TÌNH YÊU VÀ NGOẠI HÌNH

  

 TÌNH YÊU VÀ NGOẠI HÌNH

Chàng trai của Thiên Chúa đã đính hôn với người phụ nữ mắc về bệnh da không thể chữa được lay động hàng triệu người.

Cặp đôi này cho chúng ta thấy ý nghĩa thực sự của tình yêu đích thực và vẻ đẹp!

Ngày nay, chúng ta phải thừa nhận rằng , ngoại hình là một vấn đề lớn đối với mọi người. Có lẽ đó là bản năng của con người để đánh giá giá trị của một người bằng những gì họ nhìn thấy bằng mắt thường. Ngay cả trong Cựu Ước, Vua David không được cha của Ngài coi là vua vì vóc dáng nhỏ bé của Ngài .

“Nhưng Đức Chúa phán với Sa-mu-en,“ Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó ,vì Ta đã gạt bỏ nó .Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm : người phàm chỉ thấy điều mắt thấy ,còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng .” (1 Sm 16, 7).

Lời của Thiên Chúa dẫn chúng ta đến sự thật rằng mặc dù thế giới nhìn vào ngoại hình của một người, chúng ta nên học cách nhìn thấy giá trị của một người bằng cách nhìn sâu vào trái tim họ. Và chắc chắn, chàng trai của Thiên Chúa, Edmilson Alcântara, đến từ Ceará ở Brazil đã hiểu được Lời của Thiên Chúa là rất tốt.

Gần đây, Edmilson 23 tuổi , đã đính hôn với bạn gái Karine de Souza 28 tuổi . Điều đáng ngạc nhiên hơn dù đã biết rõ bệnh tình Karine, nhưng anh đã không do dự khi được hứa hôn với cô.

Karine có một căn bệnh ngoài da hiếm gặp gọi là “Xeroderma Pigmentosum”. Do cực kỳ nhạy cảm với tia cực tím (UV), ánh sáng mặt trời khi chiếu vào da của cô, nó gây ra sự tổn thương cho da. Theo nghiên cứu, bệnh này không có cách chữa trị. Vì bệnh tình của Karine, nó đã gây ra các vết thương khắp cơ thể của cô , điều đó làm cho cô tự ti và tránh tiếp xúc với người khác.

Tuy nhiên, điều đó đã không ngăn cô ấy sống một cuộc đời bình thường như bao người khác bởi vì niềm tin của cô vào Thiên Chúa. Cô nhận thức rõ rằng sự ái ngại của mọi người dành cho bằng ngoại hình của cô ấy, nhưng cô luôn đặt niềm tin vào Thiên Chúa của mình. Đây là điều đã khiến Edmilson yêu cô, vượt ra ngoài những gì mắt người đời có thể nhìn thấy.

Nhận xét của Linh mục nhà văn Daniel Panisson Fotografias trên trang cá nhân của ông : “Bạn đã bao giờ cảm thấy yêu chưa? Bạn đã bao giờ nghĩ đến việc từ bỏ một tình yêu tuyệt vời? Bạn đã bao giờ quan tâm đến ngoại hình và quên lo lắng về cảm giác của bạn ? Sau đây, tôi mời bạn cảm nhận và sống câu chuyện của Karine và Edmilson. Một câu chuyện rất đẹp và đầy cảm hứng sẽ đánh thức trong cảm giác cuộc sống đẹp nhất trong bạn.

Trong một thế giới mà sự bề ngoài quan trọng hơn tâm hồn, họ gặp được tình yêu không phải do ngẫu nhiên, mà đó là một cuộc gặp gỡ của linh hồn, một cuộc gặp gỡ đã giúp cho tình yêu phát sinh khi linh hồn họ gặp nhau và hôm nay họ là nguồn cảm hứng cho rất nhiều người không tự tin vào bản thân mình , không tự tin trong cuộc sống của mình và đặc biệt là trong tình yêu.

Cô Karine De Souza, 28 tuổi, đến từ Fortaleza, được chẩn đoán là mắc bệnh ‘xeroderma pigmentosum’, một căn bệnh hiếm gặp, di truyền, không lây nhiễm và không có phương pháp chữa trị. Bệnh này gây ra vết thương trên da tích khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời . Nhưng đối với Edmilson, 23 tuổi, đến từ Ceará căn bệnh này không ngăn được tình yêu của anh dành cho cô .

Và tôi có thể nói tình yêu của cặp đôi này đã mang lại cho tôi sự bình an và rất nhiều cảm hứng cho tâm hồn. Sự chấp nhận, sự bảo vệ và tất cả tình cảm giữa hai người họ, đã khiến tôi thấy rằng tình yêu vẫn tồn tại .

Sự chấp nhận của căn bệnh Karine khiến tôi thấy chúng ta đã vô dụng khi cứ phàn nàn về cuộc sống của mình . Tôi chỉ muốn nói một điều , hãy Tạ ơn Chúa mỗi ngày vì bạn còn tồn tại . Đừng phàn nàn vì những yếu điểm của bạn vì bạn là bạn . Hãy yêu quý cuộc sống, và chấp nhận nó . Tôi cảm ơn vì bạn đã dạy tôi rất nhiều. Các bạn thật tuyệt vời. Bạn là hy vọng đang bị thiếu đi trong rất nhiều người. Cảm ơn bạn vì cái ôm mạnh mẽ các bạn dành cho nhau , và cho một ngày tuyệt vời hai bạn sống cùng nhau. Tôi sẽ nhớ mãi nụ cười của anh. ”

Nguồn : https://godtv.com

Dịch Nguồn : Anna Trang

16 SỰ THẬT VỀ LỐI SỐNG TÁCH BIỆT VỚI THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI CỦA NGƯỜI AMISH.

16 SỰ THẬT VỀ LỐI SỐNG TÁCH BIỆT VỚI THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI CỦA NGƯỜI AMISH.

#TinDangDocSuyNgẫm #NgườiAmish

Người Amish sống ở thế kỷ XXI nhưng lại không sử dụng điện hoặc mạng xã hội. Nhiều người nghĩ rằng lối sống của người Amish đã hoàn toàn tách rời khỏi cuộc sống hiện đại. Thực tế thì người dân nơi đây có lối sống rất độc đáo nhằm hòa quyện truyền thống của những năm 1700 vào công nghệ hiện đại.

  1. Cách sống khép kín của người Amish được thể hiện rõ nhất qua những bức ảnh họ mặc quần áo thời xưa, cưỡi ngựa đi trên đường cùng với dòng xe ô tô hiện đại của Mỹ. Người Amish thích lao động chân tay nên mỗi gia đình có trung bình 6 con. Có khoảng 300.000 người Amish sống ở Canada và Mỹ nhưng quy tắc và truyền thống của họ sẽ có chút thay đổi tùy theo từng nhóm.
  2. Người Amish không có ô tô nhưng họ có thể đi xe buýt, tàu hỏa, hoặc ô tô của những người hàng xóm muốn chở họ. Điều này không vi phạm truyền thống và cho phép họ đến những nơi mà họ sẽ không thể đến được. Họ được phép thuê những người ngoài cộng đồng chở họ nếu cần. Người Amish không sử dụng máy bay vì cho rằng chúng quá hiện đại.
  3. Người Amish không đi xe đạp. Họ di chuyển chủ yếu bằng xe ngựa, tiếp theo là xe Amish scooter (kết hợp giữa xe scooter và xe đạp). Rất nhiều người trẻ đi học bằng loại xe này. Có một công ty đặc biệt thuộc sở hữu của dân Amish chuyên sản xuất những chiếc xe Amish scooter.
  4. Điểm khác biệt lớn nhất giữa lối sống của người Amish với thế giới hiện đại là họ không dùng điện. Nghĩa là họ không thể sử dụng đài, TV hoặc các thiết bị cần điện khác. Nhưng truyền thống và thực tế cuộc sống của họ lại mâu thuẫn: điện bị cấm nhưng máy phát điện tự động lại được sử dụng.
  5. Một số nhóm người Amish dùng khí nén để giặt giũ và vận hành máy khâu. Tủ lạnh, bếp, bình nóng lạnh, đèn đều sử dụng gas đóng chai.
  6. Người Amish không có nguyên tắc cấm kỵ nào trong việc ăn uống. Đôi khi họ cưỡi xe ngựa đến tiệm Burger King và làm du khách… hoảng hồn.
  7. Họ tự trồng cần tây để ăn và trang trí nhà cửa. Trong đám cưới, cần tây sẽ được cho vào một cái lọ. Loài cây này là biểu tượng của cộng đồng Amish.
  8. Rumspringa là thuật ngữ chỉ giai đoạn người Amish sống từ những năm thiếu niên rồi kết thúc với một quyết định quan trọng: đi hay ở lại cộng đồng. Trong thời gian này, người trẻ tuổi được phép đi bất cứ đâu họ muốn và làm những điều vốn bị cấm trong cộng đồng. Bộ phim tài liệu năm 2002 mang tên Devil’s Playground đã miêu tả lại cuộc sống của người Amish trong giai đoạn này.
  9. Trong thời gian Rumspringa, người trẻ tuổi nếu có làm điều trái với quy tắc cộng đồng thì vẫn được chào đón quay trở lại. Nếu một người đã về rồi lại đi thì sẽ bị cộng đồng xa lánh. Việc còn được chào đón, liên lạc với nhau hay không phụ thuộc vào quan điểm của cha mẹ, người thân, từng người trong cộng đồng chứ không có quy định cấm quay trở lại/cấm liên hệ.
  10. Khoảng 90% người Amish trở lại cộng đồng sau thời gian Rumspringa và tham gia các hoạt động nhà thờ. Những người không trở lại sẽ bắt đầu một cuộc sống hiện đại bình thường. Ví dụ, sau khi tham gia chương trình Breaking Amish, Kate Stoltz đã rời khỏi cộng đồng. Hiện nay, cô là một người mẫu, nhà thiết kế và ngôi sao truyền hình sống ở New York.
  11. Các nhà khoa học phát hiện ra rằng quá trình lão hóa của nhiều người Amish chậm hơn so với người bình thường. Họ sống thọ hơn khoảng 10 năm.
  12. Búp bê đồ chơi của trẻ em Amish không mắt mũi miệng. Mọi loại búp bê có mắt, tai hoặc miệng đều bị cấm. Điều này xuất phát từ lời dạy “tất cả đều giống nhau trong mắt của Đức Chúa Trời”.
  13. Ordnung là tên của bộ quy tắc của người Amish về việc cấm đeo trang sức. Đây là lý do tại sao họ không đeo nhẫn cưới.
  14. Phụ nữ Amish không cắt tóc. Họ thường búi tóc và đội mũ.
  15. Pennsylvania là nơi tập trung nhiều người Amish nhất. Vào những năm 1800, họ xây khoảng 1.500 cây cầu có mái che. Quá trình xây dựng khá tốn kém, vì vậy người ta đã xây dựng những mái che để bảo vệ cây cầu khỏi mưa và kéo dài tuổi thọ của chúng. Hiện tại, có hơn 200 cây cầu kiểu này. Hạt Lancaster rất nổi tiếng với những cây cầu với mái che, trong đó có 29 cây cầu được sử dụng như địa điểm du lịch cho những người không thuộc cộng đồng Amish.
  16. Một số cộng đồng biến văn hóa của họ thành một điểm thu hút khách du lịch. Nhiều người còn tổ chức bán hàng lưu niệm trực tuyến hoặc cung cấp các dịch vụ đi xe ngựa kéo. Bạn thậm chí có thể ở trong một ngôi nhà của người Amish.

Nguồn: Bright Side  

Truy tìm nguồn tin: Quân đội Mỹ tịch thu máy chủ tại Đức của công ty Scylt gian lận bầu cử Mỹ

Việt Nam thời báo

16.11.2020 12:40

Hiếu Bá Linh 

(VNTB) – Nguồn tin giả (fake news) nói đây là kết quả trước khi bị gian lận

Ngày 13-11-2020, trên kênh truyền hình Mỹ Newsmax, Nghị sĩ Hạ viện Louie Gohmert đã nói: những người có mặt tại Đức tường thuật rằng Scytl, một công ty của Tây Ban Nha, sản xuất phần mềm thu thập và xử lý dữ liệu bầu cử tổng thống Mỹ 2020, đã bị một lực lượng lớn quân đội Mỹ đột kích và đã tịch thu các máy chủ Dominion ở Frankfurt, Đức. . Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2020 bị cáo buộc gian lận bởi công ty Scylt và công ty Hệ thống bỏ phiếu Dominion (Dominion Voting Systems).

Luật sư của ông Trump đã tweet rằng “Biden và đồng bọn của chúng không thể ngủ ngon đêm nay”

Ngay sau đó, trên các mạng xã hội tràn ngập những tin giả (fake news) về chuyện cuộc bầu cử tổng thống Mỹ bị gian lận, công ty phần mềm Tây Ban Nha Scytl, chuyên cung cấp khắp thế giới phần mềm gian lận bầu cử mà đã được sử dụng thông qua máy chủ Dominion trong cuộc bầu cử ở Mỹ vừa qua. Vì vậy ông Trump đáng lẽ thắng cử, nhưng bị gian lận, thành ra thua ông Biden.

Tác giả đã truy ra nguồn gốc của tin giả này (fake news) như sau:

Năm ngày trước khi Nghị sĩ Hạ viện Louie Gohmert đưa thông tin lên kênh truyền hình Newsmax, ngày 8-11-2020 trên twitter, một nhân vật mang tên Zeynep Mol (tên họ của người Thổ Nhĩ Kỳ) đã viết bằng tiếng Đức và kèm theo bản đồ kết quả bầu cử Mỹ:

Máy chủ đã góp phần gây ra gian lận bầu cử nằm tại FRANKFURT AM MAIN (Đức) !! !!Đêm qua máy chủ đã bị tịch thu bởi một lực lượng lớn! Một phần mềm đã được sử dụng để tính toán rằng Biden còn cần bao nhiêu phiếu để thắng Trump.

Sau đó cũng cùng ngày 8-11-2020, Zepnep Mol viết tiếp những tweet khác bằng tiếng Đức, tiếng Thổ Nhĩ kỳ và tiếng Anh với nội dung như sau:

Scytl (công ty Tây Ban Nha) có lẽ cũng dính líu!! [Tôi vẫn chưa thể xác nhận sự chính xác như thế nào. Tôi sẽ viết khi tôi xác nhận được]

Sắp tới sẽ lớn chuyện. Công ty phần mềm Tây Ban Nha Scytl đang trong tầm ngắm. Công ty này cung cấp khắp thế giới phần mềm gian lận bầu cử mà đã được sử dụng ở Hoa Kỳ. Máy chủ để gian lận nằm ở Đức (Frankfurt).

Một kẻ bất hảo nghĩ xấu xa ……. mỉm cười. Đêm qua máy chủ đã bị tịch thu bởi quân đội Hoa Kỳ với một lực lượng khổng lồ.

Bây giờ đến phần “người ta không thể tưởng tượng được”. Phần mềm mà các máy tính sử dụng để kiểm phiếu là thuộc sở hữu và nằm dưới sự điều khiển của Paul Pelosi, chồng của bà Nancy Pelosi !! Ông ta không chỉ nằm trong hội đồng quản trị của công ty phần mềm, mà còn sở hữu đa số cổ phần. “Sự cố” này chỉ “trục trặc” một chiều, không phải là tai nạn, mà là một phần mềm máy tính được thiết lập để thực hiện tất cả những việc mà không một ai trong chúng ta biết.

Phần mềm này chạy nhanh đến mức chúng ta thậm chí không thể nhận biết con số thống kê thực tế. Bằng cách này, nó có thể “công bố” kết quả các bang 10 phút sau khi cuộc bầu cử kết thúc. Thuật toán đã tính toán để Biden chiến thắng, dựa trên thông tin mà nó đã nhập vào hệ thống.

Như vậy có thể khẳng định, tất cả những thông tin mà Nghị sĩ hạ viện Louie Gohmert nói trên kênh truyền hình Newsmax ngày 13-11 là hoàn toàn dựa vào những gì nhân vật Zeynep Mol viết trên twitter trước đó 5 ngày.

Ngoài ra, Hãng Thông tấn Anh Reuters cũng đã đưa tin, khẳng định những thông tin trên là tin giả. Ông Paul Pesoli, chồng bà Nancy Pelosi, chủ tịch Hạ viện Mỹ, chẳng có liên quan gì đến công ty Scylt cũng như công ty Hệ thống bỏ phiếu Dominion (Dominion Voting Systems).

Công ty Scytl cũng đã bác bỏ các thông tin giả được đưa ra liên quan đến cuộc bầu cử tổng thống Mỹ ở Hoa Kỳ.

HỌC PHÍ

HỌC PHÍ

Đỗ Duy Ngọc

Cách đây hơn 60 năm, khi tôi bắt đầu đi học, thời đó miền Nam có lẽ là có đời sống tương đối khá hơn miền Bắc XHCN. Tuy vậy, đất nước chắc chắn là không giàu có như bây giờ. Vậy mà suốt thời gian tôi ngồi ở ghế nhà trường, từ Tiểu học cho đến Trung học và cả những năm học Đại học, tôi chẳng phải đóng một đồng học phí nào. Chỉ có những năm tôi học thêm trường tư ban đêm để có thể học nhảy và mấy năm học kiếm thêm cái bằng nữa ở Đại học tư thì đương nhiên phải đóng học phí. Nhưng học phí rất nhẹ. Ở miền Nam trước 1975, có hai hệ thống trường học rất rõ ràng và minh bạch. Đó là trường công lập của nhà nước và trường tư thục của tư nhân. Học trường công thì sẽ không phải đóng một khoản phí nào. Chỉ cần điều kiện là phải thi đỗ vào trường. Học tiểu học thì nạp đơn xin vào học, không thi. Học đến lớp Nhất là lớp Năm bây giờ thì thi vào trường Trung học. Đậu thì học không tiền, rớt thì vào trường tư có học phí. Năm lớp Đệ Nhị tức lớp 11 bây giờ, thi Tú tài 1. Nếu đang học trường tư, thi Tú tài 1 đậu hạng Bình thứ trở lên có thể xin vào trường công lập học tiếp lớp Đệ nhất, khỏi đóng học phí. Ngoài hệ Phổ thông, còn có hệ thống trường Kỹ Thuật ở Vĩnh Long, Sài Gòn, Quy Nhơn, Huế, Đà Nẵng, sau đó thì có thêm Nha Trang, Quảng Ngãi. Phải thi tuyển rất khó khăn mới vào học được trường Kỹ Thuật. Lại còn có hệ thống trường Trung học Nông Lâm Súc. Học sinh ngoài học văn hóa còn được học nghề, chuẩn bị hướng đi cho tương lai. Đa số học sinh Kỹ Thuật khi đậu Tú tài 2 đều thi vào trường Kỹ Sư Phú Thọ, Kiến trúc. Đại học thì có trường phải thi tuyển và một số trường ghi danh. Tuy vậy, ngoài các trường Đại học tư có thu học phí, tất cả các trường Đại học công lập dù thi tuyển hay ghi danh sinh viên cũng không phải đóng tiền học. Học trường thi tuyển như Sư Phạm lại được cấp tiền hàng tháng, số tiền cũng kha khá đối với một sinh viên xa nhà trọ học. Thi Tú tài 2 đậu hạng Bình thứ trở lên, có thể xin học bổng của chính phủ để đi du học các nước Âu châu, Hoa Kỳ, Canada…

Dài dòng như thế chỉ muốn nói lên một điều là ở miền Nam trước 1975 dù xã hội cũng chưa phải là giàu gì lại bị chiến tranh liên miên nhưng học sinh, sinh viên và gia đình không bận tâm đến chuyện học phí. Nhờ thế, rất nhiều con em nhà nghèo đã được học đến nơi đến chốn và rất nhiều học trò tình cảnh gia đình khó khăn đã trở thành Bác sĩ, Kỹ sư, Giáo sư… nhà khoa học, nghệ sĩ tài năng. Đặc biệt, khi tốt nghiệp Đại học trong nước cũng như du học trở về, nhà nước bố trí việc làm phù hợp với khả năng và bằng cấp chuyên môn, không có cảnh thất nghiệp, chạy đôn chạy đáo, lo lót tiền bạc để có việc làm như bây giờ.

Sau năm 1975 và đặc biệt là từ khi mở cửa kinh tế thị trường định hướng XHCN thì trường học từ nhà trẻ cho đến Đại học đều phải đóng tiền. Và học phí càng ngày càng tăng, những gia đình nghèo, đông con, tiền học là gánh nặng. Ngoài học phí, học sinh còn phải đóng nhiều thứ khác nữa và lại thêm tiền mua sách giáo khoa, sắm đồng phục, các khoản này cũng là số tiền không nhỏ. Lại còn nạn học thêm, dạy thêm. Con nhà nghèo đành chịu thất học bởi cha mẹ không kham nổi. Giờ lại nghe tin năm học này tăng học phí, mà tăng không phải là ít. Theo đề xuất này, từ năm học 2021-2022, học phí bậc đại học tăng 12,5%. Học phí bậc mầm non, phổ thông tăng 7,5% so với năm học 2020-2021. Kiểu này những gia đình khó khăn, con đông, ở vùng sâu vùng xa chắc phải bỏ học vì không có tiền đóng học phí. Do dân, vì dân đâu chưa thấy, chỉ thấy dân còng lưng đóng đủ thứ tiền. Chưa xong thuế, lại đóng tiền trạm để đi đường, tiền điện, tiền nước rồi tiền học cho con… cứ tăng ào ào. Khổ mọi bề. Sao không áp dụng kiểu trường công lập và tư thục như xưa để con nhà nghèo phấn đấu vào trường công khỏi tốn tiền học cho đỡ gánh nặng cho cha mẹ, gia đình. Để những nhân tài khỏi phải bị mai một vì nhà nghèo không đi học được.

12.11.2020

#LINHTINHDODUYNGOC

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10157895485323635&id=669643634

https://m.facebook.com/groups/lambaosach/permalink/721326435407804/

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2744463332438242&id=1787344571483461

Đồng Tâm Nhìn Từ Rạch Gốc

Đồng Tâm Nhìn Từ Rạch Gốc

Tưởng Năng Tiến

Dù cũng đọc được lõm bõm một hai ngoại ngữ, tôi rất ít khi rớ tới một tờ báo hay một cuốn sách viết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp. Lý do, chả phải là vì tôi có máu bài ngoại hoặc dị ứng với văn hoá thực dân (hay đế quốc) gì ráo trọi mà chỉ tôi chỉ thạo tiếng mẹ đẻ thôi nên rất ngại “đụng” đến tiếng nước ngoài.

Những người cầm bút của nước Việt tuy viết dở hơi nhiều nhưng viết hay cũng đâu có ít. Đọc họ sướng muốn chết, và đọc mệt luôn cũng chưa hết chữ nên bận tâm làm chi đến những tác giả ở tận đâu đâu.

Cả ngày hôm nay tôi xem say mê bút ký Đồng Bằng của nhà văn Nguyên Ngọc. Ông viết như nói vậy đó: lưu loát, tươi cười, bình dị nhưng thâm trầm và lôi cuốn. Thản hoặc, cũng có đôi đoạn hơi cường điệu (hay nói nguyên văn theo cách dùng từ của chính ông là “gồng lên”) nhưng rất ít. Tôi xin phép sẽ đề cập đến sau, khi có dịp.

Riêng hôm nay, xin mời mọi người xem chơi đôi ba đoạn ngắn, Nguyên Ngọc viết về chuyến đi của ông đến miền đất cực Nam của quê hương (Cà Mau) nơi mà T.B.T Lê Duẩn đã từng nương náu.

Khi ghe cặp bờ, tác giả cùng bạn đồng hành được ông Hai Phốc – Chủ Tịch Xã – đón tiếp vô cùng nồng nhiệt. Hai người, nhân dịp này, cũng tìm biết thêm được không ít chuyện thú vị về cuộc khởi nghĩa ở Hòn Khoai (Rạch Gốc) hồi năm 1940:

“Sau thất bại Nam Kỳ Khởi nghĩa, mấy chục ngư dân Rạch Gốc – Cà Mau đều phải đi tù Côn Đảo, về sau Hai Phốc kể với tôi, mấy chục người ấy đã có ai biết chút chữ nghĩa gì đâu, ở tù Côn Đảo họ chỉ làm một nhiệm vụ: mỗi khi ông Lê Duẩn, ông Tôn Đức Thắng và các ông đầu lĩnh cộng sản bị mang ra đánh thì các ông xông ra chịu đòn thay. Có người bỏ mạng ở Côn Đảo, như cha anh Hai Phốc, còn sống trở về đâu không được mươi người, nay chỉ còn mỗi ông Hắc Hổ.”

Thất bại là mẹ thành công nên sau nhiều lần “khởi nghĩa” bất thành – chung cuộc – cách mạng cũng đã “giải phóng” được cả hai miền Nam/Bắc, thống nhất giang sơn. Sau đó, bác Lê say sưa với chiến thắng nên không có dịp trở lại chốn xưa để thăm lại các ngư dân đã nuôi dưỡng ̣(và bảo vệ) mình nhờ vào “vô số kênh rạch chi chít và bí hiểm” ở Cà Mau.

Bác Tôn, xem ra, nhàn nhã hơn thấy rõ:

“Ngoài việc dự các nghi lễ long trọng bắt buộc phải có mặt cụ, cụ không làm việc gì khác ngoài một việc cụ thích thú hơn cả là sửa xe đạp. Làm phó chủ tịch nước, ông thợ máy ngày trước buồn tay buồn chân. Hết xe đạp hỏng cho cụ chữa, anh em bộ đội bảo vệ và nhân viên phục vụ phải lấy xe của người nhà mang vào cho cụ kẻo ngồi không cụ buồn. Thương cụ quá, đôi khi họ còn làm cho xe trục trặc đi để dắt đến nhờ cụ sửa giùm.” (Vũ Thư Hiên. <em><a href=”http://minhtrietviet.net/dem-giua-ban-ngay-chuong-11/”>Đêm Giữa Ban Ngày</a></em>. Văn Nghệ. Westminster, CA: 1997).

Tuy rất rảnh “nhưng ông thợ máy ngày trước” chỉ tìm vui trong việc sửa xe (đạp) để giết thời giờ, từ năm này sang năm khác, chứ cũng chưa lần nào ghé qua Rạch Gốc để thăm hỏi những kẻ đã chịu đòn thay cho mình ngoài ở Côn Đảo – năm nào.

Bác Bằng cũng xử xự y như thế:

“Khi Nguyễn Lương Bằng vượt ngục Sơn La ông được một thanh niên người Thái trắng dẫn đường. Đưa ông đi khỏi địa phận Sơn La xong, trở về nhà anh bị Pháp bắt đem chặt đầu.

Tôi đã tới bản Giảng, cách nhà tù Sơn La vài cây số, vào mùa thu năm 1965, để thăm gia đình anh thanh niên nọ. Trong ngôi nhà sàn xiêu vẹo chỉ còn lại bà mẹ anh, một bà lão lẩm cẩm, điếc lác, hỏi năm câu mới trả lời được một, câu trả lời lại chẳng ăn nhập gì với câu hỏi.

Bác Cả Hà Đông của tôi chưa một lần trở lại bản Giảng để thăm hỏi bà lão tội nghiệp. Rõ ràng, ông là, hoặc đã trở thành, người không có ân nghĩa. (Vũ T. H. s.đ.d. tr. 314).

Đ… mẹ nhân tình đã biết rồi! Lạt như nước ốc bạc như vôi.     

Ấy thế nhưng nói cho nó hết lẽ thì Bác Tôn và bác Bằng vẫn còn chút (nhất điểm) lương tâm. Cả hai chỉ bạc thôi chứ không đến nỗi ác. Bác Hồ thì khác. Bạc bẽo, độc ác, gian trá, thâm hiểm … và không hề từ bất cứ một thủ đoạn đê tiện hay bất nhân nào.

Mụ địa chủ Cát-hanh Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã: 

– Giết chết 14 nông dân. Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.

 – Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người

– Năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.

Trong cuộc phát động quần chúng, đồng bào địa phương đã đưa đủ chứng cớ rõ ràng ra tố cáo. Mẹ con Cát-hanh-Long không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác hại nước hại dân. Thật là: Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng, Rửa không sạch ác, dù tát cạn nước bể!

(21-7-1953) C.B

C.B là một trong những bút danh của Hồ Chí Minh.  Còn Cát Hanh Long là ai?

Theo Wikipedia: “Nguyễn Thị Năm (1906 – 9 tháng 7 năm 1953, quê ở Làng Bưởi, ngoại thành Hà Nội), là một địa chủ có công đóng góp tài sản cho Việt Minh trong kháng chiến chống Pháp. Trong cuộc Cải cách ruộng đất, bà bị nông dân địa phương đấu tố là địa chủ gian ác và bị xử bắn. Bà nguyên là Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Thái Nguyên. Bà còn được gọi là Cát Hanh Long vì đây là tên một hiệu buôn do bà làm chủ ở Hải Phòng.”

Người trong cuộc cho biết thêm chi tiết:

“Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta đã cảm thấy có gì nên cứ lạy van ‘các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh’. Du kích quát: ‘Đưa đi chỗ giam khác thôi, im!’ Bà ta vừa quay người thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng. Mình được đội phân công ra Chùa Hang mua áo quan, chỉ thị chỉ mua áo tồi nhất…

Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: ‘Chết còn ngoan cố này, ngoan cố nổi với các ông nông dân không này?” Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ. Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối gẫy vậy.” (Trần Đĩnh. Đèn Cù, Westminster, CA: Người Việt, 2014).

So với bản Giảng (Sơn La) hay Rạch Gốc (Cà Mau) thì Đồng Tâm (Hà Nội) chả là cái đinh gì sất cả. Bản thân ông Nguyễn Đình Kình cũng thế, cũng chả có thành tích gì đáng kể, chưa giúp được một đồng chí lãnh đạo nào vượt ngục, cũng chả chịu đòn thay cho bất cứ ai.

Đã thế, về đường lối chính sách thì Nguyễn Đình Kình lại rất mù mờ. Năm mươi tám tuổi đảng mà chủ trương xuyên suốt (đất đai thuộc quyền quản lý của nhà nước) ông vẫn không thông. Do đó, thay vì bị khai trừ, ông bị khử trừ luôn không phải là chuyện lạ.

Tôi chỉ lạ ở cái thái độ phẫn uất của nhà văn Nguyên Ngọc, khi nghe ông gào thét: “Vụ án Đồng Tâm là một tội ác trời không dung đất không tha.”

Chứ chả lẽ cái chết thảm thiết của bà Cát Hanh Long và của hàng bao nhiêu triệu lương dân khác nữa (ở khắp ba miền đất nước, từ hơn nửa thế kỷ nay) thì đất/trời có thể dung tha được hay sao?

Tưởng Năng Tiến
11/2020

“Con Nhà Nghèo” – Huy Phương

“Con Nhà Nghèo” – Huy Phương

Chi phí chữa bệnh tại Mỹ cao hơn nhiều quốc gia ở Âu Châu và Nhật Bản. (Hình minh họa: Getty Images)

Nhắc đến chuyện nghèo, chúng ta nhớ lại hình ảnh của một nhân vật “con nhà nghèo” trong tập truyện cùng tên, xuất bản năm 1930 của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Cuốn tiểu thuyết này mô tả hoàn cảnh của một nông dân Nam Bộ là Cai tuần Bưởi, một anh nông dân hiền lành chất phác, cần cù lao động, thuộc loại “con nhà nghèo.”

Vợ chồng quanh năm “dang nắng cầm cày, dầm mưa nhổ mạ” vẫn nghèo, cơm không đủ no. “Năm nào lúa thất, đong lúa rồi không còn dư hột nào, thì phải lo làm mướn đặng lấy số tiền mà độ nhựt.” Trong câu chuyện này, không nghe Ông Hồ Biểu Chánh nói chuyện gia đình Cai tuần Bưởi gặp lúc đau ốm, thì ra làm sao?

Một số người Việt chạy nạn Cộng Sản từ năm 1975 tới nay sinh sống ở Mỹ, vì khó khăn, thu nhập thấp, không có tài sản, thuộc tiêu chuẩn ‘vô sản” nên được nước Mỹ cưu mang, xếp cho vào loại con nhà nghèo.

Con nhà nghèo ở Mỹ thì có trợ cấp tiền mặt, phiếu thực phẩm, trợ cấp gia cư, vào bệnh viện chữa bệnh không mất tiền, đi bác sĩ và mua thuốc tốn phí đã có chính phủ lo. Không có phương tiện đi khám bệnh hay giải trí, đã có xe “nhà nước,” ở nhà ốm đau, già yếu, không vào bếp được cũng có người “chính phủ” đến phụ việc nấu nướng.

Cái câu nói mà chúng ta vẫn thường nghe hoài, nghe mãi, là: “Ở Mỹ, một là thật giàu, hai là thật nghèo, chứ dở dở ương ương là chết!”

Mới đây trên một tờ báo Việt ở Orange County có kể câu chuyện gia đình một đại gia thành đạt ở Sài Gòn, có dịp đi du lịch, ghé thăm vợ chồng một người bạn cũ thời niên thiếu ở Mỹ. Ông bà đại gia này ở Việt Nam có xe hơi sang, nhà nhiều phòng, có tiền tích lũy trong ngân hàng, nhà có hai người giúp việc, có tài xế túc trực lái xe mỗi ngày. Nhưng khi đến thăm người bạn cũ, họ thất kinh, khi được rõ thế nào là gia đình một người “con nhà nghèo” ở Mỹ.

Hai vợ chồng “con nhà nghèo” đang chạy một chiếc xe Toyotya Camry 2012, ở một căn apartment 2 phòng, tiền thuê theo giá thị trường hiện nay khoảng $1,600, nhưng có trợ cấp housing, đôi vợ chồng này chỉ trả cho chủ nhân $420 mỗi tháng. Mỗi tháng họ có tiền trợ cấp của chính phủ Mỹ, đủ lo việc ăn uống, trả tiền thuê nhà, thêm một ít phiếu lương thực (foodstamp) để đi chợ mua thức ăn. Thỉnh thoảng họ cũng có đủ tiền đi thăm con cái ở một vài tiểu bang khác. Vợ chồng “con nhà nghèo” ở Mỹ này, đau ốm đi bác sĩ, mua thuốc khỏi tốn tiền. Ngạc nhiên quá đỗi là trong khi bà bạn ngồi đánh bài tứ sắc với mấy bà lối xóm, thì có “người giúp việc” đến nấu, dọn ăn và quét dọn nhà cửa. Nếu có hẹn phải đi bác sĩ thì cũng có người đưa rước!

Lúc ngặt nghèo, vào bệnh viện, họ cũng được đối đãi như những đại gia khác (tầng lớp có lương cao, hay bác sĩ kỹ sư…) Họ được một phòng riêng, hưởng tiêu chuẩn thuốc men, săn sóc như mọi người khác nằm trong bệnh viện.

Số tiền mà chính phủ trả ra hằng năm cho chuyện y tế của “con nhà nghèo” này không phải là một số tiền nhỏ. Chúng ta cũng nên biết rằng chi phí thuốc men hiện nay ở Hoa Kỳ rất đắt, gấp đôi so với những quốc gia tiên tiến khác. Vì giới hạn của trang báo chúng tôi chỉ nêu lên ở đây một vài quốc gia.

Ví dụ như chi phí y tế mỗi năm cho mỗi người ở Mỹ là $10,224 thì chi phí này đắt gần gấp đôi nước Đức ($5.728) Áo ($5,440) Pháp ($4,902) và gấp đôi đối với Nhật ($4,543) Úc ($4,717) và Anh ($4,246.)

Xin nêu một vài con số trong bài báo nêu trên và một ít tài liệu tra cứu.

Vào phòng cấp cứu có bốn giờ, xét nghiệm: $17,000. (Arizona)

Nằm bệnh viện 15 ngày: $285,000. (Rosemead, California)

Giải phẫu thay một quả thận: $120,000. Nằm bệnh viện sau giải phẫu thận: $40,000 một tuần – Sinh mổ: $17,542- Chăm sóc em bé trong ba ngày: $9,350 (Illinois)

Một ca sinh mổ và nằm bệnh viện ba ngày: $16,280. (Westminster, California)

Sinh con, nằm bệnh viện một tuần: $106,000. (Florida)

Sinh đôi, con phải nằm lồng kính trong ba tháng. Phần con: 5 triệu- Phần chi phí cho mẹ: $65,000 (Avocate Illinois Masonic Medical Center.)

Chăm sóc đặc biệt cho trẻ sơ sinh dưới 28 ngày tuổi (mỗi ngày): $4,825

Chăm sóc trẻ sơ sinh thông thường (mỗi ngày): $2,943 (FAIR Health, Hoa Kỳ)

Chụp MRI: $6,000 một lần- 5 tiếng nằm trong bệnh viện: $24,066. (Chicago, Illinois)

Lọc thận (mỗi năm): $89,000 cho một người. (USA).

Cũng nên biết qua những tốn phí khi bệnh nhân phải vào bệnh viện để giải phẩu, đó là chi phí phải trả cho bác sĩ phẫu thuật, chi phí hóa trị, tiền thuốc, chi phí xạ trị, chi phí gây mê. Tổng cộng chi phí cho một lần phẩu thuật như vậy không phải là nhỏ.

Một ca mổ tim- làm bypass: $70,000- $200,000. (California)

Một ca mổ ruột thừa (appendix): $33.000 (có bệnh viện lên đến $200.000.)

Một ca mổ ruột sa (hernia): $4,000 đến $11,000.

Chỉ tính chi phí riêng cho bác sĩ gây mê: $3,985.

Khi phải vào bệnh viện để giải phẩu, tiền nằm bệnh viện khá cao. Ở Orange County, California, giá của:

-Fountain Valley Regional Hospital & Medical Center: $989.

-Hoag Memorial Hospital Presbyterian: $1,037 cho mỗi ngày. (Chưa bao gồm thuốc thang hay bác sĩ, y tá chăm sóc.)

Nằm trong nursing home: $225 mỗi ngày – $6,844 cho mỗi tháng (phòng hai người), $253 mỗi ngày hay $7,698 mỗi tháng cho phòng một người.

Thử nhìn lại, giới con nhà nghèo chúng ta, từ ngày đặt chân lên đất Mỹ đến nay, đã tiêu xài của nước Mỹ bao nhiêu tiền, trong đó phải nói là chi phí y tế của mỗi người coi như tốn kém nhất. $500,000; $1,000,000 hay hơn thế nữa?

Chúng ta đang sinh sống ở Mỹ, nếu không có bảo hiểm sức khỏe hay không thuộc giới “con nhà nghèo,” và với tốn phí y tế cao như vậy, không tiền chắc phải chịu chết, mà có tiền cũng “thà chết còn hơn,” không dám gọi xe cấp cứu 9-1-1 để được đưa vào bệnh viện!

Nhưng ở Hoa Kỳ, tất cả những chi phí y tế của “con nhà nghèo” đều do quỹ Medicare của Liên Bang và Medicaid của tiểu bang trả, mà các bệnh nhân này không phải bỏ ra một đồng nào.

Trong cộng đồng Việt Nam ở Mỹ, đây là một vấn đề khá tế nhị, chúng tôi chỉ xin trích lời của Bác Sĩ Nguyễn Hùng, hiện nay đang hành nghề tại Quận Cam, đã nói với phóng viên Người Việt.

“Điều tôi trăn trở nhất, là hệ thống bảo hiểm y tế Mỹ tồn tại nhiều bất công cho những người “tax payer.” Họ đi làm đóng thuế cả đời, tới khi về già 65 tuổi, được hưởng Medicare. Nhưng Medicare lại chỉ chi trả khoảng 80% tiền thuốc mà thôi. Trong khi đó, có những người không đi làm gì, hoặc làm rất ít để giữ cho ‘low income,’ không đóng thuế gì hết, thì lại được chính phủ cho MediCal, loại bảo hiểm này rất mạnh, chi trả gần như toàn bộ tiền thuốc.”

Vậy mà cũng chưa thỏa mãn. Nhiều vị cao niên còn mạnh khỏe, đi đứng, lái xe được, còn hưởng thêm khoản day-care, đến tập luyện, vui chơi, ăn uống tại những địa điểm của các nhà thầu tư nhân thiết lập.

Vụ này quỹ Medicare còn phải chi thêm cho quý vị, một ngày $70. Trung bình mỗi năm những người này tiêu thêm của chính phủ $20,000. Có những dịch vụ xoa bóp (massage) nếu được các bác sĩ chứng nhận là trị liệu (theraphy) cũng được medicare thanh toán.

Phụ nữ nuôi con bằng sữa được cấp máy hút sữa: $200. Chúng ta xin cấp xe lăn điện (power wheelchair) nhưng không dùng đến, giá mỗi xe chính phủ phải trả ra từ $12,000 cho đến $21,000.

Trong khi đó giá xe cao nhất ở RehabMart là $3,000 và ở Walmart có loại rẻ nhất chỉ có $600.

Chúng ta xin cấp tã lót vô hạn định, dùng không hết. Giá tã $12/bịch x 2 = $24 nhưng medicare phải trả $42.50. Một bác sĩ cho biết, bị bệnh cao huyết áp, phải dùng thuốc Telmisartan 40 mg, giá Medicare phải trả là $80 một vỉ. Trong khi đó, nếu mua ở hiệu thuốc bên ngoài, giá chỉ còn $30!”

Tục ngữ Việt Nam có câu “Con nhà lính, tính nhà quan!”

Chúng ta là “con nhà nghèo” ở Mỹ, nhưng số phận “Trời cho” được xài sang, đến đỗi đại gia ở Việt Nam, lắm tiền nhiều bạc, qua đây, trông thấy còn phải “thất kinh, rụng rời!”

Vậy, tu mấy kiếp mới được xếp loại “con nhà nghèo” ở Mỹ?

Huy Phương

Đám tang của Tổng thống Abraham Lincoln

Trong hình là đám tang của Tổng thống Abraham Lincoln. Ông là TT thứ 16 của Mỹ. Người giúp dân Mỹ vượt qua nội chiến, tiến hành chấm dứt chế độ nô lệ và nỗ lực hòa giải dân tộc, hiện đại hóa nền kinh tế, tài chính của đất nước. Ông chết vào 15/4/1865 vì bị ám sát, thọ 56 tuổi.

Khi ông chết, dân Mỹ đã đưa tang ông bằng mọi nghi thức trang trọng nhất tại thủ đô Washington. Sau đó đưa thi hài ông lên một chuyến tàu đi qua 444 cộng đồng dân cư với chiều dài gần 1700 dặm để đưa về quê tại Springfiel, tiểu bang Ilinois, nơi an nghỉ cuối cùng. Dân Mỹ đã xây 1 lăng mộ cho ông tại đây (coi hình).

Tàu dừng lại ở 7 thành phố lớn tại các bang Washington, Maryland, Pennsylvania, New York, Ohio, Indiana và Illinois để dân viếng tang. Còn hàng triệu dân Mỹ trên gần 1700 dặm đường đổ ra hai bên khi tàu đi qua để tiễn biệt ông. Đó có thể là đám tang lớn nhất nước Mỹ của một vị Tổng thống. Và nó cũng cho thấy sức hút cũng như tình cảm mà dân Mỹ dành cho ông lớn thế nào.

Lincoln là con người của nhân ái, của gắn kết và gàn gắn mọi đau thương và phân rẽ của nước Mỹ trong thời điểm mà phải đối mặt với Nội chiến và xóa bỏ chế độ nô lệ. Ông đã dành cả cuộc đời chính trị cho mục tiêu cao cả này, như những gì ông từng viết khi còn sống.

“Không ác tâm với bất cứ ai nhưng nhân ái với mọi người, và kiên định trong lẽ phải. Khi Chúa cho chúng ta nhận ra lẽ phải, hãy tranh đấu để hoàn thành sứ mạng được giao: hàn gắn vết thương của dân tộc, chăm sóc các chiến sĩ, những người vợ góa, những trẻ mồ côi – hết sức mình tạo lập một nền hòa bình vững bền và công chính, cho chúng ta, và cho mọi dân tộc”

Đây là lời ông viết cho dân miền Nam nước Mỹ, bên thua cuộc :

“Chúng ta không phải là kẻ thù, nhưng là bằng hữu. Không thể nào chúng ta trở thành kẻ thù của nhau… Sợi dây đàn màu nhiệm của ký ức, trải dài từ những bãi chiến trường và mộ phần của những người yêu nước đến trái tim của mỗi người đang sống, đến chỗ ấm cúng nhất của mỗi mái ấm gia đình, khắp mọi nơi trên vùng đất bao la này, sẽ làm vang tiếng hát của ban hợp xướng Liên bang, khi dây đàn ấy được chạm đến một lần nữa, chắc chắn sẽ như thế, bởi phần tốt lành hơn trong bản chất của chúng ta”

Lincoln trở thành một trong những giá trị cốt lõi của nước Mỹ.

Có những người chết đi, nhưng sự tử tế và cao thượng của họ sẽ sống mãi. Họ sinh ra để cứu chuộc sự ngu dốt, mù quáng và phân rẽ của con người.

– Fb Nguyễn Thị Bích Hậu

TP.HCM: Một nữ luật sư rơi từ tầng 18 xuống đất tử vong

TP.HCM: Một nữ luật sư rơi từ tầng 18 xuống đất tử vong

  • Nguyễn Quân
  • Chủ Nhật, 15/11/2020 
  • Sau tiếng động mạnh, một nữ luật sư trung tuổi được phát hiện tử vong sau khi rơi từ tầng 18 Chung cư Sunview Town (phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, TP.HCM) xuống đất. 

Hiện trường nơi nạn nhân tử vong đã được phong tỏa. Nhang, hoa được đặt gần thi thể. (Ảnh: Sai Gon Young/Facebook)

Truyền thông trong nước chiều 15/11 đồng loạt đưa tin về việc một nữ luật sư vừa tử vong sau khi rơi từ tầng cao của tòa nhà chung cư. Theo Tuổi Trẻ, nạn nhân được xác nhận là bà N.T.M.T. (50 tuổi, ngụ tỉnh Quảng Nam). Bà T. làm nghề luật sư, sống một mình trong căn hộ trên tầng 18 Chung cư Sunview Town.

Theo thông tin ban đầu, vào khoảng 13h ngày 15/11, người dân nghe một tiếng động mạnh tại Block A2. Khi chạy đến kiểm tra, mọi người phát hiện một người phụ nữ nằm bất động, đã tử vong, nên báo lên công an.

Sự việc tử vong xảy ra vào khoảng 13h trưa 15/11, tại Block A2 tòa chung cư. (Ảnh: Sai Gon Young/Facebook)

Hiện Công an quận Thủ Đức đã phong tỏa, khám nghiệm hiện trường, đưa thi thể nạn nhân đi để khám nghiệm tử thi, đồng thời trích camera và lấy lời khai các nhân chứng để làm rõ nguyên nhân vụ việc.

Báo Pháp luật TP.HCM đưa tin cho hay qua công tác khám nghiệm hiện trường, nạn nhân được xác định rơi từ khu vực cửa sổ trong phòng ngủ.

Nguyễn Quân

BÀI GIẢNG LỄ KÍNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

BÀI GIẢNG LỄ KÍNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

 ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên – Missouri, 8-8-2014

Kính thưa cộng đoàn,

Ngày 19-6-1988 đã in một nét son trong lịch sử Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam.  Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong 117 vị chân phước tử đạo tại Việt Nam lên hàng hiển thánh, gồm 96 người Việt Nam và 21 vị thừa sai ngoại quốc.  117 thánh tử đạo là con số tiêu biểu cho hơn 100 ngàn Vị Tử Đạo trong thời gian 300 năm Giáo Hội bị bách hại.  Đây là một biến cố quan trọng đối với Dân tộc Việt Nam.  Người Việt Nam vốn đã tự hào về một truyền thống kiên cường trong việc dựng nước và giữ nước, nay càng tự hào hơn vì có những bậc tiền nhân anh hùng kiên vững trong Đức tin.  Quê hương Việt Nam đã xinh đẹp, nay còn xinh đẹp hơn nhờ được tô điểm bằng Đức tin Công giáo.

Tại Quảng trường Đền thờ Thánh Phêrô ở Rôma hôm đó, trước hàng triệu tín hữu, trong số đó có những tín hữu Việt Nam, Vị Cha chung của Giáo Hội Công giáo hoàn vũ đã nhân danh Chúa Ba Ngôi long trọng tuyên bố: kể từ nay, 117 vị Tử đạo Việt Nam được kể vào hàng các thánh và được tôn kính trong toàn thể Giáo Hội.  Để bày tỏ tình thương hiền phụ đối với các tín hữu Việt Nam, vị Thánh Giáo Hoàng đã ngỏ lời với con cháu các thánh Tử đạo bằng ngôn ngữ của họ.  Đây là lần đầu tiên tiếng Việt thân thương của chúng ta được phát âm và xướng lên bởi một vị Giáo Hoàng: “Chào anh chị em Việt Nam thân mến.  Cha gửi lời chào chúng con từ bốn phương trời tuốn về La Mã, vui vẻ hiên ngang mừng các thánh Tử đạo của Giáo Hội chúng con hôm nay.  Xin Chúa chúc lành cho chúng con, và Cha cầu chúc cho chúng con sống xứng đáng là con cháu các vị anh hùng.”

Đã 26 năm từ sự kiện phong thánh, những lời của vị Cha Chung ngỏ lời với con dân Việt vẫn còn vang vọng đâu đây trong tâm khảm của các tín hữu Việt Nam đang sống trong nước cũng như ở hải ngoại.  Bởi lẽ, qua những lời đơn sơ ấy, vị Thánh Giáo Hoàng muốn mời gọi chúng ta tưởng nhớ về một quá khứ đau thương hào hùng của Giáo Hội Công giáo Việt Nam, đồng thời khuyên chúng ta học nơi các ngài bài học sống Đức tin trong cuộc sống hiện tại hôm nay.

– Thứ nhất, hồi tưởng về quá khứ.  Giáo Hội công giáo Việt Nam đã trải qua những thử thách đau thương khốc liệt, giống như cộng đoàn tín hữu tiên khởi tại Rôma ở thế kỷ thứ hai.  Hơn một trăm ngàn người Việt Nam đã phải hy sinh mạng sống chỉ vì một lý do là họ tin vào Chúa.  Họ phải chịu biết bao đau khổ và nhục hình: phân biệt đối xử, phát vãng lưu đày và tử hình.  Có thể thế hệ hôm nay sẽ đặt câu hỏi: các Thánh Tử đạo Việt Nam là những ai?  Thưa họ là những giám mục, linh mục, tu sĩ chủng sinh; họ là những người cha, người mẹ, những người con trong gia đình; họ là những người học hành uyên bác nhưng phần lớn trong số họ là những người bình dân; đa phần trong số họ là những người chân lấm tay bùn, vất vả quanh năm với con trâu, cái cày.  Trong số họ cũng có 21 vị là người ngoại quốc.  Các ngài đến từ những đất nước văn minh và đã chọn Việt Nam là quê hương thứ hai của mình.  Các Thánh Tử đạo Việt Nam, không phân biệt Tây hay Ta, nam hay nữ, giàu hay nghèo, trí thức hay bình dân.  Tất cả đều yêu mến Chúa, yêu quê hương Việt Nam và yêu Giáo Hội Việt Nam đến mức sẵn sàng đổ máu đào để làm chứng cho tình yêu ấy.  Vì thành kiến và thù ghét, người ta đã nghĩ ra biết bao hình khổ ghê rợn hầu làm họ chối bỏ Đức tin, nhưng các ngài vẫn can đảm kiên trung trước lời đe dọa của những nhà cầm quyền.

Chủng sinh 18 tuổi, Tôma Trần Văn Thiện, đã nói với quan: “Đạo dạy tôi thờ Thiên Chúa là đạo thật, tôi sẵn sàng chịu chết chứ không bỏ đạo.”  Thấy Tôma Thiện là một chàng trai trẻ có khuôn mặt khôi ngô tuấn tú, quan muốn nhận làm con rể mình, và sẽ đứng ra lo liệu cưới xin.  Nhưng ngài đã từ chối: “Tôi chỉ mong chức quyền trên trời, chứ không màng đến quyền chức trần thế.”  Thánh Tôma đã thấu hiểu lời Đức Kitô trong Tin mừng Luca: “Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.  Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?”  Sách viết về cuộc đời của các Thánh Tử đạo còn kể lại biết bao chứng tá anh hùng của các ngài.  Các ngài không sợ hình phạt, chỉ sợ mất nghĩa cùng Chúa.  Đi ra pháp trường mà các ngài vui vẻ như đi dự hội.  Với các thánh Phạm Khắc Khoan, Nguyễn Văn Hiếu và Đinh Văn Thanh, các ngài đã chia bè và hát kinh Tạ Ơn “TE DEUM” bằng tiếng Latinh ngay trong nhà giam.  Rồi khi ra pháp trường để chịu tử hình, các ngài lại hát bài ca “Alleluia” như trong đêm vọng Phục Sinh.  Chỉ có một Đức tin kiên trung và lòng phó thác trọn vẹn mới có thể đem lại cho các ngài nghị lực và niềm vui như vậy.

Sống đạo đức thánh thiện và trung thành với Đức tin, các ngài còn là những người sống bác ái với mọi người.  Lịch sử các Thánh Tử đạo còn ghi lại thánh y sĩ Phan Đắc Hòa.  Ngài đã sẵn sàng chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, sẵn lòng cứu giúp những người túng thiếu.  Hay thánh Martinô Thọ, Ngài thường trồng vườn dâu để có thêm thu nhập giúp người nghèo.  Cụ trùm Đích thì thường xuyên góp nhặt tiền bạc để đi thăm viếng trại cùi và nuôi nấng những người dịch tả trong vùng.  Còn với quan Hồ Đình Hy, ngài luôn giúp đỡ những người bơ vơ, mồ côi ngay ở trong nhà, và khi họ qua đời thì lo an táng đàng hoàng như một người bình thường.

– Ôn lại quá khứ, chúng ta là những tín hữu Công giáo Việt Nam học những bài học cụ thể cho cuộc sống hôm nay.  Quả vậy, lòng tự hào về các bậc Tiền Nhân không phải chỉ được ghi lại trong những pho sách sử mà thôi.  Chúng ta ôn lại truyền thống hào hùng được ghi dấu và thấm đẫm máu đào, không giống như chỉ ôn lại một sự kiện lịch sử xa vời, dù rất đẹp nhưng khô cứng và vô hồn.  Chúng ta tự hào về các Thánh Tử Đạo cũng không giống như kiểu lấy công phúc của các ngài để làm vinh dự cho chúng ta.  Việc ôn lại chứng tá của các Thánh Tử đạo nhắc nhớ mỗi người dân Việt, nhất là những tín hữu Công giáo Việt Nam, dù sống trên miền đất nào, cũng cố gắng noi theo lòng đạo đức của các ngài, gìn giữ Đức tin kiên trung vào Chúa, yêu mến Giáo Hội và sống Đức tin trong cuộc sống hằng ngày.

Cuộc sống và chứng từ của các anh hùng Tử đạo cần phải được kể lại cho mọi thế hệ người Công giáo Việt Nam.  Cùng với lòng tự hào là tâm tình tri ân cảm mến và thiện chí noi gương các ngài để sống Đức tin.  Thời tử đạo dẫn đến máu chảy đầu rơi ngày nay không còn nữa, nhưng những ai muốn trung thành với Chúa thời nào cũng phải cân nhắc khôn ngoan để chọn lựa Chúa hay chọn lựa thế gian; chọn lựa hạnh phúc và niềm vui vĩnh cửu hay chọn lựa vinh quang nhất thời; chọn lựa đường đi trong ánh sáng hay cuộc sống trong bóng đêm.  Môi trường nào cũng vậy, ta luôn phải chọn lựa.  Hoàn cảnh nào cũng thế, ta phải sống khôn ngoan.  Cuộc chọn lựa này nhiều khi làm chúng ta phải vượt lên những ràng buộc khắt khe và có khi phải vượt lên chính mình với trái tim rướm máu.  Nếu những cuộc cấm cách tàn khốc đã lùi vào dĩ vãng thì người tín hữu hôm nay lại phải đối diện với những thử thách của thời hiện đại.  Quả vậy, biết bao trào lưu và lối sống mượn chiêu bài tự do để đi ngược với giáo huấn của Tin Mừng, coi thường hoặc lãng quên những thực hành đạo đức, tôn vinh kỹ thuật một cách quá đáng và lãng quên Thiên Chúa là Cội nguồn mọi sự.  Sáng suốt và khôn ngoan để trung thành với Chúa trong cuộc sống hôm nay, đó là một cuộc tử đạo trường kỳ, dai dẳng suốt cuộc đời.

Ơn gọi tử đạo gắn liền với những ai tin vào Chúa Giêsu và muốn làm môn đệ Người.  Nếu chúng ta được sống trong một xã hội dân chủ, an bình, thì đó đây trên thế giới, vẫn còn những nhà truyền giáo bị hành hung và sát hại, vẫn có những ngôi thánh đường Công giáo bị tàn phá, vẫn còn những tín hữu không dám công khai tuyên xưng Đức tin, vẫn còn những người vì hai chữ Công giáo mà bị phân biệt đối xử.  Đây cũng là những cuộc bách hại mang hình thức mới của thời đại và những tín hữu này đang sống từng ngày chứng tá của mình một cách anh hùng.

Kính thưa Cộng đoàn,

Ngày Thánh Mẫu được tổ chức hàng năm tại Missouri đã trở thành điểm hẹn thân thương cho người Việt Nam đang sống tại Hoa Kỳ cũng như tại nhiều nước trên thế giới.  Chúng ta về đây để gặp gỡ nhau, để chia sẻ những vui buồn và nâng đỡ nhau trong cuộc sống.  Chính Đức Mẹ Maria đã quy tụ chúng ta nơi đây.  Mẹ là điểm nối kết giữa những con Dân Việt đang sống xa quê.  Về với Mẹ, chúng ta được Mẹ vỗ về ủi an.  Về với Mẹ, chúng ta có dịp kể lể tâm sự với Mẹ những băn khoăn trăn trở của cuộc sống trần gian.  Về với Mẹ, chúng ta cũng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Mẹ chiếu tỏa qua các nhân đức và sự trung thành can đảm của Mẹ.  Trong Thánh lễ kính các Thánh Tử đạo Việt Nam, chúng ta cùng nhìn lên Mẹ và ca tụng Mẹ là Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo.  Vâng, dưới chân thập giá, Mẹ đứng đó, trong suy niệm và thinh lặng, đau khổ kết hợp với của lễ của Con mình là Đức Giêsu chịu treo trên thập giá.  Mẹ là Đấng Đồng Công cứu chuộc.  Mẹ chia sẻ đau đớn và hiệp thông với Chúa Giêsu.  Mẹ cũng dâng chính bản thân mình làm của lễ lên Chúa Cha.  Mẹ xứng đáng được mang ngành thiên tuế của các vị Tử Đạo.  Về bên Mẹ trong Ngày Thánh Mẫu này, chúng ta xin Mẹ cho chúng ta được lòng cậy trông, chí can đảm và lòng tín thác nơi Chúa trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Đây bài ca ngàn trùng dâng về Thiên Chúa, bài ca thắm nhuộm máu hồng.  Nhìn Chúa đẫm máu trên đồi cao, từng đoàn người anh dũng tiến lên pháp trường.  Một bài ca đẫm máu đào.  Một bài ca hào hùng bất tận.  Bài ca ấy, chính là cuộc đời của các thánh Tử đạo Việt Nam.  Chúng ta, những tín hữu Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại, đang là những người nối tiếp bài ca đã được các ngài xướng lên, để làm vang mãi lời ca tôn vinh Chúa, ca ngợi vẻ đẹp của Giáo Hội và Quê Hương Việt Nam thân thương.

“Cha cầu chúc cho chúng con sống xứng đáng là con cháu các vị anh hùng” – lời chúc thiêng liêng của vị Thánh Giáo Hoàng luôn luôn là một lời mời gọi và là một thông điệp được gửi đến cho mỗi người chúng ta.

Xin Chúa chúc lành cho chúng con.  Xin Mẹ luôn gìn giữ che chở chúng con.  Xin các Thánh Tử đạo Việt Nam cầu bầu cho chúng con.  Amen!

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Tu Dao VN 4.jpg

TÍNH CÁCH NGƯỜI VIỆT HƠN 100 NĂM TRƯỚC

TÍNH CÁCH NGƯỜI VIỆT HƠN 100 NĂM TRƯỚC

(Nhận xét của một Đại úy Hải Quân Nhật hồi cuối thế kỷ 19)

Giới thiệu

Sone Toshitora (曾根 俊虎/ Tăng Căn Tuấn Hổ) (1847-1910) là một đại úy hải quân hoàng gia Nhật, những năm đầu 1880 được cử sang An Nam công cán. Ông là người lập ra Hưng Á hội để cổ vũ cho tư tưởng liên Á chống lại đô hộ của Pháp ở châu Á. Trong thời gian ở Việt Nam, ông đã tìm hiểu, cóp nhặt thông tin trên các báo và viết ra hai cuốn sách là “Nam phiêu ký sự” và “Pháp Việt giao binh kỷ lược”, xuất bản lần đầu tại Tokyo năm Minh Trị thứ 19 (1886), bằng chữ Hán. Vì chưa dám chắc về những quan sát của mình, trước khi xuất bản, tháng 6/1883 Toshitora đã đưa bản thảo 2 cuốn sách này cho một học giả Việt Nam lúc ấy là Nguyễn Thuật để nhờ hiệu đính và sửa chữa. Cuốn “giao binh kỷ lược” gồm 5 quyển, tổng hợp thông tin về tình hình chính trị Pháp-Việt trong đó có dành một số trang của chương đầu tiên giới thiệu về tính cách, phong tục, con người Việt Nam. Sách này đã được ông Phan Khôi trích dịch và đăng trên tạp chí Sông Hương, Huế, năm 1937, gần đây nhiều trang tin có đăng lại. Dưới đây xin trích một vài đoạn mà Toshitora ghi chép và nhận xét về người Việt Nam để chúng ta có cơ sở hình dung xem người An nam cách đây hơn một trăm năm qua góc nhìn một người nước ngoài như thế nào.

Thể chất

Người An Nam “thân thể gầy còm, tinh thần bạc nhược, tuy có khi sấn sướt làm mình ra mạnh mà rồi cũng trở nên biếng nhác tức thì. Có lẽ tại họ không có lòng kiên nhẫn. Bởi vậy, những việc khó nhọc lắm và phải làm lâu lai thì họ ắt không kham”.

“Người An Nam đa phần nhỏ thó, cái mặt tẹt, cái tai phẳng, cái mũi thấp, con ngươi đen, hơi giống người Tàu. Da hơi đen, có lẽ là bởi những người đó làm ruộng và dang nắng. Chứ còn như những người sang và các cô gái trẻ thì da cũng có trắng. Tuy vậy, đại để An Nam không có người đẹp. Người nào da trắng thì trắng như sáp, còn đen thì như đồng đen. Cũng có người da hơi vàng, giống người Mông Cổ. Con trai con gái hồi còn trẻ tuy cũng có vẻ đậm đà dễ coi, nhưng sau khi có vợ có chồng rồi thì tuồng mặt đổi hẳn, không còn được như trước nữa. Cũng có nhiều kẻ tốt tóc, nhưng ngoài hai mươi tuổi thì tóc đã trở nên xác xơ, không láng ngời nữa. Họ thường búi tóc. Kẻ nào ưa làm dáng thì hay búi bằng chang, con trai con gái đều như vậy.

Phục sức

“Về y phục, đồ mặc thường của họ quá chật. Nhưng, đàn ông mặc như thế thì được tiện và nhanh nhẹn. Đàn bà, áo dài hơn đàn ông, may bịt bùng hết, không có chỗ hở da. Đó là vì ngừa thói dâm của phụ nữ mà khiến họ có sự bất tiện. Lễ phục thì hai tay áo dài và rộng”.

“Đàn ông, đầu đội khăn; đàn bà dùng cái nón lớn để che nắng che mưa. Dân thường thì dùng một miếng vải nhỏ che trên đầu; khi đi ra đồng, đội nón lá; còn miếng vải nhỏ, vắt trên vai để thay khăn tay. Đó là điều không giống với nước nào hết.”

“Đàn ông đàn bà đi ra ngoài đều đi chân không. Duy có ông già cùng người đàn bà khá giả thì có mang giày, mà giày thì ngắn, khi mang vào, thường để hai gót ra ngoài, cho nên dáng đi cũng xấu xí. Từ ngày có người Pháp đến ở trong nước, người An Nam nào có thông hôn với người Pháp thì có đi giày đen và tất trắng”.

Tính cách

“Người An Nam không thiếu người có tài có trí. Họ có tánh giỏi nhớ, tuy chưa thể vào sâu trong mọi sự, chứ được cái học mau biết. Người Pháp đến An Nam mới mười năm nay mà người An Nam học tiếng Pháp cũng đã đủ dùng, nói chuyện thường không đến nỗi ngập ngợ; vả lại viết bằng chữ Pháp cũng được nữa.

Họ không phải là không dũng khí. Nếu cai trị có phương pháp, lấy pháp luật mà chỉnh tề, lấy đạo nghĩa mà cố kết thì sự dũng cảm của người An Nam được việc lắm, sẽ không có người nước nào ở Đông phương này bằng họ được. Nay vì sự cai trị lỗi phương, trên dưới không noi đường chính, cho nên lòng người tàn bạo và khinh bạc thật hết chỗ nói. Coi như giữa chỗ pháp trường, người An Nam đến coi tuy thấy sự thảm khốc trước mắt mà họ vẫn đứng hút thuốc tự nhiên, không hề có vẻ thương xót. Như thế là vô tình quá lắm, chứ có phải dũng gì đâu!

Người An Nam ưa giữ theo tục cũ những mấy trăm năm về trước. Sự ấy đã thành ra thói quen, không sao chữa được. Nhưng có một điều đáng quý là biết kính người trên và giữ pháp luật. Từ khi có giao thiệp với người Pháp, họ dần dần bỏ mất cái tính vâng lời ngoan ngoãn ấy đi mà lại cho mình như thế là khai minh tiến bộ thì thật đáng tiếc. Tuy vậy, những người Pháp ở An Nam lại còn ngang ngạnh quá người bản xứ nữa, người An Nam có thế nào cũng còn là hơn họ. Đối với người Pháp, người An Nam tuy có vâng lời cũng chỉ bề ngoài thôi, chứ thật ra thì ai nấy đều “dạ trước mặt, trỏ cặc sau lưng” vậy”.

“Người bản xứ hay đổi nghề. Có thể bảo họ là “vô hằng tâm”. Người nào thấy một việc gì trúng ý mình thì nôn nả làm liền, lúc đầu dù có nhọc nhằn mấy cũng ráng chịu. Đến vài tháng hoặc vài năm, đã thấy lộ vẻ biếng trễ rồi, rốt cuộc công việc phải bỏ dở. Khi bỏ rồi, thấy không có nghề làm, lại muốn trở lại nghề cũ. Cái thói ấy, người Pháp muốn trừ đi cho họ, nhưng vì mới đến ở, chưa có thể được.

Phụ nữ An Nam có tài gánh gồng buôn bán ở các nơi phố chợ. Còn chồng họ thì ở nhà uống rượu nói chuyện với bạn bè hàng xóm, ngồi không mà hưởng của vợ làm ra. Cái thói ấy cho đến ngày nay thỉnh thoảng vẫn còn. Trẻ con mất dạy. Chúng nó cũng có học, nhưng chỉ học qua loa những sách dễ dễ của người Tàu. Người lớn không biết cách chỉ bảo trẻ con. Chúng có lỗi cũng không hay răn phạt. Bởi vậy trẻ con đều hung tánh, đến lúc lớn cha mẹ đối với chúng cũng chịu phép.

Người An Nam không có ý nỗ lực tấn tới, mà lại còn không biết biện biệt sự lợi hay hại, nên hay hư. Việc buôn bán trong nước, họ đều phó cho người Tàu, không ngó ngàng đến. Người Tàu ở đó hay rủ nhau hùn vốn lập công ty để buôn. Buôn có lời, họ lại chia ra và lập thêm công ty khác. Còn người bản xứ thì sẵn tánh khinh bạc, hay nghi ngờ nhau, chống báng nhau, không lập công ty được; cho nên mối lợi trong nước đành phải để cho người Tàu tóm thâu. Người trong nước ưa lấy sự trá ngụy để lừa dối nhau, không ai tin ai được cả. Rất đỗi bà con quen thuộc cũng không có thể tin cậy nhau được. Đây thử cử ra một sổ vay nợ để làm chứng: Người cho vay đặt ra quy điều để ngừa giữ rất nghiêm nhặt, nhưng thường không khỏi bị gạt. Vì họ cho vay ăn lời nặng quá, có khi số lời gấp đôi số vốn, thì dễ gì mà trả được? Té ra sự gạt nợ cũng tại chủ cho vay tự mình chuốc lấy”.

ST

Cặp đôi trong hình là vợ chồng bác sĩ Uğur Şahin và Özlem Türeci

Cặp đôi trong hình là vợ chồng bác sĩ Uğur Şahin và Özlem Türeci, những người chịu trách nhiệm cốt lõi trong việc phát triển vaccine Covid-19 thử nghiệm, hiệu quả 90% mà chúng ta mới biết hôm qua. Ông bà là các nhà khoa học gốc Thổ Nhĩ Kỳ nay sinh sống ở Đức. Ông 55 còn bà 53 tuổi.

Şahin sinh ra ở Thổ Nhĩ Kỳ được lớn lên ở Đức, nơi cha mẹ ông là công nhân nhà máy Ford. Şahin tiếp tục được đào tạo như một bác sĩ, trước khi trở thành một giáo sư và nhà nghiên cứu chuyên về liệu pháp miễn dịch tại đại học Mainz. Khi làm việc tại các bệnh viện ở Cologne và Hamburg, ông đã gặp nhà miễn dịch học Özlem Türeci, con gái của một bác sĩ người Thổ Nhĩ Kỳ di cư đến Đức.

Cặp đôi gắn bó với nhau vì đam mê nghiên cứu y học và ung thư – họ mê tới nỗi vào ngày cưới vẫn ở phòng thí nghiệm. Sau đó họ làm ra thuốc trị ung thư mang tên Ganynmed. Và bán nó cho công ty dược phẩm đa quốc gia Nhật Bản Astellas vào năm 2016, với giá 1,4 tỷ usd. Năm 2008, họ lập ra N Biotech để tìm các giải pháp chữa trị ung thư, và có mở rộng ra cho 1 số loại bệnh khác. Quỹ của ông bà tỷ phú Bill Gates đã tài trợ 55 tr usd cho họ.

Vào tháng Giêng, Giáo sư Sahin đã xem một bài báo khoa học về một đợt bùng phát coronavirus mới ở thành phố Vũ Hán, Trung Quốc. Nó khiến ông ngạc nhiên về và tìm hiểu việc làm sao để chuyển từ từ thuốc mRNA chống ung thư sang vaccine chống covid dựa trên mRNA.

BioNTech nhanh chóng phân công khoảng 500 nhân viên để làm việc trên một số hợp chất có thể, và họ đã tìm được đối tác là công ty dược phẩm khổng lồ Pfizer của Mỹ và sự hỗ trợ từ nhà sản xuất dược phẩm Trung Quốc Fosun vào tháng Ba.

Họ đã làm việc cật lực để có thể có kết quả tốt đẹp như loại vaccine đầu tiên đem lại hy vọng cho nhân loại. Ông bà hiện nay là tỷ phú, trong danh sách 100 người giàu nhất nước Đức. Công ty của họ vừa tăng trị giá lên 21 tỷ usd sau sự kiện thành công ban đầu của vaccine. Nhưng ai tiếp xúc với họ cũng luôn kính trọng và yêu quý ông bà vì tính tình khiêm nhường, giản dị và dễ thương.

Ông bà chính là gương thành công của những người nhập cư Thổ Nhĩ Kỳ vào Đức. Và nhân loại mãi mãi biết ơn họ như những lương y từ mẫu, những người đã xuất hiện vào thời điểm khó khăn nhất của loài người, đem lại hy vọng chữa lành bệnh tật và góp phần chặn đứng nạn dịch thế kỷ.

Fb Nguyễn Thị Bích Hậu

Image may contain: 2 people, people standing

Nụ hôn  Luật-sư

Nụ hôn  Luật-sư

Vự án có thật như sau:  

Một thanh niên nông dân đi làm đồng về, thấy anh Đại đội  trưởng đóng tại nhà, đang ôm ấp vợ mình. Sẵn cái cuốc trên tay, anh ta phang một cái, Đại đội trưởng chết ngay.

Phiên  tòa mở ra với ý định xử thật nghiêm khắc  tội giết người và làm mờ nhạt các tình tiết khác để giữ uy tín cho bộ đội.

Chủ tọa vai chánh án là Luật sư Lê Văn Chất. Luật sư Nguyễn Mạnh Tường được chỉ định bào chữa cho tội phạm . Ông chỉ có ít phút gặp thân chủ của mình.

Diễn biến phiên tòa đúng như  định liệu   :

Anh nông dân chịu án tử hình và được phép nói lời cuối cùng. Anh nhìn Chánh tòa, nhìn Luật sư, ngập

ngừng nói: “Xin phép được ôm hôn bà Chánh tòa một lần trước khi chết”.

Bị bất ngờ, Chánh tòa không kịp trấn tĩnh, đập bàn quát mắng anh nông dân rằng tội lỗi đến thế mà còn dám hỗn láo, nói liều.

LS Nguyễn Mạnh Tường nói: “Thưa ông Chánh tòa, ông là người có học thức,  suy nghĩ chín chắn, mà trước một câu nói không đâu của người sắp chết  còn nổi giận ghê gớm như thế.  Phương chi, anh nông dân nghèo ít học  kia, trông thấy người đàn ông khác trong buồng vợ mình thì sự giận dữ đến mức hành động thiếu suy nghĩ là điều có  hể hiểu được”.

Kết  quả cuối cùng, anh nông dân được giảm án, thật ra  là tha bổng vì hồi ấy tỉnh Thái Bình đâu có trại giam. Luật sư Lê Văn Chất, có người vợ  trẻ, đẹp và ông này rất ghen. Biết thóp này Ls Tường chỉ dùng một mẹo   nhỏ nhưng bị cáo đã được cứu mạng.

Dân  gian gọi vụ án đó là vụ “nụ hôn Nguyễn Mạnh Tường”.

Hôm nay Ngày Luật sư Việt Nam, ôn lại chuyện này để chúc mừng các Luật sư, mong các Luật sư có thêm nhiều “nụ hôn” như thế nữa để bảo vệ công lý, mang lại bình yên cho cuộc sống bộn bề hôm nay.

Nguyễn văn Đài

  PS .  Xin nói thêm về luật Sư NGUYỄN MẠNH TƯỜNG , người đã lấy được 2 bằng Thạc sĩ Pháp trong  khi còn rất trẻ  , đến độ báo chí Pháp thời đó phải ca ngợi :

             ” trong 30 năm nay, người bản xứ (Pháp) chưa có ai giỏi được như vậy ! “

               Với lòng yêu nước cao độ , ông về VN  làm việc và được ông Hồ chi Minh mời tham gia chính quyền với chức vụ “cố vấn ” , bằng câu nói khẩn khoản , như sau :

                ” Xin ngài giúp cho … “.

                Nhưng sau khi ông TƯỜNG với lòng khảng khái ngay thẳng phê bình và đề nghị sửa sai vài khuyết điểm trong chính quyền, thì ông bị hạ bệ, không còn chức tước gì nữa .

              Lúc đó ông Tường không buồn và nghĩ rằng :” thì mình hành nghề tư chức  , có sao đâu “

                Nhưng chuyện đời không giản dị như vậy!

                   Ông bị cô lập hoàn toàn . Mở phòng luật ư? Không một thân chủ . Bà vợ , thật giỏi  muốn  dạy học , không  trường nào nhận! . Cô con gái , thật giỏi và lanh lợi đi xin việc làm,  không có ai nhận!  Lý do : Mọi người, mọi cơ sở đã được ” rỉ tai ” thầm  là: không ai được giúp  người Thạc sĩ giỏi nhất nước Pháp, đó ! Hắn phải chết, mà chết nhục cơ, chết đói! 

               Về sau, bạn bè thấy bất nhẫn và thảm thương quá, liều mình ngầm giúp đỡ gia đình ông .

                    Ông TƯỜNG có viết sách để đời sau biết chuyện này . Ông chết ở Pháp, năm 85 tuổi . 

From: TU-PHUNG