CÁI GIÁ PHẢI TRẢ CỦA NÔ LỆ.

Hôm nay là Hồ Duy Hải ngày mai sẽ đến lượt bạn. Nếu đời bạn có tránh được thì chưa chắc đời con, đời cháu bạn có thể tránh được.

Hoai Linh Ngoc Duong

 CÁI GIÁ PHẢI TRẢ CỦA NÔ LỆ.

Ở Mỹ cũng như ở các nước pháp trị khác nếu nhân viên chấp pháp tiến hành điều tra sai trình tự luật pháp thì luật sư của bị cáo có thể kiện ra tòa và cho dù có bằng chứng thực sự thì bị cáo vẫn được tuyên vô tội và được phóng thích.

Do quy định nghiêm ngặt như thế nên các nhân viên chấp pháp phải hết sức tuân thủ tiến trình này nếu không muốn bị cáo thoát tội. Và các luật sư bị cáo đêm về ngồi vắt óc suy nghĩ xem bên cảnh sát, công tố có làm sai bước nào hay không.

Thế nhưng với nền tư pháp Việt Nam thì lại có chuyện “Kỷ luật công an sai. Nhưng không thay đổi bản chất vụ án”.

Đây là lập luận của xứ luật rừng. Khi ba ngành hành pháp, lập pháp, tư pháp ở chung một nhà.

Trong tiến trình điều tra nếu công an ngụy tạo chứng cớ thì đó không còn là chứng cớ, nếu xác định sự ngoại phạm về thời gian của bị cáo sai thì bị cáo không thể có mặt tại hiện trường vào thời điểm gây án. Và như thế nghi phạm không thể là thủ phạm. Còn thủ phạm thật sự là ai thì phải tiến hành điều tra lại từ đầu.

Không thể vì không tìm ra thủ phạm thực sự mà có quyền dùng kẻ chết thế.

Tuy nhiên đây là cái giá phải trả của người dân Việt Nam.

Khi họ không xuống đường bất tuân dân sự để tạo ra đối lập, tam quyền phân lập ,tư pháp độc lập thì họ sẽ bị xem là những kẻ chết thế cho con cái của những kẻ có quyền có chức.

Trong chiến tranh họ sẽ là những con tốt bị nướng đầu tiên, con cái quan chức sẽ đi du học chờ ngày về tiếp quản quyền lực sau khi chốt đã nướng xong.

Trong hòa bình, nếu có một vụ án mạng do con quan là thủ phạm, họ sẽ hình nhân thế mạng để dẹp yên dư luận.

Hôm nay là Hồ Duy Hải ngày mai sẽ đến lượt bạn. Nếu đời bạn có tránh được thì chưa chắc đời con, đời cháu bạn có thể tránh được.

https://tuoitre.vn/vu-ho-duy-hai-long-an-se-xu-ly-can-bo…

Vụ Hồ Duy Hải: 'Long An sẽ xử lý cán bộ điều tra sai sót, dù sai không ảnh hưởng bản chất'

TUOITRE.VN

Vụ Hồ Duy Hải: ‘Long An sẽ xử lý cán bộ điều tra sai sót, dù sai không ảnh hưởng bản chất’

Từ xã hội đến giáo dục, không thể sửa

Từ xã hội đến giáo dục, không thể sửa

Đỗ Ngà

Ngày 4/5 hai thanh niên đã thực hiện hành vi bẻ khóa xe máy, một bác sĩ ngăn cản hành vi ăn cắp này thì bị hung thủ đâm chết. Sau đó công an đã treo giá 100 triệu cho ai cung cấp thông tin bắt hung hung thủ.

Thật là đau xót cho một trí thức phải mất mạng một cách vô ích vì một xã hội xấu xa. Giáo dục khó khăn lắm mới tạo ra con người có trình độ nhưng bị cái xã hội này nó phá đi rất dễ dàng.

Tại Thái Lan, người dân vẫn để ô tô, xe máy ngoài đường ngay cả khi họ đóng cửa ngủ trong nhà vẫn không bị mất cắp. Nếu so sánh xã hội Việt Nam và xã hội Thái Lan, thì đất nước đã không phải mất đi một bác sĩ và tiền của dân cũng không phải mất 100 triệu để tìm ra hung thủ.

Tạo ra một tên đạo chích rất dễ, tạo ra một bác sĩ khó hơn nhiều, ấy vậy mà bác sĩ bị đạo chích giết chết một cách dễ dàng. Vậy ai đã tạo ra một xã hội đầy bất an như vậy? Đảng!

Nói đến giáo dục XHCN là nói đến mặt bằng chung của nền giáo dục này. Xã hội chính là kết quả của một nền giáo dục. Xã hội Việt Nam là một xã hội độc hại và đầy bất an, con người trí thức sống trong xã hội này dốc hết trí lực đối phó với sự bất an của xã hội thì còn đâu thời gian mà suy nghĩ ra điều có ích?

Không ai hiểu nền giáo dục này bằng CS, không ai hiểu sự bất an của xã hội này bằng cộng sản, vì vậy mà để con cái phát triển tốt hơn, quan chức cho con du học, để sống an toàn hơn họ xây biệt phủ kín cổng cao tường và lắp hệ thống an ninh hiện đại. Hành động đưa con đi học nước ngoài là hành động tị nạn, hành động xây biệt phủ với tường rào kiên cố hệ thống an ninh hiện đại là hành động cố thủ trước cái xấu của xã hội tấn công.

XHCN được Đảng Cộng sản áp dụng cho đất nước này thực sự là một chủ nghĩa độc hại. Giáo dục vốn không độc hại, nó chỉ độc hại khi nó mọc lên trên cái nền đất nhiễm độc XHCN. Như vậy nếu cải cách giáo dục mà vẫn kiên trì XHCN thì làm thế nào để nền giáo dục tốt hơn được đây? Vô phương.

Năm 2012, giáo sự Hoàng Tụy đã nói “Giáo dục Việt Nam không chỉ lạc hậu mà đang… lạc lối”. Vậy lối nào đã làm giáo dục XHCN bị lạc? Đó chính là cái định hướng XHCN trong giáo dục.

*******

Ngày 6/5, trên báo VnEconomy có bài viết “Thủ tướng: ‘Ngành giáo dục phải đổi mới tư duy, tự lực vươn lên, không chờ ai làm thay’.” Bài viết cho thấy, ông Phạm Minh Chính đang định hướng cải cách giáo dục dựa trên quan điểm là giáo dục “lạc hậu” chứ không phải là “lạc lối”. Thực tế lạc lối mới là nguyên nhân chính làm cho mọi cải cách trong nhiều năm qua thất bại.

Qua nhiều đời thủ tướng, nhiều đời bộ trưởng bộ giáo dục thì nền giáo dục Việt Nam vẫn cứ cải tiến cải lùi như gà mắc tóc. Nguyên nhân thất bại của những người tiền nhiệm ông Phạm Minh Chính không nhận ra thì cuối cùng ông cũng khó tránh khỏi câu chuyện “hết cải tiến, đến cải lùi” và cứ loay hoay như gà mắc tóc như bao năm qua mà thôi.

“Đừng nghe những gì CS nói, hãy xem những gì CS làm”, không cần biết ông Phạm Minh Chính nói gì, chỉ cần thấy quan chức CS mà không đưa con đi Tây du học nữa, thì cải cách giáo dục thành công, và quan chức không phải xây biệt phủ tường cao nữa thì xã hội yên bình.

Quan chức CS mà làm được những điều đó là điều không tưởng, bởi không ai hiểu giáo dục XHCN cho bằng CS, không ai hiểu xã hội này cho bằng CS, nó không thể thay đổi mà chỉ có thể vứt đi.

May be an image of one or more people and people standing

Chuyện tình của quan chức cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam (Phần 2)

 

Chuyện tình của quan chức cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam (Phần 2)

Lê Văn Đoành

7-5-2021

Tiếp theo phần 1

Chủ tịch Trần Văn Minh ở Đà Nẵng

Trần Văn Minh sinh năm 1955, cựu Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, Uỷ viên Trung ương Đảng khoá 11, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Từ anh cán bộ thuỷ lợi cấp huyện, Minh được “lãnh chúa miền Trung” Nguyễn Bá Thanh dìu dắt, bảo kê và đặt lên đến ghế Giám đốc sở Kế hoạch – Đầu tư, rồi nhảy sang Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng từ tháng 7/2006.

Tiền bạc và quyền lực làm Trần Văn Minh bắt đầu hư hỏng. Vợ Minh nhìn ốm yếu và kém nhan sắc, cho nên Minh đã lập “phòng nhì”, đó là Nguyễn Thị Tuý Vân, sinh năm 1959, một phụ nữ goá chồng, vốn là một cô giáo, đi làm hướng dẫn viên du lịch.

Trần Văn Minh (trái) và người tình Tuý Vân

Cặp bồ với Trần Văn Minh, nàng Tuý Vân trở thành Giám đốc cty Hoàng Trà, thu tóm hàng loạt công sản nhà nước về tay mình. Nguyễn Thị Tuý Vân là hình mẫu của típ phụ nữ tay không “bắt” được ngàn tỷ.

Năm 2006, Chủ tịch Trần Văn Minh cho đuổi hàng trăm hộ dân trong khu vực và xoá luôn bãi tắm công cộng Bắc Mỹ An, lấy tổng cộng hơn 5 hecta đất ở đây, dâng cho người tình của mình. Nguyễn Thị Tuý Vân cùng Lê Thị Quý (vợ Bí thư Thành uỷ ĐN Nguyễn Bá Thanh) hùn hạp đầu tư 25 triệu USD xây nên khu nghỉ dưỡng tiêu chuẩn 5 sao, mang tên Khách sạn Hoàng Trà, sau đổi tên quốc tế là Lifestysle Resort Đà Nẵng.

Cuối năm 2012, khi sắp ra Hà Nội nhậm chức Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Lifestysle Resort Đà Nẵng nhanh chóng được bán cho Tập đoàn Sun Group, với giá chuyển nhượng hơn 1000 tỷ VNĐ (tương đương 50 triệu USD tại thời điểm đó), theo thông tin của một số người nắm rõ vụ việc. Tháng 4/2013, chủ mới đã tổ chức lễ công bố đổi tên từ Lifestyle Resort Danang thành Pullman Danang Beach Resort.

Chưa hết, vào năm 2008, Trần Văn Minh ký thu hồi các cánh đồng lúa của dân, giao đất dự án “Khu du lịch sinh thái Hoàng Trà” rộng 37,5 hecta cho Tuý Vân.  Công ty Hoàng Trà chưa nộp tiền sử dụng đất, chưa triển khai bất kỳ hạng mục nào, đến đầu năm 2013, Tuý Vân bán dự án này lại cho Sun Group, thu lãi hàng trăm tỷ đồng.

Ngoài ra Tuý Vân còn sở hữu các cao ốc văn phòng, khách sạn 3 đến 4 sao ở mặt tiền, đất vàng trung tâm thành phố như: KS Manoglie, KS Thủ Đô…

Tháng 4/2017, một năm sau ngày nghỉ hưu, Trần Văn Minh bị Bộ Công an khởi tố, bắt giam vì tội liên đới giúp Vũ “nhôm” thu tóm, chiếm đoạt đất vàng, công sản Đà Nẵng, gây thất thoát ngân sách nhà nước lên đến 22.000 tỷ VNĐ (gần 1 tỷ USD)

Tháng 5/2020, Toà phúc thẩm Tối cao đã tuyên y án sơ thẩm 17 năm tù giam đối với bị cáo Trần Văn Minh, buộc Minh phải bồi thường cho ngân sách Nhà nước 396 tỷ VNĐ.

Đầu năm 2021, một số cựu quan chức Đà Nẵng đến Trại giam An Điềm, tỉnh Quảng Nam, thăm tù nhân Trần Văn Minh đang thụ án ở đây, họ cho biết Minh có vẻ chấp nhận số phận “lên voi xuống chó” và đang luyện phương pháp thiền Ấn Độ cho qua ngày tháng.

Còn Nguyễn Thị Tuý Vân, có thông tin bà ta kiếm được “thẻ xanh”, hiện đang sống ở Mỹ cùng các con, thỉnh thoảng vẫn về Việt Nam. Trước đây, khi đưa hai con đi du học, Tuý Vân đã sang Mỹ mua biệt thự, có cái thì ở, có cái cho thuê. “Tay vịn” ngày nào giờ ôm ngàn tỷ, cô ta sống trong vàng son, chỉ tội cho tấm thân già Trần Văn Minh lầm lũi, mọt gông trong tù.

Chủ tịch Đà Nẵng kế nhiệm: Văn Hữu Chiến

Khác với nhiều đại quan “nhỏ không học, lớn làm cha thiên hạ”, Văn Hữu Chiến sinh năm 1954 là nhân vật nằm trong số ít những lãnh đạo tỉnh có học hành nghiêm túc. Văn Hữu Chiến tốt nghiệp kỹ sư ở Nga, cũng là đồ đệ của Nguyễn Bá Thanh.

Năm 2011, khi Trần Văn Minh được điều ra Trung ương, Chiến được Nguyễn Bá Thanh cho ngồi vào ghế Phó Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2011-2016. Văn Hữu Chiến được nhận xét là điềm đạm, cần mẫn, tính tình không đến nỗi hung hăng, tàn bạo như các đàn anh, chỉ mỗi cái tội là “máu” gái và mê… tiền.

Cũng như Nguyễn Bá Thanh và Trần Văn Minh, Chiến có nhiều “em út” vây quanh. Trong khuôn khổ bài này, chúng tôi chỉ đề cập đến hai trong số các “bóng hồng” của chiến.

Mặc dù vợ con đề huề, nhưng năm 2011 khi vừa nhậm chức Chủ tịch UBND Đà Nẵng, Văn Hữu Chiến chấm cô Mỹ Nương, ca sĩ của Đoàn Ca múa nhạc Đà Nẵng làm “bồ nhí”. Nàng tên thật là Lê Thị Mỹ Nương sinh năm 1976, đến từ Quảng Bình, có chồng là một nhạc công khá tên tuổi.

Cuộc tình với ngài Chủ tịch đã đem lại cho Mỹ Nương khối tài sản mà nhiều ca sĩ Đà Thành có nằm mơ cũng không thấy: Một căn biệt thự rộng mấy trăm mét vuông ở Villas Phúc Lộc Viên, gần bán đảo Sơn Trà, một nhà cao tầng mặt tiền nằm trên đại lộ Nguyễn Tất Thành để cho thuê, một số bất động sản ven biển và cả ở trung tâm thành phố, cùng xe hơi sang trọng, vi vu…

Mỹ Nương sống vương giả, sang giàu bằng tiền có được với sự giúp đỡ của người tình, nhưng thật ra là tiền của bá tánh. Nương cho con du học ở Mỹ; hàng năm nàng đưa các con đi du lịch ở châu Á, châu Âu.

Ảnh: Cựu chủ tịch Văn Hữu Chiến (trái) và người tình, ca sĩ Mỹ Nương.

Cũng trong cùng thời gian mặn nồng với Mỹ Nương, Văn Hữu Chiến còn “đầu ấp tay gối” với một cô thôn nữ chân ướt chân ráo từ quê theo mẹ ra thành phố. Cô gái tên là Lê Thị Hoa, sinh năm 1984, đến từ Điện Bàn, Quảng Nam. Làm “phòng nhì” cho Văn Hữu Chiến, từ chỗ mẹ là bồi bàn, con là lao động phổ thông, mẹ con Hoa giàu lên nhanh chóng, sở hữu 5 khách sạn hạng sang và vô số nhà đất đắc địa.

Giai đoạn 2011-2016, Đà Nẵng tiến hành thu hồi đất của dân, giải phóng mặt bằng, bán dự án cho các nhóm đầu cơ, Lê Thị Hoa trở thành “trùm” chạy dự án, chạy “giải toả đền bù”, “phân lô tái định cư”. Hàng trăm công trình công ích ngàn tỷ, các đơn vị muốn tham gia thi công, xí phần, có được chữ ký của Chủ tịch UBND Đà Nẵng đều tìm đến Hoa. Có “phi vụ”, Hoa khoe kiếm được 50 tỷ trong ngày. Năm 2012, Hoa đẻ cho Chiến một cậu con trai, càng lớn đứa bé càng giống Văn Hữu Chiến như hai giọt nước.

Năm 2017, khi Văn Hữu Chiến bị khởi tố, bắt giam, tội danh tiếp tay Vũ “nhôm” chiếm đoạt công sản. Lo sợ liên luỵ, Lê Thị Hoa bán gấp hàng loạt khách sạn ở đường Dương Đình Nghệ, Hồ Nghinh…, chỉ giữ lại một khách sạn trên đường Nguyễn Công Trứ, quận Sơn Trà. Hoa và con trai còn ở lại Đà Nẵng, nhưng mẹ và em gái của Hoa cũng đã ra nước ngoài an toàn từ năm 2018.

Văn Hữu Chiến đang thụ án 10 năm tù (toà phúc thẩm giảm 2 năm so với phiên sơ thẩm) tại trại giam An Điềm, bị buộc phải đền bù cho nhà nước số tiền hơn 150 tỷ VNĐ.

Hiện Mỹ Nương cùng ba đứa con đang vui chơi, tắm biển ở Hoa Kỳ. Còn Lê Thị Hoa thì tâm sự với bạn bè, không biết tiêu làm sao cho hết khối tài sản khổng lồ kiếm được. Chỉ có Văn Hữu Chiến là chưa hết bàng hoàng, vẫn bị sốc và không tin nổi sự thật phũ phàng xảy ra với cuộc đời mình.

Người nào đã từng hưởng ân huệ của các lãnh đạo Đà Nẵng, thì nên đi Trại giam An Điềm một chuyến, phòng giam của Văn Hữu Chiến và Trần Văn Minh chỉ cách nhau có một vách tường xi măng. Quả báo luôn là cái giá không hề rẻ chút nào, khi những kẻ hút máu dân và xà xẻo ngân sách quốc gia phải trả.

Chủ tịch Trần Khiêu ở Trà Vinh

Từ Bắc vào Nam, quan chức ở đâu cũng có vợ bé, “phòng nhì”, bồ nhí.  Nếu như Nông Đức Mạnh xuất phát điểm là tiều phu, Lê Thanh Hải khởi nghiệp thợ hàn, Trịnh Văn Quyết là công nhân ươm giống cây trồng… thì Trần Khiêu (sinh năm 1954), xuất thân là y tá miệt vườn, sau làm cán bộ Đoàn rồi học bổ túc chắp vá mãi cũng lận lưng được Cao cấp Chính trị, cử nhân Kinh tế và leo lên chức Uỷ viên Ban Thường vụ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh.

Chuyện tình của Trần Khiêu đúng là “náo loạn” miền Tây Nam bộ. “Bóng hồng” của ông Khiêu tên là Trần Hồng Ly, sinh năm 1979.

Chân dung Trần Khiêu và “bồ nhí” Trần Hồng Ly. Nguồn: NLĐ và DT

Năm 2002, Trần Hồng Ly công tác tại Công an tỉnh Trà Vinh với cấp bậc thượng sĩ, sau đó dính vào cho vay nặng lãi và hành hung con nợ, nên Ly phải ra khỏi ngành Công an.

Năm 2006, tuy chỉ có mảnh bằng Trung cấp văn thư, nhưng từ khi ly dị chồng, cặp bồ với Trần Khiêu, khi đó là Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Trà Vinh, kiêm Trưởng ban Quản lý các khu Công nghiệp tỉnh Trà Vinh, Hồng Ly lên như diều gặp gió. Từ nhân viên đánh máy tại Sở Kế hoạch – Đầu tư, Hồng Ly nhảy lên làm chuyên viên, rồi được bổ nhiệm làm phó Phòng Quản lý doanh nghiệp – lao động (thuộc Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Trà Vinh).

Giật chồng người ta nhưng tối 2/6/2010, Hồng Ly lại “hổ báo” đến nhà chửi bới và ghen ngược với bà Ba Ánh, phu nhân ông Trần Khiêu, lúc đó đang giữ chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh.

Tháng 6/2011, Trần Khiêu nhậm chức Chủ tịch UBND tỉnh, thì Hồng Ly đã giàu nức đố đổ vách”, bất động sản và nhà mặt tiền trung tâm TP Trà Vinh đếm không hết.

Ngày 7/1/2013, chỉ vì mâu thuẫn với người tình, nghi Trần Khiêu lăng nhăng, “ấp” cô gái khác trong phòng làm việc, lúc 22 giờ đêm cùng ngày, Hồng Ly chạy xe SH thẳng vào trụ sở UBND tỉnh, bất chấp hiệu lệnh yêu cầu dừng xe của đội cảnh sát bảo vệ; sau đó dùng gạch đập kính chiếc ô tô biển xanh 84E-0727 là xe công vụ dành cho Trần Khiêu. Ly hung hãn dùng gạch chọi, khiến một Cảnh sát bảo vệ bị thương.

Sau đó, Ly đi lên lầu, dùng gạch đập vào cửa phòng làm việc của chủ tịch UBND tỉnh. Khi lực lượng Cảnh sát yêu cầu Hồng Ly về trụ sở để làm rõ sự việc, không những không chấp hành, Ly còn lớn tiếng đe nẹt, chửi bới, thóa mạ họ với những lời lẽ thô tục xúc phạm.

Nhân sự việc trên, Lê Tấn Lực, sinh năm 1955, Tỉnh uỷ viên, Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Trà Vinh, cấp trên trực tiếp của Trần Hồng Ly, là người lâu nay “để ý” nhưng không “chấm mút” được Ly nay muốn mượn cơ hội này để trả thù.

Ông Lê Tấn Lực

Lực tạo phe nhóm cùng với ông A là Uỷ viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm UBKT Tỉnh uỷ Trà Vinh, mượn truyền thông báo chí để đưa câu chuyện “đại náo công đường” của Hồng Ly ra công chúng, để “quyết đấu” với Trần Khiêu.

Bị tấn công tứ bề, Trần Khiêu không che chở nổi cho “bồ nhí”, Hồng Ly bị kỷ luật buộc thôi việc, khai trừ Đảng.

Quyết định kỷ luật cô Trần Hồng Ly

Vụ bê bối tình ái gây xôn xao dư luận, chấn động cả nước, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đành phế bỏ Trần Khiêu. Với lá đơn hồi tháng 7/2013, gửi Tỉnh uỷ Trà Vinh về việc xin về hưu trước thời hạn, “ra đi trong danh dự”, thôi giữ chức Phó Bí thư Tỉnh uỷ và Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh nhiệm kỳ 2011-2016, Trần Khiêu chính thức giã từ sự nghiệp chính trị khi mới ngồi ghế chủ tịch tỉnh vừa tròn hai năm.

Quyết định của Thủ tướng cho Trần Khiêu “về vườn”

Nghỉ việc, Hồng Ly mua Lexus 570, khai trương nhà hàng, khách sạn, mở công ty kinh doanh bất động sản và hiện nay đang sống hạnh phúc với “đầy tớ nhân dân”… Trần Khiêu.

Ảnh: Trần Khiêu bên người tình sau khi nghỉ hưu

(Còn tiếp)

Chuyện tình của quan chức cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam (Phần 1)

 

Chuyện tình của quan chức cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam (Phần 1)

Lê Văn Đoành

6-5-2021

Nhiều năm trước, hãng Thông tấn China News Service (CNS) của Trung Quốc, đã phát đi bài nghiên cứu của ông Thiệu Đạo Sinh, Viện Khoa học xã hội TQ cho hay, 95% quan tham ở Trung Quốc bị phát hiện đều có bồ nhí, hơn 60% cán bộ lãnh đạo tham nhũng bị xử lý có vợ lẽ.

Ngoài ra, hối lộ tình dục cũng là một tệ nạn trong xã hội Trung Quốc. Những “ông trùm” cựu Uỷ viên Bộ Chính trị như: Chu Vĩnh Khang, Bộ trưởng Bộ Công an; Bạc Hy Lai, Bí thư Thành uỷ Trùng Khánh; Trần Lương Vũ, Bí thư Thành uỷ Thượng Hải… khi “ngã ngựa” đều lộ ra nhiều “bồ nhí”, vợ bé.

Ca sĩ La Phi là bồ nhí của cựu quan chức cấp cao Bộ Đường sắt Trung Quốc Trương Thự Quang. Ảnh: SCMP

Nhà nước Cộng sản Việt Nam có thể chế tương đồng với Trung Cộng, cho nên vấn nạn này cũng không kém gì nước láng giềng, thậm chí còn lan rộng từ “thượng tầng” xuống tận địa phương. Xin điểm qua một số nhân vật sau đây:

Nông Đức Mạnh

Nhân vật đầu bảng và nổi tiếng nhất là cựu Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh. Ông Mạnh sinh năm 1940, từng giữ chức Chủ tịch QH hai khoá 9 và 10, Tổng Bí thư đảng CSVN khoá 9 và khoá 10. Vợ ông là bà Lý Thị Bang sinh năm 1942, đồng hương huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn với ông Mạnh.

Khi ở đỉnh cao quyền lực, Nông Đức Mạnh cặp bồ với Đỗ Thị Huyền Tâm, sinh 17/10/1966, quê ở Ninh Xá, Bắc Ninh, là Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Minh Tâm. Huyền Tâm kém nhỏ hơn Nông Quốc Tuấn, con trai cả của ông Mạnh 3 tuổi và kém ông Mạnh 26 tuổi. Bà Tâm là đại biểu QH khoá 12 và khoá 13, Nông Đức Mạnh được cho là “bế” người tình vào Quốc hội.

Bà Lý Thị Bang, vợ chính thức ông Mạnh (mẹ của Nông Quốc Tuấn và Nông Thị Bích Liên) đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 24/10/2010. Ngày 8/9/2011, Nông Đức Mạnh đưa Đỗ Thị Huyền Tâm đi đăng ký kết hôn. Nhiều người chê trách khi vợ chết chưa tròn năm, không kịp giỗ đầu, ông Mạnh đã vội vã tục huyền.

Nông Đức Mạnh và “vợ bé” Đỗ Thị Huyền Tâm. Ảnh trên mạng

Tháng 4/2012, trong “Đơn tố cáo” gởi Bộ Chính trị, BCH Trung ương Đảng, con gái ông Mạnh là Nông Thị Bích Liên đã vạch mặt, chỉ tên Đỗ Thị Huyền Tâm. Cô Bích Liên cho rằng, bà Tâm từ “bồ nhí” đến làm người vợ mới của cha mình, là có âm mưu để “chạy nợ”, khoản nợ ngân hàng lên đến 900 tỷ VNĐ, cũng như có dấu hiệu vi phạm pháp luật và đạo đức.

Lời lẽ trong đơn rất nặng nề, Bích Liên kết tội bà Huyền Tâm: “Các hành vi trái đạo đức, luân thường đạo lý, nguyên tắc của Đảng, pháp luật của nhà nước, tư cách Đảng viên, Đại biểu Quốc hội trước tổ chức Đảng, trước nhân dân…

Đơn tố cáo của Nông Thị Bích Liên

Đơn tố cáo chuyện tình Đỗ Thị Huyền Tâm – Nông Đức Mạnh, đảng không xử lý, nhưng chuyện này thì thiên hạ đều rõ: Sau khi kết hôn với cựu Tổng Bí thư, hai “công ty gia đình” là Cty Cổ phần Đầu tư Phát triển Xây dựng Minh Phát và Cty cổ phần đầu tư xây dựng Công Thành với cổ phần của Đỗ Thị Huyền Tâm cùng với các anh em trai Đỗ Ngọc Minh, Đỗ Minh Đức nhanh chóng được “chỉ định thầu”:

– Dự án đầu tư nâng cấp tuyến đường Pháp Vân – Cầu Giẽ dài 29 km, triển khai năm 2014 theo hình thức BOT, có tổng mức đầu tư hơn 6.700 tỉ đồng.

– Dự án cải tạo nâng cấp quốc lộ 18A, BOT Biên Cương và dự án đường cao tốc Hạ Long – Vân Đồn theo hình thức BOT. Dự án triển khai năm 2015 với tổng vốn lên đến 14.000 tỷ đồng.

Sơ sơ vài “phi vụ”, Đỗ Thị Huyền Tâm và các anh em ruột của mình thừa sức trả nợ vay ngân hàng và nhanh chóng trở thành đại gia ngàn tỷ.

Hôm nay, Đỗ Thị Huyền Tâm đang phè phỡn hưởng thụ phần đời còn lại bên cựu Tổng Bí thư “trồng cây gì, nuôi con gì” trong căn biệt thự cả ngàn mét vuông bên Hồ Tây.

Lê Thanh Hải

Tiếp nối “tài năng” của cụ Nông, nhân vật thứ hai cũng “đình đám” không kém, đó là Lê Thanh Hải (tức Hai Nhựt). Hải sinh năm 1950, cựu Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành uỷ thành Hồ hai khoá liên tiếp.

Lê Thanh Hải có “bồ nhí” nhỏ hơn chục tuổi, một phụ nữ có nhan sắc tên là Đào Thị Hương Lan, sinh năm 1960, quê TP Mỹ Tho. Khi Hai Nhựt làm chủ tịch UBND TP HCM, thì Lan từ nhân viên văn phòng được điều sang sở Tài chính, giữ các chức vụ Trưởng phòng ngân sách, Phó Giám đốc sở, cơ cấu Lan vào Thành uỷ viên, đại biểu HĐND, rồi Giám đốc Sở Tài chính TP.HCM hai nhiệm kỳ.

Chân dung Lê Thanh Hải và người tình Đào Thị Hương Lan

Suốt mười năm mặn nồng bên “anh Hai”, giám đốc Sở Tài chính, kiêm Phó ban Chỉ đạo 09 Đào Thị Hương Lan làm cho không biết bao nhiêu công sản bốc hơi một cách ngoạn mục.

Trong vụ án Vũ “nhôm” phù phép chiếm hữu khu đất vàng 15 Thi Sách, có diện tích 2345 m2 ngay trung tâm Quận 1 mà cựu Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Hữu Tín bị khởi tố, Lan cũng là đối tượng có liên quan. Với chức trách được giao, Lan đã tiếp tay để khu đất vàng 15 Thi Sách lọt vào túi Vũ “nhôm” một cách dễ dàng. Lan cũng dính líu trực tiếp đến vụ khu đất vàng 185 Hai Bà Trưng, do Dương Thị Bạch Diệp thu tóm.

Nắm tài chính toàn bộ thành phố, Đào Thị Hương Lan là “tay hòm chìa khoá”, giúp Lê Thanh Hải yên tâm hút máu dân và rút ruột hết ngân sách. Hàng trăm công sản, dự án lọt vào tay các “nhóm lợi ích” trong nước, dòng họ Lê Thanh Hải và cả đại gia nước ngoài như Tập đoàn Vạn Thịnh Phát của Trương Mỹ Lan, tỷ phú Trung Quốc, đều có bàn tay phù phép của Lan.

Hai Nhựt “bật đèn xanh” cho Lan góp vốn với Lê Thị Thanh Thuý, tức Hà ‘Sen’ (Chủ đầu tư khu đất 8 -12 Lê Duẩn, Quận 1, TP HCM) để thu tóm khu đất số 8 – 12 Lê Duẩn, Quận 1. Cứ vậy, hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn tỷ tiền công sản đã “cuốn theo chiều gió” cùng đôi tình nhân Hai Nhựt – Hương Lan.

Năm 2018, Vũ “nhôm”, Út “trọc” bị bắt giam, các Phó Chủ tịch UBND TPHCM như Nguyễn Hữu Tín, Nguyễn Thành Tài, cùng nhiều sĩ quan cấp tướng bị khởi tố. Thấy động, Lê Thanh Hải “vẽ” cho Đào Thị Hương Lan ra nước ngoài… chữa bệnh. Ôm theo hàng chục triệu Mỹ kim, Hương Lan sang Mỹ, rồi trốn sang Canada “cao chạy, xa bay” một năm trước khi Cơ quan điều tra đến nhà tống đạt quyết định khởi tố, bắt giam.

Giờ đây, khi đám quan chức mọt gông, Lê Thanh Hải đang bị Cơ quan điều tra Bộ Công an triệu tập, thì ở phương trời xa, Đào Thị Hương Lan đang rung đùi trong căn villa sang trọng ở Tây bán cầu.

Trịnh Văn Chiến

Chuyện tình tốn nhiều bút mực nhất Việt Nam có lẽ thuộc về Trịnh Văn Chiến, quan chức đầu tỉnh Thanh Hóa. Chiến sinh năm 1960, Uỷ viên Trung ương Đảng khoá XII, Bí thư Tỉnh uỷ nhiệm kỳ 2015-2020.

Câu chuyện “Hotgirl thăng tiến thần tốc” gây xôn xao cả nước và chấn động quan trường Thanh Hoá. Khi mà cả hệ thống chính trị phải vào cuộc, nào là Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ, Thanh tra Chính phủ… đều tham gia, báo chí “lề đảng” cũng tràn ngập các bài điều tra, vụ việc bị mang ra cả diễn đàn Quốc hội, nhưng cuối cùng công cốc, kết quả là Trịnh Văn Chiến vẫn ngạo nghễ nhe răng cười.

Người tình của Chiến là Trần Vũ Quỳnh Anh, sinh năm 1986, nổi tiếng với danh xưng “hotgirl” xứ Thanh. Từ một tay tạp vụ, chỉ có bằng cấp Cao đẳng Công nghệ Thông tin, cuộc đời Quỳnh Anh đã sang một trang mới khi lọt vào mắt xanh của Ngô Văn Tuấn, Giám đốc Sở Xây dựng Thanh Hóa.

Khi trở thành tình nhân của Ngô Văn Tuấn, ngay lập tức Quỳnh Anh được tuyển vào làm công chức của Sở Xây dựng mà không theo bất kỳ quy trình nào. Ngô Văn Tuấn khôn khéo sử dụng cô bồ đã “xài” chán chê, làm món hàng dâng lên quan trên là “đại ca” Trịnh Văn Chiến, hòng được thăng quan, tiến chức.

Trịnh Văn Chiến và hotgirl Trần Vũ Quỳnh Anh

Năm 2010, Trịnh Văn Chiến khi đó là Phó Chủ tịch Thường trực, được HĐND bầu giữ chức Phó Bí thư kiêm Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa. Trần Vũ Quỳnh Anh nhanh chóng trở thành người tình của Trịnh Văn Chiến và cứ thế, Quỳnh Anh được lên chức liên tục, được học đại học tại chức, học thạc sĩ.

Tháng 10/2013, Quỳnh Anh đẻ cho Trịnh Văn Chiến một cậu con trai kháu khỉnh. Từ đây nàng được đi học Cao cấp chính trị, vào Đảng uỷ Sở Xây dựng, nắm chức Trưởng phòng Nhà và Bất động sản, thuộc Sở Xây dựng Thanh Hóa. Kinh hơn, Trịnh Văn Chiến còn quy hoạch cho cô “bồ nhí” ghế Phó Giám đốc Sở Xây dựng trong tương lai.

Từ một cô thôn nữ nghèo, Quỳnh Anh “lột xác” thành bà hoàng, tài sản lên đến hàng trăm tỷ đồng, đi siêu xe Cadillac Escalade, sở hữu nhiều bất động sản, mua nhiều nhà phố mặt tiền tại TP Thanh Hoá và cả tại thủ đô Hà Nội.

Khi sự việc vỡ lở, Quỳnh Anh xin nghỉ việc, bỏ sinh hoạt Đảng, lãnh đạo Thanh Hoá vội vã ra quyết định thôi việc cô, khai trừ khỏi Đảng, “hô biến” mất hồ sơ công chức cá nhân của Quỳnh Anh.

Các văn bản giải cứu cho Trịnh Văn Chiến

Ban Chấp hành Đảng bộ Thanh Hoá đã giải cứu thành công cho Bí thư Trịnh Văn Chiến. Chỉ khổ thân “kẻ ăn ốc, người đổ vỏ” như Ngô Văn Tuấn, Phó chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đương nhiệm (Giám đốc Sở Xây dựng Thanh Hóa nhiệm nhiệm kỳ 2010-2015) phải làm “dê tế thần”, nhận hình thức kỷ luật, cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và bị Thủ tướng Chính phủ cách chức Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa nhiệm kỳ 2016-2021 chỉ vì “nâng đỡ không trong sáng” hotgirl Trần Vũ Quỳnh Anh.

(Còn nữa) 

TIỀN ĐÂU MÀ LẮM THẾ?

TIỀN ĐÂU MÀ LẮM THẾ?

Đây là số vàng mà công an thu được từ một anh trộm tốt lành, anh ta đột nhập vào một ngôi biệt phủ của cựu lãnh đạo sở giao thông vận tải Trà Vinh Phan Thanh Sơn, phá két trộm 66 lượng vàng SJC, 35.000 USD, trị giá gần 5 tỉ đồng.

Nhà Anh Sơn còn có 2 lô ở Thành Hồ, 1 lô ở Cần Thơ và nhà đất ở Trà Vinh nhiều vô kể. Và chưa kể tiền đã gửi nhà Băng.

Lương giám đốc sở hiện tại là 10.345.000 đồng, phải hơn 50 năm ông sơn không ăn không uống làm đúng chức vụ giám đốc sở liên tục mới có số tiền bị mất như trên, chưa kể tất cả tài sản ông Sơn có thì phải làm giám đốc 500 năm mới có.

Vậy tiền đâu ra mà lắm thế?

Thôi thì dân chịu khó ăn ve sầu, cơm chan nước lã đi, sơn hào hải vị để quan ăn, mà quan có sức, quan đi gom vàng và đô la mà xây dựng và tiến lên xhcn nữa.

Đâu phải muốn gom đống đô la với vàng miếng bỏ trong két sắt là dễ đâu, phải học tập làm theo lời bác dzữ lắm, phải có cao cấp lý luận chính trị, là đảng viên ưu tú và có hàng đống giấy khen thưởng lãnh đạo xuất sắc đồ mới được vậy đó chớ.

PHẠM MINH VŨ

No photo description available.
You and 272 others
31 Shares
Haha
Haha

 

Comment
Share

 

 

Nhà Xuất bản Tự do nghi ngờ công an Phú Yên giam giữ trái pháp luật người đưa sách 18 tháng qua

Đài Á Châu Tự Do 

Nhà Xuất bản Tự do hôm 6/5 ra thông cáo báo chí tố cáo Cơ quan An ninh điều tra của Công an tỉnh Phú Yên đã giam giữ một người đưa sách của mình suốt 18 tháng trái pháp luật trước khi cho báo chí Nhà nước đưa tin đồng loạt về vụ bắt giữ này vào ngày 5/5 vừa qua.

Truyền thông Nhà nước Việt Nam hôm 5/5 đồng loạt đưa tin ông Nguyễn Bảo Tiên (sinh năm 1986) bị Công an tỉnh Phú Yên khởi tố và bắt tạm giam về tội “Tàng trữ, tuyên truyền tài liệu nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo Điều 117 Bộ Luật Hình sự.

Báo chí Nhà nước trích nguồn tin từ Công an tỉnh Phú Yên cho biết, ông Tiên đã nhận phát tán sách của Nhà Xuất bản Tự do (NXB), một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực xuất bản chưa được cơ quan chức năng cho phép. Theo cáo buộc của Công an, từ tháng 8 đến tháng 10/2019, Nguyễn Bảo Tiên nhận 68 bưu phẩm có những cuốn sách bị cho mang nội dung ‘tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống Nhà nước CHXHCNVN’. Trong số nhận được, có 24 bưu phẩm được chuyển đến cho người khác.

Tuy nhiên, trong thông cáo báo chí của NXB, ông Tiên có khả năng bị bắt vào khoảng tháng 10 năm 2019 khi NXB mất liên lạc với ông bắt đầu từ ngày 2/10/2019, và vào khoảng tháng 11 và tháng 12 cùng năm, NXB nhận được thông tin của độc giả về việc công an đang câu lưu những người được cho là cộng tác với NXB.

“Cho đến tận ngày hôm qua, 05/05/2021 báo chí Việt Nam mới đồng loạt đưa tin về vụ bắt giữ và khởi tố đối với anh Nguyễn Bảo Tiên, nghĩa là sau 18 tháng kể từ khi anh Tiên mất tích”, thông cáo báo chí của NXB viết.

Nhà Xuất bản Tự do nghi ngờ công an Phú Yên giam giữ trái pháp luật người đưa sách 18 tháng qua
RFA.ORG

Nhà Xuất bản Tự do nghi ngờ công an Phú Yên giam giữ trái pháp luật người đưa sách 18 tháng qua

Nhà Xuất bản Tự do hôm 6/5 ra thông cáo báo chí tố cáo Cơ quan Điều tra An ninh điều tra của Công an tỉnh Phú Yên đã giam giữ một người đưa sách của mình suốt 18 tháng trái pháp luật trước khi cho báo chí Nhà nước đưa tin đồng loạt v… 

PHẢI BỊT MỒM CHÚNG LẠI…

PHẢI BỊT MỒM CHÚNG LẠI…

Hiện nay rất nhiều thành phần phản động đang phê phán đường lối của đảng và nhà nước. Anh chị em hãy chung tay xây dựng và bảo vệ đất nước. Hãy dập tắt ngay bọn chúng, không cần tranh luận gì dài dòng, vì bọn chúng thường là cũng có tri thức hơn người nên tranh luận rất khó. Cứ áp dụng chiêu chụp mũ, bỏ bóng đá người là hiệu quả nhất.

Vào trận, hãy phủ đầu bằng câu hỏi “Bạn đã làm gì cho Tổ quốc chưa”, để chúng lộ ra thân phận của mình. Rồi tùy từng tình huống mà sử dụng cẩm nang sau đây:

– Nếu kẻ phê phán đã lớn tuổi thì ta bảo bọn họ thù hằn quá khứ, chỉ biết moi móc chứ làm được gì.

– Nếu chúng còn trẻ thì ta bảo là lũ trẻ trâu chưa biết sự đời, phải đi làm, có va vấp rồi hãy lên tiếng.

– Nếu đã đi làm thì ta bảo toàn kẻ bất mãn vì thất bại.

– Nếu đã thành công có sự nghiệp thì hãy bảo chúng không có cái tâm, không phải trí thức thật sự, được voi đòi tiên, sau khi đã no thân ấm cật bây giờ muốn mưu triều soán vị, tham danh tiếng.

– Nếu là trí thức hẳn hoi, tầm đã được thừa nhận ko thể cãi thì ta bảo họ chẳng có kinh nghiệm chính trị, dân khoa học biết gì chính trị mà bàn.

– Nếu có kinh nghiệm chính trị ta sẽ bảo chúng có dã tâm chính trị, mưu đồ bất chính.

– Nếu là dân thường ta thách chúng thử nhìn từ khía cạnh của người lãnh đạo để thấy cái khó. Giỏi thì thử làm lãnh đạo đi…

– Nếu là lãnh đạo, đảng viên kỳ cựu thì ta bảo chúng là bọn phản bội, ăn cháo đá bát.

– Nếu chưa đi ra nước ngoài ta bảo hãy ra ngoài để hiểu Việt Nam tốt thế nào, nước nào chẳng như nhau.

– Nếu đã ra nước ngoài thì ta bảo là lũ vọng ngoại, lũ ham bơ thừa sữa cặn, cõng rắn cắn gà nhà.

– Nếu ở hải ngoại ta bảo chúng là bọn đu càng, tàn dư Mỹ ngụy, bè lũ tư bản, giỏi về VN đấu tranh này.

– Nếu ở trong nước ta bảo chúng bị kích động, nhận tiền của các thế lực thù địch, lũ bị giựt dây, cút ra nước ngoài mà sống.

– Nếu viết bài trên mạng ta bảo bọn chỉ biết gõ bàn phím, ăn không ngồi rồi, sao không hành động đi.

– Nếu hành động xuống đường biểu tình đòi quyền lợi, ta nói toàn bọn gây rối mất trật tự xã hội, lo ở nhà làm ăn đi.

Cuối cùng, nếu thấy không thể lập luận được nữa thì hãy công nhận thằng phản động giỏi đi, nhưng bảo nó là SỐNG TÍCH CỰC LÊN CHỨ ĐỪNG NHÌN CÁI GÌ CŨNG TIÊU CỰC THẾ CHO KHỔ ĐỜI RA. Mình đảm bảo là nó hết đường phản biện

Mình tổng hợp sưu tầm từ nhiều nguồn và từ thực tế nên không giữ bản quyền. Anh chị em xem còn gì thì bổ sung để hoàn thiện cẩm nang và tùy ý chia sẻ. Phải bịt mồm chúng lại.

NGUYÊN TỐNG

No photo description available.

NHỮNG NGÀY VUI

Chuong BK  is with Thuy Nguyen

 NHỮNG NGÀY VUI

luật sư Nguyễn Hữu Thụy

(Hình chân dung Pre.75)

Lại sắp đến 30/4 thôi lại nói đến chuyện tù cho hợp thời vụ. Sống trong tù cộng sản , sự tàn bạo kể sao cho xiết, nhưng muốn sống sót nên quên đi những điều mà Việt cộng đặt ra để hành tù mà chỉ nghĩ đến những điều vui tươi cho ngày tù ngắn lại. Những nhân vật tôi nhắc đến ở đây tôi thường kèm chức vụ của những vị này cho khỏi lẫn lộn với người khác, và phần lớn đã ra người thiên cổ nên không đối chứng được, nhưng tôi thề chỉ nói sự thật chỉ sự thật mà thôi, và…như thế là công lý.

Sau ngày 30/4 cộng sản ra thông cáo đi “học tập “ đem tiền ăn trong một tháng. Nhiều người cả tin là sẽ bị giữ trong một tháng rồi ra về. Tôi không tin như vậy vì đây không phải là lần đầu tôi gặp người bạn khó ưa này, cộng sản. Trước đây năm 1953, tôi cũng đã nếm mùi trại tù cải tạo một lần, trong một năm, vì là con điạ chủ. Tại đây tôi đã bị giam chung với một người tù mà sau này lại được ngộ cố tri trong trại tù Long Thành là luật sư Nguyễn Hữu Hiệu.

Ngày đi tù tuy là luật sư, nhưng đã đi lính và mang cấp bậc thiếu tá, thẩm phán quân sự. Tôi có thể nạp mạng với tư cách quân nhân với chức vụ thiếu tá. Tôi cũng có thể trà trộn vào đám tù dân sự với tư cách thẩm phán . Tôi chọn đi tù dân sự để tránh việc có thể những quân nhân trước đây đã chẳng may có dịp đáo tụng đình và đã gặp tôi với tư cách thẩm phán công tố, điều đó sẽ kém vui đi. Do đó tôi trình diện ở trường Gia Long, nơi gặp gỡ của người tù dân sự.

Vào trường Gia Long chúng tôi bị giải đến trại tù Long Thành. Trại tù Long Thành, trước đây là làng cô nhi Long Thành của sư trụ trì tên là Tư Sự. Trước ngày l30/4 không lâu, với tư cách thẩm phán công tố, tôi đã có dịp gặp Tư Sự vì tội hoạt động cho việt cộng và bị tòa án Quân Dự Mặt Trận vùng 3 bắt giữ. Sau này lên Long Thành tôi mới biết Tư Sự là đại tá việt cộng. Tôi muốn tránh gặp lại người cũ nhưng rốt cuộc lại ở nhà người bạn cũ là TS chủ làng cô nhi Long Thành. Cũng may, chắc Tư sự lúc này làm lớn lắm nên chẳng gặp tôi làm gì.

Tại nhà tù Long Thành, đời tôi chưa đến nỗi khắt khe lắm, vẫn còn mang một tên thơ mộng là trường cải tạo 15 NV. Tôi đã gặp cụ Lê Tài Triển , ngày tôi tuyên thệ luật sư thì cụ là Chánh nhất tòa thượng thẩm Sài Gòn, sau này giữ chức vụ gì bên bộ ngoại giao thì tôi không nhớ. Cụ Triển đi lao động vai vác cuốc nhưng vẫn giữ phong thái của một người trí thức chân mang giầy tây và áo bỏ trong quần. Cụ Lưu Đình Việp, Chửơng lý tòa Thượng thẩm Sài Gòn đi tù còn cố mang theo một cái đệm hơi để tối nằm cho êm.

Ngày đi tù, theo sắp xếp, tôi ở đội các thẩm phán. Lúc đó tôi chưa đến tuổi 40, còn trẻ chán, nhưng lại ở tổ toàn những vị cao niên, phần lớn là các vị thẩm phán tối cao. Ngày ngày đi làm vườn cụ Vũ Tiến Tuân chưởng lý tối cao pháp viện, vì đau chân không ngồi xổm để nhổ cỏ được cụ kiếm được một mảnh gỗ làm ghế ngồi. Vì mảnh gỗ này cụ Tuân bị bọn cán bộ quấy rầy hoài , “ đi lao động mà còn ngồi ghế kiểu phong kiến”. Cụ Nguyễn Mạnh Nhu chưởng lý được giao một đàn dê . Lúc nào trong túi cụ cũng chứa đầy đá. Dê chạy nhanh cụ đuổi không kịp nên phải dùng đá ném để gom chúng nó về.

Cụ Phạm Văn Hiền, chánh nhất tòa thượng thẩm Huế, người hiền lành nhưng cũng không kém phần dí dỏm. Một lần tôi đi đổ rác với cụ Rác đựng trên một cái cáng, cụ đi phía trước tôi khiêng phía sau. Tới chỗ rẽ, tôi nhắc, cụ nghiêm nghị quay lại bảo tôi: “ Con đường chính trị tôi có thể lầm, nhưng con đường đổ rác thì tôi biết ông ạ “

Cụ Trịnh Xuân Ngạn người có thể biết thiên kinh vạn quyển, nhưng những chuyện đời thường, rất đời thường thì có khi lại không biết. Một lần cụ hớn hở tìm tôi như Archimede tìm ra sức đẩy của nước và khoe rằng :” Cái dây thép bẻ đi bẻ lại một lúc thì nó gẫy ông ạ .”

Ở tù hơn một năm thì đến tết, tù được thăm nuôi, anh Vũ Mạnh dự thẩm, nhân vật này tôi biết là còn sống vì thấy tên trong hội ái hữu Luật khoa San Jose, có người chú làm tướng việt cộng đến thăm. Tôi thấy anh Mạnh có vẻ chuẩn bị tư tưởng dữ lắm, vì đây là cuộc gặp gỡ của những người từ hai bên chiến tuyến. Từ nhà thăm nuôi trở về, anh Mạnh báo cáo là sau khi hỏi thăm chuyện gia đình, ông chú anh đã nghiêm nghị trách:” Sao nhà cháu đi hết rồi mà cháu còn ở lại đây”

Ở tù thì phải hát những bài của việt cộng. Anh Trần Tấn Toan, Thựơng nghị sĩ, người phụ trách văn nghệ của đội, sáng tác bài “ Giữ vững niềm tin “ và đưa lên ban giám thị trại để kiểm duyệt. Bài hát được chấp nhận, nhưng đội tập tành hát chưa được bao lâu thì có lệnh xuống là cấm hát. Không biết chúng nó giữ vững niềm tin nhưng là tin cái gì tình ai?

Những năm còn đi học, tôi được moị người biết đến với cái tên ông táo trường luật. Năm học sau, mọi người bắt tôi làm ông táo nữa, tôi từ chối, làm mãi cũng nhàm. Tuy nhiên khi đi tù, để giúp vui mọi người đang độ buồn phiền, tôi đành làm Táo hai lần nữa, nhưng những lần sau này, tôi không tự viết sớ táo nữa mà để người khác viết. Tôi chỉ sửa lại cho hợp ý táo thôi. Lần đầu ở trại long Thành do dự thẩm Nguyễn Ý Nhạc viết và lần thứ hai ở trại Quảng Ninh do đại sứ Phạm Trọng Nhân viết. “Những màn trình diễn cũng “ Mua vui cũng được một vài trống canh” ( Nguyễn Du).

Bây giờ đi tù, không phải chỉnh trang sắc đẹp như hồi đi làm nữa, nên tôi để râu dài như ông đạo dừa và lại được anh em đặt cho một tên mới là ông đạo. Một ngày không biết là có đẹp trời hay không, tôi gặp một tên cán bộ có vẻ để ý đến tôi, tôi tránh lối khác, chẳng nên dây với hủi, nhưng y cũng chẳng tha. Y đi nhanh vòng lối khác và chặn lối tôi: “ Để râu chống cộng hả?” thế là y lôi tôi đi cạo bén hàm râu. Râu đi rồi nhưng cái tên ông đạo thì còn, cho đến bây giờ thỉnh thoảng vẫn có người gọi

Sau những buổi học tập chính trị trên hội trường, chúng tôi phải về họp tổ để kiểm điểm và viết bản thu hoạch xem tù học hành như thế nào. Trong chiếu ngồi họp tổ, tôi với Hội thẩm. Dương Thiệu được phân công mỗi người nhìn về một phía làm lính gác bọn cán bộ trại. Chúng tôi ngồi nói chuyện tầm phào nhưng bỗng nhiên thấy hội thẩm Sinh hoặc tôi đổi giọng thì mọi người lập tức chuyển sang chuyện thảo luận chính trị có vẻ hăng say, tạm gác sang bên chuyện trời, trăng , mây , gió.

Ở trại giam Long Thành hơn một năm thì tôi cùng một số lớn tù nhân khác chuyển về Thủ Đức giam trong một trại dành cho các nữ ngày trước. Những nữ phạm nhân ngày trước không còn, nhưng cảnh thì vẫn là cảnh cũ để nhớ lại những ngày còn làm luật sư đi thăm thân chủ ở đây. Tại trại trại Thủ Đức tôi nằm cạnh và ăn chung với hai vị là giáo sư Bùi Từơng Huân tổng trưởng quốc phòng của chính phủ Dương văn Minh và đại sứ Phạm Trọng Nhân, cuối cùng làm giám đốc nghi lễ phủ tổng thống. Những ngày ở Thủ Đức, thức ăn của chúng tôi còn nhiều vì nhà mới thăm nuôi . Hai người ăn chung với tôi đều đã du học ở Pháp nên thời sinh viên đã nấu nướng giỏi lắm, còn tôi ở Việt Nam, cả đời cơm bưng nước rót nên chẳng biết gì. Để người ta nấu ăn cho mình mãi cũng khó coi nên một ngày nọ tôi tình nguyện làm đầu bếp. Các tù nhân nấu ăn trong lon sữa Guigoz. Trại cung cấp một bếp than đá cho tù nhân. Tôi lóng ngóng đặt lon trên bếp. Đồ ăn sôi, nắp lon bật ra, tôi bị phỏng. Thế là từ đó hai vị kia tiếp tục nấu nướng, tôi chỉ có việc ăn thôi. Tôi lẩm bẩm tuyên bố:” Đời tôi chưa bao giờ huy hoàng đến thế, bồi tổng trưởng mà bếp đại sứ.”

Giáo sư Huân đánh cờ tướng cao hơn tôi nhiều. Tôi thuộc loại cờ thấp nhưng không gọi là cờ thấp mà là “ cờ lùn” Tôi vừa đánh cờ vừa lẩm bẩn chọc ghẹo nên giáo sư Huân thua tôi hoài.

Ở trại giam Thủ Đức một thời gian ngắn thì chúng tôi bị lùa xuống hầm tàu Hồng Hà đem ra ngoài Bắc lưu đày. Nơi ở mới là trại giam Quảng Ninh.

Đêm đầu tiên ở trại Quảng Ninh, trại đón tiếp những người tù chính trị mới tới bằng một đêm do đội văn nghệ hình sự, những người tù phụ trách. Chúng tôi mệt mỏi ngồi xem. Một nữ ca sĩ phấn son lên trình bầy bản :” Người ơi xin ở đừng về.” Tù khổ sai biệt xứ mà năn nỉ người ơi xin ở đừng về thì kẹt nhau quá.

Thời gian này là gần tết nên giám thị trại yêu cầu tù làm văn nghệ mừng xuân. Đêm văn nghệ nghe anh Trần Huỳnh Châu tổng thư ký nội bộ nội vụ, chơi mandolin bản The Blue Danube, bọn cán bộ xem ra đã không bằng lòng vì cho là nhạc ngụy, nhưng đến khi nghe trung tá cảnh sát Kiều Đắc Thời, nặng 150 ký trình bày bản “ Bé yêu bác Hồ” tay chấp lên má, đầu nghiêng nghiêng rất là ngây thơ, thì bọn cán bộ không chịu nổi, đuổi tất cả về phòng giam. Vẫn chưa hết, vào phòng giam thấy một bàn bầy biện đàng hoàng, cán bộ lại hét lên :” Ai cho các anh làm bàn thờ tổ quốc trong phòng giam mà lại cắm hoa cứt lợn!” Thế là văn nghệ cũng dẹp mà bàn thờ cũng dẹp luôn.

Hết văn nghệ lại học tập chính trị rồi yêu cầu tù xung phong viết chuyên đề. Trong chuyên đề, việt cộng muốn khai thác và thu lượm những kiến thức của người tù. Tôi tình nguyện viết với đề tài là: Địch muốn gì qua luật người cày có ruộng. Nghe tựa có vẻ kêu nên việt cộng chấp nhận. Tôi chưa bao giờ đọc luật người cày có ruộng, nhưng biết việt cộng dốt nên cứ viết lung tung. Bao nhiêu chữ hóc hiểm nhớ được là tuôn ra hết. Tên cán bộ quản giáo thỉnh thoảng vào đọc và bình phẩm :” sao tôi thấy anh viết văn chương thì rất chải chuốt mà tôi đọc chẳng hiểu gì cả. “ Tôi an ủi:” Đây Là những tài liệu chuyên môn nên cán bộ xem không hiểu, nhưng cán bộ trên bộ nội vụ xuống nghiên cứu thì họ sẽ biết. Tôi nghĩ thầm : tao viết mà còn chẳng biết là tao viết cái gì thì làm sao mày hiểu. Mỗi ngày tôi chỉ viết năm trang chữ to bằng con bò còn dành thì giờ để nghỉ ngơi chứ. Những ngày sau thấy tên cán bộ quản giáo thập thò, tôi dơ tay xin ngòi bút, xin giấy viết. Bị quấy rầy những lần sao y chỉ đứng ở cửa nhìn vào chẳng bao giờ đến tận nơi xem tôi viết lách nữa.

Trốn việc quan đi ở chùa trong việc viết chuyên đề được gần một năm rồi cũng đến lúc bị chúng nó lùa ra ngoài đi làm lao động khổ sai. Ở tù muốn sống sót phải tìm cách làm càng ít càng tốt. Nứơc sông công tù mà. Trồng ngô thì một người đi trước, cầm cọc nhọn chọc một lỗ, người đi sau bỏ một hạt ngô xuống và lấp đất lại. Mỗi lỗ như thế tôi bỏ một nắm ngô cho chống hết. Cuốc đất thì phải cuốc từng lát mỏng mới có thể làm đất mịn để trồng trọt. Mỗi nhát cuốc của tôi chừng hai gang tay cho chóng đạt chỉ tiêu.

Thời gian này tù bắt đầu đói thê thảm. Đói ăn và đói cả thuốc hút nữa. Bây giờ ở đây no đủ rồi, việc bỏ thuốc có vẻ dễ dàng nhưng trong tù thì khó lắm. Đói ăn mà lại đói cả thuốc hút nữa thì chịu không nổi. Riêng tôi đã có lần nhịn cả phần ăn ít ỏi để đổi lấy thuốc hút. Đến giai đoạn này thuốc điếu đã thành xa xỉ phẩm vì thuốc đắt và hút chóng hết nên mọi người chuyển sang hút thuốc lào.

Giường tủ có hai từng, sàn trên và sàn dưới. Tôi nằm ở sàn trên bên dưới là anh Nguyễn Cao Quyền. Anh Quyền góc đại tá quân Pháp nhưng đã sang ngoại giao và nhiệm sở là tòa đại sứ ở anh nhưng tham bằng tiến sĩ nên mò về Việt Nam trình luận án. Kẹt lại đành đi tù với mọi người cho có anh có em. Một đêm thèm thuốc quá mà chẳng còn tí thuốc nào tôi lấy cái điếu cày ra kéo khan một hơi cho đỡ nhớ thuốc. Nghe tiếng điếu kêu lọc sọc anh Quyền ngốc đầu lên :” Có gì vui không toa (toi)”. thấy chẳng có khói và mặt tôi cũng chẳng hấp dẫn gì nên đành buồn rầu nằm xuống.

Mỗi lần có thuốc lào hút , sợ say ngã từ sàn

trên xuống đất có thể vỡ đầu , tôi đều leo xuống ngồi giữa nhà hút. Bao giờ tôi hút cũng có đại sứ Phạm Trọng Nhân đứng canh chừng. Thấy tôi say nằm giữa sàn nhà , có người thương hại chạy lại đỡ dậy vì sợ tôi trúng gió, thì người canh cho tôi cản lại và dõng dạc tuyên bố rằng: “ Hắn đang sướng đừng có đụng vào”

Kỹ sư Dương Kích Nhữơng, tổng trưởng giao thông công chính, cũng đói lắm, đi làm gặp con gì cũng bắt bỏ vào túi áo chờ khi về phòng giam sẽ hóa kiếp cho chúng để thêm thắt vào bữa ăn. Tuy nhiên ngày tổng trưởng rất ham đọc sách về đến phòng giam là chúi mũi vào đọc và đọc. Lũ cóc nhái tự do bò ra khỏi miệng túi áo và nhảy nhót tung tăng.

Tàu cộng và việt cộng chuẩn bị chỏang nhau nên chúng tôi lại được ưu ái chuyển về trại 5 Thanh hóa. Tại Thanh hóa điều kiện sinh hoạt còn tồi tệ hơn nữa nên đã nổ ra một cuộc tuyệt thực toàn trại mà anh bạn đồng nghiệp luật sư Ngô Văn Tiệp đã tường trình. Tôi không được cái hân hạnh ở bộ ba biệt giam “ Lạc, Chí, Tiệp” nhưng cũng được ưu ái xếp vào đội trừng giới.

Chế độ ăn uống của tù chia ra làm ba giai cấp: những người làm vựơt hơn tiêu chuẩn mà việt cộng quy định thì ăn 18kg thực phẩm, người làm mức trung bình 15 ký, còn ở mức kỷ luật là 13 kg. Một lần bị kỷ luật là ăn 13kg trong ba tháng. Tôi là khách hàng hầu như là thường xuyên của cơm kỷ luật. Chẳng phải tôi chống đối gì ghê gớm mà chẳng qua vì chỉ vì vạ miệng. Bọn chỉ điểm thì đội nào cũng có, do cán bộ trại chọn trong số những anh em tù tinh thần bị chao đảo để làm việc cho chúng rồi cài vào mỗi đội để theo dõi và báo cho cán bộ trại. Tôi rất ưu ái được bọn này chiếu cố.

Một lần tôi có lon Guigoz đường bị kiến vào vừa ngồi lắc lon cho kiến đi vừa lẩm bẩm một mình:” bác đang cùng chúng cháu hành quân” thế là đến tai cán bộ trại và lãnh 13kg kỷ lụât.

Một lần khác, tôi làm mấy cái khoen để đêm về có thể mắc mùng ngủ nhanh chóng, khỏi phải buộc dây lôi thôi. Vừa làm vừa nhắc lời “đồng chí “!Lê Duẫn để tự khen mình:” khoa học kĩ thuật là then chốt.” lại đến tai cán bộ trại và lại ăn 13kg

Những chuyện lẩm cẩm như thế xảy ra cho tôi không biết bao nhiêu lần.

Sau bao năm lưu đầy, chuyến xe lửa chở tù xuôi Nam rồi cũng xảy ra. Bọn Việt cộng muốn đưa những bộ xương cách trí từ những nhà tù miền Bắc về Nam cho gần để gia đình tù vỗ béo cho thân nhân tù trước khi thả ra trông cho được một chút. Trong chuyến xe lửa xuôi Nam, những nhân viên hoả xa vẫn phải giữ nét mặt lạnh lùng cho phải phép, nhưng những gói xôi, những trái chuối, những gói thuốc lá đã được kín đáo ném ra cho tù.

Về nam ở trại Long Khánh đời sống dễ chịu hẳn. Gần gia đình nên phần lớn tù được nhà thăm nuôi. Thái độ của bọn cán bộ trại cũng thay đổi hẳn. Chúng nịnh tù để được cho quà. Tên cán bộ trực trại anh em tù gọi đùa là đại tá. Một hôm trời đã khuya mà anh em trong phòng giam còn tụ tập. Tên cán bộ trực trại đứng lại hỏi:” Giờ này mà mấy ông tướng còn thức làm gì đây. “. Trả lời:” đại tá đi chỗ khác chơi, để các tướng làm việc.” Tên cán bộ trực trại bỏ đi, không nói một lời.

Nhốt mãi rồi cũng phải thả. Tôi đã nhận lệnh tha nhưng ngày hôm đó còn chờ cho các đội xuất trại đi lao động rồi mới đến được thả tù. Trong lúc ngồi đợi, tôi lấy đàn ra gẩy từng tưng. Biện lý Nguyễn Hồng Nhuận Tâm đi qua cằn nhằn :” về không lo chuẩn bị về còn ngồi đó mà đàn với địch.

Rồi nhà tù cũng mở cổng cho tôi ra. Tôi lóng ngóng không biết đường về nhà. Gặp được một bà cũng có vẻ đứng tuổi rồi, bụng mang bầu, để hỏi thăm bến xe đò về Sài Gòn. Người chỉ đường cho tôi, gọi tôi bằng bác và xưng con. Mình đã khám phá ra một điều là những năm tù đã biến mình từ một ngừơi trai trẻ thành một ông già.

Từ nhà tù nhỏ sang nhà tù lớn, chuyện quản chế, chuyện công an khu vực, và còn nhiều chuyện vui khác, nhưng đây chỉ nói chuyện tù, nói nữa là lạc đề nên đành chấm dứt.

luật sư Nguyễn Hữu Thụy

From: Truong Le

46 Năm Sau Cuộc Chiến Và Những Câu Hỏi Còn Bỏ Ngỏ

46 Năm Sau Cuộc Chiến Và Những Câu Hỏi Còn Bỏ Ngỏ –

Song Chi

Đã 46 năm kể từ khi chiến tranh VN kết thúc. Thời gian dài gần bằng hai thế hệ.

Người cộng sản luôn tự hào là họ đã kết thúc được cuộc chiến, thống nhất được đất nước! Cứ mỗi dịp này báo chí nhà nước ở VN lại chạy hết công suất để nhắc lại những “chiến công” lừng lẫy trong “cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam”…còn bên kia ở hải ngoại nhắc lại những nỗi đau của “tháng Tư đen”.

Chỉ vài năm gần đây, những cụm từ như “chế độ ngụy, tay sai bán nước” một thời thường được “bên thắng cuộc” dùng để nói đến chế độ VNCH cũ đã bớt đi, một số bài viết cũng khéo léo dùng chữ “mừng ngày thống nhất đất nước” hơn là “mừng ngày chiến thắng”

Ngược lại, theo thời gian ngôn từ căm hận trong những bài viết của “bên thua cuộc” cũng nhẹ bớt. Nhưng tôi thấy vẫn còn đó nỗi đau, sự tiếc nuối cho một chữ “nếu” của lịch sử trớ trêu.

Cùng với nỗi đau chung cho đất nước là nỗi đau về những mất mát riêng của từng cá nhân, từng gia đình khi một biến cố lịch sử ập đến, đã làm đổi thay bao nhiêu số phận.

Có cả những câu chuyện của những người thuộc phe chiến thắng nhưng cũng ẩn chứa những nỗi đau khác, có người ngay sau ngày tiếng súng vừa tắt, đã ngồi bên vệ đường Sài Gòn để khóc vì biết mình bị lừa dối, uổng phí cả một thời tuổi trẻ để đi “giải phóng” một quốc gia tự do, nhân bản, văn minh, phồn thịnh hơn quốc gia nơi mình sinh ra và lớn lên, có người nhiều năm sau mới ngậm ngùi nhận ra mặt trái của tấm huân chương…

Cuộc đời của mỗi con người, mỗi gia đình Việt Nam tự nó đã là một cuốn sách, một bộ phim, qua đó người ta có thể hình dung được một phần bức tranh của dân tộc và nếu chỉ cần kể lại một cách trung thực, thì rất nhiều cuộc đời đó còn chân thực hơn gấp bao nhiêu lần những cuốn sách, bộ phim, của người Mỹ hay của người Việt, đã viết, đã thực hiện, về Chiến tranh Việt Nam.

Cũng như bao nhiêu gia đình người Việt khác, gia đình họ hàng tôi có cả hai phe Nam – Bắc và cuộc sống đã hoàn toàn thay đổi theo chiều ngược nhau sau 30/04.

Sự ly tán đã có trong thời chiến, thời hậu chiến gặp lại nhau, không ai bảo ai nhưng có một chủ đề chung đều muốn né tránh là chuyện chính trị, chuyện chiến tranh. Họ hàng thì vẫn là họ hàng, một giọt máu đào hơn ao nước lã, nhưng quan điểm chính trị chẳng phải lúc nào cũng đồng thuận, trong một dòng họ đã như thế, nói gì giữa nhà cầm quyền với người dân.

Rồi hàng chục năm sau, họ hàng tôi lại tiếp tục ly tán, quê hương không còn là nơi đất lành chim đậu nên nhiều người phải bỏ nước ra đi, tản mác khắp bốn phương trời. Nhưng dù đã là công dân của nước khác, đa số người Việt vẫn đau đáu chuyện quê nhà, thì giờ dành để theo dõi, vui buồn theo từng biến cố ở VN nhiều hơn dành cho những sự kiện ở quê hương thứ hai.

– Vì sao không quên được quá khứ?

Chỉ có thế hệ trẻ như con gái tôi, rời nước khi còn ở tuổi thiếu niên, hay những bạn trẻ sinh ra ở nước ngoài là không quan tâm bao nhiêu tới VN, và không hiểu nổi tại sao người Việt không thể quên?

Đó cũng là câu hỏi của rất nhiều người, rằng tại sao người Việt, ở cả hai phe, cứ luôn nhắc hoài về quá khứ? Sao không bỏ qua, cùng nhau nhìn về phía trước để xây dựng đất nước? Tại sao 40, 42, rồi 46 năm trôi qua nhưng hàng chục triệu người Việt, dù có dính líu trực tiếp đến cuộc chiến hay không, vẫn không thể bình an, thậm chí như một nhà thơ từng nói, là bị hội chứng PTSD (post-traumatic stress disorder)?

Câu trả lời thật ra rất đơn giản. Nếu sau chừng ấy năm, Đảng Cộng sản làm cho đất nước trở nên giàu mạnh, bảo vệ được chủ quyền trọn vẹn về lãnh thổ lãnh hải, người dân thực sự được sống trong một xã hội tự do, dân chủ, nhân bản, tiến bộ, Việt Nam có vị thế của mình trên thế giới, thì vết thương của cuộc chiến tranh đã qua, dẫu có tàn nhẫn đến đâu, cũng sẽ tự lành. Cả dân tộc sẽ khép lại quá khứ, chấp nhận thực tại và hào hứng hướng về tương lai. Chính vì đảng cộng sản không làm được như vậy, thậm chí ngược lại, nên nỗi đau vẫn cứ còn mãi, thời gian càng lùi xa, càng đau…

Đẩy nhân dân vào cuộc chiến tương tàn vì lý tưởng XHCH nhưng sau đó Đảng Cộng sản đã phản bội lại chính những lý tưởng, học thuyết, mô hình thể chế chính trị mà họ từng mù quáng tin và bắt nhân dân phải tin theo. Họ đã phản bội lại hàng triệu người dân miền Bắc, trong đó có những người ngã xuống vì tin vào “cuộc chiến tranh thần thánh chống Mỹ, giải phóng miền Nam”, cho một tương lai tốt đẹp hơn! Tất cả những gì họ đã từng hô hào chống lại trước kia giờ đây họ lại làm theo, nhưng tồi tệ hơn!

Không biết cần bao nhiêu thời gian để phục hồi, xây dựng lại là sự tàn phá về thiên nhiên-môi trường, về văn hóa, đạo đức xã hội, và về nhân cách, khí chất, lòng tự tôn của một dân tộc?

ĐCSVN đã bỏ qua rất nhiều cơ hội “vàng” để hòa giải hòa hợp thực sự với bên thua trận, với nhân dân, và để chuyển hóa thành một thể chế dân chủ đa đảng, hội nhập với xu hướng tiến bộ chung của thế giới.

Nghiêm trọng nhất là mối quan hệ bất xứng, thiệt thòi và nguy hiểm cho độc lập dân tộc của VN giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam-Trung cộng trong suốt một thời gian dài, khiến Việt Nam phải liên tiếp trải qua hai cuộc chiến tranh khác là chiến tranh biên giới phía Bắc, chiến tranh biên giới Tây Nam, mất đảo, lãnh thổ, lãnh hải, phụ thuộc nặng nề về kinh tế, chính trị, và luôn luôn đứng trước nguy cơ hiểm họa bành trướng của Trung cộng.

Tất cả những điều đó đã làm cho nỗi đau tháng Tư vẫn không thể nguôi vơi trong lòng rất nhiều người dân Việt Nam như tôi.

Nhưng không thể cứ nhìn mãi về quá khứ, về những sai lầm, những cơ hội đã bị bỏ lỡ.

Một lần nữa, như một sự trớ trêu của lịch sử, Việt Nam lại nằm trong khu vực sẽ trở nên sôi động nhất, “nóng” nhất trong tương lai gần, với sự đối đầu giữa hai phe, một bên là Hoa Kỳ và các nước đồng minh, bên kia là Trung cộng vừa bắt tay với Nga, và có thể có thêm Iran, Bắc Hàn, cùng cạnh tranh khốc liệt để giành ảnh hưởng, vị trí trên toàn cầu.

Nhìn lại thời kỳ chiến tranh lạnh giữa hai phe tư bản-cộng sản, Việt Nam có học được bài học lịch sử để một lần nữa, không trở thành con tốt trên bàn cờ chính trị thế giới, hoặc lẻ loi đơn độc và cuối cùng buộc phải ngả vào sự kiềm tỏa của phe Trung-Nga, liệu có là câu hỏi chỉ dành riêng cho nhà cầm quyền, hay cho tất cả người dân?

Từ giữa thập niên 1970, thế giới đã chứng kiến làn sóng thứ ba của quá trình dân chủ hóa lần đầu tiên diễn ra ở Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha, rồi một số quốc gia trong khu vực Đông Á, Đông Nam Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, ở Trung Âu và Đông Âu là những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, đã làm sụp đổ cả khối XHCN cũ.

Sống ở châu Âu nhưng tôi vẫn nhận thấy thật rõ thời gian gần đây một số quốc gia Á Đông tiếp tục có những chuyển động giữa một bầu không khí đang nóng lên trong toàn khu vực. Người dân Thái Lan đã đứng lên biểu tình chống lại chính phủ hiện tại và yêu cầu cải cách chế độ quân chủ, người dân Myanmar đang đổ máu từng ngày để đòi lại nền dân chủ non trẻ vừa bị quân đội thực hiện đảo chính và có nguy cơ trở lại với chế độ độc tài quân phiệt. Nhiều người đã bắt đầu nói đến một làn sóng dân chủ thứ tư sắp đến.

Chỉ có Việt Nam dường như vẫn đứng ngoài mọi biến động. Điều đáng buồn là người Việt, vốn đã chia rẽ vì nguyên nhân lịch sử, mấy năm vừa qua lại thêm chia rẽ vì bất đồng quan điểm khi nhận định về chính trị Mỹ, cộng với sự đàn áp ngày càng hà khắc của công an Việt Nam, khiến những tiếng nói đối lập, những hành vi phản kháng gần như chìm lắng hẳn.

Mỗi thế hệ suy cho cùng cũng chỉ có thể chịu trách nhiệm về những gì xảy ra trong thời của mình. Làm sao để Việt Nam không tiếp tục chịu số phận đi sai đường và thường xuyên bị nhỡ tàu, mà có thể hội nhập với thế giới tự do, để mai này đất nước, con người Việt Nam được “giải phóng” khỏi mọi sự kìm hãm và phát triển hết mức có thể; làm sao để 5, 10 năm nữa người Việt có thể thanh thản khi nhìn lại những trang sử cũ, là trách nhiệm của thế hệ hôm nay.

Song Chi

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm của tác giả Song Chi, ra đi từ Sài Gòn, tỵ nạn tại Na Uy và hiện sống ở Anh.

https://www.bbc.com

Quan niệm về “tội phạm nguy hiểm” của cộng sản Việt Nam

 Hoa Lys  is with 

Võ HongLy

02.05.2021

Đôi bàn tay của chị Phạm Đoan Trang chỉ biết cầm bút viết lên sự thật và đòi quyền sống chính đáng của con người thì lại bị còng bởi cái vòng số 8 oan nghiệt.

Còn đôi bàn tay của tên Cao Trọng Phú thì cầm súng và giết luôn hai mạng sống con người nhưng lại được thả tự do ung dung hút xì gà ngay trước ống kính của truyền thông.

Quan niệm về “tội phạm nguy hiểm” và sự “nhân văn” của cộng sản vì thế thật là “lạ”!

Sống trong chế độ xã nghĩa, điều gì có thể lan tỏa tình yêu thương, thẩm thấu chạm vào được tâm hồn yêu Tự Do và làm thức tỉnh lương tri của con người thì lại bị coi là “nguy hiểm”, là “xâm phạm an ninh quốc gia”. Thương chị Phạm Đoan Trang và những người đã luôn lên tiếng cho sự công chính.

May be an image of 4 people and text that says 'RFA'

  BỐN MƯƠI NĂM SAU, NHÌN LẠI CUỘC NỘI CHIẾN (Nguyễn Gia Kiểng)

Không nên đổ hết lỗi cho các ông Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và những người lãnh đạo cộng sản khác. Họ tham quyền và thiển cận nhưng phần lớn những người khác nếu được cầm quyền cũng không khác gì họ. Tội ác chủ yếu đến từ sự tăm tối. Nguyên nhân chính là vì chúng ta đã thiếu một lớp trí thức chính trị, và một dân tộc không có một lớp trí thức chính trị cũng không khác một người mù hay một con tàu không phương hướng. Không tới được một bờ bến nào và tai nạn là chắc chắn. Chúng ta cần khẩn cấp những trí thức có kiến thức chính trị, có ưu tư với đất nước, biết suy nghĩ bằng cái đầu của chính mình và dám tranh đấu cho lập trường của mình.

Quan trọng hơn nữa, chúng ta cần hiểu rằng những vết thương của nội chiến vẫn còn nguyên vẹn và nếu không hòa giải được người Việt Nam với nhau thì Việt Nam sẽ không có tương lai. Chúng ta bắt buộc phải hòa giải cho bằng được dân tộc Việt Nam để có thể có hòa hợp dân tộc trong cố gắng xây dựng và chia sẻ với nhau một tương lai chung. Hòa giải là điều cực kỳ khó vì nội chiến đã quá dài và quá khốc liệt. Nhưng chúng ta không có chọn lựa nào khác hơn là thành công nếu muốn đất nước tiếp tục tồn tại.

May be a black-and-white image of 2 people, child and body of water

  BỐN MƯƠI NĂM SAU, NHÌN LẠI CUỘC NỘI CHIẾN (Nguyễn Gia Kiểng)

“…Cuộc nội chiến của chúng ta đã kéo dài 30 năm. Tệ hơn nữa nội chiến đã không chấm dứt ngày 30/4/1975, nó đã chỉ nhường chỗ cho một cuộc nội chiến khác, một cuộc nội chiến một chiều trong đó phe chiến thắng mặc sức huênh hoang, bỏ tù, đầy đọa, hạ nhục và cướp bóc.” (30/04/2015)

_____________

Rất nhiều điều đã được viết và nói ra về biến cố 30/04/1975, đặc biệt là trong lúc này nhân dịp kỷ niệm 40 năm. Tuy vậy biến cố này quan trọng và phức tạp đến nỗi không thể nào có thể nói đủ về nó. Một trong những điểm còn phải được mổ sẻ là bản chất nội chiến của cuộc chiến, buộc chúng ta nhìn một cách khác những hậu quả của nó cũng như những gì mà nó tiết lộ về đất nước và con người Việt Nam.

Trước hết phải khẳng định một cách thật dứt khoát rằng đây là một cuộc nội chiến. Trên điểm này không được có bất cứ một thắc mắc nào. Khi người trong một nước giết nhau trên một qui mô lớn và trong một thời gian dài thì đó là nội chiến, dù có hay không có sự can thiệp từ bên ngoài. Đó đã là trường hợp của chúng ta. Nhưng tại sao vẫn có người ngại gọi nó là một cuộc nội chiến? Vậy thì chúng ta cần thảo luận một lần cho xong.

Nội chiến là gì?

Theo định nghĩa hẹp nhất của nó nội chiến là sự kiện trong một quốc gia hai lực lượng vũ trang giao tranh với nhau trong một thời gian đáng kể và trên một qui mô khá lớn vì cả hai đều tự coi là chính đáng. Hai thí dụ điển hình nội chiến Hoa Kỳ (1861 -1865) và nội chiến Tây Ban Nha (1936 – 1939). Các sử gia và các nhà phân tích thường dùng một định nghĩa rộng hơn, họ cũng coi là nội chiến những cuộc chiến giữa một chính quyền và một hay nhiều lực lượng chống đối nếu chúng kéo dài và có qui mô khá lớn, như nội chiến Mexico (1910 -1920) hay các cuộc chiến tại Congo – Kinshaza, Ethiopia, Somalia và nhiều nước Châu Phi khác. Karl Marx còn gọi cả cuộc nổi dậy chỉ kéo dài hai tháng của Công Xã Paris năm 1871 là một cuộc nội chiến của nước Pháp.

Nói chung người ta coi là nội chiến những xung đột võ trang giữa hai lực lượng của cùng một quốc gia trong một thời gian khá dài và gây thiệt hại lớn. Dù có hay không có sự can thiệp của nước ngoài nội chiến vẫn là nội chiến một khi đa số những người tham chiến trong cả hai bên là người bản xứ. Vả lại phần lớn những cuộc nội chiến đều có can thiệp hoặc hỗ trợ từ bên ngoài, nhất là trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Như vậy trên tất cả mọi tiêu chuẩn cuộc chiến 1945 – 1975 là một cuộc nội chiến đúng nghĩa. Ngay cả nếu dùng định nghĩa hẹp nhất cũng thế: cả phe cộng sản lẫn phe quốc gia, hay Việt Nam Cộng Hòa, đều tự coi là chính quyền chính đáng của Việt Nam và đều được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận. Chế độ Việt Nam Cộng Hòa còn được nhiều nước nhìn nhận hơn chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cũng đừng quên rằng tuyệt đại đa số những người bắn giết nhau cũng như những nạn nhân vô tội đều là người Việt. Sự kiện chính quyền cộng sản gọi đối phương là “ngụy quyền” không đủ tư cách để đối thoại với họ là một thái độ nội chiến điển hình – không chấp nhận nhau – và chỉ nói lên một điều là họ muốn nội chiến đến cùng. Trách nhiệm trong nội chiến của họ càng lớn.

Hơn nữa chính họ đã chủ động gây ra nội chiến. Hội nghị trung ương 15, khóa II, tháng 01/1959, của Đảng Lao Động Việt Nam đã đưa ra nghị quyết 15 với chủ trương “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến” (người viết tô đậm cụm từ “lực lượng vũ trang”). Không thể rõ ràng hơn. Lúc đó chưa có quân đội Mỹ tại miền Nam, số cố vấn Mỹ cũng rất ít so với số cố vấn Liên Xô và Trung Quốc tại miền Bắc và phần lớn là dân sự. Chống Mỹ là lý cớ chứ không phải là lý do. Lý do thực sự là Đảng Cộng Sản muốn chiếm miền Nam và đóng góp mở rộng không gian cộng sản trên thế giới, như sau này Lê Duẩn đã nói: “ta đánh là đánh cho cả Liên Xô và Trung Quốc”.

Cũng nên hiểu cụm từ “Chống Mỹ” mà Đảng Cộng sản vẫn còn dùng cho tới bây giờ để chỉ giai đoạn sau của cuộc nội chiến. Nó là một chiêu bài tuyên truyền nhưng đồng thời cũng là một phần nhiệm mà họ nhận lãnh trong vai trò một bộ phận của phong trào cộng sản quốc tế. Chống Mỹ lúc đó là khẩu hiệu toàn cầu của khối cộng sản. Thật là ngược ngạo khi ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản mạt sát chế độ VNCH là tay sai của đế quốc Mỹ mặc dù chính ông hết lời tâng bốc những đảng cộng sản đàn anh. Như trong ngày kỷ niêm 30 năm thành lập Đảng Cộng Sản (05/01/1960) ông nói: “Trong đại gia đình vô sản quốc tế rực rỡ dưới ngọn cờ chủ nghĩa Mác- Lênin, Đảng ta có những người anh vĩ đại như Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Pháp…”. Không một người lãnh đạo VNCH nào ca tụng Mỹ như thế. Những lời ca tụng Liên Xô và Trung Quốc của các cấp lãnh đạo cộng sản khiến ngay cả một người chống cộng cũng phải thấy ngượng. Thí dụ như những câu thơ gớm ghiếc của Tố Hữu trong đợt Cải Cách Ruộng Đất:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,

Cho đảng bền lâu, cả nước chung lòng,

Thờ Mao chủ tịch, thờ Sít-ta-lin vĩ đại.

Một viên chức miền Nam mà làm những câu thơ nịnh Mỹ như thế chắc chắn đã mất việc, nhưng ông Tố Hữu, người đứng đầu bộ máy tuyên truyền cộng sản, chỉ được khen thưởng, sau này lên rất cao. Đảng Cộng Sản lệ thuộc nước ngoài hơn hẳn các đối thủ của họ. Họ cũng dựa vào yểm trợ của nước ngoài để chiến đấu và sau cùng đã thắng vì Mỹ bỏ miền Nam trong khi Liên Xô gia tăng viện trợ cho họ.

Cũng đừng quên rằng nội chiến là một thành tố cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin. Lenin đã từng khẳng định: “Ai chấp nhận đấu tranh giai cấp thì cũng phải chấp nhận nội chiến vì nội chiến là sự tiếp nối, phát triển và tăng cường tự nhiên của đấu tranh giai cấp”. Ông Hồ Chí Minh coi Lenin là bậc thầy và ông cũng hoàn toàn ủng hộ đấu tranh giai cấp. Ông ca tụng cả cuộc bạo loạn Xô Viết Nghệ Tĩnh trong đó những người tự Việt xưng là Xô Viết tàn sát những người Việt khác và gào thét “trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ”(1).

Một lý do khác khiến ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản say mê nội chiến là vì do kiến thức và nhận thức nông cạn họ tin chắc rằng phong trào cộng sản sắp toàn thắng. Phát biểu trong đại hội Mặt Trận Tổ Quốc ngày 25/4/1961 vào lúc sắp sửa phát động chiến tranh thôn tính miền Nam ông nói: “Đế quốc Mỹ đang hung hǎng xâm phạm miền Nam Việt Nam, Nam Triều Tiên, Đài Loan, nước Lào, Cônggô, Cuba… Cái hung hǎng ấy chỉ là cái hung hǎng giẫy chết trước ngày chủ nghĩa đế quốc tắt thở”. Cuộc chiến này không chỉ đơn thuần là nội chiến, nó còn là nội chiến trong cuồng nhiệt.

Khái niệm nội chiến gắn liền với khái niệm quốc gia vì nó diễn ra trong phạm vi một quốc gia và giữa những con người của cùng một quốc gia. Chúng ta có thể lưu ý là từ “nội chiến” đã chỉ có trong ngôn ngữ chính trị thế giới từ hai thế kỷ gần đây thôi, cùng với những khái niệm quốc gia, dân tộc. Trong chiều sâu, khi phát động một cuộc nội chiến là người ta hoặc muốn phá vỡ quốc gia hoặc coi một cái gì đó còn quan trọng hơn tình dân tộc. Trong trường hợp của chủ nghĩa cộng sản, nội chiến là cốt lõi vì quốc gia bị coi như một giá trị của giai cấp tư sản cần phải xóa bỏ như Marx đã từng nói. Những người cộng sản chân chính không có quốc gia, họ chỉ có giai cấp. Có thể ông Hồ Chí Minh và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam không hiểu rõ chủ nghĩa Mác-Lênin nhưng ít nhất họ cũng coi chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản là quan trọng hơn cả.

Tác hại của các cuộc nội chiến là, khác với những cuộc chiến với nước ngoài, chúng hủy diệt tinh thần dân tộc và đồng thuận sống chung, nghĩa là chính lý do hiện hữu của một quốc gia. Ngoài những thiệt hại về nhân mạng và những tàn phá vật chất chúng còn gây những đổ vỡ tình cảm rất khó hàn gắn ngay giữa những con người phải xây dựng và chia sẻ với nhau một tương lai chung. Một quốc gia có thể phục hồi khá nhanh chóng sau một cuộc chiến tàn khốc với nước ngoài, như trường hợp của Đức và Nhật sau Thế Chiến II, nhưng sẽ suy nhược rất lâu và không bao giờ có thể hoàn toàn hồi phục sau một cuộc nội chiến, như Pháp sau Cách mạng 1789, hay Mexico sau nội chiến 1910 – 1920, hay Tây Ban Nha sau nội chiến 1936 – 1939, mặc dù sau đó cũng đã có cố gắng hòa giải dân tộc.

Kẻ viết bài này đã có dịp thăm viếng và quan sát nhiều quốc gia để tìm hiếu những lý do đã khiến một quốc gia tiến mạnh hay trì trệ. Câu trả lời bao giờ cũng thế: sức sống của một dân tôc chủ yếu tùy thuộc ở chỗ nó có hòa hợp hay không. Và hòa hợp chính là điều mà một cuộc nội chiến phá vỡ một cách lâu dài. Làm sao người ta có thể tin nhau và yêu nhau sau khi đã cố giết nhau?

Trường hợp nước ta còn bi đát hơn nhiều. Chúng ta không phải chỉ có nội chiến trong vài năm như phần lớn các dân tộc không may có nội chiến khác. Cuộc nội chiến của chúng ta đã kéo dài 30 năm. Tệ hơn nữa nội chiến đã không chấm dứt ngày 30/4/1975, nó đã chỉ nhường chỗ cho một cuộc nội chiến khác, một cuộc nội chiến một chiều trong đó phe chiến thắng mặc sức huênh hoang, bỏ tù, đầy đoạ, hạ nhục và cướp bóc. Và không hề nói tới hòa giải dân tộc nữa.

Sau khi đi tù cải tạo về tôi đã gặp cụ Mai, một người mà tôi coi như một mẫu mực của sự xuất chúng. Cụ một mình từ Bắc vào Nam năm 16 tuổi làm lao động tay chân để sống, đêm ngủ trên một chiếc ghế bố thuê một xu mỗi đêm. Khi đã khá giả hơn cụ trả thêm một xu nữa để chủ nhà phơi ghế bố trừ rệp. Cụ đã tự học để hiểu biết và cố gắng vượt bực để thành công. Năm 1975 cụ là chủ một hãng làm đồ điện với hơn 200 công nhân. Chính quyền cách mạng đã “tiếp thu” công ty mà cụ đã cố gắng cả một đời người để tạo dựng và cho cụ nghỉ việc. Ít lâu sau công ty tan rã. Cụ Mai may mắn không bị đi tù như nhiều chủ nhân khác. Sau này cụ vượt biên sang Canada. Trong thư viết cho tôi năm 1989 cụ vẫn chưa hiểu nổi sự cướp đoạt trắng trợn này. Cụ Mai chỉ là một trong hàng ngàn thí dụ về cách đối xử của Đảng Cộng Sản sau ngày 30/4/1975. Chế độ cộng sản đã tiêu diệt một lớp doanh nhân quí hiếm đã dần dần hình thành sau quá trình tiếp xúc với phương Tây.

Tuy tiếng súng đã im nhưng những đổ vỡ tình cảm còn lớn hơn nhiều sau ngày mà Đảng Cộng Sản gọi là Ngày Giải Phóng. Như lời cụ Mai nói: “Họ có súng và nhà tù, họ nói gì chẳng được”.

Chúng ta sẽ không bao giờ đánh giá được hết những đổ vỡ mà cuộc nội chiến 1945 – 1975 và cuộc nội chiến không có tiếng súng sau đó gây ra cho đất nước. Việc Đảng Cộng Sản còn tưng bừng kỷ niệm ngày 30/4/1975 như một ngày vui chứng tỏ rằng trong thâm tâm họ không tự coi là người Việt Nam mà như một lực lượng chiếm đóng.

Điều mà chúng ta có thể và cần làm là suy ngẫm một cách khiêm tốn về những gì mà cuộc chiến này tiết lộ về chính chúng ta, về đất nước và con người Việt Nam.

Tai sao vào năm 1945 tổ chức chính trị được nhân dân Việt Nam ủng hộ nhất lại là tổ chức theo một chủ nghĩa chủ trương xóa bỏ quốc gia? Câu trả lời thực thà có thể là một phần vì chúng ta không có tư tưởng chính trị và cũng không hiểu rõ chủ nghĩa cộng sản, nhưng phần lớn hơn là quần chúng bần nông Việt Nam đã bị dày đạp trong hàng ngàn năm và đã bị cuốn hút một cách vừa tự nhiên vừa dễ dàng bởi tiếng gọi hận thù giai cấp. Điều đáng nói là đã không có một đảng phái quốc gia nào nhìn thấy vấn đề này, trong số ít những người nhìn thấy thì phần lớn lại tưởng chủ nghĩa cộng sản là một giải đáp. Quần chúng Việt Nam không yêu nước vì không có lý do gì để yêu nước trong khi trí thức Việt Nam quá hời hợt.

Tại sao ngay sau Cách Mạng Tháng 8 Đảng Cộng Sản đã thẳng tay tàn sát hàng trăm ngàn người thuộc các đảng phái quốc gia, nghĩa là những người yêu nước chân chính nhất mà không gây phẫn nộ lớn và một số đông đảo trí thức vẫn tận tụy phục tùng và phục vụ họ? Sau này trí thức miền Bắc cũng có cùng một thái độ trong vụ Cải Cách Ruộng Đất. Vì khiếp sợ hay vì thiếu tinh thần dân tộc? Có lẽ cả hai.

Nghịch lý lớn nhất là tại sao ngay sau khi đã gây ra một cuộc nội chiến gần 10 năm (1945 -1954), dài hơn phần lớn các cuộc nội chiến tại các quốc gia khác, Đảng Cộng Sản lại phát động một cuộc nội chiến khác, lần này kéo dài hơn 15 năm, mà không bị lên án một cách nghiêm khắc và dữ dội như đáng lẽ họ phải bị lên án? Trái lại họ vẫn được một phần đáng kể của lớp người tinh hoa của đất nước ủng hộ, thậm chí ngưỡng mộ. Đó là vì đa số trí thức Việt Nam đã không nhìn thấy tác hại của nội chiến. Chúng ta đã không hiểu rằng nội chiến là tai họa lớn nhất của một dân tộc, gây ra nội chiến là tội lớn nhất trong mọi tội phản quốc. Phải công bình mà nói ít ai nhìn thấy điều này. Chính quyền Ngô Đình Diệm cũng như các chính quyền quốc gia trước và sau ông không hề lên án Đảng Cộng Sản là đã gây nội chiến mà chỉ lên án chủ nghĩa cộng sản và kêu gọi chống cộng. Tuy vậy tác hại của nội chiến là điều mà lịch sử của các quốc gia đã phơi bày, các sử gia và các nhà tư tưởng chính trị cũng đã nhấn mạnh từ lâu. Phải thú nhận chúng ta có thể có rất nhiều khả năng, bằng cấp và kiến thức chuyên môn nhưng về chính trị thì chúng ta rất kém, gần như vô học.

Tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc đã dần dần được chấp nhận và đang trở thành một đồng thuận dân tộc. Đó là một điều đáng mừng nhưng tại sao trong một thời gian dài, quá dài, lại có quá nhiều người chống lại? Tại sao nhiều người vẫn chưa chịu hiểu rằng một dân tộc sau một cuộc nội chiến chỉ có hai chọn lựa: hoặc hòa giải để đất nước tiếp tục hoặc không hòa giải và chấp nhận tan vỡ?

Không nên đổ hết lỗi cho các ông Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và những người lãnh đạo cộng sản khác. Họ tham quyền và thiển cận nhưng phần lớn những người khác nếu được cầm quyền cũng không khác gì họ. Tội ác chủ yếu đến từ sự tăm tối. Nguyên nhân chính là vì chúng ta đã thiếu một lớp trí thức chính trị, và một dân tộc không có một lớp trí thức chính trị cũng không khác một người mù hay một con tàu không phương hướng. Không tới được một bờ bến nào và tai nạn là chắc chắn. Chúng ta cần khẩn cấp những trí thức có kiến thức chính trị, có ưu tư với đất nước, biết suy nghĩ bằng cái đầu của chính mình và dám tranh đấu cho lập trường của mình.

Quan trọng hơn nữa, chúng ta cần hiểu rằng những vết thương của nội chiến vẫn còn nguyên vẹn và nếu không hòa giải được người Việt Nam với nhau thì Việt Nam sẽ không có tương lai. Chúng ta bắt buộc phải hòa giải cho bằng được dân tộc Việt Nam để có thể có hòa hợp dân tộc trong cố gắng xây dựng và chia sẻ với nhau một tương lai chung. Hòa giải là điều cực kỳ khó vì nội chiến đã quá dài và quá khốc liệt. Nhưng chúng ta không có chọn lựa nào khác hơn là thành công nếu muốn đất nước tiếp tục tồn tại.

Nguyễn Gia Kiểng (30/04/2015)

Ghi chú:

(1) Tuy đế quốc Pháp đã dập tắt phong trào đó trong một biển máu, nhưng Xô viết Nghệ – Tĩnh đã chứng tỏ tinh thần oanh liệt và năng lực cách mạng của nhân dân lao động Việt Nam. Phong trào tuy thất bại, nhưng nó rèn luyện lực lượng cho cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi sau này.(Hồ Chí Minh, Ba mươi năm hoạt động của Đảng, diễn văn ngày 06-01-1960)

(2) Thắng lợi của cách mạng Việt Nam còn là do nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là Liên Xô và Trung Quốc, đã hết lòng giúp đỡ. Nhân dịp này, chúng ta nhiệt liệt tỏ lòng biết ơn các nước xã hội chủ nghĩa anh em đứng đầu là Liên Xô vĩ đại. (Hồ Chí Minh, diễn văn khai mạc đại hội 3, ngày 05-9-1960)

Thêm một mộ tập thể 47 tử sĩ VNCH những ngày cuối cuộc chiến.

May be an image of 1 person and text that says 'Đại-tá Nguyễn Hữu Thông Trung Đoàn Trưởng 42 BB SĐ 22 BB Tự sát -3-1975 tại Quy Nhơn.'

30 tháng 4: Một Đại tá VNCH tự sát được an táng dưới cột cờ

Thêm một mộ tập thể 47 tử sĩ VNCH những ngày cuối cuộc chiến.

QUY NHƠN – Trong những ngày cuối của cuộc chiến, có một vị đại tá trung đoàn trưởng đã không chịu xuống tàu chạy loạn mà chịu ở lại với lính, và dùng súng tự sát. Xác ông được chôn trong một ngôi mộ tập thể khổng lồ, dưới chân cột cờ bên ngoài Quân Y Viện Quy Nhơn, trong đó có 47 thi hài tử sĩ. Câu chuyện này được một hạ sĩ quan pháo binh kể lại, đồng thời gợi lại ký ức đau buồn nơi một vị bác sĩ hiện đang hành nghề ở New York.

Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng TrĐ 42/SĐ 22BB, tự sát vào cuối tháng 3, 1975 bị chôn trong nấm mộ tập thể tại Quy Nhơn.

Vào đầu năm 1975, anh Dương Công An nguyên là một hạ sĩ quan Pháo Binh thuộc tiểu đoàn 223 Pháo Binh, nay anh đang sống tại Đức. Anh An cho biết, vào những ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1975, đơn vị của anh bị tan hàng trên bờ biển Quy Nhơn, anh và một số anh em binh sĩ khác đã lẩn trốn nhiều ngày trong Quân Y Viện Quy Nhơn.

Ở đấy, khi đó chỉ còn có một bác sĩ duy nhất, là Trung Úy Nguyễn Công Trứ. Ông Trứ hiện là bác sĩ quang tuyến tại một trường đại học ở New York. Khi tin về nấm mộ tập thể tại Quân Y Viện Quy Nhơn được tôi đưa lên net, nhiều người đã điện thoại cho Bác Sĩ Trứ. Những cú điện thoại này nhắc nhở cho ông quá nhiều chuyện kinh hoàng trong quá khứ, khiến ông nhiều đêm mất ngủ.

Sau nhiều lần gọi và nhắn trong máy là chúng tôi sẽ gọi lại, Bác Sĩ Trứ mới bốc máy. Ông kể, vào những ngày sau cùng, một buổi sáng ông được tiếp Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 42 đi trực thăng đến thăm Quân Y Viện. Thấy tình cảnh y chỉ còn một bác sĩ và hằng trăm thương binh trong tình trạng thiếu ăn, thiếu thuốc, cũng như nhiều thương binh chết chưa được chôn cất, Đại Tá Thông đã khóc trước mặt Bác Sĩ Trứ.

Và chỉ một ngày sau đó, Quân Y Viện tiếp nhận một tử thi nữa, và đó chính là tử thi Đại Tá Thông. Binh sĩ đưa xác ông tới, và cho biết ông đã tự sát. Nhiều nguồn tin sau này cho biết, Đại Tá Thông đã từ chối xuống tàu vì binh sĩ dưới quyền ông còn kẹt lại quá nhiều, không di tản được.

Khi đó, tại quân y viện này, có cả hàng trăm bệnh nhân cho một mình Bác Sĩ Trứ. Đồng thời cũng có rất nhiều binh sĩ tử trận được mang về nằm từ trong nhà xác và rải rác ra khắp hành lang. Các thi hài tại nhà xác QYV đã bốc mùi, và chó đã vào nhà xác ăn, gặm các tử thi này, nên Bác Sĩ Trứ đã nhờ khoảng 20 anh em quân nhân còn sức khỏe phụ với Bác Sĩ Trứ đào một huyệt mộ rất lớn dưới cột cờ, gần khu quân xa của Quân Y Viện.

Ở đây gần biển các nên việc đào đất tương đối dễ dàng. Đầu tiên là những tử sĩ đã được khâm liệm trong quan tài có phủ quốc kỳ được sắp xuống trước, tiếp theo là những người chết nằm trên băng ca được đặt lên trên những quan tài, cứ thế mà sắp xếp. Tất cả là 47 thi hài tử sĩ, trong số này có Đại Tá Thông, là cấp chỉ huy trực tiếp của anh An.

Lúc bấy giờ Saigòn chưa thất thủ, ngay cả sinh mạng của anh em binh sĩ bại trận cũng không biết sẽ ra sao nên sự việc chôn cất anh em tử sĩ lúc đó chỉ được thực hiện rất sơ sài hầu như là lén lút và vội vàng. Sau đó vài ngày tất cả bị bắt làm tù binh.

Anh An cho biết câu chuyện đã đeo đuổi theo anh suốt bao nhiêu năm nay, tâm nguyện của anh là ước sao, có ai đó, có khả năng để cải táng được ngôi mộ tập thể này, đó cũng là dịp mà mình an ủi được phần nào linh hồn của những tử sĩ này, nhưng những hy vọng càng ngày càng bị thu nhỏ lại, vì qua tin tức báo chí đất đai ở Việt Nam đã bị lạm dụng xây cất bừa bãi, hay khu đất này thuộc phạm vi của bộ đội Cộng Sản thì không thể làm gì được.

Khi VC vào Quy Nhơn, họ bắt Bác Sĩ Trứ. Nhưng ông không chỉ bị bắt làm tù binh, mà còn bị buộc tội làm việc cho CIA vì mọi người đi hết sao chỉ còn một mình Bác Sĩ Trứ ở lại. Trong Quân Y Viện lúc ấy, có một lính Việt Cộng bị thương được một đơn vị đem gởi điều trị, nhưng lại bị khóa tay vào thành giường, Bác Sĩ Trứ không có chìa khóa mở còng nên nhóm vc càng căm thù Bác Sĩ Trứ. Ông bị tù 4 năm 11 tháng, ra tù ông vượt biển đến Mỹ từ năm 1981, lúc còn độc thân, hiện nay đã có ba con theo học đại học….

Trong những ngày qua, có nhiều điện thoại hỏi đến ông về câu chuyện cũ gần 36 năm về trước khiến cho ông có nhiều đêm bị mất ngủ vì những cơn ác mộng. Bác Sĩ Nguyễn Công Trứ nói rằng ông đã làm theo lương tâm và với tình đồng đội, đã chôn 47 tử sĩ dưới chân cột cờ của Quân Y Viện. Ông đã nhiều lần về lại Quy Nhơn, qua lại trước khu Quân Y Viện cũ, ngày nay đã là doanh trại của bộ đội Cộng Sản, mà không thể làm gì hơn.

Tin về ngôi mộ tập thể cũng đến tai bà quả phụ cố Đại Tá Thông, nhũ danh Phùng Ngọc Hiếu. Liên lạc được qua điện thoại hôm Thứ Năm, bà cho biết mấy ngày hôm nay, nhiều bạn bè đã chuyển cho bà về tin tức ngôi mộ tại Quân Y Viện Quy Nhơn, cũng là nơi yên nghỉ của Đại Tá Thông.

Từ 35 năm nay, bà cũng nghe nhiều tin tức về chồng và bà cũng có nghe tin ông tự sát. Bà cũng đã về Quy Nhơn tìm kiếm nhưng không có tin tức, và không biết xác ông được chôn cất ở đâu. Bà kể, trước khi mất liên lạc, Đại Tá Thông có liên lạc với vợ và than phiền rằng trung đoàn của ông đang chiến thắng, vì sao lại có lệnh rút bỏ Pleiku.

Đại Tá Nguyễn Hữu Thông sinh năm 1937, nguyên quán tại Thạch Hãn, Quảng Trị, tốt nghiệp khóa 16 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Ông được vinh thăng đại tá năm 1972. Hiện nay bà quả phụ cố Đại Tá Nguyễn Hữu Thông cư ngụ tại Sacramento và ông bà có 5 người con đã thành đạt.