Người chuyển sách của tác giả Phạm Đoan Trang bị án tù (RFA)

Đài Á Châu Tự Do 

Ông Nguyễn Bảo Tiên, người bị bắt do nhận và gửi những cuốn sách của tác giả, nhà báo độc lập/nhà hoạt động dân chủ Phạm Đoan Trang, vào ngày 21/1 phải ra tòa ở tỉnh Phú Yên và nhận hai án tổng cộng sáu năm sáu tháng tù giam.

Mạng báo Vietnam Plus của Thông tấn xã Việt Nam loan tin nói ông Nguyễn Bảo Tiên bị tòa tuyên án tù với hai cáo buộc: ‘tàng trữ, phát tán, tuyên truyền tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam’ theo Điều 117 và ‘chiếm đoạt, tàng trữ trái phép vật liệu nổ’ theo Điều 305 Bộ Luật Hình sự Việt Nam năm 2015.

Đối với cáo buộc thứ nhất ông Nguyễn Bảo Tiên bị tòa Phú Yên tuyên năm năm sáu tháng tù giam và cáo buộc thứ hai là một năm tù giam.

Cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Phú Yên cho rằng ông Nguyễn Bảo Tiên từng đọc báo nước ngoài rồi thường xuyên chia sẻ, đăng tải những bài viết mà theo cáo trạng là có nội dung xuyên tạc, chống Nhà nước CHXHCN VN.

Trong khoản thời gian từ tháng tám đến tháng mười năm 2019, Ông Nguyễn Bảo Tiên bị cho là đã năm lần nhận sáu kiện hàng là các sách có tựa ‘Chính trị Bình Dân’, ‘ Cẩm nang nuôi tù’, ‘Phản kháng phi bạo lực’ và ‘Chính đề Việt Nam’. Ba cuốn đầu là do nhà báo độc lập/nhà hoạt động dân chủ Phạm Đoan Trang viết. Bà này hiện đang phải thụ án tù chín năm với cáo buộc ‘tuyên truyền chống Nhà nước’.

Tội ác đang được dung dưỡng?

Tội ác đang được dung dưỡng?

Huyên, kẻ dùng tạ để đóng 9 cái đinh vào đầu bé gái 3 tuổi của tình nhân. Là con trai của một gia đình danh giá, có mẹ làm ở học viện Hậu Cần có bố là sĩ quan đang công tác ở Trường lục quân, gia đình cách mạng, yêu đảng yêu bác.

Sinh ra trong một gia đình có nòi giống cộng sản, lẽ nào Huyên không được giáo dục, chí ít phải biết tác động vào đầu một người khác bằng một lực có thể tước đoạt mạng sống của họ thì đó là hành vi phạm pháp, lẽ nào Huyên không biết?

Trách Huyên là một lẽ, nhưng cả hệ thống chính trị lẽ nào vô can?

Tháng trước- năm trước – một vụ bạo hành chấn động dư luận khi tình nhân đã tra tấn 4h đồng hồ con gái của một kẻ vũ phu tới chết.

Các hội bảo vệ trẻ em, các các tổ chức do nhà nước thành lập đã ở đâu khi các bé bị tra tấn?

Quốc hội đang họp cái gì để không đưa ra một điều luật đủ mạnh để răn đe những kẻ có xu hướng bạo lực? Hay quốc hội chỉ thích ngủ gật và giơ tay biểu quyết làm sao thu được thuế nhiều để tha hồ vơ vét, thoải mái tham nhũng sao?

Hay những nhà giáo dục đang bận học để lấy bằng giả mà quên mất giáo dục nhân cách con người, quên mất giáo dục việc hành vi đánh đập trẻ em là phạm pháp, hay, dù lời mắng chửi thôi cũng là điều cấm kỵ.

Những tội ác xảy ra ở Việt Nam với tần suất dày đặc và kinh hoàng lỗi lớn nhất thuộc về những người cầm quyền ăn thuế của Dân.

Phải chăng, thuốc trị ung thư giả còn được cấp phép bán, thì việc hành hạ người khác là điều bình thường?

Mà nếu để ý, mấy vụ bạo hành kinh hoàng gần đây, vượt xa sức tưởng tượng con người ở Việt Nam đều liên quan tới con cháu đảng viên cộng sản, V.A là cháu nội của một đảng viên, phó giám đốc một bệnh viện, và Huyên, là con cháu sĩ quan quân đội. Phải chăng tội ác được dung dưỡng bởi những kẻ cậy quyền cậy thế, nghĩ là có chức có quyền thì muốn làm gì cũng được?

– Phạm Minh Vũ


Tịnh Thất Bồng Lai và cộng đồng mạng (RFA)

Tịnh Thất Bồng Lai và cộng đồng mạng

Bài bình luận của Đinh Yên Thảo

2022.01.18

Tịnh Thất Bồng Lai

FB Tịnh Thất Bồng Lai

Vài tuần qua, câu chuyện Tịnh Thất Bồng Lai trở thành một đề tài tranh luận khá sôi nổi trong cộng đồng mạng người Việt. Những tin tức từ giới truyền thông cùng nhà cầm quyền Việt Nam dù chưa thể kiểm chứng mức độ chính xác và liên tục thay đổi nhưng cũng đủ làm cộng đồng mạng chia phe bênh chống, với một số người bỗng trở thành những quan tòa kết án Tịnh Thất Bồng Lai khá nặng nề. 

Việc Tịnh Thất Bồng Lai có phạm tội hay không và phạm tội gì vẫn là điều mơ hồ với cáo buộc quen thuộc từ phía nhà cầm quyền Việt Nam là “lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân”. Họ xâm phạm lợi ích gì của Nhà nước hay các tổ chức, cá nhân khác và xâm phạm như thế nào, có vi phạm pháp luật hay chăng?

Đó là một việc đã được một số người đề cập, nên ở đây nhân vụ này, hãy cùng nhìn vào thủ tục tố tụng với Tịnh Thất Bồng Lai và xem liệu công an Việt Nam đã đủ chứng cứ và hồ sơ bắt giữ người của Tịnh Thất Bồng Lai, hay xem họ như những người đã phạm tội hay chưa? 

Muốn vậy hãy nhìn vào một thủ tục tố tụng hình sự tại các quốc gia khác như thế nào. Một quá trình truy tố hình luật tại Mỹ  hay một số quốc gia khác thông thường đi theo trình tự sau đây:

-Điều tra: Đầu tiên là nhân viên công lực nếu không bắt giữ nghi phạm trong lúc đang thực hiện một hành vi phạm pháp thì họ cần thực hiện một cuộc điều tra để thu thập chứng cứ. Cuộc điều tra thông thường là khá lâu, cho đến khi có đủ bằng chứng để dẫn đến việc truy tố nghi phạm đã vi phạm luật pháp. Những bằng chứng và lý do này cần phải đủ mạnh và thuyết phục để thiết lập một giả định phạm tội.

-Bắt giữ: Bắt giữ nghi phạm dựa theo lý do khả tín là nghi phạm có thể đã phạm tội (probable cause) để khởi tố và đưa nghi phạm ra tòa. Dấu hiệu phạm tội chưa được xem là sự phạm tội và cần đủ mạnh để dẫn đến sự bắt giữ này. 

-Khởi tố: Văn phòng biện lý hay tại Việt Nam là Viện Kiểm Sát Nhân Dân sẽ khởi tố nghi phạm. Việc truy tố này là một quá trình thu thập dữ kiện lâu dài, đòi hỏi sự thận trọng, cân nhắc  xem liệu tội phạm đã đủ để truy tố và các bằng chứng có đủ mạnh để truy tố và đưa ra cáo trạng. 

-Triệu tập: Bị cáo sẽ được triệu tập đến tòa gặp chánh án và đưa lời biện hộ, hoặc nhận tội hoặc không nhận tội. 

-Tại ngoại hầu tra: Nhận hay không nhận tội thì bị cáo sẽ bị giam cho đến khi ra tòa chính thức hay phải đóng tiền thế chân tại ngoại, tránh việc sẽ bỏ trốn. Mức tiền tại ngoại sẽ do quan tòa ấn định, tùy theo mức độ vi phạm pháp luật và rủi ro nghi phạm sẽ bỏ trốn.

-Thương lượng tội danh:  Việc thương lượng này diễn ra giữa bị cáo và luật sư đại diện với phía công tố. Bị cáo có thể nhận tội một phần trong cáo trạng để nhận bản án nhẹ hơn nếu không muốn một bản án bất ngờ khi bị đưa ra xét xử, hoặc tiếp tục phủ bỏ các cáo buộc, để các luật sư của mình chuẩn bị hồ sơ ra đối chất và tranh cãi với bên công tố ngay tòa án.

-Xét xử: Bị cáo sẽ ra tòa để dự phiên toà xét xử có bồi thẩm đoàn hay do chánh án phán xét. Các cung khai, nhân chứng  và vật chứng sẽ được hai bên cung cấp cho quan tòa hay bồi thẩm đoàn để tòa có thể nghị án và đi đến kết luận. Nếu bị kết tội, nghi phạm lúc này mới chính thức bị xem là tội phạm.

-Tuyên án: Dựa theo biểu quyết của bồi thẩm đoàn hay các bằng chứng cuối cùng, chánh án sẽ tuyên bố bị can hoặc vô tội hoặc có tội và phải chịu án tù theo khung phạt của pháp luật.

-Kháng cáo: Người bị tuyên án và luật sư của họ có thể kháng án lên tòa phúc thẩm để chắc chắn là mình đã được xét xử công bằng và đúng theo thủ tục luật pháp. 

Mỗi vụ án có sự phức tạp và tình tiết khác nhau, cũng như có thể thay đổi phần nào nhưng nhìn chung đó là thủ tục tố tụng thông thường hiện nay tại nhiều quốc gia. Nó bảo đảm việc xét xử là công bằng, hợp pháp và hợp hiến, tôn trọng quyền tự do dân sự và nhân quyền của người công dân. Các cơ quan cảnh sát, văn phòng biện lý và tòa án có những thủ tục và hoạt động độc lập để giữ quá trình điều tra, truy tố và xét xử được công bằng, khách quan. Không cứ một người bị cảnh sát bắt giữ là sẽ bị truy tố và không cứ truy tố là họ sẽ bị xử án tù.   

Trở lại cùng Tịnh Thất Bồng Lai, theo tin tức từ truyền thông trong nước, trong cuộc họp báo mới nhất vào ngày 14 tháng Một vừa qua, Đại Tá Phó Công An Tỉnh Long An là Văn Công Minh tuyên bố là “những vấn đề liên quan đến Tịnh Thất Bồng Lai hiện đang được điều tra, xác minh làm rõ”.  Như vậy họ chỉ mới ở bước đầu tiên của thủ tục tố tụng hình sự là điều tra như vừa trình bày bên trên nhưng đã bắt giữ người, đưa ra các cáo buộc dù chúng thay đổi liên tục trong một thời gian ngắn.

Việc công an Việt Nam đưa ra các cáo buộc thiếu chứng cứ hay không theo những trình tự luật pháp nói trên không phải lần đầu tiên trong vô số vụ án, hay nói khác hơn đó là cách làm việc từ xưa nay của họ. Tuy nhiên một cộng đồng mạng mà có cả những người sống tại nước ngoài, sống trong những xã hội thượng tôn pháp luật và tôn trọng nhân phẩm, quyền tự do dân sự của người dân tại sao lại vội vã kết án những người dân cô thế và hiền lành của Tịnh Thất Bồng Lai? 

Vụ bạo hành trẻ em với những tình tiết rùng rợn như thời Trung Cổ.

Lê Vi

Chỉ chưa đầy một tháng mà đã có hai vụ bạo hành trẻ em với những tình tiết rùng rợn như thời Trung Cổ. Bé gái 8t bị “mẹ ghẻ” tra tấn cả năm cho đến chết. Hôm nay dân tình lại rúng động, và không quên cầu nguyện, cho cháu gái 3 tuổi bị “cha ghẻ” hành hạ bằng ép nuốt đinh, uống thuốc rầy và cuối cùng là đóng gần chục cây đinh vào đầu.

Nhìn phim chụp hộp sọ của bé con mà tưởng chừng đứng ngoài trời đang 2°C vẫn còn ấm hơn. Người cứ run lên vì đau đớn như chính mình bị tra tấn. Đất nước đáng sống đây ư? Cứ mãi học tập và làm theo… thì chẳng mấy khi xã hội này như cái cối xay thịt mất.

Tui cẩn thận edit và scan lại bức tranh vẫn mới tinh tươm, còn nồng mùi máu của trẻ thơ bất hạnh. Các con sẽ còn đau khổ bởi xiềng xích vô hình cho đến bao giờ. Trời ơi!

Fb Vũ Tuân

Trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 – Tác giả Liên Thành

 Van Pham

On Cố Tri Tân – Đọc để thấy chính sách, đường lối của Việt cộng đến nay cũng không khác gì trước 1975 tại Miền Nam VN. Hiện nay tình cảnh các Cộng đồng NVTD NSW & VIC cũng y hệt cảnh đấu tranh, xuống đường 1965-1966 và Tổng nổi dậy Tất Mậu Thân 1968.

Và cũng kỷ niệm 52 năm tắm máu kinh hoàng tại Cố Đô Huế…

***

LÊ VĂN HẢO, THÍCH ĐÔN HẬU, HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG, HOÀNG PHỦ NGỌC PHAN & NGUYỄN ĐẮC XUÂN – 5 NHÂN VẬT CHỊU TRÁCH NHIỆM TRƯỚC LỊCH SỬ & TÒA ÁN QUỐC TẾ VỀ TỘI ÁC CHIẾN TRANH & TỘI ÁC DIỆT CHỦNG”

(trích sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 – Tác giả Liên Thành)

Khoảng 6 giờ sáng ngày Mùng 2 Tết Mậu Thân 1968, sương mù tan dần, trời trở lạnh và thấp, Huế bật khóc trong nghẹn ngào tủi hận, khi nhìn về phía Kỳ Đài Phú Văn Lâu lá quốc kỳ VNCH không còn nữa, thay vào đó là một lá cờ gồm 3 phần: xanh, đỏ, xanh ở giữa nền đỏ có ngôi sao vàng. Đó chính là cờ của Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Phần đông đồng bào Huế cứ ngỡ đó là cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng không phải vậy. Cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ có hai phần: xanh và đỏ, giữa có ngôi sao vàng.

Lá cờ treo trên Kỳ Đài Phú Văn Lâu trong suốt 24 ngày gây chết chóc đau thương tột cùng cho đồng bào Huế là cờ của Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Người Huế sau hai mươi sáu ngày ngập trong đau thương, trong kinh hoàng bởi ngọn cờ “xanh, đỏ, xanh và ngôi sao vàng chính giữa” họ đã hỏi nhau:

a- Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là lực lượng của ai?

b- Khai sinh ra lúc nào? Mục đích gì?

c- Tại sao phục vụ dưới ngọn cờ này toàn là cán binh Việt cộng và đám nằm vùng?

d- Tại sao những những kẻ đã từng tham gia trong vụ phản loạn của Thích Trí Quang và Đôn Hậu vào 6/1966 đào thoát lên mật khu theo Việt cộng nay đều có mặt trong tổ chức này?

e- Tại sao lại giết hại đồng bào Huế nhiều như vậy?

Lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là lực lượng của ai?

Theo tài liệu giải mật:

– Tháng 5 năm 1967 Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp của Bộ Chính trị Trung Ương đảng Cộng sản Việt Nam để đánh giá tình hình, dự thảo chiến lược Đông-Xuân 1967-1968.

– Tháng 6 năm 1967 Bộ Chính Trị lại được triệu tập lần thứ 2 để bàn bạc kỹ lưỡng hơn dự thảo kế hoạch chiến lược Đông-Xuân 1967-1968.

– Tháng 10 năm 1967 Bộ Chính Trị triệu tập phiên họp lần thứ 3 từ ngày 20 đến ngày 24 tháng 10 năm 1967, trong năm ngày, thay mặt Quân Ủy Trung ương Văn Tiến Dũng trình bày dự thảo kế hoạch Đông-Xuân-Hè 1967-1968:

Thực hiện một cuộc đột kích chiến lược bất ngờ và mãnh liệt nhất, bằng cả hai lực lượng vũ trang và chính trị, tức là “Tổng Công Kich-Tổng Nổi Dậy”. Và Bộ chính trị quyết định thời gian mở cuộc “tổng tấn công và tổng nổi dậy” là vào dịp Tết Mậu Thân 1968.

– Ngày 28 tháng 12 năm 1967 Bộ chính trị triệu tập phiên họp đặc biệt dưới sự chủ tọa của Hồ Chí Minh và Lê Duẩn bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung Ương đảng, chính thức thông qua kế hoạch Tổng Công Kích-Tổng Nổi Dậy.

– Tháng 1 năm 1968 Ban chấp hành Trung Ương đảng họp lần thứ 14 tại Hà Nội thông qua nghị quyết tháng 12/1967 của Bộ Chính trị, quyết định: “Tổng Công Kích và Tổng Khởi Nghĩa” tại miền Nam Việt Nam.

Riêng về lực lượng để tổng khởi nghĩa đó là kết hợp quần chúng nông thôn và đô thị thành một lực lượng to lớn để tổng nổi dậy. Do đó Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình ra đời.

Đây là lực lượng chủ lực và nòng cốt cho kế hoạch Tổng Khởi Nghĩa của Hồ chí Minh và của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam tại Huế.

Vào ngày 21 tháng 1 năm 1968, Bộ Chính trị đã gởi một mật điện cho Phạm Hùng Trung Ương Cục Miền Nam, Võ Chí Công Khu Ủy Khu 5 và Tướng Trần Văn Quang, Khu Ủy Trị Thiên quyết định của Bộ Chính trị về việc thành lập một mặt trận chính trị thứ hai sau Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lấy tên là:

“Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình” nhằm phân hóa địch đến mức cao nhất, tranh thủ và tập hợp thêm những lực lượng những cá nhân chống Mỹ và Thiệu-Kỳ. Tranh thủ các tầng lớp trung gian ở đô thị, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi ở nước ngoài.

Riêng tại Cố Đô Huế Thiếu Tướng VC Trần Văn Quang Khu Ủy Trị Thiên giao cho Chính Ủy Lê Chưởng, sau này là Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam, thi hành lệnh của Bộ Chính Trị thành lập Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình tại Huế.

Lê Chưởng phối hợp cùng Hoàng Kim Loan, và Hoàng Lanh, hai cán bộ Thành Ủy Huế, chịu trách nhiệm phụ trách cuộc “Tổng Nổi Dậy”, gấp rút thành lập Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ và Hòa Bình trước thời điểm tấn công Huế để kịp thời trình diễn với đồng bào quốc nội cũng như tuyên truyền với quốc tế rằng: Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là một lực lượng tự phát của dân chúng miền Nam, được kết hợp bởi mọi thành phần yêu nước trong quần chúng và tôn giáo. Họ vùng lên “tổng nổi dậy”, “tổng khởi nghĩa” giành lại chính quyền trong tay Ngụy Quân, Ngụy Quyền, bè lũ tay sai, và Đế quốc Mỹ xâm lược ác ôn. Ngoài ra lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình còn có nhiệm vụ:

“Lùng, diệt, truy quét thành phần ác ôn, tàn binh ngụy, công an cảnh sát ‘Ngụy’, các thành phần làm tay sai cho tình báo CIA.”

Những thành phần nòng cốt được tuyển chọn đặt vào những chức vụ chủ chốt và quan trọng trong tổ chức Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ tại Huế gồm:

Chủ Tịch: Lê Văn Hảo.

Giáo Sư Nhân Chủng Học Trường Đại Học Huế. Lê Văn Hảo sinh quán tại Huế. Du học tại Pháp. Về nước vào năm 1965. Giáo sư của Đại học Sài Gòn và Đại học Huế về môn nhân chủng học.

Lê Văn Hảo hoạt động trong Tổ Trí Vận của Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tôn Thất Dương Tiềm, Ngô Kha, Hoàng Văn Giàu, và Tôn Thất Hanh. Y tham gia phong trào nổi loạn vào năm 1966 của Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu tại Miền Trung-Huế.

Vụ phản loạn của Thích Trí Quang thất bại, Lê Văn Hảo bị lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt chúng tôi bắt giữ. Chúng tôi đang thẩm vấn y để truy lùng bắt đám trí vận nội thành thì ông Trưởng Ty Đoàn Công Lập ký giấy trả tự do cho y. Tôi trực tiếp phản đối chuyện này với ông Đoàn Công Lập, nhưng vô hiệu. Ông là Trưởng Ty, là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Ông ta có toàn quyền, đủ tư cách pháp lý pháp nhân, bắt ai, thả ai là quyền của ông ta. Và ông ta đã sử dụng quyền này để thả tù nhân Cộng sản ra, tôi biết làm sao hơn?

(1967 chúng tôi tình nghi ông Đoàn Công Lập làm nội tuyến. Sau Mậu Thân Đoàn Công Lập bị bắt. 1972 điệp viên VC Hoàng Kim Loan xác nhận y là cán bộ điều khiển Đoàn Công Lập. Sẽ nói rõ trong phần sau).

Gần cuối tháng 12/1967 trước trận đánh Mậu Thân, Hoàng Kim Loan đã chuyển Lê Văn Hảo lên mật khu học tập và nhận chỉ thị thi hành kế hoạch Mậu Thân để “tổng nổi dậy”, đồng thời nhận chức Chủ Tịch Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Theo màn kịch cướp chính quyền này của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Văn Hảo được đề cử kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Nhân Cách Mạng thành phố Huế kể từ sáng Mùng 2 Tết Mậu Thân.

Phó Chủ Tịch: Thích Đôn Hậu, Chánh đại diện Phật giáo Ấn Quang miền Vạn Hạnh.

Thích Đôn Hậu là cơ sở Tôn Giáo Vận được tên Trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan tổ chức hoạt động cho Cộng sản từ trước 1963.

(Xin đọc phần sau: “Sự thật về Thích Đôn Hậu”).

Tổng Thư Ký: Giáo Sư Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nguyên quán tại làng Bích Khê, Huyện Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị. Hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan, là hậu duệ của Tuần Vũ Hoàng Hữu Xứng, đời Vua Tự Đức.

Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, Giáo sư Việt Văn trường Quốc Học, hoạt động trong tổ chức trí thức vận của Khu Ủy 5, và sau đó trực thuộc cơ quan Thành ủy Huế.

Hoàng Phủ Ngọc Tường tham dự hầu hết các vụ rối loạn tại Miền Trung. Với danh nghĩa là thành phần trí thức, y hoạt động kết hợp với tổ chức Học Sinh Sinh Viên Giải Phóng Thành phố Huế.

Từ cuộc tranh đấu của Phật Giáo Ấn Quang vào năm 1963, do hai tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Trí Quang và Đôn Hậu cầm đầu, đến vụ khởi loạn tại Miền Trung vào năm 1966, Hoàng Phủ Ngọc Tường đều có mặt bên cạnh Trí Quang và Đôn Hậu, theo chỉ thị của Khu Ủy Khu 5 và tên Trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan. Cũng như Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những thành phần tin cậy, là cánh tay mặt của Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu trong lực lượng học sinh, sinh viên và trí thức, lực lượng chủ lực của Đôn Hậu và Trí Quang trong các cuộc tranh đấu lên đường xuống đường gây rối loạn tại miền trung, Huế.

Sau cuộc đảo chánh phản loạn 1963 lật đổ nền đệ I Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và hai bào đệ là ông Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn bị thảm sát, thì tại Huế hai tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Trí Quang và Đôn Hậu là hai tay quyền lực nhất nước, và chùa Từ Đàm mới thực là Dinh Độc Lập. Đám Việt cộng mặc lớp áo trí thức, sinh viên thuộc Đại Học Huế là những công thần của phong trào Phật Giáo Tranh Đấu, đã trở thành những kiêu binh nắm quyền sinh sát chính trị.

Kết quả lực lượng an ninh tình báo VNCH đã bị tên Việt cộng Trí Quang và Cục Tình Báo Chiến Lược Bắc Việt đánh tơi tả. Vì thế đám Việt cộng nằm vùng Hoàng Phủ Ngọc Tường mặc sức tung hoành chẳng ai dám đụng tới. Điển hình là từ 1964 tại Đại học Huế có hai tờ báo của Việt cộng ngang nhiên hoạt động. 4

Tờ báo thứ nhất của nhóm trí thức thiên tả tại Đại Học Huế đó là tờ “Lập Trường” do Giáo sư Tôn Thất Hanh làm chủ nhiệm. Chủ trương của nhóm Lập Trường là chống lại tất cả các nội các chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Sáu nội các chính phủ sau chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm đều bị dán nhãn là “Chính quyền Diệm mà không Diệm”. Chiêu bài này cũng còn được sử dụng tiếp tục và dài dài sau đó, ngay cả đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 (Thậm chí bọn Cộng sản nằm vùng và tay sai còn sử dụng chiêu bài này ngay tại hải ngoại hiện nay).

Ngoài ra Giáo sư tiến sĩ Cao Huy Thuần bút hiệu là Ba Cao mở mục “Chén Thuốc Đắng” để thường xuyên tuyên truyền vu khống bôi xấu tấn công các cấp lãnh đạo và chính quyền Miền Nam Việt Nam là ác quỷ đàn áp dân chúng sinh viên học sinh.

Tờ báo thứ hai xuất phát từ Tổng Hội Sinh Viên Đại Học Huế với tên gọi là “Sinh Viên Huế” thực chất là của “Lực Lượng Học sinh, Sinh viên Giải Phóng Thành phố Huế”, và Hoàng Phủ Ngọc Tường, người của Khu ủy Khu 5, giữ chức Tổng Thư Ký Tòa Soạn. Ban biên tập “Sinh Viên Huế” gồm nhiều “sinh viên” hoạt động cho cơ quan Thành Ủy Huế. Đặc biệt có Phan Duy Nhân, sinh viên Đại học Luật Khoa Huế, với bút hiệu Thiết Sử. Phan Duy Nhân là một tên Việt cộng nằm vùng loại rất nguy hiểm. Mọi cuộc lên đường xuống đường của Trí Quang và Đôn Hậu, Phan Duy Nhân đều tham gia tổ chức. Lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt chúng tôi đã bắt và giam y tại Côn Sơn 1968-1975.

Trước đây khi chúng tôi bắt những tên Việt cộng giả dạng “đối lập” tổ chức những đám biểu tình phủ màu sắc áo cà sa nhân danh tôn giáo,  nhân danh sinh viên học sinh thì liền bị quy chụp là Cảnh Sát Quốc Gia và bè lũ Mỹ Ngụy ác ôn đàn áp sinh viên học sinh, đàn áp đối lập đàn áp tôn giáo!

Sự thật ở đâu?

Sau tháng 4/1975, những “đối lập” này hiện nguyên hình là Việt cộng nằm vùng! Chính chúng trá hình là lãnh tụ đối lập để phá nát chính quyền VNCH. Nếu chúng tự xưng là MTGPMN hoặc là Việt cộng thì có ai nghe chúng? Quả thật bảo vệ lý tưởng quốc gia tại mặt trận là điều khó, nhưng bắt giam Việt cộng nằm vùng ở hậu phương là một mặt trận lại càng khó hơn. Các anh chị em CSQG luôn phải chịu đựng bị chụp mũ, bị bôi nhọ thóa mạ, thậm chí có thể bị trù dập bởi những người cùng chung chiến tuyến.

Thí dụ, sau tháng 4 năm 1975 cựu “sinh viên đối lập” thực chất là nội tuyến Phan Duy Nhân có tên mới là Nguyễn Chính, chức vụ Trưởng Ban Tôn Giáo trong Mặt Trận Tổ Quốc, ngạch trật tương đương với cấp thứ trưởng trong chính phủ Cộng sản Việt Nam! Thích Đôn Hậu sau 1975 là Đại Biểu Quốc Hội nhiều khóa, Thích Như Ý và Thích Thiện Siêu sau 1975 cũng là Đại Biểu Quốc Hội, thành viên Mặt Trận Tổ Quốc. Trước đây khi lực lượng CSQG đến chùa Trà Am bắt hắn thì bị Phật tử biểu tình rầm rộ buộc thả hắn ra, còn cá nhân tôi thì suýt bị Thiếu Tướng Trần Thanh Phong bắt và cách chức.

Song song với công tác tờ báo Sinh Viên Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn tham gia trong nhóm sinh viên chủ chốt của phong trào tranh đấu phản loạn miền trung của Trí Quang, Đôn Hậu. Nhóm sinh viên này gồm có: Nguyễn Hữu Ngô, Phan Duy Nhân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Trần Quang Long, Ngô Kha, Lê Văn Sâm (Sinh viên Luật Khoa, không phải là Lê văn Sâm sinh viên Văn Khoa).

Vào khoảng đầu tháng 9/1964 thì nhóm sinh viên nằm vùng này thành lập quán café “Quán Bạn” ở đường Đào Duy Từ. Chủ quán là sinh viên Lê Văn Sâm, nữ văn sĩ Túy Hồng phụ trách giao tế.

Khi ông Tướng Nguyễn Khánh cho ra đời “Hiến Chương Vũng Tàu”, thì tại Huế do chỉ thị của Khu ủy Khu 5 và tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Thích Trí Quang, Hoàng Phủ Ngọc Tường thành lập Lực Lượng Giáo Chức Tranh Đấu Huế. Y làm chủ tịch lực lượng này. Đồng thời y cho ra đời tờ báo “Báo Dân”. Tất cả thành phần trong “Quán Bạn” là những cây viết chủ lực của tờ Báo Dân.

Vào đầu năm 1966 theo chỉ thị của Khu ủy Khu 5, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Phan Duy Nhân, Hoàng Phủ Ngọc Phan cho ra mắt tại Huế tờ báo “Việt Nam Việt Nam” công khai chống chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, chống chiến tranh xâm lược Mỹ, nhằm hỗ trợ tích cực và mạnh mẽ cho hai tên cán bộ Việt cộng Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu đang phát động cuộc phản loạn của bọn chúng tại miền trung, nhằm thực hiện mưu đồ cắt miền trung từ đèo Hải Vân ra đến Tỉnh Quảng Trị, biến vùng này thành vùng trái độn.

Điều đáng lưu ý là nhóm chủ biên các tờ báo này toàn là những cơ sở nằm vùng của Khu Ủy Khu 5, của ban Trí Vận Thành ủy Huế, gọi chung là cán bộ của phong trào đô thị. Bọn chúng gồm có:

Lê Văn Hảo: Giáo sư Đại Học Huế. Lê văn Hảo cầm đầu nhóm chủ biên và để bảo mật. Lê Văn Hảo đã dùng phòng riêng của y để in báo.

Hoàng Phủ Ngọc Tường

Nguyễn Khắc Túy tức Nguyễn Đắc Xuân

Hoàng Phủ Ngọc Phan

Lê Thanh Xuân

Hà Trung Tiến tức Hoàng Hữu Pha

Lê Tử Thành tức Trường Thành

Nguyễn Kim Sơn tức Lê Trường Sơn

Trần Hoàng Phong tức Trần Quang Long.

Nguyễn Thị Tố Liên: Xướng ngôn viên đài phát thanh Cứu Nguy Phật Giáo thuộc lực lượng phản loạn 6/1966 của tên Việt cộng nằm vùng Thích Trí Quang.

Đinh Cường: Họa sĩ, bí danh Các Hồng.

Số báo “Việt Nam Việt Nam” mang số 1 phát hành đúng vào thời gian cao điểm cuộc phản loạn của Trí Quang và Đôn Hậu vào 1966. Cũng phải nói đến giáo sư Bửu và Thái Ngọc San là 2 tay liên lạc đem báo từ Huế vào Sài Gòn, Quy Nhơn.

Tờ “Việt Nam Việt Nam” số thứ 2 đang sửa soạn phát hành thì toàn bộ bọn chúng bị lực lượng CSĐB của chúng tôi bổ vây truy bắt. Khu Ủy Khu 5 liền chỉ thị cho cơ quan Trí Vận thành ủy Huế gấp rút đưa Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân và một số khác chạy trốn. Điệp viên Hoàng Kim Loan cấp tốc gởi giao liên đến đưa bọn này lên mật khu.

Còn nhớ đêm cuối cùng, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan ăn cơm tối tại nhà Trịnh Công Sơn sau đó giao liên là giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm và tài xế là Lê Cảnh Đạm, Tổng Thư Ký trường Đại Học Y Khoa Huế, dùng xe hơi của Bà Tuần Chi, tức bà Đào Thị Xuân Yến, một cơ sở trí vận của Thành Ủy Huế. Y thị cũng là người tình của Thích Đôn Hậu.

Tôn Thất Dương Tiềm và Lê Cảnh Đạm đến nhà Trịnh Công Sơn chở Tường, Phan lên Chùa Linh Mụ của Thích Đôn Hậu, sau đó chúng đi qua ngả Long Hồ, Ngọc Hồ, vuợt nguồn hữu lên mật khu tại vùng sau lưng núi Kim Phụng hay thường gọi là núi Chuối thuộc quận Nam Hòa, đó là nơi cơ quan Tỉnh Ủy Thừa Thiên Việt cộng trú đóng.

Năm 2009, khi tôi công bố chi tiết này trong bài viết về Trịnh Công Sơn và những hoạt động nằm vùng thì Hoàng Phủ Ngọc Phan lập tức chối tội của hắn và đồng bọn trong một số các bài viết bằng cách cho rằng chi tiết anh em Hoàng Phủ trốn trong nhà Trịnh Công Sơn là không đúng, rằng anh em chúng trốn ở nhà ông Nguyễn Kim Sơn nào đó hiện nay đang ở Đức? Nhưng đã quá trễ, chính Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết trong hồi ký của hắn kể lại việc Trịnh Cộng Sơn đã che giấu Phan và Tường trong nhà trong lúc tìm đường chạy trốn khỏi lực lượng CSĐB chúng tôi.

Trước trận “Tổng Công Kích, Tổng Nổi Dậy” Mậu Thân 1968 tại Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường được lệnh của khu Ủy Khu 5 giữ chức Tổng Thư Ký của Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, đồng thời trong thời gian cộng quân chiếm Huế, y được giao nhiệm vụ và chức vụ Chủ Tịch Tòa án Nhân Dân tại Bãi Dâu, Gia Hội thuộc Quận II, hay dùng đúng theo danh từ của bọn chúng là Tòa Án Nhân Dân tại “Mặt Trận Cánh Bắc”.

Tại phiên tòa của Tòa Án Nhân Dân này, y đã ra lệnh chôn sống 204 thường dân vô tội trong đó có xử bắn một số Quân, Cán, Chính, và Cảnh Sát Quốc Gia của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Xin nhắc lại, sau này khi các đài truyền thanh, truyền hình và báo chí quốc tế hỏi Hoàng Phủ Ngọc Tường, cụ thể trong: Loạt phim 10 tập Vietnam History do một đài truyền hình Anh Quốc thực hiện năm 1982. (Roll 29 of Vietnam Project- Feb. 29, 1982- Inteview with Hoang Phu Ngoc Tuong, writer).

– Tại sao lại phải giết nhiều người như vậy?

Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời:

-“Giết bọn chúng thì cũng như giết những con rắn độc mà thôi”.

Và hãy nghe chính hắn trong đoạn phim năm 1982 thực hiện bởi một đài truyền hình London nói về lý do hắn giết người như sau “nhân dân của chúng tôi phải đổi lấy máu của chúng tôi thi hành bản án đó đối với những kẻ tử thù của dân tộc mình”.

Muốn biết Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có mặt tại trận địa Tết Mậu Thân Huế không và đã giết người thế nào, xin vào link phỏng vấn hắn ta dưới đây để thấy chính miệng hắn chứ không ai khác xác nhận hắn đã có mặt tại Huế, đã thù hận và giết quân cán chính VNCH và dân chúng thế nào. Nay khi chủ nghĩa Cộng sản bị cả thế giới lên án là tội ác của nhân loại thì hắn chối rằng lúc đó hắn đang ở trên rừng?! Rừng nào đây Hoàng Phủ Ngọc Tường?

Đồng ý dối trá là một đặc tính chung của bọn Cộng sản và tay sai, có tên chối được vì bằng cớ đã bị mất, nhưng đối với Hoàng Phủ Ngọc Tường thì đã quá trễ, có thể nào hắn chối được những đoạn phim trong link này không?

https://openvault.wgbh.org/…/V_226B408F90EB4A4BA79758A8…

Nguyễn Đắc Xuân: Phụ trách lực lượng học sinh, sinh viên, trí thức, của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình. Kiêm chức vụ: Đoàn Trưởng An Ninh và Bảo vệ Khu Phố của thành phố Huế, tức Đội Vũ Trang Thanh Niên.

Đây là lực lượng chủ lực trong vụ tàn sát đồng bào Huế.

Nguyễn Đắc Xuân là một cán bộ quan trọng của cơ quan Thành Ủy Huế nằm vùng trong giới sinh viên đại học. Trước khi đào thoát lên mật khu vào tháng 7/1966, y là sinh viên năm thứ 2 Đại học Sư phạm ban Việt Hán. Trong suốt thời gian sôi động của cuộc Nổi Loạn Miền Trung do 2 tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo chỉ huy là Thích Đôn Hậu và Thích Trí Quang, Nguyễn Đắc Xuân là tay chân tín cẩn của hai tên này.

Theo lệnh của Thích Trí Quang, Nguyễn Đắc Xuân thành lập Đoàn Sinh Viên Phật Tử Quyết Tử, gồm có 3 đại đội được cấp tốc huấn luyện quân sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Văn Thánh của Sư Đoàn I BB, đồng thời cũng được Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận Tư lệnh Sư Đoàn I/BB cho phép lấy vũ khí của sư đoàn trang bị cho 3 Đại Đội Quyết Tử của Nguyễn Đắc Xuân. Thành tích của Nguyễn Đắc Xuân đối Với Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu và với cơ quan Thành Ủy Việt cộng Huế là:

– Chiếm đài phát thanh của chính phủ tại Huế, đổi tên là đài phát thanh “Cứu Nguy Phật Giáo”.

– Đốt tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Huế vào ngày 29/5/1966.

– Kế tiếp đốt phòng Thông Tin Văn Hóa Hoa Kỳ.

– Chiếm ty CSQG/Thừa Thiên Huế, cướp kho súng, cướp máy móc truyền tin xe cộ của cảnh sát để trang bị cho đoàn Sinh Viên Phật Tử Quyết Tử của y.

– Đốt nhà của Trung tá Phan Văn Khoa Tỉnh Thị Trưởng Thừa Thiên-Huế tại gần Cống Thủy Quan trên đường Cường Để, thuộc quận Thành Nội, vì Trung tá Tỉnh Thị Trưởng không theo phong trào nổi loạn của bọn chúng.

– Tổ chức các cuộc biểu tình gây hỗn loạn trong thành phố.

– Chỉ huy 3 Đại đội Sinh Viên Quyết Tử đi từng nhà một trong thành phố Huế bắt ép dân chúng tham gia phong trào phản loạn, ai khộng chịu theo thì bị vu khống là người của Thiệu Kỳ, liền bị bọn chúng hăm đọa, hoặc dùng bạo lực khống chế.

– Sau đó Nguyễn Đắc Xuân đưa lực lượng Sinh Viên Phật Tử Quyết tử này vào tăng cường cho Chùa Tinh Hội tại Đà Nẵng. Tại đây y và 3 đại đội Sinh Viên Phật Tử Quyết Tử của y đã gây xáo trộn và chết chóc cho dân cư của thành Phố Đà Nẵng không ít.

Vô nghề nghiệp, tên sát nhân Nguyễn Đắc Xuân vào Đại Nội xem một số cổ vật của Hoàng Cung rồi về nhà viết về Triều Nguyễn, từ đó tự phong “Nhà Huế Học”, thực chất hắn rất giỏi về môn “Tắm Máu Mậu Thân Học”, “đồ tể học”.

Đang nghẹn ngào vì Đảng cho thành vật phế thải…?

Khi quân đội và cảnh sát chiếm lại thành phố Đà Nẵng trong tay bọn làm loạn, thì tại một nhà kho của Chùa Tỉnh Hội Đà Nẵng, Đại tá Cảnh Sát Trần Minh Công khi ấy là Trưởng Ty CSQG thị xã Đà Nẵng phát giác một số thây người đã sình thối trong nhà kho chùa. Chính đích thân ông và một số nhân viên cảnh sát của ông đã phải vác những xác chết đó đi chôn cất.

Nguyễn Đắc Xuân và lực lượng Quyết Tử đã gây thiệt hại sinh mệnh và kinh hoàng cho dân Huế và Đà Nẵng vào năm 1966, nay Tết Mậu Thân 1968 cũng chính tên đao thủ này cùng với Đội An Ninh và Bảo Vệ Khu phố của y, phục vụ cuồng nhiệt cho Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình do đảng Cộng sản Việt Nam mới thành lập mà Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch, Thích Đôn Hậu phó Chủ Tịch, đã tắm máu dân Huế trong suốt 22 ngày, với 5327 người bị chúng giết và bắt dẫn đi mất tích 1200 người.

BẠO LỰC CÁCH MẠNG: 624 GIỜ DÂN HUẾ SỐNG TRONG MÁU VÀ NƯỚC MẮT, CUỘC TẮM MÁU RÙNG RỢN NHẤT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM: TẾT MẬU THÂN 1968 TẠI HUẾ CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CỘNG SẢN VIỆT NAM.

Sáu giờ sáng ngày mùng 2 Tết Mậu Thân 1968 khi lá cờ sắt máu của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình xuất hiện tại Kỳ Đài Phú Văn Lâu, khi mà 10 ngàn quân Cộng sản gồm chính quy, địa phương, công an, cơ sở nằm vùng đã tràn ngập thành phố Huế, bọn chúng bắt đầu thi hành chỉ thị của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam, của Hồ chí Minh, của Lê Duẩn, phát động cuộc tổng nổi dậy cướp chính quyền tại Huế. Lực lượng quân sự vừa kể trên hỗ trợ cho lực lượng chính trị là lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình của Lê văn Hảo, Thích Đôn Hậu, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, với sự chỉ đạo của các cán bộ Cộng sản thuộc Quân Ủy Trị Thiên, Tỉnh Thị Ủy Thừa Thiên-Huế như:

– Lê Chưởng, chính ủy Khu Ủy Trị Thiên và mặt trận Huế.

– Hoàng Phương Thảo, cán bộ thành ủy

– Hoàng Lanh, cán bộ thành ủy

– Phan Nam tức Lương, cán bộ thành ủy

– Tống Hoàng Nguyên, trưởng ban An Ninh Quân Khu Trị Thiên

– Nguyễn Đình Bảy, tự Bảy Lanh trưởng ty Công An Thừa Thiên-Huế

– Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của thành Phố Huế.

Thực chất lực lượng này là đám cơ sở Việt cộng nằm vùng trong mọi giới học sinh, sinh viên, tiểu thương chợ Đông Ba, công chức, cảnh sát, quân nhân v.v. và cũng chính là đám bình mới rượu cũ tranh đấu nổi loạn vào năm 1966 của hai tên Việt cộng nằm vùng trong Phật Giáo là Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu.

Bọn này vào tháng 6, tháng 7/1966 một số đào thoát lên mật khu, số khác không bị lộ nằm ém lại, nay công khai lộ diện bắt bớ tàn sát dân lành vô tội.

Lực lượng này là đại lực lượng gây chết chóc đau thương nhất cho dân chúng Huế trong suốt 22 ngày. Đây là lực lượng sắt máu số 1, giết người trên căn bản thù hận Quốc-Cộng, bọn chúng say máu người còn hơn là quỷ dữ và luôn chủ trương giết lầm hơn bỏ sót, như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tổng Thư Ký của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình đã phát biểu qua nhiều cuộc phỏng vấn của giới truyền thông Quốc Tế còn được lưu trữ hiện nay rằng:

“Giết bọn chúng cũng giống như giết những con rắn độc”.

Đời của Hoàng Phủ Ngọc Tường sắp qua đi, nhưng âm thanh lời nói này vẫn mãi mãi được ghi lại và phát đi trên toàn cầu qua hệ thống internet cho lịch sử, cho người dân Huế nói riêng và toàn dân Việt Nam nói chung phán xét.

Chỉ huy cuộc Tổng Nổi Dậy tại Huế là điệp viên Trung tá Cộng sản Hoàng Kim Loan, Thành ủy viên Thành Ủy Huế.

THÀNH LẬP CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG

1- Chính Quyền Cách Mạng tỉnh Thừa Thiên, thị xã Huế.

Chính Quyền Cách Mạng tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế, hay còn gọi là Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên và thị xã Huế đã được thành lập theo lệnh bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam trước Tết Mậu Thân, khoảng tháng 12 năm 1967. Thành phần nhân sự của tổ chức này gồm có:

1- Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng tỉnh Thừa Thiên và thị Xã Huế: Giáo sư nhân chủng học Lê Văn Hảo.

Quá khứ hoạt động tích cực cho Bác Đảng như thế, nhưng ê chề thay, sau 1975, nhân một chuyến được mời đi Pháp thuyết trình, Lê Văn Hảo lại đào thoát khỏi thiên đường Cộng sản mà trước đó y đã bỏ biết bao tâm huyết công sức, và dùng bao máu người dân Huế để xây dựng. Mặc dù tang chứng và nhân chứng còn rành rành ra đó, nhưng Lê Văn Hảo vẫn không ngượng miệng chối bỏ quá khứ tội lỗi đã hoạt động Cộng sản rất tích cực, đến nỗi đã được bọn chúng tin cậy giao cho một lần 2 chức vụ quan trọng trong Tết Mậu Thân 1968 đó là Chủ Tịch Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình và Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng thành Phố Huế.

Có lẽ vì xấu hổ với tội lỗi làm Cộng sản cho nên kể từ khi trốn ở lại hải ngoại tại, y thường tiếp xúc với báo chí quốc tế và dối trá rằng:

“Tôi bị ép buộc phải nhận một lần 2 chức quan trọng bọn họ giao cho tôi trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế”

a- Chủ Tịch Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

b- Chủ tịch ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng thành phố Huế.

“Khi lực lượng quân sự tràn vào Huế thì trong suốt 26 ngày tôi vẫn ở trên núi xanh, không có mặt ở Huế v.v.”

Thưa ông Tiến Sĩ Lê Văn Hảo, trên đời có ai mà “bị” ép buộc phải nhận chức vụ quan trọng bao giờ? Thói thường phải gọi là “được” nhận chức vụ “quan trọng” phải không? Nhất là đối với cách mạng, đây là một đặc ân được ban phát cho những kẻ có thành tích quan trọng, kèm theo là phải được sự tin tưởng rất cao của cấp trên, cớ sao ông lại nói ngược là “bị ép buộc”?

Cựu chủ tịch Ủy Ban Liên Minh, và cựu chủ tịch Ủy Ban Cách Mạng thành phố Huế, xin ông hãy đọc kỹ những dòng chữ dưới đây của người vừa là bạn thân thiết, và vừa là đồng chí của ông Lê Văn Hảo là Hoàng Phủ Ngọc Tường:

“Nhân đây tôi thấy cần nói một điều sòng phẳng về trường hợp anh Lê Văn Hảo. Trước khi thoát ly tham gia kháng chiến hồi Mậu Thân 1968, giáo sư lê văn Hảo dạy Đại Học văn Khoa Huế, là một trí thức yêu nuớc và tiến bộ có quan điểm chống Mỹ rõ ràng, được sinh viên cảm phục. Với tạp chí Việt Nam Việt Nam, dù không trực tiếp tham gia nội dung, nhưng sau khi dọc hết bản thảo, đã đồng ý đứng lên cầm đầu nhóm chủ biên và cho mượn phòng riêng để đảm bảo bí mật trong việc in báo. Còn sau này anh Hảo không kìm chế được những bức xúc cá nhân, đánh mất bản lĩnh của người trí thức chân chính đến nỗi phải phủ nhận đại nghĩa dân tộc mà mình đã lựa chọn, thì đó là điều đáng tiếc cho anh và hoàn toàn bất ngờ đối với tôi”. –(Trích Hoàng phủ Ngọc Tường tuyển tập 3 bút ký- Trang 158 và 159).

Những chi tiết Hoàng Phủ Ngọc Tường đưa ra ở trên hoàn toàn đúng với hồ sơ CSQG Thừa Thiên Huế về những gì Lê Văn Hảo đã làm, như vậy có thể chối tội được nữa không ông giáo sư nhân chủng học, tốt nghiệp tại Pháp, ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng sản? Thật quá đúng khi lời “Mao Chủ Tịch” vĩ đại của các ông nói về chính các ông: “Giá trị của đám trí thức còn thua giá trị một bãi phân!”

Bọn Cộng sản dùng ông vào hai chức vụ quan trọng trong Mậu Thân 1968 tại Huế để chém giết đồng bào vô tội, để lừa bịp quốc tế rằng “trí thức” Miền Nam tổng nổi dậy, xong việc rồi thì bọn chúng đưa ông về ngồi chơi “thời nước” tại Mặt Trận Tổ Quốc, ông bất mãn nên mới quay đầu lại vừa sủa vừa cắn bọn chúng, luôn thể để chối tội sát nhân của ông trước lịch sử, trước oan hồn của 5327 thường Huế vô tội đã bị quân đội nhân dân, bị ông, Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình mà ông là Chủ Tịch, lực lượng Công An của Đại tá Trưởng Ty Công An, đám An Ninh và Bảo Vệ Khu phố trực thuộc Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Tỉnh Thừa Thiên-Huế mà ông làm chủ tịch đã sát hại họ.

Tóm lại, về vấn đề Lê Văn Hảo, chúng ta có thể nói rằng phải chăng vì bị thất sủng bị đá ra khỏi guồng máy quyền lực, cũng như những tên Nguyễn Đắc Xuân, anh em Hoàng Phủ v.v. ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì Lê Văn Hảo mới vỡ mộng? Một giấc mộng đã được bọn Tội Đồ Miền Nam này xây trên xương máu người dân Miền Nam và người dân xứ Huế vô tội. Vì giấc mộng kinh tởm này mà những người như Lê Văn Hảo, đám đồ tể Việt cộng Huế và toàn bộ đám “Mặt trận giải phòng Miền Nam” đã phá nát Miền Nam cũng như phá nát chính danh dự bản thân chúng, cho lịch sử đời đời nguyền rủa bọn ngu dốt dã man này.

2- Phó Chủ Tịch: Bà Đào thị Xuân Yến, tức bà Tuần Chi, nguyên hiệu trưởng trường Nữ Trung Học Đồng Khành Huế.

3- Đồng phó chủ tịch: Hoàng Phương Thảo: Thành ủy viên Thành ủy Huế.

a- Chính quyền Cách mạng Quận I (Quận Thành Nội)

Vào gần trưa ngày mùng 2 Tết Mậu Thân, Hoàng Kim Loan thành ủy viên Thành Ủy Huế, người phụ trách cuộc “Tổng Nổi Dậy” tại Huế cùng với một số cán bộ và cơ sở nằm vùng như Nguyễn Trung Chính, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm v.v. tổ chức cuộc mít-tinh có khoảng hơn một trăm người tham dự. Trong cuộc mít-tinh này bọn chúng đưa Nguyễn Hữu Vấn giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ ra “bầu” làm Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận I (Quận Thành Nội).

Tưởng cũng cần nói rõ Nguyễn Hữu Vấn là cơ sở trí vận của điệp viên Hoàng Kim Loan. Ngoài ra Nguyễn Hữu Vấn còn là cháu ruột của giáo sư âm nhạc Nguyễn Hữu Ba, một nhạc sĩ nổi tiếng tại đất Thần Kinh.

b- Chính quyền Cách mạng Quận II (Quận Tả Ngạn)

Cũng trong ngày mùng 2 Tết, Phan Luơng cán bộ thành ủy phụ trách cuộc “Tổng Nổi Dậy” tại Quận II (Quận Tả Ngạn) đã đề cử Nguyễn Thiết bí danh Hoàng Dung lên giữ chức vụ chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách mạng Quận II.

Nguyễn Thiết vượt tuyến vào Nam trong thời kỳ Đệ nhất Cộng Hòa, cùng thời điểm với Nguyễn văn Kim. Nguyễn Thiết sau đó là sinh viên của trường Đại học Luật Khoa Huế. Nguyễn Thiết đã len lỏi trong hàng ngũ Tổng Hội Sinh Viên và nằm trong ban chấp hành Tổng Hội Sinh Viên Đại Học Huế.

Cũng như Nguyễn văn Kim, y được Tình Báo Chiến Lược Hà Nội bố trí vượt tuyến vào Nam. Nguyễn Thiết hoạt động trong ban Trí Vận của thành ủy Huế, cùng với hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Văn Hảo v.v. tại Đại Học Huế.

Cũng cần nói rõ thêm về Nguyễn Văn Kim:

Nguyễn Văn Kim mà tôi đề cập ở đây chính là Dân Biểu Nguyễn Văn Kim của VNCH, là một trong những nhân vật cao cấp của đảng Đại Việt Cách Mạng của ông Hà Thúc Ký. Cũng nhờ vào thế lực của Đại Việt Cách Mạng đương sự mới trúng cử dân biểu VNCH. Sau 1975 tại hải ngoại cũng đã có lần Nguyễn Văn Kim định đảo chánh lãnh tụ của mình để nắm quyền chủ động lèo lái đảng Đại Việt Cách Mạng.

Khi Phong trào kháng chiến của phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh ra đời, Nguyễn văn Kim đã tham gia phong trào này và cũng nắm giữ một trong những vai trò quan trọng của phong trào. Cái chết của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh theo nhiều tin tức cho thấy Nguyễn Văn Kim cũng có phần trách nhiệm.

Theo hồ sơ văn khố của BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế, Nguyễn Văn Kim tên thật là Nguyễn Văn Tú, gốc người Nghệ An, vượt tuyến 1954 từ Nghệ An sang Lào. Tại Lào, y được tòa Đại Sứ VNCH nhận lãnh đem về Sài Gòn. Thời gian ở Sài Gòn y học tại trường Trung học Võ Trường Toản, sau đó Nguyễn văn Tú ra Huế học 2 năm cuối cùng của bậc trung học là đệ nhị và đệ nhất tại trường Quốc Học. Nguyễn Văn Tú là học trò của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Sau này Nguyễn Văn Tú đổi tên là Nguyễn Văn Kim.

Tại Huế, Nguyễn Văn Kim vào đạo Công Giáo và được linh mục viện trưởng Viện Đại Học Huế Cao văn Luận nhận làm cha đỡ đầu. Trong suốt thời gian ở Huế, Nguyễn Văn Kim trú ngụ tại nhà thờ Cụ Phan Bội Châu, ở ngã ba Chùa Từ Đàm với ba người cháu nội của Cụ Phan, đó là Phan Thiện Cầu, Phan Thiện Tường, và Phan Thiện Cát là những người đồng hương của Nguyễn Văn Kim.

Điều đáng nói ở đây là trong hồ sơ văn khố của Ty Công An Thừa Thiên Huế thời Đệ I Cộng Hòa đã đặt y trong tình trạng theo dõi vì tình nghi y được cơ quan tình báo Bắc Việt bố trí cho vượt tuyến.

Vì lý do đó, từ 1967 cho đến trước 30/4/1975, CSĐB/BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế chúng tôi vẫn bám sát Nguyễn Văn Kim mỗi khi y ra Huế, vì chúng tôi vẫn nghi y hoạt động cho tình báo Cộng sản, mặc dầu hơi khó khăn khi theo dõi y vì khi đó y đã là dân Biểu VNCH và là một trong những lãnh tụ cao cấp của Đại Việt Cách Mạng, một thế lực chính trị rất mạnh từ sau tháng 6/1966 đến trước 30/4/1975 tại miền trung và nhất hạng là tại Huế.

Sau 1975 chúng tôi được biết em ruột của Nguyễn Văn Kim là một Đại tá thuộc Tổng Cục 2 Tình Báo Chiến Lược của Cộng sản đang sống tại Sài Gòn.

Tôi xin trích một đọan trong hồi ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường để khi quý độc giả đọc xong xin tự kết luận về dân biểu VNCH Nguyễn văn Kim:

“Một đêm khuya, những ngày sắp diễn ra cuộc đàn áp của chính quyền trung ương Sài Gòn, Tú đến tuyệt tình cốc gặp tôi. Tú gốc Nghệ An, vượt tuyến sau 1954. Tôi tóm tắt câu chuyện giữa Tú và tôi đêm hôm ấy:

– Thầy có gia nhập một tổ chức yêu nước phải không?

– Dĩ nhiên là có.

– Tổ chức nào thầy cho con biết được không?

– Tổng Hội Sinh Viên Huế.

– Thế mà lâu nay con cứ nghĩ là thầy đang ở trong một tổ chức yêu nước có quyền lực nào đó. Con biết chính xác là tờ “Việt Nam Việt Nam” đang đặt thầy trong những nguy hiểm nghiêm trọng. Tổng Hội Sinh Viên làm sao bảo vệ cho thầy được, khi Thiệu Kỳ đưa quân ra Huế?

Bây giờ con thấy con phải lo cho thầy.

Tú thông báo kế hoạch: Tú sẽ trao cho tôi một chiếc áo dòng để ngụy trang lúc cuộc càn quét bắt đầu ở Huế. Tú sẽ đưa tôi đến ẩn náu một nhà thờ xa thành phố, và sau đó sẽ thoát thân vào Sài Gòn.

Còn sau này, qua tin tức hải ngoại, Tú hoặc là Kim, Nguyễn Văn Kim đang tham gia nhiều tổ chức chống cộng cực đoan…” – (Trích Hoàng Phủ Ngọc Tường tuyển tập 2. Trang 706-707)

Vài giai thoại gay cấn giữa ông dân biểu Nguyễn Văn Kim, linh mục Trần Hữu Thanh, thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu và tác giả cuốn sách này, Liên Thành, đã xảy ra, xin được đề cập kỹ hơn ở phần cuối sách, tại đây xin tóm tắt thế này: cá nhân tôi đã bắn phi tiễn trực xạ vào linh mục Trần Hữu Thanh và các ông thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu, dân biểu Nguyễn Văn Kim để trấn áp cuộc biểu tình của phong trào chống tham nhũng tại Huế vào lúc Huế đang bị cộng quân áp sát chuẩn bị tấn công.

Khoảng gần cuối năm 1974, ông Nguyễn văn Kim đã hoạt động rất tích cực trong phong trào chống tham nhũng của Linh Mục Trần Hữu Thanh trong lúc quốc gia đang trong tình trạng hấp hối dầu sôi lửa bỏng. Thay vì giúp ổn định tình hình an ninh xã hội để hô hào quân dân cán chính cùng hiệp lực với chính quyền VNCH chung lòng chung sức tích cực chống cộng trước đã, thì dân biểu Nguyễn Văn Kim và linh mục Trần Hữu Thanh đã tích cực chống chính quyền quốc gia dưới chiêu bài bài trừ tham nhũng.

Trong một quốc gia, bộ não của quốc gia chính là chính quyền, đặc biệt là trong tình trạng đang có chiến tranh thì mọi công dân phải biết tự giới hạn sự đòi hỏi của mình, đặc biệt là các quyền tự do báo chí, tự do biểu tình. Ngay cả Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Harry Truman, đảng Cộng sản đã bị đặt ra ngoài vòng luật pháp, cũng như khi quân Nhật tấn công Trân Châu Cảng, tổng thống Franklin Roosevelt đã đem tất cả dân Mỹ gốc Nhật vào trong một trại tập trung ở California để bảo đảm an ninh quốc gia, cho dù việc làm này hơi thất nhân tâm.

Do đó, là một công dân thực sự ái quốc, thì mỗi cá nhân phải biết tự chế và tự giới hạn mình. Những kẻ không biết tự chế là những kẻ ích kỷ hoặc là bọn chính trị cơ hội hoặc chính là Cộng sản trá hình. Chính quyền quốc gia VNCH cũng dù giỏi dù dở cũng chính là bộ não để chống lại Cộng sản. Hô hào dẹp bỏ chính quyền quốc gia trong tình thế chiến tranh như thế thì thật sự chẳng khác nào là một hành động phá hoại thông đồng với giặc.

Thử đặt lại vài vấn đề lịch sử trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng đó, phải chăng đã có bàn tay của Cộng sản giựt dây chuyện chống tham nhũng này? Và kẻ đó là ai? Nên chăng việc dân biểu Nguyễn Văn Kim và linh mục Trần Hữu Thanh liên tục gây bất ổn chính trị và bất an trong lòng dân Miền Nam bằng các cuộc biểu tình và các bài báo trên trang nhất, các cuộc họp báo đình đám từ Sài Gòn ra Huế trong lúc Việt cộng đã áp sát?

Nên chăng việc biểu tình chống chính phủ tham nhũng thối nát trong lúc bọn phản chiến Mỹ trong quốc hội Hoa Kỳ đang lên kế hoạch cắt viện trợ cho Miền Nam? Nên chăng tất cả những hoạt động chính trị làm khủng hoảng chính phủ VNCH dùm cho Cộng sản Bắc Việt trong lúc Miền Nam đang thoi thóp?

Câu trả lời xin để lương tâm mỗi người tự vấn và trách nhiệm của từng cá nhân đã vô tình hay cố ý đánh phá chính quyền VNCH từ giai đoạn từ ngày chia đôi đất nước 1954 đến 1975.

Lịch sử sẽ đánh giá các ông linh mục Trần Hữu Thanh, thượng nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu, và một phần trách nhiệm nữa là Đại Việt Cách Mạng đảng về việc làm này.

Còn nhân vật Nguyễn Văn Kim, xin trích dẫn lời của Hoàng Phủ Ngọc Tường để kết luận:

“Ra hải ngoại, Nguyễn Văn Kim tham gia vào các tổ chức chống cộng cực đoan”. Xin hỏi, để làm gì và ông ta đã làm những gì? Câu trả lời đã có!

Xin trở lại Nguyễn Thiết chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận II:

– Nguyễn Thiết cũng là một trong những kẻ giết người tàn bạo không khác gì Nguyễn Đắc Xuân trong suốt 26 ngày cộng quân chiếm Huế. Những ngày cuối cùng trước khi bọn Cộng sản tháo chạy, Nguyễn Thiết đã bị pháo kích chết ngay tại tường thành gần cửa Đông Ba.

Về Phan Nam, cơ quan CSĐB/Thừa Thiên-Huế chúng tôi ghi nhận như sau: Phan Nam cán bộ thành ủy viên Thành Ủy Huế. Phan Nam phụ trách tổ Dân Vận và Trí Vận. Cũng giống như Hoàng Kim Loan y hoạt động bí mật trong thành phố Huế. Căn cứ lõm của y trong thành phố Huế là:

1- Nhà của một nhân viên tại nhà máy lọc nước Cồn Dã Viên ngay tại cầu Bạch Hổ.

2- Nhà của Ông Nguyễn văn Cán, quận trưởng Cảnh Sát, trưởng ty Cảnh Sát Quốc Gia Thị xã Huế.

3- Nhà của tên Tiếu, trưởng ban hồ sơ của Trung Tâm Thẩm Vấn thuộc BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế. Tên Tiếu này chính thức nuôi hai đứa con của vợ chồng Phan Nam.

4- Chính quyền Cách mạng Quận III (Quận Hữu Ngạn)

Bọn chúng không thể tập trung dân chúng cho dù số lượng chỉ một vài chục người tại khu vực Quận III để tổ chức mít-tinh biểu tình, lý do: địa thế Quận III đất rộng, dân cư không tập trung, bọn Cộng sản đi đến đâu thì dân chúng bỏ chạy đến đó. Vì thế Hoàng Lanh Thường Vụ thành ủy, Hoàng Kim Loan người chịu trách nhiệm phát động cuộc Tổng Nổi Dậy đành bó tay chưa có thể tổ chức được Chính Quyền Cách Mạng Quận III.

Hoàng Kim Loan và Hoàng Lanh quyết định giao quận III cho Đại tá Công An Nguyễn Đình Bảy chịu trách nhiệm.

5- Lực lượng An Ninh và Bảo vệ Khu Phố, hay Đội Vũ Trang Thanh Niên.

Như đã trình bày ở trên, hệ thống tổ chức của lực lượng chính trị do trung ương đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh vừa cho ra đời tại Huế là lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, với 4 nhân vật chủ chốt là:

– Chủ tịch giáo sư: Lê Văn Hảo

– Phó chủ Tịch: Thích Đôn Hậu

– Tổng Thư ký: Hoàng Phủ Ngọc Tường

– Phụ trách học sinh, sinh viên và thành phần trí thức: Nguyễn Đắc Xuân

Nguyễn Đắc Xuân là người chỉ huy toàn bộ hành động của lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố, hay Đội Vũ Trang Thanh Niên.

Vùng hoạt động của lực lượng này bao gồm Quận I, Quận II, Quận III thị xã Huế và lực lượng này có khoảng 700 người.

Có đến tám mươi phần trăm đội viên là thành phần học sinh, sinh viên và những thành phần khác đã thoát ly lên mật khu khi cuộc làm loạn của Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu vào mùa Xuân-Hè năm 1966 tại Huế bị thất bại. Nay sau 2 năm, bọn chúng xuống núi với súng AK-47, B40, dao găm mã tấu, sát hại dân lành vô tội. Hai mươi phần trăm còn lại là bọn nằm vùng và bọn chỉ điểm địa phương tại các Quận I, Quận II, Quận III trong thành phố Huế.

Phải nói rõ ràng minh bạch và chính xác rằng: Lực lượng An Ninh Bảo Vệ Khu Phố do Nguyễn Đắc Xuân chỉ huy là một lực lượng tàn bạo nhúng tay vào máu đào của đồng bào Huế vô tội nhiều nhất, gây kinh hoàng tang tóc đau thương cho đồng bào Huế suốt 624 giờ bọn chúng chiếm Huế nhiều nhất.

6- Lực lượng “Nghĩa Binh Cảnh Sát”

Nguyễn Đắc Xuân còn tổ chức lực lượng Nghĩa Binh Cảnh Sát và giao cho Quận Trưởng CSQG/VNCH Nguyễn Văn Cán, nguyên Trưởng Ty CSQG thị xã Huế trong thời gian phản loạn 1966 do Trí Quang chỉ huy.

Lực lượng Nghĩa Binh Cảnh Sát này quy tụ được một số nhỏ nhân viên của BCH/CSQG/Thừa Thiên-Huế bị kẹt trong vùng địch phải ra trình diện với bọn chúng. Nguyễn Đắc Xuân giao cho Quận Trưởng Cảnh Sát Nguyễn Văn Cán chỉ huy nhóm này. Mục đích của bọn chúng khi nặn ra lực lượng này chỉ là để tuyên truyền với quốc nội và quốc tế là lực lượng Công An Cảnh Sát Ngụy đã quay đầu về với Cách Mạng chống lại Ngụy Quyền Sài Gòn và Đế Quốc Mỹ xâm lược. Thế nhưng toi công cho bọn Việt cộng, chỉ một thời gian ngắn sau đó một số đoàn viên trong lực lượng này đã đào thoát về trình diện BCH/CSQG Thừa Thiên-Huế, một số khác chưa kịp trốn đi liền bị bọn chúng dẫn đi chôn sống.

Riêng về phần tên phản bội Nguyễn Văn Cán, sau khi cộng quân tháo chạy vào ngày 26 tháng 2 âm lịch, Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Loan Tư Lệnh CSQG/VNCH đến Huế ông ra lệnh tôi bắt giữ Nguyễn Văn Cán, và Đoàn Công Lập. Lúc đầu ông có ý định sau khi thẩm cung xong lập pháp trường cát tại Huế xử bắn Nguyễn Văn Cán để làm gương, nhưng sau đó vì nhiều Quận Trưởng CSQG trong Bộ Tư lệnh đứng ra bảo lãnh và xin Tướng Loan khoan hồng trong đó phải kể đến ông Quận Trưởng Cảnh Sát Võ Lương đương nhiệm là giám Đốc Nha CSQG/Vùng I đứng ra xin với Chuẩn Tướng Loan.

Quận trưởng Võ Lương là người Tướng Loan rất nể vì khả năng, tư cách, và thâm niên công vụ trong ngành. Tướng Loan không còn ý định xử bắn Nguyễn văn Cán, nhưng ra lệnh tôi giao Nguyễn Văn Cán cho Trung tá Lê Tự Cường Trưởng Ty An Ninh Quân Đội Đà Nẵng thụ lý nội vụ để được vô tư hơn.

7- Lực Lượng Nghĩa Binh

Nguyễn Đắc Xuân giao việc tổ chức Nghĩa Binh cho Đại úy Nguyễn văn Lợi, một sĩ quan QLVNCH. Lực lượng này chỉ có tiếng mà không có miếng vì trên thực tế chẳng có quân nhân nào tham gia, chỉ có khoảng 10 tên lao công đào binh mà thôi, và chẳng có một hoạt động nào cả. Như đã nói ở phần trên mục đích của cộng quân khi tổ chức lực lượng Nghĩa Binh là bọn chúng chỉ nhắm vào vấn đề truyên truyền dối trá tại quốc nội cũng như quốc tế rằng: “Chính sách binh vận của bọn chúng đã thành công. Ngụy quân quay súng trở về với Cách Mạng.”

8- Tòa Án Nhân Dân tại Huế trong Tết Mậu Thân 1968

Theo lời khai của Thành ủy viên Thành ủy Huế, Trung tá điệp viên Hoàng Kim Loan bị chúng tôi bắt vào tháng 5/1972 tại Huế thì:

“Khi Khu Ủy Trị Thiên quyết định thành lập Tòa Án Nhân Dân tại mặt trận Huế, Tống Hoàng Nguyên Trưởng ban An Ninh Khu Ủy Trị Thiên, Hoàng Lanh Thường vụ Thành Ủy Huế và tôi (tức Hoàng Kim Loan) đã hội ý với nhau rất kỹ.

Lúc đầu cả ba chúng tôi nhất trí đưa Nguyễn Đắc Xuân làm chủ tịch Tòa Án Nhân Dân, nhưng sau đó Thường Vụ thành ủy Hoàng Lanh đổi ý, đề nghị đưa Hoàng Phủ Ngọc Tường hiện là Tổng Thư Ký của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình là nhân tuyển tốt nhất, vì đây là một lực lượng kết hợp các thành phần trí thức, tôn giáo, những nhân vật có uy tín tại Huế đứng lên chống Thiệu-Kỳ, chống Mỹ. Vậy Tòa Án Nhân Dân giao cho Tổng Thư Ký Hoàng Phủ Ngọc Tường đại diện dân chúng Huế ngồi xử các tên ác ôn, các tên tay sai của Thiệu-Kỳ, và của Đế quốc Mỹ xâm lược là thích hợp nhất”.

Ngày mùng 3 Tết Mậu Thân 1968 tức ngày 1-2-1968, hãy nghe đài phát thanh Hà Nội phát đi bản tin như sau:

“Tại Cố Đô Huế dân chúng đã tổng nổi dậy thành lập Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình. Đây là một lực lượng kết hợp nhân sĩ, trí thức, sinh viên và tôn giáo lớn (Phật Giáo) yêu nước, nhằm đứng dậy chống đế quốc Mỹ xâm lược và đám tay sai bọn “Ngụy Quân Ngụy Quyền”.

Lực lượng này đã thành lập Chính Quyền Cách Mạng Tỉnh, Quận, thành lập đội An Ninh Khu Phố, lực lượng Nghĩa Binh, lực lượng Nghĩa Binh Cảnh Sát, cũng như thành lập Tòa Án Nhân Dân”.

Đài phát thanh Hà Nội loan tin trên hơi muộn màng. Bởi vì Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ và Hòa Bình, cũng như Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Tỉnh Thừa Thiên và Thị Xã Huế đã được đẻ ra trước tết Mậu Thân vào thời điểm tháng 12/1967 trong một kế hoạch đã được soạn thảo họp tới họp lui của Bác Đảng, và khi mà “ấu chúa” Lê Văn Hảo ở Huế đã được cân nhắc chọn lựa bởi đảng Cộng sản mãi tận Hà Nội, rồi được Hoàng Kim Loan đưa lên mật khu để được chăm sóc giáo dục, trước khi được sắc phong và nhận chỉ thị thi hành của cơ quan Khu Ủy Trị Thiên và Thành Ủy Huế. Do đó khi từ mật khu trở lại Huế thì y đã là “quan đầu tỉnh” với hai chức chủ tịch rồi!

Khi mở miệng chối tội làm Cộng sản trên đài RFA, tôi xin được hỏi ông Tiến Sĩ Lê Văn Hảo, thử xét lại có ai được đặt trong các chức vụ lớn nhỏ của Cộng sản mà tay không hề được từ chi bộ đảng đến trung ương đảng duyệt xét? Huống hồ gì trong giai đoạn chiến tranh thì những con bài chủ lực bắt buộc phải là những kẻ tay chân thân tín đồng bọn với chúng. Còn chuyện chúng vắt chanh bỏ vỏ sau này lại là chuyện khác, không thể dùng chuyện chúng nó không xài ông nữa để chứng minh là ông không hoạt động Cộng sản. Ông Lê Văn Hảo có chối rằng ông đi chơi lang thang rồi bị Cộng sản bắt giữ rồi cho làm chủ tịch trên cả chục cái đài phát thanh hải ngoại thì cũng vô ích mà thôi!

Có biết bao nhiêu người dân đi lang thang đây đó sao chúng không bắt làm chủ tịch mà Cộng sản lại lựa bắt ông Tiến Sĩ, bạn bè với Hoàng Phủ Ngọc Tường tên Cộng sản sắt máu, về làm chủ tịch? Những hoạt động móc nối của đám Cộng sản tại Pháp với nhóm trí thức ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản không ai mà không biết ông thưa ông. Không ai bắt ông làm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Thị Xã, cũng chẳng ai ép ông làm chủ tịch Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, mà phải nói là đây là một vinh dự Bác Đảng đã ban cho ông mà ông đã từng rất hãnh diện, thưa ông Tiến Sĩ Nhân Chủng Học Lê Văn Hảo!

Tóm lại Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, các đoàn Nghĩa Binh Cảnh Sát, Nghĩa Binh Quân Nhân v.v. mà Việt cộng trình làng trong Tết Mậu Thân 1968 tại Huế có hai mục đích rõ rệt:

1- Dùng những lực lượng này để lôi cuốn quần chúng Huế tham gia vào cuộc tổng nổi dậy, một hình thức như năm 1966 khi bọn Cộng sản kết hợp với Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu, Thích Thiện Siêu gây ra vụ Phản Loạn Miền Trung. Bọn chúng thành lập Chiến Đoàn Quân Nhân Phật Tử Nguyễn Đại Thức, Lực Lượng Cảnh Sát Phật Tử, Lực Lượng Sinh Viên Học Sinh Phật Tử Quyết Tử của Nguyễn Đắc Xuân v.v. và v.v.

Nay mùa xuân Mậu Thân 1968 khi Hà Nội xua mười ngàn quân tấn công chiếm Huế, Hồ Chí Minh và Chính Trị Bộ đảng Cộng sản Việt Nam lại bổn cũ soạn lại, khai sinh một mặt trận chính trị mới, đó là Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình và các tổ chức Nghĩa Binh, Nghĩa Binh Cảnh Sát, đội An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố. Thật là bình mới rượu cũ, bình mới chỉ là cái tên mới còn rượu cũ không ai khác hơn chính là bọn Việt cộng Nằm Vùng năm xưa, cũng tuyên truyền là dân chúng “tự ý nổi dậy”. Kịch bản muôn đời của Cộng sản vẫn vậy!

2- Đánh lừa dư luận quốc nội và quốc tế rằng tại Huế có “Tổng Nổi Dậy”, rằng dân chúng Huế đã tự phát thành lập các lực lượng rất “quần chúng” để nổi dậy. Từ dân chúng đến quân đội, cảnh sát, trí thức sinh viên, Phật Giáo, đồng loạt đứng lên chống chính phủ VNCH, chống trung ương Sài Gòn, chống đế quốc Mỹ xâm lược!

Thế nhưng, Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam và tên Hồ Chí Minh đã ước tính hết sức sai lầm.

Đúng ra chúng đã hoang tưởng nên chuốc lấy thảm bại nặng nề trong màn kịch này. Dân chúng Miền Nam cũng như chính phủ quốc tế biết rõ trò hề của Cộng sản Bắc Việt: toàn bộ các lực lượng này nọ chỉ là sự đội lốt trá hình láo lừa của bọn Cộng sản Hà Nội và bọn Việt cộng nằm vùng. Huế trong Tết Mậu Thân 1968 chẳng hề có cuộc tổng nổi dậy nào của quần chúng nhân dân mà chỉ có sự giết người man rợ của cán binh Bắc Việt và đám đồ tể nằm trong lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình.

Lực lượng Quân đội Nhân Dân, Quân Giải phóng của Hồ chí Minh đến vùng nào, chiếm vùng nào, thì dân Huế kinh hãi bỏ trốn khỏi vùng đó bằng mọi giá. Viết đến đây thì tôi bỗng nhớ lại lời nói của phó chủ tịch Thích Đôn Hậu nói với dân biểu Nguyễn Lý Tưởng rằng “Quân Đội Giải Phóng Miền Nam đi đến đâu cũng không làm rơi rụng một ngọn lá khoai!”

Đúng, bọn Việt cộng không làm rơi rụng một ngọn lá khoai nào cả mà chỉ làm rơi rụng thây người xuống các hố chôn tập thể trong khắp thành phố, thôn làng, núi đồi Thừa Thiên-Huế!

Thất bại chua cay vì không phát động được cuộc tổng nổi dậy tại Huế, Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam cho lệnh Tướng VC Trần văn Quang Tư lệnh mặt trận Trị Thiên và Lê Chưởng, Chính Ủy quân khu Trị Thiên áp dụng biện pháp “Bạo Lực Cách Mạng” hay “Bạo Lực Đỏ” để răn đe và trừng trị dân chúng Huế.

Trách nhiệm thi hành Bạo Lực Cách Mạng được giao phó cho 3 tổ chức: lực lượng an ninh Khu Ủy Trị Thiên của Tống Hoàng Nguyên, Lực lượng Công An Thừa Thiên-Huế của Đại tá Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh, và quan trọng hơn cả là lực lượng An Ninh và Bảo vệ Khu Phố của tên đồ tể Nguyễn Đắc Xuân.

Sau này, theo lời tường trình của hầu hết thân nhân nạn nhân bị Việt cộng sát hại, thì hầu như có đến 80% những nạn nhân bị bắn tại chỗ, hoặc bị bắt đi, đều do Nguyễn Đắc Xuân và những tên đồ tể trong lực lượng của Nguyễn Đắc Xuân thực hiện.

Điều nguy hiểm và kinh hoàng nhất của dân Huế trong 22 ngày Việt cộng tàn sát đồng bào Huế chính là lực lượng An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố của Nguyễn Đắc Xuân, vì các thành viên trong lực lượng này một trăm phần trăm là những thành phần địa phương trong lực lượng tranh đấu phản loạn của Thích Trí Quang, Thích Đôn Hậu vào năm 1966 nên chúng biết rất rành rẽ nhân sự và địa lý của Huế, do đó bạo lực cách mạng đã được bọn chúng “phát huy” một cách vô cùng hiệu quả: chiến lợi phẩm và thành quả cách mạng của bọn Nguyễn Đắc Xuân đó là xác chết và mồ chôn tập thể tràn ngập xứ Huế.

Bọn này vào năm 1966 thoát ly lên mật khu, nay xuống núi trở lại Huế với lòng hận thù ngút trời, hăng say chém giết sát hại đồng bào. Vì là người địa phương nên bọn chúng nắm chắc chắn rõ ràng địa chỉ lý lịch những đối tượng mà bọn chúng muốn thanh toán.

Vì bọn sát nhân này quá đông, nên tôi chỉ có thể nêu điển hình một số ít nhân vật quan trọng chủ chốt trong lực lượng Vũ Trang Thanh Niên của Nguyễn Đắc Xuân:

– Tôn Thất Dương Tiềm, Giáo sư

– Hoàng văn Giàu, phụ khảo Giáo sư Đại Học Huế

– Nguyễn Đóa, nguyên giám thị trường Quốc Học, Giáo sư Bồ Đề

– Nguyễn Thị Đoan Trinh, sinh viên Dược Khoa Đại Học Sài Gòn

– Hoàng Phủ Ngọc Tường, Giáo sư Quốc Học

– Hoàng Phủ Ngọc Phan, Sinh viên Y Khoa

– Lê Hữu Dũng, sinh viên Đại Học Sài Gòn, con trai tên cán bộ nằm vùng Lê Hữu Tý

– Nguyễn Thúc Tuân, Giáo sư, nguyên nhân viên Pharmacy Trường Tiền

– Nguyễn Tròn, bồi bàn tiệm ăn Quốc Tế

– Diệu Linh, thầy bói

– Nguyễn Bé, thợ nề

– Tên Gù, tiệm bán thuốc lá Cẩm Lệ ở đường Trần Hưng Đạo

– Thiên Tường, chủ tiệm thuốc bắc tại đường Duy Tân, An Cựu, Huế

– Hai con trai của Thiên Tường là cán bộ Tỉnh Đoàn Xây Dựng Nông Thôn tại Tỉnh Thừa Thiên

– Nguyễn Hữu Vấn, Giáo sư Âm nhạc, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận I

– Nguyễn Thiết, Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Quận II

– Lê Minh Trường.

Và quá nhiều… tôi không thể nhớ hết!

Sáng sớm Mùng 2 Tết, sau khi lá cờ của lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình được treo trên Kỳ Đài Phú Văn Lâu và chính quyền cách mạng Tỉnh Thừa Thiên, Thị Xã Huế, Chính Quyền Cách Mạng Quận I, Quận II đã thành lập xong, Lê Chưởng Chính Ủy Khu Ủy Trị Thiên, Tống Hoàng Nguyên Trưởng ban An Ninh Khu Ủy Trị Thiên, các thành ủy viên Thành Ủy Huế như: Hoàng Kim Loan, Phan Nam, Hoàng Lanh, Trưởng Ty Công An VC Thừa Thiên-Huế Đại tá Nguyễn Đình Bảy tự Bảy Lanh và Nguyễn Đắc Xuân kẻ chỉ huy lực lượng An Ninh và bảo vệ Khu Phố của 3 quận Thị xã Huế bắt đầu khởi động cuộc tổng nổi dậy hay danh từ mà bọn Cộng sản đã gọi là “tổng khởi nghĩa” cướp chính quyền.

Từ sáng sớm ngày mùng 2 Tết và những ngày kế tiếp, Nguyễn Đắc Xuân với lực lượng cơ hữu của hắn là các đoàn viên trong tổ chức An Ninh và Bảo Vệ Khu Phố đi khắp ba quận thị xã Huế Quận I, Quận II, Quận III, kêu gọi đồng bào “hãy treo cờ của Ôn lên (Ôn Đôn Hậu), nếu không có thì treo cờ Phật Giáo lên!” (lời này chính Nguyễn Đắc Xuân đã xác nhận trong cuốn hồi ký của y). Kế tiếp bọn chúng lục soát từng nhà, chận hỏi dân chúng chạy giặc, tìm kiếm bắt giữ và hạ sát ngay tại chỗ bọn “Ngụy ác ôn”.

Ngoài ra Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn đã cố gắng kêu gọi thúc giục đồng bào tham gia các cuộc biểu tình do bọn chúng tổ chức để gọi là “tổng nổi dậy”, “tổng khởi nghĩa” tại ba quận trong thành phố Huế.

Thế nhưng mọi sự đã ngoài ước tính của bọn chúng, đám tử thần Nguyễn Đắc Xuân và đồng bọn đi đến đâu thì dân Huế hốt hoảng kinh hoàng chạy đến đó. Họ chạy để tránh xa tử thần tránh xa Việt cộng, chạy nói theo kiểu người Huế là “chúi mũi chúi lái, chạy vắt chân lên cổ, chạy không dám nhìn lui”, thì thử hỏi dân chúng Huế, tổng nổi dậy ở đâu? Tổng khởi nghĩa ở đâu? Tổng bỏ chạy, tổng tàn sát thì có!

Vậy mà ngày mùng 3 Tết Mậu Thân 1968, đài phát thanh Hà Nội loan tin: “Dân chúng Cố Đô Huế đã tổng nổi dậy cướp chính quyền”! Quả thật Hồ Chí Minh, đảng Cộng sản Việt Nam và đồng bọn tay sai thật là một bọn nói láo không biết ngượng miệng.

Tức giận và mất mặt vì dân Huế không theo bọn chúng như ước tính, cộng quân và đám tay sai không thể tổ chức được cuộc tổng nổi dậy tại Huế, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và đám Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam liền quyết định áp đụng biện pháp mạnh là “Bạo Lực Cách Mạng, Bạo Lực Đỏ” để áp lực, để răn đe khủng bố và trả thù dân chúng Huế.

Máu của dân Huế đã nhuộm đỏ dòng sông Hương, xương của dân Huế đã chất cao quá núi Ngự Bình trong cuộc thảm sát ghê rợn và kinh hoàng suốt 624 giờ, của Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam, và đám tay sai nằm vùng.

Vietnam: A Television History; Tet, 1968; Interview with Hoang Phu Ngoc Tuong, 1982

https://openvault.wgbh.org/…/V_226B408F90EB4A4BA79758A8…

Bộ Lạc Tà Ru A-20- Tưởng Năng Tiến

Bộ Lạc Tà Ru A-20 – Tưởng Năng Tiến

Đất này chẳng có niềm vui

Ngày quệt mồ hôi, đêm chùi lệ ướt

 Trại lính, trại tù người đi không ngớt

 Người về thưa thớt dăm ba…

Mấy câu thơ trên được trích dẫn từ thi phẩm Đất Này của Nguyễn Chí Thiện, viết vào năm 1965. Gần chục năm sau, trong đám “người về thưa thớt dăm ba” đó, có Bùi Ngọc Tấn. Tác giả Chuyện Kể Năm 2000 (nxb Câu Lạc Bộ Tuổi Xanh, CA: 2000) xác nhận tình trạng “trại tù người đi không ngớt” bằng một câu văn rất ngắn: “Gặp ai, ở đâu hắn cũng tưởng như gặp lại bạn tù cũ.”

Thế nhỡ gặp lại đúng bạn tù cũ thật rồi sao?

Tay bắt, mặt mừng, bá vai, bá cổ …  rồi kéo nhau vào quán (hay mời ngay bạn về nhà) tiếp đãi linh đình – cơm gà cá gỏi không thiếu món chi, ăn uống phủ phê, nhậu nhẹt linh đình – chăng?

Hổng dám “phủ phê” đâu. Ở Đất Này làm gì có mấy cái vụ “linh đình” như vậy:

Một buổi chiều, con Thương đi học về bảo hắn:

– Bố. Có ai hỏi bố ở dưới nhà ấy?

– Ai con?

– Con không biết, trông lạ…

Hắn xuống thang. Hai người quần nâu, áo nâu đứng dựa lưng vào tưởng chỗ bể nước. Quen quen. Đúng rồi. Min: toán chăn nuôi, người đã giũa răng cho hắn. Còn một anh nữa mặt loang, tay loang. Thấy hắn, cả hai cười rất tươi. Người mặt loang bảo:

– Anh không nhận ra em à?

Trời ơi. Thì ra là Dự. Dự có con chuột được đem xử án. Dự hay bắt tóp. Dự cũng đã được ra rồi. Dự bảo:

– Em bị cháy, bỏng.

Hắn mời hai người lên nhà, nhưng Dự lắc đầu:

– Thôi, chúng em đứng ở đây thôi. Hắn liếc nhanh vào cửa sổ của gia đình gần bể nước. Bọn hắn thì chẳng lẫn vào đâu được. Bây giờ bè bạn hắn rặt một loại như vậy… người ta còn dặn con, dặn vợ:“Cửa rả cẩn thận. Quần áo kéo vào đi…( Bùi N.T., s.đ.d, II, trang 13 – 20).

May mà thời thế không đứng mãi về phe những kẻ cầm quyền hà khắc nên dân làng Tà Ru (tù ra) giờ đây không còn bị thiên hạ xem thường là “rặt một loại như vậy” nữa. Phạm Thanh Nghiên, Việt Khang, CấnThị Thêu, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Đặng Minh Mẫn … đều được thân bằng quyến thuộc (cùng hàng xóm, láng giềng) đón rước tưng bừng – ngay khi bước ra khỏi nhà giam – như những anh thư hoặc anh hùng thời đại.

Chả những thế, nhiều tù nhân– từ Trại Tù Trừng Giới A-20 – còn tiếp tục gắn bó chặt chẽ với nhau như những thành viên của một đại gia đình vậy. Họ nối kết và liên lạc qua một trang mạng (Quán Lá Của Trại Tù A20) có cả ngàn người, hiện đang sống ở khắp mọi nơi trên thế giới, tham dự thường xuyên.

A-20 Nguyễn Chí Thiệp, tác giả Trại Kiên Giam, mô tả: “Trại Xuân Phước là nơi tập trung thành phần chống đối của các trại cải tạo miền Nam, cũng là nơi tập trung của các người lãnh đạo các tổ chức phản động ở khắp các tỉnh miền Nam Việt Nam, Nghĩa Bình chuyển vào, từ cao nguyên Ban Mê Thuột đến và cả những người ở tận Rạch Giá, Long Xuyên, Cần Thơ.”

A-20 Lê Hoàng Ân cho biết thêm: “Những anh em chúng ta không được coi như những con người nữa, mà chỉ được coi như những con vật, không hơn không kém. Chúng muốn để cho sống thì sống, chúng muốn giết thì chúng giết không nương tay. Vài mẩu khoai mì H.34, ít nước muối hay nước mắm ròi. Có nhà tù nào trên thế giới đối xử với tù nhân như vậy không?”

Dù vậy, đám tù nhân ở đây vẫn sống mãnh liệt từng ngày, từng giờ. Họ hành xử cứ như những nhân vật trong tiểu thuyết, hay phim ảnh vậy. A-20 Phạm Đức Nhì kể chuyện :

Ngày đầu tiên bị giải đến Trại Trừng Giới A20 Xuân Phước, tất cả chúng tôi – thành phần cứng đầu, khó cải tạo từ các trại – bị lùa vào hội trường để được dằn mặt và đưa vào khuôn phép.

 Mở đầu là màn văn nghệ ca tụng đảng và nhà nước có tính cách bắt buộc. Cán bộ giáo dục yêu cầu một người tù trong chúng tôi ra bắt giọng cho mọi người hát một bản nhạc cách mạng để lấy khí thế. Hối thúc hoài cũng chẳng ai thèm ra.

Cuối cùng, khi hắn giở giọng đe dọa thì tôi nóng mặt đứng lên bắt nhịp cho anh em hát bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của Nguyễn Đức Quang. Được gãi đúng chỗ ngứa anh em hát muốn bể tung hội trường. Cán bộ giáo dục và ban thi đua ú ớ chẳng biết gì nên dù “ngờ ngợ có cái gì không ổn” cũng không làm chi được.

Tuy đây quả là một màn “ngoạn mục” nhưng vẫn chỉ là … chuyện nhỏ thôi, như nhiều chuyện nho nhỏ tương tự (tuyệt thựcchất vấn cán bộ quản giáotrình diễn văn nghệ phản cách mạng ) đã xẩy ra không chỉ một lần, tại Thung Lũng Tử Thần – một tên gọi khác của trại Kiên Giam Xuân Phước. 

Sự xuất hiện của tờ báo chui (underground press) Hợp Đoàn mới thực sự là vụ lớn, làm chấn động không chỉ Cục Quản Lý Trại Giam mà đến cả Bộ Công An nữa. Cái giá phải trả, tất nhiên, không rẻ. A-20 Nguyễn Thanh Khiết cảm thán :

Sáu năm biệt giam

ba muỗng nước, ba muỗng cơm

chưa lần lung lay ý chí

một đời anh – một đời sĩ khí

bước thấp, bước cao cắn nhục mà đi

ngọn bút hiên ngang

thay làn tên mũi đạn

giữa trại thù nét mực chưa phai 

Những nhân vật tham gia báo Hợp Đoàn (A-20 Nguyễn Hùng Cương, A-20 Nguyễn Hữu Giao, A-20 Phạm Văn Hải, A-20 Trần Kim Hải, A-20 Trần Bửu Ngọc, A-20 Phạm Đức Nhì, A-20 Trần Danh San, A-20 Phạm Chí Thành, A-20 Nguyễn Chí Thiệp…) đều bị biệt giam, và chỉ được nhận được khẩu phần tiêu chuẩn (“ba muỗng nước, ba muỗng cơm”) mỗi ngày nhưng không ai ngã gục.

Theo A-20 Vũ Ánh [người khởi xướng vụ clandestine press (*) này] thì họ vẫn có thể sống sót không chỉ nhờ cái tâm thiền định, và ý chí mãnh liệt của chính bản thân mà còn nhờ vào tấm lòng quả cảm của nhiều bạn đồng tù nữa: “Nếu ở ngoài các bạn bè tâm phục không liều chết tổ chức cho một người liều chết leo qua bức tường cao 4 thước có kẽm gai trước họng thượng liên của vọng gác tiếp tế thuốc vitamin B-1 cho chúng ta, chắc chúng ta cũng không thể sống nổi.”

Sống chí tình với nhau đến thế nên không có gì ngạc nhiên khi những cựu tù nhân từ Trại Trừng Giới Xuân Phước đã hợp thành bộ lạc Tà Ru A-20. Họ tổ chức những cuộc họp mặt mà có người phải vượt nhiều ngàn dặm (hoặc cả một đại dương) chỉ để tay bắt, mặt mừng và hàn huyên với bạn tù ngày cũ. 

Họ cũng tận tình chia sẻ với nhau những niềm vui bình dị khi con cháu thành hôn hay thành đạt. Đôi khi, họ còn tận tụy giúp đỡ lẫn nhau một cách thiết thực khi biết có kẻ lâm vào cảnh túng quẫn, giữa lúc nhà có việc và tang gia bối rối.

Họ là biểu trưng của một thứ hội ái hữu với tinh thần tương trợ cao đẹp nhất dù  chỉ là những người đồng cảnh, chứ không phải là đồng hương/đồng môn hay đồng đội gì ráo trọi.

Tự thâm tâm – có lẽ – tất cả A-20 vẫn chưa bao giờ quên đại cuộc, cùng những hoài bão lớn lao khi tóc hãy còn xanh. Tuy thế, dòng đời (và tuổi đời) khiến tất cả đều nhận ra rằng cái cơ hội để có thể tham dự vào lịch sử của đất nước quê hương (vốn) rất hiếm hoi trong một kiếp nhân sinh. Chúng ta thường vẫn chỉ là nạn nhân, hay “những người cam chịu lịch sử” mà thôi, theo như cách nói của tù nhân Bùi Ngọc Tấn.

Tôi cũng là một người thuộc bộ tộc Tà Ru nhưng trong suốt thời gian bị giam giữ chưa hề dám có một hành động phản kháng nào ráo (ngoài những câu “phát biểu linh tinh” mà không quên dòm trước/ngó sau ) nên khi nhìn cách “cam chịu” của những anh hùng A-20 trong Trại Kiên Giam Xuân Phước (và những ân tình mà họ dành cho nhau sau đó) thì không khỏi sinh lòng kính trọng và vô cùng ngưỡng mộ.

ởng Năng Tiến

(*) Trong những trang sổ tay kế tiếp, chúng tôi hy vọng sẽ có thể viết thêm đôi điều về tờ báo Hợp Đoàn (và những người chủ xướng) cũng trên diễn đàn này.

Giỗ cụ Lê Đình Kình: Nghĩ về vòng xoáy tội ác — Vòng xoáy đau thương

Giỗ cụ Lê Đình Kình: Nghĩ về vòng xoáy tội ác — Vòng xoáy đau thương

Bởi  AdminTD

Phạm Đình Trọng

16-1-2022

15 tháng Chạp năm Kỷ Hợi – 15 tháng Chạp năm Tân Sửu (9.1.2020 – 17.1.2022)

  1. Ra đời từ nạn đói năm 1945, không một hạt gạo, không một xu dính túi, nhà nước cộng sản của Hồ Chí Minh được người đàn bà goá bụa Nguyễn Thị Năm, chủ doanh nghiệp Cát Hanh Long mở lượng hải hà nghiêng nhà, nghiêng cửa dốc của cải, tiền bạc cả đời tần tảo, nhạy bén kinh doanh tích lũy của mẹ goá con côi ra nuôi nấng, chăm bẵm từ người đứng đầu nhà nước cộng sản đến người lính để nhà nước cộng sản làm cuộc kháng chiến chống Pháp giữ chính quyền.

Cuộc chiến tranh chống Pháp chỉ là cuộc chiến tranh giữ chính quyền cộng sản cũng như cuộc chiến tranh Nam – Bắc chỉ để áp đặt chính quyền cộng sản trên cả nước chứ không vì độc lập của nước, không vì tự do của dân. Cho đến nay nhà nước cộng sản Việt Nam vẫn bị cột chặt vào nước cộng sản đàn anh trong thế giới cộng sản thì làm gì có độc lập thực sự. Cho đến nay người dân vẫn không có những quyền tự do đương nhiên của con người, không có những quyền tự do đương nhiên của công dân thì làm gì có tự do.

Nuôi chính phủ, nuôi quân, nuôi cả cuộc kháng chiến đầu tiên của nhà nước cộng sản. Khi cuộc kháng chiến cuồn cuộn thế tiến công đến thắng lợi, chính quyền cộng sản được củng cố vững mạnh, nhà nước cộng sản liền vu cho người đàn bà nuôi nhà nước cộng sản từ thuở trứng nước là địa chủ, lôi người đàn bà ân nhân, lôi người đàn bà là Thánh sống cứu sinh của chính quyền cộng sản ra bắn trong cánh rừng âm u của bầy thú thời hồng hoang.

Ngày 9 tháng bảy năm 1953 tiếng súng tội ác của nhà nước cộng sản bắn chết người đàn bà tài năng, giỏi làm giầu chính đáng và rộng lớn lòng yêu nước thương nòi Nguyễn Thị Năm.

Người dân đều biết CB là bút danh quen thuộc của ông Hồ Chí Minh trong nhiều bài viết đăng trên tờ báo đảng của ông. Mười hai ngày sau khi bắn bà Thánh Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm, ngày 21 tháng bảy năm 1953, trên báo đảng lại có bài viết của CB: Địa Chủ Ác Ghê, bịa đặt, vu khống cho người đàn bà tài hiền, lòng Phật những tội do bộ máy vu khống chuyên nghiệp của đảng tạo ra. Địa Chủ Ác Ghê là những ngụm máu phun vào người đàn bà có tấm lòng Phật Nguyễn Thị Năm:

Mụ địa chủ Cát-Hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã:

– Giết chết 14 nông dân.

– Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.

– Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người – năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.

– Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân – Năm 1945, chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã chết ở xóm Chùa Hang.

– Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng.

Thế là ba mẹ con địa chủ Cát-Hanh-Long, đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào !

Còn những cảnh chúng tra tấn nông dân thiếu tô thiếu nợ, thì tàn nhẫn không kém gì thực dân Pháp. Thí dụ:

– Trời rét, chúng bắt nông dân cởi trần, rồi dội nước lạnh vào người. Hoặc bắt đội thùng nước lạnh có lỗ thủng, nước rỏ từng giọt vào đầu, vào vai, đau buốt tận óc tận ruột.

– Chúng trói chặt nông dân, treo lên xà nhà, kéo lên kéo xuống.

– Chúng đóng gióng trâu vào mồm nông dân, làm cho gẫy răng hộc máu. Bơm nước vào bụng, rồi giẫm lên bụng cho hộc nước ra.

– Chúng đổ nước cà, nước mắm vào mũi nông dân, làm cho nôn sặc lên.

– Chúng lấy nến đốt vào mình nông dân, làm cho cháy da bỏng thịt.

– Đó là chưa kể tội phản cách mạng của chúng. Trước kia mẹ con chúng đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến . . .

Địa Chủ Ác Ghê là sự vu khống vô cùng đê tiện, hèn hạ như giọng điệu của đám dư luận viên hạ đẳng ngày nay.

  1. Phát động cuộc chiến tranh Nam – Bắc bằng nghị quyết trung ương 15/1959 nhằm áp đặt thể chế cộng sản trên cả nước, nhà nước cộng sản lại vét sức dân, vét máu dân làm cuộc nội chiến đẫm máu. Anh thanh niên nông dân Lê Đình Kình hăng hái nhập ngũ cầm súng đi vào cuộc nội chiến. Từ mặt trận cuộc nội chiến trở về đồng ruộng, người lính xuất ngũ Lê Đình Kình liền được trao trách nhiệm lo cho màu xanh cánh đồng, lo cho cuộc sống người dân làng xã. Lần lượt đảng viên Lê Đình Kình gánh vác: Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp toàn xã Đồng Tâm. Trưởng công an xã. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân xã. Bí thư đảng uỷ xã.

Từ đó, cuộc sống người dân Đồng Tâm là cuộc sống gia đình đảng viên Lê Đình Kình. Sự được, mất của mùa màng Đồng Tâm là niềm vui, nỗi buồn của lương tâm Lê Đình Kình. Sự tồn tại của mảnh đất Đồng Tâm là sự tồn tại của cuộc đời, sự nghiệp con người Lê Đình Kình.

Sau gần suốt cuộc đời gắn bó máu thịt với mảnh đất Đồng Tâm, trí nhớ minh mẫn và văn bản nhà nước về mảnh đất Đồng Tâm có đầy đủ trong tay, lão nông Lê Đình Kình thuộc địa phả Đồng Tâm như gia phả nhà mình. Biến động của đất nước, đất sống của Đồng Tâm cứ hao hụt là nỗi lo, nỗi bận tâm Lê Đình Kình.

Năm 1961 Đồng Tâm phải cắt 300 ha trong 406,3 ha đất cánh đồng Sênh cho quân đội làm trường bắn của sư đoàn 308, nay là trường bắn quốc gia Miếu Môn.

Năm 1981, sân bay đã chiến Miếu Môn được qui hoạch. 47,3 ha đất phía Đông đồng Sênh lại nằm trong 208 ha đất sân bay Miếu Môn. Một lần nữa Đồng Tâm lại phải cắt đất đồng Sênh giao cho bộ Quốc phòng. Dân Đồng Tâm chỉ còn 59 ha đất Tây đồng Sênh.

Đất sống của Đồng Tâm hao hụt hàng trăm ha, xót xa lắm nhưng nhà nước thu hồi đất đúng pháp luật thì phải chấp hành. 59 ha đất phía Tây đồng Sênh còn lại của tổ tiên người dân Đồng Tâm kéo địa giới Đồng Tâm vào tới chân dãy núi Găng, giáp đường Hồ Chí Minh đã xác định hình hài, tầm vóc Đồng Tâm, đã xác định vị thế chiến lược Đồng Tâm trong thế chiến lược của đất nước. 59 ha đất đồng Sênh còn lại của lịch sử, của sự sống Đồng Tâm, đầm đìa mồ hôi, đầm đìa khát vọng người dân Đồng Tâm càng vô cùng quí giá đến thiêng liêng.

Nhưng qua thời bần cố nông lộng hành. Qua thời bộ máy vu khống chuyện nghiệp tạo dựng lên những bần cố nông vu khống, đấu tố, buộc tội và giết hại bà Thánh Nguyễn Thị Năm lại đến thời tư bản hoang dã lộng hành. Quyền lực đồng tiền của tư bản hoang dã kết cấu với quyền lực nhà nước cộng sản sử dụng bộ máy vu khống chuyên nghiệp vu khống, buộc tội và sử dụng bạo lực nhà nước cướp đất dân.

Cho đến nay không có bất cứ một văn bản hợp pháp nào của nhà nước thu hồi 59 ha đất Tây đồng Sênh của dân Đồng Tâm. Nhưng lòng tham của tư bản hoang dã mang tên doanh nghiệp quân đội Viettel đã nhòm ngó mảnh đất Tây đồng Sênh thì dân Đồng Tâm phải mất đất Tây đồng Sênh. Như dân Văn Giang, Hưng Yên phải mất 500 ha đất bờ sôi ruộng mật, như dân Dương Nội, Hà Đông phải mất mảnh đất sống cho tư bản hoang dã chiếm làm đất kinh doanh thu lợi nhuận tư bản. Bộ máy vu khống chuyên nghiệp liền lu loa hô biến 59 ha đất Tây đồng Sênh của dân Đồng Tâm thành đất quốc phòng.

Làm kinh tế là hoạt động sản xuất kinh doanh tư bản. Quân đội làm kinh tế đã biến những tướng tá quân đội ở những đơn vị làm kinh tế thành những nhà tư bản thời tích luỹ tư bản, thời tư bản hoang dã, lòng dạ và tâm địa chỉ vì lợi nhuận. Biến người lính ở những đơn vị làm kinh tế thành những lao động không công cho những tướng tá kinh doanh tư bản. Như những nô lệ da đen lao động không công cho những tư bản da trắng thời nước Mỹ làm công nghiệp hoá.

Quân đội làm kinh tế biến nhiều tướng tá thành tư bản hoang dã, hối hả săn tìm lợi nhuận. Lợi nhuận bất chính đã dẫn dắt nhiều ông tướng vào con đường phạm pháp, tù tội, từ thượng tướng thứ trưởng bộ Quốc phòng đến trung tướng tư lệnh Cảnh sát biển. Quân đội làm kinh tế làm hư hỏng quân đội, tàn phá sức mạnh quốc phòng của đất nước và biến quan hệ quân dân cá nước thành quan hệ đối kháng. Đối kháng giữa tư bản hoang dã cướp đất phi pháp với người dân giữ đất hợp pháp, chính đáng.

Lão nông, đảng viên Lê Đình Kình quyết giữ chính đáng 59 ha đất Tây đồng Sênh cho người dân Đồng Tâm đã phải đối đầu với sức mạnh đồng tiền của tư bản hoang dã, đối đầu sức mạnh chính trị lực lượng vũ trang của đảng, đối đầu sức mạnh bạo lực nhà nước chuyên chính vô sản và người nông dân giữ đất chính đáng Lê Đình Kình phải nhận cái chết rùng rợn, man rợ hơn cả cái chết đau đớn của bà Thánh Nguyễn Thị Năm.

Bà Thánh Nguyễn Thị Năm bị toà án bần cố nông tuyên án tử hình và bị đội du kích xã xử bắn ban ngày trong cánh rừng chiến khu Việt Bắc.

Không có bản án nào buộc tội công dân Lê Đình Kình. Không có một hình thức kỉ luật nào kết tội đảng viên Lê Đình Kình. Đang là công dân lương thiện, đang là đảng viên trong sạch, giữa đêm bình yên rạng sáng 9.1.2020 đúng ngày rằm tháng chạp Kỷ Hợi, lão nông Lê Đình Kình bị cả một trung đoàn cảnh sát cơ động với xe bọc thép súng lớn, xe vũ khí điện tử, với ba ngàn quân tinh nhuệ vây kín quanh nhà và đội đặc nhiệm cảnh sát còn đảng còn mình, coi dân có tiếng nói khác biệt với đảng là thù địch, sôi sục sắt máu, phá cửa xông vào tận giường ngủ kề súng vào sát đầu, sát ngực dân xả đạn.

Công dân lương thiện, đảng viên trong sạch Lê Đình Kình không những bị bắn vỡ sọ, thủng ngực, toác đầu gối mà còn bị mang xác đi phanh thây từ cổ tới tận cùng bụng. Chỉ những kẻ lòng lang dạ thú không còn một chút tính người mới hành xử với con người, với đồng loại man rợ như vậy.

Giết bà Thánh Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm rồi CB Hồ Chí Minh viết trên tờ báo đảng của ông vu khống người đàn bà mở lượng hải hà nuôi nấng đảng cộng sản thành địa chủ giết người!

Tung cả một trung đoàn công an tinh nhuệ trong đêm đánh úp thôn Hoành bé nhỏ, bình yên, tung lực lượng đặc nhiệm phá cửa xông vào tận giường ngủ bắn nát tim, vỡ sọ đảng viên lão thành cách mạng 59 tuổi đảng rồi tướng phát ngôn bộ Công an Tô Ân Xô lên báo vu cho công dân lương thiện, đảng viên trong sạch Lê Đình Kình là “Địa chủ cường hào mới”. Tướng Xô đơm đặt: “Sự nổi lên của đối tượng cầm đầu, nhất là ông Lê Đình Kình trong bối cảnh dòng họ Lê Đình có ảnh hưởng lớn tại thôn Hoành, có khả năng chi phối, tác động kết quả bầu cử ở cơ sở, là một loại cường hào địa chủ mới” Địa chủ thì phải làm chủ nhiều đất hơn người dân trong làng xã. Cường hào thì phải có sức mạnh quyền uy và sức mạnh bạo lực đàn áp, khống chế người khác. Đảng viên Lê Đình Kình chỉ có lòng tin ngây thơ, son sắt vào đảng của ông và tình yêu máu thịt với con người và mảnh đất Đồng Tâm.

  1. Từ đội du kích thi hành bản án tử hình xử bắn bà Thánh Nguyễn Thị Năm giữa ban ngày trong cánh rừng vắng đến đội đặc nhiệm cảnh sát trong đội hình trung đoàn cảnh sát cơ động giữa đêm xông vào tận giường ngủ hành quyết không cần có bản án, xả súng giết rồi phanh thây công dân thánh thiện, đảng viên trong sạch Lê Đình Kình đã tạo ra vòng xoáy tội ác ngày càng ghê tởm, tội ác đã được đẩy lên cao tới tận cùng man rợ!

Trong nhà nước cộng sản, quyền lực cộng sản cứ ngạo nghễ ngự trị trên vòng xoáy tội ác và người dân cứ mãi mãi chìm sâu trong vòng xoáy thăm thẳm đau thương, oan trái và oán hờn.

Tại sao những ca khúc trước 1975 được ưa chuộng?

Tại sao những ca khúc trước 1975 được ưa chuộng?

Nguyễn Văn Tuấn 

Hôm nọ, ông NPTrọng phàn nàn là Việt Nam không có những bài hát hay. Tôi thì nghĩ khác ổng, vì Việt Nam có những bài hát hay. Có thể ổng chưa nghe đó thôi. Chúng ta thử tìm về nhạc thời trước 1975 ở miền Nam xem, có nhiều bài hay lắm chứ, và vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay dù nó bị vùi dập nhiều lần …

Câu hỏi đặt ra là tại sao những bài ca đã được sáng tác hơn nửa thế kỉ trước mà đến nay vẫn còn được giới thưởng ngoạn, từ bình dân đến lịch lãm, đều ưa thích. Tôi nghĩ đến 4 lí do và cũng là đặc điểm của những ca khúc trước 1975 ở miền Nam: tính nhân văn, tự do tư tưởng, tính phong phú, và giàu chất nghệ thuật.

Nhân văn

Thứ nhất là đậm chất nhân văn. Nếu nhìn lại những bài ca trước 1975 ở miền Nam và so sánh với những sáng tác ở miền Bắc, tôi nghĩ ít ai có thể bác bỏ tính nhân văn trong các sáng tác ở trong Nam. Khi nói “nhân văn”, tôi không chỉ nói đến những sáng tác về thân phận con người, mà còn kể cả những sáng tác thuộc dòng nhạc lãng mạn, trữ tình, nói lên cảm xúc của con người trước thời cuộc.

Người ta thường phân nhóm những sáng tác của Trịnh Công Sơn thành hai nhóm tình yêu và thân phận, nhưng tôi nghĩ cách phân nhóm đó cũng có thể áp dụng cho nhiều nhạc sĩ khác như Từ Công Phụng chẳng hạn. Tình yêu không chỉ là tình yêu đôi lứa, mà còn tình yêu quê hương đất nước (“Tôi đi xem để thấy những gì yêu dấu Việt Nam”) và giữa người với người “Tôi yêu bác nông phu đội sương nắng bên bờ ruộng sâu”).

Thỉnh thoảng cũng có một vài bài có chất “máu” (như câu “nhưng thép súng đang còn say máu thù” trong bài “Lính xa nhà”), nhưng cho dù như thế thì câu kết vẫn có hậu “Hẹn em khi khắp trời nở đây hoa có tôi về”. Có thể nói rằng cái đặc tính nhân văn và nhân bản của những ca khúc trước 1975 ở miền Nam là yếu tố mạnh nhất để phân biệt so với các ca khúc cùng thời ngoài Bắc vốn lúc nào cũng có nhiều mùi máu và súng đạn.

Nghệ thuật

Cái đặc điểm nổi bật thứ hai là tính nghệ thuật trong các ca khúc. Khi nói “nghệ thuật” tôi muốn nói đến những lời ca đẹp, giàu chất thơ, và những giai điệu đẹp. Những bài ca mà ngay cả từ cái tựa đề đã đẹp. Những Dấu tình sầu, Giáng ngọc, Mùa thu cho em, Nghìn trùng xa cách, Tuổi biết buồn, Thà như giọt mưa, Giọt mưa trên lá, Hạ trắng, Diễm xưa, Ướt mi, và biết bao tựa đề có ý thơ và sâu lắng như thế đã đi vào lòng người thưởng ngoạn.

Thử so sánh những tựa đề của các sáng tác cùng thời ngoài Bắc như Bài ca năm tấn, Em đi làm tín dụng, Chào anh giải phóng quân, chào mùa xuân đại thắng, Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc, v.v. thì chúng ta dễ dàng nhận ra sự khác biệt.

Lời ca trong những ca khúc trước 1975 ở miền Nam cũng là những lời đẹp. Tôi thán phục những nhạc sĩ như Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Hoài Linh [không phải anh hề], Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Ngô Thuỵ Miên (và nhiều nữa) đã viết ra những lời ca đi vào lòng người. Không phải chỉ đơn giản nhân văn theo kiểu những ý tưởng trừu tượng trong sáng tác của Trịnh Công Sơn (ví dụ như “hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi”, hay “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”), nhưng có khi đi thẳng vào vấn đề như Phạm Duy (“tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”). Còn nhiều nhiều bài đã đi vào lòng người qua những lời ca đẹp và giản dị: “Hôm xưa tay nắm tay nhau anh hỏi tôi rằng: ‘Những gì trong đời ta ghi sâu vào tâm tư / Không tan theo cùng hư vô, không theo tháng năm phai mờ / Tình nào tha thiết anh ơi?”. Có những lời ca mà tôi nghĩ giới trẻ ngày nay có thể mỉa mai cười khẩy nói sến, nhưng tuổi trẻ thì thường chưa đủ lớn để cảm những câu như “Phút ban đầu ấy / Thư xanh màu giấy viết nhưng chưa gởi e / Ngõ đi chung một lối / Đôi khi định nói với em một lời.”

Không biết từ thuở nào mà tôi đã mê bài Trộm nhìn nhau và đã từng dự báo rằng bài này có ngày sẽ nổi tiếng. Thời đó, tôi mới về thăm nhà sau 20 năm xa cách, và nhìn người xưa, tôi thấy những câu “Ðôi khi trộm nhìn em / Xem dung nhan đó bây giờ ra sao / Em có còn đôi má đào như ngày nào” sao mà hay quá, hợp cảnh quá. Chỉ trộm nhìn thôi. Lời nhạc rất thơ. Mà, thật vậy, đa số những lời ca trong các sáng tác trước 1975 được viết ra như những vần thơ hoặc phổ từ thơ. Người phổ thơ thành nhạc hay nhất là Nhạc sĩ Phạm Duy, được xem như là một “phù thuỷ âm nhạc”. Chính vì thế mà âm nhạc trước 1975 có những lời ca sang trọng. Thời nay, trong môi trường những ca khúc dung tục, rất hiếm thấy những ca khúc có những lời ca đẹp như trước.

Lạ một điều là cũng là nhạc tuyên truyền (ở ngoài Bắc gọi vậy) hay nhạc tâm lí chiến (cách gọi trong Nam), nhưng những sáng tác trong Nam thì lại được người dân nhớ và xưng tụng. Sau cuộc chiến, những bài gọi là “nhạc đỏ”, dù được sự ưu ái của nhà cầm quyền văn hoá, chẳng ai nhớ hay muốn nhớ đến chúng.

Ngược lại, những sáng tác về người lính ở trong Nam thời trước 1975 thì lại còn lưu truyền và nuôi dưỡng trong lòng dân, dù nhà cầm quyền ra sức cấm đoán! Ngay cả những người lính miền Bắc cũng thích những bài hát về lính của các nhạc sĩ trong Nam. Tại sao vậy? Tôi nghĩ tại vì tính nghệ thuật và nhân bản trong những sáng tác ở miền Nam. Người lính, cho dù là lính cộng sản hay cộng hoà, thì vẫn cảm được những câu “Con biết xuân này mẹ chờ tin con / Khi thấy mai đào nở vàng bên nương” hay “Thư của lính, ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay”. Những lời ca đó không có biên giới chính trị.

Tự do

Đặc điểm thứ ba là tự do. Dù có kiểm duyệt, nhưng nói chung các nghệ sĩ trước 1975 ở miền Nam có tự do sáng tác. Không ai cấm họ nói lên nỗi đau và những mất mát của chiến tranh. Không ai “đặt hàng” họ viết những bài ca tụng lãnh đạo như ngoài Bắc. Thật vậy, nhìn lại dòng nhạc thời đó, chẳng có một ca khúc nào ca tụng ông Nguyễn Văn Thiệu cả. Có một bài ca tụng ông Ngô Đình Diệm, nhưng cũng chẳng ai ca vì nó được dùng trong mấy rạp chiếu bóng là chính. Thay vì ca ngợi “lãnh tụ” dòng nhạc miền Nam ca ngợi con người và dân tộc, nhưng cũng đồng thời nói lên nỗi đau của chiến tranh.

Trịnh Công Sơn viết hẳn một loạt “Ca khúc Da Vàng” (mà hình như cho đến nay vẫn chưa được phép phổ biến). Trong thời chiến mà họ vẫn có thể phổ biến những sáng tác không có lợi cho chính quyền. Những ca khúc như “Dù anh trở về trên đôi nạng gỗ / Dù anh trở về bằng chiếc xe lăn” chắc chắn không có cơ may xuất hiện trong âm nhạc miền Bắc thời đó (và ngay cả sau này). Một trong những ca khúc nổi tiếng nhất trong thời chiến có lẽ là bài “Kỉ vật cho em” (phổ thơ của Linh Phương) với những lời ca ray rứt, bi thảm: “Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime / Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã / Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả / Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa / Anh trở về trên chiếc băng ca / Trên trực thăng sơn màu tang trắng.” Nghe nói ca khúc này đã làm cho chính quyền VNCH rất khó chịu với nhạc sĩ.

Tiêu biểu cho tinh thần tự do sáng tác có lẽ là tự sự của Phạm Duy: “Tôi đưa ra một câu nói thôi: ‘Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi’ đất nước bơ vơ, nó rối bù đi thì tôi phải khóc thôi. Lúc nào mà đoàn kết thì tôi cười theo. Khóc cười theo mệnh nước. Cái xã hội mình nó rối tung lên như vậy thì làm sao mà mình …. thành thử tôi nghĩ rằng vấn đề là … Các anh yêu tôi thì nói là tôi có sự nghiệp hơi đầy đủ, hơi lớn một tí đấy, nhưng mà riêng tôi thì tôi thấy cho đến giờ phút này thì tôi hoàn toàn thất bại. Bởi vì đất nước đã thống nhất rồi mà lòng người thì không thống nhất, thành thử đại khái nếu mà tôi có chết đi thì tôi hãy còn gần như là tôi không được thỏa mãn.”

Cái tính tự do còn thể hiện qua một thực tế là chính quyền thời đó không cấm đoán việc phổ biến các nhạc sĩ còn ở ngoài Bắc. Những sáng tác của Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, v.v. đều được phổ biến thoải mái trong Nam. Ngay cả bài quốc ca mà chính quyền vẫn sử dụng bài “Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước vốn là một người cộng sản. Ngược lại, nhà cầm quyền ngoài Bắc thì lại cấm, không cho phổ biến các sáng tác của các nhạc sĩ trong Nam hay đã vào Nam sinh sống.

Đa dạng

Đặc điểm thứ tư của âm nhạc ngày xưa là tính phong phú về chủ đề. Khác với nhạc ngoài Bắc cùng thời tất cả dồn cho tuyên truyền và kêu gọi chiến tranh, các sáng tác trong Nam không kêu gọi chiến tranh nhưng yêu thương kẻ thù. Nhạc thời đó đáp ứng cho mọi nhu cầu của giới bình dân đến người trí thức, từ người dân đến người lính, từ trẻ em đến người lớn quan tâm đến thời cuộc, từ tình yêu lãng mạn đến triết lí hiện sinh, từ tục ca đến đạo ca, từ nhạc trẻ đến nhạc “tiền chiến”, từ nhạc tâm lí chiến (tuyên truyền) đến nhạc chống chiến tranh, nói chung là đủ cả. Không chỉ sáng tác bằng tiếng Việt mà còn trước tác hay dịch từ các ca khúc nổi tiếng ở nước ngoài để giới thiệu cho công chúng Việt Nam.

Tôi nghĩ 4 đặc điểm đó có thể giải thích tại sao những ca khúc dù đã sáng tác hơn nửa thế kỉ trước mà vẫn còn phổ biến và được yêu chuộng cho đến ngày nay. Mai kia mốt nọ, nếu có người viết lại lịch sử âm nhạc, tôi nghĩ họ sẽ ghi nhận những sáng tác thời trước 1975 ở miền Nam là một kho tàng vàng son của âm nhạc Việt Nam. Như là một qui luật, những bài hát tuyên truyền thô kệch và nhồi sọ, những bài ca sắt máu, những sáng tác kêu gọi giết chóc và hận thù sẽ bị đào thải, và thực tế đã chứng minh điều đó. Ngược lại, chỉ có những sáng tác đậm tính nhân văn, giàu nghệ thuật chất, và phong phú xuất phát từ tinh thần tự do thì mới tồn tại theo thời gian.

Hình :

https://www.facebook.com/photo/?fbid=1372095503237763&set=pcb.1372096573237656

https://www.facebook.com/photo/?fbid=1372096186571028&set=pcb.1372096573237656

Tịnh Thất Bồng Lai: Những câu hỏi quanh việc ‘đàn áp tôn giáo’ và tội ‘loạn luân’ (BBC)

 Tịnh Thất Bồng Lai: Những câu hỏi quanh việc ‘đàn áp tôn giáo’ và tội ‘loạn luân’

12 tháng 1 2022 

 Ông Lê Tùng Vân (giữa) cùng 2 đệ tử của Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ

Hiện nay một số luật sư đang đăng ký thủ tục để bảo vệ pháp lý cho các thành viên của Tịnh Thất Bồng Lai (hay Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ ). Trong khi chờ đợi vụ việc được đưa ra xét xử, nhiều câu hỏi nhức nhối đang được dư luận đặt ra.

Có hay không việc đàn áp tôn giáo?

Giới chức cho rằng các thành viên của Tịnh Thất Bồng Lai là ‘sư giả’, không thuộc Giáo hội Phật Giáo Việt Nam, không được nhà nước công nhận nhưng ‘vẫn cạo đầu, mặc áo tu hành’.

Vậy đi tu mà không nằm trong hệ thống cơ sở tôn giáo của nhà nước có phải là tu không?

Trao đổi với BBC hôm 11/1, tu sĩ Thích Đồng Long ở Thành phố Hồ Chí Minh, một thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, không được nhà nước công nhận, nói:

“Hiện tại, không có tiêu chuẩn cụ thể nào để khẳng định một người có tu hay không. Nhưng thông thường, theo truyền thống Phật giáo, có hai hình thức là tu tại gia và tu xuất gia.

“Phật tử tu tại gia vẫn được có gia đình và tham gia vào mọi hoạt động xã hội. Họ chỉ có trách nhiệm giữ gìn 5 giới hay cao hơn là bồ tát giới hoặc thập thiện… Việc giữ gìn này cũng là tự nguyện.

“Với người xuất gia, tùy mức độ thọ giới mà họ phải giữ các giới pháp của họ. Nếu sai phạm thì tùy theo mức độ mà bị xử lý theo luật của Phật.

“Tịnh Thất Bồng Lai khẳng định họ tu tại gia. Họ cạo tóc là việc bình thường. Xưa nay không có quy định nào cấm người tu tại gia không được cạo tóc, thờ Phật hay ca hát. Những việc làm của họ dù đúng hay sai theo Giáo Pháp, thì đứng trên phương diện tự do dân chủ về tín ngưỡng, tôn giáo, không ai có quyền can thiệp hay phán xét họ. Bởi vì người ta có quyền có một lập trường, quan điểm và cách tu tập theo nhận thức của mình.”

“Sự việc xảy ra với Tịnh Thất Bồng Lai thể hiện sự thiếu tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam, và cũng là một hình thức đàn áp tôn giáo với cá nhân, tổ chức không tham gia vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam.”

Chính Thượng tọa Thích Nhật Từ, Chủ nhiệm Hội đồng Trị sự, Trưởng ban Văn hóa Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong bài trả lời Báo Giác ngộ năm 2017 cũng khẳng định những người ở Thiền Am tu tại gia, ông Lê Tùng Vân chưa bao giờ nhận mình là hòa thượng và cũng chưa từng nói mình là ‘trụ trì’ chùa Bồng Lai.

Ông Thích Nhật Từ khẳng định hai bị cáo “Lê Thanh Hoàn Nguyên, Lê Thanh Nhất Nguyên tu tại gia, cạo đầu, mặc áo nâu sòng từ nhỏ, họ không hề giả mạo tăng sỹ để lừa đảo bất kỳ ai như một số báo chí đã cáo buộc”.

Việc họ tham gia các chương trình ca hát, theo ông Thích Nhật Từ, là không có gì vi phạm giới luật của đạo Phật.

“Vấn đề cốt lõi là ban tổ chức chương trình games show phải nói rõ trong thông cáo báo chí và cho giới truyền thông biết họ chỉ là những người tu tại gia…. Khu Bồng Lai viên chỉ là một tịnh thất, không có bảng hiệu chùa, nên không đăng ký với Giáo hội Phật giáo tỉnh Long An.

Ông Thích Nhật Từ cũng nói rằng ông ngạc nhiên vì sao Giáo hội Phật giáo tỉnh Long An chưa cử đại diện đến Bồng Lai viên để nắm rõ thực hư vấn đề, dẫn đến các ‘phát ngôn vội vã’.

Có hay không tội loạn luân?

Trước khi bốn thành viên của Thiền Am bị khởi tố, truyền thông Việt Nam đồng loạt đưa tin rằng ông Lê Tùng Vân (90 tuổi), có thể bị kết tội ‘Loạn luân’. Rằng kết quả xét nghiệm DNA bước đầu cho thấy nhiều người tại Tịnh Thất Bồng Lai có quan hệ huyết thống với ông Vân, trong đó “có những đứa trẻ chỉ vài tuổi”. Và rằng “kết quả điều tra ban đầu cũng xác định, ông Lê Tùng Vân có ba con với ít nhất hai người con gái ruột của ông“.

Hàng loạt báo lề phải đăng các bài viết với tiêu đề gây xôn xao như ‘Hé lộ gây sốc về chuyện loạn luân tại “Tịnh thất Bồng Lai” (Vietnamnet), Vụ án loạn luân tại Tịnh thất Bồng Lai: Mẹ của những đứa trẻ “mồ côi” sống cùng ông Lê Tùng Vân là ai? (Kenh14.vn), Ông Lê Tùng Vân có 3 con sau khi loạn luân với 2 con gái ruột (Soha)…

Tuy nhiên, ngay sau đó, có ý kiến từ nhà khoa học rằng có thể có sai số trong xét nghiệm DNA, đồng thời có những quy định nghiêm ngặt liên quan đến quy trình này.

Theo GS Nguyễn Văn Tuấn từ ĐH New South Wales, Australia, xét nghiệm huyết thống vẫn có thể sai lầm, dao động trong khoảng 1% đến 30%. Sai lầm có thể là vô ý nhưng cũng có thể cố ý.

Bên cạnh đó, do tầm quan trọng của việc xét nghiệm huyết thống, không phải labo nào cũng được phép làm. Với những labo được cấp phép, việc xét nghiệm DNA chỉ được thực hiện với sự đồng thuận của ‘khách hàng’.

“Lấy mẫu máu của người ta đi làm xét nghiệm mà người ta không biết là một vi phạm về nhân quyền và vi phạm đạo đức khoa học”, theo GS Tuấn.

Sai lầm cố ý phổ biến trong xét nghiệm DNA là khi có sự can thiệp nhằm thay đổi kết quả xét nghiệm theo ý đồ của ai đó.

“Đó cũng chính là lí do tại sao người ta không đặt niềm tin vào những xét nghiệm do cảnh sát làm,” GS Tuấn viết trong một bài phân tích đăng trên Facebook cá nhân.

Sai lầm cũng có thể xảy ra do vô ý, như lấy mẫu xét nghiệm sai chỗ, không bảo quản mẫu xét nghiệm đúng tiêu chuẩn (đúng nhiệt độ và vô trùng) trước khi làm xét nghiệm, không xử lý mẫu xét nghiệm tốt khiến mẫu bị nhiễm, dẫn đến kết quả sai, vẫn theo GS Tuấn.

Trong vụ việc Tịnh Thất Bồng Lai, dư luận đặt câu hỏi giới chức đã lấy mẫu xét nghiệm như thế nào, vào bao giờ, có được sự đồng ý của gia đình hay không? Tại sao báo chí lại được phép thông tin về kết quả này khi đang trong giai đoạn điều tra, và ngay sau đó lại đưa tin cơ quan chức năng truy tố ông Lê Tùng Vân một tội khác không liên quan?

“Cần sự có mặt của luật sư từ giai đoạn điều tra, bao gồm cả việc thu thập mẫu DNA và giám định DNA để bảo đảm tính khách quan của vụ án,” luật sư Đặng Đình Mạnh – người đang nộp hồ sơ đăng ký bào chữa cho ông Lê Tùng Vân, nói với BBC News Tiếng Việt từ Sài Gòn.

Luật sư Mạnh ủng hộ việc giám định DNA tại các cơ sở giám định tư pháp độc lập. Tuy nhiên ông ‘lấy làm tiếc’ vì Việt Nam chưa có các cơ sở giám định DNA độc lập nào. Hầu hết các cơ sở xét nghiệm DNA có tư cách giám định tư pháp đều thuộc nhà nước.

Trao đổi với BBC từ Hà Nội, luật sư Ngô Anh Tuấn cho rằng chỉ có cách là mời nước ngoài để giám định DNA độc lập.

“Nhưng điều đó thì gần như không thể và chưa có tiền lệ trong lịch sử tố tụng Việt Nam,” luật sư Tuấn nói với BBC.

Báo chí VN vi phạm quyền riêng tư?

Một số thành viên của Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ

Các báo chính thống của Việt Nam và nhiều diễn đàn, tải khoản Facebook của người Việt mới đây cũng đăng tải hình ảnh, tên tuổi của các thành viên Thiền Am, trong đó có các trẻ nhỏ.

Luật sư Đặng Đình Mạnh nói với BBC rằng “việc chia sẻ các thông tin này là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của những người liên quan, đặc biệt là trẻ nhỏ”.

Luật sư Ngô Anh Tuấn cũng cho rằng “mọi sự đưa tin không đúng sự thật về người khác của bất kỳ ai đều là sự vi phạm pháp luật Việt Nam”.

“Nó vi phạm quyền tự do cá nhân, quyền bí mật cá nhân bất khả xâm phạm của mọi cá nhân được Hiến pháp bảo vệ. Luật pháp đã có quy định rõ ràng nhưng việc có quá ít cá nhân, tổ chức bị xử lý trách nhiệm nên việc sai phạm cứ ngang nhiên diễn ra lâu nay và vẫn sẽ còn tiếp diễn trong thời gian tới,” luật sư Tuấn nói.

Hôm 12/1, Cục Trẻ em đề nghị Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông, kiểm tra, xử lý các tài khoản, fanpage chia sẻ hình ảnh trẻ em trong vụ “tịnh thất Bồng Lai” ‘chưa đươc kiểm chứng’, có thể gây tổn hại đến trẻ, theo VNExpress.

‘Tránh oan sai và chia rẽ’

Theo luật sư Ngô Anh Tuấn, vì tính chất nghiêm trọng của vụ việc nên cần cẩn trọng trong việc điều tra, xử lý để không làm tổn hại thêm, khoét sâu thêm mâu thuẫn và sự chia rẽ trong xã hội giữa những người đứng về hai phía: bảo vệ và bài trừ.

LS Đặng Đình Mạnh cho rằng việc sớm tiếp nhận và hoàn tất thủ tục luật sư đăng ký bào chữa (nếu có) sẽ là bước tích cực bảo đảm sự khách quan, vô tư của cơ quan điều tra và quyền hợp pháp của những người bị khởi tố.

“Ngay sau khi nhận quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thì ông Lê Tùng Vân và các thành viên ở Tịnh Thất Bồng Lai nên nhờ luật sư giúp bào chữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình ngay từ giai đoạn bắt đầu chính thức điều tra vụ án. Đó là một trong những cách để họ tự bảo vệ mình. Đối với những người bị tạm giam, thân nhân của họ có thể thay mặt họ nhờ luật sư.”

Luật sư Mạnh cho hay hom 07/01/2022, ông đã đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để nộp hồ sơ đăng ký bào chữa cho ông Lê Tùng Vân.

“Tuy nhiên, sau khi xin ý kiến lãnh đạo thì trực ban đã không nhận hồ sơ của tôi với nhiều lý do không đúng quy định luật pháp,” luật sư Mạnh thuật lại.

Luật sư Mạnh sẽ trở lại đây để tiếp tục thực hiện việc nộp hồ sơ đăng ký bào chữa. Riêng đối với ông Lê Tùng Vân, dù được tại ngoại điều tra, nhưng lực lượng chức năng vẫn đang phong tỏa cơ sở Tịnh Thất Bồng Lai và đã ngăn cản luật sư vào tiếp xúc với ông, theo lời luật sư Mạnh.

Vụ việc Tịnh Thất Bồng Lai diễn ra như thế nào?

Hôm 7/1, công an tỉnh Long An ra quyết định khởi tố ông Lê Tùng Vân (SN 1932); Lê Thanh Hoàn Nguyên (SN 1990); Lê Thanh Nhất Nguyên (SN 1991) và Lê Thanh Trùng Dương (SN 1995). của Tịnh Thất Bồng Lai về tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, tổ chức, cá nhân”.

Chỉ trước đó vài ngày, báo Việt Nam đăng tải thông tin khả năng ông Lê Tùng Vân sẽ bị khởi tố tội ‘loạn luân’, ‘lừa đảo’ và ‘Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, tổ chức, cá nhân”.

Thông tin trên truyền thông Việt Nam cũng cho hay trước đó, cơ quan của tỉnh Long An nhận được nhiều đơn tố cáo Tịnh Thất Bồng Lai “có dấu hiệu lợi dụng hình thức tu tại gia, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, cơ nhỡ để kêu gọi góp vốn từ thiện và lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của tổ chức, cá nhân; có dấu hiệu loạn luân… nên gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại phương”.

Trước khi bị khởi tố, cơ sở Tịnh Thất Bồng Lai nhận là nơi tu tại gia, nuôi dưỡng 9 trẻ mồ côi. Các trẻ này, cùng một số thành viên khác của Tịnh Thất từng tham gia một số games show ca hát trên truyền hình và nhận được một số giải thưởng.

Hiện ba bị cáo đã bị tạm giam, ông Lê Tùng Vân được tại ngoại, cấm đi khỏi nơi cư trú, trong khi Tịnh Thất bị phong tỏa.

Ba người phụ nữ Đồng Tâm và 730 ngày phải sống

Ba người phụ nữ Đồng Tâm và 730 ngày phải sống

“Bố và chồng tôi chỉ làm điều đúng: đòi đất cho dân làng.

 08/01/2022

 MAY

Đồ họa: Luật Khoa.

Dư Thị Thành

Trần Thị Hương

Hoàng Thị Hoa

Những người phụ nữ ấy đã từng đứng ngoài gần như tất cả các quyết định quan trọng của gia đình. Tên của họ thi thoảng xuất hiện đâu đó như những người bên lề trong cuộc tranh đấu đất đai của dòng họ Lê Đình thôn Hoành, lẫn trong rạng sáng ngày mà công an Hà Nội nổ súng tấn công vào chính ngôi nhà của họ. Hai năm – 730 ngày đã qua sau sự kiện ấy, ba người phụ nữ – có chồng bị giết hoặc bị án tử treo lơ lửng trên đầu, có con trai chung thân tù tội – bằng cách này hay cách khác, vẫn phải sống tiếp.

Người viết đã gặp và lắng nghe câu chuyện của họ. Những dòng dưới đây được ghi lại theo lời kể của từng người.

***

Tháng Chạp, đất ruộng hai bên đường vào làng đã được vỡ sau vụ mùa, trời còn chưa tỏ, rét căm căm, sương phủ mịt mờ, anh Công đã lai tôi ra chợ bán thịt lợn. Chợ xa lắm, cách nhà hơn 35km, nhưng đi hoài cũng quen, giáp Tết, khách đông, phải đi bán thật sớm. Đến chợ, vợ bày hàng. Kẻ bán, người mua, tiếng rao ồn ào, chồng vẫn nằm dài trên cây Wave ngủ ngon lành. Có lần một bé gái theo bà đi chợ thấy nắng lên rồi mà anh vẫn ngủ say bèn giả làm con gà trống gáy ò o gọi anh dậy. Mỗi lần nhớ đến chuyện cũ tôi lại thấy buồn cười. Đó là những ngày tháng vất vả nhưng hạnh phúc nhất của vợ chồng.

Cũng là tháng Chạp, khi hai thằng con trai của tôi –  Uy và Doanh – đã lớn và cưới vợ, chúng nó hay cùng anh họ qua Hưng Yên đánh đào, quất về bán cho người làng chưng Tết. Tụi nó lanh lẹ, đi buôn năm nào cũng mát tay. Năm đó, lẽ ra mấy anh em đã đặt cọc tiền cho chủ vườn nhưng lại không ưng ý đám quất nên quay về… Và rồi súng nổ.

Nhà tôi chẳng còn gì. Sẽ không bao giờ có tháng Chạp bình yên trở lại.

Chồng bị án tử. Một thằng con bị chung thân, đứa nhẹ thì 5 năm. Tôi không dám khóc trước mặt các con dâu. Hồi xưa, tôi chỉ biết đi chợ, lo cơm nước cho chồng, chăm con rồi giữ cháu, nhưng giờ tôi là trụ cột chính của gia đình. Suy sụp rồi cũng tự đứng dậy. Phải nghĩ là mình có suy nghĩ thêm cũng chẳng giải quyết được gì. Án tử đã ra. Người bị tù phải ở tù. Người ở ngoài cần phải làm ăn mới có thể sống tiếp. Sáng tôi bán trái cây, chiều bán thêm cây cảnh rồi phụ con dâu trông cháu. Tôi mà lăn ra ốm thì hai đứa con dâu, mấy đứa cháu nội, ba con người trong tù sẽ ra sao. Mình là mẹ chồng, là bà nội, là chỗ dựa tinh thần của đám đàn bà, trẻ con trong nhà lúc này, nên mình phải vui vẻ để chúng an tâm. Không được phép ngã quỵ, tôi khóc lúc không có ai.

Chỉ sau phiên tòa phúc thẩm, tôi mới được gặp chồng và các con. Lần đầu tiên nhìn thấy mặt vợ, mẹ và các cháu nội sau biến cố, anh không nói được gì. Người anh gầy rộc, hai chân bị xích lại, một tay bị xích vào ghế, một tay cầm ống nghe, khóc và chỉ khóc. Tôi không biết anh có còn đủ sức nghe những điều mà đêm hôm trước, tôi đã sắp xếp, chuẩn bị sẵn những gì cần nói để anh an lòng. Gần 20 phút nhìn nhau qua cửa kính, anh chỉ kịp nhắn lần sau nhớ gửi đồ ăn, quần áo nhiều thêm một chút để chia cho người bạn cũng án tử chung phòng, không có người thân đến thăm. Lần thứ hai, anh dặn đi dặn lại vợ không được làm đơn xin giảm nhẹ tội cho anh. Trong ấy, cán bộ động viên anh viết đơn cầu xin chủ tịch nước ân xá nhưng anh nhất quyết không chịu. Không được ăn học nhưng tôi cũng nghĩ giống anh, viết cái đơn xin đồng nghĩa với việc mình có tội. Chồng tôi vô tội. Mà chắc gì viết đơn, người ta đã tha cho, hay lại lấy đó buộc tội mình.

Hơn 30 năm lấy nhau, có với nhau hai mặt con, mọi chuyện lớn bé trong nhà, anh là người quyết. Hồi anh nghỉ đi chợ với vợ, ở nhà phụ bố lo giấy tờ đòi đất đai, tôi không một lời can ngăn vì nghĩ đó là việc anh phải làm. Thỉnh thoảng, tôi có thầm mong mấy bố con bỏ hết kiện tụng, tập trung làm kinh tế, lo cho gia đình; nhưng rồi lại nghĩ mình là đàn bà, là người ngoài cuộc nên mới dễ dàng nghĩ thế; còn bố chồng và chồng tôi là người trong cuộc, biết rõ ngọn ngành, nên sẽ càng bức xúc, ức chế.

Tôi nhớ, bố chồng hay nói: mình biết có sai phạm mà không làm gì là có tội với dân. Đến giờ, tôi vẫn không ân hận về quyết định của những người đàn ông trong nhà, các con dâu tôi cũng không một lời trách móc. Mà họ đã làm điều gì xấu xa để vợ con ân hận? Bố và chồng tôi chỉ làm điều đúng: đòi đất cho dân làng.

Thấy mẹ rang lạc với muối, hai đứa con gái bảo: bố thích món này lắm.

Mâm cơm chiều có món canh chua, canh cua, hai đứa lại bảo: hồi ở nhà, bố rất thích ăn món này.

Thằng con trai út ra đời 15 ngày sau khi bố bị bắt chắc lớn lên sẽ chẳng có ký ức nào về bố, ngoài con tôm bố ở trong tù lấy bao nilon làm và tết sai tên nó là Huy. Con trai anh tên Duy nhưng hồi trước phiên toà, luật sư vào gặp nói nhầm thành Huy. Anh cũng không nhận ra con vào lần đầu gặp lúc nó đã hơn một tuổi, lớn và khác so với cái ảnh chụp hồi mới sinh bé tí ti mà tôi nhờ luật sư mang vào. 

Anh gầy, đen, yếu đi nhiều. Cái não của anh bị lõm xuống, tôi vẫn thấy chỗ lõm ấy sau lớp tóc. Họ đã bắn, và đánh đập anh. Lần cuối tôi được đến thăm anh là hồi tháng Bảy năm ngoái, anh nói bị đau đầu, cần thuốc hoạt huyết dưỡng não nhưng cán bộ trại giam không cho người nhà gửi thuốc vào. Họ cũng từ chối bức hình ba đứa con của anh.

Cầu thang trong nhà hai năm qua vẫn thiếu cái lan can. Vợ chồng chưa đủ tiền xây thì người ta nổ súng. Bỗng dưng tôi thành trụ cột gia đình, vừa thêu quần áo vừa trông con nhỏ. Nhiều việc cần đàn ông trong nhà. Cái ống nước hỏng, bóng đèn hư cần sửa, ba đứa con đang lớn. Tôi rất sợ thằng Duy lớn lên mà không có bố, một mình tôi không đủ sức dạy. Nó đã chịu nhiều thiệt thòi từ lúc mới sinh, mẹ vì suy sụp mà tắt sữa, phải bú toàn sữa ngoài.

Tôi không được phép khóc vào ban ngày vì sợ các con gái thấy. Tôi đang nói dối chúng vài năm nữa bố sẽ về. Mong ở trong ấy, anh viết đơn xin giảm nhẹ, nhưng rồi cũng sợ, anh viết đơn lúc không minh mẫn thì lại theo hướng người ta muốn. Chồng tôi đã làm gì có tội?

Anh đi làm thuê cả ngày, lúc làm cốp pha, lúc sơn tường; suốt nhiều năm không tham gia vào chuyện đất đai của bố và anh trai. Anh chỉ sang nhà bố vào đêm hôm ấy để bảo vệ ông. Giá như đêm hôm ấy, tôi bắt anh đi cùng mình và các con về ngoại. Nếu anh đi cùng thì giờ này anh vẫn ở đây với bốn mẹ con. Anh nóng tính, ăn nói cộc cằn, không gọi vợ là “em” mà thường là “mẹ mày” nhưng lại rất chiều vợ. Đã hai cái Tết tôi không dám ra đường vì sợ nhìn thấy những cặp vợ chồng đèo nhau.

Miếng keo mấy đứa cháu dán bít lại lỗ đạn trên cửa được vài tuần lại rớt xuống. Đôi lần như vậy, bọn nhỏ bỏ cuộc. Giờ cánh cửa vẫn loang lổ vết đạn, vệt nứt trên kính cứ lan rộng dần, chẳng biết bao giờ sẽ vỡ hẳn ra.

Hồi trước, công an bảo sẽ thay mặt kính trên cửa nhưng tôi không chịu. Họ đã bắn ra thế nào, thì cứ để nguyên như vậy. Những lỗ thủng to, nhỏ vẫn nằm im trên tường, dưới gian bếp, thành lan can, khắp căn nhà trong hai năm qua. Nhọ đen của khói lựu đạn cay cũng vậy, bám chặt từng vệt trên sàn, có cố chà thật kĩ cũng không trôi. Tôi sẽ sống với chúng, trong căn nhà này, đến lúc chết.

Ngày giỗ lần hai của ông Kình, tôi sẽ không làm cỗ to như lệ làng. Làm to làm gì, thằng Công, Chức, Uy, Doanh ở trong kia có ăn được đâu. Phần tôi còn mấy sào ruộng đủ sống qua ngày đến lúc chết. Nhưng phần Công, Chức, tôi không biết nghĩ thế nào. Lần cuối tôi nhìn thấy mặt con là tháng Bảy năm ngoái, rồi vì dịch bệnh họ không cho vào thăm nữa. Ống chân của chúng nó hồi đó bị xích lại, gầy đét, trơ xương. Thằng Chức bị một viên đạn găm vào đầu, đầu nó bị lõm một lỗ, như vết thủng trên tường nhà bố nó vậy. Có người bị giam chung trại với nó được tha về kể, thỉnh thoảng Chức lên cơn điên. Nó bị đau đầu, kêu gào, la ó mãi người ta mới đưa thuốc cho. Họ sẽ tử hình nó và thằng Công. Nếu mình xin nhà nước khoan hồng, khác nào mình nhận tội, rằng chúng nó đã giết người. Mình chỉ nên viết đơn đề nghị thôi đúng không? Không xin xỏ, chỉ đề nghị. Tôi già rồi, không biết nghĩ thế nào mới phải.

Mỗi lần leo cầu thang lên tầng thắp hương cho chồng, chân lại nhói đau. Cái chân của tôi không còn đi đứng thẳng thớm được nữa. Tai lúc nào cũng ù ù do tiếng đạn nổ ngày hôm đó và cả do công an tát vào đầu mấy cái liền lúc trên đồn. Năm ngoái, tôi đi miền Nam chữa bệnh, công an đến hỏi có phải đi miền Nam nhận tiền khủng bố không. Có giải thích nhưng chắc gì họ tin. Tôi biết, làng xóm người ta vẫn thương gia đình mình nhưng chắc là bị chính quyền dọa, sau ngày tòa xử, nhiều người không còn hỏi thăm mình như trước. Nhưng kệ họ thôi. Cái giấy báo tử của ông Kình, tôi cũng kệ luôn rồi, không thiết lên xã đòi nữa.

Này, có khách tới à? Chén tách lâu ngày không ai sờ tới nên lạnh tanh. Uống tạm nước đun nhé. Từ sau buổi sáng hôm ấy, nhà tôi đã không còn dùng trà. Còn ai sống nữa đâu mà mua về. Chỉ tại ông Kình mãi tin vào Đảng, tin ông Nguyễn Phú Trọng. Đến cuối đời, ông ấy vẫn kiên quyết với tôi: Đảng không bao giờ làm việc xấu. Lúc sống ông như vậy, nên mấy tấm bằng khen của Đảng, nhà nước trao cho đảng viên Lê Đình Kình, tôi vẫn giữ gìn, treo cả ở phòng khách. Đối diện với chúng là cánh cửa kính đầy vết đạn mà công an bắn vào.

HRW: Việt Nam bắt giữ, xét xử hàng chục nhà hoạt động trong năm 2021

HRW: Việt Nam bắt giữ, xét xử hàng chục nhà hoạt động trong năm 2021

Đăng ngày: 13/01/2022 

Phiên tòa xét xử các nhà báo, blogger Phạm Chí Dũng (P), Nguyễn Tường Thụy (T) và Lê Hữu Minh Tuấn (thứ ba bên trái) tại tòa án TP Hồ Chí Minh. Ảnh do VNTTX công bố ngày 05/01/2021. AFP – STR

Thanh Phương

Hôm nay, 13/01/2022, tổ chức nhân quyền của Mỹ Human Rights Watch công bố Báo cáo Thế giới 2022. Trong phần nói về Việt Nam, tổ chức này ghi nhận là trong năm 2021, chính quyền Việt Nam đã bắt giữ và xét xử hàng chục nhà hoạt động nhân quyền.

Theo Human Rights Watch, trong năm 2021, năm mà dịch Covid hoành hành dữ dội, đảng Cộng Sản họp Đại Hội lần thứ 13 và bầu cử Quốc Hội được tổ chức, chính quyền Việt Nam đã tống giam ít nhất 63 người vì đã bày tỏ chính kiến hoặc tham gia các nhóm bị coi là chống chính quyền, trong số đó có nhiều người đã bị tuyên án tù rất nặng nề « sau các phiên xử bất công ». 

Ông Phil Robertson, phó Giám đốc Ban Á Châu của HRW nói: « Chính quyền Việt Nam núp bóng đại dịch Covid-19 để tiến hành đàn áp nặng tay đối với các hoạt động ôn hòa, nên đa phần các vụ này không được bên ngoài Việt Nam biết đến ». Cũng theo ông Robertson, dường như chính quyền « muốn xóa sổ phong trào bất đồng chính kiến đang lớn mạnh bằng các án tù tàn khốc », trước khi thế giới chú ý trở lại đến tình hình nhân quyền ở Việt Nam. 

Cụ thể, theo báo cáo của HRW, vào tháng 1/2021, ba thành viên của Hội Nhà báo Việt Nam Độc lập (Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy và Lê Hữu Minh Tuấn) đã bị kết án từ 11 đến 15 năm tù. Đến tháng 5, nhà hoạt động vì quyền lợi đất đai Cấn Thị Thêu và con trai Trịnh Bá Tư lãnh án mỗi người 8 năm tù. Vào tháng 7, đến lượt nhà văn Phạm Chí Thành bị xử 5 năm rưỡi tù giam. 

Sau đó vào tháng 10, một tòa án ở Cần Thơ xử phạt năm thành viên nhóm Báo Sạch (Trương Châu Hữu Danh, Đoàn Kiên Giang, Lê Thế Thắng, Nguyễn Phước Trung Bảo và Nguyễn Thanh Nhã) từ 2 đến 4 năm rưỡi tù giam. Tất cả những người này đều bị cáo buộc tội tuyên truyền chống nhà nước theo điều 117, hoặc tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước theo điều 331 của Bộ Luật hình sự. 

Trong bản báo của HRW, phó giám đốc ban Á Châu Robertson kêu gọi: « Các nhà tài trợ quốc tế của Việt Nam nên ngưng việc ngoảnh mặt làm ngơ trước tình hình nhân quyền tồi tệ ở Việt Nam và nên gây sức ép với giới lãnh đạo nước này để chấm dứt việc người dân Việt Nam phải chịu đau khổ nhiều hơn nữa ».

Đúng là “Thời loạn”!

Đúng là “Thời loạn”!

Bởi  AdminTD

Nguyễn Như Phong

14-1-2022

Bốn năm trước, tôi có viết cuốn tiểu thuyết mang tên ‘Thời loạn’.

Cuốn tiểu thuyết nói về những “doanh nhân” mà để làm giàu, họ không từ một thủ đoạn nào. Thủ đoạn từ mưu mô thổi giá chứng khoán, buôn lậu vàng, thâu tóm đất đai đến đòi nợ thuê, rồi cả giết người… Những cuộc tình đầy toan tính và éo le. Các biên tập viên của Nhà xuất bản CAND đọc rất thích nhưng cứ băn khoăn về chữ “Thời loạn”, bởi nó “nhạy cảm”. Xã hội ta đang tươi roi rói, cơ đồ sáng choang thế này, đi đâu cũng thấy cờ hoa biểu ngữ đỏ rực thế này mà lại bảo “Thời loạn”, nghe rất không được. Thôi vậy, thế thì đổi tên.

Bàn đi tính lại mãi với nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ, cuối cùng đổi thành “Kim Tiền”, và cuốn tiểu thuyết đã đạt giải B cuộc thi Tiểu thuyết, Truyện ký của Bộ Công an và Hội Nhà văn năm 2020. Cuốn tiểu thuyết cũng chuyển thành kịch bản phim hình sự, nhưng chả ai dám đầu tư vì đây không phải là “hàng chợ”, đầu tư làm phim khá tốn tiền, phải gấp ba, gấp bốn lần phim “Thị trường” hiện nay.

Nói lằng nhằng một tý về cuốn sách. Nhưng giờ mới thấy thời buổi này đúng là “Thời loạn” thật. Đúng là “Thời loạn” khi mà liên tiếp xảy ra những vụ cha mẹ đánh chết con thơ. Con cái đánh chết cha mẹ.

Đúng là “Thời loạn” thật, khi mà nhiều ông to bà lớn, mới hôm trước còn lên bục răn dạy thiên hạ, thì ít hôm sau lại thấy “ăn năn, hối lỗi”.

Đúng là “Thời loạn” thật, khi mà xảy ra những vụ như Việt Á, lợi dụng dịch bệnh để kiếm chác, mà lại được tặng thưởng Huân chương mới là “loạn” chứ?

Đúng là “Thời loạn” thật, khi mà có không ít doanh nhân vừa mới lên diễn đàn thể hiện “lòng yêu nước vô bờ bến” thì lại có những hành vi lừa đảo, kiếm tiền bất chấp liêm sỉ?

Mà xem ra khá nhiều tình tiết hư cấu trong tiểu thuyết “Kim Tiền” là được các “roanh… nhân” hiện nay áp dụng. Kể cũng thú vị.

Mặc dù tôi biết, họ chả có thời gian đâu, văn hóa đâu mà đọc cuốn sách của tôi đến ngót 800 trang?

Đúng là “Thời loạn” thật!