LOAN BÁO TIN MỪNG

LOAN BÁO TIN MỪNG

Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam ghi lại tên tuổi hai vị giáo sĩ truyền giáo nổi tiếng: Đức Cha Lambert de la Motte và Đức Cha Francois Pallu.  Vào thế kỷ 17, Toà Thánh đã đặt hai giám mục này làm Giám Quản Tông Toà đầu tiên ở Việt Nam: Đức Cha Lambert de la Motte phụ trách Đàng Trong (từ sông Gianh trở vào Nam) kiêm Camquchia, Lào, Thái Lan. Đức Cha Francois Pallu phụ trách Đàng Ngoài (từ sông Gianh trở ra Bắc) kiêm Trung Quốc.

 Đức Cha Francois Pallu là người pháp, từ bỏ gia đình và quê hương vào ngày 3.1.1662, ngài dùng tàu buồm vượt qua Địa Trung Hải rồi men theo đường bộ một thời gian lâu dài, qua hết các nước Trung Đông, Vịnh Ba Tư, Ấn Độ mới đến Thái Lan.  Năm 1670, trên đường đến miền Bắc Việt Nam, lúc đi ngang qua Huế, thuyền của ngài bị một cơn bão đánh giạt vào Philippin.  Ngài bị người Tây Ban Nha bắt bỏ tù rồi đem giải về Tây Ban Nha.  Với sự can thiệp của Toà Thánh, Tây Ban Nha trả tự do cho Đức Cha.  Tuy phải trải qua nhiều gian khổ, nhưng tim ngài vẫn luôn sáng chói một niềm hy vọng.  Ngài nói: “Tôi phải đem Tin Mừng đến tận Trung Quốc.”  Vừa được trả tự do, ngài tìm mọi cách đến Bắc Kinh, và cuối cùng thân xác ngài được chôn vùi tại đây theo như ngài mơ ước.  Một câu nói của ngài đáng cho chúng ta ghi nhớ: “Tôi tự cho mình hạnh phúc nếu có thể đem xương cốt mình bắc một nhịp cầu tới Bắc Việt và tới Trung Quốc!”

 *********************************

 Thưa anh chị em, cuộc đời truyền giáo của Đức Cha Francois Pallu tại đất nước ta cũng như biết bao nhà truyền giáo khác trên thế giới gắn liền với đời tông đồ và cái chết tử đạo của mười hai Tông Đồ.  Chính Chúa Giêsu tuyển chọn Nhóm Mười Hai để nhóm này ở lại bên Ngài và để được huấn luyện.  Mục tiêu của huấn luyện là để các ông trở nên những người được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa.  Ngay từ khi còn ở trần gian, Chúa Giêsu đã thấy mình đứng trước một cánh đồng mênh mông, có biết bao nhiêu người cần được nghe Tin Mừng cứu độ.  Ngài thấy mình cần những cộng tác viên nhiệt thành cho công cuộc truyền bá Tin Mừng.  Chúa Giêsu đã trao tất cả những gì mình có cho Nhóm Mười Hai: quyền rao giảng, chữa bệnh, trừ quỷ.  Hoạt động của các ông là một sự nối dài và mở rộng sứ vụ của mình Chúa Giêsu.

Chia tay Thầy Giêsu, Nhóm Mười Hai lên đường.  Đâu là hành trang của người tông đồ?  Chúa Giêsu trả lời: “Không được mang gì khi đi đường.”   Không bánh trái, không bao bì, không tiền bạc, không mặc hai áo.  Như thế, các ông lên đường với tất cả sự nhẹ nhàng.  Càng nhẹ nhàng thì càng dễ thi hành sứ mạng và càng được tự do hơn.  Tuy nhiên sự nhẹ nhàng này thật là một thách đố.  Khi người tông đồ phải lên đường với hai bàn tay trắng, không có lộ phí, không có lương thực dự trữ, lúc đó họ phải hoàn toàn lệ thuộc vào lòng nhân hậu của Thiên Chúa và lòng tốt của tha nhân.  Ra đi tay trắng như thế là chấp nhận mọi bất trắc có thể xẩy ra dọc đường, nhưng cũng là đặt mình thường xuyên dưới sự quan phòng của Chúa.  Chính Chúa lo mọi sự cho tôi, để tôi chuyên tâm lo việc của Chúa.  Sự an toàn của tôi không dựa vào những phương tiện trần thế, nhưng vào chính Thiên Chúa.

Chúa Giêsu cũng dạy cho các ông biết thái độ phải có khi đến với dân chúng.  Nếu được đón tiếp thì hãy ở lại, không tìm một nhà khác tiện nghi hơn.  Người tông đồ cần có đời sống nghèo, đón nhận những gì được trao cho mình với lòng biết ơn.  Nếu không được đón tiếp thì cũng không nên nản lòng.  Cử chỉ giũ chân ra đi cho thấy người tông đồ chẳng hề muốn lấy đi điều gì ở nơi đã từ chối đón tiếp mình.

Anh chị em thân mến, hôm nay, Chúa Giêsu Phục Sinh cũng sai chúng ta đến với thế giới.  Thế giới không phải là chuyện xa xôi.  Thế giới là nơi chúng ta đang sống, đang làm việc.  Thế giới là gia đình, bạn bè, là trường học, cơ quan, xí nghiệp.  Thế giới là nơi giải trí, nơi du lịch, bãi biển.  Thế giới là sách báo, phim ảnh, video, quảng cáo.  Thế giới là mọi ngành khoa học, nghệ thuật, văn chương.  Chúng ta ở trong thế giới và Chúa muốn sai chúng ta đi vào thế giới của mình trong tư cách là người Kitô hữu.  Kitô hữu là người có khả năng biến đổi thế giới mình đang sống để nó biến thành thế giới của Thiên Chúa.  Các Tông Đồ đã rao giảng, đã mời gọi con người hoán cải để đón nhận Nước Thiên Chúa gần bên.  Tất cả những gì phá huỷ phẩm giá con người, loại trừ sự sống của Thiên Chúa, đều phải bị loại trừ.  Kitô hữu là người phải hoán cải trước khi mời gọi người khác hoán cải, phải tỉnh thức trước khi đánh thức người khác, phải thuộc về Chúa trước khi trừ quỷ.

Thế giới hôm nay cũng là một thế giới bị thương tích, cần được chữa lành.  Bệnh tật của thân xác và bệnh tật của tinh thần vẫn hoành hành trên thế giới.  Con người đau khổ vì mất lòng tin, lo âu, tuyệt vọng.  Con người nô lệ cho chính những sản phẩm của mình.  Tiến bộ khoa học kỹ thuật lại đặt ra những vấn đề mới mà tự sức con người không giải quyết được.  Kitô hữu là người tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu, băng bó vết thương của thế giới bằng sự hiện diện đầy yêu thương.

Chúng ta không rõ nếu hôm nay Chúa Phục Sinh chỉ thị cho chúng ta, thì Ngài sẽ nói gì trước khi ngài sai chúng ta ra đi.  Chắc Ngài sẽ nói khác với đoạn Tin Mừng hôm nay, những ý chính vẫn không thay đổi.  Ngài dạy chúng ta tin cậy vào quyền năng của Thánh Linh hơn là vào khả năng và phương tiện tự nhiên của mình.  Ngài nhắc nhở chúng ta tín thác vào Cha trên trời, và chuyên cầu cầu nguyện, vì chẳng ai có thể rao giảng Tin Mừng nếu không có tình bạn thân thết với Chúa.

Mỗi Thánh Lễ Chúa Giêsu tập họp chúng ta lại thành một cộng đoàn môn đệ của Ngài, để rồi sai chúng ta ra đi loan truyền Tin Mừng Phục Sinh của Ngài cho mọi người ở mọi nơi.  Tin Mừng này chỉ có thể được công bố bằng cuộc sống làm chứng của mỗi người chúng ta và của Giáo Hội, một cuộc sống trung thành với Chúa Giêsu nghèo khó và chịu đóng đinh thập giá.  Đó là bằng chứng đáng tin của tình thương cứu độ mọi người.

Trích trong “Niềm Vui Chia Sẻ”

SỰ PHẪN NỘ MANG TÊN KAILASH SATYARTHI

Bang Uong

Kailash Satyarthi Sinh Ra Tại Một Đất Nước Phật Giáo, Từ Nhỏ Đã Được Dạy Cách Chấp Nhận Và An Tâm Với Cuộc Sống. Đó Là Cách Khôn Ngoan Nhất Để Sống, Nhưng Ông Không Chịu Chấp Nhận Như Vậy.

Ông luôn thấy trăn trở, phẫn nộ, nhất là trước thực trạng nô lệ trẻ em. Với những nỗ lực không mệt mỏi, Kailash đã tạo ra động lực mạnh mẽ thay đổi xã hội, tạo ra sự cộng hưởng, chia sẻ với cộng đồng, làm giảm bớt sự đau khổ cho con người và để có một xã hội tốt đẹp hơn.

Cùng với hoạt động Pakistan Malala Yousafzai, đã được trao giải Nobel Hòa bình vào năm 2014 “Vì cuộc đấu tranh chống lại sự đàn áp trẻ em và cho các quyền của tất cả trẻ em được học hành”, Satyarthi là người Ấn Độ thứ hai đoạt giải Nobel Hòa bình sau Mẹ Teresa vào năm 1979.

HÀO PHÓNG, VỊ THA VÀ CHU ĐÁO

“Khai thác lao động trẻ em là bất hợp pháp và vô đạo đức. Nếu không phải bây giờ, thì là khi nào? Nếu không phải chúng ta, thì là ai? Nếu chúng ta có thể trả lời những câu hỏi cơ bản này, thì có lẽ chúng ta mới có thể xóa đi những vết nhơ của chế độ nô lệ”. Đây là những gì Kailash Satyarthi, người đi đầu trong phong trào chống chế độ nô lệ trẻ em, cho biết.

Kailash Satyarthi sinh ngày 11/1/1954 tại Vidisha, Ấn Độ. Ông đã tiến hành các hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi cho trẻ em ở 144 quốc gia. Hoàn thành bằng kỹ sư điện tại Viện Công nghệ Ashock, và tham gia giảng dạy ở Trường Cao đẳng Bhopal. Ông là Tổng thư ký Mặt trận giải phóng lao động nô lệ và là Chủ tịch của Chiến dịch toàn cầu vì giáo dục. Những tác phẩm của ông nhận được các danh hiệu và giải thưởng quốc gia và quốc tế, giải Nobel Hòa bình năm 2014.

Được coi như người dẫn đường cho việc bãi bỏ lao động trẻ em ở Ấn Độ, Kailash Satyarthi đã giải cứu được hàng ngàn trẻ em khỏi các hình thức nô lệ.

Cho đến nay, tổ chức của ông, Bachpan Bachao Andolan, đã giải phóng hơn 80 nghìn trẻ em và giúp đỡ các em tái hội nhập, phục hồi chức năng và giáo dục thành công. Kailash Satyarthi giải cứu trẻ em và phụ nữ lao động nô lệ trong các nhà máy đông đúc bẩn thỉu, những nơi có điều kiện lao động thiếu thốn và nguy hiểm luôn rình rập. Để đạt được một thế giới hòa bình, điều quan trọng là các quyền của trẻ em và những người trẻ tuổi được tôn trọng.

Theo truyền thống của Mahatma Gandhi, Kailash Satyarthi đã tiến hành một cuộc đấu tranh hòa bình để ngăn chặn sự bóc lột lao động trẻ em. Ông cũng đã góp phần vào sự phát triển của các công ước quốc tế về quyền của trẻ em.


Khi Kailash Satyarthi đi học, ông thấy hai cha con cậu bé nhỏ tuổi hơn mình làm công việc sửa chữa trong trường học và đánh giày. Thay vì được đến lớp, cậu bé đánh giày cả ngày với cha mình. Cảm thấy xấu hổ và phẫn nộ vì việc này, Kailash Satyarthi vận động các bạn quyên góp sách giáo khoa và tiền cho những em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn. Năm 26 tuổi, ông từ bỏ công việc là kỹ sư điện tham gia đấu tranh chống lại chế độ nô lệ trẻ em ở Ấn Độ. Ông đã tổ chức các đội đột nhập và giải cứu trẻ em khỏi các nhà máy nơi họ bị bóc lột sức lao động.

Có tới 650 triệu trẻ em bị buộc phải làm việc trên thế giới, và đóng góp lớn nhất của Kailash Satyarthi là ông đã thay đổi cách suy nghĩ của mọi người về nạn nô lệ và đưa nó thành một vấn đề quốc tế. Kailash mạo hiểm cuộc sống của mình mỗi ngày để cố gắng giải phóng những đứa trẻ. Một trong những mục tiêu của ông Kailash trong cuộc sống là để tạo ra sự khác biệt, ngăn chặn đói nghèo và quan tâm đến quyền con người.

ĐỐI MẶT VỚI HIỂM NGUY

Lao động trả nợ là một hình thức nô lệ thời hiện đại, những người lao động mất đi quyền tự do lựa chọn. Họ buộc phải làm việc nhiều giờ với mức lương rẻ mạt. Hàng triệu trẻ em đang ở trong hoàn cảnh như vậy, gia đình các em có thể đã vay một khoản tiền từ một chủ sử dụng lao động và các em bị buộc phải lao động để trả nợ. Thậm chí có những gia đình có nhiều thế hệ cùng làm việc cho một chủ. Các điều kiện lao động trả nợ là hoàn toàn vô nhân đạo. Có những đứa trẻ chỉ 6, 7 tuổi và làm việc 14 giờ một ngày, bị đánh đập, bị ngược đãi. Những chủ sử dụng lao động thường chỉ cho ăn nửa khẩu phần vì cho rằng nếu được ăn đầy đủ, đứa trẻ sẽ trở nên buồn ngủ và chậm chạp. Đó thực sự là chế độ nô lệ thời trung cổ.

Satyarthi và đồng nghiệp của ông đã nhiều lần bị tấn công khi giải cứu nô lệ trẻ em ở các xưởng thợ may tại Delhi. Năm 2004 khi cố gắng giải cứu những lao động trẻ em khỏi sự kiểm soát của Mafia địa phương, Satyarthi và đồng nghiệp đã bị đánh đập dã man, văn phòng bị lục soát. Trong một cuốn phim tài liệu được sản xuất bởi Guardian Films, Satyarthi đã chỉ huy một cuộc đột kích để giải cứu một cô gái bị bắt làm nô lệ. Ông kể lại: “Hai đồng nghiệp của tôi đã bị bắn và bị đánh tới chết. Đây không phải là một cuộc chiến dễ dàng”.

Kailash Satyarthi và tổ chức của ông tin rằng đây là sự vi phạm nhân quyền tồi tệ: “Chúng tôi cố gắng xác định những khu vực mà tệ nạn sử dụng lao động trẻ em diễn ra phổ biến. Chúng tôi sẽ tiến hành các cuộc đột kích bí mật để giải thoát trẻ em, trả lại cho gia đình”. Họ vận động các tổ chức xã hội, các nhóm tôn giáo, những người hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của xã hội nhằm mục đích thay đổi tình hình. Những cuộc tuần hành do Kailash Satyarthi tổ chức có tới hơn một nửa là trẻ em, những người được giải thoát khỏi cảnh nô lệ tham gia. Họ là những minh chứng rõ ràng của ách nô lệ và giúp truyền thông điệp tới mọi người dân.

Thế giới đã công nhận những đóng góp của Kailash Satyarthi trong việc bãi bỏ lao động trẻ em. Ông đã tổ chức và lãnh đạo hai cuộc tuần hành lớp trên khắp Ấn Độ để nâng cao nhận thức về lao động trẻ em. Được trao giải thưởng Robert F. Kennedy Nhân quyền năm 1995 và các giải thưởng Nhân quyền Raoul Wallenberg năm 2002, 2007. Ngày 10/12/2015, Kailash Satyarthi đã được trao giải Nobel Hòa bình vì cuộc đấu tranh chống lại sự đàn áp trẻ em và thanh thiếu niên.

THAY ĐỔI NHẬN THỨC

Thành lập Tổ chức Bachpan Bachao Andolan (BBA), Kailash Satyarthi đã mang lại hy vọng cho hàng triệu trái tim, giấc mơ và nụ cười cho những người lao động nô lệ. Ông cũng là Chủ tịch của Trung tâm quốc tế về lao động trẻ em và giáo dục (ICCLE) ở Washington, Hoa Kỳ. Ngày toàn cầu chống lao động trẻ em là một phong trào nhằm huy động các nỗ lực toàn cầu để bảo vệ và thúc đẩy quyền của trẻ em, đặc biệt là quyền được nhận một nền giáo dục tự do và không bị bóc lột về kinh tế.

Được dẫn dắt bởi Kailash Satyarthi, cuộc diễu hành trên toàn thế giới với hàng ngàn người tuần hành đã đưa ra thông điệp chống lao động trẻ em. Nó đã vươn tới nhiều nơi trên thế giới, và đỉnh điểm là tại Hội nghị ILO tại Geneva. Tiếng nói của những người biểu tình đã được nghe và phản ánh trong dự thảo Công ước ILO chống các hình thức lao động trẻ em. Sau đó, nó đã được 172 quốc gia phê chuẩn, trở thành bản quy ước được thông qua nhanh nhất trong lịch sử.

Tập đoàn quốc tế độc lập Goodweave, đứa con tinh thần của ông Kailash Satyarthi đưa ra sáng kiến dán nhãn xã hội tự nguyện để đảm bảo rằng các tấm thảm được sản xuất không sử dụng lao động trẻ em. Sáng kiến này mang lại cho doanh nghiệp sự lựa chọn thay thế tích cực và đạo đức cho người tiêu dùng trên toàn thế giới. Để kiếm được các nhãn GoodWeave, xuất khẩu thảm và nhập khẩu phải được cấp phép theo chương trình chứng nhận GoodWeave và ký một hợp đồng ràng buộc về mặt pháp lý. Mỗi nhãn được đánh số và nguồn gốc sản xuất có thể được kiểm tra. Tiêu chuẩn chứng nhận GoodWeave bao gồm cả tiêu chuẩn về môi trường và xã hội, nhằm tiếp tục sứ mệnh chấm dứt lao động trẻ em bằng cách giải quyết gốc rễ của vấn đề.

Trên con đường đấu tranh vì quyền lợi trẻ em, Satyarthi không hề bị nản lòng bởi sự thờ ơ của những người có trách nhiệm, điều mà ông đã thấy ở rất nhiều nơi. Về chủ nghĩa cực đoan, ông cho rằng: Nếu trẻ em được giáo dục, chúng có thể đã tìm kiếm được các cơ hội tốt hơn trong cuộc sống chứ không phải trở thành món hời cho các nhóm cực đoan.

Với Kailash Satyarthi, chế độ nô lệ là không thể chấp nhận và là một tội ác chống lại loài người. Cuộc chiến đấu để xóa bỏ chế độ nô lệ sẽ còn kéo dài và luôn là một thách thức. Thái độ phẫn nộ của Kailash Satyarthi trước sự mất tự do của những số phận trên đất nước của ông đã trở thành động lực thúc đẩy ông đấu tranh không ngừng nghỉ cho lý tưởng của mình.

Phạm Hoàng

Đả đảo Pháp chế XHCN!

Trần Bang

Vụ án Đắk Nông 23/10/2016 tương tự Nọc Nạn với Pháp chế XHCN, Tòa XHCN xử (12/7/2018) nhóm người chống cướp đất, chống phá nhà là Đặng Văn Hiến bị tử hình, Ninh Viết Bình 18 năm tù, Hà Văn Trường 9 năm tù.

Đả đảo Pháp chế XHCN!

Image may contain: 3 people, people smiling, people standing

Đặng Văn Hiến bị tuyên y án tử, người dân la ó phản đối

Kevin Nguyen shared a post.
Image may contain: 1 person, text
Đài Á Châu Tự Do

Đặng Văn Hiến bị tuyên y án tử, người dân la ó phản đối

Ngày 12/7/2018, nhiều người tham dự phiên tòa la ó sau khi nghe hội đồng xét xử tuyên y án tử hình đối với ông Đặng Văn Hiến người nổ súng chống trả đoàn cưỡng chế trái phép của công ty Long Sơn khiến 3 người thiệt mạng, 13 người bị thương hồi tháng 10/2016.

Trong khi đó, tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM quyết định giảm án cho Phó giám đốc công ty Long Sơn là Nghiêm Xuân Thiên Sửu từ 6 năm xuống còn 4 năm tù giam, Trưởng quản lý công ty Long Sơn Phạm Công Thiện từ 4 năm xuống còn 2 năm tù giam.

Ông Ninh Viết Bình giảm từ 20 xuống 18 năm tù; Hà Văn Trường 12 năm còn 9 năm tù. Ông Đoàn Văn Diện được giảm từ 9 tháng tù giam được chuyển thành 9 tháng tù treo về tội che giấu tội phạm.

Mạng báo Zing dẫn thông tin từ phiên tòa cho hay, HĐXX cho rằng các luật sư đưa ra được chứng cứ chứng minh các bị cáo trên có tình tiết giảm nhẹ. Từ đó, HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo.

Sau khi tòa tuyên án, gần trăm người thân của các bị cáo đứng vây trước cửa ra vào phòng xử án của TAND huyện Đăk Lak, buộc lực lượng chức năng phải đưa bị cáo rời tòa bằng cổng sau.

Vụ việc nổ súng khiến 3 người thiệt mạng và 13 người khác bị thương xảy ra vào ngày 23/10/2016 tại tiểu khu 1535, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Dak Nong.

Những người dân trong cuộc cho rằng Công ty Long Sơn, đơn vị nói được giao đất tại tiểu khu 1535, cho người lái xe ủi, máy cày cũng như người dùng hung khí tiến đến phá khu rẫy của một người dân tên Hoàng Văn Thắng.

Những người dân, trong đó có ông Đặng Văn Hiến, dùng súng bắn chỉ thiên để ngăn chặn người của Công ty Long Sơn. Phía người công ty dùng đá ném lại. Ông Đặng Văn Hiến vào nhà và bắn trả vào đoàn người của Công ty Long Sơn.

Ông Hà Văn Trường tiếp đạn cho ông Đặng Văn Hiến và rồi ông Ninh Viết Bình chạy sang hỗ trợ.

Sau khi xảy ra vụ việc, ông Đặng Văn Hiến và ông Hà Văn Trường bỏ trốn xuống huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Sau đó hai ông ra đầu thú.

Vụ việc tại tiểu khu 1535, xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Dak Nong được cho cũng tương tự như một số vụ việc khác mà người bị cưỡng chế đất đai cho là phi pháp. Đơn cử như vụ gia đình Đoàn Văn Vươn, tại Cống Rộc, Tiên Lãng, Hải Phòng cũng phải sử dụng súng và bình ga tự chế để chống lại lực lượng cưỡng chế.

Vừa ăn cướp vừa la làng

David Truong Do
Này này, chú mầy vừa phải thôi nhé, chú mầy đừng vừa ăn cướp vừa la làng nhé. Bao nhiêu năm chúng mầy cố gắng thành lặp biết bao nhiêu China Town (phố tàu) khắp thế giới, đưa hàng lậu, hàng giả, hàng dzổm 4 phương 8 hướng để làm gì hả, không âm mưu bá chủ thương mại chứ làm gì. Bây giờ sắp bị Mỹ đập vỡ mồm rồi dở trò la làng ư? Cái loài cộng sản thật không biết nhục?
Image may contain: text

Bắt quả tang cơ sở tẩm chất độc vào 14 tấn sầu riêng ở Đồng Nai

Bắt quả tang cơ sở tẩm chất độc vào 14 tấn sầu riêng ở Đồng Nai

Lực lượng chức năng kiểm tra các hóa chất được sử dụng để ngâm, tẩm sầu riêng. (Hình:VOV)

ĐỒNG NAI, Việt Nam (NV) – Cơ quan chức năng huyện Xuân Lộc vừa bắt quả tang khoảng 14 tấn sầu riêng bị ngâm tẩm “hóa chất lạ” không rõ chủng loại, nguồn gốc cùng nhiều tang vật tại một cơ sở trong huyện này.

Ngày 11 Tháng Bảy, xác nhận với báo Người Lao Động, công an huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, cho biết đã cùng với lực lượng Quản Lý Thị Trường Đồng Nai bất ngờ kiểm tra cơ sở sơ chế, thu mua trái cây Hùng Thuận ở xã Xuân Định, huyện Xuân Lộc, do ông Nguyễn Thành Tâm (34 tuổi) làm chủ.

Tại đây, lực lượng bắt gặp quả tang nhân công đang quét một loại bột ướt có màu vàng vào cuống trái sầu riêng, rồi đem nhúng vào thùng chứa nước nghi pha hóa chất. Những trái sầu riêng này sau đó được đưa lên kệ để quạt khô, đem dán tem và đóng thùng.

Kiểm tra toàn bộ cơ sở, đoàn còn phát hiện nhiều dụng cụ dùng để tẩm sầu riêng như xô chứa dung dịch lỏng màu vàng; khoảng 20 chai hóa chất có in chữ nhiều nước khác nhau hoặc không dán nhãn, tất cả đều bị cấm sử dụng tại Việt Nam; khoảng 30 kg tem có in nhiều loại chữ ngoại quốc; hàng chục bịch bột màu không nhãn hiệu và một bịch chất kích thích tăng trưởng hiệu Lunar 150WP, dùng để phun trên lá sầu riêng. Tổng cộng 851 thùng sầu riêng với tổng trọng lượng khoảng 14 tấn đã tẩm hóa chất.

Toàn bộ tang vật đã bị tạm giữ để điều tra, đồng thời lấy lời khai những người có liên quan. Kiểm tra sơ khởi cho biết số sầu riêng nghi đã bị ngâm tẩm các loại hóa chất cấm sử dụng trong chế biến và bảo quản trái cây.

Nói với báo Tri Thức Trẻ, Tiến sĩ Vũ Đặng Hoàng, Bộ Môn Hóa Phân Tích và Độc Chất thuộc Đại Học Dược Hà Nội cho biết dung dịch dùng để thúc chín ép trái cây có chứa carbendazim và tebuconazol. Đây là hai hóa chất chủ yếu dùng trị nấm bệnh trên cây trồng và không được phép dùng để thúc chín, hoặc để ủ trái cây tươi lâu, bởi nó không chỉ độc hại cho sức khỏe con người mà còn tác hại cho môi trường.

Theo đó, Carbendazim phá hủy quá trình tháo nếp gấp của nhiễm sắc thể, có thể gây ung thư và vô sinh. Tebuconazol cũng đã bị Cơ Quan Quản Lý Dược và Thực Phẩm Mỹ (FDA) đưa vào danh sách các chất gây ung thư.

Với cách quét trực tiếp ở dạng dung dịch đậm đặc lên cuống trái cây, các chất này chắc chắn sẽ vẫn còn dư lượng khiến gây ra ngộ độc mạn tính với người ăn.

Mặc dù dư lượng carbendazim trong phần cơm của sầu riêng có thể nằm dưới giới hạn cho phép (ở Đài Loan, dư lượng carbendazim trên sầu riêng cho phép là 1mg/kg), nhưng điều này không có nghĩa là an toàn tuyệt đối với những người thường xuyên ăn sầu riêng, do chất này sẽ tích lũy dần dần trong cơ thể gây đột biến tế bào, phát triển khối u. Chất này cũng có thể khiến phụ nữ sinh con quái thai. (Tr.N)

Sách lược thoát Tầu

Sách lược thoát Tầu

Nguyễn Xuân Nghĩa
2018-07-10

Công nhân tan ca từ nhà máy gang thép Hưng Nghiệp, Formosa tại Hà Tĩnh, Việt Nam

Công nhân tan ca từ nhà máy gang thép Hưng Nghiệp, Formosa tại Hà Tĩnh, Việt Nam

 AFP

Khi trận chiến mậu dịch xảy ra giữa hai nền kinh tế có sản lượng cao nhất thế giới ở hai bờ Thái Bình Dương, liệu rằng giới đầu tư quốc tế có vì vậy mà tìm vào các thị trường khác, thí dụ như Việt Nam, hay không? Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu chuyện này qua cuộc phỏng vấn chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Triển vọng cho Việt Nam?

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, như các thị trường quốc tế đã e ngại, mâu thuẫn về mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã tăng cường độ vào Thứ Sáu mùng sáu vừa rồi khi Chính quyền Mỹ bắt đầu nâng thuế nhập nội trên một số hàng hóa của Trung Quốc và phía Bắc Kinh lập tức trả đũa với một quyết định tương tự. Trận chiến mậu dịch giữa hai nền kinh tế có sản lượng cao nhất thế giới sẽ ảnh hưởng ra sao đến các nền kinh tế trên Thái Bình Dương? Câu hỏi này đã được giới đầu tư quan tâm, và riêng với Việt Nam, thì đấy có là cơ hội thu hút đầu tư quốc tế hay không? Nguyên Lam xin đề nghị ông phân tích cho việc đó vì hôm mùng năm vừa qua, tờ South China Morning Post có một bài về triển vọng cho Việt Nam nếu giới đầu tư rút khỏi thị trường Trung Quốc.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi có đọc bài báo và xin nói ngay rằng đánh giá không cao những nhận định của tác giả. Ông ta quá tập trung vào lượng đầu tư đến từ Hong Kong, có tầm nhìn ngắn hạn, lại nhầm nhiều chuyện khi cho rằng đầu tư nước ngoài sẽ rút khỏi thị trường Trung Quốc vì phí tổn nhân công gia tăng nên có thể tìm vào thị trường Việt Nam. Thật ra, triển vọng cho Việt Nam đã có từ năm năm trước và diễn đàn này của chúng ta cũng có đề cập tới.

– Tôi nhớ là trong chương trình phát thanh ngày 14 Tháng Tám năm 2013 rồi một chương trình đầu năm 2014, ngay trước Tết Giáp Ngọ, chúng ta đã phân tích vụ này trong viễn cảnh dài. Ngày nay, chúng ta cũng tránh phản ứng vì mâu thuẫn mậu dịch về mậu dịch giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc.

Nguyên Lam: Nếu vậy, Nguyên Lam xin đề nghị ông trình bày lại bối cảnh của toàn bộ vấn đề cho thính giả của chúng ta.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi xin đi từ yếu tố khách quan của thiên hạ rồi mới nói về những chọn lựa của Việt Nam.

Năng suất công nghiệp của Việt Nam còn thấp mà giáo dục đào tạo lại bất cập cho nên xứ này chỉ làm gia công trong cái khâu sản xuất thấp, để giới đầu tư ngoại quốc kiếm lời. Mà giới đầu tư có ưu thế nhất về kinh tế lẫn chính trị lại là từ Trung Quốc, trong khi nguyên nhiên vật liệu Việt Nam sử dụng cho sản xuất để xuất khẩu cũng đến từ Trung Quốc.
-Nguyễn Xuân Nghĩa

– Đầu tiên, chương trình chuyên đề của chúng ta liên tục nhắc nhở với đánh giá bi quan về thực trạng và tiềm lực kinh tế Trung Quốc, khi thiên hạ còn nói về phép lạ của xứ này. Đến nay, dư luận mới bắt đầu thấy ra những điều ấy. Thứ nhất, đà tăng trưởng của Trung Quốc thiếu phẩm chất và không thể bền vững. Thứ hai, lãnh đạo Bắc Kinh biết là phải chuyển hướng để tránh khủng hoảng. Thứ ba, Trung Quốc hết là hãng xưởng cho các ngành ráp chế nhờ nhân công nhiều và rẻ như trong các thập niên trước. Nếu vậy, khi giới đầu tư rút chạy khỏi thị trường Trung Quốc thì ta phải hỏi là họ có thể chạy đi đâu?

– Câu hỏi kế tiếp là làm sao các nước có thể thu hút được nguồn cung cấp tư bản và kỹ thuật sẽ rút chạy của thiên hạ làm sức đẩy cho mình? Như mọi nước nghèo vừa bước vào giai đoạn khởi phát hay “cất cánh”, Việt Nam cần vốn và kỹ thuật nên phải huy động từ bên ngoài, các quốc gia khác, kể cả Trung Quốc, đều trải qua giai đoạn ấy. Khi đó, vấn đề chủ yếu là Việt Nam có gì hấp dẫn hơn xứ khác để thu hút đầu tư?

Tình hình xoay chuyển

Nguyên Lam: Có lẽ quý thính giả thấy ra cách phân tích của ông  được diễn đàn chuyên đề này trình bày từ năm năm trước. Ngày nay, bất kể tới mâu thuẫn mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, tình hình sẽ xoay chuyển ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Thời đó, tôi nhớ là đã dự báo rằng có mười mấy quốc gia, khoảng 16 tới 18 nước, nuôi hy vọng trám vào khoảng trống do Trung Quốc để lại khi họ hết là “công xưởng toàn cầu” nhờ nhân công nhiều và rẻ. Trong số các nước đó, dĩ nhiên có Việt Nam và đấy là một cơ hội thoát khỏi bóng rợp của Trung Quốc. Nhưng dường như Việt Nam đã mất cơ hội đó. Bây giờ, chúng ta cần suy nghĩ tiếp…

Nguyên Lam: Ông nói rằng có lẽ Việt Nam đã mất cơ hội đó, khiến Nguyên Lam nhớ đến chương trình tuần trước, khi ông nhấn mạnh đến trình trạng lệ thuộc của kinh tế Việt Nam vào Trung Quốc. Có lẽ chúng ta cần ôn lại chuyện này, cụ thể là vì sao Việt Nam có thể đã mất cơ hội….

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Khách quan mà nói, một quốc gia đang phát triển cần có hạ tầng cơ sở bền vững để tiếp nhận đầu tư về tư bản lẫn kỹ thuật. Hạ tầng cơ sở đó gồm có nhiều loại. Là vật chất như đường xá cầu cống và cả hệ thống bảo vệ môi sinh hay hủy thải phế vật và phát huy điều kiện lao động lành mạnh cho công nhân. Hạ tầng đó cũng có bộ máy hành chính công quyền hữu hiệu và liêm minh và hệ thống ngân hàng có khả năng giải quyết các dịch vụ cần thiết cho sản xuất và xuất khẩu. Trong chu trình sản xuất thì hạ tầng cơ sở còn có ý nghĩa tiếp liệu là lấy nguyên nhiên và vật liệu ở đâu để có sản phẩm hoàn tất tung ra thị trường nội địa hay xuất khẩu? Sau cùng, hạ tầng cơ sơ vô hình mà then chốt nhất là nền tảng luật lệ công khai minh bạch để bảo đảm sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp nội địa và ngoại quốc. Việt Nam thật ra chưa có mấy điều kiện ấy mà cứ tưởng nhân công rẻ là một lợi thế. Ta nên hỏi lại rằng “rẻ so với cái gì”? Khi ấy, ta cần nhìn vào một phạm trù khác là năng suất, với cái gốc là giáo dục đào tạo.

– Năng suất công nghiệp của Việt Nam còn thấp mà giáo dục đào tạo lại bất cập cho nên xứ này chỉ làm gia công trong cái khâu sản xuất thấp, để giới đầu tư ngoại quốc kiếm lời. Mà giới đầu tư có ưu thế nhất về kinh tế lẫn chính trị lại là từ Trung Quốc, trong khi nguyên nhiên vật liệu Việt Nam sử dụng cho sản xuất để xuất khẩu cũng đến từ Trung Quốc! Sự thật phũ phàng là Trung Quốc chỉ vứt lại cho Việt Nam vai trò công xưởng đầy ô nhiễm của họ với thiết bị phế thải. Đặt vấn đề cũ vào bối cảnh mới là mâu thuẫn mậu dịch giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc, Việt Nam bị Mỹ trừng phạt vì nhập hàng Tầu bán qua Mỹ dưới dạng “sản phẩm chế tạo tại Việt Nam” với trị giá đóng góp thấp. Lãnh đạo Việt Nam cần sách lược khác để vừa thoát khỏi sự khống chế của Trung Quốc vừa phát triển xứ sở.

Những chọn lựa

Nguyên Lam: Chúng ta bước qua phần hai là khi ông nêu câu hỏi về những chọn lựa của Việt Nam. Nguyên Lam xin ông khai triển cho phần này.

Việt Nam nên tránh việc vay vốn cho phát triển mà không nghĩ tới ngày trả nợ. Lồng việc tài trợ vào đầu tư qua các hợp đồng mờ ám là chui đầu vào dây thòng lọng của nhà đầu tư, ở đây là nhà đầu tư Trung Quốc, vốn đã có tham vọng và gian ý.
-Nguyễn Xuân Nghĩa

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Lãnh đạo Việt Nam thiếu viễn kiến khi phạm bảy sai lầm sau đây. Thứ nhất là quá lệ thuộc vào đầu tư nước ngoài, thứ hai là lấy nhân công rẻ làm lợi thế thu hút đầu tư đó, thứ ba là không thấy vai trò cốt tủy của năng suất nhờ giáo dục đào tạo, thứ tư là không có ý chí độc lập để tìm lợi thế riêng trong tiến trình sản xuất hầu xây dựng công nghệ nội địa, thứ năm là không muốn thoát ảnh hưởng của kinh tế Trung Quốc chỉ vì điều ấy có lợi cho thiểu số có chức có quyền, thứ sáu là chấp vào đà tăng trưởng mà chẳng thấy tăng trưởng không là phát triển nếu thiếu phẩm chất, gây ô nhiễm môi sinh, bất công xã hội. Rốt cuộc thì Việt Nam lạm thác tài nguyên quốc gia, nhất là đất đai, mà tài nguyên quý nhất là dân trí lại bị coi thường và tụt hậu nếu so với các nước khác. Ngày nay, nếu Việt Nam lại mong là sẽ trám vào khoảng trống do Trung Quốc vứt lại thì sẽ tiếp tục những sai lầm cũ mà không có thời gian bắt kịp thiên hạ. Suy từ đó ra, lãnh đạo Việt Nam nên có những chọn lựa khác. Nếu không, chính người dân sẽ đòi hỏi những chọn lựa khác.

Nguyên Lam: Dùng phương pháp loại suy, hay tự kiểm điểm để loại bỏ những sai lầm cũ, ông cho là lãnh đạo của Việt Nam nên làm những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi nghĩ những người có chức có quyền và có tiền tại Việt Nam đều biết, và giới chuyên gia trong nước cũng đã nhiều lần cảnh báo mà vô hiệu vì lý do thể chế, nôm na là chính trị.

– Cứ nói lại thì buồn và nhàm, nhưng Việt Nam đã gây cảnh tương tàn Quốc Cộng rồi chiến tranh Nam Bắc trong ba chục năm, từ 1945 tới 1975. Tới khi chiến tranh kết thúc thì mới thấy Trung Quốc chiếm lợi rất lớn và chiếm luôn chủ quyền trên đất liền và biển đảo ngoài khơi qua nhiều đợt xung đột vào các năm 1974, 1979, 1988 và cho tới gần đây. Thuần về kinh tế, Việt Nam tiếp tục làm chiến mã cho Trung Quốc khi doanh nghiệp Việt Nam mua hàng Trung Quốc và dán nhãn “Made in Vietnam” lên trên để bán cho thiên hạ trong khi tuổi trẻ mất tương lai.

– Thế giới có thiện cảm với dân Việt Nam nên sẵn sàng nâng đỡ kinh tế xứ này nhưng sẽ ngần ngại nếu Việt Nam tiếp tục những sai lầm cũ. Ta cũng không quên rằng Á Châu còn nhiều quốc gia khác ngoài Trung Quốc và giới trẻ tại Việt Nam có tiềm năng hợp tác và học hỏi từ các quốc gia đó chứ sẽ không mãi mãi cúi đầu. Bây giờ, căn cứ trên mâu thuẫn mậu dịch giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc mà mong Việt Nam sẽ có thể tiếp nhận đẩu tư của Hong Kong thì chẳng khác gì nhuộm lại bộ lông của con chiến mã, nghĩa là vẫn phạm vài sai lầm cũ.

Nguyên Lam: Một cách cụ thể thì ông nghĩ là Việt Nam nên làm những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi trộm nghĩ Việt Nam nên nhìn xuống cái gốc của kinh tế xã hội là giáo dục đào tạo để nâng cao tay nghề và năng suất dù việc ấy sẽ mất chục năm. Thứ hai là nên đánh giá lại vai trò của đầu tư ngoại quốc, chứ không ưu đãi qua các biện pháp thiển cận như lương lậu và thuế khóa thấp mà bất kể tới môi sinh bị tàn phá. Thứ ba là với tay nghề cao hơn thì nên khuyến khích đầu tư nước ngoài vào những khu vực có trình độ công nghệ hiện đại hơn. Nghĩa là nên nhìn từ viễn ảnh của 10 năm tới về đến hiện tại. Thứ tư, mà rất thời sự chứ cũng chẳng xa vời gì là yếu tố tài trợ: Việt Nam nên tránh việc vay vốn cho phát triển mà không nghĩ tới ngày trả nợ. Lồng việc tài trợ vào đầu tư qua các hợp đồng mờ ám là chui đầu vào dây thòng lọng của nhà đầu tư, ở đây là nhà đầu tư Trung Quốc, vốn đã có tham vọng và gian ý. Nói về những việc cụ thể đó thì tôi không lạc quan vì từ đầu nguồn vẫn là tinh thần lệ thuộc Bắc Kinh của lãnh đạo Việt Nam nên họ mới chạy theo sách lược tai hại này.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích không vui hôm nay.

VNTB – Các cuộc biểu tình chống Trung Quốc cho thấy sự bất mãn gia tăng đối với Đảng Cộng sản Việt Nam

VNTB – Các cuộc biểu tình chống Trung Quốc cho thấy sự bất mãn gia tăng đối với Đảng Cộng sản Việt Nam

Vũ Quốc Ngữ dịch (VNTB) Khi người dân đổ ra trên nhiều đường phố ở khắp đất nước vào tháng Sáu, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) thấy mình đang phải đối mặt với một sự bất mãn của công chúng, bắt đầu từ kế hoạch cho Trung Quốc thuê đất và một luật mới về an ninh mạng.
Khi Việt Nam bị rung chuyển bởi nhiều cuộc biểu tình trên toàn quốc phản đối về một dự luật Đặc khu Kinh tế gây tranh cãi, người dân địa phương đã tràn ra nhiều đường phố ở nhiều thành phố lớn và những tỉnh sẽ bị ảnh hưởng bởi những đặc khu kinh tế. Những người biểu tình đụng độ với cảnh sát, và ở tỉnh Bình Thuận, người biểu tình tấn công một số tòa nhà hành chính và đốt cháy xe.
Điều gây ra sự thất vọng như vậy không phải là viễn cảnh có nhiều đặc khu kinh tế hơn trong nước, mà là do người dân nghi ngờ rằng các công ty Trung Quốc là những người đầu tiên hưởng lợi trong quy định nhà đầu tư nước ngoài có thể thuê đất trong 99 năm, như đề xuất trong dự luật Đặc khu Kinh tế. Dự luật không chỉ rõ các công ty nước ngoài nào sẽ được giao đất, nhưng viễn cảnh nhà đầu tư Trung Quốc chiếm ưu thế trong các đặc khu này đủ để gây ra các cuộc biểu tình chống Trung Quốc với quy mô lớn nhất sau năm 2014, thời điểm Trung Quốc đưa một giàn khoan dầu đặt trong vùng biển thuộc vùng kinh tế độc quyền của Việt Nam.
Những người biểu tình cầm biểu ngữ chống lại chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Trung Quốc Tập Cận Bình tại một công viên ở Hà Nội ngày 05/11/ 2015
Đối với người Việt Nam, Trung Quốc là kẻ giả mạo trứ danh. Câu chuyện xây dựng quốc gia ở Việt Nam phát triển không quá nhiều xung quanh chủ nghĩa cộng sản hoặc “tư tưởng Hồ Chí Minh” mà là xung quanh cuộc chiến của Việt Nam chống lại sự cai trị của nước ngoài. ĐCSVN tự cho mình xứng đáng là độc quyền về quyền lực – không phải vì ý thức hệ của nó, nhưng vì nó là lực lượng dẫn đầu trong chiến tranh chống Pháp và Hoa Kỳ, và sau đó đẩy lùi cuộc xâm lược của Trung Quốc vào năm 1979.
Từ đó, ĐCSVN tự cho mình là một lực lượng được nghiễm nhiên cầm quyền để bảo vệ quốc gia khỏi những kẻ xâm lược nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc. Thực tế hiện nay Việt Nam đang phải đối mặt với sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông: Bắc Kinh liên tục tổ chức tập trận, triển khai vũ khí trên các đảo nhân tạo, và gây áp lực buộc Việt Nam phải dừng dự án khai thác dầu khí, một dự án với Công ty Repsol của Tây Ban Nha .
Nhưng ĐCSVN chỉ có thể tiếp tục quyền lãnh đạo của mình nếu nó coi Trung Quốc như một mối đe doạ bên ngoài. Mặt khác, Việt Nam phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc về thương mại và quan trọng hơn, sự thành công chưa từng có của một nước Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản mang lại tính hợp pháp mạnh mẽ trong nước và quốc tế. ĐCSVN sao chép nhiều mô hình của Trung Quốc và áp dụng nhiều chính sách, ví dụ mới nhất là một chiến dịch chống tham nhũng lớn.
Người Việt không lạ gì với biểu tình
Đối phó với tinh thần chống Trung Quốc ăn sâu trong tâm trí người Việt, và đôi khi sử dụng tinh thần này để tăng cường tính hợp pháp của chính mình, ĐCSVN phải cân bằng sự phản đối của mình với sự hung hãn của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhưng với sự phản đối dự luật Đặc khu Kinh tế, vấn đề không chỉ là chủ nghĩa dân tộc. Thứ nhất, ý tưởng thuê đất cho người nước ngoài trong 99 năm dường như đã được cảnh báo bởi người dân Việt Nam ở thành thị, những người không muốn có số phận giống như Sri Lanka, một quốc gia đã bị buộc phải bàn giao một cảng phía nam cho Trung Quốc với hợp đồng thuê 99 năm vào tháng 12 năm ngoái để trừ nợ với Trung Quốc, mức nợ hiện đang là 8 tỷ đô la. Thứ hai, quyền sử dụng đất là một trong những vấn đề nóng bỏng nhất trong đời sống xã hội Việt Nam, nơi người dân không được tư hữu đất đai và thường xuyên bị nhà nước tịch thu đất. Năm ngoái, dân ở xã Đồng Tâm gần Hà Nội tham gia một cuộc biểu tình với chính quyền địa phương và thậm chí còn bắt giữ nhiều quan chức và cảnh sát làm con tin trong nhiều ngày.
Biểu tình không còn xa lạ với người Việt. Bên cạnh đấu tranh về đất, họ thường xuyên tổ chức biểu tình để phản đối những quy định không công bằng của các nhà máy, tham nhũng, đàn áp tôn giáo và ô nhiễm môi trường – đã có nhiều cuộc biểu tình kéo dài năm 2016 chống lại việc Công ty Formosa xả độc ở ven biển miền Trung. Nhưng tất cả các cuộc biểu tình này thường không mang màu sắc chính trị và hiếm khi nhắm mục tiêu trực tiếp là ĐCSVN.
Các cuộc biểu tình gần đây còn nhắm đến một điều khác nữa. Một vấn đề không kém quan trọng là luật An ninh mạng. Việc bỏ phiếu về dự luật Đặc khu Kinh tế đã bị hoãn lại, nhưng luật An ninh mạng đã được Quốc hội phê duyệt ngay sau khi nổ ra biểu tình, có nghĩa là bây giờ tất cả các công ty Internet sẽ phải lưu trữ dữ liệu của họ tại Việt Nam và theo dõi nội dung như phỉ báng, hoạt động chống nhà nước và “bóp méo lịch sử.”
Cuối cùng, tính chính đáng hợp pháp của ĐCSVN là phát triển kinh tế và phẩm cấp cuộc sống – và đây chính là những vấn đề mà người Việt Nam sẵn lòng đứng lên phản đối, tinh thần chống Trung Quốc đơn thuần chỉ là một chất xúc tác. Luật An ninh mạng dường như không có khả năng ngăn chặn sự tiếp cận của dân số đô thị ngày càng gia tăng với các vấn đề trong nước và quốc tế.
ĐCSVN tự coi mình là một lực lượng chính trị do dân ủng hộ và đã thể hiện khả năng đáng kể trong 30 năm kể từ khi đổi mới theo hướng kinh tế thị trường. Thách thức của đảng hiện nay là làm sao quản lý được sự thay đổi của một xã hội đang phát triển nhanh chóng. Lực lượng lao động chủ yếu là chủ sở hữu và người làm công ở các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ, nhưng phần lớn giá trị xuất khẩu đi vào túi của các công ty nước ngoài, khu vực nhà nước tụt lại phía sau và phần lớn dân số trẻ và hiểu biết về mạng. Ngay bây giờ, hầu hết những người Việt trẻ này bị cô lập với chính trị, nhưng nếu họ được vận động thông qua mạng xã hội và những cuộc biểu tình như trong tháng Sáu,ĐCSVN có thể sẽ phải ở một vị trí hoàn toàn khác.
Không có một quá trình trực tiếp và hấp dẫn để biến tinh thần công chúng thành chính sách, ĐCSVN sau năm 1986 đã lãnh đạo đất nước chỉ bằng suy nghĩ của mình trong khi lại cho rằng mình đại diện cho tất cả nhân dân Việt Nam. Các cuộc biểu tình ở quy mô toàn quốc là hậu quả của những suy nghĩ đó, và chỉ ra những bất ổn của đảng cầm quyền. Điều này có nghĩa là trong việc tìm kiếm sự hài hòa, ĐCSVN sẽ phải mở rộng cơ sở xã hội của mình, tiếp tục đổi mới nội bộ và trở thành nền tảng cho cuộc đối thoại xã hội – hoặc các cuộc biểu tình có nguy cơ mang màu sắc chính trị hơn.

Tác giả Anton Tsvetov là một nhà phân tích Đông Nam Á có trụ sở tại Moscow, Nga. Ông thường xuyên viết về chính trị Đông Nam Á và chính sách của Nga ở châu Á tại @antsvetov.

MỸ SẼ LÊN DANH SÁCH NHỮNG MẶT HÀNG CỦA VIỆT NAM CHỊU THUẾ ĐỂ CÂN BẰNG THÂM HỤT THƯƠNG MẠI.

Image may contain: 1 person, suit and text

Hoai Han Le

MỸ SẼ LÊN DANH SÁCH NHỮNG MẶT HÀNG CỦA VIỆT NAM CHỊU THUẾ ĐỂ CÂN BẰNG THÂM HỤT THƯƠNG MẠI.

Sau Trung quốc là Việt Nam buộc phải san bằng thâm hụt thương mại với Mỹ. Xin điểm lại những “con cá mập” nào sẽ bị Mỹ đưa vào bảng phong thần.

I. Các doanh nghiệp đã bị Mỹ tố cáo lên WTO:

Vào ngày 11/01/2018, Mỹ đã có hồ sơ đệ trình lên Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO 8 doanh nghiệp nhà nước chưa được phía Việt Nam đăng ký là doanh nghiệp thương mại Nhà nước theo quy tắc thương mại toàn cầu, cụ thể:

1. Tập đoàn Dầu khí (PetroVietnam);
2. Tổng công ty Dầu (PV Oil);
3. Tập đoàn Xăng dầu (Petrolimex);
4. Công ty Xăng dầu Hàng không (Vinapco/SKYPEC);
5. Tổng công ty Lương thực miền Bắc (Vinafood I);
6. Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood II);
7. Công ty Vàng Bạc Đá quý Sài Gòn (SJC);
8. Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin).

II. Các mặt hàng chủ lực của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ:

Theo số liệu từ cơ quan Hải quan, trong 7 tháng đầu năm 2017, Việt Nam đã xuất sang Mỹ 37 nhóm hàng mang về trên 23,44 tỷ USD. Danh tính và giá trị cụ thể như sau:

1. Hàng dệt, may: 6,925 tỷ USD;
2. Giày dép các loại: 2,891 tỷ USD;
3. Điện thoại các loại & linh kiện: 2,242 tỷ USD;
4. Gỗ và sản phẩm gỗ: 1,78 tỷ USD;
5. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: 1,684 tỷ USD;
6. Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác: 1,416 tỷ USD;
7. Túi xách, ví,vali, mũ, ô, dù: 0,816 tỷ USD;
8. Hàng thủy sản: 0,789 tỷ USD;
9. Hạt điều: 0,679 tỷ USD;
10. Phương tiện vận tải và phụ tùng: 0,656 tỷ USD;
11. Cà phê: 0,294 tỷ USD;
12. Sắt thép các loại: 0,249 tỷ USD;
13. Sản phẩm từ chất dẻo: 0,217 tỷ USD;
14. Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận: 0,212 tỷ USD;
15. Sản phẩm từ sắt thép: 0,211 tỷ USD;
16. Hạt tiêu: 0,154 tỷ USD;
17. Đá quý, kim loại quý và sản phẩm: 0,149 tỷ USD;
18. Kim loại thường khác và sản phẩm: 0,146 tỷ USD;
19. Vải mành, vải kỹ thuật khác: 0,091 tỷ USD;
20. Sản phẩm từ cao su: 0,065 tỷ USD;
21. Hàng rau quả: 0,062 tỷ USD;
22. Giấy và các sản phẩm từ giấy: 0,061 tỷ USD;
23. Dầu thô: 0,042 tỷ USD;
24. Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện: 0,042 tỷ USD;
25. Dây điện và dây cáp điện: 0,042 tỷ USD;
26. Sản phẩm gốm, sứ: 0,038 tỷ USD;
27. Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh: 0,036 tỷ USD;
28. Cao su: 0,032 tỷ USD;
29. Sản phẩm mây, tre, cói và thảm: 0,031 tỷ USD;
30. Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày: 0,026 tỷ USD;
31. Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc: 0,024 tỷ USD;
32. Hóa chất: 0,019 tỷ USD;
33. Sản phẩm hóa chất: 0,019 tỷ USD;
34. Thức ăn gia súc và nguyên liệu: 0,014 tỷ USD;
35. Xơ, sợi dệt các loại: 0,013 tỷ USD;
36. Gạo: 0,008 tỷ USD;
37. Trà: 0,004 tỷ USD.

Trong bảng danh sách này, Mỹ sẽ ưu tiên áp thuế lên các mặt hàng có tỷ trọng giá trị lớn, thu hút lượng nhân công lao động lớn và đặc biệt là có “yếu tố Trung quốc” mà phía Mỹ đang có trong tay do gián điệp kinh tế cung cấp.

Nếu cộng sản Việt Nam không sợ mất lòng Trunh cộng, tự giác san bằng thâm hụt thương mại với Mỹ bằng cách giảm nhập siêu từ TQ, chuyển sang mua hàng hóa Mỹ với giá trị tương đương giá trị mà VN đã xuất sang Mỹ trong năm 2017 là 32 tỷ USD thì Mỹ sẽ hỗ trợ Việt Nam cường thịnh như ngoại trưởng Pompeo vừa tuyên bố. Ngược lại nếu VN ngoan cố thì cái kết là hàng triệu công nhân Việt sẽ thất nghiệp, hậu quả sẽ có triệu triệu “khối thuốc nổ” mà cuộc biểu tình của công nhân Pouchen vừa rồi chỉ là chuyện nhỏ so với làn sóng thất nghiệp này sẽ biểu tình. Lúc này cộng sản Việt Nam có cầu viện binh từ Trung cộng sang để đàn áp biểu tình thì cũng bị “đánh tơi bời”.

Triết lý của ông tổng thống thứ 40 của Mỹ là Ronald Regan là “không thể đánh thắng cộng sản bằng vũ khí. Cộng sản chỉ chết dưới chiếc đũa thần kinh tế” mà Liên Xô và Đông Âu, cái nôi của cộng sản đã bị ông giải tán giờ lại được tổng thống đời 45 vận dụng, nâng cấp để tiêu diệt thành trì cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản độc tài. /.
Tran Hung.

Hãy tỉnh mộng quay về với nhân dân và chính nghĩa dân chủ

Lê Công Định

Nhân tin ông Võ Kim Cự định cư tại Canada, ngẫm nghĩ hậu sự của các quan chức cộng sản và những đại gia phất lên nhờ chế độ này, mà thấy lo cho số phận tương lai của họ.

Đừng tưởng rằng cứ cao chạy xa bay ra nước ngoài với tiền bạc và tài sản tham nhũng hoặc trục lợi cất giấu ở các ngân hàng hay quỹ đầu tư nước ngoài là yên phận, là có thể rời bỏ quá khứ tội lỗi vĩnh viễn, để sống nốt những ngày cuối đời yên ả bên cạnh con cháu của mình.

Nói thật, có không ít công cụ pháp lý quốc tế mà chính quyền hậu cộng sản có thể viện đến để truy đòi tận đồng xu cuối cùng trong khối tài sản tham nhũng và trục lợi đó, bất kể chúng đã được chuyển nhượng hoặc che đậy khéo léo bằng nhiều thủ thuật tinh vi khác nhau.

Vì vậy, thay vì cố sức vơ vét để tận thu trong thời khắc suy tàn của chế độ, hãy tỉnh mộng quay về với nhân dân và chính nghĩa dân chủ, nếu không dù một con kiến lẩn trốn giữa sa mạc, người ta cũng sẽ săn lùng để moi lên và gí chết không thương tiếc.