã là một cuốn sách, một bộ phim, qua đó người ta có thể hình dung được một phần bức tranh của dân tộc và nếu chỉ cần kể lại một cách trung thực, thì rất nhiều cuộc đời đó còn chân thực hơn gấp bao nhiêu lần những cuốn sách, bộ phim, của người Mỹ hay của người Việt, đã viết, đã thực hiện, về Chiến tranh Việt Nam.

Cũng như bao nhiêu gia đình người Việt khác, gia đình họ hàng tôi có cả hai phe Nam – Bắc và cuộc sống đã hoàn toàn thay đổi theo chiều ngược nhau sau 30/04.

Sự ly tán đã có trong thời chiến, thời hậu chiến gặp lại nhau, không ai bảo ai nhưng có một chủ đề chung đều muốn né tránh là chuyện chính trị, chuyện chiến tranh. Họ hàng thì vẫn là họ hàng, một giọt máu đào hơn ao nước lã, nhưng quan điểm chính trị chẳng phải lúc nào cũng đồng thuận, trong một dòng họ đã như thế, nói gì giữa nhà cầm quyền với người dân.

Rồi hàng chục năm sau, họ hàng tôi lại tiếp tục ly tán, quê hương không còn là nơi đất lành chim đậu nên nhiều người phải bỏ nước ra đi, tản mác khắp bốn phương trời. Nhưng dù đã là công dân của nước khác, đa số người Việt vẫn đau đáu chuyện quê nhà, thì giờ dành để theo dõi, vui buồn theo từng biến cố ở VN nhiều hơn dành cho những sự kiện ở quê hương thứ hai.

– Vì sao không quên được quá khứ?

Chỉ có thế hệ trẻ như con gái tôi, rời nước khi còn ở tuổi thiếu niên, hay những bạn trẻ sinh ra ở nước ngoài là không quan tâm bao nhiêu tới VN, và không hiểu nổi tại sao người Việt không thể quên?

Đó cũng là câu hỏi của rất nhiều người, rằng tại sao người Việt, ở cả hai phe, cứ luôn nhắc hoài về quá khứ? Sao không bỏ qua, cùng nhau nhìn về phía trước để xây dựng đất nước? Tại sao 40, 42, rồi 46 năm trôi qua nhưng hàng chục triệu người Việt, dù có dính líu trực tiếp đến cuộc chiến hay không, vẫn không thể bình an, thậm chí như một nhà thơ từng nói, là bị hội chứng PTSD (post-traumatic stress disorder)?

Câu trả lời thật ra rất đơn giản. Nếu sau chừng ấy năm, Đảng Cộng sản làm cho đất nước trở nên giàu mạnh, bảo vệ được chủ quyền trọn vẹn về lãnh thổ lãnh hải, người dân thực sự được sống trong một xã hội tự do, dân chủ, nhân bản, tiến bộ, Việt Nam có vị thế của mình trên thế giới, thì vết thương của cuộc chiến tranh đã qua, dẫu có tàn nhẫn đến đâu, cũng sẽ tự lành. Cả dân tộc sẽ khép lại quá khứ, chấp nhận thực tại và hào hứng hướng về tương lai. Chính vì đảng cộng sản không làm được như vậy, thậm chí ngược lại, nên nỗi đau vẫn cứ còn mãi, thời gian càng lùi xa, càng đau…

Đẩy nhân dân vào cuộc chiến tương tàn vì lý tưởng XHCH nhưng sau đó Đảng Cộng sản đã phản bội lại chính những lý tưởng, học thuyết, mô hình thể chế chính trị mà họ từng mù quáng tin và bắt nhân dân phải tin theo. Họ đã phản bội lại hàng triệu người dân miền Bắc, trong đó có những người ngã xuống vì tin vào “cuộc chiến tranh thần thánh chống Mỹ, giải phóng miền Nam”, cho một tương lai tốt đẹp hơn! Tất cả những gì họ đã từng hô hào chống lại trước kia giờ đây họ lại làm theo, nhưng tồi tệ hơn!

Không biết cần bao nhiêu thời gian để phục hồi, xây dựng lại là sự tàn phá về thiên nhiên-môi trường, về văn hóa, đạo đức xã hội, và về nhân cách, khí chất, lòng tự tôn của một dân tộc?

ĐCSVN đã bỏ qua rất nhiều cơ hội “vàng” để hòa giải hòa hợp thực sự với bên thua trận, với nhân dân, và để chuyển hóa thành một thể chế dân chủ đa đảng, hội nhập với xu hướng tiến bộ chung của thế giới.

Nghiêm trọng nhất là mối quan hệ bất xứng, thiệt thòi và nguy hiểm cho độc lập dân tộc của VN giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam-Trung cộng trong suốt một thời gian dài, khiến Việt Nam phải liên tiếp trải qua hai cuộc chiến tranh khác là chiến tranh biên giới phía Bắc, chiến tranh biên giới Tây Nam, mất đảo, lãnh thổ, lãnh hải, phụ thuộc nặng nề về kinh tế, chính trị, và luôn luôn đứng trước nguy cơ hiểm họa bành trướng của Trung cộng.

Tất cả những điều đó đã làm cho nỗi đau tháng Tư vẫn không thể nguôi vơi trong lòng rất nhiều người dân Việt Nam như tôi.

Nhưng không thể cứ nhìn mãi về quá khứ, về những sai lầm, những cơ hội đã bị bỏ lỡ.

Một lần nữa, như một sự trớ trêu của lịch sử, Việt Nam lại nằm trong khu vực sẽ trở nên sôi động nhất, “nóng” nhất trong tương lai gần, với sự đối đầu giữa hai phe, một bên là Hoa Kỳ và các nước đồng minh, bên kia là Trung cộng vừa bắt tay với Nga, và có thể có thêm Iran, Bắc Hàn, cùng cạnh tranh khốc liệt để giành ảnh hưởng, vị trí trên toàn cầu.

Nhìn lại thời kỳ chiến tranh lạnh giữa hai phe tư bản-cộng sản, Việt Nam có học được bài học lịch sử để một lần nữa, không trở thành con tốt trên bàn cờ chính trị thế giới, hoặc lẻ loi đơn độc và cuối cùng buộc phải ngả vào sự kiềm tỏa của phe Trung-Nga, liệu có là câu hỏi chỉ dành riêng cho nhà cầm quyền, hay cho tất cả người dân?

Từ giữa thập niên 1970, thế giới đã chứng kiến làn sóng thứ ba của quá trình dân chủ hóa lần đầu tiên diễn ra ở Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha, rồi một số quốc gia trong khu vực Đông Á, Đông Nam Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, ở Trung Âu và Đông Âu là những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, đã làm sụp đổ cả khối XHCN cũ.

Sống ở châu Âu nhưng tôi vẫn nhận thấy thật rõ thời gian gần đây một số quốc gia Á Đông tiếp tục có những chuyển động giữa một bầu không khí đang nóng lên trong toàn khu vực. Người dân Thái Lan đã đứng lên biểu tình chống lại chính phủ hiện tại và yêu cầu cải cách chế độ quân chủ, người dân Myanmar đang đổ máu từng ngày để đòi lại nền dân chủ non trẻ vừa bị quân đội thực hiện đảo chính và có nguy cơ trở lại với chế độ độc tài quân phiệt. Nhiều người đã bắt đầu nói đến một làn sóng dân chủ thứ tư sắp đến.

Chỉ có Việt Nam dường như vẫn đứng ngoài mọi biến động. Điều đáng buồn là người Việt, vốn đã chia rẽ vì nguyên nhân lịch sử, mấy năm vừa qua lại thêm chia rẽ vì bất đồng quan điểm khi nhận định về chính trị Mỹ, cộng với sự đàn áp ngày càng hà khắc của công an Việt Nam, khiến những tiếng nói đối lập, những hành vi phản kháng gần như chìm lắng hẳn.

Mỗi thế hệ suy cho cùng cũng chỉ có thể chịu trách nhiệm về những gì xảy ra trong thời của mình. Làm sao để Việt Nam không tiếp tục chịu số phận đi sai đường và thường xuyên bị nhỡ tàu, mà có thể hội nhập với thế giới tự do, để mai này đất nước, con người Việt Nam được “giải phóng” khỏi mọi sự kìm hãm và phát triển hết mức có thể; làm sao để 5, 10 năm nữa người Việt có thể thanh thản khi nhìn lại những trang sử cũ, là trách nhiệm của thế hệ hôm nay.

Song Chi

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm của tác giả Song Chi, ra đi từ Sài Gòn, tỵ nạn tại Na Uy và hiện sống ở Anh.

https://www.bbc.com

Quan niệm về “tội phạm nguy hiểm” của cộng sản Việt Nam

 Hoa Lys  is with 

Võ HongLy

02.05.2021

Đôi bàn tay của chị Phạm Đoan Trang chỉ biết cầm bút viết lên sự thật và đòi quyền sống chính đáng của con người thì lại bị còng bởi cái vòng số 8 oan nghiệt.

Còn đôi bàn tay của tên Cao Trọng Phú thì cầm súng và giết luôn hai mạng sống con người nhưng lại được thả tự do ung dung hút xì gà ngay trước ống kính của truyền thông.

Quan niệm về “tội phạm nguy hiểm” và sự “nhân văn” của cộng sản vì thế thật là “lạ”!

Sống trong chế độ xã nghĩa, điều gì có thể lan tỏa tình yêu thương, thẩm thấu chạm vào được tâm hồn yêu Tự Do và làm thức tỉnh lương tri của con người thì lại bị coi là “nguy hiểm”, là “xâm phạm an ninh quốc gia”. Thương chị Phạm Đoan Trang và những người đã luôn lên tiếng cho sự công chính.

May be an image of 4 people and text that says 'RFA'

  BỐN MƯƠI NĂM SAU, NHÌN LẠI CUỘC NỘI CHIẾN (Nguyễn Gia Kiểng)

Không nên đổ hết lỗi cho các ông Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và những người lãnh đạo cộng sản khác. Họ tham quyền và thiển cận nhưng phần lớn những người khác nếu được cầm quyền cũng không khác gì họ. Tội ác chủ yếu đến từ sự tăm tối. Nguyên nhân chính là vì chúng ta đã thiếu một lớp trí thức chính trị, và một dân tộc không có một lớp trí thức chính trị cũng không khác một người mù hay một con tàu không phương hướng. Không tới được một bờ bến nào và tai nạn là chắc chắn. Chúng ta cần khẩn cấp những trí thức có kiến thức chính trị, có ưu tư với đất nước, biết suy nghĩ bằng cái đầu của chính mình và dám tranh đấu cho lập trường của mình.

Quan trọng hơn nữa, chúng ta cần hiểu rằng những vết thương của nội chiến vẫn còn nguyên vẹn và nếu không hòa giải được người Việt Nam với nhau thì Việt Nam sẽ không có tương lai. Chúng ta bắt buộc phải hòa giải cho bằng được dân tộc Việt Nam để có thể có hòa hợp dân tộc trong cố gắng xây dựng và chia sẻ với nhau một tương lai chung. Hòa giải là điều cực kỳ khó vì nội chiến đã quá dài và quá khốc liệt. Nhưng chúng ta không có chọn lựa nào khác hơn là thành công nếu muốn đất nước tiếp tục tồn tại.

May be a black-and-white image of 2 people, child and body of water

  BỐN MƯƠI NĂM SAU, NHÌN LẠI CUỘC NỘI CHIẾN (Nguyễn Gia Kiểng)

“…Cuộc nội chiến của chúng ta đã kéo dài 30 năm. Tệ hơn nữa nội chiến đã không chấm dứt ngày 30/4/1975, nó đã chỉ nhường chỗ cho một cuộc nội chiến khác, một cuộc nội chiến một chiều trong đó phe chiến thắng mặc sức huênh hoang, bỏ tù, đầy đọa, hạ nhục và cướp bóc.” (30/04/2015)

_____________

Rất nhiều điều đã được viết và nói ra về biến cố 30/04/1975, đặc biệt là trong lúc này nhân dịp kỷ niệm 40 năm. Tuy vậy biến cố này quan trọng và phức tạp đến nỗi không thể nào có thể nói đủ về nó. Một trong những điểm còn phải được mổ sẻ là bản chất nội chiến của cuộc chiến, buộc chúng ta nhìn một cách khác những hậu quả của nó cũng như những gì mà nó tiết lộ về đất nước và con người Việt Nam.

Trước hết phải khẳng định một cách thật dứt khoát rằng đây là một cuộc nội chiến. Trên điểm này không được có bất cứ một thắc mắc nào. Khi người trong một nước giết nhau trên một qui mô lớn và trong một thời gian dài thì đó là nội chiến, dù có hay không có sự can thiệp từ bên ngoài. Đó đã là trường hợp của chúng ta. Nhưng tại sao vẫn có người ngại gọi nó là một cuộc nội chiến? Vậy thì chúng ta cần thảo luận một lần cho xong.

Nội chiến là gì?

Theo định nghĩa hẹp nhất của nó nội chiến là sự kiện trong một quốc gia hai lực lượng vũ trang giao tranh với nhau trong một thời gian đáng kể và trên một qui mô khá lớn vì cả hai đều tự coi là chính đáng. Hai thí dụ điển hình nội chiến Hoa Kỳ (1861 -1865) và nội chiến Tây Ban Nha (1936 – 1939). Các sử gia và các nhà phân tích thường dùng một định nghĩa rộng hơn, họ cũng coi là nội chiến những cuộc chiến giữa một chính quyền và một hay nhiều lực lượng chống đối nếu chúng kéo dài và có qui mô khá lớn, như nội chiến Mexico (1910 -1920) hay các cuộc chiến tại Congo – Kinshaza, Ethiopia, Somalia và nhiều nước Châu Phi khác. Karl Marx còn gọi cả cuộc nổi dậy chỉ kéo dài hai tháng của Công Xã Paris năm 1871 là một cuộc nội chiến của nước Pháp.

Nói chung người ta coi là nội chiến những xung đột võ trang giữa hai lực lượng của cùng một quốc gia trong một thời gian khá dài và gây thiệt hại lớn. Dù có hay không có sự can thiệp của nước ngoài nội chiến vẫn là nội chiến một khi đa số những người tham chiến trong cả hai bên là người bản xứ. Vả lại phần lớn những cuộc nội chiến đều có can thiệp hoặc hỗ trợ từ bên ngoài, nhất là trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Như vậy trên tất cả mọi tiêu chuẩn cuộc chiến 1945 – 1975 là một cuộc nội chiến đúng nghĩa. Ngay cả nếu dùng định nghĩa hẹp nhất cũng thế: cả phe cộng sản lẫn phe quốc gia, hay Việt Nam Cộng Hòa, đều tự coi là chính quyền chính đáng của Việt Nam và đều được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận. Chế độ Việt Nam Cộng Hòa còn được nhiều nước nhìn nhận hơn chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cũng đừng quên rằng tuyệt đại đa số những người bắn giết nhau cũng như những nạn nhân vô tội đều là người Việt. Sự kiện chính quyền cộng sản gọi đối phương là “ngụy quyền” không đủ tư cách để đối thoại với họ là một thái độ nội chiến điển hình – không chấp nhận nhau – và chỉ nói lên một điều là họ muốn nội chiến đến cùng. Trách nhiệm trong nội chiến của họ càng lớn.

Hơn nữa chính họ đã chủ động gây ra nội chiến. Hội nghị trung ương 15, khóa II, tháng 01/1959, của Đảng Lao Động Việt Nam đã đưa ra nghị quyết 15 với chủ trương “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến” (người viết tô đậm cụm từ “lực lượng vũ trang”). Không thể rõ ràng hơn. Lúc đó chưa có quân đội Mỹ tại miền Nam, số cố vấn Mỹ cũng rất ít so với số cố vấn Liên Xô và Trung Quốc tại miền Bắc và phần lớn là dân sự. Chống Mỹ là lý cớ chứ không phải là lý do. Lý do thực sự là Đảng Cộng Sản muốn chiếm miền Nam và đóng góp mở rộng không gian cộng sản trên thế giới, như sau này Lê Duẩn đã nói: “ta đánh là đánh cho cả Liên Xô và Trung Quốc”.

Cũng nên hiểu cụm từ “Chống Mỹ” mà Đảng Cộng sản vẫn còn dùng cho tới bây giờ để chỉ giai đoạn sau của cuộc nội chiến. Nó là một chiêu bài tuyên truyền nhưng đồng thời cũng là một phần nhiệm mà họ nhận lãnh trong vai trò một bộ phận của phong trào cộng sản quốc tế. Chống Mỹ lúc đó là khẩu hiệu toàn cầu của khối cộng sản. Thật là ngược ngạo khi ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản mạt sát chế độ VNCH là tay sai của đế quốc Mỹ mặc dù chính ông hết lời tâng bốc những đảng cộng sản đàn anh. Như trong ngày kỷ niêm 30 năm thành lập Đảng Cộng Sản (05/01/1960) ông nói: “Trong đại gia đình vô sản quốc tế rực rỡ dưới ngọn cờ chủ nghĩa Mác- Lênin, Đảng ta có những người anh vĩ đại như Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Pháp…”. Không một người lãnh đạo VNCH nào ca tụng Mỹ như thế. Những lời ca tụng Liên Xô và Trung Quốc của các cấp lãnh đạo cộng sản khiến ngay cả một người chống cộng cũng phải thấy ngượng. Thí dụ như những câu thơ gớm ghiếc của Tố Hữu trong đợt Cải Cách Ruộng Đất:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,

Cho đảng bền lâu, cả nước chung lòng,

Thờ Mao chủ tịch, thờ Sít-ta-lin vĩ đại.

Một viên chức miền Nam mà làm những câu thơ nịnh Mỹ như thế chắc chắn đã mất việc, nhưng ông Tố Hữu, người đứng đầu bộ máy tuyên truyền cộng sản, chỉ được khen thưởng, sau này lên rất cao. Đảng Cộng Sản lệ thuộc nước ngoài hơn hẳn các đối thủ của họ. Họ cũng dựa vào yểm trợ của nước ngoài để chiến đấu và sau cùng đã thắng vì Mỹ bỏ miền Nam trong khi Liên Xô gia tăng viện trợ cho họ.

Cũng đừng quên rằng nội chiến là một thành tố cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin. Lenin đã từng khẳng định: “Ai chấp nhận đấu tranh giai cấp thì cũng phải chấp nhận nội chiến vì nội chiến là sự tiếp nối, phát triển và tăng cường tự nhiên của đấu tranh giai cấp”. Ông Hồ Chí Minh coi Lenin là bậc thầy và ông cũng hoàn toàn ủng hộ đấu tranh giai cấp. Ông ca tụng cả cuộc bạo loạn Xô Viết Nghệ Tĩnh trong đó những người tự Việt xưng là Xô Viết tàn sát những người Việt khác và gào thét “trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ”(1).

Một lý do khác khiến ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản say mê nội chiến là vì do kiến thức và nhận thức nông cạn họ tin chắc rằng phong trào cộng sản sắp toàn thắng. Phát biểu trong đại hội Mặt Trận Tổ Quốc ngày 25/4/1961 vào lúc sắp sửa phát động chiến tranh thôn tính miền Nam ông nói: “Đế quốc Mỹ đang hung hǎng xâm phạm miền Nam Việt Nam, Nam Triều Tiên, Đài Loan, nước Lào, Cônggô, Cuba… Cái hung hǎng ấy chỉ là cái hung hǎng giẫy chết trước ngày chủ nghĩa đế quốc tắt thở”. Cuộc chiến này không chỉ đơn thuần là nội chiến, nó còn là nội chiến trong cuồng nhiệt.

Khái niệm nội chiến gắn liền với khái niệm quốc gia vì nó diễn ra trong phạm vi một quốc gia và giữa những con người của cùng một quốc gia. Chúng ta có thể lưu ý là từ “nội chiến” đã chỉ có trong ngôn ngữ chính trị thế giới từ hai thế kỷ gần đây thôi, cùng với những khái niệm quốc gia, dân tộc. Trong chiều sâu, khi phát động một cuộc nội chiến là người ta hoặc muốn phá vỡ quốc gia hoặc coi một cái gì đó còn quan trọng hơn tình dân tộc. Trong trường hợp của chủ nghĩa cộng sản, nội chiến là cốt lõi vì quốc gia bị coi như một giá trị của giai cấp tư sản cần phải xóa bỏ như Marx đã từng nói. Những người cộng sản chân chính không có quốc gia, họ chỉ có giai cấp. Có thể ông Hồ Chí Minh và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam không hiểu rõ chủ nghĩa Mác-Lênin nhưng ít nhất họ cũng coi chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản là quan trọng hơn cả.

Tác hại của các cuộc nội chiến là, khác với những cuộc chiến với nước ngoài, chúng hủy diệt tinh thần dân tộc và đồng thuận sống chung, nghĩa là chính lý do hiện hữu của một quốc gia. Ngoài những thiệt hại về nhân mạng và những tàn phá vật chất chúng còn gây những đổ vỡ tình cảm rất khó hàn gắn ngay giữa những con người phải xây dựng và chia sẻ với nhau một tương lai chung. Một quốc gia có thể phục hồi khá nhanh chóng sau một cuộc chiến tàn khốc với nước ngoài, như trường hợp của Đức và Nhật sau Thế Chiến II, nhưng sẽ suy nhược rất lâu và không bao giờ có thể hoàn toàn hồi phục sau một cuộc nội chiến, như Pháp sau Cách mạng 1789, hay Mexico sau nội chiến 1910 – 1920, hay Tây Ban Nha sau nội chiến 1936 – 1939, mặc dù sau đó cũng đã có cố gắng hòa giải dân tộc.

Kẻ viết bài này đã có dịp thăm viếng và quan sát nhiều quốc gia để tìm hiếu những lý do đã khiến một quốc gia tiến mạnh hay trì trệ. Câu trả lời bao giờ cũng thế: sức sống của một dân tôc chủ yếu tùy thuộc ở chỗ nó có hòa hợp hay không. Và hòa hợp chính là điều mà một cuộc nội chiến phá vỡ một cách lâu dài. Làm sao người ta có thể tin nhau và yêu nhau sau khi đã cố giết nhau?

Trường hợp nước ta còn bi đát hơn nhiều. Chúng ta không phải chỉ có nội chiến trong vài năm như phần lớn các dân tộc không may có nội chiến khác. Cuộc nội chiến của chúng ta đã kéo dài 30 năm. Tệ hơn nữa nội chiến đã không chấm dứt ngày 30/4/1975, nó đã chỉ nhường chỗ cho một cuộc nội chiến khác, một cuộc nội chiến một chiều trong đó phe chiến thắng mặc sức huênh hoang, bỏ tù, đầy đoạ, hạ nhục và cướp bóc. Và không hề nói tới hòa giải dân tộc nữa.

Sau khi đi tù cải tạo về tôi đã gặp cụ Mai, một người mà tôi coi như một mẫu mực của sự xuất chúng. Cụ một mình từ Bắc vào Nam năm 16 tuổi làm lao động tay chân để sống, đêm ngủ trên một chiếc ghế bố thuê một xu mỗi đêm. Khi đã khá giả hơn cụ trả thêm một xu nữa để chủ nhà phơi ghế bố trừ rệp. Cụ đã tự học để hiểu biết và cố gắng vượt bực để thành công. Năm 1975 cụ là chủ một hãng làm đồ điện với hơn 200 công nhân. Chính quyền cách mạng đã “tiếp thu” công ty mà cụ đã cố gắng cả một đời người để tạo dựng và cho cụ nghỉ việc. Ít lâu sau công ty tan rã. Cụ Mai may mắn không bị đi tù như nhiều chủ nhân khác. Sau này cụ vượt biên sang Canada. Trong thư viết cho tôi năm 1989 cụ vẫn chưa hiểu nổi sự cướp đoạt trắng trợn này. Cụ Mai chỉ là một trong hàng ngàn thí dụ về cách đối xử của Đảng Cộng Sản sau ngày 30/4/1975. Chế độ cộng sản đã tiêu diệt một lớp doanh nhân quí hiếm đã dần dần hình thành sau quá trình tiếp xúc với phương Tây.

Tuy tiếng súng đã im nhưng những đổ vỡ tình cảm còn lớn hơn nhiều sau ngày mà Đảng Cộng Sản gọi là Ngày Giải Phóng. Như lời cụ Mai nói: “Họ có súng và nhà tù, họ nói gì chẳng được”.

Chúng ta sẽ không bao giờ đánh giá được hết những đổ vỡ mà cuộc nội chiến 1945 – 1975 và cuộc nội chiến không có tiếng súng sau đó gây ra cho đất nước. Việc Đảng Cộng Sản còn tưng bừng kỷ niệm ngày 30/4/1975 như một ngày vui chứng tỏ rằng trong thâm tâm họ không tự coi là người Việt Nam mà như một lực lượng chiếm đóng.

Điều mà chúng ta có thể và cần làm là suy ngẫm một cách khiêm tốn về những gì mà cuộc chiến này tiết lộ về chính chúng ta, về đất nước và con người Việt Nam.

Tai sao vào năm 1945 tổ chức chính trị được nhân dân Việt Nam ủng hộ nhất lại là tổ chức theo một chủ nghĩa chủ trương xóa bỏ quốc gia? Câu trả lời thực thà có thể là một phần vì chúng ta không có tư tưởng chính trị và cũng không hiểu rõ chủ nghĩa cộng sản, nhưng phần lớn hơn là quần chúng bần nông Việt Nam đã bị dày đạp trong hàng ngàn năm và đã bị cuốn hút một cách vừa tự nhiên vừa dễ dàng bởi tiếng gọi hận thù giai cấp. Điều đáng nói là đã không có một đảng phái quốc gia nào nhìn thấy vấn đề này, trong số ít những người nhìn thấy thì phần lớn lại tưởng chủ nghĩa cộng sản là một giải đáp. Quần chúng Việt Nam không yêu nước vì không có lý do gì để yêu nước trong khi trí thức Việt Nam quá hời hợt.

Tại sao ngay sau Cách Mạng Tháng 8 Đảng Cộng Sản đã thẳng tay tàn sát hàng trăm ngàn người thuộc các đảng phái quốc gia, nghĩa là những người yêu nước chân chính nhất mà không gây phẫn nộ lớn và một số đông đảo trí thức vẫn tận tụy phục tùng và phục vụ họ? Sau này trí thức miền Bắc cũng có cùng một thái độ trong vụ Cải Cách Ruộng Đất. Vì khiếp sợ hay vì thiếu tinh thần dân tộc? Có lẽ cả hai.

Nghịch lý lớn nhất là tại sao ngay sau khi đã gây ra một cuộc nội chiến gần 10 năm (1945 -1954), dài hơn phần lớn các cuộc nội chiến tại các quốc gia khác, Đảng Cộng Sản lại phát động một cuộc nội chiến khác, lần này kéo dài hơn 15 năm, mà không bị lên án một cách nghiêm khắc và dữ dội như đáng lẽ họ phải bị lên án? Trái lại họ vẫn được một phần đáng kể của lớp người tinh hoa của đất nước ủng hộ, thậm chí ngưỡng mộ. Đó là vì đa số trí thức Việt Nam đã không nhìn thấy tác hại của nội chiến. Chúng ta đã không hiểu rằng nội chiến là tai họa lớn nhất của một dân tộc, gây ra nội chiến là tội lớn nhất trong mọi tội phản quốc. Phải công bình mà nói ít ai nhìn thấy điều này. Chính quyền Ngô Đình Diệm cũng như các chính quyền quốc gia trước và sau ông không hề lên án Đảng Cộng Sản là đã gây nội chiến mà chỉ lên án chủ nghĩa cộng sản và kêu gọi chống cộng. Tuy vậy tác hại của nội chiến là điều mà lịch sử của các quốc gia đã phơi bày, các sử gia và các nhà tư tưởng chính trị cũng đã nhấn mạnh từ lâu. Phải thú nhận chúng ta có thể có rất nhiều khả năng, bằng cấp và kiến thức chuyên môn nhưng về chính trị thì chúng ta rất kém, gần như vô học.

Tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc đã dần dần được chấp nhận và đang trở thành một đồng thuận dân tộc. Đó là một điều đáng mừng nhưng tại sao trong một thời gian dài, quá dài, lại có quá nhiều người chống lại? Tại sao nhiều người vẫn chưa chịu hiểu rằng một dân tộc sau một cuộc nội chiến chỉ có hai chọn lựa: hoặc hòa giải để đất nước tiếp tục hoặc không hòa giải và chấp nhận tan vỡ?

Không nên đổ hết lỗi cho các ông Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và những người lãnh đạo cộng sản khác. Họ tham quyền và thiển cận nhưng phần lớn những người khác nếu được cầm quyền cũng không khác gì họ. Tội ác chủ yếu đến từ sự tăm tối. Nguyên nhân chính là vì chúng ta đã thiếu một lớp trí thức chính trị, và một dân tộc không có một lớp trí thức chính trị cũng không khác một người mù hay một con tàu không phương hướng. Không tới được một bờ bến nào và tai nạn là chắc chắn. Chúng ta cần khẩn cấp những trí thức có kiến thức chính trị, có ưu tư với đất nước, biết suy nghĩ bằng cái đầu của chính mình và dám tranh đấu cho lập trường của mình.

Quan trọng hơn nữa, chúng ta cần hiểu rằng những vết thương của nội chiến vẫn còn nguyên vẹn và nếu không hòa giải được người Việt Nam với nhau thì Việt Nam sẽ không có tương lai. Chúng ta bắt buộc phải hòa giải cho bằng được dân tộc Việt Nam để có thể có hòa hợp dân tộc trong cố gắng xây dựng và chia sẻ với nhau một tương lai chung. Hòa giải là điều cực kỳ khó vì nội chiến đã quá dài và quá khốc liệt. Nhưng chúng ta không có chọn lựa nào khác hơn là thành công nếu muốn đất nước tiếp tục tồn tại.

Nguyễn Gia Kiểng (30/04/2015)

Ghi chú:

(1) Tuy đế quốc Pháp đã dập tắt phong trào đó trong một biển máu, nhưng Xô viết Nghệ – Tĩnh đã chứng tỏ tinh thần oanh liệt và năng lực cách mạng của nhân dân lao động Việt Nam. Phong trào tuy thất bại, nhưng nó rèn luyện lực lượng cho cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi sau này.(Hồ Chí Minh, Ba mươi năm hoạt động của Đảng, diễn văn ngày 06-01-1960)

(2) Thắng lợi của cách mạng Việt Nam còn là do nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là Liên Xô và Trung Quốc, đã hết lòng giúp đỡ. Nhân dịp này, chúng ta nhiệt liệt tỏ lòng biết ơn các nước xã hội chủ nghĩa anh em đứng đầu là Liên Xô vĩ đại. (Hồ Chí Minh, diễn văn khai mạc đại hội 3, ngày 05-9-1960)

Thêm một mộ tập thể 47 tử sĩ VNCH những ngày cuối cuộc chiến.

May be an image of 1 person and text that says 'Đại-tá Nguyễn Hữu Thông Trung Đoàn Trưởng 42 BB SĐ 22 BB Tự sát -3-1975 tại Quy Nhơn.'

30 tháng 4: Một Đại tá VNCH tự sát được an táng dưới cột cờ

Thêm một mộ tập thể 47 tử sĩ VNCH những ngày cuối cuộc chiến.

QUY NHƠN – Trong những ngày cuối của cuộc chiến, có một vị đại tá trung đoàn trưởng đã không chịu xuống tàu chạy loạn mà chịu ở lại với lính, và dùng súng tự sát. Xác ông được chôn trong một ngôi mộ tập thể khổng lồ, dưới chân cột cờ bên ngoài Quân Y Viện Quy Nhơn, trong đó có 47 thi hài tử sĩ. Câu chuyện này được một hạ sĩ quan pháo binh kể lại, đồng thời gợi lại ký ức đau buồn nơi một vị bác sĩ hiện đang hành nghề ở New York.

Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng TrĐ 42/SĐ 22BB, tự sát vào cuối tháng 3, 1975 bị chôn trong nấm mộ tập thể tại Quy Nhơn.

Vào đầu năm 1975, anh Dương Công An nguyên là một hạ sĩ quan Pháo Binh thuộc tiểu đoàn 223 Pháo Binh, nay anh đang sống tại Đức. Anh An cho biết, vào những ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1975, đơn vị của anh bị tan hàng trên bờ biển Quy Nhơn, anh và một số anh em binh sĩ khác đã lẩn trốn nhiều ngày trong Quân Y Viện Quy Nhơn.

Ở đấy, khi đó chỉ còn có một bác sĩ duy nhất, là Trung Úy Nguyễn Công Trứ. Ông Trứ hiện là bác sĩ quang tuyến tại một trường đại học ở New York. Khi tin về nấm mộ tập thể tại Quân Y Viện Quy Nhơn được tôi đưa lên net, nhiều người đã điện thoại cho Bác Sĩ Trứ. Những cú điện thoại này nhắc nhở cho ông quá nhiều chuyện kinh hoàng trong quá khứ, khiến ông nhiều đêm mất ngủ.

Sau nhiều lần gọi và nhắn trong máy là chúng tôi sẽ gọi lại, Bác Sĩ Trứ mới bốc máy. Ông kể, vào những ngày sau cùng, một buổi sáng ông được tiếp Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 42 đi trực thăng đến thăm Quân Y Viện. Thấy tình cảnh y chỉ còn một bác sĩ và hằng trăm thương binh trong tình trạng thiếu ăn, thiếu thuốc, cũng như nhiều thương binh chết chưa được chôn cất, Đại Tá Thông đã khóc trước mặt Bác Sĩ Trứ.

Và chỉ một ngày sau đó, Quân Y Viện tiếp nhận một tử thi nữa, và đó chính là tử thi Đại Tá Thông. Binh sĩ đưa xác ông tới, và cho biết ông đã tự sát. Nhiều nguồn tin sau này cho biết, Đại Tá Thông đã từ chối xuống tàu vì binh sĩ dưới quyền ông còn kẹt lại quá nhiều, không di tản được.

Khi đó, tại quân y viện này, có cả hàng trăm bệnh nhân cho một mình Bác Sĩ Trứ. Đồng thời cũng có rất nhiều binh sĩ tử trận được mang về nằm từ trong nhà xác và rải rác ra khắp hành lang. Các thi hài tại nhà xác QYV đã bốc mùi, và chó đã vào nhà xác ăn, gặm các tử thi này, nên Bác Sĩ Trứ đã nhờ khoảng 20 anh em quân nhân còn sức khỏe phụ với Bác Sĩ Trứ đào một huyệt mộ rất lớn dưới cột cờ, gần khu quân xa của Quân Y Viện.

Ở đây gần biển các nên việc đào đất tương đối dễ dàng. Đầu tiên là những tử sĩ đã được khâm liệm trong quan tài có phủ quốc kỳ được sắp xuống trước, tiếp theo là những người chết nằm trên băng ca được đặt lên trên những quan tài, cứ thế mà sắp xếp. Tất cả là 47 thi hài tử sĩ, trong số này có Đại Tá Thông, là cấp chỉ huy trực tiếp của anh An.

Lúc bấy giờ Saigòn chưa thất thủ, ngay cả sinh mạng của anh em binh sĩ bại trận cũng không biết sẽ ra sao nên sự việc chôn cất anh em tử sĩ lúc đó chỉ được thực hiện rất sơ sài hầu như là lén lút và vội vàng. Sau đó vài ngày tất cả bị bắt làm tù binh.

Anh An cho biết câu chuyện đã đeo đuổi theo anh suốt bao nhiêu năm nay, tâm nguyện của anh là ước sao, có ai đó, có khả năng để cải táng được ngôi mộ tập thể này, đó cũng là dịp mà mình an ủi được phần nào linh hồn của những tử sĩ này, nhưng những hy vọng càng ngày càng bị thu nhỏ lại, vì qua tin tức báo chí đất đai ở Việt Nam đã bị lạm dụng xây cất bừa bãi, hay khu đất này thuộc phạm vi của bộ đội Cộng Sản thì không thể làm gì được.

Khi VC vào Quy Nhơn, họ bắt Bác Sĩ Trứ. Nhưng ông không chỉ bị bắt làm tù binh, mà còn bị buộc tội làm việc cho CIA vì mọi người đi hết sao chỉ còn một mình Bác Sĩ Trứ ở lại. Trong Quân Y Viện lúc ấy, có một lính Việt Cộng bị thương được một đơn vị đem gởi điều trị, nhưng lại bị khóa tay vào thành giường, Bác Sĩ Trứ không có chìa khóa mở còng nên nhóm vc càng căm thù Bác Sĩ Trứ. Ông bị tù 4 năm 11 tháng, ra tù ông vượt biển đến Mỹ từ năm 1981, lúc còn độc thân, hiện nay đã có ba con theo học đại học….

Trong những ngày qua, có nhiều điện thoại hỏi đến ông về câu chuyện cũ gần 36 năm về trước khiến cho ông có nhiều đêm bị mất ngủ vì những cơn ác mộng. Bác Sĩ Nguyễn Công Trứ nói rằng ông đã làm theo lương tâm và với tình đồng đội, đã chôn 47 tử sĩ dưới chân cột cờ của Quân Y Viện. Ông đã nhiều lần về lại Quy Nhơn, qua lại trước khu Quân Y Viện cũ, ngày nay đã là doanh trại của bộ đội Cộng Sản, mà không thể làm gì hơn.

Tin về ngôi mộ tập thể cũng đến tai bà quả phụ cố Đại Tá Thông, nhũ danh Phùng Ngọc Hiếu. Liên lạc được qua điện thoại hôm Thứ Năm, bà cho biết mấy ngày hôm nay, nhiều bạn bè đã chuyển cho bà về tin tức ngôi mộ tại Quân Y Viện Quy Nhơn, cũng là nơi yên nghỉ của Đại Tá Thông.

Từ 35 năm nay, bà cũng nghe nhiều tin tức về chồng và bà cũng có nghe tin ông tự sát. Bà cũng đã về Quy Nhơn tìm kiếm nhưng không có tin tức, và không biết xác ông được chôn cất ở đâu. Bà kể, trước khi mất liên lạc, Đại Tá Thông có liên lạc với vợ và than phiền rằng trung đoàn của ông đang chiến thắng, vì sao lại có lệnh rút bỏ Pleiku.

Đại Tá Nguyễn Hữu Thông sinh năm 1937, nguyên quán tại Thạch Hãn, Quảng Trị, tốt nghiệp khóa 16 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Ông được vinh thăng đại tá năm 1972. Hiện nay bà quả phụ cố Đại Tá Nguyễn Hữu Thông cư ngụ tại Sacramento và ông bà có 5 người con đã thành đạt.

Tháng Tư… Ngu! – TẠP GHI HUY PHƯƠNG…

 

 

RẤT NHIỀU NGƯỜI TRONG CHÚNG TA THƯỜNG MỞ MIỆNG CHỈ TRÍCH VIỆT CỘNG LÀ NGU – CHÚNG TA KHÔN HƠN.

ĐÃ 46 NĂM, CHÚNG TA VẪN CHƯA LÀM LUNG LAY ĐƯỢC CHẾ ĐỘ… CHÚNG VẪN NGỒI ĐẤY VÀ NẮM QUYỀN?! AI KHÔN & AI NGU ĐÂY?

***

TẠP GHI HUY PHƯƠNG…

Tháng Tư… Ngu!

Trước hết, tôi xin tự kiểm điểm cái ngu của bản thân mình trước, trong hàng nghìn cái ngu của thiên hạ, vì ngu mà phải mất nước, “lỗi tại tôi mọi đàng” hay “tôi làm tôi mất nước.”

Là một cán bộ chiến tranh chính trị trung cấp, hết làm tâm lý chiến, rồi chính huấn, tức là huấn luyện chính trị cho hàng nghìn tân binh tại một trung tâm huấn luyện lớn nhất nước, mà khi nghe Cộng Sản vào đến Sài Gòn, không chịu tìm đường chạy, vì cứ nghĩ mình gốc nhà giáo, hòa bình rồi, đi ‘học” mấy ngày rồi về dạy học lại!

Tôi ngu vì đã suy diễn hay hiểu sai thời gian đi “học tập,” nên chỉ đem theo 10 gói mì ăn liền Vifon, để ăn sáng trong 10 ngày, ngày thứ 11 đã ăn cơm nhà rồi!

Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn-Gia Định ra thông cáo tất cả các quân nhân cấp úy phải trình diện đi “học tập cải tạo,” mang theo tiền ăn trong 10 ngày, cấp tá mang theo tiền ăn cho một tháng. Sau này có người đi tù 17 năm ròng rã, chúng ta “chửi” Cộng Sản lừa dối, nhưng xem kỹ lại các văn bản, không thấy đoạn nào nói, cấp úy chỉ đi tù 10 ngày, cấp tá một tháng, mà chỉ nói “đóng tiền ăn.”

Chẳng qua, vì chúng ta hay suy luận, và ngây thơ, khờ dại nên mắc mưu sự khôn lanh, xảo quyệt của kẻ thù, đó chính là vì chúng ta ngu!

Sau này, ra Bắc, chính tai tôi đã nghe một quản giáo cai tù nói rằng: “Đưa các anh ra biển thì cũng từ từ, trước hết là gần bờ, sau mới dần dần đưa các anh ra xa hơn, nếu không các anh chóng mặt, say sóng, chịu làm sao nổi!”

Tôi đoan chắc anh em chúng ta, nhất là quý vị tướng lãnh, nếu biết được những ngày tù không bản án, mà có người ra đi biền biệt 17 năm trời, chịu bao nhiêu khổ ải, nhọc nhằn, nhục nhã, thì một nửa trong chúng ta đã tự sát tại nhà mà chết, hoặc chạy vào rừng để rồi cũng chết vì súng đạn của Việt Cộng. May hay rủi, vì ngu mà chúng ta mới sống đến ngày hôm nay.

Khi đến các địa điểm trình diện, không ai nghĩ “đi tù” mà chỉ nghĩ “đi học.” Tại trường Trưng Vương, là nơi trình diện từ cấp phó giám đốc trở lên, hai vị, một từng là phó thủ tướng VNCH, dân biểu, một vị đã là thượng nghị sĩ, đi học còn mang theo gối ôm, và khi xếp hàng vào cổng, có vị đã giành đi trước, vì có giấy giới thiệu của Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn-Gia Định. Sau đó, bộ đội Cộng Sản mới ra lệnh: “Ai có giấy giới thiệu thì đứng qua một bên!” Giấy giới thiệu đây là giấy gọi “trình diện” cho các viên chức cấp cao, còn đối với cấp nhỏ thì chỉ có thông cáo chung trên báo chí, đài phát thanh.

Những ai còn đứng lấp ló ngoài cửa chưa chịu vào, còn nghi ngại dò la thì những chiếc xe mang tên nhà hàng Soái Kình Lâm, Đồng Khánh… mang thức ăn vào quý vị dùng bữa tối, hẳn đã đánh tan mối hoài nghi về thiện ý của người thắng trận.

Đến khi lên xe Molotova, phủ bạt kín rồi, chúng tôi vẫn còn lạc quan tin lời Cộng Sản được đưa đến chỗ đầy “đủ tiện nghi,” (chắc là có đủ điện nước, máy lạnh, sân bóng chuyền…) để học tập và khi biết đoàn xe ra đến xa lộ Biên Hòa, thì việc di chuyển lên Đà Lạt như cầm chắc trong tay. Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, trường Chỉ Huy Tham Mưu, trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị là những nơi lý tưởng nhất để “học tập.”

Khi đến nơi ở tù rồi, Cộng Sản đưa tù vào một cái nhà kho, một trại gia binh hay một cánh rừng thì vẫn tin tưởng vào số ngày trong thông cáo, chờ ngày ra sân vận động Cộng Hòa làm lễ mãn khóa: “Quỳ xuống hỡi những cải tạo viên – Đứng lên hỡi những công dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!”

Câu chuyện những người trên con tàu Việt Nam Thương Tín, Tháng Năm, 1975, sang đến đảo Guam rồi, lại đốt “barrack,” tuyệt thực để đòi “về với tổ quốc,” là một bài học xót xa cho những người trong cuộc, có người phải trả giá bằng 17 năm tù. Nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh kể chuyện, anh em “tù cải tạo” tại trại tù K2, Nghệ Tĩnh, gọi những người này bằng biệt danh “đội q…!”

Tại trại 15 NV. Long Thành, một nhạc sĩ đã hồ hởi sáng tác những bản nhạc được cai tù bắt cả trại hát: “Trồng rau, trồng đậu, trồng tình thương trong tâm hồn người…” Ra tới Bắc Thái lại thêm một bài “Ngày vui đã tới!” nhưng mà “ngày về” thì xa lắc xa lơ!

Thậm chí khi lên con tàu chở súc vật Sông Hương lưu đày ra Việt Bắc rồi, có người vẫn lạc quan “biết đâu nó chở tù miền Nam ra Đệ Thất Hạm Đội Hoa kỳ hay đi thẳng qua Guam để giao cho Mỹ!” Tàu chạy hơn một ngày một đêm rồi mà vẫn nghĩ là cập bến Đà Nẵng chứ không ai nghĩ là lên cảng Hải Phòng.

Ở trong nhà tù vẫn còn người tin tưởng “học tập, lao động” tốt thì được “Cách Mạng” cứu xét cho về với gia đình sớm, nên làm trối chết, kiệt sức, đấu tố anh em… để lấy điểm với cán bộ, cũng như đau xót cho quý bà ở nhà, dắt díu con cái đi vùng “kinh tế mới” cho chồng sớm được tha! Sau 10 “bài học tập,” tới buổi “thu hoạch” thì cứ nghĩ là viết hay thì được tha về, viết dở thì ở lại “học” tiếp.

Trước ngày 29 Tháng Ba, 1975, khi Cộng Quân chưa vào Đà Nẵng, một số người thuộc phe hòa hợp hòa giải tin tưởng thời cơ đã đến nên đã sắp đặt đưa Bác Sĩ Phạm Văn Lương lên làm thị trưởng Đà Nẵng, tin sau đó được đài BBC loan báo. Trong lần phỏng vấn bà quả phụ Phạm Văn Lương tại Nam California, bà xác nhận với chúng tôi Bác Sĩ Phạm Văn Lương chưa bao giờ là thị trưởng Đà Nẵng, nhưng có chuyện là khi có nguồn tin này, một vị trung tá đã đến gặp ông xin làm tài xế cho ông, để nhờ ông che chở, lánh nạn. Sao có người “ngu” đến mức như thế!

Ngày 5 Tháng Tư, 1975, Bác Sĩ Phạm Văn Lương cùng nhiều y sĩ khác bị đưa vào nhà tù Kỳ Sơn, và một năm vào ngày 3 Tháng Tư, 1976, Bác Sĩ Lương đã uống thuốc ngủ cùng 10 viên cloroquine để tự tử.

Trong những ngày cuối cùng của miền Nam, Tướng Dương Văn Minh vẫn còn tin tưởng Thượng Tọa Thích Trí Quang, người hứa sẽ đưa người “phía bên kia” đến thương lượng để thành lập chính phủ liên hiệp. Nhưng cuối cùng, tiếng than cuối cùng tuyệt vọng của “Tổng Thống” Dương Văn Minh là: “Thầy giết tôi rồi!”

Có những người làm lớn hoặc từng “làm rung rinh nước Mỹ” mà còn ngây thơ như vậy, thì đừng trách chi một thằng lính như tôi tin tưởng vào lời của “cách mạng” đem đủ 10 gói mì ăn liền, là… ngu!

Quân tử, ngay thẳng, ngây thơ mà đối đầu với tiểu nhân, xảo trá, độc ác thì không chết cũng bị thương.

Tôi đâm ra nghi ngờ những lời kêu gọi chúng ta rằng, hãy “đem đại nghĩa để thắng hung tàn,” để rồi từ đó cho đến ngày hôm nay mọi người đều biết và thấy nhan nhản chuyện “cường bạo áp đảo cả chí nhân!” !!!

Vì sao con đường hòa hợp- hòa giải dân tộc vẫn xa vời?

Vì sao con đường hòa hợp- hòa giải dân tộc vẫn xa vời?

Cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt gần nửa thế kỷ nay, thế nhưng kêu gọi ‘hòa hợp- hòa giải’ giữa hai phía với ý thức hệ khác nhau đến nay vẫn chưa thể thực hiện. Thanh Trúc ghi nhận ý kiến bình luận của nhiều nhà quan sát.

Thanh Trúc
2021-04-27

Vì sao con đường hòa hợp- hòa giải dân tộc vẫn xa vời?

Hình minh hoạ. Xe cổ động chào mừng ngày 30/4 trên đường phố TPHCM hôm 28/4/2015

 Reuters

Vì sao con đường hòa hợp- hòa giải dân tộc vẫn xa vời?

“Chuyện xảy ra năm 2016, ông Hữu Thỉnh là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam ở Hà Nội, qua điện thư đã mời tôi về Hà Nội  trong tháng 10/2016 và có buổi gặp gỡ thể hiện sự hòa hợp hòa giải”

“Tôi đã trả lời rằng cho dù tôi có cầm bút nhưng từ trước ’75, cũng như sau ’75 bây giờ ở hải ngoại, tôi chỉ xem mình là một quân nhân. Trong tư cách của người lính thì tôi từ chối vì từ trong lịch sử, trên lý thuyết cũng như trong thực tế, tôi thấy các cá nhân trong tổ chức của Đảng Cộng sản ở Hà Nội không hề có tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc với ai hết. Đó là một Đảng chủ trương: ‘Thề phanh thấy uống máu quân thù, Tiêu diệt quân thù để giải phóng miền Nam…’. Kẻ thù nào trong ngày 30/4/75?”.

Đó là lời ông Phan Nhật Nam, cựu quân nhân quân lực Việt Nam Cộng Hòa, được biết đến như một phóng viên chiến trường  thời chiến tranh Việt Nam. Làm sao hòa hợp hòa giải, ông nói,  khi những vết thương của dân tộc từ sự bội tín của người cộng sản chưa thể khép lại:

Từ Chính Phủ Liên Hiệp 1946, Hiệp Định Genève 1954, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam 1960, đến Hiệp Định Paris 1975 đều bị xé bỏ một cách ngang nhiên. Từ cuộc di cư 1954, vụ Nhân Văn Giai Phẩm 1957, giải phóng miền Nam 1960  đến Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, rồi 1975 là đánh tư sản, lùa dân đi kinh tế mới, phong trào vượt biên gần 600.000 người chết. Suốt mấy chục năm như vậy Đảng Cộng sản không hòa hợp hòa giải với ai hết, cả chính bản thân của họ nữa”

Từ đó tôi kết luận ông Hữu Thỉnh, dù có thực tâm đi chăng nữa, cũng không thể có khả năng tổ chức một cuộc hòa hợp hòa giải với những cá nhân mà ông ta gọi là nhà văn. Nói thật Đảng Cộng sản đặt ra vấn đề hòa hợp hòa giải thì không tin được. Không hề có sự kiện hòa hợp hòa giải dân tộc 46 năm sau”

2015-04-30T120000Z_569950304_GF10000078238_RTRMADP_3_VIETNAM-WAR-ANNIVERSARY.JPG

Hình minh hoạ. Duyệt binh kỷ niệm 40 năm kết thúc cuộc chiến Việt Nam 30/4/1975 ở TPHCM hôm 30/4/2015. Reuters

Câu chuyện nhà văn Phan Nhật Nam được mời về nước hồi 2016 được Facebooker Lưu Trọng Văn nhắc lại  trên tài khoản FB cá nhân, một lần nữa lôi kéo sự chú ý và phản hồi từ nhiều phía. 

Nhà thơ Hoàng Hưng, một trong những người đồng sáng lập Ban Vận Động Thành Lập Văn Đoàn Độc Lập Việt Nam, mà tiếng nói là trang mạng Văn Việt, cho rằng gọi là hòa hợp nếu đừng động tới ý thức hệ hay chính trị là những thứ mà người cộng sản chỉ muốn độc quyền lý luận:

Trong tổ chức chúng tôi cũng có những nhà văn nhà thơ ở Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Đức… Tôi nhiều lần sang Mỹ và tiếp xúc với nhiều nhà văn nhà báo ở hải ngoại. Giữa chúng tôi, kể cả những người từng là sĩ quan, công chức Việt Nam Cộng Hòa, thì tự nhiên là chả khác biệt hoặc e dè gì cả. Như vậy chứng tỏ sự hòa hợp có thể có khi mà hai bên không có định kiến về chính trị, vế ý thức hệ”

“Nói như thế thì lập tức có thể hiểu ngay tại sao ông Hữu Thỉnh đưa ra lời mời ông Phan Nhật Nam. Tôi cho là ông Hữu Thỉnh thật tâm thôi và chưa chắc là có lệnh của ai đâu. Thế nhưng không được ông Phan Nhật Nam chấp nhận thì cũng dễ hiểu thôi. Là vì ông Hữu Thỉnh muốn hay không muốn cũng là người đại diện của ý thức hệ cộng sản, trực tiếp chịu sự lãnh đạo của Ban Tuyên Huấn Đảng Cộng sản. Với một người như ông Phan Nhật Nam và nhiều người khác, từng đi theo ý thức hệ  Việt Nam Cộng Hòa, thì khó lòng mà hòa giải được. Nền tảng hai thể chế, hai chế độ chính trị làm sao hòa giải được với nhau. Không thể có, rất khó có”.

Quả thực là khó nếu người ta, đúng ra là người cộng sản, cố ý mù mờ, lập lờ về cụm từ hòa hợp hòa giải, là phân tích của nhà quan sát chính trị Nguyễn Gia Kiểng, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên ở Paris, Pháp:

Hòa hợp dân tộc và hòa giải dân tộc là hai khái niệm khác nhau. Hòa hợp đồng nghĩa với đoàn kết, còn hòa giải là xóa bỏ hận thù. Vậy thì hòa giải phải đi trước hòa hợp. Muốn có hòa hợp dân tộc thì phải hòa giải dân tộc trước, người cộng sản dùng chữ hòa hợp hòa giải là sai”

“Nói hòa hợp mà không cần hòa giải, hoặc là hòa hợp trước rồi mới hòa giải thì cũng không khác gì nói tôi gọi anh là ngụy, tôi đã bỏ tù anh, tôi đã nắm độc quyền đất nước, bây giờ anh cứ chấp nhận, cứ hòa hợp với tôi đi rồi chuyện hòa giải chúng ta nói sau. Như vậy có nghĩa hòa hợp mà chưa hòa giải, nó đồng nghĩa với đầu hàng! Phải nói cho rõ là “hòa giải và hòa hợp dân tộc”, chứ nếu mà cứ lẫn lộn danh từ thì không thể nào thảo luận một cách đứng đắn được”.

Hòa hợp hòa giải chỉ có thể xảy ra khi Nhà nước Cộng sản này thay đổi cái tư duy tranh đấu giai cấp và cả lập trường ‘đich, ta’ là khẳng định của tiến sĩ Mạc Văn Trang, người vừa có hai bài viết kêu gọi lương tri lãnh đạo trên mạng:

“Nhưng mà điều này rất khó khăn, bởi vì bản chất Đảng Cộng sản bao giờ cũng phải lập trường ‘địch-ta’ rõ ràng. Đã là địch, ta tức là đấu tranh một mất một còn”

Muốn hòa hợp dân tộc thì trước hết phải hòa giải với dân oan mất đất mất nhà. Người ta khiếu kiện mà không hòa giải, mà cứ cưỡng chế xong rồi còn bắt người ta đi tù, gọi người ta là thế lực thù địch. Những người bất đồng chính kiến, chỉ phản biện và đấu tranh ôn hòa thôi, cũng vu cho người ta tội tuyên truyền chống phá Nhà Nước, bắt đi tù thậm chí 10, 15 năm trong chế độ nhà tù hết sức ác nghiệt”

“Nếu một chế độ mà chấp nhận đa nguyên, chấp nhận khác biệt ý kiến, dân ở trong nước được nhân quyền, được tôn trọng, được bình đẳng thì tự nhiên nó sẽ hòa giải được cái xã hội ngay ở trong nước. Nếu chế độ không thay đổi thì bao nhiêu chủ trương chính sách cũng không thể nào thuyết phục, không thể nào giải quyết được vấn đề hòa hợp hòa giải dân tộc đâu”.

Nhức nhối là câu hỏi tại sao chưa thể hòa hợp- hòa giải mà rất, rất nhiều người có  tâm huyết đặt ra suốt 46 năm qua. Ông Kha Lương Ngãi, nguyên Phó tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng thuộc Đảng bộ Cộng sản TPHCM, trao đổi qua điện thư như vậy:

Hòa giải hòa hợp dân tộc chỉ đạt được khi ‘bên thắng cuộc’ không thể chỉ là bên có quyền ban phát  sự hòa giải”

“Không phải không nhắc đến, gạt bỏ quá khứ chiến tranh, thù hận ra khỏi suy tư là sẽ đạt được hòa giải hòa hợp dân tộc. Nhà cầm quyền phải có chủ trương, đường lối lãnh đạo đất nước theo xu hướng tiến bộ, dân chủ văn minh thì mới đoàn kết được toàn dân để  bảo vệ  chủ quyền quốc gia , dân tộc, bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân”

“Tôi buồn là vì tôi thấy rõ những tiêu chí để đạt được hòa giải hòa hợp dân tộc, để ngày 30/4 không còn là ngày “ triệu người vui, triệu người buồn”, thì đến bây giờ điều đó cũng vẫn chỉ là ước vọng viển vông”.

Nhà quan sát thời cuộc Nguyễn Gia Kiểng, từng bị chống đối khi lên tiếng kêu gọi về hòa giải trong ngoài trước khi muốn hòa hợp, cho rằng dù khó tới đâu thì hòa giải vẫn là điều bắt buộc:

Một dân tộc sau khi đã giết nhau trong một cuộc nội chiến thì chỉ có hai giải pháp: hòa giải để đoàn kết dân tộc, để có thể nhìn lại nhau là anh em là bạn bè. Sức mạnh của một dân tộc bao giờ cũng là sự đoàn kết, đất nước Việt Nam sẽ không có tương lai nếu không có đoàn kết”

“Nếu người này làm người kia phá, người này thống trị người kia bị trị thì chúng ta sẽ không có tương lai nào trong thế giới hiện nay. Quốc gia phải được coi là một tình cảm, một không gian liên đới và một dự án tương lai chung. Không hiểu ý niệm quốc gia như thế thì chúng ta sẽ tan vỡ. Khó khăn tới đâu chúng ta vẫn phải tiếp tục vì đó là câu hỏi Việt Nam còn hay mất”.

Còn theo nhà thơ Hoàng Hưng thuộc Văn Đoàn Độc Lập, tổ chức nằm ngoài Hội Nhà Văn Việt Nam ở Hà Nội, muốn hòa hợp hòa giải thì người chủ động và trách nhiệm lớn nhất trước hết vẫn là ‘bên thắng cuộc.’

Nhà Nước và Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay phải chủ động, nhà thơ Hoàng Hưng nhắc lại, đừng “ta thắng – đich thua”, đừng phô trương rùm beng này nọ những dịp  30 tháng tư hàng năm, thì may ra có thể khiến người dân tin vào  thiện chí hòa giải thực sự của mình. 

YouTube player

30/04: VNCH để lại nhiều di sản quý cho ngày nay và tương lai

 

 

30/04: VNCH để lại nhiều di sản quý cho ngày nay và tương lai

Dù không giữ được miền Nam thân yêu, nhưng chúng ta, những người miền Nam đã để lại di sản VNCH đáng kể cho cả đất nước và dân tộc hôm nay và tương lai.

***

30/04: VNCH để lại nhiều di sản quý cho ngày nay và tương lai

Vũ Thăng Long,

Trước tiên, di sản lớn nhất của VNCH đã để lại cho thế hệ sau 1975 phải nói đến là nền âm nhạc phong phú, đa dạng và chan chứa tình tự dân tộc và văn hóa dân gian.

Bất chấp chủ trương diệt tận gốc, triệt tgận ngọn của nhà cầm quyền VC sau tháng 4/1975, nét văn hóa bất diệt này vẫn tồn tại ở miền Nam và sau đó lan dần ra miền Bắc.

Ban đầu chỉ có một số nhỏ bài hát được phép trình diễn chính thức, nhưng danh sách này lớn dần và đến nay thì hình như không còn lệnh cấm giới hạn nữa. Phong trào nhạc Bolero, hay còn được gọi là “nhạc vàng” tràn ngập bây giờ là ví dụ hùng hồn nhất.

Nhưng trong giới hạn của bài này, chúng tôi chỉ muốn đề cập đến các di sản chính khác về giáo dục, kinh tế, chính trị hành chính và xã hội.

Tự hào tuổi trẻ và nền giáo dục Miền Nam

Đọc xong vài quyển sách gợi chuyện cũ, tưởng như đã được rũ sạch nỗi ấm ức cái “hội chứng Việt Nam” (Vietnam syndrome) từ lâu về một đất nước phú cường văn minh như Nam Hàn phải có trong giấc mơ cho xứ mình.

Thật sự từ trên 40 năm nay, sau khi du học ở tuổi 18 rồi ra trường, sống và đi làm nhiều nơi, tôi vẫn chưa tỉnh hay thoát ra khỏi “NÓ”. Tôi chưa giải tỏa được nỗi ấm ức của “giấc mơ xưa” ở tuổi thanh xuân. Tôi từng có những giấc mơ đội đá vá trời và lòng tự tin nhưng suốt đời vẫn chưa tìm thấy chốn “dung thân” để phục vụ lý tưởng tuổi trẻ.

Đã từng về làm việc ở Sài Gòn từ đầu thập niên 2000 cho đến 2014, tôi thấy hàng ngày sự phồn thịnh hơn của xã hội về vật chất so với những ngày tuổi trẻ miền Nam của tôi, nhưng tôi vẫn tò mò tìm hiểu nơi đám người tuổi trẻ hiện nay, xem họ có chia sẻ cái “phần hồn ngày xưa” của đám anh em chúng tôi đã lớn lên trong cùng thành phố này.

Chúng tôi lớn lên trong khung cảnh của một đất nước loạn ly, nhưng may mắn còn được hấp thụ một nền giáo dục, tuy mang tiếng “từ chương” lý thuyết nhưng vẫn có một giá trị tối thiểu nào đó được chứng minh sau này khi đàn chim non miền Nam chúng tôi tốt nghiệp trung học, bay ra khắp các chân trời thế giới đã ghi lại nhiều thành tích trong các trường đại học Âu Mỹ.

Chúng tôi còn may mắn lớn lên trong một nền lễ giáo cổ truyền Việt Nam còn sót lại, tôn trọng các giá trị gia đình cao đẹp từ ngàn xưa, những tin yêu vào tình đời tình người vẫn còn mạnh mẽ. Nhất là thời kỳ “vàng son” 1955-63 của nền Đệ nhất Cộng hòa trong thanh bình thịnh vượng của một VNCH dân chủ tương đối.

Đáng nói nhất là đám thiếu niên tuổi 15-16 thuở chúng tôi đã manh nha một lòng yêu nước mãnh liệt, muốn góp tay xây dựng một đất nước phú cường bằng sự chăm chỉ học hành trau dồi kiến thức, mơ tưởng đến một nền kinh tế hùng mạnh, một xã hội ấm no công bằng.

Chúng tôi chỉ có ý nghĩ đơn giản như đại đa số thanh thiếu niên trong các nước Á châu khác lúc ấy, là sẽ cố gắng học hành hay làm việc để xây dựng đất nước bằng một nền kinh tế vững chắc. Đó là lưu dấu kỷ niệm đậm đà nhất của tuổi thanh niên mới lớn ở miền Nam.

Sau này, khi có dịp về sống ở Sài Gòn rồi ngồi trầm ngâm hàng giờ bên ly cà phê ở quán Continental, tôi ngỡ ngàng xem từng đoàn xe máy phóng như đua chung quanh Nhà hát Thành phố -Trụ sở Hạ nghị viện VNCH trước 1975 – của những người trẻ tuổi bây giờ.

Họ la hét ầm ĩ, có vài cô mặc thiếu vải nhún nhảy tự nhiên trên băng sau của những chiếc xe máy Honda đắt tiền kiểu mới nhất, ăn mừng trận bóng tròn vừa thắng Thái Lan hay Malaysia. Họ hét to “Việt Nam vô địch” như thể hiện ý chí chiến thắng đó giống các nhóm khán giả đông đảo thường la to mỗi lần có mặt trên những sân vận động.

Nhóm đua xe đông quá và dường như tạo thành sức sống mãnh liệt cho cái thành phố quá tải của đất nước được mệnh danh là “non trẻ” này, khi các nhóm trẻ từ 20 đến 40 tuổi được ước tính chiếm 40% dân số, vẫn là một ẩn số lớn về xã hội và chính trị.

Những người trẻ bay lượn trong phố đêm trên những “mô tô bay” như biểu hiện của tự do, của văn minh còn được tìm thấy cho tuổi trẻ của mình trong đất nước đó. Tôi chợt hiểu tại sao họ thường “đi bão, xuống đường” tràn ngập với những rừng cờ đỏ, băng rôn hay tô son vẽ mặt đậm màu quốc kỳ để chào mừng một trận vừa thắng “kẻ địch”.

Bên trên những chiếc xe máy tốc độ giúp cái hừng khí ngắn ngủi chợt tìm thấy, lòng yêu nước được dịp tỏ rõ qua những sự kiện thể thao. Đam mê còn lại đó cùng những ly bia đầy giúp họ xóa đi cái vô cảm hàng ngày với những vấn đề lớn hơn của xã hội, và bớt đi cái mặc cảm thiếu trách nhiệm với một đất nước tụt hậu thua kém láng giềng. Họ có vẻ ít nghĩ xa như vậy.

Những người lớn tuổi xưa cũ của thành phố này thường tỏ lộ u hoài, nói với tôi là họ nhớ lại các thế hệ cùng tuổi như chúng tôi dạo 1960-1970. Ngay chính Chủ tịch Quốc hội đương nhiệm, Nguyễn Thị Kim Ngân, vốn gốc tỉnh Bến Tre thời VNCH, cũng phải tâm sự lên tiếng khen nền giáo dục cũ của miền Nam.

Những ý nghĩ vụn này đã tạo dịp cho tôi được sống lại những tự hào của một thời tuổi trẻ trong thành phố Sài Gòn, được hưởng nền giáo dục VNCH, với lý tưởng mộng mị cho một Việt Nam hùng mạnh tương lai.

Ra đi du học mong trau dồi kiến thức với tâm huyết hừng hực của một thanh niên tuổi 20, và sau này lúc ra đời làm việc ở nhiều nơi trên thế giới, vẫn mang trái tim phục vụ tuổi 30 dù mái tóc đã điểm sương. Và cùng với người Sài gòn bấy giờ, tôi vẫn thấy bừng lên sức sống với giấc mơ xưa: Biết đâu sẽ có một ngày?

********

Di sản Cộng Hòa cho Việt Nam nay là gì?

  1. VNCH và thành công kinh tế thị trường

Dù chưa được quen thuộc nhiều với các định chế kinh tế và tài chính quốc tế hay các nền kinh tế tư bản lớn, VNCH đã sớm biết theo các qui luật của nền kinh tế thị trường và nhất là nhấn mạnh vai trò khu vực tư nhân.

Điều này tương phản hoàn toàn với nền kinh tế VN bây giờ, sau 46 năm thống nhất, vẫn loay hoay với lý thuyết “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” mà không ai chứng minh được định hướng XHCN là như thế nào?

Các thay đổi lớn sau hơn ba thập niên Đổi Mới từ những năm 1986-1989 đã giúp VN có một bộ mặt tương đối phồn thịnh ở các thành thị, nhưng đi dần vào bế tắc nếu không có các cải cách thể chế song hành với cải cách kinh tế ở giai đoạn tới. So sánh thời kỳ 21 năm dưới VNCH với thời gian ít hơn một nửa so với 46 năm của nước VN thống nhất, hai di sản kinh tế nổi bật của VNCH là:

  1. Cách mạng Xanh

Đặc biệt là chính sách “Cải Cách Điền Địa” dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa được tiếp nối bởi “Người Cày Có Ruộng” dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, nhằm lấy lại các mảnh ruộng bao la nằm tập trung trong tay một số nhỏ đại điền chủ từ thời Pháp thuộc, phát đất rộng rãi cho các tầng lớp nông dân và khuyến khích tự do trồng trọt, nhất là lúa gạo, để miền Nam tự cường.

Ngoài ra, và quan trọng nhất, là những năm về sau Chính phủ VNCH đã cho áp dụng một chính sách qui mô cho gieo hạt lúa mới “Thần Nông” trên toàn vùng đồng bằng Cửu Long, làm tăng gia đột biến năng suất trồng lúa và mức sản xuất gạo của đất nước, đưa đến cả khả năng xuất cảng gạo bắt đầu vào năm 1974. Đây là thành tích kinh tế đáng kể của VNCH khi cuộc chiến tương tàn cũng đi vào giai đoạn ác liệt nhất.

Nước VN thống nhất sau tháng 4/1975 mới chỉ nhận ra tầm quan trọng của chính sách sản xuất lúa gạo tự do với Đổi Mới từ năm 1986 khi đến bờ vực của nạn đói, lúc không sản xuất đủ gạo ăn và dân chúng bắt đầu phải trộn cơm với bo bo từ những năm 1977-1980.

Từ khi đám lãnh đạo Bắc bộ phủ ở Hà Nội thay đổi chính sách bằng “ngòi bút” từ nghị quyết năm 1986 cho phép dùng giá cả và sản xuất tự do, di chuyển gạo từ vùng thừa sang vùng thiếu, đã làm lại cuộc “cách mạng xanh” nói trên của VNCH, khởi đầu toàn chiến lược đổi mới nông nghiệp và tiếp đó “lột xác” toàn nền kinh tế trong ba thập niên theo sau.

Điều đáng lưu ý là cuộc cách mạng này đã được thừa hưởng từ di sản có sẵn của chính sách tự do trồng trọt ở đồng bằng Cửu Long, diện tích trồng trọt đã được nhân rộng ở miền Nam, và nhất là kiến thức nông gia trong việc canh tác lúa “Thần Nông” đã có sẵn. Đáng kể hơn là việc có thể đem kỹ thuật và giống lúa này ra đồng bằng sông Hồng ngoài Bắc, khiến mức sản xuất lúa gạo của toàn cõi tăng kỷ lục, và không ngạc nhiên khi chỉ chục năm sau VN đang từ thiếu gạo ăn trong nước, trở thành xứ xuất cảng gạo hạng ba thế giới sau Thái Lan và Ấn Độ.

Khai thác dầu khí

VNCH đã tìm ra vài “túi dầu” đầu tiên vào các năm 1973-74 ở thềm duyên hải Vũng Tàu, chỉ tiếc là chưa kịp thì giờ và vốn đầu tư khai thác để tìm ra dung lượng lớn đáng kể đủ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, tình trạng thiếu an ninh do cuộc chiến tiếp diễn hàng ngày đã là yếu tố quyết định khiến các nhà đầu tư ngần ngại.

Nhiều quan sát viên quốc tế và nhà bình luận chính trị sau này đã tiếc cho VNCH là chưa đủ thời gian để khai thác các mỏ dầu và khí ngoài khơi khổng lồ, nhất là đủ để hấp dẫn các hãng dầu Hoa Kỳ.

Nếu có, và nếu các hãng này ký kết khai thác với chính phủ miền Nam dạo đó, chưa chắc gì có cảnh Henry Kissinger ký kết bán đứng VNCH vào năm 1972, sửa soạn cho hiệp định ngừng bắn Paris 1973 và ngày nhân dân miền Nam phải bỏ cuộc tháng 4/75.

Sau 1975, nước VN thống nhất thừa hưởng trọn vẹn và dầu khí từ miền Nam trở thành tài nguyên chủ lực của nền kinh tế VN lúc bấy giờ. Ngoài việc đem lại số xuất cảng đáng kể hàng năm và nguồn lực phát triển. Đáng tiếc là một phần lớn tài nguyên đó cũng bị mất mát do tham nhũng và đầu tư phung phí như các tài liệu điều tra mới đây về đầu tư ở Venezuela chỉ ra.

Không cần nhìn đâu xa phức tạp hơn, phải chăng một phần di sản của VNCH là đây?

*********

  1. Nền dân chủ của VNCH

Nền dân chủ phôi thai của Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963) trong khung cảnh mới dành lại độc lập và nền dân chủ được củng cố thêm của Đệ Nhị Cộng Hoà (1967-1975) tuy khiêm nhượng và tương đối, do bị đe dọa hàng ngày bởi cuộc chiến, vẫn cho phép nhân dân miền Nam sống hạnh phúc trong khuôn khổ nhân quyền được tôn trọng theo hiến chương Liên Hiệp Quốc và các quyền tự do căn bản nhất như bầu cử, ngôn luận, hội họp, biểu tình v.v…vẫn được thực thi.

Chủ trương pháp trị, hay thượng tôn pháp luật (rule of law) của cả hai nền Cộng hòa với bầu cử Quốc hội và Tổng Thống tương đối tự do; nền hành chánh trung ương và địa phương được điều khiển bởi các chuyên viên kỹ trị được đào tạo bài bản trong các trường chuyên môn (thí dụ nổi bật là trường Quốc gia Hành chánh của miền Nam). Ở mỗi tỉnh, người tỉnh trưởng là nhân vật chính trị hay quân sự do Chính phủ trung ương bổ nhiệm, nhưng Phó Tỉnh trường thường là những chuyên viên kỹ trị xuất thân từ các trường đào tạo chuyên môn.

Trái lại, Việt Nam thống nhất bây giờ mới chỉ cổ võ cho bầu cử tự do nhưng chưa bao giờ được thực hiện trong thực tế qua các cuộc ứng cử và bầu cử các Hội đồng Nhân dân và Đại biểu Cuốc hội.

Tương tự, Việt Nam bây giờ mới bắt đầu học hỏi kinh nghiệm về cải cách hành chánh như dưới thời VNCH và cử chuyên viên kỹ trị ở cấp trung ương và địa phương.

Cuốc hội Việt Nam bây giờ mới sửa soạn các dự thảo luật đề nghị bổ sung thẩm quyền của Thủ tướng trong việc áp dụng những mô hình mới về tổ chức bộ máy từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc chính phủ trung ương, và chính quyền địa phương cấp Tỉnh và cấp Huyện.

Theo đó, Thủ tướng cũng có thêm quyền thành lập, sát nhập, hay giải thể các cơ quan, tổ chức hành chính khác thuộc cấp Tỉnh và cấp Huyện.

*******

  1. Các tổ chức Xã hội Dân sự

Các tổ chức này dưới thời VNCH được tự do thành lập và hoạt động với qui chế tự trị về cả hành chính và tài chính. Ví dụ như Tổng liên đoàn Lao công hay các Tổ chức chính trị, xã hội và Hiệp hội.

Còn hiện nay, Nhà nước tìm mọi cách để trì hoãn không trình ra Quốc hội hai Dự luật Lập Hội và Biểu tình, mặc dù hai quyền này của dân đã quy định trong Hiến pháp 2013.

Người dân cũng không được quyền ra báo, như đã quy định trong “quyền tự do ngôn luận” ở Điều 25 Hiến pháp 2013 viết:

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

Như nói ở trên, những dòng viết ngắn của tôi nhân dịp 46 năm từ biến động lịch sử 30/04/75 không phải là để thêm nước mắt cho một đau buồn còn ghi đậm dấu trong tâm hồn tôi, một con dân Việt Nam Cộng hòa cũ.

Với thời gian hơn 50 năm từ tuổi thiếu niên rời trường, ra nước ngoài du học, rồi bôn ba theo vận nước nổi trôi làm việc bên ngoài, tôi lại tìm cách “chim quay về tổ” trong 12 năm để lò mò xem xứ mình nó ra sao. Nhưng cuối cùng, sau những trải nghiệm với thực tế và con người “mới XHCN”, tôi lại phải ra đi tìm về một nơi qui ẩn để nghĩ lại đời mình và quê hương cũ một cách bình tĩnh hơn.

Tôi tự cho mình trên nguyên tắc là người thuộc “Bên Thua Cuộc” với hai cơ hội bỏ lỡ từ thời 1963 của Đệ nhất Cộng hòa và 1975 của thời Đệ nhị Cộng hòa. Nhưng không phải hoàn toàn do lỗi chúng ta, mà quan trọng hơn là do sự thao túng & phản bội của nước bạn “đồng minh” Hoa Kỳ không giữ lời cam kết ngăn chặn cuộc tấn công miền Nam của lực lượng cộng sản.

Lời hứa bằng giấy trắng mực đen của Tổng thống đảng Cộng hòa Richard Nixon lúc bấy giờ đã hứa bằng văn thư với Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, sau khi ông Thiệu bằng lòng ký Hiệp định Paris 1973. Do đó mà chúng ta đành chấp nhận kiếp tha hương hiện tại do số mệnh đi từ vận nước kéo dài suốt từ hơn 70 năm nay.

Dù không giữ được miền Nam thân yêu, nhưng chúng ta, những người miền Nam đã để lại di sản VNCH đáng kể cho cả đất nước và dân tộc hôm nay và tương lai.

Các kênh truyền thông và các cuộc tiếp xúc của tôi với người trong nước đều cho thấy đại đa số đồng bào ta đều hướng về di sản đó với lòng thán phục và thiện cảm, cũng như lòng ngưỡng mộ của họ với các nền dân chủ tiến bộ phương Tây.

Một cách công bằng, chúng ta cũng phải nhìn nhận về “legacy” của “Bên Thắng Cuộc” (như tựa đề cuốn sách của Huy Đức), nói đúng ra là huyền thoại “chiến thắng” của họ năm 1975 nhờ vào sự mệt mỏi bỏ cuộc của Mỹ do áp lực chính trị ngay từ trong lòng Washington, D.C. và tham vọng chính trị cá nhân của Henry Kissinger muốn bỏ rơi VNCH như “món quà chuộc” lấy lòng Trung hoa, mở ra chiến thắng chính trị và thương mại cho nước Mỹ với thị trường rộng lớn 1,3 tỷ dân Trung Hoa.

Phần khác, họ đạt được chiến thắng quân sự sau cùng nhờ sự yểm trợ tích cực bền bỉ của Liên Xô và Trung Quốc. Họ đã nắm được quyền hành chính trị, xét cho cùng thì cũng là một “legacy” thôi và nếu họ biết “góp vốn” bằng cái đó vào việc xây dựng một Việt Nam tương lai dân chủ và văn minh trong tình hòa giải dân tộc cả trong và ngoài nước, thì sẽ là công lao lớn cho dân tộc và đất nước.

Đã trải qua thời VNCH, cuộc sống ở hải ngoại và có dịp về Việt Nam ngày nay thường xuyên, tôi tin vào lẽ tuần hoàn của Trời Đất sẽ phải áp dụng cho quê hương cũ: “Cùng tắc biến, biến tắc thông…”

Nhiều người lãnh đạo cũ của VNCH ở tuổi 35-50 lúc ra đi năm 1975 đa số đã nằm xuống. Nhóm lãnh đạo 60-80 tuổi của VN bây giờ cũng phải ra đi vì quy luật thời gian trong 5-10 năm nữa.

Các tang lễ liên tiếp của thế hệ lãnh đạo cộng sản ‘kháng chiến’ gần đây và sắp tới cho thấy họ đang trở thành quá khứ, và không phải một mà hai ba thế hệ khác trẻ hơn đang trưởng thành, chỉ chưa có quyền được làm chủ quốc gia.

Đất nước không thể “tắc” mãi như thế này, và sắp đến lúc phải có chữ “THÔNG” mà thôi. Nhất là các thế hệ trẻ 25-55, lớp người quyết định vận mệnh của đất nước Việt Nam trong 5-10 năm nữa, sẽ nối tiếp bó đuốc lãnh đạo và, cùng với thế hệ trẻ gốc Việt lớn lên ở hải ngoại quay về, họ sẽ có thể hướng đất nước về một hướng tốt đẹp hơn nhiều.

Và tôi tin rằng họ sẽ để lại tên tuổi trong lịch sử một Việt Nam dân chủ, phồn thịnh, hùng cường trong vùng Đông Nam Á, Á châu và cả thế giơi….

HÌNH:

– Người Sài Gòn – ảnh chụp năm 1962 của Michael Ochs .

– Giới trẻ VN đang hướng về tương lai .

– Nồng nhiệt đón người Mỹ trở lại Sài Gòn: Vợ của diễn viên Hollywood, bà Pamela Hasselhoff bắt tay các cô gái Việt Nam trong lễ đón chiếc phi cơ của United Airlines, Boeing 747-400 trong chuyến bay thương mại đầu tiên của một hãng hàng không Hoa Kỳ trở lại Tân Sơn Nhất tháng 12/2004.

– Một ngôi chùa của người Hoa trong Chợ Lớn.

– Sinh viên biểu tình chống chính phủ Nguyễn Khánh, tháng 8/1964 ở Sài Gòn.

 HẦU HẾT GIỚI GIÀU CÓ TẠI VIỆT NAM ĐỀU LÀ TRỌC PHÚ.

 HẦU HẾT GIỚI GIÀU CÓ TẠI VIỆT NAM ĐỀU LÀ TRỌC PHÚ.

Vụ việc Nguyễn Thị Thanh Tuyền ( Nguyễn Phương Hằng) đăng đàn vạch trần lang băm Võ Hoàng Yên, sau đó tiện tay chửi luôn Trang Khàn và “đám” nghệ sĩ trong nước cũng mua vui cho dân mạng hóng chuyện thị phi được một vài trống canh. Nhưng qua những vụ kiện cáo của Huỳnh Uy Dũng với chính quyền Bình Dương trước đây và cũng như vụ phơi bày tình tiền, lừa đảo này ta nhận thấy hầu hết tầng lớp giàu có tại Việt Nam đều đi lên bằng thủ đoạn chứ không phải bằng học vấn để làm giàu chân chính.

Phạm Nhật Vượng thì dính đến chuyện làm ăn mờ ám tại Ukraine, Đoàn Nguyên Đức là chuyên gia phá rừng, Bầu Kiên là trùm lừa đảo ngành ngân hàng, băng nhóm Trần Bắc Hà , Trầm Bê và tay chân của Nguyễn Tấn Dũng đều là những dạng hung thần tác quái dưới quyền uy của Bố già.

Huỳnh Uy Dũng cũng chẳng hơn gì,đi lên nhờ tiếp quản công ty sơn mài Thành Lễ, một doanh nghiệp của nền tư sản dân chủ miền Nam để lại,sau đó chuyển sang làm lò vôi và có tàu biển buôn lậu Dũng cũng tích được một số vốn kha khá. Và tiếp tục là mua đất giá rẻ trong những dự án Khu công nghiệp Sóng Thần 1 và Khu công nghiệp Sóng Thần 3 rồi chuyển nhượng lại với giá cao đã khiến tiền chảy vào túi Dũng như nước Sông Đà. Tiếp đó là trò kinh doanh “buôn thần bán thánh” khi dồn tiền và được đất của nhà nước cho rẻ như bèo nên mở Khu Du lịch Lạc Cảnh Đại Nam để kinh doanh lĩnh vực Du lịch tâm linh Huỳnh Uy Dũng trở thành một trong những đại gia giàu nhất Việt Nam.

Sự đời “giàu đổi vợ ,sang đổi bạn” nên Huỳnh Uy Dũng chia tay vợ đầu tìm kiếm gái trẻ ,đẹp hơn là chuyện thường. Nguyễn Thị Thanh Tuyền cũng chia tay chồng cũ để rồi chồng cũ Thanh Tuyền tố đại da Huỳnh Uy Dũng trên mặt báo cũng ì xèo một thời.

Vậy nên hiện tại khi đối đáp với Trang Khàn, Nguyễn Phương Hằng khoe cà rá mấy chục cara, trên người mang nữ trang hàng chục triệu để chứng tỏ bản lĩnh kinh doanh của mình chỉ là nói dóc. Đó chẳng qua chỉ là những thương vụ đổi chác “tình tiền” mà thôi.

Nếu cơ chế đất đai của chế độ CSVN giống như ở Mỹ thì Huỳnh Uy Dũng không thể giàu lên nhanh chóng như thế và Nguyễn Phương Hằng không cần chia tay chồng cũ để cặp đại gia và được cử vào chức phó giám đốc Khu Lạc Cảnh Đại Nam để hốt bạc. Trong một nền kinh tế dưới các chế độ độc tài thì mánh khóe làm giàu chỉ là cậy nhờ quen biết với giới quyền lực để thi hành các dự án mờ ám mà không có thứ luật pháp nào có thể can thiệp ngoài luật rừng.

Và chuyện um sùm với Võ Hoàng Yên cũng là chuyện tình tiền mờ ám qua những đoạn ghi âm.Thời buổi này mà đưa chuyện bùa ngãi ra để biện minh là phản khoa học. Dũng Hằng là những tay mafia cùng với chính quyền lừa dân chiếm đất xây dựng cơ đồ. Sau đó cả hai thấy tiền bá tánh đổ về như nước nên quyết định dùng một phần làm từ thiện để ngăn ngừa tình trạng dân đói đi làm cách mạng và cũng để “tích đức” cho con trai. Đại bịp Võ Hoàng Yên thấy ngon ăn nhảy vào lợi dụng đòn “nắn bóp” và khả năng tình dục để chuyển tiền “từ thiện” của Dũng Hằng cho người tình là Tuyền mang sang Úc gởi.

Nói chung đó cũng chỉ là tiền của dân Việt. Các chú cừu bị vặt lông mà không đứng dậy nên các chủ chăn thỏa sức sắm hột xoàn đem lên mạng khoe mẽ và chứng tỏ bản lĩnh chăn cừu của mình. Cừu thấy tài sản, biệt thự,siêu xe, nữ trang của chủ chăn thì đem lòng ngưỡng mộ mong một ngày cũng có thể giàu có như thế.

Nhưng vụ việc cũng phơi bày văn hóa của bầy trọc phú khi ngôn ngữ “dân gian” như “đéo, con đĩ…” được tuôn xối xả từ mồm của những mệnh phụ đeo đầy kim cương.Một số tay youtube ở ngoài nước đánh hơi cơ hội tăng view,tăng like cũng nhảy vào “giây máu ăn phần”.

Nói chung cũng chỉ là màn khoe mẽ. Trong xã hội có luật pháp thì chỉ cần gởi đơn kiện ra tòa và cung cấp bằng chứng là mọi chuyện trắng đen sẽ được phân giải. Một là hòa giải ngoài tòa, hai là phán quyết của bồi thẩm đoàn.

Chỉ ở Việt Nam mới có chuyện tòa án bằng mồm mở trên mạng và 2 bên ra sức cung cấp bằng chứng, sau đó khán giả nhào vào ăn ké để rồi bị nạn nhân chửi luôn.Chính quyền thì cũng ra những cái án phạt 7,5 triệu nhẹ hều cho có bộ, để rồi lợi dụng trò mèo để dân tình quên đi những án oan bất công và khuyến khích tham vọng làm giàu bất chính của dân đen để rồi quên mất là phải đứng lên để dẹp bọn trọc phú này nhằm tạo ra một tầng lớp tư sản trí thức thực thụ.

46 năm sau, ‘ta’ vẫn chưa thể tử tế bằng… ‘ngụy’!

May be an image of 6 people, including Hangnga Lê and people standing

46 năm sau, ‘ta’ vẫn chưa thể tử tế bằng… ‘ngụy’!

Trân Văn

Bà Thiều Thị Tân, một trong những cựu tù nhân nổi tiếng thời Việt Nam Cộng hòa (VNCH) và là một trong những tấm gương của… chủ nghĩa anh hùng cách mạng (1) thành ra chẳng xa lạ gì với dân chúng Việt Nam, vừa liên lạc với ông Mạc Văn Trang (từng làm việc tại Viện Khoa học Giáo dục thuộc Bộ GDĐT Việt Nam khoảng 30 năm) đề nghị ông ghi lại và giới thiệu về giai đoạn bà bị giam ở Bệnh viện Tâm trí mà thiên hạ quen gọi là Nhà thương điên Biên Hòa năm 1972…

Bà Tân và chị gái (Thiều Thị Tạo) nổi tiếng cả ở trong lẫn ngoài Việt Nam từ thuở còn là thiếu nữ. Gia đình tuy nghèo nhưng học giỏi nên hai chị em bà học trường Tây từ bé đến lớn. Cả hai tự tìm – theo Việt Cộng, trở thành thành viên Biệt động Sài Gòn. Lúc đó, bà Tạo mới 16 tuổi đã được cử làm Đội trưởng Đội Binh vận, bà Tân chỉ 13 tuổi đã được cử làm Đội phó (2). Hai năm sau (1968), họ bị bắt vì mang chất nổ vào phá hoại Tổng nha Cảnh sát Quốc gia (giống như trụ sở Bộ Công an hiện nay)…

Cả hai bị Tòa án Quân sự Mặt trận của VNCH kết án và bị đưa ra giam giữ tại Trung tâm Cải huấn Côn Sơn (Côn Đảo). Việc giam giữ hai thiếu nữ đã khiến chính quyền VNCH bị báo chí cả trong lẫn ngoài chỉ trích trích kịch liệt… Chính quyền VNCH thừa nhận sự khắc nghiệt của môi trường lao tù khiến bà Tân, bà Tạo suy kiệt cả về thể xác lẫn tinh thần nên năm 1972, chuyển họ từ Trung tâm Cải huấn Côn Sơn về Trung tâm Cải huấn Tân Hiệp (Biên Hòa – nay là Đồng Nai)…

Chuyện chưa ngừng ở đó, áp lực từ dư luận khiến chính quyền VNCH phải mở cửa nhà tù cho các phái đoàn quốc tế đến kiểm tra các trung tâm cải huấn. Khuyến cáo của nhiều giới ở trong nước, của các chính phủ, tổ chức quốc tế khiến Bộ ngoại giao VNCH yêu cầu Bộ Nội vụ VNCH phải xem xét lại một số trường hợp, trong đó có trường hợp của bà Tân. Nha Cải huấn thuộc Bộ Nội vụ VNCH phải chuyển bà Tân đến Bệnh viện Tâm trí Biên Hòa…

Bà Tân đã cho ông Trang xem toàn bộ hồ sơ liên quan đến việc chuyển bà vào Bệnh viên Tâm trí Biên Hòa và đưa bà ra khỏi đó. Có rất nhiều công văn, công điện trao qua, đổi lại giữa Bệnh viện Tâm trí – Trung tâm Cải huấn Biên Hòa – Chỉ huy trưởng CSQG tỉnh Biên Hòa – Nha Cải huấn,… Những công văn, công điện ấy cho thấy, nhân viên y tế các cấp của Bệnh viện Tâm trí Biên Hòa không run sợ, không mệt mỏi trong việc sử dụng tư cách thầy thuốc để bảo vệ bà Tân – bệnh nhân của họ.

Theo ông Trang, sở dĩ bà Tân liên lạc với ông, mời ông đến để kể chuyện cho ông nghe, trao hồ sơ cho ông đọc để ông viết Chuyện người tù Việt Cộng trong Bệnh viện Tâm thần VNCH (3) vì bà đọc được Thư gửi các thầy thuốc có lương tri mà ông công bố hồi cuối tháng rồi. Từ những thông tin liên quan đến cách thức đối xử với một số tù nhân chính trị của “ta” như: Lê Anh Hùng, Phạm Thành, Trịnh Bá Phương,… bị cưỡng bức điều trị tâm thần, ông Trang hy vọng các thầy thuốc nhớ và thượng tôn y đức (4).

Đó không phải là hy vọng của riêng ông Trang. Bà Tân cũng vậy. Bà hy vọng như vậy nên mới liên lạc với ông Trang, kể chuyện cho ông nghe, đưa hồ sơ cho ông đọc để ông có thể dùng trường hợp của chính bà như một ví dụ trong nỗ lực thúc giục các bác sĩ, các nhân viên y tế ráng nhớ, ráng ý thức dù ở dưới bất kỳ chế độ nào thì họ hãy cố giữ đúng lời thề Hippocrate, cứu chữa bệnh nhân đúng với lương tri của người thầy thuốc… Ông Trang chỉ kể chuyện, không bình luận dù có biết bao điều lớn lao đáng suy ngẫm…

***

Cả hệ thống chính trị, hệ thống công quyền của “ta” đang hối hả chuẩn bị để cuối tuần này long trọng kỷ niệm 46 năm ngày “đánh cho Mỹ cút, ‘ngụy’ nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước”.

Sắp tròn nửa thế kỷ… toàn thắng nên dư dữ kiện thực tế để chính “ta” có thể so sánh – nhận định những khác biệt giữa “ta” với “ngụy”.

“Ngụy” tự điều chỉnh để hoạt động của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền được xem là văn minh như phần còn lại của nhân loại, không phớt lờ chỉ trích, khuyến cáo của dân chúng, các chính phủ, các tổ chức quốc tế, mở cửa – mời khảo sát hệ thống trại giam, thay đổi biện pháp tư pháp, không lên án những chỉ trích, khuyến cáo là… thù địch – xuyên tạc sự thật (5), hay gián tiếp chê bai những chỉ trích khuyến cáo là… ngu ngốc vì… dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam (6)…

“Ngụy” đã để tất cả các giới, kể cả trẻ con xem, nghe, tiếp nhận mọi thứ bất lợi cho mình, có lợi cho đối phương nên bà Tân, bà Tạo sớm… giác ngộ cách mạng khi còn là thiếu niên.

“Ngụy” cho những dân biểu (như bà Kiều Mộng Thu – giống Đại biểu Quốc hội của “ta”), những luật sư (như Luật sư Tòa Thượng thẩm Nguyễn Long) sự tự tin vào quyền hạn, chức trách, hiệu quả công việc để đòi hệ thống công quyền phải cung cấp thông tin, thay đổi cách hành xử với cả những cá nhân nguy hiểm cho an ninh quốc gia.

Sự tự tin vào quyền hạn, chức trách nghề nghiệp, vị thế mà “ngụy” tạo ra nơi công dân của VNCH cũng là lý do các nhân viên y tế từ trên xuống dưới ở Bệnh viện Tâm trí đồng loạt kháng cự hệ thống cải huấn để bảo vệ bà Tân một cách nhiệt thành. Luật pháp và cách quản trị, điều hành quốc gia của “ngụy” khiến Bộ Nội vụ, CSQG phải xem xét – phúc đáp cẩn thận mọi yêu cầu, tiết lộ cả những thông tin mật để thỏa mãn đòi hỏi của thường dân do họ có quyền của giới khoác blouse trắng.

Bệnh viện Tâm trí hay Dưỡng trí viện của “ngụy” khác rất xa với bệnh viện tâm thần của “ta”.

Thời “ngụy”, nhiều đồng chí của “ta” như bà Huỳnh Thị Ngọc – người mà năm 1972 ném lựu đạn vào đêm lửa trại của thanh niên (Hướng đạo, Gia đình Phật tử, Hội Hồng thập tự), học sinh trung học Quy Nhơn tại sân vận động Quy Nhơn khiến một nữ giáo sư, 10 học sinh mất mạng, hơn 100 học sinh khác bị thương (7) – giả điên để hệ thống tư pháp VNCH phải gửi vào Bệnh viện Tâm trí điều trị rồi trốn thoát (8)…

Thời “ngụy”, Bệnh viện Tâm trí hay Dưỡng trí viện là nơi mà dân chúng, các tổ chức chính trị cả trong lẫn ngoài VNCH, các chính phủ, đòi “ngụy” phải an trí nhiều phạm nhân nguy hiểm cho an ninh quốc gia tại đó vì lý do nhân đạo.

Thời “ta”, dân chúng, các tổ chức chính trị cả trong lẫn ngoài VNCH, các chính phủ không ngừng bày tỏ sự lo ngại, lên án “ta” vô nhân đạo, vi phạm nhân quyền khi biến bệnh viện tâm thần thành nơi đày ải, vô hiệu hóa những cá nhân bất đồng chính kiến.

Bà Ngọc – người theo lệnh của “ta”, vì muốn giết một tỉnh trưởng của “ngụy” mà liệng lựu đạn vào nơi có cả ngàn giáo sư, học sinh, rồi giả điên để né tránh trách nhiệm không chỉ được “ta” khen là… mưu trí dũng cảm mà còn được “ta” phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang. Hồ sơ liên quan đến bệnh án của bà Ngọc vẫn đang trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ (Quận 3, TP.HCM)! Có thể đến đó để tận mục sở thị và kiểm chứng về sự khác biệt giữa “ta” và “ngụy”.

Về ngữ nghĩa, “ngụy” là giả trá, xảo quyệt nhưng nếu không tử tế hoặc ít nhất là nỗ lực hướng đến sự tử tế thì “ngụy” không thể như đã thấy và trước những gì đang diễn ra trên thực tế dưới sự quản trị – điều hành của “ta”, bà Tân chẳng còn cách nào khác, đành phải dùng chính trường hợp của bà để khuyên đội ngũ nhân viên y tế của “ta”đối xử với những cá nhân bị “ta” cáo buộc là… chống phá đúng với lương tri thầy thuốc. Bao nhiêu người tin đội ngũ nhân viên y tế dám hành xử tử tế như lời khuyên của bà Tân?

Thậm chí bao nhiêu người dám đoan chắc một người như bà Tân có thể bình an vô sự sau khi vì muốn thấy sự tử tế mà mở miệng khuyên can. “Ta” có nên giữ mãi sự hãnh diện vì luôn luôn đi ngược hướng với “ngụy”, kể cả tử tế với những khác biệt, kễ cả đối lập, đối kháng như… “ngụy”. Thêm bao nhiêu năm nữa ta mới tử tế như… “ngụy”?

***

– Những người đang bị giam giữ tại Việt Nam; kể cả bị đưa vào bệnh viện tâm thần. Từ phải sang: Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Lê Anh Hùng, Phạm Đoan Trang, Hồ Sỹ Quyết. Photo Tập hợp từ Facebook.