Ngày trở về của “người thua cuộc”- Cảm xúc 30 tháng 4- Lê Nguyễn.

Cảm xúc 30 tháng 4- Lê Nguyễn.

Ngày trở về của “người thua cuộc”

Người đàn ông râu tóc bạc phơ trong ảnh là Đại tá VNCH Nguyễn Công Vĩnh. 13 năm sau ngày chiến tranh kết thúc (1975-1988), ông từ trại cải tạo trở về theo chuyến xe lửa dừng lại ga Hòa Hưng, Sài Gòn.

Người vợ vẫn còn phảng phất nét xuân sắc một thời, duy chỉ có những chiếc răng đã rụng dần theo năm tháng chờ trông. Người con trai tóc ngã hoa râm đã nắm tay cha và khóc như một đứa trẻ. Nhiều người nhìn tấm ảnh này cũng đã khóc theo anh, như để chia sẻ nỗi đau ngút ngàn mà anh đã trải qua và niềm hạnh phúc mà gia đình anh đã tìm lại được sau những tháng năm đầy ác mộng. Dù sao “người thua cuộc” Nguyễn Công Vĩnh cũng còn có những năm tháng cuối đời được sống trong vòng tay thương yêu của gia đình. Nhiều người bạn tù của ông không có được diễm phúc này, họ vĩnh viễn gửi nắm xương tàn nơi đất lạ quê người như nhân vật trong bài thơ đầy cảm xúc dưới đây:

***

MẢ TÙ

Một đàn gọng vó chèo đò,

Dăm con nhái bén thập thò miệng hang.

Đầu thừa đuôi thẹo nghĩa trang,

Rào thưa nẻo tắt dọc ngang trâu bò.

Thanh minh còn thấy xanh ngô,

Mưa ngâu tháng bảy nhấp nhô nổi chìm.

Mộ phần chẳng thấy tuổi tên,

Dăm ba chữ số vạch trên ván thùng.

Hỏi “sao đắp chỉ lưng lưng”,

Rằng “nông choèn tiểu đất chừng ấy thôi”.

“Trẻ-già, trai-gái ngược xuôi ?”

“Đã nằm góc ấy chỉ người trại giam !”

Cỏ khâu ngoi nước úa tàn,

Kiếp người còn lại nhân gian chút này.

Chết rồi hết nợ sạch vay,

Nhúm xương tù tội biết ngày nào tha !

Sống thành nhân chết làm ma,

Ngậm ngùi kiếp nạn xót xa phận người.

Hương hoa – bẹ chuối thả trôi,

Biết rằng còn được luân hồi nữa chăng…

Nghĩa trang Phủ Lý, 2001

Thơ Nguyễn Thái Sơn

***

Đây có lẽ là một trong những bài thơ có tính nhân văn sâu sắc nhất về thân phận con người. Thật cảm kích khi lần đầu tiên có người thể hiện những cảm xúc tinh tế trước cảnh thê lương của ngôi mộ một người tù xa xứ, nép mình trong một góc nghĩa trang bị hoang phế giữa cái bộn bề của cuộc sống nhân gian, ngày Thanh minh tháng ba còn xanh mượt những hàng ngô mà tháng bảy đã nhấp nhô chìm nổi dưới những trận mưa rào.

Cỏ khâu ngoi nước úa tàn,

Kiếp người còn lại nhân gian chút này.

Chết rồi hết nợ sạch vay,

Nhúm xương tù tội biết ngày nào tha !

Người nghệ sĩ đáng trân trọng không phải là người chỉ biết ngẩng đầu lên, tụng ca ánh hào quang trên chiếc mũ triều thiên của đấng quân vương, mà là người biết cúi xuống, rung động và cảm thương từng số phận nghiệt ngã của những con người đã sống và chết đi trong sự lãng quên của người đời, như người tù nằm dưới ngôi mộ vô danh trong bài thơ này.

Càng cảm kích hơn khi chúng ta biết được rằng nhà thơ Nguyễn Thái Sơn từng là một bộ đội miền Bắc, cầm súng chiến đấu chống lại “bè lũ Mỹ-Ngụy” ở miền Nam. Tình cảm anh dành cho một “kẻ thù” cũ nay đã trở thành một nắm xương vô định thật đáng quý, nó nói lên một chuyển biến đáng mừng trong tâm thức những người Việt đã nhận chân được tính cách thiêng liêng của tình tự dân tộc, nghĩa đồng bào, vượt qua mọi giá trị phù phiếm khác của cuộc sống.

Quá khứ đau tủi của cả một dân tộc đã khép lại từ lâu, song nhiều vết thương vẫn chưa lành miệng. Chính vì thế, những cảm xúc chân thành của nhà thơ, dù rất đỗi bình thường, cũng có giá trị như một niềm an ủi tinh thần đáng quý đối với những “người thua cuộc” , nhất là vào mỗi 30 tháng tư hàng năm, khi âm vang “bài ca chiến thắng” cùng bao lời thóa mạ nổi lên như những nhát cứa vào lòng.

Con đường “hòa hợp hòa giải dân tộc” đích thực còn dài, lắm trắc trở, nhiều chông gai, đất nước vẫn còn cần rất nhiều những con người có tấm lòng nhân ái như Nguyễn Thái Sơn.

Bài của anh Lê Nguyễn.

KHÔNG NÊN GỌI 30/4 LÀ NGÀY GIẢI PHÓNG!

Nuong M Lam

Nam Phong

KHÔNG NÊN GỌI 30/4 LÀ NGÀY GIẢI PHÓNG!

Tôi sinh ra và lớn lên sau ngày 30/04. Trong khi phần lớn đất nước chìm trong khó khăn, hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác, trong khi phần lớn người dân thiếu ăn, thiếu mặc, đói khổ trong giai đoạn 1980-1990, thì tôi đã sống một cuộc sống đầy đủ và sung túc, vì ông bà tôi là những đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông tôi là một người chân thành và có niềm tin sâu sắc với lý tưởng cộng sản. Ông có một người chị ở phía bên kia, và sau này di tản sang Mỹ. Ông không bao giờ liên lạc với bà, và đó là nỗi ân hận lớn nhất trong những ngày cuối đời của ông.

Là một ‘hạt giống đỏ” tôi lớn lên với niềm tin chân thành về những gì được dạy dỗ, về lý tưởng cộng sản với hình mẫu Pavel Korchagin – Hình mẫu chuẩn mực cho mọi thiếu niên lớn lên dưới mái trường XHCN khi đó.

Vì vậy, sự kiện 30/04 đối với tôi và các bạn tôi khi đó là một cái gì đó rất đẹp, rất anh hùng, cũng rất vẻ vang. Với thế hệ chúng tôi, Việt Nam đã đánh bại siêu cường số 1 thế giới làm “chấn động năm châu. rung chuyển địa cầu”.

Nhưng sau sự kiện bức tường Berlin, mẹ tôi trở về Việt Nam (vì là con của cán bộ cao cấp, mẹ tôi và các bác, cậu của tôi đều lần lượt học ở Đông Đức, Liên Xô, Bungari…).

Với những gì đã được chứng kiến ở nước Đức và Đông Âu, mẹ tôi không tán đồng quan điểm với ông tôi. Mẹ tôi từng kể với tôi rằng, những người bạn Đức của bà nói rằng ”Mỹ là những người bạn tốt, cả thế giới muốn chơi với nó mà người Việt Nam mày lại đuổi nó đi.”

Bà kể cho tôi về những người Đức cộng sản và không cộng sản khi thống nhất đất nước đã ôm hôn nhau như thế nào. Bà kể về những người lính biên phòng Đông Đức đã tự sát chứ nhất định không bắn vào những người phía Đông muốn chạy sang phái Tây như thế nào.

Đó là bước ngoặt trong suy nghĩ của tôi! Mỹ mà tốt à? Tại sao người ở phía Đông lại chạy sang phía Tây chứ không phải ngược lại? Thế giới của tôi bắt đầu có nhiều màu sắc hơn, không còn chỉ có hai màu, cộng sản và phản động nữa.

Tôi bắt đầu tìm đọc những tác phẩm viết về ngày 30/04/1975. Đọc những tác phẩm bị coi là “phản động” ở Việt Nam. Các tác phẩm của Dương Thu Hương, Trần Độ, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Gia Kiểng…

Thông tin từ những tác phẩm này đã khiến tôi mở to mắt. Ngày 30/04 làm gì còn người lĩnh Mỹ nào ở Sài Gòn. Vậy sao còn gọi là kháng chiến chống Mỹ? Sao có thể gọi là “giải phóng”?

Và tôi khóc thương cho số phận dân tộc Việt. Khóc thương cho hàng triệu người Việt ở cả hai phía đã ngã xuống trong cuộc chiến “huynh đệ tương tàn”. Khóc thương cho cả triệu người Việt vĩnh viễn nằm lại gữa biển khơi.

Và tôi khóc thương cho lòng yêu nước nhiệt tình nhưng ngây thơ của người Việt đã bị các cường quốc lợi dụng. Đất nước trở thành bãi chiến trường. Người Việt trở thành sỹ tốt xung phong. Việt Nam thành bàn cờ, nhưng người chơi là người Nga, người Trung Quốc và người Mỹ không phải là người Việt. Một bên chiến đấu để “giải phóng” và “nhuộm đỏ thế giới”. Một bên chiến đấu để bảo vệ “thế giới tự do”.

“Đại thắng mùa xuân” và “giải phóng miền Nam”. Đât nước thành một đống đổ nát, hoang tàn. Trường Sơn thành một nghĩa trang khổng lồ.

Những người mẹ mất con. Khăn trắng trên đầu trẻ thơ. Và một hết thương hằn sâu trong lòng dân tộc. 47 năm rồi, bên chiến thắng vẫn ăn mừng, vẫn diễu binh, vẫn pháo hoa…bên kia vẫn là ngày quốc hận, ngày mất nước… vết thương dân tộc vẩn rỉ máu.

Một ngày nào đó, 30/04 trở thành ngày thống nhất, một ngày lễ cho cả dân tộc. Tổ quốc treo cờ rủ quốc tang cho những người đã ngã xuống ở cả hai phía.

Một tượng đài nhỏ thôi, giản dị thôi nhưng tinh xảo. Và một nghĩa trang của những người lính ở cả hai phía cho thế hệ trẻ có thể tỏ lòng thành kính cho những người đã ngã xuống vì dân tộc. Hy vọng là như thế!

Còn thống nhất lãnh thổ mà không thống nhất được lòng người thì có ích gì? Nhất là khi phương Bắc, kẻ thù truyền kiếp đang trỗi dậy. Bài học mất nước của Hồ Quý Ly còn đó.  

Bạc tóc tuổi hai mươi

Bạc tóc tuổi hai mươi

Muôn Nẻo Đường Đời

Bài viết này, của một cô giáo, đã miêu tả chi tiết bức tranh “chạy giặc” hỗn loạn vào những ngày thời điểm VC tràn vào miền Nam. Bài viết không chỉ có giá trị như một phóng sự báo chí mà còn thể hiện đậm chất văn học của một tác giả trưởng thành và được giáo dục trong một nền văn hóa miền Nam một thời rực rỡ. Tác giả nói lên tâm sự và cảm xúc cá nhân nhưng cùng lúc tác giả cũng lột tả được tâm trạng của hàng triệu người miền Nam vào những ngày mà không chỉ chính thể VNCH sụp đổ mà theo đó còn là sự tan nát và ly tán của vô số gia đình miền Nam mà đến tận giờ hậu quả của nó vẫn còn có thể thấy được sau gần 50 năm ròng kể từ thời điểm được đánh dấu bằng hai từ đầy mỉa mai: “Giải phóng”.

Bài viết đã giành giải nhất cuộc thi Ký ức 30 Tháng Tư – Như chỉ mới hôm qua do Saigon Nhỏ tổ chức năm 2021. Xin mời đọc lại.

_______________

(Kính tưởng nhớ ba tôi, nhà thơ Việt Trang Phạm Gia Triếp; thầy Đạt, hiệu trưởng trường tiểu học Đa Phước Trại Mát)…

… “Ngày mai, hai cha con tôi sẽ thuê xe về Sài Gòn, tôi có gặp được các anh chị trong đoàn quân di tản? Anh trai tôi trong đoàn quân tan tác miền Trung có về kịp hay bị bắt, bị chết ở đâu? Hai cha con về Sài Gòn để làm gì khi anh chị không ai về được. Cuộc chiến sắp kết thúc hay chỉ bắt đầu! Sự trầm luân của hai cha con tôi mới khởi sự và bao giờ thì kết thúc. Tiếng khóc, tiếng cười ồn ào xung quanh mà không ai trả lời câu hỏi đó… Tôi ngậm ngùi nghĩ tháng ngày này thật khủng khiếp khi tôi mới ở tuổi hai mươi”…

Tác giả cùng các em học trò (ảnh của tác giả)

Từ giã mái trường thân yêu (ngày 15-3-1975)

Đà Lạt, tháng 3-1975, thành phố tôi ở vốn bình yên, an lành trong các tỉnh thành miền Nam ngay cả những ngày chiến tranh khốc liệt nhất, bỗng trở nên xáo trộn. Người ta bàn tán, thì thầm to nhỏ về cuộc chiến, tính chuyện tản cư. Dù không hiểu hết điều gì sẽ xảy ra nhưng ai cũng cảm nhận không khí chiến tranh đang tới gần, tới rất gần. Để trấn an nỗi sợ hãi, người dân đổ tiền ra mua đồ dự trữ: gạo cơm, thuốc men, xăng dầu, nhất là mì ăn liền, phòng khi cuộc chiến xảy ra. Bề ngoài thành phố bình yên đến lặng lẽ, người ta giấu nỗi sợ hãi vào lòng. Dọc các con phố chính, các cửa hiệu lần lượt đóng cửa, báo hiệu chủ nhân đã đi tản cư. Người ta ra đi, không ồn ào sôi động.

Sáng nay, tôi và các bạn đồng nghiệp vẫn đến trường trên chiếc xe lam đưa rước hàng tháng. Ngôi trường tiểu học Đa Phước nằm tận Trại Mát, cách trung tâm thành phố 10 km, dưới chân ngọn đồi cao làm trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến. Đường đi rất thơ mộng, len qua những rặng thông xanh thẳm, vòng quanh những ngọn núi chập chùng. Mấy hôm nay, chúng tôi không cảm thấy vẻ đẹp của giọt sương mai ướt đẫm lá cây hay tia nắng sáng rọi qua tán lá. Dẫu không nói ra, nhưng mọi người đều e ngại nhìn hai bên sợ bóng những người mặc áo bà ba đen xuất hiện, lo lắng nhìn trên lòng mặt đường xem có cây cối chắn ngang đắp ụ.

Chiếc xe lam bỏ chúng tôi trước cổng trường rồi vội vàng quay về lại thành phố. Sân trường không bóng dáng học sinh. Chúng tôi hoang mang nhìn nhau, vội vàng vào văn phòng. Ông hiệu trưởng già dường như chờ chúng tôi từ lâu. Ông nhỏ giọng:

– Tôi muốn liên lạc với các cô mà không được. Tình hình an ninh không xuôi lắm. Cha mẹ học sinh không cho con đến trường, họ sợ có chuyện gì, con họ còn nhỏ về nhà không kịp.

Giọng ông nhỏ hơn, lo âu:

– Với lại ở dưới này xa quá, tôi có nghe trong Tây Hồ, Trạm Hành, buổi tối V.C. đã về. Thôi các cô mau quay lại, khi nào tình hình sáng sủa hãy xuống. Giờ không còn xe lam, các cô qua đón xe đò nghe.

Chúng tôi nặng trĩu lòng, đứa nào cũng mới ra trường nên đối với ông như một người cha. Chúng tôi chào ông và băng qua bên kia đường. Chờ chúng tôi ra khỏi cổng, ông lấy chiếc xích lớn khóa cổng rồi đi về hướng chợ. Dáng ông nhỏ lại, hai vai trĩu xuống, như vác một gánh nặng trên lưng. Đứng chờ xe, tôi chưa hoàn hồn, tiếc nuối vì chưa một lời từ biệt học sinh, những em học sinh đầu tiên của tôi. Hình ảnh 28 em hiện rõ từng nét mặt, dáng người.

Võ Quang Nam nhỏ con nhưng chững chạc, ngồi ngay bàn đầu, em giỏi và ngoan nhất lớp, chẳng khi nào nói chuyện khi tôi giảng bài. Hôm Nam bị ốm, tôi rủ cả lớp đi thăm, cả lớp thưa:

– Cô ơi! Vào nhà trò ấy sợ lắm, ba trỏ chết rồi, mẹ trỏ hay nổi cơn điên cầm dao chém người. Mọi chuyện ở nhà, trỏ đều tự làm lấy. Thảo nào khuôn mặt em mang vẻ cam phận, nhẫn nhục mỗi khi bạn bè tị nạnh bảo tôi thiên vị.

Nguyễn Mẹo thông minh, giỏi toán, chăm học nhưng viết chữ xấu, không chú ý nên bài làm ít được điểm cao. Mẹo tốt với bạn bè, lễ phép với tất cả thầy cô. Đôi khi em làm tôi bối rối vì những câu hỏi thông minh bất ngờ. Tôi thực sự thương em hơn, khi biết nửa năm ngoái, em phải nghỉ học đi làm thuê, vậy mà khi đi học lại vẫn không chịu kém ai.

Nguyễn Văn Mỹ mồ côi cha mẹ, ở với cậu mợ. Khi người chị ruột duy nhất của em chết vì bệnh thì khuôn mặt em tắt tiếng cười, học hành sút hẳn, người như ở trong mê.

Trần Phương có khuôn mặt luôn cười. Mấy ngày đầu vào nhận lớp, tôi cho bài tập, em không làm. Bực mình, tôi hỏi:

– Ba em làm gì?
– Thưa cô! Ba em đi lính ở xa.
– Má em làm gì?
– Thưa cô! Má em đi làm thuê.
– Em có anh chị không?
– Thưa cô, không. Em là anh đầu.
– Ba em đi lính biết sống chết ra sao, má em đi làm thuê cực khổ mà em không chịu học để buồn lòng ba má. Em là anh đầu sao không làm gương cho các em.

Tôi bất ngờ khi thấy em khóc, từ đó em học ngoan hơn. Danh sách 28 em học sinh nam được tôi viết trên những miếng bìa cứng treo sau lưng với bảng đen; trong đó ghi địa chỉ học sinh, tên học sinh được khen thưởng. 28 em đầy đủ cá tính. Có em ngoan hiền như Ngô Đình Vân, Nguyễn Tấn Đạo; nghịch ngợm như Kiều Phương, Bùi Đức Danh… Ở ngôi trường tiểu học nằm ven đô thành phố này, học sinh đều nghèo, rời cuốn vở là về phụ với cha mẹ làm vườn. 28 em tuổi mới lên 10 mà số mồ côi cha không ít. Một số ghi cha mất nhưng mẹ ở nhà vẫn sinh thêm em, có phải trong đêm tối cha đã về đâu đó.

Nhìn cổng trường bị khóa chặt, tôi xót xa, biết rằng không bao giờ còn được dạy hay nhìn lại đầy đủ các em. Buổi chia tay cuối cùng không học trò, không chiếc bánh liên hoan, cũng không có lễ phát thưởng. Giờ mới giữa tháng Ba, còn hơn tháng nữa đến tháng Năm nghỉ hè. Tôi đi dạy chưa trọn năm, lương tháng vừa nhận hôm qua, biết còn tháng lương nào để được nhận nữa không? Tôi không thể hình dung mình sống ra sao khi không còn được đi dạy. 14 năm ăn học để có một nghề sinh sống, giờ không biết mình còn cơ hội nào đứng trên bục giảng nữa. Bỗng dưng tôi thấy mình thật nghèo nàn đáng thương. Buồn cười thật! Cuộc chiến sắp tới, ngày mai biết sống chết ra sao mà còn nghĩ chuyện dạy dỗ. Giờ mới giữa tháng Ba, tôi chưa tròn tuổi hai mươi. Tháng sau mới đến sinh nhật.

Cảnh chạy giặc kinh hoàng của đồng bào Đà Nẵng những ngày cuối Tháng Ba 1975 (ảnh: Bettmann/Getty Images)

Để lại thành phố phía sau (ngày 20-3-1975)

Sự hoảng sợ của mọi người lên đỉnh điểm khi Đài BBC loan tin Buôn Mê Thuột thất thủ. Tin dữ lan nhanh như ngọn lửa giữa mùa Hè nóng bỏng. Buôn Mê Thuột cách Đà Lạt khoảng 200 cây số, tính theo đường chim bay còn ngắn hơn. Không khí cuộc chiến đã lởn vởn thành phố có lẽ yên bình nhất nước này. Chính quyền không thông báo về tình hình chiến sự. Người dân mù mờ tự tìm hiểu nên càng rối rắm, hoang mang.

Chị ruột tôi dạy học và lấy chồng, một sĩ quan bộ binh đóng quân trên Quảng Đức. Chị mới về ăn Tết với gia đình mà không có anh rể vì anh phải cắm trại. Chị vừa trở về trường nay phải quay lại Đà Lạt một mình. Anh rể hứa nếu tình hình khó khăn sẽ đón chị về Sài Gòn. Chị tôi vô tư lên trường Bùi Thị Xuân vào ngày 17-3-1975, dự buổi cắm trại mừng kết thúc đệ nhị cá nguyệt và họp mặt cựu học sinh. Buổi lễ đang vui, nhà trường được lệnh cho bế mạc khi nghe tin V.C. về đến ngoại ô thành phố.

Người dân Đà Lạt sống trong nỗi sợ hãi. Ban ngày họ hạn chế ra khỏi nhà; đêm về thành phố im như chết. Viện Đại Học đóng cửa để sinh viên ở xa về với gia đình. Tất cả học sinh tiểu và trung học được lịnh nghỉ học vô thời hạn. Sĩ quan và khóa sinh các trường Võ Bị Quốc Gia, Chiến Tranh Chính Trị, Cảnh Sát Dã Chiến cắm trại 100%. Dân chúng đi tản cư khá nhiều, nhất là gia đình có thân nhân ở Sài Gòn, Nha Trang…

Buổi chiều, ba tôi từ công sở về. Khuôn mặt ba đăm chiêu, bồn chồn khi bạn bè đi tản cư gần hết. Ba lo lắng vì con cái đông đúc, tiền bạc không nhiều, nếu về Sài Gòn không biết tá túc ở đâu. Mọi người đồn đoán: có thể vĩ tuyến 17 sẽ dời đến Đà Nẵng. Vì vậy, ba quyết định cho gia đình về lánh nạn ở Nha Trang với cậu T., em ruột mạ tôi. Tuy trời đã tối, mạ tôi cũng thuê được một chiếc xe G.M.C. mui trần, dắt các con nhỏ ra đi. Ba và người anh trai đầu sẽ đi sau. Tác phong, nề nếp công chức ăn sâu vào nếp sống, suy nghĩ nên ba không thể bỏ nhiệm sở khi chưa có lệnh.

Mạ xếp một loạt bao gạo dự phòng trên sàn xe, cột chặt nệm, mùng mền. Chúng tôi xếp quần áo, sách vở vào trong túi sắc, ba lô, bao tải; đứa em ngây thơ xì xẹp quả banh da nhét giữa quần áo. Mỗi người một tay nải. Cơ nghiệp của ba mạ gầy dựng 25 năm trời chất được một góc xe. Ba vào bàn thờ, thắp nhang khấn vái tổ tiên, rồi lấy tấm di ảnh của ông bà nội cùng cuốn băng magnétophone lưu giọng ông nội tụng kinh khi còn sống, để vào chiếc cặp da trao cho đứa em tôi giữ. Chị gái của tôi gói ghém vài bộ quần áo đi cùng các em. Cả nhà như đang trải qua cơn mê.

Phút chốc gia đình tôi chia đàn xẻ nghé: bố mẹ, anh chị em chia tay nhau mà không chắc có ngày gặp mặt, đoàn tụ; còn anh trai thứ đóng quân ở Qui Nhơn không biết giờ này phiêu bạt nơi đâu. Chúng tôi chất xong đồ đạc lên xe khi trời còn mù sương. Các em chạy quanh xóm từ giã bạn bè.  Tôi đi vòng quanh sân. Căn nhà nơi lưu dấu tiếng khóc chào đời của anh em chúng tôi trống trơn đến lạnh người. Mạ gởi nhà cho hàng xóm trông giùm vì nghĩ có ngày trở lại. Dân Lò Gạch thuộc xóm lao động nên nhiều người không có điều kiện ra đi phải ở lại. Ông Tư Mạnh, bác Lợi, o Liên… ra tiễn, nhìn theo gia đình chúng tôi nửa ao ước có cơ hội được đi, nửa thương xót vì đích đến thật mông lung. Tình cảm xóm giềng thật sâu đậm. Đêm qua tôi viết thư từ giã ba đứa bạn thân nhưng sáng ra lại xé bỏ. Kẻ đào tẩu biện minh đâu có giá trị. Tôi không biết mình còn được gặp lại các bạn, những người bạn chí cốt từ thuở bé, san sẻ với nhau biết bao buồn vui tuổi học trò.

Xe nổ máy, từ từ lăn bánh. Bóng người ở lại khuất dần trong khói xe. Xe chạy lên đường Duy Tân. Phố xá hai bên đường vắng vẻ cùng khu Hòa Bình bình yên trên con dốc cao của thành phố; rồi xuôi theo đường Lê Đại Hành. Hồ Xuân Hương lặng im in bóng nhà Thủy Tạ. Bên kia hồ, cỏ và thông đồi Cù xanh ngắt. Cảnh vật chung quanh không thay đổi, chỉ có lòng người là bất an.
Sáng nay, chúng tôi vội vã ra đi. Bỏ lại thành phố, nhà cửa, bạn bè, xóm giềng và muôn vàn kỷ niệm dấu yêu phía sau lưng.

Nghe nói cộng quân đến đâu, bà con miền Nam bỏ chạy trước ở đó (ảnh: Jean-Claude FRANCOLON/Gamma-Rapho via Getty Images)

Nha Trang, ngày hoảng loạn (ngày 1-4-1975)

Chịu nửa ngày dưới cái nắng cháy người của miền Trung, chúng tôi đến Nha Trang với khuôn mặt đỏ bừng như tôm luộc. Nhà ông cậu không lớn, chúng tôi chỉ ăn uống tại đó, tối đi ngủ nhờ chỗ khác. Qua cơn mệt mỏi, các em tôi theo đám em họ háo hức xuống biển, tưởng như để lại mọi nguy hiểm trên Đà Lạt.

Sau khi Quảng Đức bỏ ngỏ, anh rể tôi đi đường bộ về Đà Lạt. Ba tôi bảo anh nghỉ ngơi vài hôm để ba đi đón chị lên, tiện thể thăm vợ con. Ba tôi xuống được một hôm, Nha Trang trở nên hỗn loạn hơn vì lính các nơi đổ dồn về. Dân Nha Trang cũng bắt đầu tản cư. Gia đình cậu tôi và người bạn cho gia đình tôi tá túc những ngày qua quyết định về Sài Gòn. Cậu rớm nước mắt khi ra đi vì chính bản thân cậu cũng khó có thể cưu mang nổi gia đình cậu, nói chi đem theo gia đình tôi. Sau khi tiễn cậu, ba mạ tôi đưa cả nhà quay lại Đà Lạt, bởi gia đình tôi thực sự không biết đi đâu khi mà đứa lớn nhất mới tròn hai mươi, đứa bé nhất chỉ lên mười. Giữa cái chết đói, chết vì súng đạn, dường như chọn cái chết trong nhà mình thì vẫn dễ hơn.

Mạ tôi cùng chị và các em lên trước với ít quần áo trong người. Ba và tôi thu dọn đồ đạc thuê xe lên sau. Mạ và các em đi rồi, tôi gói quần áo của mạ lại, chỉ lỏm loi vài bộ. Tôi nhớ bà ao ước có một chiếc áo dài nhung màu hạt xay, và tôi tự hứa khi nào có tiền sẽ may cho mạ một chiếc áo dài nhung đủ màu. Dọn xong đồ đạc, trong lúc chờ ba thuê xe quay lại, như có linh tính, tôi lấy chiếc cặp da đen mà ba đựng tấm hình của ông bà nội, gói ghém thêm vài bộ quần áo. Tôi thay chiếc quần tây đen, áo chemise trắng, chân mang đôi giày Bata trắng; dưới lòng bàn chân, trong chiếc bít tất, tôi lót ba mươi ngàn đồng tiền lương vừa lãnh.

Đúng lúc ba tôi vừa về, bảo tìm xe không có. Hai cha con hốt hoảng chạy ra đường. Như một luồng bão thổi qua, thành phố vắng hoe, thay đổi đến không ngờ, không khí lặng ngắt, ngột thở. Ba và tôi chạy đến bến xe đi Cam Ranh. Chỉ thấy người chen nhau mà không có một chiếc xe. Hai cha con lại chạy về bến xe đi Đà Lạt nhưng ở đó cảnh tượng không khác. Đường phố thấp thoáng tù vượt ngục đầu trọc, cỡi trần, tay mang súng, bắn chỉ thiên, nổ vang trời. Ba và tôi hoảng sợ núp vào một chiếc xe đậu dọc đường. Ngớt tiếng súng, hai cha con chạy xuống bãi biển.

Bất ngờ ba đón được chiếc xe Minh Tâm của một người thuê đón gia đình về lại Đà Lạt. Hai cha con mừng rỡ leo lên. Tiếng súng nổ khắp nơi. Thành phố giờ thêm những người lính đeo ba lô, súng ống đầy đủ nhưng khuôn mặt hoang mang.

Ra khỏi Nha Trang vài chục cây số, xe không thể chạy tiếp vì phía trước ngổn ngang xe cộ. Tôi luôn miệng hỏi ông tài xế:

– Đà Lạt có gì không bác?         

– Lúc bảy giờ tôi đi xuống đây thì Đà Lạt vẫn bình thường.       

Xe chạy ngang qua Trung tâm II. Con đường tràn ngập tân binh xả trại. Ai cũng tìm đường về nhà. Trong số đó có hai người quen của tài xế, họ mừng rỡ trèo lên xe. Những chiếc xe nhích từng mét một, xe nào tắt máy bị kéo bỏ sang hai bên đường. Chiếc xe chúng tôi đi cũng hết xăng. Ba tôi nóng lòng muốn xuống đi bộ, nhưng hành lý còn ở trên xe không thể mang theo. Chung quanh hỗn quân hỗn quan, khuôn mặt đằng đằng sát khí; tôi lại là con gái nên cuối cùng hai cha con đành ở lại trên xe.

Tôi thấp thỏm nguyện cầu cho mạ, chị và các em về Đà Lạt bình an. Nhìn cảnh loạn lạc, súng nổ rền trời, khó biết được chuyện gì xảy ra nếu mạ và các em còn ở đây. Một chị trên xe nấu được miếng cơm chia cho hai cha con. Bấy giờ tôi mới cảm thấy cái đói, nhớ hôm qua đến giờ không cái gì bỏ bụng.

Mười giờ đêm, ba tôi sốt ruột không chịu nổi, hai cha con bỏ lại hành lý lần mò đi bộ hướng về Đà Lạt.

Hoảng loạn và sợ hãi cộng sản (ảnh: Bettmann/Getty Images)

Đường về nhà (ngày 2-4-1975)

Hai cha con đi suốt đêm. Tôi ôm chiếc cặp như một đứa trẻ lạc nhà. Hết đêm qua sáng, Mặt trời xứ biển lên mau và nắng gay gắt nhưng hai cha con không cảm thấy khát. Chân tôi mỏi nhừ, tưởng chừng như bị bỏng thì ba vẫy được chiếc xe hồng thập tự quân đội. Hai cha con được quá giang, đứng trên hai chiếc bánh xe sơ cua. Tới một ngã ba, xe rẽ hướng khác, hai cha con đi bộ thêm vài cây số đến Cam Ranh. Thành phố đầy người đi hôi của, dân địa phương tản cư, lính lạc đơn vị, tù phá ngục phá kho… Họ vác gạo, sữa, đồ hộp quân tiếp vụ… Hỗn loạn kinh hoàng. Hai cha con tôi ngơ ngác nhìn, quên bẵng mình đang rất đói.

Hai cha con đón được chiếc G.M.C. chở người tản cư ở Qui Nhơn đến. Xe chạy đoạn đường khá xa, đến một chiếc cầu dài bị gãy mấy nhịp, có lẽ sau khi rút quân, quân đội bỏ bom cho sập cầu. Đoàn xe dân sự dừng lại. Người đứng, kẻ ngồi theo từng nhóm dọc hai bên cầu. Đồ đạc, quần áo, máy móc, gạo cơm, sách vở, thậm chí những tập album hình vương vãi khắp nơi; người ta vội vã bỏ đi trước khi kịp cúi xuống nhặt nhạnh. Hai cha con đứng lặng bên cầu, nhìn dòng nước chảy, cuối cùng xắn quần lội qua sông.

Qua bên kia cầu, chúng tôi đón được xe về Phan Rang. Trên xe, người ta bàn tán về tình hình chiến sự. Một người cho biết đoàn quân của các trường Võ Bị Quốc Gia, Chiến Tranh Chính Trị, Cảnh Sát Dã Chiến di tản xong. Đà Lạt là thành phố chết, không chính quyền lẫn quân đội. Không ai biết điều gì đang xảy ra trong thành phố tôi ở; và sự tan rã lan dần đến Phan Rang. Tôi cố an ủi ba:

– Mới có một ngày thì không thể mất Đà Lạt mau như vậy được. Vả lại đâu thấy đánh nhau, mà không thể nào không có đánh nhau.

Trung tâm thành phố Phan Rang tràn ngập người tản cư. Họ ngồi hai bên lề đường, trong chùa, trong trường học. Niềm vui tràn ngập khi tôi gặp được bác Hai Dĩ, một người hàng xóm. Bác cho biết:

– Mạ và các em con đã về đến Đà Lạt tối hôm trước, nhưng không biết sáng nay có di tản theo đoàn quân hay không. Chị con đã gặp được anh rể. Như vậy anh chị con và anh đầu chắc theo đoàn quân về Sài Gòn rồi.

Hoang mang, tôi để ba ngồi dựa vào gốc cây, còn mình chạy vào trường học, vào chùa để kiếm mạ và các em; tôi không trông mong thấy được anh chị, vì đoàn quân đã đi qua. Và tôi biết mình đang tự lừa dối vì mạ tôi không dám đưa đàn con còn nhỏ ra đi lần nữa; mạ sẽ chờ cha con tôi trở về. Một người đàn ông tốt bụng thấy tôi chạy loăng quăng, lên tiếng khuyên:

– Cháu tìm ai, giờ này sao không về nhà, còn cắp cặp đi đâu nữa. Về nhà đi cháu ơi! Coi chừng lạc bố mẹ đó.

Tôi không thể giải thích với ông lý do mình đi tìm mẹ. Ba tôi ngồi bên hiên chùa trông thảm hại. Ba như một cây cổ thụ bị đốn ngã. Trước đây ba luôn tự hào mình là người thành đạt: từ một cậu học trò nghèo ham học vươn dần lên thành người đứng đầu một cơ quan trong tỉnh. Ba muốn tìm lại mạ và các em nhưng đoán trước hậu quả khi bước chân về nhà. Ba chùn chân, suy nghĩ với trăm bề khổ đau.

Trước cổng chùa, có người dỗ dành một em bé ngồi khóc nức nở:

– Mẹ bảo cháu ngồi đây để mẹ đi tìm cha mà giờ này không thấy mẹ quay lại.

Chẳng biết người mẹ đó cuống cuồng chạy ngược xuôi tìm con hay nằm lại một góc đường nào đó. Không tìm thấy mẹ và các em, tôi tuyệt vọng. Hai cha con khóc ròng ở ngã ba Phan Rang. Bỗng một đoàn lính đi ngang chào ba tôi. Vài người đóng quân gần trường tôi dạy nhận ra tôi. Thành phố Đà Lạt quá nhỏ, mọi người hầu như biết nhau. Đó là những anh lính Địa Phương Quân được lệnh về đóng ở Ninh Thuận, hỗ trợ cho trường Võ Bị Quốc Gia, Chiến Tranh Chính Trị rút quân. Khi đoàn quân di tản đi qua, các anh không biết đơn vị mình đi đâu nên trở về Đà Lạt vì gia đình còn trên đó.

May mắn chợt đến, ba và tôi vững niềm tin. Chúng tôi hòa vào đoàn người. Một người lính bắt một chiếc xe tải dừng lại, may mà ông tài xế có ý định lên Đà Lạt. Mọi người trèo qua thành chiếc xe tải phủ kín mui. Người nào đó chìa chiếc bánh lương khô cho ba và tôi. Tôi cảm động biết ơn. Những người lính lạc đơn vị từ khắp nơi đổ về, không người chỉ huy. Ai có súng là có sức mạnh. Thành phố kinh hoàng bởi tiếng súng nổ rền trời, không có chính quyền, tù hình sự phá ngục thoát ra phá phách và hôi của.

Một toán lính khác lên cò súng bắn chỉ thiên, bắt chiếc xe tôi đang chạy dừng lại. Hai toán lính đối đầu nhau, cuối cùng toán lính đứng dưới bỏ đi, sau khi lột chiếc đồng hồ của ông tài xế. Sợ hãi không dám đi tiếp, ông tài xế bỏ xe lẫn vào dân. Mọi người xuống xe lại tiếp tục đi bộ đến gần tối thì đón được một chiếc xe chở thuốc tây cho pharmacie Đà Lạt ngay trung tâm thành phố. Ông tài xế rộng rãi cho tất cả mọi người lên xe.

Xe chạy ra khỏi Phan Rang, không khí yên tĩnh, người đi đường thưa thớt, không có đoàn người chạy ngược xuôi. Đêm buông dần xuống, xe dừng giữa đèo Song Pha trong không khí lặng đến ghê người. Một chiếc xe lambretta bỗng xuất hiện trong đêm tối mịt mùng. Khuôn mặt một người đàn ông vẫn còn nét hoang mang, ông nhận ra ngay ba tôi:

– Anh ơi! Quân đội rút đi hết rồi. Không còn chính quyền trên đó, nghe nói V.C về rồi. Họ đã đặt đại diện. Anh không nên lên, không nên…

Báo tin xong, ông hối hả chạy tiếp. Mọi người trên xe nửa tin nửa ngờ, còn đang bàn tán thì trong rừng, bóng hai người đàn ông khác xuất hiện. Họ là hai cha con, tay đeo nải, khoác ruột tượng đựng gạo trên vai. Dáng người cha to lớn in trong rừng cây tối đen. Ba tôi nhận ra bác Ngãi, một công chức đồng sự với ông. Chỉ vài câu nói, bác xác nhận tin trên là đúng sự thật. Bác khuyên ba tôi không nên trở lại Đà Lạt. Ba tôi sụp xuống, giãy giụa. Bác Ngãi quay qua tôi nói nhỏ:

– Bác nói cho cháu nghe, cháu phải cản không để ba cháu lên Đà Lạt nữa, nguy hiểm lắm.

Tôi òa khóc, người như mê đi. Trong tiếng mọi người bàn tán, tôi nghe bác Ngãi an ủi, vỗ về.

Con đường phía trước không còn lối thoát. Đà Lạt không còn là đất cho ba tôi dung thân, không có cơ may sống sót hay thoát cảnh tù tội. Tôi không nghĩ có thể thoát chết trong cuộc chiến này nhưng không muốn tự mình đưa ba đến chỗ khốn khó. Ba tôi không biết quyết định ra sao. Ông khóc than, tự trách không lên chuyến xe cùng vợ con; nay gia đình ly tán, ông không cùng vợ chia sẻ nỗi nhọc nhằn, thậm chí không biết họ vất vưởng ở đâu. Tôi cũng khóc hết nước mắt giữa đèo Sông Pha vì không biết mình còn gặp lại mẹ và các em được không.

Tôi nhớ từng khuôn mặt mỗi đứa em. Hoành nhỏ nhất mới lên mười, ít nói có đôi mắt to buồn. Phương nhí nhảnh, lên xe về Đà Lạt mặc bộ đồ mới tôi vừa mới may trông thật dễ thương. Sâm chính là đứa em đặt trái banh giữa bộ quần áo để tôi không thấy bắt bỏ lại; em còn có tên Sâm Banh. Cẩn đi xe đạp đến trường xa hơn năm cây số mà không than thở. Ngày xưa còn bé, tôi bồng Chi suốt trên tay; mỗi khi em đòi tôi bế, giọng ngọng nghịu: Gương ơi! Gương! Lạc, Lâm tuy lớn nhưng ngoan. Gần nhà có một điểm bán bạch phiến mà các em không hề ghé mắt nhìn qua. Quyền chăm lo học hành, lúc nào sách vở cũng trên tay.

Một đêm hãi hùng giữa đèo Sông Pha! Bỗng nhiên tôi trở thành người tứ cố vô thân không một mái nhà, hay có một mái nhà mà không dám về; có người thân chờ đợi mà không dám ghé. Tôi không dám nghĩ ba tôi sẽ sống như thế nào nếu cha con thoát thân về đến Sài Gòn. Tôi cố tự nhủ: nếu lạc mạ và các em thì cố đưa ba tìm gặp các anh và chị, vì tôi tin họ đã về đến Sài Gòn. Tôi nghiến răng thầm bảo hãy để nước mắt ở lại giữa đèo. Với một con bé suốt tháng quanh năm chỉ biết ăn học, ra đời chưa được bao lăm, nay phải tự mình quyết định một việc như thế, tôi biết tóc mình đã bạc dẫu chưa qua tuổi hai mươi.

Một nơi nào đó ở miền Nam, Tháng Tư 1975 (tác giả ảnh không chú thích rõ – ảnh: Jean-Claude FRANCOLON/Gamma-Rapho via Getty Images)

Con đường tìm sự sống (ngày 3-4-1975)

Sáng sớm, ông tài xế e dè hỏi cha con tôi có muốn lên Đà Lạt nữa không. Mọi người đã xuống xe. Ba muốn trèo lên nhưng tôi níu lại. Xe chạy, hai cha con chạy theo một đoạn rồi đứng nhìn chiếc xe mất hút, đem theo niềm hy vọng trở về nhà. Toán người đi xuống đèo. Ngoài cha con tôi, hai cha con bác Ngãi, còn có ba người lính địa phương đóng trong trường tôi dạy; hai người tên Phụng và Tân, còn người kia thì tôi không biết. Ba người lính muốn về Sài Gòn để trình diện tại Bộ Tổng Tham Mưu.

Trên đoạn đường đi, mỗi người một suy nghĩ. Cha con bác Ngãi hăng hái nhất, bởi gia đình bác đã về Sài Gòn mấy hôm, bác đi sau vì không dám bỏ nhiệm sở. Ba người lính tuy từng trải trong chiến trường nhưng không hình dung nỗi việc mình đang làm; không biết mình muốn và đang muốn cái gì. Ba đi như người mộng du. Tôi nhìn mặt đường, lòng chỉ cầu nguyện: anh chị tôi thuyết phục mạ chạy theo đoàn quân và cũng về được Sài Gòn. Trong thâm tâm, tôi tự biết điều đó là không thể. Nước mắt đã cạn ở giữa đèo. Trong tôi có một sức cứng rắn đến tàn nhẫn; tôi kéo mũ sụp che khuất khuôn mặt, tay cầm cặp, tay dìu ba, đi nhanh cố theo kịp những người nam đồng hành để không bị bỏ lại phía sau. Cuối đèo có một tượng Quán Thế Âm Bồ Tát nhỏ cạnh đường, mọi người đứng lặng, ba tôi chắp tay cầu xin Phật phò hộ. Tôi không biết mình ao ước điều gì vì mỗi bước chân là cách xa mạ và các em.

Đoàn người đón được chiếc xe đò từ Đơn Dương xuống. Đến ngã ba xe rẽ đường khác, chúng tôi lếch thếch đi bộ. Khác với hôm qua, con đường đi vào Phan Rang đầy nghịt người. Nhóm đi tới đụng đoàn đi lui: người muốn trở về nhà, kẻ ao ước đến Sài Gòn. Phan Rang thực sự là một thành phố kinh hoàng. Hôm qua chỉ là hôi của, giờ là sự thống trị của cướp bóc. Đoàn người chúng tôi không có hành lý. Tôi giấu tháng lương mới lãnh dưới bít tất, tay cầm chiếc cặp da nhỏ. Ba có mười ngàn đồng. Hai cha con bác Ngãi đeo tay nải lương thực. Ba anh lính với chiếc ba lô. Chúng tôi đi giữa sự hỗn loạn và nắng nóng. Tưởng chừng không chịu nỗi, chúng tôi đón được xe vào thành phố.

Lính tráng có mặt khắp nơi, đủ các binh chủng. Họ đi thành từng nhóm, mặt mày căng thẳng. Một toán lính đứng trên thành cầu, nhóm khác lố nhố hai bên vệ đường. Một người ra giữa đường chĩa súng lên trời bắn chỉ thiên buộc xe chúng tôi dừng lại; chiếc xe ngang ngạnh không chịu dừng, một tràng súng bắn ngang. Cuối cùng xe dừng, vì có người trúng đạn. Xác chết bị kéo xuống đặt dưới đường, không tiếng khóc, có lẽ là một người đi lẻ loi. Tội nghiệp!

Toán lính dưới đất trèo lên. Xe tiếp tục chạy. Ngồi giữa những người lính đầy súng ống, tôi sợ điếng vì đối mặt với bộ mặt tàn nhẫn của chiến tranh. Những người lính lạc đoàn quân từ miền Trung chạy vào. Họ không biết cấp chỉ huy ai còn ai mất và nay ở đâu. Cuộc phục kích khi lui quân khiến đơn vị tan tác. Những người lính bình tâm lại, hỏi thăm những người trên xe, tỏ ra thương hại cha con tôi. Tôi chẳng dám nhìn ai, không nói một lời. Mọi người chắc nghĩ tôi là một con bé trung học lạc nhà. Xe ngừng lại ở Phan Rí. Đoàn người đi từ đèo Song Pha giờ như gia đình nhỏ, tá túc dưới một mái hiên. Mấy anh lính Địa Phương Quân cho ba tôi mượn chiếc poncho, đưa tôi nắm cơm. Tôi bẻ nắm cơm với bàn tay mấy ngày không rửa nước, ăn đến hạt cuối cùng.

Đoạn đường kinh hoàng (ngày 4-4-1975)

Sáng hôm sau, xe chạy ngang Phan Thiết. Xe chở đầy lính tráng không bị chặn lại nhưng đi rất chậm vì trên đường đủ các loại phương tiện: xe ba gác, xe đạp, xe gắn máy, xe tải, xe quân đội, người đi bộ gồng gánh… lấn ra cả lòng đường… Đến ngã ba vào Bình Tuy, đoàn người phải xuống đi bộ. Đoạn đường dài, nắng nóng, không nhà cửa, cây cối. Ba và tôi nhắm mắt cố uống nước đục ngầu ở những vũng lầy cho qua cơn khát.

Con đường đầy xác chết. Mới nhìn tưởng người ngoại quốc vì thân xác to lớn, nhưng nhìn lại đó là người lính, dân thường xấu số chết trương phình, đám ruồi xanh bay vo ve. Tôi cúi mặt sát đường hơn, nhìn kỹ từng bước chân, tránh đạp nhầm súng ống ngổn ngang. Ba cũng chẳng hơn, bởi vốn là công chức dân sự, thêm sự mơ mộng, nên ba sống không thực tế, tất cả mọi việc trong gia đình đều một tay mạ tôi lo toan. Thiếu mạ bên cạnh, ba hụt hẫng không quyết được việc gì. Hai cha con dìu nhau đi trên đoạn đường địa ngục. Sự sợ hãi quá sức khiến mọi xúc cảm không còn, tôi lẩn thẩn tự hỏi: chắc gì mình may mắn hơn những người nằm xuống.

Buổi tối bên hiên nhà trên con đường vào Bình Tuy, trời mưa, tôi nằm dưới đất, gối đầu trên chiếc cặp, mình mẩy lấm lem đất cát. Đoàn người chạy loạn nay chịu ướt càng thêm khốn khổ. Trên bầu trời, hỏa châu soi sáng, tiếng súng ầm ì. Tôi mong một trái đạn pháo rớt trúng. Nếu chết, hồn tôi linh thiêng, tôi sẽ phù hộ cho ba mạ và các em.

Một trong những người lính cuối cùng, Tháng Tư 1975 (ảnh: Jean-Claude FRANCOLON/Gamma-Rapho via Getty Images)

Miền đất hứa (ngày 5-4-1975)

Tôi thức giấc khi bầu trời còn tinh tú và không ngờ mình vẫn còn sống. Tôi dẫn ba lầm lũi đi sau cha con bác Ngãi. Mấy lần ba thối chí muốn dừng lại bên lề đường nhưng tôi không cho. Tôi níu tay không cho ba dừng hỏi chuyện với ai, bởi một lần gặp, ông lại khóc. Có lúc ba bảo tôi ông mới thấy người nào đó mặc chiếc áo len của anh rể do chính tôi đan tặng. Tôi không cho ba hỏi thăm, bởi nếu đúng thì chỉ báo điềm không may mà thôi.

Giờ ba lại xem tôi là người có tội khi hai cha con lâm vào tình thế khó khăn này. Ba trách móc, kết tội tôi không cho ông lên đèo. Ba hỏi tại sao tôi lại là con gái mà không phải con trai! Người tản cư khắp miền Trung và Tây Nguyên dồn về đây. Ai nấy yên tâm, cảm giác mọi chuyện trở nên bình yên nếu về được Sài Gòn, thánh địa cuối cùng. Đường đi về bãi biển nóng, khá nguy hiểm vì đồ đạc lẫn súng ống ngổn ngang, còn lựu đạn nằm lăn lóc đến đáng sợ. Người ta chen lấn thuê ghe máy vào Long Hải.

Trời về chiều, ba người lính có lẽ tìm bạn bè cùng đơn vị đi mất. Cha con bác Ngãi ái ngại hoàn cảnh ba và tôi nên dọc đường có ý chăm sóc, thuê giùm ghe máy đến Long Hải. Chiếc ghe máy chật người, nước mấp máy vào mạn ghe. Miền đất hứa hiện ra trước mắt! Lòng tôi khô cứng lại, tôi biết không thể nào mình gặp mẹ và các em nữa. Ba tôi như một người điên. Ba ôm, đánh, cấu véo như thể tôi là nguyên nhân gây cho ông nỗi khổ này, rồi ba lại khóc ôm tôi, quay quắt gọi tên từng đứa con.

Ghe cập bến. Mọi người nhìn nhau cười. Chúng tôi xuống ghe với tâm hồn nặng trĩu. Bờ biển Long Hải đầy người. Không muốn nhìn niềm hạnh phúc của cha con bác Ngãi và ba tôi lại phát rồ nổi cơn khủng hoảng khi thấy bác sắp lại gia đình, tôi kéo ba lẫn vào đám đông mà không cám ơn cha con bác.

Trời sập tối, tôi ra bể nước giặt cho ba tôi chiếc áo chemise của người chạy loạn cho. Hai cha con mua một dĩa cơm. Dĩa cơm đúng nghĩa sau mấy ngày chạy loạn khiến tôi ngạc nhiên về sự ngon miệng. Đêm đó, cha con tôi thuê ghế bố ngủ trên bãi biển. Chung quanh tôi rất đông người. Giờ nơi này là nơi hội tụ của trăm ngàn người tản cư khắp nơi. Tình cảnh thê lương như cha con tôi không là gì so với người chung quanh. Những người giàu có may mắn đi bằng máy bay; người đi bộ thất lạc, chết chóc dọc đường. Một ông đứng tuổi nằm gần bên ba tôi khóc nức nở: vợ con chết ngay trước mắt, ông thấy xe cán lên mà không thể dừng lại để chôn cất. Tiếng khóc, tiếng than, tiếng kể lể vang khắp nơi. Con xa cha mẹ, vợ lạc chồng. Tiếng người bàn luận về cuộc chiến, không biết vĩ tuyến 17 sẽ đặt lại ở đâu.

Tôi nhìn trên trời cao, tìm ngôi sao bản mệnh của mình. Ngày mai, hai cha con tôi sẽ thuê xe về Sài Gòn, tôi có gặp được các anh chị trong đoàn quân di tản? Anh trai tôi trong đoàn quân tan tác miền Trung có về kịp hay bị bắt, chết ở đâu? Hai cha con về Sài Gòn để làm gì khi anh chị không ai về được? Cuộc chiến sắp kết thúc hay chỉ bắt đầu? Sự trầm luân của hai cha con tôi mới khởi sự và bao giờ kết thúc? Tiếng khóc, tiếng cười ồn ào xung quanh mà không ai trả lời câu hỏi đó… Tôi ngậm ngùi nghĩ tháng ngày này thật khủng khiếp, khi tôi chỉ mới ở tuổi hai mươi…

Nhật ký tháng 4-1975

Những trang nhật ký này nằm trong tủ rất lâu vì tôi không muốn khơi gợi những kỷ niệm đau lòng và tránh làm ba tôi tổn thương. Khi ba mất năm 2008, tôi mở ra xem lại, và dẫu thời gian trôi qua rất lâu, tôi vẫn cảm nhận những ngày của tháng 4-1975 ấy thật đáng sợ, đủ để bạc cả mái tóc…

Bắt hàng loạt đại gia bất động sản có giúp thị trường tài chính VN thăng hạng? (RFA)

Bắt hàng loạt đại gia bất động sản có giúp thị trường tài chính VN thăng hạng?

2022.04.25

Các “đại gia” chứng khoán vừa bị bắt, gồm ông Đỗ Anh Dũng, Đỗ Thành Nhân, Đỗ Đức Nam và Trịnh Văn Quyết (từ trái qua)

 Mạng báo Finance Magnates hôm 21/4 đưa tin về việc Việt Nam bắt giam, khởi tố các đại gia trong ngành chứng khoán, bất động sản. Tờ này đồng thời đưa ra nhận định rằng hành động trên của Chính phủ Việt Nam là nhằm nâng cao vị trí của thị trường chứng khoán nước này trong mắt quốc tế. Tuy nhiên, một số chuyên gia kinh tế – luật trong ghi nhận sau đây nhận định khác, khi cho rằng các vụ bắt bớ trên đều có sự chống lưng, dính líu đến các quan chức Nhà nước cấp cao.

Nâng hạng thị trường tài chính Việt Nam? 

Có thể điểm lại hàng loạt nhân vật nổi bật trong ngành bất động sản và tài chính tại Việt Nam bị bắt gần đây như ông Đỗ Thành Nhân – Chủ tịch Louis Holdings, và Đỗ Đức Nam – Tổng giám đốc Chứng khoán Trí Việt bị bắt vào ngày 20/4, với cáo buộc “Thao túng thị trường chứng khoán”.

Trước đó, ông Trịnh Văn Quyết – cựu Chủ tịch tập đoàn FLC và ông Đỗ Anh Dũng – cựu Chủ tịch tập đoàn Tân Hoàng Minh cũng đã bị bắt tạm giam và bị khởi tố. Việc bắt hai ông Quyết và Anh Dũng được nhiều người quan sát tình hình xã hội, chính trị và kinh tế Việt Nam cho rằng, đó là động thái “mạnh tay” mà chính quyền  Việt Nam thực hiện nhằm xử lý sai phạm liên quan đến cổ phiếu, trái phiếu và bất động sản.

Truyền thông Nhà nước cùng lúc lên tiếng cho rằng các cuộc trấn áp trên, theo lệnh của Thủ tướng Phạm Minh Chính, nhằm cải thiện hình ảnh Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư quốc tế.

Việt Nam có thể được nâng hạng từ thị trường cận biên (frontier market) lên thị trường mới nổi hạng hai (secondary emerging market), đó là lý do tại sao Thủ tướng Chính phủ ra lệnh trừng phạt, theo tờ Finance Magnates nhận định.

Tuy vậy, với góc nhìn của chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, nếu Việt Nam muốn làm trong sạch, nâng hạng thị trường chứng khoán, thì Chính phủ VN không chỉ thực hiện các vụ bắt giữ, mà cần phải thay đổi các chính sách để thị trường tài chính của Việt Nam thông thoáng và được tín nhiệm. Ông nói tiếp:

“Cho nên phải giải quyết những vấn đề mà nó còn ấu trĩ, chưa làm tới nơi tới chốn. Thứ nhất Chính phủ phải theo dõi một cách sát sao hơn những việc làm theo quy định của luật pháđương thời.

Đồng thời nghiên cứu những cơ chế luật pháp khác để cho chặt chẽ hơn để cho thị trường chứng khoán và thị trường tài chính nó thông thoáng và minh bạch.

Ngoài ra, để thu hút đầu tư nước ngoài, theo ông Bùi Kiến Thành, Việt Nam cần phải giải quyết vấn đề tham nhũng, “lót tay” đối với các doanh nghiệp (DN) nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam:

“Không chỉ riêng gì FLC hay Tân Hoàng Minh, mà đa số các tậđoàn có mặt ở Việt Nam đều có ít nhiều có mối quan hệ với các viên chức Nhà nước, có vấn đề đi đêm với ông này, ông kia. Cho nên Nhà nước Việt Nam cần phải làm sạch vấn đề tham nhũng là ưu tiên hàng đầu để thu hút đầu tư nước ngoài.

Mỹ không đầu tư vào Việt Nam nhiều là bởi vì không giải quyết được vấn đề tham nhũng. Luật về tham nhũng ở bên Mỹ là nó phạt hình sự đối với những công ty lo lót, quà cáở Việt Nam. Cho nên Mỹ không làm việc được với Việt Nam bởi vì bị kẹt cái vấn đề tham nhũng.”

Hình minh hoạ. Một nhà đầu tư nhìn màn hình thị trường chứng khoán ở Hà Nội hôm 20/7/2015. Reuters

Đại gia bất động sản có được quan chức “chống lưng”?

“Chiến dịch” trấn áp như vừa nêu của Chính phủ VN được luật sư, học giả và là cựu tù nhân chính trị Cù Huy Hà Vũ, người có kinh nghiệm 30 năm là cán bộ Ngoại giao ở Việt Nam, cho rằng cần được nhìn trên nhiều góc ngách khác nhau.

Ông lý giải, xét về bề nổi thì các đại gia bất động sản đều liên quan đến chứng khoán, vì một lẽ ngoài ăn chênh lệch giá giữa đất mà họ mua từ chính quyền với giá rẻ rồi bán lại cho dân với giá cao, sau đó họ lại đưa những sản phẩm của họ lên sàn chứng khoán. Như vậy là họ lại ăn tiếp thêm một lần nữa theo phương thức thao túng thị trường bất động sản, bằng cách cùng nhau phối hợp mua bán giả tạo, đẩy giá công ty lên cao, rồi có một số lượng lớn các nhà đầu tư nhỏ lẻ lao vào và họ lại xả hàng và đánh sập xuống, rồi họ lại quay vòng. Ông Vũ bình luận thêm:

“Việc bắt các đại gia đấy tôi công nhận là có góp phần làm thanh lọc thị trường chứng khoán. Những tay đại gia không lấy kinh doanh sản xuất là nền tảng mà chỉ toàn chơi trò lừa đảo các nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ lẻ.”

Theo luật sư Cù Huy Hà Vũ, bản chất của các vụ án này cần được nhìn nhận ở một mức độ sâu xa hơn, đó là mối quan hệ giữa quan chức Nhà nước và các DN “thân” chính quyền.

Tại sao vậy? ông Vũ giải thích thêm vì Hiến pháp và Pháp luật Việt Nam quy định “Đất đai là tài sản của toàn dân nhưng lại do Nhà nước quản lý”. Thực tế có nghĩa là Chính phủ này có quyền ban phát tài sản đó cho những ai thân cận với họ. Cho nên, ông nói, điều đó đã khiến hình thành nhóm lợi ích hay là nhóm thân hữu có quan hệ chặt chẽ với chính quyền để trục lợi từ các chính sách:

“Bản thân tôi khi còn làm ở văn phòng luật thì đã có rất nhiều kinh nghiệm cụ thể về việc chính quyền câu kết với các doanh nghiệp thân hữu để lấy đất của người dân, hay nói cách khác là cướđất của người dân giao cho các DN thân hữu. Cụ thể là trường hợp Nguyễn Bá Thanh, cựu bí thư Đà Nẵng đã cướđất của dân.

Những dự án đến hàng chục, hàng trăm hecta như FLC và Đỗ Anh Dũng thì rõ ràng là phải có chuẩn thuận từ Chính phủ. Cho nên tôi khẳng định trong các vụ án này có sự dính líu và chống lưng của các quan chức cấChính phủ, chứ không phải chỉ ở cấp tỉnh và thành phố. Tôi tin rằng nếu làm theo đúng pháp luật thì những quan chức đó chắc chắn sẽ phải bị khởi tố.”

Chống tham nhũng hay đấu đá nội bộ?

Quay trở lại với nhận định rằng thật ra những vụ khởi tố, bắt giam lãnh đạo các DN “thân” Nhà nước gần đây đều là do các phe cánh trong đảng đấu đá, tranh giành quyền lực, chứ không phải chính quyền thực lòng muốn chống tham nhũng, thao túng trong thị trường tài chính, ông Cù Huy Hà Vũ cho biết ý kiến:

“Nói một cách công bằng thì có cả hai khía cạnh. Cái đầu tiên là về ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi chưa bàn đến chuyện theo đường lối Chủ nghĩa Xã hội là đúng hay sai, tôi chỉ nói về chính sách chống tham nhũng của ông ấy thì tôi tin là ông Trọng thật lòng chống tham nhũng.

Bởi vì theo đánh giá của tôi, cho đến giờ tôi chưa có một thông tin cụ thể nào việc ông ấy dính líu đến các bê bối nào, giống như Nguyễn Tấn Dũng.

Tuy nhiên, khía cạnh thứ hai rằng phải chăng việc bắt các đại gia vừa rồi, bản thân tôi khẳng định là các đại gia bất động sản bị bắt đều có các quan chức chống lưng. Vậy thì đánh các đại gia bất động sản này cũng đồng nghĩa với việc là đánh những kẻ chống lưng, sẽ dẫn đến chuyện là các mảnh đất màu mỡ sẽ được chuyển cho các quan chức chính quyền khác.

Đối với những ý kiến cho rằng đó là việc đấu đá nội bộ, tôi cho rằng cái “miếng ăn” rất màu mỡ bị chuyển từ nơi này sang nơi kia, bằng cách triệt hạ các đại gia, có thể dẫn đến triệt hạ các đối thủ trong chính quyền. Cho nên người ta nói rằng chuyện đó là đấu đá nội bộ để ăn chia thì tôi thấy rằng chuyện đó hoàn toàn có lý.”

Từ những ý kiến của luật sư Cù Huy Hà Vũ có thể liên tưởng đến nhận định trong một bài viết được đăng tải trên tờ Nikkei Asia Hôm 13/4, rằng các công ty lớn của Việt Nam đang lọt vào ‘tầm ngắm” trong chiến dịch chống tham nhũng của Đảng và Chính phủ Hà Nội.

Và rằng đó là do người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng, đang đẩy mạnh chiến dịch chống tham nhũng, vì lo ngại tình trạng đút lót lan tràn sẽ làm lung lay thể chế độc đảng của Việt Nam.

Thế lưỡng nan của TT Phạm Minh Chính trước khi đi Mỹ

Đài Á Châu Tự Do

Lưỡng nan là vì, “trở đi mắc núi, trở lại mắc sông”. Chạy theo cái lợi trước mắt – để có được sự “bảo lãnh” từ các bạo chúa đàn anh cho ngôi vị độc tài chuyên chế – Cộng sản Việt Nam (CSVN) đành phải đứng về phía Nga và bỏ phiếu theo Tàu như một định mệnh oan nghiệt. Nhưng chính vì “sự lựa chọn lạc loài” ấy mà nay mai, nếu lại bị Nga và Tàu ruồng bỏ, như hồi 14/3/1988 (Nga làm ngơ để Tàu chiếm Gạc Ma) hay 17/2/1979 (Tàu đánh sáu tỉnh biên giới Việt Nam), thật khó có bất cứ quốc gia nào trên thế giới chìa tay cứu Hà Nội, sau khi đất nước này đã ngoảnh lưng lại với loài người tiến bộ, bước sang tháng thứ ba.

Thế lưỡng nan của TT Phạm Minh Chính trước khi đi Mỹ
RFA.ORG

Thế lưỡng nan của TT Phạm Minh Chính trước khi đi Mỹ

Lưỡng nan là vì, “trở đi mắc núi, trở lại mắc sông”. Chạy theo cái lợi trước mắt – để có được sự “bảo lãnh” từ các bạo chúa đàn anh cho ngôi vị độc tài chuyên chế.

Lãnh đạo nào sẽ nhập lò cùng Trịnh Văn Quyết?

Lãnh đạo nào sẽ nhập lò cùng Trịnh Văn Quyết?

Bởi  AdminTD

 Mai Bá Kiếm

20-4-2022

Nhiều đại gia giàu nhanh nhờ đất, ngược lại nhiều lãnh đạo tỉnh thành cũng nhập lò muộn vì đất!

Hai cựu chủ tịch UBND TP Đà Nẵng vô tù cùng Vũ Nhôm. Hai cựu chủ tịch tỉnh Khánh Hòa nhập lò vì giao đất trái pháp luật. Một cựu chủ tịch và một cựu phó chủ tịch Bình Thuận thành củi vì giao đất không qua đấu giá! Bí thư, phó bí thư thường trực, chủ tịch và phó chủ tịch tỉnh Bình Dương bị bắt vì áp giá đất thấp, gây thiệt hại 1.850 tỷ đồng. Phó bí thư thường trực và ba phó chủ tịch TP.HCM ra vành móng ngựa nhiều lượt vì đất! Rất nhiều lãnh đạo các sở Tài Môi, Xây dựng, Tài chính, Tư pháp, Cục thuế, Thanh tra cũng nhập lò theo các lãnh đạo tỉnh.

Cho nên, sau khi Trịnh Văn Quyết vào lò, có nhiều lãnh đạo tỉnh thành đang són đái!

LÃNH ĐẠO HAI HUYỆN ĂN MỪNG!

Ngày 8/2/2022, FLC đến huyện Bình Chánh xin đầu tư Khu đô thị nghỉ dưỡng Smart Eco City với quy mô 1.154ha và tổng mức đầu tư khoảng 80.000 tỉ đồng, với biểu tượng tòa tháp Landmark 99 tầng. Bí thư Bình Chánh, Trần Văn Nam chưa biết mình bị lừa nên cảm ơn anh Quyết còi rối rít!

Ngày 18/3/2022, FLC báo cáo kế hoạch đầu tư dự án Công viên Sài Gòn Safari (456ha) và dự án Khu đô thị nghỉ dưỡng ven sông Sài Gòn (quy mô hơn 910ha) Công viên chủ đề theo mô hình Disneyland, vườn thú mở, khu Safari, công viên nước, khu trò chơi mạo hiểm, khu nghỉ dưỡng, khách sạn 5 sao!

Safari là dự án treo 18 năm qua, đã bị Thanh tra Chính phủ kết luận đã làm thất thoát 104 tỷ đồng trong đền bù giải tỏa, nên ông Bí thư Nguyễn Quyết Thắng và bà Chủ tịch Phạm Thị Thanh Hiền mừng hết lớn!

Ai dè, 11 ngày sau (29/3/2022) Trịnh Văn Quyết bị bắt vì tội “thao túng” và “che giấu thông tin chứng khoán”. Xin chúc mừng lãnh đạo hai huyện đã không bị “thủng lưới” sau phút “đá bù giờ”!

FLC COI BỘ XÂY DỰNG VÀ BỘ TÀI – MÔI LÀ CÁI ĐINH GỈ!

Ngày 13/5/2015, UBND quận Nam Từ Liêm phạt FLC 40 triệu đồng vì xây dựng cao ốc HH-01 FLC Garden City mà không có giấy phép xây dựng (GPXD), sau đó phường và quận lập biên bản đình chỉ thi công nhiều lần, nhưng FLC vẫn hiên ngang xây đến tầng thứ 18! Ngày 17/2/2017, Thanh tra Sở Xây dựng Hà Nội mới chịu đến kiểm tra thì FLC vẫn chưa có GPXD!

Dự án FLC HaLong Bay Golf Club & Luxury Resort được báo chí bơm xịt là “Kỳ quan ở giữa kỳ quan” được san lấp từ tháng 3/2016 gây ra trận lũ bùn tràn vào mấy trăm nhà dân. TP Hạ Long đình chỉ thi công, nhưng FLC vẫn thi công! Đến 8/3/2017, bộ trưởng Tài-Môi mới chỉ đạo Tổng Cục Môi trường đến kiểm tra và yêu cầu FLC ngừng thi công dự án “cho đến khi được phê duyệt báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM)”!

Nhưng FLC vẫn tiếp tục thi công và rao bán biệt thự 10-15 tỷ đồng/căn! Đến độ, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng phải yêu cầu UBND tỉnh Quảng Ninh dừng ngay thi công, thì phần sân golf đã hoàn thành cơ bản!

Vậy mà, đến ngày 1/4/2021, Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng lại ký quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư dự án sân golf Đak Đoa (tỉnh Gia Lai) do FLC làm chủ đầu tư, 174,01ha, trong đó chuyển mục đích sử dụng 155,93ha rừng sản xuất sang mục đích xây dựng!

155,93ha rừng thông được di thực (bứng đem trồng chỗ khác) nhưng mới bứng được 2.500 cây thì đã chết hết! Sau khi Quyết bị bắt, ngày 4/4/2022, UBND huyện Đăk Đoa mới báo cáo Sở Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn, để thanh tra và dừng di thực!

Cuối năm 2017, Thanh tra Chính phủ cũng kết luận dự án đầu tư xây dựng văn phòng cho thuê và nhà chung cư cao cấp Landmark Tower đã xây dựng trái phép 18 căn hộ để ở, tại… tầng kỹ thuật, nhưng FLC vẫn không đập bỏ!

HỦY BỎ DỰ ÁN CHẠY TANG!

Dự án KCN Hoàng Long của FLC được chính thức khởi công từ cuối tháng 9/2015 (286 ha) và tổng vốn đầu tư 2.300 tỷ đồng. Sau khi giải phóng mặt bằng năm 2018, FLC không tiếp tục triển khai dự án, cho đến sau khi Quyết còi bị bắt, UBND tỉnh Thanh Hóa mới hứa sẽ sớm chấm dứt dự án này!

Tương tự, UBND Bình Phước cũng hủy bỏ chủ trương lập quy hoạch khu đô thị 1.775 ha của FLC, do từ khi được chấp thuận lập dự án đến lúc Quyết bị bắt đã hơn 3 năm, FLC chưa triển khai thực hiện.

CỰU LÃNH ĐẠO QUẢNG NGÃI VÀ KONTUM ĐANG RUN!

Ngày 18/4/2018, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Trần Ngọc Căng ký công văn “hỏa tốc” yêu cầu các cơ quan tham mưu cho ý kiến dời đồn biên phòng Bình Hải phục vụ cho dự án sân golf, khách sạn của FLC.

Ngày 3/5/2020, Kết luận trong kỳ họp lần thứ 44 của UBKTTW đã gọi tên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi Lê Viết Chữ và Chủ tịch Trần Ngọc Căng! Ngày 16/6/2020, ông Lê Viết Chữ bị Bộ Chính trị khoá 12 thi hành kỷ luật với hình thức cảnh cáo. Ngày 23/6/ 2020, ông Chữ nộp đơn xin từ chức. Trước đó, ngày 15/6/2020, Trần Ngọc Căng cũng nộp đơn xin từ chức!

Ngày 18/7/2019, UBND tỉnh Kon Tum phê duyệt kết quả trúng đấu giá và ra quyết định bán tài sản công cho FLC. Nhưng đến ngày 16/9/2020, sau khi bị Thanh tra Chính phủ “sờ gáy”, FLC mới nộp số tiền trúng đấu giá là 204 tỉ đồng và tiền phạt chậm nộp là 21 tỷ. UBND tỉnh đã không hủy kết quả đấu giá. Dù dự án chưa hoàn thành, nhưng Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh tham mưu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tự ý tách thửa diện tích đất 71.600m2 thành 474 thửa và cấp riêng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở cho FLC với thời hạn lâu dài là vi phạm Luật đất đai!

Điều tra thầy giáo ở Thái Bình bị tố dâm ô nữ sinh lớp 5

Điều tra thầy giáo ở Thái Bình bị tố dâm ô nữ sinh lớp 5

April 26, 2022

THÁI BÌNH, Việt Nam (NV) – Một ông thầy tại trường tiểu học và trung học cơ sở Đông Long ở xã Đông Long, huyện Tiền Hải, bị phát giác đã dâm ô nữ sinh lớp 5, do chính mình làm chủ nhiệm.

Trưa 26 Tháng Tư, xác nhận với báo Dân Việt, chị ĐTX ở xã Đông Long, huyện Tiền Hải, cho biết gia đình đã làm đơn tố cáo ông ĐVT, giáo viên trường tiểu học Đông Long, đã “dâm ô, hiếp dâm” con gái của chị là cháu NDA,11 tuổi, tới cơ quan hữu trách huyện Tiền Hải.

Một buổi sinh hoạt của trường tiểu học và trung học cơ sở Đông Long, huyện Tiền Hải, nơi ông ĐVT đang công tác. (Hình: Phòng Giáo Dục và Đào Tạo Tiền Hải)

Nói với báo Zing, chị X. cho biết cháu A. đang học lớp 5, tại trường tiểu học Đông Long, do chính ông ĐVT làm chủ nhiệm.

Sự việc vỡ lở khi hôm 18 Tháng Tư, bạn cùng lớp của cháu A. nhìn thấy thầy T. “có hành vi quan hệ tình dục” với bé nên kể cho người nhà chị X. Vài ngày sau, chị X. cho biết ông T. đã đến nhà mình viết bản cam kết.

Trong bản cam kết, ông T. thừa nhận đã có nhiều hành vi “không phù hợp,” xin lỗi gia đình học trò, đồng thời cam kết không tái phạm và đền bù thiệt hại cho cháu A.. Tuy nhiên đề nghị này không được gia đình chị X. chấp nhận.

Theo chị X., gia đình chị nắm được tin thầy T. đã dâm ô, quan hệ tình dục với con gái từ Tháng Mười Hai, 2021 đến khi sự việc bị phát giác.

“Ngoài con gái tôi, còn có nhiều học sinh khác cũng bị thầy T. dâm ô tại phòng làm việc riêng và nhà thầy. Gia đình những người còn lại hiện chưa dám tố cáo do sợ ảnh hưởng đến các con,” chị X. nói.

Cũng theo chị X. cho biết ngay khi sự việc được trình báo với cơ quan hữu trách, con gái chị đã được đưa đi giám định. Bước đầu, bác sĩ nhận đình “vùng kín” của bé gái bị tổn thương.
Báo Zing nhiều lần liên hệ với ông T. nhưng số điện thoại của ông thầy “trời ơi” này đã tắt máy.

“Hiện, đơn tố giác được chuyển lên cơ quan điều tra Công An huyện Tiền Hải điều tra, giải quyết theo thẩm quyền,” vị chỉ huy Công An xã Đông Long nói.

Trong khi đó, ông Trần Thanh Minh, hiệu trưởng trường tiểu học Đông Long, cho biết hôm 25 Tháng Tư, công an địa phương đã liên hệ với nhà trường về đơn tố cáo của gia đình chị X.

“Hiện, trường đã cho thầy T. tạm nghỉ dạy để phối hợp với các cơ quan hữu trách làm rõ sự việc,” ông Minh cho biết.

Theo vị hiệu trưởng, tại trường, ông T. “không có biểu hiện hay tính cách gì bất thường.” (Tr.N)

Những câu chuyện về mại dâm – bản án dành cho xây dựng CNXH

Những câu chuyện về mại dâm – bản án dành cho xây dựng CNXH

Bởi  AdminTD

Blog VOA

Trân Văn

25-4-2022

Sự khác biệt chỉ nằm ở chỗ, không ai dám hoặc không thể tồn tại như những Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Tam Lang, Nguyễn Đình Lạp, Kim Lân, … ngày xưa!   

Cuối tuần qua, ngẫu nhiên mà hệ thống truyền thông chính thức cùng đề cập đến tệ nạn mại dâm ở Hà Nội, TP.HCM – hai đô thị lớn nhất Việt Nam: Phỗ vẫy tại Công viên Hòa Bình (quân Bắc Từ Liêm, Hà Nội) và một thiếu nữ 22 tuổi ngụ tại TP.HCM được cho là điều hành mạng lưới mại dâm có 1.500 thành viên…

Với vấn nạn mại dâm tại Việt Nam, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền, hệ thống truyền thông chính thức chỉ nhìn thấy hành vi phạm tội, thành tích của công an nhân dân, còn nguyên nhân dẫn đến tội phạm – càng nỗ lực xây dựng CNXH, càng tạo thêm nhiều thảm cảnh vì đói nghèo, bế tắc – thì hoặc là không thể thấy, hoặc là không dám đụng đến!

***

Trong hai ngày 21/4/2022 (1) và 22/4/2022 (2), báo điện tử Dân Việt giới thiệu video clip được phân thành hai kỳ cho cái gọi là… “Phóng sự điều tra độc quyền của Trung tâm Truyền hình số Dân Việt” về… “Phố ‘vẫy’ quanh Công viên Hòa Bình”. Dẫu việc dán nhãn “phóng sự điều tra” cho sản phẩm vừa đề cập là một kiểu thậm xưng nhưng đó là chuyện sẽ bàn vào dịp khác.

Ở đây, bài viết này đề cập đến “Phố ‘vẫy’ quanh Công viên Hòa Bình” vì có một số thông tin đáng bận tâm: Đa số cá nhân mại dâm ở khu vực quanh Công viên Hòa Bình là phụ nữ đã… 60 tuổi hay trên 60 tuổi. Giá “dịch vụ mại dâm” tại Công viên Hòa Bình rẻ đến mức gây ái ngại – chỉ 25.000 đồng cho một lần khẩu dâm, khoảng 100.000 đồng (khoảng 4 Mỹ kim) cho một lần ân ái tại chỗ!

Vào lúc này 25.000 đồng xấp xỉ… 1 Mỹ kim, tương ứng với… hai ký gạo loại thường theo thời giá tại Việt Nam. Còn 100.000 đồng xấp xỉ… 4 Mỹ kim, tương ứng với… tám ký gạo loại thường theo thời giá tại Việt Nam. Những phóng viên thực hiện “Phố ‘vẫy’ quanh Công viên Hòa Bình” kể rằng, mỗi phụ nữ ở “phố vẫy” có thể tiếp từ năm đến mười khách/đêm.

Tuy nhiên quan sát cách tiếp cận những phụ nữ lớn tuổi mại dâm khi thực hiện “phóng sự điều tra” có thể thấy, ước đoán của báo điện tử Dân Việt không chính xác. Những phụ nữ lớn tuổi mại dâm không đắt khách đến như vậy, đó cũng là lý do giá “dịch vụ mại dâm” ở Công viên Hòa Bình khiến người ta não lòng!

Ngoài “Phố ‘vẫy’ quanh Công viên Hòa Bình”, trong hai ngày 21/4/2022 và 22/4/2022, nhiều cơ quan truyền thông chính thức tại Việt Nam cùng loan báo, Công an TP.HCM vừa tạm giữ một thiếu nữ 22 tuổi hiện là sinh viên năm thứ nhất của một đại học tại TP.HCM. Nữ sinh viên này bắt đầu “môi giới mãi dâm” từ cuối năm ngoái nhưng đến lúc này cô đã tạo được mạng lưới mại dâm có tới 1.500 thành viên là thiếu nữ.

Phụ nữ lớn tuổi tham gia mại dâm hay mại dâm trở thành sinh kế của nhiều thiếu nữ không phải là hiện tượng mới song hiện tượng ấy thường chỉ xảy ra khi một quốc gia rơi vào khủng hoảng, dân chúng bế tắc về sinh kế, rớt dần xuống đáy của đói nghèo, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền bất lực do tham nhũng và bất tài.

Hệ thống truyền thông chính thức tại Việt Nam đã từng đề cập nhiều lần tới hiện tượng này ở Venezuela từ 2014 đến nay. Nếu Hugo Chavez không tiến hành “xây dựng chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21”, quốc gia Nam Mỹ này không rơi vào tình trạng thê thảm kéo dài đến như vậy (4). Chẳng riêng phụ nữ lớn tuổi, thiếu nữ mà ngay cả giáo viên, kỹ sư, bác sĩ cũng vượt biên sang các lân bang mại dâm để nuôi thân, nuôi gia đình (5). Việt Nam chưa tệ đến thế nhưng không thiếu những dấu hiệu tương tự, không loại trừ khả năng có thể trở thành như thế.

Cuối tuần này là tròn 47 năm ngày “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” (30/4/1975 – 30/4/2022). Cứ nhìn vào thực trạng kinh tế – xã hội sau 47 năm toàn thắng, nhìn người Việt dắt díu nhau đi làm thuê ở ngoại quốc càng ngày càng nhiều, kể cả xâm nhập – cư trú bất hợp pháp ở ngoại quốc để có cơ hợi kiếm tiền nuôi thân và nuôi gia đình ở Việt Nam, những phụ nữ lớn tuổi phải mãi dâm, công an liên tục lập thành tích qua việc “phá” hết mạng lưới mại dâm qui tụ hàng ngàn thiếu nữ này đến mạng lưới mại dâm qui tụ hàng ngàn thiếu nữ khác,… có lẽ dễ cảm nhận chính xác ý nghĩa thật sự của… “quang vinh” và… “muôn năm”!

Hệ thống giáo dục tại Cộng hòa XHCN Việt Nam từng khai thác tận tình tác phẩm của những nhà văn như: Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Tam Lang, Nguyễn Đình Lạp, Kim Lân,… viết về xã hội Việt Nam trong giai đoạn trước 1945 để lên án “thực dân, phong kiến”, dùng những tác phẩm đó đề cao vai trò, công lao của đảng CSVN.

Con người trong dòng văn học “hiện thực phê phán” dẫu đáng thương, xã hội trong các tác phẩm thuộc dòng văn học này dẫu đầy những bất toàn nhưng cứ ngẫm sẽ thấy con người và xã hội Việt Nam hôm nay có hơn gì chăng? Sự khác biệt chỉ nằm ở chỗ, không ai dám hoặc không thể tồn tại như những Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Tam Lang, Nguyễn Đình Lạp, Kim Lân,… ngày xưa!

Nguyễn Phú Trọng thừa nhận dân miền Tây ‘chỉ mới đủ ăn’ sau 47 năm

Nguyễn Phú Trọng thừa nhận dân miền Tây ‘chỉ mới đủ ăn’ sau 47 năm

April 22, 2022

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – “Vùng đất mà sau nhiều năm ‘ngủ yên,’ đã được ‘đánh thức’ vào những năm 80 của thế kỷ trước, nhưng chỉ mới ‘thức dậy’ mà chưa vươn lên mạnh mẽ. Người dân nơi đây phần lớn chỉ mới đủ ăn mà chưa khá giả, mặt bằng y tế, giáo dục chưa theo kịp cả nước.”

Báo Thanh Niên dẫn lời ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư CSVN, tại cuộc họp bàn phương hướng phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long diễn ra hôm 22 Tháng Tư.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long ít được đầu tư xa lộ như ở miền Bắc và miền Trung. (Hình: Zing)

Ông Trọng quả quyết rằng vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ thay hình đổi dạng nhờ một “nghị quyết” của đảng.

Theo đó, đến năm 2030, đồng bằng sông Cửu Long phải trở thành “vùng sinh thái, văn minh và bền vững, mang đậm bản sắc văn hoá sông nước, là trung tâm kinh tế nông nghiệp bền vững, năng động và hiệu quả cao của quốc gia, khu vực và thế giới.”

Tiếp đó, đến năm 2045, vùng đồng bằng sông Cửu Long phải đạt mục tiêu “là vùng phát triển toàn diện, sinh thái, văn minh và bền vững, mang đậm bản sắc văn hoá sông nước; có trình độ phát triển khá so với cả nước; cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội đồng bộ, hiện đại, phân bổ hợp lý và thích ứng với biến đổi khí hậu; kinh tế phát triển năng động…”

Tuy chủ đề của cuộc họp là tương lai của vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng những người dự sự kiện này chủ yếu là “tứ trụ” và các ủy viên Bộ Chính Trị và Ban Bí Thư. Do vậy, các báo chỉ có thể dẫn lời ông Trọng mà không có bất kỳ ý kiến nào khác của chuyên gia kinh tế, văn hóa, xã hội phản biện lại những lời của ông Trọng.

Theo giới quan sát, có lẽ do “chủ quan duy ý chí” và say sưa với “nghị quyết” mà Tổng Bí Thư Trọng không nhìn ra vấn đề lớn của đồng bằng sông Cửu Long là tình trạng xâm nhập mặn, mà theo báo VietnamPlus, “còn đang diễn biến phức tạp và phụ thuộc vào nguồn nước từ thượng nguồn sông Mekong.”

Ông Nguyễn Phú Trọng (giữa), tổng bí thư CSVN, tại cuộc họp bàn phương hướng phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long. (Hình: VietNamNet)

Trong một diễn biến khác, báo Thanh Niên hôm 21 Tháng Tư đưa cảnh báo về mực nước sông Mekong “luôn ở trong tình trạng báo động đỏ, tăng giảm bất thường theo việc đóng, xả của các đập thủy điện.”

Báo này dự báo việc việc tích nước trong mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long đang gây sạt lở dẫn tới tình trạng mất nhà cửa, tài sản, làm tan rã đồng bằng nhanh hơn.

Hệ lụy của việc này là nguồn lợi thủy sản tự nhiên từ mùa lũ bị sụt giảm nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến sinh kế của rất nhiều người dân, nhất là dân nghèo ở miền Tây. (N.H.K) [qd]

Tham nhũng là kẻ thù nguy hiểm nhất của quân đội Việt Nam

Tham nhũng là kẻ thù nguy hiểm nhất của quân đội Việt Nam

Lê Hồng Hiệp

Ngày 18 tháng 4 năm 2022, năm tướng lĩnh và hai sĩ quan cấp cao khác của Cảnh sát biển Việt Nam (CSBVN) đã bị Cơ quan Điều tra Hình sự Bộ Quốc phòng bắt tạm giam để điều tra về một loạt các tội danh tham nhũng, trong đó có tội tham ô tài sản. Những người bị bắt gồm có Trung tướng Nguyễn Văn Sơn (nguyên Tư lệnh CSBVN), Trung tướng Hoàng Văn Đồng (nguyên Chính ủy CSBVN), Thiếu tướng Doãn Bảo Quyết (nguyên Phó Chính ủy CSBVN), Thiếu tướng Phạm Kim Hậu (nguyên Phó Tư lệnh và Tham mưu trưởng CSBVN), và Thiếu tướng Bùi Trung Dũng (nguyên Phó Tư lệnh CSBVN).

Đây là vụ mới nhất trong một loạt các vụ bê bối tham nhũng gần đây, dẫn đến việc hàng chục sĩ quan cấp cao trong lực lượng quân đội và công an Việt Nam bị xử lý. Riêng trong quân đội, ít nhất 20 tướng lĩnh đã bị kỷ luật hoặc truy tố kể từ năm 2016. Sĩ quan cấp cao nhất bị truy tố là ông Nguyễn Văn Hiến, nguyên Tư lệnh Hải quân và Thứ trưởng Quốc phòng. Ông Hiến đã bị kết án 3 năm rưỡi tù giam vào cuối năm 2020 vì phê duyệt chuyển nhượng trái phép ba lô đất quốc phòng tại TP.HCM cho các nhà đầu tư tư nhân, gây thiệt hại cho nhà nước 939 tỉ đồng.

Vụ bắt giữ năm tướng CSBVN và kỷ luật ba tướng lĩnh tại Học viện Quân y liên quan đến vụ bê bối tham nhũng tại công ty Việt Á cách đây vài tuần giúp tăng cường uy tín chính trị cho Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, vốn từ năm 2016 đã tiến hành một chiến dịch chống tham nhũng cấp cao gây nhiều tiếng vang. Tuy nhiên, những gì được xử lý cho đến nay có thể chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm, vì tham nhũng trong quân đội, được cho là phổ biến và cắm rễ sâu, nhìn chung rất khó phát hiện và loại bỏ.

Quân đội Việt Nam tham gia vào một loạt các hoạt động kinh tế, được tạo điều kiện thuận lợi nhờ ảnh hưởng lớn của quân đội trong nền chính trị Việt Nam. Điều này đôi khi khiến các cơ quan dân sự phải chiều theo yêu cầu của các quan chức quốc phòng, bao gồm cả việc cung cấp nguồn lực và các chế độ ưu đãi, qua đó làm nảy sinh cơ hội cho tham nhũng phát triển. Sự tồn tại của các doanh nghiệp thuộc sở hữu quân đội, cả các doanh nghiệp thực sự lẫn các công ty bình phong được thành lập để phục vụ mục đích thu thập thông tin tình báo và các hoạt động nghiệp vụ khác, cũng khiến việc trục lợi của các cá nhân tham nhũng khó bị phát hiện hơn do khó phân biệt rạch ròi giữa các hoạt động liên quan đến thương mại và quốc phòng.

Vì thông tin về các hoạt động của quân đội thường được coi là nhạy cảm hoặc bí mật, điều này cũng cung cấp một lớp bảo vệ khác cho các quan chức quân đội tham nhũng. Ví dụ, mặc dù một số thương vụ mua bán vũ khí của Việt Nam được cho là có liên quan đến tiền lại quả từ các nhà cung cấp quốc phòng, nhưng vẫn chưa có cuộc điều tra chính thức nào về những cáo buộc như vậy.

Nhiệm vụ chính của quân đội là bảo vệ tổ quốc chống lại xâm lược của ngoại bang, nhưng quân đội cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chế độ. Điều này khiến cho việc xử lý tham nhũng trong quân đội trở thành một vấn đề nhạy cảm đối với ĐCSVN, vì đòi hỏi một sự cân bằng tinh tế giữa một bên là việc duy trì kỷ luật và liêm chính trong các lực lượng vũ trang, một bên là duy trì lòng trung thành của các lãnh đạo quân đội hàng đầu đối với Đảng. Mặc dù Đảng tuyên bố rằng không có ‘vùng cấm’ trong cuộc chiến chống tham nhũng, nhưng mong muốn duy trì lòng trung thành của các tướng lĩnh cũng có thể đã khiến Đảng không muốn giải quyết triệt để nạn tham nhũng trong quân đội, đặc biệt là trong các vụ việc liên quan tới các sĩ quan cấp cao.

Tham nhũng làm chuyển hướng nhiều nguồn lực cần thiết khỏi việc đầu tư vào các nỗ lực hiện đại hóa quân đội của Việt Nam, vốn đã chậm lại kể từ năm 2016. Tham nhũng cũng làm suy thoái tinh thần của các sĩ quan và binh sĩ, làm suy yếu khả năng sẵn sàng chiến đấu của họ. Một số hành vi tham nhũng bị cáo buộc, chẳng hạn như ăn cắp xăng dầu từ các tàu quân sự và báo cáo sai hành trình tuần tra, thậm chí khiến đất nước phải đối mặt với các mối đe dọa an ninh tiềm tàng, đặc biệt trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông ngày càng gia tăng và Trung Quốc thường xuyên xâm phạm các vùng biển Việt Nam.

Tham nhũng cũng là kẻ thù vô hình có thể tiêu diệt ngay cả những nhà lãnh đạo quân sự có kinh nghiệm và năng lực nhất, đe dọa làm suy yếu năng lực chỉ huy tổng thể của quân đội. Bình luận về vụ bắt giữ năm tướng CSBVN, một người dùng Facebook đã cay đắng nhận xét: “Ukraine tuyên bố đã tiêu diệt tám tướng Nga, và Việt Nam cũng có năm tướng bị loại khỏi vòng chiến đấu, ngay cả khi không có giao tranh nào.”

Việc truy tố năm tướng CSBVN cho thấy chiến dịch chống tham nhũng có thể sẽ tiếp tục được duy trì trong những năm tới, và người dân có thể mong đợi các vụ án tham nhũng cấp cao khác liên quan đến quan chức quân đội được phơi bày. Tuy nhiên, nếu không giải quyết các nguyên nhân gốc rễ thì tình trạng tham nhũng trong quân đội sẽ khó có khả năng thuyên giảm.

Ngoài việc cần cải thiện giám sát của chính quyền dân sự đối với chi tiêu quốc phòng, chấm dứt việc quân đội tham gia vào các hoạt động thương mại mang tính chất tìm kiếm lợi nhuận, và nâng cao thu nhập cho các quân nhân, Việt Nam cần cấp thiết phải xóa bỏ nạn ‘mua bán quyền lực’ trong quân đội. Mặc dù chưa có điều tra chính thức nào, nhưng hành vi đưa hối lộ để được thăng chức được cho là phổ biến ở cả các cơ quan dân sự lẫn các lực lượng vũ trang. Một khi đã được thăng chức, quan chức đưa hối lộ sẽ phải tìm cách “thu hồi vốn đầu tư”, do đó làm cho tình trạng tham nhũng ban đầu càng lan rộng và ăn sâu hơn. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà tham nhũng trong quân đội dường như gia tăng kể từ năm 2006, khi số lượng các tướng lĩnh quân đội bắt đầu tăng mạnh. Năm 1975, khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, quân đội Việt Nam chỉ có 36 tướng, nhưng đến năm 2018, một Việt Nam thời bình lại có tới 415 sĩ quan quân đội mang quân hàm cấp tướng.

Quân đội Việt Nam tự hào vì đã đánh bại được ba cường quốc lớn. Những kỳ công này đạt được là khi nạn tham nhũng hầu như không tồn tại trong hàng ngũ của quân đội Việt Nam. Hiện nay, đối mặt với nạn tham nhũng tràn lan, khả năng của Việt Nam trong việc đối phó với các mối đe dọa an ninh và quốc phòng tiềm tàng có thể bị thách thức nghiêm trọng. Tham nhũng giờ đây đã nổi lên trở thành kẻ thù nguy hiểm nhất của quân đội Việt Nam, và một chiến thắng rõ ràng trước kẻ thù đó vẫn còn khó khăn, xa vời.

L.H.H.

Nguồn: nghiencuuquocte.org

Kiêng & Kỵ – Tưởng Năng Tiến

Kiêng & Kỵ – Tưởng Năng Tiến

Ở California, thỉnh thoảng, tôi vẫn nghe người dân bản xứ nói đôi câu (cũng quen quen) nhưng không hiểu rõ ý:

– We’re turning into our parents.
– We all become our mothers.

Sao kỳ vậy cà?

Sao chúng ta lại có thể trở thành phụ mẫu của mình được chớ? Thì cũng tự hỏi (thầm) thế thôi nhưng rồi lần nào cũng tặc lưỡi cho qua. Là dân tị nạn nên tôi xem Hoa Kỳ chỉ là chỗ tạm dung. Sống đỡ ngày nào hay ngày đó, chả hơi đâu mà quan tâm đến phong tục, tập quán, văn hóa và ngôn ngữ nơi đất lạ xứ người. Phải lo chuẩn bị chuyện hồi hương để xây dựng lại đất nước mình mới là điều thực sự cần thiết.

Vậy mà tui cứ ở cái xứ sở này cho mãi tới giờ luôn và đường về thì vẫn chưa có lối. Với thời gian, tự nhiên, rồi tôi hiểu ra tại sao chúng ta lại trở nên như những đấng sinh thành.

Rõ ràng, càng già tôi càng giống song thân. Hay nói theo kiểu Mỹ là tôi trở thành y như cha mẹ của mình. Má tui có cái tính rất hay kiêng. Bả kiêng đủ thứ hết trơn:

– Không cho ai dao kéo, sợ tình cảm bị chia cắt.
– Không quét nhà vào ngày mồng một tết, sợ hất tài lộc ra khỏi cửa.
– Không phơi quần áo vào ban đêm, sợ ma quỷ mặc lầm.
– Không lượm tiền rơi, sợ lỡ đụng tiền cúng cô hồn là xui tận mạng.

Ba tôi thì không thường kiêng nhưng lại rất hay kỵ. Bà chị lớn lấy chồng xa, hý hửng ôm con sơ sinh về nhà khoe là thằng cháu đích tôn vừa được ông nội đặt tên Bình. Vậy là mặt ông ngoại xa xầm, lầu bầu/lầm bầm (“hỗn láo, hỗn láo, hỗn láo”) một chập rồi gằn giọng: “Gọi nó là Bường nghe chưa!”

Ổng còn cấm tụi tui nhiều chuyện nữa. Cấm không đứa nào được nói duуệt binh, duуệt ᴠõ mà phải đổi thành dợt binh, dợt ᴠõ ᴠì kỵ húу của … Đức Tả Quân Lê Văn Duуệt!

Quan niệm sống (“có kiêng có lành”) của cả hai người được tui thừa hưởng trọn vẹn và phát huy tối đa, cùng với tuổi đời. Đám con cháu mà mở miệng nói bất bình (thay vì bất bằng) là tui tát cho phù mỏ liền tức khắc.

Gần đây, tui còn “tham khảo” sách vở để mở mang thêm kiến thức nữa nha. Trong cuốn Phong Tục Việt Nam (Khai Trí – 1969) Toan Ánh chỉ viết đôi dòng, rất sơ lược, về chuyện “kiêng khem” thôi. Việt Nam Phong Tục ( Khai Trí – 1973) của Phan Kế Bính ghi chép tỉ mỉ hơn chút xíu :

– Người trẻ tuổi kiêng tôi vôi, e chóng bạc đầu.
– Trẻ thơ, kiêng khen tốt đẹp béo đẫy, e quở quang.
– Trẻ con kiêng đội nón trong nhà, e lùn…
– Ra ngõ kiêng gặp gái, e bất lợi.
– Uống rượu kiêng úp chén và dốc ngược chai, e say rượu.
– Con hùm kiêng gọi là ông ba mươi, con rắn kiêng gọi là ông lốt, con voi kiêng gọi là ông vâm.

Duy có câu kết luận của tác giả khiến tôi… hơi bị chưng hửng, và thoáng chút ngượng ngùng:

Lạ quá! Những sự nên kiêng thế nào cho khỏi ngu dốt, kiêng thế nào cho khỏi yếu đau, kiêng thế nào cho khỏi nghèo hèn, kiêng thế nào cho khỏi nhục nhân cách, thì không mấy người tìm cách mà kiêng, đi kiêng những điều vụn vặt, những sự vu vơ, nào kiêng ngày kiêng tháng, nào kiêng đứng kiêng ngồi, nào kiêng ăn kiêng mặc, nào kiêng cười kiêng nói, kiêng cả đến ra ngõ gặp gái, kiêng cả đến sáng sớm đòi nợ, sao mà kiêng lắm điều lạ lùng làm vậy?

Phan Kế Bính từ trần hồi đầu thế kỷ XX (năm 1921) nên chắc chắn không thể nào mường tượng được rằng, sau này, xứ Việt còn có “lắm điều kiêng kỵ lạ lùng” hơn nữa. Nhà Nước bỗng “kiêng” tên nước láng giềng Trung Quốc:

  • RFA: “Trong các tập in văn kiện năm 1979, 1980, những phần liên quan đến cuộc xâm lược của Trung Quốc năm 1979, từ ‘Trung Quốc’ bị cắt bỏ, thay bằng dấu ba chấm (…).
  • BBC: “Hôm 16/2, Việt Nam diễn ra một số hoạt động kỷ niệm ‘42 năm Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc’ nhưng dường như nhiều tờ báo vẫn tránh đưa tên ‘Trung Quốc’ vào bài tường thuật.”

Tin tức phát đi từ những cơ quan truyền thông của nhà nước VN cũng thế, cũng … kiêng kỵ (và kiêng khem) rất kỹ :

Tuy dân chúng bị bách hại hay sát hại ở rất nhiều nơi trong hải phận của xứ sở nhưng chính phủ hiện hành không hề có bất cứ một phản ứng nào đáng kể. Phát ngôn nhân của Bộ Ngoại Giao Việt Nam luôn chỉ bầy tỏ sự quan ngại (vu vơ) thôi vì … không rõ chính xác kẻ thủ ác là ai, ngoài chi tiết rất lơ mơ là chúng thuộc …  nước ngoài!

Tình trạng này kéo dài từ nhiều thập niên qua, và đã trở nên một đề tài giễu cợt quen thuộc cho những người thích chuyện tiếu lâm. Cô giáo Thảo Dân bỡn cợt:

– Xám ơi, giặc NƯỚC NGOÀI là giặc nào nhỉ?
– Là nước lạ đó.
– Nước lạ là nước nào?
– Là nước có đường biên giới chung với Quảng Ninh.
– Nước có đường biên giới chung với Quảng Ninh nước nào?
– Là nước gây ra chiến tranh biên giới đấy thây.
– Cơ mà tên thật của nó là gì? Làm gì có thằng giặc nào không có tên?
– Bố mày còn chả dám nói tên, toàn phiếm chỉ huống hồ là quần cộc chân chì như tao. Mày hỏi gì hỏi lắm thế hả Đỏ.

Nhà văn Lao Ta đùa chơi:

Chưa biết thâm ý và viễn kiến của tướng Trần Việt Khoa đến đâu khi gọi Trung Quốc là nước ngoài. Cũng chưa biết ông gọi thế là theo chỉ đạo của ai, cấp nào. Nhưng hệ lụy của thứ sáng tạo thuộc bản quyền không thể tranh cãi của Quốc hội Việt Nam thì nhãn tiền ngay tức khắc.

Chẳng hạn, theo cách của ông Khoa, thì hàng loạt văn bản hoàn toàn có thể có những câu sau đây:

– Nước cộng hòa nhân dân Nước Ngoài. (Có thể khiến nhiều người hiểu thế giới đã đến giai đoạn đại đồng)

– Đảng cộng sản Nước Ngoài. (Dễ bị hiểu sang một hình thức mới của Quốc tế cộng sản, tổ chức đã tử vong từ lâu)

– Tình hữu nghị Việt Nam-Nước Ngoài đời đời bền vững. (Sẽ có người thắc mắc chính đáng: Chả lẽ thế giới chỉ còn hai nước?)

Ha ha, Quốc hội mình vui phết, hơn đứt xới chèo!

Vui thế nhưng vẫn có người nhất định không cười, hoặc cười không nổi:

–  Du Uyên: “Không biết từ bao chừ, ở trên báo nhà nước, cứ cái gì ‘lạ’ là nó cho thấy sự hèn hạ của rất nhiều tập thể.”
– Huy Đức: “Tầu thì lạ nhưng sự hèn hạ thì rất quen.”

Đã cam phận chư hầu thì ở nơi đâu và thời nào cũng phải thế thôi. Thế quỳ mà.

Việt Nam vốn không có Bộ Ngoại Giao mà chỉ có Đảng Ngoại Giao thôi. Gần đây, chính sách đối ngoại của Đảng còn phải lệ thuộc vào một cái Đảng (khác) nữa cơ. Rắc rối như vậy nên mới có chuyện kiêng/kỵ lôi thôi như thế!

Đây là vấn đề khá tế nhị nhưng rất ít người thông hiểu (và thông cảm) nên lắm kẻ đã lên tiếng chỉ trích việc Đảng CSVN bỏ phiếu chống lại nghị quyết đình chỉ tư cách thành viên Hội Đồng Nhân Quyền của Nga, vào hôm 7 tháng 4 vừa qua:

– G.S Nguyễn Khắc Mai– RFA: “Cái xấu mà thế giới người ta lên án, mà rõ ràng là nó xấu rồi, nó độc ác rồi… mà cũng không dám lên tiếng.”
– Blogger Hoàng Trường – VOA : “Ngoại giao phản dân làm nhục cả dân tộc lẫn quốc thể.”
– FB Thương Hồ – THOIBAO.DE : “Lần này CSVN tự làm khó mình rồi.”
– G.S Carlyle Thayer– RFA: “VN đã tự bắn vào chân mình.”

Nó biểu bắn vô đầu cũng chưa chắc đã dám cãi, chứ tay chân thì có nhằm nhò chi đâu mà um xùm dữ vậy – mấy cha!

Tưởng Năng Tiến
4/2022

Ukraine đánh thức nhân loại, trừ Cộng sản Việt nam

Ukraine đánh thức nhân loại, trừ Cộng sản Việt nam

Bởi  AdminTD

Trần Trung Đạo

21-4-2022

Cuộc chiến tranh xâm lược Ukraine của Nga đã làm thay đổi vị trí chiến lược của nhiều quốc gia trên chính trường thế giới cũng như buộc nhiều quốc gia phải thay đổi đường lối đối ngoại để thích nghi với xu hướng thời đại.

Xu hướng của thời đại ngày nay là phát triển dân chủ và hòa bình chống lại các cơ chế độc tài chuyên chính với tham vọng bành trướng.

Ngày 17-3-1948, phát biểu trước lưỡng viện quốc hội Mỹ, TT Harry Truman giải thích lý do phải “bao vây Liên Xô”. Theo tổng thống thứ 33 của Mỹ, “nguyên nhân chính là do một quốc gia đã không chỉ từ chối hợp tác để thiết lập một nền hòa bình công bằng và danh dự mà thậm chí tệ hại hơn, đã tích cực tìm cách ngăn chặn điều đó”. (Special Message to the Congress on the Threat to the Freedom of Europe, March 17, 1948, Truman Library).

Mặc dù quốc hội Mỹ lần thứ 80 do đảng Cộng Hòa chiếm đa số nhưng họ cũng đã ủng hộ TT Truman (Dân Chủ).

Ngoại trừ năm nước CS theo chủ nghĩa Lenin không Mác, phong trào CS thế giới đã qua và câu nói của TT Truman dường như cũng đã bị lãng quên đi. Nhưng không. Mới đây cũng tại quốc hội Hoa Kỳ, nhiều phát biểu gần như lập lại nguyên văn câu nói của TT Truman chỉ thay chữ Liên Xô bằng chữ Nga và kết quả đạo luật “Bảo Vệ Chủ Quyền Ukraine” ra đời. Điều thứ hai trong đoạn hai của đạo luật viết: “Sự xâm lược và ảnh hưởng có ý định thù địch của Chính phủ Liên bang Nga và các tổ chức thân cận của họ ở Ukraine là mối đe dọa đối với chủ quyền dân chủ của Ukraine”. (Defending Ukraine Sovereignty Act of 2022).

Một ngày không xa, câu nói của TT Truman cũng sẽ được nghe lần nữa tại một phiên họp khoáng đại của quốc hội Hoa Kỳ và nhóm chữ “một quốc gia” sẽ được hiểu là “Trung Quốc”.

Chính trường quốc tế là một không gian đầy sinh động. Những quan điểm “bạn và thù”, “đồng minh và đối nghịch” thay đổi theo từng hiệp định và ngay cả theo từng chọn lựa chính trị của lãnh đạo một quốc gia.

Những ai học môn sử lịch sử thế giới bậc trung học ở miền Nam trước 1975 chắc còn nhớ bài học sau đây. Ngày Chủ Nhật, 28-6-1914, Đại Quận Công Archduke Franz Ferdinand, người sẽ kế vị bác của mình để trở thành hoàng đế Đế Quốc Áo-Hung, bị một sinh viên người Bosnia Serb tên là Gavrilo Princip bắn chết tại Sarajevo. Sự kiện này được lịch sử thế giới ghi nhận như điểm khởi đầu cho Đại Chiến hay còn gọi là Thế Chiến Thứ Nhất.

Tuy nhiên, giống như hỏa diệm sơn, biến cố đó chỉ là điểm vỡ của những xung đột gây tác động dây chuyền suốt nhiều thế kỷ. Trong hai thế kỷ trước đó, nhiều liên minh quân sự được ký kết giữa các quốc gia lớn nhỏ như Liên Minh Nga-Ottoman 1700, Liên Minh Ba Nước Đức, Áo-Hung, Ý (Triple Alliance) 1882 chẳng hạn.

Vô số bài học trên thế giới cho thấy, không phải nước lớn nào cũng chiếm đoạt nước nhỏ dễ dàng. Nếu một quốc gia có được hai yếu tố (1) nội lực vững mạnh và (2) quốc tế ủng hộ quốc gia đó dù thua những trận đầu vẫn sẽ thắng trận cuối cùng quyết định.

Năm 1939, Phần Lan dân số chỉ vỏn vẹn 3.6 triệu người nhưng chiến đấu anh dũng trong Chiến Tranh Mùa Đông (Winter War) chống lại quân đội Liên Xô đông gấp trăm lần. Lòng yêu nước, yêu tự chủ và dân chủ của dân tộc Phần Lan giành được cảm tình của đa số nhân loại. Hội Quốc Liên (League of Nations) chẳng những lên án Liên Xô xâm lược Phần Lan, mà còn trục xuất Liên Xô ra khỏi tổ chức quốc tế này. Chiến Tranh Mùa Đông năm 1939 đã làm Stalin lo ngại và từ bỏ tham vọng chiếm Phần Lan lần nữa sau Thế Chiến Thứ Hai dù đã nuốt hết vùng Baltics và Đông Âu.

Chính sách đối ngoại của một quốc gia chỉ đạo cho các mục tiêu chung của quốc gia đó trong quan hệ với các quốc gia khác bằng phương tiện ngoại giao.

***

Tại Việt Nam, Phạm Minh Chính, thủ tướng CSVN, một thời gian ngắn trước khi Nga xâm lăng Ukraine đã phát biểu về chính sách đối ngoại của CSVN như sau: “Chúng ta không ‘chọn bên’ mà chọn lẽ phải, xu hướng thời đại là hòa bình, hợp tác và phát triển”. (“Chúng ta không chọn bên mà chọn lẽ phải”, Thanh Niên, 16-12-2021).

Sau khi Nga xâm lăng Ukraine cuối tháng 2-2022, CSVN vẫn giữ quan điểm “chọn lẽ phải” này.

“Lẽ phải” của ông Phạm Minh Chính phải chăng là bốn triệu người Ukraine chỉ trong vòng hai tháng đã bị Nga đẩy ra khỏi căn nhà riêng của họ để sống chen chúc và thiếu thốn trong các trại tị nạn ở Ba Lan, Romania, Hungary và các quốc gia lân cận?

“Lẽ phải” của ông Phạm Minh Chính phải chăng là hàng trăm ngàn ngôi nhà Ukraine bị thiêu rụi, nhiều thành phố Ukraine bị san bằng, nhiều ngàn người Ukraine bị bom đạn Nga giết và chôn chung trong các ngôi mộ tập thể, nhiều em bé Ukraine chưa sinh đã chết khi còn trong bụng mẹ?

Dù với tiêu chuẩn đạo đức nào, hành động của Nga đối với Ukraine là hành động xâm lược trắng trợn và bản thân Putin theo tinh thần của Geneva Convention và nội dung “8 vi phạm” được LHQ nêu ra là một tội phạm chiến tranh.

Nhưng CSVN đã gạt qua bên mọi phản ứng từ phía người dân, mọi giá trị, tiêu chí đạo đức căn bản, mọi công pháp quốc tế và viễn ảnh một Việt Nam bị cô lập theo Nga chỉ để lấy lòng quan thầy Trung Cộng (TC).

CSVN rập khuôn theo cách bỏ phiếu của TC còn trơ trẽn hơn so với cách Tajikistan, Uzbekistan, Kazakhstan, Kyrgyzstan đối xử với Nga.

Dù trong cùng một tổ chức – Tổ Chức Liên Minh An Ninh Tập Thể (Collective Security Treaty Organization ) do Nga chế ngự, bốn quốc gia cận biên giới này đã không ủng hộ Putin trong quyết nghị LHQ ngày 2-3-2022. Đó là những cái tát vào mặt Putin kiêu ngạo. Ít ra lãnh đạo bốn nước nhỏ này còn có chút ý thức về chủ quyền đất nước dù sự nghiệp chính trị và cả sinh mạng cá nhân của họ nằm trong tay Putin. Hành động vắng mặt tại buổi bỏ phiếu ngày 2-3-2022 của Turkmenistan, Uzbekistan và Azerbaijan là một cách phản đối mà Putin chưa bao giờ nghĩ tới.

Công bằng mà nói, không phải 141 quốc gia lên án Nga đều vì Ukraine. Không ít trong số họ nhận thấy đây là cơ hội tốt để hội nhập vào khối dân chủ tự do. Argentina, Saudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ, Chile tham gia phe Đồng Minh chỉ hơn hai tháng trước khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt nhưng vẫn được xem là quốc gia Đồng Minh và hãnh diện là thành viên sáng lập ra Liên Hiệp Quốc.

Chọn trường hợp Kampuchea láng giềng để phân tích cái khôn của Hun Sen và cái dại của đảng CSVN. Kampuchea ngày nay thừa hưởng gia tài chính trị hai mặt (Flip-flop politics) của Norodom Sihanouk để lại, nên cũng đã chọn cách bỏ phiếu hai mặt. Sihanouk đi với bất cứ ai kể cả tên diệt chủng Pol Pot, miễn là giữ được chiếc ngai vàng.

Hun Sen chọn bỏ phiếu ủng hộ Ukraine “đòi Nga rút ngay lập tức, hoàn toàn và vô điều kiện tất cả các lực lượng quân sự của mình khỏi lãnh thổ Ukraine trong các biên giới được quốc tế công nhận” trong nghị quyết quan trọng của Đại Hội Đồng LHQ ngày 2-3-2022 nhưng chọn bỏ phiếu trắng trong nghị quyết ít quan trọng hơn, loại Nga ra khỏi Hội Đồng Nhân Quyền LHQ ngày 7-4-2022.

Với chọn lựa khôn khéo này, Hun Sen muốn nói lớn cho Mỹ nghe rằng (1) Kampuchea không tham khảo Tập Cận Bình trước khi bỏ phiếu, (2) Kampuchea chưa quên vai trò chính yếu của Mỹ trong công cuộc phục hồi Kampuchea sau thời kỳ Pol Pot diệt chủng, (3) Kampuchea nhận thấy vai trò mới của Mỹ trong bàn cờ chính trị thế giới, nhất là Á châu và muốn có một sự cân đối trong mặt trận ngoại giao trong thời gian tới.

Chính phủ Mỹ chắc chắn đã lưu ý quan điểm đối ngoại của Kampuchea nổi bật trong khối các nước Đông Nam Á. Sau cuộc bầu phiếu, hai tòa đại sứ Pháp và Mỹ công bố lời cám ơn lãnh đạo Kampuchea đã có lập trường cứng rắn chống lại hành động xâm lược Ukraine của Nga.

Không có thù vặt trong chính trị. Quan hệ giữa hai quốc gia không chỉ đặt cơ sở trên quyền lợi chung mà còn trên quan điểm của mỗi quốc gia trước một vấn đề chung.

Cùng một mối quan tâm, chính sách đối ngoại của Ấn Độ vừa qua đã làm ba quốc gia còn lại lo lắng cho tương lai của Đối Thoại An Ninh Bốn Bên (Quadrilateral Security Dialogue, QUAD) và sẽ ảnh hưởng đến quan hệ Mỹ – Ấn sau này.

Điều này thể hiện ngay trong tổng kết phiên họp của QUAD ngày 3-3-2022 vừa qua. Phiên họp diễn ra khá nhạt nhẽo so với hai phiên họp năm 2020 đầy phấn khởi với hàng loạt mục tiêu từ Covid-19 đến tự do và an ninh hải hành. Lần này, mặc dù phiên họp ở cấp nguyên thủ quốc gia không có một chương trình nào cụ thể ngoài việc cứu trợ nhân đạo cho Ukraine. QUAD được thành lập với ý định bao vây TC nhưng với chính sách hàng hai của Ấn Độ, với ngân sách dành cho quốc phòng chỉ 1% GDP (47 tỷ dollar) của Nhật Bản và quốc gia nhỏ (21 triệu dân) như Úc còn khá lâu mới dựng nổi một hàng rào ở Ấn Độ – Thái Bình Dương.

Đây không phải lần đầu. Sự lo ngại của Mỹ trước chính sách đối ngoại tả khuynh của Ấn phản ảnh trong thái độ của Mỹ trước xung đột giữa Ấn và Trung Cộng năm 1967 cũng như giữa Ấn và Pakistan năm 1971. Năm 1967, Mỹ đứng ngoài và trong xung đột năm 1971 Mỹ ủng hộ Pakistan. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, các nhà làm chính sách đối ngoại Mỹ muốn lôi kéo Ấn, một nước dân chủ, về phe tự do trong cuộc đấu tranh lâu dài nhằm cô lập TC. Đây là lối đi đúng nhưng đường còn dài.

Để biện minh cho chính sách đối ngoại rập khuôn TC, các lãnh đạo CSVN biện hộ rằng, cách bỏ phiếu của họ là biểu hiện thái độ trung lập trong xung đột Nga-Ukraine.

Trung lập là gì? Trích từ các văn bản của LHQ: “Tính trung lập – được định nghĩa là tình trạng pháp lý phát sinh từ việc một quốc gia không tham gia vào một cuộc chiến giữa các quốc gia khác”. Cũng theo tuyên bố của LHQ về tính trung lập: “Trước tình hình căng thẳng chính trị và khủng hoảng leo thang, điều hết sức quan trọng là phải giữ vững các nguyên tắc chủ quyền và bình đẳng của các quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, quyền tự quyết, không can thiệp vào công việc nội bộ của bất kỳ quốc gia nào cũng như bảo vệ, thúc đẩy, khuyến khích giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình sao cho hòa bình và an ninh quốc tế không bị đe dọa”. (United Nations, International Day of Neutrality, 12 December).

Nhưng trung lập không có nghĩa chỉ tuyên bố “tôi đứng ngoài” là xong, mà còn phải được các cường quốc nằm trong quỹ đạo xung đột công nhận.

Khi Đệ nhị Thế Chiến vừa bùng nổ, hàng loạt quốc gia như Estonia, Ireland, Latvia, Lithuania, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển,Thụy Sỹ v.v… tuyên bố trung lập. Tuy nhiên, không phải quốc gia nào tuyên bố trung lập cũng tránh được tai họa chiến tranh. Hitler tấn công các nước “trung lập” Na Uy, Đan Mạch, Bỉ, Hòa Lan và Stalin, lúc đó là đồng minh của Hilter, thu gọn ba nước “trung lập” nhỏ vùng Baltics chỉ trong vài ngày.

Lịch sử các cuộc xung đột quân sự trong thế kỷ qua cho thấy, mục đích tối hậu của giới lãnh đạo một quốc gia khi tuyên bố trung lập là để bảo vệ sự “bình đẳng chủ quyền của các quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, quyền tự quyết”.

Gần nửa thế kỷ từ ngày cưỡng chiếm miền Nam năm 1975, đảng CSVN bảo vệ được gì về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ theo đúng định nghĩa trung lập của LHQ? Câu trả lời không chỉ là con số không mà là một số âm to lớn.

Không cần phải là một nhà nghiên cứu địa lý hay theo dõi chính trị hàng ngày, trong thời đại internet này, chỉ cần vào google gõ từng tên đảo Việt Nam như Gạc Ma, Đá Xu Bi, Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Vành Khăn, sẽ thấy đó là những căn cứ quân sự TC hiện đại đầy đủ các phương tiện chiến tranh từ phi trường với nhiều phi cơ chiến đấu, trang bị hỏa tiễn tầm xa có thể đạt tới Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn trong một vài chục giây.

Những địa danh Vành Khăn, Tư Nghĩa, Gạc Ma v.v… chỉ còn trong các diễn văn, nghị quyết. Những quần đảo Việt Nam được nhắc tới trong thơ, trong nhạc đang còn sờ sờ trước mặt mà nghe xa xôi như từ thời Bắc thuộc vọng về.

“Trung lập” của CSVN đặt nền tảng trong chính sách gọi là “bốn không” được xác định trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019: “Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”. (Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019)

Trung Cộng muốn gì ở CSVN? Một điều mà những ai theo dõi quan hệ giữa CSVN và TC đều biết TC muốn CSVN (1) hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Cộng về chế độ chính trị và (2) không được tách rời khỏi chiến lược an ninh châu Á của Trung Cộng.

Cách hành xử của các lãnh đạo đảng CSVN cho thấy họ đang nghiêm chỉnh thỏa mãn các yêu sách đó của TC bằng tài nguyên và xương máu của nhiều đời dân tộc Việt.

Tại sao cần phải “ba không” hay “bốn không”?

Hội nghị quốc tế nào, cường quốc nào chính thức tuyên bố chấp nhận nguyên tắc “bốn không” của CSVN?

Không một quốc gia nào trong số các quốc gia tranh chấp chủ quyền các đảo trên Biển Đông đưa ra những nguyên tắc đối ngoại một chiều và bị động như CSVN.

Sau đây là nguyên tắc đối ngoại chỉ đạo của Cộng hòa Philippines, từng đưa TC ra tòa án quốc tế và thắng, được ghi trong Điều II Mục 7 của Hiến pháp Philippines năm 1987: “Cộng hòa Philippines theo đuổi một chính sách đối ngoại độc lập. Trong quan hệ với các quốc gia khác, điều quan hệ tối thượng sẽ là chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia và quyền tự quyết”.

Khẳng định của Philippines rất linh động, uyển chuyển, rõ ràng và tổng quát thích hợp cho mọi hoàn cảnh, mọi đối tác với đồng minh và cả kẻ thù.

CSVN cũng có thể nói một cách công khai như vậy nhưng nếu nói như Philippines các lãnh đạo đảng lại lo TC hiểu sai lòng dạ của họ.

Chiến tranh là tai họa không tránh khỏi. Đại đa số nhân loại, nhất là dân tộc Việt Nam, không muốn chiến tranh nhưng ngày nào trái đất còn chia ra những biên giới, ngày đó nhân loại còn có chiến tranh.

Người viết hình dung Tập Cận Bình vừa dán lên tường trong phòng làm việc của ông ta lời dặn dò cho các thế hệ lãnh đạo TC tương lai rút ra từ cuộc chiến Nga xâm lược Ukraine: “Nếu phải trừng phạt Việt Nam lần nữa nhớ đừng đổ bộ mà hãy tận dụng tối đa mọi hỏa lực từ xa”.

Với kỹ thuật chiến tranh hiện có, TC thừa khả năng “trừng phạt CSVN” bằng hải lực và không lực từ Hải Nam, Hoàng Sa, các căn cứ quân sự trên đảo Chữ Thập, Xu Bi, Vành Khăn, từ hạm đội Nam Hải mà không cần phải đổ nửa triệu quân như 1979.

Nếu tình huống đó xảy ra, ai sẽ cứu Việt Nam? Trả lời theo lối bình dân là “chẳng có ma nào cứu”.

Lãnh đạo CSVN thường “nổ” cái gì cũng nhất. Đúng, một người không thể đứng thứ hai nếu chỉ chạy đua với chính mình, thi đua với chính mình, cạnh tranh với chính mình.

Về kinh tế, những quốc gia cựu CS thoát ra được và tự do phát triển, kể cả Mông Cổ, đều bỏ xa CSVN. GPD tính theo đầu người của Mông Cổ tăng gấp 10 lần kể từ cuộc bầu cử tự do chính thức 1993.

Nhưng những gì người dân Mông Cổ và các nước cựu CS có được, không chỉ là lợi tức kinh tế, tài chánh mà là quyền được bầu cử, ứng cử, tự do phát biểu, tự do đi lại, tự do tôn giáo, quyền biểu tình, quyền phê bình lãnh đạo mà không bị ai bắt bỏ tù và rất nhiều quyền khác mà người dân Việt Nam không có.

Giữa các cuộc chiến tranh, ngoài việc lo cải tiến và hiện đại hóa bộ máy quốc phòng, các nhà tư tưởng của mỗi quốc gia luôn cố gắng nghĩ ra một con đường đất nước sẽ phải đi qua, các thế hệ trẻ tập trung dùi mài kinh sử của nước mình và của thế giới để qua đó phát họa những chính sách dài hạn, ngắn hạn thích nghi cho đất nước.

Tư tưởng vô cùng quan trọng và phải đi trước. John Adams, tổng thống thứ hai của Mỹ viết thư cho Thomas Jefferson, tổng thống thứ ba của Mỹ ngày 24-8-1815 “Cuộc Cách mạng đã ở trong ý thức của người dân, và điều này đã có hiệu quả, từ năm 1760 đến năm 1775, trong vòng mười lăm năm trước khi một giọt máu đổ xuống tại Lexington“. (Exhibition, Creating the United States, The Library of Congress).

Những lời phát biểu của Phạm Minh Chính cho thấy, sau 47 năm, Việt Nam vẫn còn là một nước với những tư tưởng lỗi thời, già nua và lạc hậu đã được nhân loại xếp vào ngăn tủ. Bộ Lenin toàn tập cũ, bìa cứng, in năm 1974 được bán ở Mỹ với giá rất cao vì đó là sách xưa dành cho các nhà sưu tập, thế nhưng tại Việt Nam, chủ nghĩa Mác-Lê trên danh nghĩa vẫn còn là cây kim chỉ nam cho đất nước đi lùi.