Tháng Tư… Ngu! – TẠP GHI HUY PHƯƠNG…

 

 

RẤT NHIỀU NGƯỜI TRONG CHÚNG TA THƯỜNG MỞ MIỆNG CHỈ TRÍCH VIỆT CỘNG LÀ NGU – CHÚNG TA KHÔN HƠN.

ĐÃ 46 NĂM, CHÚNG TA VẪN CHƯA LÀM LUNG LAY ĐƯỢC CHẾ ĐỘ… CHÚNG VẪN NGỒI ĐẤY VÀ NẮM QUYỀN?! AI KHÔN & AI NGU ĐÂY?

***

TẠP GHI HUY PHƯƠNG…

Tháng Tư… Ngu!

Trước hết, tôi xin tự kiểm điểm cái ngu của bản thân mình trước, trong hàng nghìn cái ngu của thiên hạ, vì ngu mà phải mất nước, “lỗi tại tôi mọi đàng” hay “tôi làm tôi mất nước.”

Là một cán bộ chiến tranh chính trị trung cấp, hết làm tâm lý chiến, rồi chính huấn, tức là huấn luyện chính trị cho hàng nghìn tân binh tại một trung tâm huấn luyện lớn nhất nước, mà khi nghe Cộng Sản vào đến Sài Gòn, không chịu tìm đường chạy, vì cứ nghĩ mình gốc nhà giáo, hòa bình rồi, đi ‘học” mấy ngày rồi về dạy học lại!

Tôi ngu vì đã suy diễn hay hiểu sai thời gian đi “học tập,” nên chỉ đem theo 10 gói mì ăn liền Vifon, để ăn sáng trong 10 ngày, ngày thứ 11 đã ăn cơm nhà rồi!

Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn-Gia Định ra thông cáo tất cả các quân nhân cấp úy phải trình diện đi “học tập cải tạo,” mang theo tiền ăn trong 10 ngày, cấp tá mang theo tiền ăn cho một tháng. Sau này có người đi tù 17 năm ròng rã, chúng ta “chửi” Cộng Sản lừa dối, nhưng xem kỹ lại các văn bản, không thấy đoạn nào nói, cấp úy chỉ đi tù 10 ngày, cấp tá một tháng, mà chỉ nói “đóng tiền ăn.”

Chẳng qua, vì chúng ta hay suy luận, và ngây thơ, khờ dại nên mắc mưu sự khôn lanh, xảo quyệt của kẻ thù, đó chính là vì chúng ta ngu!

Sau này, ra Bắc, chính tai tôi đã nghe một quản giáo cai tù nói rằng: “Đưa các anh ra biển thì cũng từ từ, trước hết là gần bờ, sau mới dần dần đưa các anh ra xa hơn, nếu không các anh chóng mặt, say sóng, chịu làm sao nổi!”

Tôi đoan chắc anh em chúng ta, nhất là quý vị tướng lãnh, nếu biết được những ngày tù không bản án, mà có người ra đi biền biệt 17 năm trời, chịu bao nhiêu khổ ải, nhọc nhằn, nhục nhã, thì một nửa trong chúng ta đã tự sát tại nhà mà chết, hoặc chạy vào rừng để rồi cũng chết vì súng đạn của Việt Cộng. May hay rủi, vì ngu mà chúng ta mới sống đến ngày hôm nay.

Khi đến các địa điểm trình diện, không ai nghĩ “đi tù” mà chỉ nghĩ “đi học.” Tại trường Trưng Vương, là nơi trình diện từ cấp phó giám đốc trở lên, hai vị, một từng là phó thủ tướng VNCH, dân biểu, một vị đã là thượng nghị sĩ, đi học còn mang theo gối ôm, và khi xếp hàng vào cổng, có vị đã giành đi trước, vì có giấy giới thiệu của Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn-Gia Định. Sau đó, bộ đội Cộng Sản mới ra lệnh: “Ai có giấy giới thiệu thì đứng qua một bên!” Giấy giới thiệu đây là giấy gọi “trình diện” cho các viên chức cấp cao, còn đối với cấp nhỏ thì chỉ có thông cáo chung trên báo chí, đài phát thanh.

Những ai còn đứng lấp ló ngoài cửa chưa chịu vào, còn nghi ngại dò la thì những chiếc xe mang tên nhà hàng Soái Kình Lâm, Đồng Khánh… mang thức ăn vào quý vị dùng bữa tối, hẳn đã đánh tan mối hoài nghi về thiện ý của người thắng trận.

Đến khi lên xe Molotova, phủ bạt kín rồi, chúng tôi vẫn còn lạc quan tin lời Cộng Sản được đưa đến chỗ đầy “đủ tiện nghi,” (chắc là có đủ điện nước, máy lạnh, sân bóng chuyền…) để học tập và khi biết đoàn xe ra đến xa lộ Biên Hòa, thì việc di chuyển lên Đà Lạt như cầm chắc trong tay. Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, trường Chỉ Huy Tham Mưu, trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị là những nơi lý tưởng nhất để “học tập.”

Khi đến nơi ở tù rồi, Cộng Sản đưa tù vào một cái nhà kho, một trại gia binh hay một cánh rừng thì vẫn tin tưởng vào số ngày trong thông cáo, chờ ngày ra sân vận động Cộng Hòa làm lễ mãn khóa: “Quỳ xuống hỡi những cải tạo viên – Đứng lên hỡi những công dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!”

Câu chuyện những người trên con tàu Việt Nam Thương Tín, Tháng Năm, 1975, sang đến đảo Guam rồi, lại đốt “barrack,” tuyệt thực để đòi “về với tổ quốc,” là một bài học xót xa cho những người trong cuộc, có người phải trả giá bằng 17 năm tù. Nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh kể chuyện, anh em “tù cải tạo” tại trại tù K2, Nghệ Tĩnh, gọi những người này bằng biệt danh “đội q…!”

Tại trại 15 NV. Long Thành, một nhạc sĩ đã hồ hởi sáng tác những bản nhạc được cai tù bắt cả trại hát: “Trồng rau, trồng đậu, trồng tình thương trong tâm hồn người…” Ra tới Bắc Thái lại thêm một bài “Ngày vui đã tới!” nhưng mà “ngày về” thì xa lắc xa lơ!

Thậm chí khi lên con tàu chở súc vật Sông Hương lưu đày ra Việt Bắc rồi, có người vẫn lạc quan “biết đâu nó chở tù miền Nam ra Đệ Thất Hạm Đội Hoa kỳ hay đi thẳng qua Guam để giao cho Mỹ!” Tàu chạy hơn một ngày một đêm rồi mà vẫn nghĩ là cập bến Đà Nẵng chứ không ai nghĩ là lên cảng Hải Phòng.

Ở trong nhà tù vẫn còn người tin tưởng “học tập, lao động” tốt thì được “Cách Mạng” cứu xét cho về với gia đình sớm, nên làm trối chết, kiệt sức, đấu tố anh em… để lấy điểm với cán bộ, cũng như đau xót cho quý bà ở nhà, dắt díu con cái đi vùng “kinh tế mới” cho chồng sớm được tha! Sau 10 “bài học tập,” tới buổi “thu hoạch” thì cứ nghĩ là viết hay thì được tha về, viết dở thì ở lại “học” tiếp.

Trước ngày 29 Tháng Ba, 1975, khi Cộng Quân chưa vào Đà Nẵng, một số người thuộc phe hòa hợp hòa giải tin tưởng thời cơ đã đến nên đã sắp đặt đưa Bác Sĩ Phạm Văn Lương lên làm thị trưởng Đà Nẵng, tin sau đó được đài BBC loan báo. Trong lần phỏng vấn bà quả phụ Phạm Văn Lương tại Nam California, bà xác nhận với chúng tôi Bác Sĩ Phạm Văn Lương chưa bao giờ là thị trưởng Đà Nẵng, nhưng có chuyện là khi có nguồn tin này, một vị trung tá đã đến gặp ông xin làm tài xế cho ông, để nhờ ông che chở, lánh nạn. Sao có người “ngu” đến mức như thế!

Ngày 5 Tháng Tư, 1975, Bác Sĩ Phạm Văn Lương cùng nhiều y sĩ khác bị đưa vào nhà tù Kỳ Sơn, và một năm vào ngày 3 Tháng Tư, 1976, Bác Sĩ Lương đã uống thuốc ngủ cùng 10 viên cloroquine để tự tử.

Trong những ngày cuối cùng của miền Nam, Tướng Dương Văn Minh vẫn còn tin tưởng Thượng Tọa Thích Trí Quang, người hứa sẽ đưa người “phía bên kia” đến thương lượng để thành lập chính phủ liên hiệp. Nhưng cuối cùng, tiếng than cuối cùng tuyệt vọng của “Tổng Thống” Dương Văn Minh là: “Thầy giết tôi rồi!”

Có những người làm lớn hoặc từng “làm rung rinh nước Mỹ” mà còn ngây thơ như vậy, thì đừng trách chi một thằng lính như tôi tin tưởng vào lời của “cách mạng” đem đủ 10 gói mì ăn liền, là… ngu!

Quân tử, ngay thẳng, ngây thơ mà đối đầu với tiểu nhân, xảo trá, độc ác thì không chết cũng bị thương.

Tôi đâm ra nghi ngờ những lời kêu gọi chúng ta rằng, hãy “đem đại nghĩa để thắng hung tàn,” để rồi từ đó cho đến ngày hôm nay mọi người đều biết và thấy nhan nhản chuyện “cường bạo áp đảo cả chí nhân!” !!!

Vì sao con đường hòa hợp- hòa giải dân tộc vẫn xa vời?

Vì sao con đường hòa hợp- hòa giải dân tộc vẫn xa vời?

Cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt gần nửa thế kỷ nay, thế nhưng kêu gọi ‘hòa hợp- hòa giải’ giữa hai phía với ý thức hệ khác nhau đến nay vẫn chưa thể thực hiện. Thanh Trúc ghi nhận ý kiến bình luận của nhiều nhà quan sát.

Thanh Trúc
2021-04-27

Vì sao con đường hòa hợp- hòa giải dân tộc vẫn xa vời?

Hình minh hoạ. Xe cổ động chào mừng ngày 30/4 trên đường phố TPHCM hôm 28/4/2015

 Reuters

Vì sao con đường hòa hợp- hòa giải dân tộc vẫn xa vời?

“Chuyện xảy ra năm 2016, ông Hữu Thỉnh là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam ở Hà Nội, qua điện thư đã mời tôi về Hà Nội  trong tháng 10/2016 và có buổi gặp gỡ thể hiện sự hòa hợp hòa giải”

“Tôi đã trả lời rằng cho dù tôi có cầm bút nhưng từ trước ’75, cũng như sau ’75 bây giờ ở hải ngoại, tôi chỉ xem mình là một quân nhân. Trong tư cách của người lính thì tôi từ chối vì từ trong lịch sử, trên lý thuyết cũng như trong thực tế, tôi thấy các cá nhân trong tổ chức của Đảng Cộng sản ở Hà Nội không hề có tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc với ai hết. Đó là một Đảng chủ trương: ‘Thề phanh thấy uống máu quân thù, Tiêu diệt quân thù để giải phóng miền Nam…’. Kẻ thù nào trong ngày 30/4/75?”.

Đó là lời ông Phan Nhật Nam, cựu quân nhân quân lực Việt Nam Cộng Hòa, được biết đến như một phóng viên chiến trường  thời chiến tranh Việt Nam. Làm sao hòa hợp hòa giải, ông nói,  khi những vết thương của dân tộc từ sự bội tín của người cộng sản chưa thể khép lại:

Từ Chính Phủ Liên Hiệp 1946, Hiệp Định Genève 1954, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam 1960, đến Hiệp Định Paris 1975 đều bị xé bỏ một cách ngang nhiên. Từ cuộc di cư 1954, vụ Nhân Văn Giai Phẩm 1957, giải phóng miền Nam 1960  đến Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, rồi 1975 là đánh tư sản, lùa dân đi kinh tế mới, phong trào vượt biên gần 600.000 người chết. Suốt mấy chục năm như vậy Đảng Cộng sản không hòa hợp hòa giải với ai hết, cả chính bản thân của họ nữa”

Từ đó tôi kết luận ông Hữu Thỉnh, dù có thực tâm đi chăng nữa, cũng không thể có khả năng tổ chức một cuộc hòa hợp hòa giải với những cá nhân mà ông ta gọi là nhà văn. Nói thật Đảng Cộng sản đặt ra vấn đề hòa hợp hòa giải thì không tin được. Không hề có sự kiện hòa hợp hòa giải dân tộc 46 năm sau”

2015-04-30T120000Z_569950304_GF10000078238_RTRMADP_3_VIETNAM-WAR-ANNIVERSARY.JPG

Hình minh hoạ. Duyệt binh kỷ niệm 40 năm kết thúc cuộc chiến Việt Nam 30/4/1975 ở TPHCM hôm 30/4/2015. Reuters

Câu chuyện nhà văn Phan Nhật Nam được mời về nước hồi 2016 được Facebooker Lưu Trọng Văn nhắc lại  trên tài khoản FB cá nhân, một lần nữa lôi kéo sự chú ý và phản hồi từ nhiều phía. 

Nhà thơ Hoàng Hưng, một trong những người đồng sáng lập Ban Vận Động Thành Lập Văn Đoàn Độc Lập Việt Nam, mà tiếng nói là trang mạng Văn Việt, cho rằng gọi là hòa hợp nếu đừng động tới ý thức hệ hay chính trị là những thứ mà người cộng sản chỉ muốn độc quyền lý luận:

Trong tổ chức chúng tôi cũng có những nhà văn nhà thơ ở Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Đức… Tôi nhiều lần sang Mỹ và tiếp xúc với nhiều nhà văn nhà báo ở hải ngoại. Giữa chúng tôi, kể cả những người từng là sĩ quan, công chức Việt Nam Cộng Hòa, thì tự nhiên là chả khác biệt hoặc e dè gì cả. Như vậy chứng tỏ sự hòa hợp có thể có khi mà hai bên không có định kiến về chính trị, vế ý thức hệ”

“Nói như thế thì lập tức có thể hiểu ngay tại sao ông Hữu Thỉnh đưa ra lời mời ông Phan Nhật Nam. Tôi cho là ông Hữu Thỉnh thật tâm thôi và chưa chắc là có lệnh của ai đâu. Thế nhưng không được ông Phan Nhật Nam chấp nhận thì cũng dễ hiểu thôi. Là vì ông Hữu Thỉnh muốn hay không muốn cũng là người đại diện của ý thức hệ cộng sản, trực tiếp chịu sự lãnh đạo của Ban Tuyên Huấn Đảng Cộng sản. Với một người như ông Phan Nhật Nam và nhiều người khác, từng đi theo ý thức hệ  Việt Nam Cộng Hòa, thì khó lòng mà hòa giải được. Nền tảng hai thể chế, hai chế độ chính trị làm sao hòa giải được với nhau. Không thể có, rất khó có”.

Quả thực là khó nếu người ta, đúng ra là người cộng sản, cố ý mù mờ, lập lờ về cụm từ hòa hợp hòa giải, là phân tích của nhà quan sát chính trị Nguyễn Gia Kiểng, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên ở Paris, Pháp:

Hòa hợp dân tộc và hòa giải dân tộc là hai khái niệm khác nhau. Hòa hợp đồng nghĩa với đoàn kết, còn hòa giải là xóa bỏ hận thù. Vậy thì hòa giải phải đi trước hòa hợp. Muốn có hòa hợp dân tộc thì phải hòa giải dân tộc trước, người cộng sản dùng chữ hòa hợp hòa giải là sai”

“Nói hòa hợp mà không cần hòa giải, hoặc là hòa hợp trước rồi mới hòa giải thì cũng không khác gì nói tôi gọi anh là ngụy, tôi đã bỏ tù anh, tôi đã nắm độc quyền đất nước, bây giờ anh cứ chấp nhận, cứ hòa hợp với tôi đi rồi chuyện hòa giải chúng ta nói sau. Như vậy có nghĩa hòa hợp mà chưa hòa giải, nó đồng nghĩa với đầu hàng! Phải nói cho rõ là “hòa giải và hòa hợp dân tộc”, chứ nếu mà cứ lẫn lộn danh từ thì không thể nào thảo luận một cách đứng đắn được”.

Hòa hợp hòa giải chỉ có thể xảy ra khi Nhà nước Cộng sản này thay đổi cái tư duy tranh đấu giai cấp và cả lập trường ‘đich, ta’ là khẳng định của tiến sĩ Mạc Văn Trang, người vừa có hai bài viết kêu gọi lương tri lãnh đạo trên mạng:

“Nhưng mà điều này rất khó khăn, bởi vì bản chất Đảng Cộng sản bao giờ cũng phải lập trường ‘địch-ta’ rõ ràng. Đã là địch, ta tức là đấu tranh một mất một còn”

Muốn hòa hợp dân tộc thì trước hết phải hòa giải với dân oan mất đất mất nhà. Người ta khiếu kiện mà không hòa giải, mà cứ cưỡng chế xong rồi còn bắt người ta đi tù, gọi người ta là thế lực thù địch. Những người bất đồng chính kiến, chỉ phản biện và đấu tranh ôn hòa thôi, cũng vu cho người ta tội tuyên truyền chống phá Nhà Nước, bắt đi tù thậm chí 10, 15 năm trong chế độ nhà tù hết sức ác nghiệt”

“Nếu một chế độ mà chấp nhận đa nguyên, chấp nhận khác biệt ý kiến, dân ở trong nước được nhân quyền, được tôn trọng, được bình đẳng thì tự nhiên nó sẽ hòa giải được cái xã hội ngay ở trong nước. Nếu chế độ không thay đổi thì bao nhiêu chủ trương chính sách cũng không thể nào thuyết phục, không thể nào giải quyết được vấn đề hòa hợp hòa giải dân tộc đâu”.

Nhức nhối là câu hỏi tại sao chưa thể hòa hợp- hòa giải mà rất, rất nhiều người có  tâm huyết đặt ra suốt 46 năm qua. Ông Kha Lương Ngãi, nguyên Phó tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng thuộc Đảng bộ Cộng sản TPHCM, trao đổi qua điện thư như vậy:

Hòa giải hòa hợp dân tộc chỉ đạt được khi ‘bên thắng cuộc’ không thể chỉ là bên có quyền ban phát  sự hòa giải”

“Không phải không nhắc đến, gạt bỏ quá khứ chiến tranh, thù hận ra khỏi suy tư là sẽ đạt được hòa giải hòa hợp dân tộc. Nhà cầm quyền phải có chủ trương, đường lối lãnh đạo đất nước theo xu hướng tiến bộ, dân chủ văn minh thì mới đoàn kết được toàn dân để  bảo vệ  chủ quyền quốc gia , dân tộc, bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân”

“Tôi buồn là vì tôi thấy rõ những tiêu chí để đạt được hòa giải hòa hợp dân tộc, để ngày 30/4 không còn là ngày “ triệu người vui, triệu người buồn”, thì đến bây giờ điều đó cũng vẫn chỉ là ước vọng viển vông”.

Nhà quan sát thời cuộc Nguyễn Gia Kiểng, từng bị chống đối khi lên tiếng kêu gọi về hòa giải trong ngoài trước khi muốn hòa hợp, cho rằng dù khó tới đâu thì hòa giải vẫn là điều bắt buộc:

Một dân tộc sau khi đã giết nhau trong một cuộc nội chiến thì chỉ có hai giải pháp: hòa giải để đoàn kết dân tộc, để có thể nhìn lại nhau là anh em là bạn bè. Sức mạnh của một dân tộc bao giờ cũng là sự đoàn kết, đất nước Việt Nam sẽ không có tương lai nếu không có đoàn kết”

“Nếu người này làm người kia phá, người này thống trị người kia bị trị thì chúng ta sẽ không có tương lai nào trong thế giới hiện nay. Quốc gia phải được coi là một tình cảm, một không gian liên đới và một dự án tương lai chung. Không hiểu ý niệm quốc gia như thế thì chúng ta sẽ tan vỡ. Khó khăn tới đâu chúng ta vẫn phải tiếp tục vì đó là câu hỏi Việt Nam còn hay mất”.

Còn theo nhà thơ Hoàng Hưng thuộc Văn Đoàn Độc Lập, tổ chức nằm ngoài Hội Nhà Văn Việt Nam ở Hà Nội, muốn hòa hợp hòa giải thì người chủ động và trách nhiệm lớn nhất trước hết vẫn là ‘bên thắng cuộc.’

Nhà Nước và Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay phải chủ động, nhà thơ Hoàng Hưng nhắc lại, đừng “ta thắng – đich thua”, đừng phô trương rùm beng này nọ những dịp  30 tháng tư hàng năm, thì may ra có thể khiến người dân tin vào  thiện chí hòa giải thực sự của mình. 

YouTube player

30/04: VNCH để lại nhiều di sản quý cho ngày nay và tương lai

 

 

30/04: VNCH để lại nhiều di sản quý cho ngày nay và tương lai

Dù không giữ được miền Nam thân yêu, nhưng chúng ta, những người miền Nam đã để lại di sản VNCH đáng kể cho cả đất nước và dân tộc hôm nay và tương lai.

***

30/04: VNCH để lại nhiều di sản quý cho ngày nay và tương lai

Vũ Thăng Long,

Trước tiên, di sản lớn nhất của VNCH đã để lại cho thế hệ sau 1975 phải nói đến là nền âm nhạc phong phú, đa dạng và chan chứa tình tự dân tộc và văn hóa dân gian.

Bất chấp chủ trương diệt tận gốc, triệt tgận ngọn của nhà cầm quyền VC sau tháng 4/1975, nét văn hóa bất diệt này vẫn tồn tại ở miền Nam và sau đó lan dần ra miền Bắc.

Ban đầu chỉ có một số nhỏ bài hát được phép trình diễn chính thức, nhưng danh sách này lớn dần và đến nay thì hình như không còn lệnh cấm giới hạn nữa. Phong trào nhạc Bolero, hay còn được gọi là “nhạc vàng” tràn ngập bây giờ là ví dụ hùng hồn nhất.

Nhưng trong giới hạn của bài này, chúng tôi chỉ muốn đề cập đến các di sản chính khác về giáo dục, kinh tế, chính trị hành chính và xã hội.

Tự hào tuổi trẻ và nền giáo dục Miền Nam

Đọc xong vài quyển sách gợi chuyện cũ, tưởng như đã được rũ sạch nỗi ấm ức cái “hội chứng Việt Nam” (Vietnam syndrome) từ lâu về một đất nước phú cường văn minh như Nam Hàn phải có trong giấc mơ cho xứ mình.

Thật sự từ trên 40 năm nay, sau khi du học ở tuổi 18 rồi ra trường, sống và đi làm nhiều nơi, tôi vẫn chưa tỉnh hay thoát ra khỏi “NÓ”. Tôi chưa giải tỏa được nỗi ấm ức của “giấc mơ xưa” ở tuổi thanh xuân. Tôi từng có những giấc mơ đội đá vá trời và lòng tự tin nhưng suốt đời vẫn chưa tìm thấy chốn “dung thân” để phục vụ lý tưởng tuổi trẻ.

Đã từng về làm việc ở Sài Gòn từ đầu thập niên 2000 cho đến 2014, tôi thấy hàng ngày sự phồn thịnh hơn của xã hội về vật chất so với những ngày tuổi trẻ miền Nam của tôi, nhưng tôi vẫn tò mò tìm hiểu nơi đám người tuổi trẻ hiện nay, xem họ có chia sẻ cái “phần hồn ngày xưa” của đám anh em chúng tôi đã lớn lên trong cùng thành phố này.

Chúng tôi lớn lên trong khung cảnh của một đất nước loạn ly, nhưng may mắn còn được hấp thụ một nền giáo dục, tuy mang tiếng “từ chương” lý thuyết nhưng vẫn có một giá trị tối thiểu nào đó được chứng minh sau này khi đàn chim non miền Nam chúng tôi tốt nghiệp trung học, bay ra khắp các chân trời thế giới đã ghi lại nhiều thành tích trong các trường đại học Âu Mỹ.

Chúng tôi còn may mắn lớn lên trong một nền lễ giáo cổ truyền Việt Nam còn sót lại, tôn trọng các giá trị gia đình cao đẹp từ ngàn xưa, những tin yêu vào tình đời tình người vẫn còn mạnh mẽ. Nhất là thời kỳ “vàng son” 1955-63 của nền Đệ nhất Cộng hòa trong thanh bình thịnh vượng của một VNCH dân chủ tương đối.

Đáng nói nhất là đám thiếu niên tuổi 15-16 thuở chúng tôi đã manh nha một lòng yêu nước mãnh liệt, muốn góp tay xây dựng một đất nước phú cường bằng sự chăm chỉ học hành trau dồi kiến thức, mơ tưởng đến một nền kinh tế hùng mạnh, một xã hội ấm no công bằng.

Chúng tôi chỉ có ý nghĩ đơn giản như đại đa số thanh thiếu niên trong các nước Á châu khác lúc ấy, là sẽ cố gắng học hành hay làm việc để xây dựng đất nước bằng một nền kinh tế vững chắc. Đó là lưu dấu kỷ niệm đậm đà nhất của tuổi thanh niên mới lớn ở miền Nam.

Sau này, khi có dịp về sống ở Sài Gòn rồi ngồi trầm ngâm hàng giờ bên ly cà phê ở quán Continental, tôi ngỡ ngàng xem từng đoàn xe máy phóng như đua chung quanh Nhà hát Thành phố -Trụ sở Hạ nghị viện VNCH trước 1975 – của những người trẻ tuổi bây giờ.

Họ la hét ầm ĩ, có vài cô mặc thiếu vải nhún nhảy tự nhiên trên băng sau của những chiếc xe máy Honda đắt tiền kiểu mới nhất, ăn mừng trận bóng tròn vừa thắng Thái Lan hay Malaysia. Họ hét to “Việt Nam vô địch” như thể hiện ý chí chiến thắng đó giống các nhóm khán giả đông đảo thường la to mỗi lần có mặt trên những sân vận động.

Nhóm đua xe đông quá và dường như tạo thành sức sống mãnh liệt cho cái thành phố quá tải của đất nước được mệnh danh là “non trẻ” này, khi các nhóm trẻ từ 20 đến 40 tuổi được ước tính chiếm 40% dân số, vẫn là một ẩn số lớn về xã hội và chính trị.

Những người trẻ bay lượn trong phố đêm trên những “mô tô bay” như biểu hiện của tự do, của văn minh còn được tìm thấy cho tuổi trẻ của mình trong đất nước đó. Tôi chợt hiểu tại sao họ thường “đi bão, xuống đường” tràn ngập với những rừng cờ đỏ, băng rôn hay tô son vẽ mặt đậm màu quốc kỳ để chào mừng một trận vừa thắng “kẻ địch”.

Bên trên những chiếc xe máy tốc độ giúp cái hừng khí ngắn ngủi chợt tìm thấy, lòng yêu nước được dịp tỏ rõ qua những sự kiện thể thao. Đam mê còn lại đó cùng những ly bia đầy giúp họ xóa đi cái vô cảm hàng ngày với những vấn đề lớn hơn của xã hội, và bớt đi cái mặc cảm thiếu trách nhiệm với một đất nước tụt hậu thua kém láng giềng. Họ có vẻ ít nghĩ xa như vậy.

Những người lớn tuổi xưa cũ của thành phố này thường tỏ lộ u hoài, nói với tôi là họ nhớ lại các thế hệ cùng tuổi như chúng tôi dạo 1960-1970. Ngay chính Chủ tịch Quốc hội đương nhiệm, Nguyễn Thị Kim Ngân, vốn gốc tỉnh Bến Tre thời VNCH, cũng phải tâm sự lên tiếng khen nền giáo dục cũ của miền Nam.

Những ý nghĩ vụn này đã tạo dịp cho tôi được sống lại những tự hào của một thời tuổi trẻ trong thành phố Sài Gòn, được hưởng nền giáo dục VNCH, với lý tưởng mộng mị cho một Việt Nam hùng mạnh tương lai.

Ra đi du học mong trau dồi kiến thức với tâm huyết hừng hực của một thanh niên tuổi 20, và sau này lúc ra đời làm việc ở nhiều nơi trên thế giới, vẫn mang trái tim phục vụ tuổi 30 dù mái tóc đã điểm sương. Và cùng với người Sài gòn bấy giờ, tôi vẫn thấy bừng lên sức sống với giấc mơ xưa: Biết đâu sẽ có một ngày?

********

Di sản Cộng Hòa cho Việt Nam nay là gì?

  1. VNCH và thành công kinh tế thị trường

Dù chưa được quen thuộc nhiều với các định chế kinh tế và tài chính quốc tế hay các nền kinh tế tư bản lớn, VNCH đã sớm biết theo các qui luật của nền kinh tế thị trường và nhất là nhấn mạnh vai trò khu vực tư nhân.

Điều này tương phản hoàn toàn với nền kinh tế VN bây giờ, sau 46 năm thống nhất, vẫn loay hoay với lý thuyết “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” mà không ai chứng minh được định hướng XHCN là như thế nào?

Các thay đổi lớn sau hơn ba thập niên Đổi Mới từ những năm 1986-1989 đã giúp VN có một bộ mặt tương đối phồn thịnh ở các thành thị, nhưng đi dần vào bế tắc nếu không có các cải cách thể chế song hành với cải cách kinh tế ở giai đoạn tới. So sánh thời kỳ 21 năm dưới VNCH với thời gian ít hơn một nửa so với 46 năm của nước VN thống nhất, hai di sản kinh tế nổi bật của VNCH là:

  1. Cách mạng Xanh

Đặc biệt là chính sách “Cải Cách Điền Địa” dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa được tiếp nối bởi “Người Cày Có Ruộng” dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, nhằm lấy lại các mảnh ruộng bao la nằm tập trung trong tay một số nhỏ đại điền chủ từ thời Pháp thuộc, phát đất rộng rãi cho các tầng lớp nông dân và khuyến khích tự do trồng trọt, nhất là lúa gạo, để miền Nam tự cường.

Ngoài ra, và quan trọng nhất, là những năm về sau Chính phủ VNCH đã cho áp dụng một chính sách qui mô cho gieo hạt lúa mới “Thần Nông” trên toàn vùng đồng bằng Cửu Long, làm tăng gia đột biến năng suất trồng lúa và mức sản xuất gạo của đất nước, đưa đến cả khả năng xuất cảng gạo bắt đầu vào năm 1974. Đây là thành tích kinh tế đáng kể của VNCH khi cuộc chiến tương tàn cũng đi vào giai đoạn ác liệt nhất.

Nước VN thống nhất sau tháng 4/1975 mới chỉ nhận ra tầm quan trọng của chính sách sản xuất lúa gạo tự do với Đổi Mới từ năm 1986 khi đến bờ vực của nạn đói, lúc không sản xuất đủ gạo ăn và dân chúng bắt đầu phải trộn cơm với bo bo từ những năm 1977-1980.

Từ khi đám lãnh đạo Bắc bộ phủ ở Hà Nội thay đổi chính sách bằng “ngòi bút” từ nghị quyết năm 1986 cho phép dùng giá cả và sản xuất tự do, di chuyển gạo từ vùng thừa sang vùng thiếu, đã làm lại cuộc “cách mạng xanh” nói trên của VNCH, khởi đầu toàn chiến lược đổi mới nông nghiệp và tiếp đó “lột xác” toàn nền kinh tế trong ba thập niên theo sau.

Điều đáng lưu ý là cuộc cách mạng này đã được thừa hưởng từ di sản có sẵn của chính sách tự do trồng trọt ở đồng bằng Cửu Long, diện tích trồng trọt đã được nhân rộng ở miền Nam, và nhất là kiến thức nông gia trong việc canh tác lúa “Thần Nông” đã có sẵn. Đáng kể hơn là việc có thể đem kỹ thuật và giống lúa này ra đồng bằng sông Hồng ngoài Bắc, khiến mức sản xuất lúa gạo của toàn cõi tăng kỷ lục, và không ngạc nhiên khi chỉ chục năm sau VN đang từ thiếu gạo ăn trong nước, trở thành xứ xuất cảng gạo hạng ba thế giới sau Thái Lan và Ấn Độ.

Khai thác dầu khí

VNCH đã tìm ra vài “túi dầu” đầu tiên vào các năm 1973-74 ở thềm duyên hải Vũng Tàu, chỉ tiếc là chưa kịp thì giờ và vốn đầu tư khai thác để tìm ra dung lượng lớn đáng kể đủ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, tình trạng thiếu an ninh do cuộc chiến tiếp diễn hàng ngày đã là yếu tố quyết định khiến các nhà đầu tư ngần ngại.

Nhiều quan sát viên quốc tế và nhà bình luận chính trị sau này đã tiếc cho VNCH là chưa đủ thời gian để khai thác các mỏ dầu và khí ngoài khơi khổng lồ, nhất là đủ để hấp dẫn các hãng dầu Hoa Kỳ.

Nếu có, và nếu các hãng này ký kết khai thác với chính phủ miền Nam dạo đó, chưa chắc gì có cảnh Henry Kissinger ký kết bán đứng VNCH vào năm 1972, sửa soạn cho hiệp định ngừng bắn Paris 1973 và ngày nhân dân miền Nam phải bỏ cuộc tháng 4/75.

Sau 1975, nước VN thống nhất thừa hưởng trọn vẹn và dầu khí từ miền Nam trở thành tài nguyên chủ lực của nền kinh tế VN lúc bấy giờ. Ngoài việc đem lại số xuất cảng đáng kể hàng năm và nguồn lực phát triển. Đáng tiếc là một phần lớn tài nguyên đó cũng bị mất mát do tham nhũng và đầu tư phung phí như các tài liệu điều tra mới đây về đầu tư ở Venezuela chỉ ra.

Không cần nhìn đâu xa phức tạp hơn, phải chăng một phần di sản của VNCH là đây?

*********

  1. Nền dân chủ của VNCH

Nền dân chủ phôi thai của Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963) trong khung cảnh mới dành lại độc lập và nền dân chủ được củng cố thêm của Đệ Nhị Cộng Hoà (1967-1975) tuy khiêm nhượng và tương đối, do bị đe dọa hàng ngày bởi cuộc chiến, vẫn cho phép nhân dân miền Nam sống hạnh phúc trong khuôn khổ nhân quyền được tôn trọng theo hiến chương Liên Hiệp Quốc và các quyền tự do căn bản nhất như bầu cử, ngôn luận, hội họp, biểu tình v.v…vẫn được thực thi.

Chủ trương pháp trị, hay thượng tôn pháp luật (rule of law) của cả hai nền Cộng hòa với bầu cử Quốc hội và Tổng Thống tương đối tự do; nền hành chánh trung ương và địa phương được điều khiển bởi các chuyên viên kỹ trị được đào tạo bài bản trong các trường chuyên môn (thí dụ nổi bật là trường Quốc gia Hành chánh của miền Nam). Ở mỗi tỉnh, người tỉnh trưởng là nhân vật chính trị hay quân sự do Chính phủ trung ương bổ nhiệm, nhưng Phó Tỉnh trường thường là những chuyên viên kỹ trị xuất thân từ các trường đào tạo chuyên môn.

Trái lại, Việt Nam thống nhất bây giờ mới chỉ cổ võ cho bầu cử tự do nhưng chưa bao giờ được thực hiện trong thực tế qua các cuộc ứng cử và bầu cử các Hội đồng Nhân dân và Đại biểu Cuốc hội.

Tương tự, Việt Nam bây giờ mới bắt đầu học hỏi kinh nghiệm về cải cách hành chánh như dưới thời VNCH và cử chuyên viên kỹ trị ở cấp trung ương và địa phương.

Cuốc hội Việt Nam bây giờ mới sửa soạn các dự thảo luật đề nghị bổ sung thẩm quyền của Thủ tướng trong việc áp dụng những mô hình mới về tổ chức bộ máy từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc chính phủ trung ương, và chính quyền địa phương cấp Tỉnh và cấp Huyện.

Theo đó, Thủ tướng cũng có thêm quyền thành lập, sát nhập, hay giải thể các cơ quan, tổ chức hành chính khác thuộc cấp Tỉnh và cấp Huyện.

*******

  1. Các tổ chức Xã hội Dân sự

Các tổ chức này dưới thời VNCH được tự do thành lập và hoạt động với qui chế tự trị về cả hành chính và tài chính. Ví dụ như Tổng liên đoàn Lao công hay các Tổ chức chính trị, xã hội và Hiệp hội.

Còn hiện nay, Nhà nước tìm mọi cách để trì hoãn không trình ra Quốc hội hai Dự luật Lập Hội và Biểu tình, mặc dù hai quyền này của dân đã quy định trong Hiến pháp 2013.

Người dân cũng không được quyền ra báo, như đã quy định trong “quyền tự do ngôn luận” ở Điều 25 Hiến pháp 2013 viết:

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

Như nói ở trên, những dòng viết ngắn của tôi nhân dịp 46 năm từ biến động lịch sử 30/04/75 không phải là để thêm nước mắt cho một đau buồn còn ghi đậm dấu trong tâm hồn tôi, một con dân Việt Nam Cộng hòa cũ.

Với thời gian hơn 50 năm từ tuổi thiếu niên rời trường, ra nước ngoài du học, rồi bôn ba theo vận nước nổi trôi làm việc bên ngoài, tôi lại tìm cách “chim quay về tổ” trong 12 năm để lò mò xem xứ mình nó ra sao. Nhưng cuối cùng, sau những trải nghiệm với thực tế và con người “mới XHCN”, tôi lại phải ra đi tìm về một nơi qui ẩn để nghĩ lại đời mình và quê hương cũ một cách bình tĩnh hơn.

Tôi tự cho mình trên nguyên tắc là người thuộc “Bên Thua Cuộc” với hai cơ hội bỏ lỡ từ thời 1963 của Đệ nhất Cộng hòa và 1975 của thời Đệ nhị Cộng hòa. Nhưng không phải hoàn toàn do lỗi chúng ta, mà quan trọng hơn là do sự thao túng & phản bội của nước bạn “đồng minh” Hoa Kỳ không giữ lời cam kết ngăn chặn cuộc tấn công miền Nam của lực lượng cộng sản.

Lời hứa bằng giấy trắng mực đen của Tổng thống đảng Cộng hòa Richard Nixon lúc bấy giờ đã hứa bằng văn thư với Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, sau khi ông Thiệu bằng lòng ký Hiệp định Paris 1973. Do đó mà chúng ta đành chấp nhận kiếp tha hương hiện tại do số mệnh đi từ vận nước kéo dài suốt từ hơn 70 năm nay.

Dù không giữ được miền Nam thân yêu, nhưng chúng ta, những người miền Nam đã để lại di sản VNCH đáng kể cho cả đất nước và dân tộc hôm nay và tương lai.

Các kênh truyền thông và các cuộc tiếp xúc của tôi với người trong nước đều cho thấy đại đa số đồng bào ta đều hướng về di sản đó với lòng thán phục và thiện cảm, cũng như lòng ngưỡng mộ của họ với các nền dân chủ tiến bộ phương Tây.

Một cách công bằng, chúng ta cũng phải nhìn nhận về “legacy” của “Bên Thắng Cuộc” (như tựa đề cuốn sách của Huy Đức), nói đúng ra là huyền thoại “chiến thắng” của họ năm 1975 nhờ vào sự mệt mỏi bỏ cuộc của Mỹ do áp lực chính trị ngay từ trong lòng Washington, D.C. và tham vọng chính trị cá nhân của Henry Kissinger muốn bỏ rơi VNCH như “món quà chuộc” lấy lòng Trung hoa, mở ra chiến thắng chính trị và thương mại cho nước Mỹ với thị trường rộng lớn 1,3 tỷ dân Trung Hoa.

Phần khác, họ đạt được chiến thắng quân sự sau cùng nhờ sự yểm trợ tích cực bền bỉ của Liên Xô và Trung Quốc. Họ đã nắm được quyền hành chính trị, xét cho cùng thì cũng là một “legacy” thôi và nếu họ biết “góp vốn” bằng cái đó vào việc xây dựng một Việt Nam tương lai dân chủ và văn minh trong tình hòa giải dân tộc cả trong và ngoài nước, thì sẽ là công lao lớn cho dân tộc và đất nước.

Đã trải qua thời VNCH, cuộc sống ở hải ngoại và có dịp về Việt Nam ngày nay thường xuyên, tôi tin vào lẽ tuần hoàn của Trời Đất sẽ phải áp dụng cho quê hương cũ: “Cùng tắc biến, biến tắc thông…”

Nhiều người lãnh đạo cũ của VNCH ở tuổi 35-50 lúc ra đi năm 1975 đa số đã nằm xuống. Nhóm lãnh đạo 60-80 tuổi của VN bây giờ cũng phải ra đi vì quy luật thời gian trong 5-10 năm nữa.

Các tang lễ liên tiếp của thế hệ lãnh đạo cộng sản ‘kháng chiến’ gần đây và sắp tới cho thấy họ đang trở thành quá khứ, và không phải một mà hai ba thế hệ khác trẻ hơn đang trưởng thành, chỉ chưa có quyền được làm chủ quốc gia.

Đất nước không thể “tắc” mãi như thế này, và sắp đến lúc phải có chữ “THÔNG” mà thôi. Nhất là các thế hệ trẻ 25-55, lớp người quyết định vận mệnh của đất nước Việt Nam trong 5-10 năm nữa, sẽ nối tiếp bó đuốc lãnh đạo và, cùng với thế hệ trẻ gốc Việt lớn lên ở hải ngoại quay về, họ sẽ có thể hướng đất nước về một hướng tốt đẹp hơn nhiều.

Và tôi tin rằng họ sẽ để lại tên tuổi trong lịch sử một Việt Nam dân chủ, phồn thịnh, hùng cường trong vùng Đông Nam Á, Á châu và cả thế giơi….

HÌNH:

– Người Sài Gòn – ảnh chụp năm 1962 của Michael Ochs .

– Giới trẻ VN đang hướng về tương lai .

– Nồng nhiệt đón người Mỹ trở lại Sài Gòn: Vợ của diễn viên Hollywood, bà Pamela Hasselhoff bắt tay các cô gái Việt Nam trong lễ đón chiếc phi cơ của United Airlines, Boeing 747-400 trong chuyến bay thương mại đầu tiên của một hãng hàng không Hoa Kỳ trở lại Tân Sơn Nhất tháng 12/2004.

– Một ngôi chùa của người Hoa trong Chợ Lớn.

– Sinh viên biểu tình chống chính phủ Nguyễn Khánh, tháng 8/1964 ở Sài Gòn.

 HẦU HẾT GIỚI GIÀU CÓ TẠI VIỆT NAM ĐỀU LÀ TRỌC PHÚ.

 HẦU HẾT GIỚI GIÀU CÓ TẠI VIỆT NAM ĐỀU LÀ TRỌC PHÚ.

Vụ việc Nguyễn Thị Thanh Tuyền ( Nguyễn Phương Hằng) đăng đàn vạch trần lang băm Võ Hoàng Yên, sau đó tiện tay chửi luôn Trang Khàn và “đám” nghệ sĩ trong nước cũng mua vui cho dân mạng hóng chuyện thị phi được một vài trống canh. Nhưng qua những vụ kiện cáo của Huỳnh Uy Dũng với chính quyền Bình Dương trước đây và cũng như vụ phơi bày tình tiền, lừa đảo này ta nhận thấy hầu hết tầng lớp giàu có tại Việt Nam đều đi lên bằng thủ đoạn chứ không phải bằng học vấn để làm giàu chân chính.

Phạm Nhật Vượng thì dính đến chuyện làm ăn mờ ám tại Ukraine, Đoàn Nguyên Đức là chuyên gia phá rừng, Bầu Kiên là trùm lừa đảo ngành ngân hàng, băng nhóm Trần Bắc Hà , Trầm Bê và tay chân của Nguyễn Tấn Dũng đều là những dạng hung thần tác quái dưới quyền uy của Bố già.

Huỳnh Uy Dũng cũng chẳng hơn gì,đi lên nhờ tiếp quản công ty sơn mài Thành Lễ, một doanh nghiệp của nền tư sản dân chủ miền Nam để lại,sau đó chuyển sang làm lò vôi và có tàu biển buôn lậu Dũng cũng tích được một số vốn kha khá. Và tiếp tục là mua đất giá rẻ trong những dự án Khu công nghiệp Sóng Thần 1 và Khu công nghiệp Sóng Thần 3 rồi chuyển nhượng lại với giá cao đã khiến tiền chảy vào túi Dũng như nước Sông Đà. Tiếp đó là trò kinh doanh “buôn thần bán thánh” khi dồn tiền và được đất của nhà nước cho rẻ như bèo nên mở Khu Du lịch Lạc Cảnh Đại Nam để kinh doanh lĩnh vực Du lịch tâm linh Huỳnh Uy Dũng trở thành một trong những đại gia giàu nhất Việt Nam.

Sự đời “giàu đổi vợ ,sang đổi bạn” nên Huỳnh Uy Dũng chia tay vợ đầu tìm kiếm gái trẻ ,đẹp hơn là chuyện thường. Nguyễn Thị Thanh Tuyền cũng chia tay chồng cũ để rồi chồng cũ Thanh Tuyền tố đại da Huỳnh Uy Dũng trên mặt báo cũng ì xèo một thời.

Vậy nên hiện tại khi đối đáp với Trang Khàn, Nguyễn Phương Hằng khoe cà rá mấy chục cara, trên người mang nữ trang hàng chục triệu để chứng tỏ bản lĩnh kinh doanh của mình chỉ là nói dóc. Đó chẳng qua chỉ là những thương vụ đổi chác “tình tiền” mà thôi.

Nếu cơ chế đất đai của chế độ CSVN giống như ở Mỹ thì Huỳnh Uy Dũng không thể giàu lên nhanh chóng như thế và Nguyễn Phương Hằng không cần chia tay chồng cũ để cặp đại gia và được cử vào chức phó giám đốc Khu Lạc Cảnh Đại Nam để hốt bạc. Trong một nền kinh tế dưới các chế độ độc tài thì mánh khóe làm giàu chỉ là cậy nhờ quen biết với giới quyền lực để thi hành các dự án mờ ám mà không có thứ luật pháp nào có thể can thiệp ngoài luật rừng.

Và chuyện um sùm với Võ Hoàng Yên cũng là chuyện tình tiền mờ ám qua những đoạn ghi âm.Thời buổi này mà đưa chuyện bùa ngãi ra để biện minh là phản khoa học. Dũng Hằng là những tay mafia cùng với chính quyền lừa dân chiếm đất xây dựng cơ đồ. Sau đó cả hai thấy tiền bá tánh đổ về như nước nên quyết định dùng một phần làm từ thiện để ngăn ngừa tình trạng dân đói đi làm cách mạng và cũng để “tích đức” cho con trai. Đại bịp Võ Hoàng Yên thấy ngon ăn nhảy vào lợi dụng đòn “nắn bóp” và khả năng tình dục để chuyển tiền “từ thiện” của Dũng Hằng cho người tình là Tuyền mang sang Úc gởi.

Nói chung đó cũng chỉ là tiền của dân Việt. Các chú cừu bị vặt lông mà không đứng dậy nên các chủ chăn thỏa sức sắm hột xoàn đem lên mạng khoe mẽ và chứng tỏ bản lĩnh chăn cừu của mình. Cừu thấy tài sản, biệt thự,siêu xe, nữ trang của chủ chăn thì đem lòng ngưỡng mộ mong một ngày cũng có thể giàu có như thế.

Nhưng vụ việc cũng phơi bày văn hóa của bầy trọc phú khi ngôn ngữ “dân gian” như “đéo, con đĩ…” được tuôn xối xả từ mồm của những mệnh phụ đeo đầy kim cương.Một số tay youtube ở ngoài nước đánh hơi cơ hội tăng view,tăng like cũng nhảy vào “giây máu ăn phần”.

Nói chung cũng chỉ là màn khoe mẽ. Trong xã hội có luật pháp thì chỉ cần gởi đơn kiện ra tòa và cung cấp bằng chứng là mọi chuyện trắng đen sẽ được phân giải. Một là hòa giải ngoài tòa, hai là phán quyết của bồi thẩm đoàn.

Chỉ ở Việt Nam mới có chuyện tòa án bằng mồm mở trên mạng và 2 bên ra sức cung cấp bằng chứng, sau đó khán giả nhào vào ăn ké để rồi bị nạn nhân chửi luôn.Chính quyền thì cũng ra những cái án phạt 7,5 triệu nhẹ hều cho có bộ, để rồi lợi dụng trò mèo để dân tình quên đi những án oan bất công và khuyến khích tham vọng làm giàu bất chính của dân đen để rồi quên mất là phải đứng lên để dẹp bọn trọc phú này nhằm tạo ra một tầng lớp tư sản trí thức thực thụ.

46 năm sau, ‘ta’ vẫn chưa thể tử tế bằng… ‘ngụy’!

May be an image of 6 people, including Hangnga Lê and people standing

46 năm sau, ‘ta’ vẫn chưa thể tử tế bằng… ‘ngụy’!

Trân Văn

Bà Thiều Thị Tân, một trong những cựu tù nhân nổi tiếng thời Việt Nam Cộng hòa (VNCH) và là một trong những tấm gương của… chủ nghĩa anh hùng cách mạng (1) thành ra chẳng xa lạ gì với dân chúng Việt Nam, vừa liên lạc với ông Mạc Văn Trang (từng làm việc tại Viện Khoa học Giáo dục thuộc Bộ GDĐT Việt Nam khoảng 30 năm) đề nghị ông ghi lại và giới thiệu về giai đoạn bà bị giam ở Bệnh viện Tâm trí mà thiên hạ quen gọi là Nhà thương điên Biên Hòa năm 1972…

Bà Tân và chị gái (Thiều Thị Tạo) nổi tiếng cả ở trong lẫn ngoài Việt Nam từ thuở còn là thiếu nữ. Gia đình tuy nghèo nhưng học giỏi nên hai chị em bà học trường Tây từ bé đến lớn. Cả hai tự tìm – theo Việt Cộng, trở thành thành viên Biệt động Sài Gòn. Lúc đó, bà Tạo mới 16 tuổi đã được cử làm Đội trưởng Đội Binh vận, bà Tân chỉ 13 tuổi đã được cử làm Đội phó (2). Hai năm sau (1968), họ bị bắt vì mang chất nổ vào phá hoại Tổng nha Cảnh sát Quốc gia (giống như trụ sở Bộ Công an hiện nay)…

Cả hai bị Tòa án Quân sự Mặt trận của VNCH kết án và bị đưa ra giam giữ tại Trung tâm Cải huấn Côn Sơn (Côn Đảo). Việc giam giữ hai thiếu nữ đã khiến chính quyền VNCH bị báo chí cả trong lẫn ngoài chỉ trích trích kịch liệt… Chính quyền VNCH thừa nhận sự khắc nghiệt của môi trường lao tù khiến bà Tân, bà Tạo suy kiệt cả về thể xác lẫn tinh thần nên năm 1972, chuyển họ từ Trung tâm Cải huấn Côn Sơn về Trung tâm Cải huấn Tân Hiệp (Biên Hòa – nay là Đồng Nai)…

Chuyện chưa ngừng ở đó, áp lực từ dư luận khiến chính quyền VNCH phải mở cửa nhà tù cho các phái đoàn quốc tế đến kiểm tra các trung tâm cải huấn. Khuyến cáo của nhiều giới ở trong nước, của các chính phủ, tổ chức quốc tế khiến Bộ ngoại giao VNCH yêu cầu Bộ Nội vụ VNCH phải xem xét lại một số trường hợp, trong đó có trường hợp của bà Tân. Nha Cải huấn thuộc Bộ Nội vụ VNCH phải chuyển bà Tân đến Bệnh viện Tâm trí Biên Hòa…

Bà Tân đã cho ông Trang xem toàn bộ hồ sơ liên quan đến việc chuyển bà vào Bệnh viên Tâm trí Biên Hòa và đưa bà ra khỏi đó. Có rất nhiều công văn, công điện trao qua, đổi lại giữa Bệnh viện Tâm trí – Trung tâm Cải huấn Biên Hòa – Chỉ huy trưởng CSQG tỉnh Biên Hòa – Nha Cải huấn,… Những công văn, công điện ấy cho thấy, nhân viên y tế các cấp của Bệnh viện Tâm trí Biên Hòa không run sợ, không mệt mỏi trong việc sử dụng tư cách thầy thuốc để bảo vệ bà Tân – bệnh nhân của họ.

Theo ông Trang, sở dĩ bà Tân liên lạc với ông, mời ông đến để kể chuyện cho ông nghe, trao hồ sơ cho ông đọc để ông viết Chuyện người tù Việt Cộng trong Bệnh viện Tâm thần VNCH (3) vì bà đọc được Thư gửi các thầy thuốc có lương tri mà ông công bố hồi cuối tháng rồi. Từ những thông tin liên quan đến cách thức đối xử với một số tù nhân chính trị của “ta” như: Lê Anh Hùng, Phạm Thành, Trịnh Bá Phương,… bị cưỡng bức điều trị tâm thần, ông Trang hy vọng các thầy thuốc nhớ và thượng tôn y đức (4).

Đó không phải là hy vọng của riêng ông Trang. Bà Tân cũng vậy. Bà hy vọng như vậy nên mới liên lạc với ông Trang, kể chuyện cho ông nghe, đưa hồ sơ cho ông đọc để ông có thể dùng trường hợp của chính bà như một ví dụ trong nỗ lực thúc giục các bác sĩ, các nhân viên y tế ráng nhớ, ráng ý thức dù ở dưới bất kỳ chế độ nào thì họ hãy cố giữ đúng lời thề Hippocrate, cứu chữa bệnh nhân đúng với lương tri của người thầy thuốc… Ông Trang chỉ kể chuyện, không bình luận dù có biết bao điều lớn lao đáng suy ngẫm…

***

Cả hệ thống chính trị, hệ thống công quyền của “ta” đang hối hả chuẩn bị để cuối tuần này long trọng kỷ niệm 46 năm ngày “đánh cho Mỹ cút, ‘ngụy’ nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước”.

Sắp tròn nửa thế kỷ… toàn thắng nên dư dữ kiện thực tế để chính “ta” có thể so sánh – nhận định những khác biệt giữa “ta” với “ngụy”.

“Ngụy” tự điều chỉnh để hoạt động của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền được xem là văn minh như phần còn lại của nhân loại, không phớt lờ chỉ trích, khuyến cáo của dân chúng, các chính phủ, các tổ chức quốc tế, mở cửa – mời khảo sát hệ thống trại giam, thay đổi biện pháp tư pháp, không lên án những chỉ trích, khuyến cáo là… thù địch – xuyên tạc sự thật (5), hay gián tiếp chê bai những chỉ trích khuyến cáo là… ngu ngốc vì… dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam (6)…

“Ngụy” đã để tất cả các giới, kể cả trẻ con xem, nghe, tiếp nhận mọi thứ bất lợi cho mình, có lợi cho đối phương nên bà Tân, bà Tạo sớm… giác ngộ cách mạng khi còn là thiếu niên.

“Ngụy” cho những dân biểu (như bà Kiều Mộng Thu – giống Đại biểu Quốc hội của “ta”), những luật sư (như Luật sư Tòa Thượng thẩm Nguyễn Long) sự tự tin vào quyền hạn, chức trách, hiệu quả công việc để đòi hệ thống công quyền phải cung cấp thông tin, thay đổi cách hành xử với cả những cá nhân nguy hiểm cho an ninh quốc gia.

Sự tự tin vào quyền hạn, chức trách nghề nghiệp, vị thế mà “ngụy” tạo ra nơi công dân của VNCH cũng là lý do các nhân viên y tế từ trên xuống dưới ở Bệnh viện Tâm trí đồng loạt kháng cự hệ thống cải huấn để bảo vệ bà Tân một cách nhiệt thành. Luật pháp và cách quản trị, điều hành quốc gia của “ngụy” khiến Bộ Nội vụ, CSQG phải xem xét – phúc đáp cẩn thận mọi yêu cầu, tiết lộ cả những thông tin mật để thỏa mãn đòi hỏi của thường dân do họ có quyền của giới khoác blouse trắng.

Bệnh viện Tâm trí hay Dưỡng trí viện của “ngụy” khác rất xa với bệnh viện tâm thần của “ta”.

Thời “ngụy”, nhiều đồng chí của “ta” như bà Huỳnh Thị Ngọc – người mà năm 1972 ném lựu đạn vào đêm lửa trại của thanh niên (Hướng đạo, Gia đình Phật tử, Hội Hồng thập tự), học sinh trung học Quy Nhơn tại sân vận động Quy Nhơn khiến một nữ giáo sư, 10 học sinh mất mạng, hơn 100 học sinh khác bị thương (7) – giả điên để hệ thống tư pháp VNCH phải gửi vào Bệnh viện Tâm trí điều trị rồi trốn thoát (8)…

Thời “ngụy”, Bệnh viện Tâm trí hay Dưỡng trí viện là nơi mà dân chúng, các tổ chức chính trị cả trong lẫn ngoài VNCH, các chính phủ, đòi “ngụy” phải an trí nhiều phạm nhân nguy hiểm cho an ninh quốc gia tại đó vì lý do nhân đạo.

Thời “ta”, dân chúng, các tổ chức chính trị cả trong lẫn ngoài VNCH, các chính phủ không ngừng bày tỏ sự lo ngại, lên án “ta” vô nhân đạo, vi phạm nhân quyền khi biến bệnh viện tâm thần thành nơi đày ải, vô hiệu hóa những cá nhân bất đồng chính kiến.

Bà Ngọc – người theo lệnh của “ta”, vì muốn giết một tỉnh trưởng của “ngụy” mà liệng lựu đạn vào nơi có cả ngàn giáo sư, học sinh, rồi giả điên để né tránh trách nhiệm không chỉ được “ta” khen là… mưu trí dũng cảm mà còn được “ta” phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang. Hồ sơ liên quan đến bệnh án của bà Ngọc vẫn đang trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ (Quận 3, TP.HCM)! Có thể đến đó để tận mục sở thị và kiểm chứng về sự khác biệt giữa “ta” và “ngụy”.

Về ngữ nghĩa, “ngụy” là giả trá, xảo quyệt nhưng nếu không tử tế hoặc ít nhất là nỗ lực hướng đến sự tử tế thì “ngụy” không thể như đã thấy và trước những gì đang diễn ra trên thực tế dưới sự quản trị – điều hành của “ta”, bà Tân chẳng còn cách nào khác, đành phải dùng chính trường hợp của bà để khuyên đội ngũ nhân viên y tế của “ta”đối xử với những cá nhân bị “ta” cáo buộc là… chống phá đúng với lương tri thầy thuốc. Bao nhiêu người tin đội ngũ nhân viên y tế dám hành xử tử tế như lời khuyên của bà Tân?

Thậm chí bao nhiêu người dám đoan chắc một người như bà Tân có thể bình an vô sự sau khi vì muốn thấy sự tử tế mà mở miệng khuyên can. “Ta” có nên giữ mãi sự hãnh diện vì luôn luôn đi ngược hướng với “ngụy”, kể cả tử tế với những khác biệt, kễ cả đối lập, đối kháng như… “ngụy”. Thêm bao nhiêu năm nữa ta mới tử tế như… “ngụy”?

***

– Những người đang bị giam giữ tại Việt Nam; kể cả bị đưa vào bệnh viện tâm thần. Từ phải sang: Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Lê Anh Hùng, Phạm Đoan Trang, Hồ Sỹ Quyết. Photo Tập hợp từ Facebook.

Những trại tù học tập cải tạo sau ngày 30-4-1975

Những trại tù học tập cải tạo sau ngày 30-4-1975

Bởi  AdminTD

Trần Gia Phụng

25-4-2021

Hai mươi ngày trước khi Sài Gòn sụp đổ, nhà văn Nga Alexandre Soljenitsyne, giải Nobel văn học năm 1970, tuyên bố trên đài truyền hình Paris rằng “Việt Nam sẽ trở thành một nhà tù khổng lồ.” (Michel Tauriac, Hồ sơ đen Cộng Sản Việt Nam, Nguyễn Văn dịch, California: Văn Mới 2002, tr. 36.)

Alexandre Soljenitsyne (1918-2008) là nhà văn Nga chống chế độ Liên Xô, viết nhiều kịch và tiểu thuyết, nổi tiếng là Một ngày của Ivan Denisovich (1962), Quần đảo ngục tù (The Gulag Archipelago) (tập 1 và 2 năm 1974, tập 3 năm 1976).

Alexandre Soljenitsyne tiên đoán như trên dựa theo kinh nghiệm bản thân tại quê hương ông là Liên Xô và những diễn tiến tại Đông Âu và Trung Cộng.

Tại Nga năm 1917, sau khi cầm quyền, CS thiết lập chế độ tù cải tạo vào những năm 1918-1921 và hợp thức hóa bằng luật pháp năm 1933. Tại Trung Cộng, chính sách “lao cải” (lao động cải tạo) được chính thức hóa ngày 26-8-1954 và hội đồng chính phủ chấp thuận thủ tục thi hành chính sách lao cải vào tháng 8-1957. (Phạm Hữu Trác, “Tù cải tạo: Trình bày và phân tích dữ kiện”, đăng trong Vàng, Máu và Nước Mắt, Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do: Canada, 2000, tr. 19.)

Sau hiệp định Genève ngày 20-7-1954, đại đa số công chức, quân nhân chính thể Quốc Gia Việt Nam di cư vào Nam Việt Nam (NVN). Chỉ một số ít còn lại ở Bắc Việt Nam (BVN), liền bị chế độ cộng sản (CS) bắt giam, tù đày. Chính sách cải tạo do quốc hội BVN chính thức quy định vào năm 1961 trong nghị quyết 49-NQTVQH và thông tư số 121-CP của hội đồng chính phủ đặt ra các biện pháp thi hành nghị quyết nầy. (Phạm Hữu Trác, bài đã dẫn.)

Năm 1975, trước khi tấn công Sài Gòn, Ban bí thư Trung ương đảng Lao Động từ Hà Nội đưa ra chỉ thị số 218/CT-TW ngày 18-4-1975, quy định chính sách đối với công chức và sĩ quan VNCH bị bắt như sau:

“Đối với sĩ quan, tất cả đều phải tập trung giam giữ quản lý, giáo dục và lao động; sau nầy tùy sự tiến bộ của từng tên sẽ phân loại và sẽ có chính sách giải quyết cụ thể. Những người có chuyên môn kỹ thuật [kể cả lính và sĩ quan] mà ta cần thì có thể dùng vào từng việc trong một thời gian nhất định, nhưng phải cảnh giác và phải quản lý chặt chẽ, sau nầy tùy theo yêu cầu của ta và tùy theo sự tiến bộ của từng người mà có thể tuyển dụng vào làm ở các ngành ngoài quân đội. Đối với những phần tử ác ôn, tình báo, an ninh quân đội, sĩ quan tâm lý, bình định chiêu hồi, đầu sỏ đảng phái phản động trong quân đội, thì bất kể là lính, hạ sĩ quan hay sĩ quan, đều phải tập trung cải tạo dài hạn, giam giữ riêng ở nơi an toà và quản lý chặt chẽ.” (Huy Đức, Bên thắng cuộc, I: Giải phóng, Saigon – Boston – Los Angeles: Osin Book, 2012, Chương 2: “Cải tạo”, mục “Ngụy quân’, tr. 39.)

Sau ngày 30-4-1975, nhà cầm quyền mới ở Nam Việt Nam (NVN) là Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam do đảng Lao Động tức đảng CS điều khiển, bắt giam tất cả những sĩ quan, công chức cao cấp của chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) nhằm các mục đích chính: 1) Triệt hạ vĩnh viễn quân đội và chính thể VNCH. 2) Giam giữ, bạo hành, trả thù, làm cho tù nhân sợ hãi, không dám chống đối chế độ mới. 3) Tiêu diệt tiềm lực VNCH, vì những người bị bắt học tập cải tạo ở độ tuổi trung niên để làm việc, sản xuất hay tranh đấu, có trình độ văn hóa trung bình cao so với trình độ văn hóa chung của toàn dân. 4) Bóc lột sức lao động của tù nhân, đưa đi canh tác những vùng đất bỏ hoang thời chiến tranh. 5) Đe dọa, trấn áp những gia đình có thân nhân bị tù. Nếu gia đình chống đối, thì tù nhân khó được trở về đoàn tụ gia đình. 6) Làm gương cảnh cáo dân chúng NVN, nếu vọng động thì sẽ bị số phận học tập cải tạo dài hạn không xét xử, làm ai cũng khiếp sợ.

Kế hoạch của CSVN nhằm tiêu diệt hoàn toàn quân đội VNCH rất tinh vi, chia thánh hai phần:

1) Thứ nhứt, vào giữa tháng 6-1975, CSVN ra lệnh cho hạ sĩ quan và công chức cấp thấp VNCH học tập tại chỗ các khóa chính trị tử đến 7 hay 10 ngày tùy địa phương.

2) Thứ hai, CSVN ra lệnh sĩ quan VNCH từ cấp thiếu úy trở lên và công chức cao cấp VNCH phải trình diện từ 13-6 đến 16-6-1975 và chuẩn bị lương thực 30 ngày, để học tập chính sách của “chính phủ cách mạng” trong một tháng. (Bác sĩ Trần Vỹ, “Đời sống trong trại giam ở miền Bắc”, đăng trong Vàng, Máu và Nước Mắt, sđd. tt. 239-250).

Thông báo về “học tập cải tạo”. Nguồn: Internet

Khi đại đa số sĩ quan, công chức VNCH trình diện, thì tất cả bị đưa đi giam trong các trại tù mà CS gọi là trại học tập cải tạo trên các vùng rừng thiêng nước độc, không tuyên án và không thời hạn. Nếu bỏ trốn, không trình diện mà bị CS bắt, sẽ bị án phạt nặng nề. Sau những tuyên truyền huyễn hoặc thời chiến tranh trước năm 1975, đây là cuộc lừa phỉnh công khai vĩ đại của CSVN sau năm 1975 tại NVN, ghi đậm thành tích lừa dối phỉnh gạt của CSVN.

Người tù phải học tập chính sách của nhà nước CS, chủ nghĩa Mác-Lê, phải lao động từ sáng đến tối, dọn mìn, phá rừng, sản xuất, trồng trọt, làm gạch ngói, dựng nhà … Người tù đau ốm không thuốc thang, ăn uống thiếu thốn, đói quanh năm, khẩu phần rất thấp, so với khẩu phần của một tù nhân CS dưới chế độ VNCH. (Bác sĩ Trần Vỹ, bài đã dân.)

Theo bộ Encyclopedia of the Vietnam War, sau năm 1975, số lượng sĩ quan, công chức và cán bộ VNCH bị bỏ tù khoảng hơn 1,000,000 người trên tổng dân số NVN lúc đó khoảng 20 triệu người. Tất cả bị giam tại trên 150 trại giam; theo đó khoảng 500,000 được thả về trong 3 tháng đầu; 200,000 bị giam từ 2 đến 4 năm; 250,000 bị giam ít nhất 5 năm, và năm 1983 (tức sau 8 năm) còn khoảng 60,000 người bị giữ lại. (Spencer C. Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, a Political, Social, and Military History, Vol. two, Santa Barbara, California: 1998, tr. 602. Sách trích tài liệu của Sagan, Ginette and Stephen Denney, Violations of Human Rights in the Socialist Republic of Vietnam, Palo Alto, California: Aurora Foundation, 1983.)

Trong số trên 1,000,000 người bị tù sau năm 1975, theo những cuộc nghiên cứu ở Hoa Kỳ và Âu Châu, có khoảng 165,000 nạn nhân đã từ trần trong các trại tù “cải tạo”. (Anh Do & Hieu Tran Phan, “Millions of lives changed forever with Saigon’s fall”, nhật báo Orange County Register, Chủ Nhật, 29-4-2001, phụ trang đặc biệt về ngày 30-4, tt. 2-3.) Cộng sản hứa hẹn sẽ thả ra khỏi tù những ai học tập cải tạo tốt, nhưng không có tiêu chuẩn xác định thế nào là cải tạo tốt, nên chẳng ai hiểu thế nào là học tập cải tạo tốt để được thả ra. Và cứ thế, CS tùy thích giam cầm quân nhân, công chức VNCH không thời hạn theo sáng kiến của CS.

KẾT LUẬN

Đúng như văn hào Nga Alexandre Soljenitsyne, giải Nobel văn học năm 1970, tiên đoán trước ngày 30-4-1975, “Việt Nam sẽ trở thành một nhà tù khổng lồ.”

Chuyện sĩ quan, công chức cao cấp Việt Nam Cộng Hòa bị bắt giam, bị đày đọa trong các trại tù học tập cải tạo dưới chế độ CS sau năm 1975 là chuyện dài bất tận, vì đàng sau các sự kiện và số liệu trên đây, là nỗi đau khổ triền miên trong gia đình những tù nhân là những chiến sĩ đã tranh đấu cho sự sống còn của chính chúng ta, cho nền tự do dân chủ chẳng những miền NVN mà cho cả toàn quốc nữa..

Cuối cùng, để kết luận, xin được phép nhắc lại lời cuối trong bản nhạc “Cơn mê chiều” của nhạc sĩ Nguyễn Minh Khôi về biến cố Tết Mậu Thân năm 1968 tại Huế, qua cách trình bày tha thiết của nữ ca sĩ Thái Thanh, “Và người ơi xin chớ quên, người ơi xin chớ quên….”

Vâng, xin đừng bao giờ quên những đau thương cùng cực của những chiến sĩ VNCH; đừng bao giờ quên lý tưởng tự do dân chủ cao cả mà những chiến sĩ VNCH đã tận tình bảo vệ. Và cũng đừng bao giờ quên tội lỗi của CSVN, một chế độ “tổng hợp các tội ác ghê tởm của Tân Thủy Hoàng và các vua quan tàn bạo của Trung Quốc, cộng với tội ác của các chế độ phát xít, độc tài. Nó tàn phá cả một dân tộc, hủy hoại tinh anh của nhiều thế hệ. Xét đến cùng, đó là tội nặng nhất về sự vi phạm nhân quyền…” (Trần Độ, Nhật ký rồng rắn, trích đăng trên Việt Báo Online (vietbao.com) số 3489 ngày 21-10-2004.) (Nguồn: Chiến tranh 1954-1975, sẽ xuất bản).

LẠI CHUYỆN THÁNG TƯ

 
May be an image of 1 person and text

Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ…ị…t… mẹ) không chửi thề sao được chớ.

***

LẠI CHUYỆN THÁNG TƯ

Tưởng Năng Tiến

Tác giả câu thơ thượng dẫn là một chính khách rất tài tử, và vô cùng mờ nhạt. Không mấy ai nhớ rằng ông đã từng giữ những chức vụ như Thủ tướng, Phó Tổng thống, và Tổng thống trong thời Đệ II Cộng Hòa – ở miền Nam Việt Nam.

Dân chúng ở miền đất này thường chỉ nhớ đến Trần Văn Hương như một người lập dị. Ổng hay đi làm bằng xe đạp, trong thời gian là Ðô trưởng Sài Gòn, và thỉnh thoảng lại sáng tác ra những câu thơ (hơi) kỳ cục :

Ngồi buồn gãi háng, dái lăn tăn…

Ở miền Bắc phần lớn quí vị chính khách đều hành nghề cách mạng một cách bền bỉ, liên lỉ và chuyên nghiệp hơn nhiều. Họ cũng sính chuyện thơ văn hơn, và cách họ làm thơ (hoặc viết văn) cũng gây lôi thôi phiền phức nhiều hơn – cho cả đống người !

Khi ngồi buồn, họ không gãi háng. Lúc rảnh rỗi, họ cũng không chịu viết văn hay làm thơ chỉ để đọc chơi thôi. Văn thơ của họ khiến cho cả nước phải bận lòng, và không ít người phải bỏ mẹ, hay bỏ mạng ! Xin đơn cử một thí dụ, một câu thơ nổi tiếng hơn, của một chính khách tăm tiếng (và tai tiếng) hơn nhiều :

Bỗng nghe vần thắng vút lên cao…

Nói theo ngôn ngữ của binh pháp thì tác giả câu thơ vừa dẫn, ông Hồ Chí Minh, là một người cư an tư nguy. Ông Trần Văn Hương thì ngược lại. Ổng cư nguy tư an. Nói cách khác, và nói theo kiểu miền Nam, là thằng chả lè phè hết biết luôn !

Nghiêm túc, khẩn trương, hiếu chiến và hiếu thắng… không phải là quan niệm sống riêng của ông Hồ. Thi đua lập chiến công dâng Đảng, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, một người làm việc bằng hai, nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài… là chỉ thị của “trên” đưa xuống và nửa nước bắt buộc phải (triệt để) tuân hành.

Lè phè cũng không phải là thái độ sống chỉ có nơi ông Trần Văn Hương. Ðó là cung cách chung của hầu hết người dân miền Nam. Sự khác biệt giữa ông Trần Văn Hương và dân chúng, có chăng, chỉ là mức độ.

Không mấy người dân miền Nam, lúc buồn, chịu ngồi gãi háng (suông) như ông Tổng thống. Họ thường vừa gãi háng vừa nhậu lai rai (vài xị) cho vui – nếu là đàn ông. Họ đánh tứ sắc, đi coi cải luơng, hoặc đi cầm đồ để mua sầu riêng ăn chơi cho đỡ ghiền – nếu là đàn bà, ở đô thị. Và họ đi Hồng Kông hay Nhựt Bổn để mua đồ lót và son phấn, nếu là bà lớn. Họ đi buôn lậu (không chừng) nếu là ông lớn. Và cả đám đều hân hoan chơi tạt lon, thả diều, đá banh, đá bóng, đá dế, đá cầu, đá kiện, đá cá lia thia hay lắc bầu cua cá cọp – nếu là con nít nhỏ, ở thành phố.

Chuyện đánh đấm là “chuyện riêng” của môt giới người, tụi lính. Hứng chịu bom đạn, tai ương của chiến tranh là nỗi bất hạnh riêng của một số người khác nữa – đám nông dân.

Những chiến dịch hay phong trào hoàn thành kế hoạch nhỏ, nhi đồng cứu quốc, thay trời làm mưa, quyết tâm thu hoạch vượt chỉ tiêu vụ này vụ nọ… nếu phát động ở miền Nam (e) sẽ không có người tham gia, và tác giả của chúng – chắc chắn – sẽ bị dân chúng cũng như báo chí chửi cho… tắt bếp !

Chuyện Nam – Bắc đánh nhau kết thúc ra sao, vào ngày 30 tháng tư năm 1975, mọi người đều rõ. Viết thêm nửa chữ cũng thừa.

Cuộc chiến tàn. Theo sự hứa hẹn của quí vị lãnh tụ (của phe thắng trận) thì từ đây ta sẽ xây dựng đất nước gấp muời lần hơn, ta cũng sẽ đi tắt đón đầu nhân loại, và ta sẽ chuyển đổi từ ăn no mặc ấm qua ăn sang mặc đẹp…

Chuyện dân Việt ăn mặc (sang trọng và đẹp đẽ) ra sao để từ từ rồi tính tới nhưng riêng về cách họ dùng lon, thay gáo, uống nước thì ngó bộ quá tốn công và rất… cầu kỳ – theo như ghi nhận của nhà văn Bùi Ngọc Tấn :

“Lần về phép này Bá có thêm một thứ quà đặc biệt văn minh khác : những vỏ đồ hộp nước giải khát các loại. Các mầu xanh, đỏ, hồng, da cam, vàng, lon Heineken, lon Coca Cola, Pepsi Cola, những lon Tiger, San-Miguel, những lon nước ngọt đã uống cạn mà trong những lần xuống tầu đi nước ngoài anh lượm được cho vào túi ni lông mang về…

Anh Vận chọn ra những vỏ đẹp nhất, mỗi loại một chiếc, không móp, không méo, đem ra giếng súc rửa sạch rồi bầy vào tủ. Và nhặt bốn vỏ lon khác, mỗi chiếc một mầu bảo lũ trẻ con mài trên nền xi măng trong nhà. Mấy đứa trẻ lao vào mài theo đúng hướng dẫn của anh. Tiếng sào sạo sạo sạo ghê người. Chẳng mấy chốc, cái nắp hộp rời ra. Anh xếp bốn chiếc vỏ hộp lên bàn, nở nụ cười mãn nguyện :

– Làm cốc uống nước…

Những chiếc vỏ hộp trên bàn, trong tủ, những dấu vết ấy của văn minh làm nhà anh cứ sáng trưng lên, khác hẳn mọi nhà chung quanh. Nhà anh đã có hơi hướm của một thế giới khác, một thời đại khác khi các nhà chung quanh vẫn còn đang triền miên thời làm nương, thời lúa nước.

Và đến khi lũ trẻ được thoải mái chơi nghịch những vỏ lon còn lại mới thật tưng bừng. Đúng là một ngày hội…” (Bùi Ngọc Tấn, Biển Và Chim Bói Cá, Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2008, tr 436 – 437).

Điều kiện sống, cũng như niềm vui “tưng bừng” trong “ngày hội” của dân Việt, như vừa được mô tả – dường như – có làm cho một số người cảm thấy bất an, hoặc không được hài lòng cho lắm. Tác phẩm Biển Và Chim Bói Cá (trong một buổi hội thảo, do công ty Nhã Nam tổ chức, vào ngày 20 tháng 3 năm 2009) đã được “bình” và “phê” như sau :

“…chi tiết rất quan trọng trong tiểu thuyết. Nhưng đưa quá nhiều chi tiết mà chưa được tổ chức một cách chặt chẽ như Bùi Ngọc Tấn, theo anh không hẳn đã là một thành công. Thanh Sơn cũng nhấn mạnh, sự ngồn ngộn của chi tiết khiến độc giả rất khó đọc, rất mệt để đọc đến những dòng cuối cùng”.

Có lẽ, người ta chỉ cảm thấy bớt mệt (và thở phào nhẹ nhõm) khi Hà Linh – người viết bài tường thuật thượng dẫn – cho biết thêm rằng “Biển và chim bói cá lấy bối cảnh thời bao cấp”. Thiệt là mừng hết lớn.

Đó là một thời đã qua rồi !

Lịch sử đã sang trang. Chuyện cầu cạnh, bon chen, cậy cục, vay muợn, chạy chọt cho có cơ hội được bước xuống tầu viễn dương – làm một chuyến viễn du, hay nói một cách lịch sự và lịch sử là Đông Du – đi đến những chân trời xa lạ (để mang về những cái chai và lon.. rỗng) không còn phải là đặc quyền của riêng một giới người nào nữa.

Hai muơi năm sau, kể từ lúc “Đảng dũng cảm và quyết tâm đổi mới”, vào năm 2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn lớn tiếng hô hào toàn dân “hãy bước ra biển lớn”. Mệnh lệnh của ông đã khiến cho dư luận (hết sức) xôn xao và (vô cùng) phấn khích – trong một thời gian rất dài – qua diễn đàn Vươn Ra Biển Lớn, trên Tuổi Trẻ Online.

Nhiều năm sau nữa, sau khi thuyền (đã) ra cửa biển, cuộc sống – xem chừng – cũng không khác trước là bao. Hãy thử đọc một đoạn văn khác, của một ngòi viết khác, về sinh hoạt của một vùng đất khác – ở Việt Nam – bây giờ :

“Cả bản xôn xao khi thấy người lạ xuất hiện. Đám trẻ con hầu hết không quần áo, hoặc trên mình chỉ mang một trong hai thứ, mặt mày chúng trông bẩn thỉu, lem luốc và chi chít vết ruồi vàng bọ chó cắn.

Tôi hỏi thăm đường đến nhà mấy giáo viên cắm bản, nhưng chẳng có ai biết nói tiếng Kinh cả. Nhìn về phía cuối bản, tôi bỗng thấy một lá cờ đỏ bay phấp phới, đoán rằng đấy chắc là khu vực lớp học, tôi lại nặng nề lê bước về phía đó. Mấy thầy cô giáo thấy tôi xuất hiện, họ không khỏi ngỡ ngàng. Với họ, sự xuất hiện của người Kinh ở bản biên giới này hình như hiếm lắm…

Có lẽ cuộc sống người dân tộc La Hủ ở Pa Ủ cũng đơn giản như chính những ngôi nhà mái tranh vách phên của họ. Đơn giản đến lo ngại như những liếp phên cứ rung lên bần bật bởi gió rừng. Ở những túp lều bé nhỏ đến chật chội vì quá đông người đó, mỗi nơi lại có một câu chuyện về hoàn cảnh và những số phận con người.

Cuộc sống của mỗi gia đình ngày hai bữa sáng, tối phải lót dạ một cách dè dặt với canh sắn, ngô đồ, còn măng và rau sắn thì dường như ngự trị bữa ăn…, để có một nồi cơm độn sắn cũng hết sức khó khăn (“Thương lắm những búp non ở trên cành”, Mạnh Hà, phóng viên TTXVN tại Lai Châu).

Thôi chết mẹ ! Vậy là khi tầu hạ thủy – vì lu bu nhiều chuyện quá – Đảng và Nhà Nuớc đã quên (hú) những người dân ở miền sâu, miền xa, miền rừng núi rồi. Đúng không ?

– Thưa không ! Cả đống còn đang đứng (lóng ngóng) trên bờ, chớ đâu có riêng chi mấy đám dân bản địa.

Trong một cuộc chất vấn dành cho những đại biểu quốc hội, Bộ trưởng Nông nghiệp Cao Đức Phát cho biết ở thôn quê “vẫn còn hàng trăm nghìn đồng bào chỉ được ăn cơm khi ngày lễ, ngày tết, khi bị ốm !”.

Như vậy là đám nông dân, ở miền xuôi, cũng bị bỏ lại luôn sao ?

– Chắc bi họ đông quá nên mang theo (e) quá tải chăng ?

– Thế còn đám công nhân ?

Xin đọc qua đôi dòng tường thuật của ký giả Nguyễn Bay :

“Một ngọn đèn dầu, cái giỏ nhựa đựng đồ nghề đấm bóp, giác hơi, chiếu cói, gối hoa trải sẵn hoặc chỉ là một tấm áo mưa. Thợ giác hơi quanh Khu công nghiệp Tân Tạo đa số là nữ với các ‘chiếu’ trên vỉa hè, ven đường, thậm chí chỉ một mô đất giữa ruộng ; hoạt động từ 18g30 đến 3-4 giờ sáng…

Gần một năm nay, các “chiếu” giác hơi ngày một dài thêm hàng cây số (đường đi Long An, An Sương). Lúp xúp trong bụi cây, bờ cỏ, chúng tôi nhận ra nhiều thợ vốn là công nhân… Những khi tan ca, họ lẫn vào dòng thợ ‘chào hàng’… Tiền công 10.000 – 15.000 đồng/lần, bằng nửa ngày công… làm thợ”.

Dẫy chiếu “ngày một dài thêm” vì vật giá mỗi lúc một tăng mà đồng lương thì không. Lương bổng công nhân Việt Nam không thể nâng cao hơn vì những người lãnh đạo ở xứ sở này đã lựa chọn một… quốc sách thấp – theo lời ông Hồ Xuân Lâm, trưởng phòng quản lý lao động các khu chế xuất – khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh :

“Chúng tôi đã có cuộc họp với Hiệp hội Doanh nghiệp Đài Loan và tư vấn cho họ hãy trả lương cao hơn để tránh đình công. Họ nói là rất muốn trả cao hơn nhưng không thể vì quy định lương của Chính phủ Việt Nam quá thấp, các đối tác nước ngoài dựa vào đó kềm giá đơn hàng nên có muốn cũng không thể tăng hơn được”.

Nói tóm lại – và vẫn nói theo kiểu miền Nam – là thuyền đã ra cửa biển… mình ên ! Nhắc đến miền Nam, tôi lại chợt nhớ đến những chuyến tầu (bay) vội vã rời khỏi Sài Gòn – vào tháng Tư, bốn muơi năm trước – năm 1975. Trên một số những con tầu này chỉ có quí ông qúi bà tai to mặt lớn (cùng với của cải, thân nhân và gia nhân của họ) mà thôi.

Bây giờ, sau khi bước ra biển lớn, kiểm điểm lại cũng chỉ thấy duới thuyền không có ai khác – ngoài những kẻ cầm quyền, cùng với hành lý, thân nhân và gia nhân của họ. Thuyền đi càng xa, khoảng cách giàu nghèo (rõ ràng) càng rộng. Ông bạn Lê Diễn Đức gọi đó là sự đểu cáng thời vươn ra biển lớn.

Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ… mẹ) không chửi thề sao được chớ.

Tưởng Năng Tiến

(Sổ tay Thường dân).

https://kontumquetoi.com/2016/04/23/lai-chuyen-thang-tu-tuong-nang-tien/

Ai giết nghệ sĩ Thanh Nga

Ai giết nghệ sĩ Thanh Nga

Trúc Giang  

1*. Ai giết nghệ sĩ Thanh Nga?

altNSƯT Thanh Nga sống và chết trọn vẹn từng giây phút''

Thanh Nga là một trong những nữ nghệ sĩ nổi tiếng trên sân khấu cải lương miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

Ngày 26-11-1978, cái tin Thanh Nga bị bắn chết đã nhanh chóng lan truyền trong người dân Sài Gòn. Cái chết đột ngột của Thanh Nga gây xôn xao trong dư luận. Giới mộ điệu cải lương vô cùng xúc động trước cái chết của thần tượng của họ. Mọi người bàn tán xôn xao. Câu hỏi đầu tiên là “Ai đã giết Thanh Nga?”

Nhiều người suy đoán, gián điệp Trung Cộng giết Thanh Nga vì chửi bới Trung Cộng. Cũng có ý kiến cho rằng, Tổng Bí Thư Lê Duẩn rất mê Thanh Nga, nên TN ăn đạn do ghen tuông.

Bộ Công An cho báo chí biết, chính bọn “tàn dư Mỹ Ngụy” giết Thanh Nga.

Tất cả không thuyết phục, không đúng. Và câu hỏi “Ai giết Thanh Nga” chưa có câu trả lời chính xác trong một thời gian dài sau đó.

2*. Tóm tắt vụ án Thanh Nga

Khoảng 23 giờ ngày 26-11-1978, sau khi diễn xong vở Thái Hậu Dương Vân Nga ở rạp Cao Đồng Hưng, Bà Chiểu, nữ nghệ sĩ Thanh Nga (TN) lên chiếc xe Wolkswagen màu xám nhạt, do chồng là ông Phạm Duy Lân cầm lái. Thanh Nga ngồi ở băng ghế sau với con trai là Cúc Cu, 5 tuổi. Võ sư Nguyễn Văn Các, cận vệ của TN ngồi phía trước bên cạnh tài xế.

Chiếc xe theo đường Đinh Tiên Hoàng hướng về Ngã Sáu Sài Gòn, chỗ có bức tượng Phù Đổng Thiên Vương cởi ngựa sắt. Xe từ từ ngừng trước cửa nhà Thanh Nga, số 114 đường Ngô Tùng Châu.

Bỗng nhiên, một chiếc Honda phóng tới, thắng gấp, một người nhảy xuống chỉa súng vào gáy của võ sư Nguyễn Văn Các, 34 tuổi, cận vệ của TN, hắn quát “Đứng yên, mày la tao bắn chết”. Hắn đạp mạnh làm cận vệ Các ngã chúi vào trong xe, sau đó có tiếng súng nổ và trẻ con khóc.

Thanh Nga và chồng bị bắn chết tại chỗ vào khoảng 23 giờ 30. Thi hài được đưa vào bịnh viện Sài Gòn.

Cái chết của Thanh Nga gây chấn động trong nước.

3*. Việt Cộng cho rằng đây là vụ bắt cóc tống tiền.

Công An cho rằng việc bắt cóc tống tiền không thành công, mới gây ra án mạng.

Đồng thời liên kết vụ ám sát Thanh Nga với 2 vụ bắt cóc con của nghệ sĩ Kim Cương và con của bác sĩ Nguyễn Lã Hỹ, và cho biết thủ phạm đã nhận tội giết Thanh Nga là Nguyễn Thanh Tân, trung sĩ “biệt động dù ngụy” và Nguyễn Văn Đức là “lính Hải quân ngụy”.

Cả hai nhận tội và bị xử tử hình ngày 23-8-1980.

Cơ quan điều tra Công An cho biết, trong quá trình điều tra thẩm vấn kẻ chủ mưu 2 vụ bắt cóc, mới lòi ra thủ phạm đã giết chết Thanh Nga.

3.1. Vụ bắt cóc con của nghệ sĩ Kim Cương

       altNghệ sĩ Kim Cương

   Nghệ sĩ Kim Cương

Năm 1977.

Ngày 26-6-1977, Công An Sài Gòn nhận được tin báo, cháu Toro 5 tuổi, con của nghệ sĩ Kim Cương bổng nhiên bị mất tích ở nhà trẻ Vườn Hồng. Một người đàn ông giọng Nam bộ, tự xưng là Hải Phong, điện thoại báo cho biết là họ đang giữ đứa trẻ và đòi 100 cây vàng để chuộc mạng. Qua nhiều lần thương lượng hai bên đồng ý 20 cây.

Sau đó, cha của Toro mang vàng đến điểm hẹn, nhận ra chiếc áo của con đang mặc, ông đưa vàng cho kẻ bắt cóc, và không lâu sau đó, Toro được thả tại một bãi cỏ trước nhà thờ Đức Bà Quận 1. Sài Gòn.

Công An không tìm ra thủ phạm.

3.2. Vụ bắt cóc con của bác sĩ Nguyễn Lã Hỷ

ky-3-lo-dien-bang-cuop-khet-tieng-tu-vu-bat-coc-con-bac-si-la-hy_ 1sbc xoa so bang sat thu ban chet vo chong nghe si thanh nga hinh anh 6

        Nguyễn Thanh Tân cùng đồng bọn bắt có con bác sĩ Lã Hỷ tại trường cấp 1, cấp 2 Văn Tây Nhì

Năm 1979.

Ngày 2-3-1979, con trai của bác sĩ Nguyễn Lã Hỷ là bé Nguyễn Phương, bị bắt cóc ở trường phổ thông Tây Nhì, Phú Nhuận. Hung thủ ném chiếc áo bé Phương đang mặc ở trụ điện gần nhà và gọi báo cho bà Bích, là mẹ bé Phương, đòi 100 cây vàng chuộc con. Người gọi tự xưng là Hải Phong, nói giọng Nam bộ.

Bà Bích không hợp tác với Công An vì sợ con bị hại, nhưng CA đã bố trí theo dõi.

Sau 5 lần thương lượng, kẻ bắt cóc chấp nhận 20 cây vàng.

Năm giờ chiều ngày 21-3-1979 , theo yêu cầu của bọn bắt cóc, bà Bích mặc áo bà ba, đội nón lá, đi xe đạp, mang 20 cây vàng đến trước số nhà 95 đường Phan Đăng Lưu, Phú Nhuận.

Khi nhận ra bà Bích, một thanh niên nhảy ra chụp lấy gói vàng và tức thì, một chiếc Honda chạy tới, cả hai vọt đi.

Viên đội trưởng CA bắn theo 5 phát súng. Một viên đạn trúng chân tên lái xe, một viên trúng vào người của tên ngồi sau ôm gói vàng.

Công an mai phục ở các bịnh viện, và bắt tên Hoá ở bịnh viện Chợ Rẫy. Tên Hoá khai, chủ mưu là Nguyễn Thanh Tân, trung sĩ “Biệt động dù” chế độ cũ.

Sau đó, Nguyễn Thanh Tân bị bắt. Bé Phương được tìm thấy ở nhà người em của Thanh Tân ở Sóc Trăng.

Tân khai ra đồng bọn là Nguyễn Văn Đức, lính “hải quân ngụy”.

Đồng thời, Nguyễn Thanh Tân và Nguyễn Văn Đức cũng nhận tội đã giết Thanh Nga và chồng, vì bị thất bại trong vụ bắt cóc vào ngày 26-11-1978.

Trên đây là tài liệu do CA cung cấp cho báo chí.

altalt

             Nguyễn Thanh Tân     Tên Hoá được cáng đến Chợ Rẫy

4*. Khám nghiệm tử thi của Thanh Nga và chồng

Vụ hạ sát Thanh Nga ngày 26-11-1978.

Sáng hôm sau, ngày 27-11-1978, đoàn khám nghiệm đến bịnh viện Sài Gòn, thì thi hài của 2 người đã được đưa vào nhà xác.

Bản báo cáo chuyên án Thanh Nga của ông Võ Tấn Thành, Đội trưởng Đội trọng án Phòng Cảnh sát Hình sự TP/HCM như sau.

“Tử thi Thanh Nga vẫn còn mềm dịu bình thường, tử thi ông Lân (hơn bà 20 tuổi) tay chân đã cứng.

“Thanh Nga thân hình đẹp, hoàn mỹ, giống như hoa hậu thời nay. Vú trái gần vết thương đã trúng đạn, nằm như người ngủ, sắc mặc vẫn tươi đẹp. Ông Lân, người cứng cáp, to bự gấp đôi Thanh Nga, bị một vết thương (đạn bắn) ở ngực trái, xuyên thẳng hướng tim ra lưng” (Báo cáo chuyên án Thanh Nga của ông Võ Tấn Thành, Đội trưởng Đội trọng án Phòng CS Hình sự TP/HCM)

5*. Lời khai của cận vệ Nguyễn Văn Các

Do những bức thơ hăm dọa, bà bầu Thơ, mẹ của Thanh Nga, cử võ sĩ Nguyễn Văn Các bảo vệ Thanh Nga.

Nguyễn Văn Các, 34 tuổi, là nhân viên của đoàn Thanh Minh Thanh Nga, được cử theo bảo vệ Thanh Nga.

Nguyễn Văn Các khai.

“Tối hôm ấy, chính chồng của chị Thanh Nga, tức đạo diễn Phạm Duy Lân cầm lái, Thanh Nga ngồi ở băng ghế sau với cháu Phạm Duy Hà Linh, (Cúc Cu) 5 tuổi. Xe nổ máy, tôi ngồi cạnh anh Lân, chạy từ quận Bình Thạnh, theo đường Đinh Tiên Hoàng hướng về Ngã Sáu Saigòn, chỗ có tượng Phù Đổng Thiên Vương. Xe từ từ ngừng trước cửa nhà TN số 114 đường Ngô Tùng Châu.

Tôi xuống trước, định mở cửa cho TN xuống, nhưng khựng lại vì có một chiếc Honda từ đâu phóng tới, dừng gấp trước cổng nhà nghe cái “xẹt”. Một bóng người vội vã nhảy xuống chìa súng vào gáy tôi, quát: “Đứng yên, mầy la tao bắn chết”.

Hắn đạp mạnh khiến Các ngã chúi xuống, úp mặt vào trong xe phía trước, hắn buộc anh nằm yên.

Chưa kịp hoàn hồn, Các nghe tiếng ông Lân kêu lên “Đừng bắt con tôi, các anh muốn gì thì vợ chồng tôi cũng chịu hết.”

Dường như hai bên có dằn co với nhau rồi một tiếng súng nổ.

Giọng ông Lân thều thào nói với Các: “Các ơi, cậu Ba bị bắn chết rồi”.

Tiếp đó là giọng Thanh Nga hoảng hốt “Bắn thì bắn chết tôi đi chớ đừng bắt con tôi.” Lại có tiếng động như giằng qua giằng lại. Mấy giây sau, Các nghe tiếng nổ thứ hai, và tiếng cháu Cúc Cu gọi thất thanh “Ba ơi, má ơi”.

Một giọng nói lạ vang lên “Thôi, đi”.

Khi ấy, Các có cảm giác không còn bị đè bởi chiếc đệm gối, nên đứng dậy thì thấy 2 bóng người đang rời khỏi chiếc xe hơi. Một tên ngồi lên xe Honda, do ánh đèn lờ mờ nên Các không thấy rõ mặt, chỉ nhận hắn mặc áo màu lam nhạt. Tên kia cầm súng, nước da ngâm ngâm, tóc dài, khoảng 30 tuổi, cao chừng thước sáu, thước bảy, bận quần đen, áo màu gạch đậm.

Bấy giờ đã khuya, ở bên kia đường đối diện với nhà TN, có 2 chị em đang học bài trên lầu, khi nghe súng nổ và tiếng con nít khóc, đã nhìn xuống, thấy hai tên phóng Honda từ nhà TN chạy về phía Ngã Sáu mất dạng. Lúc đó khoảng 23 giờ 30. Thanh Nga được đưa vào Bịnh Viện Sài Gòn.

6*. Đối chiếu lời khai của cận vệ Các với khám nghiệm tử thi

Thanh Nga và ông Lân đều bị bắn vào phần ngực bên trái, vùng trái tim. (Thanh Nga. “Vú trái gần vết thương”. Ông Lân. “Một vết thương (đạn bắn) ở ngực trái, xuyên thẳng hướng tim ra lưng”).

Chứng tỏ sát thủ là một tay chuyên nghiệp, được huấn luyện. Chỉ một viên đạn vào tim là chết liền tại chỗ, khi đến bịnh viện thì hết cứu chữa được.

Nhưng làm thế nào để cả hai đều bị bắn vào vùng ngực trái, vị trí của quả tim?

Ông Lân thì đang ngồi sau tay lái, mà sát thủ thì đứng ngoài xe tức là bên hông của ông Lân. Thanh Nga thì đang ôm bé Cúc Cu trước ngực.

Trong lời khai của cận vệ Các “Dường như hai bên có giằng co với nhau rồi một tiếng nổ”. Giằng co ở đây là tên sát thủ kéo ông Lân quay ngực về phía họng súng để bóp cò.

Trường hợp của TN cũng thế. Sát thủ kéo Cúc Cu ra khỏi vòng tay của TN, cho lòng ngực của TN không còn gì che chắn, để bóp cò cho chết ngay tại chỗ.

Thanh Nga thấy tên sát thủ kéo Cúc Cu ra, thì tưởng rằng hắn muốn bắt Cúc Cu, cho nên mới nói là “Bắn thì bắn đi chớ đừng bắt con tôi”.

7*. Không phải bắt cóc tống tiền

7.1. Ném lựu đạn và những bức thơ cảnh cáo

Trước khi bị ám sát, Thanh Nga đã nhận được nhiều thơ nặc danh cảnh cáo, yêu cầu ngừng đóng vai Trưng Trắc và Thái hậu Dương Vân Nga, nếu không thì sẽ bị thanh toán.

Sau đó, vào tháng 3 năm 1978, khi đang diễn vai Trưng Trắc với Thanh Sang trong vở Tiếng Trống Mê Linh ở rạp Lux B, đường Trần Văn Cừ, thì bị ném lựu đạn lên sân khấu, làm chết tại chỗ hai nhạc công và Thanh Nga bị thương nhẹ, thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

Vụ việc nầy chứng tỏ không phải là bắt cóc tống tiền. 

– Đây không phải là một vụ tống tiền

– Không phải là một vụ bắt cóc

– Mà là một vụ ám sát vì lý do chính trị mà chính Công An VC thực hiện

7.2. Những cái vô lý của Công An Sài Gòn

1). Tàn dư Mỹ Ngụy giết Thanh Nga

  1. Ngay sau vụ án, ông Trần Quyết, thứ trưởng Bộ Nội vụ, phân tích:

“Vụ án Thanh Nga xảy ra trong lúc một số tàn quân của quân đội Saigòn còn lẫn trốn ở các vùng rừng núi, bưng biền, hoạt động chống lại ta. Trước đó, có một số hành vi đe doạ là gởi thơ yêu cầu TN không được đóng vai Trưng Trắc hoặc Thái hậu Dương Vân Nga nữa. Giữa lúc đó, có tin mật báo” Một tổ chức tự xưng là “Lực lượng thống hợp Liên Bang Đông Dương” do sự đở đầu của CIA Mỹ, vừa mở tiệc ăn mừng ở một quán rượu vùng ven Saigòn, do đã bắn chết Thanh Nga theo lịnh cấp trên đưa xuống”.(Hết trích)

  1. Nhận xét về lời tuyên bố trên.

Rõ ràng là câu chuyện bịa đặt

Tổ chức chống Cộng thời đó làm gì mà dám ra quán nhậu để tổ chức ăn mừng đã giết Thanh Nga, vì TN chống quân Tàu.

Thời đó, những gánh hát phải diễn những tuồng “cách mạng” có nội dung chửi bới VNCH như là:

“Người Ven Đô”, do Út Trà Ôn đóng vai Tám Khoẻ, vở Khách Sạn Hào Hoa, vở Cây sầu riêng trổ bông…thế mà có ai lên tiếng chống đối đâu?

2). Thanh Nga chết do việc bắt cóc không thành công

Ban đầu CA cho rằng tàn dư “quân đội ngụy” đã giết chết Thanh Nga, nhưng sau đó thấy không ổn vì không có ai tin chuyện hoang đường như thế.

Kế đó, CA cho rằng vụ án là do việc bắt cóc không thành, nên sinh ra án mạng, và thủ phạm chính là Nguyễn Thanh Tân và Nguyễn Văn Đức, đã từng tổ chức 2 vụ bắt cóc con của Kim Cương và con của bác sĩ Nguyễn Lã Hỷ.

  1. Những điểm vô lý cho rằng bắt cóc không thành

Theo như kế hoạch đã vạch ra, địa điểm, thời gian và tình huống đã nắm vững, đã không có một phản ứng nào, thì tại sao gọi là bắt cóc bất thành? Mục đích của bắt cóc là đòi tiền chuộc, thế thì 

tại sao ông Lân đã chịu nạp tiền mà vẫn bắn chết trong lúc ông tuân lịnh và hợp tác?

  1. Không phải kế hoạch bắt cóc, mà là kế hoạch ám sát.

Điều quan trọng nhất của việc bắt cóc tống tiền là yếu tố bí mật. Yếu tố nầy đã được hai tên thật sự bắt cóc là Tân và Đức thực hiện. Trái lại hai tên công an trong đội Săn Bắt Cướp Sài Gòn, đã công khai thi hành ngay ngoài công lộ, đã không bịt mặt, không đội mủ, không mang kiếng đen, vì tin chắc rằng nạn nhân không còn sống để nhận diện trong trường hợp bị bắt. 

Sau khi giết người, đáng lẻ phải chạy về phía đường vắng người, hướng nhà Thờ Huyện Sĩ gần đó, nhưng không, chúng chạy ra Ngã Sáu, là tụ điểm ăn uống tấp nập ban đêm với hàng chục chiếc xe từ phở, hủ tiếu mì, bánh cuốn, các món nhậu.

Đó không phải là tác phong của kẻ bắt cóc, mà là của kẻ sát nhân. 

8* Những lời lẽ trong tuồng hát gây chết người.

8.1. Lời của Trưng Trắc trong vở Tiếng Trống Mê Linh.

alt

   * “Tổ tiên ta không chịu lùi bước trước quân thù, không nhân nhượng một tấc đất nào cả. Phải chém đầu những kẻ có ý lùi bước trước quân thù.”

“Đói rét chịu được, nhưng nhục mất nước không bao giờ chịu được! Đó là đạo lý của dân tộc ta đời đời truyền lại”

* Nước đã mất thì tránh sao cho được nhục! Phu tướng, giờ đây ta hãy tế cáo với tổ tiên, thề lấy máu mà rửa nhục!”

* Hỡi đồng bào trăm họ! Giặc Đông Hán đang xéo dày đất nước, nhục nào hơn nhục nô lệ ngoại bang! Thà chết mà đứng thẳng, không cam chịu sống quỳ. Đất nước Nam cẩm tú, người dân Nam anh hùng, trước đền thờ quốc tổ, thề hy sinh giết giặc cứu non sông!”

8.2. Lời của Thái hậu Dương Vân Nga.

1547439879-1-49756058_2279978002260902_983795304627175424_n-1547438654-width960height640https://images.hcmcpv.org.vn/res/news/2019/02/02-02-2019-dau-an-100-nam-san-khau-cai-luong-8F9035C8-details.JPG?vs=06022019103111

                            Hai cảnh trong vở Thái Hậu Dương Vân Nga

Vở tuồng chống Nhà Tống

* Không! không! ta không nhượng quân thù một tấc đất nào cả!

* Đây là thanh gươm của tiên vương đã từng dẹp loạn sứ quân để sơn hà bền vững đến hôm nay, Tướng quân hãy nhận lấy để chém đầu kẻ nào có ý lùi bước trước quân thù, cho dù lùi nửa bước để toan liệu về sau”

* “Dù nước nhỏ, đây là tấm áo đầu tiên dân ta dám may, người Đại Cồ Việt dám mặc để lên ngôi hoàng đế. Tấm Long bào nầy là niềm kiêu hảnh của dân ta, một dân tộc dám tự xưng là Đại Cồ Việt. Tôi tin rằng trăm họ sẽ tay nối vòng tay, quyết chống lại sức mạnh bạo tàn của giặc. Đây, bức thơ của nước Đại Cồ Việt phúc đáp với sứ thần. Tấm Long bào nầy, tấm áo thiên tử đầu tiên nầy, ta quyết không bao giờ dâng nạp.”

Hãy cùng nhau sống lại hào khí của Tiếng trống Mê Linh!”

Vài nét về Thái hậu Dương Vân Nga.

Tên thật là Dương Ngọc Vân. Được gọi là hoàng hậu hai triều, triều nhà Đinh và triều Tiền Lê.

Khi Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh) và thái tử Đinh Liễn bị ám sát, con trai 5 tuổi là Đinh Toàn lên nối ngôi, và bà làm nhiếp chính. Nhà Đinh suy yếu, trước sự đe dọa của quân nhà Tống, bà tự ý nhường ngôi lại cho tướng quân Lê Hoàn, lập ra nhà Tiền Lê. Lê Đại Hành. (Nhà Hậu Lê là Lê Lợi). Lê Đại Hành phong bà làm hoàng hậu. Hoàng hậu hai triều là vợ của hai ông vua, Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành.

Trong vở tuồng, Dương Vân Nga đôn đốc tướng quân Lê Hoàn lãnh nhiệm vụ đánh nhà Tống. Lê Đại Hành đánh tan quân Tàu năm 981, bảo vệ nước Đại Cồ Việt.

9*. Chính Việt Cộng đã giết Thanh Nga

9.1. Hoàn cảnh chính trị thời Hồ Chí Minh.

Thời Hồ Chí Minh, Việt Nam đi hàng hai, một chân bên Liên Xô, một chân bên Trung Cộng. Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai là hai người đồng tính luyến ái, nên hai nước Việt-Trung gắn bó chặt chẽ với nhau.

Sau khi Hồ Chí Minh chết, lãnh đạo đảng CSVN ngã hẳn về phía Liên Xô.

Dựa hơi Liên Xô, Việt Cộng công khai ra mặt chống Trung Cộng. Cơ quan truyền thông nhà nước, suốt ngày ra rả chống “Bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh”.

Ủy viên Bộ Chính trị, Hoàng Văn Hoan, thân Trung Cộng, phải đào thoát qua Trung Quốc theo ngã Pakistan.

Ở miền Bắc, người Tàu bị đuổi về Trung Quốc, gây ra tình trạng gọi là “nạn kiều”. Ở miền Nam, người Tàu bị đuổi ra khỏi nước bằng tàu, gọi là xuất cảnh bán chính thức.

Đoàn cải lương Thanh Minh-Thanh Nga (TM/TN) được Sở Văn Hóa Sài Gòn xử dụng làm cái loa tuyên truyền chống “Bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh” qua hai vở tuồng Tiếng Trống Mê Linh và Thái Hậu Dương Vân Nga. Hai vở tuồng do nữ cán bộ Sở Văn Hóa Sài Gòn, thuộc gia đình cách mạng họ “Ca Lê”, là bà Ca Lê Hồng làm đạo diễn.

Trong vở Tiếng Trống Mê Linh, Thanh Nga trong vai Trưng Trắc đánh đuổi thái thú Tô Định về Tàu. Trong vở Thái Hậu Dương Vân Nga, Thanh Nga thủ vai thái hậu, cổ vỏ tướng công Lê Hoàn đánh tan quân Nhà Tống năm 981.

9.2. Tình hình thay đổi. Việt Cộng bị Liên Xô bỏ rơi.

Dựa hơi Liên Xô, trong Hiệp ước quốc phòng có điều 6 ghi như sau: “Trong trường hợp một trong hai bên bị tấn công, hoặc bị đe doạ tấn công, thì hai bên ký hiệp ước sẽ lập tức trao đổi ý kiến với nhau, nhằm loại trừ mối đe doạ đó và áp dụng các biện pháp thích đáng có hiệu lực, để bảo đảm hòa bình và an ninh của hai nước”.

Nhưng khi Trung Cộng bắt đầu đánh chiếm các đảo Trường Sa, Việt Cộng cầu cứu, nhưng quân đội Liên Xô đang đóng ở Cam Ranh, ngoảnh mặt làm ngơ, bình chân như vại. Chính thức bỏ rơi Việt Nam, mặc dù đã có hiệp ước.

Bị Liên Xô bỏ rơi, Việt Cộng lâm vào thế yếu, lực yếu thế cô, vì không có đồng minh nào.

Trong khi đó, Đặng Tiểu Bình thường xuyên tuyên bố “Cho Việt Nam một bài học”. Bài học lừa thầy phản bạn.

Trước tình trạng đó, Việt Nam muốn chấm dứt những tuyên truyền chống Trung Cộng. Cụ thể là buộc Trưng Trắc và Dương Vân Nga phải chấm dứt việc chửi bới bọn Tàu Cộng, bành trướng bá quyền Bắc Kinh.

Nhiều bức thơ nặc danh cảnh cáo đoàn TM/TN, buộc Thanh Nga phải chấm dứt việc tuyên truyền theo chủ trương trước kia của nhà nước. Ỷ lại vào việc Sở Văn Hóa chống lưng, Thanh Nga tiếp tục chửi bới bọn Tàu, nên bị ném lựu đạn ở rạp Lux B, suýt chết trong đường tơ kẽ tóc mà vẫn không chừa. Cuối cùng là cái chết của Thanh Nga và chồng là ông Phạm Duy Lân.

Chính Việt Cộng đã giết Thanh Nga.

Thanh Nga bị bắn chết ngày 26-11-1978, chỉ 3 tháng sau, ngày 17-2-1979, Đặng Tiểu Bình “Dạy cho Việt Nam một bài học” bằng cách đồng loạt tấn công 7 tỉnh miền Bắc: Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Sơn La, Hà Giang.

Thời gian đó, lực lượng quân sự Trung Cộng còn yếu nên không khống chế được 7 tỉnh. Một số quân Trung Cộng vào nội địa chiếm một số thị xã. Trước khi rút lui, binh lính Trung Cộng đập phá toàn bộ những phương tiện, vật liệu và dụng cụ phục vụ kinh tế và đời sống. Từ cái chén, đôi đũa, cái bàn, cái ghế…tất cả mọi thứ không còn xử dụng được. Việt Nam thiệt hại nặng về kinh tế.

Sau đó, Việt Cộng đầu hàng. TBT Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng đến Thành Đô, Tứ Xuyên, họp mật trong hai ngày 3&4 tháng 9 năm 1990. 

“Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….

Phía Trung Quốc đồng ý, và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.…”

Từ đó, các lãnh đạo đảng CSVN phải qua Trung Quốc trình diện, xin phép trước khi đi Mỹ. Tất cả. Không có ngoại lệ nào cả. Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang, Phạm Quang Nghị, Phạm Bình Minh (Qua Tàu 2 lần trước khi đi Mỹ) Nguyễn Phú Trọng, Đinh Thế Huynh, Nguyễn Xuân Phúc.

10*. Tiểu sử và con đường sự nghiệp của Thanh Nga

10.1. Tiểu sử Thanh Nga

Thanh Nga | nhac Thanh Nga2

           Theo nhận xét của giới nghiên cứu kịch trường, thì trong 36 năm sống, Thanh Nga đã đứng hết mình dưới ánh đèn màu suốt 28 năm.

Thanh Nga tên thật là Juliette Nguyễn Thị Nga, sinh ngày 31-7-1942 tại Tây Ninh. Cha là ông Nguyễn Văn Lợi. Mẹ là Nguyễn Thị Thơ, bà Bầu Thơ, trưởng đoàn Thanh Minh Thanh Nga nổi tiếng một thời ở VN.

alt      alt

            Thanh Nga và mẹ là bà bầu Thơ và em là Bảo Quốc

Thanh Nga kết hôn 2 lần.

Lần đầu với thiếu tá Nguyễn Minh Mẫn, lần sau với Luật sư Phạm Duy Lân. Có một con trai với ông Lân, tên là Phạm Duy Hà Linh, sinh năm 1973, nay là một nghệ sĩ hài.

Gia đình Thanh Nga có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng:

– Năm Nghĩa (Cha dượng)

– Bảo Quốc (Em cùng mẹ khác cha)

– Hữu Châu (Con của nghệ sĩ Hữu Thình, anh ruột của TN.)

Bị ám sát cùng chồng ngày 26-11-1978 tại Sài Gòn, an táng tại Nghĩa trang “Chùa Nghệ Sĩ”, Gò Vấp.

Thanh Nga được nhà nước truy tặng danh hiệu Nghệ Sĩ Ưu Tú năm 1984.

10.2. Con đường sự nghiệp của Thanh Nga

Với hơn 230 vở diễn trong 28 năm, kể từ lúc 8 tuổi, TN đã cống hiến cho khán giả biết bao vui buồn với cái tên “Cô Đào Thương nhạy khóc”. Năm 8 tuổi đã có biệt hiệu là “Thần Đồng Thanh Nga” trong những vở Phạm Công Cúc Hoa, Đồ Bàn Di Hận, Lửa Hờn.

Năm 16 tuổi, xuất sắc trong vai Sơn nữ Phà Ca trong vở Mưa Rừng (Người Vợ không bao giờ cưới)

Gây ấn tượng sâu đậm trong lòng khán giả mộ điệu qua những tuồng: Áo cưới trước cổng chùa, Sân khấu về khuya, Đôi mắt người xưa, Ngã rẻ tâm tình, Con gái Chị Hằng.

Đoạt Huy Chương Vàng đầu tiên của Giải Thanh Tâm năm 16 tuổi.

10NSND Ngọc Giàu: Trò câu khách không vực dậy cải lương - Báo Người lao động

       Thanh Nga nhận HCV giải Thanh Tâm năm 1958 Từ trái qua: Thanh Nga – Ngọc Giàu – Lan Chi – Bích Sơn

Tham gia đóng phim và là diễn viên xuất sắc trong Đại Hội Điện Ảnh Á Châu năm 1973 tại Đài Bắc (Đài Loan). Là đại diện nữ duy nhất trong Đại Hội Điện Ảnh Ấn Độ năm 1969, được Thủ tướng Indira Gandhi tiếp đón. TN còn in đậm trong lòng khán giả qua phim Loan Mắt Nhung của Đạo diễn Lê Dân.

11*. Những người tình cũ của Thanh Nga

11.1. Thanh Nga là vợ của Thành Được

Tài liệu của công an.

“Theo tài liệu của Tổng Cục Cảnh Sát Nhân Dân, thì Thành Được có một thời yêu say đắm Thanh Nga nhưng không được yêu lại, vì bà Bầu Thơ ngăn cản. Nhưng ông vẫn theo đuổi và dùng thế lực bên ngoài để kéo người đẹp trên sân khấu về với mình, nên Thanh Nga phải ưng chịu. Dẫu cho đã nên vợ nên chồng, nhưng cá tính hai người xung khắc với nhau và cuối cùng phải chia tay”. (Hết trích)

11.2. Thiếu tá Nguyễn Minh Mẫn là chồng cũ của Thanh Nga

Ông Mẫn thương Thanh Nga khi cô đang sáng chói trên sân khấu cải lương. Người cao lớn, đẹp trai, có tâm hồn nghệ sĩ, là sĩ quan huấn luyện viên môn chiến thuật của trường Bộ Binh Thủ Đức, rồi Chỉ huy phó Yếu Khu Bình Phú (Thủ Đức).

Thanh Nga trong chiếc áo cưới, bước lên xe hoa chính thức cùng người chồng là ông Nguyễn Minh Mẫn. Tiệc cưới được tổ chức linh đình tại nhà hàng Đại La Thiên (Chợ Lớn), báo chí và nghệ sĩ tham dự rất đông.

Rượu Champagne nổ dòn tan, cuộc vui tưởng chừng như bất tận. Nhưng chưa được bao lâu, thì ông Mẫn phải ra toà lảnh án về tội buôn lậu đồ Mỹ.

Nói thêm về vụ buôn lậu của Thiếu tá Nguyễn Minh Mẫn.

Trong khu vực huấn luyện của Trường Bộ Binh Thủ Đức, có một địa điểm kín đáo tên là Hầm Sạn, là nơi mà các tài xế chở hàng PX của Mỹ từ Tân Cảng (New Port-Cầu Sài Gòn) lên kho Long Bình của Mỹ. PX là Post Exchange, hàng hóa miễn thuế bán cho quân đội Mỹ. Quân nhân Mỹ được cho đổi từ đô la xanh sang đô la đỏ để mua hàng ở các hợp tác xã Mỹ. 100 đô la xanh được đổi thành 180 đô la đỏ.

Trong thời gian đầu, không có việc kiểm soát lộ trình từ Tân Cảng đến Long Bình. Những xe tải hạng nặng ở Tân Cảng được đưa hàng lên đầy xe. Đến giờ cho phép vào, chỉ có một tài xế nhận được một phiếu ký tên nơi gởi và khi đến Long Bình, ký nhận, mang xe và phiếu ký nhận về trình Tân Cảng là xong.

Các tay buôn lậu móc nối với tài xế, đổ vài ba thùng hàng xuống Hầm Sạn, nhận 50,000 VNĐ. Không biết những gì trong đó, có khi nhận cả một thùng súng Colt của quân đội.

Tài xế nhận 50,000VNĐ, con buôn bán ra cả trăm ngàn đồng, tùy theo món hàng nhận được. Làm giàu nhanh chóng.

Về phía mấy ông lính Mỹ, thì mấy bà lấy Mỹ, lập danh sách cho các ông, những mặt hàng khan hiếm hoặc bán chạy trên chợ trời. Thế là hàng PX của Mỹ tràn ngập các chợ trời và các sạp bán đồ Mỹ ở các nơi khác.

Sau những vụ mất mát lộ liễu, Mỹ dùng trực thăng kiểm soát các xe hàng. Và Thiếu tá Mẫn bị bắt trong trường hợp đó.

Thiếu tá Mẫn ngồi tù, Thanh Nga phải sống trong những ngày đoạn trường và phải đối mặt với dư luận, những việc không đâu cứ ùa đến, cả những vu oan, tố cáo của người đàn bà trước kia của ông Mẫn. Hôn nhân tan vở.

  1. Thanh Nga là vợ của ông Phạm Duy Lân

Lật lại vụ ám sát vợ chồng NSƯT Thanh Ngaalt

       Ông Lân là luật sư, đạo diễn và có thời làm Đổng Lý Văn phòng của một Bộ trong chính quyền Saigòn, cho nên thường gọi là Ông Đổng Lân. Người to cao, đẹp trai, hơn Thanh Nga 20 tuổi. Ông Lân và TN tuy không sanh cùng ngày, cùng tháng, nhưng đã chết cùng ngày cùng giờ. Con trai duy nhất của 2 người là nghệ sĩ hài Phạm Duy Hà Linh, (Cúc Cu) sinh năm 1973. Có vợ và con gái. Hà Linh là trưởng Nhóm Hài Hà Linh.

altalt

           Phần mộ vợ chồng nghệ sĩ Thanh Nga trong Chùa Nghệ sĩ

13*. Kết luận

Sự thật rõ ràng là vụ án Thanh Nga không phải là vụ bắt cóc tống tiền, như công an đã nói, mà là một vụ ám sát do công an Việt Cộng thực hiện.

Bản chất của mật vụ Việt Cộng là từng bước ngăn cản Thanh Nga và đoàn Thanh Minh-Thanh Nga, ngưng hai vở Tiếng Trống Mê Linh và vở Thái Hậu Dương Vân Nga. Bắt đầu là những bức thơ nặc danh cảnh cáo. Không xong. Ném lựu đạn mà Thanh Nga không chết, thì chính tay mật vụ công an hạ sát bằng súng.

Một nhà nước trung thực, một chính quyền lương thiện thì không hành xử tàn bạo dã man như thế. Đó là bản chất của các chế độ Cộng Sản, kể cả Việt Cộng.

Tóm lại, Việt Cộng đã giết Thanh Nga và chồng là ông Phạm Duy Lân.

Trúc Giang

Minnesota ngày 22-4-2021

Tuyệt đối không được mở rộng Saigon về phía Đông

  May be an image of 2 people and people standing

 

Đây là ảnh vợ chồng Kiến trúc sư trưởng Ngô Viết Thụ thời VNCH. Sau ngày ” giải phóng MN 30/4/1975 ông ấy không đi di tản. Mặc dù Mỹ đưa Trực thăng đến đón cả gia đình ông ấy sang Mỹ!

Mà ở lại góp ý cho chính quyền mới là: Hãy phát triển Saigon (tức HCM) về phía Tây – Bắc. Tuyệt đối không được mở rộng Saigon về phía Đông.

Nhưng họ không nghe, họ mở rộng TP HCM về phía đông (lấp hết ao hồ , kênh rạch)

PS: Vậy Tp HCM mới ngập lụt… như ngày nay! Cho dù đã chi 10.000 tỷ chống lụt… mà vẫn lụt!

Lấp ao hồ, kênh rạch làm nhà… là phá vỡ Quy luật tự nhiên ( Đại Kị ) … Hanoi và Tp HCM … đã trả giá đắt rồi đó. Tương lai sẽ … rất đắt!

PS: Người có tài, có tâm tướng mạo thật đẹp! Tiếc cho 1 nhân tài bị bỏ rơi… và tiếc cho Tp HCM vì đã không dùng ông ấy!

CHÚT HOÀI NIỆM XƯA – VĂN QUANG

Chút hoài niệm xưa nay còn đâu ?

CHÚT HOÀI NIỆM XƯA

VĂN QUANG

Cái “trục văn hóa” từ La Pagode, Givral đến Brodard khác nhau thế nào?

Nằm chung trên đường Tự Do xưa, có ba quán café cùng nổi tiếng như nhau. Bắt đầu từ nhà hàng La Pagode ở góc Lê Thánh Tôn – Tự Do, qua vài nhà hàng đến tiệm sách Xuân Thu, đến hành lang Eden, trong đó có rạp Ciné Eden từ hồi cựu hoàng Bảo Đại mới lên ngôi. Đến góc đường này là NHẢ HÀNG GIVRAL nằm đối diện với khách sạn Continental, sát bên trụ sở Hạ Nghị Viện (nhà hát lớn TP cũ), nhìn chéo sang phải là KHÁCH SẠN CARAVELLE sinh sau đẻ muộn. Đi quá chút nữa là NHÀ HÀNG BRODARD.

Ba tiệm cùng nằm trên một con đường rất gần nhau, chỉ cách khoảng trên dưới 100m và gần như có kiểu kinh doanh giống nhau.. Nhưng thật ra, nếu để ý kỹ, khách hàng thường chia làm 3 loại khác nhau. Ở đây tôi chỉ kể riêng về mặt “sinh hoạt văn hóa”.

NHÀ HẢNG LA PAGODE

Trước hết phải kể đến nhà hàng La Pagode, tôi cho là “cổ kính” nhất. Ngay từ những năm 1953, khi tôi mới biết taxi là “cái giống gì” (bởi ở miến Bắc hồi đó chưa có taxi), tôi đã biết La Pagode.

Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài hành lang, theo lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng đãng. Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt.

Phía trong có một bàn đánh “tin” dành cho khách giải trí chứ không có mục đích cờ bạc kiếm tiền. Ông Hoàng Hải, anh ruột của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, có thể kể là một “nhà vô địch về môn giải trí này. Chúng tôi chỉ cần mua một chục cái jeton, như đồng xu, bỏ vào khe là chơi triền miên. Cứ sắp hết lại kêu ông ông Hoàng Hải “cứu giá”, bonus lại đổ xuống hàng đống jeton tha hồ chơi.

Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết. Thật sự cái nhu cầu chính là đến đây gặp nhau, để… nói dóc, “bình loạn” vài cái tin văn nghệ, thời sự chính trị cho vui thôi.

Cả ba nhà hàng này với những cái “loa ngầm, loa không ai kiểm chứng” nên có thời người ta gọi những tin tức ấy là “radio catinat” (bởi con đường Tự Do, thời Pháp được đặt tên là đường Catinat). Tuy nhiên cũng có những nguồn tin “bí mật quốc gia” rất chính xác bên cạnh những nguồn tin chẳng bao giờ là sự thật. Nó cứ nhập nhằng như thế nên “radio Catinat” chưa chắc đã là “láo toét” như nhiều người kết tội nó.

Vậy tạm gọi Pagode dành cho giới viết lách gặp nhau, xả stress.

NHÀ HÀNG GIVRAL

Givral đông nhất và đáng kể nhất vào mỗi buổi sáng. Phóng viên trẻ thường tụ tập ở nhà hàng này vì nó ở ngay trước trụ sở Hạ Nghị Viện, các ông dân biểu thường ra ngồi giải lao tại đây và “thảo luận” đủ thứ chuyện bên lề. Và chuyện bên lề bao giờ cũng hấp dẫn hơn chuyện trong nghị trường. Chuyện “bí mật quốc gia”, chuyện phe nhóm, “gia nô” và không “gia nô”, chuyện tình bà nghị ông nghị…, cứ nghe mấy ông này là có đủ tin “giật gân” trong ngày. Cánh phóng viên thường bắt mối rất chặt chẽ với các ông bà dân biểu và nghị sĩ thượng hạ nghị viện. Thật ra họ có quyền lợi “hỗ tương”, anh cho tôi tin, báo tôi yểm trợ lập trường của anh.

Trong số những phóng viên, ngoài người Việt Nam còn có một số phóng viên người Mỹ, Pháp từ khách sạn Continental trước mặt ghé sang.

Hoặc cũng có một số phóng viên người Việt làm cho các đài truyền hình, truyền thanh nước ngoài săn tin tại đây.

Có một nhà thơ hàng đầu Việt Nam thời đó là thi sĩ Đinh Hùng, bình thường ông hay ngồi ở La Pagode, nhưng khi “hữu sự” ông lại ngồi ở Givral. Dáng người “thanh thoát” nhỏ nhắn rất thư sinh. Lúc nào ông cũng chải chuốt, complet, cravate, đầu chải mượt gọn gàng, tay luôn xách chiếc cặp da, ông còn giữ nguyên vẻ đỏm dáng, lịch lãm của “công tử Hà Nội” những năm 50. Ông thường hẹn gặp những người ái mộ ở đây.. Tôi để ý thấy hầu hết là những nữ độc giả rất trẻ, đẹp. Khi ông ngồi cùng 3-4 cô, khi ông lại rù rì với một người đẹp duy nhất. Đúng là ông có số đào hoa và dù đã ngoại ngũ tuần nhưng trái tim vẫn còn rất trẻ. Những lúc nhìn ông “say” như thế, tôi có cảm tưởng như ông cũng giống như những cậu trai 20 ngồi bên cô gái 18. Ông sống thật với rung cảm của mình.. Có lẽ vì vậy thơ ông bao giờ cũng mang cái óng mượt, thần thoại rất đặc trưng. Có thể, Givral chính là nơi bắt ngưồn cho những cánh thơ thăng hoa của cảm xúc này. Hôm nay ngồi ở Givral, hình bóng anh Đinh Hùng vẫn quanh quẩn đâu đây.. Nhớ lại, khi tôi viết truyện dài “Đời chưa trang điểm”, tiêu đề này chính là đã mượn trong câu thơ “đời chưa trang điểm mà xuân đã về” của anh. Lúc gặp nhau, anh Đinh Hùng nói với tôi: “Ừ, cái tít ấy có vẻ tiểu thuyết lắm, cứ lấy xài đi, đóng thuế cho tớ một cuốn thôi”. Mới đây mà đã hơn nửa thế kỷ rồi anh Đinh Hùng ơi!

NHÀ HÀNG BRODARD

Còn nhà hàng Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt, bà chị này hành nghề cai quản các em “ca nhe” từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm. Thỉnh thoảng một vài em vũ nữ, thường là loại có hạng như Lệ Hằng, Thủy Điên, Mỹ Khùng… ở mấy cái vũ trường gần đó như Tự Do, Mỹ Phụng, Olympia cũng la cà vào đây tán dóc.

Ba nhà hàng ấy là 3 sắc thái riêng biệt làm nên cái trục “văn hóa không tên”, cái linh hồn của Sài Gòn, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn.

NHÀ HÀNG THANH THẾ

Còn một địa chỉ nữa ở gần chợ Bến Thành là nhà hàng THANH THẾ, nơi này là chỗ gặp nhau của những ký giả thể thao như đàn anh Huyền Vũ, Thiệu Võ và một số những nhà báo miền Nam.

Dù sao cũng xin gửi đến bạn đọc nặng lòng với những hoài niệm cũ, với Sài Gòn xưa, một cái gì đã mất đi không thể tìm lại được./-

Văn Quang

From:TU-PHUNG

Việt Nam tiếp tục xếp cuối bảng về Chỉ số Tự Do Báo chí Thế giới

Việt Nam tiếp tục xếp cuối bảng về Chỉ số Tự Do Báo chí Thế giới

RFA
2021-04-20

Việt Nam tiếp tục xếp cuối bảng về Chỉ số Tự Do Báo chí Thế giới

Hình minh hoạ. Quân đội đứng canh gần tấm biển cổ động cho Đại hội 13 ở Trung tâm Hội nghị Quốc gia ở Hà Nội hôm 26/1/2021

 AFP

Việt Nam bị Tổ chức Phóng viên Không Biên Giới (RSF) xếp thứ 175 trong tổng số 180 quốc gia tên toàn thế giới về tự do báo chí trong báo cáo về Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới được công bố vào ngày 20/4.

Đây là năm thứ hai liên tiếp Việt Nam bị xếp thứ 175 trong báo cáo này của RSF.

Theo RSF, Chính phủ Việt Nam củng cố kiểm soát nội dung mạng xã hội trong khi tiến hành một làn sóng bắt bớ những nhà báo độc lập hàng đầu trước khi tiến tới Đại hội Đảng vào tháng giêng năm 2021. Trong số này có cô Phạm Đoan Trang, người được RSF trao giải Tác Động hồi năm 2019.

Theo báo cáo của RSF, ngành báo chí, một loại vắc xin chống thông tin sai lệch, đã bị chặn hoàn toàn hay một phần tại 73 phần trăm trong tổng số 180 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng.

Chỉ số đưa ra phản ánh tình trạng suy thoái về việc tiếp cận thông tin của người dân và sự gia tăng biện pháp ngăn trở đưa tin từ phía cơ quan chức năng. Dịch COVID-19 được sử dụng như căn cứ để chặn không cho các nhà báo tiếp cận nguồn tin và trực tiếp tác nghiệp ở hiện trường.

Dữ liệu đưa ra trong báo cáo cho thấy các nhà báo nhận ra rằng ngày càng khó tiến hành điều tra và loan những tin nhạy cảm; đặc biệt tại Châu Á, Trung Đông và Châu Âu.

Tổng thư ký Christophe Deloire của RSF được dẫn lời rằng hoạt động sản xuất và loan truyền tin  tức của báo chí thường xuyên bị chặn bởi những yếu tố kinh tế chính trị, kỹ thuật và đôi khi cả yếu tố văn hóa. Đề có thể đối phó với sự lan tràn thông tin sai lệch truyền đi khắp nơi trên những cơ sở số và thông qua mạng xã hội, báo chí cung cấp những phương tiện hữu hiệu nhất nhằm bảo đảm cho những cuộc tranh luận công cộng được dựa vào đa dạng những dữ liệu có xác lập.

Ba nhà báo độc lập thuộc nhóm Báo Sạch bị khởi tố và bắt giam(RFA)

Ba nhà báo độc lập thuộc nhóm Báo Sạch bị khởi tố và bắt giam (RFA)

RFA
2021-04-20

Ba nhà báo thuộc nhóm Báo Sạch: (từ trái qua) Nguyễn Thanh Nhã, Nguyễn Phước Trung Bảo, Đoàn Kiên Giang 

Ba nhà báo độc lập là Nguyễn Thanh Nhã, Đoàn Kiên Giang và Nguyễn Phước Trung Bảo vào ngày 20 tháng tư bị Công an Thành phố Cần Thơ khởi tố và bắt giam với lý do có liên quan đến nhà báo độc lập khác là ông Trương Châu Hữu Danh thuộc Báo Sạch. Ông Trương Châu Hữu Danh đang bị giam giữ để điều tra với cáo buộc vi phạm Điều 331 Bộ Luật Hình sự.

Báo Công An Nhân Dân cho biết cả ba nhà báo mới bị bắt giữ đều thuộc nhóm Báo Sạch. 

Báo Sạch là một báo mạng độc lập không thuộc kiểm soát của Chính phủ. Người đọc chủ yếu đọc thông tin của Báo Sạch qua mạng xã hội Facebook. Tuy nhiên trang báo đã biến mất khỏi Facebook trong khoảng thời gian nhà báo Trương Châu Hữu Danh bị khởi tố và bắt giam.

Mạng báo Pháp Luật trong cùng ngày cho biết biện pháp khởi tố và bắt giam như vừa nêu được tiến hành vì cả ba người bị phát hiện có liên can trong quá trình điều tra mở rộng vụ án ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền/lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân’ xảy ra tại thành phố Cần Thơ và một số tỉnh thành do nhà báo Trương Châu Hữu Danh và một số người khác thực hiện.

Tin cho biết nhà báo Nguyễn Thanh Nhã (sinh năm 1980, cư trú tại căn hộ 3.01 chung cư Flora Anh Đào, phường Phước Long B, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh), nhà báo Đoàn Kiên Giang (sinh năm 1985, cư trú tại căn hộ 5.04 tầng 6 chung cư 241/1/25C, Phường 11, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh), và nhà báo Nguyễn Phước Trung Bảo (sinh năm 1982, cư trú tại 172 Hà Huy Giáp, phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).

Các quyết định khởi tố, bắt tạm giam trên đều được Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phê chuẩn.

Cơ quan chức năng trong khi khám xét nơi ở của ba nhà báo vừa nêu đã thu giữ nhiều đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án.

Nhà báo Trương Châu Hữu Danh bị bắt vào ngày 17 tháng 12 năm ngoái. Ông là nhà báo duy nhất tiếp cận và đưa thông tin vụ án tử tù án oan Hồ Duy Hải xuyên suốt từ giai đoạn điều tra đến nay. Ông Trương Châu Hữu Danh cũng đi đầu trong tất cả các điểm nóng, đi đầu chống BOT bẩn, khai quật những bất công Thủ Thiêm, vào rừng đón ông Đặng Văn Hiến do phản đối việc cưỡng chế bắn chết người ra đầu thú …