129 người mắc bệnh !!!
Vấn đề là họ đến bv nào.
Bv lớn ở VN đều đang quá tải bệnh nhân.
Mọi người hãy gìn giữ cẩn thận.


Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Tin Tức – Thế Giới , Việt Nam, Tin Hoa Kỳ
129 người mắc bệnh !!!
Vấn đề là họ đến bv nào.
Bv lớn ở VN đều đang quá tải bệnh nhân.
Mọi người hãy gìn giữ cẩn thận.

Người nông dân mất đất: Bi kịch từ ruộng đồng
Khi những người nông dân Dương Nội bị bắt, tôi định viết nhưng facebook chặn tôi 30 ngày. Tôi tự hỏi nếu đất đai của họ cùng bà con trong vùng được đền bù thỏa đáng ngay từ đầu, liệu họ có bất mãn lao vào, dấn thân, mang danh đấu tranh hay không?
Hiện nay, hầu hết đơn khiếu nại, tố cáo đều liên quan đến đất, đi đến đâu cũng có người nhờ tôi lên tiếng. Ở những nơi có phong cảnh đẹp nhất, giáp biển giáp sông, gần trung tâm nhất… lại là nơi có số người đi đòi nhà, đòi đất nhiều nhất.
Ban đầu, tôi thấy nhiều người hiền lành chân chất, năm tháng qua đi, đòi mãi, đòi mãi không được, họ trở nên cực đoan, cực đoan hơn bao giờ hết, thậm chí họ sẵn sàng giết người, trả thù. Có nét giống nhiều người bất đồng chính kiến, ban đầu tâm họ tốt, họ muốn lên tiếng cho một xã hội bình đẳng, nhân văn hơn. Rồi lên tiếng mãi không được, họ trở nên điên loạn, có vấn đề về thần kinh, họ chửi bất cứ ai, trừ họ, nếu lật đổ được bọn độc tài này, họ – những kẻ độc tài khác sẽ lên thay.
Cướp đất không cần sự đồng ý của chủ đất, toà án, không có từ ít nhất 2 cơ quan định giá độc lập… Có những nơi vài trăm ngàn đồng/ m2 đất bồi thường dành cho những người nông dân khốn khổ, nhanh chóng vọt lên hàng trăm triệu/ m2 sau quá trình hợp thức hoá. Nếu không có những sự thay đổi cần thiết về thể chế, luật đất đai, số lượng dân oan mất đất ngày càng nhiều, đến một lúc nào đó tất cả sẽ bùng nổ, không có phương hướng tất cả sẽ bạo loạn.
Thêm một tỷ phú đồng nghĩa với việc thêm rất nhiều người nông dân phải ra đường ngủ, tự tử, dính vòng tù tội, anh em trong nhà chém giết lẫn nhau.
Sinh ra từ đất rồi lại vùi mình trong đất. Xin được cầu nguyện cho tất cả.
– Đỗ Cao Cường
Bằng chứng sống về việc Trung Quốc diệt chủng người Duy Ngô Nhĩ
Không có ngôn từ nào có thể diễn tả được sự tàn độc, dã man và mọi rợ của Trung cộng diệt chủng dân tộc Duy Ngô Nhỉ.
Thụy My
RFI 24/07/2020
Ảnh: Biểu tình ngày 03/07/2020 gần Nhà Trắng kêu gọi chính quyền Mỹ có biện pháp trước tình trạng Trung Quốc đàn áp người Duy Ngô Nhĩ. © REUTERS/Leah Millis
« Mỗi ngày học viên rơi rụng dần, trong khi ban đầu họ đều khỏe mạnh. Họ dần yếu đi, có người thậm chí còn đi không nổi (…) Một trại khác dành cho nữ, hầu hết là các nữ sinh viên Duy Ngô Nhĩ du học, bị bắt khi về Tân Cương thăm gia đình. Tháng 12/2017, một đợt nữ tù trẻ được thả ra ở Urumqi, một số bị tra tấn đến nỗi phải cưa tay hoặc chân, số khác trở nên điên loạn. »
Sau khi một bản báo cáo về việc Trung Quốc cưỡng bức người Duy Ngô Nhĩ triệt sản được công bố, nhật báo Libération đã gặp được một nữ giáo viên Duy Ngô Nhĩ tị nạn tại châu Âu. Là nạn nhân bị triệt sản, người phụ nữ này cũng là nhân chứng vì từng làm việc trong các trại « cải tạo » ở Tân Cương. RFI xin giới thiệu bài viết (đã được lược bớt).
Cưỡng bức triệt sản phụ nữ
« Tất cả các phụ nữ tuổi từ 18 đến 50 tại khu phố tôi ở Urumqi đều được triệu tập ngày 18/07/2017 để « khám miễn phí » và bắt buộc. Vào lúc 8 giờ sáng, hàng người đã rất dài trước bệnh viện. Khi đến lượt tôi, chẳng có khám phụ khoa lẫn hỏi han gì cả. Họ bắt tôi nằm xuống, dạng chân ra và đặt vào một vòng tránh thai. Một sự thô bạo khủng khiếp. Tôi bật khóc, cảm thấy bị hạ nhục, bị tấn công cả về tính dục lẫn tâm lý. Nhưng tôi làm việc trong một trại cải tạo, và biết những gì chờ đợi mình nếu cưỡng lại. Có những cô gái rất trẻ. Tôi không thấy bất kỳ một phụ nữ người Hán nào ».
Qelbinur Sidik Beg lúc đó 48 tuổi, có một con gái duy nhất đang học về y sinh học tại châu Âu. Nếu có thêm con thứ hai không phải là bất hợp pháp, vì cách đó bốn năm Trung Quốc đã chấm dứt chính sách mỗi gia đình chỉ có một con, và các sắc tộc thiểu số ở Tân Cương cho đến năm 2016 vẫn có quyền sinh ba con. Nhưng bà là người Duy Ngô Nhĩ, như 11 triệu người Hồi giáo nói tiếng Thổ khác đang bị chế độ cộng sản đàn áp.
Đọc thêm: « China Cables » : Lời chứng của một người Duy Ngô Nhĩ sau 11 tháng tù
Phóng viên Libération gặp Qelbinur Sidik Beg hôm 14/07/2020 tại một nước châu Âu mà bà không muốn tiết lộ. Bà đưa cho xem lệnh triệu tập còn lưu trong điện thoại : « Tất cả phụ nữ từ 18 đến 59 tuổi (độ tuổi cao nhất hàng năm lại được lùi thêm) đều phải đến. Nếu không hợp tác sẽ bị trừng trị ». Bek cho biết, nếu một phụ nữ Duy Ngô Nhĩ muốn sinh con, từ nay phải được phép của ba cơ quan : công an, cơ quan nơi làm việc và ủy ban nhân dân.
Cuộc đời của người giáo viên tốt nghiệp khoa văn minh Trung Hoa trường đại học Urumqi, xuất thân từ một gia đình gia thế, đã bị đảo lộn vào ngày 01/07/2017, khi được tuyển làm giáo viên trong một trại « cải tạo chính trị », vào lúc khởi đầu một chiến dịch tống giam hàng loạt người Duy Ngô Nhĩ, do cấp cao nhất ở Bắc Kinh quyết định.
Điều kiện giam giữ tồi tệ, cưỡng hiếp, tra tấn, triệt sản, sự vô nghĩa của công việc giảng dạy…Lời chứng độc đáo rất chi tiết của bà khẳng định tất cả những thông tin mà tờ báo đã thu thập được từ ba năm qua, từ những người tù hiếm hoi được thả hay thân nhân của họ, và những báo cáo, điều tra do các nhà báo và nhà nghiên cứu tiến hành, cho dù đảng Cộng Sản Trung Quốc đã chụp lên vùng đất này một bức màn sắt. Một minh họa quý giá tiết lộ những gì diễn ra bên trong hệ thống nhà tù, không thông qua xét xử và bạo lực khủng khiếp, nhắm vào một nhóm sắc tộc dưới danh nghĩa « huấn nghiệp » và chống khủng bố.
Quá trình đồng hóa Tân Cương bỗng trở nên thô bạo
Qelbinur Sidik Beg sinh năm 1969 tại Urumqi, thủ phủ Tân Cương cách Bắc Kinh 3.000 km, trong một gia đình có sáu người con. Tân Cương là vùng đất mênh mông thưa dân nằm ngay trục giao thương Trung Á, với cư dân hầu hết theo đạo Hồi : người Duy Ngô Nhĩ, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Uzbekistan, Tajikistan…
Cho đến thập niên 90, dù Tân Cương bị Trung Quốc cộng sản sáp nhập năm 1949, văn hóa truyền thống và nghệ thuật địa phương vẫn phổ biến, ngôn ngữ chính là Duy Ngô Nhĩ được viết bằng chữ Ả Rập, lên trung học mới dạy tiếng Hoa. Beg nhớ lại : « Chúng tôi có những hàng xóm người Hán và người Hồi giáo, chúng tôi chơi với nhau, vẫn chưa hề có thù hận. Các anh chị em tôi đều tốt nghiệp đại học, trở thành công an và quan chức hoặc kinh doanh phát đạt. Tôi coi mình là công dân Trung Quốc, thấy rằng chính quyền đã làm tốt trong việc phát triển kinh tế và giáo dục ở các vùng nông thôn ».
Đọc thêm: Học giả Đức tố cáo Trung Quốc “diệt chủng văn hóa” người Duy Ngô Nhĩ
Cú sốc đầu tiên diễn ra năm 2004, khi trường học Duy Ngô Nhĩ nhận lệnh phải trở thành « song ngữ », tức tiếng Hoa và tiếng Anh. Rồi sau vụ nổi dậy ở Urumqi năm 2009 và các vụ tấn công được cho là từ những người Duy Ngô Nhĩ đòi độc lập, cỗ máy thực dân của Bắc Kinh tăng tốc. « Kỳ thị chủng tộc ngày càng mạnh. Mẹ tôi phải cầu nguyện lén. Trong mùa chay Ramadan, hiệu trưởng trường tôi phân phát thức ăn nước uống để tìm ra những học sinh khả nghi ».
Năm 2016, Tân Cương bị đặt trong vòng kiềm tỏa của bí thư tỉnh ủy Trần Toàn Quốc (Chen Quanguo), từng hoành hành ở Tây Tạng. Lấy cớ chống cực đoan, ly khai và khủng bố, quá trình đồng hóa trở nên thô bạo. « Họ bắt người vào ban đêm. Tại khu nhà tôi ở, những cư dân ở tầng một, tầng hai rồi tầng bốn lần lượt biến mất, tờ giấy « Cấm vào » được dán ngoài cửa. Ở trường, các bé học sinh khóc hỏi vì sao mẹ bị bắt. Mỗi đêm tôi đi ngủ mặc nguyên trang phục ban ngày, vì không muốn bị đưa đi trong lúc mặc đồ ngủ ».
Trong địa ngục cải tạo
Ngày 28/02/2017 Qelbinur Sidik Beg được triệu tập đến ủy ban nhân dân. Bà không ngạc nhiên vì là người chịu trách nhiệm quản lý nhân sự và cơ sở dữ liệu. Cùng với bà có bảy giáo viên khác : sáu người Hán và một người Duy Ngô Nhĩ. Ba cán bộ cho biết « chính quyền đã tập họp những người ít học » và họ được chọn để giảng dạy. Bà ký vào những mẫu đơn trong đó có cam kết không được tiết lộ với ai, nếu không «cả gia đình sẽ bị trừng phạt».
Từ năm 2014 một đồng nghiệp xuất thân từ vùng quê xa đã nói với bà về một trại cải tạo ở cách Urumqi 1.000 km, và hai năm sau, cũng người này hoảng loạn cho biết cha mẹ và ba người anh của mình bị bắt. Công an nói : « Cầu nguyện à ? 10 năm tù. Đọc kinh Coran hả ? 8 năm tù ». Phụ nữ trong vùng bị buộc thắt ống dẫn trứng. Beg nghĩ rằng điều này không thể xảy ra ngay tại thủ phủ. Ở Tân Cương, một hố sâu lớn ngăn cách người thành thị và thôn quê, nói tiếng quan thoại là ưu thế quan trọng để có tương lai.
Ngày 01/03, theo cuộc hẹn bí mật, Qelbinur Sidik Beg đứng đợi lúc 7 giờ sáng ở một trạm xe buýt, gọi điện cho một công an viên đến đón. Bà được đưa đến một khu nhà bốn tầng ở ngoại ô, nằm sau một ngọn núi, bao quanh là những bức tường rào kín kẽm gai, vào bằng một cửa sắt điều khiển bằng điện. Có các công an vũ trang, khoảng 12 nhân viên, cán bộ, y tá, giáo viên. Từ các màn hình trong phòng điều khiển, bà thấy 10 xà lim, mỗi xà lim có 10 người tù. Các phòng giam chật hẹp này chìm trong bóng tối, cửa sổ bị đóng kín bằng các tấm kim loại. Không có giường, chỉ có mền trải trên sàn cho 97 tù nhân. Họ mới nhập trại cách đó hai tuần, vẫn còn nguyên râu tóc, trong đó có 7 phụ nữ.
Đọc thêm: Trung Quốc chi 10 tỉ đô la một năm để kềm kẹp Tân Cương
Trong cuộc trao đổi với nhà báo, Qelbinur Sidik Beg cho biết rất chi tiết, miêu tả thêm bằng hành động. Đôi khi bà bật khóc và ra khỏi phòng để cố trấn tĩnh.
«Học viên vào lớp theo từng nhóm 10 người. Họ mang xiềng xích ở tay và chân. Khi tất cả đã ngồi vào những chiếc ghế nhựa, không có bàn, người ta cho tôi vào lớp. Có nhiều người đàn ông đã trên 70 tuổi với bộ râu dài. Lẽ ra tôi phải tỏ ra kính trọng họ, nhưng họ vẫn cúi đầu, một số người khóc. Tôi chào ‘Salam aleikoum’, nhưng không ai trả lời. Tôi hiểu rằng mình đã nói một điều bị cấm tiệt». Sau khi liếc qua 8 camera giám sát, bà tự giới thiệu và bắt đầu bài học tiếng Hoa đầu tiên, lòng thầm cầu nguyện được sống sót ra khỏi địa ngục này.
Đến trưa, Qelbinur Sidik Beg giúp phân phát thức ăn cho các «học viên». «Người ta đổ cháo vào chén, nhưng tôi chẳng thấy hạt gạo nào, chỉ toàn nước nóng». Mỗi người được một « momo » (bánh bao hấp kiểu Tây Tạng). Tại một xà lim toàn người già, bà âm thầm cho thêm hai bánh bao, nhưng sau bữa ăn một công an hạch hỏi vì sao thiếu hai cái bánh, may mà một nhân viên đỡ lời, nói bà đếm nhầm. Định lấy nước pha trà, nhưng các đồng nghiệp vội vàng ngăn lại: « Không, đừng uống, nước trong bình đó dành cho tù nhân, chưa sôi ».
Những cái chết bí ẩn và nạn tra tấn tù nhân
Qelbinur Sidik Beg có hợp đồng sáu tháng. Sau ba tuần lễ đầu, bà quen dần với 97 học viên. Họ không có tên, chỉ có một con số in lên chiếc áo màu cam. Có một học viên rất đẹp trai và thông minh tên Salim (tên đã được đổi), là một trong những người giàu có nhất Urumqi trước khi gia tài bị Nhà nước phong tỏa. Mỗi ngày anh đều năn nỉ bà giáo cho thêm vài phút nhìn thấy ánh sáng mặt trời, qua một khe vuông 20 cm trong phòng học. Đến một hôm Salim biến mất, anh bị cao huyết áp và chết vì xuất huyết não.
Một nam học viên nữa mà bà rất quý vì rất tích cực, nghĩ rằng một ngày nào đó sẽ được thoát ra. Anh ngã bệnh vì nhiễm trùng, và chết trước khi đến bệnh viện. Thanh niên này và Salim qua đời chỉ sau ba tuần vào trại. Mỗi ngày học viên rơi rụng dần, trong khi ban đầu họ đều khỏe mạnh. Họ dần yếu đi, có người thậm chí còn đi không nổi.
Đọc thêm: Bắc Kinh giở đủ trò để ngăn các nhà báo đến Tân Cương
Ngày 20/03, tầng một của trại được những người mới đến lấp đầy, họ bị cạo trọc. Khác với lớp đầu tiên gồm nhiều tu sĩ lớn tuổi, lần này là các trí thức, doanh nhân, sinh viên, mà tội duy nhất là dám sử dụng Facebook vốn bị cấm tại Trung Quốc. Dạy tiếng Hoa cho họ trở thành vô nghĩa, Beg bèn phân phát những bài ca cộng sản. Cửa vào lớp chỉ mở hé với một sợi xích treo ngang, buộc học viên phải bò vào hoặc nhảy qua. Tâm trạng hoảng loạn có thể đọc thấy trong ánh mắt họ. Và rồi mỗi giờ lại có 100 người khác được gởi đến. Học viên được vào nhà vệ sinh ba lần một ngày vào giờ ấn định, và tắm mỗi tháng một lần, không quá 15 phút.
Nhiều tuần lễ trôi qua, bà không hé răng về địa ngục mình đang trải qua. Nhưng ngay cả khu nhà ở của Beg cũng trở thành một nhà tù mở, với những vụ bắt bớ xảy ra hàng ngày trên đường phố. Sử dụng WhatsApp hay liên lạc với nước ngoài là đủ để vào tù. Một người hàng xóm nhờ bạn người Hán gọi cho con trai ở Kyrgyzstan bảo đừng về Tân Cương, ngay trong đêm người này đã bị năm công an đến bắt đưa đi mất tích.
Sáu tháng sau, số tù nhân nhập trại đã lên trên 3.000 người, chen chúc 50-60 người một phòng, thay phiên nhau ngủ. Mỗi ngày hai, ba người, đôi khi bảy người bị gọi lên bất kỳ lúc nào. Phòng tra tấn nằm dưới tầng hầm. « Những tiếng kêu la vang vọng trong khắp tòa nhà, tôi nghe thấy khi ăn trưa và đôi khi lúc đang dạy học ». Một nữ công an vốn quen Qelbinur Sidik Beg từ trước vì có con là học trò của bà, bí mật cho biết một số thông tin. Theo đó, có bốn cách tra tấn bằng dụng cụ điện : ghế, găng tay, nón sắt, và dùng gậy điện thọc vào hậu môn.
Số phận nghiệt ngã của các nữ tù là trí thức trẻ
Tháng 9/2017 sau khi hết hợp đồng, Qelbinur Sidik Beg được chuyển sang một trại khác cũng ở Urumqi nhưng dành cho nữ. Đó là một tòa nhà sáu tầng bình thường ngay trong thành phố, đề chữ « Viện dưỡng lão ». Có đến 10.000 phụ nữ bị nhốt tại đây, đầu cạo trọc, chỉ khoảng 60 người là trên 60 tuổi.
Hầu hết là các cô gái trẻ xinh đẹp, học thức. Những thiếu nữ này là sinh viên du học ở Hàn Quốc, Úc, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, châu Âu hoặc Hoa Kỳ, bị bắt giam khi về nước thăm gia đình ; các cô có kiến thức rộng và nói được nhiều ngôn ngữ. Không có toa-lét cho tù nhân, chỉ có một chiếc xô được đem đổ mỗi tuần một lần. Không khí hôi thối khủng khiếp, nhiều người đổ bệnh vì tình trạng mất vệ sinh.
Mỗi thứ Hai, 10.000 nữ tù nhân xếp hàng tại phòng y tế. Y tá tiêm truyền tĩnh mạch, lấy máu và cho uống một viên thuốc màu trắng. Một nữ y tá nói với bà Beg họ cần calcium vì sống trong bóng tối, lấy máu để xét nghiệm bệnh truyền nhiễm, còn thuốc uống giúp dễ ngủ. Bà tự hỏi vì sao lại cần nhiều calcium như thế.
Đọc thêm: Trung Quốc đàn áp người Duy Ngô Nhĩ ngay tại Pháp
Một hôm đang lên cầu thang, Qelbinur Sidik Beg gặp một nữ công an đang chuyển xác một nữ sinh viên. Chỉ có bà và người công an này là người Duy Ngô Nhĩ trong trại, họ thường nói chuyện với nhau trong sân, nơi không có camera. Người này cho biết thuốc cho uống nhằm ngừa thai, thậm chí thuốc này còn được cho vào bánh bao, nhưng cô sinh viên vẫn có kinh và chết vì mất máu, và dặn bà giữ kín.
Khác với trại trước có nhiều nhân viên là người sắc tộc, ở trại nữ này cán bộ toàn là đàn ông người Hán. Một cô gái bị gọi đi lúc đang trong lớp, hai tiếng sau khi trở về tỏ ra đau đớn không ngồi được, công an la mắng và đưa đi. Beg không bao giờ gặp lại cô sinh viên ấy. Người nữ công an cho biết mỗi ngày có bốn, năm cô bị gọi lên để các cán bộ hiếp dâm tập thể, đôi khi dùng dùi cui điện cho vào chỗ kín và hậu môn.
Tháng 11/2017, đến lượt Qelbinur Sidik Beg bị xuất huyết, được cho đi nằm viện một tháng. Tháng 12/2017, một đợt nữ tù trẻ được thả ra ở Urumqi, một số bị tra tấn đến nỗi phải cưa tay hoặc chân, số khác trở nên điên loạn.
Một phần ba hàng xóm người Duy Ngô Nhĩ mất tích
Beg không bao giờ quay lại trại cải tạo nữa. Tháng 2/2018, bà đi dạy ở trường tiểu học cũ, nhưng đến ngày 16/04/2018, Beg cùng với 11 đồng nghiệp Duy Ngô Nhĩ khác bị buộc ký giấy về hưu tuy chưa đến tuổi quy định.
Thất nghiệp, sức khỏe yếu, bà làm đơn xin lại passport (ở Tân Cương, công an tịch thu mọi hộ chiếu) để đi thăm con gái lấy chồng tại châu Âu, nhưng bị cấm xuất cảnh vào phút chót. Hai hôm sau đám cưới, bà bị công an thẩm vấn suốt năm ngày. Họ nói con gái bà tham gia những cuộc biểu tình, Beg cãi lại thì công an cho xem Facebook của cô, cho thấy cô con gái đã xem một video bị cấm. Họ đòi con gái bà phải khai báo các thông tin cá nhân. Bị sách nhiễu, cô đành gởi các tài liệu mà họ đòi hỏi.
Đọc thêm: Tân Cương : Cứ 6 người dân, có 1 người bị đi cải tạo
Trong số 600 cư dân người Duy Ngô Nhĩ tại khu nhà của Qelbinur Sidik Beg, có đến 190 người biến mất trong vòng hai năm. Tại tầng một rồi tầng hai, những người nhập cư Trung Quốc dọn đến ở các căn hộ bỏ trống.
Năm 2019, nhờ các mối quan hệ, bà được phép rời Trung Quốc để đi chữa bệnh, nhưng phải đến trình diện 23 cơ quan khác nhau, ở mỗi nơi đều phải làm cam kết sẽ trở về sau một tháng (tuy có visa ba tháng), nếu không lương hưu sẽ bị cắt. Chồng bà cũng có visa sang châu Âu, nhưng bị buộc ở lại cho đến khi bà quay về.
Đến châu Âu vào tháng 10/2019, chính quyền Trung Quốc không ngớt quấy nhiễu, bà khai là vẫn còn phải nằm viện. Rồi đại dịch lan đến, Qelbinur Sidik Beg không thể trở về Tân Cương. Rốt cuộc bà quyết định xin tị nạn, và đấu tranh cho dân tộc Duy Ngô Nhĩ. Chính quyền Trung Quốc và kể cả chồng bà vẫn chưa biết điều này.
Nguồn: RFI
https://www.rfi.fr/…/20200724-b%E1%BA%B1ng-ch%E1%BB%A9ng-s%…




httpv://www.youtube.com/watch?v=N7ZvaCf_xV0
Trực Tiếp: Ác Giả Ác Báo” Mưa Lũ Lụt + Mưa Lớn” tại Trung Quốc Tiếp tục tăng cấp, ĐẠI Họa…

ĐCSTQ tự thừa nhận là “bóng ma” và “quỷ dữ”
Dưới đây là bài viết của Tiêu Kiệt Sâm thể hiện quan điểm riêng của tác giả.
Nguồn gốc của ĐCSTQ
Không mấy người Trung Quốc Đại Lục được xem qua tác phẩm gốc của Marx, hãy xem ý mở đầu của “Tuyên ngôn của đảng cộng sản”, được xem là tài liệu cương lĩnh của đảng cộng sản: “Một bóng ma, bóng ma của chủ nghĩa cộng sản”, đây là bản dịch của “Tuyên ngôn đảng cộng sản”. Vâng, gọi là “bóng ma” (u linh), trước đó trong bản dịch của Trần Vọng Đạo (Chen Wangdao) dịch là “quái vật”, vào những năm 1930 một người khác của ĐCSTQ là Hoa Cương (Hua Gang) thì dịch là “quỷ dữ”; từ gốc tiếng Anh là “spectre” có nghĩa là ma quỷ, âm hồn, sợ hãi vương vấn trong lòng, quỷ dữ. Sau đó ĐCSTQ gọt giũa là “bóng ma” (u linh).
Văn phòng Biên dịch của Trung ương ĐCSTQ ban đầu có tên gọi là “Cục Biên dịch Trung ương về tác phẩm của Marx, Engels, Lenin và Stalin”, là một đơn vị cấp Cục của Trung ương, tầm quan trọng tương tự hệ thống tuyên truyền của ĐCSTQ hiện nay. Đây là Cục Biên dịch chứ không phải Cục Phiên dịch, tức Cục này là có quyền chỉnh sửa và đánh bóng. Rất nhiều bài viết của chủ nghĩa Marx – Lenin không thể được xuất bản, cái gọi là “Toàn tập” chỉ là những phần được lựa chọn, và nếu chúng có thể được xuất bản ở Trung Quốc thì đã thông qua điều chỉnh của Cục Biên dịch Trung ương ĐCSTQ, nếu không sẽ ra cú gây sốc mạnh cho mọi người, không ai có thể chấp nhận, vì không chỉ quá tệ hại mà còn chống lại loài người và phá hoại luân lý.
Bất kể gọi là “bóng ma”, “quỷ dữ” hay “quái vật”, chúng đều là thứ không đàng hoàng, không phải là thứ loài người nên có.
Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng giáo lý mang tính cương lĩnh của đảng cộng sản là “Tuyên ngôn đảng cộng sản” có nguồn gốc từ Hội Illuminati (Order of the Illuminati) là một tổ chức sùng bái cực kỳ bí mật. Một tổ chức chi nhánh của Hội Illuminati là Hội Fabian (Fabian Society) từng bảo trợ Lenin, gọi Lenin là “Fabian vĩ đại nhất”, sau đó đã không hợp tác với Lenin do bất đồng về chiến lược cách mạng. Biểu tượng của Hội Fabian chỉ là một con sói mang bộ lông cừu, từ biểu tượng này có thể thấy chiến lược và phương pháp của Hội Fabian.
Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là “dưới sự lãnh đạo của ĐCSTQ”, các tư tưởng quan trọng như chủ nghĩa Marx – Lenin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý thuyết Đặng Tiểu Bình, thuyết Ba đại diện, thuyết Quan điểm về phát triển khoa học…, đều kiên định chế độ độc tài dân chủ nhân dân và con đường chủ nghĩa xã hội….
Đoạn văn trên nằm trong Lời tựa của “Hiến pháp” ĐCSTQ, một cách thẳng thắn thì có thể xem chính quyền Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là “hợp nhất chính trị và tôn giáo”. ĐCSTQ tự xưng là một đảng Marxist-Leninist, có nghĩa là kế thừa gen của ma quỷ là giáo phái Marx-Lenin.
ĐCSTQ phù hợp nhất với tiêu chuẩn tà giáo mà chính họ đặt ra
Trong văn bản của Tòa án Nhân dân Tối cao và Viện kiểm sát Nhân dân Tối của ĐCSTQ có tên “Giải thích một số vấn đề liên quan đến việc áp dụng cụ thể pháp luật trong Xử lý tội phạm Tổ chức và lợi dụng tổ chức tà giáo” khẳng định tổ chức tà giáo, đại ý là: Loại tổ chức phi pháp thần thánh hóa người đứng đầu, chế tác và truyền bá tà thuyết mê tín nhằm mê hoặc đánh lừa người khác, phát triển và kiểm soát thành viên.
Bây giờ chúng ta làm một phân tích đơn giản:
Từ Marx, Mao Trạch Đông, đến các nhà lãnh đạo hiện tại của ĐCSTQ và gia đình họ Kim của Bắc Triều Tiên, đảng cộng sản luôn nhất quán trong việc sùng bái và thần thánh hóa một cá nhân, luôn treo chân dung của nhà lãnh đạo lên để người khác quỳ lạy, sau khi nhà lãnh đạo chết lại được đưa vào một nơi tập trung dành cho các lãnh đạo chính trị quốc gia để mọi người chiêm ngưỡng. Có cơ quan trung ương chuyên trách quản lý những quan tài này với mức lương đãi ngộ nhân viên cao hơn nhiều bộ phận khác.
Chủ nghĩa cộng sản ban đầu được gọi là “không tưởng”, nghĩa là tự tưởng tượng vô căn cứ, bởi vì nếu không như vậy thì không thể làm suy bại luân lý. Vì nhận thấy việc tưởng tượng vô căn cứ khó làm người ta nghe theo, vì vậy đã bổ sung chữ “khoa học” vào đó, biến “bóng ma” (spectre) là khoa học, như vậy có thể dễ dàng khiến mọi người nhầm lẫn.
Vì học thuyết của đảng cộng sản tự tuyên bố là khoa học, nói rằng chủ nghĩa tư bản đang suy đồi và suy tàn, các chế độ khác đều sai lầm, chỉ chủ nghĩa cộng sản mới có thể cứu Trung Quốc và nhân loại. Trong khi hàng chục triệu người Trung Quốc thiếu ăn và thậm chí bị chết đói nhưng ĐCSTQ vẫn rêu rao rằng 2/3 người dân thế giới đang sống trong tình trạng khó khăn và chờ đợi chúng ta giải cứu. Sau khi ra ngoài chứng kiến mới phát hiện ra rằng chủ nghĩa tư bản phát triển và tiến bộ, ngày nay người dân dưới xã hội theo chế độ chuyên chế cộng sản mới chính là đang sống trong xã hội tệ hại hơn xã hội tư bản.
Người Trung Quốc từ khi còn trẻ thơ chưa hiểu biết gì đã bị ép phải tham gia Đội Thiếu niên Tiền phong, sau đó gia nhập Đoàn Thanh niên và vào ĐCSTQ. Bất kể tuổi tác, phải thề trước lá cờ máu “trọn đời chiến đấu cho chủ nghĩa cộng sản”. Vào đảng như như bán thân.
Ngoại trừ đảng cộng sản, trên thế giới không có đảng nào ép thành viên thề độc để đấu tranh cho nó suốt đời. Từ “đảng” vào thời cận đại được sử dụng như một cách tổ chức mọi người, được du nhập từ nước ngoài, theo tiếng Anh là “party”, có nghĩa là tập hợp. Tại Mỹ và các nước phương Tây, bạn tham gia vào một đảng nào là quyền tự do cá nhân của bạn, rất thoải mái, khi bạn không thích và nghĩ rằng không hợp quan điểm thì có thể rút khỏi đảng này và tham gia đảng khác. Một thời gian trước, một số nghị sĩ Mỹ đã rút khỏi đảng cánh tả và gia nhập phe bảo thủ. Khi tham gia “giang hồ” bạn có quyền “gác kiếm”, còn tham gia ĐCSTQ mà rút lui là khó tránh chịu tai họa quy kết là phần tử “phản động”. ĐCSTQ sợ người ta không trung thành nên luôn bắt ôn lại lời thề khi tham gia, cho mọi người nhắc lại lời thề độc, người nào rút lui là kẻ phản bội, khi đó không chỉ bản thân người đó gặp tai ương mà còn liên lụy cho gia đình. Cố Thuận Chương (Gu Shunzhang), một trong những nhà lãnh đạo thời kỳ đầu của ĐCSTQ, người đứng đầu Tổ chức Đặc vụ Trung ương của ĐCSTQ, năm 1931 đã đầu hàng Quốc dân đảng sau khi bị bắt tại Hán Dương – Vũ Hán. Hồi đó gia đình Cố Thuận Chương là điểm liên lạc của ĐCSTQ và cả gia đình ông đều là thành viên ngầm của ĐCSTQ. Sau khi ĐCSTQ biết chuyện Cố Thuận Chương đầu hàng, chúng đã hành quyết cả gia đình ông, bao gồm vợ, bố mẹ vợ, anh rể và một số người thân.
Đảng muốn bạn chết thì bạn không được sống, đảng muốn bạn sống thì bạn không thể chết, nếu bạn tự tử nghĩa là bạn “phản bội nhân dân”, cũng sẽ liên lụy gia đình và người thân, điều này giải thích nhiều tướng lĩnh và quan chức cấp cao nhưng khi bị chỉnh đốn đều ngoan ngoãn nghe theo.
Tác giả của “Ngụ ngôn Aesop” (được cho là do Aesop sáng tác), Aesop là một nô lệ ở thời Hy Lạp cổ đại nhưng vẫn có thể khắc chuyện trên đá chế giễu những vấn đề xã hội, đã để lại một loạt truyện ngụ ngôn. Tuy nhiên, người dân Trung Quốc ngày nay phải rất thận trọng khi bày tỏ suy nghĩ thật của mình, dù trên internet hay riêng tư, nhiều chủ đề không dám nói vì sợ chạm vào những điều cấm kỵ của ĐCSTQ, người dân Trung Quốc không dám có suy nghĩ độc lập và quen với việc tự kiểm duyệt, hãy xem thân phận họ có bằng thân phận người nô lệ của thời Hy Lạp cổ đại hay không? Đây là lý do tại sao người Tây Tạng ngày nay sẵn sàng quay trở lại xã hội nông nô, người dân Hồng Kông cảm thấy rằng ngày nay không bằng thời kỳ thuộc địa của Anh. Chỉ những người dưới 70 tuổi ở Trung Quốc Đại Lục từ nhỏ đã sống trong môi trường khép kín này, nên họ không biết xã hội bình thường là như thế nào, cuộc sống của người bình thường là trạng thái như thế nào.
Do ĐCSTQ luôn ép buộc mọi người phải theo tính đảng nên nhân tính bị méo mó, phai mờ. Trước những năm 1980, ĐCSTQ công khai chống lại loài người, tính đảng của ĐCSTQ không khác gì tính thú. Lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản dựa trên lý thuyết giai cấp để phân loại con người, qua đó cổ súy việc loại bỏ giai cấp và gia đình. Tại Liên Xô thời ban đầu đã cổ vũ chung vợ, chung tài sản, và ĐCSTQ đã từng học theo. Ngoài ra, Liên Xô cũ là chế độ đầu tiên trên thế giới ủng hộ đồng tính luyến ái. Sau khi những người Bolshevik nắm quyền, “Điều lệnh Lenin” đầu tiên tuyên bố bao gồm các nội dung như “bãi bỏ hôn nhân”, “hủy bỏ hình phạt đồng tính luyến ái”… Theo tác phẩm gốc của Marxist-Leninist, quan hệ gia đình và vợ chồng là sản phẩm của chế độ sở hữu tư nhân nên phải bị bãi bỏ, nếu không làm vậy thì không được xem là Bolshevik thực sự, trong quá khứ nội bộ ĐCSTQ chưa bao giờ coi loạn luân là một vấn đề, chỉ đến những năm gần đây do đấu đá quyền lực mới xem thông dâm là tội, nhưng trong luật hình ĐCSTQ không có tội này.
Những phong trào chính trị trong lịch sử ĐCSTQ thường kích động quần chúng giết hại nhau, thực tế chính là hệ quả của những mưu đồ chính trị giữa phe phái trong ĐCSTQ phát động tranh giành quyền lực. Trong lịch sử ĐCSTQ đã nhiều lần phát động các phong trào như “làm trong sạch đảng”, “chấn chỉnh tác phong”, bắt “kẻ phản bội”, giết “trung đoàn AB”, “chỉnh đốn đảng”. Thường theo định kỳ áp dụng những cách thức tạo tâm lý khủng bố lo sợ để giữ cho các đảng viên kiên định lập trường cũng như thanh trừng những ai “tự chuyển hóa diễn biến”. Lý do thanh trừng được quy chiếu theo chỉ dạy của Marx và Lenin. Lịch sử ĐCSTQ chứng kiến rất nhiều Tổng bí thư ĐCSTQ bị quy kết là kẻ phản bội và kẻ thù: từ thời xây dựng chính quyền là Trần Độc Tú (Chen Duxiu), Hướng Trung Phát (Xiang Zhongfa), Vương Minh (Wang Ming), Bác Cổ (Bo Gu); đến sau khi thành lập được chính quyền là Hoa Quốc Phong (Hua Guofeng), Hồ Diệu Bang (Hu Yaobang), và Triệu Tử Dương (Zhao Ziyang).
Cho đến ngày nay, giới chức ĐCSTQ biết rằng chỉ cần chấp hành theo chính sách đường lối (giáo lý của Đảng) thì thì dù làm bất kỳ hành động xấu xa nào cũng không bị truy cứu. Nhiều năm gần đây, những kẻ liên quan đến tội ác thu hoạch nội tạng người sống để buôn bán, liên quan tội hủy diệt hàng loạt trong các trại tập trung đã bị cộng đồng quốc tế vạch trần nhưng ĐCSTQ thì làm ngơ; trong khi ai còn chút nhân tính và lương tâm biết nghĩ cho dân thì chịu hậu quả như Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương.
Theo nguyên tắc luật pháp của Trung Quốc Đại Lục thì chính ĐCSTQ và hệ thống tổ chức các cấp của nó là các tổ chức bất hợp pháp, không chỉ theo “Biện pháp tạm thời để đăng ký tổ chức xã hội” do Chính phủ Trung Quốc ban hành năm 1950, mà cả theo “Quy định về Quản lý đăng ký tổ chức xã hội” được ban hành năm 1989 đều yêu cầu vấn đề thành lập một tổ chức xã hội phải đăng ký với Bộ Dân chính. Việc thành lập một tổ chức xã hội địa phương phải đăng ký với chi nhánh Bộ Dân chính tương ứng đặt tại địa phương đó. Thành lập một tổ chức xã hội xuyên khu vực hành chính phải đăng ký với cơ quan Bộ Dân chính cấp một chung tương ứng. Nhưng xưa nay ĐCSTQ không bao giờ đăng ký, sau khi bị nhiều người chất vấn thì năm 1998 ĐCSTQ còn sửa đổi “Quy chế Quản lý đăng ký tổ chức xã hội”, tuyên bố rằng ĐCSTQ và các tổ chức liên kết của chính nó không cần phải đăng ký. Năm 2006, ĐCSTQ đã ban hành một tài liệu nhân danh Ban tổ chức của ĐCSTQ chỉ ra rằng “Các tổ chức đoàn thể nêu trên được miễn đăng ký, nếu muốn đăng ký với cơ quan quản lý đăng ký tổ chức xã hội và tham gia kiểm tra hàng năm theo ‘Quy định’, có thể dựa theo ‘Quy định’ và thủ tục đăng ký liên quan. Nếu không muốn đăng ký với cơ quan quản lý đăng ký tổ chức xã hội thì cơ quan quản lý đăng ký tổ chức xã hội sẽ không thay thế chứng nhận pháp nhân mới khi chấn chỉnh tổ chức xã hội mới này. Chứng nhận pháp nhân và con dấu khắc mà tổ chức xã hội liên quan đã được nhận sẽ phải trả lại cho cơ quan quản lý đăng ký tổ chức xã hội.”
ĐCSTQ xem các quy định luật pháp là trò chơi của họ, có thể tùy ý diễn giải theo ý muốn của họ. Cái gọi là luật pháp trong quan điểm của ĐCSTQ là thủ đoạn để cưỡi đầu cưỡi cổ mọi người dân.
Là một tổ chức Đảng bao trùm toàn Trung Quốc nhưng ĐCSTQ chưa bao giờ nộp thuế theo luật thuế của Trung Quốc Đại Lục. Kinh phí của chính quyền các cấp có được nhờ lấy từ dân bằng hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán được sử dụng để hút máu từ các cổ đông; các trò gọi là xin tài trợ, thuế phí các loại được tận dụng để bòn rút giới doanh nghiệp. Bộ Dân chính thì nuốt trọn nguồn tiền bán vé số, còn nhiều thứ bại hoại khác đều nhân danh từ thiện nhằm vơ vét lợi ích. Vài năm trước, Hội Chữ thập đỏ và Liên đoàn Phụ nữ đã bị vạch trần lừa đảo quyên góp từ thiện xã hội. Không trò táng tận lương tâm nào ĐCSTQ không làm, hủy hoại triệt để đạo đức xã hội. Từ giữa những năm 1990 đến 2008, tổng số tài sản mà giới quan chức cấp cao ĐCSTQ bỏ chạy mang ra nước ngoài lên đến là 800 tỷ nhân dân tệ, tính đến nay chắc hẳn số tiền này đã lên tới hàng ngàn tỷ đô la.
Có thể liệt kê ra nhiều đặc điểm của tà giáo, ở đây đã phân tích những vấn đề cho thấy ĐCSTQ đủ tiêu chuẩn để được xem là tà giáo.
Tiêu Kiệt Sâm
(Bài viết thể hiện quan điểm của cá nhân tác giả)
Nhân ngày tưởng niệm GS Nguyễn Ngọc Huy, qua đới ngày 28 tháng 7 năm 1990, xin chuyển lại bài viết của một chiến hữu dưới đây:
Tưởng Niệm Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy: Một Cuộc Đời “Hiếm Có”?
Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy qua đời vào ngày 28 tháng 7, 1990 bước đường hoạt động tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ tự do thực sự. Từ đó đến nay đã trải qua 29 năm, cứ đến độ hè về vào cuối tháng bảy hàng năm đều có lễ giỗ tưởng niệm đến Cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy. Chính sự kiện khác thường này cho thấy hậu thế không muốn quên một nhân vật đặc biệt trong lịch sử VN. Thực vậy sự ra đi vĩnh viễn của Gs Huy để lại biết bao nhiêu thương tiếc thực sự cho những người còn lại.
I/ Bất ngờ
Mới đây, vào ngày 14 tháng 7, phía anh em chúng tôi bất ngờ nhận được từ trưởng nữ của Giáo sư Huy – Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Thúy Tần – một phóng ảnh chụp lá thư chia buồn và vinh danh của Tổng Thống Mỹ George Bush (còn được gọi là “Bush cha”)
Trong lá thư “chính gốc” này, TT George Bush lên tiếng ca ngợi Giáo sư Huy là một nhân vật tận tụy phụng sự cho dân tộc Việt & dân tộc Mỹ với tấm gương sáng ngời cho thế hệ mai sau.
“Tận tụy phụng sự cho dân tộc Việt” thì đúng rồi, nhưng tại sao lại cho cả dân tộc Mỹ ?. Đây có thể là một bí ẩn, mà chúng tôi sẽ phân tích và giải thích phía dưới trong phần V
II/ Khả năng đa tài xuất chúng của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy
Điểm nổi bật nhứt của Giáo sư Huy là có khả năng đa tài xuất chúng:
1) Nổi tiếng về các bài thơ ái quốc.
Chỉ mới 19 tuổi, Giáo sư Huy đã sáng tác ra được những bài thơ ái quốc đi vào văn học sử VN. Tập Thơ Hồn Việt thể hiện rỏ lý tưởng của Giáo sư Huy từ lúc thiếu thời dấn thân vào con đường tranh đấu cho đến khi lìa đời. Những bài thơ “Anh Hùng Vô Danh”, “Ngày tang Yên Bái” …. đã được chọn giảng dạy tại học đường và đã trở thành những vần thơ lịch sử nổi tiếng của Dân Tộc Việt. Nhìn lại văn học sử VN có lẽ Giáo sư Huy là người duy nhứt có được một tập thơ nổi tiếng ái quốc ngay từ tuổi 19.
2) Xuất sắc trên bước đường học vấn
Học sinh trường Pétrus Trương Vĩnh Ký, thi đậu bằng Trung Học. Một trong học sinh đậu xuất sắc nhứt tại Đông Dương. Một chuyện thật lạ là Giáo sư Huy đã tự học để lấy bằng Tú Tài Việt Nam. Cũng như trên bước đường lưu vong chính trị tại Pháp (1955 – 1963) Giáo sư Huy đã ghi tên học trường Khoa Học Chính trị Paris và trường Đại Học Luật Khoa và Khoa Học Kinh Tế Paris. Giáo sư Huy đỗ bằng tốt nghiệp Viện Nghiên Cứu Chính Trị Paris năm 1958, Cử Nhân Luật Khoa năm 1959, Cao Học Chính Trị năm 1960, và Tiến Sĩ Chính Trị Học năm 1963.
Lúc còn thời sinh viên chúng tôi có “duyên” gặp được Giáo Sư Huy “ngắn ngủi” trên bước đường đi thuyết trình tại Âu Châu vào dịp Mùa Hè Lửa Đỏ 1972. Có lẽ “hạp tuổi” nhau nên sau đó chúng tôi được Giáo Sư Huy gửi tặng một số tác phẩm do nhà xuất bản Cấp Tiến in.
Trong đó đặc biệt có quyển Đề Tài Người Ưu Tú Trong Tư Tưởng Chánh Trị Trung Quốc Cổ Thời. Quyển này chính là Luận Án Tiến Sĩ của Giáo Sư Huy và được chấm xuất sắc nhứt trong niên khóa 1962-1963 tại Viện Đại Học Paris. Có lẽ đây là bản in duy nhứt còn tồn tại được sau bao nhiêu biến chuyển.
3) Thành công trong sự nghiệp giáo dục.
Khi trở về VN, Giáo sư Huy vào làm giáo sư Học Viện Quốc Gia Hành Chánh dạy về chính trị và luật hiến pháp, đồng thời làm giảng viên ở nhiều trường đại học khác: Viện Đại Học Đà Lạt, Viện Đại Học Huế, Viện Đại Học Cần Thơ, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Viện Đại Học Minh Đức, trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn. Giáo sư Huy cũng được mời làm giảng viên ở các trường quân sự như trường Cao Đẳng Quốc Phòng, trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp, trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị. Năm 1967, Giáo sư Huy được mời làm khoa trưởng trường Đại Học Luật Khoa và Khoa Học Xã Hội Cần Thơ.
4) Trở thành một học giả uyên bác
Với trí óc cực kỳ thông minh như vậy, Giáo sư Huy nhanh chóng trở thành một học giả với tầm kiến thức rất uyên bác trên nhiều lãnh vực. Điều này thấy thực rõ ràng phía dưới trong phần IV về sự nghiệp sáng tác của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy.
Đặc biệt trong tác phẩm “Quốc Triều Hình Luật” với nội dung bách khoa bao gồm nhiều lãnh vực văn hóa lịch sử Việt Nam. Trong đó qua thời gian dài nghiên cứu, Giáo Sư Huy đã khám phá ra quân sư Nguyễn Trải là tác giả thực sự của Bộ Luật Hồng Đức và từ triều đại Hậu Lê phát sinh tinh thần giáo điều, mà đã làm một dân tộc Việt Nam thông minh, can đảm, quật cường nay phải chịu thảm cảnh đất nước tan nát nghèo đói. Trong di bút cuối cùng được đọc tại Hòa Lan vào ngày 4 tháng 8 năm 1990, Giáo sư Huy ước mong khi đất nước được thanh bình thì lập tức lui về quê nhà viết sách phân tích rỏ ràng tại sao một dân tộc có lịch sử oai hùng mà lần lần lụn bại đến nổi nay trở nên một trong vài quốc gia nghèo nhất thế giới.
5) Một chiến sĩ tranh đấu cho VN đến hơi thở cuối cùng
Đối với Giáo sư Huy: Tổ quốc VN trên hết. Thực vậy, lớn lên với tâm tình nồng nhiệt cho quê hương, năm 21 tuổi ông đã dứt khoát gia nhập đảng cách mạng để tranh đấu tự do cho đất nước. Từ đó cho đến hơi thở cuối cùng, con người Nguyễn Ngọc Huy hiến dâng trọn vẹn cho Dân Tộc Việt Nam. Những vần thơ Hồn Việt đầy rung động đã được ông gởi gắm vào tâm tình nồng nàn ấy. Vì tình yêu tổ quốc, con người tài hoa lổi lạc đó chọn một cuộc sống đạm bạc, đơn giản và đầy gian nan thử thách. Ông đã đi rất nhiều nơi, xuất hiện biết bao nhiêu lần trên diễn đàn và hội nghị quốc tế để bênh vực chính nghĩa VN.
III/ Cuộc đời “hiếm có” của Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy
Sanh vào ngày 2 tháng 11 năm 1924, quê tại Mỹ Lộc, quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa.
Văn bằng:
§ 1963: Tiến Sĩ Chánh Trị Học, Trường Đại Học Luật Khoa & Kinh Tế Paris. Luận án: “Đề tài người ưu tú trong tư tưởng chánh trị Trung Quốc cổ thời”
§ 1960: Cao Học Chánh Trị, Trường Đại Học Luật Khoa & Kinh Tế Paris.
§ 1959: Cử Nhơn Luật Khoa và Kinh Tế, Viện Đại Học Paris.
§ Tốt nghiệp Viện Nghiên Cứu Chánh Trị Đại Học Paris.
§ Tự học thi đậu bằng Tú Tàị.
§ Học sinh trường Pétrus Trương Vĩnh Ký, thi đậu bằng Trung Học. Một trong học sinh đậu xuất sắc nhứt tại Đông Dương (xem phim tài liệu về Thân Thế & Sự Nghiệp Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy / Câu Lạc Bộ Đằng Phương thực hiện năm 2007).
Chức vụ:
Trong Ngành Giảng Huấn:
§ Từ 1976: Phụ Khảo tại Trường Đại Học Luật Khoa Harvard (Hoa Kỳ).
§ 1965-1975: Giáo Sư Chánh Trị Học và Luật Hiến Pháp ở Học Viện Quốc Gia Hành Chánh tại Sài Gòn, Trường Đại Học Luật Khoa và Khoa Học Xã Hội tại Cần Thơ, Trường Đại Học Sư Phạm tại Sài Gòn, Trường Đại Học Luật Khoa tại Huế. Ngoài ra còn giảng dạy tại các Trường Đại Học Đà Lạt, Vạn Hạnh, Minh Đức, Minh Trí… và ở Trường Cao Đẳng Quốc Phòng, Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp, Trường Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị.
§ 1967-1968: Khoa Trưởng Luật Khoa và Khoa Học Xã Hội tại Cần Thơ.
Trong Chánh Quyền:
§ 1973 và 1968-1970: Nhơn viên phái đoàn tham dự thương thuyết Hòa Đàm Paris.
§ 1967: Hội Viên Hội Đồng Dân Quân.
§ 1964: Đổng Lý Văn Phòng Phủ Phó Thủ Tướng Đặc Trách Bình Định.
Hoạt Động Chánh Trị:
§ Từ 1986: Hội Viên Ủy Ban Danh Dự của Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ VN Tự Dọ
§ Từ 1981: Chủ Tịch Ủy Ban Chấp Hành Trung Ương Liên Minh Dân Chủ Việt Nam.
§ 1973-1975: Đồng Chủ Tịch Liên Minh Quốc Gia Dân Chủ Xã Hội (gồm 6 đảng).
§ 1969-1975: Tổng Thơ Ký Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến.
§ 1964-1990: Thành lập đảng Tân Đại Việt và là lãnh đạo đảng cho đến năm 1990.
§ 1945-1964: Đảng viên Đại Việt Quốc Dân Đảng và tham dự Ủy Ban Chấp Hành năm 1948.
Tưởng Lục:
§ WHO’S WHO đông bộ Hoa Kỳ, ấn bản lần thứ 18, 1981-1982.
§ Giải thưởng của Viện Đại Học Paris trao luận án Tiến sĩ xuất sắc nhất trong năm.
Chuyên Môn:
§ Luật Hiến Pháp, Tư Tưởng Chánh Trị, Định Chế Chánh Trị, Bang Giao Quốc Tế.
§ Thông thạo ngôn ngữ Việt, Pháp, Anh và Hán văn.
IV/ Sự nghiệp sáng tác của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy
§ Tiếng Việt:
1. HỒN VIỆT, thơ, Sài Gòn, 1950, tái bản ở Paris năm 1984.
2. QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT (Quyển A), Việt Publisher, Canada, 1990.
3. DÂN TỘC SINH TỒN, chủ thuyết của Đại Việt Quốc Dân Đảng, được bổ túc, phong phú hóa và thâu nhận các nguyên tắc tự do dân chủ, (2 quyển), Sài Gòn, 1964.
4. DÂN TỘC HAY GIAI CẤP ?
5. BIỆN CHỨNG DUY XẠO LUẬN (Trào phúng).
6. CÁC ẨN SỐ CHÁNH TRỊ TRONG TIỂU THUYẾT VÕ HIỆP KIM DUNG, Thanh Phương Thư Quán, San Jose, Hoa Kỳ, 1986.
7. HÀN PHI TỬ: bản dịch ra Việt ngữ tác phẩm của Hàn Phi, nhà lý thuyết trứ danh của học phái Pháp Gia Trung Quốc, (2 quyển), Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1974.
8. LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT CHÁNH TRỊ, Cấp Tiến, Sài Gòn, 1970-1971.
9. ĐỀ TÀI NGƯỜI ƯU TÚ TRONG TƯ TƯỞNG CHÁNH TRỊ TRUNG QUỐC CỔ THỜI, bản dịch Luận án Tiến sĩ viết bằng tiếng Pháp, Cấp Tiến, Sài Gòn, 1969.
10. Tên Họ Người Việt Nam . Mekong-Tỵnạn, California, USA
– Cùng viết với Gs Trần Minh Xuân (2 cuốn 11 và 12 trong danh sách này):
11. Hiệu đính và chú thích LỤC SÚC TRANH CÔNG. Đi tìm tác giả và dụng ý chánh trị trong tác phẩm. Mekong-Tỵnạn, California, USA, 1991.
12. HỒ CHÍ MINH: TỘI PHẠM NHƠN QUYỀN VIỆT NAM. Mekong-Tỵnạn, USA, 1992.
§ Tiếng Pháp:
13. POUR UNE NOUVELLE STRATÉGIE DE DÉFENSE DU MONDE LIBRE CONTRE L’EXPANSION COMMUNISTE, Alliance Pour La Démocratie Au Vietnam, Paris, 1985.
§ Tiếng Anh:
14. THE LÊ CODE: LAW IN TRADITIONAL VIETNAM, bản dịch ra tiếng Anh và chú thích bộ QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT, tục danh LUẬT HỒNG ĐỨC của nhà Lê (1428-1788), Ohio University Press, Hoa Kỳ, 1987 – cùng viết với Gs Tạ Văn Tài và Gs Trần Văn Liêm –
15. A NEW STRATEGY TO DEFEND THE FREE WORLD AGAINST COMMUNIST EXPANSION, Alliance For Democracy In Vietnam, 1985.
16. PERESTROIKA OR THE REVENGE OF MARXISM OVER LENINISM, Việt Publisher, Canada, 1990.
Cùng viết với Gs Stephen B. Young (2 cuốn 17 và 18 trong danh sách này)
17. UNDERSTANDING VIETNAM, do T.D.T. Thomason xuất bản, The Displaced Persons Center Information Service, Bussum, The Netherlands.
18. THE TRADITION OF HUMAN RIGHTS IN CHINA AND VIETNAM, Yale Southeast Asia Studies, The LẠC VIỆT Series, New Haven, CT, USA, 1990.
Bài Đăng Báo:
§ Tiếng Việt:
– 1947-1990: Bài nhận định Tình Hình Thế Giới Trong Tháng Vừa Qua cùng nhiều bài báo về văn hóa & chánh trị Việt Nam trên nhiều tờ báo tiếng Việt ở trong và ngoài nước, như: TỰ DO DÂN BẢN, ĐƯỜNG MỚI, MEKONG-TỴNẠN, SAIGON, THẰNG MÕ, HỒN VIÊT, HƯỚNG VIỆT, DIỄN ĐÀN VIỆT NAM, CẤP TIẾN, DÂN QUYỀN, LỬA THIÊNG, QUỐC PHÒNG, ĐUỐC VIỆT, THANH NIÊN …
§ Tiếng Pháp:
– LA FRANCE ET LE VIETNAMIEN PARTISAN DE LA DÉMOCRATIE LIBÉRALE, trong ĐƯỜNG MỚI, Pháp Quốc, số 4, 1985.
– LE CODE DES LÊ, nhận xét về bản dịch bộ luật nhà Lê ra tiếng Pháp của Ông Deloustal và về niên biểu ấn hành của bộ luật này, trong BULLETIN DE L’ÉCOLE FRANCAISE D’EXTRÊME ORIENT, Quyển LXVII, Pháp Quốc, 1980.
§ Tiếng Anh:
– Cùng viết với Gs Tạ Văn Tài: THE VIETNAMESE LEGAL TEXTS, trong THE LAW OF SOUTH-EAST ASIA, Quyển 1, THE PRE-MODERN TEXTS, do M.B. Hooker xuất bản, Butterworth & Co, 1986.
– LIMITS ON STATE POWER IN TRADITIONAL CHINA AND VIETNAM, trong THE VIETNAM FORUM, Ban Nghiên Cứu Đông Nam Á Châu của Đại Học Yale, Hoa Kỳ, số 6, Hè-Thu 1985.
– THE MING CODE IN VIETNAMESE LEGAL HISTORY: ITS INFLUENCE ON THE VIETNAMESE CODES AND OTHER LEGAL DOCUMENTS, trong MING STUDIES, số 19, Thu 1984.
– ON THE PROCESS OF CODIFICATION OF THE NATIONAL DYNASTÝS PENAL LAWS, trong THE VIETNAM FORUM, Ban Nghiên Cứu Đông Nam Á Châu của Đại Học Yale, Hoa Kỳ, số 1, Đông-Xuân 1983.
– THE PENAL CODE OF VIETNAM’S LÊ DYNASTY, trong STATE AND LAW IN EAST ASIA, để kỹ niệm ngày Ông Karl Bunger trí sĩ, do Dieter Eikemeier và Herber Franke xuất bản, Otto Harrassowitz, Weisbaden, 1981.
Thuyết Trình:
· VAI TRÒ HỒ CHÍ MINH TRONG DIỄN TIẾN CỦA TÌNH TRẠNG NHƠN QUYỀN TẠI VIỆT NAM, HỘI THẢO VỀ ĐỀ TÀI “CON NGƯỜI VÀ DI SẢN CỦA HỒ CHÍ MINH” tại Điện Luxembourg (Trụ sở Thượng Nghị Viện Pháp), trong 2 ngày 25 và 26-5-1990.
· CHÁNH SÁCH QUỐC PHÒNG CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM tại Đại Học Không Quân Hoa Kỳ, Colorado Springs, ngày 11-4-1988.
· KINH NGHIỆM CỦA HOA KỲ TẠI VIỆT NAM , Đại Học Không Quân Hoa Kỳ, Colorado Springs, ngày 12-4-1988.
· CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ NỀN AN NINH Á CHÂU tại Đại Học Monash, Melbourne, Úc Đại Lợi, ngày 17-9-1987.
· LIÊN MINH LIÊN SÔ – CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ NỀN AN NINH CỦA ĐÔNG NAM Á CHÂU, Hội Thảo Bàn Tròn do Hội Đồng An Ninh Quốc Tế tổ chức ở Bangkok từ ngày 6 đến 8-7-1986.
· TRẬN CHIẾN ĐẤU CUỐI CÙNG VÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA MIỀN NAM VIỆT NAM: 1973-1975, Hội Thảo do Đại Học Glassboro tổ chức trong ngày 7 và 8-4-1986.
· VIỆT NAM DƯỚI ÁCH CỘNG SẢN, Hội Thảo tại Đại Học Harvard, ngày 23-11-1981, sau được Đại Học George Mason đăng trong bài nghiên cứu về VN.
· THỰC TRẠNG Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO CÁC VẤN ĐỀ DO CÁC NƯỚC ẤY GÂY RA, Đại Học Minnesota, 3-10-1981.
· NGUYÊN NHƠN VÀ HẬU QUẢ CỦA VIỆC MIỀN NAM VIỆT NAM SỤP ĐỔ NĂM 1975, tại Đại Học Washington ở Seattle, 1980.
V/ Tại sao TT Mỹ lại chia buồn và vinh danh Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy?
1) Có lẻ lần đầu tiên một người Việt Nam qua đời, được chính Tổng Thống Hoa Kỳ đương nhiệm – ông George Bush – chia buồn và lên tiếng ca ngợi là một nhân vật tận tụy phụng sự cho dân tộc Việt & dân tộc Mỹ với tấm gương sáng ngời cho thế hệ mai sau.
Như phía trên đã nhận xét: “Tận tụy phụng sự cho dân tộc Việt” thì đúng rồi, nhưng tại sao lại cho cả dân tộc Mỹ?.
Khách quan mà nói: Giáo sư Huy không phải là một nguyên thủ quốc gia, lại không phải công dân Mỹ (Giáo sư Huy giử quốc tịch VN đến lúc qua đời !) và thực sự chỉ là làm việc phụ khảo cho trường Đại Học Luật Khoa Harvard. Như thế Tổng Thống Mỹ đương nhiệm đâu cần phải viết thư chia buồn với lời lẽ ca ngợi lớn lao như thế. Vậy đây có thể là một bí ẩn lớn !
2) Thực vậy nhìn kỹ lại trong 12 năm chánh phủ Reagan & Bush đã xảy ra biến cố quan trọng nhứt trong thế kỷ 20 là Bức Tuờng Berlin sụp đỗ vào ngày 9 tháng 11 năm 1989 và sau đó toàn thể vùng Đông Âu & Liên Sô được tự do.
Để tìm ra ai là người có công lao tạo ra biến cố quan trọng này thì mổi quốc gia đều hãnh diện cho rằng chính là người của mình đã có công lao lớn nhứt.
Chẳng hạn: Ba Lan với lãnh tụ tranh đấu Walesa & Đức Giáo Hoàng John Paul II, Hung Gia Lợi với Thủ Tướng Nemeth, Đông Đức với lực lượng cải cách, Tây Đức với Thủ Tướng Brandt, Áo với Hoàng Thân Otto von Habsburg, Liên Xô với Tổng Bí Thư Gorbachev, Anh với Nữ Thủ Tướng Thatcher .
3) Riêng theo Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy phân tích cho rằng ông Gorbachev phải cởi mở thay đổi chính sách cai trị để đủ sức đối đầu với Hoa Kỳ dưới sự lảnh đạo của Tổng Thống Reagan đang leo thang võ trang quân sự, điển hình là kế hoạch phòng thủ chống hỏa tiển SDI (Strategic Defense Initiative). Chỉ trong lúc tâm sự, Giáo sư Huy mới “tiết lộ & giải thích” đưa một cái nhìn độc đáo cho rằng dân Nga có truyền thống chơi cờ vua (Chess) nên có thói quen suy nghĩ đa nghi nhiều, còn dân Mỹ thích chơi bài phé (Poker) nên thường phải “tháu cáy” với cây bài xấu nhưng vẫn có thể “tố” cho địch thủ bỏ chạy.
Theo Giáo sư Huy thì Tổng Thống Hoa Kỳ Reagan đã “tố” dùng kế hoạch SDI “tháu cáy” để “hù” Tổng Bí Thư Liên Xô Gorbachev vốn có thói quen đa nghi ắt phải cải tổ nền tảng để có đủ thực lực đương đầu lại. Quả nhiên ông Gorbachev xúc tiến cải tổ, trước hết về kinh tế (Perestroika), sau đó về chính trị (Glasnost). Nhưng chính vì cải tổ chính trị khiến làn sóng đòi hỏi tự do dân chủ dâng cao kiểm soát không nổi và vuột ra khỏi tầm tay. Bức Tường Bá Linh sụp đỗ, Đông Âu thoát khỏi sự chi phối của Mạc Tư Khoa và Liên Xô tan rả vào ngày 21.12.1991 là hậu quả tất nhiên đó. Quả thực sau khi Liên Sô sụp đỗ, chương trình SDI cũng được dẹp bỏ vì đã đạt được mục tiêu là xí gạt “tố” “tháu cáy” cấp lãnh đạo Liên Sô.
Vì vậy, ông Gorbachev ở hải ngoại được vinh danh là nhân vật có công với cuộc cách mạng dân chủ hóa Đông Âu, nhưng ở trong nước thì trái lại không có chút uy tín gì, vì bị chỉ trích là không có khả năng lảnh đạo làm Liên Xô tan vỡ và nước Nga không còn sức mạnh gì trên bàn cờ thế giới.
4) Nếu xem lại tất cả tài liệu về sự sụp đỗ của Liên Sô thì không hề thấy dòng chử nào về “mưu thần chước quỷ” tố tháu cáy này. Chỉ có duy nhứt Giáo sư Huy nhìn thấy thấu rõ đường đi nước bước này của chánh phủ TT Reagan & Bush.
Nên nhớ thông thường chỉ người “bày mưu chuốc kế” mới thấy rõ trước được những biến chuyển sẽ xảy ra.
Vì vậy đọc qua nội dung lá thư của TT Bush chia buồn & vinh danh Giáo sư Huy “đã phụng sự dân tộc Mỹ” thì rất có thể nói phần lớn e rằng chính Giáo sư Huy đưa ra mưu lược “tố tháu cáy” cho chánh phủ Mỹ đối phó với Liên Sô
Ngoài ra lá thư của TT Bush còn dùng luôn tiện để cám ơn Giáo sư Huy về những đóng góp cùng chánh phủ Mỹ – nhứt là những hội thảo và thuyết trình trong các hội nghị quốc tế (xem trong phần IV phía trên) – .
Vã lại một người Mỹ rất ngưỡng mộ và thường kính phục coi Giáo sư Huy như bậc thày của mình. Đó là Giáo sư Stephen B. Young (Khoa trưởng Đại Học Luật Khoa Minnesota).
(xem:https://www.law.umn.edu/…/profile/…/Stephen_Young_Resume.pdf)
Ông này là một nhân vật nổi tiếng quen biết rất nhiều cấp lãnh đạo trong đảng Cộng Hòa của chánh phủ TT Reagan & Bush. Nên rất có thể qua đường dây đó, Giáo sư Huy đã chuyển đạt được mưu chước này.
VI/ Kết luận
1) Như mọi người đều biết trong lịch sử đã xảy ra nhiều trường hợp đưa ra mưu kế rất ngắn gọn. Chẳng hạn nhân vật Nguyễn Trải khi đầu quân với vua Lê Lợi đã đưa ra mưu lược “Đánh vào lòng người (tâm công kế)” để thắng quân Minh. Cũng như trong Tam Quốc Chí, nhân vật Mã Thốc dâng kế “Chinh phục lòng người” cho Khổng Minh đối phó với Mạnh Hoạch. Vậy với trí óc cực kỳ thông minh & uyên bác và luôn phân tích thời cuộc, thì ắt Giáo sư Huy có thể nghĩ ra mưu chước “tố tháu cáy”.
2) Cuộc đời của Giáo sư Huy quả thực “hiếm có” và đúng là tấm gương sáng cho hậu thế – như TT Bush đã ca ngợi – .
Giáo sư Huy âu lo nhiều về tinh thần giáo điều đã thấm sâu vào huyết quản dân tộc Việt Nam, đưa đến nạn chia rẻ, kỳ thị (tôn giáo, địa phương, chủng tộc…) làm đất nước càng ngày càng suy vong.
Tuy vậy Giáo Sư Huy đặt rất nhiều hy vọng vào tương lai, vì nọc độc đó đã phát hiện được thì sẽ tuyệt trừ được. Ông đã từng tâm sự tin chắc đất nước Việt Nam mai này sẽ được tự do dân chủ và thế hệ tương lai sẽ tài giỏi hơn, xây dựng được một đất nước ấm no hơn thế hệ của ông.
3) Có lẽ đó chính là biểu tượng rỏ ràng cho tinh thần Nguyễn Ngọc Huy, lúc nào cũng đầy quyết tâm và lạc quan hướng về tương lai dân tộc. Dù khen hay chê, phải khách quan nhìn nhận trong cùng hoàn cảnh thời đại này chưa ai dám chắc làm được nhiều việc tốt đẹp hơn ông. Một nhân tài VN đã dám sống tận tụy một tay chăm sóc mọi việc lớn nhỏ cho đến nổi kiệt sức trút hơi thở cuối cùng. Thật khó tìm lại được một tấm gương tài đức vẹn toàn và cung cúc tận tụy hy sinh cho đại cuộc như vậy trong cỏi đời đầy nhiểu nhương này.
Trần Nguyên / Người Xứ Bưởi
Tháng 07, 2019



CHUYỆN HONGKONGONGER
BÀI 089: TỪ HONGKONG, TÀU MỞ RỘNG ĐÀN ÁP RA THẾ GIỚI NHƯ THẾ NÀO?
Luật an ninh quốc gia mà chính quyền Tàu áp đặt đối với Hồng Kông từ ngày 30-6 không chỉ khiến hàng ngàn thanh niên Hương Cảng ủng hộ dân chủ có nguy cơ bị bỏ tù, mà các công dân nước ngoài hoặc người Hoa ở nước ngoài cũng đối mặt với rủi ro tương tự. Đó là một trong những nội dung cảnh báo được nêu trong một bài phân tích của bà Sarah Cook, một chuyên gia tại tổ chức ủng hộ dân chủ Freedom House, được đăng trên The Diplomat ngày 13-7.
Điều 38 của luật an ninh quốc gia Hồng Kông tự cho mình quyền tài phán không chỉ đối với cư dân Hồng Kông, mà còn đối với người nước ngoài bị cho là “vi phạm luật an ninh quốc gia Hồng Kông” ở bên ngoài Hồng Kông. Các chuyên gia pháp lý chỉ ra rằng luật an ninh quốc gia Hồng Kông còn có quy mô rộng lớn hơn cả luật an ninh quốc gia ở đại lục.
Bà Cook cho biết những người từng chỉ trích chính quyền ĐCS Tàu như bà và nhiều người khác trên thế giới có nguy cơ bị tống giam, bị truy tố nếu đến Hồng Kông hay bất kỳ nước nào có thượng tôn pháp luật yếu kém, và chính phủ nước đó có xu hướng chiều lòng Bắc Kinh. Để nêu ví dụ, bà đề cập đến khuyến cáo của giáo sư luật Donald Clarke thuộc Đại học George Washington: “Nếu bạn ở trong tầm ngắm của chính quyền ĐCS Tàu, tôi khuyên bạn đừng tới Thái Lan”.
Bà Cook gọi đây là một hình thức “thông qua Hồng Kông, Bắc Kinh mở rộng đàn áp ra thế giới”. Bà cũng kể đến một số trường hợp công dân nước ngoài gốc Hoa bị chính quyền ĐCS Tàu bắt giữ.
Chuyên gia của Freedom House viết: “Vào ngày 30-6, một tòa án ở Bắc Kinh đã kết án công dân và nữ doanh nhân người Canada Sun Qian 8 năm tù vì bà tập luyện Pháp Luân Công, môn tu luyện thiền định bị cấm ở Tàu dù được tự do tập luyện ở Canada và mọi nơi khác trên thế giới”.
Bà Cook đề cập đến tình trạng của bà Sun mà báo chí Canada cũng đưa tin, rằng bà Sun bị giam giữ hơn ba năm qua. Có thông tin cho biết bà bị tra tấn trong tù, và rõ ràng chính quyền Tàu đã ép buộc bà phải từ bỏ quyền công dân Canada của mình.
Bà Cook nhấn mạnh rằng các vụ chính quyền Tàu bắt giữ công dân nước ngoài đang có xu hướng gia tăng. Một ví dụ khác là ông Quế Mẫn Hải (Gui Minhai), một công dân Thụy Điển có tiệm sách ở Hồng Kông từng bán những cuốn chỉ trích giới lãnh đạo Tàu. Ông Quế bị bắt cóc ở Thái Lan vào năm 2015, sau đó bị đưa đến Tàu, bị ép buộc từ bỏ quốc tịch Thụy Điển và bị kết án 10 năm tù.
Một trường hợp khác là ông Dương Quân (Yang Jun), một công dân và nhà văn người Úc bị bắt giữ ở một sân bay Tàu vào tháng 1-2019, sau đó bị kết tội làm gián điệp. Bà Cook lo ngại rằng số phận của ông Dương cũng tương tự như ông Quế. Không chỉ đối với người gốc Hoa, chính quyền Tàu cũng bắt giữ những người khác hoàn toàn là công dân nước ngoài. Ngày 15-6, Tàu công bố các vụ tố tụng đối với 2 công dân Canada, gồm cựu nhà ngoại giao Michael Kovrig và doanh nhân Michael Spavor. Họ bị cáo buộc “làm gián điệp”, và có nguy cơ lãnh án tù chung thân. Hai người này bị bắt giữ vào tháng 12-2018, trong một động thái được cho là trả thù Canada về vụ bắt giữ giám đốc tài chính Mạnh Vãn Châu của tập đoàn Huawei. Chuyên gia Cook cũng dự báo về tình trạng “tự kiểm duyệt”, tức là tự kiềm chế tiếng nói chỉ trích của mình để chiều lòng Tàu. Bà cho rằng tình trạng này sẽ trở nên phổ biến hơn do ảnh hưởng từ luật an ninh quốc gia Hồng Kông.
Bà Cook viết: “Vô số tổ chức và cá nhân đang đối mặt với việc phải lựa chọn giữa việc tự kiểm duyệt, thoái lui hay kháng cự”. Bà cho rằng vấn đề này đặt ra đối với những người có kế hoạch tới Tàu, Hồng Kông, hay bất kỳ nước nào có chính phủ thân Bắc Kinh, cũng như đối với bất kỳ ai có thân nhân, nhân viên, hay đối tác ở những quốc gia đó.
(Minh Hòa – ĐKN 24/7/2020)


Theo một quan chức cấp cao của Bộ Tư pháp Mỹ, bà Juan Tang trong hình đã bị bắt và tạm giam vào tối 23/7/2020. Người này cho biết thêm Juan không có quyền miễn trừ ngoại giao vì cô không được tuyên bố là quan chức ngoại giao.
“Cô ấy sẽ xuất hiện lần đầu tại tòa vào hôm nay”, quan chức Mỹ cho biết hôm 24/7, thêm rằng Juan là một phần trong “mạng lưới” cố ý che giấu quan hệ với lực lượng quân đội Trung Cộng khi xin thị thực Mỹ. Đại sứ quán Trung Cộng hiện chưa bình luận về sự việc này.
Theo hồ sơ Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) trình lên tòa án tại San Francisco hôm 20/7, Juan Tang đã che giấu vai trò trong quân đội khi nộp đơn xin thị thực hồi tháng 10 năm ngoái để tới làm việc tại đại học California và tiếp tục khai gian với FBI vài tháng sau.
Tuy nhiên, các đặc vụ Mỹ đã tìm thấy những bức ảnh Juan mặc quân phục của lực lượng Quân giải phóng nhân dân Trung cộng (PLA) cũng như xem xét nhiều bài báo từ Trung Cộng xác nhận liên hệ của cô với quân đội nước này.
Juan Tang bị truy tố tội gian lận thị thực hôm 26/6, nhưng lực lượng hành pháp Mỹ không thể tự ý vào lãnh sự quán Trung Cộng ở San Francisco để bắt người. Lãnh sự quán Trung Cộng tại San Francisco cũng chưa bình luận về sự việc.
Bộ Tư pháp Mỹ cùng ngày cho biết ngoài Juan, họ đã truy tố ba nhà khoa học Trung Cộng khác vì khai gian vai trò trong quân đội nhằm xin thị thực tới Mỹ dễ dàng hơn. Bộ này nói thêm khai gian thị thực là một phần trong kế hoạch được chính phủ Trung Cộng “hậu thuẫn” nhằm đánh cắp nghiên cứu và sáng kiến của các trường đại học Mỹ.
Cáo buộc của Mỹ nhằm vào các nhà khoa Trung Cộng được đưa ra trong bối cảnh quan hệ song phương ngày càng căng thẳng sau khi Washington ra lệnh đóng cửa Tổng lãnh sự quán Trung Cộng tại thành phố Houston, bang Texas, với cáo buộc gián điệp.
Bắc Kinh đã đáp trả khi thu hồi giấy phép của lãnh sự quán Mỹ tại thành phố Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, đồng thời bác cáo buộc gián điệp. Bộ Ngoại giao Trung Cộng gọi đây là phản ứng chính đáng và cần thiết đối với “hành động phi lý của Mỹ”.
_______
Nguồn : https://vnexpress.net/my-bat-nha-khoa-hoc-co-thu-trong-lanh…
Fb Võ Hồng Ly