Bác sĩ ‘đánh rơi’ y đức vì thể chế?

Đài Á Châu Tự Do

Nghề y là một nghề được cho là cao quý đòi hỏi mỗi cá nhân phải hội đủ và thể hiện tính nhân đức rõ rệt, thế nhưng những năm gần đây hàng loạt y, bác sĩ vướng lao lý vì bán rẻ đạo đức của mình, điển hình gần nhất là vụ các bác sĩ tại Bệnh viện mắt TP.HCM. Nguyên nhân vì sao khiến họ ‘đánh rơi’ y đức?

RFA.ORG

Bác sĩ ‘đánh rơi’ y đức vì thể chế?

Nghề y là một nghề được cho là cao quý đòi hỏi mỗi cá nhân phải hội

Lịch sử “Dư luận viên”

Lịch sử “Dư luận viên”

00:17 | Posted by BVN1

Nguyễn Văn Tuấn

Mạ Thủ 罵手

Tôi mới học được một danh từ mới: mạ thủ. Một cách ngắn gọn, mạ thủ là một kẻ chuyên nghề chửi, giống như “dư luận viên” ngày nay. Lịch sử ra đời của mạ thủ vẫn còn mang tính thời sự ngày nay.

“Mạ Thủ” – Theo tác giả Huy Phương (báo Người Việt), danh từ này xuất phát từ thời Hán Sở tranh hùng và Tam Quốc Chí bên Tàu. Thời đó, nhà cầm quyền huy động những người có lá phổi lớn, tiếng nói vang, và có cách chửi độc địa để làm ‘mạ thủ’. Mạ thủ chỉ có một việc đơn giản là chửi bới đối phương. Họ trong tư thế trần truồng, xông lên phía trước, sát cổng thành của đối phương, và tung ra những lời chửi bới tục tĩu và dơ bẩn nhất nhắm vào đối phương. Mục đích là hạ nhục và khiêu khích đối phương bằng cách thoá mạ ông bà tổ tiên của đối phương, sao cho họ mở cửa thành để lính xông vào. Điều trớ trêu là mạ thủ là những người bị chết đầu tiên vì họ không có vũ khí khi xông trận. Họ có thể xem như là những con chốt thí cho bọn cầm quyền.

Tàu ngày xưa là nơi sản sinh ra những mạ thủ, thì Tàu ngày nay cũng có những đội quân mạ thủ, nhưng họ mang một danh xưng văn hoa hơn: dư luận viên. Tiếng Hoa là “wumao“. Báo chí phương Tây gọi họ là “50 cent Army” (“Lực lượng 50 cent”). Tại sao là ’50 cent’? Tại vì mỗi mạ thủ được trả lương 50 cent cho mỗi ‘bình luận’ họ viết trên mạng.

Ai là những mạ thủ thời nay? Theo nghiên cứu của GS Gary King (ĐH Harvard), họ là những nhân viên, cán bộ của Nhà nước. Nhưng họ không phải cán bộ bình thường, mà phải qua một quá trình tẩy não sao cho họ không còn khả năng suy nghĩ một cách logic. Nói tóm lại, bọn mạ thủ là những kẻ không có khả năng đánh giá đúng sai, họ chỉ đơn giản là những cái máy phun ra những câu chữ mà có khi họ không hiểu.

Theo ước tính của GS King [1], Tàu có chừng 500,000 đến 2 triệu mạ thủ, túc trực 24/24 trên mạng để theo dõi và … chửi. Chiến trận của họ là trên mạng. Phương tiện của họ không còn là tiếng nói mà là chữ viết. Mỗi năm, đội quân phi chính thống này tung lên mạng 450 triệu thông tin giả. Họ đặc biệt nhắm đến thoá mạ những cá nhân và nhóm chỉ trích đảng cộng sản Tàu. Họ tận dụng nguỵ biện tối đa để tấn công đối phương, thay vì bàn luận. Thật ra, mạ thủ không có khả năng nghị luận, vì mục đích tồn tại của họ đơn giản là chửi bới và nhục mạ đối phương. Họ trong thực tế là những tên hề rẻ tiền, những kẻ tâm bệnh.

Bọn mạ thủ cũng rất thích làm ra vẻ ‘worldly’ bằng những bình luận về quan hệ quốc tế. Đối với họ, biến cố Thiên An Môn là không có thật, mà chỉ là sản phẩm tưởng tượng của bọn phản động phương Tây. Đài Loan phải là của Tàu. Biển Đông là của Tàu, còn bọn “nước nhỏ” như Việt Nam và Phillipine chỉ là đám thừa cơ hội gặm nhấm lãnh hải của Đại Quốc.

Ngoài chửi, các mạ thủ cũng có khi tung ra những thông tin đánh trống tinh thần quốc gia và giấc mơ một Trung Hoa Vĩ Đại. Họ rất thích chỉ trích nhạo báng các nền dân chủ phương Tây, các giá trị phương Tây, nhưng hết lời ca ngợi các lãnh đạo cộng sản Tàu. Họ cũng thích lan truyền những bản tin về hoạt động thường ngày của các cấp cán bộ cộng sản như là những kẻ yêu nước thương dân. Những bài viết ca ngợi cán bộ cộng sản và quảng bá sự tiến bộ của Tàu chiếm chừng 60% tổng số tin tức do bọn mạ thủ tung ra.

Phải nói rằng sự ra đời của mạ thủ 罵手 hay wumao 五毛 là một quái thai xã hội. Thử tưởng tượng một thể chế như chính phủ Úc mà tung tiền ra để tổ chức và mướn những kẻ hạ cấp và những lưu manh mạng chỉ để tung ra những lời ca ngợi mình và tấn công đối phương. Một viễn cảnh không thể nào xảy ra, vì người dân sẽ nổi giận với chính phủ dùng tiền thuế của họ cho chuyện … tào lao. Chỉ có những chính phủ bất tài và thiếu tự tin, những chính phủ hắc ám biết mình làm điều ác với xã hội mới có những đội quân wumao, bởi nếu chính phủ chánh nghĩa và có thực tài thì cần gì đến bọn hạ cấp đó. Mà, thực ra, một chính phủ được những kẻ hạ cấp ca ngợi thì chính phủ đó cũng thuộc loại hạ cấp mà thôi. Thành ra, sự hiện diện của đội quân mạ thủ hay wumao không chỉ là một căn bệnh ung thư xã hội, mà còn là tín hiệu mạnh nhất về một chính phủ bất chính và bất tài.

N.V.T

[1] Nghiên cứu về đội quân wumao – mạ thủ:

https://gking.harvard.edu/files/gking/files/50c.pdf

“Mạ Thủ” theo Báo Người Lao độngThanh Niên

 Các báo này cũng nói về “Mạ thủ” nhưng tránh nhắc đến đội quân “Mạ thủ” VN ăn lương hoặc phụ cấp ngày nay

Đọc Tam quốc chí [diễn nghĩa] hay Hán Sở tranh hùng của văn học cổ Trung Quốc, người đọc không thể không tức cười về một thứ quân đặc biệt luôn luôn có trong bất cứ một đội quân nào của những phe phái khác nhau.

Mạ thủ

Người ta chọn ra những sĩ tốt có buồng phổi to, tiếng nói khỏe và đặc biệt là có “kiến thức” về những câu chửi bới thô lỗ, tục tĩu nhất. Cánh quân ấy chuyên ra trận để… chửi bên địch. Những sĩ tốt này được phong một danh hiệu khá lạ lùng là “Mạ thủ”. Vậy mạ thủ là những tên quân ra trận không dùng đao thương, chỉ chuyên chửi bới, thóa mạ kẻ địch; chửi cho sướng miệng mình và vui dạ tướng chỉ huy của mình.

Khi tướng thủ thành hoặc nhà vua bên địch tự cảm thấy thế lực của mình yếu, bèn đóng cửa thành, treo miễn chiến bài (bảng không đánh nhau nữa). Viên tướng chỉ huy phe bên công thành muốn đánh cho nhanh, bèn đưa quân mạ thủ ra “chiến đấu”. Thông thường thì các mạ thủ này mặc áo quần tử tế, cũng có khi theo lệnh tướng chỉ huy, họ phải… ở truồng để lâm trận. Cứ vậy, họ đưa “bộ đồ nghề” ra tô hô, tiến sát cửa thành phía bên địch; hoặc đứng, hoặc nằm, hoặc ngồi; cùng kêu tên nhà vua hay tướng chỉ huy thành bên địch ra mà chửi bới.

Về hình thức, đây là một thứ tâm lý chiến, phải ngoác miệng ra mà chửi, chửi làm sao cho có ca có kệ, có vần có điệu theo cái kiểu hợp xướng một giọng cho phía bên kia nghe được. Thời ấy làm gì có loa phóng thanh cho nên các mạ thủ phải học “bài bản” cho thuộc, chửi lên cùng một giọng càng lớn càng tốt để nhà vua hay tướng thủ thành bên kia thủng màng nhĩ.

Về nội dung, bài chửi làm sao phải đạt yêu cầu “đào mồ cuốc mả” của kẻ địch, đem hết cái xấu, cái dơ, cái bẩn trút lên đầu lên cổ người ta. Tất nhiên, những bài chửi này có quyền xuyên tạc, vu khống, đục cây tra cành để lung lạc lòng sĩ tốt bên địch. Nhà vua hoặc tướng thủ thành bên địch nghe chửi nín nhịn không nổi, phải mở cửa thành nhảy ra đánh nhau. Nhiệm vụ của mạ thủ được coi là thành công. Món võ ấy được gọi là võ lưỡi (thiệt chiến).

Mạ thủ là một loại chiến tranh đặc biệt của người Trung Quốc xưa, một hình thái chiến tranh mà không quốc gia nào học tập và làm theo. Sách vở Trung Quốc cũng ghi nhận nếu nhà vua hay tướng thủ thành bên kia đột ngột mở của thành xông ra đánh thì quân mạ thủ ưu tiên… chết trước. Bởi vì bọn họ phải áp sát cửa thành bên địch mà chửi nên chạy không kịp về trận địa của mình. Cho nên những chiến sĩ ấy cơ bản là “dũng cảm hy sinh”, chỉ tội nghiệp là có người hy sinh khi đang lõa lồ thân thể, thành thử hoàn cảnh của các mạ thủ nói riêng và chiến trường nói chung là rất lu bu.

Thế kỷ 20, Kim Dung viết Lộc đỉnh ký. Bộ tiểu thuyết này có mấy chương thuật lại cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Nga La Tư. Vua Khang Hy dặn tư lệnh Vi Tiểu Bảo: “Ngươi biết nhiều trò huê dạng, phải làm sao để quân ta từ trên xuống dưới đều khinh khi quân man tử”. “Quân man tử” ở đây là sĩ quan và binh lính của Sa hoàng Nga. Để đám tướng sĩ Thanh binh có thể khinh khi người Nga, Vi Tiểu Bảo áp dụng mọi cách làm nhục tướng sĩ của Sa hoàng Nga, trong đó có vai trò chửi bới của quân mạ thủ.

Vi Tiểu Bảo học cách của người xưa, cho quân mạ thủ Trung Quốc chửi bới tư lệnh quân Nga là A Lịch Tư Đồ Nhĩ Bố Thanh (Alexei Tolbusin) đang đồn trú tại thành Nhã Tác Khắc (Nertohinsk). Bọn mạ thủ này chửi bằng tiếng… quan thoại mà người Nga thì không biết thứ tiếng này. Vi Tiểu Bảo bắt được một số quân Nga, buộc họ phải làm mạ thủ chửi lại Đồ Nhĩ Bố Thanh. Hàng binh và tù binh Nga ra trước thành chửi bới nhưng họ lại khiến Vi Tiểu Bảo thất vọng tràn trề. Lý do là ngôn ngữ chửi bới của người Nga rất nghèo nàn, quanh đi quẩn lại chỉ có mấy câu “Ngươi là đồ heo, đồ chó”; hoàn toàn thua xa “bài bản” lâm ly biến ảo của mạ thủ Trung Quốc! Vi Tiểu Bảo nghiệm ra chỉ có người Trung Quốc chửi bới mới nghe… được.

Đó là chuyện của mạ thủ cổ điển, chỉ chửi bới trên trận địa cho kẻ thù nghe. Trong 40 năm qua, Trung Quốc đã có hành động xâm lấn, gây hấn vùng lãnh thổ và biển đảo của Việt Nam. Năm 1974, họ đánh chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Năm 1979, họ gây ra cuộc chiến tranh biên giới. Năm 1988, họ tiến đánh đảo Gạc Ma. Lần nào cũng như lần nào, các mạ thủ đời mới ở Trung Quốc cũng có những bài bình luận đao to búa lớn, ngôn ngữ thóa mạ hằn học khiến người tự trọng nghe qua phải nổi da gà.

Trong vòng nhiều năm liên tiếp trở lại đây, Trung Quốc không ngừng gây ra những sự cố tranh chấp với các lân bang Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines, Việt Nam. Hết đòi đảo, họ đơn phương công bố đường “lưỡi bò” chín đoạn trên biển Đông. Sau đường “lưỡi bò”, họ đơn phương công bố khu vực nhận diện phòng không trên biển Hoa Đông.

Ngày 1.5.2014, lợi dụng những ngày nghỉ lễ 30.4 và 1.5 của Việt Nam, họ rê giàn khoan Hải Dương 981 vào đặt ngay trong vùng biển Việt Nam, chỉ cách đảo Lý Sơn của Việt Nam 117 hải lý. Cùng với giàn khoan, Trung Quốc cho máy bay, tàu hải giám, hải cảnh, tàu quân sự hù dọa, o ép, va đâm, xịt vòi rồng vào các lực lượng thi hành pháp luật trên biển của Việt Nam và ngư dân Việt Nam đang đánh bắt hải sản trên ngư trường Hoàng Sa truyền thống.

Cái lạ của Trung Quốc là họ ngang nhiên tấn công ngư dân, đâm chìm ghe cá, phá hoại tài sản đánh cá của ngư dân, khiêu khích các lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam mà không hề nhớ rằng họ đã thò tay ký vào các công ước quốc tế như Công ước luật Biển năm 1982.

Cùng với những hành động sai trái, ngang ngược trên hiện trường, lực lượng mạ thủ của họ mà đặc biệt là tờ Global Times đưa ra những thông tin xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật, chửi bới các lân bang, trong đó ưu tiên chửi Việt Nam. Cứ theo cái anh mạ thủ to mồm này thì Trung Quốc đang bị các lân bang xâm lược, Trung Quốc đang là nạn nhân của sự xâm lấn bởi nhiều nước nhỏ ở khu vực Đông Nam Á, thật là kỳ.

Trong Đối thoại Shangri-La mới đây ở Singapore, tướng Vương Quán Trung – Phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đã to tiếng… xái bạc lớn ngay cả với Thủ tướng Abe của Nhật Bản và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel. Bỏ hẳn bài diễn văn được soạn trước, ông Vương đã ứng khẩu độc diễn lên án Mỹ và Nhật “có hành động khiêu khích với Trung Quốc” khi hai vị này lên tiếng cảnh báo những nguy hiểm mà Trung Quốc đang thể hiện trên vùng biển Việt Nam.

Vui nhất là chuyện ông Vương nói đường “lưỡi bò” chín đoạn trên biển Đông đã có từ 2.200 năm trước (thời nhà Hán) nhưng đến năm 1947 Trung Quốc mới công bố. Trong khi đó, ông Chu Thành Hổ – một thành viên khác của Trung Quốc trong đối thoại này, tỏ ra rất hiếu chiến khi nói “Nếu Mỹ coi Trung Quốc là kẻ thù thì Trung Quốc sẽ trở thành kẻ thù của Mỹ”.

Nhìn một cách nào đó thì hai vị này cũng là… mạ thủ đời mới, với một thứ ngôn ngữ ngoại giao quái chiêu, nặng về khiêu khích. Thương thay, họ đã… nói ngọng trước Đối thoại Shangri-La, khiến các phái đoàn quốc tế phì cười. Nhà phân tích chiến lược quốc tế Bonnie Glaser nhận định: “Có lẽ phần tuyên bố của ông Vương chủ yếu nhắm vào khán giả trong nước Trung Quốc nhiều hơn… Ông ta dành mười phút nói vòng vo về đường chín đoạn nhưng cuối cùng cũng không giải thích được nó là cái gì”.

(Vũ Đức Sao Biển)

https://tinnong.thanhnien.vn/giai-tri/ma-thu-9803.html

Báo Người Lao độngThanh Niên cũng nói về “Mạ thủ” nhưng tránh nhắc đến đội quân “Mạ thủ” ăn lương hoặc phụ cấp ngày nay

Sách vở ghi lại nhiều tích bên Trung Hoa, thời Tam Quốc, khi các vương triều tranh đoạt cương thổ, quyền lực đã biết dùng đến “mạ thủ”.

“Mạ thủ” là đội quân chuyên về chửi bới đối phương, kiểu như tâm lý chiến, để đối phương tức giận dẫn tới ra quyết định sai hoặc xuống tinh thần, dễ thua cuộc. Lực lượng “mạ thủ” thường đóng vai trò tiền quân khi công đồn, vây thành. Trong “Tam thập lục sách” – tập hợp 36 kế sách quân sự của Trung Hoa cổ đại – có đúc kết chuyện Tào Tháo sử chiêu khi đánh Viên Thuật thành kế thứ 26 là “Chỉ tang mạ hòe” (chỉ cây dâu mà mắng cây hòe, nghĩa khác: chỉ chó nhưng mắng mèo), nhờ đó mà thắng. Ấy cũng từ “mạ” mà ra. Tóm lại, từ xưa, chửi càn đã được sử dụng như là một thứ vũ khí.

Ở xứ ta, lấy chửi bới để ăn thua đủ, công kích hay hạ bệ người khác cũng là chuyện phổ biến. Dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945 có nhân vật Chí Phèo (“Chí Phèo” – Nam Cao) gắn chặt với hình ảnh tiêu cực “Hắn vừa đi vừa chửi”; hay nâng tầm lên thành “nghệ thuật” là bài chửi mất gà có lớp lang, vần điệu của bà mụ nhà quê trong “Bước đường cùng” (Nguyễn Công Hoan). Học giả Nguyễn Văn Vĩnh, trong bài “Ăn nói thô tục”, đăng Đông Dương tạp chí năm 1914, đã thở dài về một thói xấu của người Việt: “… Lắm câu chửi rủa của ta, không tiếng nước nào dịch nổi…”!

Tất nhiên, đã là thói xấu thì phải phê phán, không học theo. Nếu thành cố tật thì phải gắng tìm mọi cách tẩy trừ nó khỏi đời sống cộng đồng. Trong xã hội văn minh, chửi là hành động phản cảm, đi ngược lại toàn bộ các giá trị cao đẹp chung mà cộng đồng đang xây dựng, hướng về.

Nhưng bao giờ cũng vậy, cuộc sống muôn mặt, bên cạnh cái tốt đẹp và thiện lành vốn chiếm ưu thế thì con người – không còn cách nào khác – buộc phải chung sống với cái xấu, cái ác. Nó là một phần của xã hội, thời nào cũng thế.

Sống chung nhưng không có nghĩa là chấp nhận chịu đựng mãi mãi, mà phải chế ngự, đấu tranh và đẩy lùi nó. Không lên án hành vi xấu, như vô cớ lăng nhục người khác, tức là sống thiếu trách nhiệm; hào hứng đón nhận, hùa theo đám đông hoặc cá nhân nào đó để thóa mạ tha nhân, cũng là một kiểu sống xấu, sống ác. Thực tế, đã có không ít nạn nhân tự kết liễu đời mình vì không chịu nổi sức ép từ sự miệt thị của đám đông, trong đó có những trường hợp bị chửi bới, lên án một cách oan ức.

https://nld.com.vn/…/thoi-xau-chui-can…

Nguồn: FB Hoàng Hưng BVN bổ sung chữ Hán.

Frank Snepp: Ngày cuối cùng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở Việt Nam

Frank Snepp: Ngày cuối cùng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở Việt Nam

  • Tina Hà Giang
  • Gửi bài cho BBC từ California, Hoa Kỳ

14 tháng 11 2021

Năm nay 78 tuổi, ông Frank Snepp trả lời phỏng vấn của BBC tại Nam California vào cuối tháng 10/2021

Ngày 30/4/1975, Frank Snepp đứng trên nóc Tòa Đại Sứ Mỹ, thất thần chờ chiếc trực thăng cuối cùng đến bốc ông, đưa ra chiến hạm USS Denver, rời Nam Việt Nam, đất nước ông đã phục vụ hai lần, 1969-1972 và 1972-1975.

Nhà phân tích chính về chiến lược Bắc Việt của CIA trong Cuộc chiến Việt Nam trở về Mỹ nhưng có lẽ chưa bao giờ ‘rời khỏi’ Việt Nam. Giờ đây 78 tuổi, Frank Snepp sống một mình trong một chung cư ở West Los Angeles với con chó nhỏ.

Trong phòng làm việc chứa đầy dấu tích của hai chuyến công tác đã thay đổi cả đời mình, Frank Snepp cho chúng tôi biết ông đang viết một cuốn sách nữa về cuộc chiến VN, và cũng đang làm việc với một hãng phim của Úc về sự tham gia của ông trong cuộc chiến này.

Đã gần 50 năm rồi thì còn gì để viết thêm trong sách nữa?

“Tôi còn bị dằn vặt nhiều về những gì đã xảy ra. Tôi thấy mình còn nợ Việt Nam một món nợ tinh thần. Khuôn mặt của bạn bè, người thông dịch, những người đã cộng tác và trung thành với Hoa Kỳ, kể cả những điệp viên, bị bỏ lại trong những ngày cuối cùng hoảng loạn ấy đến giờ vẫn ám ảnh tôi trong những giấc mơ…” Ông tâm sự.

‘Ngày cuối cùng của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn’ mở đầu loạt bài Trò chuyện với Frank Snepp chúng tôi thực hiện cho BBC tại Nam California vào cuối tháng 10/2021.

Đầu tiên là câu hỏi về tình hình Nam VN trước ngày 25/4, khi Frank Snepp đưa ông Nguyễn Văn Thiệu rời khỏi thủ đô Sài Gòn.

Frank Snepp: Ngày 25/4/1975, còn bốn ngày nữa là chiến tranh kết thúc, tình hình thật hỗn loạn. Chúng ta [Mỹ – BBC] chưa thực sự bắt đầu cuộc di tản đáng kể nào. Đã có một số người Mỹ được đưa ra khỏi VN, nhưng nhiều người Việt đã không tìm được đường đi vì Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin tin rằng sẽ có một thỏa thuận với Bắc Việt, và từ đó Mỹ có thể dễ dàng giúp một số người Việt di tản. Ông Martin tin rằng chỉ cần đưa ông Nguyễn Văn Thiệu khỏi hiện trường, thì sẽ có được thỏa thuận, bất kể những gì điệp viên giỏi nhất của VNCH đã cảnh báo trước đó.

Ông Thiệu đã từ chức hôm 21/4. Ông bị áp lực từ chức vì Đại sứ Martin đưa cho ông xem một nghiên cứu tôi đã thực hiện cho CIA. Nghiên cứu cho thấy nhiều người ở Sài Gòn muốn lật đổ Thiệu vì tình hình chiến sự rất tồi tệ. Lực lượng 140 ngàn quân Bắc Việt đang bao quanh Sài Gòn.

Từ chức rồi nhưng ông Thiệu vẫn chưa ra đi và vẫn còn ảnh hưởng. Phe cộng sản Bắc Việt không biết điều gì sẽ xảy ra. Họ không rõ liệu ông có tìm cách nắm quyền trở lại. Đối thủ chính trị của ông Thiệu, như Nguyễn Cao Kỳ, cũng không biết ông Thiệu sẽ có dở trò gì để tiếp tục quay lại nắm quyền. Trước tình hình đó, ông Trần Văn Hương, tổng thống mới lên thay ông Thiệu, đến gặp đại sứ Martin nhờ đưa ông Thiệu rời khỏi hiện trường, vì sự có mặt của ông lúc đó tại VN, theo ông Hương, bị đánh giá là khiến cho tình thế khó lường.

Ông chính thức nhận được lệnh phải đưa ông Thiệu rời khỏi VN lúc nào, trong hoàn cảnh ra sao?

Frank Snepp: Đại sứ Martin đến gặp ông Thomas Polgar, Trưởng Văn phòng CIA tại Sài Gòn, thượng cấp của tôi, 24/4, một ngày trước khi chúng tôi đưa ông Thiệu đi. Ông Martin nói phải làm thế, vì ông Thiệu đang là yếu tố gây ra rối loạn.

Chụp lại video,

Ngày cuối cùng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở Việt Nam

Ông Thiệu lúc ấy buồn khủng khiếp. Ông Hoàng Đức Nhã, em họ của ông ấy khuyên ông đừng có động tĩnh gì, hãy giống như Napoléon ở Elba, ngồi yên và chấp nhận số phận. Bà Thiệu thì lo rằng ai đó sẽ sát hại gia đình bà hoặc chồng bà, và đã rời khỏi VN, bay qua Bangkok.

30/04: Tổng thống Minh và văn thư yêu cầu Mỹ rút khỏi Việt Nam

Xung quanh vụ Hoàng Phủ Ngọc Tường ‘xin lỗi’ về Mậu Thân

Có những ngày 30/04 trước 1975 và mãi mãi về sau

Tối ngày 24/4, Đại sứ Martin bắt đầu làm việc với CIA để di tản ông Thiệu. Việc đưa ông Thiệu đi khỏi Việt Nam lúc đó là một trong những hoạt động nguy hiểm nhất mà CIA chúng tôi phải thực hiện.

Tại sao việc đưa ông Thiệu rời khỏi VN lại là một công tác nguy hiểm như vậy, thưa ông?

Frank Snepp: Sếp tôi, ông Polgar sau này kể lại rằng việc đưa ông Thiệu đi diễn ra rất nhịp nhàng, nhưng điều đó không hoàn toàn đúng. Việc ông Polgar nói là nhịp nhàng là việc thu xếp sao để có một chiếc máy bay. Đó là chiếc máy bay mà chính ngài đại sứ từng dùng khi đi ra nước ngoài. Nó là chiếc máy bay tầm ngắn, nhưng có thể bay đến Đài Loan, nơi mà anh trai ông Thiệu làm đại sứ, vì vậy được cho là một nơi trú ẩn an toàn cho ông Thiệu. Chiếc máy bay đó được đưa đến, và giấu kín trong một khu của phi trường Tân Sơn Nhất.

Bí mật là điều tối quan trọng trong việc đưa ông Thiệu đi, chúng tôi lo là nếu ai đó, như ông Nguyễn Cao Kỳ, biết được việc này, họ có thể thực hiện một cuộc đảo chính vào phút cuối và ông Thiệu có thể bị ám sát.

Tình hình như thế nào trong ngày 25/4, ngày ông Thiệu được CIA đưa ra khỏi VN, ông còn nhớ không?

Frank Snepp: Một số việc xảy ra sáng ngày 25/4 khiến tình hình thêm rối rắm. Người Nga phản hồi đề nghị của Mỹ, nói rằng có vẻ như Bắc Việt sẽ không cố làm bẽ mặt Hoa Kỳ. Henry Kissinger, cố vấn an ninh đặc biệt của Tổng thống Ford, diễn giải thông điệp này của Liên Xô là chúng ta (Hoa Kỳ) vẫn còn thời gian để thương lượng một thỏa thuận với Bắc Việt. Một lần nữa, đây là một phán đoán hết sức sai lầm. Nhưng việc đưa ông Thiệu đi khỏi VN lúc đó với hai ông Kissinger và Martin là một phần của kế hoạch biến cuộc dàn xếp chính trị mà họ nghĩ là sẽ có ngày thành hiện thực. Vì vậy, sáng hôm đó có sự phấn khích rất lớn, với suy nghĩ là phe Liên Xô cũng đang chuẩn bị cho điều này, bắt phía Bắc Việt phải có một thỏa thuận nào đó.

Yếu tố thứ hai tạo ra căng thẳng lớn ngày hôm đó, là chúng tôi nhận được tin từ Hà Nội – một tín hiệu giả, rằng Bắc Việt sẵn sàng cho phép Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở lại Sài Gòn sau khi ngừng bắn. Điều đó có nghĩa là có vẻ như Bắc Việt sẽ không xóa sổ miền Nam VN, họ sẽ cho phép một chính phủ Nam VN được tồn tại ngay cả khi Bắc Việt chiếm xong được Sài Gòn. Và nếu chính phủ này tồn tại, thì Tòa Đại sứ Hoa Kỳ có thể tiếp tục hoạt động tại Sài Gòn. Vì vậy, giới lãnh đạo nuôi kỳ vọng vào sáng 25/4, là đơn giản chỉ cần ông Thiệu biến mất, thì một phép màu sẽ xảy ra.

NGUỒN HÌNH ẢNH,FRANK SNEPP’S BOOK

TT VNCH Nguyễn Văn Thiệu (bìa phải) trong một cuộc họp với Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin, người thứ nhì trong hình từ phải sang, đang nhìn vào ông.

Chiều hôm đó, sếp CIA Polgar và đại sứ Martin bảo tôi là phải tham gia vào điệp vụ này. Tôi sẽ là tài xế của ông Thiệu, và đi cùng xe với ông Thiệu sẽ có cựu Thiếu tướng Charles Timmes, người đã giải ngũ, hiện đang làm việc cho CIA, và cũng là người biết ông Thiệu rất rõ.

Chuyến đi cuối cùng của ông Thiệu ra phi trường:

Cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm được thu xếp làm thành phần của đoàn xe này. Ông Khiêm sẽ ngồi trong chiếc xe đi đầu, do một đồng nghiệp CIA của tôi cầm tay lái. Sếp tôi, ông Tom Polgar, sẽ ngồi trong chiếc xe đi đầu đó. Ông Polgar cũng đã mời một sĩ quan cảnh sát cao cấp của VNCH tham gia công tác này, vì ông dự trù là lỡ đoàn xe bị chặn trên đường đến phi trường Tân Sơn Nhất, thì sẽ có sẵn một sĩ quan cảnh sát cấp cao của Nam VN giúp chúng tôi thoát hiểm. Lúc đó những con đường quanh nơi ông Thiệu trú ẩn, cách không xa phi trường Tân Sơn Nhất lắm, đã bị chặn khắp nơi, và với giới nghiêm, không ai được ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.

Sài Gòn là một trong bốn cuộc thoái lui lớn của người Mỹ

Ngài đại sứ và Thái Lan trong cuộc chiến VN

Nếu mất Huế TT Thiệu ‘đã sụp đổ’ từ 1972

Nixon đã cản trở hòa đàm ở Việt Nam thế nào?

Chương trình là chúng tôi sẽ lái xe khoảng 10 phút từ điểm hẹn đến một khu vực đen kịt không thắp đèn của Tân Sơn Nhất. Chúng tôi phải di chuyển trong bóng tối, và phải đưa hai ông Thiệu, Khiêm an toàn lên máy bay.

Nhận được lệnh vào khoảng 5 giờ chiều hôm đó, tôi vô cùng lo lắng, vì biết có nguy cơ rất lớn là có thể sẽ có nỗ lực ngăn chặn đoàn xe, và chúng tôi có khi sẽ phải nổ súng để thoát. Vì vậy tôi dấu vũ khí trong túi và một khẩu súng lục bên dưới chỗ ngồi. Tất cả những người Mỹ khác tham gia vào điệp vụ này, và những người đi cùng xe với ông Trần Thiện Khiêm, cũng trang bị vũ khí, sẵn sàng cho một cuộc đọ súng khủng khiếp.

Không ai có ảo tưởng nào, rằng nếu thực sư có âm mưu đảo chính, hoặc âm mưu ám sát ông Thiệu, chúng tôi sẽ thoát hiểm dễ dàng. Bởi chúng tôi nghĩ rằng bất cứ kẻ nào tìm cách ngăn chặn đoàn xe cũng sẽ bị trang bị vũ khí tận răng. Kẻ thù ở khắp nơi. Quân đội Bắc Việt lúc ấy chỉ còn cách Sài Gòn khoảng 20 phút.

Bối cảnh xung quanh việc đưa ông Thiệu ra khỏi VN đã diễn ra như thế nào, thưa ông?

NGUỒN HÌNH ẢNH,FRANK SNEPP’S BOOK

Phi trường Tân Sơn Nhất những ngày cuối cùng của VNCH

NGUỒN HÌNH ẢNH,FRANK SNEPP’S BOOK

Frank Snepp (bìa phải) và Tướng Nguyễn Cao Kỳ (giữa)

Frank Snepp: Khi đoàn xe bắt đầu đi, dọc theo ngoại ô Sài Gòn tên lửa bắn vút lên trời. Và khi tập trung tại tư dinh của Thủ tướng Trần Thiện Khiêm tại Bộ Tổng Tham Mưu của VNCH, điểm khởi đầu của cuộc hành trình, khá gần Tân Sơn Nhất, qua radio chúng tôi nghe thấy tiếng đạn nổ, dấu hiệu cho thấy đang chạm súng ngay tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở trung tâm Sài Gòn, cách đó khoảng năm dặm.

Tình hình lúc đó căng thẳng khủng khiếp. Sếp tôi, ông Polgar đã quên viết giấy thông hành (parole) cho ông Thiệu. Thời đó, nếu muốn được Hoa Kỳ bảo trợ và di tản, bạn phải có giấy thông hành, nhưng trong lúc vội vàng, ông Polgar đã quên. Vì thế Polgar và tướng Timmes hôm ấy phải bước vào căn nhà nơi mọi người tụ họp, loay hoay ký giấy tờ để ông Thiệu có thể hợp pháp đáp chuyến máy bay của Hoa Kỳ rời Việt Nam. Khung cảnh hết sức hỗn loạn.

Chiếc xe tôi lái là xe của Tòa Đại sứ đã được ngụy trang. Chúng tôi đã thay bảng số để nó trông giống như một chiếc xe ngoại giao bình thường. Tất cả xe khác cũng được ngụy trang tương tự. Chúng tôi làm thế để giảm thiểu nguy hiểm.

Ông Thiệu đợi chúng tôi ở một ngôi nhà gần đó. Tôi thì đứng bên ngoài căn nhà ở điểm hẹn, chờ ông đến. Tôi nhớ là ông Thiệu đến bằng xe Mercedes, nhưng có người nói là ông Thiệu đi bộ tới. Ông Thiệu trang phục đẹp đẽ, trông như một người mẫu của tạp chí Quý ông Lịch lãm (Gentlemen’s Quarterly) vùng Viễn Đông. Tóc ông vuốt ngược ra đằng sau, và mặt bôi kem, trông ông cực kỳ ấn tượng và tự chủ.

Nhưng người bạn của chúng tôi, vị cựu tổng thống, đã uống một chút, vì từ người ông tôi ngửi thấy mùi rượu whisky và mùi nước hoa đắt tiền. Tôi nhớ rõ như in điều này, bởi vì cảm quan của tôi lúc ấy cực kỳ bén nhậy, tôi cảm nhận được mọi thứ quanh mình, được môi trường chung quanh, rằng bóng tối lúc đó đang buông xuống và những loạt đạn pháo đang được bắn ra, tên lửa xẹt qua lại, chỉ cách đó một quãng ngắn.

Hai ông đến gần đoàn xe và ông Thiệu chui vào sau xe của tôi. Tướng Timmes, người Mỹ được cử tháp tùng ông Thiệu, cũng là một người bạn cũ của ông, cùng ngồi ghế sau với ông ấy. Tôi nhớ là hình như một hay hai vệ sĩ của ông Thiệu cũng đã ngồi vào phía sau. Tôi không nhớ rõ lắm là vì lúc đó đang ngồi ghế tài xế và luôn nhìn chằm chằm vào kính chiếu hậu, để xem có ai tiến gần đến xe của chúng tôi từ hai bên. Chỉ nhớ rõ là tướng Timmies ngồi cạnh ông Thiệu, và trước khi tôi kịp tra chìa khóa vào xe, một vài phụ tá của ông Thiệu từ đâu xuất hiện khiêng những chiếc vali. Họ mở cửa sau xe của tôi và bỏ vali vào.

Trong cuốn ‘Decent Interval’ ông viết là những chiếc vali này chứa đôla hay vàng, ông có thể nói rõ về việc này?

Frank Snepp: Khi viết phiên bản đầu tiên của hồi ký về sự kiện này, tôi nói mình nghe thấy tiếng kim loại va vào kim loại. Trước đó, tôi cũng đã được nghe nói rằng ông Thiệu có thể sẽ mang theo một số vàng của ông lên xe khi ra đi. Thực thế, ông Polgar, cấp trên của tôi, người sắp đặt tất cả mọi việc, đã nói điều này có thể xảy ra. Sau này có rất nhiều tranh cãi về việc những vali đó có vàng không. Tôi phải nói cho bạn biết điều này, là không ai biết chắc về việc này ngoại trừ ông Thiệu, tôi, và có thể một vài người khác.

Tất cả những người bình luận về sự việc, gồm cả ông Polgar, cũng không biết rõ. Tôi là người ngồi trong xe, tôi thấy mọi người bước ra từ bóng tối và tôi thấy họ bỏ vali vào xe và nghe thấy tiếng chạm của kim loại từ những vali đó. Nhân tiện, tôi cũng muốn nói thêm là tôi chưa bao giờ có ý nói là ông Thiệu mang vàng từ Ngân khố Quốc gia đi theo. Tôi nghĩ ông chắc chắn đã mang theo một số tài sản của riêng mình, bởi vì ông không chắc sẽ bao giờ quay trở lại Việt Nam. Vì vậy, điều đó hoàn toàn hợp lý. Ngoài ra, Ngân khố Quốc gia của VNCH vẫn nằm nguyên trong Ngân hàng Quốc gia ở Sài Gòn.

Đoàn xe đưa ông Thiệu và tùy tùng đi có đông không, và khung cảnh Sài Gòn lúc đó thế nào?

NGUỒN HÌNH ẢNH,FRANK SNEPP’S BOOK

Frank Snepp trên nóc Toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn trước ống kính phóng viên BBC của Anh Quốc thời đó

Frank Snepp: Đoàn có bốn chiếc xe. Xe chở ông Khiêm đi đầu, xe tôi là xe thứ hai, có chiếc xe thứ ba, và tôi nghĩ còn có một chiếc xe thứ tư đi theo sau chúng tôi. Khi chúng tôi ra khỏi khu Bộ Tổng Tham Mưu hướng tới phi trường Tân Sơn Nhất, thì đã khoảng bảy hoặc tám giờ tối. Đường phố tương đối vắng vẻ, ngoại trừ các trạm kiểm soát. Nhìn đâu tôi cũng thấy trạm kiểm soát. Quân lính miền Nam VN và cảnh sát có mặt khắp nơi. Và nỗi lo sợ của chúng tôi là, một trong những người ở các kiểm soát này sẽ tìm cách làm nên lịch sử, ngăn chặn đoàn xe và giết chết ông Thiệu. Tôi được giao trọng trách đưa ông an toàn ra khỏi VN, và tôi cảm được trách nhiệm nặng nề khủng khiếp này.

Khi xe chuyển bánh, tướng Timmes bắt đầu trò chuyện với ông Thiệu. Họ nhắc lại chuyện ngày xưa, lúc ông Thiệu còn là tư lệnh Quân khu I, một trong những vùng phe cộng sản hiện đang chiếm giữ. Và ngay giữa lúc đó, tướng Timmies giới thiệu tôi với ông Thiệu, nói tôi là nhà phân tích giỏi nhất của Tòa Đại sứ, và vì thế, ông Thiệu đang được một ‘tài xế hạng sang’ chở ra phi trường. Ông Thiệu nói đùa một cách mơ hồ rằng tài xế ở đây lái xe giỏi hơn ở Bangkok nhiều, và tài xế ở Bangkok khá bạt mạng. Đó là cảnh tượng kỳ quái nhất mà bạn có thể hình dung được. Tôi thực sự sững sờ trước cuộc trao đổi qua đó ông Thiệu trông có vẻ rất thoải mái, nhưng đồng thời, cũng rất căng thẳng. Tôi có thể nhìn thấy gương mặt của ông trong gương chiếu hậu.

Đoàn xe phóng về phía trước, chúng tôi qua một trạm kiểm soát, một trạm nữa, và được vẫy tay cho đi. Có ông đại tá cảnh sát người Việt ngồi trong chiếc xe dẫn đầu vẫy tay chào và dẫn đường, không ai nhìn xem trong đoàn xe có những ai. Tôi nghĩ có lẽ họ nghĩ đây là một đoàn xe ngoại giao đang trên đường đến một cuộc họp ngoại giao nào đó. Họ không nhận ra rằng chúng tôi đang đưa cựu Thủ tướng Chính phủ và cựu tổng thống của đất nước họ đến nơi an toàn.

Khi đến gần phi trường, chúng tôi đi ngang qua đài tưởng niệm có hàng chữ “Sự hy sinh cao cả của đồng minh sẽ không bao giờ bị lãng quên’‘, được xây để tưởng niệm những người lính Mỹ đã chết ở VN. Khi xe vượt hẳn khỏi qua nơi này, tôi chợt liếc vào gương chiếu hậu, và nhìn thấy những giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt ông Thiệu.

Sau này, một số người không có mặt ở đó bàn rằng ông Thiệu chắc chẳng bao giờ khóc. Tại sao không? Ông ấy đang rất đau buồn. Ông đang mất đi đất nước của mình. Ông giống như Napoléon bị đày lên đảo Elba. Ông hoàn toàn là một kẻ lưu vong. Ông bị mọi người ghét. Người Mỹ cho rằng ông là chướng ngại vật của một thỏa thuận có thể cứu mạng sống của mọi người, muốn tống cổ ông đi, địch thủ chính trị muốn giết ông, và ông bị người tham gia vào công tác này ghét bỏ.

Cảm nhận của cá nhân ông về ông Nguyễn Văn Thiệu lúc đó ra sao?

Frank Snepp: Tôi không ghét ông ấy. Tôi chỉ đơn giản muốn ông được an toàn đến sân bay. Nhưng tôi không có ảo tưởng nào về sự thù địch mà ông Thiệu phải đối diện ở khắp nơi. Với tư cách cá nhân tôi vô cùng xúc động khi thấy một người đang lâm cảnh tột cùng tuyệt vọng. Tôi cũng kinh ngạc thấy ông có thể tự chủ được đến vậy. Ý tôi là, đang phải đối mặt với sự sỉ nhục lớn nhất mà bất kỳ tổng thống nào của một nước phải đối mặt mà ông vẫn kiềm chế được, nhưng lại rơi nước mắt cho những người Mỹ đã hy sinh ở VN. Khoảnh khắc ấy tôi không bao giờ quên.

Đoàn xe tiếp tục đi. Có lúc chúng tôi bị chặn lại. Thấy ông đại tá cảnh sát người Việt trong xe đi đầu nói chuyện với những người ở trạm kiểm soát, tôi đã nghĩ chết cha, có thể gặp chuyện rồi, đây có thể là lúc súng sẽ nổ và mọi người sẽ chết. Nhưng chúng tôi được vẫy tay cho đi. Rồi cũng đến khu vực của phi trường, nơi chúng tôi sẽ bàn giao ông Thiệu, ông Khiêm và những người còn lại trong nhóm họ. Tất cả đèn thình lình tắt ngúm. Trời tối đen như mực. Tôi làm mờ đèn xe đi như được yêu cầu và cứ thế lái trong bóng tối, không nhìn thấy gì.

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu hồi tháng Hai 1975

Bỗng nhiên, ngay phía trước xe, trong bóng tối mù mờ, tôi thấy sếp Polgar đang chạy xuống phi đạo. Xe tôi suýt nữa đụng vào ông. Tôi thắng gấp và mọi người ở đằng sau bay về phía trước, đập vào lưng ghế của tôi. Ông Thiệu và tướng Timmes bị trượt khỏi ghế ngồi. Quang cảnh lúc ấy giống một khúc phim hài, nhưng đồng thời cũng rất khủng khiếp. Tôi xin lỗi, và xe nhích về phía trước.

NGUỒN HÌNH ẢNH,ẢNH TƯ LIỆU

TT Thiệu trong một lần trao tặng huân chương cho ông Hoàng Đức Nhã

Cuối cùng tôi thấy dáng chiếc máy bay đợi đón ông Thiệu, và dừng xe lại. Đại sứ Graham Martin đã đến đây bằng nẻo đường khác, vì chúng tôi không muốn tất cả các vị chức sắc này tụ họp ở cùng một chỗ và cùng bị giết chết, nếu có một cuộc phục kích. Đại sứ Martin đang chờ để nói lời từ biệt với vị tổng thống cuối cùng của đất nước mà chúng tôi ủng hộ. Tướng Charles Timmes ra khỏi xe. Ông Thiệu vươn tay nắm lấy tay tôi, nói bằng thứ tiếng Anh có giọng Pháp. Cảm ơn bạn. Cảm ơn bạn.

Tôi thật xúc động. Biết đâu ông Thiệu chẳng có lúc ngờ rằng tôi có mặt trong chiếc xe đó để giết ông. Ông không thể nào biết chúng tôi là ai, mà chỉ có một lựa chọn là phải tin rằng người Mỹ sẽ cứu và đưa ông đến chốn an toàn. Trên thực tế, nếu chúng tôi giết ông thì cũng giải quyết được vấn đề. Phe cộng sản chỉ muốn ông Thiệu biến mất. Họ không quan tâm là chúng tôi đưa ông di tản hay cho ông ‘nằm đất’. Vì vậy, nếu tôi là ông Thiệu, chắc tôi đã rất lo không biết người đàn ông lái xe này đưa mình đi là ai. Nhưng ông cảm ơn tôi. Tôi không nói gì, nhưng tự hỏi có phải ông cám ơn vì 55,000 người Mỹ đã bỏ mình ở VN? Những ý nghĩ này tôi nhớ rõ, do luôn mang theo mình một cuốn sổ tay, và sau đêm đó, tôi viết ngay xuống những gì đã xảy ra, vì biết mình vừa sống qua những thời khắc của lịch sử.

Sau gần 50 năm giờ ôn lại việc Hoa Kỳ đưa ông Thiệu ra khỏi VN lúc đó, ông có những suy nghĩ gì?

Frank Snepp: Phải nói tôi mãi bị ám ảnh với dằn vặt và hối tiếc. Suy nghĩ lúc đó của Đại sứ Martin, và của Ngoại trưởng Henry Kissinger là sự biến đi của ông Thiệu sẽ giúp họ có được một thỏa thuận với phe cộng sản. Họ tin như vậy bất kể việc Võ Văn Ba, điệp viên giỏi nhất của VNCH, người mà tôi đích thân tiếp xúc, đã cảnh báo họ hai lần, trong hai luần lễ trước đó, rằng phe cộng sản sẽ không thương lượng gì cả, mà sẽ tiến chiếm Sài Gòn kịp để ăn mừng sinh nhật Hồ Chí Minh. Họ bị đối phương lừa ngay từ đầu và tin kẻ thù hơn tin chính người của mình.

Điều này có nghĩa gì? Việc khăng khăng ôm lấy ý tưởng sẽ đạt được một thỏa thuận với Bắc Việt sau khi đưa ông Thiệu ra khỏi VN, đã khiến đại sứ Martin cảm thấy không cần phải có ngay một kế hoạch lớn để di tản một cách có trật tự những người Việt đã làm việc với và trung thành với Hoa Kỳ. Đại sứ đã trì hoãn kế hoạch đó cho đến những phút cuối hoảng loạn.

Chỉ vài giờ sau khi ông Thiệu ra đi, Henry Kissinger nói chúng ta sẽ có ba tuần để tiếp tục sơ tán, rồi sẽ có các cuộc đàm phán, sau đó chúng ta sẽ có một chính phủ liên minh. Graham Martin cũng tin như vậy. Điều đó điên rồ, và rất nhiều người Việt Nam tôi biết đã phải trả giá cho sự điên rồ đó bằng mạng sống của họ. Nhiều người bị giam giữ, nhiều người khác bị giết chết, kể cả đặc vụ giỏi nhất mà chúng tôi có. Nỗ lực đưa ông Thiệu rời VN là một trong những công tác nguy hiểm nhất của CIA ở Việt Nam, nhưng nó là điều vô nghĩa, mà chỉ củng cố cho ảo ảnh là chúng tôi vẫn còn nhiều thì giờ để hành động.

Tôi còn nhớ rõ cảnh ông Thiệu ra khỏi xe bước về hướng máy bay tối hôm ấy. Đoàn tùy tùng của ông làm theo, và tôi cũng ra khỏi xe. Đạn và tên lửa vẫn bay vèo vèo dọc theo vành đai thành phố. Đại sứ Martin không nói gì với ông Thiệu ngoài lời từ giã. Và khi ông Thiệu mất hút vào lòng máy bay, ông đại sứ thình lình bước xuống khỏi thang máy bay, rồi cúi người, nắm lấy chiếc thang (ramp), dựt băng nó ra khỏi chiếc máy bay. Tôi chạy đến hỏi tôi có thể giúp gì ông được không. Không! không! Ông xua tay.

NGUỒN HÌNH ẢNH,FRANK SNEPP’S BOOK

Frank Snepp nhận huy chương trong thời gian phục vụ ở VNCH

NGUỒN HÌNH ẢNH,BETTMANN

Graham Martin là đại sứ Hoa Kỳ cuối cùng tại VNCH bước lên trực thăng rời thành phố Sài Gòn

Tôi nhớ đã nghĩ hình như những gì vị đại sứ Mỹ đang làm là xé đứt chúng tôi khỏi tất cả những gì đã trói buộc nhau trong quá khứ. Ông vừa từ biệt vị tổng thống mà Hoa Kỳ đã ủng hộ trong 5, 6 năm. Mọi hình ảnh trong tôi đến giờ còn rất sống động. Đại sứ Martin lúc đó đeo kính gọng sừng. Trông ông giống như một giáo sư, chứ không giống một vị đại sứ đã chủ trì một trong những khoảnh khắc xấu hổ lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, và chắc chắn là của lịch sử VNCH. Tôi hỏi đại sứ còn cần tôi làm gì nữa không. Ông nói không. Xong rồi. Xong rồi. Xong rồi…

Bài do nhà báo tự do Tina Hà Giang và người quay phim Dân Huỳnh thực hiện cho BBC. Mời quý vị đón xem bài tới về điệp vụ mà Frank Snepp cho là quan trọng nhất của CIA ở Việt Nam trước 1975.

Khinh trí thức

Khinh trí thức

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Hưng Quốc

26-11-2021

Ở giới lãnh đạo Việt Nam, có một nghịch lý: một mặt, họ có vẻ chuộng bằng cấp, ai cũng có vẻ muốn có bằng cấp thật cao và tạo cơ hội cho các cán bộ dưới quyền có bằng cấp thật cao, kể cả bằng giả hoặc bằng dỏm; nhưng mặt khác, họ lại không che giấu được sự khinh bỉ cố hữu đối với trí thức.

Nói “cố hữu” vì nó gắn liền với bản chất giai cấp của đảng Cộng sản. Có lẽ không ai không biết câu ví trí thức với cục phân của Mao Trạch Đông tại cuộc hội nghị văn nghệ ở Diên An năm 1943. Mấy năm sau, câu nói ấy được du nhập vào Việt Nam và được giới văn nghệ sĩ, trí thức học tập ngay những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nhà văn Nguyễn Thành Long kể:

“Khi đọc tài liệu Văn nghệ Diên An của Mao Trạch Đông, tôi còn nhớ nguyên văn một câu gây ấn tượng dai dẳng trong tôi: ‘Trí thức là cục phân’. Chúng tôi phải tin theo điều này và tự phủ nhận bản thân mình.” (Phong Lê (chủ biên) (1995), Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học 1945-1854, Hà Nội: nxb Khoa học xã hội, tr. 527)

Nhìn lại lịch sử Việt Nam từ năm 1945, đặc biệt, từ 1954 về sau, người ta có thể dễ dàng tìm thấy vô số bằng chứng về chính sách đối xử tàn tệ đối với giới trí thức, kể cả những trí thức được coi là cực kỳ xuất sắc, là những niềm tự hào hiếm hoi mà dân tộc Việt Nam có được. Thì cứ nhìn lại cuộc đời của Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997), Trần Đức Thảo (1917-1993), Đào Duy Anh (1904-1988) và Trương Tửu (1913-1999) mà xem. Có thể nói họ là bốn đỉnh cao trong lãnh vực khoa học xã hội và nhân văn trước cách mạng tháng Tám.

Người đầu tiên nổi tiếng là học giỏi (22 tuổi có hai bằng tiến sĩ ở Pháp) và là luật sư giỏi; người thứ hai được xem là triết gia duy nhất có tầm vóc quốc tế của Việt Nam cho đến thời điểm này; người thứ ba, bằng con đường tự học, trở thành một dịch giả, một sử gia, một nhà từ điển học và văn hoá học lừng lẫy; còn người cuối cùng là một nhà phê bình và lý thuyết văn học vừa uyên bác vừa tài hoa. Vậy mà, suốt mấy chục năm, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tất cả đều bị hắt hủi, thậm chí, dập vùi một cách vô cùng tàn bạo. Họ không những đói, khổ mà còn bị nghi ngờ và khinh bỉ. Công việc duy nhất mà một vài người trong họ có thể làm được là dịch thuật. Nhiều khi dịch mà vẫn không được phép ghi tên trên tác phẩm mình dịch.

Tất cả chỉ được khen ngợi sau khi… chết.

Khi khen ngợi, người ta cũng tảng lờ đi những năm tháng họ bị ruồng rẫy.

Và người ta cũng tảng lờ đi là, cho đến sau này, nhiều tài năng khác, hay trí thức nói chung, vẫn tiếp tục bị khinh rẻ.

May, không phải ai cũng tự lừa mình hay lừa người khác như vậy.

Đã có nhiều người lên tiếng. Trước, lên tiếng ở những chỗ riêng tư. Sau, dần dần, họ lên tiếng một cách công khai.

Người lên tiếng nhiều và cay đắng nhất có lẽ là nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh. Ông nói đi nói lại nhiều lần. Một lần, trong bài viết “Phê bình văn học trong trong tình hình mới” đăng trên báo Văn Nghệ (Hà Nội) số ra ngày 29-8-1987, ông viết: “Người ta thích nói một cách chung chung, nền văn học của ta đã trưởng thành, văn nghệ sĩ của ta là những chiến sĩ, những anh hùng, nhưng đối với văn nghệ sĩ thì coi như con nít”. Lần khác, trong một cuộc hội thảo bàn tròn do báo Văn Nghệ tổ chức cũng được tường thuật trên số báo vừa dẫn, ông lại nói: “Nhà văn cũng bị coi là con nít: sợ họ hư nên người ta thích bật đèn đỏ, đèn vàng, chứ ít khi bật đèn xanh cho văn nghệ phát triển.” Lần khác nữa, trong buổi họp mặt giữa Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng bí thư đảng, với khoảng 100 văn nghệ sĩ Hà Nội, vào tháng 10 năm 1987, Nguyễn Đăng Mạnh phát biểu: “Lãnh đạo khinh bỉ sâu sắc văn nghệ sĩ.”

Sau này trong cuốn Hồi ký được phổ biến rộng rãi trên internet, Nguyễn Đăng Mạnh lại lặp lại ý kiến ấy khi nói đến sự kiện một số cán bộ lãnh đạo sử dụng một số cây bút đàn em để đánh phá những văn nghệ sĩ và học giả mà họ không thích:

“Trình độ văn hoá, trình độ nhận thức thấp tất đẻ ra lối lãnh đạo văn hoá một cách thô bạo. Chẳng hiểu gì cả mà dám can thiệp sâu vào chuyên môn […]. Và họ khinh bỉ trí thức đến thế là cùng: không mời tôi và bất cứ một nhà nghiên cứu văn học nào đến để tham khảo ý kiến.”

Liên quan đến chuyện khinh bỉ giới trí thức, những lời kể của Vũ Thư Hiên trong cuốn “Đêm giữa ban ngày” về Đinh Đức Thiện, em ruột của Lê Đức Thọ, khá thú vị:

“Trong cuộc đời không dài Ðinh Ðức Thiện đã giữ những chức vụ rất quan trọng – bộ trưởng Bộ Cơ khí và Luyện kim, Trưởng ban xây dựng Khu gang thép Thái Nguyên, Phó chủ nhiệm Tổng cục hậu cần, Tổng cục trưởng Tổng cục dầu khí, hàm thượng tướng. Ông ít học. Trình độ học vấn không quá bậc sơ đẳng. Thế nhưng Ðinh Ðức Thiện khinh trí thức lắm. Ông hạ lệnh cho các kỹ sư điện tính toán thời hạn lắp đặt đường dây cao thế Thái Nguyên – Hà Nội. Họ tính kỹ rồi báo cáo lên Ðinh Ðức Thiện: không thể dưới hai năm. Ông ta nghe xong liền nổi khùng: ‘Rặt một lũ ăn hại đái nát! Làm chó gì mà mất những hai năm. Tôi mà ra lệnh cho công binh làm ấy à, chỉ hai tháng là cùng. Tính với chả toán, tính như con c… Các anh lúc nào cũng cúi đầu làm theo sách vở của bọn thực dân đế quốc. Vào rừng chặt cây về mà làm cột, mắc điện vào. Là xong. Trí thức với chả trí ngủ!’ Người kể lại chuyện này là một kỹ sư tốt nghiệp Cao đẳng kỹ thuật thời Pháp, hôm ấy được nghe Ðinh Ðức Thiện trực tiếp quát mắng.

[…]

“Có một thời sự thiếu học được coi là niềm tự hào – người ít học là người có quá khứ trong sạch, không dính với thực dân, phong kiến. Ðinh Ðức Thiện tự hào về sự thiếu học của mình lắm. Ông vỗ ngực đồm độp: ‘Xem tao đây này, tao chẳng có cái bằng chó nào hết, thế mà tiến sĩ kỹ sư sợ tao một phép. Chúng nó ỷ có học, nhưng học gì lũ chúng nó, học vẹt ấy thì có, rời sách vở ra là chịu chết. Trí thức mà không có thực tế chỉ là cục c… Chính tao này, tao chỉ đạo kỹ thuật cho chúng nó, chứ ai? Nghe cái bọn quen bơ thừa sữa cặn ấy chỉ có mà ăn cháo, ăn cháo!’’

Đọc xong câu chuyện ấy, tự dưng tôi nhớ đến câu chuyện do Huỳnh Thúc Kháng kể trong cuốn “Thi tù tùng thoại”: Khi bị giam ngoài Côn Đảo, ông và một số người khác – toàn là dân khoa bảng chống Pháp – bị bắt đi đập đá. Thấy mọi người làm việc vụng về, tên cai ngục, vốn là một đứa vô học, cầm roi gõ vào đầu từng người hỏi: “Mày làm gì?” Người kia đáp: “Dạ, Cử nhân.” Hắn quất cho một roi, rồi nói: “Cử nhân nè!” Hỏi người khác: “Mày làm gì?” Đáp: “Dạ, Tiến sĩ” Hắn quất cho một roi và nói: “Tiến sĩ nè!”

Cứ thế, hết người này đến người khác.

Đau xót, Huỳnh Thúc Kháng làm bài thơ:

Tấn sĩ nhỉ hà vật
Ngôn ngữ thái ngạo mạn
Tặng nhỉ nhứt trường tiên
Sử tri ngã thủ đoạn

Ông tự dịch:

Tiến sĩ là cái gì
Ăn nói rất vô lễ
Cho mày một ngọn roi
Mày biết tay tao nhé!

Đọc, cứ tưởng như chuyện hài hước.

Vậy mà chúng có thực. Có thực, thời Pháp thuộc. Có thực, thời cách mạng. Và không chừng cũng có thực, cả đến tận bây giờ nữa.

TRÒ CHUYỆN VỚI “THÁNH RẮC HÀNH”, TRƯỚC GIỜ NHẬN GIẤY TRIỆU TẬP LẦN 3

Lê Vi

TRÒ CHUYỆN VỚI “THÁNH RẮC HÀNH”, TRƯỚC GIỜ NHẬN GIẤY TRIỆU TẬP LẦN 3

*****

Người chủ quán bún bò có tên Ba Cô Gái ở Đà Nẵng không bao giờ tin nổi mình có một đoạn đời kỳ lạ như hôm nay. Anh nói giờ thì không chỉ phải phục vụ số lượng khách đông bất ngờ so với hàng ngày, mà còn phải làm việc với công an về những giấy triệu tập mà anh hoàn toàn không biết mình có vai trò gì trong cuộc điều tra như thông báo.

Dân ở Đà Nẵng bàn tán, và nhắn cho nhau số 21/1 đường Ông Ích Khiêm, nơi có quán Bún Bò Huế lừng danh một cách bất đắc dĩ này để xem mặt ông chủ Bùi Tuấn Lâm, hay còn gọi là Peter Lâm Bùi – cách gọi của bạn bè anh. Nói với báo @Saigon Nhỏ, anh Lâm nói sau một vài ngày khi câu chuyện của anh lan rộng trên mạng, khách đến ăn đột nhiên tăng bất ngờ.

“Ngày thường thì đến trưa mới hết hàng, rồi tôi cùng gia đình dọn dẹp, nhưng vài ngày sau sự kiện ‘rắc hành’ của tôi, khách đến rất đông. Mọi người rất thân thiện và chào tôi như quen từ trước, có những người lại vỗ vai tôi, nói cố lên. Có người nói sẽ luôn ủng hộ tôi với tình trạng hiện nay. Bối rối hơn, lại còn có những người đến xin chụp ảnh chung và nói rất vui được biết mình, làm mình bối rối lắm”, anh Lâm Bùi cười và nói.

Anh Lâm, được những người hài hước trên mạng Facebook, gọi là “Thánh rắc hành”, do anh có lối phục vụ thực khách vui nhộn, qua việc nhại lại động tác của tay đầu bếp nổi tiếng người Thổ Nhĩ Kỳ Nusret Gökçe khi rắc muối lên món thịt bò đắt tiền mà cả thế giới đều biết. Anh Lâm rắc hành, như một động tác cuối cùng để mang tô bún đến thực khách và chúc ăn ngon. Anh Lâm không chỉ làm một lần, mà nhiều lần như vậy trong ngày, bao gồm cả khi anh gửi tặng những phần ăn miễn phí cho người nghèo đến tìm anh. Quán Bún Bò Huế Ba Cô Gái được biết mỗi ngày đều tặng cho những người nghèo, người già trong vùng quá bước, trong chương trình của gia đình anh tạo ra, gọi là “Chủ nhật yêu thương”.

“Có những ngày khó khăn, tôi gửi đến 50-70 phần nhưng vẫn không xuể”, anh Lâm kể. Quán của “Thánh rắc hành” bán buôn như vậy thì không thể làm giàu. Nhưng gia đình anh Lâm vui với điều đó. Vợ anh, chị Thanh Lâm và ba đứa con gái nhỏ đều tự hào và vui với những gì mà gia đình mình sống và cho đi như vậy. Họ giàu có theo một cách khác.

Trước năm 2021, anh Lâm mở quán gà rán để độ nhật, thế nhưng dịch bệnh bùng phát, sau một thời gian dài quay lại, anh Lâm khai trương món Bún Bò Huế, và câu chuyện của anh lại nổi trôi theo chuyện “Thánh rắc muối” Nusret Gökçe, biệt danh là Salt Bae. Ngày 5 Tháng Mười Một, một đoạn video được tung ra, mà theo đó, giới thạo tin cho biết đó là các vị lãnh đạo cao cấp của công an Việt Nam đến thưởng thức món bò đắt đỏ thuộc hàng nhất thế giới. Tờ Daily Mail giật tít “Vietnamese communist official is caught being ‘hand-fed £1,450 gold-covered steak at Salt Bae’s London restaurant” – tạm dịch “Quan chức cộng sản Việt Nam bị bắt quả tang được đút thịt bò dát vàng giá 1450 bảng ở quán của Salt Bae tại London”.

Gần như khắp thế giới đều đưa tin. Dư luận trên mạng của Việt Nam rộn ràng những phân tích từ một phía, nói rằng đó là video cắt ghép của thế lực thù địch với nhà nước Việt Nam và với bản thân Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an, nhân vật chính trong video. Thế nhưng, tiếc là khoảng 1000 tờ báo, truyền hình của nhà nước lại hoàn toàn im lặng, không nói gì, khiến dư luận lại ngày càng nhiều hơn, với đủ các kiểu bình luận.

Năm ngày sau khi anh Lâm giới thiệu video “rắc hành” của mình, với mục đích vui nhộn và giúp tăng thêm khách đến ăn, anh nhận được giấy triệu tập lên làm việc với công an.

Trên trang Facebook mình, anh Lâm cùng vợ có ghi lại cảnh trao đổi với hai người công an, mà về sau sự căng thẳng ngày càng tăng. Anh Lâm chỉ yêu cầu là giấy triệu tập cần có đủ nội dung rõ ràng, để anh biết anh là kẻ tình nghi phạm tội, hay là đến với tư cách nhân chứng giúp đỡ thêm cho một cuộc điều tra. Thế nhưng công an từ chối, nói là họ không thể tiết lộ bí mật của công việc. “Cơ quan công an cần phải nói rõ là tôi đang bị triệu tập cụ thể về chuyện gì, việc triệu tập một công dân mà chỉ nói chung chung là “phục vụ công tác điều tra” thì không được. Tôi không chống đối gì hết nhưng một cơ quan pháp luật cần thể hiện việc thượng tôn pháp luật”, anh Lâm nói, “tôi cũng tham khảo với nhiều luật sư bạn, tất cả mọi người đều nói rằng công an làm chưa đúng. Luật sư dặn việc đòi hỏi là đúng quyền của mình trong luật pháp quy định, còn phần họ có bất chấp hay không thì mình không thể đoán”.

Trên thực tế, anh Lâm biết bản video “rắc hành” của anh bùng lên, ngẫu nhiên trong lúc này, chỉ khiến công an khó chịu thêm về cái cách từ chối lệnh triệu tập của anh, chứ thật ra, chuyện còn nhiều nguyên nhân được đồn đoán khác.

Rất nhiều người biết đến cái tên Peter Lâm Bùi vào giai đoạn đầu những năm 2010-2015 trong các phong trào phản đối Trung Quốc xâm lược và giết hại ngư dân. Đặc biệt năm 2014, khi Bắc Kinh đặt giàn khoan lớn HD981 trên biển Đông, lấn vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Peter Lâm Bùi là một cái tên xuất hiện trên nhiều tin tức về người yêu nước Việt Nam xuống đường, kêu gọi bảo vệ chủ quyền đất nước. Sau đó, anh Lâm lập gia đình và chuyển sang hoạt động từ thiện.

Tin cho hay, một trong những nhánh điều tra từ công an Hà Nội về chị Nguyễn Thúy Hạnh là muốn tìm hiểu về Peter Lâm Bùi, xem có phải anh từng nhận chuyển tiền giúp cho ai, từ quỹ 50K của chị Nguyễn Thúy Hạnh. Chị Hạnh, người sáng lập “Quỹ 50K”, và là người vận động phúng điếu cho cụ Lê Đình Kình, người bị sát hại ở làng Đồng Tâm về một vụ tranh chấp đất đai. Chị Hạnh vẫn bị giam giữ để điều tra ở Hà Nội từ đầu Tháng Tư 2021, mà theo ngôn luận nhà nước từng phát đi trên truyền hình là chị Nguyễn Thúy Hạnh “tài trợ cho khủng bố”.

“Với tôi, chị Nguyễn Thúy Hạnh là một người đáng kính trọng. Những việc làm của chị ấy không có gì sai cả. Và giả như lúc này tôi nhận được nguồn tiền từ quỹ của chị Hạnh để nhờ gửi, giúp đỡ cho những ai đang khó khăn thì tôi cũng sẽ không từ chối. Việc làm đó không có gì gọi là sai với pháp luật cả” – anh Peter Lâm Bùi nói.

“Theo luật pháp Việt Nam, khi nhận được giấy triệu tập lần thứ ba thì cơ quan an ninh đã có quyền cưỡng chế, tức bắt mình mang đi. Tôi cũng không rõ trong giấy triệu tập lần thứ ba này, công an có ghi rõ là muốn làm việc với tôi về việc gì hay không. Tuy nhiên một khi họ đã quyết cưỡng chế, bắt đi thì tôi không thể đòi hỏi gì được lúc đó”. Anh Lâm nói.

“Tôi thấy mình không có gì để lo ngại, và chờ đón sự việc sẽ đến, dẫu ra sao. Chỉ xin tất cả anh chị em đã biết tôi, xin hãy dành chút thời gian chia sẻ với vợ con tôi, nếu tôi không còn được tự do”, anh Lâm ngừng một chút, rồi nói nhanh như vậy.

Lúc này, số người quan tâm đến trường hợp của anh Peter Lâm Bùi có vẻ nhiều hơn mức bình thường. Quán bún của anh chỉ tạm nghỉ hai ngày 19 và 20 Tháng Mười Một nhưng dân mạng lập tức nhắn với nhau rằng không hiểu vì sao quán của anh lại đóng cửa. “Tôi cảm thấy mệt mỏi nên tạm nghỉ hai ngày, rồi sẽ bán lại, không có gì đâu”, anh Lâm giải thích khi có thực khách nhắn hỏi với vẻ lo lắng.

Ở Việt Nam, lâu nay, những người từng xuống đường chống Trung Quốc hoặc tham gia các hoạt động xã hội dân sự luôn kể về các kinh nghiệm, cho biết rằng cuộc đời của họ thường không bình yên sau khi đã hành động với lẽ phải và sự thật. Công an địa phương thường phục lẫn không thường phục thường xuyên quấy rầy những người như vậy. Có những người đã chọn cuộc sống im lặng, để chăm sóc gia đình nhưng họ vẫn không nhận được sự đối đãi đúng mức như đối với một công dân bình thường. Việc chứng nhận giấy tờ, xin cho con đi học, thuê nhà… luôn luôn gặp trở ngại với những ánh mắt xem họ như là một “thế lực thù địch”.

Câu chuyện của anh Peter Lâm Bùi có vẻ tiềm ẩn những rắc rối, nhiều hơn hình ảnh vui vẻ “Thánh rắc hành” mà mọi người đang nghĩ. Đôi khi chọn sống đúng với luật pháp và lương tâm, cũng chưa hẳn là cách tốt nhất để tồn tại ở Việt Nam, như anh Lâm cùng gia đình tin và hy vọng.

Nguồn: Saigon Nhỏ

Mặt nạ Cộng Sản thực sự đã rớt

Mặt nạ Cộng Sản thực sự đã rớt

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sẵng (Danlambao) – Hôm 5 tháng 11, năm 2021, tin tức trên Facebook, nhiều trang thông tin Tiếng Việt, kể cả những hãng thông tấn nước ngoài chạy tin nóng, hàng đầu về việc ông Tô Lâm ăn miếng thịt bò có vát vàng do người đầu bếp nổi danh được chính tay “Thánh rắc muối” Salt Bae chế biến và đút cho ăn món bò dát vàng trị giá lên đến 45 triệu đồng/phần trong một nhà hàng của ông này ở Luân Đôn.

Cư dân mạng đồng thời đưa lên một hình ảnh rất tương phản, vị Tổng Thống của cường quốc Mỹ, Obama khi thăm viếng Việt Nam, chỉ ngồi trong tiệm bình dân ăn món Bún Chả rẻ tiền.

Một hình ảnh khác cũng được Cư Dân Mạng đem ra so sánh. Tổng Thống Trump của siêu cường Hoa Kỳ, dùng bữa trưa với chiếc bánh Hamberger, khoai lang chiên và lon cô ca.

Nhìn 3 bức hình, dù ai vô cảm đến đâu cũng thấy thương cảm cho thân phận người Việt Nam quá đổi bi thương, trong khi lãnh đạo của họ luôn tuyên bố vì dân, suốt đời tranh đấu cho dân mà ăn bữa ăn tốn khoảng 45 ngàn đô la.

Sự mỉa mai đến cùng cực, dù có tài hùng biện như Tô Tần cũng không thể biện mình cho chế độ tàn bạo, vô lương nầy được.

Không biết cơ man bình luận với lời lẽ mạt sát ông Tô Lâm và thẳng tay lên án chế độ Cộng Sản Việt Nam.

Duy nhất chỉ có đảng Cộng Sản Việt Nam chưa lên tiếng, dù vụ việc đã xảy ra gần hai ngày.

Lên tiếng gì trước sự kiện dân, nhân công thất nghiệp đang ùn ùn bỏ về quê tìm cách sống tạm bợ qua ngày, nhưng ông Bộ Trưởng Bộ Công An của chế độ, ăn bữa ăn trị giá 22 tấn lúa, có thể nuôi sống hằng ngàn người đang đói khổ, lây lất để sống tạm bợ.

Một chế độ tự hào là phục vụ Công Nông, nhưng không hề liếc mắt dòm người nông dân, công nhân đang lê lết đầu đường, xó chợ tìm những thứ có thể đút vào miệng cho đỡ đói, mà không cần biết đến chất lượng, tình trạng vệ sinh của vật mà họ bỏ vào miệng mình.

Chua chát đến tận cùng, người lãnh đạo của đảng lại ung dung hưởng nuốt miếng thịt bò có giá trị 22 tấn thọc mà dân cần trong cơn đói.

Họ từng tuyên truyền là đầy tớ nhân dân, họ xả thân làm cách mạng để Cứu Dân, Cứu Nước.

Chiếc mặt nạ đã bị tự chính họ vứt xuống đất, và vô phương vãn hồi, nếu có chăng là họ tiếp tục dùng bàn tay sắt để đàn áp khốc liệt hơn để trấn áp sự bất bình từ dân, nhưng càng trấn áp, sức bật của dân càng mạnh lên. Đó là định luật và rồi Máu của Người Việt Nam sẽ chảy nhiều hơn, hận thù càng chất ngất và Chế Độ Cộng Sản Cũng Phải Sụp Đổ.

Ông Trọng và Bộ Chính Trị sẽ làm gì?

Theo thiển kiến, họ sẽ đưa ra biện pháp kỷ luật với ông Tô Lâm, nhưng Không Thể xoá tan sự phẩn uất trong lòng dân và uy tín đảng hầu như tiêu tan vì sự lừa dối không bao giờ phục hồi dù 30 phần trăm. Tôi nghĩ kể cả đảng viên công sản cũng không bao giờ tin vào đảng như khi xưa họ đã từng sinh Bắc tử Nam để Giải Phóng Miền Nam. May ra, còn bọn Lợi Dụng đảng để vinh thân, họ còn ở lại để tìm cơ hội riêng, nhưng niềm tin thì chắc chắn là không.

Vấn Nạn bao giờ cũng có Cơ Hội đi bên cạnh. Những người lãnh đạo cao cấp nhất của đảng nên để vài giây nghĩ đến tương lai đất nước và sự an ninh của bản thân và gia đình, nên có vài hành động cấp thời và quyết liệt, xin có vài đề nghị sau đây:

  1. Kỷ Luật thích đáng Tô Lâm để trấn an tinh thần dân chúng, vớt vát uy tín đảng.
  1. Đưa ra kế hoạch Dân Chủ Hoá Đất Nước có thời hạn rõ ràng.
  1. Xử dụng những nhân tài còn lại trong nước thay thế bọn Vá Áo Túi Cơm, lợi dụng uy quyền hà hiếp, bóc lột dân.
  1. Ấn định thời hạn cho cuộc Bầu Cử Quốc Hội có sự giám sát quốc tế, từ đó lập ra Thượng Hội Đồng Điều Hành Quốc Gia, đi đến Bầu Cử Tổng Thống.
  1. Thành tâm Hoà Giải với người dân trong nước để đi đến Hoà Hợp Dân Tộc.
  1. Giải tán đảng Cộng Sản.

Làm được vài điều căn bản trên đây, hy vọng làm vơi đi sự phẩn uất của toàn dân, tránh được cuộc đổ máu trong tương lai khi chế độ Cộng Sản Sụp Đổ.

Nhớ rằng Không có chế độ nào tồn tại muôn đời, chỉ có Dân Tộc là trường tồn.

Người Cộng Sản phải bình tâm, sáng suốt để tránh Tổn Thương cho Dân Tộc. 

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sẵng

danlambaovn.blogspot.com

Rắc những đau thương…

Lê Vi

Rắc những đau thương…

Phạm Minh Vũ

Mạng xã hội lại dậy sóng chuyện “rắc muối”, khi công an Đà Nẵng đến triệu tập một người, từng làm clip “rắc hành” vào tô bún bò.

Tưởng chuyện ăn bò dát vàng của Tô Lâm đã yên, nhưng nó lại được đào bới, và người ta lại chế nhạo tiếp tục hình ảnh há mồm của Tô Lâm lúc Lâm ăn bò ở Anh.

Sự khinh bỉ của người Dân dành cho Tô Lâm đã được người Dân nhắc đi nhắc lại khi mà người Dân trong nước tới cơm không có mà ăn, vậy mà quan chức tầm cỡ như Lâm lại ngang nhiên nuốt miếng bò dát vàng tận xứ Tây với nụ cười khả ố, nhìn nó đểu cáng vô cùng. Mỉa mai hơn, trước đó Lâm lại đi thăm và dâng hoa tới ông tổ cộng sản Các – Mác, người cả đời lên án chủ nghĩ bóc lột.

Nơi Lâm và đám đệ tử ăn uống xa xỉ ấy, thật đau xót là nơi nơi hơn 2 năm trước, 39 người Việt Nam đã chết ngạt, chết lạnh cứng trong thùng xe đông lạnh khi cố vượt biên vào nước Anh để kiếm miếng ăn.

Nơi người Việt Nam bỏ mạng không chỉ một hoặc hai mà tận 39 người một lúc, mà Tô Lâm cùng đám đàn em tới thể hiện sự xa xỉ thì sự trơ trẽn nào bằng?

Như đây, mới đây trên báo Lao Động ghi lại một bữa cơm của học sinh một xã ở huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Thức ăn của các em là ốc mò dưới ruộng, là lá mì, là sâu đất đào đâu đó trong rừng.

Nhìn những khuôn mặt ngây thơ của các em, bên cạnh thức ăn chính là thứ săn bắt hại lượm được, và một bên là đám quan chức tụ tập ăn nhậu ở tận trời Tây với bữa ăn hàng chục ngàn đô la, ai chỉ cho tôi biết đâu mà bình đẳng? Và xa hơn đâu là lý luận Do Dân, vì Dân? Hay xa nữa đâu là vì ươm mầm cho tương lai Việt Nam? Hay tất cả những khẩu hiệu nổ vang trời ấy, tất cả là màu hồng để tô vẽ cho sự ngạo nghễ vĩ đại của bọn cầm quyền bất nhân, và vì chính bản thân của những kẻ cầm quyền?

Nhìn cảnh đầu bếp nổi tiếng người Thổ trên tay làm động tác rắc muối, và miếng bò dát vàng đút vào mồm Tô Lâm nó khác gì rắc vào vết thương đang rỉ máu trên đất Mẹ Việt Nam, nơi mà bắt ốc đào sâu để ăn hàng ngày?

Rắc muối hay rắc những nỗi đau?

 Phạm Minh Vũ

Tòa án của tỉnh Khánh Hòa hôm 15/11 tuyên án 7 năm tù giam đối với ông Nguyễn Trí Gioãn

VOA Tiếng Việt posted a video to playlist Thời sự Việt Nam 2021.

Tòa án của tỉnh Khánh Hòa hôm 15/11 tuyên án 7 năm tù giam đối với ông Nguyễn Trí Gioãn, 42 tuổi, sau khi tòa đi đến kết luận rằng ông phạm tội “làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”, báo chí trong nước loan tin. Xem thêm: https://bit.ly/3wN7Cem

(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link https://bit.ly/VOATiengViet1 hoặc https://bit.ly/VOATiengViet2 để vượt tường lửa)

Thời Tan Rã

Thời Tan Rã

Tưởng Năng Tiến

 “Bạn từ đâu đến”? (“Where do you come from”?) là câu hỏi mà tôi vẫn thường nghe trong những tháng ngày lưu lạc. Dù tha hương gần cả cuộc đời, tôi luôn luôn đáp rằng mình từ nước Việt: I’m from Vietnam!

Nếu trả lời khác đi và đúng với thực trạng (I’m from California) thì rất có thể tôi sẽ nhận được ánh mắt, cùng với nụ cười thân thiện hơn của tha nhân. Tuy biết vậy nhưng tôi không muốn chối bỏ quê hương, dù không hãnh diện gì (lắm) về cái đất nước khốn cùng mà mình đã đành đoạn bỏ đi từ khi tóc hãy còn xanh.

Sống tha phương cầu thực – tất nhiên – không thiếu những phút giây tủi thân/ tủi cực hay tủi nhục, hoặc cả ba. Thêm (hay bớt) vài cái nhìn dè bỉu/khinh chê của thế nhân đâu phải là chuyện đáng để bận tâm.

Tôi vẫn thường nhủ lòng như thế. Ấy thế mà vẫn không tránh khỏi đôi chút mủi lòng khi nhìn thấy dăm ba đồng hương, đang lui cui nhặt nhạnh rác rưởi, trên hè phố nơi quê người đất khách: 

Bỗng nhiên hiện ra trước mắt ba người một bãi rác khổng lồ. Tủ đứng, tủ nằm. Xa lông. Máy giặt. Nồi cơm điện cũ. Rồi ghế xoay. Bá ngồi ngay lên chiếc ghế xoay. Xoay một vòng. Bốn bánh xe dưới chân đưa anh đi một quãng. Chà chà. Thật mê ly. Có cái ghế xoay này đặt trong nhà ngồi thư giãn, xem sách, đọc báo hay nghe nhạc thật tuyệt vời. Bảo đảm cả thành phố không ai có.

Đang thả tâm hồn bay bổng, nhìn theo Đay và Niệm đi sâu hơn nữa vào bãi rác, bỗng nghe tiếng reo, anh giật mình đứng lên bước nhanh về phía họ: Một đống quạt bàn hiện ra trước mắt.

Cái nào cũng còn nguyên bảo hiểm, cánh, cả giây và phích điện dù có chiếc bảo hiểm đã rỉ và bầu thì đã tróc sơn. Chỉ nhìn nét mặt họ, anh cũng biết anh không có phần ở đống quạt cũ này. Vì lúc họ tìm ra, anh không có mặt, anh còn đang đu đưa với chiếc ghế xoay. Cái ghế xoay chết tiệt! Đay cùng anh thuỷ thủ nhặt quạt bàn xếp thành một hàng rồi tìm ra một chiếc gậy gỗ xâu gần chục chiếc quạt lại.

Thật sung sướng khi nghe Niệm nói: “Phần ông Bá một chiếc, thôi, cứ xâu cả vào đây, khiêng về tầu, ông ấy lấy sau.”

Thật là một tấm lòng vàng. Cái quạt tai voi nhà anh cũ quá rồi. Khi chạy cứ long lên sòng sọc như muốn rời ra. Hai người khiêng quạt đi trước, Bá vác cái ghế xoay đi sau. Phải mang chiếc ghế này về. Vì nó quá sang trọng, quá tuyệt vời. Hơn nữa nó còn là nguyên nhân làm anh thất bát ít ra hai chiếc quạt!

Khiêng vác trên vỉa hè, gặp người Nhật và cả những người mắt xanh mũi lõ sải bộ trên hè, không ai bảo ai cả ba đều cúi gầm mặt. Niệm kêu to, trấn an bạn và cũng là để trấn an chính mình:

– Làm đéo gì mà xấu hổ. Họ biết mình là ai…

Rồi trừng mắt hỏi Bá:

– Ông là người nước nào. Tôi là người Ma lai xi a. Quốc tịch Ma lai xi a chính hiệu.

Đay cười nhạt:

– Thôi. Cứ nói Căm pu chia cho xong. Dân Mã lai nó đếch thèm những thứ này đâu. Sang đây mới thấy mình là cuối hạng người…

Ấy thế mà khi về đến Việt Nam chúng mình lại là nhất. Chúng mình là đầu hạng người. Ai nhìn chúng mình cũng nể. Ai cũng thèm được như chúng mình. Chúng mình chon von chót vót…

Ngay chuyến này thôi, với những ngày vắng mặt ở Việt Nam để đi sang nước Nhật này, trở về với mấy món hàng cũ trong tay, anh thực sự ở một mặt bằng khác, một nấc thang giá trị khác, một tầng lớp khác, một tầm cao khác. Đúng. Chỉ cần vắng mặt ở Việt Nam ít ngày thôi rồi trở về, anh đã là một con người khác” (Bùi Ngọc Tấn. Biển Và Chim Bói Cá. Hội Nhà Văn. Hà Nội: 2008, 458 – 461)

Bốn năm sau, sau khi tác phẩm thượng dẫn được xuất bản – trong một buổi trò chuyện với thông tín viên Mặc Lâm (RFA) vào hôm 15 tháng 4 năm 2012 – tác giả tâm sự: “Đây là quyển tiểu thuyết sử thi thời sự tan rã. Tan rã trong hệ tư tưởng, tan rã trong quan hệ sản xuất, nghĩa là tan rã trong ý thức hệ, tan rã trong  quan hệ giữa người với người.”

Bùi Ngọc Tấn giờ không còn nữa. Điều ông khẳng định về sự băng rã (và băng hoại) ở đất nước mình nay đã được nhận rõ ở bình diện quốc gia. Những ngày qua, giới báo chí nhà nước đồng loạt và hớn hở loan tin:

Qua một cuộc phỏng vấn dành cho giới truyền thông trong nước, ông Vũ Anh Minh – Chủ Tịch Hội Đồng Thành Viên Tổng Công Ty Đường Sắt Việt Nam (VNR) – khẳng định: “Nếu không có lợi thì chúng tôi đã không đề xuất. Lợi ở đây không phải là với doanh nghiệp tư nhân chỉ tính hiệu quả kinh tế của đồng vốn, mà đây chính là lợi ích cho Nhà nước…”

Thật là quí hóa! Quan chức mà ai cũng “vô vị lợi” như ông Vũ Anh Minh thì cái lò của ông Nguyễn Phú Trọng đã tắt ngúm từ lâu. Điều đáng tiếc là quan điểm “vị tha” (và “vị quốc gia”) của ông ta, xem ra, không được dư luận đồng tình.

Nhà báo Lưu Trọng Văn góp đôi lời bàn (ra) không thân thiện lắm:

Đường sắt là hình ảnh kinh tế hàng đầu như hàng không, tàu biển, để thế giới nhận diện độ tin cậy và xu hướng phát triển của Kinh tế VN và phẩm chất chế độ của VN để họ có nên đầu tư kinh doanh hay không. Việc VN xin rồi cải tạo đồ phế thải 40 năm và việc Chính phủ VN nếu chấp nhận thì sẽ là cú đánh cực mạnh vào uy tín nền kinh tế VN và uy tín quản trị của đảng cầm quyền VN.

Nỗi lo ngại về “uy tín của đảng” (cái Đảng đã từng đánh thắng liên tiếp mấy đế quốc to) của Lưu Trọng Văn, tất nhiên, hoàn toàn chính đáng. Tuy thế, nhà báo Nguyễn Thông lại còn bầy tỏ sự quan ngại (đáng ngại) hơn thế nữa cơ:

Trước năm 1975, nghèo đói, lạc hậu, chậm phát triển, một phần do chiến tranh đã đi một nhẽ (ấy là chỉ nói ở miền Bắc cắm đầu theo chủ nghĩa xã hội, chứ miền Nam không hẳn vậy, dù cũng chiến tranh), nhưng từ khi đất nước thống nhất tới giờ, các ông các bà làm gì suốt gần nửa thế kỷ để vẫn loay hoay giảm nghèo bền vững.

Nước Nhật người Nhật chỉ cần hơn 20 năm, còn các ông bà định kìm hãm nước này dân này tới bao giờ. Mấy chục toa tàu hàng bãi mà họ vứt bỏ, còn ta định lôi về không phải chỉ đơn giản chuyện cũ người mới ta, mà cao hơn sâu hơn, ẩn chứa sự hổ thẹn, ô nhục về khả năng cầm quyền, lãnh đạo.

Những hạn từ “hổ thẹn” và “ô nhục” trong đoạn văn trên khiến tôi nhớ đến một bài báo cũ (“Đi Nước Ngoài ‘Thoải Mái’ Như Ở Tổng Công Ty Đường Sắt Việt Nam”) đọc được trên trang Dân Trí, vào hôm 01/09/2016.  Xin phép trích dẫn đoạn mở đầu:

“Từ năm 2010 đến hết năm 2013, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam tổ chức 188 đoàn đi nước ngoài với tổng số tiền chi gần 14 tỷ đồng, trong đó có 23 đoàn đi không có văn bản mời hay hợp đồng học tập với phía đối tác. Kiểm tra hồ sơ 5 đoàn đi nước ngoài năm 2012 – 2013 thì cả 5 đoàn đều hợp đồng qua các công ty du lịch trong nước (theo tour) với nội dung ‘tham quan, học tập.”

Giá mà trong 188 đoàn đi nước ngoài này mà có vài người được chỉ định chuyên học tập cách tự sát – hara kiri – của người Nhật Bản (khi họ không làm tròn trách nhiệm được giao phó, hay danh dự bị tổn thương) để chỉ dạy cho giới lãnh đạo Việt Nam thì “uy tín của đảng cầm quyền” – chắc chắn – sẽ lên cao ngất!

Tưởng Năng Tiến
11/2021

Hôm nay giỗ 42 năm Cha Giáo Gioan Baotixita Trần Học Hiệu bị cộng sản xử tử hình

Duong Hoa is with Xạc Bình and ND Nguyen.

“Một trái tim lớn đau cái đau của cả dân tộc

Một trái tim âm thầm với một tình yêu lớn lao”

Xin cầu nguyện cho LM Gianbaotixita Trần Học Hiệu- Tiến sĩ- Giáo sư- Nhạc sĩ đã bị cộng sản hãm hại, tử hình mà rất it người biết.

Can Ngoc Tran

Hôm nay giỗ 42 năm Cha Giáo Gioan Baotixita Trần Học Hiệu bị cộng sản xử tử hình. Xin đăng bài viết ngắn của cô Phạm Minh Tâm nói về cuộc đời của Cha Giáo.

Đại-học chi đạo…

Phạm Minh-Tâm

Làm gì thấy Người khi núi sông ngút khói

Máu xương ngập lối, ôi những ngày hấp-hối

Ghét ghen tham tàn, gây bất công nghèo đói

Con thấy Nhan Người trong nỗi đau tràn đầy

(Ôi Giê-su)

Khi tôi chống cưỡng luật Người

Luật Người khắc trong tim tôi

Lạc-viên êm-ái hồn tôi, tan-vỡ như ảo-mộng

Nay toàn thấy sỏi đá gai nhọn

(Từ vực thẳm hư-vô)

Ngày 05-11-2021 năm nay là ngày giỗ thứ 42 của linh-mục Gio-an Bao-ti-xi-ta Trần Học Hiệu với cái chết bằng các viên đạn xử bắn vào xế chiều ngày 05-11-1979 tại ấp Bà Thức, Suối Máu, Biên-hoà. Đây là khu đất nằm trong vùng phi-quân-sự phía sau phi-trường Biên-hoà mà sau 1975 chính-quyền cộng-sản huyện Thống-nhất, dùng làm bãi xử bắn dã-chiến.

Bản-thân tôi là con út trong gia-đình năm người con thiêng-liêng của linh-mục Trần Học Hiệu, được xếp theo thứ-tự nhận trước hay sau; gồm có anh Cao Kim Động, sau này là Đan-trưởng Đan-viện Thiên-hoà ở Ban-mê-thuột, anh Phạm Văn Tuyền đang sống tại Hoa-kỳ, chị Nguyễn Thị Phương sang Pháp từ trước 1975, chị Lê Thị Thu Hương một tân-tòng…

Hôm nay, khi viết về linh-mục Gio-an Bao-ti-xi-ta Trần Học Hiệu, tôi không nhắm vào mối liên-hệ là cha linh-hồn, cha thiêng-liêng, bố đỡ đầu… hay gì-gì khác theo cảm-xúc cá-nhân. Mà vì, đã 42 năm sau khi ông đã thành-toàn sứ-vụ ở trần-gian, tôi thấy cần phải viết, dù hơi trễ, về một con người linh-mục trí-thức Việt-Nam nơi ông, có thể xem như một tổng-hợp của đức tin tông-truyền hoà với nhân-cách một người Việt-Nam đúng nghĩa. Tóm lại, là của một công-dân linh-mục ý-thức rõ và dung-hoà được bổn-phận với Thiên Chúa và Tổ-quốc – Deus et Patria.

Cũng đồng-thời, muốn nhân đây, trước là chính-thức điều-chỉnh lại đôi ba chi-tiết liên-quan đến những ngày tháng tù-đầy và cái chết của linh-mục Trần Học Hiệu vào bốn năm sau ngày cộng-sản cưỡng chiếm Miền Nam, mà ông đã được vài ba nguồn tài-liệu nhắc đến, như sách Rồng Xanh Ngục Đỏ (trang 234-242) của linh-mục Vũ Đình Trác; Đoá Hồng Gai (trang 86-89) của Nguyễn Thanh Nga; Thư-viện Phạm văn Thành (Toàn cảnh Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam – Mặt Trận Liên Tôn kháng cộng sau 1975) trên mạng lưới thông-tin điện-tử với tấm ảnh không phải là chân-dung mà là vẽ truyền-chân. Tiếp sau, để chính-thức gửi đến những thân-hữu xa gần đã từng một thời biết, quen hay thân-thiết với ông từ sau cuộc di-cư 1954, từng cùng ông góp sức vào những sinh-hoạt của Giáo-hội, của xã-hội Miền Nam trong các điạ-hạt mục-vụ, Công-giáo tiến-hành, thánh-nhạc, giáo-dục, văn-học nghệ-thuật đến ngày 30-4-1975, rồi sau đó ông biệt tăm theo cơn xoáy chính-trị ở Miền Nam mà không mấy ai rõ-ràng.

Cổ-nhân khi nói “quốc-gia hưng-vong thất-phu hữu-trách” là hiển-nhiên xác-nhận vận-mệnh đất nước mạnh yếu hoặc mất còn đều hệ tại thái-độ chung phần trách-nhiệm của mỗi ngưòi dân; có nghĩa là không loại-trừ hay đặc-miễn cho bất-kỳ ai và càng không lý-giải theo thân-phận sang hèn hay giỏi dốt, mà là tinh-thần yêu đất nước, thương anh em cùng chung một bọc theo nghĩa hai chữ “đồng-bào”. Song riêng với thành-phần được gọi là sĩ-phu, là trí-thức theo mức-độ ăn học cao thấp thì còn có thêm một cách nhìn khác, nói đúng ra là một đòi hỏi khác gọi là con đường của kẻ sĩ, của giới trí-thức, gọi là “đại-học chi đạo”.

Mở đầu sách Đại-học có viết: Đại-học chi đạo, tại minh minh-đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện…Hai chữ “đại-học” ở đây có nghĩa là học vấn uyên-bác, tinh sâu; đạo là con đường. Con đường của kẻ đã có học-vấn cao hơn người thì truớc hết phải làm sáng tỏ cái đức, phải giúp dân biết đổi mới nếp sống và chỉ được ngừng khi đã tận hảo.

Linh-mục Gio-an Bao-ti-xi-ta TRẦN HỌC HIỆU

Linh-mục Trần Học Hiệu sinh năm 1927 tại Ninh-cường, Bùi-chu. Thụ-phong linh-mục năm 1958 tại Sài-gòn. Ông còn có một người em là linh-mục Trần Ngọc Quỳnh, thuộc tu-hội Saint Sulpice, giáo-sư Đại-chủng-viện Huế.

– Sau khi chịu chức linh-mục, ông giữ nhiệm-vụ Tuyên-uý Hiệu-đoàn tại

trường Nguyễn Bá Tòng, chuyên-trách các sinh-hoạt tâm-linh và các hoạt-động Hiệu-đoàn của mấy ngàn học-sinh, kiêm tuyên-uý đoàn Thanh Sinh Công tại đây. Ông là người đầu tiên và hình như cũng là duy-nhất chịu khó dịch tập Hiến-chương Dakar là Thủ-bản của Phong-trào Thanh Sinh Công thế-giới, thường biết đến với tên viết tắt là JECI (Jeunesse Étudiante Catholique Internationale) thành ấn-bản song-ngữ với lời đề biệt tặng các bạn Thanh Sinh Công của tôi.

– Là tác-giả hai tập sách dịch mang tên Ngày Quỷ Vương và Lạy Chúa con

nghe đây…dưới bút-hiệu Mặc Huy, xuất-bản vào thập-niên 60 tại Sài-gòn. Ông giải-thích, Mặc Huy là ánh sáng của ngọn đèn chầu, tuy leo-lét nhưng liên-lỉ.

Lễ mở tay của linh-mục Trần Học Hiệu tại trường Nguyễn Bá Tòng.

Bốn người hàng đầu từ trái, người em Trần Ngọc Quỳnh, cụ Hiếu thân-sinh, người chú, đức giám-mục Phạm Ngọc Chi.

– Là người có nếp sống đúng tinh-thần khó nghèo. Thậm chí, sau khi chiụ chức linh-mục, ông đã chọn

nơi dâng lễ mở tay là khu tiền-sảnh đơn-sơ của trường Nguyễn Bá Tòng.

– Là một người chống cộng và hăng say hoạt-động trong lãnh-vực văn-hoá và nghệ-thuật Công-giáo

– Năm 1964, ông rời trường Nguyễn Bá Tòng, đi làm Tuyên-uý Quân-đội, tùng-sự tại Nha Tuyên-úy

Công-giáo với cấp-bâc đại-uý tượng-trưng theo quy-định. Ông giữ nhiệm-vụ Trưởng Phòng Giáo-vụ Nha Tuyên-uý Công-giáo và đặc-trách nội-dung nguyệt-san Tinh Thần của Nha Tuyên-úy Công-giáo.

– Thành-lập ca-đoàn Hương Quê. Tổ-chức hai đêm đại-hợp-xướng tại Thảo-cầm-viên Sài-gòn và một

tuần Triển-lãm hội-hoạ do nhiều hoạ-sĩ tên tuổi góp mặt, như Bé Ký, Hồ Thành Đức, Hiếu Đệ….tại Nhà Văn Hoá là trụ-sở Hạ-nghị-viện trước và kết-thúc bằng đêm trình-diễn hợp-ca âm-nhạc Việt-Nam.

– Cùng với Giám-mục Huỳnh văn Nghi, chính-thức cổ-động Phong-trào Đạo Binh Xanh, do Đại-tá Đỗ

Sinh Tứ làm Giám-đốc.

– Chủ-trương tờ “Người Mới” bộ mới.

– Tháng 10 năm 1966, được Đức Tổng Giám-mục Nguyễn Văn Bình cho đi du-học bên Pháp bốn năm và được cho thêm hai năm để học về âm-nhạc.

– Năm 1972, về nước với văn-bằng Tiến-sĩ Đệ-tam-cấp Đại-học Sorbonne (Doctorat Troisième Cycle)

và Chứng-chỉ tốt-nghiệp khoá đào-tạo ca-trưởng tại Học-viện Ba-lê (Conservatoire de Paris).

– Vừa về nước, lập ban Hợp-ca “Đẹp Bình Minh” và tổ-chức buổi trình-tấu hợp-ca Thánh-nhạc tại trường Taberd.

– Dạy tại Đại-học Huế và xin về làm mục-vụ cho một số gia-đình thương phế binh đang sinh sống tại khu trại chăn nuôi bỏ hoang ở quận Tân-bình mà sau được phép lập thành giáo-xứ Tân Dân. Linh-mục Phan Văn Lợi cho biết…Cha Hiệu và cha Quỳnh tôi đều quen biết, vì cha Quỳnh là thầy của tôi nhiều năm tại Đại chủng viện Xuân Bích – Huế. Còn cha Hiệu thì tôi có nghe ngài thuyết trình một lần cho các đại chủng sinh, vào năm 1973 và vẫn còn nhớ chuyện ngài kể về các giáo dân thương binh giáo xứ Tân Dân của ngài. …Về chuyện của ngài, tôi nghe khoảng năm 1980, nhưng không nhiều chi tiết như chị cho biết. Ai cũng cảm thương và cảm phục ngài như đối với cha Nguyễn Văn Vàng DCCT, cha Nguyễn Quang Minh, cha Trần Đình Thủ và mọi cha bị tù tội vì cộng sản sau 1954 và 1975.

– Tổ-chức khóa huấn-luyện đầu tiên về Phong-trào Cursillo Việt-Nam tại nhà Betania Chí-hoà và mở tiếp khoá huấn-luyện Cursillo nữ đầu tiên tại Long-khánh.

Mấy anh em gia-đình thiêng-liêng chúng tôi thường được ông bố đỡ đầu nhắc-nhở mục-đích khi làm việc là đặt ý-nghĩa vào kết-quả đem lại chứ không ở tên-tuổi mình có được tiếng vang hay không. Bản-thân tôi nhớ mãi lời ông hướng-dẫn…giả như một hoạ-sĩ kia có biệt-tài vẽ nhưng thiếu nhiệt-tình phục-vụ nghệ-thuật thì mình nên cố gắng tìm cách khích-lệ anh ta…hầu-hạ cũng được, như rửa cọ, pha sơn, căng vải lên khung, pha cà-phê…miễn sao anh hoạ-sĩ chịu cầm cọ vẽ những nét đầu để hy-vọng anh sẽ vẽ nên một tác-phẩm nghệ-thuật để cho đời. Dĩ nhiên mình không có một dấu nào ghi trên hoạ-phẩm đó, song Thiên Chúa đã nhìn thấy sự đóng góp của mình là đủ.

Vào đầu thập-niên 70, Giáo-hội Công-giáo tại Miền Nam như mùa hoa nở rộ với khá nhiều thành-phần linh-mục trí-thức. Linh-mục Trần Học Hiệu tuy vẫn thuỷ-chung với thiên-chức linh-mục và tâm-thức Việt-Nam, song từ nhận-thức thủ-đắc trong thời-gian du-học, ông cũng gợi cho anh em chúng tôi ý-thức về một số cần thay đổi trong nếp sống đạo cũ bằng phong-cách dấn-thân nhập-cuộc mới.

Sau ngày 30-4-1975, nhiều biến-cố dồn-dập xẩy đến cho Giáo-hội bên cạnh niềm đau của dân-tộc. Ủy-ban Quân-quản Thành-phố đã bắt đầu chiếu-cố đến nhiệm-vụ Phó Tổng-giám-mục thừa-kế của Đức cha Nguyễn Văn Thuận. Một số linh-mục và giáo-dân trí-thức hùng-hổ theo “cách mạng”, kéo nhau đi trục-xuất Đức Khâm-mạng Toà-thánh. Rồi họ viết tâm-thư 1, tâm-thư 2, tâm thư 3…gửi Ủy-ban Quân-quản, tố-cáo Giáo-hội không dung-nạp lý-thuyết cộng-sản, tố-cáo Đức cha Thuận là có dòng máu chống cộng vì là con cháu trong gia-đình Tổng-thống Ngô-đình Diệm và thêm một tội nữa là tôn-sùng Đức mẹ Fa-ti-ma mà Đức Mẹ Fa-ti-ma là Đức Mẹ chống cộng …

Linh-mục Trần Học Hiệu khi ấy đang ở giáo-xứ thương-phế-binh trong trại chăn nuôi, trả lời ngay các thư này. Mỗi khi soạn xong thư trả lời, ông đạp xe đến giao cho tôi đánh “stencil” và dùng máy “ronéo” quay tay nhỏ của chúng tôi in ra nhiều bản, rồi đem đến các xứ để nhờ phổ-biến trong cộng-đoàn tín-hữu. Tôi nhớ rất kỹ hai người nhiệt-tình tiếp-nhận các thư trả lời và hăng-hái góp tay giúp là linh-mục Lã Quang Hiệu giáo-xứ Lộc-hưng và Đức cha Phạm Văn Nẫm khi còn là linh-mục, làm giám-học tại trường Thánh Mẫu ở Bà Chiểu.

Chính-quyền mới bắt đầu “rà từng đối tượng” linh-mục bằng các “nhãn” do họ dán cho để hoặc là kiếm cớ quản-thúc hay giới-hạn trong mục-vụ. Chẳng hạn, xuất-thân từ Trường Truyền-giáo Rô-ma, trong ban điều-hành và giảng dạy ở Giáo-hoàng Học-viện là di-sản tư-tưởng của Hội Thừa-sai Ba-lê, viết báo và ủng-hộ các đoàn-thể chống cộng…nghĩa là đủ cớ để loại trừ sau cái lý-do chính là linh-mục trí-thức Công-giáo. Linh-mục Trần Học Hiệu biết mình còn nhiều “tội” hơn nữa như gốc Bùi-chu chống cộng cực-đoan, là tuyên-uý Công-giáo, người điều-hợp chính của Phong-trào Đạo Binh Xanh…Đại-để như Nguyễn Ngọc Lan đã nói sống với xã-hội chủ-nghĩa, chúng ta mới hiểu “tội tổ tông” một cách thấm-thía hơn….

Một sáng sớm trong tháng 8, được tin ông bị bắt hụt, chúng tôi đến ngay giáo-xứ Tân Dân. Bà nấu bếp nhà ở ngang nhà xứ đã sang, đang ngồi khóc dưới bếp. Bà kể, sáng sớm công-an quân-quản đến bắt ông chủ-tịch Hội-đồng giáo-xứ. Cô con gái ông chủ-tịch đi lễ sớm, về gần đến nhà thấy lạ vội quay lại nhà thờ báo tin vừa kịp lúc cha Hiệu đang từ phòng áo bước ra nên ông không về nhà xứ, song không ai biết ông đi đâu. Tôi ra trước thềm nhìn thấy hai người đang ngồi câu cá trên bờ ao trước nhà xứ nên quay vào bàn với bà bếp cứ mở toang cửa phòng khách và xách giỏ đi chợ như mọi ngày, gọi mấy bà hàng xóm bảo họ thay nhau ra vào tự nhiên như không biết sự gì xẩy ra. Nhà tôi đem cuốc ra bụi chuối gần chỗ người câu cá ngồi, vừa đánh cây chuối con vừa khua náo khi nào cha về cô nói giúp con xin một cây về trồng. Hôm sau, bà bếp cũng sang mở cửa nhà xứ bình-thường, nhưng thay vì đi chợ thì xách giỏ đến nhà tôi, cho biết tối hôm qua, rất khuya cha mới về thu xếp giấy tờ, giao hết các chìa khóa cho bà và ra đi. Thật ra từ hai tháng trước, ông đã nói với chúng về một “chiến khu” và ông sẽ vào; song có lẽ sự việc đến mau nên ông chưa kịp sắp xếp.

Một buổi tối gần cuối năm 1975, cả khu phố bị cúp điện, chúng tôi có người khách ghé thăm. Vừa buớc vào nhà, ông yêu cầu đóng cửa lại và nói ngay một hơi …Tôi chỉ nói miệng vì cha Hiệu không muốn viết giấy hay thư. Cha đã vào đến nơi bình an và khoẻ. Cha không cần tiền bạc hay bất cứ gì khác. Nếu có ngay bây giờ thì gửi cho cha chiếc “radio transitor”. Cha dặn lúc nào đi Fa-ti-ma thăm hai cha Nguyễn Văn Lập và Trần Nguyên Khôi….Đó là lần cuối cùng tạm coi như tôi còn được liên-hệ với ông.

Tôi đến Fa-ti-ma gặp linh-mục Nguyễn Văn Lập, cựu Viện-trưởng Viện Đại-học Đà-lạt và linh-mục Trần Nguyên Khôi, như lời dặn. Nhờ vậy, được biết rõ hơn, linh-mục Trần Học Hiệu đã có người liên-lạc đón vào rừng an-toàn vào đầu tháng 9-1975. Còn thêm chi-tiết không ai ngờ là lúc từ phòng áo ra đi thì nguyên tuần đầu tiên ông vẫn ở khu trại chăn nuôi, trong ngôi chùa cũng mới xây trong thời-gian xây nhà thờ Tân Dân. Điều này đối với tôi không lạ vì ngay từ khi còn ở Phòng Giáo-vụ Nha Tuyên-úy Công-giáo, không biết duyên-do nào, ông và Hoà-thượng Thích Tâm Giác, Giám-đốc Nha Tuyên-uý Phật-giáo, có tương-quan giao-hảo nên thỉnh-thoảng tôi được giao việc đem bài viết của ông sang cho nguyệt-san Đại Từ Bi của Nha Tuyên-uý Phật-giáo, hay ngược lại sang nhận bài về cho nguyệt-san Tinh Thần. Còn khi làm mục-vụ ở giáo-xứ Tân Dân cũng thế, có buổi chiều hai vợ chồng tôi vào thăm, vừa gặp lúc ông lững-thững đi bộ về và mỉm cưới ý-nhị cho biết là sang thăm “sư cụ chùa Long-giáng”.

Đầu năm 1977, người dân tại nhiều quận Sài-gòn, đi họp tổ dân-phố đều được cảnh-giác không được liên-lạc hay chứa-chấp mà phải tố-cáo ngay các dư-đảng của “tên phản-động đội lốt thầy tu để chống phá cách-mạng Trần Học Hiệu”. Thời gian này ông bị giam ở Tổng Nha Cảnh-sát cũ, sau đó đem về Chí-hoà và vì ông bị bắt tại vùng Hố-nai nên đã bị đưa ra xét-xử trong một phiên toà công-khai tại huyện Thống-nhất, tỉnh Đồng-nai vào tháng 11-1978. Có thể vì muốn dằn-mặt công-luận nên chính-quyền huyện Thống-nhất gửi giấy mời Giám-mục Xuân-lộc và các linh-mục trong huyện Thống-nhất đi nghe xử. Đức giám-mục Nguyễn Văn Lãng sau này cho biết ông cũng rất muốn đến toà cho biết sự-thể, song nghĩ lại nên để cha Hiệu tự-nhiên ăn nói giữa toà. Những người có mặt trong phiên-xử này đã chúng-kiến thái-độ ung-dung tự-tại của linh-mục Trần Học Hiệu với những lý-luận giữa toà, nhất là khi nói về vụ án Galilée. Nhiều người thân, quen đã chép miệng trong toà …giáo-sư đại-học có khác, phải “minh minh-đức” như thế mới đúng nghĩa tâm-linh.

Linh-mục Trần Học Hiệu bị tuyên xử tử-hình. Một mục-sư cùng bị giam với ông, vì bị bệnh nặng sắp chết, được cho về nhà để chữa bệnh, đã đem theo lời cha Hiệu nhắn về là sẽ không viết đơn xin ân-xá.

Năm 1981, tôi được tin từ Tân-mai Biên-hoà nhắn lên gặp gấp. Rồi được một cậu nhỏ bán cà-rem dẫn đi tìm mộ cha Hiệu. Tôi được cho mượn chiếc xe đạp cùng ra đi. Vừa đạp xe, cậu nhỏ vừa kể vì ngày-ngày đạp xe đi bán rong, la-cà đến cả các khu trại bộ-đội sau phi-trường Biên-hoà. Một hôm đang đứng bán kem cho bộ-đội ở cổng trại thì có mấy chiếc xe công-an chạy qua. Họ bảo là xe đi xử bắn và rủ đi xem, từ đó mới biết bãi xử bắn ở phía trong sâu này, cho nên sau đó cứ gặp xe như thế là chạy theo xem. Đây là nơi ngày trước thuộc vùng phi-quân-sự, nên có một khu đất bị bom làm thành một hố trũng khá lớn, thấp hơn mặt đường đi bốn năm thước, đang được dùng làm bãi xử bắn và cứ lâu-lâu họ lại đem đến bắn mấy người rồi vùi luôn xác tại đây nên dân địa-phương ít dám lai-vãng. Cậu nhỏ nói đâu có biết cha Hiệu là ai, chỉ là lần đi xem xứ bắn đó, thấy có người vừa bị bịt mắt và tróí vào cột xong là hát rất to bài “Kinh Hoà-bình” nên đoán là ông cha mới về kể lại thôi.

Pháp-trường vẫn còn ba cái cột chôn sẵn với các mẩu giây trói bị cắt nát vương-vãi và chỉ có thể đếm được gần 30 nấm mộ bằng-phẳng như mặt đất, là nhờ các miếng gỗ tạp cắm làm bia khuất trong bãi cỏ cao đến đầu gối. Cậu bán cà rem lưu ý đi cẩn-thận vì đã có lần người bị bắn xong thì vùi ngay xuống, không có quan tài gì cả. Tôi chăm-chú lần từng tấm bia gỗ với sự hồi-hộp giữa hy-vọng và thất-vọng lẫn-lộn cả khi tìm được mộ hay không.

Cuối cùng chúng tôi thấy được mộ linh-mục Trần Học Hiệu, dù hơi khó tìm vì cọc gỗ bị gẫy, tấm bia gỗ rộng khoảng 50 cm rơi lẫn trong cỏ, song nhờ mặt ghi chi tiết bằng sơn đen lại úp sấp trên đất nên còn rõ nét. Tôi thấy lạ khi đọc hai chữ Khánh Hạ viết trước tên cha Hiệu trong hàng chữ đầu. Linh-mục Trần Ngọc Quỳnh xác-nhận Khánh Hạ là tên gọi của linh-mục Trần Học Hiệu lúc nhỏ.

Trên đường về, tôi ghé báo tin cho gia-đình ông Cự, một người em con dì ruột của cha Hiệu sống ở giáo-xứ Bùi-vĩnh. Rồi về lần-lượt đi xác-nhận với Đức Tổng-giám-mục Nguyễn Văn Bình, linh-mục Trần Văn Hiến Minh Đại-diện Bùi-chu, các Bề-trên dòng Mân-côi Chí-hoà, Trinh Vương Bùi-môn, linh-mục Trần Thái Hiệp Giám-đốc Đại-chủng-viện…Lễ phát-tang được cử-hành tại nhà nguyện Mai-khôi của Dòng Đa-minh chi Lyon. Linh-mục Phạm Long Tiên mở đầu Thánh-lễ với câu…trong Thánh-lễ hôm nay, xin cộng-đoàn đặc-biệt nhớ đến linh mục Gio-an Bao-ti-xi-ta Trần Học Hiệu, người đã nhận một cái chết đau thương….

Lợi-dụng thời-gian chính-quyền đang có chương-trình giải-toả các khu nghĩa trang, gia-đình ông Cự đứng xin cải-táng. Lá đơn cần sáu con dấu, năm con dấu thuộc các ban cấp xã, ấp…cứ thấy chữ “đơn xin cải táng” thì đóng dấu, nhưng lên tới Huyện Thống-nhất, là nơi đã thi-hành án thì chúng tôi ngại ba chữ Trần Học Hiệu không xong, cho nên phải dùng tiền cho xong. Thực ra, nếu không xin giấy thì cũng có thể được vì nơi đó hoang-vắng không ai để ý, song chỉ sợ có khi đang làm thì chính-quyền tỉnh Đồng-nai lại đem ngưòi đến bắn, sẽ phiền-phức.

Hôm cải-táng về đất-thánh xứ Bùi-vĩnh, linh-mục Mat-thêu Bùi Tiến San vốn trước là học trò của cha Hiệu ở chủng-viện, đã dành cho mọi sự dễ-dàng, song chỉ khuyên vì còn mới quá nên bia mộ để đơn giản là cố “Gio-an Bao-ti-xi-ta HIEU”. Tôi cũng liên-lạc được với gia-đình ông giáo Nhâm, ở gần Trảng-bom là nơi đã giúp linh-mục Trần Học Hiệu thời-gian trong rừng và cả nhà họ sau đó đều bị bắt, ông giáo suýt bị tử hình, bà giáo và cô con gái cũng đi tù ít năm. Thêm vài người nữa tôi được biết như linh-mục Đa-minh Trần Văn Nguyện, phó xứ Tân-mai bị 20 năm tù, chỉ vì liên-lạc về nhu-cầu phụng-vụ của một linh-mục như đem rượu và bánh lễ vào cho cha Hiệu; ông Trần Trọng Thi trước 1975 là nhân-viên hành-chính của trường Nguyễn Bá Tòng, đã bị bắt giam ở Chí-hoà vì lý-do “đồng bọn” của linh-mục Trần Học Hiệu, nhưng không đưa ra tòa, hỏi cung và điều-tra chán thì thả về.

Xin được trân-trọng cùng tưởng-niệm nơi đây.

Đang giữa bữa ăn trưa trong ngày bốc mộ linh-mục Trần Học Hiệu, ông Cự đem túi đựng các thứ còn gom được trong quan-tài như sách đọc thiêng-liêng, tràng hạt, bàn chải đánh răng, hai vòng dây trói ở cổ tay và đôi dép nhựa đã đứt quai hậu…cho mọi người xem. Khi vừa nhìn thấy đôi dép cao su, bà vợ ông giáo đánh rơi bát đũa xuống đất và ôm mặt khóc vì chính bà mua gửi vào trong rừng.

Năm 1985, một linh-mục – tạm nhớ tên là cha Nhung – ở Long-khánh, tìm đến nhà, giao cho tôi ba bản nhạc viết tay do chính ông ghi lại. Ông cho biết, cũng bị đi tù 20 năm vì lý-do tôn-giáo và bị biệt-giam cạnh phòng giam cha Hiệu. Hai người dùng cách gõ “morse” mà nhận ra nhau là linh-mục. Cha Hiệu đã viết ba bản nhạc… Ôi Giê-su, Tù vực thẳm hư vô và Tâm-ca Mai-đệ-liên…rồi cũng gõ “morse” “hát” cho ông nghe hàng ngày để góp ý, thêm lời và hai người cứ hát đi hát lại. Rồi cha Hiệu nhờ ông khi nào được về thì giao lại cho tôi, vì cha nói không còn nhớ được địa-chỉ nào nữa. Thấy vậy, cha Nhung cố gắng ghi từng chi-tiết về cả nhạc và lời vào đầu. Sau khi linh-mục Trần Học Hiệu bị đem đi xử bắn thì ngày nào cha Nhung cũng hát nhẩm trong đầu như một cách dâng lời cầu nguyện cho cha Hiệu. Khi được tha, ông vội-vã viết ngay xuống giấy để khỏi quên, chờ tìm cách liên-lạc với tôi.

Hai đoạn trích-dẫn ngay ở đầu bài viết này là hai phiên-khúc của bài hát Ôi Giê-su và Từ vực thẳm hư-vô mà khi Đức Tổng-giám-mục Ngô Quang Kiệt đọc xong đã chia sẻ….thật là hào hùng. Một trái tim lớn đau cái đau của cả dân tộc. Bài “Từ vực thẳm hư vô” rất tha thiết. Đúng tấm lòng bị vò xé của ngài… Một trái tim âm thầm với một tình yêu lớn lao.

Trước khi chấm hết bài viết về linh-mục Trần Học Hiệu với những gì còn lưu lại nơi cõi đời này, tôi không thể không tỏ-bày đôi dòng cảm-nghĩ của một người con thiêng-liêng trong tương-quan tâm-linh …Lại thêm một ngày giỗ của cha đến trong khi con vẫn chưa quen được với những cảm-nghĩ rằng cha đã thực sự khuất vắng hẳn trong cuộc đời này. Là linh-mục bên cạnh đời sống tâm-linh của tín-hữu nói chung và của đám anh em chúng con cách riêng, cha đã thể-hiện được những gì của vai trò chứng-nhân cần có. Để ngay lúc này con có thể thưa với cha rằng trong cuộc hành-trình của chúng con, đôi lúc con cũng cảm thấy hun-hút, vô-định và mịt-mờ; nhưng hình ảnh và lời nói của cha đã nói tiếp với con về một cái gì không phải là hư-vô vì con nghĩ cha vẫn tiếp-tục đi về hướng trước mặt trên cùng con đường ấy…

HÁO HỨC

Lê Vi

HÁO HỨC

Nhà cai trị ít nhiều đã thành công trong việc dùng phương tiện báo chí truyền thông tâng bốc đường sắt Cát Linh-Hà Đông, dụ khị được khá đông dân chúng leo lên nó.

Từ khóa của 2 ngày qua là “háo hức”, chưa bao giờ báo chí tivi thể hiện sự đĩ thõa đến thế.

Dân chúng, những người “háo hức”, tò mò, vô tư mau chóng quên rằng con đường dài 13 cây số ấy đã đội vốn lãng phí gấp 3 lần so với ban đầu, tiêu tốn gần 1 tỉ đô (Mỹ) từ chính tiền thuế mà họ đóng góp, suốt mười mấy năm qua gây quá nhiều tai tiếng. Họ không hiểu rằng nhà cai trị đang xoa tay thở phào khi cho tàu chạy, coi như thế là xong, không bị thiên hạ bới đống rác Cát Linh-Hà Đông ra ngửi nữa.

Tôi nói thật, với kiểu dân háo hức an phận dễ quên như thế, đừng mong gì vào cái gọi “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân”. Chính dân tự tước cái quyền làm chủ của mình, tự cúi đầu trước kẻ cai trị, chứ không có ai bắt ép họ cả, trừ những trường hợp bị lừa. Tham một chút mồi dử “miễn phí” để tiếp tay cho những kẻ chủ trương ngu dân, ngu muội.

Thông cáo (Nguyễn Thông)

Ảnh: Một thủ đô hiện đại thế kỷ 21 mà con tàu trông giống như con sâu, không khác gì con sâu rau muống, xấu đau xấu đớn, còn coi những ảnh chụp trong tàu thấy nó không hơn tàu điện bờ Hồ-Hà Đông từ thời Pháp.

May be an image of train and outdoors