NHÀ BÁC HỌC ALEXANDRE YERSIN (1863-1943)

Bao Nguyen Quang

Nhà bác học Alexandre Yersin: “Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang và những người cộng sự lâu năm. Đám tang làm giản dị, không huy hoàng, không điếu văn”.

NHÀ BÁC HỌC ALEXANDRE YERSIN (1863-1943)

Nhà bác học Alexandre Yersin (1863-1943) – Hiệu trưởng sáng lập Trường thuốc Đông Dương (tiền thân Đại học Y khoa Hà Nội và Đại học Dược Hà Nội), Tổng Giám đốc các viện Pasteur Đông Dương…

Alexandre Yersin sinh năm 1863, người Thụy Sĩ, quốc tịch Pháp, ông mồ côi cha từ khi chưa lọt lòng. Năm 1882, ông nhận bằng tú tài văn khoa. Năm 1888, sau khi tốt nghiệp trường y Paris, ông chính thức nhập quốc tịch Pháp. Cũng trong thời gian này, ông tham gia vào nhóm nghiên cứu của Louis Pasteur (1822-1895), trở nên nổi tiếng qua nhiều công trình tiên phong do nhóm nghiên cứu của bác sĩ Louis Pasteur tiến hành.

Năm 1888, Alexandre Yersin (25 tuổi) đã có thành công vang dội với việc bảo vệ luận án tiến sĩ y khoa tại Paris, đề tài: “Nghiên cứu sự phát triển chứng nhiễm trùng huyết của bệnh lao thực nghiệm” được Đại học y khoa Paris tặng huy chương đồng. Sau đó, Alexandre Yersin tìm ra độc tố của vi trùng bệnh bạch hầu, khiến tên tuổi của ông càng thêm lừng lẫy.

Năm 1894, sau nhiều kỳ công nghiên cứu tìm tòi thí nghiệm, Alexandre Yersin đã tìm ra vi trùng dịch hạch, nghiên cứu bào chế thuốc điều trị và phòng bệnh dịch hạch. Thành tựu này được Chính phủ Pháp tặng Huân chương Bắc Đẩu bội tinh.

Đến năm 1896 lúc bệnh dịch hạch tái phát tràn lan ở Trung Quốc, Hồng Kông, Quảng Đông…, 80% người bệnh được cứu sống nhờ loại thuốc của bác sĩ Alexandre Yersin bào chế. Bệnh dịch hạch vốn đã giết chết trên 50 triệu người trên thế giới, từ đó không còn là bệnh nan y.

Tại Hội nghị Vi sinh vật thế giới lần thứ 10 năm 1970, các nhà khoa học đã quyết định cho vi khuẩn dịch hạch mang tên người khám phá ra nó là Yersinia Pestis.

Năm 1902, Alexandre Yersin làm Hiệu trưởng đầu tiên của Trường thuốc Hà Nội, nay là Đại học Y khoa Hà Nội. Ông là Giám đốc viện Pasteur Đông Dương, gồm cả Viện Pasteur Nha Trang và viện Pasteur Sài Gòn. Kế thừa thành tựu của ông, ngày nay, các Viện Pasteur Việt Nam vẫn đang phát huy hiệu quả việc phòng, chữa bệnh cho nhân dân.

Alexandre Yersin còn say mê nghiên cứu khoa học trên nhiều lĩnh vực. Ngoài y học, ông còn thành công trong việc nghiên cứu trên các lĩnh vực khác như: Sinh học, Nông học, Thiên văn học, Vật lý. Ông đã đưa vào trồng và thử nghiệm thành công cây cao su ở Việt Nam, cây Canhkyna ở Hòn Bà, Dran, ở cao nguyên Lang Biang để bào chế thuốc chữa bệnh sốt rét rất hiệu quả. Ông còn nuôi các loại gia súc đặc biệt là ngựa để lấy nguyên liệu sản xuất Vacxin phòng bệnh dịch hạch.

Tại Nha Trang, Alexandre Yersin đã xây dựng Viện Pasteur mang tên người thầy của ông. Kể từ đó phần lớn thời gian ông ở trong phòngthí nghiệm Viện Pasteur, xóm Cồn, Suối Dầu. Ông có nhiều thời gian gần gũi với người xung quanh mình. Ông yêu mến trẻ con, giúp đỡ người già đau yếu, hướng dẫn cho mọi người ăn ở vệ sinh. Ông còn quan tâm đến đời sống sinh hoạt tinh thần của người dân địa phương. Thỉnh thoảng ông chiếu phim tại sân nhà cho nhân dân xem những phim tài liệu về thế giới, khoa học…

Người dân thường gọi ông bằng tên gọi thân mật là ông Năm, xem ông là ân nhân, là vị thần hộ mệnh qua các công việc ông làm cho mọi người như: Bác sĩ chẩn trị, dược sĩ bán thuốc, nhà từ thiện, nhà giáo dục, người chở che…

Khi ông mất, người dân thương khóc ông và đi tiễn đưa rất đông. Có nhiều người lập bàn thờ và thắp hương cho ông theo phong tục của người Việt Nam. Vùng đất này đã gắn liền với phần lớn cuộc đời ông. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông đã để lại di chúc:

“Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu, yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang và những người cộng sự lâu năm. Đám tang làm giản dị, không huy hoàng, không điếu văn”.

Không chỉ với tài năng khoa học sáng chói cống hiến trọn đời cho người dân Việt Nam và toàn thể nhân loại, Yersin còn được người dân địa phương mãi mãi tôn kính tri ân, thờ phụng như bậc thánh nhân, bởi trái tim vô cùng nhân hậu với người dân nghèo khổ lạc hậu, một nhân cách cao cả, giản dị, khiêm nhường hiếm có”.

Thanh Thanh 
(BNQ t/h)
_______

Mộ phần khiêm nhường của nhà bác học Yersin, người cứu nhân loại khỏi thảm họa dịch hạch – ở Suối Dầu, Cam Lâm, Khánh Hòa.

Di chúc của ông: “Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang và những người cộng sự lâu năm. Đám tang làm giản dị, không huy hoàng, không điếu văn”.

chính các bạn đã chọn lựa như thế.

Phạm Thanh NghiênFollow

Tấm hình này tôi gửi đến những người bạn mà khi vào Facebook của các bạn tôi thấy tràn ngập hình ảnh ăn uống, du hí, vui chơi, hưởng thụ. Tất nhiên các bạn có quyền làm như thế, có quyền làm những gì mình thấy thoải mái, thích thú và vui vẻ. Và hẳn là cuộc sống rất cần được như vậy

.
Nhưng các bạn ạ, nếu không dành một chút nhỏ nhoi sự quan tâm của các bạn cho các vấn đề xã hội, chẳng hạn như môi trường, thì hậu quả không chỉ người khác gánh chịu, mà chính là các bạn, người thân và con cái các bạn. Hậu quả đầu tiên của ô nhiễm môi trường mà ai cũng nhìn thấy đó là bệnh tật, nhất là bệnh ung thư. Tôi tin chắc rằng trong cuộc đời các bạn hẳn đã phải tiễn đưa nhiều người quen, bạn bè, hàng xóm và cả người thân ra đi vì căn bệnh quái ác này. Và biết đâu, trong số các bạn cũng có người đang phải mang trong người căn bệnh này. Số khác ( có lẽ) cũng sẽ là những bệnh nhân tương lai của hai chữ “ung thư”. Đừng chửi tôi là dở hơi, lắm chuyện, bao đồng và thích lôi chuyện chính trị ra giảng giải nhé. Tôi biết các bạn giỏi (và khôn) hơn tôi nhiều. Nhưng nói thật, chẳng chính trị chính em ( mẹ) gì đâu. Đây là lần đầu tiên tôi nói với các bạn đấy. Và tôi biết các bạn vẫn đọc nhiều điều tôi viết, tôi nói dù không like, ko còm, không phản đối hay chia sẻ. Vì thế tôi mới viết những lời này như là sự “lên giọng” dù tôi rất không muốn bị mang tiếng như thế.

Tóm đi tóm lại là hai tóm, các bạn nói riêng và đa số người dân VN chúng ta nói chung, đã và đang là nạn nhân của đủ thứ tệ đoan, đủ thứ vấn nạn trong xã hội. Một trong những vấn nạn đó là căn bệnh ung thư. Nguyên nhân chính của đại hoạ ung thư là ô nhiễm môi trường. Oái oăm thay, thảm hoạ môi trường lại đến từ sự kém hiểu biết và sự thờ ơ của chính chúng ta, trong đó có các bạn.

Hai người thanh niên này là Hoàng Đức Bình và Nguyễn Nam Phong. Hôm nay họ bị đưa ra toà và bị kết án 14 năm và 2 năm tù giam chỉ vì đấu tranh bảo vệ môi trường, chống Formosa gây ra thảm hoạ này. Nếu hôm nay bạn qua fb của tôi, cười khẩy sau khi đọc stt này rồi mắng anh Bình, anh Phong là “ngu, dại dột”, thì không những bạn mắc tội vô cảm mà còn góp phần cổ vũ cho cái ác và cái xấu.

Vậy thì chúng ta rất xứng đáng được sống chung với các ác, cái xấu và đáng bị cai trị bởi chúng. Vì chính chúng ta, chính các bạn đã chọn lựa như thế.    

HÃY ĐỂ NHÂN DÂN TIN YÊU ĐẤT NƯỚC

Lọ Lem Đất Võ

HÃY ĐỂ NHÂN DÂN TIN YÊU ĐẤT NƯỚC

(Viết khi đọc tin Hà Nội bỏ ra 1.400 tỷ đồng tiền thuế của Nhân Dân xây nghĩa trang cho cán bộ cao cấp)

Tôi đã hai lần hương khói Trường Sơn
Tôi đã hai lần viếng thăm Quảng Trị
Nhưng ngạc nhiên với nghĩa trang 1.400 tỷ
Hà Nội dự xây vườn thượng uyển cho quan
Mỗi ngôi mộ 30 mét vuông
Có ngôi mộ chứa đầy tội lỗi
Có ngôi mộ một đời gian dối
Ngôi mộ nào từng rơi lệ vì Dân?

Tôi nghĩ về đứa trẻ thiếu ăn
Tôi nghĩ về tiền dân đóng thuế
Tôi nghĩ nợ công oằn mình trước cửa
Tôi nghĩ rất nhiều mà tìm không ra lẽ
Cái lý nào cho lương tâm?

Vui sướng gì lúc sống đã xa dân
Hạnh phúc gì khi chết chẳng gần dân mà sám hối
Lại bày trò tri ân ấm êm một cõi
Bệnh tật gì ngày mất cứ nan y

Đất nước này xấu tốt cũng của chung
Tổ quốc này giàu nghèo cùng khúc ruột
Hình chữ S đã bao phen lửa đốt
Máu nhuộm đồng bào nam bắc cắt chia
Nỗi đau xưa còn mãi đến giờ
Lớp trẻ chúng tôi không ngày yên được
Lòng thật muốn dựng xây, tâm can đêm đêm thổn thức
Mà bất bình… cơn tức nhức năm canh

Nghĩa trang là nơi nằm xuống nhẹ nhàng
Sao phải phí cả núi tiền cho bia miệng
Ai vẽ ra bàn cờ Yên Trung?
Ai đang làm màu “trách nhiệm”?
Hàng ngàn liệt sĩ Trường Sơn, Quảng Trị khóc cười số phận
Công bằng vậy ư?

Có thẹn với tiền nhân khi đất nước sinh hư
Có thẹn với lòng mình khi nói về công trạng
Tôi đã thấy nước mắt Mẹ Việt Nam lai láng
Lầm lũi một mình sức yếu tuổi cao
Tôi đã thấy vợ liệt sĩ mòn mỏi má đào
Họ đã sống một cuộc đời khó khổ
Tôi đã thấy… rất nhiều, rất nhiều những em thơ bơ vơ giữa chợ
Họ cần gì ngoài cuộc sống ấm no

Tỉnh lại đi những con khỉ diễn trò
Cuộc đời không là trường xiếc
Hãy để Nhân Dân tin yêu đất nước
Có được không???
Rạng sáng ngày 4/2/2018
(Minh Đan)

Hố chôn tập thể, nghĩa trang 1400 tỉ và những đứa bé đói

Hố chôn tập thể, nghĩa trang 1400 tỉ và những đứa bé đói

RFA

Nếu xét trên chính sách vĩ mô của nhà cầm quyền, ba khái niệm: Hố chôn tập thể; Nghĩa trang (Yên Trung) nghìn tỉ và; Những đứa bé đói khổ, rét lạnh nơi miền núi không có gì liên quan với nhau. Bởi chính sách dành cho mỗi lĩnh vực, mỗi mảng đều riêng lẻ. Nhưng xét trên khía cạnh con người, tính nhân bản, nhân văn, nhân đạo và trách nhiệm của nhà cầm quyền, thì ba vấn đề này đều thuộc về lương tri. Sự cân đối, phân bổ hợp lý ở ba lĩnh vực, khía cạnh này sẽ cho thấy mức độ quan tâm, trách nhiệm và lương tri của nhà cầm quyền.

Karl Marx, ông tổ của chủ nghĩa Cộng sản thế giới từng đưa ra một nhận định trong Tư Bản Luận (sau này, trong Chính sách kinh tế mới, viết tắt là NEP – New Economy Policy của Lênin cũng nhắc lại): Chỉ có những con thú mới quay lưng đi để liếm bộ lông trước đồng loại bị thương. Và xét trên một ý nghĩa nào đó, khi no đủ, người Cộng sản lại chọn khuynh hướng đi ngược với giáo huấn của tổ phụ Karl Marx.

Nghĩa là, xét lại tiền ngân sách nhà nước, do đâu mà có. Xin nói nhanh, do nhân dân đóng thuế mà có ngân sách nhà nước. Bản chất và hiệu dụng của ngân sách nhà nước là gì? Đó là nói một cách sâu xa, ngân sách nhà nước đóng vai trò quĩ tiết kiệm và an sinh cho toàn dân thông qua sự điều hành của nhà nước. Vấn đề an sinh xã hội, cân bằng dân số, y tế, giáo dục, văn hóa, an ninh xã hội đều phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Một khi các vấn đề an sinh xã hội và an ninh xã hội được đáp ứng đầy đủ, nhà nước mới được quyền dùng ngân sách trong các lễ lạc, tượng đài, những công trình không mang tính xã hội.

Ở đây, nghĩa trang Yên Trung có được xem là công trình xã hội hay không? Bởi ngày trong lúc này, có quá nhiều vấn đề xã hội cần được quan tâm đúng mức và đầy đủ, nếu chưa thực hiện được các vấn đề như an ninh, chủ quyền quốc gia, an ninh xã hội, an sinh xã hội… Thì tất cả những vấn đề khác nhà nước đều không được trích thuế của dân để thực hiện. Phải dành thuế của dân cho những vấn đề có tính thiết thực cho nhân dân.

Thử đặt những câu hỏi: Có bao nhiêu đứa bé dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi được đến trường, cơm đủ ngày ba bữa, có áo ấm để mặc? Có bao nhiêu hố chôn tập thể gồm cả hai phía Việt Nam Cộng Hòa và Cộng sản Bắc Việt đã thành những hố lãng quên? Và tất cả những cổng chào, tượng đài, nghĩa trang nghìn tỉ của nhà nước mang lại giá trị gì cho quốc gia, dân tộc?

Ở câu hỏi thứ nhất, về những đứa bé nghèo, có thể nói rằng khắp đất nước Việt Nam, từ thành phố đến thôn quê, vùng sâu vùng xa, miền núi, càng đi sâu vào vùng hoang vắng thì sự nghèo khổ càng hiện rõ. Bạn tôi từng lắc đầu, chép miệng nói với tôi về những đứa bé đồng bào thiểu số khi trời rét còn chưa tới 10 độ C mà chúng vẫn không mặc quần (do không có quần để mặc) rằng “mấy đứa này trời nuôi chứ không phải người nuôi”. Bất kỳ huyện miền nhúi vùng sâu, vùng xa nào tại Việt Nam đều có cảnh thiếu, đói, trời lạnh không có áo ấm, trẻ con bỏ học sớm hoặc không có cơ hội đến trường hoặc đến trường bằng những chiếc cầu dây tử thần băng qua suối chảy xiết… Có một ngàn lẻ một kiểu thiếu, đói tại Việt Nam.

Nói về những hố chôn tập thể, sở dĩ tôi phải nói đến cả hai phía bởi chỉ riêng chiến dịch tổng tiến công Mậu Thân 1968, tại Huế và nhiều tỉnh khác đã xuất hiện hàng trăm hố chôn tập thể. Trong đó, có những hố của quan chức Việt Nam Cộng Hòa và thường dân (bị Cộng sản nằm vùng giết để trả thù và bịt đầu mối cơ sở) và có những hố chôn của chính những người Cộng sản chôn người Cộng sản.

Trường hợp Cộng sản chôn Cộng sản diễn ra như thế nào? Đó là những người bộ đội Cộng sản Bắc Việt bị tổng động viên từ những ngày đầu năm 1967 cho đến thời điểm hành quân vào miền Nam để tham gia “tổng tiến công”. Cũng xin nói thêm, những bộ đội Cộng sản Bắc Việt tham chiến Mậu Thân là những cậu bé từ 13 đến 15 tuổi, họ không có gì ngoài lòng căm thù Mỹ, Ngụy rất con nít mà họ có được thông qua nền giáo dục miền Bắc với thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật, Chính Hữu… Họ chỉ biết Mỹ, Ngụy là những kẻ ăn thịt người man rợ và họ phải đi vào miền Nam để “giải phóng cho người miền Nam”, một số người trước khi đi đã xăm hàng chữ “Sinh bắc tử nam”.

Khi vào đến miền Nam, vào Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, có nhiều bộ đội trẻ giật mình vì “lập trường chính trị không vững”, khi nhìn thấy miền Nam đẹp, thanh bình và giàu có, hiện đại, không như những gì họ được dạy… Nhiều bộ đội đã tỏ ra lơ là, không còn hăng say tinh thần chiến đấu. Và cái đêm giao thừa định mệnh Tết Mậu Thân, họ bị cấp chỉ huy đưa vào vị trí chiến đấu, xích chân vào nhau để khỏi bỏ chạy lúc đánh nhau. Thường thì một tiểu đội hoặc một trung đội trẻ bị xích chân với nhau để từ đó họ phải bắn và bắn, chiến đấu và chiến đấu cho đến lúc chết.

Và hầu hết những tiểu đội, trung đội thiếu niên này đều chết trong lúc vứa đánh vừa bị xiềng chân. Họ cũng không được chôn cất tử tế, sau này, xương cốt của họ được phát hiện và chôn cất, cởi trói khi có những người dân xây cất nhà cửa, đào móng nhà và đào trúng nơi họ nằm. Tại Gò Vấp, Sài Gòn, tại trung tâm thành phố Huế, tại Đà Nẵng, Quảng Nam đều có những hố chôn như vậy. Và vẫn còn một vài nhân chứng sống, đã chứng kiến những bộ đội trẻ nít phải chiến đấu, chết và bị chính các đồng đội lấp đất trước khi rút quân ra sao. Đó là chưa nói đến một số trường hợp chính Cộng sản bị Cộng sản giết do họ không muốn tiếp tục theo con đường “giải phóng miền Nam’, họ xin về quê làm ăn, cưới vợ, và khi ra khỏi bưng, họ bị giết, bị chôn ở bìa rừng, con số này không hề ít.

Nếu cộng thêm các hố chôn tập thể mà quan chức, cán bộ miền Nam bị giết trong chiến tranh, đặc biệt là Tết Mậu Thân và những ngày trước 30 tháng 4 năm 1975, có lẽ con số lên đến cả hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn xác người vẫn còn nằm lây lất, rải rác, vất vưởng đâu đó trong lòng đất mẹ. Lẽ ra, trong nhiều năm nay, nhà cầm quyền, cụ thể là đảng Cộng sản phải có những hành động qui tập, hỗ trợ qui tập cho cả hai phía để thực hiện tinh thần “nghĩa tử là nghĩa tận” và cũng là động thái hòa giải dân tộc để đi đến hòa hợp dân tộc thay vì kêu gọi bằng những văn bản, lời nói suông. Nhưng họ đã không làm vậy!

Bây giờ, xương máu, sự đau khổ của nhân dân vẫn còn đầy rẫy mặt đất, đi đâu cũng gặp cảnh khổ, đi đâu cũng gặp những gia đình mất con, mất anh em chưa tìm thấy xác vì chiến tranh. Vậy mà người Cộng sản lại nghĩ đến chuyện lấy tiền thuế của nhân dân để xây khu nghĩa trang cho cán bộ cao cấp! Nên nhớ, trong tiền ngân sách nhà nước, cụ thể là tiền thuế của dân, gồm cả sự đóng góp của cả hai phía, không có đồng thuế nào là không nhuốm mồ hôi, nước mắt của dân nghèo, của những bà mẹ liệt sĩ Cộng sản, của những bà mẹ quân nhân Việt Nam Cộng Hòa tử trận và cả những đồng đô la của người Việt hải ngoại gửi về cho người thân trong nước.

Nói một cách nghiêm túc, ngân sách nhà nước có không dưới 40% là tiền có gốc gác của người “phía bên kia”. Dù có chối bỏ, léo hánh cách gì thì đây cũng là sự thật. Nhưng vấn đề tôi muốn nói ở đây không phải là tiền phía bên này hay bên kia trộn lẫn trong ngân sách nhà nước. Mà vấn đề là một đất nước đang bị tùng xẻo, cây xanh, môi trường, tài nguyên đang kiệt quệ, những khối bê tông cơ quan, nhà quan và tượng đài mọc lên ngày càng quá nhiều, nó hiện hữu như thách thức nỗi khốn cùng, đói khổ và đau khổ của nhân dân.

Trong lúc biển bị nhiễm độc vẫn chưa kịp lành lặn, tiếp tục bị đe dọa bởi Formosa, trong lúc miền Tây Nam bộ đang bị nhiễm mặn trầm trọng, nhân dân đói khổ, trong lúc trẻ em miền núi, nhân dân miền núi vẫn đói khổ, lạc hậu, trong lúc tài nguyên rừng và khoáng sản bị tùng xẻo không thương tiếc, trong lúc vết thương Nam – Bắc chưa kịp lành lặn, trong lúc nợ công cao chất ngất, người dân còng lưng đóng thuế vì nợ công, giá xăng tăng, điện tăng, vật giá leo thang, các bệnh viện không có chỗ nằm, bệnh nhân phải chui gầm giường, nằm hành lang mà chờ điều trị… Thì nhà cầm quyền lại quyết định xây dựng thật nhiều tượng đài, cổng chào, ngốn hàng tỉ tỉ đồng, rồi lại nghĩ thêm chuyện xây khu nghĩa trang cao cấp cho cán bộ.

Liệu có khi nào giới cầm quyền suy nghĩ về những gì họ đã làm bấy lâu nay? Liệu có khi nào họ đặt mình vào nhân dân nghèo khổ để thấy sự vô lý và trơ tráo của họ? Và liệu có khi nào họ nghĩ đến một chân lý: Tượng đài xây được thì đập được, nghĩa trang xây được thì cào bằng được, cổng chào xây được thì hạ được… Bởi những thứ này không phải là sức mạnh, không phải là trường tồn. Bởi sức mạnh, sự trường tồn của một dân tộc nằm trong tay nhân dân.

Cụ thể, sức mạnh dân tộc nằm trong niềm tin, sự hưởng ứng, đồng thuận và cảm phục của nhân dân. Và sức mạnh của một đảng phái so với sức mạnh của một dân tộc cũng chỉ bằng một bụi cây trong một vườn cây. Liệu cách lựa chọn đạp qua mọi dư luận, đạp qua mọi sự bất bình, bất công để đạt sự thỏa mãn của một đảng phái, một nhóm lợi ích có phải là lựa chọn thông minh?

Và vấn đề cần đặt ra ở đây không phải là sự lựa chọn có thông minh hay không thông minh của đảng cầm quyền, mà là sự công bằng xã hội, sự sòng phẵng, tính minh bạch và tôn trọng nhân dân bắt buộc phải có của nhà lãnh đạo. Họ dù muốn hay không muốn cũng phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân và không được phép đạp lên nỗi đau, nỗi khổ của nhân dân mà hưởng lộc! Bởi đất nước đã quá đủ đau khổ, nhân dân đã quá đủ lầm than và hơn bao giờ hết, nhân dân, đất nước cần phát triển, cần tiến bộ, cần tồn tại đúng nghĩa một dân tộc, một quốc gia!

 

Nhà hoạt động môi trường Hoàng Bình bị kết án nặng nề 14 năm tù giam

Trần Bang and Tony Ton shared Châu Văn Thi‘s post.
Image may contain: 4 people, people standing and suit

Châu Văn Thi

Nhà hoạt động môi trường Hoàng Bình bị kết án nặng nề 14 năm tù giam

Theo đó, ông Hoàng Bình bị kết án 7 năm tù giam về cáo buộc “chống người thi hành công vụ” và 7 năm tù giam về hành vi”Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm quyền lợi ích của nhà nước, tổ chức, công dân”. Tổng hợp hình phạt là 14 năm tù giam.

Ông Nguyễn Nam Phong bị tuyên 2 năm tù giam về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Bên ngoài phiên tòa có khoảng 10 người bị đánh đập, bắt giữ vô cớ, theo người thân của ông Hoàng Bình cho hay.

Trước đó, linh mục Nguyễn Đình Thục gửi thư xin được làm nhân chứng trong phiên tòa nhưng không nhận được hồi đáp.

Ảnh: Ông Nguyễn Nam Phong và Hoàng Đức Bình trong phiên tòa sáng nay. Nguồn: Báo Nghệ An

Hoàng Bình và Nguyễn Nam Phong vô tội!

“Sáng 6-2-2018, TAND tỉnh Nghệ An xét xử nhà hoạt động môi trường Hoàng Đức Bình và Nguyễn Nam Phong với cáo buộc tội danh “Chống người thi hành công vụ”. Riêng ông Hoàng Bình bị truy tố thêm tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm quyền lợi ích của nhà nước, tổ chức, công dân” theo điều 258 BLHS.

Bên ngoài phiên tòa có khoảng 10 người bị đánh đập, bắt giữ vô cớ, theo người thân của ông Hoàng Bình cho hay.

Trước đó, linh mục Nguyễn Đình Thục gửi thư xin được làm nhân chứng trong phiên tòa nhưng không nhận được hồi đáp.

Ảnh: Ông Nguyễn Nam Phong và Hoàng Đức Bình trong phiên tòa sáng nay. Nguồn: Báo Nghệ An

Việt Nam-Trung Quốc: “Hai Quốc gia, Một trạm Kiểm soát Cửa khẩu”

 

Hơn 100 người Việt tụ tập trước tượng đài Vua Lý Thái Tổ tại trung tâm Hà Nội hôm 17/02/16 để tưởng niệm kỷ niệm ngày nổ ra chiến tranh biên giới Việt-Trung. Những tấm biểu ngữ ghi hàng chữ "Ngày 17/2/1979, Nhân dân sẽ không quên". (AP Photo/ Tran Van Minh.)

Hơn 100 người Việt tụ tập trước tượng đài Vua Lý Thái Tổ tại trung tâm Hà Nội hôm 17/02/16 để tưởng niệm kỷ niệm ngày nổ ra chiến tranh biên giới Việt-Trung. Những tấm biểu ngữ ghi hàng chữ “Ngày 17/2/1979, Nhân dân sẽ không quên”. (AP Photo/ Tran Van Minh.)

Việt Nam và Trung Quốc có đường biên giới đất liền dài tới 1,280 km và kế hoạch thành lập một trạm kiểm soát biên giới chung đã có từ lâu. Hôm 4/2, tờ South China Morning Post của Hong Kong dẫn lời một giới chức Trung Quốc nói rằng dự án này có thể sớm đi vào hoạt động, có lẽ từ tháng Năm năm nay. Ông Jian Xingchao, phó thị trưởng thành phố Phòng Thành Cảng, nơi được chọn làm địa điểm đặt 1 trong hai trạm kiểm soát cửa khẩu chung, nói: “Rất nhiều chi tiết còn đang dược thảo luận, nhưng cả hai bên đều có chung ước muốn đó.”

Trạm kiểm soát đầu tiên, ở Phòng Thành Cảng (Fanchenggang), sẽ được thiết lập trên cầu Dongxing-Móng Cái. Trạm thứ nhì có thể được đặt ở Cầu Hữu nghị, cửa khẩu ở Pingxiang.

Cả Phòng Thành Cảng lẫn Pingxiang đều thuộc Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây ở miền Nam Trung Quốc. Trạm đầu tiên sẽ kết nối với thành phố Móng Cái ở tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Quảng Ninh và trạm kiểm soát thứ hai kết nối với thị trấn Đông Đăng ở tỉnh Lạng Sơn.

Theo ông Jian, vấn đề chủ yếu xoay quanh vấn đề chủ quyền vì bên nào tiến hành kiểm tra ở biên giới thì trên thực tế bên đó có hiệu lực thực hiện chủ quyền đối với bên kia, do đó đây là một vấn đề “khó giải quyết bởi vì không bên nào muốn buông bỏ quyền lực đó”.

Nhà hoạt động chống Trung Quốc, Tiến sĩ Nguyễn Quang A tuần hành dọc theo Hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội để đánh dấu kỷ niệm năm thứ 35 Chiến Tranh biên giới Việt-Trung, ảnh chụp ngày 16/2/014.

Nhà hoạt động chống Trung Quốc, Tiến sĩ Nguyễn Quang A tuần hành dọc theo Hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội để đánh dấu kỷ niệm năm thứ 35 Chiến Tranh biên giới Việt-Trung, ảnh chụp ngày 16/2/014.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS và Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam – Hungary, nhận định:

“Cái đó có thể gây nhiều lo ngại trong dân chúng Việt Nam. Thực sự nếu trong một bối cảnh chung của sự hội nhập quốc tế mà chúng ta thấy ở ASEAN hay ở các nước thuộc khu vực Schengen chẳng hạn, thì việc đó có thể là một việc bình thường, thậm chí đáng hoan nghênh, nhưng với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam và Trung Quốc, thì tôi nghĩ cái chuyện đấy gây rất nhiều phản cảm.”

Ông nói thái độ hoài nghi và tinh thần phản kháng Trung Quốc nơi người dân Việt Nam còn rất cao, trong bối cảnh Trung Quốc đang tìm mọi cách để bành trướng và gây ảnh hưởng lớn tới Việt Nam “như đã gây ở Campuchia và Lào.”

Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng dự án này có lợi cho Trung Quốc để thực hiện cái gọi là chiến lược “tằm ăn dâu” lấn chiếm đất, bởi vì nó tạo điều kiện dễ dàng cho người Trung Quốc vào Việt Nam hơn là người Việt Nam vào Trung Quốc, kể cả dưới chiêu bài du lịch. Ông đơn cử trường hợp thành phố Phủ Lý, cách đây mấy chục năm chỉ có vài chục người Trung Quốc đi du lịch đến rồi ở lại, bây giờ có khoảng 40,000 người Trung Quốc làm ăn trong một thành phố chỉ có khoảng 100,000 dân. TS Quang A cho rằng đó là một “sự bành trướng rất hữu hiệu của Trung Quốc.”

“Trung Quốc là một nước đông dân nhất thế giới và có chủ trương nhất quán là như thế, thì đối với kinh nghiệm của VN lịch sử nhiều ngàn năm về việc giữ gìn độc lập thì chắc chắn là người dân và tôi tin rằng trong giới lãnh đạo cũng có người quan ngại về tiến triển đấy”.

“Như vậy cái chủ quyền của hai nước nó không được xác định rõ ràng. Tôi không hiểu tại sao mà lại phải nhập làm một. Tôi là một người nghiên cứu lịch sử từ xưa đến nay, tôi cũng không hiểu.”
Nhà sử học Nguyễn Nhã, tác giả nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Tiến sĩ Nguyễn Nhã, tác giả của nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lịch sử xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhận định:

“Tôi đã từng đến Lạng Sơn thì tôi thấy cửa ngõ của Lạng Sơn, ở bên này là của VN, bên kia là của Trung Quốc, thì bây giờ nhập lại một thì tôi không hiểu là ý đồ thế nào. Như vậy là phải thống nhất với nhau, mà có khi bên này bên kia không đồng ý với nhau thì sao, thì tôi cũng không rõ.”

Báo South China Morning Post dẫn lời Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp của Viện nghiên cứu Yusof Ishak ở Singapore, tỏ ra lạc quan là Việt Nam và Trung Quốc có thể hợp tác với nhau, ông coi dự án này như một cách để 2 nước có thể làm việc với nhau và phục vụ các lợi ích chung, vượt lên trên cuộc tranh chấp ở Biển Đông để hướng tới phía trước.

Nhưng nhà sử học Nguyễn Nhã tiên đoán sẽ có những phức tạp khó khăn khi kế hoạch “Hai quốc gia, một trạm kiểm soát cửa khẩu” đi vào hoạt động:

“Như vậy cái chủ quyền của hai nước nó không được xác định rõ ràng. Tôi không hiểu tại sao mà lại phải nhập làm một. Tôi là một người nghiên cứu lịch sử từ xưa đến nay, tôi cũng không hiểu.”

Tuy các nhà nghiên cứu đều cho rằng dự án này cũng có mặt tích cực của nó khi tạo thuận lợi cho hợp tác giao thương, giao lưu văn hóa, tăng sự hiểu biết lẫn nhau trong khu vực, nhưng cùng lúc, họ cảnh báo về mối nguy tiềm tàng trong bối cảnh Trung Quốc kiên trì tiến hành chiến dịch tằm ăn dâu để thực hiện tham vọng “Nam tiến”.

“Tôi nghĩ rằng cái đó nó càng gây nghi ngờ trong dân chúng về những cái gọi là hiệp định bí mật như hiệp ước Thành Đô mà rất tiếc là chính quyền Việt nam, Đảng Cộng sản VN không bác bỏ mà cũng không công nhận, và cái điều đấy nó càng làm cho sự lo ngại nó có cơ sở hơn.”
Tiến sĩ Nguyễn Quang A

Tiến sĩ Nguyễn Quang A:

“Nếu người ta hiểu biết lẫn nhau hơn, giao thương làm ăn với nhau hơn thì các sự căng thẳng sẽ giảm bớt, nhưng tôi nghĩ phải lưu ý đến luôn cả mặt kia nữa vì không khéo thì lợi bất cập hại cho nên làm cái gì cũng phải có một mức độ tính toán thiệt hơn.”

Liệu khái niệm “Hai quốc gia, một trạm kiểm soát cửa khẩu”, có gợi lên cách hành xử của Trung Quốc khi thực hiện chính sách “Một quốc gia, hai thể chế” tại đặc khu Hong Kong?

Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng kế hoạch “Hai quốc gia, một trạm kiểm soát” càng gây thêm nghi ngờ về hiệp định Thành Đô bí mật giữa lãnh đạo Đảng Cộng sản VN và Trung Quốc như tin đồn bấy lâu nay.

“Tôi nghĩ rằng cái đó nó càng gây nghi ngờ trong dân chúng về những cái gọi là hiệp định bí mật như hiệp ước Thành Đô mà rất tiếc là chính quyền Việt nam, Đảng Cộng sản VN không bác bỏ mà cũng không công nhận, và cái điều đấy nó càng làm cho sự lo ngại nó có cơ sở hơn. ”

Tiến sĩ Nguyễn Nhã không nhắc tới hiệp định Thành Đô, nhưng cũng nêu lên quan ngại của nhiều người và của cá nhân ông:

“Theo tôi, nếu không có chuyện Trung Quốc áp đặt bằng vũ lực ở Hoàng Sa đó thì có khi lại không đặt vấn đề ra, và các nước như Cộng đồng chung Châu Âu đó thì họ cũng có sự hợp tác rất là chặt chẽ, nhưng mà chủ quyền của nước nào, và văn hóa của nước nào họ vẫn tôn trọng. Hàng rào có thể bỏ đi nhưng tôi thấy là các nước từ nước Pháp qua nước Đức và các nước còn lại thì tôi thấy chủ quyền của mỗi nước vẫn được tôn trọng..”

Nhà sử học nói nhiều người lấy làm lo ngại, và bản thân ông cũng lo ngại nhưng “sau này thì lịch sử viết ra thì mới biết được”.

Các em gái vùng cao bị bán sang TQ

Các em gái vùng cao bị bán sang TQ

trẻ em gái, buôn người, Việt Nam, Trung Quốc
Bản quyền hình ảnh  VINCENT TREMEAU
Trẻ em gái tại nhiều vùng núi hẻo lánh của Việt Nam đã và đang trở thành nạn nhân của các vụ buôn người

Trẻ em gái tại nhiều vùng núi hẻo lánh của Việt Nam đã và đang trở thành nạn nhân của các vụ buôn người.

Báo cáo của tổ chức Plan International cho hay, nhiều trẻ trong số này chỉ trong độ tuổi từ 13 trở lên, bị lừa bán sang Trung Quốc để làm vợ của những người đàn ông nghèo.

Các bước thường lặp lại. Trẻ em gái từ các vùng quê nghèo bị bắt cóc, hoặc bị lừa gạt, sau đó bị bán qua biên giới.

“Chỉ riêng năm ngoái thôi, huyện Mường Chà chỗ tôi ở đã có ba vụ trẻ em gái bị đưa sang Trung Quốc,” ông Sùng A Chìa, mục sư từ một Hội thánh Tin Lành tại huyện Mường Chà, Điện Biên, nói với BBC qua điện thoại ngày 5/1.

“Bị bắt cóc hay không thì tôi không nghe nói, nhưng bị lừa sang Trung Quốc thì có.”

“Ba em này tuổi từ 14 đến 18. Trong đó em 18 tuổi trước đây thường hay nói chuyện điện thoại [với ai đó], rồi bị lừa sang Trung Quốc.”

“Sau đó em này có quay về. Chính quyền địa phương có tới hỏi thăm.”

“Nhưng hai em kia thì không thấy quay về.”

Cũng theo ông Chìa, việc trẻ em gái bị lừa sang Trung Quốc không phải là do đời sống ở bản quá khó khăn.

“Ở đây cũng khó khăn nhưng không phải là quá tệ. Chủ yếu là do các em thiếu hiểu biết, chưa nghe tuyên truyền về việc này bao giờ.”

trẻ em gái, buôn người, Việt Nam, Trung Quốc
Bản quyền hình ảnh   VINCENT TREMEAU

Tỉnh Điện Biên, nơi ông Chìa và gia đình sinh sống, chỉ là một trong những tỉnh miền núi Việt Nam nổi cộm với vấn đề buôn bán phụ nữ qua biên giới nhiều năm qua.

Nơi những trẻ em gái ‘mất tích’

Nhiếp ảnh gia Vincent Tremeau đã có chuyến đi thực địa cùng Kirsty Cameron của Tổ chức Plan International đến một làng hẻo lánh gần biên giới Việt Trung, nơi nhiều trẻ em gái ‘mất tích’.

“Nhiều trẻ em gái ở vùng núi phía bắc Việt Nam bị bắt cóc và bán sang bên kia biên giới làm vợ đàn ông Trung Quốc”, bài báo của Vincent Tremeau viết trên BBC News.

Trong phóng sự ảnh của Vincent, có bà Do 56 tuổi đang ngồi bó gối thẫn thờ trong căn nhà cũ.

Ước muốn duy nhất của người phụ nữ đang mắc bệnh hiểm nghèo này là được gặp con gái lần cuối trước khi chết.

Mi, con gái bà, tên Mi, mất tích hai năm nay.

Mi bị bắt cóc đi đang đi chợ. Gia đình chỉ biết khi cô bé rời chợ thì có hai gã đàn ông bám theo. Dân địa phương nói rằng nhiều khả năng cô bé đã bị gả bán cho đàn ông Trung Quốc.

Gia đình bà Do đã tìm con ở khắp Hà Giang nhưng vô ích.

Chưa dừng lại ở đó, sau Mi, ba bé gái khác trong ngôi làng chỉ vỏn vẹn 50 nhân khẩu này cũng bị bắt cóc.

Cuộc sống ở tại cộng đồng này kỳ khó khăn. Một thủ đoạn bọn buôn người sử dụng là bỏ ra hàng tháng để tìm hiểu một cô gái, giả làm bạn hoặc bạn trai, trước khi nói với họ rằng họ có thể giúp họ kiếm được việc làm ở Trung Quốc.

Với niềm tin rằng tiền lương cao hơn và cuộc sống tốt hơn ở đó, nhiều cô gái cho đây là cơ hội để giúp đỡ gia đình nên sẵn sàng đi với họ, cho đến khi nhận ra bị lừa ở bên kia biên giới.

Dinh (18 tuổi) 18 tuổi cũng bị bắt cóc. Khi cô 15 tuổi, cô cùng bạn là Lia được cho đi nhờ về nhà để khỏi phải đi bộ đường xa. Tuy nhiên, các cô gái nhanh chóng nhận ra rừng họ bị đưa đi sai đường.

Cô bị đưa đến Trung Quốc, bị nhốt trong một căn nhà và chụp hình cho người mua. Mặc dù Dinh đã bỏ trốn sau tám tháng, Lia vẫn chưa trở lại.

trẻ em gái, buôn người, Việt Nam, Trung Quốc
Bản quyền hình ảnhVINCENT TREMEAU
Dinh trốn thoát sau khi bị bán qua biên giới, nhưng Lia vẫn chưa thấy trở về

‘Nỗi mất mát mơ hồ’

Các gia đình có người mất tích chịu cái gọi là “sự mất mát mơ hồ” – một thuật ngữ do nhà tâm lý học Pauline Boss đặt ra và được miêu tả là một trong những cảm giác đau đớn nhất bởi vì có rất ít khả năng có một ‘cái kết’ cho tình trạng này, theo bài báo của Vincent Tremeau.

Những người bị ảnh hưởng trải qua một loạt các cảm xúc mãnh liệt và liên tục biến động: đau khổ, bối rối, đau đớn, tuyệt vọng, buồn bã, thất vọng, bất lực, hy vọng.

Những cảm xúc này – kết hợp với sự chờ đợi tin tức không hồi kết – có thể tàn phá sức lực và khiến những người ở lại suy nhược.

Thường xuyên tìm kiếm câu trả lời, nhưng không chắc chắn về nơi ở và số phận của người mất tích, gia đình không thể thương tiếc sự mất mát của họ theo cách mà một người nào đó có thể chịu đựng được một sự mất mát.

Trong khi đó, nhiều trẻ em gái, trong đó nhiều em mới 13 tuổi, tiếp tục là nạn nhân của bọn buôn người, bị bắt cóc, đưa sang Trung Quốc để bán ‘làm vợ’.

Theo Tổ chức Plan International về quyền trẻ em, kiểu hôn nhân cưỡng bức này dù tăng chậm nhưng đều đặn trong thập kỷ qua.

Chính phủ Việt Nam ước tính có khoảng 300 vụ buôn người chỉ trong vòng ba tháng đầu năm 2017.

Trong khi đó, tổ chức Child Helpline nhận được gần 8.000 cuộc gọi liên quan đến các vụ buôn bán phụ nữ và trẻ em gái qua biên giới trong suốt ba năm qua.

trẻ em gái, buôn người, Việt Nam, Trung Quốc
Bản quyền hình ảnh  VINCENT TREMEAU
Chỉ còn lại các bức ảnh Mi treo trên tường nhà
trẻ em gái, buôn người, Việt Nam, Trung Quốc
Bản quyền hình ảnhVINCENT TREMEAU

Cần phối hợp giữa hai chính phủ

“Hiện giờ không có cơ quan nào có thể nêu được hàng năm ở Việt Nam có bao nhiêu người bị buôn bán sang biên giới, bao nhiêu người đi qua biên giới để làm ăn để chủ ra xu thế là nó tăng vọt hay không”, bà Bà Khuất Thu Hồng, chuyên gia về bình đẳng giới nói với BBC từ Hà Nội ngày 5/2.

“Tuy nhiên, qua các thông tin từ báo đài, tôi được biết kẻ buôn người nay đã lợi dụng công nghệ thông tin như Facebook, Zalo để lừa gạt, bán trẻ em gái qua biên giới.”

“Có một thực tế là điều kiện ở các khu vực miền núi phía Bắc đặc biệt khó khăn so với các khu vực khác.”

“Trẻ em gái phải bỏ học sớm do điều kiện tiếp cận với trường sở hạn chế, nhận thức về học hành cho trẻ em cũng hạn chế, rồi do phong tục tập quán như kết hôn sớm cũng ảnh hưởng đến việc học hành của các em. Nhiều em còn không nói được tiếng Kinh.”

“Như vậy có thể giả định là việc tiếp cận thông tin của các em cũng hạn chế, dễ khiến bị người ta lừa gạt rằng qua biên giới cuộc sống sẽ tốt hơn, thu nhập tốt.” “Trong bối cảnh đó, những giải pháp cơ bản nhất để nâng cao nhận thức cho đối tượng này là hỗ trợ để trẻ được đi học.”

“Trường sở có chương trình truyền thông bằng tiếng dân tộc để họ nắm được thông tin càn thiết, tránh được cạm bẫy.”

“Nâng cao sinh kế để họ yên tâm ở lại quê hương làm việc.”

“Thật ra thì rất khó để nói làm thế nào giữ chân được họ. Vì thu nhập thế nào là cao rất khó để nói. Người ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội vẫn đi tìm kiếm những chỗ có thu nhập cao hơn.”

“Về lâu dài thì tôi nghĩ chính phủ hai nước [Việt Nam – Trung Quốc] nên có chương trình phối hợp để hỗ trợ, cùng nhau giải quyết vấn đề này. Cần làm sao để có sự hợp tác tốt hơn giữa lực lượng biên phòng hai bên tại các vùng biên giới.”

trẻ em gái, buôn người, Việt Nam, Trung Quốc
Bản quyền hình ảnh   VINCENT TREMEAU

Bộ ảnh về đề tài này của Vincent Tremeau do Plan International đăng tải đã có mặt trên trang BBC News.

Quả lừa khủng

Hoang Le Thanh‘s post.
 
 
 
Image may contain: 6 people, people standing and outdoor
Hoang Le Thanh

 

Quả lừa khủng

Lê Công Định

Tôi nghe kể lại rằng sở dĩ gia đình bác sĩ Hồ Hải không thuê luật sư và không thông báo ngày xét xử sơ thẩm, là vì có kẻ hứa hẹn rằng tòa án sẽ tuyên cho anh Hồ Hải một mức án bằng số ngày tù anh ở, rồi trả tự do tại tòa.

Kết quả, như chúng thấy, anh Hồ Hải đã bị tuyên 4 năm tù. Thật là một quả lừa khủng! Tất nhiên, không ai trách gia đình anh ấy, vì người trong nhà vốn ngay tình và luôn mong điều tốt đẹp nhất có thể cho anh Hồ Hải. Đáng trách chỉ là bọn lừa đảo thôi.

Âu cũng là bài học cho những ai còn đặt niềm tinh vào một chế độ đã mất tính chính danh.

*

Chúc anh bình an những ngày tháng sắp tới trong gông cùm của chế độ, mà cả bên thắng cuộc lẫn bên thua cuộc đều đã và đang bám víu một cách hài hước.

Thương anh, một người đàn ông nước Việt thực thụ!

Nguồn: Ls. Lê Công Định
https://www.facebook.com/LSLeCongDinh/posts/1999348590338915

Ảnh: Bị cáo Hải tại tòa – Ảnh: TUYẾT MAI. (Ghi chú nguyên văn tấm ảnh trong bài báo: “Tuyên truyền chống Nhà nước, bác sĩ đa khoa lãnh 4 năm tù”, đăng trên báo Tuổi Trẻ ngày 01/02/2018 11:11 GMT+7).

CSVN ĐÁNH CHÌM TÀU CHI MAI ĐỂ CƯỚP CỦA!!!

Thuong Phan shared Minh Tam Dang‘s post.
 
 
Image may contain: mountain, sky, cloud, outdoor and nature
Image may contain: 11 people, people sitting, child and indoor
Image may contain: sky, outdoor and water
Image may contain: sky, mountain, outdoor, water and nature
Image may contain: ocean, outdoor, water and food
+5

Minh Tam Dang added 9 new photos.

CSVN ĐÁNH CHÌM TÀU CHI MAI ĐỂ CƯỚP CỦA!!!

TỘI ÁC CỘNG SẢN đối với Dân Việt Nam và nhất là đối với Dân Miền Nam chất cao dầy hơn cả Núi Hy Mã Lạp Sơn (8848m), trúc Nam Sơn không ghi hết tội, biển Đông và Nam hải không rửa sạch mùi tanh hôi của chúng!!!

Vậy mà giờ đây, hàng năm, chúng ta phải chứng kiến cảnh chúng ăn mừng “chiến thắng vinh quang” của chúng!

Mời đọc câu chuyện của THUYỀN TRƯỞNG CSG-92.

Xin lưu ý, những tấm hình được mượn để minh họa. Cảm ơn Ông Thuyền trưởng đã vượt qua nỗi kinh hoàng để ngồi lại viết câu chuyện hãi hùng này.

Tạ ơn Trời Phật cho những người sống sót trong những chuyến vượt biên đầy bất trắc để tìm TỰ DO, trong đó có em trai tôi đi năm 1979, sau đó Cậu tôi (Hải Quân VNCH) sau 6 năm tù cải tạo và 2 em trai khác của tôi và cuối cùng là tôi. Chúng tôi đã được Trời Phật cho sống kiếp thứ hai trên cõi trần này.

“”Xác nguời được đưa ra khỏi tàu Chi Mai đưa lên bến phà Cát Lái lập tức các túi hành lý bị tụi công an VC tịch thu đem lên xe cây ngay lập tức, không có thân nhân hay bất cứ ai léo hánh ở khu vực này. Chỉ huy bốc dỡ các tử thi này là Đại tá VC Đinh Mười, truởng phòng cảnh sát phòng cháy chửa cháy thành phố Sàigòn; và một tên đại tá khác của phòng cảnh sát trên sông. Lúc bấy giờ bí thư thành uỷ là Võ Văn Kiệt.

Tổng cộng xác chết được đem ra là 426 xác cả nam lẫn nữ. “”

“””Còn cảnh công an VC bắn vào người vượt biên hôm đó, chính mắt những người đóng đáy thấy, thủy thủ tàu CSG 92 và xà lan 64 thấy, công nhân nhà máy Vavioil và những cư dân trên bờ sông nhà bè phía đèn xanh đều thấy hết. Chưa hết đâu! Những người đi “đăng ký”, tập trung tại bến xe Văn Thánh ngoài ngã ba Hàng Xanh để cho xe bus đưa vào bên phà Cát Lái, nhưng còn hai xe bus chót chưa vào tới bến phà Cát Lái thì mìn đã nổ. Không biết rằng vì xe bus đến chậm hay thằng công an tay nghề quá zỏm, gài kim định giờ không chính xác?!”””
……………………………

Thuyền trưởng CSG-92
Cảng SaiGon

“May mắn cho tôi là khi vượt biên vô cùng thuận buồm xuôi gió, nhưng ngược lại, tôi là chứng nhân cuả một vụ cướp của giết người thật là rùng rợn do bọn cộng sản Việt Nam thực hiện vào năm 1977 tại căn cứ Hải quân Cát Lái cũ của QLVNCH.

Lúc bấy giờ tôi làm công nhân cho thuỷ đội Cảng Sàigòn, trên chiếc tàu kéo CSG 92 (Soài Rạp). Vào khoảng tháng 1 năm 1977 tàu chúng tôi chạy lên con sông Sàigòn tới phía sau nhà máy nhiệt điện Thủ Đức và kéo chiếc tàu tên là Chi Mai về Kinh Tân Thuận (kinh đôi) để cơ xưởng cảng Sàigòn gắn thêm một số máy phụ như máy charge gió (air compressor), máy bơm nước lườn, cũng như gắn thêm một số ống gió thông hơi từ boong tàu xuống tận 3 tầng dưới hầm máy.

Tôi thấy cách thiết kế vô cùng lạ mắt và không có một chút gì là an toàn cho việc vận hành, cũng như an toàn thoát hiểm tối thiểu cho một con tàu di chuyển trên sông nước. Tôi có hỏi chú sáu Bền người công nhân đầu não của xưởng này về việc lạ lùng này thì chú trả lời rằng: “Chú đâu biết gì đâu. Nghe nói rằng thành uỷ thuê xưởng sửa chữa làm một số việc và nhà nước đôi bên thanh toán cho nhau. Chú chỉ là lính lác nên đâu biết gì việc cuả họ”.

Con tàu này có máy chính hiệu của Đức chế tạo, công suất 900 horse power. Con tàu này dài khoảng chừng 22m rộng 5, 5 mét, chiều sâu tính từ mớm nước khoảng 3, 3 mét, nhưng nếu tính từ trên mặt boong (deck) khoảng 5 mét là cùng. Khi tàu này gần ra khỏi ụ sửa chữa nó được hàn thêm một số miếng sắt chữ V loại 6mm làm một boong giả thêm nữa, cao hơn mặt boong khoảng 1.70 mét.

Bấy giờ những người Hoa kiều trong Chợ Lớn thường tấp nập vào tầu này xem xét cúng bái và họ thường mang trái cây hoặc thịt thà qua biếu cho chúng tôi ăn. Sau vài lần họ muốn thuê chú hai Lâm Văn Tới làm máy trưởng cho tàu này. Họ nói dối rằng đấy là tàu khách chạy từ sài Gòn đi Cần Thơ. Nhưng chú khước từ, vì tàu CSG 62 cuả chú cũng sửa chữa sắp xong để hoạt động kéo xà lan nước đi Vũng Tàu cung cấp cho các tàu chiến cũng như đánh cá đang neo tại vùng cảng ấy. Sau họ bảo thật là đi vượt biên chính thức và sẵn lòng chi 15 lượng vàng và cho hết 6 người trong gia đình chú đi luôn không phải trả một xu nào cả, nhưng chú vẫn khước từ.

Sau đó tôi thấy tên Út Lương tên thật là Lương Văn Út thuyền trưởng tàu khách An Giang chạy từ Tân Châu -Long Xuyên -Sài Gòn và ngược lại, nhận lời. Tên Úc này là Việt kiều Kampuchia hồi hương về VN năm 69 hay 70 gì đó. Năm đó là năm Quân Lực VNCH hành quân vô Kampuchia tấn công và san bằng cục R cuả VC và cứu vớt Việt kiều khỏi bị bọn Lon Nol và Khmer Đỏ cáp duồn thả trôi sông Cửu Long về Việt Nam.

Út Lương có nước da sậm nâu, gần giống như Miên. Không hiểu hắn xoay ở đâu ra bằng Tài Công hạng nhất của Bộ giao thông và Bưu điện cấp cho hắn. Bằng màu đỏ hẳn hòi, còn mới cứng, chứ thằng này nó dốt như Hồ Chí Minh, tiếng Tây thì quẹt quẹt, tiếng Miên thì good, tiếng Việt và tiếng Tàu thì cũng khá khá, nhưng về hải nghiệp nó là con zéro to tướng. Nội việc khử từ trường cho hải bàn khi tàu sửa chữa, hay trang bị thêm chi tiết nó cũng không biết, làm floating radar, hoặc tâm phương qua tín hiệu kiểm báo nó cũng mù tịt, thì nói chi đến tính toán sai biệt trục địa cầu hàng năm để cộng thêm vào hướng đi, hoặc trừ bớt cho đúng với hướng thật sự muốn đi. Nhưng hắn vẫn nhận trách nhiệm đưa tàu đến Cát Lái.

Giờ đây tôi không chắc nhớ rõ ngày tháng sự vụ xảy ra, tôi chỉ nhớ lúc ấy trời nắng gắt lắm khoảng tháng 4 hay 5 gì đấy, bấy giờ tôi kéo xà lan chở nước xuống kho dầu Shell ở Nhà Bè bơm cho tàu dầu Hasukha của Liên Xô, và sau đó kéo ủi yểm trở cho hoa tiêu đưa tàu vào cặp cảng kho Esso Nhà Bè. Việc xong xuôi, tôi cặp xà lan nước đã giao hàng xong, kéo về lại cảng Sàigòn. Nhưng khi tàu sắp quanh vào khúc đèn xanh đỏ của sông Sàigòn, thì tôi thấy người trôi nổi lặn hụp bơi ngửa, bơ xấp đủ kiểu hết. Họ có áo phao bằng styro foam hoặc bằng túi hơi như loại hàng không phát cho hành khách. Cũng có người ôm bẹ dừa nước thả ngửa trên sông.

Tôi co giảm vận tốc tàu lại và yêu cầu anh em thuỷ thủ ở tàu kéo cũng như xà lan thả các thang dây trên tàu và xà lan xuống tận mé nước đồng thời lấy các phao tròn cột dây vào quăng ra cho họ bám vào để kéo họ lên các thang dây của tàu và xà lan.

Lúc bấy giờ là nước ròng chảy ra biển, và ngay chỗ này là mối tiếp giáp giữa 3 con sông Nhà Bè, Sàigòn và Đồng Nai nên mực nước luôn chảy nghịch lẫn nhau tạo thành dòng nước xoáy. Tôi sợ nạn nhân có thể bị lót lườn tàu và xà lan, vướng vào chân vịt, nếu họ luýnh quýnh và không hiểu biết. Vì vậy tôi chỉ để số vòng quay của chân vịt đủ mức cho tàu đứng yên một chỗ để đón cứu họ.

Lúc bấy giờ các ghe đóng đáy giàn xây (dòng xoay) tại ngã ba của ba con sông cũng túa ra cứu giúp họ. Khi đó, trên tàu và xà lan của chúng tôi đã cứu được 18 người. Bỗng phía bên sông Nhà Bè (Rạch Bảy) có nhiều tiếng súng nổ chát chúa và canô công an VC tuần tra trên sông từ hướng nhà máy dầu Navioil cũng như trên Cát Lái chạy đổ xuống, xuôi theo dòng chảy, chúng bắn vào nạn nhân bơi trên sông không một chút thương tiếc, và đuổi theo bắn tận nhà máy Silico gần đến vàm sông Phú Xuân, nơi có căn cứ của bộ đội biên phòng đóng giữ.

Riêng tàu của chúng tôi bị một tầu tuần tiễu có khoảng 6 công an nhảy lên bắt những nạn nhân này trói lại bằng dây ở những chiếc phao họ mang trên người, rồi đẩy họ té xuống tàu tuần cảnh, thấp hơn mặt boong xà lan ít nhất 2 mét. Khi không còn chỗ chứa các nạn nhân, chúng xô họ trở lại dòng sông lúc đó đang chảy xiết. Tôi la lên cản ngăn chúng, nhưng chúng bắt tôi vào trong phòng lái tàu và yêu cầu tôi chạy về cầu bến phá Cát Lái. Trên đoạn đường không đầy 2 cây số này tôi thấy vô số các túi sách may bằng nhựa simili và giỏ đệm trôi bồng bềnh trên mặt nước. Chúng ra lệnh cho tàu chạy chậm lại và dùng vợt chúng tôi thường dùng để vớt lon nhôm thực phẩm hoặc thức uống của tàu ngoại quốc thường vứt bỏ trôi nổi trên sông Sàigòn, để vớt những chiếc giỏ căng phồng này. Chúng tranh nhau mở ra lục lọi lấy vàng, đô la, đồng hồ… rồi chia chác nhau ngay tại chỗ.

Vì phải chạy chậm để tụi công an vớt những chiếc giỏ trên mặt sông nên 2 giờ sau, tàu chúng tôi mới cặp được bến phà Cát Lái trong khi đoạn đường không đến 2 cây số mà vận tốc bình thường của tầu tôi là 16 hải lý giờ (khoảng 25 cây số giờ).

Khi tàu vừa cập bến, tụi công an bắt chúng tôi lên bờ, lục soát trên tàu, xà lan và khám xét thân thể của chúng tôi. Đến khoảng 10 giờ tối thì tên đại tá công an trưởng phòng cứu hỏa đến hỏi chúng tôi có thấy điều gì hay không, có muốn khiếu nại gì không? Chúng tôi dư hiểu chúng muốn gì, nên ai cũng phải lắc đầu, “thưa không nghe, không thấy, không biết cũng như không khiếu nại điều gì”. Chúng tôi chỉ xin chúng báo cáo về đội an ninh bảo vệ của bến cảng Sàigòn là tàu chúng tôi bị vướng lưới nên phải lặn gỡ, vì vậy về trễ. Chúng bằng lòng gọi phôn giúp cho việc ấy. Khi chúng tôi được thả trở lại tàu, trên bến phá, tụi công an đã cho lập vòng rào an ninh cấm tất cả nhân dân cùng những người không có trách nhiệm lui tới khu vực ấy. Vòng đai này được kéo bằng kẽm concertina, phía trong ở giữa bến phá chúng dùng nhưng manh cót quây tròn lại, che kín những xác người nằm ngổn ngang ít nhất là 150 người. Những xác người được xếp dài khaỏng 30 mét nằm kế bên nhau như cá trong hộp thành 3 hàng. Còn các túi hành lý được chất ngay lên xe truck cuả công an mà loại này trước năm 1975 dùng để tịch thu báo chí khi báo chí có nội dung xuyên tạc vu khống chính phủ VNCH, để làm lợi cho cộng sản.

Sau đó hai ngày, đội thủy của cảng Sàigòn được lệnh điều động tàu của chúng tôi kéo cần cẩu 100 tấn (có sức mạnh kéo nổi 100 tấn). Cần cẩu này nguyên là của quân vận Mỹ bàn giao lại cho chính phủ VNCH, và sau chuyển lại cho cảng Sàigòn xử dụng. Chúng tôi kéo cần cẩu nổi này ra đến Cát Lái khoảng 10 giờ sáng và người nhái công an (Bắc Kỳ) lặn xuống choàng dây cáp 16 mm qua tàu Chi Mai để cho cần cẩu trục lên.

Nhưng không biết loay hoay như thế nào đó họ làm mãi không xong, và phải xin toán người nhái của cảng Sàigòn đến giúp đỡ. Toán người nhái ốm đói này vốn là những công nhân trên 45 tuổi trước 1975 thuộc Ty Cảng Vụ cảng Sàigòn, có nhiệm vụ lặn kiểm tra các đế phao neo (con rùa) trên sông Sàigòn, cùng như kiểm tra chân đế cầu tàu trong cảng Sàigòn. Nhờ toán người nhái của Sàigòn trước 1975 , công việc trôi chảy, tôi nổ máy đẩy cần cẩu nổi ra xa, để neo căng cả 4 phiá và kéo tàu Chi Mai lên….

Khi dây cáp được kéo lên chưa được 3 mét, từ dưới mặt nước nổi vọt lên những xác người như nhưng trái ngư lôi vừa thoát khỏi bệ phóng. Máu từ mũi tai cuả họ trào ra trông thật thảm khốc. Chú hai Giỏi, cần cẩu trưởng, người to như cảnh sát motor cycle của Mỹ, cũng phải rụng rời tay chân không thể tiếp tục giữ cần LIFT và dừng tay lại ngay vị trí này. Bọn công an trên cầu phà bụm tay lại làm loa ra lệnh kéo tiếp nên anh Sanh phải nhảy lên phòng điều khiển thay thế chu hai Giỏi…

Dây được kéo lên từ từ thật chậm từng tấc cáp mỗi lần chuyển dịch, xác người tiếp tục vọt nổi lên, Tôi không nhớ rõ lắm vì cảm giác đã chết cứng tê dại, mắt mở nhưng hình như không còn biết gì cả. Vì đấy là xác người vô tội bị VC xua đuổi, hoặc lừa đảo, nên họ phải trốn ra nước ngoài. Họ là những người giàu có, có nhà cửa khang trang, cơ sở máy móc sản xuất, mà bọn công sản Bắc Kỳ xâm lược đang thèm thuồng muốn chiếm lấy làm cuả riêng, nên đã lừa họ mang của cải xuống tàu rồi tìm cách giết họ để chiếm đoạt của cải.

Khi tàu nhô cột cờ lên khỏi mặt nước, một thảm cảnh mà suốt 16 năm sống xuôi ngược trên các dòng sông cuả VN, bờ duyên hải VN và Philippines tôi chưa bao giờ trông thấy cảnh tượng như thế. Qúy vị à! Một phụ nữ tay ôm chặt đứa bé gái khoảng một tuổi đã sình chương cuộn tròn như một quày dừa non. Chiếc áo Badesuite bằng thứ vải nylon dầy chắc vướng vào các móc dùng để móc cờ hiệu của tàu hoặc tín hiệu. Trên mặt của nạn nhân bị tôm cá rỉa mất gần hết một bên mặt….

Tàu Chi Mai tiếp tục được kéo lên, trên mặt boong không còn gì tồn đọng. Trong cabin lái, xác hai cô gái trẻ ôm nhau chết cứng. Tàu Chi Mai tiếp tục được đưa lên cao, nước tràn ra từ các lỗ Abblouse (lỗ có kính tròn để cho thuỷ thủ có thể quan sát bên ngoài hay mở ra để nhận lấy gió khi những ngày biển êm gió lặng). Nước chảy tràn ra cho thấy bên trong, xác người dằn xẹp xuống như cá được đóng vào hộp vậy….

Cuối cùng tàu Chi Mai được đặt trên boong cần cẩu 100 tấn, sau khi các kè được chêm chặt hai bên hông tàu Chi Mai. Chúng tôi thấy bên hông phía tay phải của tàu Chi Mai có một lỗ thủng to hình dạng tròn méo mó phần phía trước của lổ thủng bị tét ép vào phía trong thân tàu chứng tỏ khối thuốc nổ được đặt từ bên ngoài. Xác người bên trong chắc phải còn đủ cả vì lỗ thủng này, xác người không thể trôi ra được, vì tàu bị chìm nghiêng về phía này, bùn non và đất sét còn bám chặt cả một bên thân tàu.

Xác nguời được đưa ra khỏi tàu Chi Mai đưa lên bến phà Cát Lái lập tức các túi hành lý bị tụi công an VC tịch thu đem lên xe cây ngay lập tức, không có thân nhân hay bất cứ ai léo hánh ở khu vực này. Chỉ huy bốc dỡ các tử thi này là Đại tá VC Đinh Mười, truởng phòng cảnh sát phòng cháy chửa cháy thành phố Sàigòn; và một tên đại tá khác của phòng cảnh sát trên sông. Lúc bấy giờ bí thư thành uỷ là Võ Văn Kiệt.

Tổng cộng xác chết được đem ra là 426 xác cả nam lẫn nữ. Tôi đã không dám ăn thịt cá tôm cua hơn nửa năm trời mặc dù lúc bấy giờ công nhân kỹ thuật thuộc tổng cục đường biển như tôi mỗi tháng chỉ mua được 2 kí thịt heo cho nhu yếu phẩm mà thôi.

Thằng Lương Văn Út tài công chiếc tàu Chi Mai còn sống nhăn răng tại Sài Gòn. Sau vụ nổ tàu Chi Mai, Cộng Sản không có cách gì che giấu được, vì hơn 170 hành khách nhà nghèo loại đóng 5 cây vàng cho một đầu người, phải chịu cảnh đứng ngồi như cá hộp. Họ hiểu đi tàu trong hoàn cảnh đó sẽ bị ướt lạnh khi trời mưa giông, vì cả hai thứ nước mưa và nước sóng biển.

Họ chắc chắn hiểu được thân phận, và những rủi ro có thể mang đến cho họ khi bị say sóng, hoặc sóng to chụp phủ lên tàu có thể cuốn họ xuống biển, nên họ chịu rất nhiều tổn phí để kiếm mua phao vì thời ấy của đó là hàng quốc cấm, không có chợ nào được bày bán cả. Ngay cả như tôi, thuyền trưởng tàu kéo cấp ba (có công suất trên 1200 mã lực) là loại chỉ đếm trên đầu ngón tay vào năm 1989, vẫn không có áo phao cho cá nhân của mình nửa đó. Chỉ cấp loại xốp bình cà rem (Styro foam) nhét vào áo khỉ (monkey vest) như áo bộ đội mang băng đạn AK vậy, nhưng vẫn phải ghi tên và chức vụ bằng nước sơn đỏ, và điều này phòng vật tư của Công Ty làm sẵn phát cho tàu, nếu bị mất phải làm báo cáo và kiểm điểm như mất súng vậy.

Chính các phao này đã giúp cho hầu hết những nguời trên boong này thóat ra khỏi tàu Chi Mai ngay lúc nó nghiêng chìm. Chỉ có những người thông thuộc với sông nước nên ỷ lại không mặc vào, có thể bị chết, hoặc thoát, hay tù sau vụ chìm này. Điều tôi nói đây có kiểm chứng, vì 4 ngày sau đó, những xác chết trôi nổi trên sông Nhà Bè, Phú Xuân, Soài Rạp, Lòng Tàu, cũng như trôi dạt vào những miệng đáy đóng trên sông để bắt tôm cá. Người dân đã báo cho chính quyền đem đi mai táng hoặc trả xác lại cho thân nhân.

Còn cảnh công an VC bắn vào người vượt biên hôm đó, chính mắt những người đóng đáy thấy, thủy thủ tàu CSG 92 và xà lan 64 thấy, công nhân nhà máy Vavioil và những cư dân trên bờ sông nhà bè phía đèn xanh đều thấy hết. Chưa hết đâu! Những người đi “đăng ký”, tập trung tại bến xe Văn Thánh ngoài ngã ba Hàng Xanh để cho xe bus đưa vào bên phà Cát Lái, nhưng còn hai xe bus chót chưa vào tới bến phà Cát Lái thì mìn đã nổ. Không biết rằng vì xe bus đến chậm hay thằng công an tay nghề quá zỏm, gài kim định giờ không chính xác?! Điều này từng xảy ra trong thời chiến qua các vụ đặc công VC đánh các cầu Bình Triệu, Bình Lợi, Tân Cảng… Đặc công VC ôm mìn lội ven sông để gài giật xập cầu, nhưng lội chưa tới nơi thì mìn phát nổ. Báo chí phổ biến tin tức, lính địa phương quân giữ cầu đều biết chuyện này!

Việt Cộng sản bắn chết người thường dân vô tội đâu có phải là điều hiếm hoi ở trong thời chiến cũng như thời bình. Hơn nữa VC đã dán bản cáo trạng khắp hai miền đất nước rằng “VƯỢT BIÊN LÀ PHẢN QUỐC”. Vì vậy chúng sợ ai không dám bắn?! Hơn nữa VC bắn để cướp của, vì người bị chúng bắn là thành phần tư bản, bị VC ghép vào tội phản quốc bóc lột.

Còn 2 chiếc xe bus chở người vượt biên đến sau, khi thấy tàu Chi Mai bị phát nổ, bọn công an liền ra lệnh cho quay đầu lên hướng nhà tù Thủ Đức tạm trú qua đêm và sáng hôm sau chở thẳng lên Bù Đóp nhốt cho đến gần 4 tháng. Sau đó, chúng đưa xuống cù lao Rồng ở Mỹ Tho cho đi bán chính thức, với điều kiện thêm 3 cây một đầu người.

Ngoài ra, còn vụ cho chìm tàu khách Vũng Tàu tại ngã ba Thiềng Liềng năm 1979 để cướp tiền cướp của nữa. Vụ này VC bán bãi xong, trở giọng lật lọng bắt khách ra đi đa số là Bắc di cư năm 1954 và giáo dân ở giáo xứ Tân Định, Bà Chiểu, trong đó có con của nhạc sĩ Lê Văn Thiện, hòa âm cho ban nhạc Shootgun của ca sĩ Thanh Thuý.

Thuyền Trưởng Tàu CSG-92″

https://baomai.blogspot.ca/…/csvn-anh-chim-tau-chi-mai-e-cu…

Sân bay Hàng không “Tân Sơn Nhất” ở Việt Nam được xếp vào hạng “Trộm Cắp Nhất” thế giới.

Đến thằng em Kampuchia cũng biết sắp hạng để tán dương thằng anh VN lên hàng đỉnh cao khốn nạn!!!
*****************

Sân bay Hàng không “Tân Sơn Nhất” ở Việt Nam được xếp vào hạng “Trộm Cắp Nhất” thế giới.

Sân bay Hàng không “Tân Sơn Nhất” ở Việt Nam bị liệt vào 10 sân bay tệ nhất tại Châu Á và là một sân bay “Tệ Nhất” và được xếp vào hạng “Trộm Cắp Nhất” thế giới.

Theo trang web Sleeping In Airport đã được công bố gần đây là Sân bay Hàng không “Tân Sơn Nhất” ở thành phố Prey Nokor, Lãnh thỗ Kampuchea Krom nay là tp Hồ Chi Minh, Miền Nam –