NGƯỜI VN SINH RA ĐỂ… CHỜ CHẾT?

Ngô Thứ
NGƯỜI VN SINH RA ĐỂ… CHỜ CHẾT?

Ở Việt Nam, cứ nói đến chính trị thì bị cho là rảnh hơi và nếu bạn không cùng ý kiến với nhà nước , bạn sẽ bị xếp vào những thành phần sau :
– Nếu là đảng viên thì bị cho là: đạo đức suy thoái.
– Nếu bạn là trí thức thì bị cho là: bất mãn với thời cuộc
– Nếu là kẻ nghèo thì bị cho là: bị kẻ xấu kích động
– Nếu là kẻ ít học thì bị cho là: bị dụ dỗ lợi dụng
– Lên facebook bày tỏ quan điểm : bạn sẽ bị cho là kẻ phản động …

Thế đấy, tùy theo “khẩu nghiệp” mà bạn nhận được danh hiệu do họ phong tặng.

Và khi tôi và những người khác lên tiếng để mong có một tương lai tốt đẹp cho đất nước này, thì bạn nói : sống ở xã hội này thì phải chấp nhận như thế, có nói cũng chẳng làm được gì. Vậy:

– Khi nhà bạn có người gần chết, đưa vào bệnh viện mà chưa có tiền đóng viện phí, người ta không cứu, bạn đừng khóc vì khóc cũng chẳng thay đổi được gì.

– Nhà bạn có người bị tai nạn, xung quanh người ta đi lại, chỉ ném một cái nhìn vào chỗ người thân bạn đang nằm chổng vó ra đấy mà chẳng thèm làm gì hơn, bạn đừng trách sao họ thờ ơ vô cảm.

– Con cái bạn bị những kẻ vô loài hãm hiếp, mà pháp luật vẫn để những kẻ đó nhởn nhơ, bạn đừng kêu oan vì kêu cũng chẳng làm được gì.

– Bạn ra đường mà có bị cướp giật hay bị trộm mất xe ngay trước mặt, thì tốt nhất bạn hãy im miệng vào, vì có kêu thì cũng không ai nghe thấy đâu.

– Bạn bị công an bắt xe không lý do thì cũng nên vui vẻ mà nộp phạt, ấm ức cái gì?

– Sau này đất đai nhà bạn có bị quy hoạch và được trả giá 200k/m2, thì cũng đừng có kêu gào làm gì, không ai quan tâm việc nhà bạn đâu.

– Bạn đi khám mà chẳng may mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối, thì cũng nên vui vẻ mà chấp nhận sống nốt cuộc đời còn lại, vì ở cái xã hội thờ ơ tràn lan thực phẩm bẩn này mỗi ngày có khoảng 300 người chết vì bệnh ung thư chứ không riêng gì bạn đâu.

…………….. Và còn nhiều điều “khốn nạn nhưng rất đỗi bình thường” khác ở cái đất nước này, khi xảy đến với bạn thì tốt nhất bạn cũng nên ngậm chặt miệng vào, vì xã hội VN nó thế! Người Việt Nam sinh ra để làm gì? Người Việt Nam sinh ra để …chờ chết!

Hãy cầu cho mình một cái chết nhanh nhất, như tai nạn giao thông chẳng hạn! Chết vì ung thư khổ lắm mấy con cừu ngoan ạ.

Và bây giờ hãy tiếp tục im miệng để sắp phải làm nô lệ cho Tàu ngay trên chính quê hương mình.

Coppy từ nguồn Facebook Nguyen Minh

https://www.facebook.com/100027857649279/posts/627132681558648/

Image may contain: text
No photo description available.
Image may contain: text

Liban : Hơn 100 người chết trong hai vụ nổ ở Beyrouth

Hơn 100 người đã thiệt mạng và hàng ngàn người bị thương trong hai vụ nổ lớn hôm qua, 04/08/2020, tại hải cảng thủ đô Beyrouth của Liban.

 

Liban : Hơn 100 người chết trong hai vụ nổ ở Beyrouth

Hơn 100 người đã thiệt mạng và hàng ngàn người bị thương trong hai vụ nổ lớn hôm qua, 04/08/2020, tại hải cảng thủ đô Beyrouth của Liban.

Những nhà trọ VÕNG ở Sài Gòn…

Những nhà trọ VÕNG ở Sài Gòn..

TP HCM..

2h sáng, cơn mưa ập xuống, gió thốc làm tấm bạt che kêu phành phạch. Ông Lâm dậy dắt chiếc xe cà tàng lên vỉa hè rồi quay lại chiếc võng quen thuộc.

Nhấc chiếc túi vải lấy ra bộ quần áo, ông nói vọng vào phía bà chủ quán: “Bán tui gói dầu gội”, rồi vắt khăn qua cổ đi vào nhà tắm.

Lối vào nhà vệ sinh chung xộc lên một thứ mùi khó tả, trộn lẫn mùi mồ hôi bốc ra từ những chiếc võng vải dù móc sát nhau. Người đàn ông 62 tuổi, quê Bến Tre dùng nửa gói dầu gội vừa tắm vừa gội, nửa còn lại để giặt bộ quần áo lao động dính đầy bụi xi măng.

Đoạn đường dọc quốc lộ 1A nằm trên địa bàn phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân tập trung gần chục quán võng ngủ đêm. Gần 10 năm nay, những quán võng như thế này là sự lựa chọn của lao động thu nhập thấp như ông Lâm.

“Thuê nhà trọ tốn ít nhất mỗi tháng một triệu, chưa kể phải sắm chiếu, quạt… Ngủ lại những quán võng chỉ 20.000 đồng một đêm, được bao điện nước, wifi. Nếu đóng trước cả tháng, giá chỉ 500.000 đồng”, ông Lâm nói.

Vợ qua đời nhiều năm trước, ở quê cũng chẳng có ruộng đất, ông Lâm lên Sài Gòn làm phụ hồ. Lúc mới lên, ông cũng thuê nhà trọ cạnh chỗ làm với giá một triệu mỗi tháng. Không đủ sức khỏe, ông chỉ phụ việc nhẹ, lương chưa đến 200.000 đồng mỗi ngày. “Chưa kể những ngày không có việc phải nằm nhà, tiền trọ, tiền ăn, tiền điện nước tôi không kham nổi”, ông kể. Suốt năm đầu làm việc ở thành phố, gói ghém lắm nhưng vẫn không có dư.

Một lần phải chuyển chỗ làm đến khu vực quận Bình Tân, ông Lâm biết đến những quán võng ngủ đêm. Nhẩm tính, mình đi làm nguyên ngày, tối chỉ cần chỗ ngả lưng, chi phí giảm một nửa nên ngay hôm sau, ông trả phòng trọ, bán lại chiếc quạt điện, xách túi quần áo “nhập hộ khẩu” một quán võng dọc quốc lộ 1A.

Sài Gòn vào mùa mưa, những người tới trước đã nằm kín những chiếc võng trong nhà. Người mới như ông ngại chen vào giữa, nên chọn chiếc võng ngoài cùng cạnh gốc cây trứng cá. Dù đã quen ngủ võng từ thuở lọt lòng nhưng đêm đêm tiếng xe tải rầm rập, tiếng muỗi vo ve, ông Lâm liên tục trở mình trên chiếc võng đong đưa, không thể ngủ.

Nửa đêm, cơn mưa ập xuống. Người đàn ông giật mình tỉnh giấc, tay sờ ngay xuống túi quần bên trái rồi túi quần bên phải kiểm tra chiếc điện thoại và ví tiền rồi thở ra nhẹ nhõm vì số “tài sản” quý giá nhất vẫn còn nguyên. Theo chân vài người khác tiến vào bên trong tìm võng trống, ngáp một hơi, ông ngủ thiếp đi vì mệt. “Sáng hôm sau, tui bị trẹo cổ đau nhức suốt mấy ngày mới khỏi”, ông Lâm kể.

Không có một số tiền lớn để thuê trọ vì phải đặt cọc 2 tháng, vợ chồng chị Loan chọn cách ngủ võng, gia đình 3 người mỗi ngày hết 60 nghìn, vợ chồng chị đã ở quán võng gần một năm.

Giữa trưa, khách đi đường hướng Sài Gòn về miền Tây trên trục đường quốc lộ nườm nượp khách ghé quán võng của anh Trình (44 tuổi, quê Bình Định) nghỉ chân. Dưới tán hàng cây sanh um tùm, hai người phụ nữ trung niên tranh nhau quét lá rụng và dọn dẹp những ly nước khách vừa uống xong.

“Mày lấy quần áo vào chưa Hoa?”, chị Thủy nói lớn rồi quăng chổi một bên, đi vội ra sau. “Để quên tới chiều là mất đấy. Sống thế này đến đôi dép còn phải tự bảo quản”, vơ vội mớ quần áo trên sào tre, chị nói.

Chị Thủy làm nghề bán cá viên chiên còn chị Hoa bán vé số. Cả hai người phụ nữ đều được anh Trình giúp đỡ không lấy tiền ngủ võng suốt những tháng dịch Covid-19. Để trả ơn, họ giúp anh làm việc vặt và quét dọn quán khi rảnh rỗi.

Anh Trình, 44 tuổi, quê Bình Định là chủ của một quán võng đêm. Sáu năm trước, anh mở tiệm cắt tóc kèm vài chiếc võng móc sát vỉa hè dưới gốc cây bán nước cho khách vãng lai. Dần dần, khi thấy nhu cầu ngủ tạm qua đêm ở những quán võng tăng lên, anh Trình mua thêm võng, trồng thêm cây, thuê rộng mảnh đất hơn để mở quán.

Quán của anh có chừng 40 chiếc võng, móc sát nhau dưới tán cây, bên trên che tạm những tấm bạt ni lông cũ nhàu. Ban ngày bán nước cho khách vãng lai, đêm đến thì phục vụ khách ngủ lại. Anh thuê thêm 2 người trực ca đêm và giữ xe cho khách.

“Khách đến đây đủ mọi thành phần, từ người lao động nghèo, ăn xin, người lỡ đường, người nhậu xỉn cũng có luôn”, anh Trình nói.

Mở quán võng cho khách qua đêm tạm nhưng những ông chủ như anh Trình e ngại nhất là các khách trọ người già vì mức độ rủi ro cao. Mỗi khi có người già đến đến thuê võng ngủ, anh đều hỏi thông tin cá nhân, địa chỉ, quê quán. “Họ có bệnh gì làm sao tôi biết, đêm hôm gió máy nhỡ có mệnh hệ gì thì mang họa”, anh phân trần.

Năm ngoái, anh Trình phải đưa một khách trọ vào bệnh viện cấp cứu vì cơn tai biến lúc nửa đêm. Ngoài việc phải đóng viện phí cho ông cụ, anh còn phải cất công ba lần đến quận 8 tìm người thân của ông. Ông cụ qua đời vài ngày sau đó, đúng kịp lúc anh vừa tìm được người thân của cụ. Thấy gia cảnh khó khăn, anh Trình không đòi lại số tiền 2 triệu tạm ứng. “Cái tính cẩn thận đã cứu tôi. Không cho mấy người già vào ngủ thì không đành, nhưng cho vào lại thêm lo”, anh trải lòng.

Ông Nguyễn Quan Minh, phó chủ tịch phường Bình Trị Đông B chia sẻ: “Những quán cà phê võng trên địa bàn phường đều có đăng ký giấy phép kinh doanh. Chúng tôi không quản lý các đối tượng đến quán, việc ngủ lại qua đêm là tùy vào khách. Thường mỗi năm phường tổ chức kiểm tra định kỳ một lần, nhưng nếu trong quá trình hoạt động của quán nảy sinh các vấn đề khác thì sẽ kiểm tra thường xuyên hơn”.

Chị Loan là một trong hai người phụ nữ thường xuyên ngủ lại tại quán võng hơn 70 người mỗi đêm. Ảnh: Diệp Phan.
Chị Loan cùng chồng và con trai 7 tuổi là khách quen của quán võng từ gần một năm nay.

3h chiều, trong một quán võng khác cách chỗ anh Trình gần 100 m, vợ chồng anh Hưng, 39 tuổi, chị Loan, 35 tuổi đang rửa 5 kg đậu phộng, luộc trăm cái trứng cút chuẩn bị cho một đêm bán rong ở các quán nhậu.

Vợ chồng chị Loan cùng đứa con trai 7 tuổi dắt díu nhau tìm đến quán võng khi bị chủ trọ đuổi vì thiếu tiền phòng từ năm ngoái. Cậu con trai chị đã 7 tuổi nhưng chưa một ngày được đi học, mỗi tối theo mẹ đi bán hàng rong.

Anh Hưng sức khỏe yếu, ngồi không nhiều hơn đi làm. Chị Loan bị bệnh tim, không làm được việc nặng. Mỗi ngày, nguồn thu nhập từ bán rong đồ nhậu vặt mang về cho cả gia đình khoảng 100.000 đồng. “Bữa nào có thì mua hai hộp cơm 3 người ăn, bữa nào thiếu thì 1 hộp, xin chủ quán pha thêm gói mì”, chị nói.

Hằng ngày, chị Loan đi bán từ 5h chiều đến 11h đêm. Chiếc xe máy cũ, cái bếp lò, cái nồi luộc trứng đều được chủ quán cho mượn. Khi đến quán võng, của cải gia đình chị chỉ có 2 túi quần áo xách trên tay và một chiếc điện thoại “cục gạch”.

Rất muốn thoát cảnh ngủ võng, nhưng từ đầu năm đến nay, chị Loan chưa bao giờ dư được một triệu đồng trong tay. Muốn ra ở trọ phải đặt cọc ít nhất 2 tháng. “Tôi biết đóng tiền võng 3 người mỗi ngày hết 60 nghìn còn tốn hơn thuê trọ. Nhưng ngày nào đắp ngày đó thì được, chứ có đâu ra một lần mấy triệu mà đi thuê nhà”, chị nói giọng bất lực.

Gần 11 giờ đêm, trong quán đã có gần 70 người, nằm kín những chiếc võng, chủ yếu là đàn ông. Người nằm cách nhau chừng nửa mét nhưng mỗi người một việc. Những người già vùi đầu cuộn tròn trong chiếc võng, thanh niên thì cầm trên tay chiếc điện thoại, có người lại xem tivi đặt giữa quán, ngủ lúc nào không hay. Trên trần nhà, những chiếc quạt quay vù vù hết công suất đuổi muỗi.

Chị Loan trở về với chiếc rổ trống sau xe, chị dẫn cậu con trai vừa đi vừa dụi mắt ra sau hè xối ca nước rửa mặt. Bước về phía 3 chiếc võng quen của gia đình, chị nói với chồng: “Nay cuối tuần bán hết trơn”. Đặt lưng xuống võng, chị choàng hai tay ôm chặt bụng với 150 nghìn tiền lãi trong túi áo khoác rồi thiếp đi với cái bụng chỉ có vài quả trứng cút luộc vỡ, ăn từ chiều.

Diệp Phan

Image may contain: 2 people, people sitting and outdoor
Image may contain: one or more people and people sitting
Image may contain: 1 person

Những Ngã Rẽ,Hồi ký Dương Văn Ba

Phan Thị Hồng
Những Ngã Rẽ

Hồi ký Dương Văn Ba

 Chương 4 (P1)

LÀM BÁO SÀI GÒN

Phần 1

Nghiệp làm báo

Trong đời học sinh và sinh viên của tôi, có 3 lần tập tành nghề làm báo. Lần thứ nhất vào năm 1956, lúc mới 15 tuổi, tôi được thầy dạy Việt Văn là thầy Lâm Ngọc Bình chọn làm bỉnh bút của tờ đặc san Nhành Lúa Mới, tiếng nói của học sinh trường Công giáo Bạc Liêu. Cùng lo tờ báo đầu tay trong đời này có Phạm Văn Tập dân Cà Mau, sau này là nhà văn Hoài Điệp Tử, chuyên viết feuilleton cho một số báo như báo Tia Sáng, Trắng Đen.

Cách thức làm báo học trò như sau:

– Chúng tôi viết bài, đa số là tùy bút, thơ, truyện ngắn.

– Thầy Bình chọn, tôi và anh Tập lo biên tập, sắp xếp, trình bày. Báo dày 42 trang, khổ tập học trò, bìa in hai màu.

Tôi và anh Tập, đại diện cho nhà trường đem báo lên Cần Thơ mướn in. Nơi in báo của chúng tôi là một nhà in nhỏ của Tây Đô, nằm gần cầu Tham Tướng.

Tôi còn nhớ, bài báo đầu tay của tôi được in là một bài tùy bút về “chiếc áo bà ba đen”, nói lên cảm nghĩ về các cô gái lao động, bán buôn. Hồi đó nhà trường chỉ cho chúng tôi 1.800 đồng để in 300 số báo, kể cả tiền ăn xài, tiền xe lên xuống Cần Thơ hai lần để giao bài và nhận báo. Việc sắp chữ, sửa bản vỗ, cho chạy “bon” đều do chủ nhà in làm vì lúc đó chúng tôi không biết sửa morasse vả lại chỉ ở lại nhà in vài tiếng đồng hồ.

Tờ báo được Trưởng ty Thông tin Bạc Liêu lúc đó cho phép xuất bản là một điều hãnh diện cho trường Công giáo, cho thầy Bình và cá nhân tôi .

Nguyễn Văn Năm, Trưởng Ty Thông Tin lúc đó là một thanh niên đi kháng chiến ở Khu về Thành năm 1952, cùng thời với thầy Lâm Ngọc Bình. Điều này cho thấy ngay từ năm 1953-1954, hoạt động văn hoá, giáo dục của các tỉnh thành miền Nam đã có sự xâm nhập và âm thầm lan tỏa của những cán bộ Việt Minh từng theo kháng chiến. Như trường hợp trường trung học Long Đức của bà Bùi Thị Mè thành lập ở Trà Vinh năm 1955 (bà Bùi Thị Mè và chồng là ông Ngô Tấn Nhơn hoạt động Thành đến năm 1960 lại bỏ vào rừng).

Xâm nhập về văn hóa, văn nghệ, giáo dục là xâm nhập vào trái tim, cái đầu của học sinh, thử hỏi làm sao không có các phong trào đấu tranh thành thị về sau này?

Tôi nhớ lại phía những người cộng sản đã chuẩn bị cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam ngay trước khi Hiệp định Genève được ký kết. Việc xâm nhập về văn hóa giáo dục được tiến hành ưu tiên. Năm 1953, 1954, các bài thơ kháng chiến yêu nước nổi danh của nhà thơ Tố Hữu dã đựơc truyền tụng và đem giảng dạy trong các trường trung học lớn ở Sài Gòn, ở các tỉnh, trường công cũng như trường tư. Học sinh trung học thời đó không mấy ai mà không biết bài thơ tràn đầy tình yêu nước, tràn đầy khí thế cách mạng tiến công, thắng lợi của Tố Hữu. Bài “Ta Đi Tới :”

Ta đi giữa ban ngày

Trên đường cái thong dong ta bước.

….Đường Bắc Sơn, Đinh Cả, Thái Nguyên

Đường qua Tây Bắc, đường lên Điện Biên

Đường cách mạng dài theo kháng chiến

Đến hôm nay đường xuôi về biển

Mới tinh khôi màu đất đỏ tươi

Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi…

Họ cũng thuộc lòng bài thơ ca ngợi anh bộ đội nổi tiếng của nhà thơ Chính Hữu….

….Em về cấy lúa trồng bông

Cho lúa mau nở cho bông được mùa

Trưa hè rụng lá bàng khô

Tôi đi ra trận….nghe hò bốn phương

Súng ơi súng ở với tôi mùa thu, theo tôi mùa hạ

Theo tôi diệt nốt quân thù

Tôi nhớ thương người bạn cũ
Miệng cười mắt nhắm ngàn thu…

Lần thứ nhì tôi viết báo vào năm 1959 lúc vừa đổ tú tài. Tôi lấy bút danh Dương Trần Thảo, Huỳnh Thành Tâm lấy bút danh Huỳnh Phan Anh. Hai anh em chúng tôi cộng tác với Tuần báo Mã Thượng do anh Trịnh Văn Thanh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Bài viết của tôi là bài “nhận thức thời gian trong thi ca Hàn Mặc Tử” đăng trên tuần báo Mã Thượng (khổ lớn). Bài thứ nhì là thư ngõ gởi nhóm Sáng Tạo do Huỳnh Phan Anh và tôi cùng ký tên.

Một xu hướng triết lý trong văn chương, một kiểu “ếch nằm đáy giếng” đâu thấy trời bao la. Vừa viết báo vừa đi dạy học ở quận Chợ Mới Long Xuyên (dạy trường bán công ở Chợ Mới của anh Trương Phước Đức – bạn thân của Huỳnh Thành Tâm). Huỳnh Phanh Anh dạy Pháp văn, tôi dạy Việt văn, Nguyễn Tấn Trọng dạy tóan, lý, hóa (Nguyễn Tấn Trọng hiện nay ở Mỹ. Trong chiến tranh, anh là Phi công lái F5, bị bắn rơi ở miền Đông, bị bắt làm tù binh và được trao trả năm 1973, ngay sau khi hiệp định Paris được ký kết).

Đời viết báo và đời dạy học thường gắn bó với nhau. Chúng tôi 3 thanh niên mới lớn đã biết tháo vát dùng chút ít học thức của mình để kiếm thêm tiền sinh sống. Hồi năm 1960, nhật báo rất hiếm chỉ có 4,5 tờ. Báo về văn học càng hiếm hơn. Trường trung học cũng ít. Mỗi tỉnh chỉ có một trường công lập và một, hai trường tư. Còn ở cấp huyện, lớn như huyện Chợ Mới, các nhà tư sản, trí thức hoạ hoằn mới lập ra một trung học tư thục. Giấy phép phải lên tới Sài Gòn xin. Lúc đó, đỗ được tú tài đôi đã có thể tự coi là trí thức. Ở mỗi tỉnh họa hoằn mới có vài chục tú tài. Cái chữ cái nghĩa thời đó sao mà quí giá thế. Không phải như thầy đồ Tú Xương ca cẩm “văn chương hạ giới rẻ như bèo” .

Đến lần thứ ba, tôi lại cùng với Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Ngọc Thạch (Tư Trời Biển trong báo Tin Sáng), Võ Văn Điểm viết báo ở đại học Đà Lạt. Tập san Chiều Hướng Mới, tên báo do Huỳnh Phan Anh đặt.

Sau năm 1963 Tổng thống Kennedy bị bắn chết, chiến tranh ở miền Nam Việt Nam bắt đầu sôi động. Tờ báo của chúng tôi có những suy tư trăn trở thoát ra khỏi tháp ngà văn chương. Con người phải dấn thân nhập cuộc. Không dấn thân bằng cách đi lính, thầy giáo sinh viên cũng phải dấn thân bằng những suy tư phản kháng. Báo Chiều Hướng Mới lúc đó đã nói lên những trăn trở của lớp trẻ về sự vô lý của chiến tranh.

Ba bước tập tành theo nghề báo hình như đó là giáo đầu tuồng của định mệnh.

Chinh thức vào nghề viết lách

Đầu năm 1968, tôi chính thức bước vào nghề làm báo với các bài xã luận thường xuyên đăng trên báo Tin Sáng. Chưa chịu dừng ở đó, tôi xin giấy phép xuất bản Tuần báo Đại Dân Tộc. Tôi làm chủ báo nhưng không có quan hệ với dân buôn giấy, in báo, không biết cách bọc lót với giới phát hành, toàn là những “trùm sò” có ăn chịu với Hội cựu Chiến binh, với Trung ương Tình báo. Cho nên Tuần báo là của tôi, nhưng lại do Ngô Công Đức bỏ tiền ra in, phát hành, thu lợi nhuận.

Chủ nhiệm kiêm chủ bút Dương Văn Ba ăn lương một tháng 30 ngàn đồng (lúc đó bằng 3 lạng vàng). Tuần báo Đại Dân Tộc, nhật báo Tin Sáng, nhât báo Tiếng Nói Dân Tộc (do Lý Quí Chung làm chủ nhiệm) là ba diễn đàn đối lập công khai với chính phủ Thiệu – Kỳ.

Cùng tham gia viết báo trên tuần báo Đại Dân Tộc có Nguyễn Hữu Chung, Kiều Mộng Thu, Trần Ngọc Châu, Lý Chánh Trung…. Đại Dân Tộc đi vào chiều sâu của những vấn đề thời sự chính trị, là diễn đàn chống chiến tranh, đôi khi bị coi là thân cộng, phản diện với Tuần báo Con Ong của Minh Vồ, một tiếng nói hậu thuẫn của Nguyễn Cao Kỳ và các chính trị gia chống cộng gốc Miền Bắc. Tuần báo Con Ong coi cộng sản là kẻ thù không đội trời chung, còn tuần báo Đại Dân Tộc chủ trương hoà bình hoà giải dân tộc. Chúng tôi thẳng thắn và công khai chỉ trích Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ. Chúng tôi chủ trương người Mỹ, quân đội Mỹ không nên can thiệp trực tiếp vào Việt Nam.

Báo Đại Dân Tộc vừa có những bài bình luận chính trị nghiêm túc, vừa có những bài châm biếm khó quên. Nhà thơ Cung Văn mỗi tuần có một bài “móc lò” châm biếm chính trị vừa cay vừa chua đối với chính quyền và các nhân vật gia nô thời đó. Ông Đạo Ù Ù (bút danh của ông Hồ Hữu Tường), Hai Mã Tấu (bút danh của Nguyễn Ngọc Thạch) cũng có mặt trên Đại dân Tộc. Tuần báo của tôi cũng thường bị tịch thu và luôn luôn bị nhiều đoạn “TYĐB”.

Tự ý đục bỏ là biện pháp kiểm duyệt của chính quyền đối với báo chí. Báo chí cứ tự do viết, tự do nói, tự do xuất bản. Đồng thời Nha báo chí của Bộ Thông tin cũng tự do tha hồ đục bỏ, tha hồ tịch thu. Để tránh khỏi sự bao vây của kiểm duyệt và của cảnh sát, chúng tôi thường thuê in báo ở nhiều nơi khác nhau. Có nhà in ở Gia Định, có nhà in ở Quận 1, Quận 3, có nhà in ở Chợ Lớn.

Thường thì mỗi ngày cứ vào khoảng 2-3 giờ chiều Nha Báo chí mới kiểm duyệt xong các bản in thử. Họ gạch bỏ các hàng in nguy hiểm, xoá trắng những chỗ cấm đoán và thay thế bằng dòng chữ “TYĐB”.

Các nhà in ở đường Gia Long, nhà in ở đường Võ Tánh đương nhiên phải thi hành nghiêm túc lịnh TYĐB. Chúng tôi nộp lưu chiểu các ấn bản có TYĐB. Nhưng các ấn bản nguyên xi ở Gia Định, Gò Vấp, Chợ Lớn chúng tôi đã cho in từ sớm và in “nguyên con”.

Các chủ nhà in ở Quận 5 rất “chịu chơi” cho chạy máy toàn bộ các ấn bản không thông qua kiểm duyệt. Đội quân hàng mấy trăm người phát hành sẵn sàng xông vào các nơi in báo lậu để lãnh báo đi bán rộng khắp hang cùng ngõ hẻm.

Chúng tôi in báo được nguyên con nhờ các ông chủ nhà in gan dạ. Dĩ nhiên họ có thêm lợi nhuận, còn nhà báo thì liều mạng với chính quyền. Các em bán báo nhờ sự xé rào của chủ báo và chủ nhà in có được báo hấp dẫn để bán đắt như tôm tươi. Các chú cảnh sát, công an chìm làm ngơ cho báo in lậu, phát hành lậu cũng được thêm tiền lương súp do các tay đầu nậu phát hành báo đài thọ. Cả một hệ thống phân phối báo lậu, in lậu nhưng công khai tựa vào nhau mà giành lấy sự sống, và chiến đấu. Vô cùng sôi động và khó quên thời kỳ làm báo vưà công khai vừa chui vừa lậu.

Số phận tuần báo Đại Dân Tộc mặc dù in lậu nhiều số được “nguyên con”, nhưng vẫn không khác số phận của tờ Tiếng Gọi Miền Tây ở Mỹ Tho. Tổng Trưởng Thông tin Ngô Khắc Tỉnh ký án tử cho Đại Dân Tộc sau 9 tháng hoạt động. Có điều lạ là nhật báo Tin Sáng đấu tranh chống chính phủ Thiệu-Kỳ mãnh liệt, nhưng không hề hấn gì. Cùng thời đó, nhật báo Tiếng Nói Dân Tộc của ông Lý Quý Chung đối lập nhẹ nhàng hơn, phản ảnh tiếng nói vừa mức của thành phần thứ ba, đứng giữa cũng bị đóng cửa vĩnh viễn. Nhà báo Lý Quý Chung quá ngứa nghề, có lúc phải nhận làm chủ bút nhật báo Điện Tín trong 6-7 tháng .

Câu hỏi tại sao nhật báo Tin Sáng chỉ bị tịch thu nhiều lần mà không bị ông Nguyễn Văn Thiệu buộc đình bản, có nhiều người thắc mắc. Giải đáp tạm bợ của một số dư luận: Ngô Công Đức gốc công giáo, cha từng bị cộng sản giết, lại có bà con xa gần với Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình, nên Nguyễn Văn Thiệu còn nể vì. Cũng có nhiều người không tin vào ý kiến đó, họ đặt nghi ngờ xa hơn, Ngô Công Đức từ lâu đã có quan hệ với nhiều người Mỹ. Tài sản của Đức có được khi còn làm ăn ở Hậu Nghĩa do thầu cung cấp nước đá cho lính Mỹ và do thầu các quán xông hơi massage phục vụ quân đội Mỹ. Tiếng nói của Đức có thể phản ảnh một nước bài chính trị: đối lập với chế độ Thiệu, theo chủ trương của người Mỹ. Trong cuộc chơi chính trị tư sản, có thân chánh, phải có đối lập. Nếu triệt hạ báo Tin Sáng có nghĩa là huỷ bỏ toàn bộ cuộc chơi. Bàn cờ dân chủ được sắp đặt như thế, không thể đổi khác.

Ở một xứ sở lệ thuộc vào Mỹ quá nhiều, điều gì người ta cũng có thể nghi ngờ. Người ta nghi Ngô Công Đức dính với Mỹ cũng như Ngô Công Đức đã từng dính sâu với Nguyễn Cao Kỳ, với Nguyễn Thiện Nhơn, cánh tay mặt của Kỳ trong mọi cuộc ăn chơi đàng điếm.

Đại Dân Tộc hàng tuần bị đóng cửa, tôi tiếp tục viết xã luận mỗi tuần cho Tin Sáng và Thời Đại Mới do anh hai Nguyễn Kiên Giang phụ trách chủ nhiệm kiêm chủ bút. Một bài xã luận được lãnh 10.000 đồng nhuận bút, một tháng tôi viết cho Tin Sáng 5-6 bài, nhưng đối với báo Thời Đại Mới, tờ báo nghèo của anh Hai Kiên Giang tôi không nhận bút phí. Tình cảm của anh chị Hai Kiên Giang đối với các đàn em trong làng báo Sài Gòn lúc đó rất dễ thương. Đối với tôi, một ngòi bút chính trị trẻ lúc bấy giờ anh Hai Kiên Giang là tấm gương sáng trong nghề làm báo miền Nam.

Báo Thời Đại Mới không có nhiều độc giả như Tin Sáng, nhưng đó là tờ báo của một ký giả nhà nghề. Qua bao đổi thay sóng gió, hoan hô, đả đảo, Thời Đại Mới của anh Hai Kiên Giang vẫn luôn có mặt, luôn tồn tại, góp phần vào sự nghiệp làm báo nhà nghề miền Nam.

Khi tôi viết những dòng này, có lẽ anh Hai Kiên Giang đã khuất, xin coi như nén nhang tưởng niệm một đàn anh nhà nghề bất khuất, luôn lạc quan, luôn có mặt để nói lên những gì cần nói và nói được những gì mà nhà cầm quyền không đục bỏ, vẫn cứ nói theo thể cách riêng để tồn tại vì tồn tại là trên hết để làm nhân chứng lịch sử.

Tự do báo chí?

Giai đoạn 1965-1975 báo chí Sài Gòn đầy màu sắc, khá phức tạp. Có thể tạm chia làm 5 loại:

– Báo chống cộng sản: Các tờ Chính Luận, Tự Do, Sóng Thần, Tiền Tuyến.

– Báo thương mại, làm báo để làm giàu, để kiếm sống, không lập trường chính trị rõ rệt: Báo Tia Sáng của ông Nguyễn Trung Thành, Sài Gòn Mới của bà Bút Trà.

– Báo nhà nghề, chuyên đào sâu các vấn đề thời sự, chuyên môn dưới cặp mắt báo chí không phản ảnh rõ rệt đứng bên này hay bên kia: Báo Thần Chung của Nam Đình, Đuốc Nhà Nam của Trần Tấn Quốc.

– Báo đối lập gồm có báo Tiếng Nói Dân Tộc, Tin Sáng, Điện Tín, Đại Dân Tộc

– Báo được CIA Mỹ tài trợ hoặc báo của trung ương tình báo Sài Gòn như báo Trắng Đen, Chính Luận.

Có tự do báo chí hay không dưới thời Nguyễn Văn Thiệu 1965-1975?

Không có và có.

Không có: vì hàng ngày báo nào cũng bị kiểm duyệt. Phóng viên, ký giả có thể bị bắt nếu suy ra viết bài hay tung tin có lợi cho phía cộng sản.

Các ký giả vừa viết báo vừa hoạt động cho cộng sản có thể bị bắt không cần một phán quyết nào của tòa án. Thường một số nhà báo từng tham gia kháng chiến chống Pháp tiếp tục hoạt động cho cách mạng hay các phóng viên cộng sản mới vào nghề, lộ diện dễ dàng bị bắt bởi công an chìm.

Chế độ cũ kiểm duyệt và kìm kẹp báo chí thường chỉ chú trọng tới nội dung chính trị, báo có làm lợi cho cộng sản hay không. Còn về mặt văn hoá văn nghệ, xã hội hầu như họ thả lỏng. Ở những lãnh vực này báo chí được tự do muốn viết gì thì viết. Từ đó, một tiểu thuyết kích dâm hạng nặng như tiểu thuyết Chín Củi được đăng tải trong báo Tia Sáng, một tiểu thuyết khác như tiểu thuyết Cậu Chó có nhiều pha nhơ nhớp, tục tĩu vẫn được đăng trên báo Trắng Đen, vẫn ùn ùn bán chạy.

Có tự do báo chí:

– Hiểu theo nghĩa ai muốn viết gì cứ tha hồ viết. Chẳng có một rào cản nào ngoại trừ rào cản cộng sản.

– Hiểu theo nghĩa chưa có ký giả nào bị bắt bỏ tù vì dám viết bài chống hoặc phỉ báng chế độ. Các mục tiếu lâm, móc lò trên các báo tha hồ xỏ xiên, bôi đen Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ. Ví dụ Thiệu được gọi là Anh Bảy Tê Tê, Kỳ được gọi là Tướng Đá Gà Râu Kẽm. Trên báo Tin Sáng, Tư Trời Biển tha hồ tung tin vịt nghe qua rồi bỏ, nhà thơ Cung Văn tha hồ ví von chính quyền theo sở thích.

– Hình phạt nặng nhất của chế độ cũ: đóng cửa báo.

– Cũng chưa có ai bán các tờ báo lậu mà bị bắt bỏ tù.

Chế độ cũ chỉ bưng bít sự thật trên báo chí được nửa vời. Các báo hàng ngày chống chế độ vẫn tới tay đọc giả thông qua hệ thống phát hành lậu. Biện pháp nửa vời đã là ngòi nổ giựt sập uy tín chế độ cũ trong tâm lý quần chúng. Chế độ cũ có giăng lưới bao vây tự do báo chí chỉ giăng lưới một nửa. Còn một nửa kia, độc giả vẫn thấy được sự thật 100%. Báo chí của chế độ cũ đã góp phần liên tục “đánh mìn chế độ” trong dư luận.

Thời kỳ làm báo Điện Tín

Tuần báo Đại Dân Tộc cáo chung. Đến năm 1971, do yêu cầu của kỹ sư Võ Long Triều, tôi ký giấy đồng ý nhượng tên Đại Dân Tộc để anh Triều đứng tên xin phép xuất bản tờ nhật báo cũng lấy tên Đại Dân Tộc.

Vào khoảng cuối năm 1971, Đại Dân Tộc tái xuất giang hồ với tư cách báo hàng ngày. Ba nhân vật chính điều hành báo này là anh Võ Long Triều (lúc đó đã là dân biểu Quốc hội ) dân biểu Kiều Mộng Thu, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận. Đại Dân Tộc trở nên sáng giá, là nhật báo đối lập hàng đầu.

Cuối năm 1971, sau khi thất cử, Ngô Công Đức đã bỏ trốn đi nước ngoài. Báo Tin Sáng tiếp tục xuất bản đến đầu tháng 4-1972 phải tự đình bản vì Bộ Thông tin không cho nộp lưu chiểu nữa dù không có lệnh đóng cửa.

Anh Hồ Ngọc Nhuận và tôi được anh Hồng Sơn Đông mời về làm chủ biên nhật báo Điện Tín kể từ tháng 11-971.

Đầu não của báo Điện Tín được sắp xếp như sau:

– Nghị sĩ Hồng Sơn Đông: Chủ nhiệm

– Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận: Chủ bút.

– Dương Văn Ba (đã thất cử): Phó chủ bút kiêm Tổng thư ký Toà soạn

– Giáo Sư Lý Chánh Trung: Giám đốc chính trị

Nhật báo Điện Tín vào giai đoạn này ngấm ngầm trở thành tiếng nói chính thức của nhóm chủ trương hoà bình dân tộc, đứng đầu là Đại Tướng Dương Văn Minh.

Dương Văn Minh và Hồng Sơn Đông trong quân đội có quan hệ thầy trò. Hồng Sơn Đông đóng lon Đại tá (theo đạo Cao Đài) dưới quyền chỉ huy của Tướng Minh. Về chính trị Hồng Sơn Đông ủng hộ đường lối hòa bình của Tướng Minh. Vì lúc đó đang khá giàu có, Hồng Sơn Đông một phần nào đã chia xẻ gánh nặng tài chinh cho Tướng Minh. Trong Quốc hội, Hồng Sơn Đông đứng chung liên danh với luật sư Vũ Văn Mẫu, nhân vật được phật giáo Ấn Quang hậu thuẫn, chủ trương giải pháp hòa bình giữa các bên Việt Nam.

Khoảng thời gian đầu, khi nhận làm phó chủ bút báo Điện Tín, tôi vẫn tiếp tục nghề dạy học tại trường trung học Mạc Đĩnh Chi (sau khi thất cử dân biểu tỉnh Bạc Liêu tôi bị buộc trở về Bộ Giáo dục. Bộ trưởng Bộ Giáo dục Ngô Khắc Tỉnh đã ký quyết định chuyển tôi về dạy học). Trường Mạc Đĩnh Chi lúc đó do anh Lý Di, người Trà Vinh làm hiệu trưởng. Tôi và anh Di là bạn, anh ấy phân cho tôi dạy môn Pháp văn, 16 giờ một tuần. Tôi tiếp tục nghề dạy học thêm 3 tháng, sau đó vì công việc nhà báo tràn ngập, tôi bỏ ngang nghề thầy giáo.

Lúc tôi điều hành tờ Điện Tín hàng ngày, báo này mới chỉ có 8 ngàn độc giả. Đó là vào khoảng tháng 12-1971.

Cùng làm việc với tôi hàng ngày ở toà soạn (địa chỉ số 101 đường Võ Tánh, quận 1 – ngày nay là đường Nguyễn Trãi) – có những người sau đây :

– Anh Trương Lộc – Thư ký toà soạn

– Anh Huỳnh Bá Thành tức hoạ sĩ Ớt – Trưởng ban trình bày – lúc đó chúng tôi gọi là Giám đốc kỹ thuật (sau ngày giải phóng Huỳnh Bá Thành mang lon Trung tá Công an – Tổng biên tập báo Công an TP.HCM), Nguyễn Văn Phúc – Kỹ thuật viên montage, trợ lý trình bày cho Huỳnh Bá Thành (sau giải phóng mới lộ ra Phúc là Trung úy công an).

– Anh Kiên Giang, anh Sơn Nam phụ trách trang văn hóa văn nghệ.

– Anh Nguyễn Vũ, anh Tường Hữu cung cấp các bản dịch tin nước ngoài và tin tổng hợp lấy từ các thông tấn xã AFP, UPI, AP, Reuter

– Anh Trần Trọng Thức bút danh Trần Văn Lê phụ trách mục ký sự nhân vật (lúc đó Trần Trọng Thức đã bị động viên đóng lon trung úy Hải quân)

– Anh Cung Văn tức Nguyễn Vạn Hồng – Phóng viên Việt Tấn Xã – phụ trách mục thơ châm biếm. Anh Nguyễn Ngọc Thạch thường xuyên viết mục Án Thua Đủ ký tên Hai Mã Tấu – trước đây Cung Văn cũng thường viết Tư Trời Biển trên báo Tin Sáng cùng với Nguyễn Ngọc Thạch.

– Đội ngũ phóng viên có nhiều người trẻ. Trong đó có Nguyễn Ninh, Điệp Liên Anh, có Quốc Trang (sau giải phóng mới lộ ra Quốc Trang hoạt động cộng sản, hiện nay giữ vai trò quan trọng trong việc quan hệ với người Hoa Chợ lớn)

– Phụ trách viết xã luận có nhiều người: Nguyễn Hữu Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Huỳnh Văn Tòng..( Dương Văn Ba lúc đó ký tên nhiều người như dân biểu Huỳnh Ngọc Diêu, dân biểu Huỳnh Trung Chánh, Nghị Sĩ Hồng Sơn Đông, dân biểu Trần Văn Thung, dân biểu Nguyễn Công Hoan… những người này không có thì giờ viết, khoán cho Dương Văn Ba viết và trả thêm phụ cấp vì ông Ba đã thất cử, không thể công khai ký tên).

– Viết feuilleton có Lý Quý Chung. “Nhựt ký của nàng Kiều Dung” là một truyện dài rất ăn khách mô tả lối sống ăn chơi của giai cấp thượng lưu trong xã hội Sài Gòn, cũng có những pha tình ái du dương lãng mạn, hấp dẫn. Tôi với tư cách phó chủ bút thường trực quyết định cho đăng feuilleton này. Nhiều người phản đối cho rằng tiểu thuyết đó có tính cách khiêu dâm. Tôi nhớ không lầm đó là phản ứng của Lý Chánh Trung và Hồ Ngọc Nhuận. Nhưng càng đăng, tiểu thuyết này càng có đông độc giả vì nó lột tả được một cách sống động nếp sống xa hoa đàng điếm của một giai cấp thượng tầng xã hội.

– Về phóng sự, nổi bật của báo Điện Tín vào thơi kỳ 1972-1973 có phóng sự “Nhật ký của G.I” do Hoàng Minh Phương thực hiện.

– Hoàng Minh Phương, gốc Huế, lúc đó khoảng 30 tuổi, đầu năm 1972 xuất hiện tại toà soạn, giao cho tôi một tập bản thảo và tự giới thiệu anh đang làm thông dịch viên cho Mỹ ở PleiKu, chán cảnh làm tay sai, bỏ về Sài Gòn với một ngòi bút có khả năng sinh ngữ. Sau khi đọc nhanh tập bản thảo, tôi thấy có sắc thái, nhạy bén, hấp dẫn, tôi nhận đăng đồng thời sử dụng Hoàng Minh Phương dịch một vài tài liệu tiếng Anh ngắn hàng ngày.

– Phóng sự của Hoàng Minh Phương khá thành công, mô tả cuộc sống thác loạn của các thanh niên “chích choác”, pha trộn nhiều cảnh làm tình tập thể hỗn tạp. Việc khai thác phóng sự này giúp độc giả ở các địa phương hiểu sâu thêm bộ mặt đen, ma quái của Sài Gòn cũ. Sau này khi giải phóng xong, hình như Hoàng Minh Phương được tuyển dụng làm phóng viên của báo Đảng “Sài Gòn Giải Phóng”. Hoàng Minh Phương ít nói, có cuộc sống thầm lặng đôi khi khó hiểu. Tôi đã mạnh dạn sử dụng anh, dựa vào ngòi bút có màu sắc của anh, bất kể đằng sau lưng anh là màu xanh hay đỏ. Đã hơn 28 năm nay, tôi chưa hề gặp lại Hoàng Minh Phương, dù cả anh và tôi đều biết là đang cùng sống ở Sài Gòn, riêng tôi từng đi tù cộng sản hơn 7 năm.

Toà soạn nhật báo Điện Tín thời kỳ 1971- 1972, không khí làm việc tích cực, sôi nổi quyết liệt. Bộ bốn Dương Văn Ba, Trương Lộc, Minh Đỗ, Huỳnh Bá Thành luôn luôn có mặt tại toà soạn từ 6 giờ 30 phút sáng, vùi đầu vào công việc cho đến 12 giờ trưa mới xong.

Nhiệm vụ của Trương Lộc và Minh Đỗ, hai thư ký toà soạn, là lựa tin lựa bài, Trương Lộc lo về tin Thông Tấn Xã,têlêtype, các bản tin của các hãng thông tấn nước ngoài Reuter, AFP, AP, UPI (do Tường Hữu và Nguyễn Vũ cung cấp). Anh Minh Đỗ chọn lựa các tin quốc nội và chuyên lo về trang 3 trang 4.

Tiện đây, tôi xin nói thêm mấy dòng về anh Minh Đỗ. Anh tên thật là Đặng Văn Nên, từng đi kháng chiến chống Pháp ở khu 8, cùng một thời kỳ với ông Lê Hồng Cẫm. Sau 1954, anh Minh Đỗ về thành, làm báo, nhờ nghề chuyên môn đánh Morse trong kháng chiến chống Pháp nên có thời gian anh được chọn làm ở Trung Tâm Kiểm Soát Không Lưu, sân bay Tân Sơn Nhất. Anh Minh Đỗ khá về tiếng Anh, tiếng Pháp, có hiểu biết về chuyên môn. Là một người làm báo chuyên nghiệp, một phụ tá có năng lực cho chủ bút, vui tính, ít nói, tận tụy, say mê nghề nghiệp. Anh phụ giúp tôi tận tình ở báo Điện Tín suốt mấy năm. Qua đến thời kỳ báo Tin Sáng, hồi II, tôi cũng làm phó chủ bút, Hồ Ngọc Nhuận làm chủ bút, anh Minh Đỗ cũng với tư cách thư ký toà soạn,đã phụ giúp tôi đắc lực.

Viết đến những dòng này sau hơn 30 năm làm báo, thời kỳ cộng tác với tôi ở báo Điện Tín và báo Tin Sáng, kỷ niệm giữa chúng tôi khá đậm đà. Anh Minh Đỗ từng là một cán bộ kháng chiến, yêu nước, yêu nghề làm báo, anh là một trong những cột trụ âm thầm của làng báo Sài Gòn xưa và nay. Bây giờ anh đã khuất, trong âm thầm lặng lẽ, trong sự thương tiếc của bạn bè và đồng nghiệp. Tôi ghi lại những dòng này để tưởng nhớ đến anh, một người cộng tác, đầy đủ những đức tính để các lớp đàn em học hỏi.

Minh Đỗ, Phan Ba, Sơn Tùng, Tô Nguyệt Đình những đàn anh nhà nghề mà ai viết về lịch sử của làng báo Sài Gòn trước ngày giải phóng không thể bỏ sót.

Chương 4: Làm báo Sài Gòn (phần 2)

6-3-15

* * *

Chương 3: DẠY HỌC
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=1252567748415924&id=100009881313541&notif_t=feedback_reaction_generic&notif_id=1596646809279559&ref=browse_tab

Chương 4 (P1): LÀM BÁO SÀI GÒN – Nghiệp làm báo
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=1252567958415903&id=100009881313541

Chương 4 (P2): LÀM BÁO SÀI GÒN – Tờ báo, công cụ đấu tranh chính trị.
https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=1252568065082559&id=100009881313541

* * *

Link:
http://www.viet-studies.net/kinhte/DuongVanBa_4a.htm

LÀM SAO KHÔNG PHÁT ĐIÊN khi đọc những tin như này thưa quý vị fber ???

Ngô Thứ
LÀM SAO KHÔNG PHÁT ĐIÊN khi đọc những tin như này thưa quý vị fber ???

_________
Trương Châu Hữu Danh
NGẮM TƯỢNG ĐÀI CHO ĐỠ ĐÓI

Chiều 28/7, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đăk Nông Tôn Thị Ngọc Hạnh dẫn đầu Đoàn công tác của tỉnh đi kiểm tra tiến độ thi công công trình Tượng đài N’Trang Lơng và phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc 1912-1936 (giai đoạn 1), do Ban Quản lý dự án giao thông, dân dụng, công nghiệp tỉnh Đắk Nông làm chủ đầu tư.

Công trình Tượng đài N’Trang Lơng có tổng mức đầu tư 167 tỷ đồng. Tượng N’Trang Lơng và phù điêu được chế tác bằng đá xanh ở tỉnh Thanh Hóa, phần tượng cao 13m, phù điêu 5,5m, chiều dài đế của cụm tượng đài là 27m.

Trước đó, tháng 5/2015, UBND tỉnh Đắk Nông tổ chức khởi công công trình này tại đồi Đắk Nur, phường Nghĩa Đức, thị xã Gia Nghĩa và có tổng vốn đầu tư gần 68 tỷ đồng và dự kiến hoàn thành trong năm 2018.

Số tiền 68 tỷ đồng so với tỉnh nghèo Đăk Nông là rất lớn.
Tuy nhiên, tỉnh này làm hoài không xong và bây giờ đẩy một nhát lên 167 tỷ đồng.

Chưa biết đó có phải là con số cuối cùng hay chưa!

Đăk Nông là tỉnh nghèo nhất nhì cả nước. Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số là 40,38%, tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ là 53,79% thì tính đến cuối năm 2019 (UBND chưa công bố chính thức), tỷ lệ hộ nghèo chung của tỉnh là 10,52%. Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số là 24,15%, tỷ lệ hộ nghèo đồng bào DTTS tại chỗ là 31,60%.

Tiền làm tượng đài đủ làm 1.500 căn nhà cho hộ nghèo.
Ảnh: Báo Đăk Nông

https://www.facebook.com/100002712488476/posts/2866410590125996/

Image may contain: one or more people, cloud, sky and outdoor

Tỉnh nghèo Đắk Nông muốn ‘làm ngày, làm đêm’ để xong tượng đài gần 50 tỷ đồng – Trí Thức VN

To Thu Thu

Tỉnh nghèo cần đạt chỉ tiêu!

Dù bị dư luận phản đối, nhưng giới chức tỉnh Đắk Nông vẫn yêu cầu làm ngày làm đêm để đẩy nhanh việc xây dựng tượng đài N’Trang Lơng gần 50 tỷ đồng.

PHÓ CHÁNH VĂN PHÒNG BỘ GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO ĐỘT TỬ

PHÓ CHÁNH VĂN PHÒNG BỘ GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO ĐỘT TỬ

Ông Nguyễn Việt Hùng, Phó chánh văn phòng phụ trách truyền thông của Bộ GD-ĐT vừa bị đột tử trong lúc đi công tác ở Bắc Kạn.

Ông Hùng đang cùng đoàn của Bộ GD-ĐT kiểm tra một điểm thi tốt nghiệp THPT. Sau khi dùng bữa trưa tại TP. Bắc Kạn, cảm thấy mệt, ông Hùng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh nhưng đã tử vong.

Chỉ trong một thời gian ngắn, ngành giáo dục xảy ra 3 cái chết bất ngờ khiến dư luận không khỏi đặt nghi vấn.

Tháng 10/2019, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Lê Hải An “bị rơi” từ tầng 8 trụ sở Bộ Giáo dục.

Ngày 5/4/2020, tiến sĩ Bùi Quang Tín tử vong ở chung cư New Sài Gòn cũng “bị rơi” từ nhà cao tầng.

Và hôm nay là ông Hùng.

Image may contain: 1 person, eyeglasses, suit and closeup

Em Olga Misik, 17 tuổi, ngồi phản đối chính quyền Putin ngay tại Moscow

Thuc Tran
Vu Ho

Tên cô bé trong hình này là Olga Misik, em 17 tuổi. Hình ảnh cô bé này ngồi phản đối chính quyền Putin ngay tại Moscow đã lan truyền rất nhanh chóng trên toàn thế giới. Cô ngồi đó chỉ với quyển hiến pháp Nga và đọc trong khi đó 1 số đông cảnh sát đã không biết đối phó với cô ra sao và chỉ biết bao vây cô lại và đứng nhìn cô.

Cô nói rằng:

“Tôi chỉ muốn nhắc nhở họ [cảnh sát] rằng chúng tôi ở đây với mục đích hòa bình và không có vũ khí, nhưng họ thì lại có !

Tôi thậm chí không bao giờ nghĩ rằng ai đó ngoài họ sẽ nghe thấy những gì tôi đọc. Tôi ngồi trên mặt đất và bắt đầu đọc các quyền theo hiến pháp của chúng tôi, xác định rằng những gì đang xảy ra ở đây [cảnh sát bắt giữ người biểu tình] là bất hợp pháp.”

VŨ CA

Image may contain: 9 people, outdoor

Trần Phong Vũ

01.08.2019

Tên cô bé trong hình này là Olga Misik, em 17 tuổi. Hình ảnh cô bé này ngồi phản đối chính quyền Putin ngay tại Moscow đã lan truyền rất nhanh chóng trên toàn thế giới. Cô ngồi đó chỉ với quyển hiến pháp Nga và đọc trong khi đó 1 số đông cảnh sát đã không biết đối phó với cô ra sao và chỉ biết bao vây cô lại và đứng nhìn cô.

Cô nói rằng:

“Tôi chỉ muốn nhắc nhở họ [cảnh sát] rằng chúng tôi ở đây với mục đích hòa bình và không có vũ khí, nhưng họ thì lại có !

Tôi thậm chí không bao giờ nghĩ rằng ai đó ngoài họ sẽ nghe thấy những gì tôi đọc. Tôi ngồi trên mặt đất và bắt đầu đọc các quyền theo hiến pháp của chúng tôi, xác định rằng những gì đang xảy ra ở đây [cảnh sát bắt giữ người biểu tình] là bất hợp pháp.”

VŨ CA

DÂN ƠI! ĐỪNG KHÓC!

Image may contain: one or more people
Image may contain: 1 person, walking, standing and outdoor
Image may contain: one or more people, motorcycle and outdoor, text that says '59 S2 870.40'
Image may contain: 2 people, people sitting
+10
8 SÀI GÒN

DÂN ƠI! ĐỪNG KHÓC!

Bây giờ thì quý vị đã thấy công dụng của tượng đài ngàn tỷ chưa? Thấy an ủi vì nước nào cũng có tham nhũng chưa? Mỹ chết dịch vì chủ quan nhưng chắc chắn không lo chết đói, còn ở VN bây giờ người ta sợ chết đói hơn cả chết dịch! Sẽ bao nhiêu người quẫn trí khi lâm vào đường cùng? Bao gia đình phải ly tán vì nợ nần chồng chất??

Hãy thôi bớt ngạo nghễ đi các ông ơi! 62.000 tỷ đã đến đúng và đủ cho dân chưa? Tại sao lúc cần so sánh với Mỹ khi phát tiền cứu trợ cho dân theo nhân khẩu, không phân biệt giàu nghèo thì lại không so còn những lúc điện đóm, thuế má thì lại so?

Mặt trời đâu rồi? Hãy tỏa sáng rực rỡ đi! Hãy là lá cờ đầu như những tuyên bố hùng hồn ở mỗi lần tổng kết đại hội đi nào! Người ta sẽ tổ chức ĐH với những băng rôn khẩu hiệu trăm, nghìn tỷ đồng, với những lời chúc tụng, ca ngợi những thành quả vẻ vang và biết đâu, “giặc Covid” cũng là thành tựu để người ta liệt kê cho “năm qua thắng lợi vẻ vang”?

Tôi chỉ biết, ngoài kia, hàng triệu người đang rên xiết nhưng lần này không phải dưới xiềng xích hay gót giày của ngoại bang nữa.

Liệu một lần, các người vì dân, đừng tổ chức Đại hội linh đình, đừng khoe khoang ca ngợi trên những giọt nước mắt của dân nghèo nữa, có được không?

NHẬT HUỲNH

Tài liệu giải mã chấn động của FBI: Nhà phát minh thiên tài Tesla là người ngoài hành tinh đến từ sao Kim.

Image may contain: 1 person, closeup
No photo description available.
Image may contain: text
Image may contain: 1 person
Image may contain: outdoor
+4
Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh and 2 others.

Tài liệu giải mã chấn động của FBI: Nhà phát minh thiên tài Tesla là người ngoài hành tinh đến từ sao Kim.

Tường Hòa

NTD • 01/08/2020

Ảnh 1: FBI đã công bố nhiều tài liệu giải mật, trong đó một tài liệu đã gây chấn động: Nhà phát minh thiên tài Nikola Tesla (1856 – 1943) đến từ sao Kim (Venus). (Tổng hợp)

Gần đây, FBI (Cục Điều tra Liên bang Mỹ) đã công bố nhiều tài liệu được giải mã trên trang web chính thức của mình, trong đó một tài liệu đã gây chấn động trên toàn thế giới: Nhà phát minh thiên tài Nikola Tesla (1856 – 1943) đến từ sao Kim (Venus), ông chính là người ngoài hành tinh!

Ảnh 2: Tài liệu này có tên “Nikola Tesla Phần 03 của 03” là tài liệu thứ ba về Tesla được FBI giải mã, tổng cộng 64 trang, một số nội dung trong đó đã bị bôi đen. (Ảnh chụp màn hình).

Tài liệu này có tên “Nikola Tesla Phần 03 của 03” là tài liệu thứ ba về Tesla được FBI giải mã, tổng cộng 64 trang, một số nội dung trong đó đã bị bôi đen. Có một đoạn trong nội dung không bị bôi đen viết rằng: “Cư dân vũ trụ đã liên lạc với Nikola Tesla nhiều lần, và nói với FBI rằng Tesla đến từ sao Kim. Năm 1856, Tesla được đưa đến trái đất và trao cho một cặp vợ chồng Nam Tư nuôi dưỡng”.

Ảnh 3: “Cư dân vũ trụ đã liên lạc với Nikola Tesla nhiều lần, và nói với FBI rằng Tesla đến từ sao Kim. Năm 1856, Tesla được đưa đến trái đất và trao cho một cặp vợ chồng Nam Tư nuôi dưỡng”. (Ảnh chụp tài liệu).

Thế giới đã chấn động khi tuyên bố này được đưa ra. Tuy nhiên, trước nhiều nghi ngờ và thắc mắc của công chúng, FBI đã không trả lời hoặc giải thích, điều này thậm chí còn khiến mọi người tò mò hơn. Mục đích của Tesla từ sao Kim đến Trái đất là gì? Mục đích của người ngoài hành tinh liên lạc với Tesla nhiều lần là gì? Tại sao người ngoài hành tinh nói với FBI danh tính thực sự của Tesla?

Khi nói đến các nhà khoa học, chúng ta thường nghĩ về Edison, Einstein và Newton, nhưng điều mà nhiều người không biết là thành tựu khoa học của Tesla thậm chí còn khiến người ta kinh ngạc hơn.

Tesla là một nhà phát minh thiên tài vĩ đại, với hơn 1.000 bằng sáng chế được ghi nhận. Sáng tạo khoa học của ông đã vượt 300 năm so với trình độ cùng thời kỳ, thậm chí hơn 1.000 năm. Đóng góp của ông cho nền văn minh nhân loại là không thể xóa nhòa.

Ảnh 4: Tesla là một nhà phát minh thiên tài vĩ đại, với hơn 1.000 bằng sáng chế được ghi nhận. Sáng tạo khoa học của ông đã vượt 300 năm so với trình độ cùng thời kỳ, thậm chí hơn 1.000 năm. (Wikimedia Commons)

Phát minh quan trọng đầu tiên của Tesla là hệ thống điện xoay chiều. Trước đó, con người đã sử dụng hệ thống điện một chiều của công ty Edison. Hệ thống dòng điện một chiều giá thành cao, không an toàn và không thể truyền dẫn điện qua khoảng cách xa. Hệ thống dòng điện xoay chiều do Tesla phát minh đã giải quyết hoàn toàn những vấn đề này. Nguồn điện xoay chiều an toàn, có thể truyền dẫn điện qua khoảng cách xa và rẻ hơn. Do việc sử dụng các hệ thống dòng điện xoay chiều, nhân loại đã đi trước tiến bước vào thời đại điện khí hóa, và tầm quan trọng của năng lượng điện đối với sự tiến bộ của nhân loại là điều hiển nhiên.

Một phát minh quan trọng khác của Tesla là công nghệ vô tuyến điện. Nhiều thiết bị hiện đại cần công nghệ vô tuyến, chẳng hạn như điện thoại thông minh, máy tính, TV, tên lửa, hệ thống dẫn đường, vệ tinh và tàu vũ trụ.

Ngoài ra, ông đã phát minh ra đèn neon, radio, trạm biến áp, hệ thống tự động hóa từ xa, máy biến thế, máy phát khuếch đại, sét nhân tạo, năng lượng chùm hạt, tia X… Điều kinh ngạc hơn là ông cũng thành thạo công nghệ cốt lõi của vũ khí hạt nhân.

Ảnh 5: Một số người nghĩ rằng Tesla có thể không phát minh ra, nhưng mang công nghệ của Sao Kim đến trái đất và truyền thụ cho nhân loại. (orionpozo – CC BY 2.0)

Trung bình, Tesla có hơn 20 phát minh mỗi năm, đó là một con số đáng kinh ngạc. Một số người nghĩ rằng Tesla có thể không phát minh ra, nhưng mang công nghệ của Sao Kim đến trái đất và truyền thụ cho nhân loại.

Ngoài phát minh và sáng tạo, Tesla cũng đã đưa ra nhiều dự đoán chính xác. Ví dụ, năm 1926 ông dự đoán chính xác sự xuất hiện của điện thoại thông minh. Điện thoại thông minh đầu tiên trên thế giới chỉ được sản xuất vào năm 1993 và Tesla đã biết về sự tồn tại của điện thoại thông minh trước 67 năm, điều này thực sự đáng kinh ngạc.

Ảnh 6: Tesla dự đoán sự xuất hiện của điện thoại thông minh trước 67 năm. (Pxfuel).

Vào thời điểm đó, Tesla nói rằng khi con người có thể sử dụng công nghệ vô tuyến một cách hoàn hảo, toàn bộ trái đất sẽ trở thành một tổng thể, bất kể mọi người cách nhau bao xa, họ có thể kết nối với nhau ngay lập tức và họ có thể nhìn thấy khuôn mặt của nhau và nghe thấy giọng nói của họ. Thiết bị có chức năng này nhỏ đến mức chúng ta có thể dễ dàng bỏ vào túi.

Tesla bắt đầu nghiên cứu “máy bay chống trọng lực” vào năm 1911. Ông nói rằng loại máy bay này không cần cánh quạt hoặc cánh, và có thể vẫn hoàn toàn đứng yên trong không khí, và có thể bay trơn tru trong môi trường có gió lớn. Do ít thông tin được lưu hành, một số người cho rằng Tesla đã không thành công trong việc phát triển loại máy bay vượt thời đại này, nhưng một số người cho rằng ông đã chế tạo được loại máy bay này, đó chính là UFO thường xuyên xuất hiện ở Hoa Kỳ.

Ảnh 7: Tài liệu tiết lộ một bức thư dự báo sự xuất hiện của UFO trên lãnh thổ nước Mỹ. (Ảnh chụp màn hình)

Tesla qua đời vào năm 1945, và tất cả các phát minh trong những năm cuối đời của ông được FBI liệt kê là tối mật. Các tài liệu như “Tesla từ sao Kim” chỉ là bí mật thông thường và sẽ được giải mã sau 50 năm. Sẽ mất ít nhất 100 năm để các tài liệu tối mật được phép giải mật.

Ảnh 8: Họ là những người ngoài hành tinh sống trên trái đất. Nổi tiếng nhất trong số này là cậu bé tự xưng mình đến từ sao Hỏa Boriska và Onik của sao Kim.

Cho đến nay, không ít người tin rằng có rất nhiều “kẻ lang thang vũ trụ” đã xuất hiện trên trái đất. Họ là những người ngoài hành tinh sống trên trái đất. Nổi tiếng nhất trong số này là cậu bé tự xưng mình đến từ sao Hỏa Boriska và Onik của sao Kim. Thông tin của họ làm dấy lên sự chú ý của công chúng.

Có bao nhiêu người ngoài hành tinh đã đến Trái đất? Mục đích của họ ở đây là gì? Có cuộc sống nào cao hơn đến trái đất? Đây là những chủ đề rất đáng xem xét và khám phá.

Tường Hòa

Theo Secretchina
Ảnh đại diện có sử dụng ảnh từ: Justin Cowart – CC BY 2.0

Nguồn: NTD
https://m.ntdvn.com/…/fbi-cong-bo-tai-lieu-giai-mat-nikola-…