Những Điều Ghi Nhớ Mãi Trên Đất Bắc

Những Điều Ghi Nhớ Mãi Trên Đất Bắc
 

“Nhớ Đào Quốc Đương, Hiến và Tiến”

– Phần cuối –

Mạc Thiên

Mấy ngày nay trời đã bắt đầu lác đác những trận mưa đầu mùa, nhưng trận mưa buổi sáng hôm nay quá lớn. Nước từ núi cao tràn xuống ào ào như thác vỡ, mực nước hồ Thác Bà dâng lên cao tràn vào cả sân trại, ngập đến gần đầu gối. Cả trại được nghỉ, nhưng được triển khai thành buổi sinh hoạt học tập. Khởi đầu buổi sinh hoạt nào cũng giống nhau: quản giáo chủ tọa, đội trưởng khai mạc buổi sinh hoạt bằng ba bài hát của tập thể đội do một anh trại viên được chỉ định “cầm càng” (chữ của thiếu úy quản giáo Đặng Quang Ba: “Anh Ích đứng dậy cầm càng cho tập thể đội làm vài bài…”). Sau này, không biết do ai khởi xướng mà “làm vài bài” đã biến thành “làm vài bãi…” Sinh hoạt đội có nghĩa là phê bình, bới móc nhau, rồi tự bới móc mình, nhận khuyết điểm, ưu điểm, tự đánh giá thái độ cải tạo, đồng thời hạ quyết tâm định “phương hướng tới”. Tôi được Đặng Quang Ba chỉ định phát biểu đầu tiên:

– Thưa cán bộ, thưa tập thể đội, tuần vừa qua, tôi phạm nhiều khuyết điểm, một là tôi đã làm thơ ủy mị khiến cán bộ trên đoàn phải xuống “làm việc”. Cán bộ đoàn đã chỉ vẽ cho tôi những sai phạm. Tôi hoàn toàn thành khẩn nhận lỗi và được cán bộ ghi nhận những nhận thức mới của tôi là có tiến bộ. Khuyết điểm thứ hai là phải nghỉ mất ba ngày để “làm việc”, nên không đảm bảo ngày công trong tháng, trong tuần. Tôi thành khẩn nhận khuyết điểm trước đội và rút kinh nghiệm để sửa chữa. Tôi xin hết!”. Đặng Quang Ba can thiệp liền:

– Không được nhận khuyết điểm chung chung như vậy! Thơ phải đọc lên, chỉ rõ những nhận thức sai trái của mình trước đội, có như thế mới nhận ra những sai lầm. Riêng phần kỷ luật là do trên quyết định sau.

Tôi nhẫn nhịn:

– Vâng, tôi cũng muốn đọc lên, nhận khuyết điểm trước cán bộ và tập thể, nhưng vị cán bộ đoàn cấm tôi không được nhớ, không được đọc những bài thơ sai trái đó, giờ quản giáo ra lệnh, tôi xin tuân theo!

Đặng Quang Ba nghe tôi nói như vậy, vội vã giơ tay ngăn:

– Thôi, đồng chí cán bộ cấp trên đã chỉ thị như thế thì chúng ta phải tuân hành thông qua, các anh đồng ý không?

Như những chiếc máy, 50 cái miệng gào lên thật lớn: “Đồng ý!” để khỏi bị bắt gào đi, gào lại mấy lần.

Cũng chiều hôm ấy, tôi lên cơn sốt, có lẽ vì thấm mưa chiều hôm trước, và do hơi đất ngột ngạt bốc lên. Cũng tối hôm đó, tối thứ 5, toàn trại phải lên hội trường học hát, trời vẫn mưa lác đác, nước rút đi để trơ lại bùn lầy, tôi cáo bệnh, xin đội trưởng ở lại lán. Chừng nửa tiếng đồng hồ sau, trại có lệnh cho tất cả phải lên hội trường, dẫu đau ốm, miễn là còn sống. Tôi thấy Đặng Quang Ba gọi “Bẩy Xe Lửa” và Lữ Văn S, tổ trưởng tổ 3, và đội phó Nguyễn Văn X ra nhỏ to, chắc là có chỉ thị gì đặc biệt.

Đến 9 giờ 30 tối, tất cả về lán, lán tối đen và lầy lội những bùn. Bỗng có 7 người bỗng dưng hô hoán là mất đồ để trên “dàn giá ba lô”. Cuộc điều tra khởi đầu ngay tức khắc, phát hiện ra 7 chiếc ba lô “quân từ trang” của 7 anh em bị mất. Hàng rào tre nứa bị vẹt ra, vết giày ba ta còn in trên nền đất. Kết luận được đưa ra là nhân lúc toàn đội lên học hát, kẻ gian đã xâm nhập, ăn cắp đồ của trại viên. Tất cả thật rõ ràng. Sáng hôm sau, đội trưởng, đội phó và 5 tổ trưởng được lệnh ở lại trại để “sinh hoạt lãnh đạo đội.” Tối hôm đó, trời lại đổ mưa, sinh hoạt đội được triển khai rất sớm. Dưới ánh đèn dầu tù mù, mọi thủ tục được lập lại, Đặng Quang Ba đứng giữa lán, vẻ mặt gian ác. Trong lán không một tiếng động, chỉ còn lại âm thanh của những giọt mưa gõ trên mái nứa. Gã nhìn từng người, ánh mắt chứa đựng vẻ uy hiếp và cất cao giọng, hai hàm răng xít lại làm tôi nhớ đến tấm bia trên bãi tác xạ ngày mới vào quân trường:

– Sự việc xẩy ra tối hôm qua, bẩy trại viên đã bị “âm mưu đen tối của thế lực thù địch” ăn cắp với mưu đồ nghiêm trọng. Làm thế nào người ngoài biết được trong các ba lô để trên “sự nghiệp dàn giá ba lô” chứa quần “gan”, quần “tẹc”, vậy thì phải có sự tiếp tay “nội bộ tổ chức”, ý đồ thâm độc là móc ngoặc với dân để “âm mưu trốn trại”. Sự việc ấy đã rõ ràng. Hôm nay ta phải tìm ra kẻ địch “trong lòng dân tộc, tổ chức” để “ngăn chận kịp thời âm mưu đen tối phát sinh từ những ý đồ xấu xa.” Ban chỉ huy trại và hội đồng cán bộ dưới ánh sáng vinh quang của đảng, đã tìm ra kẻ đó là ai. Tuy nhiên, để thực hiện tính dân chủ, tổ chức đội lấy biểu quyết, nếu quá bán thì kẻ đó có tội và bị thi hành kỷ luật, nếu không đủ quá bán, kẻ đó vô tội. Thủ phạm gian tham phản động hôm nay được đưa ra trước tòa án của tập thể đội, đó chính là tên “Mạc Thiên”, và hắn phải đền tội.

Tôi đã dự đoán được âm mưu này, vì chiều nay, ánh mắt của tên Bẩy nhìn tôi khác lạ. Tôi biết số mạng của tôi đã được quyết định thông qua bàn tay của anh em. Tôi giơ tay xin phát biểụ Đặng Quang Ba chặn lại:

– Không cho phép mày phát biểu!

Tôi phản ứng quyết liệt:

– Tôi xin phát biểu để thể hiện tính dân chủ mà cán bộ vừa nói!

Tôi nhìn thẳng vào mắt y, y có vẻ bối rối:

– Cho phép mày nói 5 phút!

– Tôi chỉ cần 2 phút!

– Được, cho phép!

Tôi vẫn ngồi im tại chỗ, nhìn khắp lượt anh em. Nhiều người cúi đầu hoặc rút vào bóng tối. Giọng tôi đanh lại nhưng chứa đầy tình cảm. Tôi biết sự sống chết của tôi là lúc này:

– Thưa anh em toàn đội! Các anh, tất cả chúng ta đều có học, biết phán đoán đúng, sai. Tôi chấp nhận sự phán quyết của anh em, và sinh mạng tôi đặt trong tay anh em. Các anh phán quyết tôi theo lương tâm của mình. “Các ngươi đong cho ai bằng đấu nào, ta sẽ đong cho các ngươi bằng đấu đó!” Lời của Thượng Đế đã phán truyền, máu của kẻ vô tội sẽ chảy trên đầu con cái chúng ta. Tôi xin hết!

Cuộc biểu quyết lập đi lập lại câu hỏi “ai cho rằng tên Mạc Thiên có tội hãy giơ tay biểu quyết!”. Cả đội im phăng phắc. Một vài cánh tay ngập ngừng rồi bỏ xuống, trừ tên Bẩy, tên Xuân là giơ thẳng cánh. Đặng Quang Ba tím mặt, giọng hắn rít lên:

– Ai cho thằng Thiên không có tội, giơ tay lên!

Tất cả những cánh tay giơ cao, trừ hai tên Bẩy và tên Xuân.

Tên quản giáo hùng hổ hét lớn:

– À, thì ra chúng mày toa rập! Ông cho mục xương, mục xương!

Nói xong, y vội vã bước ra khỏi lán.

Bỗng dưng tôi cảm thấy một khoảng không mở ra trong lòng tôi, một cơn mệt lạ lùng dìm tôi xuống trong một cảm giác mơ hồ.

Cùng lúc đó, ngoài trời đêm, nhiều ánh đuốc bập bùng, một đoàn người khá đông tiến vào trại áp giải theo một người bị trói thúc ké, thủ phạm ăn cắp đã bị bắt ở chợ, khi y đem quần áo, tư trang ăn cắp của 7 trại viên ra chợ bán và bị công an tóm giải về trại.

Hắn chính là tên bộ đội quản chế trêu chọc Mận hôm trước, và hắn cũng chính là tên gác đêm hôm qua lúc chúng tôi lên hội trường học hát. Sự việc vỡ lở, cả trại xôn xao, ban chỉ huy trại không thể dấu nhẹm được. Ba ngày sau, tên Bẩy bỗng thổ huyết. Ôi, “Chúa có bàn tay của Chúa!”…

*

Lần đầu tiên tôi nếm mùi “kỷ luật” cũng do một bài thơ. Để chào mừng “quốc khánh” 2975, tất cả mọi trại viên phải tham gia “viết báo tường” với chủ đề “học tập tốt, lao động tốt”. Thời hạn nộp bài là ba ngày. Ngày ấy mới vào Long Giao, lao động chỉ quẩn quanh trong khu vực doanh trại, dọn dẹp vệ sinh, tu sửa nơi ăn chốn ở, làm cỏ và trồng tỉa. Mùa mưa đã đến được trên ba tháng, đám lau sậy đã cao hơn đầu người, mà cuốc xẻng chỉ là những cọc sắt đập dẹp đầu và uốn cong lại, do đó, những bàn tay phồng rộp, xây xát, cả đội cũng đã khẩn hoang được một khu đất rộng gần chừng một mẫu, chia cho 5 tổ đảm trách việc trồng trọt, ai muốn trồng gì cũng được, miễn là cho kín khu đất. Từ cảm hứng ngậm ngùi ấy, tôi đã viết bài thơ “Một ngày lao động tốt”:

Này luống khoai xanh, luống đất hồng

Đây vòm sắn mượt cụm rau non

Mồ hôi nhỏ xuống từng vuông cỏ

Ý đất, lòng khoai có biết không?

Mạch sống nhen theo mạch núi rừng

Chòm cây lối cỏ nhớ sương trong

Mưa nguồn chớp bể đêm qua đó

Chắc hẳn chưa tàn nụ hướng dương.

Nhát cuốc ta phăng bụi cỏ này

Ngại gì không mạnh sức đôi tay

Mai kia nắng dạt chiều đông xám

Và gió hừng đông lả bóng cây.

Ôi, đó đời ta, mảnh đất này

Bụi cà chen chúc cụm rau đay

Vui buồn trộn lẫn vài công đất

Ý lá, lòng hoa, hương cỏ may.

Bẩy ngày kỷ luật hưởng theo tiêu chuẩn trại giam. “Trại giam” là một cái thùng conex được chôn trong lòng đất, chằng chịt kẽm gai bao quanh. Trời nắng thì van trời, đêm mưa thì lạy đất.

Lần thứ hai, tai họa đến từ buổi học tập “nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là ưu việt”. Mọi người phải phát biểu ý kiến, triển khai ca ngợi đảng và xã hội chủ nghĩa, sau đó viết bài thu hoạch. Tôi ngồi khuất vào góc phòng, lơ đãng nghe anh em moi óc tìm cho ra những từ ngữ có thể tìm được để ca tụng “xã hội chủ nghĩa ưu việt”. Vẻ lơ đãng của tôi lọt vào mắt cú vọ của tên quản giáo Đặng Quang Ba, và hắn yêu cầu tôi đứng lên phát biểu. Hắn bảo:

– Anh hãy nhận xét những ưu và khuyết điểm của nền kinh tế ưu việt của xã hội chủ nghĩa!

Không lẽ tôi lập lại những “lời hay ý đẹp” mà anh em trong đội nặn óc nghĩ ra, và sẽ bị đánh giá là không chịu “động não”, là chung chung, là thiếu sâu sắc. Thôi vậy, tôi phải nói những điều tôi đã nghĩ, đã được đọc:

– Thưa cán bộ quản giáo, thưa anh em, trong tác phẩm vĩ đại “Công cuộc cách mạng nhân dân” của “cụ” Tổng Bí Thư Lê Duẩn, trang 506, dòng 14 có một đoạn viết rằng, “nhân một lần về thăm một xã nghèo thuộc tỉnh Nam Hà, “cụ” Tổng Bí Thư đã nói với lãnh đạo của xã ấy như sau:

“Nếu xã viên không có trên 3 sào ruộng đất, thì không nên vào hợp tác xã, cứ để cho họ làm ăn riêng lẻ, như vậy thành quả sẽ cao hơn, mới đủ sống.” Tại sao như thế? Tại sao làm ăn riêng lẻ lại có kết quả tốt hơn vào hợp tác xã? Chúng ta vẫn thường nghe các cụ, tổ tiên chúng ta nhắc đi nhắc lại câu nói “cha chung không ai khóc”, vì vào hợp tác xã, chẳng ai muốn tận lực ra sức làm việc, do dó thành quả sẽ thấp hơn canh tác cá nhân. Chẳng ai vạ gì đổ mồ hôi tận lực, trong khi những người khác lơ là, làm chiếu lệ. Tuy nhiên, tôi được biết, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa, phải xây dựng con người chủ nghĩa xã hội.” Cái khuyết điểm về yếu tố tâm lý dựa dẫm ấy, đã được Hồ Chủ Tịch nhìn thấy, nên mới quan tâm đến nhân sự, đến “con người chủ nghĩa xã hội”. Do đó, tôi xét thấy rằng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cũng có mặt hạn chế của nó!”

Gương mặt tên quản giáo xạm lại, mọi người nín thở, và tôi tự trách mình dại dột, dù đã mang hai nhân vật “vĩ đại” ra làm cái khiên che chắn, thế nhưng, chỉ ba ngày sau, tôi lại phải vào trại kỷ luật.

Chưa đầy hai năm, kể từ lần cùm đầu tiên, lần này là lần thứ ba, và cũng như lần đầu, tai họa đến từ những vần thơ. Theo tử vi, cặp văn xương, văn khúc, gọi tắt là văn khúc, là cát tinh riêng đối với tôi, nó đúng là hung tinh số một (và 14 năm sau, tôi lại bị “hạn” xương khúc lần nữa, và lần này nặng hơn nhiều).

Lần thứ 3 xẩy ra hơn một tháng sau ngày chấm dứt buổi “làm việc” với viên đại tá. Không một ai trong trại biết tôi bị kỷ luật. Lần này không hề đọc lệnh bắt giam, lệnh thi hành kỷ luật đối với trại viên phạm lỗi, bởi vì cái tội của tôi khó viết thành văn tự.

“Con ạ, từ khi bố vắng nhà

Đến nay, thắm thoát mấy năm qua

Khi đi con hãy còn măng sữa

Thơ dại nào hay buổi thiếu cha

Người ta bảo bố phải yên lòng

Hài tội mình ra giữa đám đông

Con ơi, tội bố nhiều ghê lắm

Nặng nhất là vì tội nhớ con!

…

Tôi bị cùm hai chân trong nhà ngục chìm một nửa trong lòng đất, tường xây bằng đá tảng với muối, không một chút ánh sáng, buổi trưa ngày nắng dội, trong ngục cũng chỉ lờ mờ một thứ ánh sáng như đêm trăng suông. Hai bên bệ xi măng cao chừng 30 cm (hoàn toàn giống như một ngôi mộ) là hai trụ đá, xuyên qua hai trụ đá là một thanh sắt lớn. Hai chiếc cùm chữ U lồng vào hai cổ chân, và thanh sắt dài xuyên qua hai vòng khuy của mỗi thanh sắt chữ U, xiết hai cổ chân rồi xuyên qua bức tường khóa cứng ở bên ngoài.

Viên cán bộ có cặp chân mày sâu róm và ánh mắt hung bạo lấy làm thú vị khi hai thanh sắt chữ U nịt chặt lấy cổ chân của tôi. Y cười gằn, vung vẫy chùm chìa khóa:

– Chết cha mày nghe con, đây là mồ chôn của mày, mày sẽ cạp cứt mà chết, chuyên chính sẽ nghiền nát mày như cám bụi!

Nói xong, y vung chùm chìa khóa quật vào mặt tôi, cũng may, tôi tránh kịp, nhưng tôi lại không thể tránh được những cú đạp túi bụi vào người, tôi phải gồng mình lên mà chịu đựng. Khi cửa hầm sập lại, căn hầm tối đen. Tôi ngồi im trong bóng tối mịt mùng, đầu óc trống rỗng. Bầy muỗi đói ào ra, trong im lìm, tiếng muỗi bay lớn dị thường. Cũng may, bộ đồ tù tôi mặc trên người là bộ đồ trận của Biệt Động Quân, tuy thế, cũng không cản được những cái vòi như kim châm của bầy muỗi đói. Đó là ngày 19/5/1977, ngày sinh của ông Hồ (?). Đó là ngày thứ nhất và ngày sau cùng, làm sao biết được là bao giờ, vì lần này không có lệnh kỷ luật, nên không có thời hạn.

Tôi ngồi im như thế không biết là bao lâu. Khi hai nhượng chân gác đè lên thanh sắt, đôi chân từ cảm giác tê dại đã chuyển thành nhức buốt. Cũng may, đôi dép râu của tôi y đã quên không tịch thu, do đó, tôi dùng nó đỡ cho hai gót chân hổng lên, để khỏi đè lên thanh sắt. Cũng nhờ thế mà sau này tôi còn đi lại được. (Ôi, đôi dép sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!)

Dẫu trong hoàn cảnh nào cũng phải sửa soạn cho cuộc đầy ải, bằng tất cả những gì có thể có được. Tôi cởi áo lót trùm kín lên đầu, xé chiếc quần đùi đang mặc bao lấy đôi bàn chân, phòng thủ cuộc tấn công hung bạo của bầy muỗi. Tôi ngả lưng xuống và thiếp đi. Mỗi một ngày, cửa hầm chỉ mở một lần vào buổi chiều để mang cơm cho tù. Trong phòng, ngoài trừ một ống vầu để tiểu tiện, một để đại tiện, còn một ống vầu cắt ngắn để đựng vừa đủ hai giá cơm, khoảng hơn một chén, và một ống vầu chứa một lít nước uống. Gọi là cơm, thật ra, từ ngày ra Bắc, lương thực của chúng tôi quẩn quanh chỉ toàn là bo bo, sắn lát, và cao cấp nhất là bắp xay. Tội thay, có hôm nhà bếp quên muối, có hôm lại bỏ muối mặn chát, phải bốc mà ăn, hai bàn tay lép nhép chùi đại vào quần áo, mùi hôi kết hợp từ mọi thứ, nồng nặc, song rồi mãi cũng quen.

Tôi đã qua đi được mùa hè, một mùa hè lửa đổ trong căn hầm đá được xây bằng muối, ban ngày nóng đến độ “lè lưỡi như chó tháng sáu”, ban đêm lạnh buốt như cứa da. Bộ quần áo đã dày cứng như mo nang, do hai bàn tay lép nhép. Sau đó, tôi đã thầm cám ơn Thượng Đế đã cho ta mái tóc. Tóc dài xòa xuống cổ, hai bàn tay được “chùi rửa” trên mái tóc. Ôi, cảm giác sạch sẽ của bàn tay được tóc lau đi sung sướng làm sao! Rồi mái tóc cũng bết lại, xòa xuống, che được cần cổ, phòng chống hữu hiệu bầy muỗi bạo tàn…

Chỉ sau khoảng một tháng, vòng sắt chữ U đã rộng ra do hai cổ chân teo lại. Sang tháng thứ ba, chỉ còn bị cùm một chân. Hạnh phúc thật vô ngần khi một chân được tự do!

Hàng ngày, để giết thì giờ, tôi kể cho tôi nghe tất cả những bộ truyện mà tôi đọc được như Tam Quốc Chí, Thủy Hử, Võ Lâm Ngũ Bá, Anh Hùng Xa Điêu, Lục Mạch Thần Kiếm, Cô Gái Đồ Long, Tiếu Ngạo Giang Hồ, kể cả bộ Lộc Đỉnh Ký. Tôi cố nặn óc, cố nhớ lại. Kỳ lạ thay, trong cơn đói khổ tận cùng, trí nhớ của tôi dường như lại tốt hơn lên. Những nhân vật trong toàn bộ tác phẩm của Kim Dung tôi nhớ gần như nguyên vẹn, nhờ đó mà sau này tôi được tấn phong ngôi Giáo chủ, Lệnh Hồ Công Tử…

Tôi tự nhủ tôi không được nhớ thương, không được buồn khổ…, nhưng rồi, cho đến một ngày, tôi biết mình sắp chết, cái chết lảng vảng quanh tôi. Nhiều lần tôi đã phải cố gắng vùng vẫy để thoát ra khỏi cái hố thăm thẳm của cái chết, và tôi cũng biết rằng sự cố gắng ấy chẳng còn kéo dài được bao lâu nữa.

Đã qua một mùa đông phải phấn đấu chống chọi với cái lạnh, tôi mơ hồ cảm thấy trái tim tôi như đứng lại, ngập ngừng từng nhịp rã rời. Tôi phải dùng tay mình xoa nóng cho nó, vỗ về nó, van xin nó đừng ngừng lại. Rồi một mùa hè nóng ngộp lại tới. Tôi há miệng thở dốc từng cơn. Tôi không thể, vâng, tôi biết tôi không thể vùng vẫy ra khỏi cái hố tối tăm đang mở lớn, từng lúc, từng lúc nhận chìm tôi xuống cõi miên viễn. Cho đến một hôm, tôi không thể nào nuốt trôi được hai củ sắn luộc đã có mùi thiu và trơn nhợt. Miệng tôi đắng ngắt, khô lại, cùng một lúc tôi nghe tiếng gió thổi lạnh buốt từ đốt xương sống dâng lên. Tôi nghe ở xa lắm tiếng gọi mơ hồ trong chính thân thể mình, và trong óc tôi, sự lịm tắt của sự sống dường như đã khởi đầu, mù mờ, sương khói trong đôi mắt nặng nề, và bóng tối kỳ dị của sự chết đang bước tới. Tôi cố gắng vùng vẫy để thoát ra. Tôi không sợ hãi, không kinh hoàng, nhưng thoáng chút ngậm ngùi hình ảnh mơ hồ của đứa con chưa biết mặt. Đứa bé ấy là trai hay gái, vì khi nó được sinh ra, tôi không được tin tức mảy may nào của Mẹ con nó…

… Con ra đời giữa lúc đời tan tác

Mà đau thương còn quặn đến hôm nay

Trời tháng Tư lấp đầy cơn ác mộng

Biển nghìn năm còn vọng nỗi đau này.

Không! Ta không thể nào chết được! Không! Lạy Chúa! Và tôi chìm đi trong hố sâu thăm thẳm của vô cùng. Tôi thấy một vùng sáng như sữa bao bọc quanh tôi, một cảm giác nhẹ nhàng như sương khói…

Bỗng dưng tôi cảm thấy giá buốt. Tôi nghe thấy có tiếng động xào xạt, tôi mở mắt, ánh lửa bập bùng hắt lên tàng cây cao, dường như tôi cất tiếng rên… Tôi bỗng nghe có tiếng người nói lớn:

– Báo cáo anh bộ đội, anh T còn sống! Hãy còn sống…

Có tiếng hỏi vọng tới, dường như từ phía dưới ngọn đồi:

– Sao? Cái gì? Khẩn trương lên mà về!

– Anh T còn sống!

– Sống đếch gì được mà sống, cùng lắm là sáng mai nó cũng chết, chôn mẹ nó đi, khỏi mất công khiêng đi khiêng lại!

Thì ra lịm đi. Họ nghĩ rằng tôi đã chết và mang đi chôn, nhưng giữa chừng, tôi đã tỉnh lại. Ôi, tỉnh lại mà làm gì! Nỗi cay đắng đầy ắp trong tôi. Tôi sẽ bị chôn sống!? Cuộc đời tôi đến thế này sao?

Bỗng có tiếng gọi thất thanh từ phía dưới:

– Chết mẹ rồi, trại cháy! Bỏ mẹ nó đấy, về chữa cháy, mau lên!

Hai người tù tự giác, là những tù biệt kích bị bắt năm xưa, quẳng xẻng cuốc lao đi. Cảnh vật yên tĩnh, tôi cố gắng, sự cố gắng lạ thường, và tôi đã ngồi dậy được. Bó đuốc còn cắm gần đó, huyệt mộ đã đào gần xong. Tự nhiên, như một thôi thúc bí mật của sự sống, tôi cố gắng bò lết và đã bò chui vào được một bụi rậm. Tôi dựa lưng vào một tảng đá và thiếp đi… Không biết bao lâu, tôi lại nghe tiếng chân đi lạo xạo, và một giọng hốt hoảng:

– Chết mẹ, thằng chả biến đâu mất rồi?!

Một giọng khác thì thầm:

– Hay là chả trốn rồi?

– Trốn sao được, ngáp ngáp rồi còn trốn với chạy thế đếch nào được!

– Hay là… bị cọp tha mất xác rồi!

– Bây giờ làm sao?

– Hay là mình báo cáo cho thằng cớm nhí?

– Báo cáo lại mang khổ vào thân, thôi cứ coi như mình đã chôn rồi, cọp xơi cũng vậy, đất nuốt cũng vậy!

Tiếng động của một tảng đá được lăn xuống, tiếng lấp đất. Một lúc sau có tiếng vọng từ xa:

– Xong chưa?

– Xong rồi!

– Thôi về! Mất mẹ nó một đêm!

Ánh đuốc mờ dần dưới triền đồi, và tôi lại thiếp đi. Tôi bỗng mơ thấy một người, một lão ông râu tóc bạc, vỗ vào vai tôi:

– Dậy đi con, ráng bò lại bên ánh lửa, con sẽ tìm được sự sống!

Tôi giật mình mở mắt, qua tàn lá rợp, tôi thấy có ánh lửa thoắt bùng lên, thoắt tắt ngấm, ở một nơi cách chỗ tôi nằm chừng vài chục mét. Trong đêm sương lạnh, ánh lửa nồng ấm có một sức mạnh kỳ lạ lôi kéo tôi, dựng tôi lên. Tôi bò lết từng tấc đất về hướng lửa. Khoảng vài chục mét, với tôi lúc này như ngàn dậm, một sự phấn đấu vượt qua sức còn lại của tôi. Tôi ngừng lại nghỉ. Không khí trong lành của đêm khuya trên đồi cao đã giúp tôi tỉnh táo. Tôi tự thúc giục mình: “Ráng đi! Ráng đi! Phải sống! Cuộc đời còn phía trước, kẻ thù còn phía trước, ráng lên!…” Tôi tự khuyến khích mình trong sự rã rời của chân tay, và tiếp tục lết bò đi từng chút một. Cỏ gai cứa lên mặt tôi, đất sỏi xiết chà trên thân thể rã mục. Tôi lết đi, cho đến một lúc thể xác không thể tuân theo mệnh lệnh của ý chí… thì tôi đụng phải một vật, rồi tôi nhận ra tôi đang bò lết trong khu nương rẫy của người Dao, và cái vật mà tôi vừa đụng phải là một trái bí đỏ còn non. Trong suốt cuộc đời tôi, từ quá khứ cho đến khi nhắm mắt, sẽ không có một loại trái cây nào có thể sánh bằng với trái bí đỏ non đêm hôm đó. Tôi không thể tả được nó ngon đến dường nào, và cũng từ đó, tôi không hề muốn ăn bất cứ loại trái cây nào khác. Và cho đến hôm nay, trên đất Mỹ này, những người thân yêu thường cho tôi là kẻ dại dột, không biết ăn trái cây. Tôi không biết nói làm sao cho phải, thường cười mà đùa rằng “Tôi tuổi Tỵ, mà lại là Tân Tỵ, cầm tinh Mãng Xà Vương, các vị có thấy con rắn nào ăn trái cây bao giờ không”. Có ai biết đâu rằng, đối với tôi, ngay cả loại đào tiên trong truyền thuyết của Tây Vương Mẫu cũng chẳng thể sánh bằng được “trái bí đỏ non” đã cứu mạng tôi đêm đó.

Tôi ăn hết ba trái bí non bằng nắm tay. Kỳ diệu thay, một nguồn sống mới đã nhen nhúm lại trong tôi, và tôi đã bò đến được bên đống lửa trong một chòi lá giữa rừng núi hoang dại. Đây là chòi lửa của dân tộc Dao dựng lên giữa khu nương rẫy để canh phòng thú rừng phá hoại hoa mầu… Mỗi lần cơn gió thổi qua, tàn tro tung bay, và ngọn lửa lại bùng lên. Lửa âm ỉ ngày đêm ngúm mãi trong những thân gỗ lớn. Tôi bỗng chợt phát hiện một trái bí già vùi giữa đống than tro, có lẽ của chủ nhân khu rẫy này nướng sẵn và bỏ quên. Tôi ăn hết trái bí đỏ nướng, ngọt như mật, cho đến khi bao tử không còn chỗ nào nhét thêm được, mà miệng thì vẫn cứ muốn ăn, tôi hiểu được tại sao trong trận đói tháng Ba năm Ất Dậu, người ta chết vì đói, và sau đó lại chết vì quá no!

Trời đã gần sáng, tôi bò vào một lùm rậm, cạnh một thân cây lớn, ngả mình giữa hai chiếc rễ khổng lồ và ngủ thiếp đi.

Tôi bừng mắt dậy, tuy không phải là ánh nắng, lần đầu tiên sau 419 ngày trong hầm tối, tôi chạm phải ánh sáng ban ngày, đôi mắt tôi nhức buốt như kim châm, nhưng theo tiếng động, tôi cũng kịp nhìn thấy nòng súng chĩa vào đầu tôi. Hai người Dao, người đàn ông cầm súng săn có lẽ nghĩ rằng tôi là một con quái thú, toan bóp cò, và nhanh tay hơn, người đàn bà đã kịp đẩy nòng súng lên cao, súng nổ, viên đạn cắm vào thân cây sát trên đỉnh đầu tôi. Tôi lấy hai tay ôm mặt, che bớt ánh sáng ban ngày của ngày tàn hạ. Tôi không hiểu được hai người Dao đã trao đổi gì với nhau. Sau đó, người đàn ông lấy một cành khô gạt bàn tay tôi ra, vén mớ tóc dài lòa xòa phủ trên mặt tôi và quan sát. Ông ta gật gù như nhận ra tôi là một con người, một con người khốn khổ.

Có lẽ mùi hôi thối từ người tôi tỏa ra khiến ông ta nhăn mặt, mũi ông ta chun lại và hắt hơi. Người đàn bà, áng chừng là người vợ, đưa cho chồng chiếc khăn quàng. Ông ta bịt khăn quanh mũi, đưa súng cho vợ và xốc tôi lên, cõng tôi trên vai. Tôi xúc dộng đến trào nước mắt. Lòng thương xót của một con người với một con người, và đó là bản năng không chỉ của con người với nhau, mà cả đến loài ác thú cũng có trong đồng loại. Tôi tự hỏi, lòng nhân ái của con người đối với đồng loại mình. Đôi khi không bằng loài cầm thú, chẳng lẽ những người cộng sản đã không còn bản chất người, bản chất của các loài động vật? Tôi thiết tha hy vọng là tôi đã nghĩ sai, nhưng ý nghĩ ấy không lúc nào rời bỏ tôi từ ấy… Tôi ngủ thiếp trên vai người chồng, lên dốc, xuống đèo, không biết bao lâu thì tôi được đặt xuống. Ánh nắng đã lên cao. Đôi mắt tôi nhức buốt khi mở ra. Tôi được đặt nhẹ nhàng xuống bên một tảng đá. Người vợ đưa cho chồng chai dầu mùi ngãi cứu, đổ lên đầu tôi. Một thoáng sau đó, mùi hắc đã không còn, chỉ còn lại mùi thơm tỏa quanh người. Ông chồng lấy chiếc kéo cắt mớ tóc của tôi, những bệt tóc hơn một năm không được tắm gội rơi xuống lả chả như vỏ cây. Ông ta cắt tóc như một người nhà nghề, dĩ nhiên là “cắt bốc” theo kiểu “tiền văn minh – hậu sư cụ”. Sau đó, người vợ đưa cho tôi một nắm xôi bắp nếp đã nguội và ra dấu cho tôi ăn. Tôi gọi là xôi bắp, thật ra, đó chỉ là loại cơm ngô dẻo quánh. Tôi ăn thoáng đã hết. Tôi liếm sạch sẽ mảnh lá chuối khô cho đến khi không còn hạt bắp nào dính lại. Người chồng trao cho tôi ly nước nóng, nước chát quánh như trà quặn. Một lúc sau, ông chồng đỡ tôi đến một vòi nước; nước được truyền xuống từ một dòng suối trên cao, chảy theo những chiếc máng làm bằng thân cây vồi được bổ đôi, từ cao hạ thấp từ từ và chuyền đến tận nhà. Nước trong vắt và mát lạnh, nước xối xả lên đầu, lên vai, lên cổ tôi. Bộ quần áo mục rách ngấm nước mủn ra khỏi thân thể, và nước từ trong vắt biến dần thành đen sậm khi chảy qua người tôi. Tôi chà xát, kỳ cọ và da tôi hiện ra trắng nhợt như xác chết, người còn da bọc xương với những đường gân xanh nổi lên chằng chịt.

Người đàn ông, sau một lúc tần ngần, đã lấy ra một cục sà bông “đế” được bọc cẩn thận trong tấm giấy dầu, chà lên đầu, lên cổ tôi, giúp tôi kỳ cọ sau lưng. Ông nhìn thân hình tôi và lắc đầu ái ngại, rồi ông đem cho tôi một bộ quần áo màu xanh lam với nhiều chỗ vá. Dù trong suốt thời gian bị cùm, tôi vẫn thường xuyên luyện tập đôi chân, vậy mà tôi không thể tự mình đứng dậy nổi. Ông chồng đưa cho tôi cây gậy chống, khuyến khích tôi tập đi. Tôi đi run rẩy và loạng choạng như một ông già trăm tuổi. Nếu cứ tính “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” thì ít ra tôi đã có tuổi hàng triệu năm, vậy thì có gì làm lạ khi tôi như một ông già trăm tuổi!

(Tôi ở trong tù trước sau gần tròn 20 năm, tức là 7 ngàn đêm lẻ chốn lao lung, nhân với thiên thu, là nhân với một ngàn, tính ra tôi đã thọ được 7 triệu tuổi! Xin cám ơn người anh em “vô sản”!)

***

Tôi được vợ chồng người Dao cưu mang khoảng một tuần lễ, tuy nhiên, tôi không được xuống “dưới nhà”. Trong suốt tuần lễ ấy, họ dấu tôi trên gác. Gác thật ra chỉ là những tấm ván được gác ngang qua hai đà ngang. Tôi chỉ được xuống nhà dưới khi đêm xuống để làm vệ sinh cá nhân. Ngày hai lần, cơm là bắp nếp được xay ra và nấu như gạo, ngon ngọt vô cùng, đôi lúc được ăn với mật ong. Sức khỏe của tôi dần dần hồi phục. Tôi cố gắng xoa bóp đôi chân bằng loại thuốc nước của rễ cây nào đó mà ông người Dao đưa cho. Gân cốt cứng cáp trở lại và tôi đi được không cần đến gậy chống, dù còn yếu…

Một hôm, hai vợ chồng người Dao nhỏ to với nhau và chỉ chỏ lên chỗ tôi nằm. Rồi một buổi sáng sớm, họ đưa tôi xuống và dìu tôi đi. Họ đưa tôi trở lại chốn cũ, nơi chòi lửa và bảo tôi ngồi đợi… Khoảng hơn một giờ sau, một viên thượng úy và hai vệ binh đi tới. Tôi nói với viên Thượng úy:

– Xin cứ việc giết tôi, tôi không hề oán trách, trước sau gì tôi cũng chết!

Tôi hình dung đến căn hầm kỷ luật và quả thật, cái chết chính là một ân huệ. Gã thượng úy cười hiền lành, nhưng nụ cười lại làm tôi rợn tóc gáy. Tôi bỗng nhớ đến viên đại tá đã làm việc với tôi ngày trước. Gã bảo:

– Sao anh lại nói thế? Chúng tôi rất tiếc vì sự lầm lẫn của đồng chí y sĩ khám nghiệm nói rằng anh đã chết. Chúc mừng anh đã hồi sinh! À này! Làm sao anh ra khỏi huyệt mộ?

– Thưa ông, huyệt đào rất cạn, tôi moi đất chui lên và sau đó được vợ chồng người Dao cứu vớt.

Tôi được dẫn về trại, cách ly với các phạm nhân khác và được bồi dưỡng 3 ngày (mỗi ngày 2 chén cơm độn bắp và một chén canh rau, tiêu chuẩn của vệ binh). Ngày thứ ba, tôi được đưa đi cân. Viên y sĩ (?) bảo tôi:

– Cho anh ba mươi bẩy ký! (Có nghĩa là tôi chưa được 37 kg)

– Xin cám ơn tấm lòng rộng lượng của cán bộ!

Tôi nhìn y. Y thản nhiên nhận lời cám ơn châm biếm của tôi. Ba ngày sau, tôi được chuyển về trại Nam Hà (tức trại Ba Sao). Tôi được dặn đi nhắc lại là không được nhắc đến bất cứ điều gì về những ngày tôi được “an dưõng”.

Cho đến hôm nay, tôi cũng không biết nơi tôi đã được “an dưỡng” suốt 419 ngày đêm là đâu, và điều ray rức nhất là tôi chẳng biết tên vợ chồng người Dao đã cứu tôi ngày đó. Hình ảnh cặp vợ chồng đầy lòng từ tâm ấy mãi mãi không phai mờ trong lòng tôi, cho đến lúc lìa đời…

Bao nhiêu đêm muộn bấy nhiêu ngày

Ta sống hay là đang chết đây

Ngục tối khác chi lòng huyệt tối

Nghìn trùng ngay tự lúc chia tay.

(Trần Thúc Vũ)

Tám trăm trại tù được đánh số từ AH.1 đến AH.800 thống thuộc đoàn 776, chia thành nhiều liên trại, nằm rải rác trong rừng sâu suốt một giải biên thùy Hoa – Việt. Những Cổng Trời, Nghĩa Lộ, Văn Bàng, Sơn La, Yên Bái… Con số 800 trại tù chỉ được tính bằng ký hiệu AH, đó là ký hiệu thuộc thẩm quyền quản lý của quân đội, chưa kể đến các trại thuộc Trung Ương do công an quản lý, hay đúng hơn, đó chỉ là các trại tù dọc theo biên giới cực Bắc.

Trên toàn quốc Việt Nam, còn vô số những trại tù của từng địa phương mang những ám số khác nhau, dưới quyền sinh sát của các bạo chúa khác nhau. Đoàn 776 dưới tay bạo chúa Đàm Quang Trung, trung tướng tư lệnh quân khu Tả Ngạn. Mỗi trại thuộc đoàn 776, số tù nhân xê dịch từ 400 đến 500, tính đổ đồng tổng cộng chừng 35 ngàn người. Nếu tính theo số thì tù nhân hiện nay trên toàn cõi Việt Nam có khoảng chừng 2 triệu người (Đây là con số mà một viên thiếu tá công an vô tình nói với tôi vào cuối năm 1997). Đây là một con số khủng khiếp, tỷ lệ 1/35 người dân Việt Nam bị đày trong ngục tối, ấy là chưa kể đến số dân còn lại, cuộc sống cũng chẳng khá gì hơn số phận của những tù nhân.

Tôi đã làm một con tính nhẩm, chỉ riêng với số tù nhân 2 triệu với mỗi ngày nửa ký lô gạo lương thực và nửa ký lô qui ra tiền thực phẩm không thôi, thì mỗi ngày phải tiêu phí 2.000 tấn gạo, chưa kể đến ngân sách nuôi dưỡng, cung cấp cho hệ thống kềm kẹp này, cùng những chi phí điều hành cho 2 cục quản lý trại giam… thì con số có thể lên tới 720 ngàn tấn gạo hàng năm, tính đổ đồng tiền gạo đổ ra để duy trì, điều hành toàn bộ hệ thống nhà tù ở Việt Nam… Tất cả chi phí này đều do nhân dân Việt Nam è cổ ra gánh vác để tạo điều kiện cho sư thu nhập của đảng. Thành quả sức lao động của hai triệu tù nhân là một món béo bở, vô tội vạ. Mỗi tù nhân phải lao động mỗi ngày 8 giờ chật vật, chưa kể những ngày Chúa nhật bị trưng dụng cho cái gọi là “ngày lao động xã hội chủ nghĩa”. Con số ấy vẫn chưa dừng tại đó, vì rằng, những mánh khóe bóc lột tù nhân một cách tinh vi chưa đề cập tới. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên gì khi nhà tù càng ngày càng đông thì đảng càng béo bở, càng giầu xụ, và luật pháp càng ngày càng khắt khe, tạo cho xã hội càng ngày càng băng hoại. Bề ngoài đảng cộng sản khoe khoang đang cải tiến chế độ lao tù, cho thăm nuôi, cho tự túc, song thực chất chỉ là để tạo điều kiện vơ vét, bóc lột xương máu của thân nhân những người tù. Và việc “chống tham nhũng” cũng nằm trong mục đích ấy. Tôi xin nói rõ để minh chứng điều này:

Trong mỗi trại, cán bộ thăm nuôi, “giáo dục” và điều tra hoàn cảnh của từng tù nhân, khuyến khích các tù nhân thuộc gia đình khá giả ra “tự túc”, và những thành phần này được ưu đãi, nghĩa là được tự do tương đối. Diện “tự túc” được chia làm nhiều loại. Mỗi trại viên muốn ra tự túc phải nộp cho trại hàng tháng 200.000$ (hai trăm ngàn đồng), chưa kể những món tiền dấu mặt đút lót riêng cho cán bộ quản giáo, cán bộ thăm nuôi, cán bộ giáo dục và bày tỏ lòng tri ơn bằng những giá trị vật chất khác mỗi lần thăm gặp gia đình. Cán bộ trực trại cũng không được lãng quên, rồi đến cán bộ quản giáo, quản chế phải cung phụng hàng ngày, kể cả việc chưa kể nếu muốn được thăm nuôi “24” hay “48”, nghĩa là gia đình được ở lại với tù nhân trong khu vực thăm nuôi, thiết kế từng phòng như “nhà chứa”. Muốn được ở lại, thân nhân phải trả tiền phòng, tiền đủ thứ, ủng hộ cái này, đóng góp cái khác, và nếu muốn ở lại lâu hơn, cứ có tiền bỏ ra là được. Tuy nhiên, đối tượng phạm nhân phải được đánh giá là tiến bộ, và việc đánh giá này hoàn toàn nằm trong tay cán bộ quản giáo. “Tiền là tiên, là Phật, là sức bật con người, là nụ cười của tuổi trẻ… Tiền hết ý!” Tù nhân bình thường là thế, còn tù nhân kinh tế thì sao? Và điều này khiến cho tham nhũng càng ngày càng nhiều, càng chống càng đông.

Một gã tù kinh tế với án tù chung thân, vốn là giám đốc một đại công ty, đã nói với tôi: “miễn là đừng bị án tử hình là đủ!”. Y ở trong một cơ ngơi riêng cách trại khoảng 500 mét, bên cạnh một hồ nước lớn, có TV, tủ lạnh, kể cả máy lạnh và những tiện nghi rất hiện đại khác. Vợ con y, người tình nhí, với xế hộp bóng lộn, muốn đến lúc nào thì đến, muốn ở bao lâu thì ở, ăn uống như một ông hoàng, hàng tuần cưỡi xế hộp về Sài Gòn dong chơi, không bao giờ mặc đồ tù, thong thả ra vào, không bị chi phối bởi những điều nội qui trại, nghênh ngang, láo xược. Y cho biết, nếu biết điều thì dù tù chung thân khổ sai, cũng chỉ sau 10 đến 13 năm là được ân xá. Và những dịp ân xá hàng năm là cơ hội thu nhập khổng lồ cho đảng.

Y bị kết án vì tội biển thủ 40 tỷ đồng Việt Nam, đó chỉ là con số bề ngoài, thực chất thì có thể nhiều hơn thế. Sau một thời gian giam giữ để điều tra, trong khi giam giữ, phòng giam của y có giường nệm, quạt máy, ăn uống, thăm gặp gia đình thả dàn nếu biết tung tiền ra. Khi tòa tuyên án xong, gia đình y đi “mua đất”, nghĩa là mua nơi giam giữ, mua trại – hoàn toàn đúng với nghĩa đen của nó – bỏ tiền ra xây nhà. Tiền càng nhiều, tự do càng mở rộng. Và dĩ nhiên, sau một thời gian, khi hắn ra khỏi tù, cơ ngơi và mọi thứ xây dựng trên đất của trại đều thành tài sản của trại. Khi y được chuyển đến trại giam thì mọi thứ đã sẵn sàng. Y được giao cho một cái ao mênh mông, để “lao động tự túc”, y thả cá tùy ý, mỗi năm phải đóng góp cho trại 100 triệu đồng Việt Nam, y phải bỏ vào ao vài chục ngàn con cá giống, phải mua thực phẩm cho cá và giao cho trại toàn quyền thu hoạch lợi tức. Những cam kết ấy, y phải tự động ngầm dâng hiến. Trại cho y 2,3 tù nhân làm việc nuôi cá, cắt cỏ, bỏ mồi và hầu hạ y, bù lại, y phải trả cho trại hàng tháng 200.000 đồng Việt Nam cho mỗi tù nhân phục dịch, và phải nuôi ăn cho những người phục dịch này. Y phải gánh vác những chi phí đột xuất cho trại, tuyệt đối giữ kín, đồng thời cũng phải quà cáp, tiền bạc, biếu xén cho những “yếu nhân” trong trại. Đối với cán bộ cấp thấp hơn, y phải là một người rộng rãi về ăn uống, hút sách, trà lá. Hàng tháng sinh hoạt đội bình bầu, y phải lấy được điểm “tốt”, hay tệ nhất cũng phải loại “khá”. Nếu bị điểm “trung bình” hoặc xấu, có nghĩa là y không biết phải quấy, là “vứt đi”, là bị đưa vào trại, và mọi thứ thành trắng tay.

Sau 7 năm đầu, y được “vỡ án”, và nếu biết lo 2 cây vàng cho một năm ở trại, 3 cây cho tào án, y sẽ được giảm 2 năm, nhưng tối đa cho hạn ân giảm là 5 năm. Vậy là khi “vỡ án” vào năm thứ bẩy, y đã được coi như ở tù 12 năm, qua năm sau thứ 8, giảm thêm 4 năm nữa, rồi năm sau kế là y coi như y đã “chấp hành xong án phạt tù” với toàn bộ chi phí chừng 10 tỷ đồng. Khi ra về, sau 9, 10 năm “buôn bán”, y lời đứt 30 tỷ đồng và thảnh thơi phủi tay, xóa hết ân oán, giang hồ.

Do đó, chúng ta hiểu tại sao, đảng càng chống tham nhũng, tham nhũng càng nở rộ, và tại sao nhà tù càng rộng mở, đảng cộng sản Việt Nam lại càng béo bở giàu to. Nhà tù là một phương tiện bắt nhân dân gánh vác mọi chi phí, còn đảng thì ních cho đầy túi tham một cách tinh vi. Tuy nhiên, xin nói rõ là những “ưu đãi” này rất khó mà “ban cho” những tù nhân chính trị. Trong thời gian tù cải tạo trước đây, sức lao động đảng vắt cho kiệt lực là nguồn thu nhập của đảng, bởi đó mà số trại viên dần dần giảm hẳn…

“… Sáng ra chỉ có dăm người chết

Chẳng biết bao lâu đến lượt mình

Căm uất sinh ly thà tử biệt

Oán hờn thấu tận mấy trời xanh…”

Có hàng chục nỗi chết uất ức khác nhau: tai nạn lao động, cây đè, đá nghiến, vực sâu nát thân, đáy hồ chìm khuất, đói khát, bệnh tật, hành hạ, đánh đập, bọn vệ binh háo sát, lấy cái chết của tù nhân làm trò giải trí, trả thù… Không biết hàng bao nhiêu nỗi chết cay đắng, nhục hình.

*

Mùa đông năm 1977, nhiệt độ xuống thấp 1 độ 7, mặt hồ Thác Bà se lại như muốn đóng băng, gió Bấc thổi thấu xương, tên quản giáo đội 4 bắt hai tù nhân uống 2 tô nuớc muối để lặn xuống nước mò cá trong “đăng”, cả hai đều vỡ tim, hộc máu mà chết. Vậy mà vẫn chưa yên, xác bị bỏ lại bên hồ qua đêm, sáng sớm hôm sau, tập họp trại viên, tên trưởng trại đọc lệnh cảnh cáo đối với hai xác chết vì “đã thiếu an toàn lao động” rồi sau đó mới cho đi chôn. Tất cả mọi xác chết đều để lại qua đêm, đều giống nhau ở một điểm: hai con ngươi bị móc, tai, mũi, môi biến mất, cả đến tay và chân, lũ chuột đói cũng không từ. Chúng chui vào quần gậm nhấm, rút rỉa. Trên khuôn mặt nát bét, hai hố mắt sâu thẳm, đọng máu khô, chập chờn bóng tối.

“Từ giã từng nỗi sầu trong mắt anh

Ngậm ngùi đời đưa anh về theo đất

Sương đẫm những đêm ru anh ngủ vùi

Từ đây rừng ôm ấp anh ngàn năm

Bao nhiêu những oan hồn


Giờ đã về mãi đâu

Vực sâu xót thân lưu đày


… Mắt nhắm còn đắng cay

Những ngày đói rét bầm tím thân

Từng chiều mưa gió căm căm

Buồn đau đến bao lâu

Ôi đời! Giá buốt đắng chát

Ôi! Hồn chất chứa uất ức

Hãy xin nguôi dần đi

Nhớ thương thêm đau lòng… mà thôi

Đêm nay rừng khuya hiu hắt

Thương ôi! Từng cơn giá buốt

Đưa anh vào canh khuya

Ngấn nước mắt bao ngày

Còn vương lối đi

Vàng võ hồn anh

Sầu vỡ hồn anh đêm đêm…”

Bài hát ấy, tôi thường hát, như lời kinh chiêu hồn, những lần vuốt mắt cho những người anh em bất hạnh… và ôi, máu tươi ộc ra từ chiếc – miệng – không môi, tôi nghe như có tiếng nấc từ lồng ngực, từ hốc mắt hun hút những nghìn thu, máu tươi cũng ứa ra, từ đó, ôi, những dòng huyết lệ!….

Nhìn những cái chết thê lương ấy, ngẫm dến phận mình, và trong giấc ngủ, những cơn ác mộng kinh hoàng kéo dài suốt đời người còn lại.

“… Cả đến chiêm bao cũng hãi hùng

Tỉnh ra còn thảng thốt hư không..”

Ấy thế mà trong tất cả những nhục hình đày dọa thân xác, nếu đem so với thủ đoạn đày đọa tinh thần thì nào có thấm vào đâu! Cho đến tận hôm nay, những đêm “sinh hoạt”, “phê bình, kiểm điểm” diễn ra thường xuyên mỗi tối, đã làm cho thần kinh người tù như lịm tắt, rã rời hơn cả một ngày cực nhọc. Cho mãi đến tận sau này, được thả ra, rời Việt Nam sang đến đất người, mà nó còn theo đuổi khiến cho một số anh em HO… vẫn còn như nửa khùng, nửa điên, nửa ngơ ngẩn, nửa dại khờ… và không ít anh em đã bị chết dần mòn bởi những ám ảnh từ quá khứ kinh hoàng không thể khuây lãng được. Nỗi đau thương ấy gậm nhấm hao mòn anh em suốt quãng đời còn lại. Khi chiến tranh nổ ra giữa cộng sản Việt Nam và người anh em Trung quốc vĩ đại của họ, lần lượt hàng ngàn trại viên từ những trại dọc theo biên giới Hoa Việt đều được di chuyển, phân tán về các trại Trung Ương do công an Bộ Nội Vụ quản lý. Tôi là một trong số 500 tù nhân trong số những thành phần được coi là nguy hiểm, có nợ máu với nhân dân… như tình báo, chiến tranh chính trị, cảnh sát đặc biệt gom lại từ các trại thuộc đoàn 776 áp giải về trại Nam Hà.

Từ đoàn xe Molotova bịt bùng, khởi hành từ Tuyên Quang, bỏ lại sau lưng núi rừng, bỏ lại những tháng ngày rét mướt, đói khát… và những con vắt rằn ri khủng khiếp. Thiếu tá Nguyễn Thanh Hải, SQ /CTCT Cục Công Binh, người anh em đôi con Dì của tôi, mấy năm trước tóc còn xanh, mà nay, mái tóc trở thành xác xơ, bạc trắng như cước… thở dài:

– Thế nào cũng được! Đi đâu thì đi! Miễn là rời khỏi vùng độc hại này! Muỗi hút máu người, vắt hút máu ngưòi, người hút máu người! Trời ơi!

Tiếng kêu than xé ruột. Bây giờ, ở bên kia thế giới, liệu linh hồn anh có còn bị ám ảnh những tháng ngày trong cõi a tỳ của trần thế hay không?

Đoàn xe chở chúng tôi đi ngang Hà Nội. Hà Nội của tôi năm xưa mà nỗi nhớ quặn thắt trong suốt hơn hai mươi năm chia lìa, những lần Sài Gòn chớm lạnh… Hà Nội đó, cột đồng hồ năm xưa còn kia, phố xá vẫn còn đấy, rêu xanh, hoang phế, điêu tàn, già nua và tệ hại hơn ngày tôi rời bỏ Hà Nội năm nào. Những khung cửa sổ không còn cửa kính được bít bùng lại bằng những miếng ván chấp vá, những đôi mắt ngơ ngác, thẩn thờ trên đường phố loang lổ và rác rưởi… Lòng tôi ngậm ngùi, đắng chát như kẻ bỗng dưng gặp lại người tình ngày niên thiếu, tả tơi vàng võ trong nhà chứa; cùng một lúc, nỗi căm hận bùng lên làm tôi nghẹt thở. Thủ đô của nước “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” đã xuất hiện như thế qua khe hở của tấm vải bạt bít bùng…

Mạc Thiên

From: BS Hanh Van Phung

ĐƯỢC VÀ MẤT QUA VỤ ĐỒNG TÂM…

ĐƯỢC VÀ MẤT QUA VỤ ĐỒNG TÂM…

Qua vụ Đồng Tâm, cái được duy nhất của chính quyền là nuốt trọn được 59 ha đất ở Đồng Sênh, mảnh đất mà nói như nhà văn Tạ Duy Anh (lão Tạ) là mảnh đất “chó ăn đá, gà ăn sỏi, nếu tính theo giá đền bù thì chưa chắc đã bằng cái số lẻ mà ông nghị Phạm Phú Quốc đã bỏ ra để mua chui một suất quốc tịch đảo Sip”.

Để chiếm được mảnh đất ấy, người ta đã phải sử dụng rất nhiều mưu hèn kế bẩn.

Thứ nhất là điều tới 3.000 quân “đặc biệt tinh nhuệ” trang bị đến tận răng về làng Hoành xã Đồng Tâm, nơi không có bất cứ một người dân nào bị khởi tố vì bất cứ một hành vi trái pháp luật nào, nghĩa là một ngôi làng hoàn toàn lương thiện, một cách trái pháp luật vào ban đêm, chỉ để giết, để phanh bụng một cụ già hơn Tổng bí thư-Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tới 8 tuổi đời và 6 tuổi đảng, phải ngồi xe lăn do chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung tặng, vì năm 2017 đã bị “các đồng chí” của mình ở công an Hà Nội đạp gẫy chân, và bắt đi 29 người dân vô tội.

Thứ hai, là cấm tiệt báo chí và các nhân sỹ, các tổ chức đến làng Hoành để thực hiện những cuộc điều tra độc lập, cấm cả việc quay phim về đám tang cụ Lê Đình Kình.

Thứi ba, vu cho cụ Lê Đình Kình là khủng bố để phong tỏa tài khoản tiếp nhận tiền phúng viếng của người dân cả nước gửi về phúng viếng cụ.

Thứ tư, là huy động cả một đội ngũ báo chí vô cùng đông đảo nhẩy vào đấu tố, kết tội cụ Lê Đình Kình và 29 người dân vô tội bị bắt ở làng Hoành ngày 9/1/2020 trước khi tòa án kết tội họ, nào là sắm sửa vũ khí thô sơ, mua lựu đạn, mua xăng, nào lên mạng tuyên bố sẽ giết từ 300 đến 500 công an nếu công an kéo vào, thậm chí thiếu tướng Tô Ân Xô, chánh văn phòng, người phát ngôn của bộ công an còn trắng trợn vu cho cụ Lê Đình Kình là “một loại cường hào địa chủ mới”… nhưng càng đấu tố, càng chứng tỏ lực lượng công an Hà Nội vừa quan liêu vừa ngu. Đã biết họ có những hành vi đó, sao không khởi tố đi? đến 20 giờ ngày 8/1/2020, không ai ở làng Hoành bị khởi tố, nghĩa là không ai có những hành vi đó. Vậy tại sao lại giết người, phanh thây người, bắt người?

Thứ năm, là tìm mọi cách gây khó khăn cho các luật sư bảo vệ 29 người dân làng Hoành tại phiên tòa sơ thẩm, xử án một cách cuống quýt, vội vội vàng vàng, không thèm chú ý đến bất cứ một bằng chứng nào, đè ra tuyên 2 con trai của cụ Lê Đình Kình án tử hình, quyết tâm lặp lại vụ án Lệ Chi Viên năm 1442 giết cả nhà khai quốc công thần Nguyễn Trãi, một lần nữa, ngay trong thời đại 4.0 này…

Và còn rất nhiều mưu hèn kế bẩn khác nữa.

Bấy nhiêu mưu hèn kế bẩn chỉ để đổi lấy 59 ha đất ở đồng Sênh, mà là lấy đất ấy cho tập đoàn viễn thông quân đội chứ có phải để xây sân bay hay công trình nào để phục vụ cho việc phòng thủ đất nước đâu?

CÒN CÁI MẤT?

Cái mất lớn nhất, và cũng là thứ nhất, là mất tính chính danh. Cho đến nay, không có bất cứ một lãnh đạo nào từ lớn đến nhỏ đưa ra được một căn cứ nào để biện minh cho việc phải điều 3.000 quân với đầy đủ súng ống và các phương tiện quân sự tối tân nhất đến một ngôi làng không có ai bị khởi tố vì bất cứ một hành vi trái pháp luật nào vào ban đêm rồi giết người, phanh thây người, bắt người. Nói là để bảo vệ cho quân đội xây tường rào bảo vệ sân bay Miếu Môn ư? tường rào đã xây xong trước ngày 30/12/2019 cả tuần rồi. Nói là để bảo vệ an ninh ở Đồng Tâm ư? Đồng Tâm có mất an ninh trật tự đâu mà bảo vệ? Cả làng Hoành đang sống bình yên, không có bất cứ ai vi phạm pháp luật, vì tin vào lời hứa của ủy viên TW đảng, chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung: không truy cứu TNHS người dân làng Hoành sau vụ bắt giữ 38 chiến sỹ công an và cán bộ năm 2017. Vả lại, bảo vệ an ninh sao lại tập kích vào làng, giết người, bắt người?

Cái mất thứ hai, là phơi bày ra trước bàn dân thiên hạ cái vụng dại, cái yếu của một đội quân lâu nay vẫn tự hào là thiện chiến, là giỏi nhất thế giới. 3 chú lần lượt ngã xuống một cái hố bé tý, mà người ngã trước không biết cảnh báo cho người sau. Lọt xuống hố rồi, dù cái giếng trời đó đã được trổ cửa sổ bằng kính ở độ cao 2 mét, mà không biết đập vỡ cửa kính để chui ra, lại cứ như những con cừu đứng yên đó để cho người dân đổ xăng ra chậu mà hắt xuống, không chỉ một lần mà nhiều lần (theo cáo trạng của VKS). Cả một đội quân “còn đảng còn mình” 3000 người dầy đặc xung quanh, sao lại khoanh tay đứng yên, không biết nổ súng tiêu diệt kẻ đổ xăng để cứu đồng đội ? tình đồng đội đi đâu mất rồi?

Cái mất thứ ba, là làm sụp đổ hoàn toàn uy tín của ngành tư pháp. Ngành tư pháp xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng, mấy năm nay đã lao đao vì những Nguyễn Thanh Chấn, Huỳnh Văn Nén, Hàn Đức Long, Hồ Duy Hải…thì nay, vụ án Đồng Tâm như một nhát búa cuối cùng, nhát búa chí mạng giáng thẳng vào nó một cách không thương tiếc, khiến nó sụp đổ tan tành. Sau vụ án này, liệu còn ai tin rằng nền tư pháp đó là công minh, khách quan?

Cái mất thứ tư, là đã dựng tượng trong lòng nhân dân cho cụ Lê Đình Kình. Cứ nhìn những người dân làng Hoành được tha về sau khi nghe TAND thành phố Hà Nội tuyên án ngày 14/9/2020 thì biết. Sau hơn 8 tháng bị giam cầm, bị bức cung, bị nhục hình và trăm ngàn thứ cay đắng khác. Nhưng được tha, họ chưa về nhà mà hãy chạy ra viếng mộ cụ Lê Đình Kình trước đã. Có hàng trăm người ra cùng với họ. Tại đó, tiếng khóc vang trời. Từ ngày 9/1/2020 đến nay, hình dáng của cụ Lê Đình Kình đã tạc sừng sững vào lịch sử. Lê Đình Kình đã trở thành “muôn năm” trong lòng người dân một cách tự nguyện chứ không phải thứ “muôn năm” treo nhan nhản khắp nơi, kể cả đầu đường xó chợ.

Và cái mất thứ năm, là phơi bày ra trước công luận một vụ án dựng tội, đổ tội, với mục đích duy nhất là giết người. Thật đáng tự hào khi trên thế giới, chỉ duy nhất có nước ta là nước ban đêm vào tận giường ngủ nhà dân giết người mà không cần khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Xin lưu ý, điều 40 của BLHS năm 2015 đã quy định: không thi hành án tử hình đối với người từ đủ 75 tuổi trở lên. Cụ Lê Đình Kình đã 84 tuổi.

VŨ HỮU SỰ

Image may contain: 1 person, text

CHIẾN TRANH CÔNG NGHỆ, CÚ RA ĐÒN CỦA NGƯỜI MỸ

CHIẾN TRANH CÔNG NGHỆ, CÚ RA ĐÒN CỦA NGƯỜI MỸ

Đỗ Ngà

Vòng đời của một mốt xe ô tô tầm 5 năm. Sự khác biệt giữa chiếc xe đời mới và đời cũ chủ yếu là phần công nghệ chứ phần cơ khí thì từ hàng thế kỷ nay vẫn thế. Vẫn động cơ đốt trong 4 thì, thế thôi. Người ta nói động cơ mới tiết kiệm nhiên liệu hơn, hiệu suất cao hơn bla bla bla… nghe tưởng như xe được cải tiến phần cơ khí, nhưng không phải, tạo nên những thành tựu “cơ khí” đó là do sự can thiệp của công nghệ thôi.

Ngày nay công nghệ đi sâu vào mọi tiện ích của cuộc sống cá nhân và nó là công cụ điều hành doanh nghiệp, điều hành xã hội vv… Mới cách đây chừng một thập kỷ, khái niệm căn nhà thông minh, thành phố thông minh, chính quyền điện tử còn khá xa lạ thì nay nó đã trở nên quen thuộc. Rồi trong lĩnh vực quân sự cũng vậy, ngày nay từ “tác chiến điện tử” không còn xa lạ gì nữa. Và thực tế, quốc gia nào mạnh về công nghệ thì quân sự của họ cũng mạnh, điều đó không thể phủ nhận.

Được biết, trong danh sách 500 công ty có vốn hóa thị trường mạnh nhất của Mỹ (S&P 500) thì độc chiếm ở 4 vị trí dẫn đầu là 4 đại gia công nghệ theo thứ tự Apple, Alphabet (công ty mẹ của Google), Microsoft, và Amazon. Trong đó hiện nay vốn hóa của Apple đã đạt 2.300 tỷ đô la, và 3 đại gia công ty còn lại vốn hóa đều hơn 1.000 tỷ đô. Thậm chí một công ty ô tô công nghệ non trẻ như Tesla cũng có vốn hóa thị trường vượt Toyota. Điều đó chứng tỏ công nghệ là xu thế phát triển của thế giới.

Đang trong thế trên cơ, Mỹ muốn tấn công vào lĩnh vực công nghệ của Tàu để ngăn cản quốc gia này phát triển đe dọa vị thế của họ. Chính vì vậy mà Mỹ luôn ra đòn trước, tất nhiên Tàu chỉ đủ trình chống đỡ chứ chưa đủ trình phản đòn. Như ta biết, Mỹ cấm TikTok hoạt động tại Mỹ và ép ByteDance bán Tik Tok cho các đại gia Mỹ, thì ngay sau đó Trung Cộng đã có cú né đòn. Bắc Kinh quyết chơi bài “ăn không được phá cho hôi”, chính quyền Tàu Cộng đã cấm ByteDance bán Tik Tok, thà chấp nhận mất 50 tỷ đô chứ không thể để Tik Tok rơi vào tay người Mỹ để rồi sau đó, người Mỹ lại dùng đứa con đẻ của của chính người Tàu để chiếm lấy thị trường thế giới.

Hiện nay thị trường nội địa đã gần như bão hòa với các công ty công nghệ Tàu, vậy nên họ đang phát triển ra bên ngoài biên giới Tàu để tìm kiếm thị trường. Thế nhưng điều bất lợi là thị trường Ấn Độ thì đang tẩy chay sản phẩm công nghệ Tàu, còn Mỹ thì đang cấm các các đông ty công nghệ Tàu. Đây là một khó khăn rất lớn, thế nhưng các đại gia Tàu không phải là vừa, họ vẫn đang tìm cách né đòn. Bị mất 2 trong 3 thị trường lớn nhất thế giới ngoài nước Tàu, các đại gia công nghệ nước này đã chuyển hướng sang đầu tư ở các thị trường nhỏ hơn, đăc biệt là thị trường nào ngoài tầm kiểm soát của người Mỹ. Đây phải nói là một chiến lược rất khôn ngoan.

Đông Nam Á là thị trường trên 600 triệu dân, ASEAN lại là một tổ chức lỏng lẻo không đồng lòng, các quốc gia trong khối này thì lại sợ Tàu đồng thời cũng chẳng thân với Mỹ như Hàn Nhật nên đây là thị trường mà Tàu có thể khai thác được vì nó nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Mỹ. Hiện nay ByteDance đang xây dựng trụ sở ở Singapore để phát triển Tik Tok trên thị trường Đông Nam Á này. Đây có thể nói là nơi trú ẩn khá an toàn của các công ty công nghệ Tàu vì lệnh cấm của Mỹ khó mà với tới nơi đây được. Cho dù Mỹ có vận động, thì các nước này cũng chẳng nghe lời Mỹ như Anh Quốc đã nghe lời Mỹ tống cổ Huawei.

Sau Mỹ, Anh quốc là một nước có công nghệ phần cứng rất mạnh với viên ngọc quý là Arm Holdings. Công ty này chuyên thiết kế chip và cấp phép các thiết kế này cho các ông lớn như Apple, Broadcom, Marvell và Nvidia vv… Hiện nay hết 95% điện thoại smartphone trên thế giới sử dụng chip được Arm Holdings cấp phép sản xuất. Năm 2016, tập đoàn công nghệ Softbank của Nhật mua Arm Holdings với giá 32 tỷ đô la. Từ năm 2019 thì chiến tranh công nghệ Mỹ-Trung nổ ra, Mỹ muốn cắt đứt nguồn cung cấp chip cho các công ty công nghệ Tàu vì thế mà nay công ty sản xuất chip đồ họa – Nvidia của Mỹ đã đàm phán với Softbank mua lại thành công Arm Holdings với giá 40 tỷ đô la. Đây là thương vụ mua bán mang màu sắc chính trị khá rõ.

Mỹ nắm trong tay những công ty sản xuất phần cứng lớn nhất thế giới như: Intel, Apple, Braodcom, Qualcomm, Marvell, Nvidia, AMD vv.. giờ lại tóm luôn Arm Holdings thì có thể nói, nguồn cung cấp phần cứng cho các đại gia công nghệ Tàu đã nằm gọn trong tay người Mỹ. Được biết các bản thiết kế chip của Arm Holdings là thành phần quan trọng đối với nhiều nhà sản xuất smartphone và các công ty trí tuệ nhân tạo ở Trung Cộng. Nếu ví công nghệ là một căn nhà thì phần cứng là nền móng còn phần mềm là những thứ đứng bên trên cái nền móng ấy. Rõ ràng cú thâu tóm Arm Holdings của người Mỹ không khác nào là một cú đấm trời giáng mà người Mỹ dành tặng cho người Tàu. Nắm phần móng, Mỹ mà cho đào hầm phá sập móng thì căn nhà công nghệ Tàu sẽ đổ, đó là điều mà Trung công hiểu hơn ai hết. Đây có thể nói là bước đi vô cùng lợi hại của người Mỹ. Đòn vừa hay vừa hiểm, tuy nhiên trong đòn đánh này có sự giúp sức của người Nhật.

Như đã nói, người tàu cũng không phải là kẻ dễ chơi. Được biết Arm Holdings có một liên doanh với các công ty công nghệ Tàu, đó chính là Arm China đặt trụ sở tại Tàu. Điều đáng nói là Arm China đã bị các nhà đầu tư Tàu nắm giữ 51% cổ phần, vừa đủ để người tàu nắm quyền điều khiển. Chính vì vậy mà hồi tháng 5 vừa qua, Arm Holdings ra quyết định sa thải Giám đốc Arm China – Allen Wu nhưng ông này bất tuân. Điều này chứng tỏ quyết tâm của người Tàu là phải làm chủ Arm China để giảm bớt thiệt hại bởi cú ra đòn của người Mỹ nhắm vào ngôi nhà công nghệ của họ.

Hiện tại thì tầm của Arm China vẫn chưa thể so sánh với Arm Holdings, nên việc bám vào Arm China chỉ là giải pháp mang tính cứu cánh chứ không phải là nền tảng. Không biết trong tương lai Arm China có thể thay thế được Arm Holdings tại thị trường Tàu hay không? Chỉ biết trước mắt ngành công nghệ tàu sẽ rất vất vả với ngườ Mỹ. Mong rằng, Mỹ đè đầu được kẻ đang lên đầy hung hăng này. Để Tàu lớn mạnh, đó là mối nguy cho cả thế giới.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://www.investopedia.com/terms/l/large-cap.asp

https://www.barrons.com/articles/apples-market-cap-is-now-as-big-as-the-s-p-500-energy-utilities-and-materials-sectorscombined-51599057653

https://www.reuters.com/article/us-usa-tiktok-china-idUSKCN25002I

https://www.androidheadlines.com/2020/09/tiktok-may-move-to-singapore.html

https://vnexpress.net/cong-ty-me-tiktok-xay-dung-can-cu-o-singapore-4160447.html

https://www.thesaigontimes.vn/308275/thuong-vu-40-ti-do-la-giua-my-nhat-ban-dat-trung-quoc-vao-the-bat-loi.html

https://tinnhanhchungkhoan.vn/chinh-quyen-bac-kinh-tha-de-tiktok-bi-cam-con-hon-phai-ban-cho-washington-post250076.html

No photo description available.

Nếu Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) là thiên đường thì sao khi du học con lãnh đạo không chọn là Trung Quốc hay Bắc Triều Tiên?

Minh Phuong Nguyen  and Hai Tran  shared a post.

Mộc Miên

Tôi sinh ra giữa lòng cộng sản. Tôi lớn lên giữa khô cằn sỏi đá Miền Trung. Quê tôi nằm bên trong Vĩ Tuyến nhưng là cái nôi của cách mạng ngày xưa. Tôi không biết Mỹ, Nguỵ là gì? Cũng không biết Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) là gì? Cũng chưa bao giờ biết sự phồn hoa của Đô Thành Sài Gòn một thời mà ông Lý Quang Diệu hằng mơ ước.

Tôi không học nhiều nhưng thời học sinh của tôi là cháu ngoan Bác Hồ là đoàn viên ưu tú dưới mái trường Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN). Ngày xưa tập thơ gối đầu của tôi là “Theo Chân Bác”. Tôi vẫn cứ yêu đảng yêu bác cho đến chết nếu facebook không du nhập vào Việt Nam. Tôi đã được mở rộng tầm mắt, rồi từ đó tôi biết những gì tôi học, những gì tôi bị nhét vào đầu là dối trá, dối trá một cách trơ trẽn.

Chỉ cần đặt một vài câu hỏi nhỏ thôi ví dụ như là: Nếu Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) là thiên đường thì sao khi du học con lãnh đạo không chọn là Trung Quốc hay Bắc Triều Tiên?

Tại sao con cháu của những vị tướng lừng danh như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Quốc Thước lại chọn Pháp, Mỹ để sống mà không phải là Việt Nam?

Tại sao Nguyễn Công Khế, Hồ Thị Thu Hồng một thời chửi Mỹ hay hơn hát rồi cuối cùng lại chọn Mỹ định cư?

Nhiều lắm, nhưng tại sao lắm không thể nào kể hết trong một Stt được. Câu cuối cùng tôi muốn hỏi hơn 90 triệu dân Việt Nam ai đã từng được cầm lá phiếu bầu lãnh đạo thể hiện quyền của một con người chưa?

Tôi lưu lạc khắp nơi để chỉ nói lên những điều mình thấy, viết những điều mình biết. Tôi đủ lớn và cũng đủ già để chịu trách nhiệm với những gì mình viết và nói ra không liên quan gì tới những người thân của tôi cả. Vì thế đừng chơi trò đe doạ và méc phụ huynh. Đời người một lần sống và một lần chết bình tĩnh “Đối Mặt” thôi ! (St)

#HoàngThịThuýMiên

Image may contain: 1 person, selfie, closeup and indoor

Kẻ hưởng lợi trên vụ án Đồng Tâm

Kẻ hưởng lợi trên vụ án Đồng Tâm

18:36 | Posted by BVN1

Lưu Trọng Văn

Bình tĩnh soi và xét trên cái nền các dự báo và thông tin tổng thể thì vụ án Đồng Tâm nói cho cùng kẻ hưởng lợi nhất là ai?

Trước hết phải tổng kết vụ Đồng Tâm tạo nên những gì cho Đất nước đã?

  1. Lòng Dân bất an.
  2. Niềm tin vào pháp luật và công lý giảm sút tới đáy.
  3. Nhân Dân và đảng, chính quyền mâu thuẫn cực độ trong lúc trước nguy cơ ở Biển Đông lẽ ra phải đoàn kết hơn bao giờ hết.
  4. Hình ảnh Đất nước bị bôi đen với thế giới dân chủ, văn minh, trong lúc hơn bao giờ hết VN cần niềm tin và vòng tay của bè bạn tử tế.
  5. Lực lượng an ninh khủng hoảng, suy yếu vì mất niềm tin của Dân.
  6. Các kết quả chống tham nhũng bị lu mờ.
  7. Một loạt thành tựu trong đó có chống dịch covid bị lu mờ.
  8. Uy tín của những lãnh đạo cương quyết chống tham nhũng và có đường lối độc lập thoát Trung bị sa sút nghiêm trọng vì sập bẫy Chính trị Đồng Tâm.

Có nghĩa là Đất nước bị suy yếu nghiêm trọng bởi vụ án này mà di hại của nó còn kéo dài tàn phá sức mạnh của Đất nước.

Kẻ nào hưởng lợi nhất trước những thảm hại trên?

Ngoài lũ cướp đất của Dân không ai khác chính là bè lũ lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc.

Tại Bắc Kinh ngoạ sơn quan hổ đấu: anh em Việt một nhà chém giết nhau, chửi bới nhau, lúc này chúng mở rượu Mao đài mừng vui.

Cộng sản Trung Quốc mừng vui vì VN suy yếu, nội bộ chia rẽ thì sẽ càng phụ thuộc vào chúng.

Cộng sản Trung Quốc mừng vui vì những nhóm lợi ích thân chúng, chịu ảnh hưởng của chúng đang tập hợp lực lượng để tạo sức mạnh chi phối chính trường VN và tách rời Mỹ – kẻ thù của chúng.

Sẽ là ngây thơ chính trị nếu không đặt câu hỏi tình báo Hoa Nam mà tướng Trương Giang Long từng vạch mặt cùng các con bài của chúng đã nhúng bàn tay quỷ tác động vụ án Đồng Tâm này đến đâu nếu chỉ xét trên bình diện thua, thắng trên.

L.T.V.

Tác giả gửi BVN

André Menras: ‘Vụ Đồng Tâm – Đảng CSVN từ mị dân đến coi dân là kẻ thù’

Hoang Le Thanh  is with  Menras André

André Menras: ‘Vụ Đồng Tâm – Đảng CSVN từ mị dân đến coi dân là kẻ thù’

Mỹ Hằng

BBC News Tiếng Việt

14 tháng 9 2020, 11:25 +07

Ảnh 2:

Nhà làm phim người Pháp André Menras từng về Đồng Tâm trực tiếp dự cuộc họp bàn giữ đất của người dân. Ảnh:

Menras André

Chụp lại hình ảnh,

Nhà làm phim người Pháp André Menras từng về Đồng Tâm trực tiếp dự cuộc họp bàn giữ đất của người dân

Nhà làm phim người Pháp André Menras từng về Đồng Tâm trực tiếp dự cuộc họp bàn giữ đất của người dân – chỉ ít lâu trước khi ông Lê Đình Kình bị bắn chết – và ‘ngạc nhiên’ vì thấy họ ‘một lòng tin Đảng’. Khi thảm kịch xảy ra, ông cho rằng đảng CSVN đang chuyển dần từ giai đoạn mị dân tới tự cô lập mình.

André Menras, tên tiếng Việt là Hồ Cương Quyết, mang hai quốc tịch Pháp – Việt. Ông được biết đến với các hoạt động xuống đường trong Chiến tranh Việt Nam và mới đây qua các phim tài liệu như “Hoàng Sa – Việt Nam: nỗi đau mất mát” và “Việt Nam: Tiếng gào thét từ bên trong”.

– Vụ án Đồng Tâm: Nhà nước VN sẽ lại thắng người dân?

– Mạng xã hội giúp dân Đồng Tâm hay giúp chính quyền nhiều hơn?

– Vụ án Đồng Tâm gây tâm lý ‘sợ hãi, bất lực’ trong giới trẻ Việt Nam

Trước ngày tuyên án 29 người Đồng Tâm, ông André Menras có cuộc trao đổi với BBC News Tiếng Việt:

‘Một thảm kịch được báo trước’

André Menras: Là người đã theo dõi vụ xung đột ngay từ ngày đầu cho đến trận võ trang tấn công lần thứ nhì, dẫn tới cuộc tàn sát cụ Lê Đình Kình, các vụ bắt bớ tàn bạo, chính sách khủng bố, vu khống, sách nhiễu nông dân Đồng Tâm, tôi không còn một chút hi vọng nào vào một vụ xử án công bằng.

Các bị can đã bị bắt giữ một cách phi pháp. Vụ án rõ ràng sẽ diễn ra theo kiểu các vụ án thời Stalin. Ám muội và tàn độc hơn cả vụ xử Hồ Duy Hải. Đồng Tâm sẽ là hình ảnh tiêu biểu cho một chế độ cùng đường, coi nhân dân là kẻ thù.

Tôi được gặp cụ Kình và bà con Đồng Tâm tại nhà cụ, vào ngày 8/3/2019. Cảm tưởng của tôi là như được gặp những lão nông dân miền Nam nước Pháp, một vùng đất quen thuộc của tôi. Đôi mắt nhìn thẳng, bàn tay chai sần, da mặt sạm nắng, nói cười bộc trực thẳng thắn. Những người đàn ông đàn bà lương thiện, sống bằng bàn tay và mồ hôi của mình. Họ nhận thức sâu sắc là họ có quyền làm chủ mảnh đất đã nuôi dưỡng họ.

Họ thuộc từng tấc đất, và biết đoàn kết gắn bó nhau để bảo vệ từng tấc đất. Họ là những con người dũng cảm và tự hào: không thể đập phá cửa nhà họ mà xông vào được đâu.

Cuộc đấu tranh của họ hoàn toàn hợp pháp, luôn luôn dựa vào pháp luật và Hiến pháp.

Đồng Tâm sẽ là hình ảnh tiêu biểu cho một chế độ cùng đường, coi nhân dân là kẻ thù.BBC

Đồng Tâm sẽ là hình ảnh tiêu biểu cho một chế độ cùng đường, coi nhân dân là kẻ thù.

Ảnh 1:

André Menras, Pháp

BBC: Được biết ông đã tích cực kêu gọi sự can thiệp từ giới chính trị gia trước khi vụ Đồng Tâm nổ ra?

André Menras: Phải nói là đi thăm Đồng Tâm rồi trở về Pháp, tôi linh cảm tấn thảm kịch có thể ập tới, tôi đã gửi một lá thư cảnh báo cho đại sứ Việt Nam tại Pháp.

Tôi đã khẩn thiết và cương quyết yêu cầu ông khuyến cáo lãnh đạo cấp cao của đảng CSVN, hãy dùng những biện pháp hoà bình và hợp pháp để tháo gỡ cuộc bùng nổ có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Tôi thật là ngây thơ. Thư gửi đi, không có một hồi âm nào.

– Vụ Đồng Tâm: ‘Đảng CSVN cần xét lại chiến lược truyền thông của nhà nước’

– Đồng Tâm: Luật sư các vụ án ‘nhạy cảm’ phải đối mặt với nguy hiểm?

– Đồng Tâm: ‘Vụ án để lại nỗi đau cho dân tộc Việt Nam’

Cuộc phỏng vấn của tôi với cụ Lê Đình Kình và dân làng Đồng Tâm nay thành những tư liệu lịch sử. Trong bối cảnh mà những vụ chiếm đoạt đất đai trở thành môn thể thao thời thượng của đám cán bộ tham nhũng và bọn đầu cơ côn đồ, thảm kịch Đồng Tâm và những hệ quả xã hội sâu sắc của nó sẽ đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong lịch sử những cuộc đấu tranh nông dân nhằm gìn giữ đất đai do cha ông để lại.

Sẽ có nhiều Đồng Tâm khác, bởi vì bạo lực mà chế độ độc tài thối nát này gây ra, đương nhiên sẽ vấp phải sự kháng cự bạo liệt tương xứng. Đánh vào nông dân, đánh vào cái gì quý báu nhất của người nông dân, chế độ này đang cưa gãy cái cành mà nó đang ngồi trên đó. Chính thể này chỉ có thể chọn một trong hai con đường : hoặc là nó tự chuyển đổi thành một Nhà nước pháp quyền thực thụ, hoặc là nó tự tiêu diệt.

Nếu tôi là một nông dân Đồng Tâm, thì hôm nay, chắc chắn là tôi sẽ đang đứng trước vành móng ngựa, để lên án các thẩm phán ngồi trước mặt.

Thế nhưng, tôi khá ngạc nhiên nhận thấy họ hoàn toàn tin tưởng ở đảng CSVN, vào những người lãnh đạo cấp cao đã phản bội họ và sẽ giầy xéo lên họ.

‘Dân Đồng Tâm hoàn toàn tin vào Đảng’

Ảnh 3:

Ông Andre Menras nói ông trong cuộc họp đất đai của dân Đồng Tâm mà ông được tham dự, người dân một lòng tin Đảng

NGUỒN HÌNH ẢNH, ANDRE MENRAS

Chụp lại hình ảnh,

BBC: Dựa vào đâu ông nhận định rằng dân Đồng Tâm hoàn toàn tin đảng CSVN?

André Menras: Trong cuộc gặp dân làng Đồng Tâm và cụ Lê Đình Kình, sự tin tưởng của họ vào Đảng sau khi đã bị tấn công dã man và lừa đảo năm 2017, làm tôi bị sốc.

Tôi sốc là do chính là cách ứng xử của họ đối với tôi, tôn trọng và thân thiết, coi tôi là đồng chí, đồng bào, “phấn khởi” thấy tôi mang họ Hồ của Bác, như lời cụ Kình.

Điều này giải thích tại sao họ muốn tâm sự, kể lại mọi tình tiết. Họ không coi tôi là một phóng viên nước ngoài tạt qua làng, mà coi tôi như là một đảng viên.

Trong suốt mấy tiếng đồng hồ, họ không có một lời nào chống Đảng. Họ luôn luôn tự xác định là những người cộng sản, góp phần vào “công tác chống tham nhũng” của Đảng.

– Ông Nguyễn Đức Chung là ‘mắt xích quan trọng’ trong vụ Đồng Tâm?

– Đồng Tâm: Luật sư của 3 công an ‘biến tòa thành nhà tang lễ’?

– Vang tiếng Thủ Thiêm, Đồng Tâm trong phim ‘VN: Tiếng gào thét từ bên trong’

Ngày tôi ra phi trường Nội Bài rời Hà Nội, người ta đã réo tên tôi bằng loa gọi tôi đến “làm việc” với ba nhân viên an ninh về chuyến thăm Đồng Tâm. Họ muốn thuyết phục tôi rằng năm 2017 nhân dân Đồng Tâm đã dùng bạo lực, trong khi chính họ – chính quyền – bị tấn công.

Trong cuộc nói chuyện rất lịch sự ấy, một trong ba an ninh nói với tôi là nếu tôi làm điều gì tổn hại thanh danh của Đảng thì tôi sẽ phải gánh chịu các hậu quả. Qua đó, tôi hiểu là ĐCSVN đứng ở phía nào, hiểu họ coi vụ Đồng Tâm quan trọng như thế nào.

‘Chính sách mị dân’

Ảnh 4:

Ông Lê Đình Kình, người bị bắn chết trong vụ công an đổ quân vào thôn Hoành tháng 1/2020, đã có 58 năm tuổi Đảng

NGUỒN HÌNH ẢNH, BBVC

Chụp lại hình ảnh,

BBC:Dựa vào những gì ông biết về chính trị, xã hội và con người Việt Nam sau hàng chục năm gắn bó, ông có thể lý giải vì sao họ vẫn giữ niềm tin đó?

André Menras: Đó là nhờ chính sách mị dân của đảng CSVN đã thành công. Theo ý tôi, vì mấy lý do.

Trước tiên, đối với những thế hệ cao niên, uy tín của đảng CSVN trong quá khứ rất lớn. Vai trò của đảng CSVN là đoàn kết, hy sinh chống thực dân và trong kháng chiến chống Mỹ rất quan trọng.

Thứ hai, rõ ràng từ sau chiến tranh, Việt Nam đã phát triển, và nhờ đó đảng CSVN đã giữ được ánh hào quang mặc dù cán bộ đã bòn rút biết bao của cải từ sự phát triển.

Thứ ba, liên quan tới thế hệ trẻ: Chính sách giáo dục chính trị hoá từ lớp mẫu giáo. Những mảng lớn của lịch sử đã bị “bỏ quên” hay bóp méo. Chính sách nhồi sọ đi đôi với tình trạng bàng quan đối với đời sống chính trị xã hội, mỗi người lo phận mình, lãnh cảm, ích kỷ trước chuyện chung.

Thứ tư, sự khống chế toàn diện của Ban Tuyên giáo trong lãnh vực thông tin. Điều này, những lãnh đạo cao nhất không hề giấu giếm. Truyền thông phải phục vụ và bảo vệ đường lối của đảng CSVN. 700 tờ báo, mấy kênh truyền hình VTV, nhưng chỉ có một tiếng nói: Tiếng nói của Bộ Chính trị. Đó là không nói tới tâm trạng lo sợ bị trừng phạt tức khắc và nghiêm khắc đối với bất cứ ai đi chệch hướng.

Thêm vào đó, truyền thống văn hoá Việt Nam vốn ngại ngùng trong việc đặt lại vấn đề đối với tôn ti trật tự có sẵn.

Đó là những nguyên nhân có thể giải thích tại sao chính sách mị dân của một chính đảng độc tài, bạo nghiệt và thối nát vẫn thành công cho đến bây giờ.

Giai đoạn đảng CSVN tự cô lập mình

Ảnh 5:

Luật sư Ngô Anh Tuấn (trước) và luật sư Đặng Đình Mạnh thu thập bằng chứng tại giếng trời, được cho là nơi ba công an rơi xuống, tại nhà ông Lê Đình Kình, Đồng Tâm, Hà Nội

NGUỒN HÌNH ẢNH, LS LE HOA

Chụp lại hình ảnh,

BBC: Vụ Đồng Tâm gây chấn động dư luận này sẽ ảnh hưởng tới mức độ nào vào niềm tin đó và tới vị thế của đảng CSVN?

André Menras: Có một điều có thể khẳng định được: Đồng Tâm đánh dấu một giai đoạn mới trong quá trình tự cô lập của đảng Cộng sản đối với nhân dân, đặc biệt là thành phần nông dân.

Đảng cầm quyền đã tuyên chiến với toàn bộ một xã, đã sử dụng vũ lực để chiếm đoạt đất đai của những người nông dân mà số đông là đảng viên. Nó đã hành động như một tên thực dân tàn bạo.

Nó đã vượt khỏi lằn ranh đỏ, qua khỏi đó thì không còn gì là lòng tin và trọng thị.

Nó đã gây đổ máu, làm ô uế thân xác các nạn nhân, nhục mạ thanh danh họ. Nó đã dấy lên sự căm thù của người nông dân, và còn hơn thế nữa. Nó đã tạo ra và biện minh cho những căm hận mới.

BBC: Con đường tiến tới xã hội pháp quyền của VIệt Nam, từ vụ Đồng Tâm, trong quan điểm của ông, sẽ như thế nào?

André Menras: Đồng Tâm là một thất bại nặng nề trong cuộc chiến tranh mà đảng Cộng sản của Nguyễn Phú Trọng đã tiến hành chống lại nhân dân Việt Nam. Sớm hay muộn, nó sẽ phải trả giá cho những hậu quả.

Bởi vì, như lịch sử ngàn năm của Việt Nam cho thấy rõ, nhân dân Việt Nam có một sức chịu đựng đau khổ và oan ức hiếm có, nhưng họ không phải là những con cừu. Và, theo cung cách của mình, họ không bao giờ ngưng nghỉ kháng cự. Điều đó, những kẻ tiếm quyền hiện nay hiểu rất rõ.

Họ đang ngồi chễm chệ trên nhánh cây của nhân dân mà đa số là nông dân, họ đã thừa hưởng hoa trái của cành cây, và ngày nay họ đang cưa cành cây để bán nốt gỗ. Leo cao thì họ sẽ ngã đau.

Không ai có thể tiên đoán con đường tiến lên nhà nước pháp quyền của người Việt Nam bao giờ sẽ diễn ra và như thế nào. Nồi nước sẽ nổ tung, từ bên trong Đảng hay từ ngoài Đảng, hay cả hai cùng một lúc, nhưng sự bùng nổ là tất yếu, nhất là nếu ông bạn Trung Quốc nhúng tay vào.

Bởi vì không có nền hoà bình nào có thể lâu bền, không một xã hội nào có thể tồn tại mà không có một nhà nước pháp quyền thực sự, mà không có sự tôn trọng tối đa các quyền con người và quyền công dân.

Nguồn: BBC

Lòng dân nói lên tất cả

Lòng dân nói lên tất cả

Cụ Kình bị bọn bằng tuổi con, tuổi cháu cụ gọi là thằng, là cường hào ác bá. Cụ là đảng viên, chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, Bí thư Đảng ủy xã từ khi chúng còn chưa sinh ra… nhưng nhà cụ không bằng cái chuồng xí nhà chúng.

Dù cụ là quan chức cấp thấp nhưng thử hỏi trên đất nước này, có vị quan chức cấp cao nào, dù được truyền thông pr, lại được nhiều người dân yêu mến như yêu mến cụ?

Có công vụ nào được thi hành lúc nửa đêm, tấn công bất ngờ vào nhà dân khi dân đang ngủ, trong khi ngư dân ngoài biển thì lúc nào cũng lo sợ bị Trung Quốc đuổi đánh.

Có bản án nào thuyết phục khi nhân chứng khẳng định cụ bị giết, tay cầm gậy không vững chứ đừng nói tới cầm lựu đạn, và quả lựu đạn cụ cầm đang ở đâu? thằng bán lựu đạn là thằng nào sao không xuất hiện? Đi thi hành kiểu gì mà để đồng đội cháy đen trong khi nơi cháy không đen, thiếu oxy, cần rất nhiều thời gian…

Dù thế nào đi nữa, “toà án nhân dân” không quan trọng bằng toà án lương tâm, tòa án lịch sử.

NGƯỜI ĐỒNG TÂM

NGƯỜI ĐỒNG TÂM

Ngay tối 14/9/2020, rất đông những người dân ở Đồng Tâm đã đón người thân bịt bắt, bị giam, bị tra khảo hơn 8 tháng trở về thôn Hoành, trước tiên là họ ra thắp hương cho ông Kình. Rất đông người khóc thương bên mộ ông.

Cũng như năm 2017, ông nằm trên giường trở về với cái chân gãy, dân Đồng Tâm đón ông trong sự vui mừng và chật kín người.

Ông là cường hào ác bá ư? Người dân chân chất thật thà chắc hẳn không có tình cảm sai bao giờ.

Đạo đức Hồ Chí Minh: Từ Cát Hanh Long tới Lê Đình Kình.

Than Ngoc Pham

Đạo đức Hồ Chí Minh: Từ Cát Hanh Long tới Lê Đình Kình.

Khi nói tới cái chết của ông Lê Đình Kình nhiều người liên tục nhắc tới những đóng góp mà ông Lê Đình Kình đã bỏ ra suốt cuộc đời, hay đúng hơn là 58 năm tuổi đảng. Cái chết của ông dễ làm người ta liên tưởng tới một cái chết khác cách đây gần 70 năm khi cuộc Cải cách ruộng đất bắt đầu thì bà Nguyễn Thị Năm, tức bà Cát Hanh Long là người đầu tiên bị đấu tố và tử hình.

Ông Kình và bà Năm giống nhau ở điểm: Ông Kình bỏ ra gần 60 năm phục vụ cho Đảng, tức bỏ công sức cả đời ra cho tổ chức mà ông theo đuổi. Bà Năm bỏ gần hết cơ nghiệp gia đình ra để ủng hộ Việt Minh, tiền thân của Đảng hiện nay. Với số vàng và tài sản đóng góp kể cả bao che cho những cán bộ Việt Minh sau này giữ những cương vị quan trọng như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh…..bà Nguyễn Thị Năm được xem là có công với cách mạng nhưng cái công đó bị chính ông Hồ Chí Minh khước từ. Ông Kình cũng bị khước từ những đóng góp suốt đời để nhận hậu quả là cái chết giữa đêm khuya.

Ông Hồ Chí Minh của quá khứ và ông Nguyễn Phú Trọng của hiện tại có khác gì nhau? Bởi một điều chắc chắn ông Nguyễn Phú Trọng phải được báo cáo xin chỉ thị trước khi hành quân hạ sát ông Kình, Thế nhưng không có văn bản nào có chữ ký của ông Trọng giống như ông Hồ Chí Minh không bao giờ ký vào bản án bà Nguyễn Thị Năm. Hai cái chết đều không có chữ ký của cấp cao nhất nước nói lên sự phủi tay trước trách nhiệm cần có, vậy thì có đạo đức không?

Lịch sử luôn lập lại nhưng lần này có lẽ là lần sau cùng một chính quyền luôn luôn chiến thắng dân sẽ khó mà ăn ngon ngủ yên như gần 70 năm trước bởi giờ đây người dân đã kịp trang bị cho mình kiến thức thật sự từ mạng lưới toàn cầu, họ không còn dễ dàng cả tin vào những người đầy tớ mà chất phản phúc lúc nào cũng lộ ra trên những chiếc khăn tay chậm nước mắt sau khi giết chủ.

Canhco/RFA

Riley Galang

Câu chuyện Đồng Tâm: Đúng, sai? Có cần thiết phải xử lý như vậy không?

Chính quyền đúng hay người dân đúng trong việc giành chủ quyền vài chục hecta đất ở Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội? Thật sự tôi cũng không tỏ tường. Bởi để rõ ai đúng ai sai phải có một trọng tài phân xử, dựa trên tài liệu, pháp luật thanh minh. Bên đại diện cho nhà nước là công an, quân đội, tư pháp, chánh quyền. Bên đại diện cho người dân Đồng Tâm là các luật sư, họ mới được đọc hồ sơ, am hiểu luật pháp. Hai bên phải tranh luận sòng phẳng để đến được kết luận bên nào đúng, bên nào sai. Ở đây, tiếng nói chỉ được nghe từ phía chính quyền. Còn phía luật sư thì không được tranh luận. Vậy sao hiểu được ai đúng ai sai? Biểu rằng, mấy chục hộ dân ĐT đúng thì e quá cảm tính. Biểu rằng, chính quyền nói chính quyền đúng, phải nghe, thì quá độc tài!…

Thôi thì cứ cho là dân sai, và đặc biệt là cụ ông đảng viên cọng sản trên 80 tuổi, người cầm đầu vụ tranh chấp, là sai. Thì việc bắt cụ, đánh gãy chân là đúng hay sao? Và việc đưa công an súng ống đầy đủ, rạng sáng 09/1/20 đồng loạt tấn công nhà ông Kình, bắn chết ông và vì vậy mà 3 cậu sĩ quan công an “sụp hầm” chết là có cần thiết hay không?

Cứ cho là dân ĐT sai, họ đã lấn chiếm trái phép đất quân sự ở đồng Sênh. Họ đã xây dựng nhà ở trái phép trên đất đó. Thì, việc sai trái này chắc đã diễn ra từ rất lâu rồi. Cụ thể là họ đã mấy đời sinh ra lớn lên từ đây. Mà cái sai đó nếu đã không được chính quyền “hợp thức hoá” thì họ đâu có ăn ở bình yên trên đất đó được đã bấy lâu nay. Vậy cái sai là bởi chính quyền. Chính quyền những năm nào thì cũng là chính quyền của nước CHXHCNVN, cũng do một đảng CS lãnh đạo thôi mà. Vậy đảng cũng có sai chứ đâu mỗi dân sai?…

Và trong hiến pháp “đất đai là sở hữu toàn dân”, thì dân có “vặt” một ít đất xây nhà cày ruộng thì cũng giống như bánh trái trong nhà là để các con, rủi có thằng nào “ăn vụng” vài cái bánh thì hắn cũng lỡ nuốt vào bụng rồi, móc họng, moi bụng ra cũng chẳng để làm gì, sao không phạt con bằng cách khác, như sẽ không cho con ăn thêm chè, thêm trái???

Chính quyền có trong tay 362 ngàn ki lô mét vuông đất ( là tôi được học thuộc lòng từ lớp tiểu học, bây giờ còn bao nhiêu tôi không biết). Nay muốn giao vài trăm hecta đất cho công ty quốc phòng làm nhà máy, thì trấu cha chỗ, cần chi phải đến Đồng Tâm. Và nếu cần thiết phải đến ĐT thì “hẹm” đi vài ngàn mét vuông trong cả trăm hecta thì cũng chả “bỏ bèn” gì, chẳng ảnh hưởng gì đến dây chuyền, công nghệ sản xuất…Có cần thiết phải ngay lập tức lập lại trật tự nghiêm minh bằng cả một lực lượng võ trang an ninh hùng hậu của chính quyền như trong thời chiến???

Sao không khoanh vùng lại, tạm thời để đó. Phần xây thì cứ xây. Phần đất tranh chấp thì chỉ đạo cho chính quyền địa phương. Tuyệt đối không được mua bán, đổi cho. Không cấp phép xây dựng trên đó….Sống trên miếng đất mà biết rằng đang bị “bất hợp pháp”, không mở mang, bán mua được, sở hữu mà như vô sở hữu, thì đến hết đời con ông Kình, họ cũng chán mà dọn đi nơi khác, cần gì phải “đánh úp”, tấn công?…

Rồi bắt bớ, giam cầm 29 người dân, rồi đưa ra toà với những khuôn mặt sứt sẹo, ánh mắt thảng thốt hoảng sợ, những hình hài người dân xiêu vẹo…, phỏng được lợi ích gì. Rồi kết án tử hình! Bao nhiêu quan tham đã ăn không biết bao nhiêu hecta đất, hại không biết bao gia đình, để họ sống mà như chết, tham ô cả ngàn tỷ đồng, đã biết, sao không bắt, không nhốt, không tử hình. Giết hai người con cụ Kình, liệu có đáng cho sự nghiệp dài lâu của một đảng mà ông Hồ hằng mong ước là được sống mãi trong lòng dân???

Tối 15/9, mở ti vi thấy tin toà Đồng Tâm, chừng như cô phát thanh viên cũng chẳng đặng đừng phải thông báo tin trên, khuôn mặt cô cũng thoảng một nét buồn. Và lòng tôi cũng nghe quặn thắt!

Ôi đất đai, nhà cửa. Con giết cha, anh giết em, vợ giết chồng…, quá khổ đau!. Và bây chừ trên thanh thiên bạch nhật. Chính quyền giết thêm hai người nữa cho đủ 3, để trả đúng mối thù 3 người công an đã chết. Buồn thay!…

Quyền lực trong tay. Có biết bao nhiêu cách để xử lý hay hơn. Có cần thiết phải mở màn và kết thúc vụ tranh chấp đất đai Đồng Tâm theo cái cách đã làm này không?

16.9.20

Nguyễn Quang Chơn

 Người dân phản ứng thế nào đối với bản án đối với 29 người dân Đồng Tâm?

 

 

 Người dân phản ứng thế nào đối với bản án đối với 29 người dân Đồng Tâm?

“Tôi bảo cả đảng Cộng sản này nó điếc và nó mù hết rồi! Bởi vì nó điếc và nó mù cho nên là nó chỉ áp đặt ý muốn của nó mà thôi, và như thế đó là một bọn hết sức tàn bạo, vô nhân đạo, phản dân.”

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một nhà bất đồng chính kiến từ Hà Nội phản ứng như thế sau khi biết bản án mà tòa án Hà Nội tuyên.

Chị Nguyễn Thị Duyên, cháu dâu ông Lê Đình Kình bày tỏ suy nghĩ cho biết, chị không quá bất ngờ trước bản án và sẽ tiếp tục gửi đơn tranh đấu cho những người dân Đồng Tâm.

“Thật ra em cũng không bất ngờ lắm vì chuẩn bị tinh thần trước biết chắc chắn rằng họ sẽ giữ nguyên bản án.

Các bước tiếp theo sẽ phải làm dần dần thôi chứ không thể nào thay đổi cục diện hay tâm trí của họ rồi. Chắc chắn họ sẽ ép người dân Đồng Tâm chịu cảnh ngục tù rất là lâu.”

Luật sư Nguyễn Văn Miếng, người bào chữa cho những người dân Đồng Tâm chiều ngày 14-9 nhận xét về các bản án như sau:

“Tôi không biết phải nhận xét như thế nào nhưng mà bây giờ hôm ở tòa tôi cũng đã nói nói rồi, trong vụ án này đã có 4 người chết rồi cần phải điều tra xem xét lại 4 cái chết đó.

Chưa có đủ căn cứ 3 người đó chết là do ông Công, ông Chức và những người khác.

Bây giờ nếu chúng ta thêm hai án tử hình và một án chung thân nữa thì tôi cho rằng đó là một bản án không tiếp tục thuyết phục!”

Nhà hoạt động nhân quyền Nguyễn Trường Sơn viết trên Facebook cá nhân:

“Theo luật sư Luân Lê thì bà Nối bị tăng hình phạt, cụ thể là viện kiểm sát đề nghị mức 4-5 năm tù, nhưng toà xử bà 6 năm tù.

Đây rõ ràng là hành động trả thù đối với những bài phát biểu tuy ngắn nhưng vô cùng chí lý và lay động lòng người của bà Nối trong những ngày diễn ra phiên xử.

Chúng ta đang bị cai trị bởi một chế độ vô nhân tính!”

Bà Bùi Thị Nối, con nuôi của ông Lê Đình Kình trong phiên tòa đã leo lên ghế, chất vấn Hội đồng xét xử, nhắc lại vụ việc hồi tháng 4-2017 và hỏi tại sao không bắt ông Kình một cách đàng hoàng, có luật mà sao không xài luật.

Bạn nghĩ sao?

#RFAVietnamese #DongTam #VuanDongTam #LeDinhKinh #DongTamVillage

 Image may contain: one or more people, text that says 'TTXVN RFA BICAD #Đong Tâm #RFA Người dân phản úng thế nào vê bản án đoi với 29 người Đông Tâm? RFA RFAVietnam rfavietnamese RFAVietnamese DaiAChauTuDo rfa.org/vietnamese'

“Các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá trên nhiều lĩnh vực!”

 “Các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá trên nhiều lĩnh vực!”

Thượng tướng Lê Quý Vương, Thứ trưởng Bộ Công an phát biểu như thế vào sáng 14-9-2020 trong buổi báo cáo của Chính phủ về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật thời gian qua.

“Các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá trên nhiều lĩnh vực.

An ninh nội địa còn tiềm ẩn nhiều nhân tố có thể gây bất ổn; an ninh kinh tế diễn biến phức tạp.

Tình trạng lộ, lọt bí mật nhà nước trên không gian mạng ngày càng nghiêm trọng. Hoạt động nhập cảnh trái phép diễn biến phức tạp.” – Thượng tướng Lê Quý Vương, thứ trưởng Bộ Công an nói và cho biết thêm là tình trạng “chống người thi hành công vụ gia tăng đột biến trong thời gian cao điểm phòng chống dịch COVID-19 và triển khai Nghị định số 100 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt”.

Chính quyền cộng sản Việt Nam hiện nay coi những người dân lên tiếng về dân chủ, nhân quyền và những người bất đồng chính kiến là “thế lực thù địch” và nhiều lần tuyên bố sẽ “đấu tranh không khoan nhượng”.

Bạn nghĩ sao về phát biểu này?

#RFAVietnamese

Image may contain: 1 person, text

Tòa Hà Nội tuyên 2 án tử hình và 1 án chung thân đối với người dân Đồng Tâm

Tòa Hà Nội tuyên 2 án tử hình và 1 án chung thân đối với người dân Đồng Tâm

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội vào chiều ngày 14-9-2020 ra phán quyết 2 án tử hình đối với 2 ông Lê Đình Công và Lê Đình Chức, ngoài ra ông Lê Đình Doanh là con của ông Công cũng bị tuyên án tù chung thân trong phiên tòa có nhiều sai sót về mặt tố tụng.

Ba người khác cùng bị cáo buộc tội danh giết người là ông Bùi Viết Hiểu bị tuyên 16 năm tù, ông Nguyễn Quốc Tiến 13 năm tù và ông Nguyễn Văn Tuyển là 12 năm tù giam.

Những người này bị cáo buộc liên quan đến vụ việc đổ xăng nhiều lần vào hố thiêu sống 3 cán bộ công an trong số hơn 3 ngàn quân tấn công vào xã Đồng Tâm rạng sáng 9-1-2020 lấy lý do là để bảo vệ quân đội xây tường rào sân bay Miếu Môn và các mục tiêu quan trọng trong xã.

23 người còn lại bị cáo buộc tội “chống người thi hành công vụ” bị tuyên các mức án từ 15 tháng tù treo đến 6 năm tù giam.

Chị Nguyễn Thị Duyên, cháu dâu ông Lê Đình Kình bày tỏ suy nghĩ sau khi nghe bản án cho biết, chị không quá bất ngờ trước bản án và sẽ tiếp tục gửi đơn tranh đấu cho những người dân Đồng Tâm.

Như chúng tôi đã thông tin, Tòa án Hà Nội mở phiên xét xử sơ thẩm đối với 29 người dân với cáo buộc “Giết người” và “Chống người thi hành công vụ từ ngày 7-9 đến ngày 10-9-2020.

Chủ tọa phiên tòa, Thẩm phán Trương Việt Toàn từ chối triệu tập Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung (đang bị tạm giam trong vụ án khác), đại diện Bộ Quốc phòng và Công an thành phố Hà Nội. Lý do theo ông này là “không liên quan đến vụ án”.

Mặc dù sau đó, đại diện công an thành phố Hà Nội có mặt, một số nhân chứng như bà Dư Thị Thành, vợ ông Lê Đình Kình không được triệu tập tới tòa.

Có 19 trong 29 bị cáo cho biết bị bức cung, nhục hình trong đó ông Lê Đình Công nói “bị đánh mười ngày như một”.

Khi nói lời sau cùng, có gần 20 người dân có phát biểu gần giống nhau khi cùng xin được hưởng mức án khoan hồng, gửi lời cảm ơn giám thị trại tạm giam giáo dục giúp họ nhận ra lỗi lầm.

Ngay khi vụ việc ngày 9-1-2020 xảy ra, vợ ông Lê Đình Kình và một số nhân sĩ trí thức ở Hà Nội đã gửi đơn tố cáo vụ án giết người xảy ra ở Đồng Tâm đối với ông Lê Đình Kình nhưng không được xem xét do công an Hà Nội cho rằng “nội dung đơn không đúng sự thật”.

#RFAVietnamese #DongTam #VuanDongTam #LeDinhKinh #DongTamVillage

Image may contain: 2 people