Trời giá lạnh nhiều nơi ở Mỹ từ đầu tuần này, Florida có thể đóng băng

About this website

LANSING, Michigan (NV) – Thời tiết mùa Đông tới sớm, đem theo nhiệt độ lạnh cóng và trút hơn một foot tuyết (khoảng 30.48 cm) tới nhiều nơi ở phía Bắc vùng Trung Tây Mỹ, đã lan rộng ra hôm Thứ Hai, 11 Tháng Mười Một.

Bầu không khí lạnh này đe dọa sẽ phá nhiều kỷ lục về độ lạnh và cũng có thể đưa tình trạng đóng băng trong khu vực phía Nam, tới cả Florida.

Bản tin của tờ USA Today, trích thuật lời chuyên gia khí tượng Kwan-Yin Kong, thuộc Trung TâmTiên Đoán Thời Tiết của Sở Khí Tượng Quốc Gia (NWS), nói rằng “bầu không khí lạnh nhất từ Bắc Cực trong mùa này tới nay sẽ đưa nhiệt độ xuống mức thấp nhất tại nhiều nơi ở khu vực Trung và Đông nước Mỹ, ngay cả xuống tới vùng Vịnh Mexico.”

Gió lạnh thổi bay cả dù ở Chicago. (Hình: AP Photo/Charles Rex Arbogast)

Một số nơi ở tiểu bang Michigan đã bị tuyết trút xuống hơn một foot hôm Thứ Hai, và sẽ có những nơi nhận hơn hai feet trước khi tuyết ngưng đổ vào hôm Thứ Ba, theo ước đoán của AccuWeather.

Xa hơn về phía Nam, xuống tận Oklahoma, nhiệt độ lạnh cóng và mưa đóng đá thường chỉ thấy vào giữa Mùa Đông mỗi năm, nay sẽ thấy xuất  hiện, sớm hơn hai tuần lễ trước Lễ Tạ Ơn.

Những người ra đường đón mừng ngày Lễ Cựu Chiến Binh sẽ phải mặc cho ấm. Hàng ngàn người dự trù sẽ đứng hai bên đường trong thành phố Tulsa, tiểu bang Oklahoma, để chào mừng cuộc diễn hành Lễ Cựu Chiến Binh lần thứ 101 của thành phố này.

Sở Khí Tượng Quốc Gia gửi tweet ra cảnh báo rằng khí lạnh đang tiếp tục kéo qua Oklahoma, với gió giật lên tới 35 đến 50 dặm/giờ (56 km/giờ tới 80 km/giờ).

Các độ lạnh kỷ lục dự trù sẽ thấy khắp vùng Nam và Trung Tây Mỹ hôm Thứ Ba. Ở Texas, nhiệt độ có thể xuống tới 16 độ F tại một số nơi. Nhiệt độ ở các thành phố ở Texas và Louisiana có thể xuống tới giữa 40 độ F, phá kỷ lục lạnh đã có từ lâu nay cho tháng này.

Chuyên gia khí tượng Dan Pydynowski của AccuWeather nói rằng lịch thì nói hiện là giữa Tháng Mười Một, nhưng nhiều nơi trong nước sẽ có cảm tưởng như đang ở vào giữa Tháng Giêng, khởi sự từ Thứ Hai ở phía Bắc vùng Trung Tây Mỹ và từ từ di chuyển về phía Nam và Đông.

Sang đến ngày Thứ Ba, nhiệt độ lạnh kỷ lục có thể được thấy ở vùng Đông Bắc, khu Ohio Valley và một số nơi ở phía Nam.

Nhiệt độ ở Dallas vào ngày Thứ Ba có thể sẽ là 44 độ F, thấp hơn 24 độ so với mức trung bình thường lệ của ngày này. Tới đêm Thứ Ba, nhiệt độ Dallas có thể là 22 độ F. Kỷ lục lạnh ở Dallas cho ngày này là 21 độ F.

Sang đến ngày Thứ Tư, khí lạnh sẽ tiến sang phía Đông nước Mỹ.  Từ Boston tới Washington, D.C. sẽ có mức lạnh kỷ lục.

Khí lạnh cũng sẽ tiến xa hơn về phía Nam. Thành phố Pensacola ở Florida có thể lạnh tới mức đóng băng vào tối ngày Thứ Ba và sang sáng ngày Thứ Tư. Nhiều nơi ở Alabama cũng có thể xuống dưới 10 độ F. (V.Giang)

NGUOI-VIET.COM
Thời tiết mùa Đông sớm, vào hôm Thứ Hai đã lan rộng ra cả nước, đe dọa sẽ phá nhiều kỷ lục về độ lạnh, cũng có thể đóng băng ở cả Florida.

CHUẨN BỊ ĐEM 39 NẠN NHÂN VỀ VIỆT NAM MAI TÁNG.

Image may contain: outdoor
Lm Trần Chính Trực is with Trần Chính Trực at Lm Jos Trần Chính Trực.

CHUẨN BỊ ĐEM 39 NẠN NHÂN VỀ VIỆT NAM MAI TÁNG.
(Chuẩn bị sắp xếp ngày tưởng niệm. Chúng ta hiệp thông cầu nguyện)

Ngày: 13/11/2019

Thời gian: 11 giờ xe coach sẽ khởi hành tại bên tàu Chelmsford nên mọi người nên đến trước 15 phút nhé. Khoảng 10:45.

Nếu ai đi xe hơi thì cũng phải lái xe đến bến tàu Chelmsford và đậu ở đó để cùng đi chung đoàn bằng xe coach.

Bên cảnh sát Anh đã chuẩn bị những việc sau:

1. Đã mời cha Thắng làm lễ cầu nguyện cho những em bên đạo Chúa

2. Đã mời Sư Thịnh Tiện làm lễ cho những em bên đạo Phật. Bạn Xuân Mai sẽ nấu xôi chè để dâng lên 39 người.

3. Đã đặt hoa, đặt banner, rửa 39 tấm hình, mua khăn trải bàn màu trắng, khăn giấy, nước uống vvvv. 39 khuôn hình sẽ được đặt lên bàn thờ.

4. Vì nơi đó không đủ lớn nên CS Anh đưa ra quyết định: mỗi nạn nhận được phép 3 người ( 1 người đại diện và 2 người bạn nửa)

5. Vì thế khi ACE đăng ký, nên cho biết đi cho nạn nhân nào để bên cs biết được số lượng.

6. Những ACE nào không có người thân hay bạn bè trong số đó nhưng muốn đi cầu nguyện cho cộng đồng thì liên hệ mình, vì sẽ sắp xếp cho bạn đại diện cho những tử nạn không có gia đình và bạn bè ở đây.

7. Nơi đó là 1 nhà kho, không có máy sưởi nên mọi người nên chuẩn bị ăn mặc đồ ấm thật đầy đủ.

8. Buổi tưởng niệm theo đúng nghi thức của 2 đạo nên không biết sẽ kết thúc Vào lúc mấy giờ nên mọi người mặc đồ cho thật ấm nha, có thể chịu đựơc vài giờ đồng hồ trong không khí lạnh.

Cám ơn mọi người đã đọc tin này.

Fb: Đàm Vân

Liên Xô sụp đổ: Vì định mệnh hay vì “kẻ tội đồ” Gorbachev?

Liên Xô sụp đổ: Vì định mệnh hay vì “kẻ tội đồ” Gorbachev?
Bởi AdminTD
Luật Khoa
Võ Văn Quản
11-11-2019


Cựu Tổng bí thư Mikhail Gorbachev của Liên Xô. Ảnh: Getty Images

Vì sao Liên Xô sụp đổ? Trong muôn vạn lý do mà cho đến nay các nhà khoa học vẫn còn chưa hoàn toàn thống nhất, một bộ phận người dân yêu mến Liên Xô luôn cho rằng Mikhail Gorbachev chính là kẻ tội đồ làm cho liên bang này sụp đổ. Họ khẳng định Liên Xô sẽ tiếp tục tồn tại và hùng cường nếu Gorbachev không xuất hiện.

Trong một cuộc điều tra về quan điểm của người dân Nga đối với các lãnh đạo từng nắm quyền trong lịch sử do Trung tâm Nghiên cứu Pew (Mỹ) thực hiện, Gorbachev bằng cách nào đó ở vị trí thấp hơn cả vị độc tài quân sự Stalin khét tiếng, người từng phủ bóng Liên Xô với nạn thanh trừng và đàn áp. Một bộ phận không nhỏ khác đi xa đến mức gọi vết bớt (birthmark) trên trán của Gorbachev là dấu hiệu của Quỷ Satan (The mark of Satan).

Tuy nhiên, một số tài liệu khác thì lại ghi nhận rằng Liên Xô mà Gorbachev kế thừa thật ra đã rệu rã và có những dấu hiệu kiệt sức trong cuộc đua kinh tế với phương Tây. Liên Xô cần phải cải cách, và đó là lý do mà Gorbachev trở thành người quyền lực nhất khối xã hội chủ nghĩa.

Cách nhìn nhận sự kiện lịch sử nói chung và vai trò của Gorbachev nói riêng phụ thuộc vào quan điểm của mỗi người. Bài viết này không nhằm định hướng hay áp đặt người đọc vào một lề thói nhất định. Mục tiêu của bài viết là cung cấp thông tin đúng – đủ, có căn cứ – nền tảng không thể thiếu cho mọi đánh giá.

Tính hai mặt của lịch sử kinh tế Liên Xô

Ngày 31 tháng 12 năm 1991, Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết chính thức chấm dứt tồn tại với tư cách một thực thể pháp lý quốc tế. Sự sụp đổ của nhà nước hùng mạnh kéo dài hơn nửa thế kỷ này không hề được dự đoán trước, và tin tức về nó khiến người Liên Xô, các nhà lãnh đạo và giới quan sát quốc tế phải bất ngờ.
Vậy nên không có gì khó hiểu khi những thành tựu của Liên Xô luôn khiến những người còn luyến tiếc đôi khi vẫn mộng mơ về nó.

Ngay từ khi vừa thành lập cho đến ngày tan rã, nền kinh tế Liên Xô luôn phát triển tịnh tiến tăng dần đều (và chỉ bị gián đoạn trong Đệ nhị Thế chiến). Đời sống người dân tuy không tăng trưởng ở tốc độ choáng ngợp và có của cải dư thừa như ở phương Tây, nhưng các nhà khoa học đồng tình rằng nó luôn theo chiều hướng đi lên. Sự can thiệp toàn diện của nhà nước vào mọi vấn đề xã hội đồng nghĩa với việc chính phủ Liên Xô luôn duy trì chế độ giáo dục miễn phí, hệ thống y tế toàn dân. Đóng góp khoa học và công nghệ của Liên Xô cho nhân loại luôn được Đông – Tây thừa nhận. Từ cuộc chạy đua lên vũ trụ cho đến cờ vua và khúc côn cầu, Liên bang Xô Viết luôn khẳng định mình là đại diện duy nhất có khả năng đối trọng với “nửa bán cầu của Hoa Kỳ” suốt hàng chục thập niên.

Một nhà máy ở Moscow, Liên Xô, năm 1957. Ảnh: Getty Images.

Tuy nhiên, trong cùng lúc đó, nên thừa nhận một sự thật rằng mô hình Liên Xô có hàng loạt những vấn đề hệ thống vô cùng nghiêm trọng. Từ thói tham nhũng và thân hữu, giới lãnh đạo bảo thủ thiên cực (ultra-conservative), cho đến giai đoạn kinh tế phát triển chững lại và hơn 20% ngân sách quốc gia phải chi cho hoạt động quân sự để gìn giữ “chế độ xã hội chủ nghĩa” ở nước ngoài, có nhiều lý do để tin rằng Liên Xô đã đi đến chỗ buộc phải cải cách nếu muốn sống còn.

Tham nhũng là một vấn đề không xa lạ với mọi quốc gia trên thế giới. Song tham nhũng và lạm quyền tại một quốc gia mà mọi ngóc ngách của nền kinh tế bị chính phủ kiểm soát có những đặc trưng thú vị hơn.

Theo nhà nghiên cứu Charles A. Schwartz, có đến ba kiểu tham ô – tham nhũng tại Liên Xô. “Tham nhũng hành chính trắng” (white administrative corruption), là loại nhẹ nhất (không bị pháp luật Liên Xô hình sự hóa), nhưng cũng đi sâu vào bản chất văn hóa lao động nhất và có ảnh hưởng gốc rễ đến năng suất làm việc và khả năng sáng tạo sản phẩm tiêu dùng của người dân tại đây.

Do các ngành sản xuất đều bị kiểm soát theo sản lượng và kế hoạch, việc hoàn thành chỉ tiêu mà nhà nước đề ra trở thành “nồi cơm” của mọi tầng lớp lao động hay quản lý tại Liên Xô. Lương, thưởng, thăng tiến, lợi thế chính trị đều lệ thuộc vào những chỉ tiêu này. Cách thức quản lý này gây ra hiện tượng “báo cáo khống” (report padding) – hay nói kiểu dân dã Việt Nam, là căn bệnh “thành tích”. Người quản lý các đội nhóm làm việc thì không muốn báo cáo các vấn đề sản xuất của đội mình lên cấp trên. Giới lãnh đạo nhà máy, xí nghiệp có nhận ra vấn đề hay không thì vẫn theo guồng mà chạy để bảo đảm các lợi ích kinh tế và chính trị của việc hoàn thành chỉ tiêu tạo ra.

Không phải quan tâm đến chất lượng, thị trường sản phẩm, nhu cầu của người tiêu dùng hay cạnh tranh, không có gì khó hiểu khi sự đa dạng, tiêu chuẩn, khả năng sáng tạo của hầu hết các loại sản phẩm của Liên Xô dù là nông nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp hay công nghiệp nặng đều có dấu hiệu thua kém so với các quốc gia tư bản phương Tây, nơi mà hiệu quả, năng suất và lợi nhuận là những tiêu chí hàng đầu trong đánh giá sản xuất.

Thể dạng tham nhũng nói trên dần được Khruschev xác định ra và bị chuyển hóa thành một tội hình sự dạng nhẹ trong những năm giữa thập niên 1960. Song điều này không làm thay đổi thực tế là nền kinh tế Liên Xô vẫn vận hành hoàn toàn bằng kế hoạch và chỉ tiêu sản lượng từ nhà nước giao xuống, một mô hình luôn được được những nhóm hưởng lợi từ cơ chế cũng như bởi những nhà Marxist bảo thủ bảo vệ.

Không chỉ vậy, nghiên cứu “Sự trỗi dậy và lụi tàn của nền kinh tế Liên Xô” (tên tiếng Anh: The rise and decline of Liên Xô economy) khá nổi tiếng vì tính trung lập của Giáo sư kinh tế Robert C. Allen, thuộc Đại học British Columbia, còn tiếp cận và chỉ ra những đặc điểm thú vị khác của nền kinh tế Liên Xô.

Theo ông, cần thừa nhận rằng từ năm 1928 đến năm 1970, Liên Xô có tốc độ tăng trưởng vượt trội mọi quốc gia công nghiệp phát triển (OECD) khác, kể cả nếu so sánh với Hoa Kỳ. Họ đứng sau Nhật Bản, nhưng điều đó cũng đủ khiến Liên Xô trở thành nền kinh tế tăng trưởng nhanh thứ hai thế giới (luôn giữ mức trên 5%).

Quảng trường Đỏ ở thủ đô Moscow, năm 1963. Ảnh: rferl.org.

Song trong giai đoạn thứ hai, từ năm 1970 cho đến khi không còn tồn tại, tỷ lệ tăng trưởng (dù là GNP hay GDP) của Liên Xô chỉ thoi thóp ở mức 2%, thấp hơn hầu hết các quốc gia OECD cũng như Hoa Kỳ. Điều gì khiến cho sự chênh lệch này lại đáng kể và đột ngột đến như vậy?

Thông qua kiểm chứng số liệu và chạy mô hình kinh tế, Giáo sư Allen cho biết thành công của Liên Xô giai đoạn 1928 – 1970 dựa trên ba lý do chính:

(1) Việc duy trì chính sách Kinh tế mới (New Economic Policy) từ 1928 đến 1940, theo đó duy trì sản xuất nông nghiệp hộ – cá thể và những cốt lõi của nền kinh tế thị trường như cho phép giá cả dao động theo cung cầu, bảo hộ quyền tư hữu một cách cơ bản… tạo nền tảng cho phát triển kinh tế;

(2) Chú trọng và can thiệp độc quyền vào các ngành công nghiệp nặng (sản xuất gang, thép, chế phẩm kim loại…), đồng thời với chính sách nhấn mạnh vào các loại hàng hóa sản xuất như máy móc thiết bị nông nghiệp, công nghiệp (Producer goods, trái ngược với Consumer goods là hàng hóa tiêu dùng – công nghiệp nhẹ) giúp cho năng lực sản xuất công nghiệp được tăng cường, và lĩnh vực này cũng tạo ra được nguồn tư bản đáng kể thông qua hoạt động xuất khẩu.

(3) Cuối cùng, cơ chế điều hành kinh tế tập trung và quản lý sản xuất dựa trên chỉ tiêu kết hợp cùng Ức chế ngân sách mềm (Soft Budget Constraint – tạm hiểu là việc các nhà nước sẽ hỗ trợ, cung cấp ngân sách hay thậm chí bù lỗ cho các doanh nghiệp nhà nước) khiến cho hoạt động sản xuất mở rộng một cách chóng mặt, từ đó thu hút việc làm cho phần lớn người dân tại các vùng nông thôn chưa có việc làm, đẩy tăng trưởng của năng suất lao động và thành phẩm, mở rộng nhu cầu tiêu dùng của cả nền kinh tế nói chung.
Tuy nhiên, kiểm soát thị trường bằng mệnh lệnh hành chính cũng phải tới thời điểm lộ ra sự yếu kém của nó. Khi mọi người đều có việc, năng suất lao động bắt đầu chững lại, và sản lượng chỉ có thể tăng dựa vào các quyết định đầu tư và cải thiện đúng đắn. Song các quyết định đầu tư khổng lồ vào những ngành công nghiệp cũ kỹ không tìm thấy được kết quả sản lượng và tăng trưởng việc làm như mong đợi. Các mỏ khoáng sản truyền thống như dầu, gang thép… cứ dần cạn kiệt và hoạt động khai thác không có tiến triển tốt dù chi phí duy trì của những ngành này là khổng lồ. Như Allen nói đùa, chính các lãnh đạo Liên Xô đã biến nền kinh tế nước này trở thành một điều thần kỳ, nhưng khi thế giới thay đổi, và những vị lãnh đạo này không còn khả năng tưởng tượng ra tương lai của nền kinh tế thế giới, điểm mạnh nhất của chính quyền trở thành yếu điểm của nó – nền kinh tế Liên Xô đã không còn kịp thích nghi và đáp ứng với thế giới xung quanh.

Gorbachev – Nhà cải cách hay kẻ tội đồ?

Năm 1985, Liên bang Xô Viết đứng ở ngã ba đường. Các chỉ số kinh tế sụt giảm, người dân bắt đầu cảm nhận được sự khác biệt trong đời sống tiêu dùng tại các quốc gia tư bản Tây Âu – Hoa Kỳ và tại Liên Xô, sự mệt mỏi và cồng kềnh của bộ máy quan liêu dần biểu lộ rõ sau khi công nghệ thông tin và hệ thống mạng toàn cầu lần đầu tiên được giới thiệu và hoàn thiện.

Và cũng không may cho Liên Xô, giới lãnh đạo Đảng dường như cũng không còn sức sống. Với ba cái chết liên tục của các đời tổng bí thư Leonid Brezhnev, Yuri Andropov, Konstantin Chernenko chỉ trong ba năm, phương thức tuyển chọn lãnh đạo của các chính thể chuyên chế như Liên Xô không còn nhiều sự lựa chọn – và Mikhail Gorbachev trở thành người kế nhiệm của “đế chế” Liên Xô khổng lồ. Nói ra điều này không phải để phủ nhận năng lực của Gorbachev, mà nhằm cho thấy nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô đang trong tình trạng khủng hoảng, và một nhân vật có tư tưởng cấp tiến như Gorbachev cuối cùng có cơ hội trỗi dậy.

Tháng Năm năm 1985, chỉ hai tháng sau khi nhậm chức, Gorbachev đưa ra chính sách cải cách đầu tiên của mình – chiến dịch chống lạm dụng rượu. Ông nhìn thấy được sự thiếu hiệu quả của hệ thống lao động và sản xuất của Liên Xô, như các nhà nghiên cứu mà bài viết đề cập ở trên, song đối tượng – nguyên nhân của tệ nạn mà ông nhắm tới có vẻ không chính xác.

Chính sách bắt đầu với việc hạn chế các cửa hàng được phép bán thức uống có cồn, nhiều nhà máy pha chế và nấu rượu bị đóng cửa, tiêu hủy các vườn trồng nho và nguyên vật liệu khác để nấu rượu tại những nền cộng hòa chỉ chuyên sản xuất rượu bên trong liên bang như Moldavia, Armenia và Georgia. Không chỉ vậy, nhà hàng bị cấm bán rượu trước 2 giờ chiều; và các cơ quan tại Nga phấn đấu thi đua trở thành những cơ quan không rượu.

Tuy nhiên, như đã nói, năng suất lao động kém ở Liên Xô là một vấn đề của cơ chế và mô hình của nền kinh tế, không phải chỉ bởi vì thói quen thích uống rượu của người Liên Xô. Chiến dịch kết thúc mà không đạt được thành tựu gì cụ thể, chỉ riêng Gorbachev bắt đầu được gọi là mineral’nyi sekretar’ (Bí thư nước khoáng) thay vì general’nyi sekretar’ (Tổng bí thư).

Mọi sự vẫn còn chưa đến đâu thì vào năm 1986, thảm họa Chernobyl diễn ra. Sự tụt hậu và cũ kỹ của công nghệ Liên Xô không chỉ được phơi bày, nó còn làm các quốc gia cộng hòa thành viên đặt dấu hỏi về tính minh bạch và sự trung thực của các nhà lãnh đạo Liên Xô sau thảm họa. Nhu cầu và áp lực cải cách ngày càng đè nặng lên vai Gorbachev.

Để dễ thở hơn cho các cải cách trong nước, Gorbachev tìm cách giảm căng thẳng Chiến tranh Lạnh với phương Tây, mà đặc biệt nhất là Hiệp ước Giải giáp Vũ khí Hạt nhân Trung tầm (Intermediate-Range Nuclear Forces Treaty), theo đó hai bên cam kết sẽ tiêu hủy và không phát triển hay sử dụng các loại vũ khí hạt nhân có bán kính sử dụng từ 500 đến 5.000 km. Giới chính trị phương Tây có cảm giác có thể làm việc và tin tưởng Gorbachev, trong khi bản thân ông này cũng có thể tập trung vào các vấn đề quốc nội nhiều hơn.

Tổng thống Mỹ Ronald Reagan tiếp Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev năm 1987 tại Nhà Trắng. Ảnh: AP.

Lần này, chính quyền Gorbachev buộc phải dùng cách tiếp cận cấp tiến hơn và những cải cách “nặng đô” hơn, với hai nguyên tắc chủ đạo là perestroika (restructuring – tái cơ cấu) và glasnost (openness – mở) nhắm vào cả không gian kinh tế và chính trị.
Ví dụ, tháng Sáu năm 1987, cuộc bầu cử đa ứng viên đầu tiên được thử nghiệm ở cấp địa phương với kỳ vọng tăng cường hoạt động tham gia dân chủ của người dân và tiếp nhận thêm ý kiến để hoàn thiện mô hình thể chế. Ngay sau đó, nền kinh tế xã hội chủ nghĩa được giải phóng dần, trao bớt quyền cho địa phương và doanh nghiệp thay vì điều hành nền kinh tế theo cơ chế mệnh lệnh tập trung, cũng như cho phép thành lập những doanh nghiệp hợp tác (cooperative enterprises) đầu tiên.

Tuy nhiên, những cải cách này cũng không tỏ ra hiệu quả. Đổi mới trong kinh tế dù được thực hiện, lại vẫn còn vướng với mô hình quản trị lâu năm của kế hoạch hóa, kiểm soát giá và trợ cấp chính phủ – những đặc trưng của nền kinh tế XHCN mà giới lãnh đạo trung ương Liên Xô vẫn loay hoay cãi nhau xem nên bỏ hay giữ. Do đó, văn hóa sáng tạo và nhận thức kinh doanh – sản xuất hàng hóa như một nhu cầu tư nhân vẫn không thể hình thành.

Mặt khác, cải cách chính trị khiến Liên Xô giống như một con bệnh lâu ngày mới khám, và ổ bệnh liên quan đến xung đột sắc tộc cũng như danh tính quốc gia bùng nổ. Các quốc gia cộng hòa thành viên của Liên Xô cũng như quốc gia cộng sản trong khối xã hội chủ nghĩa không còn nhìn hệ thống như một sự gắn kết của tư tưởng chính trị nữa. Thay vào đó, họ cho rằng đây là sự áp đặt của ngoại bang. Biểu tình ngày càng lan rộng, và những xung đột bạo lực vượt quá tầm kiểm soát của chính quyền địa phương.
Ở thời điểm này, có hai phe trong giới lãnh đạo Liên Xô. Nhóm thứ nhất chủ trương không can thiệp và chấp nhận một số yêu cầu của những nền cộng hòa thành viên – mà đại diện là Gorbachev. Theo lập luận của phe này, đại đa số những khu vực này vẫn còn muốn nằm trong Liên bang Xô Viết, chúng ta chỉ cần trao quyền bớt cho chính quyền dân cử địa phương mà thôi. Tuy nhiên, phe bảo thủ của Đảng Cộng sản Liên Xô không đồng tình. Họ cho rằng đây là biểu hiện của một chính quyền yếu đuối, và sẽ làm suy giảm nghiêm trọng vị thế của Liên Xô trên trường quốc tế.

Ngày 19 tháng Tám năm 1991, sau khi thành lập Hội đồng Khẩn cấp Quốc gia (State Emergency Committee – vốn vi hiến vì không được ghi nhận trong pháp luật Liên Xô), giới tướng lĩnh quân sự và quan chức Cơ quan An ninh Quốc gia (KGB) tiến hành đảo chính Gorbachev. Theo họ, đây là biện pháp cuối cùng để cứu Liên bang Xô viết khỏi sự sụp đổ.

Gorbachev bị đặt vào tình trạng quản thúc tại gia và lệnh thiết quân luật được ban hành.


Mikhail Gorbachev xung đột với Boris Yeltsin ngày 23/8/1991 tại Quốc hội, ngay sau cuộc đảo chính không thành của Yeltsin. Ảnh: AFP.

Tuy nhiên, bất kể có Gorbachev hay không, bản thân những người cầm đầu cuộc đảo chính hoàn toàn không rõ họ sẽ làm gì trong tình trạng kinh tế – chính trị Liên Xô thời điểm đó.

Người dân Nga không mong muốn nhìn thấy một Liên Xô cũ kỹ của ngày xưa quay trở lại – điều mà cuộc đảo chính nhắm đến, và đồng loạt xuống đường ngăn chặn các lực lượng quân sự. Kế hoạch của quân đội và KGB cũng không nhận được sự đồng tình từ hệ thống quan chức hành chính, cơ quan lập pháp và bộ máy nhà nước nói chung. Cô đơn trên mọi mặt trận, cuộc đảo chính của giới quân sự và an ninh thất bại sau ba ngày, và chỉ càng làm tăng thêm sự tức giận của người dân dành cho mô hình nhà nước Liên Xô.

Đây chính là cơ sở để ba lãnh đạo của ba quốc gia lớn nhất còn tồn tại trong Liên Xô: Nga (do Boris Yeltsin đứng đầu), Belarus (do Stanislav Shushkevich lãnh đạo) và Ukraine (do Leonid Kravchuk nắm quyền) họp kín để quyết định về vận mệnh của Liên bang Xô Viết mà không có Gorbachev. Cả ba bên thống nhất giải thể liên bang vào ngày 31 tháng 12 năm 1991, riêng Gorbachev không còn cách nào khác ngoài từ chức.

Lời kết

Với những thông tin kiểm chứng nói trên, khó có thể cho rằng Liên Xô tan rã là một “tai nạn” của lịch sử, một sự kiện xảy ra chỉ bởi vì sai lầm của một cá nhân. Liên Xô đúng là vĩ đại theo cách riêng của nó, nhưng chính những thứ làm quốc gia này trở nên vĩ đại cũng là rào cản cho sự phát triển và năng động của nó trong thời đại mới. Gorbachev, theo người viết, thật ra đã làm hết sức mình. Bản thân ông vẫn còn luyến tiếc Liên Xô và thù hận sự phản bội của Boris Yeltsin. Song với làn sóng mới trong kinh tế, công nghệ và chủ nghĩa dân tộc địa phương, sự tan rã của Liên Xô một thời hùng mạnh thật ra cũng chỉ nằm trong guồng quay của lịch sử mà thôi.

BAOTIENGDAN.COM

Liên Xô sụp đổ: Vì định mệnh hay vì “kẻ tội đồ” Gorbachev? Bởi AdminTD – 11/11/2019 Luật Khoa Võ Văn Quản 11-11-2019 Cựu Tổng bí thư Mikhail Gorbachev của Liên Xô. Ảnh: Getty Images Vì sao Liên Xô sụp đổ? Trong muôn vạn lý do mà cho đến na…

bức tượng THUYỀN NHÂN VIỆT NAM !

Image may contain: 2 people, cloud, sky and outdoor

Bau Thong Chinh is with Đặng Hoàng Sơn and 2 others.

Cuối cùng, cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng sản vùng GTA- Toronto và các vùng phụ cận cũng có được bức tượng THUYỀN NHÂN VIỆT NAM !

Xin chân thành cảm tạ quý anh chị trong “Hội Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam” và mọi đóng góp của toàn thể bà con trong cộng đồng !

Đặc biệt cám ơn nhà điêu khắc ViVi Võ Hùng Kiệt !

Bạo lực và khủng bố dưới thời Stalin

Bạo lực và khủng bố dưới thời Stalin

Nguồn: Jonathan Brent, The Order of Lenin: ‘Find Some Truly Hard People’, The New York Times, 22/05/2017

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

“Lưu trữ là sức mạnh,” Kirill Mikhailovich Anderson, cựu giám đốc Cục Lưu trữ Lịch sử Chính trị – Xã hội Quốc gia Nga tại Moskva, đã từng nói với tôi như vậy. Ông kể về vị giám đốc đầu tiên của Viện Marx-Engels (thành lập năm 1919): Là một người Bolshevik cũ, David Riazanov gần như không thể kiên nhẫn được với các viên chức Đảng Cộng sản – những người liên tục yêu cầu các văn kiện hoặc để khẳng định lập trường ý thức hệ hoặc để bôi nhọ kẻ thù.

Một ngày nọ, ông lấy ra một lá thư của Karl Marx, ve vẩy nó trước mặt một lãnh đạo và hét lên: “Marx của ông đây. Giờ thì biến đi!” Riazanov chạy trốn khỏi Stalin vào năm 1931, nhưng đã bị bắt vào năm 1937 và bị hành quyết một năm sau đó.

Giống như hàng ngàn nhà xuất bản, nhà nghiên cứu và nhà báo nước ngoài khác – những người lũ lượt tới Moskva vào tháng 01/1992, tôi đã tìm đến kho lưu trữ nhà nước sau khi Boris Yeltsin tuyên bố vào tháng 12/1991 rằng ông sẽ cho mở cửa các kho lưu trữ bí mật của Liên Xô. (Tôi là đại diện của Nhà xuất bản Đại học Yale/ Yale University Press.) Sức mạnh mà Anderson nói đến quả thực hiện diện sống động ở đó.

Khám phá tại những kho lưu trữ này đã làm thay đổi hoàn toàn nhiều sự kiện lịch sử tiêu biểu của Chiến tranh Lạnh như: gián điệp trong Đảng Cộng sản Hoa Kỳ, Đại Thanh trừng (Great Terror) của Stalin, số phận của các nhà văn và nghệ sĩ, và nhiều sự kiện khác. Đối với vài người, phát hiện mới này giúp khẳng định quan điểm trước đó của họ; còn với những kẻ khác, nó làm xáo động niềm tin vốn đã được khắc sâu. Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất [của nó] chắc chắn là làm sâu sắc hơn và tạo nên những góc nhìn đa chiều về sự phức tạp của hiện tượng chủ nghĩa cộng sản Liên Xô và tính cách của Joseph Stalin.

Tôi đã từng hỏi một nhà sử học người Nga rằng liệu chúng ta có thể nghiên cứu “đến tận đáy” các hồ sơ lưu trữ của K.G.B., cơ quan mật vụ Liên Xô, về một chủ đề cụ thể hay không. “Dĩ nhiên,” ông đáp đầy khéo léo. “Nhưng K.G.B. có nhiều đáy lắm.”

Một trong những vấn đề tăm tối nhất liên quan đến bản chất và nguyên nhân hành động khủng bố của Stalin, và câu hỏi liệu rằng Stalin có vi phạm chính sách của Lenin hay chỉ là đang tiếp nối nó. Đằng sau đó chính là câu hỏi về việc thể chế hoá bạo lực trong nền văn hoá Bolshevik và nhà nước Liên Xô.

Dù sự chấp nhận phổ biến đối với việc sử dụng bạo lực chính trị đã sớm được thiết lập trong phong trào cách mạng Nga – ngay từ thời bản tuyên ngôn năm 1869 của Sergey Nechayev về “Giáo lý của Một Nhà Cách mạng” (Catechism of a Revolutionary) – nhưng chính sách của Lenin và Đảng Bolshevik lúc đầu không dựa vào khủng bố. Tuy nhiên, các điều kiện khắc nghiệt của cuộc nội chiến 1917 – 1922, trong đó bảy triệu người đã thiệt mạng, cùng với việc xuất hiện các chính sách kinh tế tàn nhẫn của Lenin, đã dẫn đến cảnh khốn cùng và tuyệt vọng của hàng triệu người khi thấy mình chẳng còn lương thực, sinh kế, nơi ở và an ninh.

Cuộc nổi dậy hàng loạt của nông dân bắt nguồn từ các quy định hà khắc của nhà nước Liên Xô trong việc thu mua ngũ cốc. Chế độ Bolshevik non trẻ cần ngũ cốc để ngăn chặn nạn đói ở các thành phố, và khi không thấy có lựa chọn nào khác, Lenin đã ban hành mệnh lệnh này vào tháng 08/1918, mà sau đó được phát hiện trong một kho lưu trữ bí mật: “Hãy treo cổ (không được giấu diếm, phải làm công khai để mọi người đều thấy) ít nhất 100 địa chủ, nhà giàu, những kẻ hút máu dân.” “Công khai tên của chúng,” ông chỉ định. “Lấy hết ngũ cốc của chúng. Chỉ định ai sẽ làm con tin.”

“Hãy làm việc này theo cách để hàng trăm người xung quanh phải nhìn thấy, run rẩy, thừa nhận, thét lên,” ông tiếp tục, rằng những người Bolshevik “đang siết cổ, bóp chết bọn địa chủ hút máu người.”

Ông kết thúc bản ghi nhớ khủng khiếp bằng chỉ thị: “Hãy tìm những người thực sự khét tiếng”

Một tháng sau, ông ra lệnh: “Cần phải giữ bí mật – và khẩn trương – chuẩn bị đợt khủng bố.”

Lenin sử dụng khủng bố để chống lại những kẻ thù được thừa nhận của nhà nước. Stalin lại dùng nó để chống lại các thể chế của nhà nước và bản thân xã hội Liên Xô. Stalin đi theo Lenin, nhưng đã vượt qua ông.

Ngày 07/11/1937, ngày kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, bài phát biểu của Stalin tại cuộc họp gồm các nhà lãnh đạo Bộ Chính trị đã được đảng viên Cộng sản Bulgaria và lãnh đạo Tổ chức Comintern, Georgi Dimitrov, ghi lại trong cuốn nhật ký được xuất bản của ông.

“Tôi muốn nói vài lời, có lẽ không được vui cho lắm.” Stalin nói. “Các Sa hoàng đã làm rất nhiều điều xấu. Họ cướp bóc và biến dân chúng thành nô lệ. Nhưng họ đã làm một điều tốt. Họ đã xây dựng được một đất nước to lớn, kéo dài đến tận Kamchatka. Chúng ta đã được thừa hưởng đất nước đó.”

Ông nói tiếp: “Chúng ta đã thống nhất đất nước theo cái cách mà nếu một phần nào đó bị cô lập khỏi nhà nước xã hội chủ nghĩa chung, thì nó sẽ không chỉ gây ra thiệt hại cho nhà nước, mà còn không thể tồn tại một cách độc lập và chắc chắn sẽ rơi vào tình trạng nô lệ cho nước ngoài. Vì vậy, bất cứ ai cố gắng hủy hoại sự thống nhất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, bất cứ ai tìm cách tách rời bất kỳ phần nào của nó – thì hắn là kẻ thù, một kẻ thù công khai của nhà nước và của các dân tộc thuộc Liên bang Xô viết. Và chúng ta sẽ hủy diệt từng kẻ thù như thế, ngay cả khi hắn là một thành viên Bolshevik cũ; chúng ta sẽ giết tất cả họ hàng, gia đình của hắn. Chúng ta sẽ tàn nhẫn hủy diệt bất cứ ai, nếu hành động hay tư tưởng của hắn – đúng, tư tưởng của hắn – đe dọa sự thống nhất của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Hãy nâng ly vì sự hủy diệt hoàn toàn tất cả các kẻ thù và họ hàng của chúng!”

Lúc đó, các thành viên Bộ Chính trị đã lên tiếng ủng hộ: “Hãy nâng ly vì Stalin vĩ đại!”

Tính đến thời điểm ấy, những kẻ thù trong nước của chế độ Bolshevik đã bị loại bỏ, bao gồm cả những nông dân cứng đầu đã chết trong nạn đói năm 1932 – 1933. Đại hội Đảng lần thứ 17 (1934) đã được tung hô là “Đại hội của những người chiến thắng,” và Andrei Zhdanov, đảng viên đại diện vùng Leningrad và một người yêu thích Stalin, có thể tự tin tuyên bố tại Đại hội Hội Nhà văn Xô viết trong năm đó rằng “những khó khăn lớn nhất mà chúng ta phải đối mặt trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã bị vượt qua.”

Nghịch lý là, Stalin đã tiến hành Đại Thanh trừng vào năm 1936, trong thời điểm tương đối hòa bình và ổn định. Hàng loạt kẻ thù đột nhiên xuất hiện trong xã hội Liên Xô là do tưởng tượng nên. Hàng triệu người vô tội đã bị bắt giữ, tra tấn và bắn chết, chẳng hề có bằng chứng, nhưng chỉ dựa theo quota mà Kremlin chỉ thị. Stalin đã không nói dối: Đúng là “bất cứ ai” cũng có thể phạm tội.

Nikolai Bukharin, cựu lãnh đạo Bolshevik và biên tập của tờ Pravda, đã trở thành một trong những kẻ thù: bị bắt vào tháng 02/1937 và bị hành quyết vào tháng 03/1938. Bức thư ông viết cho Stalin từ nhà tù, vào ngày 10/12/1937, là một bức thư run rẩy và đáng thương từ một người đàn ông biết chắc chắn mình sẽ chết. Nhưng ngạc nhiên thay, ông không chỉ khẳng định những lời Stalin nói với Bộ Chính trị cách đây vài tháng, mà còn thừa nhận vai trò của mình trong việc tạo ra cỗ máy mà giờ đây khiến ông mắc kẹt trong tuốc-bin của nó.

“Có điều gì đó vĩ đại và táo bạo trong ý tưởng chính trị của một cuộc thanh trừng hàng loạt,” ông viết. “Việc thanh trừng này này bao gồm 1) kẻ tội đồ; 2) người bị nghi ngờ; và 3) những người có khả năng bị nghi ngờ. Hành động này không thể được thực hiện mà không có tôi.”

Nhà nước độc tài mà Bukharin hình dung là nhà nước dựa trên một trạng thái bất ổn lâu dài, trong đó hỗn loạn và sợ hãi là những thành phần thiết yếu của chính phủ. Nhà văn Lydia Chukovskaya đã miêu tả nỗi sợ hãi vốn là cốt lõi của thế giới đảo ngược này trong tiểu thuyết tuyệt vọng năm 1939, “Sofia Petrovna”, vốn không được xuất bản ở Liên Xô mãi cho đến cuối thập niên 1980. Nhân vật nữ chính trong tác phẩm “giờ đây khiếp sợ mọi người và mọi thứ,” Chukovskaya viết. “Có lẽ họ đã đưa cô ta đến đồn cảnh sát, tước mất hộ chiếu và đẩy cô vào cảnh lưu đày? Cô sợ hãi từng tiếng chuông kêu.”

Xóa bỏ trật tự xã hội, xem thường các quy định của pháp luật, truyền nỗi sợ vào sâu trong ý thức cá nhân và gieo mầm sự hồ nghi là điều cần thiết cho mục tiêu của Stalin, nhằm loại bỏ bất cứ mối đe dọa nào đối với quyền lực tuyệt đối của ông. Stalin không chỉ dùng Đại Thanh trừng để loại trừ những người có thể trở thành đối thủ trong đảng, mà còn gửi đi một tín hiệu không thể nhầm lẫn cho cả nước: Nếu Bukharin, Lev Kamenev và Grigory Zinoviev còn có thể có tội, thì mọi người đều bị nghi ngờ.

Một câu chuyện kể rằng Stalin đã giữ bức thư của Bukharin trong ngăn kéo trên cùng ở bàn làm việc của mình, nơi nó được phát hiện sau cái chết của ông, nhưng chỉ được xuất bản sau khi Liên Xô tan rã.

Thế chiến II kết thúc, đất nước giành được chiến thắng tuyệt vời trước Hitler, tuy nhiên, Stalin lại nhận ra rằng khi sự suy giảm về thể chất của ông xuất hiện, thì quyền lực cá nhân của ông cũng bắt đầu suy giảm. Phản ứng của ông là chuẩn bị một đợt thanh trừng thứ hai.

Một lần nữa, không ai được an toàn. Stalin giận dữ vì Ngoại trưởng Vyacheslav Molotov đã cho phép xuất bản đầy đủ bài phát biểu của Winston Churchill trên tờ Pravda. Molotov đã không nhận ra kẻ thù của họ. Ngoài ra còn có Zhdanov, khi ấy đang là một trong những thành viên quyền lực nhất của Bộ Chính trị, cũng bị Stalin oán giận khi con trai ông, Yuri, người đứng đầu bộ phận khoa học của Uỷ ban Trung ương, cho tổ chức một cuộc hội thảo kín để thảo luận về công trình của nhà nông học “rởm” T. D. Lysenko, một nhân vật giống như Rasputin trong chính quyền Stalin.

Stalin đã trả thù bằng cách quen thuộc: dùng tra tấn thể xác như là một phương pháp đối phó với kẻ thù chính trị; lan truyền sự hoang tưởng, sợ hãi và hồ nghi trong xã hội; bịa đặt ra kẻ thù; và tự cho mình là nhà lãnh đạo có khả năng duy nhất trong những thời điểm khó khăn như vậy. Bằng cách thao túng, lập mạng lưới bảo trợ, sự tàn bạo và lén lút, Stalin tiếp tục tiến hành cuộc tấn công vào chính đất nước mình. Quyền lực của ông nằm bên ngoài cấu trúc chính thức của nó, và trong giai đoạn cuối cùng của chế độ độc tài Stalin, khủng bố lên đến đỉnh điểm sau vụ “Âm mưu của các Bác sĩ” năm 1953, một cuộc khủng hoảng được bịa ra, trong đó các bác sĩ Do Thái nổi tiếng bị buộc tội âm mưu chống lại lãnh đạo Liên Xô. Tiếp nối những lời đe dọa mà ông thốt ra trong bài phát biểu năm 1937, âm mưu mới này chứa đựng những hạt giống tai họa thậm chí còn lớn hơn do sự xuất hiện của Chiến tranh Lạnh.

Khi Molotov không tìm thấy tên mình trong danh sách những người được cho là mục tiêu ám sát của các bác sĩ Do Thái, ông biết mình đã bị đánh dấu trong danh sách bị khử trừ. Nhưng không chỉ có mình ông. Anastas Mikoyan, Kliment Voroshilov và nhiều cấp dưới khác của Stalin lo ngại ngày tàn của họ đã đến. Năm 1952, khi Bộ trưởng An ninh Semyon Ignatiev không thể tạo ra các bằng chứng giả cho vụ các bác sĩ Do Thái đủ nhanh, Stalin đã đe dọa sẽ làm giảm chiều cao của ông “bằng một cái đầu.”

“Đánh chúng, đánh chúng, đánh chúng bằng những cú đánh chết người,” ông hét vào mặt vị lãnh đạo an ninh. Ignatiev nhanh chóng bị trụy tim và được đưa ra khỏi văn phòng.

“Hãy nhìn lại các cậu đi,” ông nói với một nhóm cộng sự thân cận của mình vào tháng 12 năm đó, “bọn mù, lũ mèo con, các cậu không nhìn thấy kẻ thù; các cậu sẽ làm gì nếu không có tôi? – Đất nước này sẽ bị diệt vong bởi vì các cậu không nhìn thấy kẻ thù.”

Chỉ có ông, Stalin, mới có thể lãnh đạo đất nước, bởi vì chỉ có ông, Stalin, mới có thể nhìn thấy kẻ thù. Chỉ có cái chết của Stalin, vào tháng 03/1953, mới cứu được nhiều người khỏi bị hủy diệt – và có lẽ là cứu cả thế giới. Năm tháng sau, Liên Xô cho nổ quả bom hydro đầu tiên của họ.

Jonathan Brent, người khởi xướng loạt ấn phẩm Annals of Communism tại Yale University Press và từng nghiên cứu kho lưu trữ Liên Xô trong giai đoạn 1992-2009, hiện đang là giám đốc điều hành Viện YIVO về Nghiên cứu Do thái và giảng dạy tại Đại học Bard.

Hình: Các đại biểu dự Đại hội 16 Đảng Cộng sản Nga. Những người bị bôi mờ là nạn nhân của đàn áp chính trị dưới thời Stalin.

Chuyên gia Mỹ : Việt Nam cần liên minh với Mỹ để gìn giữ Biển Đông chống Trung Quốc

 

VI.RFI.FR|BY RFI TIẾNG VIỆT
Việc Trung Quốc mới đây ngang nhiên cho tàu khảo sát vào hoạt động, đồng thời tung tàu hải cảnh vào phá quấy công việc thăm dò dầu khí của Việt Nam ngay trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam…

Thượng úy Công an tát nhân viên nam, ném xúc xích vào nhân viên nữ…

Image may contain: 1 person, smiling

Đài Á Châu Tự Do

Thượng úy Công an tát nhân viên nam, ném xúc xích vào nhân viên nữ bị đình chỉ công tác

Người đàn ông hành xử hung hăng sau khi con mình bị nhắc nhở phải trả tiền cho gói hàng trong clip phát tán hôm 11/11 được xác định là Thượng úy Công an Nguyễn Xô Việt, cán bộ Công an Thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

“Thượng úy Việt đang công tác tại Đội điều tra Tổng hợp Công an Thị xã Phổ Yên. Ngay trong chiều nay, chúng tôi đã đình chỉ công tác đồng chí này và yêu cầu viết bản kiểm điểm”, một lãnh đạo công an thị xã Phổ Yên không nêu tên nói với mạng báo VTC News và cho biết ông này bị tạm đình chỉ 1 tháng.

Trước đó, đoạn clip lấy từ camera an ninh của trạm dừng nghỉ Hải Đăng cho thấy người đàn ông yêu cầu con mình hai lần vào trong cửa hàng lấy gói xúc xích ra ngoài nhưng không trả tiền.

Khi bị nhân viên nhắc nhở người này đã ném xúc xích vào người nhân viên nữ đồng thời tát vào mặt nhân viên nam, sau đó bỏ đi.

Bạn nghĩ thế nào về vụ việc này?

Thay vì xét xử, nhà báo Lê Anh Hùng bị đưa vào trại tâm thần và ép uống thuốc liều cao

About this website

Bị bắt vào vì tội ‘Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước’” theo điều 331 Bộ luật Hình sự từ 5/07/2018, thay vì đưa ra xét xử, nhà báo độc lập Lê Anh Hùng bị cưỡng bức đưa vào bệnh viện tâm thần dù ông tuyệt thực phản đối. Ông Hùng đã bị “đè ra, truyền thuốc hòa trong thức ăn qua đường mũi, miệng đến chảy cả máu với liều cao” như chia sẻ mới đây của người thân của ông Hùng.

hành viên Hội Nhà Báo Độc Lập kêu cứu vì bệnh viện tâm thần ép uống thuốc liều cao.

Lê Anh Hùng bị bắt lần hai ngày 5 Tháng Bảy 2018 theo Điều 331 Bộ Luật Hình Sự về tội ‘Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước’” theo điều 331 Bộ luật Hình sự.

Lê Anh Hùng là người đã gương cao biểu ngữ tố cáo một số quan chức cao cấp của đảng Cộng Sản ngay tại Hà Nội.

Ngày 1/04/2019,  Lê Anh Hùng bị đưa vào Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 ở Thường Tín, Hà Nội điều trị mà gia đình cũng như luật sư không hề được thông tin.

Bà Trần Thị Niêm, mẹ của Lê Anh Hùng từng là y tá chuyên ngành tâm thần có 30 năm làm việc tại bệnh viện Tâm Thần Hà Tĩnh.

Bà Niêm đã nhiều lần làm đơn xin đưa Hùng về chăm sóc tại nhà nếu như con bà có bệnh, nhưng yêu cầu của bà đã không được đáp ứng.

Mới đây ngày 8/11 bà Niêm có chuyến thăm con tại BV Tâm Thần Thường Tín và được cho biết ông Hùng đã nhờ mẹ kêu cứu ra bên ngoài vì bênh viện tăng liều thuốc và ép uống khiến sức khỏe ông suy sụp nhanh chóng.

Ông Nguyễn Vũ Bình người bạn thân thiết của nhà báo Lê Anh Hùng, người tháp tùng mẹ của Lê Anh Hùng trong cuộc đi thăm cho biết.

SBS.COM.AU
Bị bắt vào vì tội ‘Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước’” theo điều 331 Bộ luật Hình sự từ 5/07/2018, thay vì đưa ra xét xử, nhà báo độc lập Lê Anh Hùng bị cưỡng bức đưa vào bệnh viện tâm thần dù ….

Được quảng cá‌o là “bền 70 năm”, vỉa hè Hà Nội đã bị bong tróc, nứt tóac chỉ sau… 2 năm sử dụng

 

XALUAN24H.COM
Được quảng cá‌o là “bền 70 năm”, nhưng chỉ sau 2 năm sử dụng, nhiều đoạn vỉa hè lát đ‌á tự nhiên trị giá hàng trăm tỷ đã bắ‌t đầu vỡ nát, xuống cấp ngh‌iêm trọ‌ng.