S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Địa Đàng Hạnh Phúc

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Địa Đàng Hạnh Phúc

Ảnh của tuongnangtien 

tuongnangtien

Bản chất nó là cuồng bạo
Huênh hoang lấp biển vá trời
“Kiến tạo địa đàng – hạnh phúc”
Khốn nạn thay!

Phùng Cung

Tôi có chút giao tình (không đậm đà gì mấy) với nhà văn Vũ Thư Hiên. Chúng tôi không sinh cùng nơi, cũng chả sống cùng thời, tính tình lại hoàn toàn khác biệt nên chuyện trò giữa ông và tôi đôi lúc (nghe) hơi trệu trạo.

Gặp bất cứ ai tôi cũng chỉ thích nói về mình, và “văn mình” thôi. Văn mình vợ người là chuyện thường tình nhưng riêng Vũ Thư Hiên thì bất bình thường thấy rõ.  Lúc nào ông cũng say sưa bàn về tác phẩm, hay nhân vật, của… một người cầm bút khác:

      –   Dứt khoát là phải làm một cuốn phim về cuộc đời của Già Đô thôi.

      –    Dạ vâng!

      – Không làm thì tiếc lắm đấy.

      – Dạ đúng!

Tôi cứ “vâng/dạ” đều đều (và nhẹ hều) như vậy vì chả hào hứng chút nào về chuyện của thiên hạ, và cũng vì đã nghe về cái dự tính điện ảnh này gần chục lần rồi.

Già Đô là ai?

“Già là một lính thợ Pháp quốc trong đại chiến thế giới thứ hai. Từ Pháp già đã tới Algérie, Maroc (cái lý lịch ấy thật tai vạ cho già). Già đã là thợ đốt lò dưới con tàu Commerce Maritimes thuộc hãng Đầu Ngựa. Hải Phòng – Marseille là hành trình những năm tuổi trẻ của già. Làm được hai năm già thôi việc. Chỉ vì già không chịu được những lời mắng nhiếc của chủ… Già bỏ tàu lên thành phố Marseille. Vào quán rượu quen. Uống. Uống nhiều. Và không trở về tàu nữa. Lang thang ở Marseille cho đến đồng frăng cuối cùng, già tìm được việc làm trong một xưởng sửa chữa xe có động cơ. Từ xe gắn máy, các loại ô-tô tới xe nâng, cần cẩu. Tại đây già bị động viên vào một đơn vị cơ giới. Già sang Maroc, Algérie, vẫn làm nhiệm vụ sửa xe.

Đại chiến thế giới thứ hai kết thúc. Già trở về Marseille. Trở về xưởng cũ. Lấy vợ. Cô Jeannette bán hoa quả ở gần bến cảng lớn bổng lên khiến già ngỡ ngàng, xao xuyến. Hai vợ chồng vay vốn mở một tiệm rượu nhỏ. Khách là những người phu pooc-tê, những thuỷ thủ, những người thợ nhan nhản ở thành phố Marseille.

Rồi già biết quê nhà đã được độc lập. Niềm sung sướng lớn lao và nỗi nhớ quê hương, nỗi sầu biệt xứ bỗng cồn cào trong lòng không chịu nổi. Càng không chịu nổi khi biết tin hiệp nghị Genève đã ký kết. Một nửa đất nước được độc lập. Lại thêm thôi thúc vì chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo đất nước là người từng lâu năm ở Pháp, cũng từng là một mạch-lô.

Già về nước. Khi đó bà Jeannette đã sinh cho già một cô con gái xinh đẹp, có nước da trắng của bà, có mái tóc và đôi mắt đen của già Đô. Mặc bà vợ khóc can ngăn, già nhất định về nước. Rồi già sẽ sang đón bà về. Độc lập rồi, xây dựng sẽ rất nhanh. Đất nước sẽ phát triển rất nhanh. Dân tộc ta thông minh, cần cù, chiu khó lại được bao nước giúp đỡ. Đất nước đang cần những bàn tay như già…” (Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập II. CLB Tuổi Xanh, Westminster, CA: 2000).

Nói tóm lại, và nói một cách ví von: Già Đô là một Nguyễn Mạnh Tường của giới công nhân nhưng trung vận, cũng như hậu vận, đen đủi hơn cái ông luật sư (bất khuất và bất hạnh) rất nhiều. Ông Tường không bị CS giam cầm một ngày nào ráo, và cuối đời vẫn còn có hội lên tiếng (Une Voix Dans La Nuit) giữa kinh đô ánh sáng Paris trước khi nhắm mắt. Già Đô không có cái may mắn đó. Ông chết vì đói lạnh, trong một cái miếu hoang ở Việt Nam, sau khi “thất bại” trong việc làm đơn xin trở lại trại tù – vẫn theo như lời của Bùi Ngọc Tấn:

“Khoảng một tháng sau, già Đô trở lại nhà hắn. Ở nhà hắn đi ra như thế nào, già trở lại cũng y như vậy. Một Vitali cô đơn, bị bọc, rách rưới, mang xách, nặng mùi. Có một điều khác: Tàn tạ hơn, mệt mỏi hơn, nhưng ẩn một tia hy vọng vì đã tìm ra lối thoát. Già hỏi hắn: ‘Cụ có giấy bút không?’ Và nhanh nhẹn đỡ lấy những thứ đó từ tay hắn. Già đeo kính. Cái kỉnh lão mắt tròn tròn cổ lỗ hồi đầu thế kỷ, một mắt lại vỡ rạn hẳn là quá nhẹ với già, nên già phải ngửa đầu ra phía sau mà nhìn vào tờ giấy. Già viết rất khó khăn… 

Bỗng già buông bút, nhìn hắn:

– Hay là cụ viết giúp tôi.

Hắn vui vẻ nhận lời. Già đọc:

– Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

Kính gửi Sở Công an.

– À, gượm đã. Hay là kính gửi Ban giám thị trại VQ nhỉ?

– Nhưng mà nội dung đơn là gì cơ?

– Tôi xin trở lại trong ấy.

Hắn choáng người, đặt bút xuống, nhìn già chăm chăm.

– Tôi suy nghĩ kỹ rồi, cụ ạ. Ở trong ấy tốt hơn.

Già chớp chớp mắt:

– Đời tôi là không gia đình. Ở đâu cũng vậy thôi…

– Ở ngoài này tôi không chịu đựng nổi nữa rồi.

Hắn cảm thấy già có lý: Với già sống ở ngoài đời đáng sợ hơn chết ở trong tù nhiều lắm.

–  Thế thì phải làm đơn gửi Sở Công an. Trại người ta không nhận đâu. Phải là từ Sở đưa lên. Trại đã xuất kho mình rồi, ai người ta nhập kho mình nữa.

–  Ý tứ thế. Cụ viết giúp tôi.

Hắn viết. Già ngồi im lặng. Hắn bảo già:

–  Cụ nghe tôi đọc lại nhé.

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Đơn xin vào lại trại cải tạo… (B. Tấn, sđd 224 – 225).

Lạ nhỉ! Sao một công dân của một quốc gia Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc mà lại  làm đơn xin “vào lại trại cải tạo”, hả Giời? Mà hạnh phúc ở Việt Nam đâu có quá xa vời hay quá tầm tay với của bất cứ ai. Nó tràn lan khắp hang cùng ngõ hẹp và tràn ngập khắp mọi nhà mà. Nơi đất nước này, đã có lúc, hễ ra ngõ là gặp anh hùng. Còn bây giờ, cứ mở mắt ra là thấy ngay hạnh phúc:

  • Nguyễn Phú Trọng, TBT kiêm CTN: “Mỗi mùa xuân có Đảng là một mùa hạnh phúc an vui.”
  • Nguyễn Thị Quyết Tâm, Phó Bí thư Thành Ủy TP.HCM: “Việc con em lãnh đạo được giao trọng trách quản lý là điều hạnh phúc của dân tộc.”
  • Nguyễn Hồng Diên, Phó Trưởng Ban Tuyên Giáo TƯ : “Trường hợp đặc biệt về tuổi như Tổng bí thư là hạnh phúc của Đảng, dân tộc.”

Quan niệm của đám thường dân cũng thế, cũng “đơn sơ” lắm – theo như cách dùng từ của blogger Ku Búa:

“Đa số người dân Việt Nam có định nghĩa rất đơn sơ đối với ‘Hạnh Phúc.’ Họ không cần quá nhiều để cảm thấy vui vẻ. Một anh công nhân chỉ cần có việc làm trả lương. Một cô bán bán hàng chỉ cần ngày nào cũng có khách. Một người dân nông chỉ cần làm vài vụ một năm. Một sinh viên chỉ cần thi qua môn. Như vậy là đủ…”

Chả những “đủ” mà còn dám “dư” nữa là đằng khác vì hạnh phúc (hay đau khổ) đều do do nhận thức mà ra cả, và nhận thức thì luôn luôn rất chủ quan và tương đối. Xin đan cử một thí dụ:

Đang đêm khuya khoắt bỗng nghe tiếng xe thắng gấp trước nhà, công an nhẩy xuống rầm rập và túm cổ ngay cái thằng cha ở cạnh bên. Thế là bạn thở phào nhẹ nhõm. Vậy chả hạnh phúc sao?

Ngay cả khi chính bạn bị vồ lên đồn chăng nữa nhưng chỉ vài ngày sau là được thả luôn. Chả những thế, bạn vẫn có thể ra khỏi đồn công an (bằng chính đôi chân của mình) không cần đến băng ca hay brancard gì cả. Thế mà không hạnh phúc à?

Điều trở ngại lớn nhất trong việc mưu tìm hạnh phúc là chúng ta luôn luôn mong muốn một thứ hạnh phúc lớn hơn (hoặc nhiều hơn) chút nữa . Ấy chớ bạn ạ. Ở VN mà còn được thở, và thở được, là hạnh phúc lắm rồi, dù không khí có ô nhiễm hay ngột ngạt đến đâu chăng nữa.

Chế độ cộng sản VN: Cỗ máy nghiền nát nhân tài nước Việt

Chế độ cộng sản VN: Cỗ máy nghiền nát nhân tài nước Việt

Ảnh của nguyenvandai

nguyenvandai

Báo điện tử Vietnamnet ngày 13 tháng 7 có bài viết của tác giả TS Đinh Đức Sinh với tiêu đề

Chọn nhân sự cấp chiến lược: Cuộc tổng tìm kiếm hiền tài

Trước đó, cũng trên tờ báo này, tác giả Đinh Duy Hòa,  có bài “Nhân tài: Người là ai, đang ở đâu”?

Có vẻ như đất nước Việt Nam đang rất hiếm nhân tài về chính trị để phục vụ đất nước. Vậy thực hư thế nào chúng ta cùng đi trả lời cho các câu hỏi sau để tìm ra đáp án?

Câu hỏi đầu tiên, Việt Nam có nhân tài về chính trị để lãnh đạo đất nước không?

Việt Nam với dân số khoảng 97 triệu người. Trong khoảng 2 thập kỷ trở lại đây, mỗi năm có hàng chục ngàn bạn trẻ đi du học ở các nước dân chủ văn minh Âu, Mỹ theo các hình thức khác nhau. Các trường đại học trong nước cũng đào tạo ra hàng trăm ngàn sinh viên mỗi năm. Trong số các sinh viên đã tốt nghiệp đại học, thạc sĩ, tiến sĩ ở trong và ngoài nước, đa số họ là nhân tài của đất nước.

Trong lịch sử khoảng 4000 năm của dân tộc Việt Nam, thời nào cũng có nhân tài giúp xây dựng và phát triển đất nước.

Nhưng có thể nói dưới sự cai trị của đảng và chế độ CSVN thì không có một nhân tài nào xuất hiện mà chỉ xuất những kẻ bất tài, vô đức cai trị Nhân dân, chiếm đoạt tài sản của Nhân dân và của quốc gia như Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh, Nguyễn Xuân Anh, Tất Thành Cang,…

Câu hỏi thứ hai là  chế độ cộng sản Việt Nam là nơi ươm mầm, đào tạo tài năng hay là cỗ máy nghiền nát tài năng của nước Việt?

Thứ nhất, nhà nước cộng sản thực hiện một chế độ lương bổng thấp, chưa tới 200USD cho một công chức, viên chức mới được tuyển dụng, Với mức lương này không đủ để họ song và yên tâm học tập, nghiên cứu, tích lũy kinh nghiệm và cống hiến.

Họ vận lộn với chuyện cơm, áo, gạo, tiền, cuộc sống hàng ngày. Họ phải tìm mọi mánh khóe, thủ đoạn để kiếm thêm thu nhập. Họ nhìn thấy đồng nghiệp lâu năm, cấp trên của họ chẳng có tài năng gì, nhưng giàu có nhờ thủ đoạn xấu. Như vậy thì họ không phải dành thời gian để học tập và nghiên cứu, mà dành thời gian để tích lũy kinh nghiệm xấu và thủ đoạn. Tài năng của các công chức, viên chức trẻ dần dần mai một và biến thành những con chuột, lươn và trạch.

Chúng ta đã thấy căn cứ đầu tiên chế độ CSVN là cỗ máy nghiền nát tài năng nước Việt

Thứ hai là việc bổ nhiệm các cấp lãnh đạo không công bằng, dân chủ mà đó là việc mua quan, bán chức.

Mọi chức vụ trong hệ thống chính trị của chế độ cộng sản VN đều có thể mua bán, trao đổi. Một ví dụ điển hình là việc cựu Bộ trưởng 4T Nguyễn Bắc Son đã hứa với cựu thứ trưởng 4T lúc đó là Trương Minh Tuấn rằng nếu Tuấn ký chấp nhận cho Tổng công ty MobiFone mua lại công ty AVG thì Tuấn sẽ ngồi vào ghế Bộ trưởng khi Son nghỉ hưu. Và thực tế diễn ra đúng kịch bản.

Hay việc mua quan bán chức của Trịnh Xuân Thanh, Hồ Thị Kim Thoa,….

Việc mua quan bán chức trong chế độ CSVN cũng nghiền nát nhân tài nước Việt.

Thứ ba là nạn con ông, cháu cha làm mưa làm gió trong hệ thống chính trị.

Trong các cơ quan nhà nước cộng sản luôn tồn tại các con ông cháu cha. Bọn này lợi dụng mối quan hệ của cha mẹ, chú bác của chúng để lũng loạn, chèn ép những người có tài nhưng không có thế.

Kết quả những người có tài phải rời bỏ cơ quan hay chấp nhận làm tay sai cho bọn con ông, cháu cha.

Thứ tư là nạn bè phái, nhóm lợi ích trong hệ thống chính trị

Trong bất cứ cơ quan công quyền nào của chế độ CSVN đều tồn tại các nhóm bè phái hay nhóm lợi ích. Chúng vừa tranh giành, vừa đấu đá với nhau để đoạt quyền lực, để tham nhũng và vơ vét tài nguyên của đất nước.

Những người có tài không thể đứng thẳng mà phải luồn cúi theo các băng nhóm trong hệ thống đó. Kết quả là tài năng của họ bị thui chột và họ từng bước cũng trở thành những tham lam và xấu xa.

Thứ năm, quan điểm và ý thức chính trị quyết định việc thăng quan tiến chức.

Việc đặt nặng ý thức chính trị cao hơn tài năng của chế độ CSVN cũng bóp chết những tài năng từ trong trứng nước. Bởi ý thức hệ cộng sản lạc hậu và hủ bại đã được chứng minh trên thực tế. Nó chỉ tạo ra những con người giả dối, những con chuột, lươn, trạch trong hệ thống chính trị cộng sản VN.

Vậy câu hỏi cuối cùng là làm sao để các nhân tài nước Việt có quyền và cơ hội cống hiến tài năng phục vụ đất nước và Nhân dân?

Chỉ có người hiền tài mới chọn và sử dụng được người hiền tài!

Nhưng cả hệ thống chính trị cộng sản Việt Nam đều hủ bại và thối nát nên nó không thể chọ được hiề tài và sử dụng hiền tài.

Cách duy nhất là Nhân dân Việt Nam phải tiến hành một cuộc Cách mạng xã hội hay Cách mạng dân chủ để giải phóng đất nước khỏi sự cai trị của giặc nội xâm.

Xây dựng chế độ tự do, dân chủ đa đảng, khi đó mọi công dân Việt Nam có quyền tự do thành lập, hoạt động đảng phái chính trị. Mọi người được tự do ra ứng cử, Nhân dân có quyền tự do lựa chọn và quyết định người lãnh đạo đất nước, đảng cầm quyền.

Đó là lúc mọi tài năng của nước Việt có quyền và cơ hội phục vụ đất nước và Nhân dân.

CỤ BÀ ĐỌC BÀI THƠ CON CÒ ĐÃ MẤT TRÊN ĐƯỜNG MƯU SINH XIN ĂN

Image may contain: outdoor
Image may contain: one or more people and outdoor
Image may contain: one or more people and outdoor

Hạt Lửa

CỤ BÀ ĐỌC BÀI THƠ CON CÒ ĐÃ MẤT TRÊN ĐƯỜNG MƯU SINH XIN ĂN

Con cò lặn lội bờ sông
Cò ơi sao lại quên công mẹ già
Hỏi rằng ai đẻ cò ra
Mà cò lại bỏ mẹ già không nuôi.

Nhớ khi đi ngược về xuôi,
Mẹ đi bắt tép , mẹ nuôi được cò
Những ngày mưa lũ gió to
Công mẹ bắt tép nuôi cò, cò quên.

Vợ con cò để hai bên
Công cha nghĩa mẹ cò quên hết rồi
Cò ơi cò bạc như vôi
Công cha sữa mẹ bằng đồi núi cao.

Cò ơi cò nghĩ thế nào
Mẹ đi bắt tép, thụt vào hố sâu
Nuôi cò, cò lớn bằng đầu
Nhớ khi cò bé bú bầu sữa ngon.

Nhớ khi còn bé cỏn con
Bây giờ cò lớn , có còn nhớ không?
Vì đâu có cánh có lông
Mà cò đã vội quên công mẹ già
Hỏi rằng ai đẻ cò ra
Mà cò lại bỏ mẹ già không nuôi…

P/s: Thương cụ! Cầu mong Cụ được về cõi Tây Phương Cực Lạc
#HatLua   

Lạnh nhìn đập Tam Hiệp, quy trình chế một trái bom

TIENPHONG.VN

Lạnh nhìn đập Tam Hiệp, quy trình chế một trái bom

TP – Đập thủy điện Tam Hiệp được thiết kế chủ yếu để kiểm soát lũ lụt, nhưng bây giờ nó chính xác là làm tăng nguy cơ lũ lụt. Cả thượng lưu và hạ lưu đều chịu áp lực rất lớn, nếu không xả nước, thượng lưu sẽ bị ngập. Xả nước thì hạ lưu bị ngập. Kết quả là hai phía đều bị ảnh hưởng.

Hình ảnh Tam Hiệp ngày 6/7/2020 trên truyền hình Trung Quốc

Ông Phan Gia Tranh, người được mệnh danh là «kiến trúc sư trưởng của đập Tam Hiệp», là một chuyên gia hàng đầu về thủy lợi, khi về già có viết một quyển sách, tựa là “Giấc mộng Tam Hiệp”. Ông kể đã mơ một giấc mơ khủng khiếp:  Bị dẫn độ ra “tòa án quốc tế về sinh thái môi trường”. Tại đó ông bị thẩm vấn, bị buộc tội và cuối cùng bị tuyên án. Lời tuyên án ghi rõ, bị can Phan Gia Tranh bị khai trừ khỏi loài người, bị ném xuống ma đạo, dẫn đến địa ngục, phải chịu mọi cảnh đau đớn không nguôi…

Là một chuyên gia hàng đầu về thủy lợi, ông Phan Gia Tranh biết rõ lợi hại của Dự án Tam Hiệp. Ông đã liệt kê ra đến 20 điểm khuyến cáo coi là không phù hợp nếu xây dựng đập. Nhưng rồi được sự “giúp đỡ giáo dục” sau đó ông lại trở thành chuyên gia hàng đầu của Dự án… Ông đã khuất phục trước áp lực chính trị. Công trình Tam Hiệp đã hoàn thành, hậu quả xấu đã nhãn tiền. Ông Phan mang một gánh nặng tinh thần. Và ông đã cho ra đời cuốn sách hy vọng làm vơi nhẹ phần nào, cuốn “Giấc mộng Tam Hiệp”.

Cột mốc biểu thị độ cao của đập Tam Hiệp so với mặt nước biển

Từ điển Wikipedia cho biết, đập Tam Hiệp được lấy tên từ 3 hẻm núi lớn theo hướng tây-đông: Hẻm núi Cù Đường, Võ Hiệp và Tây Lăng. Các hẻm núi này kéo dài khoảng 200km dọc theo thượng và trung lưu của sông Dương Tử. Đập được làm từ bê tông và thép, có chiều dài 2.355m, đỉnh đập cao 185 mét trên mực nước biển, lớn gấp 5 lần so với đập Hoover của Mỹ. Công trình đã sử dụng 27,2 triệu mét khối bê tông (chủ yếu cho thành đập cao 181 mét so với nền đá), 463.000 tấn thép, đào 102,6 triệu mét khối đất. Mực nước cao tối đa của đập là 175m trên mực nước biển, cao hơn mực nước sông ở hạ nguồn 110 m, vùng hồ chứa có chiều dài trung bình khoảng 660 km và rộng 1,12 km. Vùng hồ chứa có thể tích 39,3 km3 và tổng diện tích bề mặt nước 1045 km2.

Năm 1919, Tôn Trung Sơn lần đầu tiên đề xuất xây đập trên sông Dương Tử, đoạn qua tỉnh Hồ Bắc. Ông tin rằng, đập thủy điện được xây dựng ở đây có thể giúp bảo vệ các cộng đồng dân cư ở lưu vực sông khỏi lũ lụt nặng nề. Nhưng ý tưởng này cuối cùng đã bị bỏ dở vào năm 1947 do nội chiến giữa Quốc dân đảng và Cộng sản đảng.

Nước CHND Trung Hoa ra đời năm 1950, muốn đại nhẩy vọt lên CNXH. Tháng 2/1953, trong một chuyến thăm sông Dương Tử, Chủ tịch Mao Trạch Đông phàn nàn rằng các dự án kiểm soát lũ trên các nhánh sông Dương Tử không hiệu quả. Từ tháng 6 đến tháng 9/1954: 1/3 thành phố Vũ Hán bị nhấn chìm trong lũ lụt ảnh hưởng đến 18,8 triệu người. Các trận lụt lội lớn đã làm sống lại ý tưởng của Tôn tiên sinh và chính quyền Trung Quốc đã chấp thuận dự án đập Tam Hiệp vào năm 1954.

Cùng với việc khơi lại dự án Tam Hiệp, vào năm 1954-1957, Chủ tịch Mao bắt đầu nhấn mạnh khẩu hiệu “nhân định thắng thiên”, tuyên bố cải tạo làm sạch sông Hoàng Hà: Thực hiện dự án thủy lợi “Tam Môn Hiệp”. Dự án do các chuyên gia Liên Xô thiết kế được trình lên. Chính phủ từ chối tiếp nhận những ý kiến phản biện của chuyên gia Hoàng Vạn Lý, một giáo sư đại học Thanh Hoa, cũng là người sau này kiên quyết phản đối xây dựng đập Tam Hiệp. Người Trung Quốc khi đó kiêu hãnh nói rằng, Quốc dân đảng được tư vấn của chuyên gia Mỹ, dự kiến công trình trị thủy sông Hoàng tốn cả trăm năm, nước Trung Quốc mới sẽ chỉ làm nó trong 6 năm.

Năm 1960, đập Tam Môn Hiệp đã tích nước, nhưng hoàn toàn thất bại trong việc điều chỉnh lũ lụt, làm sạch sông Hoàng. Các sông ở thượng lưu là Vị Hà, Đồng Quan cùng 80 vạn mẫu ruộng phì nhiêu của Quan Trung bị ngập nước. Sau đó, không ít lần Mao Trạch Đông và lãnh đạo chính phủ nói rằng, nếu không thể khắc phục thì có thể phá bỏ đập. Nhưng chính phủ kế tục không biết thừa nhận sai lầm, rút ra bài học kinh nghiệm. Họ lặp lại nó ở Tam Hiệp. Dù rằng việc xây dựng đập Tam Hiệp chỉ đến năm 1993, sau 17 năm Mao Trạch Đông chết, mới được bắt đầu. 

Nhìn lại thì thấy, việc xây dựng đập Tam Hiệp đã được thảo luận từ những năm 1950, nhiều cuộc thảo luận đã diễn ra và ý kiến của các chuyên gia trong các lĩnh vực hết sức trái ngược. Đến cuối những năm 1980, khi Triệu Tử Dương nắm quyền Tổng bí thư, tính đến sự phản đối mạnh mẽ từ bên ngoài đảng, Triệu đã trình bầy với Đặng Tiểu Bình xin đình chỉ Dự án.

Tuy nhiên, Đặng Tiểu Bình nói rằng, khởi động Dự án có những vấn đề chính trị, nhưng không khởi động thì còn nhiều vấn đề chính trị hơn, vì vậy vẫn phải khởi động. Ý kiến của Đặng Tiểu Bình rất rõ ràng, không chấp nhận ai đó bên ngoài đảng chống lại. Càng nhiều người phản đối, càng phải kiên trì.

Dự án đập Tam Hiệp còn được ủng hộ mạnh mẽ và tích cực thúc đẩy bởi hai lực lượng. Một là lực lượng làm điện lực đứng đầu là thủ tướng Lý Bằng. Hai là Tiền Chính Anh bộ trưởng thủy lợi và hệ thống liên quan. Sự hỗ trợ của hai lực lượng này để khởi động Dự án Tam Hiệp cho thấy có một nền tảng của lợi ích ngành (nhóm) trong việc hình thành các chính sách.

Lẽ dĩ nhiên Dự án đập Tam Hiệp liên tục được các quan chức nhấn mạnh là đem lại lợi ích kinh tế to lớn. Không có gì phải nghi ngờ Dự án Tam Hiệp có thể tăng sản lượng điện. Nhưng ngoài lợi ích kinh tế, những thiệt hại khác do một dự án lớn gây ra, chẳng hạn như các vấn đề đời sống của người chuyển cư, những thiệt hại không thể khắc phục đối với vô số di tích lịch sử văn hóa, những tác động tiêu cực đến môi trường nói chung… đã không được quan tâm. Trung Quốc muốn phát triển kinh tế bằng mọi giá. Một dự án lớn như vậy, ngay cả khi buộc phải chính thức thừa nhận rằng sau một thời gian, lợi ích sẽ giảm dần, nhưng đối với các nhà hoạch định chính sách, đó là tương lai, họ sẽ để những người tương lai giải quyết.

Ads by optAd360

Năm 1989, Giang Trạch Dân và Lý Bằng với tư cách Tổng bí thư và Thủ tướng bắt đầu thúc đẩy dự án. Lý Bằng trong “Nhật ký Tam Hiệp” đã viết: “Đồng chí Đặng Tiểu Bình, người thiết kế chính của cải cách và mở cửa của Trung Quốc, đã đưa ra một quyết định lớn về việc xây dựng Dự án Tam Hiệp. Sau năm 1989, tất cả các quyết định lớn về Dự án Tam Hiệp được đưa ra bởi đồng chí Giang Trạch Dân, người đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc xây dựng Dự án”.

Dưới đây là một số mốc thời gian. Năm 1979, Bộ Thủy lợi Trung Quốc trình đề xuất xây dựng đập Tam Hiệp lên Quốc vụ viện. Năm 1982, Lãnh đạo Đặng Tiểu Bình cam kết xây dựng đập Tam Hiệp. Tháng 6/1986, Bộ Thủy lợi Trung Quốc thành lập một nhóm gồm 412 chuyên gia làm báo cáo các nghiên cứu khả thi mới. Năm 1987, Phái đoàn Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc đến thăm khu vực Tam Hiệp và cảnh báo dự án là không khả thi.

Ngày 13/7/1990, một ngày trước khi kết thúc thảo luận về Báo cáo khả thi dự án Tam Hiệp, Giang Trạch Dân và Lý Bằng mời các lãnh đạo và chuyên gia tham dự họp ăn tối. Tại bữa ăn, Châu Bồi Nguyên, phó chủ tịch Ủy ban quốc gia của Hội nghị chính trị hiệp thương nhân dân Trung Quốc (gọi tắt là Chính Hiệp), nói: “Ngày mai Thủ tướng Lý Bằng có thể sẽ đưa ra quan điểm chính thức về Dự án Tam Hiệp. Nhưng Dự án vẫn còn một số vấn đề không thể không nghiên cứu kỹ, đặc biệt là vấn đề an ninh quốc phòng”. Giang Trạch Dân đã chặn lời Châu Bồi Nguyên, nói: “Dự án Tam Hiệp nhất định phải hoàn thành và sẽ mang lại lợi ích cho các thế hệ tương lai”. Châu Bồi Nguyên vẫn giữ ý kiến phản đối. Ông chết bệnh vào năm 1992.

Tháng 4/1992, Quốc hội Trung Quốc chính thức phê duyệt dự án, nhưng 1/3 số đại biểu bỏ phiếu chống hoặc phiếu trắng.

Năm 1992, Thủ tướng Lý Bằng đi cùng các lãnh đạo địa phương thị sát Tam Hiệp. Lý Bằng vào thăm nhà một người dân vừa chuyển cư lên trên mốc trữ nước ở đỉnh cao 175 mét. Ngài thủ tướng văn vẻ nói với người dân chuyển cư: Anh bạn hãy nhìn xem, trong tương lai, ngôi nhà mới của anh sẽ nằm cạnh sông Dương Tử. Và con sông sẽ biến thành một hồ nước lớn. Cái vườn sau nhà anh có thể trồng cam. Khi con tầu chở khách kéo còi chạy qua, những trái cam chín đỏ sẽ rung rinh theo và rơi xuống.

Người dân chuyển cư nở một nụ cười ngơ ngơ. Anh ta thực sự không thể hiểu, tại sao thủ tướng nói rằng khi tiếng còi vang lên trong không trung, những quả cam trên cây của anh ta sẽ rơi xuống?

Đứng trên cột mốc 175 mét độ cao, Lý Bằng thực sự là một cột mốc. Cột mốc chỉ dấu cho tương lai khó lường của người chuyển cư nhường nhà ở, đất đai cho lòng hồ và cho cả đập Tam Hiệp.

Trung Quốc tổ chức khởi công xây dựng đập Tam Hiệp vào tháng 12/1994. Và tiến hành chặn dòng Dương Tử vào tháng 11/1997. Đến tháng 5/2006, con đập cao 185 m với khoảng 16 triệu mét khối bê tông được hoàn tất. Truyền thông nhà nước Trung Quốc cho biết, trong quá trình xây dựng đập, hơn 100 công nhân đã chết.

Khoảng 1,3 triệu người đã phải tái định cư. Hàng chục địa điểm kiến trúc và văn hóa bị dìm sâu trong lòng hồ. Trong số các di tích này, đáng chú ý nhất là di tích của nhóm người cổ sống trong khu vực này khoảng 4.000 năm trước. Chi phí cũng tăng cao. Các báo cáo chính thức thông tin ngân sách xây dựng đập Tam Hiệp ở mức 24 tỉ USD. Tuy nhiên, các nhà quan sát cho rằng, chi phí thực tế có thể cao hơn nhiều so với con số công bố, có thể lên đến 88 tỉ đô la. Có một điểm đáng lưu ý, hai nhiệm kì Hồ Cẩm Đào làm Tổng bí thư, xuất thân là cựu sinh viên đại học Thanh Hoa, kĩ sư thủy lợi, nhưng ông không một lần đặt chân đến Tam Hiệp.

Theo dự báo và cũng là thực tế đã xảy ra, tháng 7 năm nay có mưa lớn chưa từng thấy ở miền thượng lưu sông Dương Tử. Dư luận Trung Quốc lo ngại “đại hồng thủy”, đập Tam Hiệp đã nhiều lần phải mở cửa xả lũ, có thể không chống đỡ nổi, khiến 400 triệu dân dưới hạ lưu, bao gồm Vũ Hán, Thượng Hải bị đe dọa.

Như vậy đập thủy điện Tam Hiệp được thiết kế chủ yếu để kiểm soát lũ lụt, nhưng bây giờ nó chính xác là làm tăng nguy cơ lũ lụt. Cả thượng lưu và hạ lưu đều chịu áp lực rất lớn, nếu không xả nước, thượng lưu sẽ bị ngập. Xả nước thì hạ lưu bị ngập. Kết quả là hai phía đều bị ảnh hưởng. Những tin tức xấu không ngừng được tiết lộ. Tân Hoa Xã đưa tin các sông ở thượng lưu Dương Tử, các sông Ô giang, Mân giang, Đà giang đều mưa to lũ lớn, lượng nước đổ vào hồ thủy điện Tam Hiệp tăng gấp đôi. Huyền thoại có thể là hoang ngôn. Từ khi đập Tam Hiệp bắt đầu tích nước cho đến nay, thời gian đủ dài để có thể nhìn lại hiện thực và suy ngẫm.

Lạnh nhìn đập Tam Hiệp, quy trình chế một trái bom

TP – Đập thủy điện Tam Hiệp được thiết kế chủ yếu để kiểm soát lũ lụt, nhưng bây giờ nó chính xác là làm tăng nguy cơ lũ lụt. Cả thượng lưu và hạ lưu đều chịu áp lực rất lớn, nếu không xả nước, thượng lưu sẽ bị ngập…

Ở Mỹ, có một người phụ nữ bị gặp tai nạn giao thông…

Tho Nguyen and Hieu Vo shared a post.
Image may contain: one or more people, people sitting and baby
Mai-Agnetha Pham is with Mai-Agnetha Pham.

Nguồn: Fb Peter Nguyen

Ở Mỹ, có một người phụ nữ bị gặp tai nạn giao thông. Khi đưa vào bệnh viện cấp cứu thì phát hiện người phụ nữ đã trở thành người thực vật nhưng bên cạnh đó bác sĩ phát hiện cô ấy cũng đã mang thai được 3 tháng. Các bác sĩ đã truyền thức ăn nuôi sống đứa trẻ trong khi mẹ của bé vẫn hôn mê.

Sau nửa năm thì cũng đến ngày đứa bé chào đời. Nhưng khó khăn lớn nhất ở đây là nếu các bác sĩ mổ để lấy đứa bé ra mà người mẹ tắt thở nửa chừng thì đứa bé cũng sẽ chết.

Họ họp với nhau rất nhiều lần nhưng ko thể tìm ra cách tốt hơn. Cuối cùng họ quyết định vẫn mổ để đem bé ra.

Trước khi mổ, vị bác sĩ kề vào tay người mẹ thì thầm : “Hôm nay là ngày chúng tôi mổ để lấy đứa con của chị ra. Chị hãy ráng giữ hơi thở để con chị có thể chào đời.” và rồi họ tiến hành.

Quá trình mổ tiến hành thuận lợi, người mẹ vẫn duy trì hơi thở và may mắn khi đứa bé đã được cất tiếng khóc chào đời nhưng đó cũng là lúc người mẹ trút hơi thở cuối cùng ra đi mãi mãi.

Các bác sĩ nhìn chị ngậm ngùi. Họ biết rằng chị đã cố gắng hơi thở cuối cùng vì đứa con bé bỏng của mình và đôi mắt của chị là 2 dòng lệ tuôn trào….

Đó là dòng lệ của sự vui mừng vì con mình chào đời nhưng cũng là dòng lệ đau buồn khi biết rằng mình phải vĩnh viễn ra đi, không một lần có thể ẵm con trong vòng tay, không thể chăm sóc nhìn con lớn khôn nữa..

Quỳnh Giao, Nhìn Từ Bên Nhật

Hoang Le Thanh
Quỳnh Giao, Nhìn Từ Bên Nhật.

Tác giả: Nguyễn Hữu Nghiêm.

Lời giới thiệu: Vũ Đăng Khuê

Đăng trên trang Fb: Kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa – Xuan Nguyen

*

Tôi có một người bạn khá thân cùng tuổi, học cùng trường Nhật Ngữ vào khoảng năm 1972, tôi thân với hắn là vì hắn “chịu” nghe tôi nói, ít khi “phản luận” nhiều khi lý luận của tôi lúc đó ngang phè như cua. Hắn thường rủ tôi tới nhà để nghe tôi nói và… làm “mồi” cho tôi nhậu. Dạo đó, thỉnh thoảng hắn có cho tôi đọc một vài bài thơ và một vài bài viết về ý tưởng của hắn về đất nước, về quê hương, tôi chỉ nghe cho có chuyện.

Tháng 4/1975, “giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay chém giết đồng bào”, hắn rời Nhật sang định cư ở Mỹ. Năm 1980, tôi gặp lại hắn tại Hoa Kỳ vì sinh hoạt trong cùng tổ chức Người Việt Tự Do.

Năm 1983 vì một vài lý do khách quan tôi mất liên lạc với N. từ đó. Tôi chỉ biết tin hắn qua một tên anh họ “phốp pháp” mà trong nhóm sinh viên du học Nhật Bản của tôi thời đó người nào cũng biết là Phước mập: “Ê Khuê, chụp với tao tấm hình về để cho thằng N. biết mày hình dạng ra sao? hay “Thằng N. hỏi thăm mày hoài”. Tôi chỉ biết vậy và không hỏi thêm. Tháng 3 năm ngoái, tôi có dịp sang Mỹ và nhất định phải gặp cho được hắn, tôi mãn nguyện sau cái đêm ngất ngư với hắn tại nhà vì thấy nó nói nhiều hơn trước.

———

Nghe tin nữ ca sĩ Quỳnh Giao mất, tôi đã viết đâu đó trong mail gửi cho bạn bè:

– Có thể có người hợp hay không hợp nhưng Quỳnh Giao là một trong những ca sĩ chuẩn nhất của miền Nam Việt Nam.

Tôi bồi hồi nhớ lại: Năm 1970, lúc còn học lớp luyện thi Tú Tài của thầy Phạm Huy Ngà và Vũ Bảo Ấu tại trường Thăng Long, tôi đã học chung lớp với một cô có tên Vân Quỳnh, trong ban nhạc Mây Bốn Phương gồm bốn người là Quỳnh Giao, Vân Quỳnh, Vân Khanh và Vân Hòa. Tôi thích ban Bốn Phương với những bài hát chia rất nhiều bè có tính cách chuyên nghiệp như bài Lữ Hành của nhạc sĩ Phạm Duy trong băng nhạc Jo Marcel. https://www.youtube.com/watch?v=Vs9anPP1Rbc

Sau này, tôi biết cô Quỳnh này là em gái của nữ ca sĩ Quỳnh Giao. Cô Quỳnh này chắc cũng chẳng biết tôi là ai vì lớp luyện thi có cả hơn trăm mạng.

Năm 1983, trong ngày lễ ra mắt của em gái tôi sau khi lấy chồng ở bên Mỹ, không có tôi nhưng có bố mẹ tôi. Đem hình về cho tôi xem thì tôi nhận ra được ca sĩ Quỳnh Giao, vợ của kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa. Tôi hỏi bố tôi: “bố có biết ca sĩ Quỳnh Giao này không?”, bố tôi cho biết có nghe tên, chắc là có gặp. Sở dĩ bố tôi nói thế là vì dạo thập niên 1960, ông là chủ sự phòng nhân viên của đài phát thanh Saigon, thường tiếp xúc để sắp xếp cho các ca sĩ hát. v.v…

———

Tôi định viết một bài về nữ ca sĩ khả ái này nhưng hôm nay N. gửi tôi bài viết dưới đây, đã nói hộ tất cả những điều tôi muốn nói. Không dài giòng, xin trân trọng mời mọi người đi vào bài viết của Nguyễn Hữu Nghiêm, thằng bạn ít nói. Tôi hơi ngạc nhiên vì chẳng bao giờ nghe N. nói về âm nhạc cả.

Vũ Đăng Khuê

*

ĐỂ TƯỞNG NHỚ MỘT VÌ SAO

Nguyễn Hữu Nghiêm

Tối hôm đó như lệ thường, sau khi đọc một số điện thư, viết vài thư cần thiết, tôi vào tờ báo mạng quen thuộc để đọc tin tức, và một số bài viết thường xuyên trên báo. Sau khi lướt qua các mục tin tức thế giới, Hoa Kỳ …thấy không có gì khác lạ, tương tự như những tin tức trong một tờ báo Mỹ địa phương mà tôi đã đọc hồi sáng, tôi vội tìm sang phần tin Cộng đồng xem có gì đặc biệt. Bỗng một hàng tin đập vào mắt khiến tôi không khỏi sửng sốt, bàng hoàng: Nghệ sĩ Qưỳnh Giao qua đời, hưởng thọ 68 tuổi. Mở tin ra đọc, tôi mới biết là thời gian qua chị bị lâm trọng bệnh và mới qua đời buổi sáng ngày hôm đó. Đã khá lâu không thấy bài của chị đăng trên báo, tôi cứ tưởng là chị bị bận một số công việc nên không có thì giờ để viết bài. Nào ngờ…

Thú thật, tôi không phải là một trong những người mến chuộng giọng hát của chị. Đó là giọng ca truyền cảm, rất sang cả, quí phái. Giọng hát của chị cũng như các bản nhạc chị trình bày rất kén chọn người nghe mà tôi lại không phải trong thành phần được kén chọn đó. Với tôi, tiếng hát của Khánh Ly, Lệ Thu, Duy Trác, Sĩ Phú… lúc xưa và Ngọc Lan, Quang Dũng…. sau này với các bản tình ca của Trịnh công Sơn, Vũ thành An, Ngô thụy Miên… vẫn là những tiếng hát thấm đẫm vào tâm hồn của tôi hơn.

Tuy nhiên tôi mến mộ chị ở lĩnh vực khác. Cách nay khoảng mười năm, tình cờ một hôm khi đọc báo Người Việt, tôi thấy có một bài viết về một đề tài văn học, tác giả ký tên là Quỳnh Giao. Tò mò tôi mở ra đọc thử. Bài viết khá công phu, tác giả có một kiến thức về văn học Việt Nam uyên bác, thâm sâu. Khi đó tôi thắc mắc trong lòng: Quỳnh Giao có phải là nữ ca sĩ Quỳnh Giao? Vì theo sự hiểu biết hạn hẹp của tôi thì từ truớc đến giờ người nữ ca sĩ này có bao giờ viết lách gì. Rồi tôi tiếp tục đọc tiếp thêm mấy bài viết sau đó. Những bài này thì tác giả viết về đề tài âm nhạc. Khi đó thì tôi khẳng định tác giả Quỳnh Giao chính là ca sĩ Quỳnh Giao. Thế rồi từ đó tôi thường xuyên đọc các bài viết của chị .

Bằng bút pháp điêu luyện, trong sáng, nhẹ nhàng với những nhận xét hết sức tinh tế và mẫn cảm, tác giả đã mở cánh cửa cho chúng ta cảm thấy cái hay, cái độc đáo của các ca sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng một thời ở miền Nam tự do thân yêu.

Những bài viết theo cảm nghĩ của tôi, được viết từ sự xúc cảm chân thành, bởi sự rung động của con tim trước cái đẹp của nghệ thuật âm nhạc, nên rất sống động, hấp dẫn người đọc, chứ không phải như một bài biên khảo khô khan, nặng nề. Qua những cảm nhận của tác giả cho chúng ta thấy, tác giả nghe nhạc không chỉ bằng đôi tai thẩm âm lão luyện của mình mà còn hoà nhập con tim của mình vào tiếng hát và bài nhạc.

Cũng chính nhờ những bài viết này mà một kẻ dốt đặc về âm nhạc như tôi đã hiểu biết được đôi chút về lĩnh vực này. Trước đây khi nghe ca sĩ trình bày một bản nhạc mà mình ưa thích, tôi thấy hay nhưng không biết giải thích hay ở chỗ nào. Bây giờ nhờ tác giả mà cánh cửa vô minh của tôi đã phần nào được khai mở. Đối với tôi đó là một vui sướng, một hạnh phúc thật tuyệt vời.

Hãy đọc một đoạn chị viết về nữ ca sĩ Thái Thanh: ”Thái Thanh có sự bén nhạy thiên phú để hát mạch lạc từng câu từng chữ, với âm sắc hoàn toàn Việt Nam. Cái “hồn Việt” chúng ta nói đến trong tiếng hát của bà được bắt gặp trước tiên ở cách hát cho rõ lời. Cũng vì vậy, đòi Thái Thanh hát nhạc ngoại quốc là chưa bắt được cái “thần” của bà. Thái Thanh là người hoàn toàn Việt Nam từ cốt tủy. Và hát hay nhất các ca khúc về mẹ. “Bà mẹ Gio Linh” của Phạm Duy không thể nào sống mãi trong chúng ta, dù chiến tranh đã tàn, nếu không có cách diễn tả của Thái Thanh, “Giọt mưa trên lá” cũng thế. “Tình ca” cũng vậy. Ngay trong tiếng nức nở về tình yêu và chinh chiến, từ “Buồn tàn thu” xa xưa đến “Kỷ vật cho em” hay “Bài hương ca vô tận” về sau, Thái Thanh vẫn làm chúng ta rùng mình không vì nỗi lòng thiếu nữ mà là tâm tư của thiếu phụ…”

Hay về nhạc sĩ Phạm đình Chương:

“…Phạm Ðình Chương không đi theo đám đông mà tự tạo một thế giới âm thanh riêng, ông không viết cho thị hiếu quần chúng hay trào lưu của xã hội. Ông mở ra trào lưu riêng. Phạm Ðình Chương chỉ biết buồn và viết nhạc buồn khi viết về tình yêu.

Ngoài Quang Dũng với các thính giả miền Nam, nhiều thi sĩ thực ra có món nợ với Phạm Ðình Chương khi ông phả thơ của họ vào cõi nhạc để đọng mãi trong hồn người. Nhiều người yêu nhạc đã tìm đến thơ cũng nhờ thanh âm Phạm Ðình Chương. Ông nắm lấy cái hồn của bài thơ và vẽ ra một không gian khác, một tâm tư khác, bằng nhạc. Phải chăng vì những bằng hữu chí thiết nhất của ông là những nhà thơ, nhà văn, những người cầm bút?…”

Hoặc Anh Ngọc, Sĩ Phú:

”Quỳnh Giao sở dĩ gọi giọng hát của danh ca Anh Ngọc là trượng phu vì chất sang sảng, chắc nịch, đầy nam tính. Khi hợp ca, giọng Anh Ngọc bao trùm lên các giọng khác…”

“Lạ một điều là giọng hát Sĩ Phú tương phản với vóc dáng của ông. Giọng Sĩ Phú nhẹ lắm, hát gần như thủ thỉ. Cái lối thủ thỉ ấy thật tuyệt khi hát những bài có nội dung kể chuyện, nhất là kể chuyện tình. Các ca khúc “Cô Láng Giềng” của Hoàng Quý, “Cô Hàng Cà Phê” của Canh Thân, được ông kể bằng giọng nhỏ nhẹ, nghe như vừa đủ bên tai một câu chuyện thật ra chẳng có gì đặc sắc, mà sao lại rất quyến rũ….”

Phải có một kiến thức thật sâu sắc, một tấm lòng vô cùng trân quí âm nhạc, tác giả mới có được những nhận xét hết sức tinh tế và sắc sảo như thế.

Chị không những chỉ viết về các ca sĩ, nhạc sĩ Việt Nam, mà chị còn viết thêm về những danh tài lẫy lừng quốc tế nữa. Ngoài ra chị còn bước sang lĩnh vực thời trang với những bài viết về nước hoa, ví xách, quần áo… Bài viết của chị ở địa hạt nào cũng đều rất thú vị, hấp dẫn người đọc. Những kiến thức và tài năng chị có được có lẽ nhiều phần là từ thuở bé chị đã được nuôi dưỡng trong cái nôi văn học và âm nhạc Việt Nam thời bấy giờ.

Thân mẫu chị là nữ ca sĩ một thời vang bóng Minh Trang và người cha kế là nhạc sĩ tài danh Dương thiệu Tước. Giòng máu nghệ thuật đã chảy trong huyết quản của chị từ tấm bé, cho nên không những chỉ có giọng ca điêu luyện, chị còn là một dương cầm thủ tài ba, đậu thủ khoa khi tốt nghiệp trường Quốc Gia Âm Nhạc. Cách nay ít năm những bài viết của chị đã được gom lại xuất bản thành sách với tựa đề: Tạp Ghi Quỳnh Giao.

Đây là tác phẩm đầu tiên mà cũng là cuối cùng mà chị hiến tặng cho đời.

Nhiều khi tôi thắc mắc tự hỏi, tại sao những kẻ đầy tài hoa và nhân cách như ca sĩ Ngọc Lan, nhà báo Lê Thiệp, ca nhạc sĩ Việt Dũng, nghệ sĩ Quỳnh Giao…. trời không cho sống lâu hơn. Để họ có thể cống hiến thêm cho đời, cho tha nhân những tài năng, những tâm huyết mà họ sở đắc và ấp ủ. Tôi chợt liên tưởng đến thuyết tài mệnh tương đố mà cụ Tiên Điền Nguyễn Du đã nêu lên trong truyện Kiều. Nghĩ đến khiến tôi không khỏi ngậm ngùi thương tiếc.

Riêng với Quỳnh Giao, tôi thương tiếc chị không chỉ vì từ đây tôi không còn được đọc những bài viết rất bổ ích, linh động, đầy giá trị nghệ thuật mà tôi còn hết sức tiếc là từ đây trên văn đàn sẽ thiếu vắng một cây bút duyên dáng và tài ba. Khi một nhân vật nổi tiếng trong lĩnh vực nghệ thuật qua đời, người ta thường bảo là một vì sao trên nền trời âm nhạc, văn học,… vừa vụt tắt. Nhưng với tôi, những vì sao này không bao giờ tắt, luôn luôn chói sáng trong tâm tưởng của những người mến mộ họ.

Tôi tin rằng ở thế giới bên kia, nơi chị đang nghỉ ngơi yên bình, luôn vang lừng tiếng nhã nhạc, thánh thót như giọng hát trong như pha lê, du dương như tiếng đàn dương cầm, và mượt mà như những giòng chữ trong những bài tạp ghi của người nghệ sĩ tài hoa Công Tằng Tôn Nữ Đoan Trang Quỳnh Giao.

Mùa Hè 2014
Nguyễn Hữu Nghiêm

*

Copy từ FB Nhà kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10208092070697547&id=1773354689

Image may contain: 1 person, standing, child and outdoor

Đã đóng cửa khu giải trí Quỷ Núi.

Từ Thức to TT GROUP
Image may contain: outdoor
Từ Thức

Đã đóng cửa khu giải trí Quỷ Núi. Nghĩa là việc gào thét, phẫn nộ trên mạng đôi khi cũng có ích, ngay cả trong một chế độ độc tài.

Không phải họ tôn trọng dư luận, biết nghe lẽ phải. Họ chỉ sợ bứt dây động rừng, sợ hình ảnh thô bỉ của quỷ núi sẽ khiến thiên hạ chú ý đến chuyện họ tàn phá cả một thanh phố thơ mộng của người Pháp để lại, để làm doanh thương địa ốc kiếm tiền một cách thô bạo

Không còn quỷ núi, nhưng quỷ rừng, quỷ thành phố, quỷ hồ ao, bãi biển, ở Đà Lạt hay khắp nơi trên toàn quốc, vẫn tiếp tục hoành hành. Quá trễ, quá mạnh để trừ yểm.

Thờ ơ, nhắm mắt là một cách đồng loã với tội ác, với ma quỷ, với sự ngu dốt, man rợ.

Cứu nước khó, nhưng đôi khi có thể cứu một ngọn núi, một khu rừng, một cây bàng, nếu không ngồi khoanh tay, chép miệng. Bày tỏ phẫn nộ cũng là một cách đóng góp, nếu không muốn ”làm chính trỊ ”. Có còn hơn không.

TRUNG CỘNG MUA NƯỚC MỸ

TRUNG CỘNG MUA NƯỚC MỸ

Để bổ túc thêm cho người đọc thấy nhiều việc rõ hơn là từ năm 1994 chính Mai Chí Thọ có gửi thư mời tôi về để trainning về mạng cho công an CSVN thời đó . Ông Thọ nói với tôi lúc đó qua thư là ” Tôi chỉ cần anh trainning như thế nào khi có 1 thằng tù vượt ngục mà công an đánh tên nó lên thì cả nước phải biết.”

Tôi có hỏi chi phí do ai trả thì Thọ nói sẽ do chính phủ Hoa Kỳ đài thọ. Sau đó một nhân vật trong Cty Clothe Times thời đó tới liên lạc với tôi và nói rỏ là tôi nếu đồng ý sẽ nằm trong 1 ủy ban 10 người mà trong đó chỉ có mình tôi là VN . Đây là nhóm computer nhà nghề sẽ về VN trainning cho CSVN mạng network và do ủy ban của 😭 Clinton tài trợ cho CSVN 1994. Tôi sau đó đã từ chối và đi China chơi. Đến năm 1995 khi CSVN đã bắt đầu biết dùng mạng để kiểm soát xã hội thì chính quyền Clinton dở bỏ lệnh cấm vận và cho SP500 đầu tư ào ạt vào Việt Nam . Chính nhờ việc làm ngu xuẩn nhưng để lấy tiền “under table” đổ vào các Cty Clinton Foudation của vợ chồng Clinton. Thời đó tôi đang bị thất nghiệp, lang thang từ Thượng Hải đến Bắc Kinh, Giang Nam, Tô Châu, Quế Châu…không có nơi nào mà tôi không đến . .Lúc này tôi còn đang độc thân sau khi ly dị với x-wife.

Bài học lớn nhất mà tôi biết được qua thực tế ở Tàu là : Chổ nào cũng đúc tượng Bill Clinton. Ở Quế Châu cũng có 1 chổ Bowling đúc tượng Clinton trên 1 vách núi song song với Đặng Tiểu Bình .

Nhờ thế tôi mới biết rằng chính quyền Mỹ không phải ai cũng đánh Tàu Cộng. Ngay cả chính gia đình Bush cùng với những công ty khổng lồ như Microsoft, Apple, Walmart, Mc Donald, KFC…và ngay cả phe của đảng Dân Chủ là ủng hộ Tàu Cộng 100% .

Có nhiều người hỏi vì sao Bill Gates ủng hộ Tàu Cộng ?

Trước năm 1995 sau thành công của Windows 95 thì Bill Gates trở thành tỉ phú, tất cả các computer sản xuất ở Mỹ đều phải mua License của Windows trước khi xuất xưởng . Khi Novell ra bộ Network Novell thì Bill Gates sợ mất chổ đứng nên phải gấp rút ra MCSE tức là Microsoft Certified System Engineer rộng và dài hơn Novell . Lúc đó thị trường ở Hoa Lục và Việt Cộng gần 100% xài bản sao lậu và không đóng cho Bil Gates đồng nào . Sau khi dở bỏ cấm vận Việt Nam và tìm cách tiếp xúc với thị trường Tàu thì cả Bill Gates và Steve Jobs của Apple đều cho người chạy qua Tàu và tìm cách xin License của Tàu Cộng và VN .. Tôi không nhớ rỏ là lúc nào nhưng mà trước năm 2000 thì CSVN qua Cty đại diện của Microsoft ở VN là FPT gì đó tôi không nhớ rỏ là bằng lòng trả cho Microsoft và Apple khoảng gần 1 US Dollar cho mỗi bản quyền xử dụng tại VN . Còn về phía Tàu Cộng thì hình như là dưới $ 3.00 cho mỗi bản quyền xử dụng . Nên nhớ lúc đó vì Clinton cho SP500 được giảm thuế tối đa nếu đầu tư vào Hoa Lục nên nhiều tư bản Mỹ làm ăn chung với Tàu sản xuất ra máy Computer “Great Wall” bán cả trăm triệu máy vào Hoa Kỳ giết luôn Công Ty của Mỹ là AST lúc đó và còn nhiều Cty khác của Mỹ chết thê thảm . Cty của Tàu Fry’s Electronic lúc đó cũng giết rất nhiều Cty bán lẻ của Mỹ như Soft Ware House…..và còn đến ngày nay .

Kể cho các bạn nghe những gì tôi biết qua chính tai nghe mắt thấy về những việc làm của chính quyền Bill Clinton thời đó trong lảnh vực Computer mà thôi .Còn những lảnh vực khác cũng tương tự như vậy nhưng tôi không thấy thì không dám nói .

Do đó đến bây giờ Ông Donald J.Trump là người 😭 can đảm và duy nhất lên tiếng chống Tàu quyết liệt nhất mà chưa ai dám làm .Ông là vị 😭 vô cùng cô đơn và phải chống trả với quá nhiều người . Tôi xin chuyển bài viết này cho nhiều người được đọc và biết.

Thân kính
John Dao
Network Engineer
NLO ( Nationwide Lead Organizer )

TQ cảnh báo lũ lụt mức độ đỏ

https://www.facebook.com/RFAVietnam/videos/651881825398491/?t=9

Đài Á Châu Tự Do

TQ cảnh báo lũ lụt mức độ đỏ

Chính quyền tỉnh An Huy, Giang Tây và Chiết Giang ở Trung Quốc hôm 17/7 ra tuyên bố cảnh báo đỏ vì mưa lũ tiếp tục hoành hành ở nhiều vùng nông thôn và đô thị rộng lớn.

Kể từ đầu tháng 6, mưa lũ đã khiến 33 con sông ở Trung Quốc đạt mức nước cao nhất từ trước đến nay. Hoạt động kinh tế ở Trung Quốc bị dự báo sẽ gặp thiệt hại nặng nề hơn cả ảnh hưởng của dịch Covid-19.