

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Tin Tức – Thế Giới , Việt Nam, Tin Hoa Kỳ

Đọc lại thêm một lần nữa:
Trên fb Huỳnh Hoàng Nhật
“Có người nói với tui rằng Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956 là một sai lầm, tui nói thẳng: đó là tội ác của những kẻ có ý thức man rợ!
Vì sao ư? Đọc trong đoạn hồi ức của thi sĩ Hữu Loan, tui không thể không rùng mình khi ông tả cảnh người ta xét xử đấu tố bằng cách chôn người bị kết tội xuống đất, chừa duy nhất hai cái đầu nhô lên rồi cho trâu kéo cày qua, cày lại. Tởm lợm hơn, hai người địa chủ mà ông kể chính là những người cưu mang, quyên góp nuôi đơn vị của ông khi ông còn trong quân ngũ, là cha mẹ của người vợ sau này của ông (ông chỉ là nhân chứng thời cuộc và đã xuất ngũ trước đó, khi người ta cấm ông làm thơ thương nhớ người vợ đầu đã mất). Hay trường hợp Nguyễn Thị Năm, một địa chủ yêu nước, từng góp tiền cho Việt Minh trước CMT8 20000 đồng Đông Dương (tương đương 700 lạng vàng), bà miệt mài theo kháng chiến, cho 2 con trai đi bộ đội, góp thêm 100 lạng vàng trong đợt huy động “Tuần Lễ Vàng”, nuôi giấu hàng trăm cán bộ cán bộ Việt Minh, có những vị sau này giữ những cương vị quan trọng như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ Quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị..Thế mà ngày bà bị đấu tố, các cán bộ đó ở đâu ? Là người thường, chịu ơn người khác phải báo, huống hồ toàn là những bậc “đại trí, đại dũng” ? Vậy, tính nhân nghĩa của CM có còn không?!
Đó là bàn về khía cạnh tình người, còn về mặt pháp luật, cách hành xử những địa chủ (chưa xét đến vô tội, bị bắt oan) cũng là không ổn khi “Ủy ban Cải cách ruộng đất tại địa phương tự cho phép các đội Cải cách ruộng đất được bắn vào địa chủ gian ác để nâng cao khí thế nông dân. Việc bắn địa chủ mở đầu từ Thái Nguyên sau lan tràn đi nhiều nơi, được dân chúng các địa phương coi là một phương pháp tốt, để nâng cao uy thế của nông dân” (trích hồi ký Giọt nước mắt và biển cả -Hoàng Văn Hoan). Rõ ràng, nó thể hiện bản tính mọi rợ và vô pháp, vi phạm trắng trợn quyền được sống và được bảo vệ mạng sống trong Tuyên Ngôn độc lập mà CT Hồ Chí Minh đã đọc, đã hứa trước toàn dân, vi phạm Hiến Pháp 1946 “không ai bị xem là tội phạm khi họ chưa bị Tòa án chứng minh là có tội”. Đó là điều bội Tín !
Đến đây sẽ có người cho rằng đó chẳng qua vì giải pháp tình thế trong thời cuộc, kiểu giống Tào Tháo “mượn” đầu quan coi lương để ổn định lòng quân khi quân lương chưa đến. Xin thưa, đừng ngụy biện. Thứ nhất, xét về tình thế của Tào thì lúc đó lương hướng đã hết, cấp bách đến nỗi quân lính tính đào ngũ trong khi địch quân trước mặt. Thứ nhì là Tào Tháo vẫn nói rõ với quan coi lương mục đích của mình. Thứ ba ông ta lo cho gia đình vị quan đó đầy đủ như đã hứa, thứ tư là các sử quan vẫn được chép rõ ràng về hành vi này. Cả bốn điều trên, Quân Giải Phóng đều không có ! Bởi, tình hình khi cải cách diễn ra, không hề có một sức ép nào, họ có đủ thời gian để suy xét cho tường tận xem ai ngay ai gian. Nếu vì lòng nhân thì họ – Người Giải Phóng có thể bỏ tiền ra mua hoặc thuyết phục các địa chủ nhượng đất lại để họ phân phát cho nông dân, hoặc đánh thuế cao vào phần đất “dôi ra” theo tiêu chuẩn tối đa của địa chủ để lấy tiền phục vụ dân nghèo, thiết nghĩ những địa chủ giàu lòng nhân như bà Cát Hanh Long hoặc kẻ khác vì thời thế cũng sẽ chấp nhận, chứ không nhất thiết là phải giết người, nhất là với những người trong tay họ hoàn toàn không có khả năng kháng cự. Cướp của người giàu chia cho người nghèo chỉ là hành động của phường lục lâm thảo khấu thời phong kiến hoặc giả là của kẻ không có năng lực phân xử, bất Trí !
Thiết nghĩ kẻ làm sai phải biết sửa sai, đừng ngụy biện chống chế, kẻo lại phạm vào đại kỵ của người xưa từng dạy :
Hại người từng giúp mình là bất nhân.Nhận lỗi chung chung, không đi thẳng vào vấn đề, trường hợp cụ thể, cách khắc phục hậu quả là bất dũng. Giả dối, lừa gạt người khác (nhất là người thật thà, thiếu hiểu biết) là việc làm của kẻ ti tiện, không hiểu lễ giáo, cư xử ở đời. Phàm những ai sống chung với kẻ : bất nhân, bất nghĩa, bất lễ, bất trí, bất tín, bất dũng thì quả thật là…bất hạnh !









Fb Chau Doan
Đây là những bức ảnh được chia sẻ nhiều trên FB. Bà con miền Tây đổ về tp HCM sau kì nghỉ Tết.
Bạn nghĩ gì khi nhìn những bức ảnh này?
Nếu là một người trong đám đông kia, lòng tôi sẽ trào lên tức giận, bởi tôi biết rằng mỗi giây phút bị chết kẹt như thế này, chẳng những thời gian bị mất mà sức khoẻ của tôi cũng rất hại bởi phải hít khói từ cả rừng ống xả xe máy, ô tô.
Vậy tôi có quyền tức giận không và sự tức giận này sẽ nên đổ vào đầu ai?
Tôi có quyền tức giận bởi cơ chế này đã sinh ra lợi ích nhóm và các trạm BOT để tư nhân hút máu của dân.
Chính bởi lợi ích nhóm nên tiền thuế dân nộp nói chung và tiền thu được của phương tiện giao thông trên đường không vào ngân quỹ để có thể quay lại đầu tư cơ sở hạ tầng.
Cả miền Tây chỉ có một con đường quốc lộ dẫn vào thành phố lớn nhất cả nước là sao?
Trong khi ấy, thì tp HCM là trung tâm kinh tế lớn nhất và là đầu tàu của cả nước. GDP của TPHCM nói chung chiếm 1/5 GDP cả nước, tốc độ tăng trưởng cao gấp 1,6 lần cả nước. Số doanh nghiệp (DN) chiếm 1/3 cả nước. TP có cơ cấu kinh tế hiện đại, 99% là khu vực công nghiệp và dịch vụ.
Vậy tại sao cơ sở hạ tầng không đồng bộ với sự đóng góp?
Nếu những vị lãnh đạo của Việt Nam đặt mình vào vị thế của những người dân đang khốn khổ kia, các vị sẽ hiểu mình cần làm gì. Các vị sẽ thực sự hiểu vị thế đất nước đang ở đâu và bớt huyênh hoang chém gió, sẽ không hỏi: “Nhìn tổng quát, đất nước có bao giờ được thế này không?”
Vậy cái lỗi này nếu không phải của lãnh đạo thì là của ai?
Vui Xuân Nghe Chơi Vài Câu Hát xẩm
Bà con kiều bào luôn là một phần máu thịt không thể tách rời của Tổ quốc
Mong kiều bào tích cực đóng góp xây dựng đất nước.
Lấy cớ tết nhất, tôi “hú” cả đống bạn bè tụ tập – uống sương sương vài chai – cho đỡ lạnh lòng viễn xứ. Sau khi cạn mấy ly đầy, và đầy vài ly cạn (rồi lại cạn mấy ly đầy nữa) thì chúng tôi đều “chợt thấy vui như trẻ thơ” – dù tất cả đã ngoài sáu mươi ráo trọi!
Xong “Ly Rượu Mừng” của Phạm Đình Chương, cả đám tiếp tục đồng ca bài “Thằng Cuội.” Bản nhạc mà có lẽ đứa bé nào sinh trưởng ở miền Nam (vào thập niên 1950 – 60) cũng thuộc. Bài đồng dao này được nhạc sĩ Lê Thương viết bằng những lời lẽ rất tân kỳ, dù nền tân nhạc Việt Nam – ở thời điểm đó – còn ở giai đoạn phôi thai.
Bóng trăng trắng ngà có cây đa to
Có thằng Cuội già ôm một mối mơ …
Lặng nghe trăng gió hỏi nhau
Chị kia quê quán ở đâu
Gió không có nhà
Gió bay muôn phương
Biền biệt chẳng ngừng
Trên trời nước ta…”
Các con dế mèn suốt trong đêm khuya
Hát xẩm không tiền nên nghèo xác xơ…
Hát Bộ, hát Chèo, hát Cô Đầu, hát Cải Lương, hát Hồ Quảng… để kiếm sống ra sao thì tôi không biết. Chớ còn hát xẩm thì dù có được (cho) tiền, vẫn nghèo xơ xác.
Thuở ấu thơ, thỉnh thoảng, tôi cũng nhìn thấy những người hát xẩm. Họ thường ngồi ở cầu thang chợ Đà Lạt – vào lúc chợ đông – gẩy những tiếng đàn buồn bã, và hát những bài ca u uất, giữa sự hờ hững của “ông đi qua bà đi lại.”
Đó là chuyện hát xẩm miền Nam, trong trí nhớ non nớt của tôi, khi đất nước đã hoàn toàn chia cắt. Ở miền Bắc, sinh hoạt của một số những người hát xẩm – có lúc – hoàn toàn khác hẳn:
“Khi hoà bình mới lập lại 1954, ông (nhà văn Thanh Tịnh) được giao phụ trách một đoàn xẩm, gồm 23 anh chị em, phần lớn là mắt kém, đi về hướng Bùi Chu – Phát Diệm, lấy lời ca tiếng hát dân gian để động viên đồng bào đừng nghe theo những lời dụ dỗ di cư của kẻ địch mà hãy ở lại với quê hương.” (Vương Trí Nhàn. Cây Bút Đời Người. Saigon: Phương Nam, 2002).
Quê hương, tuy thế, xem ra cũng chả “ưu ái” gì lắm với những người ở lại. Ngay cả Thanh Tịnh (một nhà văn tăm tiếng, biên tập viên của tạp chí Văn Nghệ, sĩ quan cao cấp của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam Anh Hùng) cũng sống dở giữa lòng cách mạng:
“Ở vào cái tuổi chưa đầy sáu mươi mà Thanh Tịnh những năm đó trông đã già lắm, già hơn tuổi rất nhiều… muốn biết Thanh Tịnh đơn độc thế nào phải nhìn những lúc ông đi bộ. Trên đường Phan Đình Phùng, dưới những hàng sấu, cũng già cả mệt mỏi, ông bước đi như không thể dừng lại nên phải bước, khuôn mặt đăm chiêu, dáng điệu đờ đẫn.” (Vương T.N. sđd 181).
Với hàng triệu người di cư thì hậu vận cũng không sáng sủa gì hơn. Họ bị bắt lại, trọn đám, sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng! Từ đây, Nam / Bắc hoà lời ca. Một bản trường ca rất khó hát nên nhiều kẻ đã liều mạng đâm xầm ra biển, hay ù té bỏ chạy thục mạng qua biên giới xứ người.
Họ thuộc thành phần “bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ” – theo như nguyên văn lời giải thích của giới truyền thông trong nước với dư luận thế giới, và với lũ cột đèn (còn) ở lại.
Không hiểu đám người này đã hành nghề ma cô, đĩ điếm và tổ chức trộm cướp ra sao – nơi đất khách – nhưng số lượng bơ thừa sữa cặn mà họ gửi về cố hương đã cứu toàn dân, cũng như toàn Đảng, thoát chết (đói) nhiều phen. Từ đó, Bộ Chính Trị bèn đổi mới tư duy, và cũng bắt đầu… đổi giọng. Chỉ qua một đêm, tiếng Việt (bỗng) có thêm nhiều cụm từ rất mới và (nghe) rất thân thương: khúc ruột xa ngàn dặm, sứ giả Lạc Hồng, thành phần không thể thiếu trong đại gia đình dân tộc … Bộ Ngoại Giao VN cũng có thêm một vị Thứ Trưởng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Người Việt Ở Nước Ngoài.
Nếu bỏ những chức danh vừa kể, cho nó đỡ rườm rà, và nói trắng phớ ra thì đây chỉ là một đoàn hát xẩm tân thời. Nhiệm vụ mới không phải là động viên người dân ở lại (vì chúng đã lỡ đi thoát rồi) mà là kêu gọi họ đừng nỡ ngoảnh mặt đi luôn, tội lắm!
Ảnh lấy từ trang Dân Luận
Nói cho chính xác thì trước khi cái “đoàn hát xẩm” này được chính thức thành lập, Chính Quyền Cách Mạng cũng đã từng có những động thái để hoà giải với cộng đồng người Việt tị nạn, cụ thể là chuyến công du Hoa Kỳ (vào năm 2004) của bà Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Đối ngoại Quốc Hội – Tôn Nữ Thị Ninh. Chỉ tiếc có điều là cái giọng hát xẩm của bà Ninh không được dễ nghe cho lắm:
– Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi.
– Mình là thế thượng phong của người chiến thắng, mình cần chủ động, người ta không thể chủ động được do mặc cảm, cũng không thể yêu cầu người ta đi trước, họ đứng ở vị trí không thuận lợi trong tiến trình lịch sử.
Đã ngồi ngửa nón giữa chợ đời mà còn ca ông ổng (‘mình là thế thượng phong”) như thế thì có mà ăn cứt. Thứ Trưởng Nguyễn Thanh Sơn – Chủ Nhiệm Ủy Ban Người Việt Ở Nước Ngoài – cũng thế, cũng muốn kiếm ăn nhưng nói năng cứ như như là cắn vào mông thiên hạ vậy:
– So sánh dân chủ ở Mỹ với dân chủ ở Việt Nam thì chưa biết ở đâu hơn ở đâu.
– Trong rất nhiều người đã về Việt Nam, chúng tôi đã gặp, và chúng tôi biết chứ, rất nhiều người tham gia những cuộc biểu tình trước đây từ những cuộc biểu tình…phản đối chuyến đi thăm của nguyên chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sang Hoa Kỳ năm 2007, trong số họ rất nhiều người đã về Việt Nam và chúng tôi gặp, chúng tôi biết. Chúng tôi có hỏi một vài người tại sao lại tham gia như thế làm gì thì họ bảo là thực tế nói thật là cũng đi để kiếm thêm vài ba chục đô la vì họ phát tiền, họ cho tiền thì tại sao không đi.
Với cái đám “bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, chạy theo bơ thừa sữa cặn” và sẵn sàng đi biểu tình chỉ “để kiếm thêm vài ba chục đô la” mà Đảng và Nhà Nước mong họ “tích cực đóng góp xây dựng đất nước” thì quả là ước mong rất đỗi viển vông. Cũng viển vông y như dự tính huy động tiền và vàng của người dân trong nước vậy.
Túng quá nên hoá quẫn chăng?
Tưởng Năng Tiến

Thật ra không phải Nguyễn Phú Trọng không muốn người công nhân quét đường là những con người lam lũ. Ông ta đã 75 tuổi không ngây ngô đến mức mang những em xinh như mộng với đôi bàn tay chưa bao giờ cầm chổi, và khuôn mặt không hề có nét lam lũ nào cả để diễn trò lao động cực nhọc. Không có chén sành, ông Trọng dùng chén kiểu để thay thế. Bản chất của việc này có nguyên nhân của nó. Đảng đè đầu dân, trong đó tầng lớp cần lao là những người chịu khổ nhiều nhất, chịu thiệt thòi nhiều nhất, và bị mất mát nhiều nhất cho sự “quang vinh muôn năm của Đảng”. Hiện nay họ là tầng lớp căm thù ĐCS nhất, nên người Cộng Sản luôn hô hào “gần dân” nhưng họ luôn né xa tránh tiếp xúc với tầng lớp này.
Tựa như những thông điệp trong bức tranh nghệ thuật, bức ảnh giả tạo của ông Nguyễn Phú Trọng cũng có ngôn ngữ của nó. Nhìn thấu bên trong bức ảnh, người ta sẽ thấy bộ mặt ĐCS trong đó. Ít nhất, trong bức ảnh này nó mách chúng ta 4 điều:
– Điều thứ nhất, đó là nó hiện lên trò bịp thô kệch, trò này nó là thuộc tính trong gene của ĐCS;
– Điều thứ nhì, nó nói lên sự sợ hãi của ông những người CS với tầng lớp thấp của xã hội – tầng lớp mà chính ĐCS đã hô hào rằng, đảng được sinh ra là phục vụ lợi ích của họ. Vì thế Cộng Sản không dám gần dân thật sự sự;
– Điều thứ ba, nó mô tả sự phản bội trắng trợn của ĐCS với tầng lớp công nhân. Những người CS luôn hô hào vì giai cấp vô sản, nhưng thực tế CS lại o ép tầng lớp này nhiều nhất. Đến mức những người CS phải sợ họ tấn công vì căm ghét;
– Điều thứ tư, nó mô tả sự khinh khi ghẻ lạnh của người Cộng Sản với giai cấp cần lao, giai cấp đáng thương nhất. Muốn dựng một vở kịch gần gũi dân lao động nhưng ông Trọng lại gớm ghiếc những con người lam lũ hàng ngày tiếp xúc với rác rưới dơ bẩn, nên ông chọn những cô gái sạch sẽ đóng giả người lam lũ.
Với vở kịch vụng đó, Cộng Sản hoặc họ nghĩ nhân dân ngu muội, hoặc chính họ suy nghĩ quá nông cạn nên mới dựng nên vở kịch ấy. Lá cờ Đảng của họ có búa là tượng trưng cho giai cấp công nhân, có liềm là đại diện cho giai cấp nông dân, và trong suốt 74 năm qua, họ luôn miệng hô hào như thế. Thế nhưng tự trong suy nghĩ và hành động của họ thì sao? Hành động là họ quá ác với tầng lớp lao công. Và trong suy nghĩ, họ luôn cách li chính họ với giai cấp này vì họ sợ tầng lớp này trút giận.
Vậy qua đây ta thấy gì? Ta thấy bản chất phản bội của ĐCS. CS giương ngọn cờ giai cấp thì phản bội giai cấp. Và tương tự ngọn cờ giai nấp, lâu nay họ cũng giương ngọn cờ tổ quốc thì giờ đây họ đang phản bội tổ quốc khi trao vận mệnh nước Việt cho Trung Cộng.
— Đỗ Ngà —

Sự dối trá phải bị trừng trị!
Khi nhìn tấm hình chủ tịch nước thăm hỏi và trao lì xì cho hai cô mặc áo công nhân dọn rác đêm giao thừa, gã đã nghi ngờ có sự lừa đảo ở đây.
Chủ tịch nước ngồi xe hơi vù vù dọc đường chắc ít khi nhòm qua ô cửa xe kính chống đạn mờ mịt để biết được khuôn mặt khắc khổ, dáng vẻ gày gò tiều tuỵ của các nữ công nhân vệ sinh nên đã không có được sự nhanh nhạy nghi hoặc như gã: làm gì có em nữ công nhân quét rác nào lại xinh đẹp và tươi tốt như hai em này.
Xinh như các em, lập tức ối đại gia theo, sức mấy để các em nắng mưa ngoài đường xua rác bụi vậy? Thôi gã châm chước bỏ qua cái sự không thật sự hiểu chuyện Đời của bác chủ tịch, nhưng gã khó mà bỏ qua cho những kẻ dàn dựng màn kịch của kẻ sắp đặt kịch bản chủ tịch vi hành.
Dối trá phải gọi là dối trá. Mà đã dối trá phải bị trừng trị.
Dối trá lừa vua trừng trị một.
Dối trá rồi dành tiền lì xì của người Dân lao động nghèo phải trừng trị ngàn.
Em! Trong hình em thật xinh và cười tươi. Em là ai? Em có xấu hổ về việc mình chấp nhận đóng vai kẻ dối trá rồi nhận tiền lì xì lẽ ra của một công nhân quét rác nghèo, hay em sẽ treo tấm hình này trên tường nhà như một vinh dự?
Một người đàn ông tát một cô gái đã bị cộng đồng mạng lên án và người đàn ông ấy đã xin lỗi cộng đồng mạng và xin lỗi cô gái ấy.
Còn em? Gã kêu gọi em.
Gã tin em còn trẻ, em còn biết xấu hổ, còn những kẻ dựng vở kịch này chúng đã quá quen việc lừa đảo, chúng đã đứt sợi dây xấu hổ rồi.

Một trạm BOT thu mỗi ca từ 2 đến 3 tỷ, mỗ ngày 3 ca, vậy số tiền của có thể thu từ 6 đến 9 tỷ, còn lại báo với BGTVT chỉ 1 tỷ, tính ra số tiền bỏ túi rất lớn. Như vậy từ con số báo cáo láo đó, các trạm BOT sẽ kéo dài thời gian thu phí. Và số tiền họ ăn cướp của nhân dân là nhiều vô số.
Việc thu phí BOT cao và kéo dài thời gian, chính nó sẽ đẩy chi phí vận tải lên cao. Mà chi phí vận tải cao sẽ đẩy giá cả tất cả các mặt hàng tăng lên. Cùng với thuế xăng người mà dân Việt phải đóng vào giá đến 120% so với giá gốc, thì giá cả hàng hoá ở Việt Nam bao giờ cũng neo rất cao so với khu vực.
Với thu nhập của người dân Việt chỉ tầm 2.400 đô, thấp thuộc nhóm dưới trong khu vực Đông Nam Á, mà giá cả hàng hóa lại cao, thì kéo theo đó là chất lượng cuộc sống người dân sẽ thấp. Ý nói chất lượng cuộc sống người dân Việt Nam thấp là so với những quốc gia nghèo có thu nhập tương đương chứ không phải so với các nước giàu hơn.
Thuế cao, nhưng an sinh xã hội hoàn toàn không có, điều đó cho thấy, tham nhũng đã rỉa hết phần người dân đáng được hưởng. Quan chức thì tham nhũng tiền ngân sách, mà ngân sách cũng tiền dân. Thêm vào đó, doanh nghiệp sân sau đặt vòi BOT hút máu dân nữa thì hỏi dân còn gì? Chẳng còn gì cả, và họ bị buộc phải lao động nhiều hơn để “đủ sống”. Nhưng từ “đủ sống” chỉ là mồi nhử, cứ nỗ lực mà không biết đòi hỏi thì không bao giờ dân đủ sống thực sự. Thực chất sự nỗ lực của dân là chỉ nhằm để nhà nước và khối doanh nghiệp thân hữu bóc lột nhiều hơn mà thôi. Ngồi không hút máu dân sống phè phỡn, như vậy làm sao bọn chúng buông ra được? Chắc chắn một điều, chúng sẽ trừ khử hay đánh mạnh những ai dám lên tiếng vì sự công bằng.
Một ngày từ 6 đến 9 tỷ, báo cáo 1 tỷ, còn 2 tỷ bỏ túi. Quá béo bở, nên ai muốn đánh dẹp BOT thì chúng cũng sẽ chiến tới cùng. Với mỗi ngày 2 tỷ bỏ ngoài sổ sách, bọn BOT chỉ cần bỏ ra mỗi ngày trăm triệu để thuê công an và côn đồ để bảo vệ chúng, thì chắc chắn bọn này sẽ đến xếp hàng đông như Nguyên. Chính đám này sẽ hăm dọa trả thù, đánh đập những người dân nào dám đánh BOT của nó. Điều này ví như bọn BOT cướp tiền nhân dân, rồi dùng tiền đó mua roi quất vào nhân dân cho chừa thói đòi hỏi.
Mới đây một ông phó thủ tướng nói rằng “năm 2021 công chức sống bằng lương”. Điều này đặt ra câu hỏi rằng, từ trước tới giờ công chức không sống bằng lương nhưng họ vẫn sống, có người còn rất giàu, vậy tiền ở đâu ra? Cho nên từ câu nói này, chúng ta mới thấy tỷ lệ tham nhũng ở Việt Nam phải là 100%, nói đến chuyện “trong sạch” ở Việt Nam là hoang tưởng.
Ông Trọng đốt lò ầm ầm, nhiều củi của đối thủ chính trị bị chụm, nhưng tiền ngân sách bị hút như nước đại dương, còn tiền thu hồi thì như giọt cà phê. Mà đã 100% tham nhũng thì có thằng “trong sạch” nào để trám vào lỗ trống? Không có. Cho nên chuyện chống tham nhũng của CS Việt Nam là chuyện dùng tham nhũng để thay thế tham nhũng. Cho nên Tổ Chức Minh Bạch Thế Giới (Transparency International) đã xếp hạng chỉ số tham nhũng CPI (Corruption Perceptions Index) cho Việt Nam tụt 10 hạng. Nghĩa là nhóm quan chức mới thay thế những quan chức cũ có mức độ tham nhũng cao hơn. Chỉ có đàn cừu mới tung hô ông Trọng chứ thế giới người ta quá hiểu bản chất của chiến dịch này.
Đấy là toàn cảnh một xã hội Việt Nam hiện nay, nhìn như là một cỗ máy hút máu toàn dân. Chống tham nhũng kiểu ông Trọng nếu gọi đúng bản chất là thay vòi hút mà thôi. Sẽ không có gì khác cho thời hậu đốt lò. Với sự cai trị của ĐCS thì nhân dân mãi là đối tượng để Đảng và đám kinh tế thân hữu hút máu. Sẽ không thể khác. Chính ĐCS là nguyên nhân của nghèo đói và bất công xã hội. Chắc chắn sẽ không có chuyện ĐCS hy sinh quyền lợi của nó. Việc loại bỏ vai tro cai trị của ĐCS là nhiệm vụ của gần 100 triệu dân. Mình không biết tự giải thoát cho mình thì chẳng ai làm giùm cho.
— Đỗ Ngà —

Ngoài ra, các chùa chiền hay những nơi tổ chức lễ hội để người tham gia xin ấn, xin lộc cũng rất đông các bạn trẻ tham gia.
Truyền thông trong nước trích dẫn lời giáo sư Ngô Đức Thịnh rằng khi số lượng người trẻ, người có học thức đặt niềm tin vào tâm linh quá nhiều là điều đáng lo:
“Tất nhiên thời nào cũng có tình trạng mê tín dị đoan. Nhưng hiện điều đáng lo lại là số lượng người trẻ, người có học thức đặt niềm tin vào tâm linh khá nhiều. Không khó để thấy các sĩ tử trước ngày thi vào Văn Miếu thi nhau sờ đầu rùa, dùng tiền quết lên bia tiến sĩ để mong làm bài được trúng tủ.”
Nhà nghiên cứu xã hội học, Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương cho rằng một khi xã hội không an toàn thì người ta tìm chỗ bấu víu khác, bất kể là người già hay người trẻ. Bà nói:
“Cái này thuộc về tâm linh tín ngưỡng nên cũng tùy thuộc vào từng người. Có người tin nhiều, có người tin ít, người già hay người trẻ cũng thế thôi. Ở Việt Nam bây giờ người ta cầu khấn, cúng bái không hẳn chỉ do tín ngưỡng, mà họ muốn cầu cho một sự an toàn nào đó. Nếu một xã hội không bảo đảm an sinh, cuộc sống nhiều bấp bênh thì mức độ người dân phải cầu, cúng, bấu víu vào một cái gì đó để có chút niềm tin sẽ càng tăng. Còn nếu một xã hội an toàn hơn thì mức độ cầu cúng của người dân chắc sẽ giảm xuống.”
Bà nói thêm rằng tâm lý của người Việt Nam là có kiêng có lành cho nên người ta cầu khấn bất cứ đâu, bất cứ tôn giáo nào, miễn sao họ thấy an lành là được.
Cứ vào những ngày rằm, mùng một thì các ngôi chùa ở Việt Nam luôn có đông người đến lễ bái. Còn những ngày đặc biệt trong năm như rằm tháng giêng, đêm giao thừa hay sáng mùng một Tết thì không chỗ chen chân. Người ta đến xin lộc, hái lộc, xem quẻ đầu năm…
Bà Minh, một người dân thường xuyên đi lễ chùa nói với RFA:
“Xã hội bây giờ bệnh tật thì nhiều, ra đường thì người dân không có ý thức đi ẩu gây ra tai nạn giao thông, ăn uống thì thực phẩm bẩn, môi trường thì ô nhiễm… đâm ra cũng chẳng biết trông chờ gì. Thôi tốt nhất là cứ theo mặt tâm linh đi lễ cầu mong sức khoẻ, bình an cho gia đình mà thôi.”
Nhà báo Võ Văn Tạo thì cho rằng chuyện cúng bái, cầu khấn, xin lộc thì rõ ràng là mê tín dị đoan chứ không phải đức tin về đạo đức, tôn giáo.
Trong cuốn ‘Believing in Magic’, tác giả Stuart Vyse viết rằng “gốc rễ của mê tín dị đoan là sự thiếu kiểm soát. Con người luôn muốn được kiểm soát tốt hơn trong các hoàn cảnh bất an. Khi gặp điều gì đó quan trọng nhưng không chắc chắn, mê tín dị đoan sẽ được dùng để lấp vào khoảng trống sợ hãi và làm con người cảm thấy tốt hơn”.
Ở Việt Nam những năm sau này, người ta dường như cúng bái nhiều hơn. Báo chí trong nước thường xuyên đưa những bài viết, hình ảnh những quan chức cao cấp hay vợ con của họ, trước đây theo chủ thuyết cộng sản là vô thần, bây giờ cũng đi chùa, dâng mâm cúng chùa. Nhà báo Võ Văn Tạo cho rằng có ba nguyên nhân dẫn đến chuyện này:
“Thứ nhất là những năm chiến tranh trước đây, nhà nước cộng sản miền Bắc chủ trương diệt những gì mà gây phân tán tư tưởng xã hội. Họ chỉ muốn người dân tập trung căm thù Mỹ, đánh Mỹ giải phóng miền Nam. Với học thuyết Mac – Lenin thì họ rất ghét các niềm tin khác, họ chỉ muốn người dân tuyệt đối vào ĐCSVN thôi.
So với trước đây thì bây giờ có khác, tất nhiên ĐCSVN vẫn muốn độc quyền cai trị đất nước, nhưng khách quan mà nói thì họ cũng có nới lỏng khi người dân đặt niềm tin chỗ khác.
Nguyên nhân thứ hai là khi cuộc sống đỡ thiếu thốn về vật chất thì ‘phú quý sinh lễ nghĩa’, hay đi chùa, đi đền, cúng sao giải hạn…đặc biệt ở ngoài bắc phát triển mạnh trong vài thập niên trở lại đây.
Nguyên nhân thứ ba là đạo đức xã hội xuống cấp, người dân đã mất hết niềm tin vào ban lãnh đạo đất nước. Không chỉ với giới chóp bu mà ngay cả cán bộ phường khóm, thôn, xã tiếp xúc hàng ngày với dân cũng ăn hối lộ, gây khó dễ cho dân, nói một đằng làm một nẻo. Nhu cầu cuộc sống luôn phải có chỗ để gửi gấm niềm tin. Bây giờ họ phải đặt niềm tin chỗ khác. Đó cũng là nhu cầu tự nhiên thôi.”
Facebooker Đỗ Ngà trong một bài viết vào ngày 7 tháng 2 cho rằng đa số người Việt khi bị bế tắc thì cầu thánh thần ban riêng cho họ sự giàu sang mà quên mất một điều là nếu đất nước thịnh vượng thì tất cả mọi người, trong đó có họ và cả con cháu họ sau này cũng được hưởng sự thịnh vượng đó.
TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở NƯỚC NAM
Phạm Quỳnh
Bàn thờ tổ tiên ngày Tết. Ảnh: Nam Phong.
Nhân loại gồm nhiều người chết hơn là người sống, Auguste Comte đã nói ở đâu đó như thế. Ở nước Nam câu nói ấy của nhà triết học thực chứng Pháp càng đúng hơn ở bất cứ nơi nào khác. Quả vậy, việc thờ cúng tổ tiên có một vị trí quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội của chúng ta. Nó đã trở thành một thứ giáo lý tôn giáo, và, theo một nghĩa nào đó, một tôn giáo quốc gia thực thụ. Nếu tôn giáo, đúng như ý nghĩa từ nguyên của nó đã chỉ rõ *, là mối liên kết tinh thần nối liền con người với những lực lượng siêu cảm, việc thờ cúng hay tôn giáo về những người đã chết là cách biểu hiện những mối quan hệ giữa thế giới những người đang sống với thế giới những người đã chết. Các mối quan hệ ấy rất nhiều và liên tục. Những người chết thường xuyên can dự vào cuộc sống của những người đang sống; họ hướng dẫn, chỉ đạo, che chở cho chúng ta, bảo hộ chúng ta, gợi hứng cho những ý tưởng và hành vi của chúng ta, có thể nói nhìn theo chúng ta, bằng những đôi mắt có thể xuyên suốt bóng tối của sự sống và sự chết và rất có thể chính bằng những đôi mắt ấy mà nhân loại có được một hình dung thoáng chốc nào đấy về tương lai và số phận của mình; tóm lại họ sống trong ký ức của chúng ta, trong mọi công việc của chúng ta, trong mong ước của chúng ta về một cuộc sống còn sống động hơn cả cuộc sống trên trần thế này.
Bản chất của những mối quan hệ làm nên một trong những hình thức sống động nhất trong tôn giáo của người nước Nam đó là gì? Tôn giáo về những người chết ấy dựa trên những nền tảng tín ngưỡng nào? Các biểu hiện nghi thức và thực hành của nó ra sao? Từ đó có thể nhận ra những bài học luân lý và triết học gì?
Khổng Tử, vốn là cả Socrate, Solon hay Lycurge cộng lại của Phương Đông, thường nói về các thần linh và các linh hồn. Quả là trong Luận Ngữ khi nói với các học trò của mình, đôi khi ông đã từ chối giải thích về bản chất của những điều ấy; ta đã biết câu trả lời của ông cho một học trò hỏi ông về vấn đề này: “Phục vụ người sống ngươi còn chưa biết cách, thì ta dạy ngươi cách phục vụ người chết làm gì?” – Nhưng chúng ta cũng lại biết rằng về chuyện này, ông luôn trung thành với các tín ngưỡng của Trung Hoa cổ đại, mà đặc biệt tác phẩm Kinh Lễ còn giữ lại cho chúng ta nhiều dấu vết. Theo các tín ngưỡng đó, con người có một cái phách và một cái hồn. Khi chết, phách tan hủy cùng với thể xác, còn hồn thì tách ra; nó bay lượn trong khoảng không và sống một cuộc sống độc lập, thuần khiết, bay bổng. Đấy là cuộc sống của các linh hồn, của các vong hồn hay các bậc tổ tiên đã quá cố. Như vậy họ không chết đi hoàn toàn: họ tiếp tục sống một đời sống siêu nhiên, tinh thần. Nhưng cuộc sống chừng có thể nhạt nhòa đi, tan biến mất trong cõi vô cùng đó, được làm cho trở nên hiện thực hơn, đầy hiệu lực hơn, có thể nói như vậy, bằng ký ức mà những người còn sống lưu giữ về họ, bằng việc thờ cúng mà những người sống có bổn phận phải làm tròn đối với họ. Như vậy đấy những người đã chết vẫn còn tham dự mãi vào cuộc sống của gia đình mình, con cháu mình. Người ta lại nhắc đến họ trong mọi dịp long trọng, như khi có người mới ra đời, trong dịp cưới xin, v.v…
Kinh Lễ viết: “Ba tháng sau lễ cưới, người vợ trẻ được giới thiệu với tổ tiên trước bàn thờ với lời khấn sau đây: – Đây là cô dâu mới đã bước vào gia đình chúng ta. – Rồi đến ngày đã chọn trước, cô dâng lễ vật lên trước bài vị tổ tiên, và từ nay cô trở thành thành viên trong gia đình chồng”. Lời bình còn nói thêm rằng nếu cô bị chết trước lễ ra mắt và lễ dâng lễ vật ấy, thì dù đã sống chung với chồng, cô vẫn chưa phải là vợ anh ta và thi hài cô được trả về nhà cha mẹ.
Kinh Lễ còn viết thêm: “Trong trường hợp một đứa con dược sinh ra khi người cha đã chết, quan tài người cha còn quàn ở nhà, người làm lễ cúng sau khi đã gọi tên ông ta ba lần sẽ báo với ông ta: – Một thị đã sinh ra một cậu con trai: tôi xin báo cho người được biết… Nếu người chết đã được an táng, thì đứa trẻ sơ sinh sẽ được đưa trình báo trước bài vị của ông ta…”.
Việc thờ cúng các linh hồn và tổ tiên đã quá cố đã tồn tại từ thời rất xa xưa, Khổng Tử trong Luận Ngữ kể rằng vua Vũ, một trong những vị vua đầu tiên nửa truyền thuyết nửa lịch sử của Trung Quốc vốn rất giản dị, đã tỏ ra cực kỳ phóng khoáng khi dâng lễ vật cúng các vong hồn. – Khổng Tử viết trong Trung Dung: “Vào mùa xuân và mùa thu, người xưa trang trí bàn thờ tổ tiên. Họ bày các đồ đồng mà tổ tiên đã sử dụng và các quần áo tổ tiên đã mặc. Họ dâng cúng các thức ăn và hoa trái theo mùa.”
Trên đây tôi đã nói rằng Khổng Tử tôn trọng tôn giáo cổ xưa đó, các tín ngưỡng xưa đó của nước Trung Hoa cổ đại, lại còn vì chúng hoàn toàn phù hợp với học thuyết của ông về sự bảo tồn xã hội cơ sở trên việc thờ phụng quá khứ và truyền thống.
Nhưng tự ông có tin ở sự tồn tại của linh hồn không? Ông có tin ở sự hiện diện thật sự của linh hồn trong các lễ cúng và trong việc khấn vái không?
Qua những lời nói của ông, bao giờ cũng rất thận trọng khi đề cập đến những chuyện siêu hình, ta có thể nghi ngờ.
Chúng ta đã thấy câu trả lời của ông với một người học trò hỏi ông về cái chết. Sau đây là lời ông nói với một người học trò khác hỏi ông về chữ “trí”: “Làm tròn các bổn phận của một con người; tôn kính các thần; ấy là trí”.
Tôn kính các thần, nhưng kính nhi viễn chi, thái độ của bậc hiền triết đối với thần thánh là như vậy.
Có thể các vong hồn và thần thánh là có thật; cũng có thể không có thật. Duy có một điều chắc chắn là ta tôn kính họ; hãy làm điều đó với tất cả sự thành tâm, không mê tín cũng chẳng nên cuồng tín, như là ta thực hiện một nghi thức đạo đức và xã hội rất quan trọng.
Nghi thức ấy, quả vậy, bắt nguồn từ đức hiếu đễ, trong hệ thống chính trị – đạo đức của Khổng Tử, vốn là nền tảng của mọi đức hạnh, cơ sở của tế bào gia đình, và do đó cũng là của xã hội và của đế chế..
Trong những điều kiện đó, cần phải tôn kính những người đã chết như thế nào, và trong tất cả những người đã chết những người gắn liền với ta nhất, tổ tiên của chúng ta?
Theo Kinh Lễ lời nói sau đây là của Khổng Tử: “Coi người chết như là đã chết rồi thì sẽ là vô nhân. Chẳng nên làm thế. Nhưng coi họ như những người đang sống thì sẽ là vô lý. Chẳng nên làm thế”.
Như vậy không nên coi người chết như đã chết rồi, có nghĩa là không chăm nom gì đến họ nữa, quên bẵng luôn đi; cũng chẳng nên coi họ như còn sống, nghĩa là tin là họ còn sống thật. Đúng ra, họ sống bằng ký ức của chúng ta, bằng sự sống động, tính nồng nhiệt của cái tình cảm mà chúng ta gọi là đức hiếu đễ, biết tôn kính những người đã cho ta sự sống và ý thức, khiến cho họ còn tồn tại mãi mãi, nuôi giữ ký ức về họ, truyền nối việc thờ cúng mãi mãi cho con cháu chúng ta, bằng cách đó tạo cho ta cái ảo tưởng, – một thức ảo tưởng tốt lành, – về sự nối tiếp, về tính vĩnh hằng, tóm lại về sự bất tử, trong cuộc tồn sinh thoáng chốc, trong cõi thế gian biến ảo này.
Phải hiểu tình cảm sâu sắc của bậc hiền triết như vậy đấy. Tôn trọng truyền thống và các nghi lễ, ông không muốn bày tỏ rõ ràng ý kiến về vấn đề này. Tư tưởng của ông hẳn là như vậy. Đối với ông, việc thờ cúng người chết là tôn kính ký ức về họ, cơ sở trên đức hiếu đễ và tình cảm về sự vĩnh hằng của gia đình và nòi giống. Chính trong tinh thần đó mà ngày nay nó còn được thực hiện trong phần lớn thế giới Phương Đông ở đấy nó là tôn giáo chính và là tín điều thần khải hay siêu nhiên quan trọng nhất.
Bàn thờ tổ tiên ngày Tết. Ảnh: Lâm Khang.
Việc thờ phụng này có nhiều nghi thức mà mô tả lại ở đây sẽ chẳng có ích gì. Vả chăng ta đều biết mỗi gia đình người nước Nam, dù giàu hay nghèo, đều có bàn thờ ông bà của mình, có thể là một ngôi đền tráng lệ hay một cái kệ đơn giản treo bên trên một chiếc chõng. Trên đó đặt bài vị của tất cả những người thân đã mất cho đến đời thứ năm. Những người này là đối tượng của các lễ cúng đặc biệt vào các ngày giỗ và tất cả các ngày lễ theo nghi thức trong năm. Những người khác, các vị tổ tiên xa hơn, được ghi tên trên một bài vị chung và được cúng chung vào những ngày lễ theo nghi thức vốn rất nhiều trong năm. Có hai ngày được đặc biệt dành cho những người đã mất: ngày 3 tháng 3 (thanh minh), ngày viếng mộ; ngày lễ của những người chết này chẳng có gì là tang tóc và diễn ra vào một trong những lúc thời tiết đẹp nhất trong năm khi:
Cỏ non xanh tận chân trời…
Ngày lễ của những người chết này, gọi là “tẩy mộ”, thường có kèm theo một lễ hội của những người sống, bởi ý tưởng về cái chết – và đây là điều đáng chú ý, – ở xứ sở này chẳng có gì là tang tóc:
Gần xa nô nức yến oanh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Ngổn ngang gò đống kéo lên…
Ngày thứ hai dành cho những người chết, là ngày rằm tháng 7. Đúng ra đây là một ngày lễ Phật giáo cúng các vong hồn, tất cả những người chết mà không có người nối dõi để thờ phụng. Bởi tai họa lớn nhất đối với một con người là biết rằng đến một ngày nào đó không còn ai thờ cúng mình, vì không có hậu duệ, và do vậy trở thành một linh hồn lang thang mà đức từ bi của nhà Phật dành cho một lễ cúng chung và vô danh tính.
Do vậy những người chết mà không có hậu duệ trực tiếp thuộc giới nam để tiếp tục thờ cúng, theo luật nước Nam được phép chọn một người bà con gần gọi là “người thừa tự”. Qua đấy ta thấy ý tưởng về việc thờ phụng trong tâm hồn người nước Nam sâu sắc đến dường nào.
Việc thờ cúng người chết chủ yếu là thờ cúng tổ tiên.
Khổng Tử nói rằng: “Dâng lễ vật cho những vong hồn không phải là người thân của mình là một việc xu nịnh”.
“Mỗi người, mỗi gia đình phải dâng lễ vật cho những người thân của mình, chứ không phải cho những người khác. Nếu có ai đó dâng lễ cúng cho những vong hồn chẳng hề liên quan gì đến mình, thì rõ ràng là để nhận được một ân huệ mà họ chẳng có quyền được hưởng: một sự chiếm đoạt lấy ân huệ đáng chê trách”. (Wieger).
Như vậy, về nguyên tắc, mỗi người chỉ thờ cúng tổ tiên đã mất của mình. Nhưng có những con người trong đời mình đã làm nhiều điều tốt cho đồng bào mình, có công ơn đối với làng xóm của mình, tỉnh mình, đối với cả nước; có những vị vua, những vị quan đã xây dựng nên vinh quang của quốc gia; những vị tướng lĩnh đã cứu nước khỏi ách ngoại xâm; những nhà trí thức lớn đã đem lại vinh dự cho quốc gia do trí thông minh và tài năng của mình; những người đàn ông hay phụ nữ đã hy sinh vì danh dự hay đức hạnh; những người đó được quyền để cho đồng bào mình nhớ ơn và thờ phụng. Vậy nên các làng thờ phụng họ như những vị thành hoàng của làng; các tỉnh quê hương họ, hay cả nước lập đền thờ ở những nơi nổi tiếng để ghi nhớ công ơn họ. Đấy cũng là một hình thức thờ cúng tổ tiên; không phải là những bậc tổ tiên riêng của ai nữa, mà là tổ tiên chung của làng, của tỉnh thành, của quốc gia; đấy là thờ phụng các vị thần bảo hộ của đất nước, và theo một nghĩa nào đó, đó là việc thờ phụng những con người vĩ đại, những người anh hùng, mà Carlyle hết sức ca ngợi.
Việc thờ cúng người chết được hiểu và được thực hiện ở nước Nam là như vậy đấy. Do tầm quan trọng to lớn của nó về phương diện thiết chế gia đình và xã hội nước Nam, cùng những nghi thức tỉ mỉ kèm theo, nó đã thật sự trở thành một tôn giáo, tôn giáo của gia đình và nòi giống, tôn giáo của ký ức và lòng biết ơn. Quả thật đây là một tôn giáo hợp lý, logic, phù hợp với lý trí và tình cảm, ít mang tính chất thần bí nhất để thỏa mãn những tâm hồn sùng tín, và nhiều lý tính nhất để làm vừa lòng những đầu óc duy lý. Đấy là một thứ tôn giáo đầy tính triết học và người nước Nam lấy làm vinh dự đã thực hiện nó suốt bao thế kỷ dài.
(1930)
Xã hội làm ‘nô lệ’ cho thánh thần và dấu hiệu ‘mạt vận’ của văn hoá
Cả một xã hội khấn vái, ước ao, một xã hội biến mình thành nô lệ của hương khói và thánh thần là con đường tắt dẫn văn hóa đến ngày “mạt”.
Người đi lễ chùa Bái Đính (Ninh Bình) ném tiền lẻ xuống trống đồng đề cầu may mắn khiến trống đồng như một nơi chứa rác
Hãy thử mường tượng đến tâm trạng của Thánh Gióng, công chúa Thiều Hoa hay Đức Thánh Trần hiển linh, nhìn thấy đám hậu sinh chen nhau giẫm đạp, cướp giật, hối lộ công khai ở các lễ hội tôn vinh mình…
Sẵn sàng thực hiện hành vi “vào luồn, ra cúi” như lách qua khe cửa hẹp và bò dưới gầm ban thờ tại đền Bảo Lộc (Nam Định) để được thăng quan phát tài
Andy
Một xã hội khói hương
Nói ra thì bảo báng bổ, nhưng cứ thử nhìn mà xem, tháng Giêng năm nào, người ta cũng thấy rõ ràng nhất, đầy đủ nhất cái sự mê tín đến khủng khiếp của người Việt.
Một xã hội “khói hương”, với hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn người chen chân mang vác thủ lợn, gà luộc, vàng mã, đủ thứ lễ lạt cồng kềnh và cầu kỳ khắp các chùa chiền, miếu, phủ; từ nơi xa xôi hẻo lánh đến thị thành nhộn nhịp; từ đầu tuần tới cuối tuần, dai dẳng hết cả tháng Giêng, tháng Hai, có nơi còn vắt sang tháng Ba.
Đâu đâu cũng thấy những người là người, nghi ngút khói hương, sì sụp khấn vái, cầu ước.
Xa xôi gì đâu, mới cách đây mấy ngày, dư luận khiếp đảm chứng kiến một cuộc hỗn chiến dã man bằng nắm đấm, gây gộc, hung hăng và máu để cướp cho bằng được quả “phết”, tại Phú Thọ. Vì tương truyền, có quả ấy trong nhà, cả năm sẽ may mắn, ăn nên làm ra, rồi cả …đẻ con trai.
Tối hôm sau, hàng chục nghìn người xếp hàng dài cả cây số, tràn khắp các con đường, ngay trục giao thông trung tâm của Thủ đô, vái vọng xa tít tắp vào ngôi chùa Phúc Khánh vì đặt niềm tin vào sự linh thiêng của nơi này.
Biển người chen chân đi lễ đầu năm ở chùa Phúc Khánh.
Mùi của khói hương là mùi của bình an, của tĩnh tại, của thời khắc thiêng liêng, của ước vọng tốt đẹp và hướng thiện. Thứ mùi ấy, nhất định không thể tồn tại giữa xô bồ và toan tính.
Cũng đêm đó, ở đền Trần Nam Định, hơn vạn người chen lấn, giẫm đạp, nhảy bổ lên cả lư đồng, bàn thờ để cướp bằng được một chút lộc mang về nhà. Lộc ấy, dù được cướp theo cách báng bổ nhất, cũng được nâng niu như thứ bùa hộ mệnh cho lòng tin mãnh liệt vào đường công danh, thăng quan tiến chức.
Rồi các phủ, các đền, chùa, miếu mạo…cứ sau Tết là tấp nập người ra kẻ vào, khổ sở chen lấn, sớ cầu xin nào cũng dài dằng dặc ti tỉ ước mong.
Thôi thì, cầu mong những điều may mắn, tốt đẹp, an vui trong ngày đầu xuân năm mới vốn là truyền thống tốt đẹp của người Việt bao đời. Những địa danh tâm linh ấy, cũng được dựng lên từ ý nghĩa văn hóa và lịch sử đầy nhân văn của cha ông.
Nhưng thử hỏi, bao nhiêu người trong số các khách thập phương xa gần kia, mang cái tâm hướng thiện và cầu bình an thực sự đến với những nơi linh thiêng. Hay nhiều hơn thế, những kẻ đang hùng hổ cướp lộc và len lén mua khói bán nhang, mua thần bán thánh đến cầu khấn những điều biểu lộ sự tham lam vô độ của lòng người.
Nhảy bổ lên cả lư đồng, bàn thờ để cướp bằng được một chút lộc mang về nhà tại đền Trần (Ảnh: Zing)
Mùi của khói hương là mùi của bình an, của tĩnh tại, của thời khắc thiêng liêng, của ước vọng tốt đẹp và hướng thiện. Thứ mùi ấy, nhất định không thể tồn tại giữa xô bồ và toan tính.
Từ bao giờ, niềm tin của con người được “gá” vào thánh thần chứ không phải giữa con người với con người, giữa con người với ngay chính xã hội mà chúng ta đang sống, đang tồn tại hiển nhiên như vậy?
Cả một xã hội khấn vái, ước ao, một xã hội biến mình thành nô lệ của hương khói và thánh thần.
Văn hóa, chắc rồi cũng đến hồi “mạt vận”, khó mà ngóc đầu lên được, khi thay vì ngẩng cao đầu mà dũng khí, thì cả biển người lại sống bằng quỳ lạy dập đầu và đi “xin” giàu có, vinh hiển, con cái, công danh sự nghiệp… từ các vị thánh thần. Quỳ lạy xong nhảy bổ lên đầu người khác, lên cả bàn thờ để cướp hương hoa vàng lộc, “mạt” ở đấy chứ đâu.
Không “mạt vận” sao được, khi sự mê tín cực đoan đã đẩy con người vào sự ngu muội và làm trỗi dậy tính dã man nhất, ác độc nhất, hình thành cả một thế hệ hung bạo.
Vung gậy đánh gục cái người đang là anh, em, chú, bác gần gũi đó để mang bằng được cái may, cái lộc về nhà là cầu an hay là biểu hiện của sự phi nhân tính đến lạnh sống lưng?
Sự hung hăng dã man tại lễ hội cướp phết Hiền Quan (Ảnh: Việt Linh)
Rồi từ sự hung hăng bạo ngược được “tôi rèn” ở nơi làng xã ấy, sẽ chẳng còn lạ khi người ta ra ngoài kia, lạnh lùng chém chết cả một gia đình vì mấy đồng bạc lẻ, xuống tay đâm chết một mạng người ngay trên bàn nhậu dễ dàng đến kinh sợ.
Xã hội khói hương dẫn văn hóa đi tắt đến ngày “mạt”, ngắn ngủi lắm.
An Yên
Theo một số thông tin được công bố thì mức thu nhập trung bình đầu người của Việt Nam vào năm 2008 đạt xấp xỉ 1000 đô la Mỹ.
Mức thu nhập này được xem như là mức thu nhập trung bình, và bắt đầu từ lúc đó nhiều nhà quan sát kinh tế chính trị đã cảnh báo rằng Việt Nam sẽ bị rơi vào một cái bẫy gọi là bẫy thu nhập trung bình, trong đó nền kinh tế chủ yếu dựa vào việc khai thác sức lao động rẻ và giản đơn.
Đầu năm 2019, một viên chức cao cấp của Việt Nam là ông Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch- Đầu tư lặp lại lời cảnh báo đó với tình trạng Việt Nam hiện nay nằm trong bốn cái bẫy: chi phí lao động thấp, sản xuất có giá trị thấp, có công nghệ thấp, và thu nhập trung bình.
Thực ra trong bốn điều vừa nêu thì điều thứ tư bao gồm ba điều còn lại gắn chặt với nhau, vì với lao động rẻ, giản đơn, chỉ có thể thao tác máy móc công nghệ thấp, hoặc không có máy móc, và vì thế tạo ra những sản phẩm không có giá trị cao.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế ở Hà Nội, nhận xét về tình trạng thu nhập trung bình của Việt Nam hiện nay:
“Chúng ta đã đạt được cái mức trung bình trong một thời gian khá dài rồi. (Năm nay) là xấp xỉ 2500, nhưng để đạt được mức 12000 đô la một đầu người, lại là một quá trình rất dài và khó khăn.”
Mức 12000 đô la một người một năm được xem như thu nhập của một quốc gia đã trở nên giàu có.
Theo một chuyên gia kinh tế khác là Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ, từ Na Uy, để cho một quốc gia thoát khỏi cái bẫy thu nhập trung bình, không còn nghèo nữa thì cần ba điều sau đây:
“Thứ nhất là trình độ khoa học kỹ thuật của dân chúng phải cao, các công ty phải có sự sáng tạo, và thứ ba là thể chế của nhà nước phải tạo điều kiện cho sự sáng tạo đó.”
Ông dẫn ra ví dụ là Malaysia, một quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, láng giềng với Việt Nam đang được dự báo là sẽ thoát ra khỏi bẫy thu nhập trung bình để trở thành một nước giàu có sắp tới đây.
Khi được hỏi là nếu so sánh với Malaysia thì Việt Nam có một dân số quá đông đúc cần phải giải quyết việc làm ngay lập tức cho số lao động giản đơn, thì liệu chuyện thoát bẫy trung bình đó có khó khăn hơn hay không?
Ông Nguyễn Huy Vũ cho rằng trong bất cứ quốc gia nào cũng có hai lĩnh vực công nghiệp song song, một lĩnh vực chiếm dụng công lao động nhiều, một lĩnh vực khác cần kỹ thuật và kiến thức nhiều hơn. Theo ông Vũ, sự đầu tư vào lĩnh vực thứ hai sẽ làm cho nền kinh tế từ từ dịch chuyển ra khỏi khu vực chỉ sử dụng sức lao động giản đơn.
Các nước bị mắc bẫy thu nhập trung bình thì có nhiều lý do, trong đó có thể chế với các nhóm tư lợi, tham nhũng.
-Tiến sĩ Lê Đăng Doanh.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cũng đề cập đến việc phải thay đổi thể chế để thoát ra khỏi bẫy thu nhập trung bình. Ông nhấn mạnh rằng trong tình hình Việt Nam hiện nay sự hình thành các nhóm lợi ích có quyền lực chính trị kinh tế lớn sẽ ngăn cản sự thay đổi thể chế đó:
“Các nước bị mắc bẫy thu nhập trung bình thì có nhiều lý do, trong đó có thể chế với các nhóm tư lợi, tham nhũng. Ví dụ như những nhóm này khống chế việc khai thác tài nguyên, xuất nhập khẩu, họ không cần quan tâm gì cả đến việc đầu tư phát triển công nghệ để đưa đất nước đi lên.”
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói thêm là sự thay đổi chính sách, thể chế có thể khuyến khích sự đầu tư tư nhân, tạo nên một chuỗi sản xuất thoát khỏi tình trạng một sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam nhưng có rất ít giá trị là được tạo tại Việt Nam. Ông lấy ví dụ như ngành công nghiệp dệt may tại Việt Nam hiện nay, giá trị của một chiếc áo có khi chỉ có 50% là được tạo ra tại Việt Nam.
Một số ngành thoạt nhìn thì có thể nghĩ là có nhiều giá trị được tạo ra thay vì chỉ là lao động giản đơn, như sản xuất điện thoại thông minh tại Việt Nam, nhưng theo ông Nguyễn Huy Vũ, thực tế có thể không phải như vậy.
Cuối cùng phải cải cách về dân chủ, vì khi người dân có được sự suy nghĩ dân chủ, khác biệt, thì họ mới sức sáng tạo, mới đổi mới được.
-Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ.
Hiện nay Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất điện thoại thông minh Samsung lớn nhất thế giới, và xuất khẩu điện thoại của hãng này chiếm đến ¼ xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2018, theo hãng Reuters.
Tuy nhiên ông Vũ cho rằng những công ty như Samsung có cơ sở nghiên cứu, thiết kế ở các quốc gia phát triển như Châu Âu, Bắc Mỹ, còn tại Việt Nam là nơi được đầu tư để sử dụng sức lao động lắp ráp giá rẻ mà thôi.
Song song với việc thay đổi thể chế, để nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật của dân chúng, còn một điều quan trọng nữa để thoát bẫy thu nhập trung bình, là ông Nguyễn Huy Vũ nhấn mạnh việc phải có tự do dân chủ hơn:
“Cuối cùng phải cải cách về dân chủ, vì khi người dân có được sự suy nghĩ dân chủ, khác biệt, thì họ mới sức sáng tạo, mới đổi mới được.”
Đối với giáo sư Ngô Vĩnh Long, từ Đại học Maine, vấn đề giáo dục là vấn đề sẽ cản trở Việt Nam phát triển:
“Vấn đề là có chính sách tốt hay là không. Có chính sách tốt thì không lọt vào cái bẫy thu nhập trung bình đó. Mà chính sách tốt là vấn đề giáo dục. Việt Nam không có giáo dục tốt nên không thể đầu tư cái gì cả. Thành ra chỉ có thể làm công cho Samsung thôi, chứ còn hơn nữa thì không đủ trình độ cũng như kỹ năng để theo kịp.”
Giáo sư Ngô Vĩnh Long cho biết từ những năm 1980 ông đề nghị các giới chức Việt Nam chú ý đến việc giáo dục, nhất là các cấp tiểu học và trung học, nhưng không được lắng nghe, vì Việt Nam mong muốn có cái gọi là đi tắt đón đầu, chú ý vào việc phát triển đại học.
Việt Nam không có giáo dục tốt nên không thể đầu tư cái gì cả. Thành ra chỉ có thể làm công cho Samsung thôi.
-Giáo sư Ngô Vĩnh Long.
“Đào tạo đại học để có thầy giỏi thì cũng tốt, nhưng cứ chú ý vào cái đó thì không đúng. Ông Nguyễn Thiện Nhân lên lại đưa ra chuyện trong bao nhiêu năm đào tạo 20 ngàn tiến sĩ. 20 ngàn tiến sĩ làm việc như thế nào được trong khi lẽ ra nên đào tạo vài triệu em cấp ba có trình độ để học tiếp để phát triển thêm.”
Giáo sư Ngô Vĩnh Long đưa ra ví dụ về Hàn Quốc, ngay cả dưới thời chế độ độc tài trước đây, họ đã bắt đầu chú ý đến giáo dục, bắt đầu trước tiên ở những cấp thấp nhất.
Hàn Quốc là quốc gia được xem là đã tăng tốc thành công vượt qua khỏi tình trạng thu nhập trung bình để trở thành một nước công nghiệp phát triển giàu có, nơi sản sinh ra tập đoàn Samsung hùng mạnh đầu tư vào Việt Nam để sử dụng sức lao động rẻ tại đây.