Việt Nam bắt giữ người từng được xem là ‘anh hùng môi trường’

*** Mới hôm trước được tôn vinh là anh hùng, hôm nay bị bắt bỏ tù.

* Ở xứ thiên đường CH XHCN CSVN là chuyện bình thường….

– Việt Nam bắt giữ người từng được xem là ‘anh hùng môi trường’

Theo truyền thông nhà nước, một nhà hoạt động môi trường nổi tiếng của Việt Nam, trong cuộc chiến chống lại các năng lượng gây ô nhiễm, đã bị bắt hôm thứ Tư tại Hà Nội

Sáng ngày 9/2 Công an TP.Hà Nội loan báo rằng họ vừa khởi tố, bắt tạm giam bà Ngụy Thị Khanh, Giám đốc Trung tâm phát triển sáng tạo xanh GreenID, để điều tra hành vi trốn thuế.

Năm 2018, bà Khanh là người Việt đầu tiên nhận giải thưởng Môi trường Goldman,”Nobel Xanh” giải thưởng lớn nhất thế giới dành cho các nhà hoạt động môi trường cơ sở.

Tổ chức GreenID của bà, 1 tổ chức phi chính phủ về môi trường nổi tiếng nhất Việt Nam, đã thuyết phục được chính phủ thời bấy giờ, loại bỏ công suất than 20.000 MW khỏi quy hoạch năng lượng quốc gia vào năm 2030.

* Truyền thông Việt Nam từng gọi bà là “anh hùng môi trường” qua công tác về kết nối mạng lưới môi trường, từ năng lượng xanh đến ô nhiễm không khí

Nhà hoạt động Ngụy Thị Khanh là một trong số ít tiếng nói trong nước lên tiếng phản đối việc sử dụng ngày càng nhiều các nhà máy nhiệt điện than.

* Nhưng trong khi nhà hoạt động được quốc tế khen ngợi, bà lại là mục tiêu của các chiến dịch bôi nhọ trên các phương tiện truyền thông nhà nước và trên internet tại quốc gia của mình.

Chế độ cộng sản không dung thứ cho bất kỳ người bất đồng chính kiến ​​nào và hàng chục nhà hoạt động phải ngồi tù vì lên tiếng chống lại nhà cầm quyền.

– Theo tiểu sử, bà Ngụy Thị Khanh sinh ra trong một gia đình nông thôn tại Bắc Am, một ngôi làng ở miền Bắc Việt Nam, lớn lên gần một nhà máy nhiệt điện than, bà Khanh đã phải chịu đựng ô nhiễm và bụi do hoạt động của nhà máy này gây ra và chứng kiến nhiều người trong khu vực mắc bệnh ung thư.

Bà Khanh theo học lịch sử, tiếng Pháp và ngoại giao và từng dự định trở thành một nhà ngoại giao.

Tuy nhiên, bà đam mê với lĩnh vực môi trường và sau khi tốt nghiệp đại học, bắt đầu làm về bảo tồn tài nguyên nước và phát triển cộng đồng cho một tổ chức phi lợi nhuận nhỏ của Việt Nam.

Năm 2011, bà thành lập Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) nhằm thúc đẩy phát triển năng lượng bền vững ở Việt Nam, quản lý tốt hơn tài nguyên nước, không khí và phát triển xanh.

Bà đồng thời là thành viên sáng lập Liên minh năng lượng bền vững Việt Nam, một mạng lưới gồm 11 tổ chức Việt Nam và quốc tế hoạt động trong lĩnh vực môi trường và xã hội cùng hợp tác về các vấn đề năng lượng khu vực.

Bà Ngụy Thị Khanh sinh năm 1976. Vào thời điểm bị bắt, bà vẫn đang là Giám đốc GreenID.

* Có lẽ bà Khanh và GreenID của bà đang cản trở 1 dự án lớn “vi phạm môi trường” nào đó của các tập đoàn quốc doanh được các bác lãnh đạo chống lưng, nên bà đã bị bắt bỏ tù…

TL – tv5monde & BBC

Une célèbre militante écologiste arrêtée au Vietnam

Việt Nam thật sự bình yên?

 

 Lê Vi  

Việt Nam thật sự bình yên?

Trong 5 ngày Tết, cứ trung bình 1h đi qua là có hơn 10 người ch.ết vì tai nạn giao thông, 5 ngày qua có hơn 1.560 chết vì tai nạn giao thông trong dịp Tết Nguyên Đán.

Và cứ trung bình 30p trôi qua, có một người chết vì đánh nhau. Chỉ trong 5 ngày mà ghi nhận khoảng 200 người chết vì đâm chém, trong gần 3 ngàn ca cấp cứu. Ở Rạch Giá – Kiên Giang có hẳn cả vụ xã hội đen (đỏ) kéo nhau tới thanh toán bằng dao phóng l.ợn và súng, kẻ cầm dao kẻ cầm súng xả vào nhau như phim hành động, một vụ thanh toán kinh hoàng.

Vâng. Chúng ta đang nói về Việt Nam, chứ không phải quốc gia nào khác.

Trên truyền thông báo chí, luôn cho rằng các quốc gia có xung đột vũ trang, hay rối loạn là những quốc gia đa đảng, họ lập lờ đánh lận con đen như thế ý nói đa đảng làm gì cho bắn nhau suốt ngày, còn như Việt Nam không sướng hơn sao vì một đảng lãnh đạo nên yên bình?

Nhưng thực tế có yên bình như bò đỏ, hay đám tuyên giáo mê hoặc Dân chúng. Chỉ mấy ngày Tết mà số lượng tai nạn giao thông rồi xả súng, đâm chém với số tử vong phải nói kinh hoàng như thế thì Việt Nam đâu phải bình yên.

Lâu lâu ở Châu Âu hay Mỹ có vụ xả súng, thì y rằng tuyên giáo chớp ngay cơ hội nói đa đảng là rối loạn, nhưng chúng ta xem những vụ xả súng đó là liên tục không, và tử vong bao nhiêu? Còn ta, luôn tự mê hoặc ru ngủ dân chúng là quốc gia yên bình mà mấy ngày có tới gần 3000 người nhập viện vì đâm chém nhau, tới 200 người tử vong do oánh nhau, hơn 1560 tử vong do tai nạn giao thông thì ổn định, yên bình cái gì? Ai nói cho tôi biết Việt Nam là quốc gia bình yên đi.

Phải nói rằng, người Dân Việt Nam thật đáng trách, trách lắm, vì khi quyền lợi bản thân và gia đình, thậm chí con cháu bị nhà cầm quyền xâm hại, thì luôn tỏ ra sợ hãi và nhu nhược trước nhà cầm quyền. Như bị công an cướp đất, hay bị bóc lột bởi thuế, phí thì im lặng, như đàn cừu. Nhưng giữa người Dân với nhau thì tỏ ra hung hăng, man rợ, có thể xiên một người vì cái liếc mắt, nhưng lại im lặng khi bị công an hốt về đồn.

Trách Dân thì có, nhưng chỉ trách một, khi xã hội rối loạn như mớ bòng bong hiện nay thì trách đám cầm quyền 100.

Vì xã hội bất ổn, trách nhiệm hoàn toàn quy về nhà cầm quyền, mà ở đây là đảng cộng sản đang lãnh đạo tuyệt đối toàn diện.

Vì khi xã hội mất ổn định, thường xuất phát từ 3 nguyên nhân chính: 1) pháp luật không nghiêm minh; 2) hiểu biết pháp luật của người Dân hạn chế; 3) một xã hội chi phối bởi các tập đoàn tội phạm hình thành từ các đám xã hội đen và xã hội đỏ cấu kết, gắn chặt quyền lợi với nhau (cậy quyền cậy thế). Và còn nhiều nguyên nhân khác, nhưng vô hình chung ta thấy

rõ để xã hội bất ổn như Việt Nam hiện nay đều lý do tại hệ thống chính trị lạc hậu, họ hình thành quyền lực theo kiểu tập quyền.

Nhà cầm quyền không muốn người Dân hiểu biết pháp luật, không muốn người Dân sống trong môi trường thượng tôn pháp luật, ai cũng chạy chọt mới thắng, thì đương nhiên xã hội đó sẽ vô cùng bất ổn do người Dân cứ nịnh bợ kẻ có quyền để tồn tại. Nên mâu thuẫn càng lớn thì bất ổn càng nghiêm trọng.

Nhưng, có một điều trái khoáy là xã hội càng bất ổn thì các phe nhóm lợi ích nắm quyền càng đấu đá quyết liệt. Các phe trong đảng thanh toán nhau để tranh chấp địa vị, như ta hiểu đơn giản phe củi và phe lò. Xét cho cùng phe củi hay phe lò thắng thì Nhân dân chúng ta đều bại. Vì tất cả, đều muốn làm quân cờ, chứ chẳng ai chịu làm người chơi cờ.

Nói tóm lại, xã hội Việt Nam không những bất ổn mà còn vô cùng hỗn loạn, rối ren chưa từng vì các sứ quân mọc như nấm, chẳng qua ta đọc báo đảng, xem tivi nhiều quá, nếu nhìn kĩ lại, có khi rối loạn hơn cả vùng đang có giao tranh, chiến sự. Vì thế, tuyên giáo thôi cái giọng Việt Nam là quốc gia hoà bình, ổn định đi. Mở miệng ra mà nói VN là quốc gia ổn định, thì: “hoặc là thần kinh hoặc là khốn nạn”.

———

Ảnh: Xe ôtô Cảnh Sát Giao Thông bị lật, gần Đền Đại Cại – Tân Lĩnh – Lục Yên – Yên Bái.

Phạm Minh Vũ

Gần 200 người chết do đánh nhau những ngày Tết ở Việt Nam

Gần 200 người chết do đánh nhau những ngày Tết ở Việt Nam

February 5, 2022

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Chỉ tính trong sáu ngày từ 29 Tháng Chạp đến Mùng Năm Tết Nhâm Dần, Việt Nam ghi nhận hơn 2,800 ca nhập viện cấp cứu do đánh nhau, khiến 195 người chết, tương ứng gần 500 ca nhập viện mỗi ngày.

Báo Tuổi Trẻ hôm 5 Tháng Hai cho biết tin này dựa trên báo cáo nhanh về tình hình khám chữa bệnh, cấp cứu, tai nạn, ngộ độc của Cục Quản Lý Khám Chữa Bệnh, Bộ Y Tế về kỳ nghỉ Tết Nhâm Dần.

Vụ đánh nhau đêm Mùng Một Tết giữa một công an viên và người dân ở phường Cầu Ông Lãnh, quận 1, Sài Gòn. (Hình chụp qua màn hình)

Thống kê nêu trên cũng cho hay hơn 300 người phải vào bệnh viện khám hoặc cấp cứu, do chơi pháo nổ các loại trong những ngày Tết.

Một trong các vụ đánh nhau ngày Tết năm nay được các báo tường thuật là vụ xảy ra đêm Mùng Một Tết giữa một cán bộ công an và một ông ở phường Cầu Ông Lãnh, quận 1, Sài Gòn.

Báo Zing dẫn hồ sơ của công an cáo buộc ông Liêu Phát Hùng, 33 tuổi, lao vào hành hung ông Trần Văn Phồn, cán bộ Công An phường Cầu Ông Lãnh, do “bị nhắc nhở khi tụ tập đánh bài ngày Tết.”

Ông Hùng sau đó bị khởi tố với cáo buộc “chống người thi hành công vụ” và bị cấm đi khỏi nơi cư trú.

Tuy vậy, trên mạng xã hội xuất hiện hình ảnh và video clip cho thấy ông Phồn cầm điện thoại cạnh những ly bia, thách thức nhà ông Hùng trước khi xảy ra vụ đánh nhau giữa hai người.

Liên quan vụ này, nhà hoạt động Phạm Minh Vũ cho biết trên trang cá nhân rằng ông Phồn “đã uống bia và say xỉn, cù nhây không trả tiền [tại quán cơm nhà ông Hùng] và ngồi nói năng mất kiểm soát.”

Do vậy, khi mẹ ông Hùng lấy điện thoại quay clip, ông Phồn giật điện thoại, chửi bới. Ông Hùng hỏi chuyện thì bị ông Phồn đánh trước.

Một ca cấp cứu ở bệnh viện. (Hình minh họa: VietnamPlus)

Đáng lưu ý, chuyện đánh nhau ngày Tết tại các địa phương được các báo ghi nhận là “thông lệ” hằng năm.

Số ca cấp cứu do đánh nhau dịp Tết năm nay được ghi nhận thấp hơn hẳn năm ngoái. Theo báo Người Lao Động hồi Tháng Hai, 2021, trong sáu ngày nghỉ Tết Tân Sửu, Việt Nam đã có hơn 4,000 ca cấp cứu do đánh nhau, với gần 50% trong số này phải nhập viện điều trị và theo dõi sức khỏe. (N.H.K) 

Trung Quốc và tiền, những điểm nghẽn của ngoại giao Việt Nam

Bình luận của Nguyễn Quang Khai
2022.02.06

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng TQ Vương Nghị tại Hà Nội hôm 10/9/2021

 AFP

Cơn say thành tích

Năm vừa qua, báo chí Việt Nam được dịp ca ngợi hết lời về những thành tích của ngoại giao Việt Nam.

Chính phủ Việt Nam và ngành ngoại giao còn hồ hởi “khoe công trạng” khi đại dịch COVID-19 bùng phát và diễn biến phức tạp trên thế giới và trong nước, ngành Ngoại giao đã tiên phong cùng các Bộ, ngành đẩy mạnh “ngoại giao y tế,” “ngoại giao vắc xin,” tranh thủ sự hỗ trợ kịp thời, hiệu quả của cộng đồng quốc tế về vắc xin, thiết bị y tế và thuốc điều trị, chung tay cùng cả nước phòng, chống dịch bệnh.

Cái tát bất ngờ

Tuy nhiên, đang say sưa trong men chiến thắng, vụ công an bắt bà Nguyễn Thị Hương Lan – Cục trưởng Cục Lãnh sự đã như một “cái tát” vào mặt ngành ngoại giao Việt Nam. Thực tế cho thấy, những âm mưu bẩn thỉu, những trò chơi tham nhũng vẫn còn đó, mà vụ bắt bà Lan chỉ mới là phần nổi của tảng băng chìm đối với tình trạng tham nhũng trong Bộ Ngoại Giao.

Tham nhũng trong bộ máy công quyền Việt Nam, được gọi bằng cái tên mỹ miều là “lợi ích nhóm” đã tồn tại từ rất lâu và rất sâu trong toàn bộ hệ thống chính trị Việt Nam, mà Bộ Ngoại Giao cũng không là ngoại lệ.

Người ta đã bàn tán từ lâu, mỗi một chức vụ trong các cơ quan ngoại giao đều có “giá” của nó. Từ các vị trí Vụ phó, Vụ trưởng đến các chức vụ Cục trưởng, Thứ trưởng đều có “giá” cụ thể. Các cơ quan đại diện tại nước ngoài cũng vậy, phải “chạy” mới được đi chỗ “ngon”, “nước giàu”. Từ đó mới “ra nhà, ra đất”, chứ không thì “đói thối mồm”.

Trong đợt Đại dịch COVID-19 vừa qua, “quyền lực” của cơ quan ngoại giao rất lớn trong việc quyết định danh sách những công dân Việt Nam đang ở nước ngoài, được nằm trong danh sách hồi hương trên những chuyến bay “giải cứu”. Và những lợi ích phát sinh từ quyền lực này đã dẫn đến việc bà Cục trưởng Cục lãnh sự cùng ba thuộc cấp phải “xộ khám”.

Những người quan tâm có thể đặt một câu hỏi: Nếu như nhiều quan chức ngoại giao “cần tiền” như thế thì việc tình báo Trung Quốc xâm nhập cơ quan ngoại giao Việt Nam sẽ không khó. Vì tình báo Trung Quốc sẵn sàng chi rất nhiều tiền để mua thông tin cũng như tạo ra những cách để chi phối đến chính sách đối ngoại của Việt Nam. Sẽ có những người bênh vực ngành ngoại giao nói rằng, đây chỉ là hoạt động “kiếm sống” của nhân viên ngoại giao nói chung, vì ngành ngoại giao rất đặc thù nhưng thu nhập lại rất ít ỏi, lãnh lương như tất cả các cán bộ công chức Việt Nam khác, nhưng sinh hoạt tại các cơ quan đại diện nước ngoài thì phải trả bằng ngoại tệ, nhưng các nhân viên ngoại giao này biết nên “ăn tiền” ở đâu để tránh khỏi bị tình báo nước ngoài mua chuộc. Thế nhưng, đã gọi là tình báo thì các biện pháp mua chuộc và xâm nhập là vô cùng đa dạng và phong phú, dễ gì các nhân viên “hám tiền” lại thoát được cơ chứ.

Bốn lãnh đạo Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao vừa bị khởi tố và bắt giam về tội nhận hối lộ. RFA edit

Số phận hẩm hiu của ông Nguyễn Cơ Thạch

Câu chuyện tham nhũng của bà Lan cũng cho thấy vai trò của ngành ngoại giao chưa được đặt đúng mực trong hệ thống chính trị Việt Nam. Trong ba Bộ liên quan đến việc hoạch định chính sách đối ngoại, bao gồm: Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An và Bộ Ngoại Giao thì Bộ Ngoại Giao xếp hàng chót. Ngoại trưởng Việt Nam hiện nay còn chưa được vào Bộ Chính Trị trong khi Bộ trưởng Quốc Phòng và Bộ trưởng Công An luôn là Uỷ viên Bộ Chính Trị. Lương của ngành công an và quân đội cao nhất trong bộ máy công chức Việt Nam, còn ngành ngoại giao thì lương không đủ sống, nên anh em phải đi “kiếm thêm”.

Chưa kể đến việc trong quan hệ với Bắc Kinh, ngành ngoại giao luôn bị gạt ra khỏi những quyết định quan trọng ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước.

Phóng viên Huỳnh Phan (Tên thật là Hoàng Ngọc) có nhiều tư liệu về một nhân vật tài năng ngoại giao, đó chính là Cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch. Những năm  đầu 1990, vì Trung Quốc “không ưa” ông Thạch, nên Hội nghị Thành Đô, ông Thạch đã không được tham dự và không được cung cấp thông tin.  GS.TS Vũ Dương Huân – Người đã từng giữ chức vụ Giám đốc Học viện Ngoại giao, nguyên Trưởng ban Nghiên cứu Lịch sử Ngoại giao, cho biết: “Khoảng 2-3 tháng trước Đại hội VII (6/1991) có rộ lên tin tức là Trung Quốc đang tìm cách hạ bệ ông Thạch vì ông chống Trung Quốc. Nhưng thực tế là ông chủ trì Nghị quyết XIII, mà một trong những nội dung quan trọng là giải quyết vấn đề Campuchia và bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Để nói về giai đoạn lịch sử này, chúng ta cũng có thể dùng câu nói của ông là “thực tiễn sẽ trả lời.” (1)

Bộ trưởng Ngoại giao VN Nguyễn Cơ Thạch gặp Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain ở DC hôm 17/10/1990. AP

Tuy nhiên, có những góc khuất đằng sau những trang báo chính thống. Chính vì vậy, sau này phóng viên Huỳnh Phan có đưa lên Facebook của mình những lời kể về bài báo viết về ông Nguyễn Cơ Thạch của mình nhưng bị ngăn không cho đăng báo. Huỳnh Phan trích dẫn lời của GS.TS Vũ Dương Huân cho biết: “quan điểm của Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch là muốn bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, nhưng Việt Nam phải bảo vệ được quyền lợi dân tộc của mình…” “Nguyên Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên, lúc đó là Trưởng đoàn Đàm phán cấp chuyên viên chuẩn bị cho cuộc gặp Thành Đô (3-4/9/1990), nói rằng quan điểm của Việt Nam là trước bàn về bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, sau đó mới bàn về vấn đề Campuchia. Nhưng Trung Quốc phản đối, đòi làm ngược lại.”

“Hai bên cãi nhau suốt hơn một ngày, cuối cùng tôi phải điện về nước xin ý kiến. Lãnh đạo cấp cao đã nhượng bộ với quan điểm của Trung Quốc”, nguyên Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên nói. Khi sắp đến Hội nghị Thành Đô, Đặng Tiểu Bình đã đánh tiếng với lãnh đạo chóp bu của Việt Nam, thông qua Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Lào Kaysone Phomvihane thăm Trung Quốc, rằng Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch “có ý đồ gây rối”. Vì quá muốn bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, TBT Nguyễn Văn Linh đã đồng ý không để Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch tham dự phái đoàn, mà chỉ cho Thứ trưởng Đinh Nho Liêm tham dự.

“Phía Trung Quốc biết rất rõ Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch là một nhà đàm phán rất giỏi từ Hội nghị Geneva về Lào (1961-1962), đến Hội nghị Paris ( giai đoạn 1972-1973), nên nếu ông tham gia Hội nghị Thành Đô, Trung Quốc khó ép Việt Nam phải chấp nhận Giải pháp Đỏ. Chính họ đã gây chia sẽ trong nội bộ cấp cao của chúng ta”, nguyên Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên đoán chắc.

Một nhà ngoại giao rất có tài năng của Việt Nam như ông Nguyễn Cơ Thạch nhưng trước sự “can thiệp” của “thiên triều”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sẵn sàng “hy sinh” nhà ngoại giao tài năng này để làm đẹp lòng Bắc Kinh. Nói thế để hiểu vai trò của ngành ngoại giao ở Việt Nam như thế nào.

Câu chuyện ông Trọng đi Bắc Kinh

Năm 2011, khi ông Nguyễn Phú Trọng mới đắc cử Tổng Bí thư, đã có ngay chuyến đi ra mắt “thiên triều”. Để tạo dấu ấn ngoại giao cho Tân Tổng Bí thư, Bắc Kinh đã cho người soạn sẵn bản Thoả thuận về những nguyên tắc giải quyết tranh chấp trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc (2). Điều đáng nói là văn bản này hoàn toàn do Trung Quốc soạn thảo trước, phía Việt Nam chỉ có thể ký vào mà thôi. Thậm chí mấy chuyên gia về luật quốc tế của Bộ Ngoại giao Việt Nam muốn vào theo để tham gia đàm phán những điều khoản bảo vệ lợi ích của Việt Nam thì bị đuổi ra ngoài, với lý do đây là do hai Đảng Cộng sản quyết định, không có chỗ cho Bộ Ngoại giao chen vào. Chính vì vậy, sau này Thoả thuận này giữa bản tiếng Trung và bản tiếng Việt có một số khác biệt. Bản tiếng Trung ở Điều 4 khẳng định là hai quốc gia sẽ tìm kiếm giải pháp bằng cách “gác tranh chấp cùng khai thác”, còn bản tiếng Việt thì ghi là “hợp tác cùng phát triển”. Điều này cho thấy vai trò của ngoại giao bị lép vế trước cơ quan ngoại giao của Đảng, mà nhiều khi chính vì vậy, các văn bản mà Đảng cộng sản Việt Nam ký kết với Đảng cộng sản Trung Quốc đã đưa Việt Nam vào thế bất lợi trên rất nhiều lĩnh vực.

Kết luận

Với những “điểm nghẽn” về chế độ đãi ngộ cũng như vai trò tham gia hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam như vậy thì dù ngành ngoại giao Việt Nam có nhiều người tài giỏi đến mấy cũng chỉ có thể “múa tay trong bị” được mà thôi. Vì thế, có khi thời gian tới, người dân Việt Nam lại khám phá thêm được nhiều “thành tích đen tối” của ngoại giao Việt Nam khi chính các cơ quan công quyền khui ra thêm nhiều vụ “ăn bẩn” khác. Cứ như thế liệu thái độ chống cường quyền Bắc Kinh là thật hay lại là các bên diễn trò đây?

_____________

Tham khảo:

  1. https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/doithoai/30-nam-doi-moi-nhin-tu-nganh-ngoai-giao-ong-nguyen-co-thach-co-phai-la-nguoi-chong-trung-quoc-322982.html
  2. https://nhandan.vn/theo-dong-thoi-su/thoa-thuan-ve-nhung-nguyen-tac-co-ban-chi-dao-giai-quyet-van-de-tren-bien-giua-nuoc-cong-hoa-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-va-nuoc-cong-hoa-nhan-dan-trung-hoa-178255/

Tuyên truyền và hệ thống tự hoại!

Tuyên truyền và hệ thống tự hoại!

Bởi  AdminTD

 Blog VOA

Trân Văn

4-2-2022

Thánh lễ tiễn đưa Linh mục Trần Ngọc Thanh, do Giám mục Giáo phận Kon Tum chủ tế, diễn ra tại Nhà nguyện Plei Đôn, thuộc Giáo xứ Kon Rơbang, Giáo hạt Kon Tum, vào ngày 30/1/2022. Nguồn: Giáo phận Kon Tum

Cuối cùng, công an cũng cung cấp thông tin cho hệ thống truyền thông chính thức loan báo rộng rãi về án mạng xảy ra tại thôn Giang Lố 2, xã Saloong, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum mà nạn nhân là linh mục Trần Ngọc Thanh, 41 tuổi (1)…

Ngày 29 tháng 1 năm 2022, linh mục Thanh đến một nhà nguyện ở Saloong để thực hiện bí tích giải tội cho những người có nhu cầu hòa giải với Thượng đế và đồng loại trước thềm năm mới… Thế rồi ông Nguyễn Văn Kiên, 33 tuổi, đột nhiên xông vào, chém vô đầu linh mục Thanh hai lần. Sau đó, ông Kiên xoay qua tìm chém một tu sĩ ở gần đấy nhưng nạn nhân kịp dùng ghế đón đỡ (2)… Linh mục Thanh bị chém vỡ sọ nên không thể vượt qua được tình trạng nguy kịch!

Có một điểm đáng chú ý là khác với những án mạng từng xảy ra tại Việt Nam, cả công an lẫn hệ thống truyền thông chính thức im bặt, không đề cập gì đến sự kiện một linh mục Công giáo bị giết khi đang thực hiện mục vụ, cho dù đó rõ ràng là biến cố nghiêm trọng cả về tính chất lẫn mức độ. Thiên hạ chỉ biết tin này nhờ mạng xã hội và một số trang web có liên quan đến Công giáo… Đó cũng là lý do rất nhiều người suy đoán theo hướng, án mạng có sự sắp xếp…

Thiên hạ kể với nhau, rằng ông Trần Ngọc Thanh không phải là linh mục Công giáo đầu tiên bị tấn công. Trước ông đã có ít nhất bốn linh mục khác bị hành hung trên đất Kon Tum (3), có người bị đâm lòi ruột nhưng may mắn thoát chết. Chẳng riêng linh mục, nam tu sĩ, ngay cả nữ tu cũng bị hệ thống công quyền lẫn… thường dân gần gũi chính quyền dọa dẫm, sách nhiễu (4). Không phải ngẫu nhiên mà người thiểu số ở khu vực Tây Nguyên trốn ra ngoại quốc xin tị nạn do bị đàn áp vì… theo Tin Lành!

***

Sự kiện linh mục Trần Ngọc Thanh bị giết khi đang thực hiện mục vụ không chỉ làm rúng động mạng xã hội Việt ngữ. Không ít trang facebook của các dòng tu, hội đoàn và tín đồ Công giáo trên thế giới đã loan báo sự kiện này kèm lời kêu gọi cầu nguyện. Chẳng hạn OP Laity East (trang facebook dành cho giáo dân tham gia các hội đoàn của Dòng Anh em Thuyết giáo mà người Việt thường gọi tắt là Dòng Đa Minh – gọi theo tên vị sáng lập đã được Việt hóa mà linh mục Trần Ngọc Thanh là một thành viên).

Từ những trang facebook như OP Laity East (5), sự kiện tiếp tục được chia sẻ rộng hơn cả ở phương diện cá nhân lẫn cộng đồng của nhiều quốc gia. Ví dụ, có thể thấy thông tin về chuyện linh mục Trần Ngọc Thanh bị giết trên OP Laity East tiếp tục được chia sẻ trên Humphreys Catholic Community – trang facebook của cộng đồng Công giáo ở Humphreys, một căn cứ của quân đội Mỹ tại Nam Hàn (6). Rồi các thành viên của Humphreys Catholic Community lại chia sẻ thêm cho nhiều người, nhiều giới khác…

Có rất nhiều cá nhân không phải người Việt, chưa từng nghe ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư đảng CSVN khoe về thành tựu… dân chủ ở Việt Nam. Có rất nhiều cá nhân không phải người Việt nếu đã nghe thì cũng chẳng nhớ hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam đã nói những gì về… thăng tiến nhân quyền, về… tiến bộ của tự do tôn giáo, về… sự ổn định tại Việt Nam. Song theo logic về tâm lý, họ sẽ nhớ rất kỹ và khi đề cập tới Việt Nam, họ sẽ nhắc rất nhiều người về chuyện linh mục Thanh bị giết!

Chưa có bất kỳ bằng chứng nào về chuyện linh mục Trần Ngọc Thanh là nạn nhân của một âm mưu. Cho dù sự im lặng của hệ thống truyền thông chính thức tại Việt Nam về án mạng này hết sức khác thường nhưng khả năng các cơ quan truyền thông chính thức bị chỉ đạo phải… “ngậm tăm” không lớn. Kẻ viết bài này tin rằng, chính cách quản lý, lối hành xử của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam mới là lý do khiến hệ thống truyền thông chính thức chủ động… “ngậm tăm”, tránh rắc rối.

Cách nay khoảng hai tuần, khi gặp gỡ báo giới trước thềm năm mới, ông Nguyễn Văn Nên – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TP.HCM, nhắc báo giới phải độc lập, phải tránh bốn đặc điểm là… bầy đàn, khuôn mẫu, ỷ lại và đổ lỗi (7).

Tại sao báo giới Việt Nam lại mang bốn đặc điểm mà ông Nên cảnh báo cần tránh? Nếu sự độc lập của báo giới được tôn trọng, chắc chắn sẽ không thiếu thông tin về những sự kiện như linh mục Trần Ngọc Thanh bị giết, hay hệ thống chính trị, hệ thống công quyền ở Tây Nguyên xâm hại các quyền căn bản của con người, chà đạp tự do tôn giáo và tất nhiên không gây hoài nghi, rằng có âm mưu nào phía sau các sự kiện hay không! Còn xác định báo giới là công cụ tuyên truyền và ép buộc nhắm mắt, bịt tai để tuyên truyền theo mục tiêu, bất chấp thực tại, bất kể nhân tâm, dân ý thì “công tác tuyên truyền” đâu có khác gì quảng cáo cho hoạt động tự hoại.

Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc?

Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc?

Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

Tiếng ta còn thì nước ta còn!

Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1- Đồng hóa tự nhiên, tức quá trình dân tộc A trong giao tiếp với dân tộc B, do chịu ảnh hưởng lâu dài của B mà A tự nhiên dần dần mất bản sắc của mình, cuối cùng bị B đồng hóa; đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2- Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc nhỏ yếu hơn chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của một dân tộc lớn mạnh hơn; đây là một tội ác.

Đồng hóa dân tộc chủ yếu diễn ra dưới hình thức đồng hóa văn hóa, trong đó chủ thể đồng hóa thường là một nền văn hóa mạnh và tiên tiến (như đông dân hơn, kinh tế phát triển hơn, đã có chữ viết, có các hệ tư tưởng), đối tượng đồng hóa thường là nền văn hóa yếu và lạc hậu hơn. Đồng hóa ngôn ngữ là công cụ đồng hóa văn hóa thông dụng nhất, quan trọng nhất, hiệu quả nhất. Một dân tộc bị mất tiếng nói mẹ đẻ của mình và phải nói tiếng của một dân tộc khác thì không còn giữ được bản sắc dân tộc nữa.

Trong lịch sử, các nền văn hóa yếu thường bị nền văn hóa mạnh đồng hóa. Thời cổ, Trung Quốc là quốc gia đông người nhất và có nền văn minh tiên tiến nhất châu Á. Nền văn hóa Hán ngữ của họ có sức đồng hóa rất mạnh. Dân tộc Hồi ở phía Tây nước này, ngày xưa dùng chữ A Rập, sau nhiều năm giao lưu với người Hán cũng toàn bộ dùng chữ Hán và nói tiếng Hán. Ngay cả các dân tộc nhỏ nhưng mạnh về quân sự, sau khi thôn tính và thống trị Trung Quốc được ít lâu cũng bị nền văn hóa Hán ngữ đồng hóa.

Thí dụ dân tộc Mãn sau khi chiếm Trung Quốc và lập triều đại nhà Thanh đã lập tức tiến hành đồng hóa dân tộc Hán: cưỡng bức đàn ông Hán phải cạo nửa đầu và để đuôi sam, phải bỏ chữ Hán mà chỉ dùng chữ Mãn làm chữ viết chính thức trên cả nước. Nhưng đến giữa đời Thanh, tức sau khoảng 100 năm thì tiếng Mãn cùng chữ Mãn đều biến mất, từ đó trở đi người Mãn chỉ dùng tiếng Hán và chữ Hán, nghĩa là họ lại bị đồng hóa ngược bởi chính nền văn hóa của dân tộc bị họ cai trị lâu tới 267 năm!

Các nước đế quốc thực dân sau khi chiếm thuộc địa đều cưỡng chế đồng hóa ngôn ngữ dân bản xứ, quá trình này diễn ra khá nhanh, nhìn chung sau 5-6 thế hệ (mỗi thế hệ 25 năm), tiếng nói của người bản xứ đã bị thay bằng ngôn ngữ của nước cai trị. Đầu thế kỷ XV, Brazil bị Bồ Đào Nha chiếm, chẳng bao lâu tiếng Bồ trở thành ngôn ngữ chính thức duy nhất của người Brazil. Nhiều thuộc địa Pháp ở châu Phi như Bénin, Togo, Sénegan… dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính duy nhất. Năm 1918 nước ta bắt đầu dạy tiếng Pháp ở lớp cuối tiểu học, 10-20 năm sau toàn bộ học sinh trung học cơ sở trở lên đến trường đã chỉ nói tiếng Pháp, giáo viên chỉ giảng dạy bằng tiếng Pháp. Nếu cứ thế dăm chục năm nữa thì có lẽ Việt Nam đã trở thành nước nói tiếng Pháp.

Thế nhưng sau hơn 1.000 năm bị bọn phong kiến người Hán thống trị và cưỡng bức đồng hóa, dân tộc Việt Nam vẫn không bị Hán hóa, vẫn giữ nguyên được nòi giống, tiếng nói và phong tục tập quán.

Đây quả là một điều kỳ diệu có lẽ chưa dân tộc nào khác làm được. Đáng tiếc là chưa thấy nhiều người quan tâm nghiên cứu vấn đề này, một thành tựu vĩ đại đáng tự hào nhất của dân tộc ta (nói cho đúng là của tổ tiên ta thôi, còn chúng ta bây giờ thua xa các cụ).

Vì sao tổ tiên ta có thể làm được kỳ tích ấy ? Có người nói đó là do dân ta giàu tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, xã hội có cơ chế làng xã bền chặt, v.v… Nói như vậy có lẽ còn chung chung, nếu đi sâu phân tích tìm ra được nguyên nhân cụ thể thì sẽ giúp ích hơn cho việc phát huy các truyền thống quý báu của dân tộc ta. Thực tế cho thấy tổ tiên ta giành được thắng lợi chống đồng hóa không phải bằng đấu tranh vũ trang mà chủ yếu bằng tài trí.

Xin nói thêm rằng chính người Trung Quốc cũng rất quan tâm vấn đề này. Chúng tôi đã thử nêu lên mạng Bách Độ (Baidu) của họ câu hỏi “Vì sao Trung Quốc thống trị Việt Nam hơn 1.000 năm mà Việt Nam không bị đồng hóa?”

Từ hàng triệu kết quả, có thể thấy đa số dân mạng Trung Quốc đều có chung một thắc mắc lớn: Vì sao bị Trung Quốc thống trị lâu thế mà người Việt Nam vẫn không nói tiếng Trung Quốc? Nói cách khác, họ coi đồng hóa ngôn ngữ là tiêu chuẩn đồng hóa quan trọng nhất và đều thừa nhận Trung Quốc đã không đồng hóa nổi Việt Nam. Họ tỏ ra tiếc nuối về sự kiện Việt Nam sau hơn 10 thế kỷ từng là quận huyện của Trung Quốc, từng dùng chữ Hán hàng nghìn năm mà rốt cuộc lại trở thành một quốc gia độc lập, dùng chữ Latin hóa, ngày nay là nước chống lại mạnh nhất chính sách xâm lấn Biển Đông của Bắc Kinh.

Do hiểu biết Việt Nam rất ít, thậm chí hiểu sai, hầu hết dân mạng Trung Quốc không tìm được lời giải thắc mắc trên, kể cả người tỏ ra am hiểu lịch sử nước ta. Họ nêu các lý do:

– Văn hóa Việt Nam có trình độ Hán hóa cao(?), người Việt rất hiểu và không phục Trung Quốc;

– Việt Nam ở quá xa Trung nguyên, khí hậu nóng, quan lại người Hán ngại sang Việt Nam làm việc, đã sang thì chỉ lo làm giàu, không lo đồng hóa dân bản xứ;

– Các nhân vật tinh hoa Trung Quốc như Lưu Hy, Hứa Tĩnh, Hứa Từ, Viên Huy (劉熙、許靖、許慈、袁徽) chạy loạn sang Việt Nam đã giúp nước này có nền văn hóa không kém Trung Quốc;

– Người Hán di cư đến Việt Nam đều bị người bản xứ đồng hóa v.v…

Nói chung họ đều chưa thấy, hay cố ý lờ đi nguyên nhân chính là ở tài trí của người Việt.

Nhưng họ nói người Việt Nam hiểu Trung Quốc là đúng. Do sớm hiểu rõ ý đồ thâm hiểm của phong kiến người Hán muốn đồng hóa dân tộc ta nên tổ tiên ta đã kịp thời đề ra đối sách. Cụ thể là đã tìm ra cách giữ gìn được tiếng nói của dân tộc mình trong quá trình bị bọn thống trị người Hán cưỡng bức học chữ Hán.

Mấy nghìn năm sau, một học giả lớn của dân tộc ta tóm tắt bài học lịch sử này trong một câu nói rất chí lý: “Tiếng ta còn thì nước ta còn!

Sau khi chiếm nước ta (203 tr. CN), Triệu Đà đã ép buộc dân ta học Hán ngữ, nhằm đồng hóa họ bằng ngôn ngữ. Có lẽ đây là thời điểm muộn nhất chữ Hán vào nước ta.[1] Sách “Việt giám Thông khảo Tổng luận” do Lê Tung viết năm 1514 có chép việc họ Triệu mở trường dạy người Việt học chữ Hán.[2] Về sau, tất cả các triều đại người Hán cai trị Việt Nam đều thi hành chính sách đồng hóa. Triều nhà Minh còn tìm cách tiêu diệt nền văn hóa của ta, như tiêu hủy toàn bộ các thư tịch do người Việt viết, bắt nhân tài, thợ giỏi người Việt sang Trung Hoa phục dịch.

Như vậy, dân tộc ta buộc phải chấp nhận học chữ Hán từ rất sớm (trước Triều Tiên, Nhật Bản nhiều thế kỷ). Do hiểu biết người Hán nên tầng lớp tinh hoa người Việt đã nhanh chóng nhận ra nếu cứ học như thế thì cuối cùng tiếng Việt sẽ bị thay bằng tiếng Hán, dân ta sẽ trở thành một bộ phận của Trung Quốc.

Vậy cha ông ta đã dùng cách nào để giữ được tiếng nói của dân tộc trong hơn 1.000 năm bị cưỡng bức học và dùng chữ Hán cũng như phải tiếp thu nhiều yếu tố của nền văn minh Trung Hoa?

Vấn đề này rất cần được làm sáng tỏ để từ đó hiểu được truyền thống quý báu của dân tộc ta. Dưới đây chúng tôi xin mạo muội góp vài ý kiến nông cạn, nếu có sai sót mong quý vị chỉ bảo.

Đọc chữ Hán bằng tiếng Việt: Một sáng tạo xuất sắc của tổ tiên ta

Chữ viết hình vuông là một phát minh lớn của nền văn minh Trung Hoa, được người Hán chính thức sử dụng từ đời nhà Thương (thế kỷ 16 đến 11 tr. CN), ngày nay phổ biến được gọi là chữ Hán.

Thực ra trong hơn 2.000 năm kể từ ngày ra đời, thứ chữ viết ấy chỉ được người Hán gọi là chữ  (tự) hoặc văn tự 文字. Đến đời Đường (thế kỷ VII) cái tên 漢字 (Hán tự, tức chữ Hán) mới xuất hiện lần đầu trong sách Bắc Sử 北史 do Lý Diên Thọ biên soạn.[3] Sau đó người Nhật và người Triều Tiên cũng gọi thứ chữ này là Hán tự: tiếng Nhật đọc Kanji, tiếng Triều Tiên đọc Hantzu. Cho tới nay Bộ Giáo dục Đài Loan vẫn chỉ gọi là Quốc tự 國字.

Vì thứ chữ ấy khi vào Việt Nam còn chưa có tên nên tổ tiên ta bèn đặt cho nó cái tên là chữ Nhovới ý nghĩa là chữ của người có học, bởi lẽ Nho  là từ dùng để gọi những người có học. Dân ta gọi người dạy chữ là thầy đồ Nho, bút và mực họ dùng để viết chữ là bút Nho và mực Nho.[4]

Đây quả là một điều độc đáo, bởi lẽ Hán ngữ xưa nay chưa hề có khái niệm chữ Nho; tất cả từ điển Hán ngữ cổ hoặc hiện đại và các từ điển Hán-Việt đều không có mục từ Nho tự 儒字 với ý nghĩa là tên gọi của chữ Hán.

Có thể suy ra: Việt Nam thời xưa không có chữ viết (hoặc đã có chữ Việt cổ nhưng chưa hoàn thiện, chưa diễn tả được các khái niệm trừu tượng), vì thế khi tiếp xúc với chữ Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã nhận thấy đây là một phương tiện cực kỳ hữu ích dùng để truyền thông tin được xa và lâu, không bị hạn chế về khoảng cách và thời gian như cách truyền thông tin bằng tiếng nói, do đó họ đã sớm nghĩ tới việc mượn thứ chữ này làm chữ viết của dân tộc ta.

Muốn vậy dân ta phải biết chữ Hán, một thứ ngoại ngữ. Làm cho dân chúng học và dùng được một ngoại ngữ là việc hoàn toàn bất khả thi ở thời ấy. Hơn nữa chữ Hán cổ khó đọc (vì không biểu âm), khó viết (vì có nhiều nét và cấu tạo phức tạp), khó nhớ (vì có quá nhiều chữ), thuộc loại chữ khó học nhất trên thế giới.

Nói chung, mỗi chữ viết đều có một âm đọc; không ai có thể xem một văn bản chữ mà không vừa xem vừa đọc âm của mỗi chữ (đọc thầm hoặc đọc thành tiếng). Mỗi chữ Hán đều có một âm tiếng Hán; muốn học chữ Hán tất phải đọc được âm của nó. Viết chữ Hán khó, tuy thế tập nhiều lần sẽ viết được, nhưng do khác biệt về hệ thống ngữ âm, người Việt nói chung khó có thể đọc được các âm tiếng Hán.

Ngoài ra Trung Quốc là một nước rộng lớn, đông dân; cho tới trước nửa cuối thế kỷ 20 cả nước vẫn chưa thống nhất được âm đọc của chữ. Loại chữ này chỉ thể hiện ý nghĩa, không thể hiện âm đọc, cho nên nhìn chữ mà không biết cách đọc. Người dân các vùng xa nhau thường đọc chữ Hán theo âm khác nhau, thậm chí khác xa nhau, vì thế thường không hiểu nhau nói gì. Các thứ tiếng địa phương ấy ta gọi là phương ngữ, người Hán gọi là phương ngôn (方言); Hán ngữ hiện có 7 phương ngữ lớn, nhiều phương ngữ nhỏ (次方言).

Không thống nhất được âm đọc chữ Hán là một tai họa đối với người Hán. Với người nước ngoài học chữ Hán cũng vậy: khi mỗi ông thầy Tàu đọc chữ Hán theo một âm khác nhau thì học trò khó có thể học được thứ chữ này.

Để có thể học được chữ Hán mà không cần đọc âm tiếng Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã sáng tạo ra một giải pháp xuất phát từ ý tưởng: nếu người Hán khác vùng có thể tự đọc chữ Hán theo âm riêng của vùng, thì ta cũng có thể đọc chữ Hán theo âm riêng của người Việt.

Muốn vậy, mỗi chữ Hán được tổ tiên ta quy ước đọc bằng một (hoặc vài, tùy chữ Hán gốc) âm tiếng Việt xác định có gốc là âm chữ Hán — ngày nay gọi là âm Hán-Việt, nghĩa là mỗi chữ Hán đều được đặt cho một (hoặc vài) cái tên tiếng Việt xác định, gọi là từ Hán-Việt.

Thí dụ chữ  được đặt tên là chữ Thủy, âm đọc thủy khác với âm đọc shuẩy của người Hán. Chữ , tiếng Hán đọc sưa, ta đọc sắcThủy và Sắc là từ Hán-Việt, cũng là âm Hán-Việt của .

Âm/từ Hán-Việt được chọn theo nguyên tắc cố gắng bám sát âm Hán ngữ mà tổ tiên ta từng biết.[5] Như chữ , âm Hán và âm Hán-Việt đều đọc chung, tức hệt như nhau; chữ , Hán ngữ đọc hái, ta đọc Hài, gần như nhau. Nhưng hầu hết chữ đều có âm Hán-Việt khác âm Hán. Như 集 âm Hán là chí, ta đọc Tập ;  giú, ta đọc Nho. Có chữ âm Hán như nhau mà âm Hán-Việt có thể như nhau hoặc khác nhau, như  và , âm Hán đều là thúng, từ Hán-Việt đều là Đồng ; nhưng  và , âm Hán đều là xi, lại có hai từ Hán-Việt khác nhau là Hệ và Tế. Chữ Hán có hai hoặc nhiều âm thì có thể có một, hai hoặc nhiều âm/từ Hán-Việt, như  có hai âm Hán là tâu và tu, lại chỉ có một âm/từ Hán-Việt là Đô ;  có hai âm Hán shảo và shao, cũng có hai âm/từ Hán-Việt là Thiểu (trong thiểu số) và Thiếu (trong thiếu niên).

Thứ chữ Hán đọc bằng âm Hán-Việt này được dân ta gọi là chữ Nho. Vì đọc chữ bằng tiếng mẹ đẻ nên chữ Nho trở nên dễ học đối với người Việt: chỉ cần học mặt chữ, nghĩa chữ và cách viết văn chữ Hán mà không cần học phát âm cũng như học nghe/nói tiếng Hán. Vì thế thời xưa ở nông thôn nước ta không hiếm người 6-7 tuổi đã biết chữ Nho.[6] Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) 12 tuổi đỗ Cử nhân, 16 tuổi đỗ Hoàng giáp (Tiến sĩ). Người không biết chữ cũng có thể học truyền miệng các tác phẩm ngắn có vần điệu, như Tam Thiên Tự.[7]

Người biết chữ Nho có thể xem hiểu các thư tịch chữ Hán, viết văn chữ Hán; tuy không nói/nghe được tiếng Hán nhưng vẫn có thể dùng bút đàm để giao tiếp bình thường với người Hán. Chỉ bằng bút đàm chữ Nho, Phan Bội Châu giao tiếp được với các nhà cải cách Trung Quốc và Nhật Bản, đưa được mấy trăm thanh niên Việt Nam sang Nhật học quân sự chính trị, chuẩn bị về nước đánh đuổi thực dân Pháp.

Cần nhấn mạnh: vì âm/từ Hán-Việt không thể ghi âm hầu hết từ ngữ tiếng Việt cho nên cách đọc chữ Hán theo âm Việt hoàn toàn không thể biến tiếng Việt thành một phương ngữ của Hán ngữ,[8] và dân ta vẫn hoàn toàn nói và nghe bằng tiếng mẹ đẻ.

Chữ Nho chỉ dùng để viết mà thôi, và chỉ được giới tinh hoa (trí thức và quan lại người Việt) dùng trong giao dịch hành chính, ngoại giao, lễ tiết, chép sử, giáo dục, thi cử, sáng tác văn thơ. Còn ở Trung Quốc, những người nói một trong các phương ngữ tiếng Hán đều có thể dùng chữ Hán để ghi âm được toàn bộ tiếng nói của phương ngữ ấy, nghĩa là họ có thể dùng chữ Hán để ghi âm tiếng mẹ đẻ.

Dĩ nhiên cách đọc tiếng Việt chỉ có thể làm với chữ Hán, là loại chữ biểu ý (ghi ý), chứ không thể làm với chữ biểu âm (ghi âm). Ngày nay âm/từ Hán-Việt của mỗi chữ Hán có thể dễ dàng viết ra bằng chữ Quốc ngữ (một loại chữ ghi âm), nhưng ngày xưa, khi chưa có bất kỳ loại ký hiệu nào ghi âm tiếng nói, tổ tiên ta chỉ có thể truyền khẩu. Thế mà lạ thay, việc dạy chữ Nho đã được mở rộng, ở thời Nguyễn là đến tận làng, có thể suy ra tỷ lệ người biết chữ Hán của dân ta cao hơn Trung Quốc!

Chỉ bằng cách truyền miệng mà người Việt thời xưa đã tạo ra được một bộ từ Hán-Việt tương ứng với bộ chữ Hán khổng lồ — bộ chữ này trong Tự điển Khang Hy (1716) có hơn 47 nghìn chữ; Tiêu chuẩn Nhà nước Trung Quốc GB18030 (2005) có 70.217 chữ; Trung Hoa Tự hải có 85.568 chữ Hán.

Quá trình tiến hành Việt Nam hóa phần ngữ âm của chữ Hán kéo dài trong hàng nghìn năm, là một thành tựu văn hóa vĩ đại. Có thể phỏng đoán đó là một quá trình mở, do nhiều thế hệ người Việt thực hiện, thể hiện sức sáng tạo bất tận của tổ tiên ta.

Nhật và Triều Tiên cũng mượn dùng chữ Hán, nhưng họ tự đến Trung Hoa nghiên cứu đem chữ Hán về dùng chứ không bị ép dùng từ sớm như ta. Họ cũng đọc chữ Hán theo âm bản ngữ của dân tộc mình — giải pháp do người Việt nghĩ ra và thực hiện trước họ nhiều thế kỷ.

Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Nguyễn Tài Cẩn nói: “Cách đọc Hán Việt là một tài sản của riêng dân tộc ta. Có dùng nó khi đọc Đạo đức kinh, Kinh Thi, Sở từ… thì mới phù hợp với thói quen dân tộc, tiện lợi cho dân tộc. Theo ý chúng tôi, dùng cách đọc Hán Việt ở những trường hợp này là một điều hết sức phù hợp với khoa học. Đọc theo lối Hán Việt thì dễ hiểu hơn, bởi lẽ ngay trong tiếng Việt đã có khá nhiều tiếng Hán Việt quen thuộc, chỉ đọc lên, nghe được, là hiểu được; đọc theo lối Hán Việt thì cũng thuận tai hơn… ”.[9]

Đúng thế. Thí dụ từ 社會, người Anh biết Hán ngữ đọc shưa huây, người Anh không biết Hán ngữ khi nghe âm đọc ấy sẽ chẳng hiểu gì; còn người Việt biết Hán ngữ đọc “xã hội”, người Việt không biết Hán ngữ nghe đọc sẽ hiểu ngay nghĩa của từ; âm “xã hội” thuận tai, dễ đọc dễ nhớ hơn âm shưa huây. Rõ ràng cách đọc Hán-Việt thật tiện lợi cho người Việt. Trong bài sau, chúng tôi sẽ nói thêm về vấn đề này.

Ngày nay mỗi chữ Hán trong tất cả các từ điển Hán-Việt đều phải ghi kèm từ Hán-Việt tương ứng. Hán-Việt Tự điển của Thiều Chửu có kèm Bảng tra chữ theo âm Hán-Việt, dùng tra chữ Hán rất tiện và nhanh hơn tra theo bộ thủ. Người có sáng kiến làm Bảng này là bà Nguyễn Thị Quy (1915-1992), em ruột Thiều Chửu, khi bà lần đầu xuất bản Tự điển nói trên tại Sài Gòn năm 1966.[10]

Như vậy, bằng cách đọc chữ Hán theo âm tiếng Việt, tổ tiên ta đã thành công trong việc mượn chữ Hán để dùng làm chữ viết chính thức của dân tộc mình và gọi nó là chữ Nho. Sự vay mượn này chẳng những không làm cho tiếng Việt bị biến mất mà còn làm cho nó phong phú hơn rất nhiều, trở thành một ngôn ngữ cực kỳ linh hoạt, có thể tiếp nhận và Việt hóa hầu như toàn bộ từ ngữ mới xuất hiện trong tiến trình phát triển của loài người toàn cầu.

Chữ Nho khác chữ Hán ở phần ngữ âm: nó là chữ Hán được đọc bằng âm tiếng Việt chứ không đọc bằng âm tiếng Hán như chữ người Hán dùng. Nói cách khác, chữ Nho là chữ Hán đã được Việt Nam hóa phần ngữ âm; còn về tự dạng và nghĩa chữ thì cơ bản như chữ Hán của người Hán. Vì thế có người gọi chữ Nho  chữ Hán-Việt.

Rõ ràng nó là chữ của người Việt Nam, đã Việt Nam hóa phần ngữ âm, không thể coi là chữ của người Hán. Chữ Nho là chữ viết chính thức của dân tộc ta trong hơn 2.000 năm, kể từ thời điểm muộn nhất là bắt đầu thời Bắc thuộc cho tới khi được thay thế bằng chữ Quốc ngữ cực kỳ ưu việt, được chính các nhà Nho tiên tiến tán thưởng và đi tiên phong ủng hộ sự phổ cập Quốc ngữ.

Cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt đã đáp ứng nhu cầu giao tiếp bằng bút đàm giữa quan lại cấp thấp người Việt với quan lại cấp cao người Hán, khiến cho bọn thống trị người Hán vẫn thực thi được quyền lực cai trị dân bản xứ. Hơn nữa, cách đó làm cho việc phổ cập chữ Hán trong người Việt trở nên dễ dàng, tức đáp ứng yêu cầu dạy chữ Hán của các vương triều người Hán. Vì vậy chúng không còn lý do cưỡng chế dân ta phải học nghe/nói tiếng Trung Quốc.

Cách đọc chữ Hán như trên đã có tác dụng không ngờ là làm cho người Hán dù có cai trị Việt Nam bao lâu thì cũng không thể tiêu diệt nổi tiếng Việt và Hán hóa được dân tộc ta. Có thể là khi bắt đầu sáng tạo cách đọc ấy, tổ tiên ta chưa nghĩ tới điều đó, nhưng rốt cuộc sáng tạo xuất sắc này đã giúp dân tộc ta tránh được nguy cơ bị người Hán đồng hóa. Đây là một thành công vĩ đại!

Đáng tiếc là hiện không thấy có thư tịch nào ghi chép ai nghĩ ra và thời điểm nào xuất hiện cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt. Có thể cho rằng sáng kiến đó ra đời khi chữ Hán bắt đầu vào nước ta, tức muộn nhất là khoảng thế kỷ 2 – 1 tr.CN.

Có ý kiến cho rằng cách đọc Hán-Việt bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, cụ thể là Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng hai thế kỷ 8, 9.

Nếu hiểu ý kiến này theo nghĩa đến đời Đường mới xuất hiện cách đọc Hán-Việt thì e rằng khó có thể giải đáp câu hỏi: vậy thì trong thời gian khoảng ngót 1000 năm trước đó người Việt đọc chữ Hán bằng cách nào? Đến đời Đường, người Hán đã thống trị Việt Nam được hơn 9 thế kỷ, quá thừa thời gian để họ hoàn toàn đồng hóa người Việt bằng văn hóa, ngôn ngữ, khi ấy tiếng Việt đã bị biến mất, sao còn có thể xuất hiện cách đọc Hán-Việt?

Phải chăng nên hiểu ý kiến trên theo nghĩa: đến thời Đường, cách đọc Hán-Việt được hoàn thiện nhờ học tập Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng thế kỷ 8 – 9.

***

Có thể kết luận: dân tộc Việt Nam tồn tại được và không bị đồng hóa sau hơn 1.000 năm chịu sự thống trị của một quốc gia liền kề có nền văn hóa lớn mạnh là nhờ đã phát huy bản lĩnh trí tuệ của mình, thể hiện ở chỗ sáng tạo được biện pháp đọc chữ Hán bằng tiếng Việt, qua đó đã vô hiệu hóa chủ trương đồng hóa ngôn ngữ của các triều đại phong kiến Trung Hoa.

Có những người Hán đã nhận ra bản lĩnh trí tuệ ấy của người Việt.

Năm 987, nhà Tống cử Lý Giác李覺 đi sứ sang Hoa Lư, Việt Nam, được hai vị Quốc sư Khuông Việt và Pháp Thuận đón tiếp, đàm phán các vấn đề quốc gia đại sự và họa thơ. Khi về nước, Lý Giác tặng vua Lê Đại Hành một bài thơ, trong có câu: “Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu 天外有天應遠照”, nghĩa là: “Ngoài trời này còn có trời khác, nên nhìn thấy”. Nói cách khác, thế giới này đâu phải chỉ có một mặt trời Trung Hoa mà còn có mặt trời Việt Nam!

Câu thơ cho thấy Lý Giác đã bước đầu nhận ra bản lĩnh trí tuệ của người Việt. Đúng thế, tổ tiên ta thật vô cùng tài giỏi, nếu không thì còn đâu giang sơn tươi đẹp này!

Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.

—————————

[1] Nói là “muộn nhất” vì còn có các quan điểm như: chữ Hán vào VN qua con đường giao thương hoặc truyền bá tôn giáo từ lâu trước khi nước ta bị Triệu Đà chiếm; VN đã có chữ viết từ đời Hùng Vương (Hoàng Hải Vân: Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động).

[2]宋代中越文学交流述 có câu 黎嵩越鑑通考總論 viết : 趙佗建立學校,導之經義。由此已降,四百余年,頗有似類” .

[3] Bài 汉字名称的来由 (http://blog.sina.com.cn) và một số bài khác có viết: Từ  Hán tự  漢字 xuất hiện sớm trong Bắc sử, quyển 9 [biên soạn xong năm 659]. 汉字一词早出自《北史》卷九本纪第九, “章宗一十八年,封金源郡王.习本朝语言小字汉字经书,进士完颜匡、司经徐孝美等侍读”. Từ Hán tự xuất hiện nhiều trong sách Kim sử 金史 (năm 1345) đời Nguyên. Ở đời nhà Thanh (1644-1911), thời kỳ đầu do chữ viết chính thức của chính quyền không phải là chữ Hán mà là chữ Mãn (满文) nên phải dùng tên gọi chữ Hán 漢字 để chỉ loại văn tự truyền thống của người Hán, nhằm phân biệt với chữ Mãn.

[4] Có ý kiến nói do thời bấy giờ thứ chữ đó được dùng để dạy dân ta học Nho giáo 儒教 nên dân ta gọi nó là chữ Nho. Nhưng Nho với nghĩa “người có học” xuất hiện trước rất lâu, sau đó mới dùng chữ ấy vào từ Nho giáo để gọi học thuyết của Khổng Tử. Cùng lý do ấy, chữ Khổng có trước khi Khổng Tử ra đời.

[5] Khó có thể biết đó là âm tiếng địa phương nào ở TQ. Trong đó có những âm tiếng Quảng Đông, như nhất, nhì, shập, học chập khi đọc các chữ  一,二,十,學習 (âm Hán-Việt đọc nhất, nhị, thập, học tập).

[6] Thí dụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) 8 tuổi học chữ Nho, 13 tuổi văn hay chữ tốt, 24 tuổi đậu Giải Nguyên, 28 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ. Phan Bội Châu (1867-1940) 6 tuổi học ba ngày đã thuộc lòng 1440 chữ Nho trong Tam Tự Kinh. Trần Gia Minh tác giả sách Huyền thoại Kim thiếp Vũ Môn 5-6 tuổi đã học chữ Nho truyền khẩu từ người ông mù lòa.

[7] Do nhà Nho Đoàn Trung Còn sáng tác, là một bài vè dài, mỗi câu hai âm, đọc lên có vần điệu dễ nhớ.

[8] Năm 1867, G. Aubaret trong cuốn Grammaire annamite từng sai lầm nhận định: “Tiếng bình dân nói trong vương quốc An Nam là một phương ngữ của tiếng Trung Quốc” (trích dẫn theo Phạm Thị Kiều Ly trong “Ghi âm tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ”, sách “Tiếng Việt 6”, Nxb Tri Thức, 2015).

[9] Nguyễn Tài Cẩn : Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt.

[10] Dẫn theo Lê Quốc Trinh, con trai bà Quy và là người trực tiếp tham gia làm Bảng tra này.

Làm Báo – Sổ tay thường dân – Tưởng Năng Tiến

Làm Báo

Tưởng gì chớ làm báo, và viết báo thì tôi rành rẽ (lắm) ngay từ lúc thiếu thời. Toàn là những chuyện không vui, hay những kinh nghiệm rất buồn.

Bài viết đầu tiên của tôi xuất hiện ở tạp chí Phổ Thông năm 1967. Dù có ghi rõ ngay ở trang đầu “lấy nhuận bút” nhưng tôi không nhận được đồng xu cắc bạc nào ráo trọi, báo biếu hay thư cảm ơn (suông) cũng khỏi có luôn.

Đúng là một “cái tát” đầu đời, dành cho một mầm non văn nghệ, ở tuổi 15! Từ đó – thỉnh thoảng – tôi lại nhận được thêm vài “cái tát” nữa của quí vị chủ nhiệm/chủ bút, hay … chủ chợ!

Suốt những năm của thập niên 1980, khi vừa mới chân ướt chân ráo đến California, tôi cùng vài người bạn hì hục làm báo và nhà xuất bản Nhân Văn. Độc giả dài hạn không nhiều, khoảng năm bẩy trăm thôi, tiền mua báo chỉ vừa đủ chi trả cho ấn phí và bưu phí.

Chúng tôi cũng kiếm thêm được chút đỉnh nhờ vào quảng cáo, và sách báo bán ngay tại địa phương. Còn số gửi đi những thành phố khác, và tiểu bang xa thì kể như mất trắng. Hiếm có ông bà chủ tiệm, hay chủ chợ, nào sòng phẳng lắm.

Tôi viết báo bị chạy tiền (liền liền) và làm báo bị giật tiền (liên miên) nên nói chuyện sách báo không khỏi cảm thấy đôi chút ngại ngần hay cay đắng.

Tâm cảm buồn phiền này chỉ mới hoàn toàn biến mất trong những ngày qua, sau khi tôi tình cờ được biết qua về tờ báo Hợp Đoàn, phát hành từ Trại Trừng Giới A20 – ở Phú Yên.

Sao lại làm báo trong tù, và cách nào hả Trời?

Một trong những nhân vật chính trong cuộc, A-20 Nguyễn Chí Thiệp (tác giả Trại Kiên Giam – nxb Sông Thu 1992) cho hay :

Trao đổi ý kiến với Trần Danh San và Vũ Văn Ánh, chúng tôi đồng ý với nhau cần phổ biến rộng rãi hơn những hiểu biết ít ỏi về chế độ Cộng sản, về những vấn đề trọng đại của thế giới, để cùng nhau có những cái nhìn xa hơn và sẵn sàng chấp nhận một thời gian tù đày lâu dài, có một niềm tin là chế độ Cộng sản sẽ sụp đổ…

Đúng như tên Hợp Đoàn do anh Vũ Văn Ánh đặt cho tờ báo, Hợp Đoàn thể hiện được phần nào sự đoàn kết, nó không thuộc tổ chức chính trị nào. Ánh, tôi và các em sĩ quan trẻ như Nhì, Ngọc, Cường, Hải… và hai em sinh viên Vũ Văn Dũng và Nguyễn Thanh Nhàn trên lập trường Quốc gia chống Cộng sản.

Không ai tham gia một tổ chức chính trị nào, chỉ có anh Trần Danh San, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Quyền, đảng viên Duy Dân, những bài viết của anh trên lập trường chính trị đó, Ánh và tôi đồng ý là tờ Hợp Đoàn sẽ đăng tất cả các bài vở của tất cả các quan điểm chính trị Quốc gia nếu họ đóng góp, dĩ nhiên là trên lập trường chống Cộng.

A-20 Phạm Đức Nhì cho biết thêm :

Đó là một quyển vở học trò khoảng 60, 70 trang bị cắt ngang mất non nửa; giấy trắng tinh, bóng láng, được khâu lại cẩn thận. Trang bìa là 2 chữ Hợp Đoàn khổ lớn, được trình bày rất khéo và đẹp. Lật qua vài tờ thì thấy tờ báo được viết tay, chữ đẹp và rõ ràng, dễ đọc, trình bày trang nhã, bắt mắt

Nội dung các bài viết đều là những vấn đề thời sự nóng bỏng hấp dẫn ở trong trại và ngoài đời. Tôi đọc ngấu nghiến một lúc là hết. Hết mà vẫn thòm thèm, cứ tiếc là tờ báo không dầy thêm vài chục trang nữa. Có thể nói giọng văn truyền cảm và các đề tài thiết thực của tờ báo đã chinh phục tôi hoàn toàn…

Cứ thế, trong khoảng hơn 5 tháng, Vũ Ánh đã cho ra lò 3 số Hợp Đoàn; số sau đẹp hơn, hay hơn số trước. Khi phong trào chống đối ở trong trại lên cao; những người tù đã đồng lòng chây lười (một cách hợp nội quy) khi đi lao động; khi họp hành, học tập thì miệng câm như hến; khi cần phát biểu thì chỉ trích chế độ ăn uống quá thiếu thốn, lao động quá nặng nhọc mà chế độ thăm nuôi, quà cáp quá khắt khe. Đúng lúc ấy, một số người tù bị coi là ‘nguy hiểm’ lần lượt đi vào xà lim mà không có lý do gì hết. Vũ văn Ánh là người đầu tiên trong số họ xỏ chân vào cùm. Tờ Hợp Đoàn mất Sáng Lập Viên kiêm Chủ Bút, kiêm Tổng Thư Ký Tòa Soạn tạm thời đình bản…

Sau đó, do độc giả yêu cầu tha thiết quá, anh San, anh Thiệp, Ngọc Đen, Hải Bầu, Vũ Mạnh Dũng đề nghị tôi làm Thư Ký Tòa Soạn. Nhiệm vụ của tôi là đọc, sửa chữa, sắp xếp bài vở rồi giao cho Hải Bầu lên khuôn. Tôi biết kiến thức, khả năng của mình còn chưa tương xứng với công việc có trách nhiệm lớn lao như vậy, nhưng lúc đó tôi bị liệt hai chân, không phải đi lao động nên có điều kiện thuận lợi hơn các anh em khác. Thêm nữa, cái máu liều của thằng lính nhảy dù trong tôi vẫn còn nóng hổi nên tôi đã không từ chối. Hợp Đoàn tiếp tục một cách an toàn được 2 số nữa.

Cái giá phải trả cho năm số báo Hợp Đoàn – tất nhiên – không rẻ. Lần lượt từ ban biên tập, cộng tác viên phát hành (và cả độc giả nữa) đều bị vô cùm hết ráo. Kẻ vài ba tháng, người sáu bẩy năm.

A-20 Nguyễn Thanh Khiết cảm thán : 

Sáu năm biệt giam
ba muỗng nước, ba muỗng cơm
chưa lần lung lay ý chí
một đời anh – một đời sĩ khí
bước thấp, bước cao cắn nhục mà đi
ngọn bút hiên ngang
thay làn tên mũi đạn
giữa trại thù nét mực chưa phai

Thế đâu đã thôi!

Làm báo chui trong một xã hội theo chế độ toàn trị đã là một chuyện động trời rồi, nói chi đến việc phát hành một thứ underground press giữa một trại tù được mệnh danh là Thung Lũng Tử Thần :

Tôi không biết có phải do ảnh hưởng của việc Hà Nội thỏa thuận chương trình Tìm Kiếm Người Mỹ Mất Tích hay Chương trình nhân đạo đưa những cựu tù nhân cải tạo đi tái định cư ở Hoa Kỳ hay không mà một số anh em chúng tôi được chuyển về một trại gần Saigon hơn, đó là trại Z-30A Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh, một trại mà cuộc sống của tù nhân cải tạo tương đối thoải mái hơn so với A-20… nhóm chúng tôi gồm T.D.S, N.C.T và Ng. “đen” lại bị di lý về nhà tù số 4 Phan Ðăng Lưu trước cửa chợ Bà Chiểu năm 1986 để ra tòa vì công an Saigon đã nắm được bằng chứng chúng tôi bí mật cho ra tờ Hợp Ðoàn ở A-20.

Nhưng khi hỏi cung xong và có bản cáo trạng đòi án chung thân đối với 4 người chúng tôi và theo kế hoạch nhà cầm quyền dự tính đưa ra xử trước tòa ngay sau vụ xử nhà văn Doãn Quốc Sỹ và Dương Hùng Cường, nhưng vào giờ chót Viện Kiểm Sát lại quyết định không truy tố nữa … (Vũ Ánh. Thung Lũng Tử Thần. Người Việt Books: 2014).

Cái quyết định bất ngờ này, theo thiển ý, chả phải vì “chương trình nhân đạo” nào cả mà chỉ vì nhà đương cuộc Hà Nội (“vào giờ chót”) bỗng chợt nhận thức được rằng khoác thêm cái bản án chung thân cho những con người đã trải qua gần hết đời mình trong những trại biệt giam (mà không hề nao núng) chả phải là chuyện khôn ngoan.

Thêm một phiên tòa dành cho tờ Hợp Đoàn chỉ giúp cho công luận thấy được rõ hơn sự tàn bạo của chế độ hiện hành, cùng tính chất bất khuất và can trường của những kẻ thuộc bên thua cuộc mà thôi.

Chỉ có điều đáng tiếc là cái tinh thần Hợp Đoàn đã không “nở hoa” nơi vùng đất tự do, theo như lời “phàn nàn” của chính người chủ xướng, nhà báo Vũ Ánh :

Sống trong một cộng đồng mà lúc nào cũng nghe những lời kêu gọi đoàn kết để chống Cộng nhưng ngược lại lúc nào cũng chỉ nghe thấy, đọc thấy những tranh cãi về một chuyện rất nhỏ nhặt chẳng hạn như con số người đến tham dự một buổi sinh hoạt nào đó, tổ chức này không ngồi chung hay đứng chung với tổ chức kia, không những thế lại còn ngáng chân nhau, chỉ trích nhau thậm tệ, liệu có ai là không thấy ngượng không ?

Thế mới biết tự do cũng giống y như thời giờ và tiền bạc vậy, hễ cứ có thừa là thế nào cũng bị lạm dụng hay phung phí. Cái gì hiếm thì mới quí!

Tưởng Năng Tiến
2/2022

DU HỌC SINH: “ĐI ĐI, ĐỪNG VỀ!”

Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Bạn Bè

Thuận Đinh  

Đến con cháu của thg hồ, thg giáp…mà còn chẳng thèm về, thì đủ hiểu rồi hén.

Báo Tin Tức Việt Đức

 DU HỌC SINH: “ĐI ĐI, ĐỪNG VỀ!”

Đây là những tâm sự thật của một bạn du học sinh Mỹ vừa về Việt Nam trong đợt hè 2018. Tôi quyết định giấu tên người chia sẻ câu chuyện này.

Góc nhìn Việt Nam: ‘Đi Mỹ được rồi, về làm gì?

Tôi năm nay 21 tuổi, đang du học tại Mỹ. Kết thúc 4 năm Đại học, tôi muốn về Việt Nam. Nhưng ai cũng ngăn cản: ‘Đi đi, đừng về!’

Bố mẹ tôi làm trong ngành y. Hai người bắt đầu nói về chuyện du học và định cư tại Mỹ khi tôi mới học 11. Mẹ thường hay kể công việc hằng ngày tại bệnh viện, để tôi hiểu lời hối thúc ‘đừng về Việt Nam’ bắt nguồn từ 20 năm sống trong bức xúc của mẹ: ‘Bệnh viện của mẹ có một bác giám đốc lên chức từ những năm 80. Kể từ đó, bác đã cho không biết bao nhiêu họ hàng từ Bắc, Trung vào làm hộ lý, điều dưỡng, kỹ thuật viên,…

Với ‘quyền lực mềm’ của giám đốc, bác chỉ nói một tiếng, có anh trưởng khoa nào không dám nhận người? Toàn con ông cháu cha. Còn những sinh viên chính quy, nắm tấm bằng Đại học, phải trầy trật khổ sở để được bước chân vào cổng viện. Không chỉ ở đây, mà bất cứ nơi đâu tại Việt Nam này cũng có ‘quyền lực mềm’ giống thế hoặc hơn thế. Nhiễu nhương lắm. Hách dịch lắm. Về làm gì hả con?’

Khi không thuyết phục được tôi, ba mẹ viện đến dì. Dì bảo: ‘Dì hiểu là con muốn về Việt Nam để cống hiến. Nhưng, ở nơi này, tài năng của con không có cơ hội phát triển. Tìm cách định cư đi. Khi đã có kinh tế, con muốn làm gì cho quê hương mà chẳng được!’ Không chỉ bố mẹ, dì, mà các bác đang sống ở Mỹ đều đồng ý với quan điểm ấy.

Lăng kính Mỹ: ‘Lý do nào để quay về quê hương?’

Trong vòng tròn bạn bè của tôi, chỉ ra ai không muốn về Việt Nam thì rất dễ. Còn tìm người quyết tâm trở lại thì thật khó khăn. Nhiều bạn lưỡng lự, không ai dám chắc chắn hai chữ: ‘Sẽ về!’

Tôi có một cô bạn thân đang học ngành Công nghệ thực phẩm. Cô bảo: ‘Ngành mình học, về nước không xài được. Còn đường ở Canada thì rộng mở. Mình không muốn trở về để chật vật kiếm một chỗ làm sau 4 năm vất vả!’ Một người bạn khác chia sẻ: ‘Từ lúc quyết tâm theo đuổi sự nghiệp sản xuất âm nhạc, mình đã biết.

Tại Việt Nam, mình sẽ không làm được.’ Một chị theo học kinh tế thì bảo: ‘Đơn giản chị không muốn!’ Chị đang đi thực tập rất nhiều nơi, kiếm tìm một chỗ tài trợ visa cho mình. Anh bạn học kỹ sư hóa, vừa apply thạc sĩ thành công nói với tôi: “Anh thích nghiên cứu khoa học, Việt Nam sao có đất cho anh?

Về ư? Anh không thể.” Những thằng Mỹ thì hỏi thẳng vào mặt tôi: ‘Tụi mày từ Việt Nam đến đây học, thụ hưởng văn hóa của tụi tao, thụ hưởng cả những đồng tiền bố mẹ tao còng lưng đóng thuế. Học xong mày phủi tay quay về nước, thế thì có công bằng với tụi tao hay không?’

Giữa dòng ý kiến ‘Đi đi, đừng về!’ dữ dằn như thác lũ đẩy tôi lùi lại, tôi nhìn về quê hương, cố gắng tìm một lý do cho mình quay lại. Nhưng tìm hoài mà không thấy.

Chưa bao giờ sách giáo khoa nói về những cái cúi đầu của chúng tôi trên đất Mỹ, vì nỗi tự ti quê hương thua kém hơn, mà chỉ bảo: ‘Nước ta rừng vàng biển bạc.’ Chưa bao giờ chúng tôi được dạy về ‘trách nhiệm công dân’.

Chúng tôi chỉ học ganh đua điểm số, chứ không học cách cùng nắm tay nhau mà đi xây dựng đất nước. Chưa bao giờ bố mẹ nói tôi phải có trách nhiệm với Việt Nam, mà chỉ nói: ‘Đừng về để dẫm vào đường cụt. Trên mảnh đất này, người tài không có cơ hội. Vì tương lai của con, hãy đi đi!” Việt Nam ơi, người có cho tôi một lý do để trở về?’

________________

Tâm sự của một du học sinh Mỹ trong dịp hè về thăm Việt Nam

Đỗ Thanh Lam

Vụ chém chết linh mục lúc giải tội được BPSOS báo động

Đài Á Châu Tự Do 

Ông Nguyễn Đình Thắng cho rằng việc Chính phủ Việt Nam dung dưỡng sự phỉ báng và phát biểu hận thù nhắm vào các vị lãnh đạo tôn giáo không phục tùng chính quyền có thể dẫn đến bạo lực.

Báo động của ông Nguyễn Đình Thắng được nêu ra cho hơn 100 người tham dự cuộc họp của nhóm Bàn tròn Tự do Tôn giáo Quốc tế. Ông này còn cho biết BPSOS đã tiến hành thành lập tổ công tác để theo dõi diễn tiến vụ việc, lập báo cáo và vận động quốc tế.

BPSOS cho biết, trong năm 2021, BPSOS đã tiến hành nhiều cuộc họp với các giới chức Liên Hiệp Quốc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và các tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế để nêu ra tình trạng những người gọi là ‘dư luận viên’ dùng mạng xã hội để kích động hận thù tôn giáo tại Việt Nam.

Vụ chém chết linh mục lúc giải tội được BPSOS báo động
RFA.ORG

Vụ chém chết linh mục lúc giải tội được BPSOS báo động

Việc Chính phủ Việt Nam dung dưỡng sự phỉ báng và phát biểu hận thù nhắm vào các vị lãnh đạo tôn giáo không phục tùng chính quyền có thể dẫn đến bạo lực. 

Tại sao người Việt khó hòa giải

Bauxite Việt Nam

Tại sao người Việt khó hòa giải

Nguyễn Quang Dy

“Đoàn kết ta đứng vững, chia rẽ sẽ thất bại” (United We Stand Divided We Fall).

Tết đang đến rất gần, như chỉ còn mấy gang tay. Tết là dịp để người Việt đến với nhau theo truyền thống “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”. Nhưng Tết này buồn vì nhiều người vẫn chưa có lương, hay không được về quê ăn Tết vì dịch. Tết này còn buồn hơn vì “đám mây đen Việt Á” vẫn đang ám ảnh.

Sinh thời, cụ Hồ rất thích bài hát “Kết Đoàn”, vì đó là nguồn gốc của sức mạnh, như “con ngươi của mắt mình”. Không chỉ ở Châu Á mà ở Phương Tây người ta cũng coi trọng đoàn kết (unity) như quy luật sinh tồn của loài người. Nhưng đáng tiếc, nhiều người Việt đã làm ngược lại các giá trị truyền thống và phổ quát. Tội ác và lừa đảo ngày càng tăng.

Gần đây, khi đọc bài “Người Việt Mới” của Lê Kiên Thành (Tiếng Dân, 13/1/2022) tôi muốn viết một cái gì đó để chia sẻ với anh và bạn đọc vào dịp Tết. Chắc nhiều người cũng có tâm trạng tương tự như vậy. Đó là tâm trạng của thế hệ người Việt bị xô đẩy vào cuộc chiến tranh tương tàn, nay dù đất nước đã thống nhất nhưng vẫn khó hòa giải.

Cũng là người Việt, nhưng người Miền Bắc hơi khác Miền Nam hay Miền Trung. Sự khác biệt về tập quán văn hóa và phương ngữ vùng miền là điều bình thường tại nhiều nước. Nhưng người Việt còn bị phân hóa thành hai phe Bắc-Nam hay “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc”. Kết cục năm 1975 làm “hàng triệu người vui, và hàng triệu người buồn”.

Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc cách đây 47 năm. Hai kẻ thù là Mỹ và Việt Nam đã trở thành “đối tác toàn diện”, nay thực chất là “đối tác chiến lược”. Nhưng người Việt vẫn chưa hòa giải với nhau, giữa “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc”. Nay trong cùng “bên thắng cuộc”, người Việt lại phân hóa thành “người Việt mới” và “người Việt cũ”.

Đó là hiện tượng “phân hóa đa chiều” (multiple polarization) đang làm cho quá trình hòa giải dân tộc vốn đã phức tạp lại càng thêm phức tạp và khó khăn hơn. Không thể đổi mới và chấn hưng đất nước nếu thiếu đồng thuận quốc gia. Các vụ đại án như Việt Á chứng tỏ “đốt lò” không đủ răn đe chống virus tham nhũng, mà còn làm “nhờn thuốc”.

Con trai Tổng bí thư

Bài viết “Người Việt Mới” của Lê Kiên Thành tuy ngắn gọn (có 477 từ), nhưng ẩn chứa tâm trạng của một thế hệ như “phần nổi của tảng băng chìm”. Trước khi viết bài này, tôi đã tìm đọc lại các bài viết hoặc trả lời phỏng vấn của Thành. Tuy anh luôn tự hào về người cha của mình, nhưng Thành không hay khoe khoang và dựa dẫm vào ông.

Tôi quen biết Thành đã lâu, từ những năm đầu thập niên 1990 khi anh mới khởi nghiệp với TMC, một công ty nho nhỏ, có một văn phòng nho nhỏ ở phố Cao Bá Quát (Hà Nội). Tuy lâu ngày không gặp, nhưng tôi vẫn đọc các bài viết và trả lời phỏng vấn của Thành. Đó là một người chính trực, dám nói thẳng cả những chuyện nhạy cảm.

Tuy Thành “không làm chính trị” (hơi đáng tiếc) nhưng anh vẫn quan tâm đến chính trị và thời cuộc “như một người yêu nước”. Điều đó thể hiện qua các bài viết khi Thành kể lại thời kỳ đầu đổi mới như chuyện “tại sao làm kinh tế tư nhân” hay chuyện “suýt nữa phải ra khỏi đảng vì làm kinh tế”, (trong loạt bài “Đêm trước Đổi mới” của báo Dân Trí).

Tuy là con trai cố Tổng bí thư, nhưng Lê Kiên Thành cũng “lên bờ xuống ruộng” như nhiều người khác khi khởi nghiệp. Với mối quan hệ bạn bè ở Liên Xô cũ, Lê Kiên Thành và Nguyễn Duy Tộ đã có sáng kiến mua giúp quân đội khí tài cho không quân (trước khi có Công ty Vạn Xuân). Ngày nay người ta hay gọi việc đó là “buôn vũ khí”.

Sau khi có vốn, Thành và bạn bè đã lập ra Ngân hàng Kỹ Thương (Techcombank), một trong những ngân hàng TMCP đầu tiên thành công, sau đó bán lại cho người khác. So với những doanh nhân khác cùng thời, tuy Thành không trở thành “đại gia”, nhưng anh thường tự hào vì coi trọng nhân cách hơn tiền, không “làm giàu bằng mọi giá”.

Lê Kiên Thành khác Trương Gia Bình (FPT), tuy cùng thời và “con ông cháu cha” (princelings). Bình là con rể Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tuy sau này ly dị vợ. Có lẽ Thành không hợp với triết lý khởi nghiệp của Bình như lời chế trong bài “Đoàn FPT”: “Thằng Tây nó tiến thì mình giật lùi, thằng Tây nó lùi thì mình giật tiền”. Thành không chụp giật.

Thành không trực tiếp “làm chính trị” (như quan chức) nhưng anh vẫn tham gia Mặt trận Tổ quốc Thành phố, tuy biết khộng có quyền lực. Đã có lần Thành tranh cử vào Quốc hội tuy biết “99% sẽ thất bại”. Thành là con trai của cố Tổng bí thư nổi tiếng, nhưng điều đó chưa chắc đã đem lại lợi thế chính trị, vì anh có đầu óc đổi mới cấp tiến.

Người Việt mới là ai

Sau chiến tranh, đất nước đã đổi mới và phát triển kinh tế thị trường, nhưng chưa hoàn chỉnh, làm cho khoảng cách giàu-nghèo trong xã hội ngày càng tăng. Một số người (cả quan chức và doanh nhân) đã câu kết thành các nhóm lợi ích, thao túng thể chế để vơ vét làm giàu nhanh, trở thành “tư bản đỏ”, trong khi đa số người dân ngày càng nghèo.

Với nền kinh tế thị trường “định hướng XHCN”, xã hội Việt Nam bị phân hóa thành thiểu số có đặc quyền, được hưởng nhiều đặc lợi nên “có tài sản” (the haves) và những người không có đặc quyền và thất thế bị gạt ra ngoài lề nên “không có tài sản” (the haves not). Nói cách khác, đó là sự phân hóa giữa những “người Việt mới” và “người Việt cũ”.

Trong bối cảnh đó, những khẩu hiệu như “uống nước nhớ nguồn” hay “đền ơn đáp nghĩa” ngày càng sáo rỗng và vô nghĩa. Nhiều người thuộc thế hệ có đóng góp nhiều cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, nay cũng bị gạt ra ngoài lề vì không thích hợp với những nhóm lợi ích thân hữu đang thao túng thể chế để làm giàu nhanh.

Mâu thuẫn bùng phát thành các chiến dịch “đốt lò” (chống tham nhũng). Gần đây, vụ Phan Quốc Việt (Việt Á), Trịnh văn Quyết (FLC), và Đỗ Anh Dũng (Tân Hoàng Minh) chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm”. Việt Á đã nhập ba triệu bộ kit xét nghiệm của Trung Quốc giá 21,560 đồng về thổi giá lên 470,000 đồng, bán cho 62/63 tỉnh thành để trục lợi.

Muốn biết xu hướng “đốt lò” sắp tới, hãy chờ xem cách xử lý các vụ đại án (như Việt Á) liệu có triệt để không, hay “đầu voi đuôi chuột” vì “sợ vỡ bình”. Trong thời đại dịch, Việt Nam đứng trước “nguy cơ kép” (double dangers): tham nhũng đang “lũng đoạn nhà nước” (nội xâm) và Trung Quốc đang đe dọa chủ quyền tại Biển Đông (ngoại xâm).

Có thể nói các nhóm lợi ích thân hữu đã làm giàu nhanh trên mồ hôi, nước mắt, và cả sinh mạng của hàng triệu đồng bào, ngay trong đại dịch. Đó không chỉ là tội về kinh tế và hình sự mà còn là “giặc nội xâm”, nguy hiểm không kém virus Corona. Vì lòng tham, họ có thể tiếp tay cho “giặc ngoại xâm” trong cuộc chiến âm thầm không tiếng súng.

Vậy ai là chủ nhân thật sự của đất nước? Những “người Việt cũ” thường phàn nàn rằng họ giống những người “ngồi ghé trên một chuyến tàu không phải của mình”. Thực ra đó chính là chuyến tàu của họ, nhưng đã bị “những kẻ cướp tàu” (train hijackers) bắt cóc và bẻ ghi chạy theo hướng có lợi cho các nhóm lợi ích thân hữu – những “người Việt mới”.

Nếu nhà nước không cải tổ thể chế kịp thời để kiểm soát quyền lực, thì các nhóm lợi ích thân hữu sẽ lớn mạnh và biến tham nhũng chính sách thành “lũng đoạn nhà nước” (state capture). Thay vì nhà nước kiểm soát quyền lực của các nhóm lợi ích, thì chính họ sẽ lũng đoạn chính sách và kiểm soát nhà nước. Đó là nguy cơ từ “người Việt mới”.

Trong giai đoạn quá độ đi lên CNXH (hay CNTB), xã hội Việt Nam đứng trước nhiều thách thức và khủng hoảng, như khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng giáo dục, khủng hoảng lòng tin. Khủng hoảng nhân cách tuy ít được nói đến nhưng rất hệ trọng. Người ta nói đánh mất lòng tin rất khó lấy lại, và đánh mất nhân cách dễ trở thành thú hoang.

Việt Nam là một xã hội “đang chuyển đổi” (transitional) vẫn chưa công nghiệp hóa, trong khi thế giới đã bước sang giai đoạn “hậu công nghiệp” (post-industrial). Quá trình “tích tụ tư bản” theo “kinh tế thị trường” thường dễ méo mó vì người ta có thói quen duy ý chí hoặc ngộ nhận nên bất chấp quy luật. Vì vậy, người Việt vẫn cần “khai dân trí”.

Trong thế giới đa dạng và “tùy thuộc lẫn nhau” (inter-dedendance), người ta không thể trục lợi cho mình mà không nghĩ đến người khác, và không thể làm theo cách của mình (exceptionalism) mà không hợp tác với người khác. Ngày nay, không một nước nào có thể sống biệt lập trước những mối đe dọa toàn cầu như biến đổi khí hậu và dịch bệnh.

Lời cuối

Cách đây đã lâu lắm, khi trao đổi với Giáo sư của mình trong văn phòng của ông ấy tại đại học ANU, tôi thấy trên bức tường có treo một đoạn trích dẫn diễn ngôn của triết gia Plato. Tôi đã lặng lẽ nhẩm thuộc lòng đoạn đó và nhớ đến tận bây giờ, như một kỷ niệm của thời sinh viên. Tôi hiểu từ xa xưa, giới trí thức đã chịu nhiều bất cập.

Plato đã mô tả những nghịch cảnh của giới trí thức: “We the willing, guided by the unknowing, are doing the impossible for the ungrateful. We have done so much for so long with so little that we are now qualified to do anything with nothing, while the unknowing and the ungrateful are being congratulated for doing nothing, for so long, so well”.

Tạm dịch: “Chúng tôi là những người tâm huyết, được chỉ đạo bởi những kẻ dốt nát, đang làm những việc bất khả thi cho những kẻ vô ơn. Chúng tôi đã làm quá nhiều, quá lâu, với nguồn lực quá ít, nên bây giờ có thể làm bất cứ điều gì mà chẳng có gì, trong khi những kẻ dốt nát và vô ơn được chúc mừng vì không làm gì, quá lâu và quá giỏi”.

Trong đám tang anh Phạm Xuân Ẩn (2006) tôi bỗng nhớ tới lời Plato và chạnh lòng khi vĩnh biệt “người anh hùng thầm lặng” đã cống hiến cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng, nhưng vẫn mong đến ngày Mỹ và Việt Nam trở thành bạn bè. Đó là một nhân cách lớn được cả bạn và thù quý mến. Tôi đã lặng lẽ ghi vào sổ tang cảm xúc của mình.

Sau đó Larry Berman đã tìm thấy đoạn tôi viết trong sổ tang của gia đình và đưa vào chương Epilogue trong cuốn “Perfect Spy”: “Final farewell to our dear brother, teacher and colleague, Hai Trung, ‘a quiet Vietnamese’ hero, who is so uncommon in qualities yet so human in nature that he is well respected by both friends and foes alike, and standing out larger than life, almost a myth. Now that it’s all over, may his soul rest in peace in the next life, with all the pains and ironies, all the mysteries and memories of the good old days that not all is well understood, that he could quietly bring with him to the other world”.

Tạm dịch: “Giã từ người anh, người thầy và đồng nghiệp Hai Trung kính mến, ‘một người Viêt Nam thầm lặng’ và dũng cảm, mà phẩm chất và nhân cách đặc biệt đã làm cho cả bạn lẫn thù đều quý trọng, vượt lên trên cuộc đời thường, như một huyền thoại. Giờ đây khi mọi chuyện đã qua, cầu mong cho linh hồn anh được yên nghỉ trong kiếp sau, với tất cả những nỗi đau và oan trái, với tất cả những bí ẩn và ký ức của một thời xa vắng mà không phải ai cũng hiểu được, mà nay anh có thể lặng lẽ đem theo sang thế giới bên kia”.

28/01/2022

N.Q.D.  

Kẻ đã ra tay sát hại linh mục Trần Ngọc Thanh vì động cơ gì?

Kẻ đã ra tay sát hại linh mục Trần Ngọc Thanh vì động cơ gì?

Bởi  AdminTD

Phạm Minh Vũ

1-2-2022

Nguyễn Văn Kiên, kẻ sát hại linh mục Trần Ngọc Thanh.

Nguyễn Văn Kiên, kẻ này đã ra tay sát hại Cha Giuse Trần Ngọc Thanh trong khi Cha Thanh đang ngồi tòa giải tội ở giáo họ Sa-loong thuộc giáo xứ Đak Mot -Plei Kần – Ngọc Hồi- Kon Tum.

Theo một người thân cận của Cha kể lại hắn ta là một người bình thường, không bị điên, càng không ngáo đá, nói nó ngáo đá đó là tin tức bịa đặt, sai sự thật. Từ lúc hắn ta chia tay vợ, thì thường lui tới chơi với những công an viên xã. Hắn đã bị bắt để điều tra sau khi chém Cha Thanh.

Nằm ở phía Tây Bắc của Cao Nguyên trung phần, đây là một vùng giáp biên có Dân thưa thớt, đại đa số là người Thượng, nên hoạt động tôn giáo bị nhiều hạn chế bởi chính quyền, hàng chục năm qua chịu nhiều sự bách hại từ chính quyền địa phương. Theo nhiều anh chị em hoạt động thiện nguyện cho biết, những vùng như thế này, nếu lên để làm thiện nguyện mà không xin chính quyền tại đó thì sẽ bị kẻ lạ mặt tấn công vô cớ.

Ở Kontum, người ta kể ra ít nhất 4 vụ linh mục bị hành hung giữa thanh thiên bạch nhật, mà điểm chung là những người đó đều bị chính quyền từng nhiều lần đe dọa trực tiếp hay gián tiếp.

Linh mục Trần Ngọc Thanh. Nguồn: Internet

Cha Thanh, một Linh mục Dòng Đa Minh, được thụ phong linh mục năm 2018, năm 2019 đã xung phong lên giúp xứ Đak Mot và lên phó xứ, và sau đó phụ trách nhiều giáo họ trong xứ, trong đó Đak Xú là một nơi gắn bó với Cha từ ngày lên nhận xứ, tình yêu thương người nghèo, thương những em nhỏ vùng biên nơi tới trường phải đi chân đất lội bộ cả chục km, nơi các em cơm ăn trộn với cơm trắng, Cha đã cố gắng tìm nhiều ân nhân, xin nhiều nơi bằng nhiều cách để mong sự quan tâm của họ tới nơi vùng xa mặt trời này.

Gíao họ Sa-Loong chuẩn bị tách ra lên giáo xứ Cha Thanh về quản nhiệm tại đây mới chỉ đúng một tháng. Mới đúng một tháng Cha còn chưa kịp nhớ tên của ban bệ trong giáo họ thì làm sao gây thù oán cùng với ai? Cha Thanh không hề biết tên Kiên này là ai, càng không gây thù oán với anh ta, vậy mà anh ta lại tung những nhát dao chát chúa vào vị mục tử vì đàn chiên này!

Nhưng vì sao anh ta lại giết Cha là một câu hỏi chắc sẽ khó có câu trả lời, hiện tại tất cả truyền thông nhà nước đều im bặt một cách khó hiểu, thường một vụ án giết người thì đám báo chí nhà nước chắc không bỏ qua để chạy tin kiếm view, nhưng đây thì im.

Mấy tháng trước Cha đang còn ở Đak Xú, có ân nhân tặng cho Cha bàn đá và tượng Thánh Giuse, khi công trình hoàn thành xong thì một tuần sau Cha báo tin cho chị ân nhân ấy là tượng thánh Giuse ở Đak xú bị chính quyền tới cẩu đi, sau nhiều lần đe dọa phải tháo dỡ. Chỉ còn trơ bệ tượng Cha không chịu khuất phục nên bị chính quyền cẩu đi, Cha Thanh phải xin tượng Thánh Giuse nhỏ hơn, chưa kịp thì Cha đã…

Phải nói rằng, ở Tây Nguyên các hoạt động tôn giáo bị bách hại rất khủng khiếp, những năm qua những người theo Tin Lành phải chạy sang Thái Lan tị nạn vì bị chính quyền đàn áp thô bạo. Phật giáo như Bát Nhã ở Bảo Lộc – Lâm Đồng cũng bị chính quyền đàn áp làm cho 400 tu sĩ phải chạy sang Thái Lan tị nạn chính trị và lập Làng Mai.

Ngay cả mấy tháng trước ở Kontum có một linh mục bị đâm trọng thương, và nhiều tu sĩ nam nữ bị chính quyền tấn công vô cớ như đâm xe, hay chọi đá. Ngay việc xây dựng một cái bếp của mấy nữ tu sĩ công giáo cũng bị xách nhiễu đủ điều, bị chính quyền hạnh họe là chưa đủ tiêu chuẩn abc.. thì dự định xây một nhà thờ của Cha Thanh chắc là…

Tôi không dám chắc chắn chính quyền đứng đằng sau vụ sát hại Cha Thanh hay không, nhưng tôi tin chắc chắn rằng Cha Thanh và kẻ thủ ác tên Kiên này không hề có xích mích hay thù oán với nhau.

Không thù oán mà ra tay tàn nhẫn như thế chắc chắn phải có động cơ nào? Ai giật dây đằng sau.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Cái Tết (& cái tát) năm Thân

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Cái Tết (& cái tát) năm Thân

Cái gì chớ hệ thống can chi (Thiên Can Địa Chi)và Âm Lịch (Lunar Calendar) thì tôi không được rành rẽ gì cho lắm, hay nói chính xác hơn là rất lờ mờ. Bởi vậy, tôi vô cùng ngần ngại khi phải  hầu chuyện với những vị trưởng thượng mà miệng vừa lẩm bẩm (Tí, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Thân, Dậu …) vừa bấm đốt ngón tay, hoặc thỉnh thoảng lại nhíu mày khi cố nhớ những sự kiện đã xa lắc xa lơ (vào những năm một ngàn bẩy trăm, tám trăm, chín trăm … nào đó) đại loại như Chiến Thắng Năm Kỷ Dậu, Hòa Ước Năm Giáp Thân, Trận Lụt Năm Thìn …

Phải gu gồ (chút xíu) mới biết rằng Chiến Thắng Năm Kỷ Dậu vào năm 1789, Hòa Ước Năm Giáp Thân ký năm 1884, và Trận Lụt Năm Thìn xẩy ra hồi 1964 … Riêng Cuộc Thảm Sát Mậu Thân thì tôi biết ngay là năm 1968 vì đã qua tuổi ấu thơ, và vẫn nhớ mãi cái tát (như trời giáng) đúng vào ngày Tết.

Nhà tôi ở Dốc Nhà Làng. Con dốc này còn có tên chính thức là đường Nguyễn Biểu nhưng không mấy ai biết thế, kể cả người địa phương. Dân Đà Lạt thường chỉ biết đây là nơi tụ tập cả ngày lẫn đêm của cả trăm sòng bầu cua, xóc đĩa, tài xỉu (lớn nhỏ đủ cỡ) suốt cả mùa Xuân!

Sáng hôm đó tôi thức sớm vì sự im ắng khác thường bao quanh. Vừa mở cửa, chưa bước hẳn chân ra đến ban công, đã thấy vài người lính trẻ – cỡ cùng tuổi mới lớn như tôi – tay lăm lăm vũ khí (đang đứng nép vào thành tả luy ngay trước nhà) với nét mặt vô cùng căng thẳng, và lo âu, chứ hoàn toàn không có vẻ chi là hung dữ hay đe dọa cả.

Tôi chưa biết phản ứng ra sao thì họ đưa ngón tay trỏ lên môi ra dấu im lặng. Theo phản xạ tự nhiên, tôi gật gật đầu rồi quay nhanh vào bên trong lấy mấy cái bánh chưng trên bàn thờ thẩy xuống đường.

Cả đám mừng rơn. Tôi còn định lấy thêm cam chuối nữa nhưng chưa kịp làm thì bố tôi xuất hiện. Ông nắm cổ áo giật mạnh khiến tôi loạng choạng lùi hẳn vào bên trong, rồi tiện tay tát cho thằng con một cái (nổ đom đóm mắt) trước khi vội vàng khép ngay cửa lại.

Chuyện gì vậy, Trời?

Sau này, tôi mới biết những người lạ là cán binh Cộng Sản. Họ xuất hiện mọi nơi, chứ chả riêng chi Đà Lạt, theo kế hoạch “Tổng Tấn Công/ Nổi Dậy” của Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương Miền Bắc.

Kế hoạch này tuy thành công nhờ yếu tố bất ngờ (được thực hiện trong thời gian hưu chiến) nhưng vì dân miền Nam “không chịu nổi dậy” nên lực lượng xâm nhập chả chiếm được một thành phố nào ráo trọi, ngoài Huế. Đây là nơi duy nhất mà Bắc Quân làm chủ được tình hình hơn ba tuần lễ, và đã xảy ra một cuộc thảm sát ghê rợn với con số tử vong lên đến vài ngàn nhân mạng!

Sự kiện, hình ảnh đều được báo đài miền Nam đăng tải và trình chiếu nhiều lần qua màn ảnh TV. Lần nào ngồi xem tôi cũng kinh hoảng và kinh sợ. Trong những hố chôn tập thể có vô số những thi thể bị trói quặt (hay trói chặt vào nhau) trước khi hành quyết, kể cả xác trẻ con, và cả những nạn nhân bị chôn sống nữa.

Tôi vô cùng hoang mang khi nhớ lại hình ảnh nhỏ thó, ốm o, gầy guộc, xanh xao, ngơ ngác… của đám lính mà mình đã giáp mặt trước nhà hôm Tết. Sao những người mặt mũi trông hiền lành, ngây thơ (và trẻ thơ) như vậy lại có thể là những kẻ sát nhân tàn ác, và tàn bạo đến thế được?

Lịch sử cận đại không thiếu những cuộc lên đồng tập thể, cùng vô số tội ác kinh hoàng gây ra bởi nhiều tổ chức (Hitler Youth, Blackshirts, Vệ Binh Đỏ, Khmer Rouge …) mà phần lớn thành viên đều là trẻ con mới lớn nhưng tất cả đều chả tồn tại được bao lâu, và kẻ đầu xỏ – Hitler, Mussolini, Mao, Pol Pot… – đều bị điểm mặt là những tên đồ tể!

Riêng Cuộc Thảm Sát Mậu Thân thì kẻ thủ ác lại thuộc bên thắng cuộc, và họ vẫn giữ được quyền bính cho mãi đến nay nên tội trạng chả những không bị trừng phạt mà còn được vinh danh (bằng nhiều hình thức) suốt từ năm này sang năm khác:

–         Bản hùng ca Xuân Mậu Thân 1968

–         Nét đặc sắc của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân  

–    Kỷ niệm 50 năm cuộc tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

–         Kỷ niệm 51 năm Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân

–         Kỷ niệm 52 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân

Ngoài những buổi lễ lạc tưng bừng để kỷ niệm và xưng tụng “Cuộc Tổng Tấn Công/ Nổi Dậy Mậu Thân,” nhà nước hiện hành còn không ngần ngại vận dụng (và lạm dụng) mọi phương tiện truyền thông để tráo đổi nạn nhân thành thủ phạm.

Với đề mục Thảm Sát Huế Mậu Thân, Wikipedia (Hà Nội) đã ghi lại những lời phát biểu trơ tráo như sau:

– Nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân: “Cuộc thảm sát Mậu thân là sản phẩm tưởng tượng của một cuộc tâm lý chiến.”

– Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Phan : “Biết bao nạn nhân mà sau này bị rêu rao là nạn nhân của Việt Cộng”!

– Đạo diễn Lê Phong Lan: “Tôi đã gặp những nhà báo Mỹ, những người lính bên kia chiến tuyến, họ đã nói, tất cả những thông tin về vụ thảm sát năm 1968 tại Huế chỉ là sự vu cáo của Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa đổ lên đầu Quân Giải phóng miền Nam.”

Miệng lưỡi của bà Lan khiến tôi chợt nhớ một câu thành ngữ Việt (“gái đĩ già mồm”) và một vụ “vu cáo” khác, cũng tráo trở không kém, xảy ra hồi đầu Thế Chiến Thứ II.

Ngày 3 tháng 9 năm 1940, con tầu Athenia của Anh – chở 1,103 người đi từ Glasgow đến Montreal – bị tàu ngầm U 30 Đức bắn chìm. Hơn trăm hành khách và thủy thủ đoàn thiệt mạng, trong số nạn nhân có 28 côngdân Mỹ.

Bá Linh không chỉ chối phắt mà còn phát động một chiến dịch tuyên truyền đổ vấy tội cho Hải Quân Hoàng Gia là đã cố ý đánh chìm con Tàu Athenia với âm mưu làm Đức mất mặt và lôi kéo Hoa Kỳ vào vòng chiến: “Berlin accused London of intentionally sinking the Athenia in a plot to discredit Germany and to curry favour with the United States to join the war.”  (Donald Fullarton. “Burgh Cook Never Recovered From Sinking”. Helensburgh- Heritage 13 June 2015).

Mãi cho đến khi có những phiên xử tội phạm chiến tranh – diễn ra ở Nuremberg, Đức Quốc – cùng với bằng chứng vô phương chối cãi, sự kiện Athenia mới hoàn toàn sáng tỏ vào năm 1946. Mai hậu, Việt Nam rồi cũng sẽ có những phiên toà tương tự vì đã có quá nhiều cái chết oan khốc gây ra bởi chế độ hiện hành:

– 1945: Thảm sát 3,000 tín đồ Tin Lành tại Quảng Ngãi

– 1956: Thảm sát 1,000 tín đồ Công Giáo tại Quỳnh Lưu

– 1965: Đặt chất nổ giết chết 43 thường dân tại nhà hàng Mỹ Cảnh

– 1967: Thảm sát 256 dân làng Dak Son

– 1968: Trên 5,000 người bị giết hoặc chôn sống tại Huế

– 1971: Thảm sát 183 thường dân tại Tân Lập

– 1971: Thảm sát tại Dục Đức 100 dân làng bị giết, 150 bị thương

– 1972: Pháo kích Đại Lộ Kinh Hoàng – Quảng Trị 3000 người thiệt mạng

– 1972: Pháo kích vào trường học tại Cai Lậy 42 học sinh chết, 50 bị thương.

(Vietnam Film Club. Những Vụ Thảm Sát Đẫm Máu Của CSVN Trong Lịch Sử. 2021)

Vấn đề không phải là truy thù hay báo oán nhưng quá khứ cần phải được thanh thỏa để chúng ta yên tâm sống với hiện tại, và tránh bớt tội ác cho những thế hệ đến sau.