Covid – Việt Nam: Y tế phía Nam quá tải, nhiều “F0” không cứu kịp (RFI)

Covid – Việt Nam: Y tế phía Nam quá tải, nhiều “F0” không cứu kịp (RFI)

Đăng ngày: 07/08/2021 – 16:57

Sài Gòn hoang vắng mùa đại dịch. Ảnh minh họa. © Wikimedia

Trọng Thành

Dịch bệnh Covid-19 đang đẩy hệ thống bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương miền Nam vào tình trạng quá tải. Nhiều trường hợp trở nặng tử vong do không kịp cấp cứu.

Từ mươi ngày nay, số người tử vong do Covid tại Sài Gòn luôn vượt quá 100. Trong hai ngày liên tiếp 4 và 5/8/2021, số tử vong vượt 200 người. Theo bộ Y Tế Việt Nam, số người nhiễm virus (hay « F0 » theo cách gọi ở Việt Nam) tại thành phố Hồ Chí Minh hiện đã vượt quá 100.000. Theo quy định mới, đa số các « F0 » không triệu chứng tự cách ly và chăm sóc y tế tại nhà để giảm tải cho các cơ sở « thu dung » cũng như điều trị. Tuy nhiên, trong số « F0 » này dự kiến khoảng 5% trường hợp diễn tiến nặng, cần được cấp cứu, chuyển tuyến kịp thời. Có những ca chuyển nặng rất nhanh, không được cấp cứu kịp, đã tử vong. Số người cần thở máy tăng gấp đôi trong mươi ngày vừa qua, từ hơn 700 người (ngày 28/07) thành hơn 1.300 người (ngày 05/08).  

Theo chính sách mới của chính quyền Việt Nam, hệ thống chăm sóc và điều trị người nhiễm SARS-CoV-2 tại Sài Gòn chia thành 5 tầng. « Tầng một » tập trung đa số người nhiễm virus không có triệu chứng để cách ly, theo dõi (gọi là « cơ sở thu dung »). Trước tình trạng quá tải, nhiều cơ sở « thu dung » đã được điều chuyển thành cơ sở điều trị « tầng 2 ». Một bài viết trên trang mạng chính phủ Việt Nam hôm nay 07/08 cho biết « tình trạng quá tải các tầng điều trị của TP HCM làm nhiều bệnh nhân Covid nặng chậm được tiếp nhận, cấp cứu » khiến Quân khu 7 phải « quyết định chuyển đổi » khu thu dung « F0 » không triệu chứng thành bệnh viện dã chiến chuyên điều trị, cấp cứu.  

Sở Y Tế : Các bệnh viện không được từ chối người cấp cứu

Hôm qua 05/08, giám đốc sở Y Tế phải ra « công văn khẩn » yêu cầu tất cả trung tâm cấp cứu, các bệnh viện phải « mở cửa tiếp nhận người bệnh tự đến khám và cấp cứu 24/7, đặc biệt vào ban đêm ». Tuyệt đối không được yêu cầu người bệnh phải có xét nghiệm nhanh hoặc PCR âm tính với Covid. Tuy nhiên, khả năng tiếp nhận của các bệnh viện là có hạn.  

Trả lời báo Tuổi Trẻ hôm qua, giám đốc một bệnh viện điều trị bệnh nhân Covid ở mức tương đối nặng (thuộc « tầng 3 ») quy mô 500 giường tại Sài Gòn cho biết, bệnh viện này lúc nào cũng trong tình trạng kín giường, do đó việc tiếp nhận được bệnh nhân nữa hay không còn tùy thuộc mức độ bệnh lý, « nếu bệnh nhân cấp cứu sẽ ráng cứu ». Vị bác sĩ này cho biết thêm : « Bên cạnh các ca thở máy không xâm lấn được điều trị hồi phục tốt, có ngày 3-4 ca tử vong, chủ yếu tập trung vào nhóm lớn tuổi, có bệnh nền. Gần đây xuất hiện thêm ở nhóm trẻ tuổi bị béo phì ».  

Tình hình căng thẳng không chỉ tại Sài Gòn. Tỉnh Bình Dương láng giềng cũng là một điểm nóng khác. Số ca mới trong 10 ngày gần đây chiếm gần 70% tổng số ca từ đầu mùa dịch. Hiện vẫn còn gần 400 bệnh nhân có diễn biến nặng, đã có 144 người tử vong vì Covid. Có ngày, số ca mắc mới của Bình Dương vượt 2.000, bằng một nửa ca mới của Sài Gòn, dù dân số chỉ bằng một phần năm. 

Theo trang mạng của bộ Y Tế Việt Nam hôm nay, bệnh viện Hồi Sức Covid-19 tại thành phố HCM hiện đang điều trị 522 bệnh nhân, trong đó 149 người trong tình trạng nguy kịch. Bệnh viện Hồi Sức Covid-19, được thành lập khẩn hồi tháng 7/2021, dự kiến có thể tiếp nhận tối đa 1.000 bệnh nhân rất nặng và nguy kịch (tức « tầng 5 », tầng cao nhất theo hệ thống điều trị Covid tại Sài Gòn). Hiện tại bệnh viện chỉ đón nhận được một nửa số bệnh nhân theo mục tiêu thiết kế do thiếu phương tiện và nhân viên.

Nhìn chung, tình trạng thiếu máy trợ thở, thiết bị ECMO (tim phổi nhân tạo), máy thở oxy dòng cao, bồn chứa oxy, máy chụp X-quang di động…, cũng như thiếu y bác sĩ điều trị, cấp cứu, nhân viên điều dưỡng chuyên về Covid, là phổ biến. Tình hình dự kiến sẽ căng thẳng hơn trong những ngày tới.

Cô Gái Pa Ko & Covi19 – Tưởng Năng Tiến

Cô Gái Pa Ko & Covi19

Mùa Hè 2021 – từ Buôn Hồ, Dak Lak – FB Huỳnh Thục Vy trở về Tam Kỳ, nơi bà sinh trưởng, để có dịp ngắm nhìn và ngâm mình lại trong sóng nước Tam Thanh. Khác với Phạm Duy, trong Nha Trang Ngày Về (“Tôi như là con ốc, bơ vơ nằm trên cát/Chui sâu vào thân xác lưu đầy) Huỳnh Thục Vy chả có tâm sự gì ráo trọi, cũng không kêu than vô vọng (“Dã tràng ơi! Sao lấp cho vơi sầu này?’) mà chỉ thảm thiết kêu Trời :

Tắm biển để thư giãn mà còn bị tra tấn bởi mấy bài hát sặc mùi lên đồng và máu tanh: cô gái mở đường, cô gái vót chông, ‘chờ bọn bay diệt bọn bay’ bla bla, má ơi. Đề nghị ban quản lý bãi biển Tam Thanh chấm dứt ngay việc tra tấn người tham quan bằng những bài hát đáng lẽ phải vứt vô sọt rác lâu rồi ấy…

Những “bài hát sặc mùi lên đồng và máu tanh đáng lẽ phải vứt vô sọt rác lâu rồi ấy” khiến tôi chợt nhớ đến vô số những cô sơn nữ nơi quê hương, đất nước của mình :

Cô Gái Sông Ba “tay vót chông miệng hát không nghỉ.”

Cô Gái Bom Bo “giã gạo ban đêm vì ngày bận làm mùa.”

Cô Gái Pa Ko “gùi trên vai súng đạn ra hoả tuyến”

Súng đạn đã im tiếng gần nửa thế kỷ qua. Các cô sơn nữ cũng đều đã qua hết thời xuân sắc tự lâu rồi, và đang phải đối mặt với vô số khó khăn trong cuộc mưu sinh vào những ngày tháng cuối đời – theo tường trình của RFA (“Người Dân Tộc Thiểu Số Vân Kiều và Pa Ko”) do Nhóm Phóng Viên Từ Việt Nam thực hiện :

Có thể nói rằng đời sống của bà con đồng bào thiểu số Vân Kiều và Pa – Kô khổ cực không còn gì để nói. Đi dọc theo đường 9 Nam Lào từ thành phố Đông Hà lên cửa khẩu Lao Bảo, qua khỏi những dãy nhà ngói đỏ chói của thành phố chừng 10km, đến đoạn sông Dakrong chảy dọc đường 9 Nam Lào, nhìn sang bên kia sông là những mái nhà lụp xụp nằm lặng lẽ trên đồi, nhìn lại bên cánh rừng dọc đường 9 cũng nhiều mái nhà sàn lợp tranh nhỏ xíu, tuềnh toàng gió lộng nằm giữa các nương sắn hoặc giữa các ngọn đồi trọc. Cảnh nghèo đói hiện ra xác xơ, tiều tụy.

Sự túng quẫn, cùng cực cũng có thể nhìn thấy được tại một phiên chợ sớm, họp lúc nửa khuya và tan lúc trời vừa hừng sáng – tại thị trấn A Lưới, Thừa Thiên, Huế – theo ghi nhận của hai ký giả Như Ý và Văn Long :

“Em Hồ Thị Nhơn, 5 tuổi (thôn Pơ Nghi 1, xã A Ngo) thức dậy từ 2h đêm với mớ rau má mang đi. Em Hồ Thị Hiền, học sinh THCS Hồng Quảng đang ngồi bên chậu hến. Hồ Thị Hiền tâm sự: ‘Buổi chiều, khi cô giáo cho lớp nghỉ là em lên cái suối xa để mò con hến, rồi chờ đến sáng sớm mai để đem xuống chợ.’ Mỗi lon hến tươi của Hiền có giá 1.000 đồng. Em vẫn đi mò thường xuyên, và sau mỗi buổi chợ em có được 10 đến 15 ngàn để giúp mẹ cải thiện bữa ăn gia đình và mua thêm sách vở.”

Chỉ có điều an ủi duy nhất là người dân Pa Ko (nói riêng) và những người có công với cách mạng (nói chung) đều được Tổng công ty Hàng không VN dành ưu tiên khi làm thủ tục lên tầu – theo như tin loan của báo Pháp Luật :

Ưu tiên tại khu vực soi chiếu an ninh, khách được ưu tiên sử dụng lối đi riêng dành cho khách hạng thương gia hoặc khách hàng thường xuyên. Dịch vụ ra tàu bay khách ra tàu bay trước cùng với các khách ưu tiên khác. Hành khách là người có công với cách mạng cần xuất trình đầy đủ giấy tờ xác nhận đi kèm (bản sao không cần chứng thực) để được ưu tiên phục vụ.

Thiệt là tử tế và ơn nghĩa hết biết luôn!

Tuy nhiên, với những kẻ suốt đời sống chui rúc dưới những “mái nhà sàn lợp tranh tuềnh toàng gió lộng” thì cái viễn ảnh “ưu tiên sử dụng lối đi riêng dành cho khách hạng thương gia” chắc còn xa lắm. E là họ phải chờ cho đến khi “CNXH có thể hoàn thiện ở Việt Nam vào cuối thế kỷ này,” như vị Tổng Bí Thư đương nhiệm đã từng kỳ vọng!

Thói đời thì xưa nay vẫn vậy mà. Đâu cũng thế thôi. Bạc bẽo vẫn là lẽ thường tình của thế nhân, chứ chả riêng chi những người CSVN. Họ chỉ khác người cái điểm là tuy ăn ở, cư xử rất tệ bạc nhưng lại thích khoe khoang thành tích mà phần lớn đều là giả tạo. 

Thí dụ điển hình gần nhất là hình ảnh “Mẹ Pa Kô Quảng Trị Gùi Bí Ngô Để Ủng Hộ Đồng Bào Miền Nam” đang lan tràn trên nhiều trang FB, giữa mùa dịch bệnh,  cùng với không ít những lời ca ngợi :

  • Hồ Thị Thập: Thương mẹ quá.
  • Tiên Thanh: Tấm gương Sáng ngời !
  •  Chi Vân: Thương bà mong bà có thật nhiều sức khoẻ.
  • Hồ Kết: Bà của mình là người pa cô nha bạn. Sống tại thôn A Đăng/ xã Tà Rụt/ h Đakrông/ T. Qtri.
  • Hồ Nương: Họ thật thà thiệt bụng. Con gái là cô con cháu bác hồ.

Con cháu bác Hồ thì đâu mà chả (dại) y như thế, chứ có riêng chi nơi miền sơn cước. Ở miền xuôi họ cũng vậy thôi :

Báo Quân Đội Nhân Dân, số ra ngày 20/07/21, còn vừa hân hoan cho biết thêm một trường hợp vô cùng “cảm động” khác nữa kia :

Cụ bà 90 tuổi góp lương thực hỗ trợ đồng bào miền Nam chống dịch. Nghe loa truyền thanh xã thông báo, vận động bà con đóng góp hàng hóa, củ, quả ủng hộ đồng bào miền Nam chống dịch Covid-19, cụ ông nói với cụ bà: “Nhà ta có mấy bao lạc. Bà chọn loại ngon nhất đem đi giúp người ta. Miếng khi đói bằng gói khi no bà ạ!”

Tình nghĩa tới cỡ đó mà nhân thế vẫn có điều tiếng eo sèo.

 Blogger Dương Hoàng Mai:

Hình được chú thích đã khiến nhiều người cảm động, riêng tôi chả cảm động chi ráo, mà thấy bất nhẫn khi đọc tin bà cụ 90 tuổi ở miền núi xa xôi phải vác 5 kí lô đậu phộng đi ủng hộ miền Nam thân yêu ! Dù là tình nguyện thì cũng phải hỏi con cháu khỏe mạnh, hàng xóm khỏe mạnh sao không xách giúp bà, 5 kí lô, với quãng đường núi xa xôi, với 90 tuổi.. Tội nghiệp quá !

Blogger Hiếu Chân:

Truyền thông của đảng đăng bài ca ngợi những cụ già 85 tuổi lấy tiền để dành lo hậu sự góp vào quỹ, trẻ em 5 tuổi nói chưa sõi cũng đập heo đất lấy tiền góp vào quỹ, mỗi người cả trăm triệu đồng! Lối tuyên truyền lố bịch đó tưởng rằng nêu gương tốt nhưng thực tế đã làm cho người đọc thấy rõ thêm bộ mặt trâng tráo và lòng tham vô đáy của nhà cầm quyền, cố vơ vét tiền bạc bằng mọi cách, không chừa cả trẻ em và bà lão.

Tôi thì không tin rằng bây giờ “trẻ em” và “bà lão” ở VN vẫn còn có thể bị dụ vào việc chống dịch như cô gái Pa Ko đã từng lao đời vào chuyện chống “giặc” (một cách hồn nhiên) như ngày xưa nữa. Mọi tin tức và hình ảnh thượng dẫn chỉ là những thủ thuật đã lỗi thời, để phô trương thành tích, của đám dư luận viên ngu ngốc mà thôi.

 Bạn có thể lừa gạt  mọi người vào một thời điểm nào đó, và có thể lừa gạt vài người vào bất cứ lúc nào nhưng bạn không thể lừa gạt tất cả mãi mãi được. (“You can fool some of the people all of the time, and all of the people some of the time, but you can not fool all of the people all of the time” – Abraham Lincoln).

Tưởng Năng Tiến
8/2021

TPHCM có trên 2000 ca tử vong, lò thiêu hoạt động 24/24

Đài Á Châu Tự Do

TPHCM có trên 2000 ca tử vong, lò thiêu hoạt động 24/24

Theo trang thông tin về dịch bệnh của Bộ Y tế Việt Nam, TPHCM hiện có ít nhất 2.105 ca tử vong vì COVID-19 khiến lò thiêu phải hoạt động hết công suất.

Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM Nguyễn Toàn Thắng hôm 5-8 cho hay, các bệnh nhân tử vong do COVID-19 tại thành phố được hỏa táng tại trung tâm hỏa táng Bình Hưng Hòa (Lò thiêu Bình Hưng Hòa) và đang hoạt động 24/24 giờ.

Theo Vietnam Plus, ông Nguyễn Đình Thắng phủ nhận chuyện tăng giá hỏa táng và từ chối nhận ca tử vong do COVID-19 tại Bình Hưng Hòa.

Ông Thắng cho biết thêm, sau khi hỏa táng, tro cốt sẽ được lưu trữ tại điểm lưu trữ của Công ty Môi trường đô thị, có dán đầy đủ thông tin của người mất đến khi gia đình có điều kiện nhận tro cốt sẽ giao lại.

Nếu người mất thuộc diện hộ nghèo, UBND thành phố sẽ chi ngân sách để hỗ trợ toàn bộ chi phí ở các khâu cho người dân, Giám đốc Sở TN&MT TPHCM cho biết.

Ngoài ra, Sở Y tế thành phố khẳng định, hiện nay chi phí cách ly, khám chữa bệnh cho bệnh nhân liên quan COVID-19 và những chi phí khác (trong trường hợp có bệnh nhân mất vì COVID-19) được miễn phí hoàn toàn.

Chi phí hỏa táng người tử vong vì vi-rút corona sẽ ở mức 4,2 triệu đồng và được miễn phí, còn lại các chi phí khác về dịch vụ mai táng thì người nhà sẽ tự chọn với đơn vị dịch vụ mai táng.

Phần chi phí hỏa táng sẽ được phía bệnh viện chi trả với đơn vị thực hiện dịch vụ mai táng, cũng theo thông tin từ Vietnam Plus.

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Phan Văn Mãi cũng cho hay, chủ trương của thành phố sẽ hỗ trợ đối với những gia đình không may có người mất bằng ngân sách của thành phố hoặc nguồn xã hội hóa và cho rằng “đây là việc thiêng liêng, cần được làm chu đáo”.

#RFAVietnamese #TinRFA #LoThieuBinhHungHoa #BinhHungHoa 

May be an image of text that says 'Ảnh chụp màn hình CHÂUTỰ DO ĐÀIÁCHÂUTO DO ĐÀI CHÂU DO TPHCM có trên 2000 ca tử vong, lò thiêu hoạt động 24/24'

“Bên thắng cuộc” lột trần hậu trường chính trị VN

“Bên thắng cuộc” lột trần hậu trường chính trị VN

Theo blog BS Ngọc

Phải nói cho rõ là “hậu trường chính trị của chế độ Việt Nam theo chủ nghĩa xã hội, hay cộng sản”. Đã có nhiều người viết bài điểm sách, tôi không có gì để viết thêm. Tôi chỉ muốn rút ra vài điểm chính sau khi đã đọc xong bộ sách. Theo tôi nghĩ những câu chuyện Huy Đức thuật lại trong sách có thể giải thích tại sao nước ta nghèo hèn như hiện nay. Tôi cũng nghĩ các lãnh đạo thuộc phe XHCN của miền Bắc phải chịu trách nhiệm lớn trước lịch sử về những sai lầm của họ.

Một nhà văn hoá Âu châu từng nói rằng lịch sử chỉ là một chuỗi câu chuyện về gia đình và thế giới. Bởi thế, kể chuyện là một phương tiện có hiệu lực cao để giải thích những gì đã và đang xảy ra. Có thể khẳng định ngay rằng bộ sách Bên thắng cuộc của Huy Đức không phải là sách lịch sử. Huy Đức cũng nói rằng anh không viết sử. Tôi xem Bên thắng cuộc là một chuỗi câu chuyện hậu trường chính trị Việt Nam. Tất cả chúng ta cần phải biết những câu chuyện mà Huy Đức kể lại, bởi vì những câu chuyện đó sẽ thấp lên một que diêm trong cái lịch sử mờ ảo của Việt Nam vào những năm giữa thế kỷ 20 cho đến ngày hôm nay.

Đọc phần I của tập sách tôi như xem một cuốn phim quay chậm. Những kẻ một sớm chiều biến thành “Cách mạng 30/4”. Đốt sách. Cạo râu, cắt ống quần. Cải tạo. Kinh tế mới. Đánh “tư sản mại bản”. Đổi tiền. Vượt biên. Tất cả những biến cố đó là sự thật. Là người ở lại trong khi các đồng nghiệp tìm được vượt biên tôi có thể nói rằng tất cả những gì Huy Đức ghi chép đều đúng. Huy Đức không phải là người đầu tiên ghi lại những biến cố đau thương sau 1975. Trước Huy Đức đã có cụ Nguyễn Hiến Lê viết lại cẩn thận những sự kiện và biến cố làm cho miền Nam suy sụp sau ngày “giải phóng” trong tập Hồi Ký nổi tiếng nhưng bị nhà xuất bản cắt xén khá nhiều. Chúng ta thử đọc vài trích đoạn trong Hồi Ký của cụ Nguyễn Hiến Lê trước khi đọc sách của Huy Đức.

Kẻ “thắng trận” muốn biến miền Nam nghèo như miền Bắc:

“Sự thất bại hiển nhiên của chế độ là sự suy sụp của kinh tế như tôi đã trình bày sơ lược ở trên. Hậu quả là Việt nam trước thế chiến tự hào là “tiền rừng bạc bể”, có những đồng lúa, đồn điền cao su mênh mông ở miền Nam, những mỏ than, mỏ phốt phát phong phú ở miền Bắc mà bây giờ thành một trong vài nước nghèo nhất thế giới.

Nhưng một người Balan trong Ủy ban kiểm soát quốc tế năm 1975 bảo chỉ trong 5 năm, miền Nam sẽ “đuổi kịp miền Bắc”, nghĩa là nghèo như miền Bắc. Lời đó đúng, rất sáng suốt. Nếu không nhờ mấy trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gởi tiền, thuốc men, thực phẩm, quầ áo… về giúp bà con ở đây thì chúng ta hiện nay cũng điêu đứng như anh em miền Bắc rồi”. 

Trong cùng lúc ra tay hành hạ dân miền Nam:  

“Khổ nhất là bọn đi kinh tế mới, thất bại, tiêu tan hết vốn liếng, về Sài gòn, sống cảnh màn trời chiếu đất, ăn xin, moi các đống rác hôi thối, lượm một miếng giấy vụn, một túi ni lông, một miếng sắt rỉ, một quai dép mủ… để bán cho “ve chai”. Trông thấy đống túi ni lông được rửa qua loa trong nước dơ rồi phơi ở lề đường để bán cho tiểu thương đựng hàng, tôi ghê tởm quá”.

Trong khi đó bản thân những kẻ “thắng cuộc” thì ăn hối lộ và tham nhũng:

“Ở tỉnh nào cũng có một số cán bộ tham nhũng cấu kết với nhau thành một tổ chức ăn đút ăn lót một cách trắng trợn, không cần phải lén lút. Có giá biểu đàng hoàng: xin vô hộ khẩu một thành phố lớn thì bao nhiêu tiền, một thị xã nhỏ thì bao nhiêu, một ấp thì bao nhiêu. Muốn mua một vé máy bay, vé xe lửa thì bao nhiêu. Muốn được một chân công nhân viên, phải nộp bao nhiêu… Cái tệ đó còn lớn hơn thời trước”.

Họ tạo nên một xã hội trong đó con người mất nhân phẩm:

“Một cán bộ tài chánh xã mà không biết chia 72 cho 24. Trong một buổi hội họp của Hội trí thức thành phố Hồ Chí Minh, một kĩ sư già bực mình vì tình trạng cán bộ đa số dốt nát, bảo: “Tôi chấp nhận vô sản chuyên chính, mà không chấp nhận vô học chuyên chính”. Ngay chiều hôm đó ông ta bị bắt giam; sau cũng được thả ra”.

“Sống dưới chế độ cộng sản, con người hóa ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia. Ngay một phó viện trưởng cũng làm việc điểm chỉ đó mà bạn trong viện không hay. Dĩ nhiên kẻ kiểm soát đó lại bị người khác kiểm soát lại. Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó”.

Tình trạng phân chia Nam Bắc càng nặng:

Thất bại lớn nhất, theo tôi, là không đoàn kết được quốc dân. Tháng 5-1975, có ít nhất là 90% người miền Nam hướng về miền Bắc, mang ơn miền Bắc đã đuổi được Mĩ đi, lập lại hòa bình, và ai cũng có thiện chí tận lực làm việc để xây dựng lại quốc gia. Nhưng chỉ sáu bảy tháng sau, cuối 1975 đã có đa số người Nam chán chế độ ngoài Bắc, chán đồng bào Bắc. Tôi nhớ như ở phần trên tôi đã nói năm 1976, trong một cuộc hội nghị ở Sài gòn, bàn về vấn đề thống nhất quốc gia, một học giả lão thành miền Bắc, ông Ðào Duy Anh (đã có hồi sống ở Nam nhiều năm, có nhiều bạn thân ở Nam) khi được mời phát biểu ý kiến, chỉ nói mỗi một câu đại ý là thống nhất cái gì cũng dễ; quan trọng nhất là phải thống nhất nhân tâm đã. Cả hội trường sửng sốt và làm thinh.

Ông Anh đã nhận xét đúng và dám nói. Quả thực là lúc đó có sự chia rẽ nặng giữa người Nam và người Bắc, Nam đã không muốn thống nhất với Bắc rồi. Từ đó, tinh thần chia rẽ cứ mỗi ngày mỗi tăng, năm nay (1980) có thể nói 90% người miền Nam hay hơn nữa, muốn tách khỏi miền Bắc”.

bởi vì một trong những nguyên nhân là:

Người Bắc coi người Nam là ngụy, đối xử với người Nam như thực dân da trắng đối với dân “bản xứ”, tự cao tự đại, tự cho rằng về điểm nào cũng giỏi hơn người Nam, đã thắng được Mĩ thì cái gì cũng làm được. Chỉ cho họ chỗ sai lầm trong công việc thì họ bịt miệng người ta bằng câu: “Tôi là kháng chiến, anh là ngụy thì tôi mới có lí, anh đừng nói nữa.

Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hóa, kĩ thuật -điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học- thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẫy nhau… Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến. Và người ta đâm ra thất vọng khi thấy chân diện mục của một số anh em cách mạng đó, thấy vài nét của xã hội miền Bắc: bạn bè, hàng xóm tố cáo lẫn nhau, con cái không dám nhận cha mẹ, học trò cấp II đêm tới đón đường cô giáo để bóp vú…”.

Nhưng cụ Nguyễn Hiến Lê ghi chép thời cuộc, tình hình chung, còn Huy Đức thì cung cấp cho chúng ta những câu chuyện hậu trường, những suy nghĩ cá nhân của những người nặn ra những chính sách ác ôn dẫn đến tình hình mà cụ Nguyễn Hiến Lê nhận xét. Có thể nói rằng cuốn sách của Huy Đức là một bổ sung quý báu cho hồi ký của cụ Nguyễn Hiến Lê.

Bây giờ chúng ta thử đọc xem Huy Đức đã cho chúng ta chứng từ để giải thích cho những nhận xét của cụ Nguyễn Hiến Lê. Đọc xong bộ sách tôi thấy những thông điệp sau đây lắng đọng trong tôi:

1.- Đó là một chế độ độc tài và toàn trị. Người cộng sản nói rằng chế độ do họ dựng lên là dân chủ tập trung. Nhưng trong thực tế chúng ta thấy rằng chẳng có gì là dân chủ trong chế độ cộng sản. Tất cả các chính sách đều do một nhóm người trong Bộ chính trị quyết định. Nhưng qua Bên thắng cuộc, chúng ta còn biết rằng rất nhiều chính sách có ảnh hưởng đến hàng triệu người chỉ do một người quyết định, bất chấp những lời khuyên của người khác. Điển hình cho tính độc tài là quyết định mở cuộc tổng tấn công vào Tết Mậu Thân. Rõ ràng, đó là một chế độ độc tài, sao gọi là dân chủ tập trung được.

Điều mỉa mai nhất là họ cáo buộc rằng chế độ VNCH là do Mỹ dựng lên và tay sai của Mỹ, nhưng chính người lãnh đạo cao cấp nhất trong chế độ CS là Lê Duẩn khẳng định rằng họ đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Cộng. Hình như chưa một lãnh đạo miền Nam chưa ai trơ tráo nói rằng họ là tay sai của Mỹ. Nói cách khác, chế độ CS ngoài Bắc thời đó là một chế độ toàn trị tay sai của ngoại bang.

Tính toàn trị còn thể hiện qua việc Bộ chính trị kiểm soát cả hành vi xã giao của các đồng chí họ. Đọc đoạn Huy Đức tả cái bắt tay hờ hững của cựu thủ tướng Phan Văn Khải với ông Bill Clinton mà buồn cười về sự trẻ con và thiếu văn hoá của lãnh đạo CS. Ông Khải không mở miệng cười với Bill Clinton. Khi được hỏi tại sao lại có hành vi kém xã giao như vậy, ông Khải thú nhận: “Không được đâu mày ơi, Bộ chính trị đã thống nhất là không được cười”.  Đoạn viết về một ông tướng công an “làm việc” với ban giám hiệu Đại học Quốc gia Hà Nội để chỉ đạo lúc nào nên cười, lúc nào nên vỗ tay, thậm chí những hành vi xem thường ông Bill Clinton như để cho sinh viên đọc báo trong lúc ông nói. Tất cả những hành động và sự giật dây đó là những minh chứng hùng hồn cho thấy chế độ toàn trị kiểm soát tất cả hành vi sống của người dân.

2.- Nội bộ thiếu đoàn kết.  Thoạt đầu, ấn tượng của tôi về các vị lãnh đạo phe CSVN là họ rất đoàn kết với nhau. Nhưng đọc qua Bên thắng cuộc và kinh nghiệm cá nhân, tôi mới thấy ấn tượng đó rất sai lầm. Người CSVN, đặc biệt là trong giới lãnh đạo thượng tần, rất ganh ghét và đố kỵ lẫn nhau. Huy Đức qua những câu chuyện cá nhân phác hoạ một bức tranh rất xấu về Lê Đức Thọ và Lê Duẩn, hai người không ưa tướng Võ Nguyên Giáp. Từ một tướng vang danh thế giới bị hạ xuống người đi đặt vòng ngừa thai cho phụ nữ! Những ganh ghét và đố kỵ rất con người cũng giống như các lãnh đạo thuộc phe VNCH. Nhưng có cái khác biệt căn bản là các lãnh đạo VNCH hành xử có văn hoá hơn và có phần tế nhị hơn so với các lãnh đạo phe CS.

Họ sẵn sàng dựng nên những câu chuyện để bôi xấu lẫn nhau. Vụ án “Năm Châu – Sáu Sứ” được Huy Đức mô tả khá rõ và cho thấy các đồng chí thượng tầng CS có thể lập mưu mô để hạ bệ những ai họ không ưa thích. Họ còn dám dùng cả những thủ đoạn thấp như photoshop để nguỵ tạo hình ảnh trai gái để tố cáo ông Lê Khả Phiêu lúc đó là tổng bí thư đảng.

3.- Tàn nhẫnSự hành xử của một số lãnh đạo CS cấp cao có thể nói là tàn nhẫn. Sự tàn nhẫn thể hiện ngay giữa các đồng chí. Chúng ta thử đọc qua đoạn mô tả Võ Chí Công, Đoàn Khuê và Nguyễn Đức Tâm trả thù Võ Viết Thanh sau khi tướng Thanh bắt Năm Châu và Sáu Sứ:

“Tôi tới phòng làm việc của Đoàn Chủ tịch Đại hội, thấy Võ Chí Công, Nguyễn Đức Tâm, Đoàn Khuê, Nguyễn Quyết, Nguyễn Thanh Bình đang chờ. Mặt Đoàn Khuê hằm hằm, Võ Chí Công và Nguyễn Đức Tâm nói ngắn gọn: ‘Chúng tôi thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, báo đồng chí hai nội dung. Trước hết, xin chuyển tới đồng chí nhận xét của Bộ Chính trị: Đồng chí là một cán bộ cao cấp còn trẻ, công tác tốt, rất có triển vọng, nhưng rất tiếc, chúng tôi vừa nhận được một số báo cáo tố cáo đồng chí hai việc: Một, ngay sau giải phóng, đồng chí có cho bắt hai cán bộ tình báo của Bộ Quốc phòng và từ đó hai cán bộ này mất tích; hai, cái chết của cha mẹ đồng chí là bị ta trừ gian, chứ không phải do địch giết. Vì vậy, chúng tôi đành phải rút đồng chí ra khỏi danh sách tái cử vào Trung ương khóa VII’.”

Ông Võ Viết Thanh phản ứng như ssau: 

“Tôi hết sức bất ngờ. Khi nghe xúc phạm đến ba má tôi thì tôi không còn kiềm chế được. Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng ngắn, tôi đã định kéo khóa, rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát. Nhưng, tình hình lúc đó, nếu tôi làm thế là tan Đại hội. Tôi cố nuốt cơn tức giận.”

4.- Lừa gạt và dối trá. Người dân đã bị bộ máy tuyên truyền của chế độ định hướng suy nghĩ và cảm nhận. Những trẻ em mới lớn lên đã bị bộ máy tuyên truyền nhồi nhét rằng các vị lãnh đạo đáng kính suốt đời hy sinh hạnh phúc cá nhân để đấu tranh cho bình đẳng xã hội. Họ còn bị nhồi nhét rằng chế độ VNCH là chế độ ác ôn, với những con người ăn trên ngồi trốc, trong khi phần lớn người lao động phải sống khổ cực. Nhưng Bên thắng cuộc lột trần “huyền thoại” cao cả của các lãnh đạo CS. Sự thật nói lên rằng họ chính là những người ăn trên ngồi trốc. Trong khi người dân không đủ cơm ăn thì họ phè phỡn với bơ sữa từ Đông Âu. Họ có những vườn rau riêng. Họ có một đội quân bác sĩ chăm sóc sức khoẻ dưới danh xưng “Ban bảo vệ sức khoẻ trung ương”. Người dân không có thuốc điều trị nhưng lãnh đạo CS thì có thừa. Nếu lấy cái nền lãnh đạo VNCH có đặc quyền đặc lợi là 1 thì những người lãnh đạo CS có đặc quyền đặc lợi phải lên đến 100. Do đó, tất cả những gì người CS phỉ báng giới lãnh đạo VNCH thì cũng chính là những gì họ phỉ báng chính họ với cường độ cao hơn 100 lần. Một cách ngửa mặt lên trời phun nước bọt.

5.- Đạo đức giả. Báo chí miền Bắc thường ra rả tuyên truyền rằng lãnh đạo VNCH là những kẻ ăn chơi, đa thê đa thiếp, chỉ biết suốt ngày nhảy đầm chứ chẳng có kiến thức chính trị gì cả. Họ còn viết hẳn một cuốn sách về các tướng lãnh VNCH. Đọc cuốn này cũng là một phương thức giải trí tốt vì các tác giả có khả năng tưởng tượng khá tốt. Nhưng còn các lãnh đạo CS thì sao? Họ là những kẻ nhiều vợ. Lê Duẩn. Nguyễn Văn Linh. Lê Đức Thọ. Võ Văn Kiệt. Có thể cả ông Hồ. Tất cả đều có hơn 1 vợ. Tất cả đều sẵn sàng bỏ vợ lại sau lưng để “theo đuổi sự nghiệp cách mạng”. Nhưng cũng có thể họ xem phụ nữ như là những người để họ giải quyết vấn đề tình cảm sinh lý. Không phải ai trong giới lãnh đạo CS đều sống vô đạo đức, nhưng nhìn qua những nhân vật cao cấp chúng ta thấy nói rằng thói đạo đức giả rất phổ biến trong giới thượng tầng của chế độ.

6.- Dốt nát. Chúng ta biết rằng những người cộng sản thế hệ thứ nhất như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (không tính đến những người như Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ) là những người có trình độ học vấn khá và có bản lãnh. Nhưng Bên thắng cuộc tiết lộ rằng những người thuộc thế hệ đàn em của những người tiền phong toàn là một nhóm người ít học. Những lãnh đạo như ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Văn Linh … đều xuất thân từ thành phần không có cơ hội học hành đến nơi đến chốn. Sự dốt của lãnh tụ có khi đến mức hài hước. Trong phần viết về sức khoẻ lãnh đạo, chúng ta được biết ông Đỗ Mười nói về bệnh trạng của tướng Đoàn Khuê, qua lời thuật của ông Nguyễn Văn An, như sau: “Đoàn Khuê nói với tao, uống tam thất nó tan hết rồi mà. Đoàn Khuê còn vạch bụng cho tao xem. Tôi bảo: thưa anh, theo chuyên môn thì đấy là khối u nó chạy chứ không phải tan đâu ạ”. Thật kinh hoàng khi những con người như thể được đặt ở vị trí chót vót lãnh đạo một đất nước 90 triệu dân!

Qua Bên thắng cuộc chúng ta biết rằng các lãnh đạo CS có tầm nhìn rất hạn hẹp. Có thể do bị nhào nặn bởi tuyên truyền cộng với kém học thức nên các lãnh đạo CS có kiến thức rất nghèo nàn về thế giới ngoài các nước XHCN và Trung Cộng. Từ đó dẫn đến những nhận định sai lầm và những lựa chọn bất lợi cho đất nước. Điển hình là câu chuyện đằng sau việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ. Câu chuyện cho thấy giới lãnh đạo CS thiển cận và làng xã trong những nhận xét của họ về một đối thủ rất quan trọng.

Chúng ta thử đọc một đoạn “Cứu chủ nghĩa xã hội” để thấy ông Nguyễn Văn Linh có tầm nhìn và hành xử đầy kịch tính ra sao. Đọc cũng để thấy Gorbachev chẳng những mỉa mai mà còn khinh Nguyễn Văn Linh như thế nào:

Ông Nguyễn Văn Linh cho rằng Gorbachev là kẻ cơ hội nhất hành tinh:

Tháng 10-1989, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự lễ kỷ niệm bốn mươi năm ngày thành lập Nước Cộng hòa Dân chủ Đức. Theo ông Lê Đăng Doanh: “Quyết địng đi dự 40 năm Quốc Khánh CHDC Đức là quyết định trực tiếp của cá nhân anh Linh. Anh Linh đã bàn với Bộ Chính trị về việc phải triệu tập một Hội nghị các Đảng Cộng Sản và Công nhân quốc tế để cứu phong trào cộng sản, chống chủ nghĩa cơ hội. Anh sang Berlin là để gặp các đồng chí để bàn về việc ấy và gặp Gorbachev. Trong một cuộc họp, anh Linh nhận xét: Gorbachev là kẻ cơ hội nhất hành tinh này”.

Bị đối xử như thương gia tầm thường:

Ngày 4-10-1989, từ Hà Nội, hãng Interflug của Cộng hòa Dân chủ Đức dành cho ông Linh một ghế hạng thương gia, các thành viên cao cấp khác – Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh, Trợ lý Tổng Bí thư Lê Xuân Tùng, Phó Ban Đối ngoại Trịnh Ngọc Thái, Đại sứ Tạ Hữu Canh và thư ký Lê Đăng Doanh – chỉ ngồi khoang hành khách thường.

Bị xem thường:

Một lễ đón đơn giản được tổ chức tại sân bay Berlin-Schronefeld rồi sau đó đoàn về khách sạn. …. Trong suốt chuyến thăm chính thức ấy, phía CHDC Đức không thu xếp cho ông Linh một buổi gặp chính thức nào với Honecker hay một nhà lãnh đạo khác. Thế nhưng, điều đó đã không làm ông Nguyễn Văn Linh từ bỏ ý đồ đóng vai trò trung tâm cứu nguy chủ nghĩa xã hội.

Đến nơi ở của các nhà lãnh đạo khác mới thấy cách đối xử của Erich Honecker với ông Nguyễn Văn Linh. … Trong khi ông Linh chỉ được xếp một phòng đôi lớn hơn phòng các thành viên khác trong đoàn một chút thì chỗ ở của Ceausesscu là một khu vực gồm nhiều phòngÔng Linh và tùy tùng phải đi qua một sảnh lớn nơi có một đội cận vệ 12 người bồng tiểu liên AK báng gập đứng chào. Ceaucesscu đã để ông Linh phải ngồi chờ rất lâu. Ông Linh nói: “Mày liên hệ thế nào mà giờ không thấy nó”. Tôi bảo: “Tính thằng này nó hình thức thế”. Một lúc sau thì Ceausesscu ra, chính ông ta lại là người tỏ ra hăng hái ủng hộ sáng kiến của ông Nguyễn Văn Linh nhất. Ceausesscu thậm chí còn đòi để Rumani đăng cai. Tuy nhiên, cả Ceausesscu và các nhà lãnh đạo cộng sản khác đều nói với ông Linh: “Vấn đề là ông kia, nếu ông ấy không đồng ý thì rất khó”. “Ông kia” đề cập ở đây là Gorbachev.

Dù ông Linh rất nhiệt tình cứu XHCN nhưng người ta làm ngơ:

Trong ngày 6-10-1989, giữa Berlin rét mướt, ông Nguyễn Văn Linh đã tìm gặp các nhà lãnh đạo cộng sản đến dự lễ quốc khánh để thảo luận về một sáng kiến mà ông đưa ra: triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế. Ông Linh nói: “Phe ta đang diễn biến phức tạp. Hơn bao giờ hết, đòi hỏi quốc tế vô sản phải siết chặt hàng ngũ. Đảng Cộng sản Việt Nam thấy nên có một hội nghị để thống nhất tư tưởng và hành động, tăng cường tình đoàn kết”.

Đa số các đảng cộng sản làm ngơ đề nghị của ông Linh, chỉ có Batmunkho Tổng Bí thư Mông Cổ, Phó Thủ Tướng Hernandez của Cuba, Tổng Bí thư Ceaucescu của Rumania, Tổng Bí thư Đảng vừa thất cử của Ba Lan Jaruzelski, Chủ tịch Đảng Cộng Sản Tây Đức (DKP) Herbert Mies là chấp nhận gặpChỉ có Helbert Mies, lãnh tụ của một đảng không cầm quyền và Phó thủ tướng Cuba Hernandez là tự tới nơi ông Linh ở. Theo ông Lê Đăng Doanh, những người khác chỉ tiếp ông Nguyễn Văn Linh tại phòng riêng của họ.

Sau nhiều cuộc trì hoản thì ông Linh cũng được Gorbachev cho một cuộc gặp mặt. Nhưng đó là một cuộc gặp mặt để Gorbachev khinh miệt ông Linh. Chúng ta hãy đọc tiếp: 

Từ 19 đến 21 giờ tối 6-10-1989, sau phần đọc diễn văn, cuộc mit-tin được chuyển từ trong một lâu đài ra một lễ đài ngoài trời duyệt quần chúng, thanh niên rước đuốc. Ông Lê Đăng Doanh kể: Đám thanh niên tuần hành sôi lên sùng sục kêu tên Gorbachev, “Gorby! Gorby!”. Anh Linh chỉ mặc bộ complet, tối nhiệt độ xuống khoảng 8 C, cận vệ quên mang áo lạnh, ông Nguyễn Văn Linh đứng run bần bật, kêu tôi: “Tao lạnh quá”. Tôi phải nói với một viên tướng Đức đứng cạnh đấy: “Tổng Bí thư của tôi quên mang áo ấm”. Viên tướng cho mượn tạm tấm áo choàng của ông ta.

Sáng hôm sau, 7-10-1989, theo lịch trình, mười giờ sẽ có duyệt binh, nhưng tám giờ, ông Nguyễn Văn Linh triệu tập họp Chi bộ Đảng thông báo tình hình sức khỏe: “Mình thấy có gì đó không bình thường, không nhắm được mắt, miệng cứng, không ăn được”. Về sau bác sỹ xác định đó là triệu chứng liệt dây thần kinh số 7. Mọi người đề nghị ông Linh không ra lễ đài, ông Nguyễn Khánh thay ông Linh dự duyệt binh rồi báo với “bạn”. Phía CHDC Đức mời ông Linh ở lại khám chữa bệnh và khuyên ông không nên về trong lúc này. Tuy bệnh tình càng ngày càng nặng, nước mắt chảy ra nhiều, miệng có biểu hiện bị méo và nói bắt đầu khó khăn, ông Nguyễn Văn Linh vẫn hy vọng rất nhiều vào cuộc gặp với Gorbachev.

Cuộc gặp Gorbachev dự kiến diễn ra lúc 10:30 sáng 8-10-1989, nhưng chờ đến mười một giờ cũng không thấy văn phòng ông ta gọi lại. Ông Linh rất sốt ruột. Theo ông Lê Đăng Doanh: Trong khi đó, sáng ngủ dậy, bệnh ông Linh càng nặng thêm. Khi ăn cơm, ông kêu tôi ra ngoài vì không muốn tôi chứng kiến cảnh ông ăn rất chật vật. Hàm bên trái của ông Linh cứng lại. Ông phải nhai ở phía bên phải sau đó dùng hai ngón tay đẩy thức ăn vào họng, chiêu một ngụm nước mới nuốt được.

Cuộc gặp Gorbachev được lùi lại 2:30 rồi 5:30 chiều cùng ngày. Gorbachev, khi ấy vẫn là nhà lãnh đạo của cả phe xã hội chủ nghĩa, được bố trí ở trong một tòa lâu đài. Nhưng, cuộc tiếp tổng bí thư Việt Nam đã không diễn ra trong phòng khách riêng mà ở ngay một phòng rộng mênh mông vừa dùng cho một tiệc chiêu đãi lớn, thức ăn thừa còn bề bộn trên các bàn. Nhân viên dọn một góc, kê bàn để Gorbachev tiếp ông Nguyễn Văn Linh. Gorbachev ra đón ông Linh ở sảnh và khi cửa xe mở, ông cúi đầu nói: “Kẻ cơ hội nhất hành tinh kính chào đồng chí Nguyễn Văn Linh”.

Dù đang bệnh, ông Nguyễn Văn Linh vẫn trình bày rất nhiệt tình, nhưng theo ông Lê Đăng Doanh: Sáng kiến nào của ông Linh cũng được Gorbachev khen là “rất tốt” nhưng chỉ là những lời khen xã giao. Ông Linh nói: “Tôi đã gặp một số đảng cộng sản anh em. Trong tình hình này, Đảng Cộng sản Việt Nam muốn đồng chí đứng ra triệu tập hội nghị các đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế”. Gorbachev liền giơ hai tay lên tươi cười: “Ý này hay nhỉ. Để xem! Để xem! Rất tiếc là giờ tôi đang nhiều việc quá!”. Ông Linh trân trọng mời Gorbachev đến thăm Việt Nam. Gorbachev lại kêu lên: “Hay quá nhỉ! Cám ơn! Cám ơn! Nhưng, tôi đang có nhiều lời mời quá mà chưa biết thu xếp cái nào trước”.

Cuối cùng, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đề cập đến truyền thống viện trợ của Liên xô và khi ông đề nghị Liên Xô tiếp tục giúp đỡ cho Kế Hoạch 5 năm 1990-1995 của Việt Nam thì Gorbachev xua tay. Không còn xã giao, lịch sự như phần trên nữa, Gorbachev nói: “Khó khăn lắm, khó khăn lắm, các đồng chí Việt Nam tự lo thôi”. Theo ông Lê Đăng Doanh: Thế nhưng, ngày hôm sau, báo Nhân Dân và Pravda đều đưa tin về cuộc gặp diễn ra trong “tình hữu nghị thắm thiết”.

Đọc những đoạn trích dẫn rất sống động này tôi phải nói là rất nhục. Là lãnh tụ một đất nước 90 triệu dân mà không nắm được tình hình thế giới để bị các lãnh đạo của chính thế giới XHCN xem thường như thế. Ông Nguyễn Mạnh Cầm có lẽ là người ngoại giao nên còn biết được tình hình thế giới. Ông đưa ra nhận xét rằng “Nhận thức của một số đồng chí trong Bộ chính trị lúc bấy giờ không theo kịp những thay đổi của tình hình thế giới”. Không theo kịp tình hình thế giới có nghĩa là sống trong cái ao làng. Chẳng biết ông Linh có hiểu những câu nói của Gorbachev hay không. Thật là nhục nhã. Tất cả cũng vì cái dốt.

Cái dốt của lãnh đạo CS còn thể hiện qua lần tiếp kiến giữa ông Lê Khả Phiêu và Bill Clinton. Trong buổi tiếp kiến, trong khi Bill Clinton nói về tương lai hợp tác, ông Lê Khả Phiêu lại tận dụng chuyện Bill Clinton “trốn lính” làm cho ông Bill Clinton rất giận và chắc chắc cũng rất khinh thường người đối diện mình:

Bill Clinton nhớ lại: “Lê Khả Phiêu cố gắng sử dụng hành động phản đối chiến tranh Việt Nam của tôi để cáo buộc những gì Mỹ đã làm là hành vi đế quốc. Tôi đã rất giận dữ nhất là khi ông ta nói vậy trước sự có mặt của Đại sứ Pete Peterson, một người đã từng là tù binh chiến tranh. Tôi nói với nhà lãnh đạo Việt Nam rằng khi tôi không tán thành các chính sách đối với Việt Nam, những người theo đuổi nó cũng không phải là đế quốc hay thực dân, mà là những người tốt chiến đấu chống cộng sản. Tôi chỉ Pete và nói, ông đại sứ không ngồi sáu năm rưỡi trong nhà tù ‘Hà Nội Hilton’ vì muốn thực dân hóa Việt Nam”.

Ông Phan Văn Khải nhớ lại: “Ông Phiêu nói như thời chiến tranh làm cho họ rất khó chịu. Ông ấy muốn tỏ rõ thái độ của một chính quyền cộng sản. Nhưng, ông Phiêu không hiểu tình hình thế giới giờ đây đã khác. Phe xã hội chủ nghĩa đã tan rã. Vấn đề là mối quan hệ giữa hai quốc gia, chúng ta cần Mỹ. Nếu người Mỹ không vào thì những công ty lớn trên thế giới không có ai vào cả”. …

Clinton nhận xét, dường như những người mà ông gặp ở Việt Nam, chức vụ càng cao hơn thì ngôn ngữ càng “sặc mùi” cộng sản theo kiểu cũ hơn”.

Sự dốt nát chính là một nguyên nhân chính dẫn đến những cuộc bỏ lỡ cơ hội để phát triển đất nước.  Câu chuyện xung quanh ký hiệp định thương mại song phương BTA cho thấy giới lãnh đạo thượng tầng CS rất sợ Trung Cộng. Ông Nguyễn Mạnh Cầm nói “Tôi tiếc đứt ruột. Năm 1999, Bill Clinton muốn ký trước mặt các nhà lãnh đạo đủ cả phương Tây lẫn phương Đông. Khi ấy các tập đoàn sản xuất hàng xuất khẩu sang Mỹ chỉ chờ có hiệp định là nhảy vào Việt Nam. Mình quyết định không ký, mất biết bao nhiêu cơ hội”. Không chỉ BTA, ngay cả những chần chừ để trở thành thành viên của ASEAN cũng phản ảnh sự kém hiểu biết của những người lãnh đạo CS chóp bu.

Sự dốt nát và kém hiểu biết của người CS không phải chỉ biểu hiện trong giới lãnh đạo mà còn ở những người trong giới học thuật và chuyên môn. Sau 1975 tôi đã có nhiều “tiếp cận” với những đồng nghiệp y khoa từ Bắc vào. Tôi có thể nói một cách không ngần ngại rằng trình độ của họ quá kém. Có lần một anh bác sĩ nghe nói là cấp cao ngoài đó mà viết tên thuốc trụ sinh còn sai. Không phải sai một lần mà nhiều lần. Chỉ nhìn nét chữ cũng có thể biết được anh chàng này thuộc thành phần bác sĩ gì. Ngay cả những người được “chi viện” để tiếp thu trường y Sài Gòn cũng là những người rất kém cỏi về kiến thức và kỹ năng lâm sàng. Họ bị các thầy trong Nam khinh ra mặt. Do đó tôi không hề ngạc nhiên khi đọc những dòng chữ viết về phản ứng của giới trí thức trong Nam trước những chính sách quái đản được áp dụng sau 1975. Họ vận hành theo tư duy rặt mùi cộng sản. Cứ đến ngày kỷ niệm nào đó họ hỏi có thành tích khoa học gì để chào mừng và nhận được câu trả lời của thầy Phạm Biểu Tâm: “Không có thứ khoa học nào gọi là khoa học chào mừng cả”. Sau này trong một lần họp bàn về cách giải quyết hệ thống nước bị đục, giáo sư Phạm Biểu Tâm không phát biểu gì cả. Đến khi bị ông Võ Văn Kiệt gặn hỏi, giáo sư Tâm vốn rất quý ông Kiệt, chỉ nói đơn giản “Từ ngày mấy anh về, cái đầu trí thức khoẻ, vì cái gì cũng đã có các anh nghĩ hết. Nước là chuyện mấy anh đâu phải chuyện tụi tui”. Đối với giới trí thức miền Nam ngày ra mắt đầu tiên của chính quyền không hề thuyết phục được họ. Cho đến bây giờ tình hình vẫn thế.

Bên thắng cuộc đã trở thành một tác phẩm bán chạy. Nếu được công bố ở trong nước tôi nghĩ chắc chắn bộ sách sẽ qua mặt bất cứ cuốn sách nào đang có trên thị trường. Đọc xong bộ sách tôi hiểu được tại sao nó nổi tiếng. Theo tôi, Bên thắng cuộc được nhiều người quan tâm vì trong đó có rất nhiều những câu chuyện hậu trường chính trị. Đặc biệt hơn là tất cả những câu chuyện hậu trường đều nói lên những hình ảnh tiêu cực của giới lãnh đạo CSVN. Khó tìm một câu chuyện nào mang tính tích cực trong sách. Trong đó có những con người ít học nhưng ngạo mạn. Đó là những con người đạo đức giả. Đó là những con người sẵn sàng chấp nhận đớn hèn để sống trong môi trường tàn ác. Đó là những con người tàn nhẫn và xảo trá. Những cá tính lãnh đạo như thế là tác giả của những quyết sách đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Họ dẫn đất nước bỏ mất cơ hội hết năm này sang năm khác. Những câu chuyện như thế giúp cho chúng ta nhìn thấy rõ hơn cái tâm kém và cái trí thấp của một số đông lãnh đạo chóp bu và giải thích tại sao đất nước và dân tộc chúng ta đã quá bất hạnh trong suốt 70 năm qua. Họ là nguyên nhân gần và tác nhân trực tiếp đã đưa đất nước nghèo hèn như hiện nay.  Họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử.  

Một Gia Đình Nông Dân – Tưởng Năng Tiến

Một Gia Đình Nông Dân

Tưởng Năng Tiến

Tôi vốn chả thiết tha hay mặn mà gì lắm với chuyện văn nghệ/văn gừng nên hoàn toàn không quan tâm chi đến những điều tiếng eo sèo, quanh mấy câu thơ (“hơi quá tân kỳ”) của Nguyễn Quang Thiều.

Theo Wikipedia, tiếng Việt, đọc được vào hôm 21 tháng 7 năm 2021: “Ngoài lĩnh vực chính thơ ca tạo nên tên tuổi, ông còn là một nhà văn với các thể loại tiểu thuyếttruyện ngắnbút ký và tham gia vào lĩnh vực báo chí. Ông hiện nay là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; Phó Tổng thư ký thứ nhất Hội Nhà văn Á – Phi.”

Thảo nào mà Nguyễn Quang Thiều thường xuất ngoại, và hay viết về những chuyến đi. Năm tháng mà Nguyễn Quang Thiều sống ở nước ngoài, có lẽ, ít hơn thời gian tôi ngồi lê la trong mấy cái bar rượu (nơi xứ lạ) nên đọc mấy trang du ký của ông không thấy có chi là hào hứng lắm.

Cũng theo Wikipedia: “Nguyễn Quang Thiều được coi là người cùng với nhà văn, trung tướng công an Hữu Ước sáng lập nên hai tờ báo là tờ An Ninh Thế giới cuối tháng và Cảnh Sát Toàn Cầu.”

Đã là một quan chức trong chế độ toàn trị, lại làm báo Cảnh Sát với một ông tướng công an (rất nhiều tai tiếng) nên thỉnh thoảng Nguyễn Quang Thiều vẫn bị chê trách là lẽ tất nhiên. Tuy nhiên, khách quan mà xét thì khó có thể phủ nhận được rằng ông là một người cầm bút có tài (và cũng rất có tâm) khi viết về cuộc sống ở nông thôn.

Hãy xem qua đôi đoạn (“Thư Của Đứa Con Những Người Nông Dân”) đã được đăng nhiều kỳ trên trang Vietnamnet:

“Cảnh làm ruộng của những người nông dân của mấy chục năm trước kia và bây giờ chẳng khác nhau chút nào. Có khác thì chỉ khác một điểm. Đó là người nông dân đi sau đít con trâu mấy chục năm trước kia hiện ra trong ảnh đen trắng còn người nông dân bây giờ vẫn đi sau đít trâu nhưng là trong ảnh màu rực rỡ….”

Trong những tấm “ảnh mầu rực rỡ” này, Nguyễn Quang Thiều tìm ra được nhiều con số rất “kinh hoàng” – theo như nguyên văn cách dùng từ của chính ông:

“Khi tiếp xúc với những người nông dân, tôi thường xuyên hỏi về tổng thu nhập mỗi tháng của một khẩu trong một gia đình họ là bao nhiêu. Dù rằng tôi biết họ đang sống một cuộc sống vô cùng vất vả nhưng tôi vẫn kinh ngạc khi nghe một con số cụ thể:

‘Tổng thu nhập một tháng trên một khẩu của chúng tôi là 40.000 đồng …’ 40.000 đồng có giá trị như thế nào lúc này. Đó là giá của 2 bát phở, giá của 4 lít xăng, giá của hai xuất cơm trưa văn phòng, giá của một cuốc xe ôm trên đoạn đường 10km, giá của hơn một bao thuốc lá 555, giá của 3 ly cà phê…Tôi biết sẽ có rất nhiều người không thể tin rằng tổng thu nhập hàng tháng của một khẩu trong hầu hết những gia đình nông dân lại chỉ với một con số ‘kinh hoàng’ như thế.”

Nhà văn Nguyễn Khải còn cho biết thêm đôi ba sự việc còn “kinh hoàng” hơn thế nữa:

“Ai cũng giàu có hơn trước, nấu cơm bằng nồi cơm điện, tối xem tivi mầu, giờ rảnh thì xem phim bộ. Mỗi xóm đều có cửa hàng cho thuê băng vidéo, có gái điếm cho ngủ chịu đến mùa trả bằng thóc, có cờ bạc, có hút thuốc phiện và chích heroin, thành phố có gì ở làng quê đều có, cả hay lẫn dở, dở nhiều hơn hay.”

Dù “dở nhiều hơn hay,” làng quê Việt Nam vẫn tồn tại nhờ vào vô số những nông dân “đội sương nắng bên bờ ruộng sâu, vài ngàn năm đứng trên đất nghèo ” để nuôi nấng cho cả dân tộc này được sống “no lành” – theo như lời (Tình Ca) thắm thiết của Phạm Duy.

Câu hỏi đặt ra là liệu giới nông dân còn vẫn có thể tiếp tục “đứng” mãi như thế thêm bao lâu nữa, trước tình trạng nông thôn đang bị bức tử một cách thảm thương như hiện cảnh? Bi kịch mới nhất của giới nông dân Việt Nam vừa được RFA tường trình, vào hôm 22 tháng 6 vừa qua:

“Vụ án hai nhà hoạt động vì quyền đất đai là ông Trịnh Bá Phương và bà Nguyễn Thị Tâm bị cáo buộc tội danh ‘phát tán tài liệu nhằm chống nhà nước’ đã kết thúc giai đoạn điều tra vào hôm 15 tháng 6 năm 2021…

Bà Đỗ Thị Thu, vợ ông Trịnh Bá Phương, cho biết, gia đình chồng của cô có tổng cộng ba người bị bắt giữ, bao gồm ông Phương bị công an Hà Nội bắt giam một năm về trước – chỉ bốn ngày sau khi bà sinh con…

Luật sư Lê Văn Luân, người bào chữa cho cả hai nhà hoạt động thì cho hay trên Facebook cá nhân rằng, cả bà Nguyễn Thị Tâm và ông Trịnh Bá Phương đều bị đề nghị truy tố theo khoản 2, Điều 117 Bộ Luật Hình sự với khung hình phạt từ 10 đến 20 năm tù giam.

Bà Đỗ Thị Thu, vợ ông Trịnh Bá Phương, cho biết, gia đình chồng của cô có tổng cộng ba người bị bắt giữ, bao gồm ông Phương bị công an Hà Nội bắt giam một năm về trước – chỉ bốn ngày sau khi bà sinh con…

Luật sư Lê Văn Luân, người bào chữa cho cả hai nhà hoạt động thì cho hay trên Facebook cá nhân rằng, cả bà Nguyễn Thị Tâm và ông Trịnh Bá Phương đều bị đề nghị truy tố theo khoản 2, Điều 117 Bộ Luật Hình sự với khung hình phạt từ 10 đến 20 năm tù giam.”

FB Vũ Quốc Ngữ cho biết thêm: “Từ đầu năm đến nay, an ninh Việt Nam bắt giữ ít nhất 13 người theo cáo buộc ‘tuyên truyền chống nhà nước’ hoặc ‘lợi dụng quyền tự do dân chủ,’ và kết án 14 người cũng theo hai tội danh trên với mức án từ 4 năm đến 15 năm tù giam.”

Cả hai tội danh thượng dẫn đều rất mơ hồ – nếu chưa muốn nói là hàm hồ – chỉ để che đậy cho những sự thực (phũ phàng) liên quan đến việc tranh chấp đất đai ở xứ sở này:

Hiến pháp 1959 vẫn chưa “quốc hữu hóa đất đai” như Hiến pháp 1936 của Liên Xô mà nó được coi là một bản sao. Cho dù, từ thập niên 1960 ở miền Bắc và từ cuối thập niên 1970 ở miền Nam, ruộng đất của nông dân đã bị buộc phải đưa vào tập đoàn, hợp tác xã, đất đai chỉ chính thức thuộc về “sở hữu toàn dân” kể từ Hiến pháp 1980…

Chiều 18-1-2011, khi điều khiển phiên họp toàn thể của Đại hội Đảng lần thứ XI biểu quyết lựa chọn giữa “chế độ công hữu về tư liệu sản xuất” và “quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”, ông Nguyễn Phú Trọng hứa với Đại hội “thiểu số sẽ phục tùng đa số”. Nhưng, tháng 5-2012, Ban Chấp hành Trung ương mà ông Nguyễn Phú Trọng là tổng bí thư vẫn quyết định duy trì “chế độ công hữu” với đất đai, “tư liệu sản xuất” quan trọng nhất.” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Chính cái được mệnh danh là “chế độ công hữu” này đã sản sinh ra vô số những “vụ cướp ngày” từ mấy thập niên qua:

“Chỉ đến thời đại của Internet và đặc biệt là mạng xã hội, những vụ cướp đất đầy tai tiếng mới được phơi bày, luôn luôn đầy bạo lực, máu, nước mắt, và tù tội. Những cái tên đất, tên làng đã đi vào… lịch sử cướp đất: Tiên Lãng, Văn Giang, Đồng Tâm, Dương Nội, Thủ Thiêm, và nhiều nữa… (Đoan Trang, Trịnh Hữu Long. “Chính Trị Việt Nam: Một Thập Kỷ Nhìn Lại.” Luật Khoa Tạp Chí 30/12/2009).

Tác giả Đỗ Thúy Hường tóm gọn:

“Luật ngày càng rườm, dài. Nhưng ‘tim đen’ của luật lại rất đơn giản. Nó nằm ở nội hàm của từ ‘quản lý’… Chỉ bằng một câu viết trên giấy ‘Đất đai (về hình thức) là sở hữu toàn dân, (nhưng thực chất) do nhà nước toàn quyền quản lý’… Thế là, lập tức 50-60 triệu nông dân đang có ruộng, phút chốc biến ngay thành tá điền của đảng.”

Phải cần thêm bao nhiêu dân oan, bao nhiêu mảnh đời bầm dập, và bao nhiêu gia đình nông dân tan nát nữa để cái nhà nước hiện hành có thể “hoàn thiện CNXH ở Việt Nam vào cuối thế kỷ này” ?

Tưởng Năng Tiến
7/2021

Bây giờ, họ thế này đây

 May be an image of one or more people, people standing and outdoors

Nguyễn Gia Việt

Sau bao năm quần quật ở thành phố, anh công nhân chạy dịch vác một đống “gia tài” về quê. Nhìn nó không có giá trị là mấy nếu “bán” quy ra tiền

Thấy xót xa quá nay nghe nhiều bạn nói có nhiều công nhân không về quê được, không có tiền trả nhà trọ, những công nhân không còn nơi quay về đã lang thang ngoài đường xin ăn. Họ vừa xin vừa khóc, cái nhoc nhằn của đời công nhân cay đắng nghét như vậy sao?

Nhớ Trịnh từng viết:

“Gia tài của mẹ, ruộng đồng khô khan

Gia tài của mẹ, nhà cháy từng ngàn

Gia tài của mẹ, một bọn lai căn

Gia tài của mẹ, một lũ bội tình”

Thì gia tài của những công nhân từng tăng ca liên tục,góp phần cho các khu công nghiệp lung linh,cho những công trình cao tầng sáng văn minh,góp phần cho Tp HCM thành thành phố “82%” thuế ….

Bây giờ, họ thế này đây

Người quơ bộ đồ về quê được lại hên, kẻ không chốn về lang thang ngoài đường là đời buồn

Chưa ai nghĩ về một phương án gom người lang thang, vô gia cư vô một vài chổ “tập trung” nào đó cho họ bữa cơm, cho họ tắm giặt, cho họ tránh dịch, cho họ xét nghiệm và chích ngừa, họ cũng là người VN

Buồn lắm người ơi!

Nói chuyện cùng ba

Nói chuyện cùng ba

(Posted on 01/08/2021 by Boxit VN)

Đất nước mình, ngộ quá phải không ba

Tiền đi vay, mà xài sang như Thượng đế

Tiền đầu tư, đua nhau cùng chôm chỉa

Tiền thuế dân, xài như thể tiền chùa.

Đất nước mình, lãnh đạo sướng như vua

Mua bán dù ô, vàng đô nhiều hơn chúa

Sáng xe đón, chiều đưa về muôn thủa

Vẽ công trình, lấy tiền của chia nhau.

Đất nước mình rồi biết sẽ về đâu

Cứ đập cứ xây, xây rồi bỏ đó

Vừa xây xong, đã mất tiền tu sửa

Chất lượng tồi, là đổ lỗi thiên nhiên.

Đất nước mình, giờ lắm kẻ khùng điên

Đứng trước dân, nói không cần suy nghĩ

Hàm giáo sư, hay văn bằng tiến sĩ

Mà nói năng như mất trí tâm thần!

Đất nước này, miệng cứ nói của dân

Kẻ ngu tham, tranh nhau làm đầy tớ

Dân làm chủ, mà đói nghèo muôn thủa

Công bộc dân, nhè đầu cổ dân ngồi!

Đất nước mình, giờ buồn lắm ba ơi

Quan với dân, mỗi người quay mỗi hướng

Dân còng lưng, nuôi quan đời sung sướng

Quan coi dân, như phản động địch thù!

Đất nước mình, ngày tháng tám mùa thu

Năm bốn lăm, dương cao cờ phấp phới

Trước thực dân, đã đứng lên đồng khởi

Để khai sinh, nền dân chủ cộng hòa.

Đó chính là, tên nước Việt Nam ta

Nước Việt Nam, trẻ trung nền dân chủ

Dân nô nức, tự do quyền bầu cử

Quốc hội đầu (1946), mới thực sự của dân.

Đất nước mình, sau đại thắng mùa xuân

Bắc, trung, nam giang sơn liền một mối

Và tên nước, cũng đổi thành tên mới

Ôi cái tên, đi chẳng tới bao giờ!

Cứ xây hoài, xây mãi tỉnh hay mơ

Mấy chục năm, vẫn thời kì quá độ

Cả Đông Âu, đang xây thì sụp đổ

Việt Nam ta, sao vẫn cứ xây hoài!

Định hướng này, con biết hiểu sao đây

Nếu tươi đẹp, sao đói nghèo mãi vậy

Nếu ưu việt, sao Liên Xô bỏ đấy

Có hay chăng, một chủ nghĩa thiên đường?

Đất nước mình, trải bao cảnh tai ương

Hỏi vì đâu, ba biết mà không nói

Không dám nói, hay ba chờ cơ hội

Chỉ làm người, tử tế lúc về hưu

LÊ HỒNG QUÂN

*** Theo Fb của Gs Mạc Van Trang

Tình trạng nguy cấp của Trần Huỳnh Duy Thức

Tình trạng nguy cấp của Trần Huỳnh Duy Thức

SGN

Anh Thức gọi điện về ngày 30-07-2021

Sau một tháng rưỡi từ lần gọi về giữa tháng 6, anh Thức được điện thoại về nhà. Gia đình thật mừng và giải tỏa được căng thẳng khi nhận được cuộc điện thoại này vì đáng lẽ anh đã phải được gọi về từ lâu rồi.

Anh gọi về cho hai cô con gái của mình. Qua điện thoại, mặc dù anh không nói, nhưng vẫn nhận ra được sự mệt mỏi, ít sức lực, thở dốc qua giọng nói.

Sau khi hỏi thăm gia đình, anh Thức cho biết tình trạng của Anh.

Từ mép cõi chết trở về

Anh Thức cho biết hiện giờ người anh toàn xương, không biết là bao nhiêu ký nữa. Cũng từ lâu rồi, anh từ chối khám sức khỏe, chỉ tự đo huyết áp thôi. Anh nói gần một tháng rưỡi trước [vào giữa tháng 6] anh cân được 55kg, giờ chắc dưới xa mức đó. Y tế trại kêu anh khám, nếu cần thì nhập viện nhưng anh đã không đồng ý, đưa anh nước truyền dịch, anh cũng không đồng ý.

Ngày 20/6, anh phải lết, không chống gậy đi được vì vùng thắt lưng yếu nên anh không đứng vững, cái lưng cứ bị ngả nghiêng.

Sáng 24/6, thắt lưng anh yếu tới mức đang nằm không thể nhấc lưng lên ngồi dậy được, anh phải xoay úp mặt xuống, dùng cả hai tay, hai chân nhấc cong người lên thì mới ngồi lên được.

Vào đêm 25/6, rạng 26/6, anh Thức thấy tường trần sụp đổ và người anh như bay lên lơ lửng, kéo theo những hơi sức cuối cùng khỏi cơ thể. Anh nói với các con: “Ba cầu nguyện để ra đi thanh thản và mê man tới 2h30 khuya thì ba tỉnh lại và biết mình vẫn còn sống”.

Vừa thoát qua cửa tử thì hai ngày sau đó, vào chiều 28/6, anh Thức lại bị ngã trong lúc anh vịn tường, ráng đứng lên lấy đồ móc trên cao vì thắt lưng không giữ được, làm lưng ngã về phía sau, kéo cả người đổ xuống, may là không phải vì choáng mà ngã nên anh vẫn ý thức được mà lách cái đầu ra ngoài, do đó chỉ có vai, tay và lưng bên phải của anh bị cà vào tường làm trầy xước. Vì vách tường phòng giam gồ ghề và nhiều gai nhọn như rạp chiếu phim, anh miêu tả như vậy. Anh trong tình trạng cực kỳ xấu, tính mạng thì đếm từng ngày mà còn phải chịu cái nóng như đổ lửa.

Tòa Án Nhân Dân Tối Cao phải chịu trách nhiệm về cái chết của anh Thức vì sự coi thường pháp luật của họ

Tới ngày 2/7 anh Thức không còn lết được nữa nên phải nhờ người cõng. Tới buổi chiều cùng ngày hôm đó thì phó giám thị Ngô Ký Trí gặp anh, khuyên anh ăn để giữ gìn tính mạng và nói là trại rất lo lắng và không muốn nhìn thấy tình trạng của anh xấu đi mỗi ngày như vậy và trại vẫn luôn luôn quan tâm sức khỏe chăm sóc cho anh, nhưng anh vẫn không ăn. Anh nói với hai con gái:

“BA KHẲNG ĐỊNH ĐÃ TUYÊN BỐ TUYỆT THỰC TRÍ MẠNG VÀ BA KHÔNG LẤY TÍNH MẠNG CỦA MÌNH RA ĐÙA. TỚI LÚC NÀY BA KHÔNG CÒN CHẤP NHẬN Ở TÙ VÔ LÝ NỮA, HOẶC GIẢI THOÁT HOẶC SIÊU THOÁT, BA ĐÃ SẴN SÀNG CHẾT ĐỂ BỪNG LÊN NHỮNG NGUỒN SÁNG MẠNH MẼ DẪN TỚI CÁCH MẠNG ÁNH SÁNG. TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ CÁI CHẾT NÀY VÌ SỰ COI THƯỜNG PHÁP LUẬT CỦA HỌ. TRẠI GIAM SỐ 6 KHÔNG LIÊN QUAN TỚI TRÁCH NHIỆM NÀY.”

Đến sáng 5/7 thì phó giám thị Thái Phong Thủy gặp anh Thức cũng khuyên anh và nói như phó giám thị Trí, anh cũng trả lời và nói như anh đã nói phó giám thị Trí. Hôm đó thì anh nói không ra hơi nữa. Anh nói với hai con: “Ba thấu hiểu cảm giác của những người sắp chết đói như thế nào, hẳn họ chỉ muốn Bề trên rước họ đi thật nhanh.”

Tạm hoãn tuyệt thực đến chết để chờ trả lời của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao theo đề nghị của Cục C10 – Bộ Công An

Trưa 8/7, huyết áp của anh chỉ còn 65/35, anh suy nhược tới mức không còn uống được nước nữa. Anh nói uống nước trắng mà thấy đắng như là uống mật vậy. Buổi trưa hôm ấy khi anh đang nằm heo hắt thì trưởng phân trại Bùi Xuân Thắng vào buồng gặp anh nói cho anh biết là Trại đã báo cáo bằng văn bản tình trạng hiện giờ của anh lên cục C10 của Bộ Công An, nhờ cục này thông báo cho Tòa án nhân dân tối cao biết để trả lời các đơn của anh đã 3 năm rồi. Đồng thời vì anh Thức quá yếu, sức lực đã suy kiệt, không biết mất mạng lúc nào nên Trưởng trại Thắng đã mang sữa Ensure vào thuyết phục anh uống để duy trì mạng sống để chờ trả lời của Tòa án.

Thật là may mắn là anh Thức đã đồng ý với đề nghị đó và đã uống sữa và ăn một ít cháo của Trại nên vượt qua được tình trạng nguy kịch đến tính mạng. Những ngày sau đó, anh có dùng cầm chừng một ít cháo rau của của bạn bè trong đó để duy trì mạng sống. Anh Thức vẫn tuyên bố, thông qua lời nhắn với con gái: “Ba vẫn chưa dừng phản đối Tòa án Nhân dân Tối cao và đòi tôn trọng Quyền Con Người đâu. Ba vẫn không nhận khẩu phần cơm hàng ngày, ba chỉ nhận tiếp sức từ cháo, rau của bạn bè ở đây thôi, để cầm cự sống mà chờ xem Tòa án nhân dân tối cao trả lời thế nào, chứ không phải ăn để phục hồi nên ba cũng không mua đồ ăn từ căn tin, nhà cũng đừng gửi sữa, đồ ăn, thuốc bổ hay tiền gì hết”.

Anh còn dặn ở nhà cũng đừng gửi sữa, đồ ăn, thuốc bổ hay tiền gì hết.

Từ hôm đó tới hôm nay (30/7) anh Thức có thể đi lại chậm chậm được nhờ vịn vào người khác, chưa có bị liệt. Anh cười nói với các con: “Vẫn ốm trơ xương, dù có đỡ hơn, giọng nói ba thì có hơi lại rồi.”

Thông điệp đến Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, yêu cầu tôn trọng luật pháp và anh Thức sẵn sàng chết để đổi lấy sự khai sáng cho dân tộc, đổi lấy quyền cho người dân

Trước sự chứng kiến của cán bộ quản giáo Trại giam và qua điện thoại cho con gái của mình, anh Thức tuyên bố: “MỘT THỜI GIAN NỮA NẾU TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO KHÔNG TRẢ LỜI ĐÚNG PHÁP LUẬT THÌ BA SẼ BƯỚC VÀO ĐỢT QUYẾT LIỆT, BA ĐÃ SẴN SÀNG ĐỔI SINH MẠNG CỦA MÌNH ĐỂ LẤY SỰ KHAI SÁNG CHO DÂN TỘC, LẤY QUYỀN CHO NGƯỜI DÂN.”

Như vậy, một thời gian ngắn nữa, nếu Tòa án tối cao không tôn trọng luật pháp, cứ giữ im lặng, không trả lời đơn thư của anh Thức đúng theo luật thì anh sẽ không tiếp tục duy trì cầm chừng sự sống nữa mà sẵn sàng chết cho sự tự do của mình và cho sự tư do của dân tộc Việt Nam.

Căn dặn cuối khi có bất trắc với anh

Anh Thức đã sẵn sàng cho cái chết nếu dân tộc Việt Nam không có công lý, pháp luật không được thượng tôn, Quyền con người không được tôn trọng. Qua điện thoại, giọng anh vẫn bình thản khi nói lời trăn trối với các con: “Những ngày nguy kịch nhất ba đã viết lời trăn trối ở thư 139 và DA39, có những điểm quan trọng sau: thiêu ba, rải tro từ đất Thủ Thiêm xuống sông Sài Gòn và hướng nhìn lên cột cờ Thủ Ngữ, gửi cho ba những ánh mắt hy vọng; khi nào có thể thì hai đứa đặt một tượng bán thân nhỏ trong một khu vườn nhỏ cho ba, trước tượng đặt một bó lụa nhỏ màu xanh da trời; trong các đồ ba gửi về có 4 tập thơ “Thương ơi là thương”, tập 2 đến tập 5 đã hoàn chỉnh, cố gắng phát hành cho tốt.”

Anh nói tiếp với các con: “Lúc nguy kịch ba xin điện thoại cấp bách mà không được, nên đừng chờ điện thoại cấp bách nữa, nếu có mệnh hệ gì thì trại có trách nhiệm thông báo chính thức, không cần điện thoại hỏi trại tình trạng của ba, chỉ cần đòi trại đảm bảo điện thoại nếu thấy trễ mà thôi.”

Trước khi hết giờ anh dặn dò hai con gái: “Phải đăng cho biết ngay tình trạng tuyệt thực trở về từ mép cõi chết của ba, thông báo đến những nơi cần thiết, những gì ba nói và chính xác cả nội dung lẫn thời gian.”

Nghe từng lời anh nói mà mọi người trong gia đình nhói đau trong lòng và khóc nghẹn, vừa buồn vừa uất ức.

Gia đình chúng tôi, cha, vợ, con, chị, em, các cháu của Trần Huỳnh Duy Thức đề nghị Tòa án nhân dân tối cao hãy có trách nhiệm giải quyết và trả lời đơn đề nghị miễn phạt còn lại của Trần Huỳnh Duy Thức đã được gửi nhiều lần từ trại giam suốt 3 năm qua. Sự im lặng không có trách nhiệm như vừa qua sẽ có thể gây ra cái chết của Trần Huỳnh Duy Thức như anh đã tuyên bố một cách chắc chắn.

Lần này nếu anh Thức tiếp tục tuyệt thực (sau lần tuyệt thực trước là 162 ngày) thì chắc chắn anh sẽ không thể sống nổi. Và sự im lặng của Tòa án tối cao sẽ là tội ác.

Gia đình cũng mong nhận được sự thương yêu, đồng cảm, đồng hành của tất cả mọi người để tiếp sức cho anh Thức vượt gian nan, khổ nạn này. (Nguồn: Trần Huỳnh Duy Thức)

– Tù Nhân Lương Tâm Trần Huỳnh Duy Thức – Ảnh: Facebook Trần Huỳnh Duy Thức

TÔI VẪN CÒN ĐAU, THƯƠNG HƠN CHỮ THƯƠNG

 Hôm nay, tôi gặp ở đường Hậu Giang – Quận 6 . Tôi thấy một người đàn ông nằm dài trên đất , bên cạnh là chiếc xích lô như chở cả tài sản của Ông mang theo

Vừa trao tay phần quà : Ông quỳ sập xuống đất , cuối đầu miệng nói . “ Chú khổ quá , khổ quá con . Chú mừng quá chú cám ơn con , chú cám ơn con nhiều lắm chú mừng quá … chú mừng quá …và miệng liên tục bốn chữ mừng quá , cám ơn “

Bất giác : Tôi đã khóc như một đứa trẻ

Cảm giác : Đau bên trái lòng ngực , nghẹn cả cuốn họng .

Và Tôi cuối đầu thấp người , trã lại cái quỳ gối ấy và xin phép ra về

Về đến nhà : Hình ảnh Chú cứ hiện ra trong suy nghĩ .

Và lúc này : TÔI VẪN CÒN ĐAU

THƯƠNG HƠN CHỮ THƯƠNG

FB Nhóm Đêm Sài Gòn

https://www.facebook.com/tuthien.demsaigon

No photo description available.

Cái kết của Bí thư Bình Dương Trần Văn Nam, bài học cho quan chức CSVN

 Luật Sư Nguyễn Văn Đài   

Cái kết của Bí thư Bình Dương Trần Văn Nam, bài học cho quan chức CSVN

Triết gia Lord Action nói: “Quyền lực tuyệt đối, sinh ra sự tha hóa tuyệt đôi.”

Ở Việt Nam, quyền lực tuyệt đối về chính trị nằm trong tay tầng lớp chóp bu độc tài CSVN với 180 thành viên của Ban chấp hành TƯ, trong đó có Bộ chính trị và Ban bí thư.

Tầng lớp chóp bu độc tài CSVN đứng trên Hiến pháp, pháp luật và đương nhiên không có một cơ chế nào để kiểm soát quyền lực của họ. Bởi vì các cơ quan như Quốc hội, chính phủ và hệ thống tư pháp đều là các công cụ mà tầng lớp chóp bu độc tài CSVN sử dụng để cai trị người dân và đất nước.

Tầng lớp chóp bu độc tài CSVN, trong đó có cựu Ủy viên TƯ, Bí thư tỉnh ủy tỉnh Bình Dương Trần Văn Nam đều bị tha hóa về nhân cách, đạo đức bởi quyền lực.

Bởi vậy mà tầng lớp chóp bu độc tài CSVN đã làm hủ bại hệ thống chính trị của nó và làm băng hoại xã hội. Tất cả 100% quan chức độc tài CSVN ở mọi ngành, mọi cấp đều tham nhũng và hủ bại như nhau.

Câu hỏi đặt ra ở đây là tầng lớp chóp bu độc tài CSVN đều tham nhũng, nhưng tại sao quan chức này thì bị xử lý cầm tù, những quan chức còn lại thì vẫn nhởn nhơ nắm quyền lực? Những quan chức tham nhũng này lại xử lý các quan chức tham nhũng khác?

Ví dụ cụ thể như vụ quan tham Trần Văn Nam của tỉnh Bình Dương lại bị siêu tội phạm Tô Lâm, đứng đầu Bộ công an ra lệnh bắt để cầm tù.

Câu trả lời hoàn toàn không khó với hầu hết mọi người Việt Nam: Đây không phải là cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng! Đây là cuộc đấu đá tranh giành quyền lực trong nội bộ tầng lớp chóp bu độc tài CSVN. Những nhóm quan chức có thế lực yếu, ăn chia không đều thì bị những nhóm quan chức có thế lực lớn hơn trừng phạt với nhiều mục đích như cướp đoạt quyền lực giao quan chức cùng phe cánh, tước đoạt lại tài sản đã tham nhũng, lừa dối người dân để lấy lại chút uy tín,…

Do đó những quan chức trước đây như Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn,… Hay những quan chức mới nhất là Trần Văn Nam và các quan chức tỉnh Bình Dương đều là nạn nhân của chính đảng, chế độ và tầng lớp chóp bu độc tài CSVN.

Những quan chức độc tài CSVN đang nắm quyền lực như Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc, Phạm Minh Chính, Vương Đình Huệ, Tô Lâm,… hoàn toàn không trong sạch hơn những quan chức đã bị bắt, thậm trí còn tồi tệ hơn.

Tiến trình từ một người ngoài đảng, rồi trở thành đảng viên, thành quan chức cộng sản là một quá trình tha hóa, biến chất về nhân cách, đạo đức. Quan chức độc tài CSVN có chức vụ càng cao thì đạo đức, nhân cách và lói sống càng hủ bại.

Chế độ độc tài CSVN tạo ra cái bẫy cho chính những quan chức trong hệ thống chính trị của nó.

Cái bẫy đó, trước hết là trả lương cho các quan chức, công chức không đủ cho các nhu cầu của cuộc sống, học tập, khám chữa bệnh, giải trí,… hàng ngày.

Thứ hai, là tạo ra một thị trường mua quan, bán chức ngấm ngầm trong chế độ;

Cuối cùng, chế độ tạo một hệ thống pháp luật có nhiều khe hở và không có cơ chế kiểm soát, trong khi trao cho các quan chức quyền lực, khi có quyền lực thì có quyền lợi, mà quyền lợi có được từ việc tham ô, lợi dụng chức vụ để chuộc lợi từ ngân sách thông qua các dự án mua sắm công, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng,… Hay các quan chức cấu kết với các doanh nghiệp sân sau để bảo kê các hoạt động kinh doanh bất chính. Hay các quan chức nhũng nhiễu người người dân, doanh nghiệp để ăn hối lộ,…

Khi mà các quan chức độc tài CSVN có phe nhóm vững vàng, họ bất chấp pháp luật và họ ung dung vơ vét của cải của đất nước, của người dân và doanh nghiệp.

Nhưng khi phe nhóm lợi ích suy yếu, bị các phe nhóm khác vươn lên cạnh tranh thì lúc này các phe nhóm thắng thế sử dụng pháp luật để trừng trị nhóm yếu thế.

Cựu Bí thư tỉnh ủy Trần Văn Nam và các quan chức của tỉnh Bình Dương đã sa vào cái bẫy như vậy kể từ khi họ trở thành thành viên của đảng CSVN.

Đa số những quan chức của tỉnh Bình Dương vừa bị bắt, họ đã có trên dưới 30 năm phục sự đảng CSVN. Họ đã nằm trong cái bẫy do đảng và chế độ tạo ra mà họ không biết, hoặc họ biết nhưng họ luôn nghĩ “cái bẫy đó dành cho người khác, không phải cho họ”.

Chỉ khi cái bẫy đó do các đồng chí của họ ở phe mạnh hơn đánh sập xuống đầu họ. Họ mới nhận ra cái bẫy đó được dành cho chính họ từ khi họ trở thành đảng viên đảng CSVN.

Cựu Bí thư Bình Dương Trần Văn Nam và hàng ngàn quan chức CSVN đã ngã ngựa trong những năm qua là bài học đắt giá cho các quan chức độc tài CSVN đang còn tại chức. Cái bẫy do chính chế độ tạo ra lúc nào cũng vẫn lơ lửng treo trên đầu của họ và có thể sập xuống bất cứ lúc nào khi quyền lực chính trị của họ bị suy yếu.

Giải pháp duy nhất là cải cách chính trị, xóa chính cái chế độ độc đảng, độc tài để làm ra cái bẫy cho các quan chức của chế độ và áp bức, cai trị người dân một cách bất công.

Cải cách chính trị từ độc tài sang dân chủ cần nỗ lực và lòng dũng cảm của mọi người dân và chính các quan chức của chế độ.

May be an image of 1 person and text that says 'Nhà Tù, Cái kết của cỰU bí thư Bình Dương TRẦN VĂN NAM'

Chạy đến vô cùng

 Chạy đến vô cùng

Bởi  AdminTD

Tuấn Khanh

31-7-2021

Hình ảnh đoàn người bồng bế nhau đi bằng xe máy, theo báo chí trong nước là lên đến hàng ngàn, di chuyển từ Sài Gòn tỏa đi nhiều hướng, chạy về quê nhà trong lúc dịch bệnh và lệnh phong tỏa ngặt nghèo này, đang làm nhói tim không biết bao người.

Có người đi đến 800 cây số để về miền Trung, và có người đi gần gấp đôi như vậy để đến Nghệ An. Và còn rất nhiều đích đến nữa. Ngoài những nhóm xe máy, người ta còn thấy cả những gia đình đi bằng xe đạp, thậm chí là liều lĩnh đi bộ. Tất cả đều là người nghèo Việt Nam, những con người cần lao từ mọi miền đã đổ về Sài Gòn, tìm một công việc để dựng đời mình, hoặc để kiếm chút ít dư dả gửi cho cha mẹ ở quê.

Lý do họ rời bỏ Sài Gòn, bởi không còn tin tưởng vào các chính sách chống dịch của nhà cầm quyền, và cũng không đủ sức để cầm cự thêm nữa khi mất việc, không còn gì để sống tiếp nay mai. Hẳn nhiên, chính quyền Hồ Chí Minh đang nợ những con người này một lời xin lỗi, vì đã không cưu mang họ được, qua những tháng ngày này, bất chấp việc tuyên truyền nói dối rằng luôn lo đủ cho mọi người gặp khó khăn.

Nhưng không phải vì chính quyền hết khả năng trong đại dịch. Bản tin tài chính cuối tháng 7-2021 của Ủy ban thành phố Hồ Chí Minh khoe rằng bất chấp đại dịch khó khăn, ngân sách vẫn bội thu. Ước tính sức người 10 triệu dân và sản vật, giao thương ở Sài Gòn vẫn làm ra mỗi ngày 1500 tỷ đồng để nộp cho ngân sách Trung Ương theo chỉ tiêu được giao. Con số thu được đang tăng nhanh, nên chỉ 6 tháng thôi, đã đạt 54,42% trên tổng thu theo kế hoạch.

Vậy đó, mà từng hộp cơm cho người nghèo, từng cọng rau cho kẻ khó… hầu hết là các cuộc tự nuôi, tự cứu nhau đầy khó khăn của người dân. Không chỉ ngăn chận con người ra đường vì lệnh giãn cách, mà các lực lượng kiểm tra, ngăn chận đủ thành phần của nhà nước còn ngăn cản cả rau, thịt, sữa… thậm chí là cả tả trẻ em và băng vệ sinh phụ nữ, cũng như là tiền mặt được vận chuyển của ngành ngân hàng. Sài Gòn như một người phụ nữ bị ép vào trò chơi trừ tà thời mông muội, phải chịu đói khát, phải bị trói buộc, kiệt sức không biết xoay trở ra sau lúc này. Dĩ nhiên, những dân cư yếu ớt nhất, dễ tổn thương nhất của vùng đất này đành phải chọn dứt áo ra đi.

Không được hứa hẹn gì một cách thực tế từ người cầm quyền, và cũng lao đao vì không đảm đương nổi bản thân, hàng ngàn con người đã gói ghém tư trang và lên đường. Họ ngủ vật vạ dọc đường, tránh né các sự chận bắt của các chốt kiểm tra trên quốc lộ. Có người chở vợ đang thai. Có gia đình chở 3-4 người trên một chiếc xe máy nhỏ. Có cả người mẹ đơn thân chở lùm xùm đồ đạc, phía sau là đứa con chỉ mới hơn 10 tuổi, ôm giữ em nhỏ của mình.

Sài Gòn, từ thuở khai thiên lập địa đến nay, là nơi con người tìm đến chứ không phải rời bỏ, nhưng đây là lần đầu tiên xuôi tay nhìn thị dân từ giã mình. Buồn hơn nữa, Con người bị những nơi chôn rau cắt rốn của mình từ chối tiếp nhận.  Từ ngày 1-8, nhiều tỉnh như Quảng Ngãi, Thừa Thiên- Huế, Lâm Đồng… tuyên bố sẽ không nhận người của mình trở về, vì sợ có dịch, cho dù những người này đã có giấy xét nghiệm âm tính (có thời hạn 3 ngày). Sợ không về được nhà, nhiều người chạy thâu đêm, mệt lả và vất xe lăn lóc giữa đường. Cha mẹ, con cái ôm nhau trên con đường quốc lộ cố dành sức để đến nơi, lách được vào mà không bị từ chối.

Trên con đường Bình Phước dẫn về Đắk Nông, có nhiều gia đình để nước, thức ăn nhanh trước cửa để đón những chuyến xe bơ phờ như vậy. Có một cụ già tóc bạc phơ, cứ cầm chai nước vẫy vẫy, đưa cho những chiếc xe sà vội vào nhận rồi lại đường. Vội đến mức chỉ còn nhìn nhau, gật đầu, chứ không còn giờ để kéo khẩu trang xuống nói lời cảm ơn. Nhìn những điều như vậy – và cả những câu chuyện phát cơm từ thiện, lăn xả giúp nhau của người dân bao lâu nay – là những chương sách đời cảm động, ấm lòng khôn cùng trong thời phong tỏa. Nhưng có ai đó đã nói nhỉ? Trong một xã hội vận hành, đôi khi, điều ấm lòng nhìn thấy cũng có giá trị như cáo trạng đầy câu hỏi về thời đại, về chế độ.

Người miền Nam được 2 lần nhìn thấy những cuộc di tản tự phát của người dân. Lần nào cũng có thể rơi nước mắt, dù có hướng ngược nhau.

Lần một, đó là dòng người chạy tránh những ngày kết thúc cuộc chiến năm 1975. Họ lìa bỏ mọi thứ, chấp nhận mất hết và chạy về phía Sài Gòn: một chỉ dấu của người dân vẫn chọn chạy về phía chế độ cầm quyền của mình, dù cho ngày thường họ có ghét hoặc không yêu đi nữa. Hình ảnh của dòng người tất tả chạy với đủ loại phương tiện, đến giờ vẫn làm người ta nao lòng, và thậm chí xen lẫn sự cảm kích trước sự giúp đỡ trong khả năng cuối có thể của một chế độ đang tàn lụi, vẫn ước muốn che chở công dân của mình.

Lần hai, năm 2021, dòng người đó lại tháo chạy khỏi Sài Gòn. Cuộc di tản không phải tìm về miền đất hứa, mà chỉ tháo chạy như một bầy kiến tán loạn ra khỏi nơi ngụ cư của mình, bởi một cú đập mạnh của công cuộc “chống dịch như chống giặc”. Những con virus vô hình trước mắt, giờ lại như được biểu trưng bằng hình ảnh con người. Họ chỉ có vài con đường: vào trại cách ly, gồng mình chờ cứu giúp ở nhà trọ, hoặc chấp nhận bị giam nhốt ở nơi làm việc với chính sách duy ý chí có tên “3 tại chỗ”: ăn một chỗ, ở một chỗ và làm việc cũng ở đó.

Những con người ấy, vượt ngoài tầm các kế hoạch của chỉ thị 16 hay đợt phong tỏa với quân đội, trở thành chuyện khó của những người cầm quyền ở Sài Gòn, nên họ được cho phép rời đi. Nhưng rồi trớ trêu là lại bị chận giữ, ngăn cản ở nơi họ muốn tìm về. Những con kiến-thân phận đó loay hoay chạy từ trên miệng chén rồi lại xuống dưới, mệt nhoài trong những lời tuyên bố an dân vẫn lấp lánh kiêu hãnh trên hệ thống truyền thông.

Trên các trang mạng xã hội, thậm chí là báo chí nhà nước, có không ít hình ảnh mô tả về cuộc di tản lạ lùng này. Có ảnh những đôi vợ chồng tựa vào nhau ngủ vùi chốc lát trên đường chạy. Có ảnh những đứa nhỏ ngủ mà tay vẫn bấu chặt lấy anh chị của mình như sợ thức dậy sẽ không còn thấy ai. Những gương mặt vô danh ấy quá đỗi nhọc nhằn trên cung đường chạy đến vô cùng. Trong số ấy, chắc cũng không ít người đã đóng góp cho những con số bội thu của Hồ Chí Minh hàng năm, vẫn được đọc lên trong những tràng vỗ tay của giới quan chức mừng tổng kết thu ngân sách thắng lợi.

_____

Tham khảo thêm:

– https://vnexpress.net/6-thang-tp-hcm-thu-ngan-sach-hon-198-000-ty-dong-4332561.html?

– https://vtv.vn/xa-hoi/mot-so-tinh-dung-tiep-nhan-cong-dan-tro-ve-tu-vung-dich-20210730052400596.htm

  Số liệu lởm khởm là tình trạng vĩnh cửu ở tất cả các quốc gia chậm tiến

  Số liệu lởm khởm là tình trạng vĩnh cửu ở tất cả các quốc gia chậm tiến

Bởi  AdminTD

Phạm Thị Hoài

31-7-2021

Hôm nay là tròn một năm từ ngày Việt Nam ghi nhận ca tử vong đầu tiên trong dịch Covid-19, bệnh nhân 428. Đến nay, Cục Y tế Dự phòng thuộc Bộ Y tế xác định số tử vong là 1.022, trong khi Sở Y tế TP.HCM công bố 1.057 ca chỉ riêng ở thành phố này. Trang tin về dịch Covid-19, cũng của Bộ Y tế, đưa ra một con số khác cho cả nước: 1.161, nhưng chỉ ghi nhận cho TP.HCM 900 ca.

TP.HCM thường xuyên có “số dư”. “Số dư” hiện tại, 157, chưa được Bộ Y tế công bố, coi như những ca nghi chết, không khác những ca tuy đã có kết quả xét nghiệm khẳng định dương tính nhưng chưa được Bộ Y tế công bố, coi như nghi nhiễm.

Số liệu lởm khởm là tình trạng vĩnh cửu ở tất cả các quốc gia chậm tiến. Vì chậm tiến nên số liệu lởm khởm hay vì số liệu lởm khởm nên chậm tiến, đó là vòng kim cô của con gà và quả trứng, chưa kể sự bưng bít, thao túng, bóp méo bởi hệ thống chính trị hay các nhóm lợi ích. Sau một năm rưỡi chống dịch thành công trước thất bại sau, Việt Nam không hề có một nghiên cứu hay thậm chí chỉ một khảo sát về bất kỳ một khía cạnh nào của đại dịch này cho chính mình chứ chưa nói đến đóng góp cho vốn tri thức tăng lên hàng ngày của cộng đồng thế giới. Tất cả các trang thông tin chính thức của mọi cơ quan phòng chống dịch từ trung ương đến địa phương đều nghèo nàn, lạc hậu, cẩu thả, tuyệt đối không tương tác, và không thể cổ hủ xấu xí hơn.

Việt Nam đã trải qua nhiều cấp độ đối mặt với cái chết trong mùa dịch. Ngạo nghễ, kẻ cả, sốc, lo lắng, và bây giờ khi con số tử vong đã thôi được cập nhật hàng ngày để thỉnh thoảng tung ra cái uỵch thì nó chìm hẳn vào sự lãnh đạm. Quan tâm làm gì, khi điều duy nhất luôn được thông báo là người chết đều đã cao tuổi và nhiều bệnh nền. Tuổi trung bình của các ca tử vong vì Covid-19 ở Việt Nam tính đến bệnh nhân 138 là 64,5 (ở Đức, tuổi trung bình của trên 90.000 ca tử vong là 81,5); bệnh nền chủ yếu là huyết áp cao và tiểu đường, hai căn bệnh khá thông thường, có thể điều trị tốt và cho phép một tuổi thọ mãn nguyện.

Rồi Việt Nam sẽ có 1.500 ca tử vong vì Covid-19 như số người chết vì điện giật, 5.000 vì đuối nước, 6.000 vì tự tử, hay 15.000 vì tai nạn giao thông hàng năm? Những con số ấy hoàn toàn vô nghĩa, nếu tiếp tục rơi vào vùng lởm khởm của số liệu và khoảng trống của tri thức. Và tri thức là ưu thế duy nhất của con người trước con virus đáng gọi là vi diệu từ phương diện sinh tồn của tự nhiên này.