Bị cáo buộc “hoạt động lật đổ”, đối diện án tử hình chỉ vì phát tán thông tin từ mạng xã hội (RFA)

Bị cáo buộc “hoạt động lật đổ”, đối diện án tử hình chỉ vì phát tán thông tin từ mạng xã hội

RFA
2022.03.14

Bà Trần Thị Ngọc Xuân (trái) và quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án Nhân dân TPHCM

 FB Nguyễn Văn Miếng

Một toà án ở TPHCM chuẩn bị đưa ra xét xử 12 người với cáo buộc “Âm mưu lật đổ chính quyền”, trong đó có 10 người bị truy tố ở khung cao nhất với hình phạt tử hình.

Phiên toà dự kiến sẽ diễn ra trong hai ngày 29 và 30 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Mười hai người bị đưa ra xét xử đều có chung cáo buộc vi phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 109 của Bộ Luật Hình sự năm 2015.

Trong đó có 10 người bị truy tố theo khoản 1 của điều này với mức phạt cao nhất là tử hình, hoặc tù chung thân. Hai người còn lại bị truy tố theo khoản 2 với án phạt cao nhất là 12 năm tù giam.

Theo cáo trạng do Viện Kiểm sát TPHCM ban hành thì những người này bị bắt và truy tố vì “lôi kéo người dân tham gia tổ chức Chính phủ Việt Nam Lâm thời”, và phát tán các tài liệu của tổ chức trên.

Trong số những người sắp sửa bị đưa ra xét xử, chính quyền cáo buộc bà Trần Thị Ngọc Xuân, 53 tuổi, là người đứng đầu. Tuy nhiên, theo luật sư bào chữa của bà Xuân thì sự thực lại không phải như vậy.

Đài Á châu Tự do phỏng vấn luật sư Nguyễn Văn Miếng, người bào chữa cho bà Xuân để tìm hiểu thêm về cáo buộc do phía chính quyền đưa ra nhắm vào bà:

Bà Xuân bà ấy nói rằng chỉ quen với ông Xoan với lại hình như là một hay là hai người nữa, mà quen đã lâu rồi, thế thì khi bà ấy bị bắt các tỉnh có những vụ án liên quan đến cái tổ chức này thì họ chuyển hết về Công an TPHCM để nhập lại thành một vụ.

Cho nên khi tôi hỏi bà ấy là trong 12 người này bà có quen ai không, bà ấy bảo không, chính thức là em chỉ tiếp xúc với ông Xoan, là nhân vật thứ hai, tại vì ông Xoan đã từ Nghệ An-Hà Tĩnh vào, nhưng mà thực ra chỉ là mới tiếp xúc. Thì khi gom vụ án này lại, 12 người trong một vụ, thì cô Xuân nói rằng không biết những người kia.”

Bà Trần Thị Ngọc Xuân vốn là một thợ may sinh sống ở thành phố Thủ Đức, bà bị bắt vào ngày 5 tháng 5 năm 2020. Sau gần hai năm kể từ khi bị bắt, bà mới được tiếp xúc với luật sư vào ngày 10 tháng 3 năm 2022.

Nói về những việc làm của bà Xuân dẫn đến việc bị bắt, luật sư Miếng cho hay:

Bà ấy có nói rằng bà ấy có in một số thông tin lấy từ trên Facebook nói là đối với những người nghèo thì sẽ được hỗ trợ một số tiền từ nước ngoài. Thế thì khi bà ấy phổ biến như vậy thì bị một số người biết họ tố cáo với cơ quan công an, và công an đã điều tra và tiến hành bắt giữ bà Xuân.

Vị luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố HCM này cũng cho biết thân chủ của mình không hề có ý định hoạt động lật đổ chính quyền như cáo buộc của VIện Kiểm sát đưa ra, ông nói:

“Bà Xuân bà ấy nói rằng là em không có biết cái chuyện lật đổ, em hoàn toàn không có ý thức về cái chuyện lật đổ, em chỉ thấy rằng là những cái thông tin em phổ biến cho mọi người, là phổ biến đến những người dân nghèo. Họ nói rằng là họ giúp đỡ những người nghèo và do đó em là người phổ biến chuyện đó để xem xem những người nghèo đó họ có được giúp đỡ gì không.

Cho nên là khi mà bị bắt và họ nói rằng là em phạm tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì em sợ lắm, em không biết là tại sao mình lại phạm cái tội tày trời đến như vậy, và khi là biết là mức án đến tử hình thì bà ấy càng sợ nữa.”

Được biết chỉ mình bà Trần Thị Ngọc Xuân là có luật sư bào chữa riêng, những người còn lại trong vụ án này đều được toà chỉ định luật sư.

Chính quyền VIệt Nam coi tổ chức Chính phủ Quốc gia Việt Nam Lâm thời là một tổ chức phản động, hay thậm chí là khủng bố, và vẫn thường khép tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền” đối với những thành viên hoặc cảm tình viên của tổ chức này ở Việt Nam.

Hồi tháng 8 năm 2018, Toà án Thành phố HCM cũng đưa 12 người bị cáo buộc là thành viên của tổ chức trên ra xét xử, kết quả là những người này bị kết án từ 5 đến 14 năm tù.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Tiếng chim

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Tiếng chim

Đêm Giữa Ban Ngày (chương 40) trong đoạn viết về trại tù Phong Quang, nằm trong một lòng chảo sát biên giới Việt-Trung, có câu này: “Chỉ đêm đến mới nghe văng vẳng tiếng từ quy khắc khoải gọi nhau.”

– “Từ Quy là giống gì vậy cà?” Tôi hỏi tác giả.

– “Giời ạ! Cuốc đấy.” Vũ Thư Hiên cười thành tiếng. “Cũng có người gọi là Đỗ Quyên hay con chim quốc.” Ông vừa cười, vừa nhìn tôi với ánh mắt thân thiện và giễu cợt.“Là dân Việt, và tóc đã muối tiêu rồi mà chưa nghe tiếng nó bao giờ à?”

– “Dạ, chưa!” Tôi ngượng nghịu đáp.

Mẩu đối thoại thượng dẫn tưởng chừng cứ như mới hôm qua (hay hôm kia gì đó) thôi hà. Ấy thế mà đã hơn hai chục năm rồi. Nay thì tóc tai chả còn chút tiêu nào ráo mà đã thành muối hết trơn hết trọi nhưng tôi vẫn chưa có dịp được nhìn thấy tận mắt, hoặc nghe tận tai tiếng kêu thương – “khắc khoải” – của loài từ quy một lần nào cả.

Buồn!

Nỗi buồn càng thấm thía khi tôi lại vừa biết thêm rằng cái viễn ảnh được tiếp cận với loài chim này(xem ra) mỗi lúc một xa, nếu chưa muốn nói là đã trở thành bất khả. Từ Việt Nam, nhà báo Thái Hạo có bài tường thuật (“Chim Quốc Không Còn Kêu Nữa”) đọc được trên trang Tiếng Dân, vào hôm15 tháng 2 năm 2022:

Đêm trong núi lạnh, ngồi nói chuyện với anh Hoàng Tuấn Công. Về những cánh rừng đã mất. Anh Công hỏi mình, ở đây giờ còn (chim) cuốc không. Mình nói còn, thi thoảng vẫn thấy chúng lủi nhanh qua những bờ bụi. Có nghe thấy tiếng chúng kêu không? Không.

– Ừ, cuốc giờ không còn kêu nữa.

Bỗng giật mình, đúng rồi, đã bao lâu mình không nghe tiếng cuốc dù vẫn thấy chúng đây đó nơi chân đồi đồng bãi… Chúng lủi đi và sống trong im lặng. Rừng đã hết, con người có mặt khắp nơi cùng súng và bẫy rập. Cuốc phải ngậm chặt miệng để giữ lấy sinh mạng, vì tiếng kêu là lời mời gọi tử thần. Đó là một bước “tiến hóa” oan nghiệt…

Chim cuốc còn đó mà tiếng cuốc đã chôn vào u tịch mang mang. Không có cái chết nào đáng sợ hơn thế, không sự hủy diệt nào thảm khốc hơn thế, khi một giống loài phải từ bỏ tiếng gọi đồng loại và tiếng gọi nhân tình của mình trong lau lách mù tăm.”

Tình trạng “đáng sợ” và “thảm khốc” này không chỉ xảy ra với riêng loài từ quy. Dân Việt cũng đang sống trong nín lặng, cũng đang “phải ngậm chặt miệng để giữ lấy sinh mạng” chả khác gì chim chóc. Với chế độ hiện hành thì tiếng nói của người dân, kể cả những tiếng kêu cứu hay kêu thương (thảm thiết) đều có thể bị suy diễn là “tuyên truyền chống nhà nước,” và đều phải chịu nhận những hình phạt nặng nề.

Xin ghi lại đôi ba trường hợp gần nhất:

Ngày 1 tháng 3 năm 2022, báo Thanh Niên đi tin: “Cơ quan An ninh điều tra Công an TP.HCM đã tiến hành bắt giam bị can Trần Văn Bang (61 tuổi, trú tại số 860/60X/27 Xô Viết Nghệ Tĩnh, P.25, Q.Bình Thạnh) để điều tra về hành vi tàng trữ, soạn thảo, đăng tải và tán phát trên mạng internet các bài viết có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn TP.”

Ngày 24/02/2022, VOA cho hay: “Một phiên tòa phúc thẩm ở Ninh Bình vừa y án ông Trần Quốc Khánh 6 năm rưỡi tù và hai năm quản chế vì “tuyên truyền chống nhà nước”. Gia đình ông Khánh cho VOA biết rằng phiên tòa diễn ra mà không có mặt luật sư bào chữa, dù ông Khánh có yêu cầu luật sư.”

Ngày 19 tháng 02 năm 2022, báo Dân Trí, chạy tin: “Ông Nguyễn Hoài Nam (SN 1973, ngụ quận 12, TP.HCM, là nhà báo) vừa bị Viện KSND TP.HCM truy tố về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331 Bộ luật hình sự 2015 sau 10 tháng bị khởi tố, bắt tạm giam.

Trước đó không lâu, hôm 26 tháng 1 năm 2022, BBC ái ngại loan tin là những thành viên của nhóm Báo Sạch cũng bị kết án bởi tội danh tương tự:

“TAND TP Cần Thơ tuyên giữ nguyên hình phạt 4 năm 6 tháng tù đối với bị cáo Trương Châu Hữu Danh về tội Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước; quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo khoản 2 Điều 331 Bộ luật Hình sự.Toà cũng tuyên y án 3 năm tù đối với bị cáo Đoàn Kiên Giang, Lê Thế Thắng; 2 năm tù đối với Nguyễn Phước Trung Bảo và Nguyễn Thanh Nhã về cùng tội danh.”

Tổ Chức Sáng Kiến Pháp Lý Việt Nam (cơ quan chủ quản của Luật Khoa Tạp Chí và The Vietnamese Magazine) đã lên tiếng “phản đối” việc “hình sự hóa các hoạt động của nhóm Báo Sạch” của nhà đương cuộc Hà Nội:

“Một người bị bịt miệng, một tờ báo hay một hãng truyền thông bị đóng cửa một cách tùy tiện là mối đe dọa chung cho toàn bộ xã hội. Với tư cách là một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động trong lĩnh vực báo chí, chúng tôi phản đối các hành vi xâm phạm này và yêu cầu chính quyền Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho các thành viên Báo Sạch, đồng thời đình chỉ tất cả các cáo buộc nhắm vào những công dân này.”

VOA cho biết:

“Ông Hữu Danh được nhiều người biết đến với loạt bài viết trên Facebook về khối tài sản của Bí thư tỉnh uỷ Bình Dương, Trần Văn Nam, và hàng loạt video cùng các đăng tải trên mạng xã hội về nội dung phản ánh tiêu cựu, phản đối nhiều trạm thu phí BOT ở các tỉnh thành và TPHCM. Tuy nhiên, theo VnExpress, một số hành động của ông bị cho là vi phạm pháp luật. Nhưng công an chưa công bố hành vi cụ thể về việc “vi phạm pháp luật” của nhà báo này. Cơ quan điều tra cáo buộc nhà báo này đã “lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân,” một điều luật thường được chính quyền dùng để bắt các nhà báo và những người bất đồng chính kiến vì những đăng tải của họ.”

Bản tin này cũng ghi nhận ý kiến của nhiều vị thức giả khác:

– Bùi Thanh Hiếu: “Nhóm ‘Báo Sạch’ từng viết bài vạch rõ những sai phạm của nhà máy nước sông Đuống mà sau đó truyền thông chính thống đưa tin rằng công an đã vào cuộc điều tra nguyên nhân vụ việc.”

– Lê Nguyễn Hương Trà: “Các thành viên của nhóm bao gồm các nhà báo và trang Báo sạch đã “gây nhiều tiếng vang, nhanh chóng đạt được lượng theo dõi khủng.”

– Bùi Sơn: “Không rõ là họ vi phạm cái gì và cụ thể là vì sao họ bị bắt nhưng đây là các cựu nhà báo rất được lòng người đọc vì họ đã dũng cảm viết những bài báo đấu tranh cũng như vạch trần những sai phạm của các quan chức tham nhũng ở Việt Nam.”

Sự thực, ông Trần Văn Bang, Trần Quốc Khánh, Nguyễn Hoài Nam và Nhóm Báo Sạch chả “vi phạm cái gì và cụ thể” cả. Họ vào tù chỉ vì tin lời của ông Nguyễn Phú Trọng (“tham nhũng không có vùng cấm”) thôi, theo nhận xét của blogger Gió Bấc.

Chế độ toàn trị hiện hành ở Việt Nam không chấp nhận chuyện bị “vạch trần” bất cứ tệ trạng nào, và sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp thô bạo để “rọ mõm” thiên hạ. Hẳn nhiều người còn nhớ hình ảnh L.M Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng, Lê Mỹ Hạnh, Trần Thị Nga, Phạm Đoan Trang … bị hành hung đến độ thương tật chỉ vì tiếng nói bất đồng của họ.

Khi mà chim chóc đã nín bặt giữa một môi trường thiên nhiên đầy rẫy những cạm bẫy, và khi mà con người không còn dám lên tiếng vì sự đe dọa thường trực của một xã hội độc đoán/bất an thì tương lai đất nước sẽ ra sao là điều ai cũng có thể tiên đoán được.

Bí thư đảng ủy Thị trấn Vụ Bản lỗ mãng, vô học xúc phạm nghi lễ tôn giáo

Đài Á Châu Tự Do 

Theo chương trình của Năm Truyền Giáo, vào Chúa Nhật thứ III trong tháng– cầu cho việc truyền giáo của Tổng Giáo phận Hà Nội, Đức tổng Giuse sẽ dành hai ngày thăm viếng các giáo xứ miền Hòa Bình… Sáng 20/2/2022, là ngày Chúa Nhật đầu tiên ngài đi thăm giáo xứ Vụ Bản (thuộc huyện Lạc Sơn, Tỉnh Hoà Bình) và dâng Thánh lễ cho Giáo xứ ở đó.

Sự hiện diện của Đức Tổng Giám mục và dâng Thánh lễ là sự kiện trọng đại của Giáo xứ, đáp ứng mong mỏi của Giáo dân nơi đây.

Trong Thánh lễ sáng Chúa nhật 20/2/2022 tại đây, khi Thánh lễ đang tiến hành đến lúc hết sức linh thiêng là rước lễ, thì Bí thư Đảng ủy thị Trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn là Phạm Hồng Đức cùng với Phạm Văn Chiến là Phó Chủ tịch đã xông lên Cung Thánh, giành micro làm loạn Thánh lễ bất chấp Đức TGM Giuse Vũ Văn Thiên và các linh mục đang đồng tế tại đây.

Diện mạo của hai kẻ xông lên cung thánh này mặc quần áo bạt công an cấp nhìn như côn đồ, và có những lời nói đe dọa, xông vào cướp micro của Nhà thờ làm loạn.

Chúng hò hét la lối vào micro và loa phóng thanh mặc cho giáo dân vẫn đang đọc kinh, cầu nguyện hết sức nghiêm túc và các linh mục can ngăn.

Đặc biệt là hành động phá rối Thánh lễ linh thiêng của người Công giáo là một hành động rừng rú, lỗ mãng vô giáo dục và là sự vi phạm trắng trợn niềm tin, tín ngưỡng của giáo dân Vụ Bản cũng như Giáo hội Công giáo Việt Nam và giáo hội Hoàn Vũ.

Bí thư Đảng ủy thị Trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn là Phạm Hồng Đức cùng với Phạm Văn Chiến là Phó Chủ tịch tại Thánh lễ sáng 20/2/2022 tại giáo xứ Vụ Bản

RFA.ORG

Thánh lễ do Đức TGM Hà Nội chủ tế bị viên chức CSVN đòi ‘giải tán’

Thánh lễ do Đức TGM Hà Nội chủ tế bị viên chức CSVN đòi ‘giải tán’

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) .- Hai người xưng là đại diện nhà cầm quyền thị trấn Vụ Bản đã xông lên cung thánh đòi “giải tán” thánh lễ do Tổng giám mục Hà Nội chủ tế.

Chuyện xảy ra hôm Chủ Nhật 20 Tháng Hai tại thị trấn Vụ Bản tỉnh Hòa Bình khi Tổng giám mục địa phận Hà Nội là Đức cha Vũ Văn Thiên đến dâng thánh lễ tại giáo họ Vụ Bản. Vụ việc được thuật lại trên trang thông tin của Tổng giáo phận Hà Nội kèm theo một số hình ảnh. Một số Facebookers không những thuật tin về sự phá rối nói trên mà còn kèm theo một video clip ngắn chừng 42 giây của vụ việc.

Chế độ Hà Nội luôn luôn bác bỏ tất cả những cáo buộc về đàn áp tôn giáo mỗi khi bị Ủy hội Quốc tế về Tự do Tôn giáo Thế giới (USCIRF) thúc giục Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa tên nước Việt Nam trở lại danh sách “Các nước cần quan tâm đặc biệt” (Country of Particular Concern – CPC).

Theo bản tin của Tổng giáo phận Hà Nội, Tổng giám mục Giuse Vũ Văn Thiên tới thăm giáo họ Đồng Tâm thuộc giáo xứ Vụ Bản “một Giáo họ non trẻ nhỏ bé toạ lạc bên cạnh thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình”. Ông đến đây trong hành trình “Ngày truyền giáo của Tổng Giáo phận”.

Ông Tổng giám mục đã chủ tế thánh lễ lúc 10 giờ sáng ngày Chủ Nhật “tại nhà thờ nhỏ bé của giáo xứ Vụ Bản, tọa lạc tại thị trấn Vụ Bản”, thay vì dâng thánh lễ tại nhà nguyện của giáo họ Đồng Tâm như dự định từ trước. Hiện diện trong thánh lễ còn có linh mục quản hạt Mỹ Đức, Hòa bình, các cha trong giáo hạt, các tu sĩ và giáo dân trong giáo xứ.

Nguồn tin trên nói rằng đến cuối thánh lễ “có hai người xưng là đại diện chính quyền thị trấn Vụ Bản xông lên Cung thánh đòi giải tán Thánh lễ. Sự cố này làm Thánh lễ bị gián đoạn ít phút. Tuy nhiên, cộng đoàn Phụng vụ vẫn giữ được sự trang nghiêm. Trong khi đó, một số linh mục đồng tế và một số giáo dân đã ra can thiệp đề nghị hai người này rời khỏi nhà thờ để Thánh lễ được tiếp tục.”

Ngay sau thánh lễ, Tổng giám mục Vũ Văn Thiên đã đến giáo họ Đồng Tâm cách nhà thờ Vụ Bản khoảng 5 km và đã “cùng cộng đoàn dâng lời tạ ơn Thiên Chúa”.

Cung thánh trong một thánh lễ là khu vực thiêng liêng, người không phận sự không được phép mạo phạm, tự tiện bước lên. Việc hai chức sắc nhà cầm quyền địa phương, một người mặc áo mưa, tự tiện xông tới cản trở thánh lễ là sự sách nhiễu tôn giáo. Bản tin của Tổng giáo phận Hà Nội chỉ nêu ra vụ việc mà không bình luận gì nhưng gián tiếp chứng tỏ quyền tự do tôn giáo của người dân tại Việt Nam bị xâm phạm trắng trợn.

Ngày 29 Tháng Giêng vừa qua, linh mục Giuse Trần Ngọc Thanh đang giải tội sau khi dâng thánh lễ tại nhà thờ thuộc xã Saloong, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kontum thì bị một người đàn ông tên Nguyễn Văn Kiên xông tới chém vỡ sọ thiệt mạng. Vụ việc khủng khiếp này đối với một vị linh mục gây rúng động dư luận trong ngoài nước.

Ngày 22 Tháng Mười Hai 2021, một nhóm tín đồ Tin Lành ở xã Ea Lâm, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tố cáo bị công an sách nhiễu, cản trở các hoạt động tôn giáo của họ khi đang chuẩn bị cho Lễ Giáng Sinh sắp đến.

Các tổ chức tôn giáo độc lập, tức không nằm trong hệ thống tôn giáo “quốc doanh”, thường xuyên bị nhà cầm quyền CSVN đàn áp dưới nhiều hình thức khác nhau.

– Hình phổ biến trên trang mạng của Tổng giáo phận Hà Nội khi 2 viên chức thị trấn Vụ Bản phá rối thánh lễ đồng tế do Tổng giám mục Hà Nội Giuse Vũ Văn Thiên chủ tế. (Hình: Tổng giáo phận Hà Nội)

– Hình cắt từ clip phổ biến trên FB Lê Quốc Quân khi người xưng đại diện nhà cầm quyền thị trấn Vụ Bản tới đòi “giải tán” thánh lễ. (Hình: cắt từ clip trên FB Lê Quốc Quân)

https://www.tonggiaophanhanoi.org/duc-tgm-giuse-den…/… 

Đốt đuốc nhìn lại giáo dục Việt Nam Cộng Hòa

Minh-Triết Lâm Minh-Nghị  PHƯỚC TUY QUÊ HƯƠNG TÔI

Đốt đuốc nhìn lại giáo dục Việt Nam Cộng Hòa

Miền Nam từng có một nền giáo dục huy hoàng. Thành ra người Miền Nam chúng ta có toàn quyền ,có thể so sánh giữa “ngày nay” và “trước kia”.

Khi mà ngày nay người ta cứ làm những trò “cải cách”, đòi sửa này, chỉnh kia, bỏ nọ nhưng bản chất và cái gốc là cách dạy và chất lượng thì họ không đá động gì tới và cũng không có khả năng.

Việt Nam Cộng hòa hồi xưa phổ cập giáo dục tiểu học, trẻ em đi học tại trường công miễn phí và có sữa uống miễn phí luôn, sách giáo khoa không là gánh nặng của con nhà nghèo vì rất rẻ và đời anh xài tới đời em chỉ có mấy cuốn.

Từ lớp 6 trở đi thì học trò không được phổ cập. Tức lớp 5 sẽ thi tuyển vào lớp 6 trung học đệ nhứt cấp với những kỳ thi cực kỳ kinh khủng, chỉ lấy có 62% vào trường công, 38% vào trường tư học hoặc có thể nghĩ học nghề.

Đến cuối năm lớp 11, học sinh phải thi Tú tài I, cuối năm lớp 12 phải thi Tú tài II.

Tú tài 1 chỉ lấy khoảng 15–30% và Tú tài 2 lấy khoảng 30–45%.

Có bằng tú tài 2 là thành một người công dân trí thức lịch lãm của VNCH rồi.

Ngày nay thì học trò thi lớp 12 đậu gần hết, có nơi 100%,trình độ thì “rất cao”, trường ĐH nhiều hơn sinh viên, cái bằng cử nhân giờ tương đương tú tài, rồi “Thạc sĩ” và “Tiến sĩ” thì nhiều như lá rụng. Xã hội trí thức nhiều nhưng ảo, chẳng làm được tích sự gì, giống như vẻ bùa đeo cho liệu pháp xã hội vậy.

Học trò VNCH được dạy từ nhỏ triết lý, luân lý, đạo đức, cách xử sự và sống chuẩn mực với xóm làng, xã hội, quốc gia, dạy cho con người biết cách sống trong xã hội, biết nền văn hóa mà con người được sanh ra trong đó để sống cho thích hợp.

Cách ăn uống, lễ phép, cách đối xử, các nghề nghiệp sanh sống, phong tục tập quán.

Nền giáo dục của VNCH gói gọn trong ba chữ : Nhân bản, Dân tộc, và Khai phóng.

Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa lấy con người làm nền, dạy tình thương, lòng trắc ẩn giữa người và người với nhau, người làm gốc, đó là giáo dục nhân bản.

Con người khác thú vật là con người có suy tư, có sáng tạo và làm cho đời sống càng ngày càng nâng cao. Con người cần được no cơm ấm áo, tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng.

Con người trước nhứt là phải biết yêu thương nhau, tôn trọng nhau tối thiểu, hiếu thảo, yêu thương gia đình, kính trọng ông bà cha mẹ, yêu thương họ hàng thân tộc, kính trọng thầy cô, có lương tâm trong mọi sanh hoạt, có trách nhiệm với tha nhơn, góp phần bảo vệ cuộc sống cho xã hội.

“Cha sanh, mẹ dưỡng,

Đức cù lao lấy lượng nào đong.

Thờ cha mẹ ở hết lòng,

Ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường.

Chữ đễ nghĩa là nhường,

Nhường anh, nhường chị lại nhường người trên.

Ghi lòng tạc dạ chớ quên,

Con em phải giữ lấy nền con em “

(Quốc Văn Giáo Khoa Thư)

Giáo dục Việt Nam Công Hòa là giáo dục dân tộc, nó hướng người VN biết tự hào nguồn gốc, màu da của mình, biết trân trọng lịch sử của ông bà tổ tiên, biết lòng tự trong dân tộc để đi ra nước khác gìn giữ cái liêm sỉ của ông bà mình.

Giáo dục Việt Nam Công Hòa là giáo dục khai phóng. Tức là open, cởi mở, giáo dục con người tánh sáng tạo, không gò bó, không thắt não, không nhồi sọ.

Con người tiếp nhận kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Giáo dục Việt Nam Công Hòa cũng dạy con người tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân, biết nhìn cái sai cái đúng trong chính bản thân mình, sai thì chịu trách nhiệm và sửa từ từ để tốt hơn.

Nền giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa rất tuyệt vời. Nó dạy cho con người kiến thức và đạo đức song song.

Trong xã hội có những cá nhơn khác biệt, nhưng không thể đánh giá con người qua sự khác biệt đó để kỳ thị giàu nghèo, giới tính, tôn giáo, địa phương, chủng tộc.

Mọi người đều được hưởng đồng đều về giáo dục.

Một người có giáo dục, có nhơn cách sẽ là một công dân tốt, có tình yêu quê hương đất nước, sống đàng hoàng.

Một nền giáo dục mà không dạy đạo đức nó tạo ra xã hội có đạo đức bị băng hoại, con người lương tri và lương năng cũng mất.

Khi đạo đức biến mất thì xã hội sẽ không có trật tự, an ninh, thường xảy ra trộm cướp, giết người, con người mất dạy, ý thức buông bỏ, con người không tôn trọng nhau khiến cho cuộc sống của con người đầy dẫy sự đau khổ và bất an.

Một đất nước không đạo đức là một đất nước không phồn vinh, thạnh trị, mưa không thuận gió không hòa, lòng dân oán thán, khi đó sẽ có loạn lạc.

Giáo dục Việt Nam Cộng Hoà là nền giáo dục hiệu quả và tiến bộ.

Trình độ giáo dục VNCH là thiệt và thế giới công nhận. Bằng cấp của VNCH được thế giới công nhận.

Bằng cấp của VN ngày nay chẳng có nước nào công nhận.

Đường xá ngày nay dơ hơn thời trước 1975. Sông hồ ngày nay dơ hơn trước 1975.

Đồ ăn ngày nay dơ hơn trước 1975, ung thư người VN cao hơn trước 1975.

Con nít ngày nay mất dạy kinh khủng, điều này trước 1975 là ít có. Xã hội ngày nay loạn thất kinh, không có một giới hạn nào hết, điều mà trước 1975 rất rõ ràng giới hạn.

Và rất nhiều không kể hết.

Nhiều người may mắn lớn lên trong một gia đình, trong một xã hội mà ông bà cha mẹ vẫn giữ nề nếp của Miền Nam thời VNCH với một nền lễ giáo cổ truyền Việt Nam còn sót lại, tôn trọng các giá trị gia đình cao đẹp từ ngàn xưa, những tin yêu vào tình đời tình người, vào cái chung vẫn còn mạnh mẽ dữ lắm.

Có thể nói, dư âm giá trị di sản VNCH là đồ cổ, nhưng rất quý.

Không cách nào xóa bỏ di sản VNCH trong lòng người Miền Nam.

Nghĩ về cái xưa ta tiếc đứt ruột, dân tộc này vô phước vô phần.

–nguồn Nguyễn Gia Việt

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Vũ Ánh

Ảnh của tuongnangtien

 

Sau 30 tháng 4 năm 1975 Bên Thắng Cuộc đã dàn dựng một hệ thống gồm những “tổ chức phục quốc” ở rất nhiều nơi, và đã khiến cho không ít thanh niên miền Nam bị rơi vào … bẫy!  Nhà báo Vũ Ánh (V.A) là một trong những người này –  như chính ông cho biết, trong cuốn hồi ký (Thung Lũng Tử Thần) do Người Việt Books xuất bản vào năm 2014:

Tôi còn nhớ rõ buổi hoàng hôn ngày 16 tháng 8 năm 1975, khi mặt trời đỏ lừ đang từ từ rơi xuống phía sau hàng cây trên bờ sông La Ngà, toán chúng tôi gồm tôi, Cự, Phụ, Khải, Thuật và một số khoảng 20 người khác đã rơi ngay vào tay một cánh quân mà sau này chúng tôi biết là của Quân Khu 7 Việt Cộng khi vừa đến một điểm hẹn tập trung gần bờ sông.

Hầu hết những người bị bắt đều là sĩ quan, công chức, cảnh sát VNCH khước từ lệnh trình diện để lựa chọn một con đường khác: đi tìm bóng dáng của các nhóm tàn quân VNCH mà chúng tôi được mật báo một cách sai lạc bởi chính bọn quân báo Việt Cộng qua trung gian gồm chính một số cựu sĩ quan, viên chức VNCH cộng tác với họ.

Giận dữ, nôn nóng, vội vã và cả tin đã khiến chúng tôi bị sập bẫy như những đứa con nít. Và khi vào nằm trong gông cùm rồi, chúng tôi chỉ còn biết tự an ủi: bản thông báo của Ủy Ban Quân Quản ra lệnh cho các sĩ quan, viên chức chỉ huy trong chính phủ VNCH, thành viên trong các chính đảng ở Miền Nam Việt Nam phải trình diện và mang theo lương thực đủ 10 ngày để đi “học tập cải tạo” không đánh lừa được chúng tôi, dù cái giá chúng tôi phải trả cho sự tỉnh táo ấy rất đắt.  

Rất đắt là bao nhiêu?

Xin thưa là hơn 13 năm tù, với 7 năm biệt giam, và khẩu phần là “ba muỗng nước, với ba muỗng cơm” mỗi bữa. Không phải ai lãnh án “phục quốc” đều bị giam cầm khắc nghiệt như thế cả. V.A là một “trường hợp đặc biệt” nên được ban giám thị trại tù A-20 Xuân Phước … đối đãi cách riêng – theo lời nhận xét của một bạn đồng tùA-20 Nguyễn Chí Thiệp:

“Vũ Văn Ánh đến từ trại Hàm Tân Z-30C, nguyên là một công chức cao cấp của Bộ Thông Tin, anh có học báo chí ở Hoa Kỳ và giáo sư ngành truyền thông Đại học Cửu Long, sau tháng 4 năm 1975, anh học tập ba ngày tại cơ sở rồi trốn trình diện.

Ánh và số bạn bè như Đại-úy Cảnh sát Vũ Trọng Khải, Trung-úy Dù Đoàn Bá Phụ, Đại-úy An Ninh Quân Đội Nguyễn Đại Thuật, những người trốn học tập. Các anh được móc nối tham gia tổ chức của Bác-sĩ Phan Huy Quát, người móc nối đưa các anh vào bưng vùng Biên Hòa thì bị bắt…

Ở các trại Ánh sống đứng đắn, trọng danh dự nên được rất nhiều sĩ quan trẻ mến, trong đó có Trần Bửu Ngọc sĩ quan Biệt Kích và Ngô Văn Ly sĩ quan Biệt Động Quân. Ở đâu Ánh cũng là một cá nhân có sức thu hút và thuyết phục. Chính điểm son này, ở trại giam nào anh cũng bị giam cùm trong kỷ luật…” (Nguyễn Chí Thiệp. Trại Kiên Giam. Los Angeles, CA: Sông Thu, 1992).

Cái “điểm son thu hút” của V.A, thực ra, không phải lý do khiến ông thường trực bị  giam riêng. Cá tính “đứng đắn” cũng không thể khiến ông bị gông cùm suốt từ năm này sang năm khác. Vấn đề – có lẽ – chỉ vì V.A quá “trọng danh dự” mà thôi, theo như quan điểm và cách ứng xử cố hữu của ông:

“Cuối cùng muốn giữ nhân phẩm, duy trì nhân cách và khí tiết, một người tù cải tạo phải biết chấp nhận phần xấu nhất cho đời tù của mình, đó là sẵn sàng ra nằm ở Ðồi Thông (nghĩa địa của tù nhân cải tạo). Sự chấp nhận ấy là chiếc chìa khóa hóa giải bất cứ sự sợ hãi nào.”  (V.Ánh, sđd, 107).

Chính nhờ “sự chấp nhận ấy” nên bạn đồng tù đã nhiều lần “há hốc mồm lắng nghe” khẩu khí của V.A, khi ông thay mặt anh em để đặt vấn đề với ban quản lý trại giam:

Anh sửa micro cho vừa với tầm đứng của mình và bắt đầu nói… “Ông giám thị nói về chính sách nhân đạo khoan hồng rất hay, người tù chúng tôi nghe rất sướng tai, nhưng rất tiếc lời nói và việc làm thường không đi đôi với nhau; người đời thường nói một đàng và làm một nẻo.”Anh nói về chế độ ăn uống… Anh nhấn mạnh về việc cán bộ võ trang đánh tù (chính trị có án). Và sau cùng anh nói về chính sách kỷ luật… Lúc ấy trông anh đẹp quá! Hiên ngang quá! Anh ứng khẩu, giọng chững chạc, đầy uy lực. Cả hội trường há hốc mồm, lắng nghe như uống từng lời nói của anh. (Phạm Đức Nhì. “Vũ Ánh Và Tôi – Chung Một Đoạn Đời”. Việt Báo 03.06.2014)

Không chỉ nói suông mà V.A còn làm những chuyện kinh khủng khác. Cùng với Trần Danh San, Nguyễn Chí Thiệp…, ông thực hiện một tờ báo chui (underground press) khiến cho không chỉ Cục Quản Lý Trại Giam mà đến cả Bộ Công An Việt Nam cũng phải rúng động.

Chuyện làm báovượt trạituyệt thựcchất vấn cán bộ quản giáotổ chức những buổi văn nghệ tù ca … của những tù nhân A-20 có thể làm thành một cuốn phim hấp dẫn, với rất nhiều pha ngoạn mục, cùng những mẩu đối thoại “đôm đốp” rất bất ngờ (và cũng rất khó tin) đã có thể xẩy ra thường xuyên trong một trại kiên giam.

 

Chúng tôi đã có dịp nhắc đến tờ Hợp Đoàn (trong những trang sổ tay trước, cũng trên diễn đàn này) nên xin phép chỉ ghi thêm đôi điều, theo lời của chính những người trong cuộc:

  • Nằm trong cùm bị bớt khẩu phần và nước uống nhưng không phải lao động khổ sai để đổi lại 300 grams thực phẩm mỗi ngày. Nằm cùm, dù bị cắt bớt khẩu phần, có đói đến lả đi, nhưng sẽ không chết trừ phi bị nhiễm kiết lỵ. Ngược lại ở ngoài trại, lao động nặng lại ăn uống thiếu thốn kiểu đó, bị lao phổi có khi lại chết mau hơn không chừng…

      Phân tích và quyết định như thế khiến tôi yên tâm và coi việc nằm    chuồng cọp là một hình thức nghỉ ngơi. Ðó cũng là lý do tại sao giữa vòng vây của an ninh trại giam và những nội gián trong số bạn đồng tù với mình, tôi gấp rút chuẩn bị cùng với một số anh em khác đồng chí hướng cho ấn hành một nguyệt san lấy tên là “Hợp Ðoàn,” một nguyệt san chỉ có một ấn bản viết tay duy nhất và bí mật lưu hành trong trại, nhưng lúc nào chúng tôi cũng chuẩn bị nếu có cơ hội là gởi ra nước ngoài. (Vũ A., s.đ.d, tr.106 -107).  

  • Hợp Đoàn xem như là một thành công, anh em tiếp nhận đọc rất thận trọng và nghiêm túc. Thực chất nội dung vẫn chưa hẳn là một tờ báo đáng giá gì nhưng vì ở trong tù vừa khó khăn vừa nguy hiểm, mỗi lần Ánh hay Cường viết và lên khuôn tờ báo, những anh em thân thiết đều phải canh chừng và tổ chức đánh cờ chung quanh để tránh sự dòm ngó của an-ten, nên công một người thành công của nhiều người. Anh em đọc củng cố bảo vệ nó như người phát hành, vì nếu đổ bể ra thì tất cả đều bị chịu thiệt hại. (Nguyễn C.T., s.đ.d, ch.13).

Nhưng trước sau gì thì cũng “bể” thôi, theo bút ký (Ký Ức Bỏ Quên) của A-20 Nguyễn Thanh Khiết:  

“Cũng vì tờ Hợp Đoàn mà 1983 có gần 60 mạng vào biệt giam … Tháng 10-1986 Alpha, Nguyễn Chí Thiệp, Trần Danh San, Trần Bửu Ngọc, Ngô Văn Ly, Nguyễn Tú Cường, cùng vài đấng máu mặt bị quăng lên xe đưa về trại T20 (Thành Gia Định).

Bọn chèo dứt khoát muốn đào tận gốc rễ tờ báo ‘Hợp Đoàn’. Chính vì thế tại trại giam này, một số các anh được thả từ 1981-82 cũng bị hốt lại, trong đó có mặt những hào kiệt từng làm điêu đứng bọn cai tù ở trại A20, Phạm Đức Nhì, Trần Đức Long, Bùi Đạt Trung, Nguyễn Văn Hiếu, Phạm Chí Thành …”

Tuy nhiên, vào phút chót, đám lãnh đạo Hà Nội (bỗng dưng”) đổi ý. Họ chợt nhận thức được rằng khoác thêm cái bản án chung thân cho những con người đã trải qua gần hết đời mình trong những trại biệt giam (mà không hề nao núng) chả phải là chuyện khôn ngoan.

Thêm một phiên tòa dành cho tờ Hợp Đoàn chỉ giúp cho công luận thấy được rõ hơn sự tàn bạo của chế độ hiện hành, cùng tính chất bất khuất và can trường của những kẻ thuộc bên thua cuộc mà thôi.

Vì sao sách giáo khoa Việt Nam vẫn ‘‘né tránh’’ cuộc chiến biên giới với Trung Quốc ?

RFI Tiếng Việt 

 Ngày 17/02/1979, Trung Quốc mở cuộc tấn công ồ ạt trên toàn tuyến biên giới phía bắc Việt Nam. Cuộc chiến biên giới khốc liệt giữa hai quốc gia « cộng sản » còn âm ỉ kéo dài đến tận năm 1989 tại một số địa điểm. Tuy nhiên, cho đến nay « cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba », theo cách gọi của một số sử gia, vẫn gần như hoàn toàn vắng mặt trong sách giáo khoa môn lịch sử Việt Nam.

RFI.FR | BY RFI TIẾNG VIỆT

Vì sao sách giáo khoa Việt Nam vẫn ‘‘né tránh’’ cuộc chiến biên giới với Trung Quốc ?

Ngày 17/02/1979, Trung Quốc mở cuộc tấn công ồ ạt trên toàn tuyến biên giới phía bắc Việt Nam. Cuộc chiến biên giới khốc liệt giữa hai quốc gia « cộng sản » còn âm ỉ kéo dài đến tận năm 1989 tại một…

Bài viết của Lê Kiên Thành, con trai cố TBT Lê Duẩn: Thế thì phải làm gì?

Bài viết của Lê Kiên Thành, con trai cố TBT Lê Duẩn: Thế thì phải làm gì?

Bởi  AdminTD

Hiếu Bá Linh

15-2-2022

TS. Lê Kiên Thành, con trai cố TBT Lê Duẩn. Nguồn: Dân Trí

Trên Facebook của mình, ông Lê Kiên Thành cho biết, bài viết của ông ban đầu không được đăng, tuy nhiên hôm qua 14-2-2022, báo Dân Trí đã cho đăng sau khi được làm “mềm” đi.

Sau đây là lượt thuật nội dung bài viết của ông Lê Kiên Thành trên báo Dân Trí. Những câu trong ngoặc vuông […] đã bị báo Dân Trí gạch bỏ để làm “mềm” đi.

Bài viết bắt đầu từ văn kiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI (ban hành ngày 16/1/2012).

“Đó là lần đầu tiên, người đứng đầu Đảng (TBT Nguyễn Phú Trọng) đã can đảm thay mặt Đảng thừa nhận những tồn tại, những yếu kém trong Đảng, rằng việc có triệt để chấn chỉnh được sự suy thoái đó hay không sẽ ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng. Đó cũng là lần đầu tiên, khi đứng trước sự lâm nguy, người đứng đầu Đảng thừa nhận sự lâm nguy đó do chính chúng ta tạo ra, chứ không phải do bất cứ “thế lực bên ngoài” nào đe dọa”.

“Tôi đã thật lòng mong rằng, sự can đảm đó của Đảng và Tổng Bí thư (Nguyễn Phú Trọng) sẽ là sự khởi đầu cho một hành động đặc biệt, chấn chỉnh lại Đảng với những suy thoái đã đến mức báo động đỏ”.

“Năm 2016, Đảng khởi xướng chiến dịch chống tham nhũng trên quy mô lớn, thường được người dân gọi là chiến dịch ‘đốt lò’”.

“Mấy hôm trước, khi gặp một vị quan chức đang giữ vị trí rất cao trong Đảng, tôi đã chia sẻ: Những cuộc đốt lò của chúng ta suốt 6 năm qua, nó có thể giảm bớt được sự bức xúc của xã hội, có thể giúp người dân tìm được chỗ để xả cơn giận, nhưng không thể giải quyết được tận gốc rễ những vấn đề thực sự của Đảng”.

“Một cá nhân tham nhũng, chúng ta có thể trừng trị cá nhân đó? Nhưng khi mà sự tham nhũng đó mang tính hệ thống, thì chúng ta phải làm sao với chính hệ thống của mình?

“Cái lò cháy mỗi ngày một to, củi mỗi ngày một nhiều, nhưng ‘những kẻ cơ hội’ vẫn còn đó, nắm giữ những vị trí cao trong Đảng và Chính quyền”.

“… những vụ án đó liên quan đến không chỉ một người, mà liên quan đến nhiều người, nhiều ngành, ở nhiều cấp khác nhau”.

“Năm 2018, Tổng Bí thư (Nguyễn Phú Trọng) từng nói:‘ Dứt khoát không đưa vào quy hoạch những kẻ cơ hội’. Nhưng thực tế là vẫn có không ít kẻ cơ hội đang nắm giữ những trọng trách lớn trong hệ thống của chúng ta”.

“Chúng ta có thể loại bỏ họ ra khỏi hàng ngũ Đảng, điều đó rất đơn giản. Nhưng nếu vứt bỏ thành phần đó mà thay bằng những con người khác, những Đảng viên khác, liệu có gì đảm bảo người sau sẽ tốt hơn người trước?” [Bởi vì khi Đảng là Đảng cầm quyền thì đương nhiên mọi chức vụ trong Đảng sẽ gắn với quyền lực nhà nước và đương nhiên là với vô vàn quyền lợi!]

Trong bài viết, tác giả Lê Kiên Thành cũng đưa ra một thí dụ để dễ hình dung ra gốc rễ của vấn đề:

“Nếu chúng ta có một khu vườn với những cái cây mục ruỗng vì sâu bọ, chúng ta không thể bắt sâu và nhổ đi những cái cây đó là xong, vì mầm bệnh vẫn còn đó, sâu bọ vẫn sẽ tiếp tục sinh sôi. Chừng nào chúng ta chưa thực sự đối diện với nguyên nhân sâu xa nhất, gốc rễ nhất của vấn đề, thì khu vườn của chúng ta không thể ươm ra được những mầm cây tốt. Cho nên, ‘ đốt lò ‘ có thể là việc cần thiết để loại bỏ những kẻ cơ hội trong Đảng, nhưng làm thế nào để ngăn chặn Đảng viên trở thành những kẻ cơ hội, ngăn chặn nguy cơ họ sẽ thành ‘ củi ‘, còn quan trọng hơn nhiều”.

Đặc biệt, phần kết của bài viết bị cắt bỏ hoàn toàn và được thay thế bằng nội dung khác:

[Nếu bạn hỏi tôi: “Thế thì phải làm gì ”. Tôi quá nhỏ bé và sẽ không trả lời được!

Nhưng nếu chúng ta cùng hỏi NHÂN DÂN: “Thế thì phải làm gì?”. Tôi tin sẽ nghe thấy câu trả lời thấu đáo, rõ ràng và vang dội cả non sông này!]

Có lẽ tác giả Lê Kiên Thành dự đoán”tức nước sẽ vỡ bờ”, một cuộc cách mạng tất yếu sẽ nổ ra.

Xem một số trích đoạn trong bài viết gốc (chưa bị làm “mềm” đi) ở đây: https://baotiengdan.com/2022/02/04/bai-bao-khong-dang/

Đất và vài chuyện… chẳng đâu vào đâu!

Đất và vài chuyện… chẳng đâu vào đâu!

Bởi  AdminTD

Blog VOA

Trân Văn

9-2-2022

Qui hoạch Khu đô thị mới Thủ Thiêm. Nguồn: Zing.vn

Công ty Bình Minh – doanh nghiệp giành được quyền sử dụng một trong bốn lô đất mà thiên hạ ví von như… vàng ở Khu Đô thị mới Thủ Thiêm, tại cuộc đấu giá do chính quyền TP.HCM tổ chức hồi trung tuần tháng 12 năm ngoái (1), vừa thông báo… bỏ cọc chứ không trả thêm tiền để nhận quyền sử dụng lô đất họ từng giành nữa (2).

Nói cách khác, ngoài Công ty Ngôi Sao Việt thuộc tập đoàn Tân Hoàng Minh, thêm một nhà đầu tư giành phần thắng trong cuộc đấu giá từng làm rúng động dư luận (giá chấp nhận trả cao hơn giá khởi điểm từ bốn lần đến tám lần) bỏ cuộc. Tuy hai nhà đầu tư còn lại (Công ty Dream Republic và Công ty Sheen Mega) chưa tuyên bố… bỏ cọc nhưng đến nay, cả hai nhà đầu tư chưa nộp thêm đồng nào cho đủ 50% số tiền họ từng cam kết sẽ trả dù đã quá hạn ấn định (6/2/2022) ba ngày!

Khoảng 37.346 tỉ đồng mà chính quyền TP.HCM dự trù thu được từ việc tổ chức đấu giá bốn lô đất đã kể giờ hụt đi khoảng 29.500 tỉ vì mất 24.500 tỉ dự thu từ Công ty Ngôi sao và 5.026 tỉ dự thu từ Công ty Bình Minh. Đó là chưa kể dấu hiệu cho thấy 7.820 tỉ còn lại dường như cũng thuộc dạng tiền… khó thu!

Trước mắt, so khoản thất thu với 734 tỉ tiền cọc mà Ngôi Sao Việt và Bình Minh… cúng dường do đơn phương hủy hợp đồng, rõ ràng là chẳng thấm vào đâu, đặc biệt là những thiệt hại khó có thể lượng định từ việc trả giá rất cao rồi bỏ đối với kinh tế – xã hội cũng như lần tổ chức đấu giá sắp tới!

Nếu sau đấu giá, hệ thống công quyền không yêu cầu một số ngân hàng giải trình về quan hệ với các doanh nghiệp tham gia đấu giá (đã cho vay hoặc hứa cho vay bao nhiêu, mục đích các khoản vay là gì, có phân loại chi tiết về nợ gốc, nợ lãi, kèm phân tích kế hoạch – khả năng trả nợ, phía hỏi vay có nợ xấu – nợ khó trả hay không,...) (3)…

rồi một số viên chức hữu trách không đồng loạt cảnh báo về tình trạng một số doanh nghiệp vay mượn tứ tung, từ ngân hàng đến phát hành giấy mượn nợ (trái phiếu doanh nghiệp), nợ cao gấp nhiều lần vốn thực có, cho nên yêu cầu tổ chức kiểm tra những doanh nghiệp có liên quan trên thị trường chứng khoán…

… thì chắc chắn đã không có chuyện thi nhau đơn phương hủy hợp đồng. Nhà đầu tư bỏ cọc khiến ngân sách mất vài chục ngàn tỉ nhưng không biết sợ, không yêu cầu, cảnh báo và hành động như vừa đề cập, bong bóng sẽ nổ, hậu quả đối với kinh tế – xã hội – dân sinh chắc chắn sẽ trầm trọng hơn nhiều.

Tiền hung hậu cũng… hung đối với cuộc đấu giá bốn lô đất ở Khu Đô thị mới Thủ Thiêm nhắc thêm, gần như toàn bộ nguồn lực của quốc gia, cả công lẫn tư vẫn chỉ có một chỗ để dốc vô và trông vào là bất động sản. Sự nghiệp bạo phát không nhờ trí lực hay tâm lực mà phụ thuộc vào việc có liều và có giỏi mượn đầu heo nấu cháo hay không!

***

Theo báo chí Việt Nam, báo cáo tài chính năm 2021 của Vingroup cho thấy, năm vừa qua, tập đoàn này lỗ khoảng 7.500 tỉ đồng. Vingroup là một doanh nghiệp đa ngành nhưng trừ bất động sản, các lĩnh vực khác đều lỗ. Nguồn thu chính của Vingroup vẫn là bất động sản, thu được 78.800 tỉ, tương đương 63% tổng doanh thu (5).

Vingroup đã tuyên bố từ bỏ việc sản xuất xe hơi chạy xăng – một trong những quyết định đầu tư từng khiến cả chính quyền lẫn nhiều người Việt… phấn chấn, tự hào vì cuối cùng, dường như cũng đã có doanh nghiệp Việt Nam chọn công nghệ như một hướng phát triển sự nghiệp.

Ngoài Vinfast (thương hiệu xe hơi của Vingroup), doanh nghiệp này còn tuyên bố sẽ sản xuất nhiều thứ có dáng dấp hiện đại như điện thoại thông minh, TV thông minh,… và các con đường được hỗ trợ khai phá để trở thành đại lộ đó đều sớm là… đường cụt. Năm 2021, hoạt động sản xuất của Vingroup tạo ra khoản lỗ là 23.948 tỉ – hơn một tỉ Mỹ kim.

Nếu không nhờ bất động sản, Vingroup không thể trở thành doanh nghiệp nổi đình, nổi đám và đến giờ, nếu không có bất động sản để dựa vào, khó mà biết được Vingroup sẽ đi đâu, về đâu. Việt Nam có nhiều doanh nghiệp nhờ đất đai, bất động sản mà bạo phát như Vingroup nhưng có quốc gia nào chỉ phát triển, vững bền nhờ đất đai và bất động sản (?).

***

Cách nay khoảng bốn năm (5/2018), Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn thuộc Tổng cục Thuế thời điểm đó là ông Nguyễn Văn Phụng, cảnh báo: Chúng ta đang sống bằng đất. Bán đất để ăn. Ăn hết phần của con cháu trong tương lai (6). Bao nhiêu trong tỉ lệ tăng trưởng hàng năm – nền móng của tự hào là từ đất và bao lâu nữa thì… xong?

Tại sao tôi phản biện?-Nguyễn Hưng Quốc

Tại sao tôi phản biện?- Báo Tiếng Dân

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Hưng Quốc

16-2-2022

Lý do chính khiến tôi hay phê phán chính quyền trong nước xuất phát từ việc không đồng ý với vô số các chính sách đối nội và đối ngoại của họ, đặc biệt, trong quan hệ với Trung Quốc. Từ các chính sách ấy, toát lên một điều: Họ không biết cách lãnh đạo, không có khả năng lãnh đạo. Đó là điều mà rất nhiều học giả nghiên cứu về Việt Nam trên thế giới đều đồng ý: Đảng cộng sản chỉ biết cai trị chứ không biết lãnh đạo. Để cai trị, rất đơn giản, chỉ cần ba thứ: Công an, quân đội và nhà tù. Để lãnh đạo, người ta cần cái đầu và con tim. Cái đầu để biết nhìn xa, nghĩ rộng; và con tim để biết bao dung với những cái khác, từ đó, tạo nên sức mạnh bằng sự đồng thuận chung trong xã hội. Hơn nữa, lãnh đạo cũng cần rất nhiều kiến thức và kỹ năng cũng như một số đức tính phù hợp với một văn hóa chính trị dân chủ lành mạnh.

Thiếu khả năng lãnh đạo, Đảng Cộng sản phá hoại nhiều hơn là xây dựng. Đã có nhiều nhà kinh tế học vạch trần: Mảng kinh tế quốc doanh do nhà nước trực tiếp quản lý là mảng lỗ lã nhiều nhất, nợ nần nhiều nhất, và đặc biệt, thối nát nhất. Tất cả những thành tựu về kinh tế của Việt Nam đều đến từ những mảng tư nhân. Để phản ứng lại những sự phê phán của dân chúng trước các thất bại ấy, Đảng Cộng sản lại tăng cường vai trò cai trị bằng các biện pháp khủng bố tàn khốc.

Tuy nhiên, điều tôi phản đối nhất là tính chất độc tôn và độc tài của chế độ Cộng sản. Có nhiều lý do. Lý do đầu tiên, từ cái nhìn của một con người: Nó vô nhân đạo; từ cái nhìn của một công dân: Nó tàn phá đất nước hầu như trên mọi mặt, không những chỉ về kinh tế mà còn về xã hội, văn hóa, giáo dục và đạo đức; từ cái nhìn của một trí thức: nó ngu dân hóa; từ cái nhìn của một người cầm bút: nó giành độc quyền viết lịch sử một cách gian trá.

Tôi không có tham vọng cứu dân chúng, đất nước và nhân tính, tôi chỉ muốn làm một điều trong phạm vi khả năng và sở trường của mình: Quyết giành cho được cái quyền được góp phần tạo nên những tự sự (narrative) khác. Bằng chính ngòi bút của mình.

Trần Danh San – Tưởng Năng Tiến

Trần Danh San – Tưởng Năng Tiến

Sổ Tay Thường Dân – Tưởng Năng Tiến

Nơi chương 33, trong cuốn Đèn Cù I (Trần Đĩnh, Người Việt Books 2014) tôi đọc được câu: “Bị đánh đuổi sau Nhân văn – Giai phẩm, Nguyễn Mạnh Tường đói quá – có lần lả đi ở đường Trần Hưng Đạo…”

Bộ thiệt vậy sao?

Thiệt chớ! Chính người trong cuộc cũng khẳng định vậy mà:

“Chúng tôi có một con chó do bạn bè cho. Nó rất khôn và chúng tôi yêu nó lắm. Nhưng nó đã già và chúng tôi không còn khả năng mua cho nó thịt và những thức ăn tăng sức, nó không còn sức đứng lên trong chuồng, ngẩng đầu nhìn tất cả chúng tôi, với một ánh mắt tin yêu của loài vật, chắc chắn với những dòng nước mắt và một nỗi buồn sâu thẳm vì đã đến lúc phải rời chủ. Chúng tôi bật khóc khi nó nấc những hơi thở cuối cùng…” (Nguyễn Mạnh Tường, Un Excommunié – Hanoi, 1954 -1991: Procès d’un intellectuel. Trans Nguyễn Quốc Vĩ – Kẻ Bị Mất Phép Thông Công Hà Nội, 1954-1991: Bản Án Cho Một Trí Thức).

Ủa! Sao luật sư ở bên Tây về (với hai cái bằng tiến sỹ lận) mà đói dữ vậy cà?

Theo nhiều người thì vì Nguyễn Mạnh Tường có “dây dưa” với nhóm Nhân Văn nên bị trừng trị. Cũng không ít kẻ nghĩ rằng ông bị chế độ hiện hành “chôn sống” vì đã trót dại lên tiếng (“Qua Những Sai Lầm Trong Cải Cách Ruộng Đất – Xây Dựng Quan Điểm Lãnh Đạo”) trong một phiên họp của Mặt Trận Tổ Quốc, vào hôm 30 Tháng Mười, 1956.

Thực ra, số phận của Nguyễn Mạnh Tường (nói riêng) và đám luật sư miền Bắc (nói chung) đã được “an bài” trước đó:

 “Ngày 17-11-1950, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 158-SL, quyết định việc bổ sung cán bộ công nông vào ngạch thẩm phán và thăng bổ các thẩm phán toà án nhân dân huyện lên toà án nhân dân tỉnh… Từ đây, theo ông Vũ Đình Hòe: ‘các thẩm phán huyện, đa số là đảng viên cộng sản, chỉ qua lớp chính trị và nghiệp vụ’. Quan điểm lựa chọn thẩm phán chủ yếu ‘đứng trên lập trường nhân dân’ của Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng lâu dài đến nền tư pháp Việt Nam.” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, USA: 2012).

Muốn biết cái nền tư pháp công nông hóa của bác Hồ “ảnh hưởng lâu dài” ra sao, xin xem qua dáng điệu và cử chỉ của một vị thầy cãi (được “mời bào chữa” cho ông Hoàng Minh Chính) sau khi nhân vật này bị bắt lại, vào năm 1996:

“Hôm xử Chính tôi không ra đứng ở cổng toà mà đến Hồng Ngọc tối trước. Đang trò chuyện thì ông luật sư K. gia đình mời bào chữa cho Chính đi vào. Một cái bóng lúp xúp. Cụp vai, cúi đầu thì thào dăm ba câu, cái dáng sợ bị nghe trộm, nhòm trộm. Tuy nhớn nhác nhưng ông trung thực, trước sau chỉ khe khẽ chối (nhưng lại gắt): Tôi không cãi được… ý gia đình như thế thì không cãi được đâu.

Hà, con gái cả Chính kêu lên: Thế thì im hả bác? Lúng túng giây lát ông luật sư lại gắt giọng nhưng vẫn thì thào: Không cãi được mà. Tôi hỏi thế nghĩa là gia đình nhận tội thì cãi được? Ông nói: Đã nhận thì cần gì cãi. Rồi lúp xúp đi ra. Ông biết trong bóng tối quanh đây đầy những con mắt lúc này đang theo dõi chặt. Rồi máy ghi âm. Có khi chụp ảnh nữa. Qua tư thế ọp ẹp, ông cố để lộ rõ ông đầu hàng Nhà nước.” (T. Đĩnh, s.đ.d., tập II, chương 27).

Giới luật sư ở miền Nam thì không thế: không “nhớn nhác,” không “lúp xúp,” không “cụp vai,” không “thì thào” gì sất. Đã thế, họ còn nói rất to (“bằng loa phóng thanh”) cho cả bàn dân thiên hạ nghe luôn:

Sau sự kiện giới trí thức Tiệp Khắc ban hành Hiến Chương 77 chống lại nhà cầm quyền Cộng Sản Tiệp Khắc, tại Sài Gòn, trong vòng đai lửa của chế độ mới, hai Luật Sư Trần Danh San và Triệu Bá Thiệp không thể im lặng. Cả hai đồng hoàn thành văn bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Việt Nam Khốn Cùng”

Hai anh và nhóm trí thức bất khuất gồm hơn mười luật sư, giáo sư, kỹ sư trước 1975 hành nghề tại Huế và Sài Gòn đã hẹn nhau chia làm hai ngã tiến theo hai đường tập trung trước Nhà Thờ Ðức Bà vào chiều ngày 23 Tháng 4, 1977. Trần Danh San dùng cái loa phóng thanh qua một máy ghi âm nhỏ đọc lên bản ‘Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người Việt Nam Khốn Cùng’ đến cùng đồng bào Sài Gòn, cũng của miền Nam lẫn miền Bắc đang mong chờ lần phục sinh từ bãi lầy cộng sản…

Trong trại giam Phan Đăng Lưu anh nhận đòn tứ trụ với sức chịu đựng tưởng chừng như không thực: Với thân hình cao không quá “một thước-sáu” nhận đòn đánh hội đồng từ bốn tên lực lưỡng chuyên nghiệp tra khảo người.

Sau những trận đòn chạm tới điểm chết, sau những tháng kiên giam nơi hầm tối của anh, viên cán bộ trưởng trại Phan Đăng Lưu có câu hỏi: Anh có ngừng chống đối không? Trần Danh San trả lời chắc chắn: Chống đối là điều tất nhiên! Câu trả lời được nhiều bạn tù nơi Phan Đăng Lưu năm ấy hiện nay đang cư trú tại vùng Nam Cali nghe rõ.  (Phan Nhật Nam. “Trần Danh San, Tiếng Hò Khoan Đã Tắt”)…

Chưa hết đâu!

Sau đó, khi ở A20 – nơi còn được A-20 Nguyễn Chí Thiệp mệnh danh là Trại Kiên Giam – Trần Danh San còn tham gia vào việc làm báo chui (underground press) nữa kìa:

Anh đã chấp nhận đánh đu với tử thần để vừa cung cấp cho mọi người những thông tin cập nhật, những bài viết giúp họ mở mang kiến thức, kiên định lập trường, vừa giữ vai trò điều hợp một số hoạt động đấu tranh ở trong trại.

Sau khi Vũ Văn Ánh bị cùm trong xà lim rồi bị tuyên phạt ‘biệt giam vô thời hạn’, tôi được chỉ định làm ‘thư ký tòa soạn’ cho tờ báo. Nhiệm vụ của tôi là tuyển chọn bài, sửa chữa chút đỉnh chính tả, văn phạm rồi giao cho Hải Bầu, Ngọc Đen lên khuôn; sau đó tôi kiểm soát lại lần cuối và phát hành. Trần Danh San kín đáo giao cho tôi một bài viết rất hay: Vì Sao Chúng Ta Tranh Đấu. Tôi đã giao cho Hải Bầu, Ngọc Đen đăng trong Hợp Đoàn số 4. Bài viết được nhiều anh em tù, đặc biệt là những anh em tù chính trị có án, ưa thích. (Phạm Đức Nhì. “Nén Nhang Cho Một Anh Hùng”).

Đến tờ Hợp Đoàn số 5 thì cả đám lần lượt … vô cùm. Riêng Vũ Ánh, Trần Danh San, Nguyễn Chí Thiệp thì bị cùm hơi lâu khiến A-20 Nguyễn Thanh Khiết đâm ra sốt ruột và xót ruột: 

Sáu năm biệt giam
ba muỗng nước, ba muỗng cơm
chưa lần lung lay ý chí
một đời anh – một đời sĩ khí
bước thấp, bước cao cắn nhục mà đi
ngọn bút hiên ngang
thay làn tên mũi đạn
giữa trại thù nét mực chưa phai

Dù thế, dù “sáu năm biệt giam/ ba muỗng nước/ ba muỗng cơm” nhưng Trần Danh San vẫn không hề nao núng:

 “Tôi nhớ trại trưởng phân trại E của A-20, Lê Đồng Vũ mà chúng ta gọi là Tư Nhừ vì hắn mang lon thiếu tá công an, giọng lúc nào cũng nhừa nhựa như thằng say rượu, không biết nó sẽ rút cây K-54 ra bắn mình lúc nào, hỏi khích…: ‘Thế nào, anh San còn bẻ gậy chống trời nữa không’. Trần Danh San đáp tỉnh bơ: ‘Tất nhiên, cán bộ.’ Câu chuyện về bạn có thể viết được một cuốn tiểu sử rất dày về đời tư, đời công và đời tù của một nhà tranh đấu.”  (Vũ Ánh. “Bài Điếu Văn Cho Trần Danh San Một A-20 Vừa Ra Đi Vĩnh Viễn”).

Sao Trần Danh San lại quyết liệt và ngang tàng đến thế?  

Câu trả lời có thể tìm được qua câu tâm sự của chính ông với một người bạn đồng tù:

“Phải cho thế hệ sau biết để các em, các cháu có thêm nghị lực, dũng khí đi tiếp con đường chúng ta đi.”

Với ít nhiều chủ quan, tôi tin rằng không ít quí vị luật sư của thế hệ đến sau (Đặng Đình Bách, Nguyễn Văn Ðài, Lê Công Ðịnh, Võ An Đôn, Lê Trần Luật, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân, Nguyễn Bắc Truyển …) đều đã được thừa hưởng cái “dũng khí” từ những người đi trước như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Danh San…

Tưởng Năng Tiến
2/2022

Ngày Xuân: Viết về chuyện Đà Nẵng chưa ai kể

Ngày Xuân: Viết về chuyện Đà Nẵng chưa ai kể

Võ Hương An

Khi bắt tay viết về lịch sử Đà Nẵng, tôi thực không ngờ rằng cái vùng đất nhỏ bé này lại có nhiều chuyện lý thú , rất đáng để bỏ công tìm hiểu đến thế, và do đó , việc này đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm, nhiều gắn bó với đất với người của một miền đất nước đã nuôi gia đình tôi trong hơn hai mươi năm …Chẳng hạn chuyện Đảo Cô và chuyện Quan lớn Bảo hộ…

 Đảo Cô ở đâu?

Sau cuộc nổ súng thị uy của hai tàu Pháp là Gloire và Victorieuse tại vịnh Đà Nẵng vào ngày 15-4-1847, vua Thiệu Trị ra lệnh tăng cường phòng thủ Đà Nẵng bằng bảy pháo đài xây dựng ở bán đảo Sơn Trà với tên gọi là Trấn dương Thất bảo.

Trong bảy pháo đài đó, theo Đại Nam Nhất Thống Chí (quyển Quảng Nam) thì đảo thứ hai được đặt trên đảo Cô với tường cao 4 thước 3 tấc (chừng hơn 2m) và chu vi 41 trượng (164m).  Khi đọc được những dòng này, tôi tự nhủ:  Ủa, trong vịnh Đà Nẵng mà cũng có một hòn đảo tên là đảo Cô sao??  Sao mình không thấy mà cũng không nghe ai nói tới?  Bèn vội vã đi tìm bản đồ để xác định vị trí, nhưng thất vọng vì chả thấy gì cả.  Lại đoán già đoán non rằng hẳn bản đồ mình sử dụng có tỷ lệ nhỏ (1/100,000) mà hòn đảo cũng không lấy gì làm lớn nên chẳng có dấu vết nào, bèn đi kiếm bản đồ có tỷ lệ lớn hơn (1/25,000) với hy vọng sẽ tìm ra cái hòn đảo lần đầu tiên mới được nghe tên đó.  Lại thất vọng.Từ đó tôi bắt đầu một cuộc truy tầm bằng mọi phương cách, vừa tìm tài liệu và bản đồ để đọc thêm, vừa phỏng vấn những người lớn tuổi ở địa phương khi có dịp, với hy vọng nắm bắt được một manh mối nào đó.

Hơn một năm trời trôi qua trong vô ích.  Một hôm, vì nhiệm vụ, tôi phải tiếp xúc với hai nhân chứng, cụ Nguyễn văn Trách và cụ Đỗ Trọng Khai tự Bút, vốn là hào lão của làng An Hải, đều thuộc dòng dõi đã lập nghiệp ở địa phương từ trước đời Gia Long (1802-1820).  Xong việc giấy tờ, tôi cầm hai ông cụ nán lại một chút và mở cuộc mạn đàm bỏ túi:

– Hai cụ ở đây lâu, vậy có biết trong vịnh Đà Nẵng có hòn đảo nào tên là đảo Cô không?

– Biết chớ.  Đảo Cô là cái hòn đảo nho nhỏ nằm ở Sơn Trà chớ đâu.

Nói làm sao cho xiết nổi ngạc nhiên và sung sướng của tôi lúc đó.Tôi thầm đùa với chính mình: sao mà hên thế, đào đất cầu âu mà lại trúng ngay mạch vàng.  Tôi vội vã mang bản đồ Đà Nẵng trãi ra bàn, tay chỉ miệng nói:

– Đây là Đà Nẵng của mình đây.  Làng An Hải của hai cụ đây nè…Vịnh Đà Nẵng là đây…Sơn Trà là đây…Vậy chớ cái đảo Cô mà hai cụ nói nằm ở mô?

Cụ Khai lần ngón tay trên bản đồ rồi dừng lại ở vị trí Bộ chỉ huy Hải khu I ( Trại Chương Dương, trước 1975) và nói: “Nó đây nè” và đưa mắt nhìn cụ Trách như tham khảo ý kiến.  Ông này gật đầu: “Đúng rồi đó”  Tôi buột miệng hỏi:

– Đảo đâu mà đảo, chỗ này nối với đất liền mà.

– Thì nó nguyên là hòn đảo nhưng theo ông tôi kể lại thì vua Gia Long cho đắp một con đường nhỏ bằng đá để tiện đi lại canh phòng, sau Tây đắp rộng thêm, rồi Mỹ lấp vịnh thành đất liền, làm sao thấy ra hòn đảo nữa.

À ra thế!  Từ đầu mối đó, kết hợp với những tài liệu của Tây, ta, tôi có thể vẽ ra lý lịch của đảo Cô như sau:  ở phía Tây chân núi Sơn Trà có một mõm đất nhô ra khá lớn, dân địa phương gọi là núi Mõ Diều, Đại Nam Nhất Thống Chí gọi là đảo Mõ Diều.  Phía Nam của Mỏ Diều , cách một vịnh nhỏ, có một hòn đảo con nằm trơ trọi một mình, đó là đảo Cô.

Từ đời Gia Long , vua cho đắp một con đường đá nối đảo Cô với chân bán đảo Sơn Trà để tiện đi lại canh phòng.Đời Thiệu Trị đã xây một pháo đài trên đó, thuộc hệ thống Trấn dương Thất bảo.

Trong cuộc xâm lăng Đà Nẵng vào các năm 1858-1860, Pháp đã chiếm đảo này, đặt tên là l’Îlot de l’ Observatoire (đảo Quan sát), thường gọi tắt là l’Îlot  (xem hình).  Công binh Pháp đã cho phá hũy pháo đài của vua Thiệu Trị và xây một pháo đài khác, đặt tên là Fort de l’Observatoire (Pháo đài quan sát), đồng thời họ cũng đắp rộng thêm con đường đá cũ để tiện đi lại.Vị trí này, trước 1975, là Bộ Tư lệnh Hải khu I (Trại Chương Dương).  Năm 1965, công binh Hoa Kỳ đã lấp cái vịnh nhỏ, nồi liền đảo Cô và núi Mỏ Diều, thành ra không còn dấu vết gì  để nhận ra đó là một hòn đảo nữa.Quả thật là chuyện vật đổi sao dời, đời nào cũng có.

Chuyện Quan lớn Bảo hộ

Vụ giúp xác định đảo Cô  là bước mở đầu mối giao tình giữa tôi và các cụ Trách,   cụ Bút nói riêng và làng An Hải nói chung, từ đó dẫn đến những khám phá lý thú khác.

Sau lần tiếp xúc với các cụ tại chỗ làm việc, thời gian sau, cho đến ngày tan hàng rả đám năm 1975, những lúc rảnh rổi, từ cư xá nằm ở ngã tư Độc lập-Thống nhất, tôi thường thả bộ xuống bến phà máy Sông Hàn để qua làng An Hải thăm hỏi, chuyện trò cùng các cụ, nhất là cụ Bút, vì tôi đoán rằng còn có thể học hỏi nhiều ở các cụ nữa.  Ngay lần viếng thăm đầu tiên, tôi hỏi cụ Bút:

– Làng An Hải có di tích gì cổ xưa không cụ?

– Có chớ.  Có lăng Quan lớn Bảo hộ mà làng thờ làm hậu hiền , hàng năm cúng tế đàng hoàng vì ngài rất có công với làng.

Tôi ngạc nhiên:

– Ủa, Quan lớn Bảo hộ là ai?  Cụ có biết ngài húy là chi không?  Nếu biết được thì nói để tôi tra cứu trong sử sách coi sự nghiệp của ngài ra sao.

– Ờ, tôi vô tâm quá.cứ theo ông bà đời trước mà gọi, chưa bao giờ hỏi cha tôi hay ông tôi  ngài húy là chi, nhưng theo đời trước truyền lại thì ngài làm quan lớn lắm…À, thầy   có đọc được chữ Nho (Hán) không?  Trong giấy tờ do ông tôi để lại, có tờ trát của quan lớn Bảo hộ gởi cho làng, rồi làng giao cho ông tôi giữ, có chức tước của ngài nhưng không có húy.  Để tôi lục cho thầy coi, may ra biết ngài là ai.

Tôi đáp:

-Vâng, thế thì tốt quá.  Chữ Nho tôi chỉ đọc được lõm bõm nhưng tôi có ông bác thông Nho lắm, thành ra cụ khỏi lo.

Sau một hồi lục lọi trong chiếc rương gỗ mộc, cụ Bút lôi ra một tờ giấy bản sờn rách nhiều chỗ ngoài mép và đưa cho tôi.  Đọc lõm bõm, tôi tạm hiểu rằng tờ giấy này là một tài liệu hiếm, có liên quan đến Thoại Ngọc Hầu.  Tôi ngỏ ý xin mượn, cụ đồng ý ngay.

Về nhà, tôi vội lấy xe đi đến nhà cụ Nguyễn Văn Luân, Đốc sự thượng hạng hưu trí, bạn của nhạc gia tôi, mang theo tài liệu chữ Hán vừa mượn được.  May mắn, ông cụ không đi chơi tài bàn, đang nằm nhà đọc sách.Chìa tờ giấy ra, tôi nói:

– Nhờ bác đọc và dịch cho con tài liệu này.  Con cần lắm.  Bác đọc từ từ thì con ghi chép được.

Cụ Luân cầm tờ giấy liếc qua, đoạn nhìn tôi rồi hỏi:

– Tài liệu này hiếm lắm đây.  anh moi đâu ra vậy?

Sau khi nghe tôi thuật sơ về xuất xứ, ông già hắng giọng:

– Nghe đây này:

“Khâm sai Thống chế án thủ Châu Đốc Đồn, lãnh bảo hộ Cao Miên Quốc ấn, kiêm quản Hà Tiên Trấn biên vụ, gia nhất cấp, kỷ lục tứ thứ, quan …

“Vì trát tri sự …“

Thì ra đó là tờ trát của Khâm sai Thống chế Thoại Ngọc Hầu  Nguyễn Văn Thoại, bấy giờ đang trấn thủ Đồn Châu Đốc, lãnh nhiệm vụ bảo hộ nước Cao Miên (thuộc địa của Việt Nam dưới triều Minh Mạng) và kiêm luôn chức Trấn thủ Hà Tiên, gởi cho xã trưởng và hào mục xã An Hải, bày tỏ sự ủng hộ nguyện vọng của bảy xã thuộc tả ngạn sông Hàn ( An Hải, Mỹ Khê, Hóa Khuê, Mỹ Thị, Phước Trường, Tân An, Nam An) muốn đoàn kết lập chợ để chống lại sự cạnh tranh của xã Hải Châu.  Tờ trát đề ngày 20 tháng Tư năm Minh Mạng thứ 8, nhằm 15-5-1827 (xin xem hình).

Ảnh chụp tờ trát của Thoại Ngọc Hầu gởi cho hào mục làng An Hải, Đà Nãng (Ảnh của tác giả)

Phát giác này làm tôi ngạc nhiên muốn bật ngữa.  Tôi cảm ơn cụ Luân và chỉ nói “Thật con không ngờ Thoại Ngọc Hầu lại là người quê ở An Hải, Đà Nẵng”.  Thật sự thì tôi rất xúc động điều vừa khám phá, vì Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại là một khuôn mặt lớn trong lịch sử.Ông là một khai quốc công thần của vua Gia Long, tầm cở với Tả quân Lê Văn Duyệt và Trung quân Nguyễn Văn Thành, được phong tước Thoại Ngọc Hầu, là người có công khai phá miền Hậu giang, là người đã chỉ huy việc đào kinh Vĩnh Tế, nối liền Hà Tiên và Châu Đốc, một công trình vĩ đại khiến vua Minh Mạng rất đẹp ý, nên đã lấy tên vợ Bảo hộ Thoại (Châu Thị Vĩnh Tế) để đặt tên cho con kinh, lại cho khắc hình kỷ niệm vào Cao đỉnh, là đỉnh số 1 trong Cửu đỉnh của Thế miếu.  Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, Châu Đốc, đâu đâu cũng có dấu vết của ông.  Người ta tôn thờ và biết ơn ông.  Nếu có dịp đến những nơi này, nhất là Châu Đốc, bạn sẽ thấy được Quan lớn Bảo hộ hay Bảo hộ Thoại đã để lại dấu ấn tại những địa phương đó như thế nào.

Chính vì ông đã để lại một huân nghiệp như thế nên giáo sư Nguyễn Văn Hầu đã bỏ công trong hai mươi năm sưu tập tài liệu để viết cuốn “Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang”, một tác phẩm biên khảo công phu, có giá trị về mặt nhân văn và lịch sử.   Tôi còn nhớ (hiện giờ tôi không có sách đó trong tay) trong chương viết về dòng dõi Thoại Ngọc Hầu, khi nói đến quê quán , tác giả chỉ ghi Nguyễn Văn Thoại là người tổng An Lưu, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, với  lời chú thích, đại khái là mặc dầu đã bỏ công trong hai mươi năm để sưu tầm tài liệu (sử sách, gia phả, bi ký, bằng sắc …) nhưng ông cũng không thể xác định được Nguyễn Văn Thoại là người thuộc làng nào, xã nào của tỉnh Quảng Nam.  Cái điều giáo sư Nguyễn Văn Hầu săn tìm trong hai mươi năm mà không gặp, nay bỗng nhiên lại tình cờ ở trong tay tôi.

Vài hôm sau, được lúc rảnh rổi, tôi lại thả bộ qua An Hải gặp lại cụ Bút.  Tôi nhập đề ngay:

– Cụ ơi, tôi biết được húy của ngài rồi.  Quan lớn Bảo hộ của làng An Hải thật ra lớn lắm , tầm cở quốc gia chứ không phải riêng chi làng An Hải đâu…

– Đâu? Đâu?  Chuyện ra răng , thầy làm ơn kể cho tui nghe coi.

Tôi trả lại tờ trát và kể lại sự tích Thoại Ngọc Hầu.Có thể từ bao lâu nay làng An Hải cảm thấy hãnh diện về Thoại Ngọc Hầu như là một thân nhân làm lớn chứ chưa biết hết cái huân nghiệp của ông đối với một miền hoang dã nhưng trù phú của đất nước.  Do đó, trong câu chuyện, tôi nhấn mạnh về điểm này và ghi nhận ông cụ rất xúc động.  Ông dẫn tôi đi coi đình thờ (thờ chung các hậu hiền của làng) đang được tu sửa và than phiền rằng ngân khoản eo hẹp quá, chỉ làm sơ sơ thôi chứ chưa đúng mức như ý muốn.  Tôi góp ý:

– Cụ à, Quan lớn Bảo hộ không phải là một danh nhân của riêng chi làng An Hải mà còn chung cho cả Quảng Nam –Đà Nẵng nữa.  Tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng phải hãnh diện có một danh nhân như vậy, nên việc tu sửa này chính quyền cũng phải góp phần giúp đỡ.  Cụ và các cụ hương lão cùng ban hội tề nên có kế hoạch  quyên góp mở rộng để có được ngân khoản dồi dào hơn hầu việc trùng tu được tới nơi tới chốn.Nếu các cụ làm thì tôi xin giúp một tay, chẳng giàu có chi để giúp tiền giúp bạc, nhưng sẽ giới thiệu các cụ đến những nơi hằng tâm hằng sản, những nơi mình có thể gõ cửa được.

Đề nghị này về sau đã được các cụ thực hiện và Chương Trình Khuếch Trương Đà Nẵng và Vùng Phụ Cận, do anh Nguyễn Hà Hải làm Tổng Giám đốc, là thành phần chủ lực đã giúp đỡ hoàn thành ngôi đình khá bề thế.

Ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên các cụ có đề cập đến lăng Quan lớn Bảo hộ.  Nhờ đọc tác phẩm biên khảo của học giả Nguyễn Văn Hầu mà tôi biết rằng không thể có lăng của Thoại Ngọc Hầu ở An Hải, nhưng để kiểm chứng đó là lăng của ai thì mãi về sau mới có dịp.

Có dính một chút vào việc biên khảo nên tôi rất thông cảm với học giả Nguyễn Văn Hầu về nỗi buồn khi không tìm được tài liệu như ý và niềm vui, có khi còn sướng hơn bắt được vàng,  khi tìm được cái muốn tìm hoặc phát hiện ra những tài liệu chưa hề được công bố.Do đó, khi nắm trong tay thông tin và tài liệu mới mẻ về Thoại Ngọc Hầu  tôi đã viết một bài (lâu ngày quên mất nhan đề) định gởi cho bán nguyệt san Bách Khoa, nhưng rồi cứ phân vân mãi:  nên chăng, đăng báo “lấy tiếng”, hay là cung cấp tài liệu cho giáo sư Nguyễn Văn Hầu để ông có thể bổ sung tác phẩm được đầy đủ hơn, như vậy mới là thực sự cảm thông nghiệp cầm bút, dù chưa hề quen biết.  Một hôm, nhân công tác ở Huế, nghe nói giáo sư bảo trợ của tôi lúc đó là giáo sư Nghiêm Thẩm đang có giảng khóa ở Đại học Văn Khoa Huế, tôi đến cư xá thăm và hỏi ông:

– Em biết thầy quen ông Nguyễn Văn Hầu.  Vậy thầy có thể vui lòng cho em xin địa chỉ của ông ta được không?

-Anh xin địa chỉ của ông Hầu để làm gì?

Tôi lược thật câu chuyện và nói muốn liên lạc để cung cấp cho ông những thông tin  và tài liệu  vừa khám phá vì thấy ông đã đầu tư quá nhiều công sức vào tác phẩm mà vẫn chưa vừa ý, nên rất thông cảm.  Giáo sư Thẩm ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:

– Theo tôi, anh nên gởi bài cho Bách Khoa.

Trở lại Đà Nẵng, tôi gởi bài.  Tôi còn nhớ trong phần kết thúc có để lời nhắn  đại khái rằng nếu đọc bài này mà tác giả “Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang” muốn biết thêm chi tiết thì xin liên lạc với tôi theo địa chỉ…, tôi sẵn sàng trả lời.

Bài gởi đi chừng mươi ngày thì tôi nhận được thư, không phải của Bách Khoa mà là của giáo sư Hầu.  Ông cho biết Bách Khoa đã báo cho ông biết về bài báo  và để cho ông được đọc trước khi đăng.  Nhân câu nhắn tin của tôi, ông yêu cầu Bách Khoa tạm hoãn để ông liên lạc với tôi xem sao đã.Ông xin lỗi về việc đó và ngỏ ý mong muốn được tôi hợp tác, giúp đỡ, bằng cách cung cấp những tài liệu và hình ảnh đã và sẽ sưu tập , đồng thời trả lời những câu hỏi liên quan đến quê hương và thân quyến Thoại Ngọc Hầu mà ông thấy chưa được sáng tỏ.Tôi biết ông rất nóng lòng trông hồi âm nên vội trả lời vắn tắt là chấp nhận hết thảy mọi điều ông yêu cầu trong niềm thông cảm của kẻ cầm bút; riêng về hình ảnh và tài liệu, cùng là trả lời những câu hỏi do ông nêu ra thì phải chờ lâu hơn vì tôi cần thời gian để thu thập thêm những chứng dẫn cần thiết, đặc biệt có một số lăng mộ nằm trong khu quân sự thuộc loại mật, không dễ chi chụp hình ngay được.

Thật vậy, ngoài hai sở lăng nằm trên một nỗng đất cao cách nhà cụ Bút không xa mà tôi đã từng được dẫn đi thăm và biết là lăng của ông bà nội Thoại Ngọc Hầu, còn cái lăng mà các cụ nói là lăng của Bảo hộ Thoại lại nằm trong khu vực Tổng kho Đà Nẵng, được canh phòng cẩn mật và dĩ nhiên bảng cấm chụp hình yết la liệt.  Tôi không quen sĩ quan Chỉ huy trưởng nên chưa biết làm thế nào để có thể xâm nhập vùng cấm địa mà khảo sát đây.  Một hôm, nhân đi uống cà-phê với nhà văn Duy Lam (trung tá Nguyễn Kim Tuấn, Quân đoàn I) tôi than thở về cái “kẹt” của mình, và hỏi anh có quen với trung tá X.Chỉ huy trưởng Tổng kho Đà Nẵng không?  Anh cười thoải mái:

-Tay đó tôi quen thân lắm.Để trong tuần này hễ ngày nào thư thả, tôi sẽ điện thoại cho anh biết, chuẩn bị, rồi tôi chở vào đó, gặp anh ta nói chuyện.  Không có gì trở ngại đâu.

Quả như anh Duy Lam dự liệu, tôi đã vào được khu vực Tổng kho Đà Nẵng, khảo sát ngôi lăng cổ, ghi chép và chụp hình thoải mái nhờ sự thông cảm bạn bè.  Và đúng như tôi nghĩ, đó không phải là lăng Quan lớn Bảo hộ mà chính là lăng thân phụ ông ta.

Mấy chục năm đã trôi qua, thật khó mà nhớ hết những gì tôi đã gởi vào Long Xuyên cho giáo sư Hầu.Dĩ nhiên, ông rất sung sướng và cảm động về những gì tôi đã làm cho ông và cho biết với những tài liệu đó ông có thể viết thêm một chương mới để bổ sung cho tác phẩm khi tái bản.  Ngược lại, tôi cũng cảm thấy hoan hỷ vì trên đường đời lại nảy ra một mối giao tình mới.Tôi muốn đứng giữa làm gạch nối Châu Đốc và Đà Nẵng để hai bên, những người còn mang nặng lòng tri ân và tưởng nhớ tới Thoại Ngọc Hầu, có thể gặp gỡ nhau, mở rộng tình tương thân tương ái giữa hai quê hương của cùng một danh nhân.  Bây giờ thì không còn nhớ đã đem việc này ra bàn với các cụ ở An Hải và giáo sư Hầu chưa, nhưng dù rồi hay chưa thì mọi tính toán cũng đều tan theo mây khói trong cơn lốc mùa Xuân 75…

Sinh Nguyễn Tử Trần

Một buổi chiều, khoảng hai giờ, đang ngồi làm việc thì người trực an ninh vào báo có phái đoàn làng An Hải muốn vào gặp.  Tôi nói xin mời vào, và thoáng một chút ngạc nhiên:  sao không nghe cụ Bút nói gì cả?

Phái đoàn gồm có năm vị, trong đó tôi chỉ còn nhớ có hai người là cụ Bút và ông  Trần Văn Mẹo, nghị viên Thành phố Đà Nẵng.  Mục đích của phái đoàn là chính thức cảm ơn tôi và trao tặng bảng “Công Đức Vô Lượng” vì tôi đã có công trong việc giúp trùng tu đền thờ Thoại Ngọc Hầu.  Thôi thì không biết nói làm sao, đành “cung kính  bất như tuân mệnh”, xin nhận lãnh và cảm ơn làng vậy.  Trong câu chuyện, tôi lại nhấn mạnh về tầm vóc của Thoại Ngọc hầu đối với đất nước và nhân đó xin tặng làng cuốn sách của giáo sư Nguyễn Văn Hầu viết về Bảo hộ Thoại để làm kỷ niệm.  Họ đòi phải có con dấu chức vụ và chữ ký của tôi mới chịu nhận, thôi thì cũng chiều lòng.Không biết cuốn sách đó nay làng có còn giữ  không.

Chúng tôi chuyện trò khá lâu và bỗng một vị trong phái đoàn vừa cười vừa nói rằng:

– Thực ra, làng chúng tôi có đến hai danh nhân, mà hai danh nhân này lại đối nghịch nhau.  Quan lớn Bảo hộ là danh nhân thuộc phe chiến thắng, tiếng tăm lừng lẫy, sử sách ghi chép nên ai cũng biết;  còn ông kia là danh tướng thuộc phe chiến bại, không ai dám nhắc tới, lâu ngày rồi quên luôn.

Tôi ngạc nhiên quá đổi:

– Xin cho biết là ai vậy?

– Là tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu đó.  Ông Trần Quang Diệu cũng là người làng An Hải chớ đâu, nay con cháu vẫn còn.  Như ông nghị viên Trần Văn Mẹo đây là thuộc dòng dõi tướng Trấn quang Diệu đó.

Tôi ngạc nhiên thiếu điều bật ngữa.  Lòng tự nhủ: sao mảnh đất An Hải nhỏ bé hiền hòa vậy mà lắm chuyện ly kỳ đến thế!  Thoại Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại, danh tướng khai quốc công thần của Nhà Nguyễn người làng An Hải, mà viên dũng tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu cũng người làng an Hải!  Tướng Trần Quang Diệu cùng vợ là nữ tướng Bùi Thị Xuân đã từng nhiều phen làm vất vả điêu đứng quân của Nguyễn Vương (vua Gia Long sau này), gây cản trở lớn trên bước đường tiêu diệt Tây Sơn.  Vì vậy, khi bắt được cặp vợ chồng anh hùng đáng sợ này, nhà vua không những hành hình họ mà còn tàn sát thân nhân của họ bằng án tru di tam tộc.Theo lời kể của ông nghị viên Trần Văn Mẹo, khi nghe tin dữ ở kinh đô Huế, có người đã vội vã về ngay làng An Hải báo tin cho họ Trần biết để tìm cách lánh nạn trước khi lệnh truy nã đến.Nhờ hương lý và dân làng đều có cảm tình với họ Trần nên đã giúp một số gia đình đào thoát khỏi làng, thay tên đổi họ, đi lánh nạn phương xa.  Số còn lại, gồm những người không đi được hay không muốn đi, đều cải sang họ Nguyễn.  Do đó, khi lệnh truy nã tới thì không còn ai họ Trần để bị bắt giết.  Vì sự sống mà phải bất đắc dĩ mang họ Nguyễn, nên đến khi chết thì con cháu đều trở lại họ Trần để không mất gốc, tạo nên một tập tục mà hết thảy con cháu đều phải tuân theo , gọi là “Sinh Nguyễn tử Trần”.  Sau khi triều đình Huế nhường đất Đà Nẵng cho Pháp làm nhượng địa (1888), quyền lực địa phương không còn ở trong tay Nhà Nguyễn nữa, không có lý do gì để phải sợ hãi đề phòng nữa, nên một số đã trở lại họ Trần (chẳng hạn chi của ông Trần Văn Mẹo), phục hồi dòng tộc cũ của ông cha, số còn lại vẫn giữ tục “Sinh Nguyễn tử Trần”.

Khi nắm được thông tin lý thú này, tôi dự tính sẽ làm một cuộc sưu khảo về dòng dõi Trần Quang Diệu ở An Hải, vừa để xác minh những điều vừa mới ghi nhận, vừa hy vọng biết đâu lại tìm ra được những điều mới mẻ lý thú khác nữa ở cái vùng đất có bề ngoài hỏ bé khiêm tốn nhưng lại mang nhiều chuyện xưa tích cũ bất ngờ này.  Nhưng rồi tháng Ba gãy bút.

Võ Hương An

Cựu Thanh tra Giám Sát Viện Quân Khu I (VNCH)

Cựu Tù nhân Chính trị Quảng Nam-Đà Nẵng

From: TU-PHUNG