Hồi ức của một trí thức cũ trong xã hội mới sau 1975 (Phần 2)

 Hồi ức của một trí thức cũ trong xã hội mới sau 1975 (Phần 2)

Bởi  AdminTD

Lê Nguyễn

23-12-2021

Tiếp theo Phần 1

Do sau tháng 4.1975, nhiều doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả tại Sài Gòn vẫn còn cơ sở sản xuất hoạt động tốt nên các chủ doanh nghiệp này được tập hợp trong một tổ chức có tên là Ban Liên lạc Công thương, tiền thân của Sở Thương nghiệp và Sở Công nghiệp sau này. Người đứng đầu ban này vào năm 1982 có bí danh là Ba Nam (Trần Minh Triết), vị thứ như một Giám đốc Sở.

Có thể kể một số nhà “tư sản dân tộc” được tập hợp trong Ban liên lạc công thương lúc bấy giờ như ông Trần Văn Bảy, Giám đốc Xí nghiệp đông lạnh Việt Long, ông Phùng Văn Quý, Giám đốc nhà máy sứ Thiên Thanh, ông Phạm Văn Thạnh, chủ hãng đắp vỏ xe Phạm Hiệp. Cũng từ sự hiện diện của những doanh nghiệp như trên mà chính quyền thành phố thiết lập mô hình các công ty, xí nghiệp công tư hợp doanh, với cơ sở sản xuất và một phần vốn của tư nhân, phần khác của nhà nước, và đặt dưới sự thống nhất quản lý của nhà nước.

Để thực hiện kế hoạch thử nghiệm làm ăn với hai thị trường tư bản trên, Ban Ban Liên lạc Công Thương được phép thành lập “Công ty XNK trực dụng Ficonimex” trụ sở nằm gần cuối đường Nam kỳ khởi nghĩa, quận I, TP.HCM, với thành phần Ban Giám đốc khá thoáng: Giám đốc là ông Đinh Xáng, trước 1975 từng giảng dạy tại trường Đại học Chính trị-Kinh doanh Đà Lạt, đồng thời là một chuyên gia lâu năm về ngành dệt. Trong 3 Phó Giám đốc của công ty thì ngoài ông Đỗ Như Công là Phó Giám đốc Tổ chức, ông Phùng Văn Quý làm Phó Giám đốc Kế hoạch, ông Trần Văn Bảy làm Phó Giám đốc Sản xuất-Kinh doanh.

Song song với Ban LLCT, tổ chức Liên hiệp xã thành phố mà người đứng đầu có bí danh Ba Tiết, cũng không chịu là người đi chậm. Họ thành lập “Công ty XNK trực dụng Direximco” với chức năng và hoạt động giống như Ficonimex, trụ sở đặt tại đường Hai Bà Trưng.Trước 1975, và kể cả thập niên 1980, quận 5 TP.HCM là nơi tập trung các nhà tư sản người Hoa có nhiều vốn liếng và kinh nghiệm làm ăn. Tuy cuộc truy đánh tư sản mại bản vào nửa sau thập niên 1970 có làm cho giới thương nhân ở đây bị thiệt hại nặng nề, song vẫn còn một số nhà tư sản từng có mối quan hệ mật thiết với Mặt trận DTGPMNVN trước năm 1975. Nhờ vậy mà UBND Quận 5 được lãnh đạo thành phố cho phép thành lập Công ty XNK Cholimex hoạt động song hành với hai công ty Ficonimex và Direximco.

Xét về tầm vóc và hiệu quả hoạt động thì Direximco được xem là thành công hơn cả. Danh tính ông Giám đốc công ty là Lâm Tư Quang, song mọi người vẫn gọi ông bằng cái bí danh quen thuộc là Ba Toàn. Phụ tá ông Ba Toàn là ông Lưu Vinh, một người Hoa có tài kinh doanh và không ít người cho rằng phần lớn sự thành công ban đầu của công ty đến từ hai bàn tay của ông Lưu Vinh.

Ưu thế của hai vị lãnh đạo người Hoa ở công ty Direximco thể hiện ở mối quan hệ giữa họ với các doanh nghiệp Hong Kong – Singapore mà phần lớn cũng nằm trong tay các người Hoa. Hoạt động của họ làm thay đổi hẳn bộ mặt thành phố, từ sự lầm lì, xơ cứng, trở thành sôi nổi và nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Ấn tượng nhất là những lúc tàu chở hàng nhập khẩu cập bến. Chỉ riêng các cối sợi là nguyên liệu cho ngành dệt, công ty Direximco phải huy động toàn bộ xe cơ giới, mượn thêm của các cơ quan khác, chạy nườm nượp từ cảng Sài Gòn về kho từ sáng cho đến nửa đêm mới hết hàng.

Sau 1975, những công ty dệt lừng lẫy một thời tại miền Nam như Vinatexco, Vimytex… chỉ hoạt động cầm chừng. Song từ năm 1982, nguồn nguyên liệu sợi do mô hình XNK mới mang về đã vực dậy ngành công nghiệp dệt bị bế tắc từ lâu, hình thành nên Liên hiệp xí nghiệp dệt Hồng Gấm với hơn 40 xí nghiệp thành viên và khu dệt Bảy Hiền với hàng trăm xưởng dệt tư nhân của đồng bào từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi vào Sài Gòn sinh sống từ thập niên 1960.Ngành nhựa hoạt động cũng rất mạnh, nguồn nguyên liệu PE, PP, PVC… được dùng sản xuất túi nhựa, sản phẩm gia dụng.

Riêng hàng tiêu dung nhập khẩu phổ biến có bột ngọt, xi măng, sắt thép…, ngoài việc bán trực tiếp cho người tiêu thụ, còn được sử dụng để làm hàng đối lưu với các địa phương cung cấp nguyên liệu thủy hải sản cho thành phố.Ngoài ba công ty XNK trực dụng trên, TP.HCM lúc bấy giờ còn có ít nhất hai công ty XNK nữa là công ty Rameico (Công ty XNK nguyên liệu) và công ty Agrimexco (Công ty XNK Nông nghiệp), còn nhớ (không chắc lắm) Giám đốc là ông Nguyễn Hữu Hạnh, nguyên Chuẩn tướng VNCH hoạt động cho bên thắng cuộc từ trước 1975 và Phó Giám đốc là ông Nguyễn Xuân Phong, từng là Trưởng đoàn đại biểu VNCH tại hội nghị hòa đàm Paris (1968-1973), từng là trại viên trại cài tạo Long Thành (và một số nơi khác). Song chỉ một thời gian ngắn sau 1982, ông Phong được xuất cảnh sang định cư tại Pháp.

Điều đáng tiếc là các nhà lãnh đạo ở trung ương và địa phương vào những năm đầu tiên của thập niên 1980 đã không có chung những quan điểm nhất quán trong việc xây dựng một xã hội mới, thống nhất và hòa bình. Điều này cũng dễ hiểu, vì chiến tranh chỉ mới qua đi, mỗi vùng miền còn có những khác biệt để có thể phù hợp hoàn toàn với một chính sách chung. Tại một số địa phương, các nhà lãnh đạo đã áp dụng những hình thức quản lý “thoáng” như trường hợp của Sài Gòn – TP.HCM đã nêu trên.

Song vào tháng 7.1982, ông Tố Hữu, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Phó Thủ tường), đã ký quyết định 113 giải thể các đơn vị XNK công tư hợp doanh, giao quyền thực hiện lãnh vực này cho các đơn vị quốc doanh. Mục tiêu chính của quyết định 113 nhằm tập trung việc quản lý XNK cho một tổ chức duy nhất là Tổng công ty Xuất nhập khẩu IMEXCO, tránh tình trạng từng công ty đơn lẻ hoạt động dưới sự tổ chức và giám sát của các đơn vị khác nhau. Tuy nhiên, có lẽ do sự hình thành Imexco chậm hơn dự kiến nên mãi đúng một năm sau, khoảng tháng 7.1983, quyết định 113 mới được triển khai.

Về mặt nhân sự, tại các công ty XNK công tư hợp doanh như Direximco, Ficonimex, Cholimex…, nhân viên biên chế nhà nước được chuyển về Tổng công ty Imexco, các thành phần khác, hầu hết là nhân viên hợp đồng, được trợ cấp một khoản tiền bằng khoảng một tháng lương và… nghỉ việc. Trong số các nhân viên thuộc thành phần nghỉ việc tại công ty Ficonimex, có người viết bài này, chi tiết về những tháng ngày làm việc ở đây sẽ được kể về sau.

Tháng 7.1982, sau khi quyết định 113 được ban hành, các giới chức lãnh đạo công ty Ficonimex vẫn bình chân như vại, họ chờ số phận của công ty được định đoạt. Điều này cũng dễ hiểu, vì Giám đốc và hầu hết Phó Giám đốc của công ty không phải là cán bộ nhà nước, khó có khả năng cứu vãn tình thế. Trong khi đó, tình hình ở công ty Direximco lại khác hẳn. Ông Giám đốc Ba Toàn (Lâm Tư Quang) đã sớm ứng phó với tình thế bằng việc tìm một khu vực ít dân cư song không xa thành phố, mua đất tư nhân, xây dựng một cơ ngơi mới có tên là Xí nghiệp chế biến hàng xuất khẩu Cầu Tre, mọi người thường gọi tắt là Xí nghiệp Cầu Tre.

Vì thế, một năm sau (7.1983), khi quyết định 113 được triển khai thì gần như toàn bộ công nhân viên của Công ty XNK công tư hợp doanh Direximco đã trở thành công nhân viên Xí nghiệp Cầu Tre, là một trong hai xí nghiệp chế biến hàng xuất khẩu lớn nhất thành phố lúc bấy giờ (xí nghiệp kia là Xí nghiệp Đông lạnh 1, giám đốc là ông Mười Hưng). Cả hai xí nghiệp này đều trực thuốc Tổng công ty XNK Imexco. Trong cuộc sống đầy thăng trầm của mình, bản thân người viết bài này cũng đã có hai năm gắn bó với xí nghiệp Cầu Tre, chi tiết sẽ xin được kể sau.

Riêng về công ty Cholimex, sự giải thế hình thức công tư hợp doanh đã được UBND quận 5 giải quyết bằng cách biến nó thành Công ty cung ứng hàng xuất khẩu quận 5, không còn chức năng xuất khẩu trực tiếp, mà chỉ cung ứng hàng xuất khẩu cho Tổng công ty Imexco. Mô hình này nhanh chóng phát triển tại các quận huyện khác, ít lâu sau, hầu như quận huyện nào cũng có công ty cung ứng hàng xuất khẩu cho địa phương mình, ví dụ quận Tân Bình có Công ty Tanimex, quận 3 có công ty Trilimex…

Những gì chưa kể về tù nhân lương tâm Đỗ Nam Trung

Những gì chưa kể về tù nhân lương tâm Đỗ Nam Trung

Phạm Thanh Nghiên

Tôi chỉ gặp Đỗ Nam Trung đúng hai lần. Lần đầu tiên vào ngày 28 Tháng Mười Một 2015 tại lễ đính hôn của tôi ở Hải Phòng. Lần thứ hai sau đó ít hôm, khi tôi từ Hải Phòng lên Hà Nội để chào tạm biệt một số anh chị em trước khi vào Sài Gòn sinh sống. Ít gặp mặt, song tôi thật sự ấn tượng bởi phong cách có phần hơi “bụi bặm” nhưng cởi mở, thân thiện của Đỗ Nam Trung.

Lễ đính hôn của chúng tôi ở Hải Phòng có nhiều người đến dự, nhưng cũng nhiều người bị công an ngăn chặn. Vì khách mời hầu hết là những người chung chí hướng nên biết nhau cả, thành ra chẳng còn phân biệt đâu là bạn cô dâu, đâu là bạn chú rể, cũng không còn ranh giới giữa “nhà trai”, nhà gái”. Hôm ấy, Đỗ Nam Trung đi chung chuyến xe với chú rể và các anh chị em khác từ Hà Nội xuống.

Vừa gặp, Trung đã tiến đến, ôm chầm lấy tôi:

– May quá! May mà em ra tù kịp để được đi đám cưới chị. Chứ chị mà cưới sớm tí nữa là không có mặt thằng em này đâu đấy nhé.

Ngày ấy, Đỗ Nam Trung vừa ra tù được hơn hai tháng. Sự kiện Tàu Cộng đưa giàn khoan HD981 vào vùng đặc quyền kinh tế thuộc chủ quyền Việt Nam Tháng Năm 2014 đã dấy lên làn sóng phẫn nộ trên cả nước. Các cuộc biểu tình chống Tàu nổ ra ở khắp nơi từ Bắc chí Nam, từ Hà Nội, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Sài Gòn, Bình Dương, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, đến Đồng Nai…

Lẽ ra, nhà cầm quyền phải coi các cuộc biểu tình là một dấu hiệu đáng mừng vì nó thể hiện trách nhiệm với đất nước và quyết tâm bảo vệ chủ quyền tổ quốc của người dân trước sự xâm lược của ngoại bang. Thay vì chọn lựa đứng về phía nhân dân, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, giới chóp bu cầm quyền tuy ngoài miệng vẫn phản đối Tàu Cộng, nhưng lại ra tay đàn áp các cuộc biểu tình và bắt bớ những công dân yêu nước hòng lấy lòng “bạn vàng”. Trong số những người bị bắt có Lê Thị Phương Anh, Phạm Minh Vũ và Đỗ Nam Trung. Cả ba bị bắt khi đang đưa tin về phong trào biểu tình chống Tàu của công nhân Đồng Nai ngày 15 Tháng Năm 2014. Ngày 12 Tháng Hai 2015, tòa án sơ thẩm Đồng Nai kết án Phạm Minh Vũ, Đỗ Nam Trung và Lê Thị Phương Anh, lần lượt 18 tháng, 14 tháng và 12 tháng tù với cáo buộc “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước…”, theo điều 258- BLHS năm 1999.

Ra tù, Đỗ Nam Trung và Phạm Minh Vũ vẫn tiếp tục theo đuổi hoài bão, góp công sức dù nhỏ bé vào công cuộc đổi thay đất nước. Có lẽ cần quay ngược thời gian để có câu trả lời xem vì sao Đỗ Nam Trung từ một thanh niên sinh ra và lớn lên tại miền Bắc sau 1975, giống như các bạn cùng lứa khác, trong đó có người từng thần tượng ông Hồ, tin vào Đảng Cộng sản hoặc thờ ơ chuyện xã hội, lại dấn thân đi theo con đường đầy chông gai để rồi chịu cảnh tù đày?

Đỗ Nam Trung sinh ngày 25 Tháng Mười Một 1981 tại Nam Định trong gia đình có hai anh em, Trung là anh cả. Nhà nghèo nên sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, Đỗ Nam Trung không thi đại học mà xin đi học lái xe. Cuộc sống ở Nam Định khó khăn nên năm 2003, Trung ra Hà Nội tìm việc. Trước khi trở thành tài xế lái xe khách chạy tuyến Bắc-Nam cho công ty Hoàng Long vào năm 2006, Trung đã trải qua nhiều công việc vất vả như chạy xe ôm, nhân viên phục vụ nhà hàng…

Công việc đang thuận lợi thì biến cố ập đến. Cô Nguyễn Thị Ánh Tuyết, vợ chưa cưới của Đỗ Nam Trung kể lại, đầu năm 2010, khi đang trên đường chở khách từ Hà Nội vào Bình Thuận thì có một người đàn ông lao vào đầu xe của Trung khiến tử vong. Tìm hiểu thì biết rằng người đàn ông đó ngoại tình, bị gia đình phát hiện. Cuộc sống bế tắc, chán đời nên anh ta tự tử. Sau khi sự việc xảy ra, Đỗ Nam Trung bị tạm giữ tại công an tỉnh Bình Thuận. Thân nhân người đàn ông nọ yêu cầu Trung bồi thường 70 triệu đồng và họ bảo đảm không kiện cáo gì; hai bên tự thỏa thuận và giải quyết nội bộ với nhau. Tuy nhiên, công an Bình Thuận vẫn ra quyết định khởi tố mặc dù phía gia đình người đàn ông kia đã xin cho Trung. Ngày 13 Tháng Một 2011, Đỗ Nam Trung bị kết án chín tháng tù với tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Chính những ngày tháng trong tù đã khiến Đỗ Nam Trung nhận thức được sự thực đang diễn ra trên đất nước này. Nó không phải “thời đại rực rỡ” như những gì người ta rêu rao, mà tối tăm như những phận đời anh gặp trong chốn lao tù. Nó bẩn thỉu và nhơ nhớp như những tờ giấy bạc mà bọn quan tòa, công an, cai ngục bóc lột của bao nhiêu con người khốn khổ bất kể có tội hay vô tội sau khi đã tống họ vào tù.

Mãn án, Trung bắt đầu tham gia hoạt động xã hội. Từ biểu tình chống Trung Cộng, bảo vệ môi trường đến tham gia các buổi tưởng niệm những người lính đã ngã xuống để bảo vệ chủ quyền đất nước. Trung chưa bao giờ nhận mình là một blogger hay người bảo vệ nhân quyền. Anh tham gia hoạt động xã hội một cách tự nhiên, cũng bằng phong cách bụi bặm, dân dã, nhiệt thành như con người anh vốn vậy. Không có những bài phân tích chính trị hoặc lý luận đao to búa lớn, nhưng bằng sự quả cảm, xông xáo, nhanh nhẹn, Đỗ Nam Trung thực sự mang vóc dáng của “phóng viên đường phố” nổi bật, một trong những nhân tố quan trọng và cần thiết hàng đầu của mỗi phong trào đấu tranh đòi dân chủ ở các quốc gia độc tài.

Có thể nói, trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến 2018 (gián đoạn từ Tháng Năm 2014 đến Tháng Bảy 2015 vì đi tù), Đỗ Nam Trung là một trong những người để lại nhiều dấu ấn nhất trong các cuộc xuống đường tại Hà Nội. Dù công an đàn áp khốc liệt đến mấy, anh cũng bằng mọi cách đưa được thông tin, hình ảnh từ hiện trường ra công luận. Không ít lần Trung bị bắt, bị đánh đập khi đang biểu tình, đi “đòi người” hay tham gia các buổi tưởng niệm.

Đỗ Nam Trung và bạn bè quốc tế tại Hội nghị Nhân quyền ở Ireland do Frontline Defenders tổ chức Tháng Mười 2019

Ngoài những cuộc biểu tình chống Tàu Cộng, Trung cũng có mặt ở hầu hết hoạt động đường phố, từ tuần hành bảo vệ cây xanh, phản đối Formosa xả thải, bảo vệ môi trường đến chống các trạm thu phí bất hợp lý mà công luận gọi là BOT “bẩn”. Tháng Mười 2019, Đỗ Nam Trung được tổ chức Frontline Defenders (có trụ sở tại Ireland) mời sang tham dự Hội nghị về Nhân quyền. Hội nghị có sự tham dự của đại diện hơn 100 quốc gia. Tại diễn đàn này, Đỗ Nam Trung đã trình bày về tình trạng vi phạm nhân quyền của nhà nước Việt Nam và vận động cho hai tù nhân lương tâm Hà Văn Nam và Trần Thị Nga.

Khoảng một năm trước khi bị bắt, Đỗ Nam Trung tâm sự với một số bạn bè rằng tạm thời anh sẽ hạn chế các hoạt động tranh đấu và dành nhiều thời gian hơn cho gia đình. Tuy vậy, khi bạn bè cần, Trung vẫn hỗ trợ. Anh vẫn tiếp tục thực hiện nhiều chuyến đi thiện nguyện, giúp đỡ trẻ em nghèo vùng cao hay đồng bào bị lũ lụt ở miền Trung. Ngày 6 Tháng Bảy 2021, Đỗ Nam Trung lại bị công an tỉnh Nam Định đến tận Hà Nội bắt khi đang trên đường đi làm. Thế có nghĩa là, cho dù có chọn lựa một cuộc bình thường, không chống đối chống cộng gì sất, Đỗ Nam Trung vẫn là phần tử nguy hiểm cho chế độ, theo quan điểm của nhà cầm quyền. Trung phải bị bắt, và phải bị ghép đúng tội danh “tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam” thì mới được!

Ngày 16 Tháng Mười Hai 2021, sau hơn năm tháng tạm giam, Đỗ Nam Trung bị đưa ra tòa và bị kết án 10 năm tù, bốn năm quản chế, trước sự ngỡ ngàng và phẫn nộ của bạn bè cũng như những người yêu mến anh. Chỉ trong vòng 48 giờ đồng hồ, nhà cầm quyền đã xử tù bốn công dân với tổng cộng 35 năm tù giam, 12 năm quản chế – lần lượt gồm Phạm Đoan Trang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Thị Tâm và Đỗ Nam Trung. Đó là chưa kể bản án 10 năm tù giam, ba năm quản chế mà tòa án Thành Hồ đã tuyên với ông Vũ Tiến Chi trong một phiên xử chóng vánh diễn ra ngày 17 Tháng Mười Hai 2021.

Chỉ vài hôm nữa, vào dịp lễ Giáng sinh, nhà cầm quyền tiếp tục đưa hai mẹ con bà Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư ra phiên tòa phúc thẩm. Có lẽ, bản án tám năm tù giam đã tuyên trong phiên tòa sơ thẩm sẽ được giữ nguyên, vì mẹ con bà Thêu vốn nổi tiếng can trường, không bao giờ khuất phục trước bạo quyền. Tội gì còn tha được, tội “cứng đầu” là phải xử thật nặng. Ngày 31 Tháng Mười Hai, người đối kháng cuối cùng sẽ bị đưa ra tòa là nhà báo tự do Lê Trọng Hùng. Chỉ cần nhìn các diễn biến trong Tháng Mười Hai 2021, có thể thấy rõ tương lai ảm đạm của Việt Nam trong năm tới mà thành phần lãnh nhận nhiều rủi ro, nhiều tai họa nhất vẫn là những người dám mở miệng.

Sau khi nghe tin Trung bị tuyên án 10 năm tù, tôi nhắn tin cho Tuyết, vợ chưa cưới của Trung. Cũng lại là những an ủi suôn thôi, chẳng giúp gì được. Tuyết bảo: “Em sẽ chờ đợi Trung. Khi nào đám cưới, tụi em sẽ mời chị. Anh Trung đáng được yêu thương và chờ đợi, chị ạ”.

Tôi không định khóc, thế mà nước mắt vẫn ứa ra. Chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, nhưng vẫn còn đó những cuộc đợi chờ. Mẹ chờ con, vợ chờ chồng, con ngóng cha, đôi lứa đợi chờ nhau… Những cuộc đợi chờ mòn mỏi, đằng đẵng, thậm chí vô vọng. Tuy không dám nghĩ quẩn nhưng những cái tên Trương Văn Sương, Nguyễn Văn Trại, Đào Quang Thực và mới đây nhất là Huỳnh Hữu Đạt, vẫn ám ảnh tôi. Họ là những người ra đi không có ngày về, mãi mãi lỗi hẹn với người thân. Nhưng với Đỗ Nam Trung, tôi có dự cảm thật tốt lành rằng anh sẽ trở về, bình an và mạnh khỏe. Rồi Trung và Tuyết sẽ làm đám cưới, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi đến khi đầu bạc răng long.

Những ngày cuối năm này, xin thành tâm cầu nguyện cho tất cả những tù nhân lương tâm, cho những người đang chịu sự bách hại vì lẽ công bằng, được bình an và mạnh khỏe cho đến tận ngày về.

Sài Gòn, 21 Tháng Mười Hai 2021

Phạm Thanh Nghiên

(Bài viết có sử dụng một số chi tiết do gia đình anh Đỗ Nam Trung cung cấp)

HÌNH:

– Đỗ Nam Trung trong một cuộc biểu tình chống Trung Cộng

– Cùng một số ace xuống đường kỷ niệm cuộc chiến với quân xâm lược Tàu cộng năm 1979

– Đỗ Nam Trung (cùng nhà hoạt động Nguyễn Lân Thắng) trong lần đi cứu trợ đồng bào lũ lụt ở Quảng Bình năm 2017

– Đỗ Nam Trung với trẻ em nghèo vùng cao

– Đỗ Nam Trung tại BOT Bắc Thăng Long-Nội Bài

– Đỗ Nam Trung và bạn bè quốc tế tại Hội nghị Nhân quyền ở Ireland do Frontline Defenders tổ chức Tháng Mười 2019

– Đỗ Nam Trung tại phiên tòa sơ thẩm Nam Định ngày 16 Tháng Mười Hai 2021 (ảnh: TTXVN)

+3

Scandal Việt Á: Đâu là đầu bạch tuộc? (kỳ 2) (VOA)

Scandal Việt Á: Đâu là đầu bạch tuộc? (kỳ 2) (VOA)

20/12/2021

Có vẻ như chuyện xử lý hậu quả của… “thần tốc xét nghiệm diện rộng” cũng sẽ chỉ ngừng lại ở những Phan Quốc Việt và một số viên chức lãnh đạo một số CDC, cơ sở y tế. (Hình: Trích xuất từ Tuoitre.vn)

Chủ trương… “thần tốc xét nghiệm diện rộng” và hàng loạt động tác có tính răn đe nếu không tuân thủ mà hệ thống công quyền tại Việt Nam từng thực thi đã giúp Công ty Việt Á kiếm khoảng 4.000 tỉ đồng trong sản xuất – kinh doanh các bộ xét nghiệm COVID 19…

Tuy nhiên nếu chỉ có những viên chức là lãnh đạo các Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh (CDC) và các cơ sở y tế tại hầu hết tỉnh, thành phố ở Việt Nam bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì đã nhận tiền mà Công ty Việt Á… “thối” lại thì bạch tuộc có cơ hội mừng… đại thọ!

Cứ đối chiếu những thông tin mới nhất liên quan đến Công ty Việt Á với những thông tin đã từng được loan báo rộng rãi về công ty này ắt sẽ thấy Công ty Việt Á và… xét nghiệm là một lớp trong vở kịch có kịch bản hoàn chỉnh để khai thác nhân dịp… đại dịch…

Bài 2: Ai điều khiển từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài?

Theo VTV (Đài Truyền hình Việt Nam), diện tích xưởng sản xuất các bộ xét nghiệm COVID 19 của Công ty Việt Á chỉ khoảng… mười mét vuông và mười nhân viên (1) nhưng mỗi ngày sản xuất được khoảng… 30.000 bộ xét nghiệm COVID 19!

Tại sao nhà xưởng như thế, nhân lực chỉ có vậy, thiết bị sản xuất các bộ xét nghiệm COVID-19 chỉ vỏn vẹn… “dăm tủ trữ lạnh và vài thiết bị tách chiết cũ kỹ” mà tháng 3 năm ngoái, Bộ Khoa học Công nghệ (KHCN) lại giao cho Học viện Quân y phối hợp với Công ty Việt Á thực hiện một trong “Bốn nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp quốc gia” là… “Nghiên cứu chế tạo bộ sinh phẩm real-time RT-PCR và RT-PCR phát hiện virus corona chủng mới (nCoV)”?

Tờ Nhân Dân từng khoe giúp Việt Á, rằng chỉ một tháng (cuối tháng một đến đầu tháng ba) … “các nhà khoa học thuộc Học viện Quân y và Công ty Việt Á đã nỗ lực làm việc một cách sáng tạo, không mệt mỏi, cả ngày nghỉ lẫn ban đêm” và được Hội đồng KHCN Quốc gia do Bộ trưởng KHCN thành lập “nhất trí kiến nghị Bộ Y tế cấp giấy phép sử dụng” bộ xét nghiệm COVID-19. Hội đồng KHCN Quốc gia họp ngày 3/3/2021 và hôm sau, Bộ Y tế đã cấp số đăng ký để Công ty Việt Á có thể kinh doanh ngay lập tức (2).

Trong tin mới nhất về Công ty Việt Á, VTV khẳng định, phần lớn nhân viên của công ty này là kế toán, tiếp thị, bán hàng, còn mười công nhân sản xuất chỉ… “phối trộn nguyên liệu theo hướng dẫn” rồi đóng gói. Dường như Công ty Việt Á không có “nhà khoa học” nào cả! Nếu thế thì tại sao Học viện Quân y lại chọn Công ty Việt Á để… “hợp tác” và giao kết quả nghiên cứu của “các nhà khoa học” tại Học viện Quân y cho Việt Á khai thác để kinh doanh?

Qua Nhân Dân – cơ quan ngôn luận của Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN – có thể thấy, Công ty Việt Á được ít nhất hai bộ trong chính phủ hiện nay là KHCN và Y tế tận tình ủng hộ. Chưa rõ Bộ Quốc phòng có tận tình như thế hay không nhưng tối thiểu, Bộ Quốc phòng cũng đã làm ngơ để Học viện Quân y sử dụng “các nhà khoa học” hỗ trợ Công ty Việt Á trở thành doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên cung cấp các bộ xét nghiệm COVID-19 cho thị trường trong nước.

***

Vào lúc này, hệ thống truyền thông chính thức Việt Nam đang đưa công chúng đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Sau khi VTV cho biết, trước khi trở thành nhà cung cấp bộ xét nghiệm COVID 19, Công ty Việt Á từng là doanh nghiệp trúng nhiều gói thầu trong lĩnh vực y tế. Doanh nghiệp này có 3.000 khách hàng, thực hiện 1.500 dự án với vốn điều lệ khoảng 1.000 tỉ…. tới lượt Tuổi Trẻ công bố một phóng sự điều tra mà theo đó, vốn đăng ký khi thành lập doanh nghiệp vào năm 2007 của ba thành viên sáng lập chỉ có… 80 triệu.

Tháng 10/2017, sau sáu lần điều chỉnh thông tin, tuy vốn điều lệ đã lên tới… 1.000 tỉ đồng nhưng vốn của ba thành viên sáng lập vẫn chỉ chừng 20%. Nói cách khác, 80% còn lại – khoảng 800 tỉ đồng – là của những… cá nhân khác mà các cơ quan truyền thông chính thức chưa tiết lộ là ai… Dẫu vốn điều lệ tới cả ngàn tỉ nhưng Công ty Việt Á vẫn chỉ mượn một địa chỉ ở TP.HCM làm… địa chỉ trụ sở chính chứ không đặt văn phòng (3)…

Tại sao một doanh nghiệp như thế lại liên tục được chọn làm nhà thầu cho các gói thầu lớn của nhiều cơ sở y tế qui mô cực lớn như Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), Quân y viện 175 (TP.HCM) và số dự án lên tới… 1.500?…

Tại sao Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc một doanh nghiệp như thế lại trở thành cổ đông chiếm tới 30% vốn của “Công ty Cổ phần Công nghệ sinh học Vinbiocare” – doanh nghiệp được Vingroup thành lập để sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu?

Hồi tháng 6 năm nay (2021), khi đưa tin về sự ra đời của Vinbiocare, báo điện tử Infonet gọi ông Phan Quốc Việt (Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám độc Công ty Việt Á), người nắm giữ 30% cổ phần của Vinbiocare là…. “ông chủ kín tiếng trong ngành y tế”. Lựa chọn ông Việt và Công ty Việt Á làm cổ đông cho công ty sản xuất vaccine của mình, Vingroup có nhắm đến cái mà Infonet gọi là “hệ sinh thái và tệp khách hàng đồ sộ của Việt Á” hay không (4)?

Cho dù đang có rất nhiều cơ quan truyền thông chính thức đang giúp Vingroup giãi bày: Hội đồng Quản trị VinBioCare đã bổ nhiệm bà Lê Ngọc Chi làm Tổng Giám đốc mới, thay ông Phan Quốc Việt… Ông Việt cũng đã rút và thôi là thành viên góp vốn tại VinBioCare và không còn bất cứ liên quan nào đến công ty này… nhưng chẳng lẽ chỉ cần như thế thì không cần tìm câu trả lời cho những thắc mắc liên quan đến cuộc hôn nhân giữa Vinbiocare với Công ty Việt Á?

***

Cách nay khoảng ba tháng, lúc mà dân chúng Việt Nam đang xôn xao trước những dấu hiệu một số cá nhân, nhóm đã sử dụng chủ trương… “thần tốc xét nghiệm diện rộng” để làm giàu trong thảm họa, một số facebooker đã công bố hai trang của Công văn 7263/BYT-KH-TC mà Bộ Y tế gửi một Phó Thủ tướng tên là Lê Minh Khái… xin ý kiến về phương án lực chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt để mua sinh phẩm xét nghiệm SARS-CoV–2

Bản chụp Công văn ký ngày 1/9/2021 này có đề cập đến chuyện… Vingroup không phải là nhà thầu, không có kinh nghiệm trong bán sinh phẩm xét nghiệm… nhưng… Bộ Y tế đề xuất áp dụng phương thức lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt qui định tại Điều 26 Luật Đấu thầu… và biện giải… hình thức mua sắm này tương tự như hình thức chính phủ đã áp dụng để mua vaccine AstraZeneca của Công ty VNVC và như mua vaccine cho Chương trình Tiêm chủng mở rộng

Trong bản chụp công văn vừa kể, Bộ Y tế cho biết muốn… ký thỏa thuận khung với Vingroup để mua 10 triệu bộ test Realtime RT-PCR, 15 triệu bộ test nhanh kháng nguyên do Úc và Nam Hàn sản xuất, trị giá 84.120.000 Mỹ kim, tương đương 1,92 tỉ đồng…

Những facebooker công bố bản chụp Công văn 7263/BYT-KH-TC đã đính kèm một số câu hỏi: Tại sao Vingroup mua sẵn mấy chục triệu bộ test rồi giờ bắt Bộ Y tế mua lại? Trong văn bản này, Bộ Y tế còn đề xuất mua hơn 105 triệu test kit kháng nguyên. Mua của Vingroup mới 25 triệu bộ test mà ngốn gần 2.000 tỉ. 105 triệu bộ test kia không biết mua của ai và giá cả ra sao?

Giá test nhanh bán trong siêu thị ở Đức chỉ có 0,95€, mua với số lượng hàng triệu thì còn rẻ nữa – tầm 17.000. Bộ Y có văn bản xác định thanh toán tại bệnh viện là 238.000. Có bệnh viện tính 300.000, thậm chí có nơi 400.000. Trên thị trường có rất nhiều loại test kit. Nhưng mấu chốt là phải do nhà nước đứng ra test và xác nhận. Ta có thể hình dung, tất cả các loại test kit này gom về một đầu mối…

Rõ ràng là họ dùng test như chơi một canh xì phé. Con át chủ bài là do nhà nước quyết định, cấp giấy mới cho ra đường, nhằm đánh vào nhu cầu đi lại làm việc, kiếm ăn một cách chính đáng của toàn thể người dân… Ai có lợi không biết, chỉ biết dân suốt ngày bị đè ra chọt chọt dù nhiều chuyên gia đã lên án việc chọt là không hiệu quả, lãng phí, là nguyên nhân của dịch lây lan nhưng dừng sao đặng?

Chọt để mà ra nhà lầu, chọt để mà ra xe hơi, chọt để ra quốc tịch Cyprus thì sao mà không chọt chớ? Chọt cho ngân khố sạch không đầm núi, chọt cho tới người Việt cuối cùng mới thôi (5) …

Cần lưu ý bản chụp Công văn 7263/BYT-KH-TC được người sử dụng mạng xã hội chuyền cho nhau xem với nội dung như đã đề cập chỉ có 2/5 trang nên không thể xác định thực hư. Tìm kiếm công văn này trên các website chuyên lưu trữ – giới thiệu văn bản của hệ thống chính trị, hế thống công quyền Việt Nam, có thể tìm thấy nhiều công văn khác của Bộ Y tế nhưng không có công văn này…

Trong khi Bộ Y tế im lặng thì ngày 2/10/2021, đột nhiên tờ Thanh Niên giới thiệu một cuộc phỏng vấn mà ông Nguyễn Việt Quang, Phó Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Vingroup dành cho tờ báo này…

Qua cuộc phỏng vấn đó, ông Quang khẳng định, Vingroup không trục lợi trong việc được Bộ Y tế chọn làm nhà thầu cung cấp COVID-19 test kit. Theo ông Quang, vì dịch bệnh leo thang, nhu cầu khẩn cấp nên Bộ Y tế đã vận động các doanh nghiệp tự ứng kinh phí ra nhập khẩu các bộ test về rồi chuyển giao lại cho bộ với giá phi lợi nhuận. Bộ Y tế sẽ làm các thủ tục mua sắm đấu thầu để tiết kiệm thời gian.

Cũng theo ông Quang, Vingroup chỉ mới nhập về 15 triệu bộ và đang chào bán cho các địa phương, đơn vị trong nước theo đúng quy định về đấu thầu. Dù ký hợp đồng trực tiếp với Hãng SD Biosensor của Hàn Quốc, không qua bất cứ trung gian nào để nhập về với giá 61.000 đồng/bộ nhưng để hỗ trợ các địa phương, Vingroup quyết định tài trợ một phần chi phí để bán test kit giá 44.000 đồng/bộ.

Ông Quang nhấn mạnh, Vingroup không lấy đồng lãi nào và rất phẫn nộ trước những quy chụp Vingroup trục lợi. Đó là những quy chụp hồ đồ thiếu lương tâm với tâm huyết chống dịch từ trước đến nay của Vingroup cũng như của các doanh nghiệp khác (6).

***

Báo điện tử Infonet – cơ quan truyền thông cách nay sáu tháng từng giới thiệu ông Việt… vừa “bước ra ánh sáng” với bộ xét nghiệm COVID-19 để hợp tác với Vingroup thành lập Vinbiocare – mới đổi giọng, chỉ trích ông Việt… “nổ” do từng tuyên bố: “Quan điểm của tôi là người Việt dùng hàng tốt giá tốt. Cứ ai hàng tốt giá tốt sẽ dùng chứ không phải là người Việt dùng hàng Việt. Doanh nghiệp sản xuất trong nước phục vụ cho chính người dân của mình. Tại sao phải tăng giá, cắt cổ dân của mình” (7)…

Vì sao “quốc gia”, “dân tộc” càng ngày càng rẻ, từ viên chức đủ cấp đến doanh nhân đủ cỡ đều có thể thi nhau đem cả xứ sở, đồng bào ra bán sỉ, bán lẻ. Có phải do người Việt rất dễ xúc động, rất dễ… “tự hào”, rất dễ hài lòng nên rất dễ gạt bằng mỹ từ? Có vẻ như chuyện xử lý hậu quả của… “thần tốc xét nghiệm diện rộng” cũng sẽ chỉ ngừng lại ở những Phan Quốc Việt và một số viên chức lãnh đạo một số CDC, cơ sở y tế. Còn đâu là đầu bạch tuộc, vòi bạch tuộc thì… phúc tạp quá, nhạy cảm quá cho nên… không cần?

Kit xét nghiệm rởm của Việt Á: Vụ lừa đảo mang tầm quốc gia, liệu Thủ tướng có bị qua mặt?

Chỉ duy nhất xảy ra ở đất nước mang tên CHXHCN Việt Nam???

Kit xét nghiệm rởm của Việt Á: Vụ lừa đảo mang tầm quốc gia, liệu Thủ tướng có bị qua mặt?

Bởi  AdminTD

Pham Văn Bắc

20-12-2021

Trách nhiệm của Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long và cựu Bộ trưởng Bộ Khoa học Nông nghệ – đương kim Chu Tổng đốc Hà thành Chu Ngọc Anh ở đâu?

Tôi đã định không viết gì nữa nhưng hôm nay đọc thông tin Bộ Khoa học – Công nghệ đã gỡ thông mà Bộ này đã đăng tuyên bố rằng bộ kit test COVID-19 của Việt Nam “được WHO chấp thuận” trên website của Bộ thì đúng là không thể tưởng tượng được mức độ xảo trá của quan chức có liên quan.

Ảnh chụp màn hình báo Tuổi Trẻ

Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã có văn bản bác bỏ không chấp nhận cho phép lưu hành (NOT ACCEPTED) bộ Kit này, vậy mà các ông cho công bố thông tin trên Website của mình là “ĐƯỢC CHẤP THUẬN” cho phép lưu hành.

WHO không chấp thuận bộ kit của Việt Á. Ảnh trên mạng

Bộ KHCN và Bộ Y tế ngang nhiên cho Việt Á bán cho CDC của 62 tỉnh thành trong cả nước, với giá cao ngất ngưởng. Trung tâm kiểm soát dịch bệnh (CDC) Hải Dương mua tổng trị giá 151 tỷ đồng, thì giám đốc CDC Hải Dương được Việt Á lạy quả 30 tỷ đồng (30%).

Việt Á bán được hơn 4.000 tỷ đồng, thì theo tỷ lệ ăn chia trên, Việt Á thu về 3.200 tỷ đồng, còn 800 tỷ đồng cho các quan chức xơi.

Tưởng nơi sản xuất Kit của Việt Á thế nào, hóa ra là một phòng rộng hơn 10m2, nhìn vô cùng mất vệ sinh, lộn xộn. Có 10 nhân viên sản xuất pha chế, mà đa số chưa học hành về chuyên ngành dược. Vậy mà mỗi ngày cho ra đời 30.000 bộ kít nhân với 550l/1 bộ = 16.5 tỷ đồng/1 ngày.

Một xét nghiệm PCR thời kỳ đầu các nơi thu trên 2 triệu đồng, sau khi bị báo chí thắc mắc, thì giảm về hơn 1 triệu, rồi giảm về 950 ngàn đồng, rồi giảm về 750 ngàn đồng, hiện tại còn 500 ngàn đồng.

Sao các ông hút máu dân kinh khủng như vậy? À, mà quên, hít cả dịch mũi dân sạch như vậy?

Đến giờ thì chắc mọi người đã vỡ lẽ ra là tại sao lại được tư vấn chọc thật nhiều, ngoáy thật nhiều

Tham nhũng là một liên minh ma quỷ giữa các quan chức và những kẻ dã tâm.

Việc làm sai trái của Bộ Y và Bộ KHCN thì đã rõ, và họ cần phải bị trừng phạt, nhưng trừng phạt hết, thì như lời của cựu chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng, là kỷ luật hết lấy đâu người ra để mà làm việc?

Cộng sản Việt Nam, chờ đó!- Điệp Mỹ Linh (Danlambao)

Cộng sản Việt Nam, chờ đó!- Điệp Mỹ Linh (Danlambao)

Điệp Mỹ Linh (Danlambao) – Cho đến khi viết bài này, tôi cũng vẫn không hiểu tại sao, cách nay hơn 40 năm – trong buổi lễ vô cùng trọng thể để di dân nhập tịch tuyên thệ trung thành với Hoa Kỳ – tôi lại quẹt nước mắt với tâm trạng vô cùng đớn đau; không khác chi lúc tất cả sĩ quan, binh sĩ, đồng bào và gia đình tôi trên Dương Vận Hạm Thị Nại HQ502, vừa hát Quốc Ca Việt Nam Cộng (VNCH) trong buổi lễ Hạ Kỳ tại Subic Bay, năm 1975, vừa khóc!

Không phải chỉ có gia đình tôi, mà hầu như tất cả người Việt tỵ nạn cộng sản Việt Nam (csVN) tại Hoa Kỳ, từ năm 1975, đều vươn lên từ đau thương, từ mất mát và hy sinh mọi điều mới tạo dựng được thế hệ di dân thứ hai rực rỡ!

Ngoài lòng hy sinh, nỗi đau thương và sự mất mát, người Việt tỵ nạn csVN còn mang theo nền văn hóa và đạo đức của sự giáo dục đầy nhân bản thuộc chính thể VNCH.

Những thành tựu lớn lao của thế hệ người Việt di dân thứ hai không những giúp người Việt sang Mỹ sau năm 1975 được dễ dàng hội nhập vào xã hội mới, trong mọi lãnh vực – như giáo dục, y tế, luật pháp, quân sự, chính trị, âm nhạc, văn học, kỹ thuật, khoa học, khoa học không gian, v.v… – mà những thành tựu tuyệt vời của thế hệ di dân thứ hai còn là niềm hãnh diện chung của những người mang dòng máu Lạc Hồng.

Cùng một thời gian, từ 1975 đến 2021, trong khi người Việt tỵ nạn cộng sản vượt qua không biết bao nhiêu khổ nạn để vừa xây dựng tương lai; vừa gửi từng đồng đô-la đẫm mồ hôi và nước mắt về Việt Nam cứu giúp người thân đang bị csVN đọa đày trong các trại cải tạo và ở kinh tế mới; vừa tạo được nhiều thành quả lớn lao trong mọi lãnh vực trên thế giới thì người csVN lại thực hiện những điều quá tồi tệ, quá bẩn thỉu, làm nhục Quốc thể Việt Nam!

Tôi sẽ không khơi lại những hành động thiếu lễ độ, thiếu giáo dục, vô văn hóa của những nhân vật cao cấp trong guồng máy đầy ác tính của csVN và của du học sinh từ Việt Nam sang ngoại quốc du học – như Dương Đức Thịnh – bị giới truyền thông quốc tế phổ biến và ghi lại.

Tôi cũng sẽ không nhắc đến vấn nạn xuất cảnh lao động để 39 “thùng nhân” người Việt bị chết thảm. Thông Tấn Xã Việt Nam, ngày 09/12/2021 @ 14:45:05 đưa tin: “Phim tài liệu One Year on the Essex Lorry Tragedy về một năm sau thảm kịch 39 người Việt thiệt mạng trong xe tải tại Essex (Anh) do báo Việt Nam News, Thông tấn xã Việt Nam thực hiện, được trình chiếu tại Liên hoan phim quốc tế thường niên Erie, tại tiểu bang Pennsylvania, Hoa Kỳ, từ ngày 10 đến 19/12/2021”.

Trong những đợt xuất cảnh lao động từ Việt Nam, nữ giới làm điếm, làm “osin”; nam giới trồng cần sa, bị bắt, bị nhốt tù. Thế mà, dạo này, dư luận viên của csVN sửa lại là: Thanh niên Việt Nam canh gác, bảo vệ các trại trồng cần sa – ngầm bảo rằng thanh niên xuất cảnh lao động từ Việt Nam sang không trồng cần sa!

Tôi chỉ muốn đề cập đến hai câu trong bản tin của đài VOA, ngày 29/11/2021 @ 2:50 PM. Hai câu ấy như thế này: “Mỹ không mời Việt Nam tham gia hội nghị thượng đỉnh về dân chủ sắp diễn ra. Bộ ngoại giao Mỹ cho biết khi công bố danh sách các nước được mời hôm 23/11.

Sẽ có 110 nước tham dự sự kiện được tiến hành qua mạng vào hai ngày 9 và 10/12, có mục tiêu ngăn chận tình trạng dân chủ bị thụt lùi và các quyền tự do bị suy yếu…”

Đọc hai câu này xong, tôi vừa vui vừa buồn!

Vui, vì tôi thấy nhà cầm quyền csVN bị “quê xệ” nặng nề trước dư luận thế giới!

Buồn, vì tôi ước chi danh từ kép thân thương “Việt Nam” không bị đề cập đến trong sự kiện bẽ bàng này!

Không bẽ bàng sao được khi mà Đài Loan – một quốc gia có diện tích và dân số kém xa diện tích và dân số Việt Nam – lại được Hoa Kỳ mời!

Đấy, nhà cầm quyền csVN lúc nào cũng lừa dối dân Việt bằng những khẩu hiệu “rền vang” như sấm để người dân “tự hào” với khẩu hiệu, với tượng đài, với lễ hội, với đá banh, với nhiều cuộc thi hoa hậu, v.v… mà quên đi nỗi nhục quốc thể do các nhân vật cao cấp trong đảng csVN tạo nên!

Những quốc gia văn minh thường phân định rõ ràng sinh hoạt giữa các địa hạc văn học, nghệ thuật, văn hóa, chính trị, thể thao, v.v… – chỉ có đảng và người csVN mới “thừa nước đục thả câu”.

Hành động “thừa nước đục thả câu” của đảng và người csVN trong dịp thí sinh hoa hậu Việt Nam Đỗ Thị Ngà độc tấu nhạc khúc Cô Gái Vót Chông, bằng đàn T’rưng, tại đảo Puerto Rico, thuộc Mỹ, đã cho thấy – một lần nữa – người csVN đã lộ rõ bản chất hạ cấp, vô văn hóa, vô giáo dục: Một tay đưa ra nhận tiền, nhận tất cả sự hỗ trợ lớn lao của Mỹ; tay kia lén đâm vào vết thương còn mưng mủ của Mỹ!

Từ ngàn xưa, Ông Bà mình có câu: “Cái nết đánh chết cái đẹp” để giáo dục con người. Bây giờ, csVN “biến” một cô gái thi hoa hậu trở thành một kẻ vô liêm sỉ, vô giáo dục và vô văn hóa về hành động thiếu hiểu biết, không thân thiện của cô ấy trong cuộc thi hoa hậu thế giới. Và, cũng chỉ người csVN mới manh tâm bỏ câu châm ngôn “Tiên học lể hậu học văn” trong chương trình giáo dục tại Việt Nam. (Mời đọc bài của Nguyễn Văn Mỹ trên BBC, ngày 26/11/2021.)

Tôi không buồn hoặc tức giận về hành động thiếu suy nghĩ của cô thí sinh hoa hậu Đỗ Thi Ngà mà tôi lại căm phẫn về chính sách khơi động căm thù của người csVN. Nếu vị nào nghĩ rằng tôi kết tôi csVN một cách quá đáng thì kính mời người đó hãy nhớ lại những dịp 30 tháng Tư, Tết Mậu Thân, mùa Hè đỏ lửa, v.v… csVN đã tổ chức ăn mừng chiến thắng “hoành tráng” như thế nào!

Trong khi csVN ăn mừng “chiến thắng?”, tôi âm thầm tạ ơn Trời Phật đã giúp cho quân lực Hoa Kỳ biết tôn trọng những quy ước quốc tế trong chiến tranh để khỏi tạo nên những War Crimes – như người csVN đã cố tình tạo ra – để giết hại người Việt!

Theo định nghĩa của hai chữ War Crimes mà tôi thấy trên internet là: “Examples of war crimes include intentionally killing civilians or prisoners, torturing, destroying civilian property, taking hostages, performing a perfidy, raping, using child soldiers, pillaging, declaring that no quarter will be given, and seriously violating the principles of distinction and proportionality…” Theo định nghĩa này thì csVN đã tạo ra không biết bao nhiêu War Crimes, kể từ ngày ông Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam cho đến nay!

Trong chiến tranh Việt Nam, Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ luôn luôn túc trực tại hải phận Thái Bình Dương. Là một người hiểu rõ sức mạnh của Hải Quân, tôi nghĩ rằng: Nếu quân lực Hoa Kỳ không cố tình tránh né để khỏi tạo ra War Crimes thì không thể nào bộ đội csVN có thể kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược – từ phía Bắc vĩ tuyến 17, vượt sông Bến Hải, vượt dãy Trường Sơn, vào Nam Việt Nam – đến gần 21 năm!

Tôi nghĩ, cả thế giới và người csVN cũng hiểu được những điều tôi đã nêu trên; nhưng, vì căn bệnh tự ti mặc cảm quá nặng nề, người csVN phải “nổ”. Trong khi tự “đánh bóng”, người csVN và dư luận viên của csVN cứ “nổ” là người csVN đã thắng Mỹ và thắng nhiều cường quốc trên thế giới – đồng minh của Mỹ – như Úc, Đức, Đại Hàn, v.v…

Không sao! Người csVN cứ “nổ”. Nhưng người csVN nên đọc kỷ thế giới sử về hậu quả khốc hại của trận Trân Châu Cảng – sau khi Nhật dùng cảm tử quân đánh lén Hạm Đội của Hoa Kỳ tại Honolulu, Hawaii, ngày 07/12-1941 – thì người csVN và dư luận viên csVN sẽ tự thẹn về sự “nổ sản” của mình!

Ông Bà mình có câu “Sáu mươi chưa què, đừng khoe là lành”. Người csVN thấy đảng và bộ đội ông Hồ Chí Minh – sau khi tiêu diệt không biết bao nhiêu đảng phái đối lập để đưa dân tộc Việt Nam vào tệ trạng “nồi da xáo thịt” – đã vượt quá con số 60 mà vẫn còn “hãnh tiến” (chữ của người Việt trong nước) trên con đường ngập máu và nước mắt của người Việt Nam, cho nên, người csVN không thể che giấu được sự ngạo mạng!

Viết đến đây, tôi chợt nhớ câu ngạn ngữ của Pháp mà Ba tôi đã dạy tôi từ ngày bé thơ: “Tout passe, tout lasse, tout casse et tout se remplace.” (Everything passes, everything weary, everything breaks and everything replaced).

Chờ đó! Định luật thiên nhiên và quả báo của không biết bao nhiêu triệu oan hồn, uẩn tử sẽ không cho phép người csVN tiếp tục sống ngạo mạn trong niềm “hãnh tiến” đầy ảo vọng đâu!

Điệp Mỹ Linh

danlambaovn.blogspot.com

Tất cả chúng ta sắp bị bắt rồi!-Phạm Đình Trọng

Tất cả chúng ta sắp bị bắt rồi!

Bởi  AdminTD

 Phạm Đình Trọng

18-12-2021

Ngày 14.12.2021 tòa án Hà Nội xử nhà báo Phạm Đoan Trang 9 năm tù.

Ngày 15.12.2021 tòa án Hà Nội xử hai nông dân ngoại thành Hà Nội, ông Trịnh Bá Phương 10 năm tù. Bà Nguyễn Thị Tâm 6 năm tù.

Ngày 16.12.2021 tòa án tỉnh Nam Định xử người thợ Đỗ Nam Trung 10 năm tù.

Ngày 24.12.2031 tòa án cấp cao sẽ xử phúc thẩm hai mẹ con nông dân Cấn Thị Thêu và Trịnh Bá Tư. Án sơ thẩm đã xử bà mẹ nông dân Cấn Thị Thêu 8 năm tù và con trai Trịnh Bá Tư 8 năm tù.

Ngày 31.12.2021 chính quyền Hà Nội sẽ dẫn giải thầy giáo Lê Trọng Hùng ra toà xử.

Tất cả những công dân phải nhận những án tù đằng đẵng từ sáu đến mười năm trời đều là người dân lương thiện, không hề có bất kì tội hình sự cỏn con nào.

Không có tội với dân. Họ chỉ nói những mong muốn, những đòi hỏi chính đáng, khẩn thiết của người dân. Tự do, Dân chủ đang là khát khao của cả trăm triệu người dân Việt Nam. Nói tiếng nói chính đáng của cả xã hội đòi tự do dân chủ thì không có tội. Mảnh đất sống của người dân, tài sản thiêng liêng thấm đẫm mồ hôi và cả máu của dân bị quyền lực đồng tiền núp bóng quyền lực chính quyền cướp đoạt trắng trợn. Người dân phải phẫn nộ gào thét, tập hợp đấu tranh, sẵn sàng đổ máu để bảo vệ tài sản chính đáng, bảo vệ cả lẽ phải, bảo vệ cả đạo lí xã hội thì không có tội. Pháp luật nghiêm minh phải trị tội bạo quyền, bảo vệ tài sản chính đáng của dân chứ không thể buộc tội dân.

Không có tội với nước. Không chỉ sẵn sàng mang cả tính mạng ra bảo vệ Tổ quốc, công dân còn phải có trách nhiệm bảo vệ những giá trị của nhân phẩm con người, những giá trị của xã hội công bằng, văn minh. Những giá trị làm nên vẻ đẹp, làm nên sự giầu có đời sống văn hoá, tinh thần của đất nước cũng làm nên sức sống vững bền của dân tộc của quốc gia. Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách là vậy. Nói tiếng nói trách nhiệm công dân thì không có tội.

Không có tội với pháp luật. Người dân thực hiện quyền tự do ngôn luận được Hiến pháp bảo đảm thì không thể bị buộc tội. Hiến pháp là văn bản pháp luật cơ bản của nhà nước, là bộ luật nền móng để từ đó dựng lên những tầng lầu, xây lên những gian phòng là các bộ luật chuyên biệt của từng lĩnh vực đời sống xã hội, tạo lên toà nhà pháp luật nghiêm minh và bền vững của đất nước.

Luật pháp của bất kì nước nào, của bất kì thể chế chính trị nào cũng phải tuân theo nguyên tắc tối cao, bất di bất dịch là: Các bộ luật chuyên biệt không được trái Hiến pháp. Bộ luật nào, điều luật nào trái Hiến pháp đều vi Hiến, đều không có giá trị pháp lí, đều phản bội ý chí nhà nước và nhân dân. Luật vi Hiến gây tổn hại, mất mát, đau khổ cho dân, gây bất ồn xã hội còn là tội ác.

Hiến pháp không những là những lời vàng danh dự, trang nghiêm của một nhà nước, một thể chế chính trị mà Hiến pháp còn là tiếng nói lịch sử khắc vào thời gian, là tiếng nói long trọng của một quốc gia với thế giới. Bằng điều 25, Hiến pháp 2013, Nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nói lời vàng danh dự với dân, nói lời long trọng với thế giới rằng: Người dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình.

Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin là: Người dân có quyền phát biểu, trao đổi, trả lời phỏng vấn truyền thông trong nước và thế giới, có quyền viết trên mạng xã hội, viết báo, viết sách, tạo ra, lưu giữ và phổ biến các văn bản, tài liệu bộc lộ tư tưởng, chính kiến về mọi vấn đề chính trị, xã hội của đất nước, của thời đại. Chỉ khi tuyên truyền lối sống đồi truỵ, chỉ những tư tưởng, chính kiến kích động hận thù, bạo lực, chiến tranh mới không được phép.

Dân trao quyền lực cho chính quyền. Dân đóng thuế nuôi chính quyền và dành cho chính quyền những ưu đãi cao nhất để chính quyền phục vụ dân và lo việc nước. Dân là chủ thể đất nước và chính quyền là công bộc của dân. Với tư thế chủ thể đất nước, với quyền tự do ngôn luận, đương nhiên người dân có quyền nhận định, đánh giá, phê phán đường lối chính sách hiện hành của nhà nước, có quyền khen chê, thậm chí chế giễu, lên án những công bộc mà người dân phiền lòng về năng lực và đạo đức. Đó là điều phổ quát ở mọi xã hội dân chủ trên thế giới. Không quyền lực nào được phép coi sự đánh giá, phê phán của những chủ thể đất nước với chính quyền là “tuyên truyền xuyên tạc đường lối chính sách, chống nhà nước, phỉ báng chính quyền, gây hoang mang trong nhân dân” để hình sự hoá quyền tự do ngôn luận của công dân.

Bộ Luật Hình sự 2015 có hai điều vi Hiến vô hiệu điều 25 Hiến pháp vu tội người dân khi người dân thực hiện quyền tư do ngôn luận là:

Điều 117. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

  1. Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;
  2. Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;
  3. Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm gây chiến tranh tâm lý.

Điều 331. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Điều 117 và điều 331 Bộ Luật Hình sự 2015 đã ngang nhiên vô hiệu điều 25 Hiến pháp 2013.

Nhà báo Phạm Đoan Trang, những nông dân Cấn thị Thêu, Nguyễn Thị Tâm, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, người thợ Đỗ Nam Trung, thầy giáo Lê Trọng Hùng và hàng trăm công dân trung thực có ý thức trách nhiệm công dân như thầy giáo Đinh Đăng Định, thầy giáo Đào Quang Thực, nhà văn Phạm Thành, nhà báo Phạm Chí Dũng, nhà báo Nguyễn Tường Thuỵ, kĩ sư tin học Lê Hữu Minh Tuấn, sinh viên Trần Hoàng Phúc, Kĩ sư thuỷ sản Nguyễn Ngọc Ánh,… đều phải nhận những bản án tù cả chục năm trời vì điều luật vi Hiến 117 của bộ Luật hình sự 2015.

Những chữ vàng chói lọi của điều 25 Hiến pháp 2013 nghiêm trang xác nhận quyền tư do ngôn luận của người dân Việt Nam. Nhưng bộ Luật Hình sự 2015 với điều 117 và điều 331 vi Hiến đã chống lại điều 25 Hiến pháp, hình sự hoá quyền tự do ngôn luận.

Hình ảnh nhà báo Phạm Đoan Trang bị công an bắt dẫn giải đi trong đêm vắng như đêm Trung cổ, trên đường phố hun hút là hình ảnh tội ác của những điều luật vi Hiến 117 và 331 bộ Luật Hình sự năm 2015 đang được khắc ghi vào thời gian, đang được khắc ghi vào lịch sử.

Phạm Đoan Trang lúc bị bắt. Ảnh trên mạng

Hình ảnh nhà báo Phạm Đoan Trang hai tay bị còng vẫn phải cầm cây bút viết trong đồn công an là hình ảnh nhức nhối của quyền tự do ngôn luận bị còng bởi điều luật vi Hiến 117 và 331 trong bộ Luật Hình sự năm 2015.

Phạm Đoan Trang ký biên bản làm việc nhưng vẫn bị còng tay. Ảnh trên mạng

Tự do ngôn luận với con người như không khí với sự sống. Sự sống không thể thiếu không khí. Con người không thể thiếu quyền tự do ngôn luận. Điều 117 và điều 331 vi Hiến trong bộ Luật Hình sự 2015, hình sự hoá quyền tự do ngôn luận đã biến cả trăm triệu dân Việt Nam đều trở thành người có tội, đều là những người tù dự bị, có thể bị bắt bất cứ lúc nào.

Điều 117 và điều 331 vi Hiến trong bộ Luật Hình sự 2015 đã biến quyền tự do ngôn luận không thể thiếu của con người thành bóng trăng ảo ảnh xa lắc trên trời cao và người dân Việt Nam chỉ là bấy chó đói hóng bóng trăng tự do ngôn luận vời vợi trên cao xanh như nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm với tâm hồn nhạy cảm nghệ sĩ đã thảng thốt kêu lên:

“Tất cả chúng ta đều bị theo dõi
Tất cả chúng ta sắp bị bắt rồi
Tất cả chúng ta như bầy chó đói
Ngửa mặt lên trời hóng bóng trăng rơi!”

Những ngày đen tối của tháng mười hai, 2021, dồn dập những phiên Toà vi Hiến tuyên án tù Quyền Tự do Ngôn luận.

Dưới sự cai trị của xã hội đen, Việt Nam mãi nằm dưới đáy đói nghèo chẳng có gì lạ

Dưới sự cai trị của xã hội đen, Việt Nam mãi nằm dưới đáy đói nghèo chẳng có gì lạ

Phương Nguyễn (Danlambao) – Không thể phủ nhận trình độ lý luận khoa học, kiến thức xã hội học, kinh tế học và khả năng triết luận của các ông Marx, Angel hai kẻ lập thuyết cộng sản có sức hấp dẫn, thuyết phục cao. Do đó, học thuyết cộng sản ngay từ lúc ra đời đã có không ít trí thức khoa bảng, kể cả tầng lớp quý tộc tham gia ủng hộ, tiếp tay rao giảng, truyền bá trong quảng đại quần chúng nhân dân khắp thế giới.

Tuy nhiên, thảm họa khủng khiếp của cộng sản gieo rắc xuống nhân loại chỉ xảy đến kể từ khi Lenin biến học thuyết Mác thành chủ nghĩa Mác- Lenin và lợi dụng thành phần công nông ít học, tầng lớp đầu đường xó chợ, đâm cha thuốc chú sử dụng bạo lực cách mạng, đấu tranh vũ trang cướp chính quyền, độc quyền lãnh đạo nhà nước, xã hội. Chúng củng cố độc tài, phát triển tội ác, xuất cảng mô hình nhà nước phi nhân, phản động đi ngược lại trào lưu tiến hoá của nhân loại ra toàn thế giới.

Với nguồn gốc xuất thân từ thành phần bất hảo ít học nhưng lưu manh độc ác cực kỳ nên trở thành thảm họa cho nhân loại. Thảm họa cộng sản chỉ dừng lại hay biến mất, khi và chỉ khi nào chế độ độc tài toàn trị, công an trị bị loại trừ khỏi đời sống của xã hội loài người.

Thảm họa này tồn tại trong hiện tại, tiếp diễn đến cả tương lai bởi nguồn gốc xuất thân của các tín đồ cộng sản đa phần là thành phần bất hảo, ngu dốt độc ác phi nhân tính, chúng xây dựng quyền lực chính trị trên nòng súng và nhà tù.

Ngay cả các tên lãnh đạo chính trị tối cao, là tứ trụ triều đình cộng sản Việt Nam hiện tại gồm tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ và chủ tịch quốc hội vẫn không hiểu rõ trách nhiệm, quyền hạn của người lãnh đạo quốc gia, điều hành đất nước. Điều đó làm cho xã hội rối loạn, luật pháp như con nít chơi nhà chòi, mạnh ai nấy làm luật, diễn giải luật tuỳ ý, thi hành luật tuỳ tiện.

Cụ thể là các bộ trưởng của nội các chính phủ cộng sản Việt Nam đều được bộ chính trị chỉ định, cơ cấu qua màn diễn ứng cử, bầu cử do đảng cộng sản tổ chức bằng tiền thuế của người dân và hầu hết các bộ trưởng nội các chính phủ Việt cộng đều không biết vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của họ bao gồm:

– Định hướng chính sách của chính phủ và đưa ra các quyết định lẫn giải pháp mang tính chiến lược về các vấn đề phát triển quốc gia.

– Thảo luận việc thực hiện chính sách quốc gia và đề xuất cách hoàn thiện chính sách phát triển quốc gia.

– Soạn thảo dự luật, trình bày các dự luật đưa ra quốc hội bỏ phiếu thông qua để tháo mở rào cản luật pháp do các bộ của nội các chính phủ chịu trách nhiệm thực hiện chính sách.

Với nội các chính phủ do đảng cộng sản tuyển chọn theo tiêu chuẩn hồng hơn chuyên, qua cái gọi là rèn luyện, cơ cấu. Thực chất là được chỉ định chỉ biết thần thánh hoá lãnh tụ, vâng lời lãnh tụ một cách máy móc và học tập làm theo chủ trương, đường lối, cương lĩnh đảng, là cương lĩnh lạc hậu lỗi thời, phản động từ nguồn gốc lý luận. Thế cho nên bảo sao nhà nước Việt cộng không đi từ sai lầm này đến sai lầm khác… Rối rắm trong vòng luẩn quẩn, sai rồi sửa, sửa rồi lại sai nhấn chìm đất nước, dân tộc xuống đáy đói nghèo, lạc hậu, chậm tiến.

Không chỉ nội các chính phủ của Việt cộng không biết vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của chúng mà tứ trụ triều đình cộng sản cũng không biết trách, nhiệm vụ lãnh đạo quyền lực chính trị tối cao của chúng là phải làm gì?

Lãnh đạo Việt cộng, đứa nào như đứa nấy, chúng lãnh đạo, điều hành quốc gia như băng đảng xã hội đen, phát ngôn nhảm nhí như con nít, nói không biết nói gì?

Điển hình của chuyện lãnh đạo Việt cộng, nói nhưng không biết nói gì, là chủ tịch quốc hội Vương Đình Huệ, một trong tứ trụ triều đình đã nhiều lần phát ngôn linh tinh không biết vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của người đứng đầu ngành lập pháp đã được Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định:

“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

…Lập pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một bộ phận của quyền lực nhà nước. Quyền lập pháp, bao gồm thể chếthiết chế và hoạt động của thiết chế đó, thực hiện nhiệm vụ làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật nhằm thực thi quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền làm chủ của người dân và lợi ích chung của toàn xã hội.”

Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ tịch quốc hội, lãnh đạo tối cao ngành lập pháp, dù không đúng chuẩn của các nước dân chủ văn minh tiên tiến, vẫn được quy định cụ thể rõ ràng như sau:

1-Chủ tọa các phiên họp Quốc hội, bảo đảm thi hành quy chế đại biểu Quốc hội, nội quy kỳ họp Quốc hội; ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội.

2-Chỉ đạo công tác của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự kiến chương trình làm việc, chỉ đạo việc chuẩn bị, triệu tập và chủ tọa các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

3-Triệu tập và chủ tọa hội nghị Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội bàn chương trình hoạt động của Quốc hội, của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; tham dự phiên họp của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.

4-Giữ mối quan hệ với các Đại biểu Quốc hội.

5-Chỉ đạo việc thực hiện kinh phí hoạt động của Quốc hội.

6-Chỉ đạo và tổ chức việc thực hiện công tác đối ngoại của Quốc hội; thay mặt Quốc hội trong quan hệ đối ngoại của Quốc hội; lãnh đạo hoạt động của Đoàn Quốc hội Việt Nam trong các tổ chức liên nghị viện thế giới và khu vực.

Qua những quy định cụ thể về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ tịch quốc hội do nước cộng hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nêu trên.

Thế chủ tịch quốc hội Vương Đình Huệ có làm theo luật pháp quy định sau khi tên thủ tướng Việt gian Phạm Minh Chính giết dân, phá nát kinh tế Việt Nam qua việc chống dịch cúm Tàu cho Tàu bằng các khẩu hiệu.

Chúng ta cùng nhau tham khảo phát biểu sau đây của Vương Đình Huệ:

“Hiện việc hấp thụ vốn của nền kinh tế gặp trở ngại, tín dụng tăng chậm, có nguy cơ chảy vào những lĩnh vực rủi ro cao như chứng khoán, bất động sản.

Bộ tài chính, ngân hàng nhà nước cần nghiên cứu giải pháp cải thiện thể chế, luật pháp, ưu đãi… để mở rộng năng lực thị trường vốn, huy động nguồn lực trong dân còn đang nhiều.

Phải tập trung phân tích các yếu tố để đánh giá năng lực hấp thụ vốn nền kinh tế. Tiền đưa vào chỗ nào, kích thích vào đâu để tiền rót vào mà tiêu được, nhất là phân bổ, giải ngân đầu tư công, giải quyết các dự án treo, chậm tiến độ…

Tác động của Covid-19 gây nguy cơ rủi ro kinh tế, đứt đoạn chuỗi cung ứng còn hiện hữu. Bản kế hoạch tái cơ cấu 5 năm tới phải gắn với chương trình phục hồi tổng thể nền kinh tế và tăng tính tự chủ nền kinh tế…

Như vậy, vừa phải trọng cung, vừa phải kích cầu. Tức là coi trọng kích thích các yếu tố phát triển, nhưng cũng phải chú trọng tới kích cầu.

Chương trình phải gắn với nâng cao nội lực, tính tự chủ của nền kinh tế, gắn với khuôn khổ đầu tư công trung hạn, kế hoạch tài chính ngân sách, phát triển kinh tế, xã hội dài hạn.

Chương trình cũng cần có lộ trình phù hợp, đồng thời cần có trọng tâm, trọng điểm, có tính khả thi cao và dẫn vốn được vào khu vực thực sự cấp bách, có khả năng hấp thụ vốn.

Chương trình quản lý rủi ro đảm bảo cho việc huy động, phân bổ các nguồn lực công khai, đúng mục đích, hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí, chống lợi ích nhóm…”

Phát ngôn của Vương Đình Huệ vừa dẫn và nhiều phát ngôn kể từ khi được đảng cử làm chủ tịch quốc hội, Huệ luôn cầm nhầm vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn. Nói cách khác là Huệ hiểu sai chức năng của người đứng đầu ngành lập pháp.

Như phát ngôn được trích dẫn ở trên, Vương Đình Huệ nói như người lãnh đạo ngành hành pháp, đứng đầu nội các chính phủ ban hành sắc lệnh hành pháp cho các bộ hoạch định chính sách phục hồi kinh tế hậu cúm Tàu.

Thật ra không chỉ có Vương Đình Huệ không biết vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn chính trị của mình mà hầu hết lãnh đạo cộng sản Việt Nam đều không hề biết điều gì được làm và điều gì không được làm trong nhiệm vụ chính trị của chúng được đảng cộng sản giao.

Với Việt cộng, nhiệm vụ chính trị là nòng súng, nhà tù và với công cụ đàn áp đó, chúng quản trị, điều hành đất nước tồi tệ hơn băng đảng giang hồ xã hội đen sống ngoài vòng pháp luật.

Một đất nước nằm dưới sự cai trị của băng đảng xã hội đen thì mãi nằm dưới đáy đói nghèo, lạc hậu, chậm tiến so với thế giới chẳng có gì lạ!

Tham khảo:

https://quochoi.vn/ct-vuong-dinh-hue/Pages/qua-trinh-cong-tac.aspx?ItemID=60798

https://quochoi.vn/ct-vuong-dinh-hue/Pages/qua-trinh-cong-tac.aspx?ItemID=60640

https://moh.gov.vn/hoat-dong-cua-lanh-dao-bo/-/asset_publisher/TW6LTp1ZtwaN/content/tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-khong-khoan-nhuong-voi-cai-xau-cai-ac-phi-van-hoa-phan-van-hoa-

 Phương Nguyễn

danlambaovn.blogspot.com

Tại sao Đảng sợ Phạm Đoan Trang

Tại sao Đảng sợ Phạm Đoan Trang

01:06 | Posted by BVN1

16/12/2021

Ngô Nhân Dụng

Nhà báo Phạm Đoan Trang tại phiên xử tại tòa Hà Nội ngày 14 tháng 12, 2021.

Cô Phạm Đoan Trang, 43 tuổi, đã bị tuyên án 9 năm tù vì tội “Tuyên truyền chống Nhà nước” theo luật Hình sự của đảng Cộng sản. Luật sư Đặng Đình Mạnh kể, có lúc tòa tạm ngưng, cô Đoan Trang quay lại nhìn về phía người mẹ đang ngồi phía sau khoảng 5 mét. Bà Bùi Thị Thiện Căn, hơn 80 tuổi, đã nắm tay, đưa một ngón cái lên: “Con là Số Một!”

Có 5 luật sư bào chữa cho Phạm Đoan Trang, các ông Đặng Đình Mạnh, Nguyễn Văn Miếng, Lê Văn Luân, Ngô Anh Tuấn và bà Phạm Lệ Quyên. Luật sư Mạnh nhận xét, “Có lẽ, chỉ có dòng máu anh thư chảy trong huyết quản người mẹ Việt mới có thể luân chuyển, hun đúc nên tinh thần kiên cường của một Đoan Trang mà chúng tôi phải ngả mũ từ rất xa.”

Phạm Đoan Trang đã sáng lập tạp chí “Luật Khoa” giúp người Việt Nam hiểu luật pháp để tự bảo vệ quyền lợi của mình. Cô làm báo từ năm 2000 cho đến 2013, cộng tác với gần mười cơ quan báo chí trong nước, như VnExpress, Vietnamnet, báo Pháp Luật Thành Phố Hồ Chí Minh, đài truyền hình VTC, vân vân.

Năm 2014, cô qua Mỹ nhận học bổng nghiên cứu của tổ chức Villa Aurora & Thomas Mann House và thư viện Feuchtwanger tại đại học nam California (University of Southern California- USC). Năm 2015 Phạm Đoan Trang tham gia cuộc biểu tình ôn hoà “bảo vệ cây xanh” và bị công an đánh gãy cả hai chân. Cô đã xuất bản những cuốn Phản kháng phi bạo lực, Cẩm nang nuôi tù, Chính trị bình dân, tất cả hơn 10 tác phẩm tranh đấu. Cô bị bắt giam thêm nhiều lần nữa.

Tại sao sau khi công tố viên đề nghị bản án từ 7 đến 8 năm tù, quan tòa lại tăng lên thành 9 năm?

Vì Đảng Cộng sản đang sợ. Đó là nhận xét của một tờ báo ở Berlin, nước Đức, ngay lập tức khi loan tin bản án.

Ông Dương Hồng Ân ở Đức giới thiệu nhật báo TAZ tường thuật phiên tòa, dưới tiêu đề “Tự Do Báo Chí ở Việt Nam (Pressefreiheit in Vietnam). Báo này viết tựa: “Chín năm tù cho nhà báo nữ” (Neun Jahre Haft für Journalistin). TAZ giải thích, “Chế độ độc tài đưa ra bản án quá nặng, chắc vì họ sợ…” Nhờ bản tin này, độc giả được biết “Việt Nam đứng hàng thứ 175 trong số 180 quốc gia, trong bảng xếp hạng “tự do báo chí” của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới.“

Tại sao Đảng sợ Phạm Đoan Trang? TAZ viết rằng họ “sợ dân chúng các làng” sẽ tiếp tục tranh đấu mạnh hơn. Một tháng trước khi bị bắt vào năm ngoái, cô Trang cùng với Will Nguyễn (ở Mỹ) đã công bố hồ sơ về làng Đồng Tâm, ngoại ô Hà Nội, dân làng phản đối chế độ cộng sản tịch thu đất đai rồi bị đàn áp tàn nhẫn. TAZ ghi nhận “Hai người dân xã Đồng Tâm đã bị án tử hình, những người khác đã bị kết án tù nhiều năm.”

Báo TAZ cũng loan những tin mà dân Việt Nam trong nước không hề biết, vì không báo, đài nào nói đến: Ngày Thứ Hai trước phiên tòa, tổ chức quốc tế Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) đã yêu cầu Cộng sản Việt Nam trả tự do cho Phạm Đoan Trang ngay lập tức. HRW kết tội cộng sản đã vi phạm Công Ước Quốc tế về Quyền Tự do mà họ đã ký kết năm 1982. Báo TAZ còn nhắc lại, vào năm 2017 tổ chức nhân quyền “People in Need” ở Cộng Hòa Tiệp (Czech) đã tặng cô Đoan Trang giải Người Với Người (Homo-Homini Preis), và năm 2019 tổ chức Phóng viên Không Biên Giới đã trao tặng cô giải “Tự Do Báo chí.” Trung tâm PEN ở Đức tuyên dương Phạm Đoan Trang là thành viên danh dự; yêu cầu nhà nước CSVN phải trả tự do cho cô.

Giáo sư Nguyễn Quang A (1) cho thấy một lý do khác khiến Đảng sợ Phạm Đoan Trang: Vì chính cái tội danh “chống nhà nước” họ cáo buộc cho cô đã là phi lý. Ông viết, … khi chính quyền ấy làm bậy“… xét về mặt nguyên tắc chẳng ai có thể chống lại một nhà nước cả …, nhưng ai cũng có quyền chống một chính quyền …”

Nhà báo Tuấn Khanh cũng nhìn thấy Đảng đuối lý. Vì đuối lý nên “văng tục.” Đảng sợ Phạm Đoan Trang vì cô “chủ trương đấu tranh bằng lý lẽ, chữ nghĩa.” Còn Đảng thì không nghĩ ra lý lẽ! Bí quá, Đảng phải dùng những hành động thô bạo, ngôn ngữ, hạ cấp. Tuấn Khanh kể lại năm 2017, sau khi Đoan Trang xuất bản cuốn Chính trị Bình Dân ở nước ngoài rồi bị bắt, cô được dẫn vào phòng giam. Sau khi cô hỏi đi hỏi lại tại sao lại bỏ tù cô, không ai trả lời được một câu. Thay vì nói “tôi chỉ làm theo lệnh trên,” một anh công an trẻ chỉ tay vào mặt cô, quát lên, “Địt mẹ con mặt l…!” Đó là thứ lý lẽ, chữ nghĩa quen thuộc của Đảng.

Bản án 9 năm tù chính là thứ ngôn ngữ “Đ.M.” của những kẻ vô học khi bị đuối lý. Nguyễn Quang A thấy bản án 9 năm giống như vậy: “… chỉ những kẻ yếu mới dùng đến những biện pháp đàn áp thô bạo như thế…” Nhưng ông cũng thấy hậu quả là “chỉ khiến nhiều người quyết tâm hơn!” Hơn nữa, “nhiều người nhìn thấy hành động phi pháp của chính quyền, và như thế thực sự hại cho chính quyền.”

Một ngày sau bản án cho cô ĐoanTrang, nhà phản kháng Trịnh Bá Phương và bà Nguyễn Thị Tâm đã bị kết án tù 10 năm và 6 năm. Bà Tâm góp mặt, như một phụ nữ đòi dân chủ tự do, cùng với Lê Thị Công Nhân, Tạ Phong Tần, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, vân vân. Có lẽ Đảng Cộng Sản sợ các phụ nữ đấu tranh nhiều hơn nam giới. Vì khi họ lên tiếng nói ảnh hưởng sẽ mạnh hơn. Những nhà lãnh đạo đầu tiên đòi độc lập cho dân tộc Việt Nam là các Bà Trưng và Bà Triệu. Quân Hán, quân Ngô đã đánh bại các bà. Nhưng Lịch sử mãi mãi ghi danh các vị nữ anh hào.

Lời nói sau chót của Phạm ĐoanTrang nói đến một phiên tòa của lịch sử: “Các anh, các chị có thể bỏ tù tôi và hả hê đắc thắng vì đã xóa bỏ được một cái gai trong mắt các anh chị nhiều năm nay; nhưng mãi mãi các anh chị không xóa bỏ được tiếng xấu, độc tài, phi dân chủ, phản dân chủ. Vì con thú mãi mãi là con thú, nó không bao giờ có thể trở thành người được.”

Sau khi đọc tin bản án 9 năm, Phạm Thị Hoài đã nhìn lại lịch sử nước Đức, nơi cô đang sống, nhắc lại một lời tuyên án: “Không có gì ô danh một dân tộc văn hiến hơn là khoanh tay chấp nhận sự cai trị của một tập đoàn lãnh đạo vô trách nhiệm và chỉ tuân theo những bản năng tăm tối. Nếu dân tộc này đã mất hết mọi phẩm giá cá nhân và chỉ còn là một đám đông vô hồn và hèn nhát, vâng, nếu vậy thì dân tộc ấy xứng đáng diệt vong.” Đó là lời của cô sinh viên Sophie Scholl, 21 tuổi, kêu gọi người Đức chống Đức Quốc xã. Cô bị bắt và bị giết. Nhưng lời buộc tội của cô đã được lịch sử ghi nhớ.

Phạm Đoan Trang cũng tuyên án. Sau cùng, Lịch sử sẽ phê phán. Đảng Cộng sản sẽ không thoát tội trước phiên tòa của Lịch sử.

N.N.D.

Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/dang-so-pham-doan-trang/6357245.html

(1) Ông Nguyễn Quang A hiện có học vị Tiến sĩ – BVN.

Trại ‘cải tạo’ của CSVN sau năm 1975

Trại ‘cải tạo’ của CSVN sau năm 1975

Nguyễn Cao Quyền

January 8, 2019

LTS: Ông Nguyễn Cao Quyền từng là một viên chức cao cấp trong chính quyền VNCH. Tốt nghiệp khóa 1 Trừ Bị Nam Định và khóa 51-53 trường Saint Cyr (Pháp), đỗ cử nhân luật và cao học tiến sĩ kinh tế Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1963), thẩm phán Tòa Án Quân Sự, đại tá chánh thẩm Tòa Án Đặc Biệt (1966-1968), cố vấn ngoại giao tại Paris (1968-1974), Nha Thông Tin Báo Chí Bộ Ngoại Giao (1974-1975). Sau năm 1975, ông bị đưa đi tù “cải tạo” (1975-1985), rồi sau đó sang định cư tại Maryland, Hoa Kỳ, từ năm 1990. Ông từng là chủ tịch Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị vùng Hoa Thịnh Đốn, cựu phó chủ tịch ngoại vụ Tổng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị, cựu chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn (1996-1998). Ông còn viết nhiều bài khảo luận về kinh tế, chính trị được phổ biến rộng rãi.

Những đoạn viết sau đây sẽ trình bày một số sự kiện chính trị đưa dẫn đến việc những quân nhân VNCH bị Hà Nội tập trung “cải tạo,” mô tả chính sách cải tạo của CSVN sau năm 1975 và sau cùng đề cập đến thiện chí của Hoa Kỳ trong việc giải thoát tù “cải tạo” và cho họ cùng gia đình sang sinh sống tại Hoa Kỳ và tại những nước dân chủ trên thế giới.

I-Giai đoạn lịch sử chung của Hoa Kỳ và Việt Nam

Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam kể từ thập niên 1940 nhưng sự can thiệp này chỉ trở thành tích cực bắt đầu từ thập nhiên 1950. Sau khi Thế Chiến 2 chấm dứt và cục diện chính trị thế giới đã hình thành rõ rệt với hai khối Tự Do và Cộng Sản kình chống nhau trong một mô thức được gọi là Chiến Tranh Lạnh thì tại Hoa Kỳ, Tổng Thống D. Eisenhower tuyên bố rằng chiến tranh Đông Dương không còn là chiến tranh thuộc địa mà là cuộc chiến giữa Cộng Sản và Thế Giới Tự Do. Từ đó Hoa Kỳ viện trơ cho Đông Dương càng ngày càng nhiều để đánh trả lại Việt Minh hầu ngăn chặn sự bành trướng của phe Cộng Sản do Liên Xô và Trung Cộng lãnh đạo.

Sau Hiệp Định Genève 1954 (chia cắt Việt Nam thành hai miền Nam, Bắc), Hoa Kỳ biến miền Nam thành tiền đồn chống Cộng. Tình nghĩa đồng minh mặc dù thắm thiết nhưng tới lúc cần tự mình đảm nhiệm cuộc chiến, Hoa Kỳ đã không do dự loại bỏ Tổng Thống Ngô Đình Diệm để được rảnh tay mang quân vào Việt Nam và Mỹ hóa chiến tranh. Ngày 8 Tháng Ba, 1965, Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Đà Nẵng mà không hề thỏa hiệp trước với chính phủ Sài Gòn. Số quân Mỹ tham chiến ở Việt Nam lớn dần theo thời gian và có lúc đã lên tới nửa triệu người.

Đến khi Hoa Kỳ cần oanh tạc Bắc Việt thì họ lại tạo ra sự kiện tàu Maddox. Tuy nhiên với những trận mưa bom trên đất Bắc và những chiến dịch lùng diệt rất quy mô tại miền Nam, Hoa Kỳ vẫn không đạt được mục tiêu và bị sa lầy. Số binh sĩ Mỹ tử trận tại miền Nam càng ngày càng gia tăng và số phi cơ bị bắn hạ tại miền Bắc cũng lên cao (1,621 chiếc từ năm 1961 đến 1966).

Cuối năm 1967 nước Mỹ chìm trong xáo trộn và phân hóa vì chiến tranh Việt Nam. Tổng Thống Johnson quyết định “Việt Nam Hóa” cuộc chiến. Được tăng cường, quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) lần lượt thay thế quân lực Hoa Kỳ trong những trách vụ hành quân quan trọng.

Chiến tích lẫy lừng nhất của quân lực anh hùng này là chiến thắng Tết Mậu Thân (1968). Chiến thắng này bẻ gãy kế hoạch tổng tấn công/tổng nổi dậy của Tướng Cộng Sản Võ Nguyên Giáp và phá tan huyền thoại “bách chiến bách thắng” của quân đội Cộng Sản Bắc Việt. Gần 60,000 quân Cộng Sản tung vào trận địa đã bị tiêu diệt hết phần nửa chỉ trong một tháng giao tranh. Phần còn lại bị thanh toán gần hết khi cuộc chiến chấm dứt. Trong cuộc chiến khốc liệt ấy, người ta ghi nhận bên phía VNCH chỉ có 4,954 chiến sĩ hy sinh.

Sau chiến thắng Tết Mậu Thân, Quân Lực VNCH tự đảm nhiệm trọng trách tác chiến để quân Mỹ có thể rút về nước. Cuộc hành quân thần tốc vào Cambodia để truy lùng Việt Cộng và tiếp cứu Lon Nol, chiến dịch Lam Sơn 719 cắt đứt đường tiếp liệu của Cộng Sản, cuộc tử thủ An Lộc được ví như trận Verdun của Pháp, cuộc tái chiếm cổ thành Quảng Trị tranh nhau với binh sĩ Cộng Sản từng thước đất, đã chúng minh một cách hùng hồn khả năng tác chiến và tinh thần dũng cảm của quân lực anh hùng ấy.

Song song với những chiến tích lẫy lừng của quân đội, công cuộc “Bình Định và Phát Triển Nông Thôn” cũng ở trên đà thành công tốt đẹp. Vào những năm đầu của thập kỷ 1970, theo cuộc thăm dò của Hamlet Evaluation Survey (HES) do các cố vấn Hoa Kỳ thực hiện khắp miền Nam Việt Nam thì trong 1,333 xã ấp cuối cùng do chiến dịch Accelerated Pacification Campaign (APC) đảm trách, 1,035 xã ấp đã có an ninh và 80% dân số miền Nam đã được sống trong vùng chính phủ kiểm soát.

Chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh đang đi vào giai đoạn thành công thì trên thế giới xảy ra một biến cố làm cho chương trình này đứt đoạn và cuộc chiến thắng của VNCH bị bỏ lỡ. Năm 1969, trên sông USSURI, dọc theo biên giới Đông Bắc Trung Hoa, Liên Xô và Trung Cộng đã động binh giáp chiến. Sự kiện này chứng minh cho Hoa Kỳ thấy rằng sự nứt rạn, từ năm 1953, giữa hai đảng Cộng Sản anh em là có thật và Hoa Kỳ đã không bỏ lỡ cơ hội tìm cách ly gián để làm suy nhược hàng ngũ đối phương.

Chiến lược toàn cầu của Mỹ thay đổi từ giờ phút đó. Những cuộc vận động ngoại giao và chính trị dồn dập xảy ra nhằm hỗ trợ mục tiêu chiến lược vừa nói:

-Ngày 9 Tháng Bảy, 1971, Kissinger có mặt ở Bắc Kinh và được Chu Ân Lai tiếp kiến.

-Ngày 25 Tháng Mười, 1971, tại Đại Hội Đồng thứ 26 của Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan để bắt tay với Trung Cộng.

-Ngày 21 Tháng Hai, 1972, tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon thăm viếng Trung Quốc trong bảy ngày.

-Ngày 28 Tháng Hai, 1972, Thông Cáo Chung Thượng Hải ra đời. Tổng Thống Nixon tuyên bố đây là “một tuần lễ” sẽ làm thay đổi thế giới.

Sự thay đổi thế giới khởi sự bằng tiến trình rút quân Hoa Kỳ khỏi Việt Nam. Bill Sullivan, phụ tá của Henri Kissinger tại hòa đàm Paris tuyên bố rằng: “…người Trung Hoa đã khai thông với chúng ta. Làm cho người Trung Hoa tách rời khỏi Liên Xô và nghiêng về phía chúng ta quan trong hơn nhiều việc chiến thắng ở Việt Nam.”

Điều không may cho miền Nam Việt Nam là đúng vào lúc chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh đang thành công tốt đẹp thì, trên bàn cờ chính trị thế giới, Hoa Kỳ thay đổi chiến lược toàn cầu, còn trong nước thì làn sóng chống chiến tranh dâng lên như nuớc thủy triều. Cả một thế hệ xuống đường vào năm 1968, gồm toàn những thành phần trẻ mới vào đời, chịu ảnh hưởng tiểu thuyết hiện sinh của Hemingway và Fitzerald. Họ sợ hãi. Một loại sợ hãi đặc biệt chỉ tìm thấy trong các xã hội giàu có. Đó là thứ sợ hãi trách nhiệm vì ham hưởng thụ và không chịu ràng buộc vào bất cứ vấn đề gì. Hoa Kỳ thay đổi chiến lược toàn cầu một phần vì muốn lợi dụng sự phân hóa trong khối Cộng Sản quốc tế nhưng phần khác cũng tại áp lực của phong trào phản chiến trong nội địa.

Về phía miền Nam Việt Nam thì mặc dầu chiến đấu oanh liệt và thắng lợi như vậy, rốt cuộc quân lực VNCH đã phải tủi hờn rã ngũ để nhìn Việt Cộng chiếm trọn quê hương. Họ đã là thành phần phải trả giá đắt nhất cho một sự phản bội. Họ không thua vì hèn kém mà thua vì lộ đồ bại trận đã được đồng minh Hoa Kỳ vạch sẵn từ lâu.

Vào giờ phút hấp hối của VNCH, khi nghe Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, năm vị tướng tài ba và đảm lược nhất của quân đội đã tuẫn tiết theo truyền thống hào hùng của ông cha. Đó là các tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn 4; Lê Văn Hưng, tư lệnh phó Quân Đoàn 4; Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư Đoàn 5; Trần Văn Hai, tư lệnh Sư Đoàn 7; và Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân Đoàn 2. Trong hàng sĩ binh sĩ cấp dưới cũng không ít những tấm gương hiên ngang và khí phách tương tự. Điểm son này cần ghi lại cho các thế hệ mai sau vì là một trong những nét kiêu hùng của nòi giống.

II-Tiến trình “cải tạo”

1-Thủ đoạn lừa dối tham độc của CSVN

Khi đồng minh Hoa Kỳ tháo chạy trước đà tiến quân của Cộng Sản Bắc Việt, họ đã để lại đằng sau 980,000 người lính của Quân Lực VNCH, những quân nhân đã từng sát cánh với binh sĩ Hoa Kỳ bảo vệ biên cương của thế giới tự do.

Vào giờ VNCH hấp hối thảm cảnh “sống chết mặc bay”diễn ra vô cùng chua sót. Người ta dẫm lên nhau chạy trốn Cộng Sản không kể gì đến sinh mạng và tài sản vì Hoa Kỳ không có một chương trình di tản nào tương xứng với tình nghĩa đồng minh. Khởi thủy Mỹ chỉ muốn di tản 50,000 người. Vào phút chót số nhân mạng được may mắn cứu vớt mới nhích lên được con số 130,000. Họ muốn mọi chuyện diễn ra nhanh chóng cho xong việc. Người ta đoán được tâm trạng này qua lời nguyền rủa rất tàn nhẫn của Henri Kissinger: “Sao chúng không chết phứt cho rồi” (Why don’t these people die fast?). Như vậy, chỉ cần làm một con tính nhỏ người ta có thể thấy ngay là hơn 800,000 binh sĩ của Quân Lực VNCH đã là nạn nhân của chế độ cải tạo của Cộng Sản Việt Nam.

Chỉ vài ngày sau khi chiếm trọn miền Nam, những người Cộng Sản đã lùa quân nhân, công chức và thành viên đảng phái quốc gia vào tù bằng một thủ đoạn vô cùng hèn hạ. Trong một buổi ra mắt mừng chiến thắng, Tướng Cộng Sản Trần Văn Trà, chủ tịch Ủy Ban Quân Quản thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) với dụng ý hiểm độc đã tuyên bố trước báo chí một câu mà những người bị “cải tạo” không thể nào quên “Đối với người Việt Nam không có ai là kẻ chiến thắng hay chiến bại. Chỉ có đế quốc Mỹ là bị đánh bại mà thôi.” Vì lời tuyên bố đường mật này mà các quân nhân, công chức và thành viên đảng phái quốc gia đã tự nguyện đi học tập “cải tạo” với số lương thực tự túc là 10 ngày hay một tháng tùy theo cấp bậc, chức vụ.

Thế rồi một tháng trôi qua, không ai được tha. Khi giải thích sự việc này, bọn cai tù Cộng Sản, dương dương tự đắc nói rằng: “Đó là nghệ thuật của cách mạng bắt các anh vào tù chứ làm gì có chuyện trả tự do, sau một tháng giam giữ, cho các con người có nợ máu với nhân dân như các anh. Các anh còn phải cải tạo dài dài.” Biết mình bị lừa nhiều người đã tự tử. Một số người khác tìm cách trốn trại để rồi cũng bị bắt lại và đánh chết thảm thương như những con vật.

Sau một năm áp dụng lao động khổ sai cho chế độ “cải tạo,” Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam, trước khi bị Hà Nội giải tán, công bố chính sách 12 điểm quy định thời gian “cải tạo” là ba năm. Sự công bố này lại mang hy vọng cho những người đã mất hết tin tưởng vào viễn ảnh của một ngày về đoàn tụ với gia đình.

Đến cuối năm 1978 thì cái hy vọng mong manh nói trên lại tan tành ra mây khói. Thời gian “cải tạo” ba năm như lời Cộng Sản hứa đã chấm dứt, song chẳng thấy ai được tha về. Trái lại, trong thời gian này, đa số đã bị lưu đày lên những vùng rừng núi Bắc Việt ma thiêng nước độc với thân tàn ma dại và tinh thần sa sút đến cùng cực. Một làn sóng tự tử thứ hai lại xảy ra, nhưng lần này bên cạnh những xác chết vì thất vọng còn có thêm nhiều xác chết khác vì đói khát và bệnh tật.

Vợ con của những người bị bắt đi “cải tạo” cũng trở thành nạn nhân của các biện pháp kỳ thị và ngược đãi. Họ bị đuổi khỏi nơi cư trú và phải đi vùng kinh tế mới giữa những rừng núi hoang vu không có một chút tiện nghi tối thiểu cần thiết cho đời sống. Con cái họ bị kỳ thị gắt gao khi thi cử và không được phép vào đại học. Nhà cửa của họ bị cán bộ Cộng Sản chia nhau chiếm đoạt, tiền bạc của họ ở ngân hàng cũng không được phép lấy ra.

Trong cơn túng quẫn những phụ nữ trẻ đẹp đã bị dồn vào thế làm lẻ mọn cho cán bộ Cộng Sản để có phương tiện nuôi thân và nuôi con còn nhỏ dại. Những người khác, rủ nhau chạy ùa ra biển, đem sinh mạng của chính mình và của con cái mình để đổi lấy tự do. Phong trào “thuyền nhân tị nạn Cộng Sản” đã đánh động lương tâm nhân loại vì trong số hàng triệu người liều chết ra đi, gần một nửa đã nằm trong bụng cá hoặc làm mồi cho hải tặc.

2-Những chặng đường “cải tạo” (kinh nghiệm bản thân)

-Những ngày đầu giam lỏng: Sau khi trình diện để được “học tập cải tạo,” chúng tôi được chở bằng xe buýt đến Long Thành. Nằm trên đường Sài Gòn-Vũng Tàu, không cách xa thị xã Biên Hòa là bao nhiêu, trại giam Long Thành là một cô nhi viện cũ bị Cộng Sản trưng dụng làm nhà tù.

Trong những ngày đầu, chúng tôi tương đối được tự do, ăn uống không thiếu thốn vì ngoài lương thực mang theo một tháng chúng tôi còn có thể mua thực phẩm tại căng tin của trại. Chúng tôi cũng chưa phải lao động mà chỉ phải học tập 10 bài chính trị và viết tự kiểm. Các bài học chính trị là những tài liệu đơn giản “kể tội Mỹ-Ngụy,” tuyên truyền lý thuyết Cộng Sản và phổ biến chính sách khoan hồng nhân đạo của chính phủ cách mạng. Những buổi học tập này nhằm gieo vào đầu óc chung tôi mặc cảm tội lỗi để chúng tôi nhận tội và an tâm cải tạo lâu dài. Thỉnh thoảng cũng có cán bộ cao cấp từ trung ương về thuyết trình những đề tài chính trị và quân sự có tính cách vừa khoe khoang vừa đe dọa.

Cái mà những người Cộng Sản muốn đạt được không phải là vấn đề “cải tạo” chúng tôi thành những người ủng hộ chế độ mà chủ yếu là khai thác chúng tôi qua những bản tự kiểm để biết thêm tin tức về các mặt tình báo và tài nguyên của miền Nam. Trong thời gian làm tự kiểm cán bộ Cộng Sản đối xử với chúng tôi rất hòa nhã và tử tế. Họ khuyến khích khai thành thật với bằng chứng cụ thể và tố cáo thật nhiều để đái công chuộc tội với cách mạng. Phải nhìn nhận rằng về mặt khai thác này những người công an Cộng Sản rất lành nghề và làm việc có hiệu quả cao.

Sau một tháng “cải tạo” không ai được tha. Đợt tha đầu tiên, gồm một số ít người có gia đình biết chạy chọt tiền bạc, chỉ xảy ra vào đầu năm 1976 trước khi chúng tôi bị lưu đày ra Bắc. Chiến dịch lưu đày này được Cộng Sản chuẩn bị chu đáo vì họ có thời gian một năm để sắp xếp và thực hiện. Các trại tù miền Bắc được xây cất thêm hoặc dồn lại để có chỗ tiếp nhận chúng tôi. Phương tiện chuyên chở thì gồm vừa hàng không vừa hàng hải. Chuyến máy bay duy nhất chở tù chính trị ra Bắc nhằm mục đích quảng cáo cho chế độ và đánh lừa dư luận để người ta không để ý tới những chuyến hải hành khủng khiếp tiếp theo.

Sau khi những quân nhân và công chức cao cấp của VNCH được chở bằng máy bay đi rồi chúng tôi được di chuyển từ Long Thành lên trại giam Thủ Đức. Cảnh tù đày đầu tiên đến với chúng tôi tại trại giam này. Chúng tôi bị lùa vào những phòng giam chật chội thiếu vệ sinh, có cửa sắt khóa chặt dưới con mắt kiểm soát cú vọ của những người công an Cộng Sản với nét mặt căm thù và hống hách. Hai tháng không học tập, không lao động, chỉ ngồi ăn, làm cho số lương thực dự trữ của chúng tôi dần dần khô cạn. Viễn tượng đói khát bắt đầu xâm chiếm tâm hồn nhưng mỗi người trong chúng tôi cứ phải thúc thủ với ý nghĩ riêng của mình mà không dám chia sẻ với ai vì sợ bị gán cho tội nói xấu chế độ. Chúng tôi ý thức rằng cuộc đời phiêu lưu gian khổ sẽ bắt đầu từ đây.

-Chuyến hải hành khủng khiếp: Thế rồi việc gì phải đến đã đến. Tại trại giam Thủ Đức, một đêm, chúng tôi bị đánh thức dậy, nhận lệnh sắp xếp quần áo để chuyển trại, bị còng tay và chở bằng xe hơi lên bến Tân Cảng Sài Gòn. Tại đây một chiếc tàu thủy to lớn đã chờ sẵn. Chúng tôi bị lùa vào những hầm tâu dành cho súc vật, nằm chờ tàu nhổ neo để bắt đầu chuyến hành trình ra Bắc. Bóng tối của hầm tàu che dấu những giọt nước mắt tuôn ra vì lo sợ, đau buồn và tủi nhục.

Trong suốt ba bốn ngày đêm lênh đênh trên mặt biển chúng tôi phải thu hết can đảm và nghị lực để chịu đựng sự tanh tưởi và hôi hám của hầm tàu. Ban đêm hầm tối đen như mực. Ánh sáng chỉ lọt qua những kẽ hở khi mặt trời ló rạng. Khi tàu chuyển máy ra khơi, phần đông anh em tù nhân bị say sóng và nằm mê man bất tỉnh. Cao điểm của cảnh khổ cực này xảy ra chỉ một ngày sau khi chuyến hải hành khởi sự. Vì say sóng, nôn mửa và bài tiết nhiều nên lượng bài tiết lớn hơn những thùng chứa đựng khiến phân và nước tiểu cứ tự do đào thoát ra ngoài và len lỏi vào chỗ nằm của các tù nhân mỗi khi tàu chao đảo.

Khi tàu cập bến Hải Phòng, mở nắp hầm ra, những người cai tù xa xẩm mặt mày vì mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Họ tức tốc đóng cửa hầm lại, đi lấy khẩu trang đeo vào mũi miệng rồi mới tiếp tục công việc chuyển tù lên đất. Riêng đối với tù nhân thì khi bước ra khỏi hầm tầu ai cũng có cảm giác như vừa từ địa ngục được bước lên thiên đàng, một cảm giác chết đi sống lại.

Thoát được cảnh hầm tàu hôi hám chúng tôi liền bị còng tay và nhồi nhét vào những chiếc xe hơi bịt bùng không cho nhìn thấy cảnh vật bên ngoài. Xe chạy rất lâu trong đêm tối. Mãi gần sáng chúng tôi mới được lệnh ra khỏi xe và nhập trại. Những người công an canh gác cho chúng tôi tắm rửa ngay ở miệng một giếng nước, giặt giũ qua loa rồi hối thúc chúng tôi vào những phòng giam kiên cố của nhà tù. Sau khi cửa sắt đóng lại và khóa chặt, họ nói vọng vào từ bên ngoài: “Các anh đến đây an toàn rồi, bây giờ chỉ còn việc an tâm cải tạo để chờ ngày được chính phủ khoan hồng.” Nói xong họ bỏ đi chỉ còn lại hai người công an trẻ cầm súng gác.

Hỏi thăm hai người công an trẻ chúng tôi được biết trai này là trại Quảng Ninh, nằm trên rừng núi cao và nhìn ra vịnh Bắc Việt. Trại này hoàn toàn cách ly khỏi xã hội bên ngoài vì đường giao thông rất khó khăn. Xã hội thu hẹp của chúng tôi bây giờ chỉ gồm có ba thành phần: nhóm tù “cải tạo” chúng tôi mới đến, những người tù hình sự bị giam giữ từ lâu và những người cai tù có nhiệm vụ canh giữ.

Ngày đầu tiên đến trại Quảng Ninh, chúng tôi có cảm tưởng hình như thời gian trôi nhanh hơn thường lệ. Mới sáng đấy mà đã tối ngay. Khí lạnh của độ cao rừng núi thấm vào phòng giam và vào cơ thể con người. Khi màn đêm đổ xuống, trong phòng chì còn lại một ngọn đèn dầu leo lắt và những tiếng thở dài não nuột trong im lặng buồn tanh và ghê rợn.

-Tiến trình diệt chủng bắt đầu: Sáng hôm sau chúng tôi bị phân chia thành đội để bắt đầu làm quen với lao động. Mỗi đội, 30 người, do một đội trưởng là tù nhân và một quản giáo là cán bộ công an phụ trách. Khi đội đi lao động, công an vác súng đi kèm.

Trong những ngày đầu chúng tôi chỉ phải lao động nhẹ chẳng hạn như trồng rau hoặc cuốc sắn gần khu trại giam. Dần dần chúng tôi phải đi xa và phải lao động nặng nhọc hơn, chẳng hạn như vào rừng lấy gỗ làm nhà. Sau nhiều ngày làm quen với khung cảnh sinh hoạt trong trại chúng tôi thấy rằng mỗi trại tù Cộng Sản là một đơn vị kinh tế độc lập. Tù nhân phải lao động để nuôi cán bộ canh giữ mình, để xây trại giam hãm mình và để cung cấp tiện nghi cho khu gia đình là khu vợ con cán bộ ở. Nhà nước không cần chi phí gì nhiều cho trại tù nên nếu nói rằng dưới các chế độ Cộng Sản nhà tù nhiều hơn trường học thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên.

Bị lưu đày ra Bắc chúng tôi mất hết liên lạc với gia đình, cho nên mọi nguồn tiếp tế lương thực đều bị cắt đứt. Lao động cả ngày mệt nhọc, chúng tôi chỉ được trại cho ăn hai bữa, với mỗi bữa hai chén cơm đầy sạn thóc và một ít rau muống luộc. Ngoài hai bữa cơm ra chúng tôi không có thứ gì khác để nuôi sống cơ thể. Mỗi ngày anh em tù nhân nhìn nhau chỉ còn biết thở dài. Ai cũng gầy ốm đi trông thấy.

Ở trại Quảng Ninh chừng hơn một tháng, tôi và một số tù nhân khác bị chuyển đi trại Thanh Cẩm. Trại này nằm trong vùng Bái Thượng, trên thượng nguồn sông Mã, sau những dãy núi Lam xanh biếc. Từ trại sang biên giới Lào ước lượng chỉ vài cây số. Đến đây chúng tôi bị giam chung với khoảng 700 anh em tù chính trị khác và trong trại cũng có cả một số tù hình sự. Tôi bị giam ở trại này liên tục cho đến ngày được tha về.

Tại trại Thanh Cẩm, chế độ lao động còn khắt khe và nặng nhọc hơn ở trại Quảng Ninh. Dưới mũi súng canh gác của công an gốc dân tộc Mường, chúng tôi phải đi rất xa để lấy cát làm nhà. Mỗi chuyến vừa đi vừa về vào khoảng 3 cây số. Mỗi ngày phải đi ba chuyến mà chỉ được ăn có bốn chén cơm với vài cọng rau muống luộc thì sức nào chiụ nổi. Nếu đội nào không đi xe cát thì phải xe đá hoặc vào rừng đẵn luồng vác về cho cán bộ làm nhà. Những người lao động ở trại cưa, trại mộc cũng không sung sướng gì hơn. Cả ngày quần nhau với những cây gỗ lớn, cưa xẻ liên hồi hoặc đục đẽo luôn tay thi lấy năng lượng đâu mà bù đắp. Cuốc đất trồng khoai ngô mới là mệt vì đất núi bạt ngàn mà nhân công thì thưa thớt. Ấy là chưa kể những vụ gánh phân đi bón nặng gãy xương sườn và chốc lở xương vai.

Sức người có hạn còn nhu cầu của trại thì mỗi ngày một tăng thêm. Bên cạnh những cái chết vì tại nạn lao động như bị đá núi đè, lợp nhà té xuống đất hay bị cây luồng đâm thủng bụng, dần dần người ta thấy xuất hiện những cái chết vì đói, vì thiểu lực. Sau hơn ba năm bị lưu đày ra Bắc anh em tù nhân chôn nhau, vì chết đói, đã chật cả một phần đồi sắn. Có một thời gian, trong tâm tư và trước mắt mọi người cái chết đã trở thành quen thuộc, không gây sợ hãi và cũng không gây xúc động. Tù nhân chờ đợi Thần Chết đến thăm như chờ đợi một sự giải thoát.

Chính sách bắt lao động khổ sai kết hợp với bỏ đói là phương cách giết người tinh vi và thâm độc của những người Cộng Sản. Đó là sự nhẫn tâm và tàn ác nhất mà con người có thể đối xử với con người.

-Một vài cảnh đói ngoài tưởng tương: Xin kể ra đây vài cảnh đói mà người bình thường sống ngoài xã hội, cho dù óc tưởng tượng có súc tích đến đâu, cũng không thể nào nghĩ tới.

Một hôm nhân lúc đội tù đang lợp nhà, thình lình anh em tù nhân phát giác một ổ rắn dưới tấm lá tranh. Tức thì một anh hô to “Rắn, Rắn.” Tiếng hô vừa rứt, đám tù nhân nhanh như cắt đã vây quanh ổ rắn và chỉ trong nháy mắt, bằng tay không, các anh đã bắt hết những con rắn độc, bẻ cổ vứt đi và nhét phần còn lại vào túi áo. Trong giờ giải lao, được phép của cán bộ canh giữ, các anh đã nổi lửa rồi đem rắn ra nướng và ăn ngon như chưa bao giờ ngon thế. Không phải chỉ có rắn mà cả rết, cả chuột, cả cóc nhái, sên ốc… nghĩa là tất cả những con gì cử động mà để cho các anh trông thấy thì đều chịu chung một số phận.

Một hôm khác, nhân ngày Chủ Nhật, không phải lao động, các tù nhân ôm bụng đói đang thiu thiu ngủ thì một anh nghe tiếng chuột con kêu trên mái nhà. Không bỏ lỡ cơ hội, anh liền chồm dậy, gọi thêm hai người khác rồi cả ba, khiêng bàn, công kênh nhau lên bắt chuột. Họ bắt được một ổ chuột con hãy còn đỏ hỏn, chia nhau ăn sống như nhai những củ sâm. Mặc cho máu mê trào ra ngoài miệng trông như ác quỷ, các anh thản nhiên nhai ngấu nghiến như không màng gì tới hoạt cảnh ghê rợn tạo nên.

Một buổi chiều sau khi đi lao động về, chúng tôi thấy một anh bạn tù nhân sắp chết đói đang ngồi bên một dòng nước tiểu chảy ta từ phía những thùng phân nổi trong cầu tiêu. Nhìn kỹ thấy anh đang bắt mấy con kiến, tha những mảnh ngô chưa tiêu kịp, di chuyển từ cầu tiêu về tổ. Anh lượm những mảnh ngô đó bỏ vào mồm rồi tha cho những con kiến để chúng tiếp tục làm công việc vận tải mà anh thèm muốn. Chương trình cướp ngô của kiến anh chỉ thực hiện được có một ngày. Ngày hôm sau anh trút hơi thở cuối cùng vì quá đói.

Bằng chính sách bỏ đói kết hợp với lao động khổ sai những người Cộng Sản đã giết tù “cải tạo” mà không cần đem ra trường bắn, không cần nhốt vào lò hỏa thiêu như người Đức Quốc Xã đã làm. Họ cũng chẳng cần tạo ra những cảnh “tắm máu” làm gì.

-Một chuyện tù vượt ngục: Trại “cải tạo” Thanh Cẩm có một khu kiên giam dành cho những thành phần được Cộng Sản coi là đặc biệt nguy hiểm. Những người bị giam trên khu này không phải lao động nhưng bị cùm chân ban đêm khi đi ngủ. Có một thời gian, tôi cũng là một tù nhân của khu vực kiên giam này. Nhờ không phải lao động nên tôi mới sống sót đến ngày nay. Tại đây tôi còn giữ lại một kỷ niệm hãi hùng mà suốt đời không bao giờ quên được, kỷ niệm liên quan đến một chuyện tù vượt ngục.

Là những tù nhân không có ngày về và bị bỏ đói triền miên hết ngày này qua tháng khác, chúng tôi cam tâm kéo dài cuộc sống bị đày ải và hoàn toàn tuyệt vọng giữa rừng núi hoang vu của biên giới Lào-Việt. Khi màn đêm đổ xuống, khu kiên giam lạnh lẽo và tĩnh mịch, nặng nề như một nhà quàn chất chứa những xác người chưa chết. Ban ngày, chúng tôi đau đớn nhìn nhau như nhìn những bộ xương khô biết cử động.Viễn tượng của ngày sum họp với gia đình, từ lâu, đã hoàn toàn tan biến. Tương lai duy nhất còn lại là sự chờ đợi ngày về với tổ tiên.

Thế rồi, một biến cố kinh hoàng đã xảy ra. Đêm ấy là đêm 1 Tháng Năm, 1979, đêm liên hoan của Cộng Sản nhân dịp Lễ Lao Động. Bọn công an trẻ thường chểnh mảng trong nhiệm vụ canh gác mỗi khi có liên hoan. Bỗng nhiên trong bầu không khí tĩnh mịch của đêm khuya, chúng tôi nghe phát ra từ phòng giam bên cạnh, một âm thanh đào tường đều đều như máy chạy. Thỉnh thoảng lại có tiếng người rầm rì động viên nhau như hối giục.

Chúng tôi hiểu ngay đó là một kế hoạch trốn trại đang được tiến hành. Trong cơn tuyệt vọng, các anh mới đến từ trại Quyết Tiến, đang chọn đi vào chỗ chết để tìm đường sống. Mọi người trong phòng giam bên này đều nhắm mắt cầu nguyện cho các bạn đó thành công.

Đêm càng khuya chúng tôi càng hồi hộp. Âm thanh đào tường nghe mồi lúc một yếu dần. Gà bắt đầu gáy sáng mà âm thanh vẫn còn tiếp tục. Khi âm thanh chấm dứt thì ánh nắng đã luồn qua khung cửa sắt chật hẹp của phòng giam.

Đang lo lắng cho số phận của mấy anh em trốn trại, chúng tôi giật mình vì những tiếng súng báo động nổ rến. Rồi tiếng chân người xô chạy về thượng nguồn sông Mã xen lẫn với những tiếng la hét vọng lại từ xa. Trong phòng lúc đó không biết ai đã thở dài và thốt ra hai tiếng “thất bại.” Chúng tôi đau đớn chia sẻ sự thất bại đó và lo sợ đến tột cùng khi nghĩ tới những biện pháp trả thù của bọn công an Cộng Sản trong cơn tức giận.

Khi trời sáng hẳn, phòng giam của những người trốn trại bị công an lục soát rất kỹ. Một tên công an thản nhiên nói với đồng bọn: “Thằng Tiếp chết rồi.” Anh Đặng Văn Tiếp là một cựu trung tá của Không Lực VNCH và dân biểu quốc hội trước khi miền Nam sụp đổ. Nghe hung tin đó chúng tôi đau đớn lặng người. Những giọt nước mắt từ từ lăn trên gò má như một lời vĩnh biệt. Tất cả các anh khác bị bắt lại hết và bị đánh đập tàn nhẫn. Hai ngày sau, anh Lâm Thành Văn chết theo anh Tiếp. Riêng Cha Nguyễn Hữu Lễ may mắn sống sót dù bị đả thương rất nặng. Sau 13 năm “cải tạo,” Linh Mục Lễ hiện đang phụ trách một họ đạo ở Tân Tây Lan.

Bài học của Bắc Kinh: Vào khoảng đầu năm 1979, tại trại Thanh Cẩm, anh em tù “cải tạo” chết đói khá nhiều. Trong khi ai cũng cam tâm chờ chết thì một đêm chúng tôi nghe thấy những bài bình luận lạ tai phát ra từ những loa tuyên truyền ngoài cổng trại. Sau nhiều ngày theo dõi tin tức chúng tôi được biết giữa Hà Nội và Bắc Kinh đang có sự xích mích nặng nề.

Bắc Kinh đang chuẩn bị cho Việt Nam một bài học. Một quân đoàn Trung Cộng, trải dài trên 600 cây số tại biên giới phía Bắc sẽ xâm lăng Việt Nam và sẽ tiến vào Hà Nội trong vài ngày. Không khí chiến tranh bao trùm cả nước. Lệnh tổng động viên được ban hành và bộ đội đang di chuyển cấp tốc từ Cambodia về biên giới Việt-Trung. Các trại “cải tạo” nằm sát biên giới như Quyết Tiến, Phong Quang… được di tản sâu vào nội địa. Trại Thanh Cẩm phải nhận thêm một số tù nhân đến từ trại Quyết Tiến.

Chiến tranh đã thật sự xảy ra nhưng quân Trung Cộng, sau khi làm cỏ, mấy tỉnh miền biên giới, chỉ tiến đến Việt Trì rồi rút về nước. Hà Nội không bị bao vây và công hãm.

Bài học của Bắc Kinh đã cứu sống rất nhiều tù “cải tạo,” đó là điều mà ít người biết tới. Vì có bài học này nên chính sách “cải tạo” khắc nghiệt của Hà Nội có đôi phần nới lỏng. Sau bốn năm bị cắt đứt mọi liên lạc với gia đình, chúng tôi được viết thư và nhận đồ tiếp tế trở lại. Không những thế, gia đình còn được phép đến trại thăm gặp và trong vài trường hợp đặc biệt tù nhân “cải tạo” còn được phép ở lại suốt đêm ngoài nhà khách để sinh hoạt với gia đình.

Một chuyện khác mà không ai ngờ tới là những gói quà tiếp tế không những đã cứu sống chúng tôi khói chết đói mà còn cho chúng tôi cơ hội “cải tạo” những bộ óc chậm tiến của những người tự cho có nhiệm vụ “cải tạo” chúng tôi.

Mỗi đợt khám quà của tù nhân là một dịp để các cán bộ làm quen với thế giới bên ngoài qua những đồ tiếp tế. Lần đầu tiên khám quà một anh cán bộ trẻ thấy một gói lạp xưởng đòi tịch thu. Chúng tôi hỏi tại sao thì được trả lời: “Tịch thu, vì các anh không được phép mang nến (đèn cầy) vào trong trại.” Tội nghiệp, từ bé tới lớn anh chưa được ăn lạp xưởng bao giờ nên tưởng lạp xưởng là đền cầy.

Những thứ lạ mắt như những cuốn giấy vệ sinh trắng muốt, những chai xà bông nước, những lon cà phê sữa bột, những viên thuốc Tây xanh đỏ đựng trong những lọ có nắp khó mở…. đều là những thứ mà trại thấy cần phải giữ lại để nghiên cứu. Sau này khi biết những thứ đó không có gì nguy hiểm và thỉnh thoảng lại được chúng tôi “kỷ niệm” (nghĩa là cho theo ngôn từ Cộng Sản) các công an trẻ dần dần làm thân và thường muốn nghe chúng tôi kể những chuyện của thế giới bên ngoài, trong giờ lao động. Kỷ luật trại giữa cán bộ và tù nhân cũng không còn gay gắt như trước nữa.

Ngày một số anh em chúng tôi được trả lại tự do (1985) những người công an trẻ đến chia tay bằng một câu nói cảm động: “Thôi các anh về mạnh khỏe rồi đi ngoại quốc. Chúng tôi thì còn ở đây chưa biết đến bao giờ.” Ngay lúc đó chúng tôi chưa nắm bắt được thông điệp “rồi đi ngoại quốc” nhưng chúng tôi hiểu ngay rằng những thanh niên Cộng Sản đó đã bắt đầu tỉnh ngộ sau thời gian mấy năm được chúng tôi “cải tạo.”

III-Chiến dịch giải thoát tù “cải tạo”

Có một thời gian, công an trại thường chỉ mặt chúng tôi và hăm dọa nhiều lần: “Nếu bọn Mỹ không chịu bồi thường 3 tỷ 2 thì các anh sẽ còn cải tạo mút mùa.” Câu hăm dọa này không làm chúng tôi lo sợ mà, trái lại, làm chúng tôi mừng thầm vì đoán rằng có thể ở bên ngoài xã hội đang diễn ra một cuộc thương lượng giữa Hoa Kỳ và Việt Cộng để giải thoát chúng tôi khỏi cảnh tù đày. Cho dù đây chỉ là một hy vọng rất mong manh nhưng chúng tôi cứ bám víu lấy nó như người sắp chết đuối vớ được cọc, để có lý do và can đảm tiếp tục cuộc sống.

Thế rồi, không bao lâu sau, sự ước đoán của chúng tôi được thân nhân vào thăm xác nhận là đúng. Từ đó, trong lòng chúng tôi, ngày nào cũng như mở hội. Hy vọng được về sum họp với gia đình có nhiều triển vọng trở thành sự thật.

Tôi được trả tự do vào cuối năm 1985, sau 10 năm 4 tháng 10 ngày bị Cộng Sản bỏ tù. Hội nhập lại vào xã hội bên ngoài, tôi được biết vào năm 1976, Kissinger đã tuyên bố: “Hoa Kỳ đang chuẩn bị bình thường hóa bang giao với Việt Nam.” Việc bình thường hóa bang giao không thành vì trong cuộc đàm phán ở Paris vào đầu năm 1977 Hà Nội khăng khăng đòi Hoa Kỳ phải trả $3,250 triệu để bồi thường chiến tranh. Lẽ cố nhiên là Hoa Kỳ bác bỏ đòi hỏi vô lý đó vì Hà Nội đã không tôn trọng Hiệp Định Paris năm 1973.

Nền kinh tế của Việt Nam mỗi ngày một sa sút. Sự vô hiệu của kinh tế hoạch định và tình trạng sa lầy trong chiến tranh Cambodia khiến chế độ Hà Nội đứng trên bờ vực thẳm. Trung Cộng đã trở thành thù nghịch còn Liên Xô thì cũng đang gặp khó khăn nên không biết nương tựa vào ai. Hoa Kỳ là sinh lộ duy nhất còn lại. Làm găng không được, Hà Nội bắt đầu đấu dịu.

Đầu thập niên 1980, cả Phạm Văn Đồng lẫn Nguyễn Cơ Thạch đều bắn tiếng là sẽ thả tù “cải tạo” nếu Hoa Kỳ tiếp nhận. Hà Nội dùng tù “cải tạo” như phương tiện mặc cả để xin viện trợ của Hoa Kỳ. Hoa Thịnh Đốn đáp ứng và diễn tiến của chiến dịch giải thoát tù “cải tạo” được ghi nhận như sau:

-Ngày 11 Tháng Chín, 1984, Ngoại Trưởng George Schultz chính thức yêu cầu Hà Nội trả tự do và cho phép các tù nhân chính trị được định cư tại Hoa Kỳ. Ba tuần sau Tổng Thống Reagan gửi văn thư chính thức đến các Bộ Ngoại Giao, An Sinh Và Tư Pháp về việc thâu nhận những người tù “cải tạo” Việt Nam.

Hoa Kỳ đồng ý gặp Đại Sứ Võ Đông Giang của Hà Nội tại Nữu Ước. Cuộc đàm phán tiến hành trong bí mật.

-Tháng Bảy, 1988, phái đoàn Robert Funseth, phụ tá thứ trưởng Ngoại Giao Hoa kỳ, đi Hà Nội họp với phụ tá bộ trưởng Ngoại Giao Việt Cộng Trần Quang Cơ để bàn về việc trả tự do cho tù chính trị và đưa họ đi định cư tại ngoại quốc.

-Ngày 30 Tháng Bảy, 1989, ông Robert Funseth và Vũ Khoan, thứ trưởng Ngoại Giao Việt Cộng, ký kết tại Hà Nội văn kiện về việc định cư tù “cải tạo.”

Qua thỏa hiệp này 3,000 tù “cải tạo” và gia đình đã đến Hoa Kỳ trong những tháng đầu tiên của năm 1990. Chương trình định cư này trù liệu đưa ra nước ngoài 400,000 người thì 20% đã đến bến tự do năm 1990, 30% năm 1991, 30% năm 1992, 10% năm 1993 và 10% còn lại vào những năm kế tiếp.

Dựa theo các tài liệu đáng tin cậy người ta cũng được biết là trong số quân nhân VNCH được sang Mỹ định cư sau thời gian cải tạo thì 61% là cấp úy, 35% là cấp tá và tướng và 4% là viên chức chính phủ.

Con số những người chết trong các trại “cải tạo” chưa được xác định là bao nhiêu. Tài liệu của Khu Hội Tù Nhân Chính Trị Hawaii, thiết lập ngày 20 Tháng Tư, 1993, đưa ra một con số rất thiếu sót là 587 người. Đây chỉ là một phần nhỏ của số “tử vong vì cải tạo” trong thực tế.

Cũng theo một tài liệu khác chưa đầy đủ thì số trại “cải tạo” CSVN thiết lập trên toàn quốc sau năm 1975 là 80 trại  bao gồm cả hai trại ở các đảo Côn Sơn và Phú Quốc).

Quyết định của Cộng Sản Việt Nam đưa quân cán chính VNCH đi “cải tạo” lâu dài sau năm 1975 là một sai lầm trầm trọng. Sau khi chiếm miền Nam, đáng lý ra Hà Nội phải biết lợi dụng thời kỳ vàng son này để hòa hợp hòa giải dân tộc và xây dựng tương lai phồn thịnh cho đất nước.

Giữa Tháng Năm, 1975, bộ trưởng ngoại giao năm nước ASEAN họp thường niên tại Kuala Lumpur đã bày tỏ ý muốn thiết lập bang giao với các nước Đông Dương. Trong thông cáo chung ngày 24 Tháng Bảy, 1975, Phi Luật Tân và Thái Lan minh định rõ là các căn cứ quân sự của nước ngoài trong khu vực chỉ là tạm thời và khối SEATO sẽ giải tán.

Vào thời gian đó Nhật cũng trù liệu một ngân khoản $1,600 triệu để giúp năm nước ASEAN và ba nước Đông Dương xây dựng khu thịnh vượng chung Đông Nam Á. Tiếp theo, Tháng Tám, 1977, Nhật lại kêu gọi sự hợp tác thân hữu giữa các nước trong vùng kể cả Miến Điện, và hứa viện trợ $5 tỷ cho kế hoạch phát triển Đông Nam Á thành một khu vực phồn vinh.

Sau khi gia nhập Liên Hiệp Quốc, Việt Nam còn được gia nhập Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế với một khoản vay mượn đầu tiên là $35 triệu. Ngân Hàng Thế Giới cũng xúc tiến kế hoạch giúp đỡ Việt Nam phát triển kinh tế thời hậu chiến. Thừa kế chỗ trống của VNCH, Hà Nội còn là hội viên của ngân hàng phát triển Á Châu.

Trong bối cảnh đó nếu không có chính sách “cải tạo” sai lầm thì nhân dân hai miền Nam Bắc đã cùng dồn nỗ lực vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh, thực hiện việc hòa hợp hòa giải dân tộc để nhanh chóng đưa đất nước đến cảnh phú cường.

Bị Hoa Kỳ giăng bẫy CSVN đã xé bỏ Hiệp Định Paris và xâm chiếm miền Nam để rồi liền sau đó lại bị Trung Cộng giăng bẫy nhử sang Cambodia và bị sa lầy ở đó. Hậu quả của những quyết định mù quáng này là một nước Việt Nam kiệt quệ và tụt hậu, cam tâm làm chư hầu một lúc cho hai thế lực thù địch. Cắt đất dâng Trung Quốc để duy trì mạng sống chính trị và quỳ gối ôm chân Hoa Kỳ để kiếm miếng ăn. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc lại có một thời kỳ nhục nhã như hiện nay.

Đối với Hoa Kỳ, bỏ rơi miền Nam Việt Nam trong trận đồ quốc tế để thắng Liên Xô và làm tan rã khối Cộng Sản là một vấn đề chiến lược. Tiến hành chiến dịch giải thoát tù “cải tạo” Việt Nam để họ được sang sinh sống và đoàn tụ tại Hoa Kỳ là một vấn đề của lương tâm. Đứng về phương diện quyền lợi của Hiệp Chúng Quốc mà xét thì trong cả hai việc làm này Hoa Kỳ đều khôn ngoan và thắng lợi. (Nguyễn Cao Quyền)

Xin chúc mừng vì sự thành công!

Xin chúc mừng vì sự thành công!

Bởi  AdminTD

Đoàn Bảo Châu

17-12-2021

Hai người nông dân mất đất, nói lên sự thật về Đồng Tâm, một cựu nhà báo, người viết những cuốn sách phổ cập kiến thức cơ bản về chính trị, một thanh niên hay tham gia biểu tình chống Tầu, bảo vệ môi trường… bị bỏ tù từ 6 tới 10 năm trong mấy ngày qua. Tôi có đọc những bản ghi chép phiên toà của họ, tôi không thấy họ có tội gì ngoài việc họ dám nói lên sự thật, sống có trách nhiệm với đất nước.

Một cá nhân hay một xã hội muốn phát triển được đều cần phản biện. Một luận án tốt nghiệp đại học, thạc sỹ, tiến sỹ… đều cần những chuyên gia viết phản biện, khi bảo vệ luận án thì những câu hỏi phản biện sẽ được nêu ra để tác giả luận án phải chứng minh là mình đúng.

Không có một bộ óc vĩ đại và sáng suốt nào có thể luôn đúng bởi những điều chưa biết thì mênh mông như biển cả mà cái biết thì chỉ như giọt nước. Người hiểu biết, có tư tưởng tiến bộ sẽ biết lắng nghe tư tưởng, ý kiến trái chiều để học hỏi và phát triển. Kẻ độc tài luôn nghĩ mình là đúng sẽ vùi dập ý kiến trái chiều. Một chính thể độc tài sẽ kìm hãm sự phát triển của đất nước do không động viên tư tưởng phản biện.

Họ là những con người hiếm hoi trong xã hội dám lên tiếng nói lên chính kiến của mình nhưng họ phải chịu những án tù quá tàn ác với những gì mà họ đã làm.

Thử hỏi họ đã gây hậu quả nghiêm trọng gì cho xã hội? Thử hỏi nếu so sánh với những quan chức bán rẻ đất công, những bộ trưởng, tướng công an, tướng quân đội tham nhũng thì hậu quả họ gây ra có đáng gì?

Vậy những bản án tàn ác ấy là để gây nỗi sợ cho dân chúng, cho những người muốn nói lên chính kiến của mình. Một chính thể văn minh sẽ không dùng nỗi sợ để cai trị dân chúng. Làm thế là tự làm thoái hoá dân tộc mình, sẽ làm thui chột tư tưởng tiến bộ, tinh thần đấu tranh chống bất công. Làm thế được yên ổn trước mắt về chính trị nhưng gây tổn hại rất nhiều về nguyên khí quốc gia. Một quốc gia chỉ phát triển rực rỡ được khi có hàng triệu triệu thanh niên trăn trở về đất nước, luôn phản biện cái xấu, cái chưa được về tất cả các lĩnh vực.

Họ là những con người hiếm hoi quý báu nhưng họ bị dập tắt. Sự đàn áp sẽ có tác dụng tốt. Nó sẽ tạo ra một lớp thanh niên đần độn về trí tuệ, hèn nhát về tư tưởng, khi có dịp cọ xát với quốc tế sẽ phô bày hết sự kém cỏi của mình. Như vậy, thì các ý tưởng để con cháu chúng ta đòi lại biển đảo đã mất sẽ mãi mãi chỉ là ước vọng mơ hồ, không có cơ sở.

Thực ra thì nhà cầm quyền Việt Nam đã thành công rồi. Tôi xin chúc mừng các vị. Là con người bình thường ai cũng sợ phải vào tù. Nỗi sợ ấy là bản năng tất yếu. Các vị đã rất thành công. Nhìn quanh ra thì toàn bộ bạn học của tôi từ phổ thông tới đại học, chỉ một mình tôi hay quan tâm tới những vấn đề xã hội và chính trị. Trong gia đình tôi cũng vậy. Trong số bạn bè tôi giao lưu ngoài đời cũng vậy. Sự thành công khi dùng nỗi sợ để cai trị đất nước.

Rồi một tuần nữa thôi, tên tuổi mấy con người kia sẽ chìm đi. Cuộc sống lại lạnh lùng chảy tiếp, chỉ bạn bè thân hữu, người nhà của họ là đau khổ, chỉ có chính họ là phải đốt năm tháng tuổi trẻ của mình trong ngục tù tăm tối.

Trẻ con sẽ miệt mài chơi game, người lớn sẽ nhất nhất chỉ lo kiếm tiền, tiền sẽ thành một lý tưởng cao nhất của động vật hai chân, kẻ có điều kiện hơn thì sẽ luận bàn về trà, rượu, quần áo, thú chơi này kia.

Tôi biết các vị là những kẻ mạnh, quyền sinh quyền sát trong tay, làm gì chẳng được. Điều mà tôi muốn kêu gọi ở các vị là hãy suy ngẫm sâu sắc về những vấn đề này. Lợi và hại khi quá tàn ác với những tiếng nói trái chiều. Nếu thực sự yêu nước thì hãy nghĩ về tương quan sức mạnh đất nước với thế giới, hãy nhìn về những thành tựu của con người Việt Nam đã đóng góp cho nhân loại. Các vị bàn về văn hoá và cũng muốn Việt Nam có được những thành tựu về văn học, nghệ thuật nhưng để làm được điều ấy thì các vị phải học hỏi những nước như Nhật Bản, Hà Quốc, tức là văn hoá của chính các vị phải cao.

Không nói đâu xa, Trung Quốc, đất nước cùng lý tưởng của các vị cũng đã cởi bỏ rất nhiều sự kiểm duyệt về nghệ thuật. Những bộ phim mô tả sự nghẹt thở của cách mạng văn hoá cũng đã được công chiếu nhiều năm.

Sở dĩ Hàn Quốc có được một nền văn hoá có sức mạnh chinh phục thế giới, khiến giới trẻ ở Việt Nam mê đắm K-Pop, phim ảnh, thời trang Hàn là do bởi những lãnh đạo cao nhất của họ có cái nhìn cởi mở về văn hoá, tư tưởng và quyết tâm dùng văn hoá, nghệ thuật để góp phần vào sức mạnh mềm của đất nước.

Tại sao Mỹ thành một cường quốc. Xin thưa là bởi ở nước họ những người như Phạm Đoan Trang có nhiều triệu người. Nếu các vị tìm hiểu thì sẽ thấy sở dĩ nạn phân biệt chủng tộc được bỏ, bao điều luật bất công được thay đổi là bởi những nhà hoạt động can đảm. Trong một gia đình, nếu một ông bố lúc nào cũng coi mình là đúng tuyệt đối, con cái đưa ra ý kiến trái chiều là nạt nộ, đánh đòn thì những đứa trẻ có phát triển được không?

Tôi so sánh vậy không có nghĩa là coi chính quyền là bố mẹ của dân mà chỉ nói tới khía cạnh quyền lực. Chính quyền như ông Hồ Chí Minh nói là người làm thuê, nếu không làm tốt thì người dân có quyền tìm người làm thuê khác.

Các vị đã thành công, rất thành công. Thành công đến nỗi mà khi viết những lời tâm huyết tôi cũng phải sợ phải vào tù. Nhưng người can đảm không phải là người không biết sợ. Là người ai cũng có nỗi sợ bản năng nhưng Con Người với đúng nghĩa cao đẹp của từ này sẽ biết vượt lên nỗi sợ để dám nói, dám sống đúng với nhận thức của mình.

Xin nhiệt liệt chúc mừng sự thành công của các vị!

Áp lực học hành bé trai lớp 6 nhảy từ tầng 22 chung cư xuống tự tử

Con cái chúng ta đâu phải đứa nào cũng sẽ thành thiên tài hay ông này bà kia, quan chức nọ đại gia ấy?

Một xã hội sính bằng cấp, quá coi trọng địa vị và học hành luôn xem điểm số là điều quan trọng nhất thì sẽ còn nhiều đứa bé chẳng còn tuổi thơ và cuộc đời riêng của chúng.

Nhiều kiến thức luôn là điều tốt, tuy nhiên nhồi như gà thì học với trẻ có khi là những cơn ác mộng triền miên!

Tôi nghĩ chúng ta đừng nên xát thêm muối vào nỗi đau của cha mẹ bé nhưng nên kiên trì góp từng tiếng nói để nền giáo dục này thay đổi và nhân văn hơn!

– Hà Phan

NGẢ MŨ THÁN PHỤC TRƯỚC SỰ CAN ĐẢM CỦA NHÀ BÁO TỰ DO PHẠM ĐOAN TRANG

NGẢ MŨ THÁN PHỤC TRƯỚC SỰ CAN ĐẢM CỦA NHÀ BÁO TỰ DO PHẠM ĐOAN TRANG

“Phạm Đoan Trang chủ ý chấp nhận những rủi ro này để bảo vệ quyền tự do ngôn luận. Tôi xin ‘ngả mũ thán phục’ trước sự can đảm và sức mạnh vào niềm tin của cô ấy”.

Đó là lời của ông Hugo Setzer – Chủ tịch Hiệp Hội Xuất bản sách Quốc tế IPA, nói về Phạm Đoan Trang.

Hiệp hội Xuất bản Quốc tế đã trao giải thưởng Prix Voltaire năm 2020 cho Phạm Đoan Trang, nhà xuất bản Tự Do, tổ chức ‘không chịu sự kiểm duyệt của chính quyền Việt Nam’.

Đây là giải thưởng nhằm thúc đẩy tự do xuất bản trên thế giới, đặc biệt là hoạt động xuất bản trong điều kiện bị kiểm duyệt và đe dọa.

Nhà báo tự do Phạm Đoan Trang từng được trao giải Tự do Báo chí năm 2019 của tổ chức Phóng viên Không Biên giới.

Hiệp hội Xuất bản Quốc tế là một tổ chức quốc tế chuyên về xuất bản sách và báo chí có trụ sở tại Geneve, Thụy Sĩ, được thành lập năm 1896 với hoạt động thúc đẩy và bảo vệ quyền xuất bản. Giải thưởng Prix Voltaire nhằm tôn vinh hoạt động xuất bản tự do, một phần quan trọng của tự do ngôn luận.

Lê Ánh