30-4 nhìn lại con bài “Thành Phần Thứ Ba” của cộng sản Hà Nội

30-4 nhìn lại con bài “Thành Phần Thứ Ba” của cộng sản Hà Nội

Nguyễn thị Cỏ May (Danlambao) – “30 tháng 4” thật sự là chỉ một ngày như bao nhiêu ngày khác trên tờ lịch. Nhưng từ sau 30 tháng 4 năm 1975, nó trở thành một ngày trọng đại vì nó ghi lại một biến cố lớn, đau thương, bám chặt ký ức của người Việt Nam. Nó đánh thức lòng trắc ẩn và lương tâm thế giới văn minh do những hệ quả kéo dài của nó.

Đối với người Việt Nam, đó là “Ngày Quốc hận”, “Ngày Mất nước”... Nhưng với người cộng sản Hà Nội, cũng là ngày đó, nó trở thành ngày “Giải phóng Miền Nam”, ngày “Đất nước thống nhất”… Ngày lễ hội vui mừng!

Kẻ mất buồn, người được vui! Thông thường thôi. Nói theo Võ văn Kiệt thì ngày 30 tháng 4 “Có một triệu người vui, có một triệu người buồn”. Phải chăng Ông Kiệt đã nghĩ tới những người không phải bên thắng cuộc? Nhưng thật lòng thì ông buồn hay vui? Cái nào nhiều, cái nào ít? Nhưng giờ đây chắc chắn cả nước buồn! Cả người cộng sản phản tỉnh và đông đảo thanh niên. Trừ những người cộng sản làm giàu nhờ cầm quyền. Những người này nói cách mạng, làm chính quyền cách mạng nhưng không ai có thành tích cách mạng. Du đãng mà mặt không dính thẹo thì không thể nói là du đãng hay anh chị được. Chỉ là những tên điếm đàng mà thôi. Đó là những Nguyễn Phú Trọng, những Tô Lâm, những Lê Thanh Hải… Nguyễn Tấn Dũng ít ra còn có thành tích lúc 16 tuổi làm y tá, xức thuốc đỏ cho du kích VC trong mật khu Rạch giá, Cà Mau.

Giữa hai lớp người buồn vui đó, có một ít người không thấy buồn, trái lại thấy vui vì tự “chia vui” với “Bên thắng cuộc”. Tất cả họ đều thuộc lớp khá giả trong xã hội Miền Nam nhưng lại chạy theo cộng sản, làm tay sai cộng sản chống lại chính quyền miền Nam.

Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lên Đài phát thanh Sài Gòn hát bài “Nối vòng tay lớn”. Bài hát kêu gọi và nói về ước mơ thống nhất dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968 nhưng chưa từng công bố cho tới thời điểm đó, nay được ông công bố để kỷ niệm sự kiện trọng đại mà ông mong chờ đã lâu. Trong bài phát biểu trên đài, ông kêu gọi người dân miền Nam ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam:

“Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta… Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam này… Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả kết quả đó… Hôm nay tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam, các bạn trẻ và Chính phủ Cách mạng lâm thời xem những kẻ ra đi là những kẻ phản bội đất nước… Chính phủ Cách mạng lâm thời đến đây với thái độ hòa giải, tốt đẹp. Chúng ta không có lý do gì để sợ hãi mà ra đi cả. Đây là cơ hội duy nhất và đẹp đẽ nhất để đất nước Việt Nam được thống nhất và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước suốt mấy chục năm nay. Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu và cũng như những người chưa quen của tôi xin ở lại và kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng lâm thời để góp tiếng nói xây dựng miền Nam Việt Nam này…”

Những ngày sau đó, Trịnh Công Sơn cũng không có chỗ đứng. Nghe bạn khuyên nên về Huế sống yên lành hơn vì quê hương và bạn bè cũ. Nhưng ở Huế, ông thấy có nhiều khó khăn. Bạn lại khuyên ông nên trở vào Sài Gòn tốt hơn. Và ông ở Sài Gòn luôn từ đó. May mà ông không bị đi cải tạo tập trung như nhiều văn nghệ sĩ khác.

Sau gần nửa thế kỷ “thắng cuộc”, đất nước về một mối xã hội chủ nghĩa, những điều họ tranh đấu đòi hỏi ngày trước như dân chủ, tự do, xã hội công bằng, người không bóc lột người, no cơm ấm áo, không có bóng dáng ngoại bang… thì nay, những điều đó chẳng những chưa có, trái lại còn trầm trọng hơn đang trở thành thực tế xã hội Việt Nam nhưng không thấy những người đó đứng lên, biểu tình, tuyệt thực, đói hỏi như trước kia. Đó là những người của “Thành phần Thứ ba” hay của “Lực lượng Thứ ba”.

Thành phần thứ ba

Tổ chức “Thành phần thứ ba” hay “Lực lượng thứ ba” ra đời trong hoàn cảnh nào, không rõ ràng lắm. Theo ký giả Pomonti của nhựt báo Le Monde, “Thành phần thứ ba” xuất hiện năm 1960 sau khi Nhóm Caravelle đưa ra bản Tuyên ngôn với 18 nhân sĩ ký tên đòi hỏi ông Tổng thống Ngô Đình Diệm cải tổ đường lối cai trị, chấm dứt tình trạng độc tài gia đình trị. Sau đó thì xuất hiện phong trào quần chúng nổi lên chống chế độ Ngô Đình Diệm độc tài, kỳ thị tôn giáo.

Nhưng theo ký giả Decornoy, cũng của Le Monde, thì vào cuối năm 1969, có một phong trào quần chúng xuất hiện ở Sài Gòn chống chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, đòi hòa bình, đi theo chủ trương “Hòa giải dân tộc” của tướng Dương Văn Minh.

“Thành phần thứ ba” gồm một số Dân biểu như Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Lý Quí Chung, Dương văn Ba, Ngô Công Đức; Sinh viên có Huỳnh Tấn Mẩm, Nguyễn Hũu Thái…; trí thức có Bà Ngô Bá Thành…; tu sĩ có Ni sư Huỳnh Liên, Linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ…

Năm 1971, Sài Gòn tổ chức bầu cử Quốc hội. Nguyễn Hũu Thái được Mặt trận Giải phóng Miền Nam bí mật móc nối đề nghị ra tranh cử với lập trường “hòa bình đứng giữa” chuẩn bị cho Thành phần thứ ba khi có Chính phủ 3 thành phần theo Hiệp định Paris tuy lúc đó Hội nghị Paris chưa kết thúc.

Nhưng “Thành phần thứ ba” trở thành một danh xưng chính thức từ khi Hà Nội đưa ra tại hòa đàm Paris đề nghị thành lập một chính phủ liên hiệp gồm 3 thành phần. Xin nhắc lại thành phần thứ ba của Hà Nội đề cập không có phong trào sinh viên, dân biểu, trí thức, tu sĩ, như trên đây.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trước sau vẫn cương quyết phủ nhận thành phần thứ ba. Năm 1972, Hà Nội chính thức lên tiếng bênh vực phong trào này.

Chẳng những phủ nhận “Thành phần thứ ba” hay “Lực lượng thứ ba”, chính phủ Sài Gòn cũng từ chối đề nghị một Chính phủ Liên hiệp 3 Thành phần như phía Việt cộng đòi hỏi. Tuy nhiên, khi “Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình” ký kết tháng giêng 1973 ở Paris thì có điều 12 qui định thành lập một “Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm 3 thành phần ngang nhau”.

Hà Nội coi trọng thành phần thứ ba như là một yếu tố giúp họ thắng lợi bằng chính trị: “Việc thành lập một chính phủ hòa hợp dân tộc ở miền Nam là chìa khóa dẫn đến hòa bình, và lực lượng thứ ba là một thành phần không thể thiếu được của giải pháp này…” (Phạm văn Đồng trả lời nhà báo pháp Jean Lacouture, Etudes vietnamiennes, Paris).

Để làm áp lực ở hòa đàm Paris, Hà Nội cho thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình của Chính phủ Cách mạng Lâm thời đưa ra đề nghị “8 điểm” có đề cập thành lập một Chính phủ Liên hiệp Lâm thời gồm 3 thành phần: “những người của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời, những người yêu chuộng hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ trong chính quyền Sài Gòn, và những nhân vật của các lực lượng chính trị và tôn giáo, trong hay ngoài nước, có lập trường ủng hộ hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ phản ánh các khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam về hòa bình, độc lập, trung lập, dân chủ, và hòa giải, hòa hợp dân tộc.”

Tiếp theo, vào cuối 1973, rầm rộ xuất hiện ở Sài Gòn nhiều phong trào đều do Hà Nội thổi lên như:

– Phong trào Phụ nữ đòi Quyền sống (Bà Ngô Bá Thành sáng lập).

– Phong trào Thi hành Hiệp Định Paris.

– Mặt trận Nhân dân Cứu đói (Tổ chức lớn nhất ở Miền Nam với sự tham gia của các nhóm Công giáo, Phật giáo, Hòa Hảo và Cao Đài. Linh mục Phan Khắc Từ là một trong 3 phó chủ tịch.)

– Mặt trận các Tôn giáo vì Hòa bình, Hòa hợp, và Hòa giải (Dương Văn Minh sáng lập).

– Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Dân tộc (Một tổ chức Phật giáo do Vũ Văn Mẫu lãnh đạo).

– Tổ chức Nhân dân đòi Thi hành Hiệp định Paris (Ngô Bá Thành sáng lập).

– Ủy ban Tranh đấu cho Tự do Báo chí và Xuất Bản (Dân biểu Nguyễn Văn Binh, anh vợ Ngô Công Đức đứng đầu).

– Ủy ban đòi trả tự do cho tù Chính trị của Lực lượng thứ ba.

– Ủy ban bảo vệ quyền lợi người lao động (Linh mục Phan Khắc Từ lãnh đạo).

– Nhóm các Nhà Lập Pháp Tranh đấu cho Tự do, Dân chủ và Hòa bình.

Nhưng hiện tượng quần chúng này chỉ là những đòi hỏi giai đoạn của người cộng sản để chờ đợi đạt trọn vẹn mục tiêu cuối cùng. Đó là ngày 30 tháng 4/1975.

Sau 30-4-75 có hai nước Việt Nam cùng xin gia nhập LHQ?

Cuộc chiến Nam-Bắc Việt Nam kết thúc ngày 30-04-1975 thì qua tháng 4/1976 hai miền Việt Nam được thống nhất thành một nước có tên gọi là “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Không đợi thi hành Hiệp định Paris.

Nhân đây xin nhắc lại cái chết của một cựu Nam Bộ kháng chiến Khu 7 liên hệ tới quyết định thống nhất 2 Miền sớm hơn thời hạn. Trong Hội nghị Hiệp thương chính trị bàn về thống nhất, tướng Huỳnh Văn Nghệ, tức Tám Nghệ, cựu Bộ trưởng Lâm nghiệp, phản đối việc quyết định thống nhất sớm. Giận dữ, ông rút khẩu súng cá nhân dằn lên bàn, gằn giọng – “Ai quyết định thống nhất ngay, hãy bước qua xác chết của tôi”. Qua đầu năm 1977, Huỳnh Văn Nghệ một hôm bị đau bụng, Ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương đảng vội cho chở ông vào Chợ Rẩy để chữa trị. Bác sĩ ở Hà Nội phải vào để săn sóc ông theo tiêu chuẩn cán bộ đảng viên. Vài hôm sau, ông thấy tình trạng sức khỏe của mình không có gì nặng nên muốn về nhưng bác sĩ không cho. Đưa ông đi chụp hình, liền sau đó, đưa ông qua phòng mổ và mổ. Bình thường gặp bác sĩ thứ thiệt của Hà Nội mổ thì cũng khó sống. Nay ông lại được bác sĩ Hà Nội đặc biệt quan tâm mổ theo ý kiến của Ban Bảo vệ sức khoẻ Trung ương đảng thì dĩ nhiên ông không thể không ra về bằng ngỏ sau của nhà thương. Chuyện này, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa biết nên bà có lên tiếng trong nôi bộ và bà tỏ thái độ bằng cách trả thẻ đảng. Phạm văn Đồng can thiệp không được, đành chấp nhận và yêu cầu bà giữ tiếng trong 10 năm. Đúng 10 năm, bà công bố việc trả thẻ đảng của bà trên nhật báo Le Monde của Pháp. Về cái chết của Huỳnh văn Nghệ, bà chỉ nói riêng trong vòng thân mật mà thôi.

Thống nhất xong, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc vào năm 1977, và trở thành thành viên thứ 149 của LHQ vào ngày 20 tháng 9/1977.

Nhưng ít người biết rằng trước khi thống nhất đã từng có hai nước Việt Nam nộp đơn cùng xin gia nhập Liên Hiệp Quốc. Một là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thủ đô Hà Nội, với cờ đỏ sao vàng. Và nước Việt Nam kia là Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, thủ đô Sài Gòn, có cờ nửa đỏ trên, nửa xanh dưới, ngôi sao vàng giữa.

Lá cờ nửa đỏ nửa xanh này xuất hiện vào cuối năm 1960, khi một số trí thức miền Nam tuyên bố thành lập “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam” trong vùng rừng núi Lộc Ninh, để đối lập với chính phủ Việt Nam Cộng hòa tại Sài Gòn. Sau thời gian dài hoạt động khủng bố nhờ đó tư cách Mặt trận được thừa nhận. Và cũng từ đó Mặt trận này thành lập một chính phủ có tên là “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam”.

Trong thời gian đó, Hà Nội cứ nói lấy được cuộc chiến ở miền Nam là cuộc chiến giữa quân đội Việt Nam Cộng hòa với lực lượng võ trang của Mặt trận. Tức do nhân dân Miền nam nổi lên đòi độc lập và thống nhất chớ không do miền Bắc can thiệp. Khi chính phủ Sài Gòn đưa bằng chứng cán binh của Hà Nội xâm nhập vào Nam thì Nguyễn Thị Bình trả lời “Họ là người Việt Nam thì dĩ nhiên họ có quyền đi trong vùng lãnh thổ của họ”.

Ngày 30/4/1975, khi Sài Gòn sụp đổ, thì cờ của Mặt trận Giải phóng được kéo lên nóc dinh Độc lập ở Sài Gòn. Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố thừa kế Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, xác nhận lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 tới mũi Cà mau, với cả 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Giữa tháng 7/1975, hai nước Việt Nam cùng đề nghị nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc. Đại diện cho Hà Nội là ông Nguyễn Văn Lưu, ông Đinh Bá Thi đại diện cho Sài Gòn.

Ngày 11/8/1975, Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu đồng ý cho hai nước Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc, nhưng bị Hoa Kỳ phủ quyết nên việc gia nhập LHQ của 2 nước của cùng Hà Nội không thành.

Giải thích lý do Hoa Kỳ dùng quyền phủ quyết, Gs Ngô Vĩnh Long cho rằng vì họ không muốn có 2 nước Việt Nam “độc lập” cùng Hội viên LHQ mà để 2 Việt Nam thống nhất theo Hà Nội, tức trở thành cộng sản. Hoa Kỳ sẽ có cớ không bang giao, mà còn dùng Việt Nam như một nơi thực hiện một cuộc chiến tranh ủy nhiệm chống Liên Xô (Joaquin Nguyễn Hòa, BBC. 20/4/19)

Còn theo Gs Đoàn Viết Hoạt, hiện sống tại Mỹ, thì quyết định của Mỹ không cho hai miền Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc có thể liên quan đến những thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc vào năm 1972 khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao sau tuyên bố Thượng Hải. Lúc đó, Mỹ toan tính liên minh với Trung Quốc để chống Liên Xô, giao vùng Đông Nam Á cho Trung Quốc, và Bắc Kinh không muốn có một miền Nam Việt Nam độc lập, không theo cộng sản. Theo giải thích này, Gs Hoạt tin rằng Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam không phải của cộng sản Hà Nội nặn ra!?

Vẫn theo Gs Ngô Vĩnh Long thì cho đến 30/4/1975, quan điểm về sự thống nhất Việt Nam của Hà Nội cũng như Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, khi chiến tranh kết thúc, sẽ là một quá trình nhiều bước kéo dài từ 12 đến 14 năm. Vì việc gia nhập Liên Hiệp Quốc của hai nước Việt Nam thất bại đã thúc giục những thành phần cứng rắn tại Hà Nội kết thúc dự án thống nhất đất nước kéo dài đó.

Nhưng sau khi việc gia nhập Liên Hiệp Quốc của hai miền Việt Nam bị thất bại, Đảng Lao động Việt Nam, tức đảng Cộng sản Hà Nội hiện nay, họp Hội nghị trung ương lần thứ 24, quyết định gấp rút thống nhất Việt Nam “Đứng trước yêu cầu của tình hình cách mạng mới, tháng 9/1975 tại Hội nghị lần thứ 24, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước” (Nghị quyết số 247-NQ/TW, ngày 29/9/1975 Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới “Hoàn thành thống nhất tổ quốc và đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”).

Thế là Mặt trận và cả Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam cùng dẹp tiệm vì đã “hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ lịch sử” (Nguyễn thị Bình tuyên bố).

Tuy tài liệu không thấy nhắc tới đã có 2 nước Việt Nam chính thức xin gia nhập LHQ nhưng Gs Đoàn Viết Hoạt nhớ lại, lúc còn ở Sài Gòn, ông có nghe một bản tin của đài BBC về sự kiện hai nước Việt Nam cùng xin gia nhập Liên Hiệp Quốc rồi bị thất bại vào tháng 8/1975. Tức chuyện đã có 2 Việt Nam cùng xin gia nhập LHQ là thật.

Chứng kiến sự quản lý nhà nước tại Sài Gòn sau ngày 30/4/1975 ông Hoạt kể lại ông thấy tất cả những quyết định của nhà cầm quyền đều mang danh nghĩa Cộng hòa miền Nam Việt Nam, kèm theo tiêu đề: “Độc lập, tự do, Trung lập”.

Với bản tin thế giới nghe qua đài BBC, cộng với sự kiện mình không bị bắt, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt cho rằng những người cộng sản lúc đó đang thật sự tính tới dự án cho miền Nam một qui chế riêng, chứ không gấp rút thống nhất Việt Nam dưới màu áo cộng sản duy nhất (theo trích dẫn trên).

Đâu là sự thật?

Sáng ngày 1 tháng 5/1975, tại Sài Gòn có cuộc diễn binh lớn do chính quyền mới tổ chức để ăn mừng “Đại thắng Mùa xuân”. Bộ trưởng Tư pháp Trương Như Tảng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời ngồi trên khán đài danh dự coi diễn binh. Chờ hoài không thấy “đoàn quân giải phóng” đi qua, bèn nghiêng qua hỏi một sĩ quan Quân đội nhân dân. Vị sĩ quan này trả lời rất vui vẻ – “Ủa anh không biết sao? Quân đội ta đã thống nhất tối hôm qua rồi kia mà!” (Trương Nhu Tảng kể lại lúc tỵ nạn ở Paris).

Qua ngày 2 tháng 5/1975, chính quyền mới ra lệnh giải tán tất cả các tổ chức chính trị, xã hội, văn hóa, tôn giáo… được thành lập dưới chế độ VNCH. Còn các tổ chức mới thành lập để chống “Mỹ Ngụy cứu nước” đều bị hoặc tự giải tán, hoặc sáp nhập vào các tổ chức chính thức của Hà Nội như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ Giải phóng, cả Chính phủ cách mạng Lâm thời, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, các cơ sở vật chất ở hải ngoại… đều không còn vết tích!

Điều đáng ngạc nhiên là việc giải tán không có một lời phản đối hay than phiền nào của những người trong các tổ chức đó hết cả, mặc dầu họ đã từng can trường đương đầu với chế độ VNCH, không hề sợ sệt dùi cui, hơi cay, tù đày. Hay nay họ cũng hiểu nhiệm vụ “cách mạng” chạy theo cộng sản của họ đã hoàn tất!

Thái độ của trí thức

Ai cũng biết triết gia Jean-Paul Sartre là người không có chính kiến chắc chắn. Đúng hơn ông là người có tinh thần tiến bộ mà hơi “ba phải”, nặng cá nhân chủ nghĩa, khuynh hướng vô chính phủ, chống chủ nghĩa quân phiệt, và hơn hết là chống tư sản nên ông dễ ngã theo cộng sản. Từ những năm 1950, Sartre ủng hộ Liên Xô mạnh mẽ. Cho đến nỗi ông đã không ngần ngại lớn tiếng chửi thẳng ai không theo cộng sản là thứ con chó! Đến khi Liên Xô đưa xe tăng qua đàn áp cuộc nổi dậy của nhân dân Hungary ông mới từ bỏ cộng sản. Cộng sản Pháp lên án ông đã đầu hàng giai cấp. Trong lúc đó, Raymond Aron, bạn của Sartre, lại tôn thờ tinh thần dân chủ tự do. Vì vậy hai người ghét nhau trong thời chiến tranh lạnh. Họ không hề nói chuyện với nhau, không gặp nhau suốt từ những năm 47.

Thế mà tháng 6/1979, trước thảm họa cộng sản ở Việt Nam và Miên, cả 2 cùng tới Điện Elysée yêu cầu Tổng thống Giscard d’Estaing hãy mở rộng cửa đón nhận người Miên và Việt Nam, hàng chục ngàn, hằng trăm ngàn đang chạy trốn cộng sản.

Sartre trả lời báo chí “Riêng cá nhân tôi, tôi ủng hộ những ngưởi tuy không phải là bạn của tôi trong thời gian Việt Nam tranh đấu cho tự do (Việt Minh). Nhưng điều đó không có gì quan trọng, bởi vì điều quan trọng ở đây, chính họ là những con người. Những người đang bị nguy hiểm”.

Lời tuyên bố trên đây cho thấy Sartre không ngụ ý vì đã phủ nhận ý thức hệ cộng sản mà thật sự chỉ là lương tâm con người trí thức thúc đẩy ông hành động.

Qua cách ứng sử này, Aron và Sartre bắt tay nhau. Hai người nắm tay nhau cùng bước ra khỏi Elysée.

Các đảng phái khác, cả Xã hội, RPR, đều hưởng ứng cùng vận động giúp đỡ người tỵ nạn cộng sản. Hồng Y Etchegaray kêu gọi mỗi gia đình giáo dân hãy đón nhận 1 gia đình người tỵ nạn.

Hơn tháng sau, tháng 7/79, Pháp đón nhận và định cư 128531 người tỵ nạn cộng sản Đông Dương.

30.04.2020

 Nguyễn thị Cỏ May

 danlambaovn.blogspot.com

NỘI TÌNH LƯỠNG HỘI TRUNG QUỐC…

Image may contain: 1 person, eyeglasses and suit
8 SÀI GÒN

NỘI TÌNH LƯỠNG HỘI TRUNG QUỐC…

Toàn dân Trung Quốc nên đọc: Bức thư công khai con trai Đặng Tiểu Bình là Đặng Phổ Phương viết cho đại biểu lưỡng hội sắp diễn ra tại Bắc Kinh

“Các vị đại biểu, các vị ủy viên:

Lưỡng hội (Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc và Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc) sắp diễn ra, trong thời kỳ đặc biệt này, tôi biết tâm trạng của mọi người gần đây rất phức tạp, trong lòng có rất nhiều nghi vấn mà chưa có đáp án, có những lời muốn nói mà không dám nói, có những vấn đề muốn hỏi nhưng lại không dám hỏi, thậm chí đến Bắc Kinh tham gia lưỡng hội đều run rẩy bồn chồn. Tâm tình của mọi người tôi có thể hiểu được.

Mười năm gần đây, do điều kiện sức khỏe, tôi không có hỏi nhiều đến chuyện chính sự. Tuy nhiên mấy năm gần đây tại Trung Quốc phát sinh rất nhiều đại sự, có những chuyện lớn còn liên quan đến an nguy của quốc gia, nếu như những lúc này không có ai đứng lên nói, có thể sau này muốn nói cũng không có cơ hội để nói nữa rồi. Do trình độ văn hóa có hạn, hôm nay tôi viết cho mọi người bức thư công khai, chủ yếu muốn đưa ra một số vấn đề để mọi người tham khảo:

1. Với vai trò là đại biểu lưỡng hội, việc bảo vệ lợi ích của nhà nước và nhân dân quan trọng hay bảo vệ quyền vị của một nhà chuyên quyền nào đó quan trọng?

2. Hiến pháp quy định rõ ràng, đại biểu lưỡng hội có quyền giám sát và sửa chữa các quyết định sai trái của chính phủ trung ương, thế nhưng mấy năm trước, trung ương lại đưa ra “tội đổ oan” và “tội không biết kính sợ”. Trong tình trạng như vậy, mọi người thấy ý nghĩa của đại biểu lưỡng hội là gì?

3. Nhà cầm quyền muốn là ‘Nhất tôn’ (người có quyền lực cao nhất. Xin hỏi các vị đại biểu, người có quyền lực cao nhất nước ta rút cục là Hoàng đế của hoàng gia nối dõi? hay Tổng thống do dân bầu? hay Tổng bí thư do nôi bộ Đảng bầu ra? Nếu như đều không phải, thế thì họ là ‘Nhất tôn” của ai đây?

4. Đối diện việc Trung ương lặp đi lặp lại sai lầm, Đảng viên đưa ra ý kiến thì lại là “đổ oan trung ương”, dân chúng đưa ra ý kiến thì gọi là “lật đổ”. Xin hỏi các vị đại biểu, đất nước của chúng ra rút cuộc là đất nước của ai?

5. Viêm phổi Vũ Hán đã lan ra toàn thế giới, liệu có phải trung ương đã trì hoãn thời gian phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh? và liệu có phải đã che giấu công chúng chân tướng về dịch bệnh? Chúng ta liệu có nên có một lời giải thích với nhân dân toàn thế giới? Ai nên phải chịu trách nhiệm chính cho việc dịch bệnh lần này bị mất kiểm soát?

6. Mối quan hệ Mỹ Trung tiếp tục căng thẳng và xấu đi, lãnh đạo chủ chốt trung ương lại nên chịu trách nhiệm gì?

7. Biến động tại Hồng Kông đã kéo dài gần 1 năm rồi, rút cục ai đã phá vỡ cục diện tốt đẹp một quốc gia hai chế độ của Hồng Kông? Lãnh đạo trung ương lại cần gánh vác trách nhiệm gì?

8. Đầu tư một cách vô lý “Một vành đai một con đường”, không thông qua sự phê chuẩn của toàn dân, không quan tâm đến kinh tế và đời sống quốc dân

9. Không thông qua toàn dân phê chuẩn, cũng không thông qua chuyên gia thảo luận, lãnh đạo trung ương chỉ dựa vào kiến nghị của mấy con người liền quyết định đầu tư hàng trăm tỷ (nhân dân tệ) xây dựng khu Hùng An mới, đây là loại hành vi gì? đến nay dự án đã phá sản rồi, trách niệm này nên là ai đứng ra chịu?

10. Đài Loan và Đại lục tại sao ngày càng xa cách? Trung ương đối với việc này nên chịu trách nhiệm gì?

11. Lượng lớn doanh nghiệp nước ngoài rút khỏi TQ, lượng lớn doanh nghiệp tư nhân đóng cửa, điều này có liên quan đến chính sách sai lầm của trung ương? nếu như không, thì trách nhiệm này ai nên gánh?

12. Lãnh đạo đương nhiệm mượn quyền nắm trong tay sửa đổi hiến pháp hủy bỏ chế độ nhiệm kỳ, đây là loại hành vi gì? Nếu như ai có quyền đều có thể lập pháp vì bản thân, thì hiến pháp nhà nước còn có tác dụng gì?

13. Trung ương đã đưa ra quyết định, chuẩn bị áp dụng mô thức kế hoạch kinh tế sớm đã bị thế giới đào thải từ lâu, đây rút cuộc vì để củng cố quyền lực chính trị cá nhân? hay xuất phát từ việc nghĩ cho lợi ích của người dân?

14. Mấy năm nay, hình tượng của Trung Quốc đối với quốc tế đã trượt xuống ngàn dặm, tín dụng quốc gia đã biến mất, trách nhiệm này nên là ai đứng ra gánh vác?

15. Vì để ngăn cản những đồng chí cũ đề xuất hoạt động triệu tập cuộc họp mở rộng Bộ chính tri, trung ương ngang nhiên huy động quân cảnh đẩy một nhóm đồng chí cả các thành viên hiện tại của đảng, chính phủ và quân đội vào diện “chăm sóc đặc biệt”, gọi là “chăm sóc đặc biệt”, trên thực tế là hạn chế liên lạc, hạn chế hoạt động tự do, hạn chế khách đến thăm, đây là loại hành vi gì? và lại là ai nên gánh trách nhiệm?

Các vị đại biểu, trên vai các vị là niềm tin được trao bởi đảng và nhân dân, trước việc liên quan đến sinh tồn của quốc gia, tôi tin rằng mọi người đều sẽ không hồ đồ. Khi mà các vị thực hiện quyền biểu quyết của mình, nên có trách nhiệm bới nhân dân, có trách nhiệm với quốc gia, có trách nhiệm với lịch sử, chứ không phải có trách nhiệm với nhà cầm quyền nào. Nếu không, chúng ta đều trở thành tội nhân thiên cổ.

Cuối cùng, chúc các vị đại biểu mạnh khỏe! Chúc đại hội thành công viên mãn!”

Theo: New Highland Vision

  NẾU TÔI ĐƯỢC CẦM CÂY BÚT, TÔI KHÔNG BAO GIỜ VIẾT BÁO NHƯ CÁC ANH!

NẾU TÔI ĐƯỢC CẦM CÂY BÚT, TÔI KHÔNG BAO GIỜ VIẾT BÁO NHƯ CÁC ANH!

Tôi sẽ tự đặt vị trí, công việc, tầm cỡ, năng lực, và điều kiện, uy tín… sự chân thật, sắc bén của ngòi bút lên hàng đầu để viết bài.

Tôi sẽ không và không bao giờ viết thuê cho ai, viết theo định hướng cho ai hoặc viết theo đơn đặt hàng của ai đó bắt chấp sự thật:

– Không viết cho có;
– Không viết chỉ để lắp đầy trang báo;
– Không viết Sai viết thành Đúng;
– Không biến Tội viết thành Công;
– Không biến Ác viết thành Thiện;
– Không viết Ân thành Oán
– Không viết Thù thành Bạn
– Biết rõ thì viết không thì thôi;
– Chưa hiểu thì nên học hỏi;…

Nếu cầm cây bút để viết bài, điều cơ bản phải có LÒNG TỰ TRỌNG! Vì người đọc hơn người viết rất nhiều, nếu không tôn trọng người đọc là xem như cây bút mình đã bị người đọc bẽ gãy và tờ báo cho vào sọt rác.

Nếu cầm cây bút phải có LÒNG QUẢ CẢM! Không phải văn hay là lái người đọc theo cách của mình? LÒNG QUẢ CẢM của người viết là phải tự vượt lên mọi sự dối trá để bảo vệ lẽ phải mà người đọc cảm nhận đúng là tôn trọng mình!

Bạn nghĩ thế nào? Bạn trình độ cỡ nào? Bạn là chính khách giỏi tới đâu? Bạn đang sống ở Việt Nam, vậy bạn hiểu Mỹ chưa? Văn minh như Mỹ không? Có giàu và giỏi như Mỹ chưa? Mà bạn viết bài cho rằng nước Mỹ bỏ ra mấy NGÀN TỶ ĐÔ LA MÀ THIẾU TẦM CHIẾN LƯỢC? Chắc chiến lược bạn giỏi? Hãy giúp Việt Nam đi.

Bạn là nhà báo thời VIRUS Vũ Hán qua ba tháng nay, Bạn có đọc thông tin toàn thế giới không? Bạn có thấy thế giới có trên 196 QG đang tìm về đâu là gốc của Virus Vũ Hán chưa?

Bạn có biết cả thế giới đang tập trung điều tra về Virus Vũ Hán và về ĐCSTQ hiện nay không? Mà bạn dám cầm bút viết “Luật sư TQ kiện Mỹ che dấu thông tin dịch Virus Vũ Hán”? Nếu bạn là dân Tàu, bạn còn chưa thể nói thay cho TQ một sự vụ tày trời này, đừng nói chi là nhà báo Việt Nam! Quá tầm thường!

Thông tin bạn đưa ra trong tờ Báo TIỀN PHONG… nếu TQ có thuê bạn cũng không nên viết, vì không có tội mà viết thành tội là bạn mất đạo đức người cầm bút rồi… Và ảnh hưởng tới uy tín của Báo TP nữa đó!

Rồi, “Ngân hàng lương thực Mỹ cạn kiệt,… 26 triệu người Mỹ rơi vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói”! Hãy nhìn lại mình đi, đánh giá lại kiến thức hạn chế, hiểu biết nghèo nàn của mình đi, bạn không biết:

– Mỹ là quốc gia cứu trợ lương thực cho quốc tế, hơn bất cứ quốc gia nào;
– Mỹ là quốc gia có số lượng dự trữ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia vào loại lớn nhất thế giới;
– Mỹ là quốc gia duy nhất sở hữu bản quyền in ra một loại tiền được đảm bảo bằng vàng, có thể mua bất cứ thứ gì ở bất cứ nơi đâu

Hay bạn đang vì ai đó chỉ đạo để bao biện cho viễn cảnh đói rách của mình cũng là tình trạng chung của toàn thế giới? Và rồi, đọc tờ báo này thương bà con bên Mỹ… rồi tự an ủi mình “đói, âu cũng là đương nhiên, đừng kêu khóc chi cho mất công-bó tay rồi”, người Việt bên Mỹ đói đến nơi rồi, “hết cửa rồi” về nước tỵ nạn đi!… thật là thiển cận và lố bịch. Một tờ báo “rẻ tiền”.

Quốc gia vẫn ngửa tay đang tâm nhận tiền viện trợ của một nước nghèo đói xác xơ như Mỹ thì chỉ có loại vô nhân tính. Đừng tự liệt mình vào loại này.

TẠ NGỌC SƠN
26/4/2020

Image may contain: one or more people, people standing and text
Image may contain: text
Image may contain: 2 people, people standing and text

Mở lòng bao dung, hòa giải để đoàn kết, hòa hợp dân tộc

BÀI NÀY ĐĂNG TRÊN BÁO QUỐC DOANH VẬY LÀ KHÁ

Đồng thời với hiện tượng không tổ chức rình rang, không nhiều bài vở ồn ào kỷ niệm 30/4 như các năm khác, hy vọng một sự chuyển biến thực chất.

Có lẽ cũng nhờ … Cô-vi chút ít chăng? Hay là nhờ cả … “bạn vàng” chó má quấy phá mạnh hơn ngoài Biển Đông?

– Vì nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, vì mục tiêu quốc thái dân an, đòi hỏi đất nước không chỉ thống nhất về giang sơn lãnh thổ mà phải thống nhất về lòng người.

LỚP LỚP THANH NIÊN MIỀN BẮC RA TRẬN NGÃ XUỐNG, NỬA TRIỆU BÀ MẸ MIỀN BẮC VĨNH VIỄN KHÔNG TÌM THẤY MỘ CON – LIỆU CÓ VUI?

Image may contain: 1 person, text

Lê Vi

LỚP LỚP THANH NIÊN MIỀN BẮC RA TRẬN NGÃ XUỐNG, NỬA TRIỆU BÀ MẸ MIỀN BẮC VĨNH VIỄN KHÔNG TÌM THẤY MỘ CON – LIỆU CÓ VUI?

Năm 2015, ông Đào Ngọc Lợi Cục phó Cục Người có công của Bộ lao động thương binh xã hội cung cấp cho báo Vnexpress con số hơn 300 ngàn hài cốt liệt sĩ được đưa về các nghĩa trang nhưng chưa xác định đầy đủ danh tính hoặc quê quán, nghĩa là thân nhân của họ không thể nhận ra họ và hơn 200 ngàn liệt sĩ còn nằm ở các vùng chiến trường chưa được quy tập về các nghĩa trang liệt sĩ.

Như vậy chắc chắn có không dưới nửa triệu bà mẹ đến khi chết vẫn không thể thấy mộ con trong đó một phần là các bà mẹ miền Nam có con tập kết ra miền Bắc nhưng đa phần là các bà mẹ miền Bắc.

Tôi không có con số những người mẹ miền Bắc tìm thấy mộ con nhưng tôi nghĩ sẽ có khoảng một triệu bà mẹ như thế.

Số liệu dân số tôi tìm thấy cho biết trước năm 1975 ở miền Bắc có khoảng 17 triệu người.

Xấp xỉ 17 triệu người nhưng có cả triệu gia đình mất con thì tang thương phủ lên miền Bắc lớn biết chừng nào?

Với miền Bắc cuộc chiến cũng là ác mộng.

Cùng với cuốn Bên thắng cuộc là sách tư liệu lịch sử thì cuốn Nỗi buồn chiến tranh là tiểu thuyết chiến tranh của nhà văn quân đội Bảo Ninh đã phác họa lại sự thật khủng khiếp của cuộc chiến.

Bốn mươi lăm năm qua cứ mỗi năm một lần một số ít người may mắn được mời lên truyền hình để kể lại những điều mà họ cho là hào hùng ấy, mấy ai nhớ lại cảnh tang thương ở các xóm làng miền Bắc?

Những câu chuyện kể những cầu truyền hình sẽ làm đến bao giờ?

Nửa triệu bà mẹ miền Bắc đến cả trong giấc mơ cũng không thấy mặt con ấy họ có nhớ không?

– Trần Đình Thu

NIỀM ĐAU KHÔN NGUÔI

Image may contain: 1 person, closeup
Image may contain: one or more people
Image may contain: one or more people and people sitting
Image may contain: 1 person
Image may contain: 1 person
Thien Thai

 

29-4-2020.

NIỀM ĐAU KHÔN NGUÔI.

Tôi mới nhận được một email, từ người bạn, ở Hoa Kỳ, viết về cha Anthony Phạm Hữu Tâm và hôm nay, 29-4-2020, tôi muốn chia xẻ lại với gia đình Facebook.

Tôi được hân hạnh gặp ngài lần đầu và cũng là lần chót ở Forth Worth, bang Texas, năm 2002, dịp tôi qua Mỹ lần đầu tiên.

Cuộc đời ngài có những khúc rẽ khá đặc biệt:

Ngài sinh năm 1965 tại Sài gòn, vượt biên sang Mỹ năm 1980.
Đầu tiên, học đại học ở Cali; rồi học Y ở Thủ đô Washington.
Ngài là một Phật tử, cha mẹ và anh em ngài cũng là Phật tử.
Sau đó gặp được Chúa, xin gia nhập Giáo hội.

Lãnh nhận bí tích rửa tội xong, ngài tiến thêm một bước quyết liệt nữa: xin gia nhập tu hội Tận Hiến ICM, để chuẩn bị làm linh mục.
Ngài được gửi học Triết và Thần học ở Louisiana.
Cuối cùng, thụ phong linh mục ở Texas và tiếp tục học Y, trở thành bác sĩ, mở phòng mạch tại Houston, Texas.

Đứng trước đại dịch Vi-rút Vũ Hán và thể theo lời kêu gọi của Thống Đốc bang New York, ngài đã tạm đóng cửa phòng mạch trong 3 tuần, tới New York, tình nguyện chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện Elmhurst, thành phố Queens, là tâm dịch tại Hoa Kỳ, đồng thời, có dịp xức dầu và ban bí tích giải tội cho những bệnh nhân Công giáo.

Trong một cuộc phỏng vấn do đài VOA thực hiện, ngài đã cho biết những nỗi đau của các nạn nhân, trước cái chết do vi rút Vũ Hán mang lại, như sau:

“Khi bệnh nhân vào nhà thương thì coi như cắt đứt với bên ngoài, không có thân nhân vào thăm được. Khi bệnh nhân còn tỉnh táo thì còn có thể gọi điện thoại để nói chuyện chút đỉnh với gia đình. Nhưng khi chuyển sang thời kỳ nặng hơn, không thở được phải đặt ống thở, rồi hôn mê, gây mê cho họ… coi như gia đình không còn liên lạc với bệnh nhân được, cũng như không biết tin tức gì về bệnh nhân đó nữa.

Đối với những bệnh nhân nguy kịch, chúng tôi phải gọi cho gia đình. Cập nhật tình trạng bệnh nhân cho gia đình. Thật sự những cuộc điện thoại đó toàn là tin xấu. Tôi hỏi ý kiến gia đình rằng nếu tim bệnh nhân ngừng đập thì có nên làm thủ thuật hồi sức cấp cứu cho bệnh nhân [Do-Not-Resuscitate order] hay không? Thật ra nếu làm thủ thuật đó thì cũng không có kết quả khả quan lắm, và chỉ kéo dài sự đau đớn của người bệnh mà thôi. Khi đi vào bệnh viện thấy có biết bao nhiêu con người trong đó đang phải đối diện với nguy hiểm. Không phải chỉ có y tá, bác sĩ, mà những người lao công làm nhiệm vụ dọn dẹp, lấy rác từ phòng bệnh nhân bị nhiễm bệnh, những người mang thức ăn…có rất nhiều người đang âm thầm hy sinh làm việc.

Chúng tôi như những người xông pha ra chiến trường đứng trước đầu tên mũi đạn. Chúng tôi nguyện làm hết sức mình vì trách nhiệm đối với bệnh nhân, với đồng đội.
Mỗi người chúng ta đều có một tôn giáo và đức tin, chính niềm tin trong tôn giáo giúp chúng ta có thêm sức chiến đấu, và sự phấn khởi, hy vọng và lạc quan.
Chúng ta cùng cầu nguyện với ơn trên, người theo Phật giáo cầu nguyện với Phật, người theo Công giáo cầu nguyện với Thiên Chúa… để ơn trên ban phúc lành, bảo vệ chúng ta, cầu mong sớm chấm dứt dịch bệnh này.”

Nỗi đau trên, không phải chỉ đè nặng trên người bệnh, mà còn cả trên những thân nhân của họ.

Lạy Chúa, xin hãy lau khô mọi giọt lệ, trên khuôn mặt những người anh em đau khổ của chúng con…

TÔI MONG DÂN TỘC TÔI CÓ MỘT PHÉP MÀU…

8 SÀI GÒN

TÔI MONG DÂN TỘC TÔI CÓ MỘT PHÉP MÀU…

Nếu phân ly là định mệnh dân tộc??!!…

Tôi không nghĩ đã có dân tộc nào trên thế giới mở đầu trang sử của mình bằng một cuộc phân ly. Nhưng rủi thay, dân tộc ta đã có một trang sử khởi đầu như vậy. Đọc sử, chúng ta hãnh diện tự tôn về dòng giống con rồng cháu tiên. Điều đó, làm chúng ta quên bẵng đi ý nghĩa câu chuyện mẹ Âu Cơ đem 50 con lên núi, cha Lạc Long Quân đem 50 con xuống biển để bắt đầu một phân ly tiên khởi như định mệnh dân tộc.

Ngẫm xem, dân tộc này đã trải qua bao nhiêu cuộc phân ly kể từ ngày ấy? Ngày nay, lúc này, xứ sở thống nhất về lãnh thổ, nhưng cuộc phân ly từ lòng người vẫn cứ còn nguyên đó với nhiều sắc màu, vượt trội nhất với đỏ và vàng.

Cũng lạ, như một định mệnh trớ trêu, trong lá cờ đỏ lại có ánh vàng, trong lá cờ vàng lại có sắc đỏ, trong mình có ta, trong ta có mình, ta với mình đều là người Việt, mình với ta đều là đồng bào, ta với mình đều vỗ ngực yêu nước, nhưng mình với ta không đứng chung trong một sắc cờ! Và nếu cần phải chiến đấu với ngoại xâm, liệu ta với mình có đứng chung trong một chiến hào?

Tôi mơ hồ về câu trả lời, nhưng tôi sẽ chắc chắn hơn với câu trả lời “Có”, chỉ khi mà “ta” với “mình” đã có sự hòa hợp, hòa giải với nhau!

Vâng, sự hòa giải đấy là nan đề xứ sở, là giấc mơ 45 năm chưa trọn!

Đối diện với mỗi vấn đề, tôi vẫn thường hướng sự suy nghĩ của mình bắt đầu từ quá khứ để biết các bài học của lịch sử… Nhưng với vấn đề hòa giải, tôi muốn chúng ta bắt đầu câu chuyện từ nước Đức.

Không phải về một nước Đức phát xít của Hitler đã từng làm nhân loại kinh sợ, mà về một nước Đức thống nhất đã từng làm nhân loại phải ngã mũ kính phục từ sau sự kiện bức tường Berlin bị phá bỏ năm 1989. Chính là nước Đức mà khiến chúng ta, đã không thể đặt vô số câu hỏi tại sao khi đối chiếu với những vấn đề của đất nước mình.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao họ không đặt ra vấn đề buộc những người cộng tác với chính quyền Đông Đức cũ phải đi học tập cải tạo như đất nước ta? Nhưng chúng ta phải nhận thấy rằng, nhờ đó, nước Đức đã không mất đi nguồn nhân lực chất xám cực lớn và quý báu từ một nửa quốc gia còn lại, xã hội không bị xáo trộn và cũng không phải đau đáu về việc phải hòa giải với các cựu thù hàng mấy thế hệ, mà nay tất cả đang là những đồng nghiệp với nhau, cùng kề vai sát cánh phụng sự trong chính quyền nước Đức, vì quyền lợi dân tộc Đức.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không hiểu tại sao người dân Đông Đức cũ đã không chọn con đường đào thoát, tỵ nạn ra nước ngoài như người dân đất nước ta! Và chúng ta cũng nhận thấy rằng, nhờ đó, hàng triệu người dân nước Đức đã không phải phiêu lưu đánh đố số phận của mình trên những chiếc ghe nhỏ giữa đại dương, với vô vàn bất trắc: bão tố, sóng biển, cá mập, hải tặc, tù đày và kể cả điều xấu nhất là cái chết trước khi đến được bến bờ mong muốn. Hơn cả thế, người dân Đức không phải đối diện với sự mất mát và nước Đức cũng không phải đối diện với sự ly tán hiện hữu dai dẳng trong lòng người dân nước mình.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao và như thế nào mà họ lại có thể chấp nhận một người vốn xuất thân từ một đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Đức thuộc Đông Đức cũ, nhưng chỉ 15 năm sau khi thống nhất, thì người này đã có thể trở thành người phụ nữ đầu tiên và trẻ nhất đắc cử vào chức vụ Thủ tướng đầy quyền lực của nước Đức thống nhất? Bà Angela Merkel ! Bạn có nghĩ rằng, nếu người phụ nữ tài trí kiệt xuất này sống ở đất nước chúng ta, Bà có thể đã có một tương lai rất khác, khi mà đất nước chúng ta sau ngày thống nhất vẫn còn nguyên đó sự dè dặt trước những người có lý lịch không tương thích với chính quyền và trong quá khứ đã từng có chính kiến rất khác biệt với chính quyền.

Không chỉ câu chuyện từ nước Đức, mà những câu chuyện về sự hòa giải, hòa hợp từ Nam Phi, Miến Điện, thậm chí từ quốc gia Cao Miên láng giềng cũng đều là bài học hữu dụng.

Tại sao và tại sao? Trả lời được những thắc mắc đó, chúng ta có thể trả lời cho con cháu đời sau biết lý do tại sao ông cha của chúng hiện nay phải kêu gọi hòa giải mối bất hòa có từ những thập kỷ năm mươi và một lần nữa vào thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước, giữa những người Việt có chung giòng máu Lạc Hồng, sinh từ cùng một bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ?

Giữa thập kỷ năm mươi, năm 1954, không phải là một quốc gia bại trận như nước Đức. Trái lại, xứ sở chúng ta vừa mới bước ra khỏi cuộc chiến với tư cách là một quốc gia chiến thắng. Nhưng phần thưởng cho người chiến thắng không vinh quang như chúng ta thường nghĩ, thường thấy, mà cũng lại là sự phân ly như nước Đức bại trận!?

Giữa thập kỷ bảy mươi, năm 1975, sau cuộc chiến khốc liệt dai dẵng kéo dài hằng hai thập kỷ, trả giá bằng sinh mệnh của nhiều triệu đồng bào, cuối cùng xứ sở của chúng ta cũng có được thống nhất dưới bánh xích xe tăng nghiến trên đường phố Sài Gòn. Nhưng kể từ ngày ấy cho đến nay đã là 45 năm, xứ sở thống nhất, nhưng lòng người dân nước ta chưa bao giờ thống nhất! Vẫn vẹn nguyên sự phân ly như những ngày nội chiến tương tàn!

Sự phân ly lòng người đau đớn lắm, nó làm thân thể người mẹ Việt xanh xao yếu ớt, như vết thương mãi rỉ máu, chẳng bao giờ biết liền sẹo…

Ngẫm lại, quả là chúng ta đã từng có một Diên Hồng chói lọi trong lịch sử đoàn kết dân tộc vào thời Trần, nhưng suốt bốn ngàn năm lịch sử cho đến nay, hình như chúng ta cũng chỉ có mỗi trang sử lẻ loi ấy?! Thỉnh thoảng, tinh thần Diên Hồng ấy lại chớp lóe trong những thời khắc vận nước lâm vào cơn nguy khốn cùng cực, khi cơn nguy khốn đã qua, thì tinh thần Diên Hồng cũng chóng tan như làn sương sớm mai!

Chúng ta phải tự hỏi: Đã có thể chìa bàn tay hòa giải với các cựu thù ngoại nhân như Pháp, Nhật, Mỹ! Nhưng chìa bàn tay hòa giải với chính đồng bào mình sao lại khó quá?

Hòa giải, giấc mơ 45 năm chưa trọn. Có thể, sau 100 năm kể từ thời điểm 1975, khi những con người đã từng là đạo diễn, diễn viên và khán giả của câu chuyện phân ly lòng người khuất bóng, thì có thể con cháu của họ sẽ ngồi lại với nhau để viết nên trang sử mới của dân tộc, trang sử không còn bóng dáng của sự phân ly trong lòng người Việt! Trang sử không còn sự phân ly như định mệnh dân tộc của tiền nhân để lại.

Như cô Tấm mong có ông Bụt, tôi mong dân tộc tôi có một phép mầu…

Tháng 04/2020
MANH DANG

BAO GIỜ NƯỚC MẮT CÓ THỂ “LAY LÒNG GỖ ĐÁ”

Huy Chiêu to K75 LƯƠNG VĂN CAN
Image may contain: 5 people, people standing
Image may contain: 2 people, outdoor
Image may contain: 2 people, people sitting, table, indoor and food
Image may contain: 2 people, people sitting, people eating, table, indoor and food
Image may contain: text
Truong Huy San is with Thach Nguyen and 3 others.

 

BAO GIỜ NƯỚC MẮT CÓ THỂ “LAY LÒNG GỖ ĐÁ”

Hai bức ảnh chụp cách nhau 13 năm, đều nói về ngày đoàn tụ của hai người tù, hai người cùng một mẹ Việt Nam, nhưng từng bị đặt ở hai bên chiến tuyến.

Bức ảnh thứ nhất, chụp ở ga Hòa Hưng năm 1988. Người đàn ông râu tóc bạc phơ trong ảnh, được xác định, là Đại tá VNCH Nguyễn Công Vĩnh. Ông từ trại cải tạo theo đường xe lửa trở về, được vợ và anh trai (chứ không phải là con trai – theo một người thân của gia đình cho biết), ra sân ga đón [không rõ ai là tác giả bức ảnh tuyệt vời này].

Bức ảnh thứ hai được nhà báo Lâm Hồng Long chụp ngày 4-5-1975, người đàn ông trong ảnh là Lê Văn Thức, tử tù Côn Đảo, khóc trên vai mẹ, bà Trần Thị Bính, quê ở xã Tam Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Ông Thức được cài vào Quân lực VNCH, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Thủ Đức, được chính quyền Sài Gòn đưa đi học khóa “tình báo tác chiến” tại Malaysia. Về nước, với lon thiếu úy. Tháng 4-1968, Lê Văn Thức bị Tòa án binh vùng 4 chiến thuật tuyên tử hình vì tội “hoạt động nội tuyến cho Cộng sản”.

Đoàn tụ chắc chắn đều là mong ước của mọi gia đình. Nhưng họ khóc. Thật khó để nói, đó là những “giọt nước mắt vui” hay là những giọt nước mắt tức tưởi. Ngày 30-4-1975, gia đình thiếu úy Lê Văn Thức nằm trong số “triệu người vui”; gia đình đại tá Nguyễn Công Vĩnh nằm trong số “triệu người buồn”. Thật trớ trêu, cả hai sau đó đều không có ai được hưởng ân huệ của hòa bình cả. Đại tá Nguyễn Công Vĩnh bị đưa đi cải tạo suốt 13 năm. Chỉ cần nhìn những chiếc răng rụng của người vợ một thời xinh đẹp của ông, đủ thấy họ đã cơ cực thế nào kể từ khi “miền Nam giải phóng”.

Nhưng, nếu như giọt nước mắt ở ga Hòa Hưng năm 1988 của gia đình đại tá Nguyễn Công Vĩnh đã khép lại một bi kịch kéo dài hơn một thập niên. Thì, giọt nước mắt của mẹ con thiếu úy Lê Văn Thức lại mở ra những ngày buồn trước mắt. Bức ảnh mang lại cho nhà báo Lâm Hồng Long nhiều vinh quang nhưng không thể hóa giải tính khắc nghiệt của chiến tranh hằn lên nhân vật.

“Với lý lịch ‘thiếu úy ngụy’, kể từ ngày hòa bình trở về, Lê Văn Thức không được bố trí công tác mới. Mãi sau này, khi một cán bộ công tác ở UBND huyện Châu Thành, Bến Tre tình cờ đọc được những bài báo viết về nhân vật trong bức ảnh ‘Mẹ con ngày gặp lại’(1991), đã tìm đến nhà anh Thức phỏng vấn và viết bài ‘Viên thiếu úy mang bản án tử hình’ (đăng trên báo Đồng Khởi thứ Bảy). Nhiều người ở địa phương mới biết đến các hoạt động trong quá khứ của anh. Và các cơ quan chức năng mới nhiệt tình vào cuộc để rồi công nhận những đóng góp, hy sinh có thực của Lê Văn Thức”[Theo Hoàng Bình Minh, báo CAND].

Mấy hôm nay, chương trình thời sự của VTV vẫn như 45 năm qua, sắp tới 30-4 là xe tăng, pháo lớn lại nổ đinh tai nhức óc. Hơn 15 năm trước, Cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt, người mất vợ và 3 người con trong chiến tranh, đã phải đi một vòng các tỉnh miền Tây, gặp gỡ rất nhiều lãnh đạo, nhà báo địa phương, ông gần như khẩn thiết kêu gọi họ đừng kỷ niệm 30-4 theo cách làm cũ nữa; đừng tiếp tục nã xe tăng đại bác vào quá khứ.

Cuối năm ấy, 2004, ông trả lời tuần báo Quốc Tế, số Xuân: “Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miền Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng như vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm nó thêm rỉ máu”.

Hàng chục nghìn bản số báo Xuân đã in của tuần báo Quốc Tế, phải đình lại, bóc bài… Mãi tới 31-3-2005, quan điểm này của ông Võ Văn Kiệt về cuộc chiến trước 30-4-1975 mới được đưa ra công chúng.

Cũng năm ấy, trước 30-4-2005, Thành ủy TP HCM gửi cho ông Võ Văn Kiệt “Dự thảo diễn văn” Bí thư Thành ủy đọc tại Lễ kỷ niệm “30 năm ngày giải phóng miền Nam”. Ông vô cùng thất vọng vì bài diễn văn vẫn lặp lại những ngôn từ sáo mòn, công thức; vẫn xe tăng, vẫn đại bác… tiếp tục nã vào người anh em.

Đã 15 năm qua, tuy liều lượng có bớt đi nhưng cách tiếp cận của bộ máy tuyên truyền vẫn không thay đổi.

Khi nghĩ về ngày kết thúc chiến tranh, cả Trịnh Công Sơn và Văn Cao đều khá lạc quan. Trịnh Công Sơn tưởng rằng, những “giọt nước mắt vui” có thể “lay lòng gỗ đá”. Văn Cao cũng hy vọng, nước mắt “sưởi ấm đôi vai anh”. Và ông tưởng: “Từ đây người biết thương người/ Từ đây người biết yêu người…” Sự khác nhau giữa Văn Cao và Trịnh Công Sơn, có lẽ ở chỗ, với một tâm hồn đầy trắc ẩn như Văn Cao, cho dù thốt ra như vậy, nhưng các dự cảm buồn vẫn ám ảnh từng phách, nhịp trong “Mùa Xuân Đầu Tiên” của ông.

Bao giờ, quê hương tôi mới hết những giọt nước mắt tức tưởi; bao giờ mới thực sự có “những giọt nước mắt vui”; bao giờ lòng người Bên Thắng Cuộc mới thôi gỗ đá.

Chuyện cổng Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975

Chuyện cổng Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975

Trần Gia Phụng

30/04/2020

Tin tức báo chí của cộng sản Việt Nam (CSVN) đều viết rằng, khi tấn công dinh Độc Lập ở thủ đô Sài Gòn ngày 30-4-1975, chiến xa CS đã ủi sập cánh cổng dinh Độc Lập. Chẳng những thế, bộ Lịch sử Việt Nam do nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội Việt Nam (tức “bên thắng cuộc”) tại Hà Nội, phát hành tháng 8 năm 2017, cũng viết như thế.

Bộ thông sử nầy rất đồ sộ, gồm 15 tập, tổng cộng trên 9,000 trang, do 30 giáo sư, tiến sĩ Sử học CSVN biên soạn. Trong 15 tập nầy, tập thứ 13, do PGS-TS [phó giáo sư tiến sĩ] Nguyễn Văn Nhật chủ biên, chương VI, trang 535 viết nguyên văn như sau: “Thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm dinh Độc Lập – dinh lũy cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, chiếc xe tăng mang số hiệu 390 thuộc Lữ đoàn xe tăng 203 dẫn đầu đội hình tiến công của Quân đoàn 2, húc đổ cánh cổng sắt của dinh Độc Lập …”

Bộ sách nầy được xem là bộ chính sử căn bản của chế độ CSVN, làm nền tảng cho các sách giáo khoa lịch sử của CSVN. Dưới chế độ CSVN thế kỷ 21, các giáo sư tiến sĩ với các loa phát thanh phường, khóm, làng xã nói cùng một nhịp điệu như nhau, đúng như ý kiến của nhà văn Pháp André Gide vào thập niên 30 thế kỷ trước, cách đây gần 90 năm.

Theo lời mời của nhà cầm quyền Liên Xô, Gide đến Moscow (Moscou), thủ đô của Liên Xô, tham dự tang lễ của nhà văn Maxime Gorki. Khi trở về Pháp, ông viết tác phẩm Retour de l’URSS, ấn hành năm 1936 ở Paris. Trong sách nầy, ông đã viết rằng, ở nước Nga CS, chỉ cần nghe một người Nga nói gì thì đủ biết 200 triệu dân Nga nói gì. Ngày nay ở Việt Nam không lẽ cũng có thể nói chỉ cần nghe loa phóng thanh phường xã thôn xóm CS nói gì, thì cũng có thể đoán biết các giáo sư tiến sĩ CS nói gì?

Trở lại nguồn tin về cánh cổng dinh Độc Lập Sài Gòn ngày 30-4-1975 do CSVN đưa ra, báo chí thế giới cũng đều viết theo như thế. Tuy nhiên, trên lý luận, xin chú ý, mới chỉ trên lý luận cho vui mà thôi, có hai câu hỏi cần được đặt ra là:

1) Lúc đó, cựu đại tướng Dương Văn Minh đang có mặt trong dinh Độc Lập mà theo lời ông là để chờ đợi quân CS đến. Chờ “khách” thì phải mở cổng dinh để đón mời “khách” vào. Nếu đóng cổng dinh, thì “khách” làm sao mà vào được?

2) Những tấm hình hay những đoạn phim về cảnh chiến xa CS ủi sập cổng dinh Độc Lập để vào bên trong dinh, đều được chụp từ bên trong chụp ra. Có hai điểm cần chú ý: Thứ nhứt, cổng dinh phải đóng thì xe tăng mới ủi sập để đi vào. Thứ hai, nếu cổng đóng lại, tức cổng dinh chưa mở, thì người chụp hình hay người quay phim cảnh nầy, làm sao mà vào bên trong dinh Độc Lập trước xe tăng để chụp hình hay quay phim? Hay những người nầy trổ tài chui cổng hoặc trèo tường để vào hành nghề? Đó mới chỉ là nói lý cho vui thôi, thưa độc giả.

Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).

Lúc đó, vào năm 1975, giáo sư Thành còn trẻ, nhà ở vùng cầu Sài Gòn, ngồi trên yên sau xe vespa của phụ thân, tò mò chạy theo sau đoàn quân của CS, để theo dõi cho biết chuyện gì sẽ xảy ra khi quân CS vào thành phố… Ông Thành đã chứng kiến tận mắt đầy đủ sự việc tại cổng dinh Độc Lập hôm đó.

Theo lời giáo sư Thành kể lại, sáng 30-4-1975, cổng dinh Độc Lập đã mở sẵn. Xe thiết giáp CS khi đến dinh Đôc Lập, chạy thẳng vào trong dinh, không có gì trở ngại. Vào bên trong rồi, có thể do lệnh trên, tài xế lại lái xe thiết giáp chạy trở ra ngoài. Khi đó, lính CS đóng cổng dinh, quàng dây xích sắt, nhưng không khóa. Xe thiết giáp quay đầu trở lại, chạy đến tông sập cánh cổng dinh Độc Lập, rồi chạy vào bên trong, để cho các nhiếp ảnh viên chụp hình và quay phim.

Giáo sư Đỗ Văn Thành kể lại câu chuyện trên cho người viết tại nhà bác sĩ Phạm Hữu Trác, phụ trách tạp chí Truyền Thông ở Montreal ngày 28-4-2007, nhân dịp ông Thành cùng gia đình từ Oslo (Na Uy) qua Montreal (Canada) tham dự Lễ ra mắt sách Kỷ niệm và suy ngẫm, bản dịch từ sách Souvenirs et Pensées của thân mẫu ông là bác sĩ Nguyễn Thị Đảnh tại TRUNG TÂM SAIM (Service d’ Adaptation et d’Integration de Montréal) do Khối Y giới Cao niên và Cơ sở Truyền Thông Montreal tổ chức. Ngoài lời trình bày trên đây của giáo sư Đỗ Văn Thành, ba tài liệu sau đây cũng trình bày câu chuyện gần như thế:

1) Bài báo “Sài Gòn trong cơn hấp hối 30-04-1975” của Nhan Hữu Mai, cận vệ của cựu thủ tướng Vũ Văn Mẫu, đăng trên http://sucmanhcongdong.info và được luân lưu trên các e-mail group. Trong bài báo nầy, ông Nhan Hữu Mai viết: “Khoảng 12 giờ trưa ngày 30 tháng 4, xe tăng cộng sản tiến vào dinh Độc Lập mà không gặp một sức kháng cự nào vì cổng chính đã được mở rộng từ trước”.

2) Thứ hai là bài “Dinh Độc Lập, ngày tháng đợi chờ” của Ý Yên, đăng trên DCVOnline.net ngày 10-04-2012, theo đó: “Lúc 11:15 ngày 30-4-1975, toán xe tăng Bắc Việt tới cổng dinh theo đường Thống Nhứt, trương cờ Mặt Trận GPMN. Một người lính trên xe ra lệnh cho lính gác khóa cánh cổng lại; anh lính chần chờ, quay vô hỏi lệnh viên sĩ quan trực, bị người bộ đội trên xe bắn chết tại chỗ. Một bộ đội khác nhảy xuống, khép cánh cổng, lấy khóa xích vòng chặt lại để chiếc T-54 rồ máy húc nghiêng cánh cổng màu xanh, dây xích bung ra. Đại liên trên xe và lính tùng thiết đồng loạt tác xạ dữ dội, làm như có sức chống trả từ trong dinh. Xe tăng tràn vô đến giữa sân cỏ, mấy người lính Bắc Việt nhảy xuống...”

3) Thứ ba, theo tác giả Huy Đức, trong sách Bên thắng cuộc, tập I: Giải phóng, Saigon: Osinbook 2012, chương I: Ba mươi tháng Tư, mục: Sài Gòn trong vòng vây, tr. 32 thì sáng 30-4-1975, cựu tướng Nguyễn Hữu Hạnh đến nhà số 3 đường Trần Quý Cáp [dinh Hoa Lan] tìm tổng thống Dương Văn Minh nhưng không có; tướng Hạnh liền đến dinh Độc Lập, “vào thẳng dinh bằng cổng chính, cổng dinh mở, không có lính gác.” Lúc ông Hạnh đến, cổng dinh Độc Lập mở, không lính gác thì ngay sau đó, quân CS đến, đâu có ai đóng hay gác cổng? Chú ý: đây là tài liệu do một nhà báo CS trong nước viết. Hiện người nầy còn sống và hành nghề trong nước.

Như thế, qua hai câu hỏi đặt ra từ đầu, qua câu chuyện kể của tiến sĩ Đỗ Văn Thành, và qua các bài báo trên đây, nhứt là qua tài liệu của một nhà báo CS, thì rõ ràng vào ngày 30-4-1975, cổng dinh Độc Lập đã mở sẵn, còn việc chiến xa CS ủi sập cổng dinh Độc Lập chỉ là một màn kịch do CS dàn dựng để tuyên truyền, bắt trẻ em học tập trong các sách giáo khoa lịch sử CS. Tài tình quá! Giống như xi-nê-ma Hồ Ly Vọng!

Đây không phải là lần đầu CS đóng kịch. Năm 1954 cũng vậy. Các sách lịch sử CS đều đăng hình cờ đỏ của CS được bộ đội CS cắm trên hầm chỉ huy của thiếu tướng Pháp De Castries khi tấn công Điện Biên Phủ. Trận nầy kết thúc ngày 7-5-1954, kết thúc luôn cuộc chiến 1946-1954. Sau đó là hội nghị Genève, đưa đến hiệp định đình chiến và chia hai đất nước ở vĩ tuyến 17.

Tuy nhiên điện báo Tuần Việt Nam ở trong nước, ngày 07-05-2009 đã đăng bài phỏng vấn thiếu tướng Lê Mã Lương, giám đốc Viện Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (CS), theo đó thiếu tướng Lương đã phủ nhận điều nầy.

Thiếu tướng Lê Mã Lương cho biết, tại Điện Biên Phủ, chỉ có một lá cờ duy nhứt được cắm trên đồi mà CS gọi là đồi Him Lam (tức đồi cứ điểm Béatrice), còn lá cờ cắm trên nóc hầm của thiếu tướng De Castries lần đầu tiên xuất hiện trong bộ phim Việt Nam trên đường thắng lợi của nhà quay phim Liên Xô là Roman Karmen, tức cảnh lá cờ CS trên hầm chỉ huy của thiếu tướng De Castries chỉ là cảnh xi-nê-ma mà thôi, không có thật.

Thiếu tướng Lê Mã Lương cho biết: “Sau khi Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam ghi nhận chính xác điều đó, chúng tôi đã cất lá cờ tung bay trên nóc hầm Đờ Cát trước đây có trưng bày ở bảo tàng”.

Những chuyện tầm thường và rõ ràng như thế mà CS còn thay trắng đổi đen, theo chủ trương của đảng CS, huống gì là những sự kiện lịch sử trọng đại. Sử học CSVN chỉ để phục vụ chủ nghĩa CS, phục vụ đảng CS và phục vụ nhà nước CS. Vì vậy, ngày nay, trong nước thầy không muốn dạy sử, học trò không muốn học sử.

Thế đó! “Học sử ngày nay đã chán rồi”. Không ai lạ gì lịch sử viết theo lệnh của đảng CSVN!

Dược sĩ gốc Việt kể chuyện mang Cờ Vàng xuống Nam Cực

 

NGUOI-VIET.COM
Nữ dược sĩ trẻ vừa tốt nghiệp đại học chưa lâu khi đó, luôn mang trong lòng nỗi bồi hồi khó tả mỗi khi nhìn thấy lá Cờ Vàng…

Nữ dược sĩ Việt 70 tuổi, bỏ ra $35 ngàn chạy ‘marathon,’ mang Cờ Vàng đến Nam Cực

Ngọc Lan/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Bị “bứng” khỏi Sài Gòn ngay thời khắc quê hương “đổi chủ,” nữ dược sĩ trẻ vừa tốt nghiệp đại học chưa lâu khi đó, luôn mang trong lòng nỗi bồi hồi khó tả mỗi khi nhìn thấy lá Cờ Vàng, nhất là những năm đầu sau khi tới Mỹ.

Để rồi ở tuổi 70, với hơn nửa đời người sống nơi đất khách, người dược sĩ về hưu đó đã thực hiện được ước mơ của đời mình: Mang lá cờ VNCH đến tận Antarcica, miền cực Nam trái đất, qua một cuộc chạy “marathon,” như một cách biểu hiện tình yêu đối với quốc gia – dù rằng VNCH không còn tồn tại trên bản đồ thế giới từ 45 năm qua.

Nữ dược sĩ đó là Phạm Ngọc Quế, hiện sống ở Houston, Texas. 

Rời quê hương trong ngỡ ngàng, hoang mang

“Gia đình tôi không ai đi lính, nhà chỉ có mấy chị em gái, nên thật sự không ai biết phải làm gì trong thời điểm lộn xộn đó. Tôi nhớ sáng ngày 30 Tháng Tư, 1975, tôi vẫn mở cửa nhà thuốc tây ở Khánh Hội để bán. Khi thấy mọi người cứ tràn vào mua nước suối, mì gói, sữa Guigoz, tôi hỏi sao phải mua nhiều những thứ này, thì họ nói ‘Chị không biết gì à? Ngoài kia có tàu Trường Xuân chở mọi người đi Mỹ.’ Thế là tôi bỏ tiệm chạy,” bà Quế nhớ lại thời khắc lịch sử cách nay 45 năm.

Bà hạy về gọi người nhà. Một cuộc tranh luận diễn ra trong gia đình khi cha bà nhất định không chịu đi.

Bà kể: “Bố tôi nói không muốn đi, vì ông đã di cư từ Bắc vô Nam, đã bỏ hết của cải rồi, giờ bắt ông bỏ nữa ông không đành lòng. Rồi mọi người khóc lóc đủ thứ hết. Sau cùng, mẹ tôi chiều theo các con, nhưng nói trước nếu ra bến tàu không leo lên được thì sẽ quay về.”

Dược Sĩ Phạm Ngọc Quế chạy “marathon” tại Perth, Úc. (Hình nhân vật cung cấp)

Tại Khánh Hội, nơi chiếc tàu Trường Xuân đang neo, đông nghịt người. Xe hơi, xe máy bị người ta vứt lại la liệt. Mạnh ai nấy tranh nhau leo lên tàu nhưng không phải ai cũng lên được. Đó là những hình ảnh đập vào mắt cô dược sĩ trẻ Phạm Ngọc Quế trong những giờ phút cuối cùng ở Việt Nam, theo lời kể.

Theo lời bà, do may mắn gặp được ông chú họ ngay bến tàu, ông có được thuyền nhỏ giúp đưa luôn mẹ và các chị em bà ra tàu lớn, đi tìm vùng đất tự do mới, khi mà “tôi ra đi chỉ có đúng bộ quần áo trên người thôi.”

Rạng sáng ngày 1 Tháng Năm, 1975, chiếc tàu Trường Xuân do tỉ phú Trần Đình Trường làm chủ, rời Sài Gòn, mang theo trên đó khoảng 4,000 người bỏ lại quê hương.

Tàu Trường Xuân sau đó được một chiếc tàu buôn của Đan Mạch cứu, tiếp tế thức ăn, nước uống. Sau đó, tất cả được đưa đến Hồng Kông, như lời bà Quế nói: “Chúng tôi là nhóm tị nạn đầu tiên đến đây.”

Chưa đầy một năm ở Hồng Kong, gia đình bà được phái đoàn Mỹ đến phỏng vấn, và được đưa sang tiểu bang Louisiana, qua sự bảo lãnh của người dì ruột đã sang Mỹ trước đó. 

Học tiếp để làm dược sĩ tại Mỹ

“Lúc mới sang Mỹ, tôi đi  làm thông dịch viên vì cũng biết chút tiếng Anh, đồng thời nộp đơn vào một số trường đại học nhưng trường nào cũng bắt học lại từ đầu chứ không chấp nhận tín chỉ (credit) nào hết, trong khi tôi đã là dược sĩ,” bà Quế nhớ lại.

Sau đó, theo lời chỉ dẫn của bạn bè, bà Quế nộp đơn vào đại học University of Texas ở Austin.

Dược Sĩ Phạm Ngọc Quế cầm lá Cờ Vàng cùng người bạn Lưu Phát Tấn ở Amsterdam, Hòa Lan. (Hình nhân vật cung cấp)

“Có lẽ do mình gặp được ông trưởng khoa và mấy ông thầy thương người Việt Nam nên họ gọi tôi qua Texas phỏng vấn. Lúc đó mới chân ướt chân ráo tới, cũng chẳng biết phỏng vấn là làm cái gì. Khi qua, ông trưởng khoa kêu vào văn phòng nói chuyện và cho biết tôi đã xong một cái phỏng vấn. Ông chỉ qua gặp mấy thầy khác hỏi vài câu nữa là xong thủ tục cho cuộc phỏng vấn thứ hai, để được nhận vào trường dược học tiếp năm thứ ba,” bà kể.

Vẫn bằng giọng nói nhỏ nhẹ của người “Hà Nội 54,” bà Quế tiếp tục kể lại câu chuyện những ngày đầu đi học tại Mỹ với nhiều kỷ niệm khó quên.

“Lúc đó tiếng Anh mình bập bẹ đủ sống thôi, nhưng để vào học năm thứ ba đại học dược thì mình lạng quạng lắm. Tôi nhớ khi đó vô lớp tôi không ghi ghép được bài giảng, tôi ngồi khóc. Một cô sinh viên lớn tuổi trong lớp thấy tội nghiệp nên mỗi lần cổ ghi chép xong thì cô cho mình ghi chép lại để học. Năm đó tôi ‘pass’ với sáu con ‘C,’” bà kể cùng tiếng cười chứa đầy niềm hạnh phúc.

Bà tiếp: “Qua được mùa học đó thì những mùa sau tôi đỡ hơn. Tôi cũng được ‘Dean’s List’ (danh sách khen thưởng trưởng khoa) mà lúc đầu tôi còn không biết là gì nữa.”

Bà Quế học ở Austin, sau đó đi thực tập ở Galveston, và “làm việc tại đó khoảng sáu năm thì chuyển lên Houston làm tổng cộng là 25 năm thì tôi về hưu, khi mới 59 tuổi. Tôi về hưu sớm vì lúc đó đã đủ điểm rồi, sau đó tôi đi làm bán thời gian ở một vài nhà thương cho đến năm 2015 thì tôi về hưu hoàn toàn.” 

Bắt đầu tập chạy bộ ở tuổi về hưu

“Tôi về hưu lúc 66 tuổi, khi đó cũng buồn, thì có cô bạn rủ tập chạy bộ cho khỏe người,” bà cho biết.

Bà tham gia nhóm những người lớn tuổi chạy có huấn luyện viên hướng dẫn.

Tại mức đến ở Singapore, Dược Sĩ Phạm Ngọc Quế vui mừng với tấm huy chương. (Hình nhân vật cung cấp)

“Tôi thuộc nhóm già nên vừa đi vừa chạy chứ không phải chạy không. Lúc đầu tôi trong nhóm chạy 2 phút đi 1 phút, rồi chạy 3 phút đi 1 phút, chạy 5 phút đi 1 phút. Cứ vừa chạy vừa đi như vậy. Ngày đầu tiên chỉ chạy 2 dặm, xong dần dần tăng lên. Họ huấn luyện cho mình chạy ‘half marathon’ tức 13.1 dặm rồi ‘full marathon.’ Chạy cũng vừa phải thôi, vừa chạy vừa nói chuyện được,” bà nói về cách tập chạy.

Bắt đầu tập chạy từ Tháng Tám, 2015, và chỉ hai tháng sau, bà ghi danh tham gia cuộc chạy 10 dặm đầu tiên.

“Sau cuộc thi đó là tôi mê liền cô ơi, dù lúc đó mình cũng chạy lọng cọng lọng cọng vậy. Nhưng cảm giác lúc mình chạy đến đích và được người ta đeo vô cổ cho cái huy chương nó khoái gì đâu,” bà lại cười vang nụ cười hạnh phúc.

Từ cuộc chạy đầu tiên, tiếp đến năm sau đó cứ trung bình hơn một tháng bà Quế lại ghi danh chạy mỗi khi có những nơi tổ chức chạy trong tiểu bang Texas.

Cho đến Tháng Tư, 2018, bà cùng một người bạn Philippines, cũng có sinh nhật trong thàng, ghi danh tham dự cuộc chạy “half marathon” ở Marid, Tây Ban Nha.

“Đó là lần chạy ở ngoại quốc đầu tiên của tôi,” bà nói.

Đến sinh nhật năm 2019, cũng Tháng Tư, bà Quế lại tham gia chạy “full marathon” 26.2 dặm (khoảng 42 cây số) ở Paris, Pháp.

Tháng Bảy, 2019, bà Quế lại ghi danh tham gia cuộc đi bộ bốn ngày “International Four Days Marches Nijmegen” ở Nijmegen, Hòa Lan, có hàng chục ngàn người tham dự.

“Cuộc đi bộ này diễn ra trong bốn ngày liên tiếp, mỗi ngày đi 30 cây số, tức khoảng 18 dặm. Tôi ghi danh tham gia thử vì nghĩ nếu tôi có đủ sức đi được thì tôi sẽ ghi danh tham gia hành trình 8 ngày có tên ‘Triple 8 Quest’ đến Nam Cực,” bà Quế cho biết.

Dược Sĩ Phạm Ngọc Quế (thứ ba từ trái) cùng bạn đồng hành ở Ai Cập. (Hình nhân vật cung cấp)

Hành trình mang Cờ Vàng đến Nam Cực

Sau khi ở Hòa Lan về, bà Quế cảm thấy có đủ tự tin để ghi danh tham gia chương trình “Triple 8 Quest” do công ty Marathon Adventures, nơi chuyên tổ chức các cuộc chạy “marathon” khắp thế giới, tổ chức vào Tháng Giêng, 2020.

Những người tham dự “Triple 8 Quest 2020” sẽ chạy tám cái “marathon” hoặc tám cái một nửa “marathon,” hoặc tám cái “ultra marathon,” mỗi cái 50 cây số, liên tục diễn ra tại tám lục địa trong tám ngày liên tiếp.

Lịch trình ngày thứ nhất, 21 Tháng Giêng, ở Auckland, New Zealand. Ngày thứ hai ở Perth, Úc. Ngày thứ ba ở Singapore. Ngày thứ tư ở Cairo, Ai Cập. Ngày thứ năm ở Amsterdam, Hòa Lan. Ngày thứ sáu ở Garden City, New York. Ngày thứ bảy ở Punta Arenas, Chile. Ngày thứ tám, 28 Tháng Giêng, ở King George Island, Nam Cực.

Bà nói: “Cảm thấy đây là cơ hội để Cờ Vàng được tung bay ở Nam Cực, tôi ghi danh tham dự. Tôi chọn chạy tám ‘half marathon,’ mỗi ngày 13.1 dặm, trong tám ngày.”

“Khi biết tôi tham gia hành trình này, ai cũng ngăn cản hết, ai cũng nói tôi ‘điên,’ vừa là do số tiền bỏ ra đến cả $35,000, vừa là vì nghe những nơi đến sợ nguy hiểm. Thực ra vấn đề tiền thì ít thôi vì tôi sống một mình, chồng tôi mất từ năm 1989, tiền bạc không chật vật, nhưng các con tôi hơi lo lắng về vấn đề sức khỏe khi nhìn thấy lộ trình tôi đi. Tôi thì muốn đi, dù thực sự trong lòng cũng hơi lo lo, sợ không chạy được hay ốm dọc đường thì cũng khổ,” bà Quế chia sẻ.

Để chuẩn bị cho hành trình này, ngoài chuyện mỗi ngày tập chạy nơi công viên gần nhà, bà Quế còn phải tập ăn thêm thịt, ăn nhiều hơn bình thường, vì như bà nói: “Trước đây tôi ít ăn thịt, mà cũng ăn ít lắm, vì lúc nào cũng sợ mập mặc áo dài không đẹp, riết thành thói quen. Nhưng để chuẩn bị tham gia hành trình này, sợ không ăn thì không đủ sức, nên tôi cố tập ăn nhiều hơn.”

Bà kể: “Hành trang tôi chuẩn bị phải sẵn sàng cho đủ bốn mùa vì khí hậu mỗi nơi mỗi khác. Chỉ riêng đồ dùng cho Nam Cực, gồm giầy chạy và quần áo ấm để chạy, cũng như để ngủ qua đêm trong lều tạm, đã chiếm nguyên một vali hành lý.”

Dược Sĩ Phạm Ngọc Quế và lá cờ VNCH tại Chile. (Hình nhân vật cung cấp)

Bà cho biết: “New Zealand, Úc, Singapore là đang mùa Hè, trời rất nóng và hầm, rất khó chịu, vừa chạy vừa thở hồng hộc, mồ hôi chảy nhễ nhại, ướt đẫm. Nhưng ngày 24 Tháng Giêng đến Ai Cập thì khí hậu hơi lạnh, trên lộ trình chạy rất nhiều bụi, và có nhiều chó hoang chạy lung tung, may mà không ai bị chó cắn.”

“Châu Âu và Bắc Mỹ vào Tháng Giêng rất lạnh, nhiệt độ sấp sỉ 25-35 độ F. Punta Arenas, Chile, thì rất lạnh, gió mạnh, và thổi ngược chiều nên chạy cũng khá vất vả,” bà nói.

Nói về sinh hoạt trong hành trình tám ngày liên tục đó, bà cho biết: ““Sáng dậy lúc 4-5 giờ sáng, thay đồ, ăn điểm tâm xong là xe van chở tới địa điểm. Chạy. Xong về khách sạn, ăn trưa, xe van đưa ra phi trường, làm thủ tục lên máy bay, gởi hành lý, lên máy bay, tìm đúng chỗ ngồi, ăn, ngủ hoặc chỉ nằm duỗi hai chân cho đỡ mỏi. Vì bay xuyên lục địa nên chuyến bay nào cũng ít nhất 10 tiếng, dài nhất 20 tiếng. Đó là lý do tôi phải mua vé hạng nhất hay hạng thương gia, mặc dù rất đắt tiền, nhưng lại rất cần thiết để có được giường nằm thoải mái. Tới nơi xuống máy bay, lấy hành lý, về tới khách sạn cũng đã 9-10 giờ tối. Tắm rửa, soạn sẵn đồ nghề cho sáng hôm sau, chợp mắt 2-3 tiếng lại thức dậy lúc 4-5 giờ sáng, và lặp lại như thế.”

Tuy nhiên, theo bà Quế: “Cuộc chạy ở Nam Cực là cam go nhất, khó chạy nhất trong cuộc hành trình ‘Triple 8 Quest,’ và cũng vất vả hơn tất cả các cuộc chạy ‘marathon’ cũng như ‘half Marathon’ mà tôi từng chạy. Nhưng có gian nan như thế mới cảm nhận được sự hiên ngang của lá cờ quốc gia khi phần phật tung bay trong gió lạnh của miền Nam Cực.”

“Lộ trình chạy toàn đá trộn sỏi. Đá to bằng trái bưởi, trái quít, tròn và ướt nên rất trơn, vô ý giẫm lên sẽ ngã. Cũng có loại hình tam giác, nhọn và sắc, nếu mang loại giầy không thích hợp sẽ bị đâm vào chân. Khó hơn nữa là đồi cao. Tôi được huấn luyện chạy lên đồi và chạy xuống những dốc ở Houston, tưởng chỉ có vài ba cái đồi, nhưng không ngờ suốt 13.1 dặm chỉ toàn đồi và dốc. Leo lên cũng khổ, đi xuống phải rất thận trọng nếu không sẽ ngã hoặc bị đá nhọn đâm chân. Dù đang là mùa Hè ở Nam Cực, thời tiết vẫn lạnh dưới 0 độ C và gió tàn bạo. Quá mệt mỏi và đuối sức, tôi đã mấy lần muốn bỏ cuộc, nhưng nhờ bạn đồng hành khích lệ, động viên tinh thần, nên cuối cùng tôi cố gắng về được tới đích,” bà Quế nói một cách hãnh diện.

Hành trình chạy “marathon” của Dược Sĩ Phạm Ngọc Quế để mang lá Cờ Vàng xuống Nam Cực. (Hình nhân vật cung cấp)

Khi được hỏi, “Điều bà cảm thấy xứng đáng nhất trong chuyến đi đó là gì?” bà Quế nói ngay: “Là được đem lá cờ Việt Nam Cộng Hòa đến cắm ở Nam Cực, nơi tận cùng của trái đất. Mục đích chính là như vậy.”

Bà cười nói thêm: “Số tiền $35,000 là tôi dành dụm để mua một chiếc xe mới, giờ bỏ ra xài rồi thì thôi đi tiếp xe cũ vậy. Nhưng mà xứng đáng lắm.”

Nói về mục tiêu kế tiếp của mình, người dược sĩ về hưu cho biết: “Tôi đã ghi tên tham gia nhóm ’50 States,’ tức là chạy hết 50 tiểu bang trong nước Mỹ. Sau chuyến ‘Triple 8 Quest’ trở về ngày 30 Tháng Giêng thì một tuần sau đó tôi đã chạy ở Louisiana, rồi hai tuần sau nữa lại chạy ở Tennessee.”

“Như vậy, tính đến giờ tôi đã chạy ở Texas, Florida, New York, Louisiana, và Tennessee, mới có năm tiểu bang thôi, còn đến 45 tiểu bang nữa mới hết nước Mỹ. Tôi dự tính một tháng chạy khoảng hai nơi, nhưng tình hình dịch bệnh này nó cột giò rồi,” bà nói.

Vẫn bằng giọng nói thanh tao và tiếng cười khiến người nghe luôn cảm thấy vui lây, bà Quế nói thêm: “Giờ tôi đã 70 tuổi rồi, cũng phải tính đến ngày tôi sẽ ra đi. Kế hoạch chạy qua 50 tiểu bang hãy còn dài, cũng có thể tôi không sống đủ để hoàn thành hành trình này. Nhưng đó là mục tiêu của tôi.” (đ.d.)