Công an mở cửa thách thức cả nước bạo động !!!

Image may contain: one or more people, people walking, people standing, crowd and outdoor

Van Pham

Giới lãnh đạo dư biết. Nhưng hàng ngũ Côn An cần phải biết: – Một khi người dân đã thấy trước sau gì cũng chết và chết đau đớn dưới tay CA, họ buộc phải phản ứng lúc còn đang sống…. và thành phần bị trừng phạt, trả thù trực tiếp chính là sinh mạng các anh và gia đình. Đừng hy sinh thân xác cho bọn lãnh đạo lợi dụng?!!!

***********

Công an mở cửa thách thức cả nước bạo động !!!
(Vũ Thạch)

Cách xóa bỏ trật tự xã hội nhanh nhất chính là khi những kẻ có trách nhiệm thực thi pháp luật cho phép họ công khai đạp lên pháp luật.

Thật vậy, kể từ ngày 17/6/2018 CA không còn dấu giếm gì nữa. Các “biện pháp nghiệp vụ”, tức những việc mà pháp luật cấm nhưng đảng cho phép, trước đây chỉ làm trong lén lút nay đã được buông xích cho xông ra công khai giữa ban ngày.

Tại vườn Tao Đàn, công an (CA) mặc luôn sắc phục chứ không chỉ thường phục, dựng lều gom dân lại đánh tập thể. Người bị chấn thương sọ não, người ho ra máu, người xỉu tại chỗ, người phải vào thẳng nhà thương … kể cả những thiếu nữ ở độ tuổi 20. Không chỉ các nam CA, cả nữ CA cũng tham gia gào hét tục tĩu và đánh đập dân một cách man rợ bằng nắm đấm, đế giày, dùi cui, mũ sắt, còng sắt, và bằng bất cứ vật gì cứng trong tầm tay. Họ thật sự trở thành một bầy thú hoang điên dại và biết chắc chắn họ đang phạm pháp 100%.

Với cánh cửa bạo hành mở toang cho CA cắn xé những người dân tay không như thế, trong tương lai người dân cũng sẽ chẳng còn lý do gì để tha mạng cho cả toán CSCĐ như đã thấy tại làng Đồng Tâm, tại Phan Rí. Chính CA đang bảo dân hành xử như thế là ngu dại. Mặt mũi những người dân nhân bản này sẽ bị họ nhớ và trả thù nguội.

Không chỉ tại Hà Nội và Sài Gòn, CA địa phương khắp nơi cũng được xả cổng bạo hành dân chúng. Hiện có khá nhiều trường hợp dân bị đánh thừa chết thiếu sống mà công luận không biết tới vì không đủ người hô hoán lên các mạng xã hội như trường hợp của Chánh Trị Sự Hứa Phi thuộc đạo Cao Đài, hay trường hợp của anh Đặng Văn Hải, một nhà hoạt động khuyết tật can đảm được hàng ngàn người mến mộ. Ông Hứa Phi đã cao tuổi ngã quị khi bị trùm bao đánh lén và đè ra “cắt râu”. Anh Đặng Văn Hải bị đánh gẫy xương nhiều chỗ trên thân thể và bị vết cắt sâu dài trên bàn tay và ngón tay. Khi tiến hành các “biện pháp nghiệp vụ” này, từng tên CA biết chắc chắn họ đang phạm pháp 100%.

Nếu CA địa phương, mặc thường phục tự do bạo hành, hoàn toàn xem pháp luật là số không, thì làm sao người dân còn có lý do gì để cản nhau trong ý định trùm bao đánh tỉa riêng từng tên CA, đặc biệt CA mặc thường phục, trên đường họ đi nhậu, đi chơi hàng ngày? Đây không phải là chuyện tưởng tượng. Hiện tượng dân “tự giải quyết công lý” đang phùng lên khắp nơi tại Trung Quốc, cả thành thị lẫn thôn quê, và đã bắt đầu xuất hiện đó đây tại VN.

Nghiêm trọng hơn nữa, khi bạo hành các nhà hoạt động không còn tạo đủ sợ hãi, CA nay tiến lên nấc mới – giữa đêm ném đá lớn, ném củi đang cháy, ném pháo đại cột thành chùm, ném đá gói trong vải tẩm xăng, …(chứ không chỉ sơn, nhớt, mắm tôm như trước đây) vào nơi ở của gia đình những người hoạt động, những người chống thuế chợ, những người phản đối cưỡng chế đất, … Trường hợp gần đây nhất được nhiều người biết đến là gia đình nhà hoạt động Đỗ Thị Minh Hạnh. CA còn phối hợp nhịp nhàng việc ném đá với cách cắt điện để tránh bị chụp hình. Rõ ràng họ biết đó là việc không chỉ phạm pháp 100% mà còn rất đáng xấu hổ.

Khi CA đã tới mức sẵn sàng cho cháy luôn cả nhà cửa, bao gồm cả các nhân mạng trong nhà, thì người dân nay không còn lý do để phân biệt những công an ác ôn và gia đình họ nữa. Các gia đình CA sống giữa xóm giềng mà ai cũng biết. CA không thể đêm nào cũng thức canh nhà mình. CA không thể bảo vệ mọi người thân hết ngày này sang tháng khác. Tại Trung Cộng, tình trạng CA ác ôn tệ hại tới mức có những người dân quá bức xúc cầm dao đến trường có con cái CA đang theo học để trả thù rồi tự sát. Thật đáng buồn, xã hội VN cũng đang tiến vào con đường này.

Nhưng có lẽ nguy hiểm nhất, và cũng dại dột nhất, là quyết định cấp súng ống cho CA phường, xã kể từ ngày 1/7/2018. Chắc chắn những vụ CA say xỉn với súng trong tay, CA “đòi ăn” với súng trong tay, CA đi đánh bài với súng trong tay, v.v. sẽ dẫn đến cả một cơn lũ án mạng mới. Và cũng chắc chắn không kém, một số lượng súng ống không nhỏ sẽ lọt sang tay côn đồ, xã hội đen và cả vào tay dân chúng qua hàng triệu ngõ ngách phường xã.

Giới lãnh đạo VN dư biết kinh nghiệm tại các nước cựu độc tài: Làn sóng phản đối ôn hòa thường chỉ trở thành ngọn sóng thần cuốn phăng cả chế độ khi những kẻ cầm quyền cho CA vượt qua lằn ranh Công Khai Giết Dân.

Giới lãnh đạo cũng dư biết: một khi người dân đã thấy trước sau gì cũng chết và chết đau đớn dưới tay CA, họ buộc phải phản ứng lúc còn đang sống.

Công khai Trung cộng đã lót ổ trong “Đặc khu” Vân Đồn

Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh.

Công khai thúc dục Quốc Hội thông qua Luật Đặc khu.

Đặc khu Vân Đồn là để đặc biệt phục vụ “nước láng giềng có chung đường biên giới với Việt Nam ở tỉnh Quảng Ninh”.

Một dự án hạ tầng Khu hợp tác kinh tế biên giới Móng Cái – Đông Hưng nhằm hướng đến mục tiêu xây dựng hạ tầng khu hợp tác biên giới để thu hút nhà đầu tư thứ cấp và thúc đẩy giao thương hàng hóa giữa TP Móng Cái và TP Đông Hưng với qui mô diện tích là 1.360 ha (thuộc phường Hải Hòa, TP Móng Cái). Thời gian triển khai dự án từ 2017 – 2020, trong đó giai đoạn 1 hoàn thành xây dựng 700 ha.

Dự kiến, tổng vốn đầu tư của dự án là 15.000 tỷ đồng, được đầu tư theo hình thức PPP với 100% vốn nhà đầu tư, trong đó chủ yếu là nhà đầu tư Trung Quốc.

VTC News đã công khai trên truyền thông quốc gia.

Chuyện bán nước chỉ còn chờ bấm nút rồi biện bạch đổ thừa cho cái đảng – quốc – hội cộng sản.

No automatic alt text available.

 

‘Bãi rác Đa Phước hôi do biến đổi khí hậu!’

TUOITRE.VN

Thế nào nói cũng được, đúng là nói như Vẹm.

CSVN biết được biến đổi khí hậu bằng lỗ mũi.

Thật buồn cười.

About this article

 

TUOITRE.VN
TTO – ‘Năm nay do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và các mùa nên sẽ có mùi hôi, đặc biệt là bãi rác Đa Phước’, Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường Nguyễn Toàn Thắng giải thích.

Sự lười biếng của một số người Việt.

Image may contain: one or more people and people sitting

Image may contain: one or more people
Image may contain: one or more people, people standing, sky, ocean, cloud, outdoor and nature

Kimtrong Lam to Lương Văn Can 75.

Sự lười biếng của một số người Việt.

By Tạp Chí Hoa Kỳ – 2 Tháng Bảy, 2018

Để bắt đầu vấn đề này thì chúng ta có thể đưa ra hai ví dụ nhỏ về sự lười biếng có tính chất đối nghịch nhau để mọi người cùng tham khảo.

Theo thống kê thì người Việt chúng ta đọc sách với tỷ lệ thấp nhất khu vực Đông Nam Á và châu Á. Ví dụ như người Việt chỉ đọc trung bình 0,7 đến 0,8 cuốn một năm (tức chưa tới 01 cuốn sách trong 365 ngày). Trong khi đó người Thái Lan đọc khoảng 06 cuốn một năm. Người Singapore đọc khoảng 10 cuốn một năm. Người Malaysia đọc khoảng 14 cuốn một năm và người Nhật đọc khoảng gần 20 cuốn một năm. Người Đức, người Israel vẫn là những quốc gia kỷ lục về số người yêu thích và giữ thói quen đọc sách trong một năm.

Theo thống kê về năng suất lao động năm 2017, thì Việt Nam cũng có năng suất lao động thấp nhất khu vực. Năng suất một người Việt làm việc chỉ bằng khoảng 80% so với một người Lào trong cùng tính chất, môi trường và điều kiện làm việc. Trong năm 2015, thống kê cho thấy một người Singapore có năng suất làm việc bằng gần 23 người Việt Nam, một người Malaysia bằng gần 6 người Việt Nam và một người Thái Lan gần bằng 3 người Việt Nam, một người Philippines và Indonesia cũng bằng 2 người Việt Nam.

Tôi dẫn thêm một dẫn chứng phụ, đó là lượng người dùng chất có cồn, cụ thể là rượu bia, thì Việt Nam là một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về tiêu thụ (uống) chất có cồn này. Quan trọng hơn nữa, ấy là việc nhiều người dùng rượu bia vào bữa trưa, cuối ngày, hoặc sáng sớm. Tức là thời gian dành cho việc sử dụng rượu bia là khá lớn và vào nhiều thời điểm trong ngày. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng lao động và làm việc trong giờ hành chính.

Như vậy, qua hai thống kê khá rõ ràng và cụ thể nêu trên đây, thì cũng thấy ngay được rằng, điều mà đọc giả quan sát được là khá chính xác so với hiện trạng hiện nay. Chúng ta mắc các bệnh lười khá phổ biển mà lại là lười ở những vấn đề quan trọng và quyết định nhất: lười tư duy (tích lũy, học hỏi tri thức) và lười lao động (năng suất thấp phần nhiều là do sự lười biếng đem lại, phần nữa là do sự lạc hậu của phương tiện, tư liệu sản xuất).

Việc lười đọc, lười lao động (thiếu tập trung) và việc uống rượu bia nhiều có liên quan gì hay không trong ba đại lượng nêu trên? Tôi thấy nó có một mối liên hệ khá chặt chẽ vào nhau ở đây, xin được diễn giải cụ thể như sau: một người mà lười đọc, lười học, thiếu thông tin, tri thức thì sẽ sinh ra lười tư duy hoặc tư duy trì trệ, từ đây họ sẽ lười lao động, không có động lực hoặc nếu có cũng khó có đủ chuyên môn, hiểu biết để làm việc. Và một người lười tư duy, lười đào bới kiến thức, và lười lao động thì sẽ dành thời gian vào những thú vui giải trí, tiêu khiển để giết thời gian hoặc thỏa mãn nhu cầu đơn giản của bản thân. Chắc chắn là, nếu một người chăm chỉ lao động và chăm chỉ học hỏi, chịu khó đọc sách, thì sẽ có ít thời gian rảnh rỗi để ngồi “túm năm tụm ba” hay “lê la hàng quán” như độc giả đã quan sát trực tiếp thấy được, không chỉ ở khu vực nông thôn mà ngay cả ở các đô thị, thành phố lớn, hiện đại cũng vậy.

Sự lười biếng này trở nên phổ biến trong xã hội, nhưng vì đâu mà tạo ra căn cớ và nông nỗi này?

Có thể đó là do chúng ta quen với tâm lý cho rằng chúng ta cần được nghỉ ngơi, cần được giải tỏa những nhu cầu giản đơn của con người sau những cuộc chiến dài và kể cả là sự bó buộc đến ngạt thở trong thời bình thời hậu thống nhất cũng như bị cấm vận. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận một thực tế là người dân chúng ta đa phần không có động lực (hay chính xác hơn là khát vọng) làm thay đổi đất nước bằng những bước phát triển vượt bậc. Ngược lại, người ta bình chân như vại, chuyện hôm nay chưa làm thì vẫn còn ngày mai, ngày mốt hay việc này hơi đâu mà lo hoặc đã có nhà nước lo cho rồi.

Cũng không thể không nói về nhận thức (nền tảng dân trí) của người dân chưa đủ cao để có thể đòi hỏi về một kiến trúc (xã hội) cao hơn về mặt mưu cầu, mà đa phần chỉ cần thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu về mặt sinh lý học của bản thân là đã an lòng. Đây là những nguyên nhân tạo nên sự lười biếng của con người, vì lẽ, lười biếng học hỏi và tư duy thì cũng lười biếng cả về hành động và làm việc. Lười biếng trau dồi chuyên môn (ít đọc) nên kỹ thuật, khoa học kém thì dẫn tới năng suất lao động thấp. Và thời gian rảnh rỗi còn lại là để sử dụng vào những mục đích cá nhân như uống rượu bia, tìm cách lê la tụ họp để giết thời gian. Hơn nữa, với một lực lượng nhân lực trình độ yếu kém và rời rạc, thiếu động lực làm việc và sáng tạo như vậy thì cũng sẽ không thể thúc đẩy sự vận động liên tục theo hướng phát triển đi lên, mà sẽ là sự trì trệ vì tâm lý muốn được an nhàn và thụ hưởng thành quả trong sự thiếu đòi hỏi chất lượng và ở một mức độ ngày càng phải cao hơn lên.

Chúng ta đang bàn đến một thực trạng đang là một thách thức lớn nhất của xã hội đang gặp phải. Vì lực lượng con người mà yếu kém thì chắc chắn những giá trị tạo nên từ những lực lượng ấy cũng sẽ rất thấp về mặt hữu ích cũng như mặt kiến tạo.

Nếu vậy thì chúng ta phải giải quyết những vấn đề này như thế nào?

Đây là một câu hỏi lớn vì là giải pháp mang tính vĩ mô, đặc biệt lại là cải biến con người. Tuy nhiên, nếu bắt tay vào thực hiện thì chúng ta có thể giải quyết được vấn nạn này.

Có chương trình khuyến đọc, khuyến học cho những đứa trẻ ngay từ nhỏ. Mỗi gia đình và ngôi trường đều cần có một thư viện sách và có giờ đọc sách để các em làm quen với việc đọc mà sau này sẽ trở thành một nét văn hóa của dân tộc. Sách thì cần được duy trì các đầu sách nhiều hàm lượng về kiến thức, dễ đọc, dễ hiểu và có cái nhìn đa chiều, khách quan. Mỗi cha mẹ cũng đều phải tự học hỏi, đọc và hướng dẫn con cái chăm chỉ đọc sách và cùng đọc sách với chúng.

Mở các cuộc hội thảo công khai để mọi người dân đều có thể tiếp cận trao đổi, học hỏi và tranh luận dễ dàng, minh bạch và không hạn chế mọi vấn đề quốc gia, xã hội.

Đưa khoa học và thực nghiệm vào giải quyết vấn đề năng lực sản xuất giản đơn (thủ công, thô sơ). Ở đây bàn về vấn đề gốc là ngay trong trường học đã cần xây dựng được một hệ thống đào tạo có những phương pháp thực nghiệm bằng các ứng dụng công nghệ, khoa học tân tiến. Thứ nữa là phải đầu tư công nghệ hiện đại trực tiếp vào các ngành sản xuất mà là thế mạnh của chúng ta như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp. Điều này là ưu tiên vì chúng ta vẫn đặt nền kinh tế chủ đạo về các lĩnh vực này. Các quốc gia như Israel hay Nhật Bản đều là những nước nghèo tài nguyên nhưng có thể tạo dựng nên một nền nông nghiệp phát triển trên nền tảng công nghệ tiên tiến khiến thế giới phải kinh ngạc.

Đó là đánh thuế cao các mặt hàng rượu bia, chất có cồn và thuốc lá vì chúng là những hàng hóa đặc biệt (thường có tính chất nguy hại cho con người, từ thể chất cho đến tinh thần).

Thưa bạn đọc, ở trên đây tôi có thể đưa ra một vài giải pháp mang tính đơn lẻ và cụ thể. Tuy nhiên, để giải quyết vấn đề phức tạp có tính lịch sử này lại là một vấn đề lớn hơn rất nhiều mà cần phải nhiều cuộc trao đổi chuyên sâu, rộng rãi hơn nữa mới mong có thể tìm kiếm được những giải pháp tích cực cũng như hữu ích nhất.

Rất mong nhận được những chia sẻ từ mọi người quan tâm trong xã hội về vấn đề trọng đại nêu trên nhiều hơn nữa.

Theo Trí Thức VN

NGƯỜI PHỤ NỮ RẤT CAN ĐẢM!

Image may contain: 1 person, smiling, text
Le Anh is with Minh Hanh Do Maria.

TRÒ KHỦNG BỐ KHÔNG ĐE DỌA ĐƯỢC NỮ CỰU TÙ NHAN CHÍNH TRỊ ĐỖ THỊ MINH HẠNH.

Sau những ngày qua, Cựu tù nhân chính trị bị côn đồ (công an giấu mặt?) “khủng bố” bằng bom xăng và ném đá,..

Chị đã tuyên bố: ” Tôi sẽ không bao giờ đầu hàng, dù tôi phải chết”

NGƯỜI PHỤ NỮ RẤT CAN ĐẢM!

Mong mọi người hãy quan tâm, chia sẻ và ủng hộ chị.

https://www.rfa.org/…/nha0cuu-tu-chinh-tri-do-thi-minh-hanh…

Có tiền là mua được đất quốc phòng phi trường Tân Sơn Nhất

Có tiền là mua được đất quốc phòng phi trường Tân Sơn Nhất

Cổng dự án khu chung cư gia đình quân nhân sư đoàn không quân 370 trên đường Tân Sơn, phường 15, quận Tân Bình, Sài Gòn. Hình chụp ngày 30 Tháng Sáu. (Hình: Tuổi Trẻ)

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Đất quốc phòng khu vực phi trường Tân Sơn Nhất do các đơn vị phòng không-không quân quản lý, nhưng lại mua bán rất dễ dàng.

Theo báo Tuổi Trẻ, dự án khu dân cư gia đình quân nhân sư đoàn 370 có đến bốn khu vực có đất nền khác nhau và dự án chung cư cao tầng nhìn ra sân golf Tân Sơn Nhất.

Có mẩu quảng cáo đưa cả bản đồ sân bay, đường băng, sân golf và vị trí chính xác của khu chung cư này nằm ngay bên cạnh cổng sân golf Tân Sơn Nhất để khách dễ hình dung.

Theo sự chỉ dẫn và giới thiệu của những người môi giới, các lô đất thuộc dự án này nằm dọc đường Tân Sơn (phường 15, quận Tân Bình) và thuộc hai bên đường vào cổng sân golf Tân Sơn Nhất.

Dự án không có thông tin chính xác chủ đầu tư dự án, chỉ ghi chung chung là “Bộ Quốc Phòng.” Tuy nhiên, báo Tuổi Trẻ tìm được người của chủ đầu tư dự án tên là Sơn (công ty cổ phần đầu tư CTK).

Ông Sơn cho biết “dù dự án chưa xong thủ tục pháp lý nên chưa mở bán căn hộ nhưng sơ đồ căn hộ đã có, nền móng các tòa nhà đã đổ xong, nếu muốn mua thì chọn vị trí căn hộ sớm, dự án có giấy phép là xây dựng rất nhanh.”

Sơ đồ vị trí dự án khu chung cư gia đình quân nhân sát sân golf Tân Sơn Nhất được rao bán. (Hình: Tuổi Trẻ)

Sau đó, ông Sơn cho xem thửa đất rộng đầy cỏ dại sát đó là căn hộ mẫu gần cổng sân golf Tân Sơn Nhất. Để vào được khu này, phải đi qua cổng bảo vệ có người của quân đội canh gác.

Ngoài dự án nhà ở cao tầng, ở đây còn có dự án đất nền biệt thự và nhà liền kề song lập có sân vườn và nhà biệt thự song lập.

Theo ông Sơn, khu đất nền hầu như đã có chủ, nếu muốn mua phải chuyển nhượng lại với giá rất cao so với giá gốc.

Bà H. – người sở hữu vài lô đất nền dự án này – ban đầu chối, nhưng sau khi phóng viên nêu tên người giới thiệu thì bà nói sẵn sàng nhượng lại bớt một căn hoặc một nền biệt thự cũng thuộc dự án này.

Theo bà H., trong hợp đồng hợp tác đầu tư có điều khoản quy định việc góp vốn đầu tư là thông tin mật, không được tiết lộ.

Bà cũng không trực tiếp gặp để thương lượng. Nếu thỏa thuận được giá thì bà sẽ giới thiệu người mua đến gặp chủ đầu tư ký hợp đồng hợp tác đầu tư mới. Số tiền chênh lệch so với giá gốc thì bà hưởng.

Ông T. – người sở hữu ba nền nhà trong dự án này – nói: “Nếu bạn muốn mua thì tôi sẽ thanh lý hợp đồng với chủ đầu tư, đồng thời sẽ đề nghị chủ đầu tư ký hợp đồng trực tiếp với bạn. Thửa đất nhỏ nhất này có diện tích 80 mét vuông. Bạn phải nộp ngay 50% cho chủ đầu tư khi ký hợp đồng. 50% còn lại sẽ trả tiếp trong hai đợt. Ngoài ra, phải trả thêm cho tôi tiền chênh lệch.” (TS) 

Đại nạn Trung Hoa: Giải giới hay trục lợi

Đại nạn Trung Hoa: Giải giới hay trục lợi

Trần Gia Phụng

Sau khi thế chiến thứ hai (1939-1945) kết thúc ở Âu Châu, và trước khi kết thúc ở Á châu, tam cường Anh, Hoa Kỳ, Liên Xô họp thượng đỉnh tại Potsdam, ngoại ô Berlin (Đức) từ ngày 17-7 đến 2-8-1945. Pháp không được kể là nước thắng trận nên không dự họp.

Tại đây, Anh và Hoa Kỳ cùng Trung Hoa (Quốc Dân Đảng) ký bản tuyên bố ngày 26-7-1945 (xem như tối hậu thư) gởi cho Nhật Bản, buộc quân đội Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện và buộc Nhật Bản phải chấp nhận những điều kiện do Đồng minh đưa ra. Lúc đó Trung Hoa không dự họp hội nghị Potsdam, nhưng đồng ý ký vào tối hậu thư qua đài phát thanh. Riêng về Đông Dương, tối hậu thư Potsdam giao việc giải giới quân đội Nhật Bản ở bắc vĩ tuyến 16 cho quân đội Trung Hoa (Quốc Dân Đảng), và nam vĩ tuyến 16 cho quân đội Anh. Liên Xô chưa tuyên chiến với Nhật Bản, không có tên trong tối hậu thư vì Liên Xô đã ký hòa ước bất tương xâm với Nhật Bản từ ngày 13-4-1941.

Nhật Bản không chấp nhận đầu hàng theo tối hậu thư Potsdam. Ngày 6-8-1945, Hoa Kỳ thả quả bom nguyên tử đầu tiên, có tên lóng là “Little Boy”, xuống thành phố Hiroshima (Nhật Bản), giết chết khoảng 130,000 người. Biết chắc chắn Nhật Bản sẽ đầu hàng, Liên Xô liền xé bỏ hòa ước bất tương xâm với Nhật Bản, quyết định tuyên chiến với Nhật Bản vào lúc 5 giờ chiều ngày 8-8-1945. Sáng sớm hôm sau (9-8-1945), Liên Xô tràn quân qua chiếm Mãn Châu và vùng đông bắc Trung Hoa do Nhật Bản chiếm đóng, chỉ vài giờ trước khi Hoa Kỳ dội thêm quả bom nguyên tử thứ hai, có tên lóng là “Fat Man”, xuống thành phố Nagasaki, giết chết khoảng 75,000 người.

Ngày 14-8-1945, Nhật hoàng Hiri-Hito (trị vì 1926-1989) tuyên bố đầu hàng Đồng minh. Thế là thế chiến thứ hai chấm dứt ở Á châu và cũng chấm dứt luôn ở trên thế giới. Các nước Trung Hoa và Anh bắt đầu thực hiện việc giải giới quân đội Nhật tại Đông Dương theo tối hậu thư Potsdam.

1.-  QUÂN TRUNG HOA VÀO VIỆT NAM

Tại Trung Hoa, tướng Hà Ứng Khâm (Ho Ying-chin), tổng tư lệnh quân đội Trung Hoa hứa hẹn với trung tướng Marcel Alessandri, chi huy trưởng quân Pháp ở Vân Nam, sẽ đưa quân Pháp đi theo, khi quân Trung Hoa tiến vào Bắc Kỳ để giải giới quân Nhật.

Được tin Nhật đầu hàng (14-8-1945), tướng Marcel Alessandri đang ở Côn Minh (Kunming), thủ phủ tỉnh Vân Nam, tìm cách gặp tướng Lư Hán (Lu Han), tổng đốc kiêm chỉ huy trưởng quân đội tỉnh Vân Nam, người sẽ phụ trách dẫn quân Trung Hoa qua Việt Nam để giải giới quân đội Nhật. Lư Hán là một kẻ nghiện thuốc phiện. Marcel Medrano (cựu sĩ quan Pháp ở Đông Dương, Histoire de l’Indochine française durant la seconde guerre mondiale (1939-1945), chương “Le retour des français en Indochine”, mục 2 “Le problème du Nord”. Internet). Vốn ghét Marcel Alessandri, nên Lư Hán tránh mặt.

Khi dẫn quân ra đi ngày 28-8-1945, Lư Hán không báo tin cho tướng Alessandri biết. (Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, Editions Du Seuil, Paris 1952, tr. 151, chú thích số 4.) Số quân Trung Hoa (Quốc Dân Đảng) do Lư Hán đưa vào Việt Nam lên đến khoảng 200,000 người, không có người Pháp đi theo. (Stanley Karnow, Vietnam a History, New York: The Viking Press, 1983, tr. 15.) Trong bộ chỉ huy của tướng Lư Hán, còn có tướng Tiêu Văn (Siao Wen), làm uỷ viên chính trị.

Lúc đó, mặt trận Việt Minh, thuộc đảng Cộng Sản Dông Dương do Hồ Chí Minh lãnh đạo, đã cướp được chính quyền và gấp rút thành lập nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ngày 2-9-1945, nhằm tạo một cơ cấu chính trị có sẵn, trước khi quân nước ngoài vào Việt Nam.

Ngày 14-9-1945, Lư Hán cùng bộ tham mưu đến Hà Nội, đóng bản doanh ở phủ toàn quyền Pháp cũ, không đếm xỉa gì đến sự có mặt của nhà nước VNDCCH. Trong cuộc họp báo ngày 15-9, Lư Hán tuyên bố rằng, khoảng 200.000 quân Trung Hoa vào Việt Nam, và chỉ lo việc giải giới quân đội Nhật, không dính líu vào chuyện nội bộ Việt Nam. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A, Houston: Nxb. Văn Hóa: 1996, tr. 264.)

Sau đó, ngày 19-9-1945, tướng Marcel Alessandri cùng cố vấn chính trị là Léon Pignon, được thiếu tướng Mỹ là Philip Gallagher, cố vấn của Lư Hán, giúp máy bay đến Hà Nội. Archimedes Patti, thiếu tá tình báo Hoa Kỳ, trưởng toán O.S.S. 202, cũng đến Hà Nội ngày 22-8-1945.

Ngày hôm sau, một người Liên Xô là Stephane Solosieff liên lạc ngay với Patti. Theo Patti, Solosieff có thể vừa là nhân viên ngoại giao, vừa là nhân viên tình báo của Liên Xô, được cử đến Hà Nội để theo dõi tình hình. (Archimedes L. A. Patti, Why Viet Nam? California: University of California Press, Berkely, 1980, tt. 360-361.)

Lễ đầu hàng và giải giới quân đội Nhật Bản tại Việt Nam ở phía bắc vĩ tuyến 16 chính thức được tổ chức ngày 28-9-1945 ở Hà Nội tại phủ toàn quyền Pháp cũ, dưới sự chủ trì của Lư Hán và đại diện Đồng minh. Trong phòng hành lễ treo bốn lá cờ Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Hoa và Anh Quốc. Không có cờ Pháp, vì Pháp không được kể là nước thắng trận, dầu trung tướng Marcel Alessandri, đại diện Pháp ở miền Bắc, được mời tham dự.

Tại Hà Nội không có phái bộ ngoại giao của Liên Xô. Phái đoàn Ba Lan (Poland) thay mặt cho Liên Xô trong những liên lạc ngoại giao với VNDCCH. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nxb. Xuân Thu, 1990, tr. 233.) Trong buổi lễ quân Nhật Bản đầu hàng, ngoài đại diện các nước Đồng minh, còn có sự hiện diện của Stephane Solosieff, đại diện Liên Xô. Lúc đó, không ai được biết Solosieff liên lạc như thế nào với Hồ Chí Minh. Thiếu tá tình báo Hoa Kỳ Archimedes Patti cho biết, Solosieff đang kiếm cách rời Hà Nội, và đưa những nhân viên Liên Xô trong mặt trận Việt Minh rời Hà Nội hoặc rời Đông Dương trước khi lực lượng Anh và Trung Hoa đến. Cũng theo A. Patti, có một toán cộng sản, gồm người Nga, Đức, Bỉ, Hung, trong đạo quân Lê-dương của Pháp, đã từng cộng tác với Việt Minh trước khi Việt Minh chiếm được chính quyền. (Archimedes L. A. Patti, sđd. tt. 178-181.)

Quân Trung Hoa vào Việt Nam gồm có bốn sư đoàn, trong đó hai sư đoàn Vân Nam và hai sư đoàn Quảng Tây. Hai sư đoàn Vân Nam do Lư Hán trực tiếp chỉ huy, gồm sư đoàn 93 do tướng Lư Cổ Truyền dẫn đầu, vào ngã Lào Cai, theo thung lũng sông Hồng đến Hà Nội và sư đoàn 60 do tướng Vạn Bảo Bang chỉ huy, tiến vào miền trung Việt Nam qua hai hải cảng Vinh và Đà Nẵng. Hai sư đoàn Quảng Tây là sư đoàn 62 do tướng Hoàng Đào lãnh đạo, vào đường Cao Bằng – Lạng Sơn, xuống thẳng Hà Nội và sư đoàn 52 do tướng Triệu Công Vũ phụ trách tiến đến Hải Phòng. Đoàn quân Trung Hoa là những toán quân ô hợp, ăn bận lôi thôi, kèm theo đoàn tùy tùng là phu khuân vác, đàn bà, trẻ em, vừa đói rách, bệnh tật, vừa vô kỷ luật, gây ra nhiều vụ cướp phá khắp nơi.

Ngày 2-10-1945, tướng Hà Ứng Khâm, tổng tư lệnh quân đội Trung Hoa, tới Hà Nội thanh tra. Cùng đi với Hà Ứng Khâm có trung tướng Hoa Kỳ là Robert McLure. Tướng Hà Ứng Khâm tuyên bố rằng Trung Hoa không có tham vọng đất đai ở Việt Nam, mà chỉ đến giúp Việt Nam thực hiện dần dần nền độc lập theo kế hoạch của các cường quốc Đồng minh. Hà Ứng Khâm còn tiếp rằng không một chiến thuyền nào của Pháp được đến Đông Dương, mà không có sự ưng thuận của Đồng minh, đặc biệt vùng đất do quân đội Trung Hoa kiểm soát. (Philippe Devillers, sđd. tr. 193.)

Khi vào Việt Nam, quân Trung Hoa dùng tiền Trung Hoa gọi là quan kim và quốc tệ, đổi lấy tiền Đông Dương để sử dụng. Càng về sau, hai loại tiền nầy càng mất giá. Lư Hán đòi Ngân Hàng Đông Dương (NHĐD) phải giao cho quân đội Trung Hoa 300 triệu đồng để chi tiêu, nhưng cho đến ngày 26-9-1945, NHĐD chỉ trao từ từ đến 45 triệu mà thôi. (Chính Đạo, sđd. tr. 270.)

Nhà cầm quyền Việt Minh phải nhiều lần lên tiếng trên báo chí để khuyên dân chúng đừng gây gổ, chống đối quân đội Trung Hoa. Việt Minh còn ca tụng quân Trung Hoa vào Việt Nam với thiện chí giúp đỡ Việt Nam, giải giới quân đội Nhật. Điều làm cho Hồ Chí Minh và Việt Minh lo ngại nhứt, là khi vào Việt Nam, quân Trung Hoa đưa luôn cả những lãnh tụ chính trị các đảng phái Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc ở Trung Hoa trở về Việt Nam, bởi vì các tướng lãnh Trung Hoa ở Vân Nam cũng như Quảng Tây đều quen biết các lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, như Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần …

Hồ Chí Minh và Việt Minh rất lúng túng. Lúc đó, Việt Minh phải đối phó với ba thế lực cùng một lúc: quân đội Trung Hoa, các đảng phái Việt Nam đối lập với Việt Minh cộng sản, và người Pháp đang trở lui Việt Nam. Việt Minh tìm cách đối phó riêng lẽ ba thế lực trên bằng những biện pháp khác nhau.

Đối với quân đội Trung Hoa, Việt Minh theo phương pháp cổ điển là hối lộ cho các tướng lãnh Trung Hoa. Vào cuối tháng 9-1945, có nguồn tin cho rằng Việt Minh đã hối lộ cho tướng Tiêu Văn và tướng Lư Hán, mỗi người một bộ đồ nghề hút thuốc phiện (bàn đèn) bằng vàng ròng. (Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, Sài Gòn: 1965, California: Nxb Xuân Thu tái bản, không đề năm, tr. 14.)

2.- QUÂN TRUNG HOA TRỤC LỢI VÀ RÚT LUI

Tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945 giao cho quân đội Trung Hoa giải giới quân đội Nhật Bản ở phía bắc vĩ tuyến 16. Vì vậy, muốn tái chiếm Bắc Kỳ, Pháp phải thương lượng thẳng với Trung Hoa.

Về phía Trung Hoa, thi hành tối hậu thư Potsdam, Trung Hoa đưa khoảng 200.000 quân vào Bắc kỳ để giải giới quân Nhật, chỉ nhắm mục đích trục lợi, chứ Trung Hoa cũng chẳng muốn đóng quân lâu ngày ở Việt Nam. Trung Hoa sẵn sàng thương lượng với Pháp để giao Việt Nam lại cho Pháp, vì các lý do riêng của Trung Hoa:

1) Thứ nhứt, về kinh tế, Trung Hoa muốn Pháp trả lại cho Trung Hoa đất đai mà Pháp đã chiếm của Trung Hoa trước đây, quyền kiểm soát các thiết lộ trên đất Trung Hoa.

2) Thứ hai, về chính trị và ngoại giao, Trung Hoa muốn chứng tỏ Trung Hoa tôn trọng chủ quyền Pháp đối với thuộc địa cũ của Pháp là Đông Dương, để yêu cầu Liên Xô tôn trọng chủ quyền của Trung Hoa đối với Mãn Châu và trả Mãn Châu lại cho Trung Hoa.

3) Thứ ba, về quân sự, Tưởng Giới Thạch muốn dùng hai hải cảng Hải Phòng và Hòn Gai để đưa sư đoàn 60 do tướng Vạn Bảo Bang chỉ huy, từ tỉnh Vân Nam đi Mãn Châu, để đối phó tình hình ở vùng nầy. (Stein Tonnesson, “La paix imposée par la Chine: l’accord Franco-vietnamien du 6 mars 1946”, Les Cahiers de l’Institut D’Histoire Du Temps Présent, Paris: Charles-Robert Ageron và Philippe Devillers chủ biên, số 34, tháng 6-1996, tt. 47-48.)

Tuy dự tính rút quân, nhưng Trung Hoa biết Pháp nôn nóng tái chiếm Bắc Kỳ, nên Trung Hoa gây khó khăn cho Pháp để làm giá thương lượng. Vấn đề chính là Lư Hán yêu cầu cung cấp tài chánh và thực phẩm cho quân đội Trung Hoa. Tướng Trung Hoa là Ma Chang Yang vào Sài Gòn ngày 12-11-1945, đòi Pháp phải cung cấp cho quân Trung Hoa mỗi tháng 5.000 tấn gạo. Cao uỷ Pháp tại Đông Dương, đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu, đồng ý với điều kiện Trung Hoa rút lui khỏi Lào trước ngày 1-1-1946.

Dầu Việt Minh chiếm được chính quyền, nhưng Đông Dương Ngân Hàng của người Pháp ở Hà Nội cũng như ở Sài Gòn do quân Nhật bảo vệ, nên Việt Minh không chiếm được hai ngân hàng nầy. (Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập I: 1945-1954, Nxb. Khoa Học Xã hội, 2002, tr. 121 và tr. 153.) Khi giải giới quân đội Nhật, quân Trung Hoa thay quân Nhật bảo vệ Đông Dương Ngân Hàng (Chính Đạo, sđd. tr. 28).

Tướng Lư Hán tăng dần các đòi hỏi về tài chánh. Ngày 14-11-1945, Lư Hán buộc Đông Dương Ngân hàng phải xuất 600.000 đồng Đông Dương để đổi tiền quan kim cho quân Trung Hoa, mỗi người được đổi 50 quan kim. Ngoài ra, mỗi tháng Đông Dương Ngân Hàng phải ứng cho quân đội Trung Hoa 110 triệu đồng tiền quân phí, trừ vào tiền bồi thường chiến tranh của Nhật. Ngày 20-11, Lư Hán lập lại tối hậu thư trên đây.

Sau khi tham khảo ý kiến của Jean Sainteny, đại diện Pháp ở Bắc Kỳ, ngày 25-11 đô đốc D’Argenlieu từ chối đòi hỏi của Trung Hoa, thì ngày 29-11-1945, quân đội Trung Hoa bắt giam viên giám đốc chi nhánh Đông Dương Ngân Hàng ở Hà Nội. Cuối cùng, bộ tư lệnh Trung Hoa và Pháp đạt thỏa thuận về vấn đề cung cấp tài chánh cho quân đội Trung Hoa ở Đông Dương ngày 4-12-1945. (Chính Đạo, sđd. tt. 289-291).

Tại Trung Hoa, Pháp đẩy mạnh cuộc thương lượng với chính phủ Trung Hoa từ gần cuối năm 1945. Đầu năm 1946, thiếu tướng Raoul Salan (Pháp), tư lệnh lực lượng Pháp tại Trung Hoa và Bắc Kỳ, đồng thời đại diện Pháp bên cạnh bộ Tư lệnh Trung Hoa từ 1-11-1945, đến Trùng Khánh để thảo luận về việc quân Pháp thay thế quân Trung Hoa ở bắc vĩ tuyến 16. Cuộc thảo luận bắt đầu từ 8-1-1946. Để tỏ thiện chí, ngày 16-1-1946, Trung Hoa đồng ý cho Pháp tiến quân vào đất Lào (Laos).

Cuộc thương thuyết Pháp-Hoa bế tắc một thời gian. Đến ngày 15-2-1946, hội nghị được khai thông. Ảnh hưởng đầu tiên là tướng Tiêu Văn, uỷ viên chính trị của đoàn quân viễn chinh do Lư Hán cầm đầu, bị triệu hồi về nước ngày 23-2-1946. Tiêu Văn là người quen biết các lãnh tụ Việt Cách cũng như VNQDĐ từ khi còn ở Trung Hoa và thường bênh vực hai nhóm chính trị nầy. (Đoàn Thêm, sđd. tr. 19).

Ngày 28-2-1946 tại Trùng Khánh, ngoại trưởng Trung Hoa là Vương Thế Kiệt (Wang Shih-chiek) và đại sứ Pháp tại Trung Hoa là Jacques Meyrier ký kết hiệp ước Trùng Khánh (Pháp-Hoa) về việc quân Pháp thay thế quân Trung Hoa ở phía bắc vĩ tuyến 16 tại Đông Dương, theo đó Trung Hoa chịu rút quân ra khỏi Việt Nam từ ngày 1 đến 15-3, và chậm nhứt là ngày 31-3-1946.  Ngược lại, Pháp trả về cho Trung Hoa các tô giới Pháp ở Thượng Hải, Hán Khẩu, Quảng Đông, Quảng Châu Loan, bán cho Trung Hoa thiết lộ Vân Nam, sửa đổi quy chế người Hoa ở Đông Dương, miễn thuế người Hoa ở Hải Phòng, và người Hoa chuyên chở hàng hóa ngang qua Bắc kỳ sẽ khỏi phải chịu thuế. (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, tái bản kỳ 2, Sài Gòn 1970, tr. 300. Xem thêm: David G. Marr, Vietnam 1945, the Quest for Power, University of California Press, 1995, tr. 544.)

Trong khi đang còn thương lượng với Trung Hoa, ngày 20-2-1946, Ủy ban Liên bộ về Đông Dương của chính phủ Pháp đã thông qua tại Paris, với sự hiện diện của đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu (cao ủy Pháp tại Đông Dương), kế hoạch hành quân Bentré để tái chiếm Bắc Kỳ, do trung tá Jean Lecomte, trưởng Phòng 3 bộ Tham mưu của tướng Leclerc soạn. Kế hoạch nầy nhắm mục đích đưa quân Pháp thay thế quân Trung Hoa ở Bắc kỳ trong tháng 3-1946, trước khi mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 ở đất Bắc và nhứt là trước khi nhà cầm quyền Việt Minh được củng cố.

Thi hành kế hoạch nầy, ngày 27-2-1946, Pháp dùng 35 chiến hạm, chuyên chở từ trong Nam ra Hải Phòng 21,000 quân của sư đoàn 9 bộ binh thuộc địa Pháp (9è Division d’infanterie colonial) [DIC] do trung tướng Jean Valluy chỉ huy, và binh đoàn số 2 (groupement de la 2è Demi-brigade) do đại tá Jacques Émile Massu chỉ huy. (Stein Tonnesson, bài đã dẫn, sđd. tt. 36-38.)

Vào chiều ngày 5-3-1946, chiến hạm Pháp xuất hiện ở ngoài khơi Hải Phòng. Sáng sớm hôm sau, ngày 6-3-1946, đoàn quân Pháp đổ bộ xuống Hải Phòng. Vì chưa được lệnh cấp trên, quân Trung Hoa kháng cự mạnh mẽ, gây thiệt hại nặng cho Pháp: chết 34 người, bị thương 93 người, Valluy cũng bị thương nhẹ. (Chính Đạo, sđd. tr. 316.) Đến trưa, hai bên mới thỏa thuận được với nhau. Cuối cùng, quân Pháp chính thức đổ bộ Hải Phòng với sự đồng ý của người Trung Hoa ngày 8-3-1946.

Từ đây, Trung Hoa dần dần rút quân về nước. Ngày 13-3-1946, đại diện Pháp và Trung Hoa ký kết quy ước quân sự tại Trùng Khánh, theo đó, Trung Hoa chính thức thỏa thuận cho quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa ở Bắc Kỳ.

Lịch trình quân Trung Hoa rút lui và giao lại cho Pháp ở các tỉnh như sau: Đà Nẵng (Tourane), Đông Hà (Quảng Trị) (26-3), Huế (27-3), Đồng Hới (28-3), Thanh Hóa (29-3), Ninh Hòa (30-3), Thái Bình, Nam Định (31-3). (Chính Đạo, sđd. tr. 324.) Sau khi rút, quân Trung Hoa tập trung ở các thành phố Huế, Vinh, Thanh Hóa, và Nam Định để được đưa về nước. Quân Pháp lần lượt đến trú đóng ở những nơi quân Trung Hoa rút đi.

KẾT LUẬN

Trong thế chiến thứ hai, Trung Hoa chẳng có công gì đối với Việt Nam và cũng chẳng có công gì trong việc giúp Đồng minh chiến thắng Nhật Bản. Bản thân quân đội Trung Hoa không đủ sức bảo vệ đất nước Trung Hoa, để cho Nhật Bản xâm lăng và chiếm đóng nhiều nơi. Do hai quả bom nguyên tử của Hoa Kỳ thả xuống Hiroshima ngày 6-8-1945 và Nagasaki ngày 9-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng ngày 14-8-1945, nên Nhật Bản đành phải rút quân về nước. Trung Hoa mới thoát khỏi bị Nhật Bản chiếm đóng.

Theo tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945, Anh và Hoa Kỳ giao cho Trung Hoa giải giới quân đội Nhật Bản ở phía bắc vĩ tuyến 16 chẳng qua là một giải pháp trung chuyển để Pháp thương lượng với Trung Hoa mà trở lui Việt Nam, vì không thể trực tiếp giao Bắc Việt Nam cho Pháp. Thế là Trung Hoa lợi dụng thời cơ, nuôi béo các đạo quân đói rách bệnh tật ở Vân Nam và Lưỡng Quảng. Pháp muốn tái chiếm Bắc Kỳ đành nhượng bộ và trả lại cho Trung Hoa những quyền lợi kinh tế mà Pháp đã sở hữu trên đất Trung Hoa từ thời Nha phiến chiến tranh (1840).

Cho đến đây, đại nạn Trung Hoa đối với Việt Nam vẫn chưa chấm dứt, nhất là một khi lãnh tụ cộng sản là Hồ Chí Minh sang cầu viện Trung Cộng sau khi Mao Trạch Đông chiếm được lục địa Trung Hoa và thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tức Trung Cộng ngày 1-10-1949.

Về phía nhà nước VNDCCH, vì quá yếu kém, đành lép về chịu đựng những hoành hành của ngoại bang. Lúc đó, đảng Cộng Sản Đông Dương và Việt Minh bị lãnh tụ Liên Xô là Stalin nghi ngờ vì đã từng hợp tác với cơ quan tình báo Hoa Kỳ là O.S.S. (Office of Strategic Services) và Liên Xô chưa có quyền lợi gì ở viễn đông xa xôi, nên Liên Xô cũng chưa giúp đỡ gì cho viên gián điệp Hồ Chí Minh, đã từng được Moscow đào tạo.

NGU MÀ THÍCH THỂ HIỆN.

Image may contain: 1 person, smiling, sunglasses and text

Ngô Trường An is with Trang Dang.

NGU MÀ THÍCH THỂ HIỆN.

Để anh nói cho bọn bò đỏ biết về chế độ VNCH mà đảng và bác Hồ của các em có nằm mơ cũng không bao giờ làm được đâu nè:
– Thứ nhất: Lương 1 công chức của VNCH dư sức nuôi sống gia đình (cả chục người) nè.
– Thứ 2: Học sinh trường công lập từ lớp vở lòng đến hết tú tài toàn phần, chẳng tốn một xu học phí nào, nè.
– Thứ 3: Bệnh viện công chẳng thu 1 cắc viện phí nào của người bệnh. Nếu bệnh nhân không có người nuôi, bệnh viện cử người phục vụ giặt giũ và cơm nước tử tế, nè.
– Thứ 4: Chính phủ xây viện dưỡng lão cho người già, xây viện cô nhi cho trẻ mồ côi. Tất cả đều được chăm sóc y tế định kỳ và có người phụng dưỡng luôn nè.
– Thứ 5: Chính phủ mở quán cơm xã hội phục vụ hoàn toàn miễn phí cho người vô gia cư, người lỡ độ đường ăn thoải mái nè.
– Thứ 6: Chính phủ bỏ tiền ra mua lại đất của các phú ông, điền chủ để cấp lại cho những người không có đất canh tác hoặc những người mới định cư ( luật người cày có ruộng) đây nè.
– Thứ 7: Người dân được quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do biểu tình, kể cả tự do chửi chính phủ luôn nè.
– Thứ 8: Người dân được quyền ra ứng cử hoặc được quyền đề cử người mình tín nhiệm. Và chính người dân chọn người lãnh đạo thông qua lá phiếu dưới sự giám sát chặt chẽ của các tổ chức quốc tế. Phải không nè!
Chỉ sơ sơ 8 điều trên, chế độ VNCH đã thực hiện từ nửa thế kỷ trước, trong hoàn cảnh đất nước bị chiến tranh, tang tóc. Còn hiện nay đất nước hòa bình và được sự viện trợ tối đa của toàn thế giới. Đảng và bác hồ của các em đã làm được như chính phủ VNCH chưa? Chúng em nói đi! Đảng đã làm được cái quần què gì cho dân tộc này?

Hãy nhớ rằng, nhờ đảng và bác Hồ nên Miền Bắc mới có chiêu ỉa ra rồi sử dụng lại. Món này có tên gọi là «phân bắc» chứ trong nam không có giống độc đó đâu! Biết phân bắc là gì chưa? Nó cũng giống như «hốt cứt mà ăn» vậy đấy!

Đã ngu còn cào bàn phím!