Trong một xã hội băng hoại, tất cả bậc thang giá trị hoàn toàn đảo lộn.

Image may contain: 6 people, people standing

Từ Thức

Đây là những nhà giáo bị kết án tù về tội nâng điểm, nghĩa là làm một chuyện bất chánh, gian lận, đi ngược lại nghĩa vụ, lương tâm của nhà giáo.

Sau phiên toà, họ giơ cao ngón tay hình chữ V. Victory, victoire, chiến thắng.

Như những nhà cách mạng, những chiến sĩ nhân quyền, những anh hùng sẵn sàng vào tù vì chính nghĩa, vì nhân loại.

Trong một xã hội băng hoại, tất cả bậc thang giá trị hoàn toàn đảo lộn.

Người ta thấy những người làm việc nước nghênh ngang xây lâu đài bằng tiền ăn cắp, những đại gia thất học đeo vàng nặng như đeo cùm, những thầy chùa quốc doanh công khai luồn lọt, ninh hót bọn có quyền để vinh thân phì gia, những ông tướng hôm trước hét ra lửa, hôm sau ra toà khóc lóc, van xin, những nhà lãnh đạo hèn với giặc, ác với dân. Tất cả đều kiêu hãnh về mình. Việt Nam ngạo nghễ.

Đó là bức tranh vân cẩu của một thời đại bệ rạc. Dần dần người ta quen; cái bỉ ổi, cái bất bình thường trở thành cái bình thường, không ai cảm thấy khó chịu về những cảnh đáng lẽ phải khó chịu nữa.

Mặc dù vậy, cái cảnh nhà giáo trơ trẽn, kiêu hãnh ra dấu chiến thắng khi vào tù vì hành động bất lương, vẫn có cái gì nhức nhối.

Bởi vì học đường, cùng với gia đình, là thành trì đạo đức cuối cùng, để xã hội khỏi hoàn toàn tan rã. Giáo viên là nhân tố cuối cùng trong việc trồng người.

Không có hạt giống xấu, chỉ có người trồng cây dở. ( Victor Hugo: il n’y a pas de mauvaises herbes, il n’y a que de mauvais cultivateurs ).

Với những kẻ trồng cây, trồng người như vậy, khỏi cần là thầy bói cũng biết xã hội trôi về đâu.

Thái độ nham nhở của những thầy giáo đi tù, một mặt phản bội những đồng nghiệp đang tận tuỵ dạy dỗ với đồng lương chết đói. mặt khác thể hiện khuôn mặt một xã hội lở lói, một nền giáo dục suy đồi, mà đại đa số giáo chức cũng chỉ là nạn nhân.

KHÓC

Image may contain: 2 people, people standing
Image may contain: 1 person
Từ Thức

KHÓC

Tôi là người miền Nam, tôi khóc thiệt đó, không gạt bà con đâu
Các đỉnh cao trí tuệ loài người chắc đau lắm. Cái màn nức nở khóc thương dân trước máy hình, máy quay phim này, không anh nào dám làm, vì nghĩ là độc quyền của Bác.

Cũng như chuyện thông thạo sinh ngữ, anh nào thông thái, có năng khiếu tới đâu, cũng ngừng ở 28 thứ tiếng, để khỏi vô lễ với bác.

Đồng chí Nguyễn Thiện Nhân không những đã dám làm, còn quảng cáo rầm rộ. Các báo chạy trang nhất, cả nước biết bác Nhân bật khóc. Và tình cờ, các báo đều chạy một tít, không khác một chữ, một dấu phẩy: ”Bí thư NTN bật khóc khi viếng bé trai bị cây phương vĩ đè tử vong tại trường”

Bí thư Nhân xé rào, từ nay hết sợ nữa, sẽ thấy chuyện lãnh tụ khóc lóc thương dân đều đều. Nhất là sau mùa dịch, không phải đeo khẩu trang nữa. Vừa đeo khẩu trang vừa lấy khăn lau mắt, lau mũi cũng khó như vừa đánh răng vừa huýt sáo. Nhưng thương dân là một nghề, cần khả năng chuyên môn.

https://cafebiz.vn/bi-thu-nguyen-thien-nhan-bat-khoc-khi-vi…

Tôi đã vỡ lẽ vì sao Việt Nam sẽ mãi không có giao thông công cộng

 

RFA.ORG

Tôi đã vỡ lẽ vì sao Việt Nam sẽ mãi không có giao thông công cộng

Mọi nỗ lực mở rộng đường sá và giao thông công cộng đều tuyệt vọng vì mở rộng đến đâu xe máy lại phủ kín mặt đường đến Đấy, chạy ẩu tả bất chấp luật lệ, dễ gây tai nạn giao thông, gây ô nhiễm môi trường cao độ.

Tinh thần “chiến đấu” của người dân Hong Kong

Image may contain: one or more people, people standing, sky, mountain, twilight, outdoor and nature

Mai Thanh Truyet Envirovn

Thưa Bà Con,

Xin trích đoạn bài viết của tác giả Phẩm Thái về tinh thần “chiến đấu” của người dân Hong Kong từ GIÀ đến TRẺ. Còn người “minh” ở trong nước và hải ngoại như thế nào?

“Trong các cuộc biểu tình, dân chúng đặc khu đã cho thấy tình yêu tha thiết với Hong Kong, cho tự do của Hong Kong, khi người già nằng nặc đòi đứng trên tiền tuyến, để bảo vệ người trẻ khỏi lực lượng cảnh sát, và nếu phải chết dưới làn đạn, họ muốn hy sinh cho thế hệ trẻ được sống; giới sinh viên trở thành các “y tá” tự phát, chùi rửa mắt cho những người bị xịt hơi cay.

Suốt một năm biểu tình, hơn 8000 người bị bắt và truy tố, họ là cả xã hội Hong Kong, từ giáo sư đại học, cho tới bác sĩ, kỹ sư, doanh nhân, tiếp viên hàng không, bà nội trợ, công nhân, sinh viên, bô lão, và vô số các em học sinh 10-17 tuổi. Trong tù, nhiều người đã bị tra tấn dã man, bị tấn công tình dục bởi mật vụ Trung Quốc.

Đây là cuộc chiến cuối cùng của nhân dân Hong Kong, một cuộc chiến có lẽ họ khó giành phần thắng. Các lựa chọn trợ giúp của phương Tây thì hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Vũ Hán khiến nhiều nước phát triển bị lệ thuộc vào hàng hoá xuất cảng từ TQ.”

 CỤ TRẦN TRỌNG KIM NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆT MINH 1947

Kính chuyển quí Thân hữu đọc (hoặc lưu trữ & nghiên cứu) : Một tài liệu lịch sử đặc biệt, mới tìm ra: Đó là Bức thư của Cụ Trần Trọng Kim viết năm 1947, gửi Cụ Hoàng Xuân Hãn. Trong thư có nhận định về Việt Minh vào thời gian tổng nổi dậy (gọi là Cách mạng Tháng 8/1947)  TQB

~~~ ~~

Tài liệu lich sử đặc biệt:

 CỤ TRẦN TRỌNG KIM NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆT MINH 1947

Thủ bút của Cụ Trần Trọng Kim
Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947

ảnh chụp nguyên bản:

Lời ngỏ của ông Nguyễn Đức Toàn (Viện Nghiên cứu Hán Nôm),

người phát hiện ra tài liệu lịch sử trên đây

—–o0o—–

Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện. Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.

Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.

Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt (tức 4 trang).  (đánh máy lại theo nguyên bản – các số thứ tự và phần ghi chú do ông Nguyễn Đức Toàn viết) – Nội dung như sau :

Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 19471

 Ông Hãn2

Hôm ông Phan văn Giáo3 đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài4 xem.

Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có.

Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy5, hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau6 do ông D’argenlieu7 sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được8.

Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây9, không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền10 và Khiêm11, họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1] cũng không hỏi nữa.

Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài12.

Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, néu không tì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu.

Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau. Tôi về đây chỉ gặp Thảo13, Hoè14 và Sâm15. Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia16, mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến17, họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói : Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.

Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:

身 在 南 蕃 無 所 預

心 懐 百 憂 復 千 慮

(Thân tại Nam phiên vô sở dự,

Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.

= Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,

Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)

Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.

Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁 (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.

Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh18 bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:

Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ

Đất khách mơ – màng những thở – than,

Mảng tin bác bị lũ hung tàn.

Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,

Căm giận quân thù đã tím gan.

Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước.

Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân19 gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.

Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu20, xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt21 đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)22

Ông có biết tin ông Bùi Kỷ23 bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả.

Nhà tôi và Chương24 đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì?

Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.

Nay kính thư

Trần Trọng Kim [tr4]

Trần Trọng Kim [tr4]

Phần Chú thích :

  1. 8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.
  2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.
  1. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam.
  1. Ngài : Chỉ vua Bảo Đại – Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)
  1. Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng TạiLạiThế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng.
  1. Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)
  1. D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)
  2. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167…
  3. hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.”
  1. ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, … sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)
  2. Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”.
  3. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.
  1. Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội.
  1. Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)
  1. Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)
  1. Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự “khó tính” của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần “Nam kỳ quốc”và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.
  2. Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)
  3. ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.
  1. Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)
  1. Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)
  2. “Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.
  3. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi.
  1. Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)
  2. Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd).
  3. Chương: Tên người, lúc đầu tôi chỉ tra cứu được 1 người tên Chương là Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Đến hôm 9.2.2014, bài viết nhận được phản hồi từ bà Phạm Thị Lệ Hương, 1 Việt kiều Mỹ cung cấp thông tin sửa sai cho, tên Chươnglà tên con gái cụ Trần Trọng Kim, tức bà “Trần Thị Diệu Chương, vì trong thư Cụ Kim thường kêu các Cụ ngang tuổi là Ông… mà không nói tên trống không như thế này, vả lại Cụ viết “nhà tôi [tức là vợ của Cụ] và Chương đều có lời chúc ông bà…” thì chắc chắn phải là người trong gia đình Cụ. Con gái độc nhất của cụ tên là Trần Thị Diệu Chương, vẫn còn sống ở Pháp, năm nay cỡ 90 hay trên 90 tuổi 1 chút (ngang tuổi ông Bùi Diễm là con trai Cụ Bảng Bùi Kỷ là first cousin của bà Trần Diệu Chương, vì Cụ Bùi Kỷ là anh của Cụ bà Trần Trọng Kim).] Sở dĩ tôi dám quả quyết như thế này là vì tôi là người trong họ của Cụ bà Trần Trọng Kim, nên tôi đọc thư của Cụ Kim viết cho Cụ Hoàng Xuân Hãn tôi hiểu như thế. Tôi có hỏi thêm những người trong họ thì mấy nguời đó cũng nghĩ như tôi viết cho anh ở trên.” (trích thư phản hồi của bà Phạm). Tôi xin sửa lại chú thích này theo ý kiến phản hồi của bà Phạm và xin trân trọng cám ơn bà.

_____________

Thư mục tham khảo

1.Lệ thần – Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969

  1. Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986
  2. Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982
  3. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987
  4. La Sơn Yên Hồ – Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)

Nguồn: Blog Yêu Hán Nôm

From: markq. Trinh & My Tran

TỞM LỢM Truyền thông bẩn !

Image may contain: text

Vũ Nam is with Nam Vu.

TỞM LỢM

Truyền thông bẩn !

Chính bọn báo đĩ mới dàn dựng và vu oan cho dân lành. Sau bài báo “Mẹ Hồ Duy Hải yêu con mù quáng”, thì bây giờ nhiều bài báo lồng lộn tấn công mẹ con cháu bé lớp 1 bị đứng ngoài nắng 40°C.Đièu này càng làm cho người dân càng tởm lợm hơn với trình độ và nhân cách của một số báo nô.

Chẳng có cha mẹ nào điên rồ đến mức là dàn dựng để vu oan cho nhà trường. Thực tế cha mẹ học sinh chạy trường, chạy lớp, nịnh và đút tiền cho giáo viên còn chẳng xong huống hồ lại đi gây chuyện.

Theo các tin tức đang tràn ngập trên báo chí hiện nay thì vụ việc là do mẹ cháu bé dàn dựng, chứ không phải do lỗi của cô giáo và nhà trường ( bằng chứng là có cả cái clip dàn dựng của mẹ cháu bé được quay bằng camera giám sát phía đối diện với cổng trường).

Nhưng chắc có lẽ là quá ngu hay nghiệp vụ quá non kém, mà những kẻ vẽ ra cái kịch bản này không biết rằng hình ảnh lúc đầu mẹ cháu bé đăng lên thì cổng trường đã đóng và không có ai qua lại, còn cái clip được cho là mẹ cháu bé dàn dựng thì cổng trường mở toang và người ra vào tấp nập.

Vậy chắc chắn trong vụ việc này đã có dàn dựng. Nhưng câu hỏi đặt ra là AI DÀN DỰNG? Mẹ của cháu bé hay nhà trường và cô giáo?

Nghe nói chồng của cô giáo là sĩ quan cấp cao trong quân đội.
https://m.docbao.vn/…/lo-dien-clip-dan-dung-chau-be-lop-1-d…
Stt của Nguyen Minh và Nguyễn Phúc Khang.

Nguyễn Khoa Phước

Gà mẹ tung “liên hoàn cước” tát thẳng mặt rắn hổ mang để bảo vệ đàn con.

Gà mẹ tung “liên hoàn cước” tát thẳng mặt rắn hổ mang để bảo vệ đàn con.

Từ xưa tới nay, chuyện rắn hổ mang mò vào chuồng gia súc, gia cầm của nhà dân là chuyện không hề hiếm. Tuy nhiên, việc một con gà đứng ra tấn công lại loài rắn ma mãnh để bảo vệ đàn con của mình thì không phải ai cũng được chứng kiến.

Trong clip, một con rắn hổ mang đã mò vào chuồng gà của một nhà dân để săn mồi. Phát hiện thấy đàn gà con, con rắn hổ mang từ từ tiến đến. Ngay lập tức gà mẹ đã xua đàn con của mình và những con vịt con vào một góc, sau đó nó lao về phía con rắn rồi đe dọa.

Dù bị gà mẹ ra đòn cảnh cáo nhưng con rắn hổ mang vẫn không từ bỏ con mồi của mình

Dù bị gà mẹ ra đòn cảnh cáo nhưng con rắn hổ mang vẫn không từ bỏ con mồi của mình.

Cuộc chiến tưởng chừng như không cân sức này diễn ra vô cùng kịch tính và thú vị. Dù bị gà mẹ ra đòn cảnh cáo nhưng con rắn hổ mang vẫn không từ bỏ con mồi của mình. Thậm chí, nó bành mang rồi tấn công gà mẹ.

Gà mẹ cũng không chịu thua khi liên tục đập cánh, đá chân để xua đuổi con rắn ra xa đàn con của mình.

Kết thúc cuộc chiến, con rắn đành lặng lẽ bò đi chỗ khác, trong khi đó không một con gà nào bị thương, thậm chí gà mẹ cũng không hề bị nọc độc của con rắn hổ mang làm hại. Đây thực sự là một cuộc chiến không cân sức nhưng lại tạo được kết quả vô cùng bất ngờ.

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì? – Trí Thức VN

About this website

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì?

  • Đông Vy
  • Thứ Hai, 25/05/2020 • 19.2k Lượt Xem
  • Không biết từ lúc nào, có lẽ chỉ vài năm trở lại đây thôi, những người tôi gặp luôn nói về Sài Gòn trong những cuộc trò chuyện. Dù bên bàn cà phê, trong quán ăn hay ở nhà riêng, thậm chí, trong thư điện tử và trên mạng xã hội, tôi cũng có cảm tưởng như mình chẳng thể nào thoát được chủ đề đó. Cả những người tôi gặp lần đầu và không sống ở đây, họ cũng nói về thành phố này. Có những người tuổi nhỏ hơn tôi một con giáp, cũng đang nói về Sài Gòn xưa. Có người bàn về lịch sử, có người tìm ký ức thành phố trong kiến trúc cũ, có người lục lọi sách vở.

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì?

Rất nhiều lần, tôi tự hỏi cớ sao lại như vậy?

Một buổi tối nọ, chúng tôi ghé thăm căn hộ một người bạn bên quận 7, rồi cà kê uống rượu tới khuya với mấy người quen của anh. Những câu chuyện của chúng tôi, dù thay đổi từ chủ đề kinh tế, y khoa, âm nhạc hay con cái, vẫn nhiều lần quay trở lại với Sài Gòn.

Đột nhiên, giữa câu chuyện đó, người phụ nữ xinh đẹp trong nhóm – người từng được vinh danh về nhan sắc nhưng thậm chí còn nhận được nhiều sự tôn trọng hơn bởi sự hiểu biết của mình – bỗng thổ lộ lý do khiến cô rời xứ sở. Cái thành phố ở hợp chủng quốc mà cô đang sống đó, không phải là nơi hoàn toàn tốt đẹp, như rất nhiều thành phố khác trên thế giới này, nó vẫn đang đối mặt với vô số vấn đề rắc rối và mâu thuẫn nọ kia. “Nhưng anh chị biết không” – cô nhìn chúng tôi với đôi mắt mở to, trong và buồn – “dù thế nào đi nữa, ở đó, tôi thấy có hy vọng.”

Chúng tôi nâng ly để chia sẻ sự đồng tình với cô, rằng: “Người ta có thể chết vì rất nhiều thứ, nhưng có ít nhất một thứ khiến người ta muốn sống. Hy vọng.”

Nghe cô nói, tôi chợt nghĩ về cái chủ đề mà gần đây tôi dường như không thể thoát khỏi: Sài Gòn. Có lẽ nào, người ta cũng đang nói về Sài Gòn như một cách tìm kiếm hy vọng. Chúng ta nói gì khi nói về Sài Gòn? Chúng ta nói về hy vọng.

Rất nhiều người Sài Gòn tôi gặp mang tâm trạng của chàng du khách trong thơ Nguyễn Bính, “ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên”. Thật lạ lùng, vì không chỉ người già mới hoài nhớ quá khứ, mà người trẻ cũng vội vã tìm về hôm qua. Khi nói đến hy vọng chúng ta thường nghĩ đến tương lai, nhưng bây giờ ở Sài Gòn, có vẻ mọi người hy vọng nhiều hơn khi nghĩ về quá khứ.

Hy vọng tìm lại, hy vọng giữ được, hy vọng đừng mất…

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì?

Bài được in trong tuyển tập “Sài Gòn phong lưu” – nhiều tác giả.

Những người già ở Sài Gòn kể rằng thành phố này từng có một thời, khi mà Sài Gòn không-chỉ-là-đất-làm-ăn, khi mà người Sài Gòn không cố trở thành ông chủ hay thương gia hết thảy. Có một thời, ở xứ này người nào làm việc nấy, chuyên tâm với chức trách và luân lý nghề nghiệp của mình một cách hãnh diện. Nhờ đó, giá trị được tạo ra một cách quân bình ở mọi lãnh vực và phương diện khác nhau chứ không chỉ thể hiện trên hàng hoá. Thương gia thì buôn bán. Giáo sư thì dạy học. Nghệ sỹ trình diễn. Triết gia suy tưởng. Chính khách lo kinh bang tế thế. Quân nhân bảo vệ đất nước. Các đảng phái giám sát lẫn nhau. Thầy thuốc thì chữa bệnh. Thợ may làm ra quần áo đẹp. Cha mẹ nuôi dạy con. Trẻ nhỏ thì vô lo và nghịch ngợm. Mục đích của việc dành dụm không nhất định là để được xếp vào hạng thượng lưu, mua thêm đất tậu thêm nhà hay phô trương thanh thế, mà để được hưởng thụ đời sống tinh thần ở mức cao hơn, và giúp người. Xã hội có người giàu và người nghèo. Nhưng người giàu không quá khinh mạn, người nghèo dù khốn khổ vẫn có thể giữ lòng tự trọng, cũng như hy vọng. Giữa những lo lắng phập phồng bên lề chiến tranh và nhiệt thành bối rối của thời dân chủ sơ khai, giữa những chật vật về miếng cơm manh áo, là sự hiện hữu có thực của hy vọng.

Hy vọng chăm chỉ làm lụng thì có thể dư dật. Hy vọng học hành giỏi giang sẽ có ngày thành danh. Hy vọng tuân thủ luật pháp thì sẽ được nhà nước bảo vệ. Hy vọng nghệ thuật và tri thức được tôn vinh. Hy vọng lẽ phải và sự thật là điểm tựa cũng như cứu cánh của mọi cuộc tranh luận. Hy vọng người chính trực sẽ được bênh vực. Hy vọng tài năng được coi trọng hơn tiếng tăm. Hy vọng danh dự và liêm sỉ được coi trọng hơn tiền tài và quyền lực. Hy vọng Sài Gòn mãi là đất lành, nơi mà người lương thiện có thể an tâm dâng tặng giá trị của riêng mình cho đời sống.

Những hy vọng đẹp đẽ đó, chúng ta còn giữ được không?

Cũng như cái tâm thế thong dong của người Sài Gòn, không ít giá trị từng là điểm tựa của đời sống xã hội ở đô thị này đang tan biến dần đi trong sự xâm lấn mạnh mẽ của những đặc trưng văn hóa khác và cả những thứ phản giá trị tựa như đám nấm độc đang trồi lên khắp chốn, bởi thời thế hay số phận. Hiện thực đó khiến tôi lắm lúc có cảm giác vô phương cứu vãn. Nhưng những người Sài Gòn, tôi biết, họ vẫn âm thầm giữ hy vọng. Họ buồn bã và giữ hy vọng. Họ phẫn nộ và giữ hy vọng. Họ làm việc và giữ hy vọng.

Hy vọng tìm lại, hy vọng giữ được, hy vọng đừng mất…

Còn tôi, tôi hy vọng gì? Ngày qua ngày, Sài Gòn vẫn tiếp tục lướt trên những làn sóng văn hoá xô đến dồn dập, tiếp tục gồng mình chống chọi trước những cơn lốc đổi thay khó cưỡng, và đô thị này vẫn đang lớn nhanh hơn bao giờ hết, cao hơn, rộng hơn. Tôi chỉ mong nó đừng phát triển như một tòa cao ốc, mỗi tầng là một chốn tách biệt, mà tầng nào cũng tràn ngập thương gia.

Sài Gòn, xin hãy lớn lên như một cái cây, có lá, có hoa, dù vươn cao đến đâu, tỏa rộng chừng nào vẫn có thể cảm nhận được dòng nhựa sống từ đất đai và gốc rễ – những giá trị đã từng là niềm hãnh diện của mỗi cư dân trong quá khứ. Sài Gòn – xin hãy là một đô thị nuôi dưỡng được nguồn hy vọng cho cả xứ sở này.

Và Sài Gòn – như một cái cây. Lại cây!

Trích lược
Bài được in trong tuyển tập “Sài Gòn phong lưu” – nhiều tác giả.

Đặng Nguyễn Đông Vy

Theo Facebook Sài Gòn – Chuyện đời của phố

Xem thêm các tác phẩm khác của vợ chồng nhà báo Phạm Công Luận – Đặng Nguyễn Đông Vy tại đây.

M.TRITHUCVN.NET

Người Sài Gòn vẫn âm thầm và hy vọng điều gì? – Trí Thức VN

Cả những người tôi gặp lần đầu và không sống ở đây, họ cũng nói về thành phố này. Có những người tuổi nhỏ hơn tôi một con giáp, cũng đang nói về Sài Gòn…

MUỘN ĐẾN KHÔNG CÒN CỨU VÃN ĐƯỢC NỮA RỒI!

No photo description available.
Nguyễn Đình Ngọc

MUỘN ĐẾN KHÔNG CÒN CỨU VÃN ĐƯỢC NỮA RỒI!

Đài RFI cho hay (trích) : Cắt đứt với truyền thống của nền kinh tế kế hoạch hóa từ nhiều năm qua, chế độ cộng sản Trung Quốc giờ đây từ bỏ việc ấn định mục tiêu tăng trưởng cho năm 2020…

Trong bài diễn văn hết sức ngắn – chỉ có 55 phút – lần đầu tiên từ 30 năm qua, ông thủ tướng không đưa mục tiêu tăng trưởng cụ thể cho năm 2020. Tăng trưởng quý I giảm đến 6,8%, điều chưa từng thấy kể từ khi Trung Quốc cho công bố GDP từng quý vào đầu thập niên 90.

Từ nhiều tuần qua, các nhà kinh tế và chính khách tranh luận về việc liệu Trung Quốc có ấn định mục tiêu tăng trưởng năm 2020, hay một mục tiêu chung cho cả năm 2021 nhằm giấu bớt thất bại trong năm nay, hoặc ngược lại không đưa ra mục tiêu nào cả. Hôm nay Lý Khắc Cường cho biết đó là do sự bất định về diễn tiến của dịch bệnh và trạng huống kinh tế thế giới.

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, tăng trưởng của Trung Quốc trong năm nay có thể chỉ đạt 1,2%, so với con số chính thức của năm 2019 là 6,1%.(hết trích) http://www.rfi.fr/…/20200524-trung-quoc-tang-truong-kinh-te…

Trung Cộng đeo đuổi nền kinh tế phi thị trường kể từ 1949 đến nay hơn 70 năm. Họ mù quáng tin rằng với đầu óc “trùm thiên hạ” cùng văn hóa hơn 5.000 năm, hoàn toàn có thể điều khiển cả thế giới.

Chết là chỗ đó! Tại sao? Vì phản khoa học, phản tiến bộ và chống nhân loại.

Bởi nền kinh tế phi thị trường luôn phản ánh Ý THỨC HỆ( độc đoán, độc quyền sinh ra => độc tài) trong khi kinh tế thị trường KHÔNG PHẢI LÀ NHƯ VẬY.

Chính đầu óc đó đã tàn phá Trung Cộng nhiều năm qua. Dù kinh tế của họ có lúc thăng trầm nhưng kinh tế phi thị trường luôn bị méo mó trước thực tế sống động và thay đổi liên tục.

Kinh tế phi thị trường luôn có 1 trung tâm điểm (bộ chính trị già nua, chậm chạp, suy nghĩ viển vông…) làm cho toàn bộ nền kinh tế nặng nề, cồng kềnh, vô cùng khó khăn xoay trở trước những biến động của thị trường.

Khi Trung Cộng không còn quan tâm đến những con số hào nhoáng nghĩa là họ đã nhận ra sai lầm (không còn cứu vãn nổi) từ những con số tầm bậy tầm bạ, vốn chỉ nhằm vỗ về cho những giấc mơ hão huyền. Chính những giấc mơ đó đã đẩy họ vào tình thế hiện nay => Bị thế giới xa lánh – tẩy chay – cô lập.

Ngày tàn của Trung Cộng đang được đếm lùi tính bằng không quá… 5 năm!

Mời đọc lại: Có kinh tế thị trường là có tất cả – https://www.rfa.org/…/ReadersOp…/mar-eco-05032019145709.html