Vì sao cựu Tổng thống Philippines Duterte bị bắt?- BBC
Nguồn hình ảnh,Getty Images
Cảnh sát Philippines đã bắt giữ cựu Tổng thống Rodrigo Duterte sau khi Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) ban hành lệnh truy nã, cáo buộc ông phạm tội ác chống lại loài người liên quan đến “cuộc chiến chống ma túy” đẫm máu của mình.
Ông bị cảnh sát bắt giữ tại sân bay Manila ngay sau khi từ Hong Kong trở về.
Cuộc trấn áp chống ma túy tàn bạo của ông Duterte, diễn ra khi ông còn là tổng thống của quốc gia Đông Nam Á này từ năm 2016 đến 2022, đã khiến hàng ngàn người thiệt mạng.
Cựu tổng thống 79 tuổi trước đó đã tuyên bố sẵn sàng ngồi tù khi trả lời các thông tin về khả năng bị bắt giữ.
Liên minh Quốc tế về Nhân quyền (ICHRP) ở Philippines gọi vụ bắt giữ là “khoảnh khắc lịch sử”.
“Công lý có thể đến muộn nhưng đã được thực thi hôm nay. Việc bắt giữ Duterte là khởi đầu cho sự trừng phạt những kẻ gây ra các vụ giết người hàng loạt, thứ đã định hình chế độ cai trị tàn bạo của ông ta,” Chủ tịch ICHRP Peter Murphy nói.
“Cuối cùng, chúng ta dần dần sẽ giành được công lý cho tất cả các nạn nhân… Nhưng mặt khác, hy vọng rằng không chỉ dừng lại ở việc bỏ tù,” báo Philippines Rappler dẫn lời một người được gọi là Ana. Chồng và bố chồng của cô bị giết trong cuộc chiến chống ma túy của Duterte vào năm 2017.
”Cũng mong rằng ông ta sẽ thừa nhận mọi sai lầm và xin lỗi tất cả những người bị hại, để linh hồn của những người đã khuất cũng được yên nghỉ,” Ana nói.
Nguồn hình ảnh,Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Ông Rodrigo Duterte cầm một khẩu súng bắn tỉa trong một buổi lễ của cảnh sát vào năm 2018
Vị cựu tổng thống đã đến Hong Kong để vận động tranh cử cho danh sách thượng nghị sĩ của mình trong cuộc bầu cử giữa kỳ vào ngày 12/5 sắp tới.
Những thước phim được phát trên truyền hình địa phương cho thấy ông chống gậy bước ra khỏi sân bay. Các nhà chức trách cho biết ông “có sức khỏe tốt” và đang được các bác sĩ chính phủ chăm sóc.
“Tôi có tội gì? Tôi làm mọi thứ trong thời gian tại nhiệm để mang lại hòa bình và cuộc sống yên ổn cho nhân dân Philippines,” ông nói với đám đông người Philippines ở nước ngoài hò reo trước khi rời Hong Kong.
Một video do con gái ông, Veronica Duterte, đăng tải cho thấy ông Duterte bị giam giữ trong một phòng chờ ở Căn cứ Không quân Villamor tại thủ đô Manila. Trong video, có thể nghe thấy ông đặt câu hỏi về lý do bị bắt giữ.
“Luật là gì và tôi đã phạm tội gì? Tôi bị đưa đến đây không phải do tôi tự nguyện mà do người khác. Các người phải trả lời ngay lập tức về việc tước đoạt sự tự do của tôi.”
‘Cuộc chiến chống ma túy’
Nguồn hình ảnh,Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Các nghi phạm ma túy bên trong đồn cảnh sát ở thủ đô Manila, Philippines năm 2016
Duterte, người từng là thị trưởng của một trong những thành phố lớn nhất ở Philippines, đã giành được chiếc ghế tổng thống bằng lời hứa về một cuộc trấn áp tội phạm trên diện rộng.
Nhưng các nhà phê bình cho rằng “cuộc chiến chống ma túy” của ông đã dẫn đến sự lạm dụng quyền lực của cảnh sát và tình trạng nhiều nghi phạm ma túy bị hành quyết không qua xét xử. Ông đã phủ nhận các cáo buộc này.
Ông xây dựng hình ảnh mình là một người đàn ông cứng rắn, chống lại giới tinh hoa và gần gũi với quần chúng, khiến những người dân Philippines bầu ông làm tổng thống đầu tiên của đất nước đến từ đảo Mindanao ở miền nam.
Với lời lẽ hùng hồn, ông đã tập hợp lực lượng an ninh để bắn chết những nghi phạm ma túy. Hơn 6.000 nghi phạm đã bị cảnh sát hoặc những kẻ tấn công không rõ danh tính bắn hạ trong chiến dịch, nhưng các nhóm nhân quyền cho biết con số này có thể lớn hơn.
“Hitler đã thảm sát ba triệu người Do Thái. Bây giờ có ba triệu con nghiện ma túy [ở Philippines]. Tôi rất vui khi tàn sát chúng,” ông nói sau vài tháng nhậm chức.
Nhưng những người chỉ trích cho rằng “cuộc chiến chống ma túy” của ông đã dẫn đến việc cảnh sát lạm dụng quyền lực và nhiều nghi phạm ma túy đã bị hành quyết ngay lập tức.
Các cuộc điều tra tại quốc hội tiết lộ “biệt đội tử thần” bí ẩn gồm những thợ săn tiền thưởng nhắm vào những nghi phạm ma túy.
Ông Duterte đã phủ nhận các cáo buộc.
ICC lần đầu ghi nhận các cáo buộc lạm dụng vào năm 2016 và bắt đầu điều tra vào năm 2021. Tòa án này xử lý các vụ án từ tháng 11/2011, khi ông Duterte còn là thị trưởng Davao, cho đến tháng 3/2019, trước khi Philippines rút khỏi ICC.
Ông Duterte có bốn người con, trong đó có con gái lớn là Sara Duterte, hiện là phó tổng thống Philippines và được dự báo là ứng cử viên tổng thống tiềm năng vào năm 2028.
Trong những tháng gần đây, liên minh của gia tộc Duterte với đương kim Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. đã tan vỡ một cách chấn động trước công chúng cả nước. Ông Marcos và bà Sara Duterte từng cùng nhau giành chiến thắng áp đảo trong cuộc bầu cử năm 2022.
Hồi tháng 11/2024, bà Duterte đã nói với các phóng viên rằng quan hệ giữa bà với Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. đã trở nên độc hại và bà mơ đến chuyện chặt đầu ông ta.
Bà cũng đe dọa sẽ đào mộ cha của tổng thống Marcos Jr. từ Nghĩa trang Anh hùng ở Manila và đổ tro cốt xuống biển.
Mỹ rút khỏi thỏa thuận tài trợ nỗ lực bỏ điện than của Việt Nam, Indonesia (BBC)
Nguồn hình ảnh,Vietnam-US
10 tháng 3 2025, 12:35 +07
Bộ Tài chính Hoa Kỳ cho biết hôm 6/3 rằng Hoa Kỳ sẽ rút khỏi thỏa thuận Quan hệ Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP), một cơ chế hợp tác tài chính giữa các quốc gia giàu có hơn nhằm giúp các nước đang phát triển chuyển đổi từ điện than sang năng lượng sạch hơn.
Bộ trưởng Tài chính Scott Bessent đã rút Hoa Kỳ khỏi các thỏa thuận JETP với Nam Phi, Indonesia và Việt Nam, một phát ngôn viên của bộ này cho Reuters biết.
Cam kết của Hoa Kỳ dành cho Việt Nam và Indonesia trị giá hơn ba tỷ đô la, chủ yếu thông qua các khoản vay thương mại.
Trong khi ở Nam Phi, Mỹ cam kết cung cấp 1,063 tỷ đô la trong tổng số 11,6 tỷ đô la đến từ các quốc gia khác.
Vấn Đề Hỗ Trợ Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa Tại Phiên Rà Soát của Liên Hợp Quốc
March 11, 2025
Vào ngày 6 và 7 tháng 3 vừa qua, Việt Nam đã tham gia phiên rà soát đầu tiên về việc thực thi Công ước về Quyền của Người Khuyết Tật (CRPD) tại Liên Hợp Quốc ở Geneva, Thụy Sĩ. Trong phiên rà soát, vấn đề về hỗ trợ cho thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa (TPB VNCH) sau ngày 30/4/1975 đã được đưa ra làm điểm nóng tranh luận.
Bà Amalia Gamio, Phó Chủ tịch ủy ban về Quyền của Người khuyết tật, đã chỉ ra rằng hàng trăm nghìn cựu quân nhân VNCH bị thương tật không được hỗ trợ bởi Nhà nước Việt Nam như các đối tượng khuyết tật khác. Đáng chú ý, bà nhấn mạnh rằng hiện có vài chục nghìn TPB VNCH chỉ nhận được trợ giúp từ các nguồn từ thiện do cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài quyên góp, thường thông qua các chương trình được tổ chức tại một số ngôi chùa và nhà thờ tại TP.HCM.
Trong phản hồi của mình, ông Nguyễn Văn Hồi, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, đã khẳng định rằng theo luật của Việt Nam, không có sự phân biệt đối xử giữa các cựu chiến binh dựa trên lý lịch của họ. Ông cũng nói thêm rằng có những biện pháp chế tài và quy định nhằm trừng phạt bất kỳ cán bộ nào từ chối hỗ trợ cho người khuyết tật và không có sự phân biệt đối xử với bất kỳ nhà thờ hay tổ chức tôn giáo nào.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Bắc Truyển, người có mặt tại phiên điều trần, đã phản bác câu trả lời của đại diện nhà nước. Làm việc trong chương trình chăm sóc cho thương phế binh của Dòng Chúa Cứu Thế, ông Truyển chia sẻ kinh nghiệm cá nhân của mình khi tiếp xúc với khoảng 5000 thương phế binh, cho biết họ không nhận được sự chăm sóc như những gì được khẳng định.
Vấn đề này đã làm dấy lên những câu hỏi lớn về tính hiệu quả và công bằng của chính sách hỗ trợ người khuyết tật tại Việt Nam, đặc biệt là trong việc đối xử với cựu quân nhân VNCH. Sự chênh lệch giữa chính sách và thực tế mà các thương phế binh này đang phải đối mặt là một thách thức đáng kể cho chính phủ Việt Nam trong việc thực thi cam kết quốc tế về quyền của người khuyết tật.
Nga đẩy lùi lực lượng Ukraine ở Kursk sau khi Hoa Kỳ ngừng hỗ trợ
Nỗ lực trục xuất binh lính Ukraine khỏi lãnh thổ Nga được đẩy nhanh trước thềm cuộc đàm phán giữa Mỹ và Ukraine tại Saudi Arabia.
Một bức tượng Lenin bị hư hại ở Sudzha năm ngoái. Ảnh: Associated Press
KYIV, Ukraine
Sự tiến quân nhanh chóng của lực lượng Nga và Bắc Triều Tiên đang đe dọa chỗ đứng của Ukraine tại Kursk, phần lãnh thổ của Nga mà các quan chức Ukraine hy vọng sẽ mang lại cho họ đòn bẩy trong bất kỳ cuộc đàm phán hòa bình nào.
Hậu quả từ quyết định của Hoa Kỳ về việc dừng chia sẻ thông tin tình báo và chuyển giao vũ khí cho Ukraine. Động thái này ngay lập tức làm giảm khả năng thực hiện các cuộc tấn công tầm xa của Ukraine, vốn dựa trên dữ liệu nhắm mục tiêu chính xác, và theo thời gian sẽ tước đi của Ukraine các loại đạn dược và vũ khí quan trọng.

Khu vực kiểm soát ở Ukraine
Nga đã đổ rất nhiều nguồn lực vào nỗ lực chiếm lại Kursk, chịu tổn thất lớn. Họ đã triển khai một số đơn vị tốt nhất của mình ở đó và vào tháng 12, đã gửi hơn 10.000 quân Bắc Triều Tiên.
Các xe quân sự Ukraine di chuyển về phía khu vực tiền tuyến Kursk vào mùa thu năm ngoái. Ảnh: Serhii Korovayny cho WSJ
Quân đội Bắc Triều Tiên , không chuẩn bị cho chiến trường hiện đại, ban đầu đã bị tiêu diệt khá dễ dàng. Nhưng giờ đây họ đang tạo ra khó khăn vì, không giống như những người đồng cấp Nga, họ tiến về phía trước theo từng đợt, làm cạn kiệt nguồn lực của Ukraine, Roman Pohorily, đồng sáng lập DeepState, một nhóm người Ukraine phân tích hình ảnh và video được đăng trên phương tiện truyền thông xã hội và thông tin từ quân đội để tạo ra bản đồ chính xác về tiền tuyến, cho biết.
Khi quân đội Bắc Triều Tiên đột phá, quân đội Nga sẽ theo sau để bảo vệ các vị trí, đẩy lùi hệ thống phòng thủ của quân đội Ukraine.
Máy bay không người lái đóng vai trò chủ chốt trong cuộc tiến công của Nga, và hoạt động trinh sát mạnh mẽ có nghĩa là người Ukraine gặp khó khăn trong việc di chuyển mà không bị phát hiện. Những người lính cho biết Nga đã sử dụng một số lượng lớn máy bay không người lái được điều khiển thông qua một sợi cáp quang mỏng, giúp người Ukraine không thể bắn hạ chúng bằng máy gây nhiễu điện tử.
Một người lính Ukraine ở thị trấn Pokrovsk. Ảnh: Inna Varenytsia/Reuters
Hiện vẫn chưa rõ liệu người Ukraine có triển khai quân tiếp viện để cố gắng ổn định khu vực mặt trận này hay sẽ phải rút khỏi Kursk hoàn toàn vì các trận chiến ác liệt vẫn đang diễn ra. Nếu người Ukraine rút lui, điều này sẽ đưa người Nga đến gần hơn với khu vực Sumy của Ukraine, nơi quân đội Kyiv sẽ cần tiếp tục phòng thủ.
Việc rút quân sẽ tạo ra những khó khăn không chỉ về mặt quân sự mà còn về mặt chính trị, vì Ukraine hy vọng sẽ đổi khu vực Kursk của Nga để lấy một phần lãnh thổ Ukraine do lực lượng của Moscow chiếm đóng.
Bất chấp khó khăn ở Kursk, Ukraine đã thành công ở những nơi khác trên mặt trận. Sau một trận chiến mệt mỏi, họ đã ngăn chặn được cuộc tấn công của Nga vào thành phố Pokrovsk, nơi dường như đã mất tất cả chỉ vài tháng trước đó. Ukraine cũng đã tiến hành một cuộc phản công thành công ở thành phố phía đông Toretsk, nơi lực lượng Ukraine đã giành được chiến thắng.
Các nhà phân tích chia rẽ về việc liệu quân đội Nga đang chiến đấu ở phía đông có đang tập hợp lại hay đang cạn kiệt sức lực do tổn thất nặng nề. Ngay cả khi các trận chiến tàn khốc vẫn tiếp diễn, Nga vẫn mất nhiều người và vật chất hơn Ukraine trên chiến trường.
Linh mục Nigeria bị bắt cóc đã bị giết vào sáng thứ Tư Lễ Tro

Giáo phận Công Giáo Kafanchan đã thông báo về vụ sát hại bi thảm đối với Cha Sylvester Okechukwu, một linh mục bị bắt cóc khỏi nơi cư trú của ngài vào đêm ngày 4 tháng 3 năm 2025 và sau đó bị những kẻ bắt cóc giết chết.
Trong một tuyên bố chính thức được Giáo phận đưa ra vào ngày 5 tháng 3 năm 2025, Cha Jacob Shanet, Giám Quản Tông Tòa, đã xác nhận tin tức đau buồn này, ngài nói: “Chúng tôi vô cùng đau buồn và đau lòng khi thông báo về cái chết thương tâm của một Linh mục kính yêu của chúng tôi, Cha Sylvester Okechukwu.”
Cha Okechukwu, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1980 và thụ phong linh mục ngày 11 tháng 2 năm 2021, đang phục vụ với tư cách là Cha xứ của Nhà thờ Công Giáo St. Mary Tachira, tại Khu vực Chính quyền Địa phương Kaura của Tiểu bang Kaduna vào thời điểm bị bắt cóc. Theo Giáo phận, ngài đã bị những kẻ tấn công không rõ danh tính bắt cóc vào ngày 4 tháng 3 năm 2025.
Sau một đêm không chắc chắn, Giáo phận xác nhận rằng Cha Okechukwu đã bị giết trong tình trạng bị giam cầm vào sáng sớm ngày 5 tháng 3 năm 2025, trùng với Thứ Tư Lễ Tro, một ngày trọng thể để suy ngẫm và sám hối trong đức tin Kitô giáo. Tuyên bố lưu ý rằng động cơ đằng sau vụ giết người vẫn chưa được biết.
Mô tả cái chết của ngài là “không đúng lúc và tàn bạo”, Giáo phận tuyên bố “Sự mất mát không đúng lúc và tàn bạo này khiến chúng tôi đau lòng và suy sụp. Cha Sylvester là một người hầu tận tụy của Chúa, người đã làm việc quên mình trong vườn nho của Chúa, truyền bá thông điệp về hòa bình, tình yêu và hy vọng.”
Tuyên bố này nhấn mạnh thêm rằng Cha Okechukwu “luôn sẵn sàng và dễ gần với giáo dân”, khiến cho sự mất mát đau thương của ngài càng trở nên đau đớn hơn đối với giáo phận và cộng đồng mà ngài phục vụ.
Trong khi cộng đồng Công Giáo đau buồn vì mất đi Cha Okechukwu, Giáo phận đã kêu gọi các tín hữu tiếp tục hiệp nhất cầu nguyện cho linh hồn ngài được an nghỉ.
“Chúng tôi mời tất cả các linh mục, tu sĩ và tín hữu dâng Thánh lễ, lần hạt Mân Côi và cầu nguyện cho sự an nghỉ vĩnh hằng của Cha Sylvester, người đã hy sinh mạng sống để phục vụ Thiên Chúa và nhân loại,” giáo phận kêu gọi.
Ngoài ra, trong lời kêu gọi hòa bình, Giáo phận đã kêu gọi cộng đồng Takad, nơi Cha Okechukwu phục vụ, hãy giữ bình tĩnh và kiên định cầu nguyện, đồng thời cảnh báo về mọi hình thức trả thù: “Không ai được tự ý hành động theo luật pháp”.
Source:cisanewsafrica.com
50 năm nhìn lại di sản VNCH 30-4-1975-2025
Tác Giả: Nguyễn Văn Lục
07/03/2025
Lúc này đã bước vào mùa xuân của năm 2025, đánh dấu một khởi đầu chặng đường 50 năm mất miền Nam, 30 tháng tư 1975 sắp tới. Kể từ đó đến nay, nhiệt kế xem ra vẫn hừng hực lửa của hận oán và mất mát. Vẫn chưa bao giờ có một tiếng nói chính thức về cái mà người ta thường rêu rao Hòa hợp và hoà giải dân tộc. Tuyên truyền có thể có, thực tế là không.
Có một điều gì đó ngăn cản hầu như không thể vượt qua!!
Điện Biên Phủ đã qua, chia đôi đất nước, ta vẫn còn một nửa. 30 tháng tư, 1975, mất cả nước với nhiều tên gọi, nhiều chính sách vô nhân đạo như một trả thù của kẻ chiến thắng.
Làm sao quên được những lời nhục mạ như: ngụy quân, ngụy quyền. Chính sách học tập cải tạo không ngày về. Có những người chịu đựng 17 năm tù, người khác chết rũ tù có đi mà không bao giờ trở lại.
Chính sách cải tạo hằng trăm ngàn quân dân cán chinh mà thực tế không cải tạo được lấy một người.
Có cần phải nhắc lại hàng trăm ngàn người đã phải đi học tập cải tạo tại miền Bắc trên những vùng cao, hiểm trở, đồi núi lạnh lẽo rét buốt, phải lao động cực khổ, đói ăn, chết dần chết mòn không?
Đó là chính sách về cái chết từng ngày, chết mòn nhục nhã và đau khổ thay vì một phát súng giải thoát.
Tưởng rằng cuộc chiến đã tàn cuộc!! Cuộc chiến với xác người, thiệt hại vật chất đã qua. Nhưng một cuộc chiến quá khứ vẫn như tro tàn âm ỉ. Hận oán vẫn ngút trời dễ dầu gì quên được!!
- Ngay đối với kẻ thắng cuộc, nhiều người cảm thấy như bị lừa đảo…Thật vậy, cảm giác ngỡ ngàng đến sửng sốt với những kẻ chiến thắng khi vào tiếp thu miền Nam vẫn còn đó. Hình ảnh anh bộ đội khi quay về Bắc làm quà cho con là một con búp bê và chiếc khung xe đạp.
Thấm thía và nhục nhã lắm thay!!
Chưa bao giờ có một tiếng nói chính thức về cái mà người ta rêu rao, tuyên truyền về miền Nam. Họ kinh ngạc như những anh mán rừng bởi vì họ đã đem cả tuổi trẻ hy sinh và đánh cuộc , cuối cùng chỉ là nỗi thất vọng ê chề khi họ vào miền Nam- như trường hợp nhà văn nữ Dương Thu Hương.
Sau này, bà đã kể lại nỗi thất vọng khi thấy miền Nam trù phú, tự do như thể ngoài sức tưởng tượng của bà. Sau này, bà đã viết tố cáo sự lừa bịp, dối trá trong cuốn tiểu thuyết: Thiên Đường mù để tố cáo sự giả trả ấy.
Bà còn phẫn nộ tự nhận mình nay là kẻ làm giặc chống lại chế độ.
Ngày hôm nay, hàng triệu thanh niên miền Bắc đã “-sinh Bắc tử Nam”, chúng ta hãy thực tình ngay thẳng nhìn lại những lời tuyên truyền dối trá “ đánh cho Mỹ cút ngụy nhào, từng là mục tiêu của sự chế riễu và khinh rẻ miền Nam. Thực tế chỉ là cuộc chiến ủy nhiệm như lời tuyên bố của Lê Duẩn: “ Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả nhân loại;”
( Xem Vũ Thư Hiên: Đêm giữa ban ngày, trang 422.):
50 năm đã qua, nhưng nỗi đau còn nguyên vẹn, nặng trĩu trong tim họ, mặc dù họ không phải là nguyên nhân những nỗi đau ấy.
Trong 20 năm, từ 1975 đến 1995, Mỹ đề ra chính sách cấm vận nhằm cô lập Việt Nam, cộng thêm những chính sách hà khắc của nhà nước, dân chúng đói ăn, cơm độn khoai sắn bo bo..đã buộc hàng triệu người liều mình đi ra biển…Cái mà sau này người ta gọi là “ Boat people”. Sau này đã có bao nhiêu người đến được bến bờ tự do, bao nhiêu người bị hải tặc Thái Lan hãm hiếp? Thật không kể xiết!!!
Trong khi đó, chính quyền Hà Nội qua thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn vẫn kêu gọi hòa hợp, hòa giải dân tộc qua Nghị Quyết 36? Hòa giải với ai? Với người đã chết hay người còn sống? Với thương phế binh VNCH? Với quá khứ của nền Đệ I Và Đệ II cộng Hòa?
Thực tế cho thấy, các thương phế binh này đã bị bỏ rơi, chỉ nhờ vào sự tương trợ của các tổ chức hải ngoại quyên góp tiền gửi về trong nhiêu năm quá.
Tất cả số phận quân dân miền Nam đã sống cô lập bên lề xã hội cộng sản.
Tôi chỉ cần nêu ra một trường hợp cụ thể là trong lãnh vực tôn giáo như Phật giáo kể từ năm 1981 đã trở thành Phật giáo nhà nước dưới sự kiểm soát của chính quyền không nói làm gì.
Riêng công giáo còn có cái tiếng là tự chủ, độc lập dưới cái dù che của Vatican. Tuy nhiên, điều cần và đủ là họ chỉ được nói và phát biểu hoàn toàn trong phạm vi nhà thờ. Ngoài ra là một cấm kỵ không có văn bản, họ không bao giờ dám đề cập xa gần đến Đệ I và Đệ II cộng hòa.
Các giám mục cai quản hiện nay phải biết im lặng, không dám phê phán về tệ nạn xã hội xảy ra hằng ngày trước mắt họ..
Đó là bàn tay bạo lực được che đậy, dấu kín. Muốn yên thân, họ phải câm lặng như những loại chó câm- chó không biết sủa- một từ ngữ của giám mục người Pháp, đức cha Seitz, (Kim) trong Les chiens Muets
Chó là để sủa, chó không biết sủa có còn là chó không?.
- Hai mươi năm miền Nam nhập cuộc và 30 năm sau giải phóng.
Tôi xin được lấy lại lời của triết gia E. Mounier như một cột mốc khởi điểm tóm gọn tinh thần của miền Nam tự do:
“Đôi khi lịch sử cũng ban thưởng cho kẻ cứng đầu, và một hòn đá tảng đặt đúng chỗ, có thể chuyển hướng cả một dòng sông.”
Miền Nam là những ai trong mỗi chu kỳ lịch sử? Nhiều lắm kể sao cho xiết. Vấn đề là: Liệu có thể kiếm ra được ai là hòn đá tảng có thể chuyển hóa cả một dòng sông?
Hãy cùng nhau nhớ lại về mặt lịch sử, chính trị. Hai miền Nam-Bắc trở thành hai thực thể đối đầu. Sự ngăn cách không hẳn chỉ nằm ở dòng sông Bến Hải mà còn in sâu trong tâm thức người dân miền Nam, bên này người Việt quốc gia chống ý thức hệ cộng sản bên kia, chủ nghĩa cộng sản vô thần..
Mà thực tế cùng là người Việt, cùng máu đỏ da vàng, nhưng không còn nhìn nhận nhau là người Việt nữa. Chỉ có bạn, đồng chí hay kẻ thù!!!Lẳn ranh thật rõ ràng và dứt khoát không có cơ may nào nối lại.
Hòn đá tảng mở đầu cho miền Nam xoay ngược tình thế lịch sử, chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội, giáo dục chính là ông Ngô Đình Diệm.
Từ một chế độ thực dân, phong kiến thối nát, bóc lột và hại dân, ông Diệm biến nó trở thành một chế độ dân chủ cộng hòa.
Cần nhắc với nhau rằng khi ông Diệm nhận chức Thủ tướng về nước, miền Nam đang ở bên bờ vực thẳm về chính trị, kinh tế, bị khuynh đảo bởi nhiều thế lực cả bên trong lẫn bên ngoài..
Lúc ấy, chỉ cần ổn định tình thế là đủ trở thành vị cứu tinh. Stephan Pan, trong Viet Nam crisis đã nhận xét không sai: “Ngo Đinh Diêm assumed the prime ministership in 1954 when his country was facing economic chaos, political íntasbility and external subversion, not on a massive scale, but on a scale that kept increasing intensity. He led South Viêt Nam through this initial crease, changed it from a the first national monarchy in a republic and built the first national loyalty íts people ever know.
Đến lượt nhà văn đại diện cho giới trí thức miền Nam lúc bấy giờ, Mai Thảo đã hãnh diện tuyên bố: “Sài gòn, thủ đô văn hóa miền Nam. Sài gòn thay thế cho Hà Nội, từ một đô thị miền Nam trở thành một thủ đô tinh thần của toàn thể đất nước, Saigòn sáng tạo và suy tưởng”
( Tạp chí Sáng Tạo, số đầu 1956).
Bên cạnh Sáng Tạo, còn nhiều báo chí, tập san ra đời như Tạp chí Văn Hóa Á Châu của giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Quê Hương của giáo sư Nguyễn Cao Hách, Tin Sách của giáo sư Thanh Lãng, Luận đàm của hội Giáo chức với các cụ Thẩm Quỳnh và Nghiêm Toản, tạp chí Bách Khoa của của Huỳnh Văn Lang, Hiện Đại của thi sĩ Nuyên Sa, Thế kỷ 20 của giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch..
Trong 20 năm ấy, miền Nam đã hình thành một sắc thái văn hóa riêng, một nền giáo dục chuyên môn và nhất là tinh thần làm việc, về ý thức dân chủ, về ý thức tự do về những giá trị nhân bản.
Và nhất là quyền con người.
Tâm thức ấy, lý tưởng ấy đã khắc sâu, truyền thừa chẳng những trong 20 năm miền Nam mà còn là hành trang khi đối đầu với thế lực với kẻ thắng cuộc trong suốt hành trình 30 năm còn lại sau này.
Tuy nhiên, trong thế đối đầu với cộng sản, chọn lựa giữa tranh đấu cho dân chủ của một miền Nam dân chủ, tự do và tác động sống còn vẫn là chọn lựa đối đầu với cộng sản phía bên kia thật sự không dễ dàng gì!! Phải hy sinh điều gì, dân chủ hay độc đoán?
Vì thế, trong viễn tượng đường dài, ngay trong tình huống thất vọng thua cuộc, giới trí thức miền Nam vẫn hoàn tất vai trò nhân chứng, vai trò phản biện, vai trò tố cáo và cả vai trò tiên tri cho cả giai đoạn sau 30 tháng tư. Nên nhớ cho bởi khát vọng tự do, dân chủ đã thấm đẫm trở thành máu thịt với khát vọng xóa bỏ mọi thứ độc tài đảng trị, khát vọng về công bình xã hội, khát vọng về một cuộc cách mạng cho người nghèo, vì người nghèo, khát vọng chấm dứt phân ly, thù hận trong cộng đồng dân tộc vẫn là khát vọng chung của đất nước.
Tình hình miền Nam sau 1954, mỗi ngày thêm ổn định như nhận định của giáo sư Vũ Văn Mẫu: “Quá khứ trong sạch của Ngô Đình Diệm khi làm việc quan, tính tình khí khái của ông khi từ chức Thượng Thư Bộ Lại trong nội các đầu tiên của Bảo Đại.”
Trong giai đoạn này, chính phủ Ngô Đình Diệm đã giải quyết vấn đề định cư cho cả triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam, giải quyết vấn đề các giáo phái, ổn định kinh tế và quan trọng là: phát triển đào tạo giáo dục.
Giáo sư Lý Chánh Trung ghi nhận dưới thời ông Diệm, năm 1954-1955 có 1000 trường tiểu học với 7000 lớp học. Qua năm 1961-1962 có 4172 trường tiểu học với 21.817 lớp học. Gần 200 trường trung học đã được xây dựng cho các tỉnh ly và quận lỵ. Ngay các vùng hẻo lánh, nghèo nàn như Gio Linh, Bồng Sơn, Cà Mâu, Trà Oạn vv.. đều có trường học.
Viện Đại học Sài gòn được trao trả ngày 11/5/1955. Hai năm sau thành lập Đại học Huế ngày 12/11/1957. Và năm 1958, đại học Đà Lạt.
Chính sự phát triển đồng bộ về giáo dục từ tiểu học, trung học, đại học và các ngành chuyên môn là điều mà trong suốt thời kỳ chiến tranh Hà Nội đã không bao giờ thực hiện được.
Về an ninh, năm 1956, 80% cán bộ hạ tầng Việt minh bị triệt hạ. Trại tù Chí Lợi ở Bình Dương tập trung đến 6000 chính trị phạm cộng sản bị bắt giam.
Đặc biệt ở miền Trung, cán bộ cộng sản dưới thời của Ngô Đình Cẩn gần như bị trừ diệt toàn bộ cán bộ nằm vùng.
Đây là điều mà người Pháp không làm được trong suốt 9 năm chiến tranh Việt-Pháp.
Vào những năm đầu của chính thể ông Diệm, người ta có thể đi suốt ngày đêm từ Cà Mâu đến Bến Hải một cách an toàn. Thôn quê miền Nam tương đối an toàn.
Để tóm tắt giai đoạn này, xin trích dẫn nhận định của một sử gia trẻ tuổi Edward Miller như sau: “ Ngô Đình Diệm là người có hoai bão. Với tư cách lãnh đạo miền Nam từ 1954 đến 1963. Diệm mong muốn trở thành người lãnh đạo hàng đầu trong việc xây dựng chính quyền Quốc gia, ông cương quyết tìm ra một đường lối khác biệt với con đường mà Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt nam đang theo đuổi.” ( Ngô Đình Diệm was a dreamer. As ruler of South Viêt Nam from 1954 to 1963. Diệm aspired to greatness as nation builder and he was determined to find an alternative to the path taken by Hồ Chí Minh and the Vietnamese Communists.)
Hay như ông Denis warner, người Úc nhận xét: Diêm là The last Confucius- Nhà nho cuối cùng con lại.
- Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu
Khi chế độ Diệm sụp đổ, Hà Nội cho là thời cơ may đã đến bất ngờ với họ. Họ cấp tốc thi hành những biện pháp tức thời sau đây:
- Chọn một số Trung đoàn đưa gấp vào Quân Khu V và Tây nguyên.
- Mở rộng đường vận chuyển chiến lược 559
- Đưa gấp vào chiến trường những vũ khí chống lại thiết vận xa M.113.
- Bùi Tín có mặt trong đoàn cán bộ 24 người vào miền Nam quan sát tình hình tại chỗ.
- Đưa đại tướng Nguyễn Chí Thanh trở lại quân đội để vào miền Nam nhận nhiệm vụ tổng tư lệnh và lên đường ngay tháng 12/1963.
Chính vì thế, sau 1963, chính phủ quân nhân do tướng Thiệu cầm đầu đã gặp rất nhiều trắc trở tứ phía với sự xâm nhập từ miền Bắc vào Nam trên đường mòn Hồ Chí Minh. Nhiều dấu hỏi được đặt ra tại sao người Mỹ có mặt ở Việt Nam, tại sao họ rút lui, tại sao thua?
Câu trả lời đã có hồi đáp của TT. Nguyễn Văn Thiệu: “ Họ đã bỏ rơi chúng tôi. Họ đã bán đứng chúng tôi. Họ đã đâm sau lưng chúng tôi. Đó là sự thực. Họ đã phản bội chúng tôi. Một đồng minh vĩ đại đã thất ước với một đồng minh nhỏ bé.” ( They abandoned us. They sold us out. They stabbed us in the back. It ís true. They betrayed us. A great ally failed a small ally.
( Trong” The ten thousand day war- Michal Mac lear, trang 395.)
Cuộc chiến ngày một thêm khốc liệt. 10 ngàn binh sĩ cộng sản đã trở thành tro bụi dưới bom đạn B.52 ở Khe Sanh, rồi tết Mậu Thân cũng vậy…
Cộng thêm vào đó, việc chống đối chiến tranh của giới văn nghệ sĩ miền Nam ngày càng lan rộng từ nhiều phía. Họ là những tên tuổi nổi tiếng là thành phần thiên tả, lực lượng thứ thú ba, đòi hỏi chấm dứt chiến tranh từ một phía như Nguyễn văn Trung, Lý Chánh Trung, Nguyễn Đình Đầu, Huỳnh Công Minh, Phan Khắc Từ, vương Đình Bích, Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Nguyễn Trọng Văn, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín và nhiều người khác…
Sau này họ mới vỡ lẽ ra rằng, điều mà họ đòi hỏi tự do ngôn luận, tự do báo chí là những điều thật ra họ đã có sẵn trong túi áo của họ..
Cái mà người viết bài này dành bẽ bàng gọi tên nó là ảo tưởng của trí thức miền Nam và chúng ta có vẻ tất CẢ là NHỮNG KẺ VẼ ĐƯỜNG CHO HƯƠU CHẠY. Hay nói một cách bình dân là những kẻ tiếp tay, nối giáo cho giặc.
- Một trang sử mới bắt đầu và mở ra: 30/4/1975- 25/5/2025
Tôi vẫn tin rằng: trong cái rủi có cái may. Lịch sử đôi khi cũng đem lại những cái bất ngờ đầy ý nghĩa và thú vị như một bù trừ, một báo hiệu tin lành..
- Cuộc di cư. Chẳng mấy ai ngờ và tin rằng cuộc di cư đem lại những thành quả bất ngờ là thống nhất Nam Bắc một nhà. Nếu cuộc di cư năm 1954-1955 đã đem lại những thành quả đáng khich lệ khi một triệu người di cư vao miền Nam đã tạo ra hai dòng chảy văn học, hai nếp sống văn hóa, sức mạnh đoàn kết, ý chí vươn lên, hai giọng ngôn ngữ, hai nếp sống tôn giáo giữa Bắc và Nam.
Nó hòa quyện vào nhau như thể là một. Nó tạo ra sức mạnh của miền Nam với một quân đội được huấn luyện tại các trường hạ sĩ quan Đồng Đế, chuẩn úy tại Thủ Đức và thiếu úy ở trường sĩ quan Đà Lạt và được được trang bị đầy đủ.
Sự quyết tâm rời bỏ quê cha đất tổ, bỏ lại tất cả lên đường vào Nam là một cuộc bỏ phiếu bằng đôi chân. Đã có gần 2 triệu đôi chân như thế, từ già trẻ lớn bé, từ người nông dân đến trí thức thành thị, từ giới nhà văn đến giới tu sĩ đã ơi ới gọi nhau lên đường vào miền Nam.
- Một chiến dịch Passage to Freedom là niềm tự hào của người ra đi và sự mở rộng bàn tay đón tiếp của con dân miền Nam.
Người miền Bắc cộng sản sau này chưa bao giờ được hưởng cái ân huệ ấy và sẽ không bao giờ xảy ra.!!
- Cuộc di tản sau 1975.
Với cái tinh thần ấy, cuộc di tản của người miền Nam cũng sẽ nối tiếp con đường của cuộc di cư năm 1954 và nó còn mở ra nhiều cơ hội hơn thế nữa của thế giới tự do.
Tôi có dịp viết một bài về cuộc di tản ra chiến hạm chỉ huy Blue Ridge cùng với 30 chiến hạm đủ loại của Hạm đội 7 đang đậu sẵn ở ngoài khơi bờ biển VN , cách Vũng tàu khoảng 30 dặm vào lúc miền Nam đang hấp hối..
Các chiến hạm ấy đang chờ để đón lính Mỹ và người Việt Nam từ đất liền… Sứ mạng lần này không giống với 21 năm về trước tại vịnh Hạ Long.
Trên boong chỉ huy của chiến hạm của viên Đô Đốc hạm đội 7, người ta thấy tề tựu đông đủ các ký giả, nhà báo Mỹ đã từng có mặt trên các chiến trường Việt Nam như Stanlay Karnov, David Haberstam, Neil Seehan, John Kenneth Galbraith và nhiều người khác. Dầu vạy còn được biết 125 nhà báo trong số họ, đủ quốc tịch tình nguyện ở lại để tường thuật cơn hấp hối của miền Nam…
Bên cạnh đó, người ta còn nhận thấy có phụ tá trùm mật vụ Frank Snepp đã vừa đến đây, người mà trước đây đã hộ tống tt. Nguyễn Văn Thiệu ra đi trước đó mấy ngàyự
- Snepp đến đây với mục đích là để đón tiếp một nhân vật quan trọng nhất-đại diện cho nước Mỹ- trong lúc này. Đó là đại sứ Martin. Ông là người Mỹ cuối cùng rời Việt Nam mà trên tay chỉ ẵm theo một gói nhỏ: Đó là lá cờ nước Mỹ.
Lá cờ đã được cuốn lên có nghĩa là nước Mỹ không còn ở đó nữa..!!.
Ngay khi vừa bước lên chân lên boong tàu vào lức 2 giờ 47, giờ Sàigon. Ông đại sứ đã nhận được một điện chúc mừng của H.Kissinger với nội dung như sau:” Với lời ngợi khen nồng nhiệt vì ông đã chu toàn trách nhiệm Nước Mỹ đến như thế nào thì lúc ra đi cũng như thế!!
Trong khi đó, những con thuyền nhỏ như lá tre của dân tỵ nạn nhấp nhô trên mặt biển. Đó là những con thuyền đủ loại, đủ cỡ của những người Việt Nam đầu tiên bỏ chạy cộng sản. Họ là ai? Họ có thể là bất cứ ai. Số phận họ rồi sẽ ra sao? Chẳng ai tiên đoán được tương lai họ như thế nào ? Chỉ biết rằng con số được vớt đi trên biển là 100.000 người được vớt đi từ các chiến hạm trong tổng số 250.000 được đi bằng các phương tiện khác như máy bay..
Sự ra đi trên biển cả thật bi tráng và tuyệt vọng như số phận những lá tre trên một đại dương!!
Bằng mọi giá họ đã ra đi mà nay ngồi nghĩ lại, nhiều người đã không mường tượng nổi họ đã có thể làm được một điều như vậy!
Cứ như một phép lạ Hy Lạp. Cứ như sự đáp trả như một cát tát vào mặt người cộng sản. Cứ như một lời tố cáo trực tiếp: chúng tôi có mặt. Cứ như một tín hiệu cho thấy: đất lành chim đậu. Cứ như một dấu hiệu đâu là quê hương đích thực, đâu là bến đỗ, đâu là chỗ để về…
Nhưng cái Sô vớt người trên biển trong tuần lễ cuối cùng của tháng tư và đầu tháng năm của người Mỹ cũng nói lên được cái gì.
Người Mỹ có thể làm được tất cả mọi việc một cách quy mô, ngay cả việc trốn chạy.
Nhận xét ấy ăn khớp với điều mà Sir Robert Thompson, một chuyên gia về du kích dưới thời đệ I cộng hòa đưa ra lời tiên đoán trước đó vào ngay 23/3/1975 như sau:” Chúng ta sắp chứng kiến một cuộc đầu hàng chiến lược của Hoa Kỳ.. Cuộc triệt thoái khỏi Đông Dương là cuộc rút lui lớn nhất thế giới từ khi Napoleon rút lui khỏi Moscou.”.
Một vụ cần nói lại trong chuyến tàu vượt biển này là có một chiếc trực thăng do một vị tướng không quân chở theo một trung tướng quân đoàn đã đáp trực thăng xuống tàu chỉ huy Blue-Ridge. Một sĩ quan đã báo việc này lên vị đô đốc. Ông đã ra lệnh và nói vị thiếu tướng không quân nội dung như sau: Nói với y là đây không thuộc lãnh thổ VNCH mà là nước Mỹ ngoài biển. Và yêu cầu họ cởi bỏ quân phục cũng như lon chậu, đồng thời giữ im lặng, không được tuyên bố điều gì.
Được biết, sau đó vị tướng Không quân đã quỳ phủ phục xuống sàn tàu và thề rằng sẽ có một ngày ông sẽ trở về.
Quả thực, sau này ông đã quay trở về VN, nhưng không phải để phục quốc mà để bắt tay hòa giảo với chính quyền cộng sản..
- Thế hệ người Việt thứ hai.
Phần những đồng bào may mắn đến được miền Đất Hứa đã hy sinh đời mình cho đời sau con cái, đã tận tụy làm ăn.. Con cái họ nay đã trưởng thành với phần đông thành công trên xứ người, không phụ lòng cha mẹ.
Cả một thế hệ tương lai đầy hứa hẹn như một biểu tượng thành công nơi xứ người trong sự hội nhập đem lại hãnh diện cho cá nhân gia đình mà còn góp phần vào gia tài chung của thế giới.
Chúng ta chỉ cần nhìn lại miền Nam Cali, nơi có gần một triệu người Việt sinh sống. Họ tạo thành một sức mạnh kinh tế, xã hội, văn hóa. Đã có các tướng lãnh trong nhiều binh chủng Hoa Kỳ, đã có ngững chuyên viên thượng thặng trong nhiều cơ quan chính phủ Hoa Kỳ.. Người Việt hải ngại ngày nay có quyền hãnh diện về những thành quả ấy.
Phần giới trẻ sẽ dần quên quá khứ và những gì chúng biết được, nghe kể lại từ cha ông chúng sẽ chỉ còn là những hoài niệm quá khứ mờ nhạt, lu mờ.
- Và cái ngày hôm nay, sau 30 tháng tư, 1975, sau 50 năm.
Sau 50 năm, tôi và những người Việt di tản trên dưới 3 triệu người trên khắp thế giới tự hỏi chúng ta được gì? Và mất gì?
Câu hỏi rất thiết thực và xác đáng cần có câu trả lời. Phần tôi, không có tư cách gì đại diện thay cho hơn 3 triệu người ấy.
Nhưng tôi thành thực nghĩ rằng, khi ra đi, tôi đã mất trắng tất cả như một thứ ăn cướp ngày một cách công khai. Từ quê hương, nhà cửa, bạn bè, họ hàng và cả quãng đời tuổi trẻ miền Nam của tôi được lớn lên, được ăn học trở thành người thông tuệ.
Sang xứ người, tôi đã có lại tất cả mọi thứ, con cái tôi được ăn học đến nơi đến chốn mà nếu ở VN, rất có thể, chúng sẽ dở dang không ra ông ra thằng..
Phần trong giới quen biết, những người có căn bản học vị như bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, kỹ sư đều có cơ may trở lại nghề cũ, hội nhập và đời sống thu nhập cao…
Nghĩ lại những điều ấy, tôi thấy rằng món quà cao quý nhất mà đất nước này dành cho tôi và những người khác là Tương Lai.
Có thể có tương lai, có niềm hy vọng là có tất cả mà chính quyền cộng sản không hề có để ban phát.
Kỷ niệm 50 năm ngày mất miền Nam, thay vì nguyền rủa bóng tối, tôi an ủi thân phận mình vẫn còn chút gì và bằng lòng về những điều ấy cho riêng mình…
Tương lai với đầy triển vọng và hứa hẹn vẫn thuộc về chúng ta.
Toàn văn bài phát biểu của Tổng thống Pháp Macron – Đặng Đình Mạnh, dịch
Đặng Đình Mạnh, dịch
6-3-2025
Lời người dịch: Tổng thống Pháp Macron vừa có bài phát biểu quan trọng kéo dài 15 phút trước toàn quốc vào tối nay, trong đó ông tuyên bố sẽ cung cấp lá chắn vũ khí hạt nhân của Pháp “cho tất cả các đồng minh trên lục địa châu Âu”.
Ngày mai, các nhà lãnh đạo EU sẽ họp để quyết định về việc tái vũ trang của châu Âu. Hàng trăm tỷ euro sẽ được chi cho quốc phòng. Sau đây là bản dịch đầy đủ của bài phát biểu:
Tổng thống Emmanuel Macron. Nguồn: PA Media
***
“Tôi biết rằng các bạn thực sự quan tâm đến các sự kiện lịch sử đang làm rung chuyển trật tự thế giới.
Cuộc chiến ở Ukraine, đã khiến gần một triệu người tử vong và bị thương, vẫn tiếp diễn không ngừng.
Hoa Kỳ, đồng minh của chúng ta, đã thay đổi lập trường của mình về cuộc chiến này, ít ủng hộ Ukraine hơn và để lại nghi ngờ về những gì sẽ xảy ra tiếp theo.
Đồng thời, chính Hoa Kỳ có ý định áp thuế đối với các sản phẩm từ châu Âu.
Cuối cùng, thế giới tiếp tục trở nên tàn khốc hơn bao giờ hết và mối đe dọa khủng bố vẫn tiếp diễn không ngừng. Nhìn chung, sự thịnh vượng và an ninh của chúng ta đã trở nên bất ổn hơn.
Phải nói rằng chúng ta đang bước vào một kỷ nguyên mới. Cuộc chiến ở Ukraine đã diễn ra hơn ba năm. Ngay từ ngày đầu tiên, chúng ta đã quyết định ủng hộ Ukraine và trừng phạt Nga.
Và chúng ta đã đúng khi làm như vậy, bởi vì không chỉ người dân Ukraine đang dũng cảm chiến đấu vì tự do của họ, mà an ninh của chúng ta cũng đang bị đe dọa. Nếu một quốc gia có thể xâm lược nước láng giềng ở châu Âu mà không bị trừng phạt, thì không ai có thể chắc chắn về bất cứ điều gì nữa, và luật của kẻ mạnh nhất sẽ được áp dụng, và hòa bình không còn có thể được bảo đảm trên lục địa của chúng ta nữa. Lịch sử đã dạy chúng ta điều đó.
Ngoài Ukraine, mối đe dọa của Nga vẫn còn đó, ảnh hưởng đến các quốc gia châu Âu, ảnh hưởng đến chúng ta. Nga đã biến cuộc xung đột ở Ukraine thành một cuộc xung đột toàn cầu. Họ đã huy động quân đội Bắc Triều Tiên và thiết bị của Iran trên lục địa của chúng ta, đồng thời giúp các quốc gia này tiếp tục trang bị vũ khí cho mình.
Nước Nga của Tổng thống Putin đã vi phạm biên giới của chúng ta để ám sát những người đối lập và thao túng các cuộc bầu cử ở Romania và Moldova.
Họ đang tổ chức các cuộc tấn công kỹ thuật số vào các bệnh viện của chúng ta để ngăn chặn chúng hoạt động. Nga đang cố gắng thao túng ý kiến của chúng ta bằng những lời nói dối lan truyền trên mạng xã hội.
Và về cơ bản, họ đang thử thách giới hạn của chúng ta. Họ làm như vậy trên không, trên biển, trên không gian và sau màn hình của chúng ta. Sự xâm lược này dường như không có giới hạn, và đồng thời Nga vẫn tiếp tục tái vũ trang, chi hơn 40% ngân sách cho việc này.
Đến năm 2030, họ có kế hoạch tăng cường quân đội hơn nữa, với 300.000 binh lính, 3.000 xe tăng và 300 máy bay chiến đấu.
Trong bối cảnh này, ai có thể tin rằng nước Nga ngày nay sẽ dừng lại ở Ukraine?
Khi tôi nói điều này và trong nhiều năm tới, Nga đã trở thành mối đe dọa đối với Pháp và châu Âu. Tôi vô cùng hối tiếc về điều này và tôi tin rằng về lâu dài sẽ có hòa bình trên lục địa của chúng ta với Nga chỉ khi nó một lần nữa được hòa bình.
Nhưng đây là tình hình mà tôi đang mô tả cho bạn, và chúng ta phải sống chung với nó. Đối mặt với thế giới nguy hiểm này, thật là ngu ngốc nếu chỉ đứng nhìn.
Không chậm trễ thêm nữa, chúng ta phải đưa ra quyết định cho Ukraine, cho sự an toàn của người Pháp, cho sự an toàn của người châu Âu.
Trước hết và quan trọng nhất là cho Ukraine. Tất cả các sáng kiến đang giúp mang lại hòa bình đều đang đi đúng hướng. Và tối nay, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với họ.
Chúng ta phải tiếp tục giúp người Ukraine kháng cự cho đến khi họ có thể đàm phán với Nga một nền hòa bình vững chắc cho chính họ và cho tất cả chúng ta. Đó là lý do tại sao con đường đến hòa bình không thể liên quan đến việc từ bỏ Ukraine. Hoàn toàn ngược lại.
Không thể đạt được hòa bình bằng bất kỳ giá nào và dưới chế độ độc tài của Nga. Hòa bình không thể là sự đầu hàng của Ukraine. Không thể là sự sụp đổ của Ukraine.
Cũng không thể có nghĩa là một lệnh ngừng bắn quá mong manh. Và tại sao không? Bởi vì ở đây chúng ta cũng có kinh nghiệm trong quá khứ. Chúng ta không thể quên rằng Nga đã bắt đầu xâm lược Ukraine vào năm 2014 và sau đó chúng ta đã đàm phán một lệnh ngừng bắn tại Minsk.
Và Nga cũng không tôn trọng lệnh ngừng bắn đó. Và chúng ta không thể duy trì sự cân bằng do thiếu sự bảo đảm chắc chắn. Ngày nay, chúng ta không thể tin vào lời nói của Nga nữa.
Ukraine có quyền được hưởng hòa bình và an ninh cho chính mình. Và điều đó nằm trong lợi ích của chúng ta, nằm trong lợi ích của an ninh lục địa châu Âu. Đó là lý do tại sao chúng ta đang làm việc với những người bạn Anh và Đức của chúng ta và một số quốc gia châu Âu khác.
Đó là lý do tại sao bạn thấy tôi đã tập hợp một số người trong số họ lại với nhau ở Paris trong những tuần gần đây và gặp lại họ ở London vài ngày trước để củng cố các cam kết mà Ukraine cần.
Sau khi hòa bình được ký kết, chúng ta cần chuẩn bị cho Ukraine để nước này không bị Nga xâm lược một lần nữa. Điều này chắc chắn sẽ liên quan đến sự hỗ trợ lâu dài cho quân đội Ukraine.
Nó cũng có thể liên quan đến việc triển khai các lực lượng châu Âu. Các lực lượng này sẽ không đi chiến đấu ngày hôm nay, họ sẽ không đi chiến đấu ở tiền tuyến, nhưng họ sẽ ở đó sau khi hòa bình được ký kết để đảm bảo rằng nó được tôn trọng hoàn toàn.
Tuần tới, tại Paris, chúng tôi sẽ tập hợp các Tham mưu trưởng Quốc phòng của những quốc gia muốn đảm nhận trách nhiệm của mình về vấn đề này.
Đây là kế hoạch cho một nền hòa bình vững chắc, lâu dài và có thể kiểm chứng được, mà chúng tôi đã chuẩn bị với người Ukraine và một số đối tác châu Âu khác, và tôi đã bảo vệ kế hoạch này tại Hoa Kỳ hai tuần trước và trên khắp châu Âu.
Và tôi muốn tin rằng Hoa Kỳ sẽ vẫn ở bên chúng tôi, nhưng chúng tôi phải sẵn sàng nếu điều này không xảy ra.
Cho dù hòa bình ở Ukraine có đạt được nhanh chóng hay không, xét đến mối đe dọa từ Nga mà tôi vừa mô tả với các bạn, các quốc gia châu Âu phải có khả năng tự vệ tốt hơn và ngăn chặn mọi hành động xâm lược tiếp theo.
Đúng vậy, bất kể điều gì xảy ra, chúng ta cần trang bị cho mình nhiều hơn, chúng ta cần nâng cao thế trận phòng thủ của mình và chúng ta cần làm điều này vì chính hòa bình, để đóng vai trò răn đe.
Về vấn đề này, chúng ta vẫn cam kết với NATO và quan hệ đối tác của chúng ta với Hoa Kỳ, nhưng chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa, để củng cố sự độc lập của mình về mặt quốc phòng và an ninh.
Tương lai của châu Âu không nên được quyết định ở Washington hay Moscow.
Và đúng vậy, mối đe dọa đang quay trở lại phương Đông và sự ngây thơ của ba mươi năm qua, kể từ khi Bức tường Berlin sụp đổ, giờ đã kết thúc.
Ngày mai tại Brussels, tại cuộc họp Hội đồng đặc biệt giữa 27 nguyên thủ quốc gia và chính phủ, Ủy ban và Chủ tịch Hội đồng, chúng ta sẽ thực hiện các bước tiến quyết định.
Một số quyết định sẽ được đưa ra mà Pháp đã đề xuất trong nhiều năm.
Các quốc gia thành viên sẽ có thể tăng chi tiêu quân sự mà không cần tính đến khoản thâm hụt này.
Sẽ thống nhất tài trợ chung lớn để mua và sản xuất một số loại đạn dược, xe tăng, vũ khí và thiết bị tiên tiến nhất ở châu Âu.
Tôi đã yêu cầu chính phủ hành động để bảo đảm rằng điều này sẽ củng cố quân đội của chúng ta nhanh nhất có thể và đẩy nhanh quá trình tái công nghiệp hóa của tất cả các khu vực của chúng ta.
Trong vài ngày tới, tôi sẽ họp với các bộ trưởng và nhà công nghiệp có liên quan trong lĩnh vực này.
Do đó, Châu Âu Quốc phòng mà chúng tôi đã ủng hộ trong tám năm qua đang trở thành hiện thực.
Điều này có nghĩa là các quốc gia Châu Âu sẵn sàng hơn trong việc tự vệ và bảo vệ mình, cùng nhau sản xuất các thiết bị cần thiết trên đất nước mình, sẵn sàng hợp tác nhiều hơn để giảm sự phụ thuộc vào phần còn lại của thế giới.
Và đó là một điều tốt. Đức, Ba Lan, Đan Mạch, các quốc gia vùng Baltic và nhiều đối tác của chúng ta đã công bố những nỗ lực chưa từng có về mặt chi tiêu quân sự.
Vì vậy, trong thời điểm hành động cuối cùng cũng đang mở ra này, Pháp có một vị thế đặc biệt.
Chúng ta có quân đội hiệu quả nhất ở Châu Âu và, nhờ những lựa chọn của những người đi trước, sau Thế chiến thứ hai, chúng ta có khả năng răn đe hạt nhân.
Điều này bảo vệ chúng ta nhiều hơn nhiều so với nhiều nước láng giềng của chúng ta.
Hơn nữa, chúng ta không đợi đến khi cuộc xâm lược Ukraine mới nhận ra rằng thế giới là một nơi đáng lo ngại, và thông qua hai đạo luật lên chương trình quân sự mà tôi đã quyết định và các Quốc hội liên tiếp đã bỏ phiếu thông qua, chúng ta sẽ tăng gấp đôi ngân sách cho lực lượng vũ trang của mình trong gần mười năm.
Nhưng xét đến những mối đe dọa thay đổi và sự tăng tốc mà tôi vừa mô tả, chúng ta sẽ phải đưa ra những lựa chọn ngân sách mới và các khoản đầu tư bổ sung, những điều hiện đã trở nên thiết yếu.
Tôi đã yêu cầu chính phủ thực hiện việc này càng nhanh càng tốt. Những khoản đầu tư mới này sẽ đòi hỏi phải huy động cả nguồn tài trợ tư nhân và công cộng, mà không cần tăng thuế.
Điều này sẽ đòi hỏi cải cách, lựa chọn và lòng dũng cảm. Lực lượng răn đe hạt nhân của chúng ta bảo vệ chúng ta. Nó toàn diện, có chủ quyền và hoàn toàn là của Pháp.
Kể từ năm 1964, nó đã đóng một vai trò rõ ràng trong việc duy trì hòa bình và an ninh ở châu Âu.
Nhưng để đáp lại lời kêu gọi mang tính lịch sử của Thủ tướng Đức tương lai, tôi đã quyết định mở cuộc tranh luận chiến lược về việc bảo vệ các đồng minh của chúng ta trên lục địa châu Âu bằng lực lượng răn đe của chúng ta.
Dù có chuyện gì xảy ra, quyết định luôn nằm trong tay Tổng thống Cộng hòa, người đứng đầu lực lượng vũ trang.
Kiểm soát vận mệnh của chúng ta, trở nên độc lập hơn, là điều chúng ta phải hướng tới không chỉ về mặt quân sự mà còn về mặt kinh tế. Đúng vậy, độc lập về kinh tế, công nghệ, công nghiệp và tài chính là điều cần thiết.
Chúng ta cũng phải chuẩn bị cho khả năng Hoa Kỳ có thể quyết định áp thuế đối với hàng hóa châu Âu, như vừa xác nhận đối với Canada và Mexico.
Quyết định khó hiểu này, đối với cả nền kinh tế Hoa Kỳ và của chúng ta, sẽ gây ra hậu quả cho một số ngành công nghiệp của chúng ta.
Quyết định này làm tăng thêm khó khăn cho thời điểm này, nhưng chúng ta sẽ không để nó trôi qua mà không có câu trả lời. Vì vậy, trong khi chúng ta chuẩn bị phản công với các đồng nghiệp châu Âu, chúng ta sẽ tiếp tục, như tôi đã làm cách đây hai tuần, làm mọi thứ có thể để thuyết phục họ rằng quyết định này sẽ gây tổn hại cho tất cả chúng ta.
Và, đúng vậy, tôi hy vọng sẽ thuyết phục và can ngăn Tổng thống Hoa Kỳ.
Nhìn chung, đây là thời điểm đòi hỏi những quyết định chưa từng có trong nhiều thập kỷ. Khi nói đến nông nghiệp, nghiên cứu, công nghiệp và tất cả các chính sách công của chúng ta, chúng ta không thể có những cuộc tranh luận giống như trong quá khứ.
Đó là lý do tại sao tôi đã yêu cầu Thủ tướng và chính phủ của ông, và tôi mời tất cả các lực lượng chính trị, kinh tế và công đoàn của đất nước, cùng tham gia với họ để đưa ra các đề xuất theo bối cảnh mới này. Các giải pháp của ngày mai không thể là thói quen của ngày hôm qua.
Đồng bào thân mến, trước những thách thức và những thay đổi không thể đảo ngược này, chúng ta không được nhượng bộ trước bất kỳ sự thái quá nào, cả sự thái quá của những kẻ hiếu chiến hay sự thái quá của những kẻ chủ bại.
Nước Pháp sẽ chỉ theo đuổi một con đường, đó là ý chí hòa bình và tự do, trung thành với lịch sử và các nguyên tắc của mình.
Đúng vậy, đây là điều chúng ta tin tưởng, vì sự an toàn của chúng ta, nhưng đó cũng là điều chúng ta tin tưởng, để bảo vệ nền dân chủ, một ý tưởng nhất định về chân lý, một ý tưởng nhất định về nghiên cứu tự do, về sự tôn trọng trong xã hội của chúng ta, một ý tưởng nhất định về quyền tự do ngôn luận không phải là sự trở lại của ngôn từ kích động thù địch, về cơ bản là một ý tưởng nhất định về chủ nghĩa nhân văn. Đây là những gì chúng ta bảo vệ và những gì đang bị đe dọa.
Châu Âu của chúng ta có sức mạnh kinh tế, quyền lực và tài năng để vượt qua thách thức của thời đại này. Và chúng ta có phương tiện để đối đầu với Hoa Kỳ, chứ đừng nói đến Nga. Vì vậy, chúng ta phải hành động như một, như những người châu Âu, và chúng ta phải quyết tâm bảo vệ chính mình.
Đó là lý do tại sao đất nước chúng ta cần bạn và cam kết của bạn. Các quyết định chính trị, thiết bị quân sự và ngân sách là một chuyện, nhưng chúng sẽ không bao giờ thay thế được sức mạnh của một quốc gia. Thế hệ của chúng ta sẽ không còn nhận được cổ tức của hòa bình nữa.
Chúng ta phải bảo đảm rằng con cháu chúng ta sẽ gặt hái được thành quả từ những cam kết của chúng ta vào ngày mai. Vì vậy, chúng ta sẽ cùng nhau đối mặt với tương lai.
Cộng hòa muôn năm!
Nước Pháp muôn năm!
Diễn viên Quý Bình qua đời ở tuổi 42
Những câu chuyện Nhân Văn – My Lan Pham
Diễn viên bị chẩn đoán mắc ung thư vào cuối năm 2020. “Anh Bình phát hiện mắc ung thư trong một lần đi khám sức khỏe do có triệu chứng đau đầu kéo dài. Nhận chẩn đoán mắc u não anh khóc, cảm thấy tuyệt vọng vì lúc đó bản thân còn trẻ, chưa lập gia đình, chưa có con”, Ngọc Tiền – vợ Quý Bình chia sẻ.
Vợ chồng Quý Bình quen nhau năm 2017 trong một chuyến công tác ở Phú Quốc. Khi ấy, Quý Bình bị lôi cuốn bởi sự mạnh mẽ của Ngọc Tiền – người sinh năm 1976. Quen một thời gian, họ mới phát hiện nhà cùng ở Hóc Môn (TP HCM), cách nhau chỉ vài cây số.
Đến giờ vẫn chưa muốn tin vào sự thật là chồng đã qua đời, vợ diễn viên Quý Bình nghẹn ngào biết bệnh tình anh trở nặng một tuần trước khi qua đời ở tuổi 42, sau 5 năm mắc un.g th.ư.
Tối hôm trước, diễn viên thấy mệt, được vợ đưa vào bệnh viện Đại học Y dược TP HCM để kịp thời cứu chữa, song không qua khỏi.
Theo chị chia sẻ, lo lắng vì sợ vợ không chịu được áp lực của dư luận nên chồng kín tiếng.
Gia đình xin miễn nhận phúng điếu, hoa tươi, vật phẩm, mong khách viếng không livestream hoặc sử dụng điện thoại.
Hoa Kỳ không thể đạt mục tiêu ngân sách nếu không cắt Medicaid
March 6, 2025
WASHINGTON, DC (NV) – Đảng Cộng Hòa tại Hạ Viện không thể đạt được kế hoạch ngân sách như ý muốn, vốn là con đường cần thiết để thông qua chương trình nghị sự lập pháp do Tổng Thống Donald Trump đề ra mà không ảnh hưởng đáng kể tới Medicare hoặc Medicaid, viên chức ghi chép ngân sách chính thức xác nhận hôm Thứ Tư, 5 Tháng Ba.
Đảng Cộng Hòa tại Hạ Viện thông qua một bản thảo ngân sách vào tuần trước, mở đường cho việc thông qua các chính sách ưu tiên của Trump trong vấn đề nhập cư, năng lượng và thuế. Bản thảo này yêu cầu Ủy Ban Năng Lượng và Thương Mại tại Hạ Viện giảm $880 tỷ trong nguồn ngân sách trong thẩm quyền.
Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội CBO, một tổ chức gồm có các chuyên gia cố vấn nội bộ phi đảng phái làm trọng tài cho tiến trình thông qua ngân sách, cho biết khi tách riêng Medicare, tổng ngân sách theo thẩm quyền của ủy ban là $8.8 ngàn tỷ trong 10 năm. Medicaid chiếm $8.2 ngàn tỷ trong số đó, hay 93%.
Nguồn tài trợ chăm sóc y tế cho thành phần lợi tức thấp Medicaid có thể gặp nguy cơ cắt giảm nhằm đạt mục tiêu ngân sách do Tổng Thống Donald Trump đề ra. (Hình minh họa: Tofiqu Barbhuiya/Pexels)
Khi loại Medicare và Medicaid ra khỏi ngân sách, ủy ban giám sát tổng cộng $581 tỷ, ít hơn nhiều so với mục tiêu $880 tỷ, theo CBO. Bản thảo nêu rõ các con số này là câu trả lời cho Dân Biểu Frank Pallone (Dân Chủ-New Jersey), thành viên cao cấp tại Ủy Ban Năng Lượng và Thương Mại, và Dân Biểu Brendan Boyle (Dân Chủ-Pennsylvania), thành viên cao cấp tại Ủy Ban Ngân Sách.
Điều đó khiến các thành viên Đảng Cộng Hòa lâm vào tình thế khó khăn. Quyết nghị ngân sách, được thông qua với tỷ lệ sít sao nhất tại Hạ Viện, nơi Đảng Cộng Hòa nắm khối đa số mỏng manh, là một kết quả không mấy vững chắc sau các cuộc đàm phán giữa các thành viên theo đường lối cứng rắn bảo thủ đòi giảm mạnh ngân sách, cũng như các nhà lập pháp Đảng Cộng Hòa ở các địa hạt chiến trường nói rằng họ không muốn giảm bớt ngân sách trong các chương trình y tế quan trọng cho các cử tri đảng phái.
Đảng Dân Chủ cũng biến hành động bảo vệ bảo hiểm y tế Medicaid thành trọng tâm trong cuộc tấn công nhắm vào chương trình nghị sự của Đảng Cộng Hòa theo định hướng đảng phái, tố cáo Trump rắp tâm giảm bớt ngân sách chăm sóc sức khỏe cho thành phần lao động nhằm bù qua phần giảm thuế cho giới giàu có. Dân Biểu Al Green (Dân Chủ-Texas), bị mời ra khỏi nghị trường Hạ Viện trong lúc Trump phát biểu trước Quốc Hội vào tối Thứ Ba sau khi liên tục ngắt lời tổng thống và hét lên, “Ông không có quyền động tới Medicaid!”
Gần đây Trump nói trong một cuộc phỏng vấn với Fox News, “Medicare, Medicaid, chúng tôi không hề động tới những chương trình đó.”
Medicare là chương trình cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người cao niên. Medicaid mở rộng phạm vi bảo hiểm chăm sóc sức khỏe cho những người lợi tức thấp và người tàn tật.
Các thành viên Đảng Cộng Hòa tại Hạ Viện không đồng tình với Trump, sau đó đưa Medicaid vào kế hoạch cắt giảm. Chủ Tịch Hạ Viện Mike Johnson (Cộng Hòa-Louisiana), nói rằng Medicaid đang được đặt lên bàn cân nhằm kiểm soát ngân sách.
“Medicaid là một vấn đề nan giải vì rất nhiều trường hợp gian lận, phí phạm và lạm dụng,” Johnson nói với các phóng viên vào tuần trước. “Tôi nghĩ rằng riêng Medicaid, tình trạng gian lận đã lên tới $50 tỷ một năm. Đó là những đồng tiền xương máu của người đóng thuế. Tất cả đều cam kết bảo vệ các quyền lợi Medicare cho những người thực sự cần, xứng đáng và đủ điều kiện. Những gì chúng ta đang nói tới là loại trừ gian lận, phung phí và lạm dụng.”
Khi được yêu cầu chứng minh $50 tỷ gian lận một năm, văn phòng Johnson trích dẫn một số liệu thống kê từ Trung Tâm Dịch Vụ Medicare và Medicaid CMS rằng “tỷ lệ thanh toán sai quy định” tại Medicaid là $50.3 tỷ. Nhưng phúc trình nêu rõ rằng phần lớn các lỗ hổng không phải đến từ tình trạng gian lận.
“Năm 2023, trong số các khoản thanh toán sai quy định tại Medicaid, 82% là do thiếu hồ sơ,” CMS viết trong phúc trình 2023. “Các khoản thanh toán này thường liên quan tới các tình trạng trong đó một tiểu bang hoặc nhà cung cấp quản lý hành chánh không chặt chẽ và không nhất thiết là gian lận hay lạm dụng.”
Trump không nhắc tới Medicaid trong phần phát biểu trước phiên họp chung tại Quốc Hội hôm Thứ Ba. (TTHN)
Tôn vinh các Thánh Tử Đạo Việt Nam và các Vị Tử Đạo Bà Rịa
Tôn vinh các Thánh Tử Đạo Việt Nam và các Vị Tử Đạo Bà Rịa
“Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người.” (Ga 1,9)
Và Người đã dạy tất cả chúng ta:
“Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình; nếu chết đi thì nó mới sinh được nhiều bông hạt khác.” (Ga 12,24)
Đức Kitô là hạt lúa miến mà Chúa Cha đã gieo vào mảnh đất thế gian. Người đã tự hủy cách hoàn hảo, đơm hoa kết trái dồi dào. Người đích thực là vị tử đạo đầu tiên, trung kiên với sứ mạng được Thiên Chúa Cha trao phó. Người đã chết để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ chân lý. Cuộc đời rao giảng, cuộc tử nạn và phục sinh của Người đã trở thành điểm khởi đầu và cùng đích cho đời sống đức tin của các Kitô hữu.
Khởi đi từ các tông đồ, trải qua lịch sử hơn 2000 năm của Giáo hội Công Giáo, các tín hữu ở khắp cùng trái đất đã vui mừng đón nhận vinh phúc tử đạo và coi đó là phương thế tuyệt vời để được chung phần với Đấng Phục Sinh. Các ngài đã sống và chết trong những bậc sống và hoàn cảnh khác nhau để làm chứng cho các giá trị Tin mừng.
Giáo hội Việt Nam hạnh phúc và tự hào khi được cùng chia sẻ vai trò chứng nhân cho con người trên quê hương Việt Nam này. Kể từ ngày các nhà thừa sai gieo mầm đức tin tại Việt Nam, hàng trăm ngàn tín hữu trên mảnh đất hình chữ S đã anh dũng tuyên xưng niềm tin của mình, dù phải chịu bắt bớ, tra tấn, tù đày và hy sinh mạng sống.
Gương sáng của các ngài đã được Giáo hội Hoàn Vũ ghi nhận và tôn vinh. Ngày 19 tháng 6 năm 1988 đã trở thành cột mốc trọng đại trong lịch sử Giáo hội Công Giáo Việt Nam, tại quảng trường Thánh Phêrô ở Rôma, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã long trọng tuyên phong 117 vị Tử đạo tại Việt Nam lên hàng Hiển Thánh.
Trong số 117 vị, có 08 vị Giám mục đều là thừa sai ngoại quốc, 50 Linh mục với 13 vị người nước ngoài và 37 vị người Việt Nam, 14 Thầy Giảng; 01 Chủng Sinh và 44 Giáo dân. Trong 117 cái chết anh dũng, có 01 vị chịu bá đao, 04 vị chịu lăng trì, 06 vị chịu thiêu sống, 75 vị chịu xử trảm, 22 vị bị xử giảo và 09 vị chết rũ tù.
Hướng về các bậc tiền bối với tâm tình ngưỡng mộ và biết ơn, cũng như để nhắc lại gương sáng của các ngài, hôm nay, Giáo hội Việt Nam đã công bố mở Năm Thánh tôn vinh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm 30 năm biến cố lịch sử trọng đại này. Năm Thánh khai mạc vào ngày 19.6.2018 (ngày tuyên phong 117 vị Thánh Tử đạo Việt Nam) và Bế mạc vào ngày 24.11.2018, ngày Lễ kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam trong năm lịch phụng vụ. Trong Năm Thánh này, các tín hữu được hưởng Ơn Toàn xá khi tham dự lễ khai mạc và bế mạc Năm Thánh, cũng như khi hành hương đến các địa điểm được chỉ định.
Tại Giáo phận Bà Rịa, thánh lễ khai mạc Năm Thánh được cử hành lúc 09g30 ngày 19.6.2018 tại Nhà thờ Chánh Tòa; thánh lễ bế mạc vào lúc 09g30 ngày 18.11.2018 tại Đền Thánh Đức Mẹ Bãi Dâu.
Nhà thờ Mồ được chọn làm nơi hành hương cho các tín hữu trong năm thánh. Nhà thờ Mồ nằm cách Nhà thờ Chánh Toà hiện nay khoảng 300m, trên khu đất trước đây là nghĩa trang giáo xứ. Dù chỉ là một ngôi nguyện đường khiêm tốn, nhưng đây chính là nơi cất giữ cả một ký ức hào hùng của cộng đoàn tín hữu Bà Rịa. Nơi đây ghi danh 288 vị anh hùng đức tin, và ghi dấu nhiều tín hữu vô danh khác, đã đổ máu đào làm nên lịch sử hào hùng cho mảnh đất Bà Rịa.
Chúng ta cùng lần giở lại những trang sử hào hùng cách đây gần 150 năm, để nhìn thấy dòng máu đỏ đã tuôn trào, làm nảy sinh và tăng trưởng bao thế hệ tín hữu. Năm 1861 – 1862 được ghi dấu là 02 năm lửa máu của Phước Tuy, tên gọi trước kia của Bà Rịa. Chính quyền thời đó ngờ vực người Công giáo theo Tây, cụ thể là các nhà sừa sai ngoại quốc cùng các binh sĩ Pháp và Tây Ban Nha, nên đã ra sức lùng bắt các tín hữu. Có khoảng 700 tín hữu đã bị bắt và giam vào 04 ngục thất:
Ngục Chánh tại làng Phước Lễ, giam 300 nam tín hữu.
Ngục thứ Hai cách ngục Phước Lễ khoảng hơn 3000 thước, dọc theo con đường Bà Rịa – Xuân Lộc. Nơi đây giam giữ 135 tín hữu.
Ngục thứ Ba cách Phước Lễ độ hơn 5000 thước, trên đường hướng về Đất Đỏ, Long Điền. Có 140 tín hữu đã bị giam giữ tại đây.
Ngục thứ Tư trong làng Phước Thọ, trung tâm Họ Đất Đỏ, là nơi giam giữ 125 nữ tín hữu và trẻ con.
Thế rồi ngày hạnh phúc của các tín hữu đã đến. Ngày 7 tháng Giêng dương lịch năm 1862, người Pháp dẫn binh chiếm Phước Tuy, chính quyền địa phương tưởng rằng họ tiến vào giải thoát các tín hữu nên đã phóng hỏa 4 ngục thất. Ngoài một số tín hữu thoát thân, có tất cả 444 vị đã bị chết trong cuộc thiêu sinh đó.
Sau vài tháng tạm yên ổn, cuối năm 1862, một cuộc bắt bớ khác lại tái diễn ở vùng Gò Sầm, Đất Đỏ. Một cuộc lùng sục, truy đuổi các tín hữu lại diễn ra, chủ yếu vùng Đất Đỏ và Họ Thôm (Long Tâm). Lần bách hại này tuy ngắn ngủi nhưng cũng gần 200 tín hữu đã bị sát hại.
Tuy vậy, đúng như lời Chúa nói: Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, nếu chết đi thì nó mới sinh được nhiều bông hạt khác. Các tín hữu đã nằm xuống vì đức tin, giọt máu của các ngài đã thấm vào mảnh đất Bà Rịa, làm đâm chồi nẩy lộc, đơm hoa kết trái là bao thế hệ Kitô hữu. Đạo Công giáo dần dần phục hưng và phát triển trên mảnh đất Bà Rịa.
Những năm sau đó, nhiều linh mục, trong đó có các Cha Cố người ngoại quốc, đã lần lượt đến để đồng hành, chăm sóc các tín hữu. Đặc biệt, Họ Bà Rịa vinh dự được Cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng (sau này là Giám mục tiên khởi của Giáo hội Việt Nam) coi sóc từ năm 1917 đến 1926. Nhiều họ đạo đã được thiết lập, nhiều nhà thờ và các cơ sở tôn giáo như trường học, đất thánh, lầu chuông, phòng thuốc,…cũng dần xuất hiện. Các cử hành phụng vụ, các sinh hoạt giáo hội tại các họ đạo cũng ngày càng phát triển về quy mô và số lượng. Đặc biệt, ngày càng có nhiều anh chị em lương dân tìm đến với Giáo hội để được học giáo lý và lãnh nhận Bí tích Khai tâm Kitô giáo.
Nhìn lại hành trình đức tin trong những thế kỷ qua, nhìn thấy những thành quả tốt đẹp của Giáo hội hiện tại, mỗi người chúng ta càng được nhắc nhớ phải tỏ lòng tri ân các Thánh Tử Đạo Việt Nam, các Vị Tử đạo tại Bà Rịa cùng hàng trăm ngàn Kitô hữu vô danh khác đã hy sinh tính mạng để bảo vệ đức tin. Chúng ta tri ân các ngài bằng chính cuộc đời nhân chứng của mình. Đó cũng là lúc chúng ta tiếp nối sứ mạng của các ngài, thi hành nhiệm vụ của mỗi người tín hữu đã được Chúa Phục sinh trao phó.
Về việc tổ chức mừng năm thánh, tại Giáo phận Bà Rịa, ngoài thánh lễ khai mạc và bế mạc Năm thánh, mỗi giáo xứ, giáo họ biệt lập, các dòng tu, các giới và các thành phần tông đồ cấp giáo phận sẽ thực hiện một ngày hành hương riêng kính viếng Nhà thờ Mồ. Ngoài ra, tại mỗi giáo hạt sẽ cử hành ngày sinh hoạt để học hỏi, tôn vinh và cầu nguyện cùng các Thánh tử Đạo Việt Nam cũng như các Vị Tử đạo Bà Rịa.
Sống tinh thần Năm Thánh, mỗi tín hữu được mời gọi chiêm ngắm và học hỏi gương sống đức tin của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Việc học hỏi này vừa giúp chúng ta hiểu biết hơn về lịch sử Hội Thánh và Các Thánh Tử Đạo, vừa thúc đẩy chúng ta noi theo gương sống của các ngài, tích cực sống tinh thần tử đạo trong cuộc sống hàng ngày hôm nay.
Ước gì, nhờ việc tham dự các cử hành Năm Thánh Tôn vinh các Thánh Tử Đạo Việt Nam, mỗi Kitô hữu chúng ta được hưởng trọn vẹn những ơn ích thiêng liêng mà Năm Thánh đem lại, biết dùng ơn Chúa ban để hăng hái phụng sự Chúa, và tích cực góp phần vào việc loan báo Tin Mừng trên quê hương đất nước chúng ta.
Lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xin cầu cho dân tộc Việt Nam chúng con. Amen.
Lm. Antôn – Phước Tỉnh
Nửa thế kỷ khai tử, Sài Gòn vẫn bất tử-*Đặng Đình Mạnh
February 27, 2025
*Chuyện Vỉa Hè
*Đặng Đình Mạnh
“Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên”[*].
Sài Gòn, danh xưng đã có từ hơn ba thế kỷ để chỉ một vùng lãnh thổ trung tâm phía Nam Việt Nam, nơi đã từng hào phóng đón nhận biết bao thế hệ người Việt cất công nam tiến khai phá vùng đất mới.
Sài Gòn, nhờ vị trí đắc địa đã trở thành một điểm giao thoa của nhiều tôn giáo, nền văn hóa, dân tộc, thành phần … biến sự thân thiện, chân thật, hào sảng trở thành tâm tính địa phương.
Một quán cà phê ở Sài Gòn ngày nay có tên là “Sài Gòn Xưa” như một hoài niệm một thời đã được sống mà không thể nào quên. (Hình: Nhạc Nguyễn/AFP/Getty Images)
Sài Gòn, nơi đã từng là thủ đô của cả một quốc gia dưới nền Cộng Hòa trước khi ngơ ngác thấy mình có danh tính mới vào ngày 2 Tháng Bảy 1976.
Trước đó, thời thuộc Pháp, Sài Gòn vốn đã là trung tâm hành chính của vùng Đông Dương bao gồm Việt, Miên (Cambodia ngày nay) và Lào. Khi ấy, dinh toàn quyền Đông Dương (Dinh Norodom) được người Pháp cho đặt tại Sài Gòn.
Sau khi giành được độc lập, tư cách pháp lý của đô thành Sài Gòn được xác lập vào ngày 22 Tháng Mười 1956, với Sắc lệnh số 143-NV của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhằm đổi tên các tỉnh thành miền Nam Việt Nam, theo đó, đổi tên Sài Gòn – Chợ Lớn thành đô thành Sài Gòn của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, quản lý vùng lãnh thổ từ dưới vĩ tuyến 17 đến Cà Mau theo Hiệp định Genève năm 1954.
Đến ngày 2 Tháng Bảy 1976, sau khi chế độ Cộng Sản thống nhất được lãnh thổ, họ đã thông qua quốc hội để đổi tên đô thành Sài Gòn trở thành thành phố Hồ Chí Minh, vốn là tên giả lãnh tụ của họ: ông Nguyễn Sinh Cung.
Lần giở tài liệu từ khối ý thức hệ Cộng Sản, họ đã từng có tiền lệ đổi tên địa danh bằng tên lãnh tụ.
Trong đó, năm 1925, họ đã đổi tên thành phố Volgograd, tọa lạc tại bờ tây hạ lưu sông Volga, một trong những trung tâm công nghiệp lớn của nước Nga, thuộc Liên Xô cũ trở thành thành phố Stalingrad, tên lãnh tụ Joseph Stalin của Liên Xô khi ấy. Đến năm 1961, sau khi Stalin đã qua đời, thì thành phố mới được phục hồi lại tên cũ Volgograd.
Cũng vậy với thành phố Saint Peterburg. Năm 1924 bị đổi thành thành phố Leningrad, tên lãnh tụ Cộng Sản. Đến tận năm 1991,sau khi Liên Xô tan rã, thành phố mới được phục hồi tên cũ.
Lấy cảm hứng từ các sự kiện đổi tên thành phố này, một bác sĩ thân Cộng là ông Nguyễn Hữu Nghiệp đã vận động nhóm thân hữu cùng đề xuất lấy tên ông Hồ Chí Minh để đổi tên cho đô thành Sài Gòn. Đề xuất này đăng tải trên báo Cứu Quốc, xuất bản tại Hà Nội vào ngày 27 Tháng Tám 1946.
Đến 30 năm sau, khi cưỡng chiếm được miền Nam, giành quyền quản lý toàn lãnh thổ, trong đó có đô thành Sài Gòn, chế độ Cộng Sản đã thay đổi thành thành phố Hồ Chí Minh.
Dịp ấy, người miền Nam, người Sài Gòn tiếc nuối danh tính cũ, vốn đã có từ hàng trăm năm, đã uất hận than thở: “Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên”.
Vương Cung Thánh Đường Sài Gòn thường được gọi là “Nhà thờ Đức Ba” tọa lạc ở trung tâm thành phố. Lễ Giáng Sinh hàng năm, không phải chỉ có tín đồ Thiên Chúa Giáo, cả triệu người đổ dồn về đây và các đường phố chung quanh hân hoan chào mừng ngày lễ Chúa giáng trần. (Hình: Chris Jackson/AFP/Getty Images)
Tuy đã bị khai tử, nhưng sau nửa thế kỷ, có vẻ như danh xưng Sài Gòn chưa một lần mất dấu. Cái tên Sài Gòn vẫn cứ tồn tại nhờ chính hệ thống truyền thông của chế độ Cộng Sản trong nước, khi bị gắn tên vào những sự kiện tiêu cực, như: Nếu mưa thì “Sài Gòn ngập đến đầu gối”, nếu nắng “Sài Gòn vật vã dưới nắng nóng”, nếu chết “Phát hiện xác chết nam giới nổi trên sông Sài Gòn”, nếu nghiện ngập “Bắt khối lượng ma túy lớn ở Sài Gòn”, nếu chơi bời “Phát hiện ổ mại dâm ở Sài Gòn”, nếu tệ nạn “Chém nhau trên phố Sài Gòn”, thậm chí, nếu hỏa hoạn “Cháy lớn ở Sài Gòn” … đều là những cái tít trên mặt báo của chế độ.
Nhờ vậy, dù nằm ngoài toan tính của chế độ, nhưng đã góp phần giữ gìn lại cái tên Sài Gòn.
Điều đó như đúng tính chất Sài Gòn, nơi không chỉ giao thoa của nhiều tôn giáo, văn hóa, dân tộc, thành phần. Mà còn chứa chấp đủ mọi loại hỷ, nộ, ái, ố tồn tại trong cuộc đời mà vẫn bao dung thân thiện, cũng từ đó mà định hình tính cách hào sảng chẳng dễ thấy từ những nơi khác.
Mới đây, đến cả người đứng đầu chế độ Cộng Sản là ông Tô Lâm cũng đã phải nhắc cái tên Sài Gòn với đầy vẻ tiếc nuối, ông dẫn câu chuyện về Singapore đã từng thèm muốn vị thế Sài Gòn từ thập kỷ 60 như thế nào…
Được nhắc nhở thường xuyên bởi chính những kẻ muốn khai tử cái tên Sài Gòn, giờ lại còn được công khai ca ngợi, thì xem ra, Sài Gòn bất tử. Sài Gòn sống dai dẳng hơn cả đời người, chủ nghĩa, ý thức hệ, sự thắng thua … Sài Gòn cũng chẳng cần đến một lời tuyên bố về sự hồi sinh. Bởi lẽ, Sài Gòn đã từng chết bao giờ mà cần phải hồi sinh?
Hoa Thịnh Đốn, ngày 26 Tháng Hai 2025
Đặng Đình Mạnh
[*] Nước Mắt Cho Sài Gòn (Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên) – Nguyễn Đình Toàn












