Đất nước nhìn từ Kuala Lumpur

Đất nước nhìn từ Kuala Lumpur

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao)  Không được lợi dụng tự do tín ngưỡng tôn giáo để chống phá nhà nước – Phó Chủ Tịch Quốc Hội Tòng Thị Phóng

Tôi có chút giao tình với nhà biên khảo Đỗ Hải Minh. Ông tên thật là Dohamide Abu Talib, sáng lập viên của Hiệp Hội Chàm Hồi Giáo Việt Nam – một tổ chức đã bị nhà đương cuộc Hà Nội giải thể sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Nhờ vào những công trình biên soạn công phu và thấu đáo của Dohamide Abu Talib nên sự hiểu biết của tôi về đạo Hồi (*) thêm được phần nào khách quan và chính chắn. Những điều răn dậy của kinh Qur’an rất nhân bản và thực tiễn:

– Vinh danh và kính trọng cha mẹ

– Bố thí rộng rãi cho người nghèo

– Bảo vệ và chu cấp trẻ mồ côi

– Trong sạch trong tình cảm và tinh thần.

– Khiêm tốn

– Cư xử công bằng với mọi người

– Tôn trọng quyền của người khác

….

Đến Malaysia, tôi mới được tận mắt nhìn thấy cách “cư xử công bằng” và “tôn trọng quyền của tha nhân” của những tín đồ Islam đối với những tôn giáo khác – dù điều luật thứ nhất của kinh Qu’ran là “chỉ tôn thờ một Thiên Chúa (Allah) thôi.

Có hôm, đang ngơ ngác giữa thủ đô của đất nước này tôi thoáng thấy một mùi hương quen thuộc. Phải mất đến vài giây mới nhận ra là khói nhang Ấn Độ mà mình đã từng biết, khi đi qua những ngôi Chùa Chà ở quê nhà. Ở Kuala Lumpur – ngay góc đường Jalan Sehala và Jalan Pudu Lama – có một cái đền thờ nhỏ xíu xiu hà, nó nhỏ đến độ người ta phải đặt màn hình để cho số tín đồ đứng tràn ra bên ngoài nhìn thấy được cảnh hành lễ bên trong.

Tôi nghĩ rằng nơi đây chắc phải “thiêng” ghê lắm nên thiên hạ mới tụ tập đông đúc tới cỡ này. Nhưng chỉ vài phút sau, sau khi dạo quanh khu Phố Tầu, tôi mới biết là không phải vậy.

Giữa China Town thì sự hiện diện của chùa Tầu không phải là chuyện lạ. Điều lạ là cạnh đó (bên kia đường Laluan Sehala) lại có thêm một cái Chùa Chà khác, rất nguy nga, và cũng vô cùng tấp nập – dù ở Malaysia chỉ có chừng sáu phần trăm dân số là người Ấn Độ hay gốc Ấn. Cách đó không xa là Wisma Methodist Church, với thập tự giá cao vút trên không.

Thảo nào mà Kuala Lumpur có danh hiệu là The City of Contrast and Diversity. Tôi không chỉ kinh ngạc về sự tương phản và đa dạng của thủ đô Mã Lai mà còn choáng ngợp về nét tân kỳ và thanh nhã của thành phố tráng lệ này. Cũng như Singapore, Kuala Lumpur cho tôi thấy một Đông Nam Á khác: văn minh, an bình, và nhiều triển vọng – điều mà tôi không nhìn ra trong những ngày tháng sống ở Manila, Phnom Penh, Vientiane, hoặc Rangoon. Ngay ở Bangkok (nơi phồn thịnh hơn thấy rõ) những dòng xe di chuyển như kiến bò, hay những con kinh nước chẩy lừ đừ vì ô nhiễm, khiến tôi cảm thấy rất bất an khi nghĩ đến tương lai của thủ đô nước Thái.

Ảnh chụp tháng 1 năm 2018

Theo Wikipedia:

Kể từ khi độc lập, Malaysia trở thành một trong những nước có hồ sơ kinh tế tốt nhất tại châu Á, GDP tăng trưởng trung bình 6,5% trong gần 50 năm. Về truyền thống, yếu tố thúc đẩy kinh tế Malaysia là các nguồn tài nguyên thiên nhiên, song quốc gia cũng phát triển các lĩnh vực khoa học, du lịch, thương mại hay du lịch y tế. Ngày nay, Malaysia có một nền kinh tế thị trường công nghiệp mới, có GDP danh nghĩa xếp thứ ba tại Đông Nam Á (10,756.00 USD) và xếp thứ 29 trên thế giới.

Đáng trân trọng hơn hết là nét hài hoà và sự bao dung của Kuala Lumpur. Ở đây, dù tận lực phát triển nhưng con người vẫn rất nương nhẹ và sống hài hoà với thiên nhiên. Dưới chân một công trình kiến trúc kỳ vỹ (K.L Tower, ngọn tháp truyền thông cao nhất Đông Nam Á – 1,381 feet – đặt trên nền của 50 ngàn mét khối xi măng cốt sắt) vẫn có bảng cảnh báo là “đừng cho khỉ thức ăn.” Thú hoang vẫn còn chốn nương thân giữa vô số những cao ốc vươn cao chót vót đến tận trời xanh. 

Bảng cảnh báo (“Do not feed the monkey”) dưới chân tháp Kuala Lumpur Tower

Cũng nơi đây, dù Allah được coi là đấng Thượng Đế tối cao duy nhất (và hiến pháp Malaysia thừa nhận đạo Hồi là quốc giáo) dân Mã Lai vẫn mở rộng vòng tay chào đón tất cả những tôn giáo khác: Phật Giáo, Công Giáo, Ấn Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo…

Tưởng cũng nên nói thêm: từ tháng 8 năm 1978 đến tháng 10 năm 1991, đã có 250 ngàn người Việt Nam tị nạn cộng sản tìm đến Mã Lai, và được cho tạm trú ở Pulau Bidong trong một thời gian không ngắn. Ân tình này cần phải được ghi nhận và luôn ghi nhớ.

Sự bao dung của thiên hạ khiến tôi vô cùng cảm động, và không khỏi trạnh lòng nghĩ đến phần quê hương bất hạnh của mình. 

Trong bản dự thảo Nhận Định Tuyên Bố Về Nhân Quyền Đầu Năm 2018, đọc được trên trang Tiếng Dân (hôm 22 tháng 1 vừa qua) có đoạn nhận định như sau:

“Việc sách nhiễu, vu khống, hăm dọa đan viện Thiên An tại Thừa Thiên-Huế, nhất là cuộc tấn công phá hủy Thánh giá, biểu tượng đức tin Công giáo, và hành hung các đan sĩ ngày 28 và 29-06-2017. Tất cả đều nhằm ý đồ tước đoạt đất đai của họ. Chúng tôi cũng phản đối việc tấn công nhiều Giáo xứ tại Giáo phận Vinh (như Phú Yên, Song Ngọc, Văn Thai, Đông Kiều, Kẻ Gai, Phúc Lộc) trong năm 2017; việc ngăn chận nhiều chức sắc Phật giáo Thống nhất và Công giáo cầu nguyện chung nhân Ngày Nhân quyền 10-12-2017, việc cản trở Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy cử hành đại lễ Đản sanh Đức Huỳnh Giáo chủ ngày 11-01-2018, việc bắt cóc Mục sư Đoàn Văn Diên từ ngày 24-12-2017, việc sách nhiễu chánh trị sự Hứa Phi tại Lâm Đồng từ hôm 12-01-2018…”

Hai hôm sau, RFA ái ngại loan tin:

“Tòa án Nhân dân tỉnh An Giang vào sáng ngày 23 tháng Một đã tuyên án 12 năm tù đối với một cư sĩ Phật giáo Hòa Hảo thuần túy là ông Vương Văn Thả, với cáo buộc theo Điều 88 Bộ luật Hình sự, ‘Tuyên truyền chống Nhà nước’. Ông Vương Văn Thả, cư sĩ Phật giáo Hòa Hảo thuần túy, ngụ tại tỉnh An Giang, là một cựu tù nhân lương tâm. Ông Thả từng bị kết án 3 năm tù hồi năm 2012 với cáo buộc ‘Lợi dụng tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích của tổ chức, công dân’, theo Điều 258 Bộ luật Hình sự Việt Nam, và mãn án vào hồi đầu tháng 10 năm 2015.

Vào dịp Tết Nguyên Đán năm Đinh Dậu, ông Vương Văn Thả bắt đầu lên tiếng trên mạng xã hội về hoàn cảnh và chính kiến của ông đối với chế độ Cộng sản tại Việt Nam. Cả gia đình ông Vương Văn Thả, gồm 9 người bị lực lượng công an, cảnh sát cơ động…bao vây cô lập trong thời gian gần 2 tháng, cho đến ngày 18 tháng 5 năm 2017, ông Vương Văn Thả cùng người con trai và hai người cháu song sinh bị bắt.”

Ông Vương Văn Thả (giữa) bị bắt hồi Tháng Năm, 2017. 
Ảnh: Facebook Lê Văn Sơn

Qua ngày sau, ngày 24 tháng 1, nhật báo Người Việt cho biết thêm chi tiết:

“Không biết đọc, không biết viết vì không được đi học nhưng hai ông Nguyễn Nhật Trường và Nguyễn Văn Thượng 32 tuổi, là anh em sinh đôi, vẫn bị Tòa Án Nhân Dân tỉnh An Giang tuyên án 6 năm tù giam về tội ‘Tuyên truyền chống nhà nước’. Trong cùng phiên tòa diễn ra vào ngày 23 Tháng Giêng, ông Vương Văn Thả bị tuyên phạt 12 năm tù, con trai ông là Vương Thanh Thuận lãnh án 7 năm tù. Trang Phật Giáo Hoà Hảo Thuần Túy xác nhận cả bốn bị cáo trong vụ này đều là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo …”

Ông Vương Văn Thả cùng hai con, và những người đồng đạo chắc chắn sẽ được sống yên lành (thay vì phải lâm vào cảnh tù đầy) nếu họ có cơ hội được sống ở một quốc gia nào khác – ngoài Việt Nam – như Malaysia chả hạn. Tôi còn trộm nghĩ thêm rằng sở dĩ đất nước này giàu có, phú túc, và an bình không chỉ vì có nhiều tài nguyên thiên nhiên mà còn vì ngân qũi quốc gia của họ không bị ăn cắp và cũng không phải chi dùng cho việc đàn áp nhân quyền hay bách hại tôn giáo – như ở quê mình.

1/2/2018

Tưởng Năng Tiến

danlambaovn.blogspot.com

________________________________________

Chú thích:

(*) Theo Wikipedia: “Hồi giáo (tiếng Ả Rập: الإسلام al-‘islām), còn gọi là đạo Islam, là một tôn giáo độc thần thuộc nhóm các tôn giáo Abraham.” Nhà biên khảo Dohamide Abu Talib (Đỗ Hải Minh) cho chúng tôi biết thêm rằng người Việt chúng ta đã quen dùng hạn từ Hồi Giáo rồi, dù sự thực từ “hồi” theo đúng nghĩa thì chỉ là tôn giáo của tộc Hồi theo đạo Islam ở bên Tàu thôi nên dịch Islam là Hồi Giáo chung chung thì e hơi gượng ép.

Nên chăng gọi đó là sự man rợ

 

Nên chăng gọi đó là sự man rợ

 

Ảnh cắt trong clip ghi lại cảnh công bố trên đường phố vụ mua bán dâm

Và tôi không biết diễn tả như thế nào khi nhìn ba con người cúi đầu, co ro sợ hãi, đầy cảm giác nhục nhã trước đông đảo đồng bào. Viên công an, trong sắc phục ngành, đang thi hành trách vụ bằng cách “lột trần truồng” ba đồng bào tội nghiệp bằng những lời mô tả hùng hồn vang vang qua micro…

Chiều 29.1.2018, công an thị trấn Dương Đông đã áp giải hai phụ nữ, một người đàn ông ra lề đường Cách Mạng Tháng Tám, thị trấn Dương Đông, H.Phú Quốc và đọc bản mô tả hành vi mua dâm bán dâm của những người này. Nhiều khách đi đường, những người sống kế bên, có cả trẻ em, đứng ngồi quan sát.

Tôi thực sự kinh hoàng nghe viên công an đọc bản mô tả hành vi dùng miệng kích dâm. Đó là sự mô tả trần trụi và tục tĩu, không ngượng ngùng trước đám đông và không có ý thức bảo vệ trẻ em khỏi thấy khỏi nghe những điều chúng chưa nên thấy – nghe.

Hành vi là của một con người, nhưng con người đó không thể tách khỏi môi trường mình làm việc, xã hội mình đang sống. Tính vô văn hóa trong xã hội Việt Nam hiện nay đã xuống tới mức thấp như vậy sao?

Và tôi không biết diễn tả như thế nào khi nhìn ba con người cúi đầu, co ro sợ hãi, đầy cảm giác nhục nhã trước đông đảo đồng bào. Viên công an, trong sắc phục ngành, đang thi hành trách vụ bằng cách “lột trần truồng” ba đồng bào tội nghiệp bằng những lời mô tả hùng hồn vang vang qua micro…

Sự chà đạp nhân phẩm con người tới tận cùng đã được gieo rắc công khai vào xã hội. Tính man rợ trong xã hội Việt Nam hiện đã tới mức như vậy sao?

Cố gắng bình tâm nghe hết lời viên công an nói. Đầu tiên là nêu rõ danh tánh, địa chỉ cư ngụ bốn người đó, địa chỉ nơi họ mua bán dâm. Sau đó là mô tả dài và chi tiết hành vi mua bán dâm. Dứt phần mô tả là phần nhận xét cho rằng hành vi đã phạm lỗi gì, theo quy định gì, theo đó bị phạt bao nhiêu tiền! Không có một lời về thuần phong mỹ tục, đạo đức, văn hóa!

Tự nhiên tôi liên tưởng tới những người trộm chó. Họ bị bắt, trói lại, đấm đá cho tới chết. Đám đông reo hò, tham gia đấm, đạp hay khoanh tay đứng xem! Người trộm chó đã bị tra tấn tới chết ở nơi công cộng với sự dã man thời trung cổ vì tội trộm những con chó giá vài triệu đồng!

Sinh mạng, theo nghĩa đen hay nghĩa bóng, sinh mạng sinh học hay sinh mạng xã hội, là cái giá con người trong xã hội Việt Nam phải trả khi trộm những con chó giá vài triệu đồng hay vi phạm những việc bị phạt vài triệu, vài chục triệu đồng!

Ai cũng có quyền trừng trị một người nếu người đó phạm tội? Xã hội còn pháp lý và pháp luật không? Xã hội còn nhân tính không?

Nhiều sự phê phán đã cất lên. Hôm qua, báo Tuổi Trẻ đưa vụ việc với tiêu đề: TRÁI LUẬT, PHẢN CẢM. Tôi thông cảm với tiêu đề của báo, nhưng nếu có tờ báo riêng của mình, tôi sẽ có tiêu đề kiểu như MAN RỢ! Tiêu đề không để câu khách mà nói rõ tính chất của sự việc, tính chất mà tôi nghĩ mỗi người Việt cần biết rõ để cùng tham gia chữa trị xã hội của mình. Người có trách nhiệm không chỉ Giật Mình, Lấy Làm Tiếc mà nên Phẫn Nộ, Kinh Sợ, Xót Xa! Không chỉ Kinh Sợ về mặt suy thoái văn hóa, đạo đức mà còn Kinh Sợ về mặt tổ chức: sự việc được tổ chức bởi công an thị trấn, trước bàn dân thiên hạ trong cả buổi!

Việc điều tra để xử lý là cần thiết, nhưng sự lên án mạnh mẽ ngay lập tức bởi cấp lãnh đạo còn cần thiết hơn nhiều!

Nhiệm vụ chính của công an là bảo vệ luật pháp. Về mặt ý nghĩa, trách nhiệm này rất cao đẹp: bảo vệ sự yên bình của xã hội cho người dân sống trong môi trường an lành, tốt đẹp, hiền lương. Lãnh đạo ngành nên kiên quyết loại bỏ từ bên trong tất cả mọi hình thức xâm phạm hay chà đạp ý nghĩa cao đẹp nói trên. Cần cho dân chúng thấy quyết tâm của lãnh đạo chống lại cái ác, cái vô pháp trong xã hội để họ còn giữ được lòng tin và hy vọng vào cái thiện và sự tử tế trong tương lai!

Những người trẻ dấn thân: Đấu tranh và Khai trí

2018-01-31
 
Nguyễn Văn Hoá, người bị kết án 7 năm tù giam và 3 năm quản chế với cáo buộc ‘tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam’ theo điều 88 Bộ luật Hình sự.

Nguyễn Văn Hoá, người bị kết án 7 năm tù giam và 3 năm quản chế với cáo buộc ‘tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam’ theo điều 88 Bộ luật Hình sự.

 Facebook Nguyễn Văn Hoá
 

Thêm 1 nhà hoạt động trẻ tuổi bị kết án 6 năm tù giam và 4 năm quản chế với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” theo điều 88, bộ luật hình sự Việt Nam, Đó là Trần Hoàng Phúc, 23 tuổi, thành viên nhóm Sáng kiến Thủ lĩnh Trẻ Đông Nam Á (YSEALI).

Bản án này làm tăng thêm số tù nhân chính trị trẻ tuổi hiện đang bị giam giữ hoặc đang thi hành án, hoặc đang phải sống lưu vong vì dám cất lên tiếng nói đối lập, vừa cho thấy số người trẻ dấn thân vào con đường đấu tranh cho tự do dân chủ, nhân quyền ngày càng nhiều.

Đấu tranh và khai trí

Cũng trong tháng Giêng này, phiên toà phúc thẩm xét xử nhà hoạt động Nguyễn Văn Oai kết thúc với bản án không thay đổi, 5 năm tù giam và 4 năm quản chế. Đây là lần bị bắt giam thứ hai của ông sau khi kết thúc 4 năm tù giam (2011-2015) với cáo buộc “lật đổ chính quyền nhân dân’ theo điều 79 Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Một phiên toà khác dự kiến diễn ra ngày 25/1/2018 nhưng cuối cùng bị hoãn lại, đó là phiên xử nhà hoạt động Hoàng Đức Bình, thành viên của phong trào Lao Động Việt. Cùng với nhà hoạt động Bạch Hồng Quyền, ông Bình từng tham gia đấu tranh cho quyền lợi của các ngư dân bị thiệt hại do thảm họa Formosa.

Hiện tại, Bạch Hồng Quyền đang bị chính quyền Hà Nội truy nã toàn quốc về tội “gây rối trật tự công cộng” tại UBND huyện Lộc Hà vào ngày 3/4/2017.

Trở lại từ giữa năm 2017, có hai nhà hoạt động trẻ khác cũng vướng vòng lao lý. Đó là thanh niên Nguyễn Văn Hoá, bị kết án 7 năm tù giam và 3 năm quản chế với cáo buộc ‘tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam’ theo điều 88 Bộ luật Hình sự. Người thứ hai là Nguyễn Viết Dũng, còn gọi là Dũng Phi Hổ, bị bắt giam từ 27/9/2017, cũng về hành vi bị cáo buộc theo điều 88.

Những cá nhân trên, đối với nhà cầm quyền Hà Nội, là những người đang phạm tội “tuyên truyền, lật đổ nhà nước”. Truyền thông do nhà nước quản lý gọi họ là ‘những thành phần nguy hiểm’.

Nhưng, đối với 1 số  bạn trẻ hiện nay đang sinh sống trong nước, họ là những ngọn lửa tinh thần, những người khai trí cho một xã hội công bằng hơn và tốt đẹp hơn.

Cô Nguyễn Xoan, con dâu của nhà hoạt động Lê Đình Lượng, tức facebooker Lỗ Ngọc, bị Cơ quan An Ninh Điều Tra Công an tỉnh Nghệ An bắt khẩn cấp vào chiều ngày 2/7 với cáo buộc là có hành vi ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền”, cho biết cô nhận thấy ngày càng có nhiều người trẻ dấn thân vào con đường đấu tranh dân chủ. Cô cho rằng “đó là 1 điều rất tốt”.

“Em thấy có nhiều người trẻ đứng lên làm như thế là em rất vui. Họ nhận thức được, họ biết được và họ dám đứng lên đòi hỏi quyền lợi của mình và của mọi người.”

Vì sao họ nhận thức được? Vì sao họ dám đứng lên đòi hỏi quyền lợi chính đáng, cơ bản của 1 công dân cho chính mình và cho mọi người? Theo bạn trẻ Nguyễn Peng, một nhà hoạt động thiện nguyện và nhiều lần lên tiếng đòi hỏi môi trường sạch, từ Sài Gòn cho rằng đó là 1 quá trình tự tôi luyện và tự khai trí cho nhau. Anh nói:

“Hầu hết các bạn trẻ tầng lớp tụi em là tự khai trí cho nhau. Hầu hết họ bị đàn áp đánh đập hay bắt bớ, lưu vong thì họ đều nói lên tiếng nói trong xã hội hiện nay.

Họ là những bạn trẻ cầu tiến. Nhiều bạn học rất giỏi, như bản thân bạn Phúc mới bị nhà cầm quyền tuyên án chiều nay, em tiếp xúc với bạn nhiều lần, bạn rất tốt và có nhiều điều em nể phục bạn ấy.”

Kết nối, truyền đạt cho bất kỳ ai có cơ hội gặp gỡ, là cách mà cô Nguyễn Xoan nhắc đến.

“Nhìn 1 người nào đó, mình nói với họ. Ví dụ người chạy taxi chẳng hạn, mình có thể giải thích với họ là giá xăng tăng như thế, quyền lợi của họ sẽ bị thiệt thòi như thế nào. Ít nhiều họ cũng hiểu.”

Bạn trẻ Nguyễn Peng nói thêm rằng, anh nhận thấy thế hệ thanh niên lứa tuổi 18, 19 ngày nay hiểu biết rất nhiều. Họ sẵn sàng kết nối và truyền lửa cho nhau, cùng nhau xây dựng 1 thế hệ tuổi trẻ mới không phải với những ngôn ngữ giáo điều, rập khuôn của 1 hệ thống giáo dục “học thuộc lòng” cũ kỹ.

“Nhờ sự khai trí của những bạn trẻ này, họ biết thêm những bạn khác nữa. Bản thân em cũng vậy. Khi em gặp 1 bạn kia, em nói những sự việc thế này thế này, thì tự họ tìm hiểu được những vấn đề trong xã hội ngày nay và khai trí lại cho người khác.

Em nghĩ tuổi trẻ hôm nay họ nói về vấn đề chính trị rất nhiều rồi. Năm 2017, dù là chính quyền Việt Nam bắt bớ hay đàn áp những người trẻ như tụi em nhưng em cảm thấy mãn nguyện là hiện tại bây giờ, họ đã quan tâm nhiều vấn đề xã hội hơn.”

Nhờ sự khai trí của những bạn trẻ này, họ biết thêm những bạn khác nữa. Bản thân em cũng vậy. Khi em gặp 1 bạn kia, em nói những sự việc thế này thế này, thì tự họ tìm hiểu được những vấn đề trong xã hội ngày nay và khai trí lại cho người khác. – Nguyễn Peng

Nhiều mặt trận đấu tranh

Nói về công cuộc dấn thân của những người trẻ trong xã hội Việt Nam hiện nay, có nhiều hình thức thể hiện. Có thể nói là họ có nhiều “mặt trận” khác nhau để bày tỏ chính kiến.

Đó là những cuộc biểu tình ôn hoà lan rộng khắp mọi miền đất nước để đòi quyền được sống trong 1 môi trường xanh và sạch, đòi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo.

Nhà hoạt động dân chủ Dương Đại Triều Lâm cho biết anh không ủng hộ dùng phương cách bạo lực để phản kháng lại bạo lực.

“Nếu chúng ta sử dụng bạo lực để đánh trả bạo lực thì chúng ta sẽ rơi vào cái bẫy. Chúng ta sẽ đối đầu với thế mạnh nhất của họ là sử dụng bạo lực để đàn áp. Chúng ta phải bắt buộc nhà cầm quyền phải thực hiện các biện pháp bảo vệ pháp luật, khởi tố vụ án, đưa hung thủ ra trước ánh sáng. Công lý phải được thực thi. Phải bảo vệ nạn nhân, quyền chỗ ở, xâm phạm thân thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, những điều đã được pháp luật công nhận.”

Đó còn là những bài viết trên blog, chia sẻ ý kiến trên các trang mạng xã hội nhằm thể hiện sự bất bình về các chính sách kinh tế không minh bạch, hay chủ trương đánh thuế gây thiệt thòi cho đời sống người dân.

Những người trẻ đấu tranh nhận thức được sức mạnh khổng lồ của truyền thông và mạng xã hội. Cô Nguyễn Xoan khẳng định mạng xã hội là vũ khí rất quan trọng để đưa thông điệp lan toả nhiều hơn trong công cuộc đấu tranh đòi dân chủ.

“Mình mà muốn đạt được kết quả tốt đẹp thì đầu tiên em nghĩ đó là mạng xã hội. Mạng xã hội rất quan trọng vì ngày nay con người hiện đại ai cũng dùng mạng xã hội hết. Đầu tiên mình phải đưa lên mạng xã hội những bằng chứng, hoặc những việc làm xấu xa của nhà cầm quyền để nhiều người biết tới.”

Mình mà muốn đạt được kết quả tốt đẹp thì đầu tiên em nghĩ đó là mạng xã hội. Mạng xã hội rất quan trọng vì ngày nay con người hiện đại ai cũng dùng mạng xã hội hết. Đầu tiên mình phải đưa lên mạng xã hội những bằng chứng, hoặc những việc làm xấu xa của nhà cầm quyền để nhiều người biết tới. – Nguyễn Xoan

Đó cũng là những chuyến đi thiện nguyện đến bất cứ nơi nào có những kiếp người đói khổ, mà lẽ ra, đây là những việc trước tiên thuộc về trách nhiệm của nhà nước, chính phủ.

Bằng chính những chuyến đi của mình và các bạn, Nguyễn Peng gọi đó là một hình thức lên tiếng thể hiện sự bất bình về 1 xã hội còn nhiều bất công. Từ những chuyến đi đó, anh và mọi người hiểu được chính trị đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống người dân như thế nào.

“ Em thừa sức hiểu được những bất công của nhà cầm quyền đối với những người vô gia cư, hay những người nghèo ở vùng sâu vùng xa. Em thường đi thiện nguyện và từng lên những vùng đó. Họ rất thiếu thốn. Công việc thiện nguyện cũng chính là để liên kết giúp cho những vấn đề xã hội hiện nay đang đi xuống.”

Nếu nói về những người trẻ dấn thân trong xã hội Việt Nam ngày nay, có một hình ảnh được gợi nhớ và thể hiện rõ nhất tinh thần đấu tranh của họ, đó là khi hai nhà hoạt động Hoàng Đức Bình và Bạch Hồng Quyền bị truy nã, rất nhiều người trong và ngoài nước đồng loạt thay đổi ảnh đại diện trên trang Facebook cá nhân của mình với hình ảnh của 2 nhà hoạt động này. Cùng với hành động đó là những lời kêu gọi “Mỗi người là một Bạch Hồng Quyền”; “Mỗi người là một Hoàng Bình”.

Một Dân Tộc bị ĐẦU ĐỘC từ NGỌN đến tận gốc

Một Dân Tộc bị ĐẦU ĐỘC từ NGỌN đến tận gốc

  Tôi và bạn, chúng ta là những kẻ đần độn ở một đất nước thất bại!

Lê Hoàng

Bài viết dành cho tôi và những thanh niên kém cỏi và đang lạc lối khác.

1. Bức hình này đã được lan truyền trên mạng, nó bình thường đến nỗi người ta nhìn vào nó rồi sẽ hỏi:”Rồi sao nữa ? Bức hình này có vấn đề gì à ? Mấy đứa này bạn mày hả ? Chúng nó bị ung thư gan chết hết rồi à ?”

2. Người ta nói, ở Việt Nam, đâu đâu cũng thấy đầy rẫy những chỗ nhậu nhẹt. Người ta vui cũng nhậu, buồn cũng nhậu, đám cưới cũng nhậu, đám ma cũng nhậu, thậm chí không biết làm gì cũng phải nhậu. Bởi thế cho nên chẳng mấy ngạc nhiên khi lượng rượu bia ở Việt Nam lại nằm trong tốp những nước tiêu thụ nhiều nhất trên thế giới. Tôi đã nghe ai đó đã nói, rượu bia, thuốc lá và ma túy là những thứ mà ngày xưa những nước thực dân khi đi xâm chiếm các thuộc địa đã sử dụng những thứ này để làm suy yếu nội lực, tinh thần phản kháng của dân tộc đó.Việt Nam mình có lẽ cũng đang may mắn và tình cờ bị như thế ? Ai đang cố làm suy yếu dân tộc ta ?

3. Người ta nói, có một câu châm ngôn ở Việt Nam mà ai cũng thuộc và làm theo “Vì cuộc sống là không chờ đợi”. Đúng, chúng tôi không quen chờ đèn đỏ chuyển qua xanh để được đi. Chúng tôi không đủ kiên nhẫn xếp vào hàng để chờ đến lượt mua đồ ăn hay tấm vé xem một chương trình nào đó. Khi chúng tôi xảy ra va vẹt xe trên đường, chúng tôi không đợi người có thẩm quyền đến giải quyết, mà chúng tôi sẽ rút dao, mã tấu xông vào đối phương quyết một phen sống mái, để mọi ân oán được giải quyết bằng máu và nước mắt cho thỏa chí nam nhi, đầu đội trời chân đạp đất ung dung tự tại chả khác gì các vị hảo hán anh hùng Lương Sơn bạc

4. Người ta nói ở Việt Nam người ta đi làm gái nhiều lắm. Ừ thì không làm gái thì biết làm gì bây giờ. Rừng đã mất, biển đã chết, sông đã cạn thì lấy gì làm để mà nuôi thân.

5. Người ta nói ở Việt Nam để được nổi tiếng dễ lắm. Chỉ cần bạn có mông to và ngực bự thì bạn đã có được 50% cơ hội được nổi tiếng rồi. 50% còn lại thì phụ thuộc vào độ chai của da mặt bạn, và sản phẩm make up mà bạn đang tin dùng để che đi lớp da mặt bị chai đó.

6 Người ta nói ở Việt Nam làm quan dễ lắm. Bạn chỉ cần có bố hoặc mẹ đang là quan, hoặc cô dì chú bác, hoặc thậm chí là ông hàng xóm là tình cũ của mẹ bạn cũng có thể giúp bạn trên con đường quan lộ. Xin vào làm quan mới khó, chứ đã là quan rồi thì dễ í mà. Chức cao thì ăn cái to, chức nhỏ thì ăn nhỏ, quan trọng là có “vẽ” thì mới có ăn, và ăn chia sòng phẳng lúc nào cũng phải là điều kiện tiên quyết. Thành công thì chia cho trên, sẻ ở dướiThất bại thì rút kinh nghiệm, kiểm điểm, cảnh cáo thôi cũng đã đủ nghiêm khắc rồi.

7. Người ta nói, sống ở Việt Nam vui lắm. Ừ thì suốt ngày trên tivi ra rả đủ chương trình thi hài, game show hài này nọ thì bảo sao không vui. Ở một đất nước, mà những diễn viên hài với những câu nói “hài là phải nhảm, phải xàm, càng nhảm càng xàm thì càng vui, thì mới là hài”. Tôi chưa thấy ở một đất nước nào, mà diễn viên hài lại được tôn vinh, được là thần tượng, là lấy làm mẫu chân lý sống cho giới trẻ như ở Việt Nam. Họ, những diễn viên hài đâu biết rằng hài là môn nghệ thuật lên án và châm biếm những mặt xấu xa của xã hội, và qua đó đằng sau những tiếng cười là để lại sự trăn trở về xã hội trong lòng người xem. Thay vì chúng ta tổ chức các chương trình kích thích sự tự học, rèn luyện sức khoẻ, ý chí vươn lên trong cuộc sống hay giúp các bạn trẻ khởi nghiệp thì chúng ta lại tổ chức các chương trình thi tuyển trở thành diễn viên hài. Dường như cái hài nhảm, hài xàm nó đang giúp người dân Việt quên đi cái nghèo, cái đói cái tủi nhục khi sống dưới cái xã hội này ? Cái đất nước này vốn đã là một sân khấu hài lớn, và dường như cả xã hội ai cũng muốn được là một diễn hài trong cái sân khấu lớn đó ?

8. Người ta nói làm giới trẻ ở Việt Nam sướng lắm. Chỉ có “ăn, ngủ, phịch, ị”. Trong khi, giới trẻ các nước khác như Hong Kong, Hàn Quốc…ừ thì mà là….trong khi giới trẻ chúng ta…là mà thì ừ.

9. Người ta nói…ừ thì cứ kệ người ta nói đi mà Biết thì biết thế thôi chứ mình có thay đổi được gì đâu. Kệ đi!

10. Việt Nam chúng ta luôn tự hào là Con Rồng, Cháu Tiên thông minh xuất chúng, minh chứng hùng hồn nhất là chúng ta chiến thắng được mọi kẻ thù xâm lược. Ừ thì giỏi đó, nhưng hậu thế lại biết đến những trận đánh là những cuộc nướng quân “quân địch chết ba, quân ta chết hết” hoặc qua những kế hoạch mang đậm dấu ấn cá nhân của anh Tám, chị Chín, thím Sáu nào đó: “chúng ta đã làm tiêu hao sinh lực địch đáng kể”, nhưng thật ra là những trận khủng bố kinh hoàng chẳng khác gì IS với “quân địch chết ba dân ta chết tá. Ngoài những chiến tích đó ra, dường như chúng ta không có một thành công nào để minh chứng chúng ta là một dân tộc thông minh, không một công trình khoa học hay phát minh sáng chế nào đóng góp cho nhân loại.

 Nếu tổ tiên ta thông minh, thì ngày xưa ba Quân mẹ Cơ đã ngồi xuống cùng giải quyết vấn đề, hoà hợp hoà giải chứ không phải phải đi đến quyết định ly thân, gia đình chia cắt kẻ dắt 50 con lên rừng, người dẫn 50 con xuống biển. Nếu vua Hùng thông minh, thì khi nghe câu nói của Mai An Tiêm thay vì sẽ ngồi suy nghĩ đúng sai về câu nói đó chứ không cố chấp đày chàng trai trẻ ra biển. Nếu An Dương Vương thông minh, thì đã không nhận đứa con của kẻ thù về làm rể, chứ không để con gái rượu cuối cùng phải thốt lên “Trái tim lầm lỡ để trên đầu/ Nỏ thần vô ý trao tay giặc”. Tuy đã là quá khứ, dân tộc nào cũng có sai lầm, nhưng chúng ta cần phải nhìn nhận, đối diện sự thật rằng dân tộc Việt Nam chúng ta không thông minh, và khi đã nhận thức được điều đó chúng ta cần phải mở mang đầu óc, tăng cường học hỏi những điều mới mẻ từ bên ngoài. Nhưng tiếc là thay vì chịu nhận ra điểm yếu và chịu khó học hỏi thì chúng ta lại cố chấp giữ gìn cái cũ với những sân si, hoang tưởng.. Điều này thực sự là một bất hạnh cho dân tộc Việt. Tôi và bạn, chúng ta là những kẻ đần độn ở một đất nước thất bại!

 Kỳ Anh

Vì sao chủ nghĩa xã hội thất bại?

 

Vì sao chủ nghĩa xã hội thất bại?

Print Friendly, PDF & Email

Nguồn: Paul R. Gregory, “Why Socialism Fails”, Hoover Institution, 10/01/2018.

Biên dịch: Hiếu Chân

Khi Liên bang Xô viết gần sụp đổ, Francis Fukuyama tuyên bố chế độ dân chủ tự do đã chiến thắng chủ nghĩa xã hội kế hoạch hóa trong bài nhận định năm 1989 của ông, Điểm tận cùng của Lịch sử?. Hơn một phần tư thế kỷ sau đó, Liên Xô quả thực đã tan rã. Phần lãnh thổ Đông Âu của nó bây giờ thuộc về Liên minh Âu châu. Trung Quốc có một nền kinh tế thị trường cho dù đất nước vẫn bị cai trị bởi một đảng duy nhất. Còn các nhà nước “xã hội chủ nghĩa” Bắc Hàn, Cuba và Venezuela đang trong đống đổ nát về kinh tế. Giờ đây, ít ai ủng hộ việc “quay lại Liên Xô”. Nhưng đồng thời, nhiều người vẫn coi chủ nghĩa xã hội là một hệ thống kinh tế hấp dẫn. Hãy xem trường hợp ông Bernie Sanders[1] – một người công khai thừa nhận ủng hộ một nước Mỹ xã hội chủ nghĩa – và rất nhiều người trẻ trưởng thành vào điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ ưa thích chủ nghĩa xã hội hơn chủ nghĩa tư bản.

Sự tương đồng về kỵ sĩ và con ngựa giải thích cho sự hấp dẫn kéo dài của chủ nghĩa xã hội. Những người xã hội chủ nghĩa tin rằng các chế độ xã hội chủ nghĩa đã chọn sai kỵ sĩ để cưỡi con ngựa xã hội chủ nghĩa đi tới chiến thắng xứng đáng với nó. Những kỵ sĩ tệ hại như Stalin, Mao, Fidel, Pol Pot và Hugo Chavez đã chọn những chiến thuật và chính sách dẫn con ngựa xã hội chủ nghĩa của họ đi trật đường. Nhưng trên thực tế, một cái nhìn vào cách thức Liên Xô hoạt động lại bộc lộ rằng, chính bản thân con ngựa mới là vấn đề.

Sau khi giành được quyền lực một thế kỷ trước và nắm giữ quyền lực thông qua một cuộc nội chiến, những người cộng sản Liên Xô có ý định xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ chôn vùi chủ nghĩa tư bản. Sở hữu nhà nước và kế hoạch hóa khoa học sẽ thay thế cho tình trạng vô chính phủ của thị trường. Lợi ích vật chất sẽ dồn về phía giai cấp lao động. Một nền kinh tế công bằng sẽ thay cho sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản và con người mới xã hội chủ nghĩa sẽ nổi lên, những người đặt ưu tiên cho lợi ích của xã hội lên trên lợi ích cá nhân. Chuyên chính vô sản sẽ bảo đảm quyền lợi của giai cấp lao động. Thay vì bóc lột giá trị thặng dư từ người lao động, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ lấy đồ cống nạp của các nhà tư bản để tài trợ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Những nền tảng căn bản của “con ngựa” Xô-viết đã được thiết lập vào đầu thập niên 1930. Theo hệ thống này, Stalin và bộ chính trị của ông ta đặt ra những ưu tiên chung cho các bộ công nghiệp và ủy ban kế hoạch nhà nước. Các bộ và các nhà kế hoạch làm việc cùng nhau để soạn ra các kế hoạch kinh tế. Cán bộ quản lý của hàng trăm ngàn nhà máy, công xưởng, cửa hàng thực phẩm và ngay đến các nông trại đều bị pháp luật bắt buộc phải hoàn thành kế hoạch mà cấp trên giao cho.

Nhà nước Xô-viết khởi động nền kinh tế kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa của họ khi thế giới tư bản chủ nghĩa chìm sâu vào suy thoái, chiến tranh thương mại và lạm phát phi mã. Chính quyền Xô-viết khoe khoang về mức tăng trưởng chưa từng có trước đây. Các tổ hợp công nghiệp mới mọc lên từ số không. Các tạp chí đăng hình ảnh những công nhân vui sướng nghỉ ngơi trong những khu nghỉ mát đầy đủ tiện nghi. Thông điệp là: Phương Tây đang thất bại và hệ thống kinh tế Xô-viết là con đường đi tới tương lai.

Khi cuộc cạnh tranh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội Liên Xô trở nên rõ rệt trong thời Chiến tranh Lạnh, hoạt động nghiên cứu học thuật nghiêm túc về nền kinh tế Xô-viết cũng bắt đầu. Chương trình nghiên cứu bao quát của các học giả phương Tây nhắm vào “kế hoạch hóa khoa học” – những người xã hội chủ nghĩa tin rằng các chuyên gia kỹ trị có thể quản lý nền kinh tế tốt hơn là những lực lượng thị trường tự phát. Suy cho cùng, chẳng phải các chuyên gia thì hiểu biết hơn người mua người bán về chuyện cần sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai sử dụng hay sao?

Chính các nhà kinh tế học người Áo F.A. Hayek và Ludwig von Mises là những người chống lại niềm tin này quyết liệt nhất. Trong sự phê phán có tính biểu tượng của họ, được trình bày trong hàng loạt công trình nghiên cứu từ thập niên 1920 đến 1940, họ đi đến kết luận rằng chủ nghĩa xã hội sẽ thất bại. Trong các nền kinh tế hiện đại, hàng trăm ngàn doanh nghiệp sản xuất ra hàng triệu sản phẩm. Quản lý một số lượng lớn như vậy là việc quá phức tạp mà không một cơ quan hành chính nào có thể phân bổ nguồn lực nổi, cho dù có sự trợ giúp của công nghệ máy tính tinh vi nhất. Kinh tế hiện đại do đó quá phức tạp và không kế hoạch hóa được. Không có thị trường và giá cả, các nhà hoạch định chính sách không biết được mặt hàng nào bị khan hiếm, sản phẩm nào dư thừa. Nếu tài sản thuộc về mọi người, thì những người quản lý tài sản cho xã hội sẽ phải theo những luật lệ nào?

Giải pháp của người Xô-viết cho những vấn đề về tính phức tạp và thông tin là một kế hoạch quốc gia đặt mục tiêu sản xuất cho những khu vực kinh tế lớn chứ không phải cho những giao dịch cụ thể. Nói cách khác, thay vì bắt buộc nhà máy A phải giao cho nhà máy B 10 tấn dây cáp thép, các nhà kế hoạch đặt mục tiêu tổng số tấn dây cáp được sản xuất trong cả nước. Chỉ có một số mặt hàng đặc biệt – chẳng hạn như dầu thô, quặng nhôm, than nâu, điện năng và toa vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt – mới được lập kế hoạch như những giao dịch thật sự. Còn tất cả những mặt hàng khác chỉ được kế hoạch hóa theo số lượng thô, chẳng hạn như đặt mục tiêu dệt ra vài triệu mét vuông vải. Các đặc điểm của sản phẩm, kế hoạch giao hàng và thanh toán tiền chỉ được vạch ra ở những cấp thấp, và thường dẫn tới những kết quả thảm hại.

Kế hoạch hóa khoa học kiểu Xô viết trong thực tế chỉ tác động tới một phần rất nhỏ sản phẩm. Vào đầu thập niên 1950, các cơ quan trung ương lập ra hơn 10.000 chỉ mục kế hoạch trong khi sản phẩm công nghiệp có đến hơn 20 triệu chỉ mục khác nhau. Các cơ quan trung ương lập ra những kế hoạch tổng quát cho các bộ công nghiệp, các bộ này lại đề ra những kế hoạch chi tiết hơn cho các “khu hành chính quan trọng”, nơi sẽ chuẩn bị kế hoạch cho các doanh nghiệp. Không bao giờ có yêu cầu các quan chức hàng đầu phải đưa ra kế hoạch sản xuất các sản phẩm đặc biệt nào đó.

Để làm cho vấn đề thêm phức tạp, gần như tất cả mọi kế hoạch đều chỉ là “dự thảo”, có thể được thay đổi bất cứ lúc nào bởi các quan chức của đảng và chính quyền cấp cao hơn. Sự can thiệp thường xuyên này, gọi là “giám sát”, là một điều phiền toái xảy ra từ ngày đầu tiên tới ngày cuối cùng của hệ thống Xô-viết, nhưng đó cũng là cột trụ cho công cuộc phân bổ nguồn lực.

Các nhà kế hoạch trung ương chuẩn bị những kế hoạch sơ bộ cho một bộ phận nhỏ của nền kinh tế. Những “kế hoạch dự thảo” này lại kích hoạt “những trận chiến giành kế hoạch” to lớn khi các bộ và các doanh nghiệp tìm cách hoàn thành mục tiêu sản xuất của họ và đáp ứng các định mức giao hàng; tất cả những chuyện này đều có thể thay đổi bởi các cán bộ đảng và cán bộ địa phương vào bất cứ lúc nào.

Như bộ trưởng công nghiệp nặng Sergo Ordzhonokidze than phiền vào năm 1930: “Tôi đoán họ nghĩ rằng chúng tôi là một lũ ngốc. Mỗi ngày họ cho chúng tôi từ nghị quyết này đến nghị quyết khác mà không có cơ sở nào cả”. Một nửa thế kỷ sau một nhà thầu quốc phòng ẩn danh cũng đưa ra lời than phiền tương tự: “Họ nhúng mũi vào mọi vấn đề. Chúng tôi bảo họ rằng họ đã sai, nhưng họ vẫn đòi phải làm theo cách của họ”.

Nhiệm vụ của người quản lý được cho là rất đơn giản: Kế hoạch là pháp lệnh, công việc của người quản lý là hoàn thành kế hoạch. Nhưng kế hoạch cứ tiếp tục thay đổi. Hơn thế nữa, nó bao gồm nhiều nhiệm vụ khác nhau, chẳng hạn như giao hàng, sản lượng và phân loại. Xuyên qua toàn bộ lịch sử của Liên Xô, tổng sản lượng gộp (đo bằng tấn, mét hoặc toa hàng/dặm) là các chỉ tiêu kế hoạch quan trọng nhất và cũng dễ thao túng nhất. Các nhà sản xuất đinh chẳng hạn, mà sản lượng được tính theo trọng lượng, chỉ sản xuất các loại đinh to và nặng. Các nhà sản xuất máy kéo, cố gắng hoàn thành định mức máy kéo, bị phát hiện chỉ giao cho khách hàng những chiếc máy kéo không có động cơ; buộc khách hàng phải mua động cơ như mua phụ tùng. Các nhà sản xuất giày mà kế hoạch dựa trên số lượng giày làm ra chỉ sản xuất giày cùng một cỡ, cùng một màu, bất chấp nỗi khổ tâm của khách hàng. Những mục tiêu kế hoạch khác, chẳng hạn như áp dụng công nghệ mới hoặc làm giảm chi phí sản xuất, bị lãng quên vì bị coi là không có tác dụng giúp hoàn thành kế hoạch.

Dưới chế độ kế hoạch hóa khoa học, cung cầu phải gần ngang nhau – và do ác cảm của họ đối với tính lộn xộn của thị trường, các nhà kế hoạch Xô-viết không thể cân đối cung cầu bằng cách nâng giá hoặc hạ giá. Thay vì vậy, họ soạn ra cái gọi là “cân đối vật chất”, sử dụng phép kế toán cổ xưa để so sánh những vật liệu nào đang có sẵn với những vật liệu cần có theo một nghĩa nào đó.

Kế hoạch hóa cân đối-vật chất kiểu Xô-viết có rất nhiều khiếm khuyết. Ví dụ, chỉ có thể soạn ra một số sự cân đối – năm 1938 chỉ có 379 sự cân đối ở trung ương được chuẩn bị cho một thị trường có hàng triệu mặt hàng. Và rồi, những sự cân đối này lại dựa trên những thông tin méo mó. Các nhà sản xuất hàng hóa trong phép cân đối này vận động để được phân bổ những mục tiêu thấp, che giấu năng lực sản xuất thật của họ. Những người sử dụng sản phẩm công nghiệp trong phép cân đối, ngược lại, lại khai vống lên những gì họ cần để bảo đảm việc hoàn thành kế hoạch của riêng họ.

Hình dung ra một sự cân đối thích hợp là một công việc mệt mỏi – và các nhà kế hoạch Xô-viết không phải năm nào cũng sáng tác ra cái mới; thay vì vậy, họ áp dụng cách gọi là “kế hoạch hóa từ mức độ đã hoàn tất”, nghĩa là kế hoạch của mỗi năm là kế hoạch của năm trước đó cộng thêm một số điều chỉnh nhỏ.

Vào đầu thập niên 1930, các cơ quan cung cấp phân phối nguyên vật liệu dựa trên những gì họ đã làm trong năm trước đó. Lướt nhanh đến thập niên 1980, cũng vẫn thấy cung cách làm việc như vậy. Khi một nhà sản xuất vật liệu nghề hàn muốn sử dụng tấm kim loại mỏng hơn thì câu trả lời chính thức là: “Tôi không quan tâm tới công nghệ mới. Cứ làm như cũ để mọi sự vẫn như cũ”. Kế hoạch hóa cân đối vật chất là kẻ thù của sản phẩm mới và công nghệ mới bởi vì chúng đòi hỏi phải làm lại một hệ thống các cân đối vốn đã rất mong manh. Các nhà kinh tế học Mỹ nghiên cứu sản xuất công nghiệp của Liên Xô trong thập niên 1950 hết sức ngạc nhiên khi thấy những cỗ máy đã sản xuất vài thập niên mà không hề được cải tiến gì cả, một chuyện chưa từng nghe thấy ở phương Tây.

Kế hoạch hóa cân đối vật chất là điểm yếu cơ bản nhất của hệ thống Xô-viết. Nó làm cho nền kinh tế Liên Xô bị đông cứng lại. Sản xuất của mỗi năm là bản sao chép năm trước đó. Một cán bộ quản lý Liên Xô năm 1985 sẽ cảm thấy hết sức thoải mái trong cùng doanh nghiệp đó vào năm 1935.

Ngoài kế hoạch hóa cân đối vật chất, ngân sách mềm (soft budgets) cũng tạo thành một khuyết điểm nghiêm trọng khác. Nhà kinh tế học Janos Kornai của trường Đại học Harvard lớn lên ở Hungary dưới thời xã hội chủ nghĩa kế hoạch hóa. Nghiên cứu của ông, dựa trên những trải nghiệm trực tiếp, tập trung vào những thất thoát kinh tế diễn ra cùng với những giới hạn của ngân sách mềm. Theo Kornai, nếu doanh nghiệp không phải đối mặt với nguy cơ phá sản, chúng sẽ không tìm cách cắt giảm chi phí và tìm những chiến lược sinh tồn khác. Từ ngày đầu tiên của hệ thống Xô-viết, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã hiểu rằng họ sẽ được tự động cứu nguy, nếu không nói là cứu ngay.

Nguyên nhân ban đầu của chính sách ngân sách mềm là do hệ thống Xô-viết dựa trên kế hoạch sản lượng. Đầu ra của doanh nghiệp này là đầu vào của doanh nghiệp khác. Nếu kế hoạch sản lượng bị đổ vỡ thì toàn bộ kế hoạch sẽ thất bại. Đưa một doanh nghiệp ra khỏi nền sản xuất do làm ăn kém cỏi không đơn giản là một sự lựa chọn.

Trong thực tế, các doanh nghiệp thua lỗ thường trả các khoản tiền hàng bằng trái phiếu ghi nợ (IOU). Các phiếu ghi nợ không được thanh toán đúng hạn sẽ nhiều lên dần rồi đạt tới quy mô khủng hoảng. Gosbank, tức ngân hàng nhà nước Liên Xô – sẽ vào cuộc và giải quyết các hóa đơn chưa thanh toán bằng cách phát hành thêm tiền và tạo ra cái mà các quan chức ngân hàng Xô-viết gọi là “treo tiền” – đồng tiền chạy theo hàng hóa hơn là có hàng hóa để mua. Trong thực tế, việc kinh doanh chính của Gosbank trong những năm đầu tiên của hệ thống Liên Xô là tổ chức những vụ cứu nguy tài chính. Khi một vụ cứu nguy này hoàn tất cũng là lúc bắt đầu tiến hành vụ cứu nguy kế tiếp.

Vấn đề của chủ nghĩa xã hội không phải là kỵ sĩ tồi mà là chính con ngựa. Hệ thống kinh tế Xô-viết mắc nhiều chứng bệnh cuối cùng sẽ làm nó ngã quỵ. Bắt đầu từ cuối thập niên 1960, kinh tế Liên Xô rơi vào cuộc suy thoái kéo dài, về sau được gọi là “giai đoạn trì trệ”. Mikhail Gorbachev được chọn làm tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô năm 1985 với cam kết rằng ông, một nhà cải cách cấp tiến, sẽ đảo ngược đà suy thoái này.

Gorbachev đã thất bại vì cốt lõi của hệ thống kế hoạch hóa Xô-viết đã mục ruỗng. Bất chấp thiên hướng cải cách của ông, Gorbachev vẫn là một tín đồ của chủ nghĩa xã hội. Ông quyết tâm cứu vãn chủ nghĩa xã hội Xô-viết bằng cách làm cho nó giống với chủ nghĩa tư bản. Khi làm như vậy, ông đã tạo ra một nền kinh tế không phải là kế hoạch hóa, cũng không phải kinh tế thị trường – một cuộc tranh chấp đầy hỗn loạn, mà nhân dân Nga tới hôm nay vẫn buồn rầu gọi đó là “chủ nghĩa tư bản hoang dã”.

Paul Roderick Gregory lấy bằng tiến sĩ kinh tế tại Đại học Harvard, làm nghiên cứu viên của Viện Hoover, giáo sư khoa kinh tế của Đại học Houston, Texas; giáo sư nghiên cứu tại Học viện Đức về nghiên cứu kinh tế ở Berlin; chủ tịch danh dự Ban Tư vấn quốc tế trường Kinh tế Kiev (Ukraine). Ông cũng đồng thời là giáo sư thỉnh giảng các trường Đại học quốc gia Moscow (Nga), Đại học Viadrina (Nga) và Đại học Tự do Berlin (Đức).

——————

[1] Bernie Sanders: Thượng nghị sĩ Dân chủ bang Vermont, Hoa Kỳ, thất bại trong cuộc tranh giành với bà Hillary Clinton tư cách đại diện đảng Dân chủ ra tranh cử tổng thống Mỹ trong cuộc bầu cử tháng 11-2016.

Nguồn: Viet-studies

Ba người Việt bị khởi tố tội ăn cắp ở Nhật

2018-02-01
 
Hình minh họa. Khách hàng xếp hàng mua túi may mắn ngoài một cửa hàng bán lẻ hàng điện tử ở Tokyo hôm 1/1/2018

Hình minh họa. Khách hàng xếp hàng mua túi may mắn ngoài một cửa hàng bán lẻ hàng điện tử ở Tokyo hôm 1/1/2018

 AFP
 

Nhật Bản ngày 1 tháng 2 tiến hành khởi tố ba người mang quốc tịch Việt Nam về tội ăn cắp. Ba người này bao gồm Le Anh Ngoc, 22 tuổi; Vi Tuan Luu 24 tuổi; và Nguyen Anh Tuan 25 tuổi. Hai trong số ba người là du học sinh tại Nhật.

Theo cáo trạng ba người này đã thực hiện hơn 100 vụ ăn cắp tại các tỉnh Ibaraki, Kyoto, Nara,….và bị bắt vào ngày 21 tháng 1 khi đang đột nhập vào một căn nhà tại thành phố Ruyugasaki tỉnh Ibaraki, lấy đi nhiều đồ vật quý giá như túi xách hàng hiệu, trang sức, với tổng trị giá khoảng 6.200 đô la Mỹ.

Số liệu của Cảnh sát quốc gia Nhật Bản cho thấy tính đến năm 2016, số vụ phạm tội do người Việt Nam gây ra đã cao gấp đôi trong 10 năm qua, trong đó nhiều vụ liên quan đến du học sinh.

Ngoài đối tượng này, trước đây từng có những phi công, tiếp viên hàng không Việt Nam bị cơ quan chức năng Nhật cáo buộc tham gia chuyển hàng ăn cắp; hay tình trạng nhân viên sứ quán Việt Nam tại Xứ Phù Tang nhũng nhiễu và bị than phiền…

Mậu Thân 1968, cả Mỹ lẫn Bắc Việt đều thất bại

Mậu Thân 1968, cả Mỹ lẫn Bắc Việt đều thất bại

Kính Hòa RFA
2018-02-01
 

Binh sĩ Mỹ bị thương tại Huế trong trận Mậu thân. Ảnh chụp ngày 6/2/1968.

Binh sĩ Mỹ bị thương tại Huế trong trận Mậu thân. Ảnh chụp ngày 6/2/1968.

 AFP
Ngày 31 tháng 1 năm 2018, đánh dấu tròn 50 năm ngày lực lượng cộng sản tấn công toàn miền Nam trong một chiến dịch mà họ gọi là Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Mậu thân.

Nhân dịp này một cuộc hội thảo mang tên Bài học sau 50 năm trận đánh Mậu thân được tổ chức tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế ở Thủ đô Washington DC, Hoa Kỳ.

Thất bại của cả hai bên

Tôi là một trong 9 nhân viên dân sự có mặt trong Tòa Đại sứ Mỹ vào đêm 31 tháng 1 năm 1968, khi cuộc tấn công vào Tòa Đại sứ bắt đầu. Tôi phải mất một thời gian ngắn để biết chuyện gì đang xảy ra. Một nhóm Việt cộng bắn vào tòa nhà và tìm cách xâm nhập. Nhưng lực lượng thủy quân lục chiến gác tòa đại sứ đã nhanh chóng phản ứng, khóa kín đường vào, và Việt cộng không thể xâm nhập được.”

Đó là hồi ức của ông Allan Wendt, cựu Đại sứ Mỹ tại Slovenia kể lại với chúng tôi tại cuộc hội thảo về cuộc tấn công của một nhóm đặc công cộng sản vào Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Theo ông bài học từ trận đánh Mậu thân là những thông tin tình báo phải chính xác, sự chuẩn bị của quân đội phải kỹ lưỡng để có thể đương đầu với mọi cuộc tấn công.

Việt cộng tin rằng dân chúng sẽ nổi dậy khi họ tấn công. Điều đó thật là ngu xuẩn.
-Ông Bing West.

Chiến dịch Mậu thân mà những người cộng sản phát động vào mùa xuân năm 1968 được xem như là một thất bại lớn, vì cả hai mục tiêu mà họ đưa ra đều không thực hiện được, đó là tiêu diệt lực lượng kẻ thù, và kích động một cuộc nổi dậy của dân chúng. Không những vậy, điều mà những người cầm quyền Bắc Việt không hề nghĩ tới, là các lực lượng quân đội cộng sản lại bị tổn thất rất nặng nề, chuyện người dân miền Nam mở cửa đón bộ đội “giải phóng” không hề xảy ra.

Một diễn giả của buổi hội thảo là ông Bing West, từng làm trợ lý Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ thời Tổng thống Reagan, cho rằng không chỉ phía miền Bắc, mà phía Mỹ cũng thất bại, vì sau đó Washington đã đưa ra một quyết định chính trị quan trọng là ngồi vào bàn hội nghị với đối phương mà không tiếp tục cuộc chiến, và đó là bài học lớn nhất của người Mỹ từ trận đánh Mậu thân 1968.

“Quyết định lớn nhất đó trong cuộc chiến lại chỉ được một số ít người quyết định, họ chẳng hỏi ai, mà chỉ bàn bạc với nhau. Trong lịch sử đã từng diễn ra như vậy, những nhân vật vĩ đại quyết định vận mệnh của cả đám đông, của thể chế chính trị. Điều làm tôi sửng sốt nhất đó là sự thất bại của cả hai phía khi nhóm lãnh lãnh đạo cao cấp nhất quyết định. Việt cộng tin rằng dân chúng sẽ nổi dậy khi họ tấn công. Điều đó thật là ngu xuẩn. Phía chúng ta cũng thế. Chúng ta có vị Tư lệnh lực lượng quân sự Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam, là tướng Westmoreland có một ý tưởng kỳ lạ là nhảy vô rừng đánh với Việt cộng, nơi mà họ chiến đấu rất giỏi. Rồi khi Tết Mậu thân xảy ra ông ấy viết rằng điều đó là để kéo lực lượng chúng ta ra khỏi Khe Sanh, một nơi heo hút.”

Căn cứ Khe Sanh nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Quảng Trị, ngay phía dưới vĩ tuyến 17 phân chia ranh giới hai miền Nam và Bắc Việt Nam trước đây. Quân đội Mỹ đã thiết lập một căn cứ quân sự ở đây vào năm 1962. Ngày 21 tháng Giêng 1968, lực lượng cộng sản tấn công Khe Sanh, 10 ngày trước khi cuộc tấn công Tết Mậu Thân bắt đầu. Cuộc chiến ở đây kéo dài 77 ngày.

Tướng Westmoreland cho rằng cuộc tổng tấn công của lực lượng cộng sản vào các thành thị miền Nam chỉ là cuộc nghi binh để họ tiếp tục đánh căn cứ Khe Sanh. Điều này sau đó được chứng minh là không đúng.

Theo ông James Robbins, một diễn giả khác của buổi hội thảo thì ngay cả Tổng thống Mỹ là Lyndon Johnson cũng tin vào điều ông Westmoreland suy tính, vì ông Johnson bị ám ảnh bởi một cuộc thất bại kiểu Điện Biên Phủ, một căn cứ quân sự trên rừng núi tương tự như Khe Sanh của lực lượng Pháp, đã bị thất thủ vào năm 1954, kết thúc cuộc chiến tranh Việt-Pháp 1946-1954.

Tuy nhiên một diễn giả khác lại không có cùng quan điểm với ông Bing West là ông Erik Villard làm việc ở Trung tâm lịch sử quân đội Hoa Kỳ, ông cho rằng việc ông Westmoreland chọn Khe Sanh để đặt một căn cứ quân sự lớn là điều đúng vì nó sẽ chận con đường tiếp liệu của quân đội cộng sản miền Bắc vào Nam.

Suy tính của phe cộng sản

Người nghiên cứu về chiến lược và những quyết định của chính phủ Hà Nội trong chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là chiến dịch Mậu thân 1968, là Giáo sư Pierre Asselin ở Đại học San Diego, California. Ông nói tại buổi hội thảo:

“Điều tôi muốn nghiên cứu là xem những nhà lãnh đạo phía bên kia nghĩ gì. Bên phía Mỹ, những toan tính và hành động của các Tổng thống đều được ghi nhận khá đầy đủ. Tôi dựa nhiều vào tài liệu lưu trữ của phía Việt Nam, và đó là điều rất khó khăn vì không phải tài liệu nào cũng có thể tiếp cận được. Nhưng qua 20 năm cố gắng, cộng với cả những cuộc nói chuyện với nhiều người Việt Nam, chúng ta có thể nói rằng có những điều chúng ta tưởng rằng chúng ta đã biết. Hồ Chí Minh là một huyền thoại, nhưng ông ta đã bị ra rìa cùng với Võ Nguyên Giáp vào những năm đầu của thập niên 1960. Mọi quyết định tập trung vào tay Lê Duẩn. Mậu thân chính là quyết định của Lê Duẩn.”

Theo nghiên cứu của ông Asselin, ông Lê Duẩn có thể được so sánh với những người cầm quyền độc tôn ở các xứ cộng sản khác như ông Mao Trạch Đông bên Trung Quốc, hay ông Kim Nhật Thành bên Bắc Hàn, và đến giữa những năm 1960 ông Lê Duẩn đã mất kiên nhẫn vì cuộc chiến tranh du kích ở miền Nam không có kết quả, ông muốn một chiến thắng lớn.

Ông Asselin cho rằng ông Lê Duẩn là một nhân vật cứng rắn nhất trong Đảng Cộng sản Việt Nam, lúc đó gọi là Đảng Lao động. Ông Lê Duẩn muốn thắng bằng quân sự để thiết lập sự cai trị cộng sản trên toàn Việt Nam, và qua đó tạo nên một chiến thắng cho phe cộng sản quốc tế.

Kết quả thất bại Mậu thân cũng là sự thất bại của ông Lê Duẩn, nhưng theo ông Asselin, bộ máy tuyên truyền của cộng sản giấu đi sự thật, không cho người dân miền Bắc biết rằng “Cuộc tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân’ là một thất bại lớn về mặt quân sự lẫn chính trị.

Báo chí và kết quả tâm lý bất ngờ

Một điểm quan trọng mà nhiều diễn giả đã nêu ra trong buổi hội thảo là vai trò của báo chí Mỹ đã làm thay đổi thái độ của nước Mỹ đối với cuộc chiến tranh. Cựu Đại sứ Allan Wendt nói với chúng tôi:

Tôi nghĩ là báo chí (Hoa Kỳ) đã tường thuật sai chuyện gì đã thật sự xảy ra. Có nghĩa là cuộc tấn công Tết Mậu thân là một thất bại của Việt cộng. Nhiều bài báo đã nói rằng Việt cộng đã thành công trong các trận đánh, có nghĩa hàm ý là chúng ta đã kém chuẩn bị, nhưng thực ra Việt cộng đã đại bại.

Ông James Robbins, người nghiên cứu về báo chí Mỹ trong chiến tranh Việt Nam cho rằng những bình luận về chiến tranh của các nhà báo Mỹ, đặc biệt trường hợp nhà báo Walter Conkite của hãng CBS, được xem như là nhà báo được tin tưởng nhất nước Mỹ, chuyển từ khá tích cực sang rất tiêu cực sau Mậu thân. Điều này tạo thành một hiệu ứng tâm lý phản đối chiến tranh sau khi Mậu thân xảy ra. Nhưng ông Robbins cũng nói rằng điều này có phần trách nhiệm của những phân tích tình báo.

Ông Robbins giải thích rằng trước khi trận tấn công xảy ra, các phân tích tình báo của CIA cho rằng nếu cuộc tấn công Mậu thân của phe cộng sản xảy ra thì đó chỉ là một trận đánh có tính biểu trưng, để gây nên một hiệu ứng tâm lý chiến. Nhưng ông Robbins nói rằng điều đó không nằm trong dự tính của những nhà hoạch định chiến lược cộng sản.

Ông James Robbins đưa ra các con số thăm dò thái độ của người dân Mỹ sau khi cuộc tấn công diễn ra. Các con số cho thấy mặc dù có sự sụt giảm trong việc ủng hộ chiến tranh của dân chúng, nhưng phần lớn người Mỹ vẫn ủng hộ sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam. Nhưng, ông Robbins nói tiếp là Tổng thống Johnson đã không quan tâm đến những thăm dò đó mà kêu gọi Bắc Việt Nam ngồi vào bàn hội nghị, để tiến tới việc kết thúc chiến tranh.

Hiệu ứng tâm lý trên đất Mỹ sau Mậu thân 1968 là điều mà những người cộng sản không hề dự tính.
-Ông James Robbins.

Cuối buổi hội thảo, ông Nguyễn Mậu Trinh, một trong duy nhất hai người Việt Nam đến dự hội thảo nói với chúng tôi:

Người Mỹ họ biết rõ những điều khác với quần chúng bên ngoài. Ví dụ thăm dò ý kiến hồi đó cho thấy có 65% dân Mỹ ủng hộ chiến tranh chứ không phải chống lại như là Hà Nội tuyên truyền.”

Nhưng sự ủng hộ đó đã nhanh chóng biến mất vì Tổng thống Lyndon Johnson đã quyết định chấm dứt chiến tranh, điều mà ông Bing West gọi là không đủ dũng khí để tiếp tục. Ông James Robbins cũng nói rằng cá nhân ông không than phiền báo chí hay bất cứ ai, mà người chịu trách nhiệm chính là Tổng thống Johnson.

Buổi hội thảo kết thúc với hầu như không có câu hỏi nào mà những người đến tham dự là để chia sẻ những kinh nghiệm mà họ đã sống qua trong cuộc chiến Mậu thân.

Người Việt Đang Từ Bỏ Quê Hương – Nguyệt Quỳnh

Bỏ phiếu bằng chân.!

Kimtrong Lam
 

Người Việt Đang Từ Bỏ Quê Hương – Nguyệt Quỳnh

Cứ mỗi năm cuộc tranh giành quyền lực ở cấp lãnh đạo thượng tầng lại lập đi lập lại, và càng ngày mức độ càng gay gắt. Tôi tự hỏi không biết các vị lãnh đạo có từng bao giờ quan tâm để nhận biết ra rằng từ lâu nhiều người dân Việt Nam đã thầm lặng bỏ nước ra đi!

Điều đáng giật mình là – ngày nay người ta rời bỏ quê hương mình không một chút vấn vương luyến tiếc. Quê hương là nơi chốn thiêng liêng, nơi thân thuộc, nơi có cha mẹ, anh em, bằng hữu, có cả một trời thơ ấu; nhưng vì sao người VN lại tìm mọi cách để rời bỏ đất nước mình?

Bốn mươi năm trước, người ta buộc phải dứt áo ra đi, buồn thắt ruột khi phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn. Thi sĩ Luân Hoán có bốn câu thơ nhớ quê đến nao lòng:

“Trông ra cửa kính trời mưa tuyết
Ngó lại mình đang ngồi bó tay
Quê hương nhắm mắt như sờ được
Sao vẫn buồn xo đến thế này?”

Nếu như ngày xưa, người Việt tị nạn lìa xa quê, nhớ từng chiếc lá me, từng cành phượng vĩ, thương từng viên ngói vỡ, bóng con chim se sẻ trước hiên nhà; thì ngày nay, người giàu cũng như nghèo, ngay cả con cái các quan chức nằm trong bộ máy chính quyền cũng tìm mọi cách để rời bỏ đất nước, ra đi không cần ngoái đầu nhìn lại.

Trong cuộc họp tại văn phòng Quốc hội ngày 29 tháng 12 vừa qua, bàn về tình trạng các du học sinh cấp phổ thông trung học và đại học sau khi tốt nghiệp không trở về; Thứ trưởng Nội vụ Nguyễn Duy Thăng đã nhìn nhận với các đại biểu Quốc hội rằng: “Tôi nghĩ con em nhiều người ngồi ở đây cũng không về. Cá nhân gia đình tôi cũng vậy, 2 đứa không về.”

Vì đâu có tình trạng này? Chiến tranh, nghèo đói cũng không làm người ta rời bỏ quê hương mình. Chỉ mới ngày nào, khi cuộc chiến biên giới bùng nổ vào năm 1979, hàng hàng lớp lớp thanh niên ưu tú sẵn sàng viết đơn bằng máu để xin ra chiến trường. Dù khó khăn, gian khổ người ta vẫn gắn bó, vẫn hãnh diện về dân tộc mình. Tôi nhớ có lần đọc được trong facebook của một em sinh viên: “Tôi tự hào vì mỗi tên đất, tên đường ở xứ tôi đều viết bằng tên người chứ không phải đánh số.” Nhưng chỉ vài tuần trước đây, một bài viết trên trang mạng BBC viết rằng – tác giả muốn rời bỏ VN để con cái mình khi lớn lên được sống làm người tử tế.

Tôi có dịp gặp một số thanh niên Việt Nam ở Philippines. Họ trẻ, tốt lành và trong sáng, nhưng họ quay lưng hẳn và không muốn nhắc đến tình hình xã hội, chính trị tại đất nước mình. Sự gian dối, giả trá khắp nơi đã làm các em chán nản. Một em chia sẻ với tôi là hầu hết các bạn của em đều cảm thấy bất lực và muốn tìm cách rời khỏi Việt Nam.

Tôi gặp em H, một thiếu nữ sống một mình ở đất nước xa lạ này. Em sống và chống trả với những bất trắc, bão tố do tình trạng cư trú bất hợp pháp của mình. Gã chủ nhà muốn xâm hại em, thản nhiên cầm điện thoại và hăm dọa nếu em không thuận hắn sẽ báo cảnh sát. Rất may, H là một thiếu nữ thông minh và mạnh mẽ, em đã vượt thoát được. Cha mẹ ở miền quê làm sao biết được em đã phải chống chọi với những gì. Những thiếu nữ yếu đuối, không may mắn khác sẽ hành xử ra sao? Và định mệnh sẽ đưa đẩy các em về đâu?

Tôi cũng gặp một trường hợp khác, một phụ nữ miền biển, nghèo khó, vô danh nhưng chị đã làm tôi xúc động đến ngẩn ngơ.

Nếu bạn đang đi du lịch phượt trên đất Thái. Dừng chân uống một cốc nước dừa trên hè phố hay tại một quán ăn nào đó. Lúc bạn đang cố bập bẹ nói một ít tiếng Thái với người đang phục vụ, thì nhớ rằng người đang nói chuyện với bạn bằng tiếng địa phương đó có thể là một người Việt Nam. Bên dưới nụ cười xã giao và ánh mắt lẩn tránh đó, ẩn chứa cả một mối ân tình thắm thiết của người đồng hương.

Tôi gặp chị L, người phụ nữ gầy ốm da ngăm đen đứng bán một xe nước dừa bên hè phố. Ban đầu có lẽ nghe chúng tôi nói tiếng Việt, không nhịn được, chị cất tiếng hỏi tôi có phải người Việt Nam không. Thấy người đồng hương tôi vồn vã hỏi thăm, nhưng thấy thái độ chị lẩn tránh và đáp lại bằng tiếng Thái tôi đoán có lẽ chị đang có vấn đề về di trú. Bốn mươi năm trước, tôi đã gặp một người mẹ cắt ruột đẩy đứa con 6 tuổi của mình ra biển để mong nó tìm được tương lai. Ngày nay, tôi gặp người mẹ khác, cũng thắt ruột bỏ lại đứa con gái năm tuổi của mình cho bà ngoại để đi kiếm sống ở nước ngoài, đi “tha hương cầu thực”.

Khi đã tin cậy, chị níu chặt lấy cánh tay tôi luôn miệng nói chuyện, quên cả bán hàng. Được một lúc chị móc trong túi áo ra 25 baht tôi vừa trả tiền nước, đưa lại. Chị ngượng ngùng bảo tình cảm mà lấy tiền tối về không ngủ được. Tôi xúc động vì sự tốt lành, vì cái ân tình chị dành cho tôi, một người xa lạ. Bấy nhiêu thôi cũng đủ thấu hiểu tấm lòng tha thiết của chị đối với người Việt, đối với quê hương như thế nào. Vậy mà có đến mấy lần chị nói với tôi là chị không muốn trở về VN nữa. Xin ghi lại một đoạn đối thoại của tôi với người phụ nữ này để hiểu vì sao chị không muốn trở về. Tôi cố tình hỏi tiếp:
– Nhưng khi để dành đủ tiền rồi chị về quê mình chứ?
– Thôi không về đâu.
– Tại sao lại không về?
– Ở đây người Thái họ hiền lắm, họ thương mình. Mình đẩy xe đi bán từ 7 giờ sáng đến 12 giờ đêm mới về được đến nhà. Đi ban đêm cũng không sợ… Ở đây từ những người thấp nhất trong xã hội như xe ôm hay cảnh sát họ đều giúp đỡ mình hết mình.
– Nhưng mai mốt chị về thăm con, người khác dành mất chỗ bán của chị thì sao?
– Không sao đâu, không có mình thì họ bán, khi họ thấy mình đẩy xe tới, họ tự động đẩy xe đi chỗ khác.
– …
Những dự thảo văn kiện đại hội đảng có bao giờ đặt ra vấn đề vì lẽ gì mà người dân nghèo, lương thiện lại không cảm thấy an toàn ở quê hương mình? Những người như chị bán nước dừa, hay cháu H đâu cần biết gì đến dân chủ hay nhân quyền? Họ cũng không cần biết ngày mai ông Nguyễn Phú Trọng hay ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ trở thành Tổng Bí Thư. Họ chỉ cần một môi trường sống ổn định, an lành. Nơi hàng ngày không phải nơm nớp lo sợ gặp cảnh sát giao thông hay quân cướp giật. Nơi họ kiếm được miếng ăn hàng ngày và không phải im lặng trước những điều tai ác.

Đến bao giờ người dân mình khi “Rời Bỏ” quê hương đều ôm giấc mơ sẽ “Trở Về” để sớt chia những gian nan và dựng xây lại đất nước?

Tôi biết những người như vậy, những người đã ra đi, nhưng lại chọn trở về như Trần Văn Bá, Võ Đại Tôn, Hoàng Cơ Minh, Võ Hoàng, Ngô Chí Dũng…Chúng ta cũng biết những người đang nỗ lực thay đổi xã hội, những người gắn bó với tổ quốc, người muốn dân mình, đồng bào mình được có đời sống đích thực cần có của một con người. Họ là Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Hồ Đức Hoà, Đặng xuân Diệu, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Văn Oai, Bùi Minh Hằng, Nguyễn Đình Cương, Võ An Đôn…Tiếc rằng những nỗ lực của họ chỉ đổi lấy tù tội, bất trắc và gian nan.

Tôi tự hỏi những người như Thứ trưởng Nội vụ Nguyễn Duy Thăng, các vị đại biểu quốc hội, những đảng viên “chân chính”… họ nghĩ gì? Họ phục vụ cho ai? Một chính quyền dù có theo đuổi mục đích, lý tưởng cao đẹp gì đi chăng nữa thì cũng chẳng có ý nghĩa gì khi mà con em họ, khi mà mọi người dân, từ trí thức cho đến chị bán nước dừa cũng đều muốn ra đi.

Tôi cho rằng các vị lãnh đạo, những người liên hệ trong chính quyền, hay trong trận đấu đá tranh giành quyền lực năm 2016 – từ anh công an quèn quen bóp cổ dân, đến các nhân sự tứ-trụ-triều-đình tương lai cần có câu trả lời chính đáng cho chính mình và cho những người dân hiền lành, chất phác đang phải sống lưu vong khắp nơi.

Nguyệt Quỳnh
rfa.org/vietnamese/

Image may contain: one or more people, people standing and crowd
 

Những điều người tù cần biết (Phần 1)

Những điều người tù cần biết (Phần 1)

Nguyễn Ngọc Già (Danlambao) – Dù đang bị tạm giữ, tạm giam hay thi hành án, tôi xin phép gọi chung, những người đang ở sau cánh cửa nhà tù, là TÙ NHÂN. Mỗi tù nhân và gia đình của họ, có cách sống và quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, ở đây, tôi nêu lên những gì chung nhất mà bản thân tôi trải qua thực tế, tôi nghĩ có thể, có những điều cần thiết cho thân nhân của các bạn tù tham khảo, nhằm chăm sóc cho chính bản thân mình và chăm lo cho người thân đang ở tù.

Quan điểm của tôi: “Chăm sóc bản thân tức là đang chăm sóc cho người thân”.

Thân nhân của người tù, vui lòng lưu tâm những điều sau đây:

  1. Cần luôn luôn bình tĩnh và khỏe mạnh. Hãy nhớ rằng, chính bản thân mình khỏe mạnh và bình tĩnh mới giúp cho người tù, dù ít nhất. Dặn người tù cũng giữ đúng tinh thần như thế.

 

  1. Tập thể dục mỗi sáng khoảng nửa tiếng (nhiều hơn càng tốt). Hãy luyện yoga (không cần chuyên sâu, chỉ cần 11 tư thế (1) căn bản), quan trọng là thường xuyên. Nhấn mạnh, nhớ hít thở sâu. Dặn người tù cũng làm đúng như thế, dù trong phòng giam chật hẹp (như ở số 4 PĐL, chỉ có 4m2/2 người) tôi vẫn tập được. Khi thi hành án tại Xuân Lộc, tôi ra khoảng sân nhỏ rộng rãi hơn, hoặc ngay trong phòng cũng tập được. Động tác “rắn hổ mang” rất tốt cho cột sống.

 

  1. Ăn đúng bữa, uống nước nhiều, cố gắng ngủ đủ giấc và ngủ sâu. Dặn người tù cũng làm đúng như thế.

 

3.1 Nếu ai không thể ăn cay, hãy cố gắng tập ăn cay dần dần. Trong bữa ăn, hãy lấy vài tép tỏi và vài trái ớt, giã nhuyễn cùng một chút đường để làm chén nước mắm. Nhớ pha nước mắm đủ ăn trong 1 ngày. Vừa tốt, vừa không lãng phí. Có quan niệm ăn cay dễ bị đau bao tử, nổi mụn, nổi nhọt, táo bón… Quan niệm này không đúng. Cố gắng ăn cay mỗi ngày. Bản thân tôi, khi ăn cay và nóng, mồ hôi toát ra, làm cơ thể khỏe khoắn, phấn chấn hơn rất nhiều. Đặc biệt, ăn cay & nóng rất tốt đối với những ai đang bị cảm cúm.

 

3.2 Nhà tù nào cũng giao cơm, canh khá sớm. Cơm tù là gạo dở, để chừng 1/2 tiếng là khô cứng, rất khó ăn. Giờ giao cơm canh, sáng khoảng 6h đến 6h30 (chỉ có cơm), giấc (gọi là) trưa khoảng 9h30 đến 10 giờ, giấc (gọi là) chiều khoảng 3h đến 3h30. Nên ăn ngay, cơm nóng và canh nóng cùng chén nước mắm cay và ít cá khô, chà bông v.v… giúp chúng ta dễ ăn hơn. Tại Xuân Lộc, mỗi tháng có 7 lần thịt và 4 lần cá. Kinh nghiệm của tôi, không nên ăn thịt. Nếu không phải toàn mỡ, cũng là thịt độc hại (cho mèo, mèo cũng chê. Thậm chí, tôi để thử một ngày, ngay cả kiến cũng tránh xa). Cá, có thể ăn được, nếu là cá biển (thỉnh thoảng có cá nục) nên chiên hoặc kho lại (rắc tiêu nhiều, nếu bạn không thể ăn ớt), còn đa số là cá mè (rất tanh và nhiều xương).

 

3.3 Nước uống. Tại Xuân Lộc, mỗi bình 20 lít, có giá 20.000 đồng. Thêm cái vỏ bình 80.000 đồng. Vị chi, lần đầu phải mất 100.000 đồng. Mỗi tháng, mất khoảng 60.000 đồng tiền nước uống. Một năm là 720.000 đồng. Nếu người tù nào có thăm nuôi, xin đừng tiết kiệm khoản chi này. Bạn có thể ăn thiếu thốn, nhưng không được thiếu nước uống sạch. Có những bạn tù, dù có người thân thăm nuôi, nhưng vì tiết kiệm, nên dùng nước giếng bơm (dùng cho cả tắm giặt và ăn uống) nấu sôi để nguội và lọc lại (chỉ bằng cục bông gòn và cái bình lọc tự chế), rồi uống. Nhiều người đã bị đau thận, ban đầu tiểu gắt, tiểu nhiều lần, sau tiểu ra máu, đau lưng rất nhiều. Hãy nghĩ rằng, mỗi tháng bạn tốn 60.000 đồng, để giữ 2 quả thận, bởi dù bạn có cả tỉ đồng để chữa trị cũng không thể nào làm cho quả thận của mình trở lại như trước khi ở tù. Riêng tôi, không ăn canh của trại tù Xuân Lộc. Cứ cách khoảng 3 ngày, tôi mua nửa ký bắp cải hoặc nửa ký khoai tây và dùng nước bình để nấu canh. Tại số 4PĐL và Chí Hòa (có lẽ vì ngay Sài Gòn) có nước sạch uống (nhưng không bao giờ có nước sôi, dù chỉ để ăn mì gói, nên trong tù có món “mì gió”, ai cũng biết), nên tôi không phải mua nước uống.

4.Mỗi sáng, bụng đói (nhớ là phải chưa ăn gì cả), hãy lấy 4 tép tỏi tươi, lột vỏ, nhai sống (phải nhai sống thì chất gì đó [tôi không nhớ và có lẽ cũng không cần nhớ] mới tiết ra). Nhai nhuyễn rồi hãy nuốt. Tất nhiên, rất cay và khó chịu. Hãy cố gắng làm quen với hương vị này. Chuẩn bị một ly nước (ấm càng tốt), khi nhai xong một tép thì uống ngụm nước để bớt cay và cứ thế tiếp tục. Nếu ai có thể nhai cả 4 tép tỏi càng tốt, rồi uống nước cũng được. Nếu chịu cay được như tôi, không cần uống nước. Sau đó, để mất mùi tỏi, hãy đánh răng súc miệng. Dặn người tù cũng làm y như vậy. Rất tốt, qua kinh nghiệm của tôi. Vui lòng lưu ý: việc nhai tỏi sống chỉ có tác dụng, khi nhai sống mỗi ngày, kéo dài ít nhất 6 tháng. Nếu tạo thành thói quen suốt đời càng tốt. Trong tù, tôi đã nhai tỏi như thế suốt gần 2 năm trời, hiệu quả thấy rõ, những cơn đau tim vừa chớm (khi biết tin con trai qua đời) lui dần sau 6 tháng và hiện nay không còn nặng ngực và không còn thấy nhói buốt ngực dù là từ phía sau hay trước ngực trái. Ngoài tim ra, việc nhai tỏi như vậy cũng giúp cho phổi nhẹ nhàng, nhất là đối với không khí trong phòng giam rất ngột ngạt và ô nhiễm (như số 4 PĐL, Chí Hòa, Bố Lá).

  1. Vì ở tù lâu ngày, ăn đồ khô là chủ yếu, thiếu chất dinh dưỡng, nên hầu hết người tù đều có vấn đề về răng. Hãy ngậm nước muối thường xuyên mỗi ngày, dù bạn không đau răng, nhằm để phòng ngừa. Có anh Phạm Xuân Thân (người ám sát phái đoàn tiền trạm của Giang Trạch Dân khoảng năm 96 – 97 thế kỷ trước, nhận án chung thân) vì đau răng quá, anh ấy đã nhờ bạn tù dùng đá và cây củi để đục “một phát dứt khoát” cho bứt chiếc răng ra. Ở tù, người ít thì rụng một cái, nhiều thì 5 – 6 cái. Vui lòng đừng đặt câu hỏi “bác sĩ đâu?”.

 

  1. Trong tù, có tiêu chuẩn bột giặt và đường cát. Mỗi ngày, hãy lấy ít đường và cắt nửa trái chanh để pha uống. Mỗi trái chanh uống được 2 ngày. Cắt theo chiều ngang trái chanh, không nên cắt dọc. Cắt như thế, dễ vắt nước cốt và dễ úp nửa trái còn lại để dành cho ngày mai. Nên uống vào giấc 9h đến 10h sáng.

 

  1. Nên tắm giặt từ khoảng 9h đến 14h mỗi ngày. Trại Xuân Lộc, không buộc chúng tôi (những người tù vì điều 88, 79, 84) phải đi lao động. Chúng tôi bị nhốt như trong sở thú (đã mô tả khái quát khi trả lời phỏng vấn RFA), nên tôi thường xuyên tắm giặt vào giờ nói trên. Ngay cả những hôm mưa bão, rất lạnh, tôi cũng thường xuyên tắm giặt vào giờ đó. Những ngày hè nóng bức, tôi thường tắm thêm vào giấc tối khoảng 6 giờ, tắm nhanh và lau thật khô. Nếu đêm nào nóng quá (khoảng 21 – 22 giờ), tôi không tắm, chỉ xối nước vào khăn rồi vắt cho thật khô lau người, để đỡ nóng.

 

  1. Đặc biệt “ở tạm giam”, đó lại là thời gian khắc nghiệt nhất (tôi ở tình trạng tạm giam 24 tháng qua 3 nhà tù: 4 PĐL, Chí Hòa, Bố Lá). Chỉ nên ăn thực phẩm của mình (dù là gia đình gởi vào hay mua từ nhà tù). Hãy tính toán kỹ và dè xẻn cho những lần thăm nuôi kế tiếp. 

 

8.1 Bạn có thể chia sớt thực phẩm của mình cho bạn tù, nhưng đừng bao giờ nhận thực phẩm được bạn tù chia sớt. Nếu ở chung với người nước ngoài hãy thoải mái nói chuyện. Ở số 4 PĐL, tôi bị nhốt chung với mấy tay (Thổ Nhĩ Kỳ, Ucraina, Nga) ăn trộm tiền bằng thẻ ATM giả. Nếu bạn bị nhốt chung với mấy tên “nhảy sô” (tiếng lóng trong tù, tức là để được giảm án nhiều, những người tù này nhận lịnh vào ở chung với bạn để khai thác thông tin), hãy cư xử lịch thiệp và tranh thủ làm “công tác” “nhảy sô vận”. Rất dễ nhận ra những người “nhảy sô”, tôi tin tất cả anh em tù không phải thường phạm, đều nhận ra ngay. Ít nhiều, những người này cũng nể trọng những người tù chúng ta. Đừng nên to tiếng, cãi nhau v.v… Bởi như thế, bạn đã “sập bẫy” rồi. Nơi đây đỡ phức tạp hơn, nhưng cũng phải tự ăn uống lấy. Tại đây, mua thực phẩm bị cai tù ăn bớt bằng cách kê giá cao hơn, cân thiếu v.v…, thậm chí, mấy tên trộm nước ngoài bị cắt tiền rất nhanh mà không biết lý do, cũng không cãi nhau với công an được, vì chúng không biết tiếng Việt, còn công an không biết tiếng Anh. Vả lại chúng tự biết thân phận cũng là những tên trộm, nên chỉ thắc mắc với tôi, rồi thôi. Bản thân tôi, cũng bị ăn xén như thế, nhưng lúc đó, tâm trạng quá mệt mỏi, vì thế tôi cũng bỏ qua. 

 

8.2 Tại Chí Hòa, nghĩa là bạn đã xong “kết luận điều tra” hoặc đã xong “sơ thẩm”, an ninh không còn cần vai trò “nhảy sô”, nên không cần lo sửa “kết luận điều tra”. Thậm chí, đừng nghe những lời thêu dệt hay hù dọa: bị ghi âm, bị nghe lén, “báo cáo mồm”, mách lẻo v.v… Tôi rút ra được thành ngữ và chia sẻ với mọi người: “Mồm + Mồm = Không”.

Tuy nhiên, bạn phải chú ý rất kỹ. Ngay từ đầu, phải cho tất cả bạn tù biết, bạn không phải “tù bậy bạ”. Ở Chí Hòa, cai ngục dung dưỡng tình trạng “đại bàng” và “đầu mâm”, cùng tình trạng “hối lộ”, “chạy án” v.v… rất hổ lốn và bạn đang sống như trong rừng rậm. Môi trường sống rất bẩn thỉu, họ giam cả người HIV giai đoạn cuối (vì chơi ma túy) chung với người không bịnh. Khi cần thiết, bạn cũng cần hung tợn lên, nhưng tránh đánh nhau, vì sẽ rơi vào bẫy. 

Ở Chí Hòa, 99,9% tù nhân đều bị ghẻ. Không thể tránh khỏi lây ghẻ, vì tù bị nhốt khoảng 40 – 50 người trong một diện tích khoảng 50m2 (gồm cả chỗ tiêu tiểu, tắm giặt, chỗ để thức ăn dự trữ v.v…). Không có muối để tắm, vì Chí Hòa sợ tù nhân dùng muối pha nước rồi đổ vào các thanh sắt, lâu ngày gây mục rữa. Tắm như tắm cho heo, đồng loạt. Giờ tắm khoảng 13h30 đến 14h30 hoặc trễ hơn một chút. Không thể tắm sạch, vì rất đông mà chỉ có khoảng 1 tiếng đồng hồ. Chỉ có thuốc trị ghẻ hiệu “DEP” khi có khi không, thuốc chỉ làm cảm giác nóng và nhờn nhưng không hiệu quả. Bạn có thể “đi xe” (tiếng lóng để chỉ việc mua từ các công an cai tù) với “thuốc bảy màu” trị ghẻ, giá khoảng 500.000 đồng/tube, mặc dù giá ngoài tiệm thuốc chỉ khoảng 20.000 đồng. Một chai dầu gió xanh giá khoảng 700.000 đồng. Một lạng thuốc lào khoảng 2.000.000 đồng, một gói thuốc JET khoảng 500.000 đồng, mua lẻ khoảng 100.000 đồng/điếu v.v… Bán thuốc lào, thuốc lá là một chuyện; nếu để cai tù bắt gặp, là đánh nhừ tử. Đánh xong, cắt thăm nuôi 1 tháng và phát thuốc xức, nhằm phi tang chứng cớ dùng nhục hình. Thậm chí, những tên “đại bàng” giăng bẫy, cũng giả bộ nhập chung để hút lén thuốc lào, rồi “hiệp đồng” trước với phó và trưởng khu bắt tại trận, nhằm lập công theo lịnh của phó và trưởng khu. Bạn cũng có thể gọi điện cho người thân với giá 200.000 đồng/khoảng 2 hay 3 phút nói chuyện. Nói chung bạn có thể mua tất cả, nhưng bạn phải là “tù bậy bạ”. Những người tù như chúng ta, không bao giờ công an dám “bắt mối” để bán.

9. Ở tù, rất nhiều loại bịnh, trong đó, đau dạ dày là khá nhiều. Tất cả đều biết, chứng bịnh này phần lớn do tâm trạng buồn phiền, lo lắng, căng thẳng gây ra. Vì thế, người tù nên vui vẻ, ca hát, kể chuyện tiếu lâm, nói chuyện, chia sẻ những vấn đề thời cuộc hiện nay (thông qua việc đọc báo ND và xem VTV) công khai một cách tự nhiên v.v… đừng kìm nén trong lòng, đừng xầm xì và lấm lét, câm bặt khi thấy bóng dáng công an v.v… Bởi lâu ngày uất khí tích tụ, sẽ gây cho bạn đau dạ dày và trầm cảm nặng.

  1. Tuyệt thực. Theo thiển ý của tôi, không nên tuyệt thực. Vì ảnh hưởng trước mắt và lâu dài cho cả bản thân và gia đình mình. Bởi quan niệm của tôi “Biết chăm sóc bản thân tức là thương yêu gia đình”. Hẳn là bất kỳ bạn tù nào cũng không muốn thân nhân mình muộn phiền và bất an? Thiếu tá Nguyễn Đình Tứ (trưởng nhà tạm giam PA92) từng nói bình thản với tôi về tuyệt thực: Tuyệt thực không chết được đâu. Tôi thấy đúng và càng đúng hơn khi nhớ lại anh Điếu Cày, anh Trần Huỳnh Duy Thức v.v… Trong trường hợp, bạn tù nào vẫn giữ quan điểm tuyệt thực, vui lòng theo cách này: Phài đặt vài câu hỏi, ví dụ: Tuyệt thực bao lâu? Mục tiêu tuyệt thực để làm gì? Kết quả được bao nhiêu phần trăm? Hậu quả sau tuyệt thực sẽ là gì? v.v… Sau khi đã tự giải đáp những câu hỏi rồi, bạn hãy ăn bớt lại từ từ rồi hãy tuyệt thực, nhằm làm cho dạ dày thích nghi và quen dần với việc đói bụng. Ví dụ, mỗi buổi thay vì bạn ăn 2 chén cơm, hãy bắt đầu ăn một chén rưỡi trong 1 tuần. Tiếp theo giảm dần còn 1 chén, rồi giảm dần nửa chén, giảm dần chỉ ăn 1 chén canh, rồi nửa chén canh và dần dần như thế… Không nên “đùng một phát” tuyệt thực ngay, vô cùng nguy hại cho dạ dày và cho sức khỏe lâu dài của bạn.

1/2/2018

Nguyễn Ngọc Già

danlambaovn.blogspot.com

________________________________________

(1) http://www.khoedep.vn/huong-dan-11-tu-the-yoga-co-ban-cho-nguoi-moi-tap/l

Mời đọc thêm: 

https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/blogger-nguyen-ngoc-gia-tells-prison-stories-01182018102555.html

http://danlambaovn.blogspot.com/2018/01/nguyen-ngoc-gia-vi-sao-toi-chon-con.html

“ĐẶT CẢ CHÂU Á DƯỚI CHÂN” ? VÂNG, CHÂU Á ĐÂY, HÃY XEM HÀN QUỐC VÀ SINGAPORE!

 Vu Kim Hanh‘s post.
 
 
 
Image may contain: text
Image may contain: 2 people, people standing

Vu Kim Hanh added 2 new photos.Follow

 

“ĐẶT CẢ CHÂU Á DƯỚI CHÂN” ? VÂNG, CHÂU Á ĐÂY, HÃY XEM HÀN QUỐC VÀ SINGAPORE!

Trên bảng xếp hạng 50 nền kinh tế (QG) đổi mới nhất trên toàn cầu , Bloomberg vừa công bố Chỉ số Đổi mới 2018 và ta thấy, 2 nước châu Á xếp thứ hạng rât cao: HÀN QUỐC XẾP THỨ NHẤT VÀ SINGAPORE XẾP HẠNG 3.

Năm nay là năm thứ 5 liên tiếp, Hàn Quốc giữ vị trí này còn Singapore thì đã vượt qua các nền kinh tế Châu Âu như Đức, Thụy Sĩ và Phần Lan để đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng.

Chỉ số này được đánh giá dựa trên 7 tiêu chí có cân đối với nhau, bao gồm: (1) mức chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R & D), (2) giá trị gia tăng mà sản xuất đem lại, (3) năng suất, (4) mức tập trung các công ty công nghệ cao, (5) hiệu quả cao về giáo dục đại học, (6) mức độ tập trung các nhà nghiên cứu, và (7) hoạt động về bằng sáng chế.

Cách chấm điểm: Mỗi quốc gia được chấm điểm theo thang điểm 0-100 cho cả bảy tiêu chí, những quốc gia nào không có dữ liệu trong ít nhất 6 tiêu chí thì được loại bỏ.

Thụy Điển là nước châu Âu xếp hạng cao nhất, hạng 2, trong khi Hoa Kỳ lần đầu tiên rớt khỏi top10 sau 6 năm liên tiếp có mặt.

Đứng đầu bảng xếp hạng về hiệu suất cao, Singapore đã vượt lên trước các nền kinh tế châu Âu như Đức, Thụy Sĩ và Phần Lan để đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng.

Trong bài báo của Bloomberg, Associate Provost thuộc trường Đại học Công nghệ và Thiết kế Singapore, giáo sư Yeo Kiat Seng đã bình luận rằng “Singapore luôn đặt trọng tâm vào việc giáo dục công dân của mình, đặc biệt trong lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học)”. Với tư cách là chủ sở hữu 38 bằng sáng chế, giáo sư Yeo nói thêm rằng nhà nước-thành phố có một “cam kết kiên định để tài trợ R & D và đổi mới”.

Trong khi đó, một số nền kinh tế chủ chốt ở Châu Á cũng được ghi nhận vì nỗ lực đổi mới. Nhật Bản đã giành vị trí thứ 6 trong bảng xếp hạng. Trung Quốc cũng đã tăng lên hai điểm đạt đến hạng 19 với tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp khoa học và kỹ thuật đạt cao trong lực lượng lao động và số lượng sáng chế của các nhà đổi mới gia tăng.

Malaysia, Hồng Kông và Thái Lan cũng vẫn còn nằm trong top 50 nền kinh tế mới nổi. Tuy nhiên, thứ hạng của họ đều giảm, Malaysia hiện hạng 26, Hồng Kông 37 và Thái Lan 45.

Ảnh. Bản đồ xếp hạng 50 nền kinh tế đổi mới 2018 của Bloomberg. Tuy hôm nay đón đội bóng U23, chúng ta rất tự hào về thành tích vượt trội, Á quân giải U23 châu Á, nhưng nền kinh tế chúng ta thì đổi mới thế nào, đang ở đâu ở châu Á?

PS.Viết xong rồi, đóng máy rồi, chợt thấy tấm ảnh này, dễ thương quá. Tâm trạng mình vẫn vương vấn với U23. Nhân Hàn Quốc đứng nhất TG về đổi mới, thấy ông thầy Hàn Quốc đang hôn an ủi Văn Thanh, chàng trai xuất sắc (và rất đáng yêu với cách khoanh tay tủm tỉm sau cú đá phạt penalty cuối cùng thành công), mình không đành mà không đăng tấm hình này, nói một lời, cám ơn ông thầy. Cám ơn tình thầy trò (ông bạn cùng nhà với mình thì gật gù, như cha con ấy nhỉ?)

“Dựng lại người” là khó vô vàn…

Huỳnh Phi Long shared Manh Kim‘s post.
 
 
Image may contain: 7 people, people smiling, people sitting, shoes and outdoor
Manh KimFollow

 

Bạn có thể trồng lại một cánh rừng, “tẩy sạch” một dòng sông ô nhiễm, hiện đại hóa một ngôi làng, canh tân kỹ thuật bắt kịp bước tiến nhân loại… Tất cả đều gần như không thể ở hoàn cảnh hiện tại nhưng vẫn có thể xảy ra nếu tận tâm tận lực. Tuy nhiên, bạn sẽ mất bao nhiêu thời gian để “dựng lại người” (tựa một quyển sách của nhà báo Đoàn Khắc Xuyên)? Với đà thoái hóa văn hóa đến tận cùng như hiện nay, chắc chắn phải mất ít nhất 100 năm để khôi phục lại những giá trị nhân bản căn bản và cốt lõi nhất vốn từng tồn tại ngay cả trong những giai đoạn thăng trầm và bi thương của lịch sử đất nước. 100 năm với một ý chí nhất định. Còn không thì sẽ chẳng bao giờ, khi mà văn hóa không những không được bồi đắp mà còn bị tẩy xóa hàng ngày.

Rải rác trong các bài viết mình, tôi thỉnh thoảng nhắc đến văn hóa miền Nam trước 1975. Điều này không phải là sự thương cảm hay hoài niệm. Tôi không ủy mị đến mức ấy. Tôi chỉ hàm ý rằng để dựng lại văn hóa thì cách khả dĩ hiện nay là học lại những bài học mà nền văn hóa miền Nam cũ để lại.

Miền Nam ở đây không phải vùng miền trong khái niệm địa lý mà là một không gian văn hóa kết tinh từ ba miền. Muốn thay đổi “nền văn hóa” hiện tại thì phải có cái gì để thay thế. Cái đó chính là nền văn hóa và những giá trị văn hóa của miền Nam trước 1975.

“Dựng lại người” là khó vô vàn. Nó phải trở thành một ý thức thường trực và được thực hiện thường xuyên. Dựng lại người là khó vô cùng. Điều đó vĩnh viễn không bao giờ làm được nếu không làm ngay từ bây giờ. Điều đó vĩnh viễn không bao giờ xảy ra nếu mỗi chúng ta không tự dựng lại mình, tự học lại mình và học từ người, tự tìm cho mình một liều kháng thể văn hóa đủ mạnh để không bị những thứ vô bổ nhảm nhí bủa quanh và tấn công hàng ngày.