HÌNH ẢNH CUỘC BIỂU TÌNH ĐẪM MÁU Ở TRUNG TÂM CÔNG NGHIỆP MYANMA.

HÌNH ẢNH CUỘC BIỂU TÌNH ĐẪM MÁU Ở TRUNG TÂM CÔNG NGHIỆP MYANMA.

Ít nhất 22 người thiệt mạng trong cuộc đụng độ với lực lượng an ninh ở Hlaing Tharya, trung tâm công nghiệp tại Yangon hôm 14/3.

Lực lượng an ninh đối phó với cuộc biểu tình ở thị trấn Hlaing Tharya, Yangon hôm 14/3. Xung đột dữ dội đã xảy ra giữa cảnh sát, binh lính và người biểu tình ở thị trấn nghèo khó, là trung tâm công nghiệp với nhiều nhà máy may mặc này.

Theo đài truyền hình Myawaddy do quân đội điều hành, lực lượng an ninh nổ súng sau khi 4 nhà máy may mặc và một nhà máy phân bón bốc cháy. Khoảng 2.000 người đã ngăn xe chữa cháy tiếp cận các nhà máy.

“Thật kinh khủng. Mọi người bị bắn ngay trước mắt tôi. Tôi sẽ không bao giờ quên được hình ảnh đó”, một phóng viên ảnh tại hiện trường cho biết.

Xem chú thích nơi từng tấm hình….

*******

+7

 Công Tố Viên Liên bang sẽ khởi tố thêm ít nhất 100 nghi can tham gia bạo loạn tại Điện Capitol

Gạc Ma: Trung Quốc xâm lược và thảm sát không phải chỉ là một ngày 14/3/1988 (RFA)

Gạc Ma: Trung Quốc xâm lược và thảm sát không phải chỉ là một ngày 14/3/1988
RFA.ORG

Gạc Ma: Trung Quốc xâm lược và thảm sát không phải chỉ là một ngày 14/3/1988

Việt Nam mất Gạc Ma vào tay Trung Quốc đến nay đã 33 năm, nhưng vẫn còn những điều chưa được làm sáng tỏ. Việt Nam cần làm gì để bảo vệ chủ quyền biển đảo khi Trung Quốc ngày càng hung hăng và đe dọa chiến tranh?

Diễm Thi phỏng vấn nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc, tác giả của nhiều nghiên cứu về chủ quyền biển, đảo Việt Nam về những vấn đề liên quan.

Diễm Thi: Thưa ông Đinh Kim Phúc, xin ông cho biết từ khi nào Trung Quốc có âm mưu đánh chiếm quần đảo Trường Sa?

Đinh Kim Phúc: Âm mưu đánh chiếm quần đảo Trường Sa của Việt Nam đã được Trung Quốc lên kế hoạch từ sau ngày 19 tháng Một năm 1974 (ngày Trung Quốc cưỡng chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa).

Trước tình hình đó, trong tháng Tư năm 1975, Hải quân Nhân dân Việt Nam đã mở chiến dịch Trường Sa và đánh chiếm, thu hồi năm đảo từ tay quân đội Sài Gòn gồm Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa Lớn. Việc Hải quân Nhân dân Việt Nam thu hồi và đóng giữ tại 5 đảo quan trọng này đã bước đầu ngăn chặn âm mưu thôn tính quần đảo Trường Sa của Trung Quốc.

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, Trung Quốc đã vạch một chiến lược khác để thôn tính Trường Sa và xâm lấn chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông. Thay vì chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” như đã làm ở Hoàng Sa năm 1974, Trung Quốc thực hiện chiến lược “vết dầu loang” và Việt Nam trở thành đối tượng tác chiến chủ yếu của quân đội Trung Quốc.

Diễm Thi: Theo ông, sự kiện Gạc Ma có thể gọi là trận hải chiến hay đó là cuộc thảm sát của phía hải quân Trung Quốc?

Đinh Kim Phúc: Chiến dịch CQ-88 (tên đầy đủ là Chiến dịch Chủ quyền 1988) là một chuỗi các hoạt động quân sự trên biển Đông do Hải quân Nhân dân Việt Nam tiến hành từ năm 1978 đến năm 1988 nhằm thiết lập quyền kiểm soát đối với các thực thể địa lý tại quần đảo Trường Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Chiến dịch được tiến hành trong hoàn cảnh có 6 quốc gia và vùng lãnh thổ (Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei) cùng tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và có các hành động chiếm đóng quân sự đối với một số thực thể địa lý tại quần đảo này.

Cuối tháng 12 năm 1986, Trung Quốc cho máy bay và tàu thuyền có cả tàu chiến hoạt động trinh sát, thăm dò từ khu vực đảo Song Tử Tây đến khu vực đảo Thuyền Chài. Trong khi đó, Philippines đẩy mạnh việc vận chuyển xây dựng công trình trên các đảo của họ đóng giữ (Song Tử Đông, Panatag). Cùng lúc đó ở phía nam Trường Sa, Malaysia bí mật đưa lực lượng ra chiếm đóng bãi đá Kỳ Vân, và tháng Một năm 1987, Malaysia chiếm đóng bãi đá Kiều Ngựa, làm cho tình hình thêm căng thẳng.

Trong khi đó, Hải quân Nhân dân Việt Nam vào cuối những năm 1970 và những năm 1980 còn mỏng và yếu (trong tháng Tư năm 1975, nếu như phần lớn các chiến đấu cơ của VNCH bay sang đất Thái, thì phần lớn các chiến hạm quan trọng của VNCH đã bỏ chạy sang Subic Bay của Philippines) nhưng với “Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa – một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta”, Hải quân nhân dân Việt Nam đã bảo vệ chủ quyền với tất cả những gì đang có và bằng máu của người lính biển.

Hình minh hoạ. Biểu tình phản đối Trung Quốc ở Hà Nội hôm 9/12/2012. AFP

Trận đánh giữ Gạc Ma là đỉnh điểm trong Chiến dịch CQ-88. Trong trận đánh này, Việt Nam bị thiệt hại ba tàu bị bắn cháy và chìm, ba người tử trận, 11 người khác bị thương, 70 người bị mất tích. Sau này Trung Quốc đã trao trả cho phía Việt Nam chín người bị bắt, 61 người vẫn mất tích và được xem là đã tử trận.

Việt Nam bị chiếm đảo Gạc Ma nhưng vẫn bảo vệ được chủ quyền tại các đảo Cô Lin và Len Đao cho đến nay.

Trong trận chiến ngày 14 tháng Ba, phía Trung Quốc thống kê họ đã bắn tổng cộng 285 viên đạn pháo 100 mm và 266 viên đạn pháo 37 mm, chưa kể các cỡ đạn nhỏ. Việc Trung Quốc dùng trọng pháo và súng phòng không tiêu diệt 64 chiến sĩ Công binh và Hải quân quân Việt Nam tay không đang giữ đảo là một cuộc thảm sát.

Cho đến hôm nay, 56 xương cốt của các cán bộ chiến sĩ Việt Nam vẫn nằm lại Gạc Ma, đã cho thấy bản lĩnh của các nhà lãnh đạo Việt Nam trong tình hữu nghị với Trung Quốc hiện nay.

Diễm Thi: Lệnh “Không được nổ súng” hay “không được nổ súng trước” được hiểu như thế nào, thưa ông?

Đinh Kim Phúc: Đã có nhiều tranh luận về tin đồn việc Bộ trưởng Quốc phòng lúc bấy giờ ra lệnh “không được nổ súng”?

Từng là người lính, nhưng tôi không tham gia trận đánh Gạc Ma. Với tư cách là người học lịch sử, dạy-học và nghiên cứu lịch sử, tôi chỉ nói rằng: nhìn toàn cục chiến dịch CQ-88 với những hy sinh, mất mát của những người trong cuộc, để ngày nay, Việt Nam mở rộng khu vực kiểm soát của mình lên 21 thực thể địa lý với 33 điểm đóng quân, kiểm soát một vùng nước rộng gần 100.000 km2 trên Biển Đông. Và cũng kể từ năm 1988 đến nay, Việt Nam không mất thêm một thực thể nào trên biển.

“Mệnh lệnh chiến đấu”? Hãy để các thế hệ lãnh đạo chiến dịch CQ-88 và những người trong cuộc lên tiếng. Xin đừng đứng trên bờ và ngồi trong phòng máy lạnh mà làm suy yếu niềm tin của nhân dân với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước.

Người dân tham dự buổi tưởng niệm 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam bị thảm sát hôm 14/3/1988. Ảnh chụp hôm 14/3/2013 tại Hà Nội. AFP

Diễm Thi: Sự kiện Gạc Ma phải chăng thúc đẩy tiến trình trở lại quan hệ bình thường với Trung Quốc bằng mật ước Thành Đô năm 1990?

Đinh Kim Phúc: Nếu nói chỉ một sự kiện Gạc Ma vào năm 1988 để dẫn đến tiến trình trở lại quan hệ bình thường với Trung Quốc là không đầy đủ.

Tại Đại hội lần thứ sáu của Đảng cộng sản Việt Nam, một trong những phương hướng chính về đối ngoại được thông qua đó là “sẵn sàng đàm phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, bình thường hóa quan hệ giữa hai nước”.

Cũng cần nhắc lại là tại hội nghị không chính thức giữa Trung Quốc và Việt Nam tại Thành Đô trong hai ngày ba và bốn tháng Chín năm 1990, có chín nguyên tắc được thông qua, trong đó bảy nguyên tắc về mặt quốc tế của vấn đề Campuchia và hai nguyên tắc về bình thường hóa quan hệ Việt Nam Trung Quốc.

Diễm Thi: Ông nhận định thực chất quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay ra sao, thưa ông?

Đinh Kim Phúc: Kể từ khi tuyên bố thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa vào năm 2007, 14 năm qua Trung Quốc tăng cường quấy phá, uy hiếp an ninh khu vực Biển Đông.

Trung Quốc trong các năm gần đây liên tục điều các tàu chấp pháp, dân quân biển vào các vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng bao gồm Việt Nam, quấy nhiễu hoạt động khai thác dầu khí của các quốc gia này.

Trong 14 năm qua, theo tôi, Trung Quốc có hai hành động tại Biển Đông được coi là đe dọa trực tiếp đến an ninh của Việt Nam. Thứ nhất là việc Trung Quốc kéo giàn khoan HD 981 và thềm lục địa của Việt Nam. Trong sự việc này cần phải ghi nhớ rằng Trung Quốc đã 30 lần từ chối tiếp xúc với Việt Nam. Thứ hai, tờ Hoàn Cầu Thời Báo của Trung Quốc hôm ba tháng Ba cho hay, cuộc tập trận ở vùng biển cách xa Hoa lục nhưng không cho biết rõ địa điểm, tuy nhiên tờ South China Morning Post của Hồng Kông ngày bốn tháng Ba lại cho hay, địa điểm diễn ra cuộc tập trận là đảo Tri Tôn, thuộc quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1974.

Tại sao nói chuyện Trung Quốc tập trận đổ bộ chiếm đảo tại đảo Tri tôn đầu tháng Ba năm 2021 nghiêm trọng nhiều lần hơn vụ giàn khoan HD 981 năm 2014.

Vụ HD 981 năm 2014 là Trung Quốc tìm cách “khẳng định chủ quyền lãnh thổ và hải phận quốc gia” tại khu vực đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã thất bại vì bị Việt Nam một mặt phản đối trên mặt trận ngoại giao, mặt khác đưa tàu cảnh sát biển ra ngăn cản. Biến cố này cho dư luận thế giới thấy rằng quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ “có tranh chấp” chớ không phải thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Cuộc tập trận đổ bộ ở đảo Tri tôn của quân đội Trung Quốc nhằm mục đích răn đe Việt Nam (và các quốc gia có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Trung Quốc như Đài Loan, Nhật Bản, Philippines, Malaysia). Như vậy ngoài Việt Nam, các quốc gia có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc có thể “có xung đột quân sự” với Trung Quốc từ nay đến cuối năm 2021.

Năm 2021 là năm kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng CS Trung Quốc. Năm 2022 cũng là năm Tập Cận Bình hết nhiệm kỳ Chủ tịch nước thứ hai (hai nhiệm kỳ 10 năm). Tập Cận Bình cần một dấu ấn về kinh tế hoặc quân sự để khẳng định mình, hòng tìm thêm một vài nhiệm kỳ nữa.

Diễm Thi: Với tất cả những gì Trung Quốc đã làm và đang làm với Việt Nam về Biển Đông, ông nghĩ Việt Nam nên có giải pháp gì để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ?

Đinh Kim Phúc: Trước khi bàn đến giải pháp cho vấn đề Biển Đông và chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, điều đầu tiên theo tôi, Nhà nước cần phải khẳng định và ra một nghị quyết thành lập Huyện đảo Hoàng Sa. Phải có dân, phải có chính quyền và phải có lãnh thổ vì Trung Quốc đã có cái gọi là thành phố Tam Sa. Đó là yêu cầu đầu tiên mà chúng ta phải làm cho bằng được.

Vấn đề thứ hai là vấn đề chiến lược ngoại giao của Việt Nam nói chung và Biển Đông nói riêng là vấn đề tuyệt mật của Đảng và Nhà nước. Vậy giới nghiên cứu trong nước và các học giả trên thế giới dựa trên các dữ kiện nào để đánh giá, phân tích và góp ý?

Vấn đề thứ ba là quan điểm chính thức của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay đối với Công hàm Phạm Văn Đồng như thế nào? Thừa nhận hay phủ nhận? Những giải thích trên mặt trận truyền thông là “ta nói để ta nghe” hay nói để “Tòa án Công lý quốc tế” nghe?

Vấn đề thứ tư, trong lịch sử bang giao giữa VNDCCH và Trung Quốc từ năm 1949 đến 1975, ngoài Công hàm Phạm Văn Đồng còn có thỏa thuận nào khác không?

Tại hội nghị không chính thức ở Thành Đô vào tháng Chín năm 1990, ngoài chín nguyên tắc thỏa thuận để giải quyết vấn đề Campuchia và bình thường hóa quan hệ Trung-Việt, còn có thỏa thuận nào khác không để giải quyết vấn đề Hoàng Sa và vấn đề Trường Sa?

Nếu không có câu trả lời cho bốn vấn đề trên thì Việt Nam chỉ còn cách căng mình ra đối phó với Trung Quốc mà không chỉ ngày một ngày hai. Và vấn đề kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế sẽ không bao giờ xảy ra.

Diễm Thi: Cảm ơn ông đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn này.  

BỨC THƯ CON GÁI ÔNG BÙI VIẾT HIỂU GỬI BỐ.

  May be an image of 1 person and text that says '"Đời người chỉ có một lần chết, hãy để cho bố chết vì dân vì làng. Chết vinh còn hơn sống nhục" lời ông Bùi Viết Hiểu nói với con gái ông'

Ông Bùi Viết Hiểu 76 tuổi, bị y án16 năm tù giam trong vụ án cướp đất Đồng Tâm. Nếu còn sống đến ngày mãn hạn tù, ông sẽ 92 tuổi. Tòa đã lờ đi tất cả chứng cứ thuyết phục của các luật sư, chứng minh toàn thể dân Đồng Tâm vô tội nhưng tòa vẫn xử án nặng nề.

 ***

BỨC THƯ CON GÁI ÔNG BÙI VIẾT HIỂU GỬI BỐ.

Bố kính yêu của con. Nếu có kiếp sau con vẫn muốn được làm con của bố. Bố là người đàn ông tuyệt vời nhất trong đời này mà con từng gặp. Con biết giờ đây bố đang phải gánh chịu những nỗi đau về thể xác lẫn tinh thần. Bố là một người lính thương binh kiên cường không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù gian ác. Trừ khi họ dùng mưu hèn kế bẩn, bộ não bị điều khiển không làm chủ được bản thân sẽ biến mình thành một người khác, nói ra những lời không đúng với lương tâm mà bố đang nghĩ , đang làm và đang phải chịu đựng.

Con tin ở bố. Dân Đồng Tâm tin bố , dân oan cả nước tin bố. Một cán bộ về hưu nghèo xác xơ. Một đảng viên từ bỏ lối sống của đảng. Một anh thương binh cống hiến cả tuổi xuân để đổi lại bình yên cho đất nước.

Vậy mà lại bị chính quyền nhà nước tiêu diệt, vì bất đồng chính kiến, giúp dân đòi lại đất đai mà chính quyền đã cướp. Xã hội này tàn ác lắm. Họ sẽ tiêu diệt hết những người tài giỏi. Và bố cũng không phải ngoại lệ của họ.

Bố đã từng nói đời người chỉ có một lần chết , hãy để cho bố chết vì dân vì làng. Chết vinh còn hơn sống nhục. Các con đừng ngăn cản bố. Con đường bố chọn bố sẽ chịu chách nhiệm vì nó. Nên mọi người đừng lo cho bố.

Lời nói ấy văng vẳng bên tai con. Và rồi cái gì đến sẽ đến. Dù sau này bản án có như thế nào chúng con cũng vẫn ngẩng cao đầu và tự hào về bố. Bố mãi mãi là người hùng trong lòng chúng con. Chúng con yêu bố nhiều lắm. Trọn kiếp này chúng con vẫn làm con của bố.

Con gái ông Bùi Viết Hiểu

Nguồn: FB Nhung Cao

Hình: Internet

 

CÂY KIM MAY

 MỚI ĐÂY, XE VINFAST CỦA ÔNG PHẠM NHẬT VƯỢNG BỊ HÀNG LOẠT TRỤC TRẶC KỸ THUẬT, GÃY SƯỜN, HỎNG MÁY… TÔI XIN ĐĂNG LẠI BÀI VIẾT VỀ CÂY KIM MAY ĐỂ THẤY RẰNG VIỆC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI SẼ RẤT GIAN KHỔ. VÀ VIỆT NAM CHÚNG TA THẬM CHÍ LÀ CHƯA ĐỨNG Ở VẠCH XUẤT PHÁT VÀ CÒN LỚ NGỚ, CHƯA BIẾT XUẤT PHÁT NHƯ THẾ NÀO, NÓI CHI TỚI CHUYỆN PHÁT TRIỂN.

NHÀ NƯỚC TA “NGÂY THƠ” MỘT CÁCH ĐÁNG SỢ. VÀ RẤT DỄ BỊ LỪA.

***

CÂY KIM MAY

Tác giả: Đào Hiếu

Vào khoảng năm 1978, 1979 gì đó, khi còn làm phóng viên báo Tuổi Trẻ, tôi được (hay bị) đưa đi “vô sản hoá” tại nhà máy Sinco ở Sàigòn.

Nhà máy này vốn của chế độ cũ để lại, chuyên sản xuất máy may lấy hiệu là Sinco. Khi các “tồng chí” tiếp quản được ít lâu thì hết mẹ nó phụ tùng nên đếch hoạt động được.

Lúc tôi đến xin làm công nhân ở đó (có lẽ người ta định sau này “cơ cấu” tôi làm Tổng Bí thư nên cho tôi bắt chước đồng chí Nguyễn Văn Cừ đi vô sản hoá ở các mỏ than Hòn Gay năm nào!) thì thấy Giám đốc cùng mấy anh kỹ sư, thợ tiện, thợ phay, thợ nguội… đang ngồi bàn cách phục hồi hoạt động của nhà máy, để chế tạo cho được một cái máy may mang thương hiệu Việt Nam chính cống.

Các linh kiện của một chiếc máy may bàn đạp khá đơn giản nên không bàn tới. Mọi người đều tập trung nghiên cứu làm cái ổ thuyền, vì đó là bộ phận khó làm nhất.

Muốn làm cái ổ thuyền phải qua rất nhiều công đoạn: thiết kế bản vẽ, chọn nguyên liệu. Sau đó là thi công: những thợ phay, thợ tiện, thợ mài… giỏi nhất làm đi làm lại nhiều lần, rồi tới thợ nguội đo đạc chính xác từng “zem”, rồi đánh bóng, kiểm tra… rồi cho chạy thử.

Sau nhiều lần trục trặc, chiếc máy may nhãn hiệu Sinco do Việt Nam sản xuất cũng ra đời. Tuy nhiên hôm họp báo công bố sản phẩm, giám đốc nhà máy đã làm tôi ngạc nhiên khi nói:

“Thưa các đồng chí, chúng tôi có thể tự hào tuyên bố rằng chúng ta đã sản xuất được một chiếc máy may hoàn chỉnh, trừ… cây kim!”

Bỏ mẹ! Tôi nghĩ thầm, cái ổ thuyền khó như vậy mà còn làm được, sao cây kim lai chịu thua?!

Kể từ đó đến nay, cái sản phẩm đầy tâm huyết, đầy tim óc của tập thể giám đốc, kỹ sư, công nhân nhà máy Sinco, cái “niềm thự hào thương hiệu Việt Nam” kia biến mất tăm và nhà máy Sinco chắc cũng đã bị phù phép thành cái quỷ quái gì rồi.

Bốn mươi năm sau, tôi gặp một cô bé công nhân trên xe buýt, nó nói:

-Con làm trong một nhà máy của Nhật tại khu chế xuất Tân Thuận.

-Chế cái gì?

-Cái kim may

*

Thưa quý vị,

Như vậy là cho đến năm 2018 này. Sau 40 năm, Việt Nam chúng ta cũng chưa chế tạo được cái kim may. Và cái máy may Sinco (không có kim) mà Việt Nam chế tạo được chắc cũng đang nằm trong viện bảo tàng!

Không phải nòi giống ta đần độn. Không phải dân tộc ta lười biếng…

Vậy thì vì cái gì?

Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế từng nói:

“Thế giới gồm nước phát triển, nước đang phát triển, nước chậm phát triển nhưng Việt Nam có lẽ là mô hình đặc biệt nhất. Đó là nước… không chịu phát triển! Đầu tư nhiều đến thế, ODA nhiều đến thế (20 năm qua lượng ODA đổ vào Việt Nam lên tới gần 90 tỉ USD) nhưng đến bây giờ vẫn không phát triển được thì chỉ có thể là… không chịu phát triển!”

Sao vậy?

Vì thực ra “các quan” không có khả năng lãnh đạo đất nước. Và vì chẳng biết làm cái cóc khô gì cả nên họ đã chọn công việc dễ nhất và hiệu quả nhất là tham nhũng.

*

Bây giờ tới chuyện “sản xuất ô-tô hiện đại” xem ra cũng chỉ là lắp ráp theo dây chuyền công nghệ và linh kiện của nước ngoài.

Chuyện đó cũng chẳng mới mẻ gì vì Toyota. Huyndai, Fiat, Samsung, Sony… đã và đang làm.

Tôi ủng hộ anh bạn Mì Gói và cầu chúc anh thành công. Nhưng tôi muốn anh hiểu rằng đừng khoác lác. Đừng nổ. Vì nó rất kỳ!

Con đuòng còn dài lắm, chúng ta còn phải học hỏi nhiều, nhiều, nhiều, nhiều lắm.

Rất mong chúng ta đừng quên câu chuyên về nhà máy Sinco.

Họ đã cố gắng hết sức để làm cho được cái ổ thuyền vậy mà còn cái kim may cho đến giờ vẫn chưa làm được, thì cái ô-tô Vinfast của anh thực chất nó là con cái nhà ai?

ĐÀO HIẾU.

Nguyễn Thụy Đan, một khuôn mặt độc đáo của văn chương hải ngoại

Nguyễn Thụy Đan, một khuôn mặt độc đáo của văn chương hải ngoại

Mar 10, 2021 

Trần Doãn Nho/Người Việt

KENNEDALE, Texas (NV) – Thư Quán Bản Thảo số 91 có chủ đề “Đầu Xuân Lộc Mới,” mượn mùa Xuân “để giới thiệu một lộc quý hiếm trong sinh hoạt văn học ngoài nước: Việt Thạch Nguyễn Thụy Đan,” theo nhà văn Trần Hoài Thư, chủ nhiệm kiêm chủ bút của tạp chí này.

“Nho sinh” Nguyễn Thụy Đan – Daniel Nguyễn – bên những cuốn sách sưu tầm được từ những năm mới 17, 18 tuổi. (Hình: Daniel Nguyễn cung cấp)

“Lộc quý hiếm” Nguyễn Thụy Đan là ai?

Trả lời cho câu hỏi này, Thư Quán Bản Thảo dành phần đầu tiên trong ba phần, “Viết Về Nguyễn Thụy Đan,” qua đó, các tác giả Tô Thẩm Huy, Nguyễn Văn Sâm, Thiên Đồng, Trần Đông Đức, Nguyễn Thị Mai Quyên và Hạt Cát lần lượt dựng nên chân dung sống động của cây bút này qua nhiều dáng nét khác nhau.

Về tiểu sử, theo nhà biên khảo Tô Thẩm Huy, Nguyễn Thụy Đan chào đời ở Sacramento, tiểu bang California, năm 1994. Năm 13 tuổi anh theo cha mẹ về thăm Việt Nam, đi khắp ba miền Bắc Trung Nam. Đến Hà Nội mua được một quyển tự điển chữ Nôm và bắt đầu tự học, làm quen với cổ ngữ từ đấy.

Năm 16 tuổi, anh theo chân dòng Đức Bà Truyền Giáo về Việt Nam dạy tiếng Anh ở Củ Chi, đồng thời nhân dịp ấy học thêm chữ quốc ngữ. Khi trở về Mỹ, anh bắt đầu tìm hiểu về niêm luật thi ca, tìm đọc những tác phẩm cổ điển Trung Hoa như Hán Thư, Đường Thi, Tống Từ, Tứ Thư, Đạo Đức Kinh, vân vân.

Xong trung học, anh theo học đại học Houston về Âm Nhạc và Văn Chương Anh. Trong thời gian này, anh tiếp tục đọc các tác phẩm cổ như đồng thời sáng tác nhiều bài “từ” bằng chữ Hán, tất cả về sau gộp chung lại thành “Chướng Vân Tập.”

Sau khi tốt nghiệp đại học năm 2016, anh dọn về California, nghiên cứu thêm về Thần Học Công Giáo và Chính Thống Giáo. Ngoài ra cũng nghiên cứu chuyên sâu tư tưởng Tống Nho, và đặc biệt nghiên cứu về một danh nho Việt Nam dưới thời Tự Đức là Nguyễn Đức Đạt.

Năm 2018, anh được học bổng của Hội Bảo Tồn Di Sản Chữ Nôm về Hà Nội khoảng ba tháng, nghiên cứu thêm tại Viện Hán Nôm. Năm 2019 trở về Mỹ, nhân dịp Đại Học Columbia ở New York bắt đầu thành lập ngành Việt Nam Học, anh được nhận vào học chương trình tiến sĩ khoa Ngôn Ngữ và Văn Hóa Đông Á, đặc biệt nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của tư tưởng Việt Nam thời trung đại và cận đại.

Đánh giá về khả năng, nhà văn Nguyễn Văn Sâm nhận xét: “Đó là một khuôn mặt lạ của học giới, của người Mỹ gốc Việt trên nước Mỹ. Rồi em sẽ giải quyết được nhiều vấn đề còn tồn đọng trong văn chương Việt Nam và Trung Hoa. Chắc chắn như vậy.”

Một cây bút khác, Thiên Đồng, đi xa hơn, cho rằng: “Giữa thế giới non trẻ vô tư của thế hệ trẻ em được sinh ra và lớn lên trên đất Hoa Kỳ, đa số không còn nói được tiếng Việt thì bỗng xuất hiện đâu ra một cậu trẻ Nguyễn Thụy Đan với vốn liếng văn hóa Việt Nam thuộc tầng thông kim bác cổ như người xưa sống lại. Nguyễn Thụy Đan là hiện tượng kỳ lạ đến gần như chưa có tiền lệ trong cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ.”

Không những nghiên cứu và sáng tác, Nguyễn Thụy Đan còn mở lớp dạy chữ Hán trên mạng. Một trong những người theo học, cô Nguyễn Thị Mai Quyên viết: “Học cổ văn vốn không đơn giản, lại học qua mạng, nên càng khó khăn hơn. (…) Đáng nói hơn, họ, có người trước khi đến với lớp học mới biết võ vẽ qua đôi chữ. Có kẻ thì ngoài niềm yêu thích, hoàn toàn chưa có một kiến thức nào về chữ Hán cổ hay Hán Ngữ hiện đại chưa chưa nói đến cổ văn. Vậy mà trải qua 11 tuần học, bài hôm ấy (tức tuần thứ mười hai) chúng tôi đã cùng nhau trích đọc những đoạn văn của Hàn Phi Tử, Trang Tử…”

Phần thứ hai, “Viết Về Tác Phẩm Đầu Tay: Chướng Vân Tập” với sự góp mặt của Nguyễn Văn Sâm, Dương Nguyên Khang và Tô Thẩm Huy. “Chướng Vân Tập” là một tập gồm có 30 bài “từ” (1) do Nguyễn Thụy Đan sáng tác. Đó là “ba mươi tiếng than tuy khác điệu nhưng cùng tâm trạng, tựa như người buồn có thể thở dài, vuốt trán, nhăn mặt, miệng mếu, bứt tóc…,” theo Nguyễn Văn Sâm.

Còn theo Dương Nguyên Khang thì: “Nó là tiếng kêu của một nỗi sầu không cầm lại được, là tiếng trống mở màn của những dòng thơ hữu thanh, nhưng cũng là tiếng chuông chấm dứt của những nỗi buồn vô thanh chất chứa trong khuôn lòng chật hẹp.”

Phần thứ ba, dài nhất, “Thơ Văn Của Nguyễn Thụy Đan,” giới thiệu nhiều bài viết và trích đoạn từ các tác phẩm biên khảo, tiểu luận, dịch thuật và các sáng tác văn, thơ của Nguyễn Thụy Đan. Các bài viết này có cả chữ Hán, phiên âm Hán Việt và dịch nghĩa.

 Về tiểu luận, xin giới thiệu một trích đoạn tiêu biểu trong bài “Mạn Đàm Về Quốc Học,” qua đó, Nguyễn Thụy Đan bày tỏ thẳng thắn quan điểm của mình về việc học: “Những năm gần đây, khi biết tôi sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ, từ bé đến lớn lại sống xa cộng đồng kiều bào, không ít người lấy làm kinh ngạc mà thắc mắc về lai lịch và quá trình học vấn của tôi. Cả đời tôi chưa từng lên lớp học tiếng Việt hay Hán văn theo chương trình chính quy của trường ốc. Người khác nghe vậy lấy làm lạ, nhưng đối với tôi lại thấy hết sức bình thường và cũng không có bất kỳ lý do nào để mặc cảm hay tiếc nuối đã không có dịp học Hán Nôm theo cái gọi là ‘chính quy.’ Vì, theo tôi, cứ lấy Nho gia làm ví dụ, vốn trong Luận Ngữ 論語 đã có xu hướng phản chính quy, tự tìm con đường cho riêng mình. (…) Kẻ học Nho chân chính, chẳng trông mong gì nơi nhà nước, nơi hệ thống giáo dục, thậm chí cũng không trông chờ gì nơi người thầy. (…) Nói theo lời Nguyễn Đức Đạt (1824-1887), danh nho đời Tự Đức, mở đầu Nam Sơn tùng thoại, “Học vấn chi đạo, sư sư bất như sư thư” (Đạo học vấn, học hỏi từ thầy chẳng bằng học hỏi từ sách). Cho nên, đúng nghĩa sự học, chỉ có thể tự học – những người sư hữu là những người đồng hành cùng mình, giúp chỉ đường cho mình, giúp góp vui cho mình bớt cô độc trên đường đi, nhưng còn tiếp bước hay không, đi đúng đường hay không, sự ấy ở tại mình mà thôi.”

Một quan điểm nghe lạ tai, nhưng suy đi ngẫm lại, theo tôi, là hoàn toàn chính xác.

Bìa Thư Quán Bản Thảo 91. (Hình: Trần Doãn Nho)

Về sáng tác, Nguyễn Thụy Đan sử dụng nhiều thể loại khác nhau: tản văn, tản mạn, thơ lục bát, thơ song thất lục bát, hát nói… Thư Quán Bản Thảo cho biết, Nguyễn Thụy Đan sở trường về “Hát Nói,” một thể thơ thịnh hành ở nước ta vào thế kỷ XIX. Xin trích một bài tiêu biểu, “Vĩnh Phúc Đêm Mưa”: 

“Đêm thu mưa gió đầy giời
Mộng tàn gối lạnh đâu người trong mơ
Đèn khuya khi tỏ lại mờ
Hắt hiu bao nỗi sầu xưa hận rày 

Thê phong khổ vũ (2)
Chốn buồng không mất ngủ lại đêm nay
Đốt tương tư thắp đĩa dầu đầy
Trải mưa gió niềm tây dường dập tắt 

Ngã thị nhân gian trù trướng khách
Tri quân hà sự lệ tung hoành (3) 

Bạn giai nhân khó gặp đã đành
Biết nhau mới tiếc duyên lành dang dở
Quân tín phủ: Trường đoạn thiên nha tòng thử khứ
Nợ đa tình ôm giữ kín từ đây 

Gìn vàng giữ ngọc cho hay.”

Nguyễn Thụy Đan cũng làm thơ “Song Thất Lục Bát.” Bài sau đây có tựa đề là “Tọa Vong”:

“bờ tuyệt vọng tôi làm tượng đá
tháng năm trường đại hạ xuân thu
trên vai trải mấy dãi dầu
sau lưng ký ức một màu bạc phơ
tượng gục mình như xưa tôi đã
gục bên em trắng xõa chiều mưa
bàng hoàng từng trận gió đưa
lạnh tràn vang bóng thuở xưa làm người
miền quạnh vắng tuổi trời hóa thạch
tượng ngồi im quên sạch hôm qua
cỏ cây tươi héo quanh ta
tôi làm tượng đá ngự tòa phù sinh” 

Nguyễn Thụy Đan cũng đã từng được đề cập trên nhật báo Người Việt cách đây bảy năm qua một bài phỏng vấn do phóng viên Thiên An thực hiện: “‘Lạc Lõng’ Cậu Nho Sinh Người Mỹ Gốc Việt.” (4) Trả lời cho câu hỏi: “Tại sao em lại thích học chữ Hán-Nôm?,” Nguyễn Thụy Đan nói: “Không học Hán-Nôm, không thể hiểu sâu về đất nước và con người Việt Nam. Sống ở hải ngoại mà không muốn bị mất gốc, ắt phải hiểu biết văn hóa quê cha đất tổ.”

Được hỏi: “Em sử dụng chữ Hán-Nôm vào việc gì?,” Đan cho biết: “Em học chữ Hán cốt để đọc sách người xưa. Văn liệu nước ta từ đầu thế kỷ XX về trước phần lớn viết bằng văn Hán hoặc văn Nôm. Không biết Hán-Nôm, ắt phải dựa vào bản dịch hoặc bản phiên âm của người khác mà đọc. Song, sách vở vẫn có nhiều loại. Đọc sách thánh hiền để học đạo làm người. Đọc sách sử để biết thêm về văn hóa, lịch sử người Việt. Đọc văn thơ để tiêu sầu khiển muộn… Sau này em quen vài người ngoại quốc cũng quan tâm văn chương và lịch sử nước Việt nên em mới bắt đầu dịch văn liệu Hán-Nôm sang tiếng Anh. Có khi em viết thơ từ, gọi là cái thú tao nhã vậy.” [qd] 

Chú thích:

(1) “Từ” là một thể thơ gắn chặt với âm nhạc, dựa vào nhạc mà đặt lời, lời lẽ hoa lệ.

(2) Gió buốt mưa sầu (Nguyễn Thụy Đan)

(3) Ta là khách buồn bã trong cõi nhân gian/Cớ sao quen biết người lại khiến nước mắt chảy ròng rã (Nguyễn Thụy Đan)

(4) Người Việt, 15 Tháng Tám, 2014: www.nguoi-viet.com/little-saigon/Lac-long-cau-nho-sinh-nguoi-My-goc-Viet-1433/

BỊ DÍ ĐẾN TÌNH THẾ KHÓ VÀ SỰ ĐỔI CHÁC KHỐN NẠN

Đỗ Ngà

Nguyên nhân lệnh cấm chiến sĩ Gạc Ma nổ súng:

BỊ DÍ ĐẾN TÌNH THẾ KHÓ VÀ SỰ ĐỔI CHÁC KHỐN NẠN

Đỗ Ngà

ĐCS Việt Nam vốn chọn Liên Xô làm chỗ dựa chứ không phải chọn Trung Cộng, điều đó dẫn tới thái độ cứng với Trung Cộng và họ đã có một lần mạnh mẽ đối đầu với Trung Cộng năm 1979. Tuy nhiên chỗ dựa số một ấy đã bị lung lay khi mà Năm 1985 Gorbachev lên làm Tổng Bí Thư. Khi đó Liên Xô lo cải tổ kinh tế và cởi mở chính trị để vực đậy sự kiệt quệ kinh tế do thể chế cũ gây ra và cũng do nhiều năm mải mê chạy đua vũ trang với Mỹ và đến hồi đuối sức. Điều đó kéo theo sự bảo trợ về mặt quân sự của Liên Xô với các nước Đông Âu khác không còn như trước nữa.

Chế độ độc lài toàn trị của CS nó như một gọng cùm kìm chế sự trỗi dậy của người dân, nếu nhả gọng cùm ấy ra thì sức dân bật dậy. Và năm 1988, phong trào biểu tình nổi lên mạnh hơn ở Ba lan rồi lan sang các nước khác. Ở Việt Nam, thì tập đoàn chính trị Nguyễn Văn Linh – Đỗ Mười – Phạm Văn Đồng – Lê Đức Anh ắt nhìn thấy viễn cảnh đó. Liên Xô đã nhả dần gọng kìm bảo trợ ở các nước gần gũi Liên Xô thì không lí gì họ hết mình với Hà Nội. Như vậy là chỗ dựa lớn nhất của Hà Nội có nguy cơ không còn.

Chuyển chỗ dựa là nhu cầu cấp bách mà Nguyễn Văn Linh và 3 người còn lại phải tìm kiếm. Lịch sử ĐCS từ năm 1945 đến thời điểm đó cho thấy, chưa bao giờ ĐCS dám đứng độc lập. Khổ nỗi chỗ dựa thay thế Liên Xô chỉ có thể là ĐCS Tàu, mà Tàu lúc đó đang còn thù địch với với ĐCS Việt Nam nên việc làm hòa giải rất khó. Biết cái mà Tàu tham nhất là chủ quyền nên ĐCS đã chọn món hàng này để nhử Trung Cộng.

Để được thuần phục thì trước tiên phải biết tỏ thái độ thiện chí. Từ năm 1987 thì tình hình cho thấy, nội tình các nước CS Đông Âu đang xảy ra mâu thuẫn khó giải quyết và đến năm 1988 là biểu tình xảy ra rất nghiêm trọng ở Ba Lan. Trong khi đó người đứng đầu ĐCS Liên Xô đang có chiều hướng “tự diễn biến” nên bỏ rơi hàng loạt các chính quyền CS đàn em. Điều đó cũng có nghĩa là thành trì mà ĐCS Việt Nam tựa sắp mất, dù Liên Xô có sụp đổ hay không thì Gorbachev vẫn không muốn làm thế tựa lưng cho ai hết. Đó là tình hình chung.

Trong lúc chỗ dựa vững chắc sắp mất mà tình hình Biển Đông khá căng thẳng, sau khi lấy trọn Hoàng Sa năm 1974 thì bây giờ Trung Cộng đang cho cướp đảo ở Trường Sa. Đây là mối nuy cho đất nước, tuy nhiên nhóm Nguyễn Văn Linh – Đỗ Mười – Phạm Văn Đồng – Lê Đức Anh lại nhìn thấy cơ hội cho đảng. Thay vì dựa vào sức dân thì ĐCS lại không chọn vì sợ mất đảng, vậy nên nhóm này mới đi tới quyết định quy phục kẻ thù để mua lấy sự an toàn cho đảng.

Ai cũng biết cái mà Trung Cộng thèm thuồng nhất là chủ quyền Việt Nam. Ngoài món hàng này thì không có món hàng nào đáng giá để Bắc Kinh chấp nhận đổi lấy “tình hữu nghị” cả. Và kết quả là có một lệnh từ trung ương ban xuống cấm chiến sĩ đang giữ đảo Gạc Ma nổ súng, đó là thái độ chịu nhường để đổi lấy sự chú ý của Bắc Kinh. Và cũng từ thái độ đó, cộng thêm hàng loạt động thái mưa móc của nhóm bộ tứ Linh – Mười – Đồng – Anh thì đến năm 1990, Linh – Mười – Đồng được Bắc Kinh chấp thuận và sắp xếp cuộc gặp cấp cao chính thức tại Thành Đô.

Sau hội nghị Thành Đô thì Việt Nam ngày một lệ thuộc hơn vào Bắc Kinh. Và phía Bắc Kinh cũng hiểu rằng, khi đẩy Hà Nội ở vào thế khó xử thì phía Hà Nội sẵn sàng đổi giang sơn lấy “hòa bình”. Đó là lý do tại sao hiện nay Trung Cộng lại dùng “chiến thuật vùng xám” để ứng xử với Việt Nam. Chiến thuật này là, vùng đất nào của Việt Nam thì Bắc Kinh biến nó thành vùng tranh chấp, vùng đang tranh chấp thì biến nó thành hiển nhiên của Bắc Kinh. Qua thời gian, bằng nhiều thủ đoạn khác nhau để ép Hà Nội vào thế khó để nhượng bộ thì Bắc Kinh cứ lấn tới. Và cứ như thế Trung Cộng gặm dần chủ quyền Việt Nam nhờ biết khai thác nhược điểm “thà mất chủ quyền chứ không bao giờ để mất đảng” của ĐCS.

Với bản chất như vậy, nếu có hàng ngàn chiến sĩ giữ đảo thì Hà Nội cũng thí mạng luôn chứ đừng nói chi 64 chiến sĩ giữ Gạc Ma?! Tuy ĐCS luôn hô hào những cái chết đó là “anh dũng hy sinh” nhưng thực chất những sinh mạng đó cùng với chủ quyền biển đảo là những món hàng rẻ rúng để đảng đổi lấy “tình hữu nghị” có giá trị to lớn hơn đảng mà thôi. Đó thực sự là nỗi đau quặn thắt mà dân tộc này đã gặp phải.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://www.youtube.com/watch?v=gjQ22CbxtHI

Ca Sỹ & Kỹ Giả

Ca Sỹ & Kỹ Giả

Có bữa, Khánh Ly hồn nhiên tâm sự : “Người ta cứ bảo tôi là đừng đi thăm bạn bè nữa vì tôi cứ đi thăm người nào là người đó qua đời.”

Thiệt là hú vía!

May mà mình chả quen biết gì ráo trọi với cái bà ca sĩ (xúi quẩy) này; chớ không, lỡ có bữa mà bà chị buồn tình ghé thăm là kể như … bỏ mạng!

Cứ theo như cách suy nghĩ của đám con rồng cháu tiên thì Khánh Ly là người nặng vía. Tôi còn biết tiếng một ông kỹ giả – whorespondent (*) – mà vía cũng nặng như chì, hoặc hơn. Tờ Người Việt – số ra ngày 3 tháng 10 năm 2016 – cũng có đôi dòng (không được ưu ái hay thân thiện lắm) về nhân vật rất tăm tiếng, và tai tiếng, này

PetroTimes là báo điện tử của tập đoàn dầu khí Việt Nam (PVN). Còn ông Phong từng là đại tá công an, phó tổng biên tập tờ Công An Nhân Dân được PVN mời về làm tổng biên tập khi PVN có giấy phép xuất bản báo điện tử.

Tuy thuộc PVN, một tập đoàn nhà nước, song dưới sự điều hành của một cựu đại tá công an, PetroTimes đã tự lãnh nhận vai trò “xung kích trên mặt trận truyền thông,” cùng các tờ Nhân Dân (của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng CSVN), Quân Đội Nhân Dân, Công An Nhân Dân “tả xung hữu đột” để bảo vệ chính quyền CSVN.

Không chỉ “bảo vệ chính quyền CSVN,” ông Như Phong còn “bảo kê” luôn cả cho  “chính quyền ngoại quốc” nữa cơ – theo lời tường thuật của blogger  JB Nguyễn Hữu Vinh :

Ở ngoài nước, khi Gadhafi đang chìm trong cơn hận thù của nhân dân Libya bởi sự tàn bạo sau 42 năm cai trị nhằm đưa lại cuộc sống vương giả cho gia đình tên độc tài này. Lửa giận của người dân Libya đã bốc lên ngùn ngụt, cả thế giới quan tâm và vạch rõ những sự thối nát, tha hóa của chế độ độc tài ở Lybia, thì với bản chất cố hữu đi lội ngược dòng nước bẩn, Nguyễn Như Phong viết bài bênh vực Gadhafi.

Bài viết “Sự thật về Libya và Kadhafi” trên tờ Petrotimes đã giúp Nguyễn Như Phong lột tả hoàn toàn bộ mặt của mình. Đó là sự trơ tráo, vô sỉ bằng sự bịa đặt và… bất chấp sự thật, bất chấp lòng người. Sự phản ứng đến mức buộc Nguyễn Như Phong phải gỡ xóa bài viết đó đi.

Nhưng tác phẩm như một đứa con mang dòng máu của mình, Nguyễn Như Phong làm sao sạch sẽ được khi đã đẻ ra một đứa con độc địa và bẩn thỉu có hại trên đời. Kết quả là nhà độc tài Gadhafi đã phải chui xuống ống cống vẫn không thoát khỏi cái chết nhục nhã, đau đớn bởi sự uất hận của nhân dân Libya…”

Năm Cam và Phạm Quí Ngọ  cũng thế, cũng chỉ vì được Nguyễn Như Phong chiếu cố mà “đang sống bỗng chuyển sang từ trần.” Dương Chí Dũng, Trịnh Xuân Thanh,  Nguyễn Đức Chung thì may mắn hơn chút xíu. Họ không đến nỗi đi luôn qua bên kia thế giới mà chỉ chuyển nơi cư trú thôi: từ tư thất sang … lao thất!

Thảo nào mà JB Nguyễn Hữu Vinh kết luận rằng Nguyễn Như Phong là một “hiện tượng quái đản” và ngòi bút của ông “có dớp.” Cái xui xẻo mà bà Khánh Ly mang tới cho thiên hạ, nghĩ cho cùng, chỉ là chuyện nhỏ (nhỏ còn hơn con thỏ nữa) nếu so sánh với rủi ro và tai họa đến từ ngòi viết của Nguyễn Như Phong.

Ấy vậy mà ông ấy lại vừa “động bút” để bênh vực cho công ty Vinfast của nhà tỉ phú Phạm Nhật Vượng. Thế có bỏ mẹ con nhà người ta không chứ? Xin ghi lại toàn văn, bảo đảm không sai một chữ và cũng chả sót một dấu phẩy nào:

Nguyễn Như Phong

February 22 at 5:06 AM  ·

Như thế là rất hèn!

Trên mạng lại đang “hơi bị” rôm rả về thông tin xe mang nhãn hiệu Vinfasd bị ” rụng bánh”, bị ” gãy trục” khi đang lưu thông…Rồi một số người hùa vào chửi rằng tại sao ” truyền thông im lặng”; rằng ” thế lọ, thế chai…”

Nếu như họ đưa tin vào ngày này, giờ này, tại chỗ này, xe mang biển này, người lái tên họ thế này… đang lái xe bỗng ” bánh trước văng ra” hoặc ” trục xe gãy…” và cơ quan bảo hiểm đã kiểm tra, khám nghiệm, xác nhận rằng đó là lỗi do nhà sản xuất thì còn có lý… Đằng này đưa hình ảnh mấy chiếc xe bị tai nạn do đâm vào con lươn, đâm vào vỉa hè… rồi vu cho là ” lỗi sản xuất’ thì quả là độc ác, và hèn hết mức… Dĩ nhiên, loại thông tin đểu này chỉ lừa được những ai không hiểu biết về xe, hoặc có trái tim “rất dễ xúc động…” Còn người hiểu biết, và có sự trung thực thì chẳng ai bị lừa.

Nhưng rõ ràng, không phải là chuyện ” vô tình”, mà phải là có kẻ ” xuỵt chó bụi rậm”, thậm chí là phải nghĩ đến có ” đơn đặt hàng” từ kẻ nào đó.

Nhân cái chuyện rất hèn này, lại phải nhắc đến chuyện ” xe bị cháy do xăng E5″ xảy ra từ 7,8 năm trước… Ngày ấy không ít người cao giọng phán xét về chất lượng xăng E5, rồi quy chụp cho nhà sản xuất và nghi ngờ về xăng sinh học…Thế rồi đến khi công an phá được đường dây làm xăng giả, thì mọi chuyện mới được minh bạch…Mà hồi ấy, không ít tờ báo ” lề phải” cũng tham chiến, phê phán xăng E5 kịch liệt…

Về vụ xe Vinfasd ” rụng bánh”; ” gãy trục”, cho đến giờ, nhà sản xuất không hề lên tiếng… Chắc chắn, họ nghĩ là chả hơi đâu đi thanh minh với những người cố tình xuyên tạc, cố tình hiểu sai…

Nhưng theo thiển ý của tôi, cũng cần phải lên tiếng, nói cho rõ mọi chuyện… Vì đã có câu của Gơ-ben trùm phát xít Đức ngày xưa: ” Sự thật là điều không có thật được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần”… Không nên để ” quá mù sa mưa”!

Những lời lẽ chí tình thượng dẫn khiến tôi không khỏi liên tưởng đến những cái xác chết của Muammar Gaddafi, Năm Cam, Phạm Quí Ngọ (hay những bản án như trời giáng dành cho Dương Chí Dũng, Trịnh Xuân Thanh và Nguyễn Đức Chung) cùng với không ít âu lo. Lo âu cho sinh mệnh của ông Phạm Nhật Vượng (nói riêng) và vận mệnh tổ quốc (nói chung).

Xứ An Nam vốn mang tiếng là chậm tiến. Mãi đến thế kỷ thứ 21 vẫn chưa làm được cái đinh vít. Vậy mà chỉ qua một đêm là ông Vượng biến cái đất nước (“bốn ngàn năm hồn chửa tỉnh”) này thành ngay cái công xưởng sản xuất xe hơi cho toàn thế giới. Thực là một “kỳ tích” theo như nguyên văn cách dùng chữ của T.T Nguyễn Xuân Phúc :

“Sự thần tốc trong việc xây dựng Nhà máy ôtô VinFast cho thấy một khát vọng lớn và cháy bỏng ngọn lửa nhiệt huyết trong những con người đã chung tay góp trí  làm nên một dự án có thể gọi là kỳ tích của ngành ôtô Việt Nam cũng như trên thế giới… kỳ tích này làm cho chúng ta nhớ lại cách đây đúng 230 năm vào Xuân Kỷ Dậu 1789, hàng vạn chiến binh áo vải cờ đào của nghĩa quân Tây Sơn đã tiến hành cuộc hành quân thần tốc ra kinh thành Thăng Long đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược.”

Miệng người sang có gang có thép. Ông T.T nói năng thiệt là ẩu tả và liều lĩnh nhưng vẫn chưa thấm tháp chi nếu so với cái “liều” của bà Nguyễn Thị Vân Anh –  Phó Tổng Giám Đốc VinFast: “Đến năm 2021, những chiếc xe mang thương hiệu VinFast sẽ được bán tại thị trường Mỹ.”

Đã giữa tháng 3 năm 2021 nhưng chưa thấy xe của nước nhà bầy bán tại Hoa Kỳ. Nói dại: lỡ nhà tỉ phú của nước ta mà có bị bất đắc kỳ tử (hay vướng vào vòng lao lý, như bào đệ Phạm Nhật Vũ) chỉ vì cái “dớp” của ngòi bút Nguyễn Như Phong thì thật là đáng tiếc biết bao. Nhân loại tiếc vì mất đi một thiên tài trong kỹ nghệ lắp ráp ô tô. Còn dân Việt thì tiếc vì mất đi một cơ hội (trình diễn) cho cả thế giới nhìn thấy sự khéo tay của nòi giống Lạc Hồng.

Tưởng Năng Tiến
3/2021

(*) Mấy năm trước cư dân mạng đặt ra thuật ngữ này để bày tỏ bất bình với đạo đức nghề nghiệp yếu kém của giới làm báo. Từ này chỉ những nhà báo, nhất là từ các cơ quan truyền thông chính thức của đảng, sẵn sàng bẻ cong ngòi bút. Một thay đổi nhỏ nhiều hàm ý: về căn bản thì phát âm giống nhau, nhưng chữ ký (記, jì) trong ký giả (記者, jìzhě) được thay bằng kỹ (妓, jì; gái điếm). Từ này được dịch sang tiếng Anh là whorespondent, kết hợp giữa whore (gái điếm) và correspondent (ký giả, phóng viên).” (Ký Giả Và Kỹ Giả – Phạm Vũ Lửa Hạ).

Cao Xuân Huy & chuyện tháng ba gẫy súng

Cao Xuân Huy & chuyện tháng ba gẫy súng

(14/07/1947 – 12/11/2010)

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) – Tháng 3 năm 1975, lúc đang còn ở lứa tuổi đôi mươi, khi khổng khi không, ông Cao Xuân Huy – một cựu sĩ quan của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, thuộc Quân Ðội Việt Nam Cộng Hoà – giã từ vũ khí. Bỏ súng đạn, dù ở vị thế của một kẻ chiến bại, để chấm dứt một cuộc chiến tranh đã triền miên tàn phá quê hương đất nước – không chừng- cũng là kỳ vọng hay ước mơ tiềm ẩn của trung úy Cao Xuân Huy (nói riêng) và của cả nước (nói chung).

Sau đó (theo như lệnh của những nguời thuộc phe thắng trận) ông Cao xuân Huy cầm cuốc, cuốc tới tấp, cuốc túi bụi, cuốc không ngừng, cuốc tưng bừng, và cuốc liên tục (rất nhiều năm) trên những thửa đất… vô phương canh tác – ở nhiều trại cải tạo khác nhau. Ðiều này, dường như, không nằm trong “dự kiến” của cả nước (nói chung) và “học viên”’ Cao Xuân Huy (nói riêng).

Cây cuốc – một nông cụ rất hữu ích và phổ biến kể từ khi loài người bắt đầu đời sống định canh cho đến hết Thời Trung Cổ – nếu đuợc tận dụng và thiện dụng, trong điều kiện đất đai và thời tiết lý tưởng (may ra) mới có thể mang lại vừa đủ cơm áo cho chính bản thân người sử dụng. Còn dùng thứ cuốc do tập thể làm chủ, bằng hình thức lao động cưỡng bách, trong điều kiện làm việc khắc nghiệt, trên những nông truờng quốc doanh, theo những kế hoạch kinh tế cứng rắn và hoang tưởng, vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ hai mươi… thì chỉ là một sự phí phạm nhân lực vô cùng tai hại và đáng tiếc – nếu nói một cách bao dung. Nói cách khác, chính xác hơn, đây là một phương cách trả thù hèn hạ đê tiện của những kẻ tiểu tâm.

Bởi vậy, sau khi rời trại cải tạo, ông Cao Xuân Huy đã không đến những vùng kinh tế mới để tiếp tục cuốc cầy – theo ý muốn của những người thuộc phe thắng trận. Ông bỏ nước ra đi. Tháng 3 năm 1975, không phải chỉ có một mình trung úy Cao Xuân Huy bỏ súng. Sau đó, ông ta cũng không phải là kẻ duy nhất vượt biên. Ông chỉ là một trong hàng triệu triệu dân Việt – trong cơn quốc biến – hốt hoảng, ù té, bỏ chạy, hay đâm xầm ra biển, tứ tán, lênh đênh, phiêu bạt khắp bốn phương trời.

Giữa ông Cao Xuân Huy và phần lớn những người Việt tị nạn cộng sản khác chỉ có một chút dị biệt nho nhỏ. Sau khi bỏ súng, bỏ cuốc – thay vì cầm kìm, cầm búa hay một dụng cụ nhẹ nhàng nhưng thiết thực nào khác để kiếm sống nơi quê nguời đất khách – ông Cao Xuân Huy (chả may) lại vớ ngay cây bút, một vật dụng mà hiệu quả trong việc mưu sinh vô cùng giới hạn và vẫn thuờng gây vô số chuyện phiền lòng (cũng như tai nạn) cho khổ chủ!

Dù vậy ông Cao Xuân Huy vẫn viết hết lòng, và trở thành một nhà văn Việt Nam lưu vong nổi tiếng (được nhiều người yêu qúi) trong suốt hai thập niên qua – dù ông viết không nhiều. Là một độc giả của ông nên khi có dịp gặp gỡ, tôi đã lên tiếng phàn nàn:

– Cha nội này làm biếng chết mẹ, uống thì nhiều mà viết chẳng bao nhiêu.

– Thì mày cũng vậy!

Chúng tôi cùng cười ha hả, và cùng “tự hứa” sẽ bỏ rượu (trong tương lai gần) để cầm bút một cách đàng hoàng, nghiêm chỉnh và chăm chỉ hơn. Cái “tương lai gần” này, tiếc thay, vẫn cứ hơi xa quá đối với tình trạng sức khoẻ mong manh của Cao Xuân Huy trong thời gian qua.

Nhà văn Cao Xuân Huy. Ảnh: Thanh Phong

Sáng nay, tôi cầm tờ Người Việt mà bỗng thấy run tay:

“Ông Cao Xuân Huy, tác giả cuốn hồi ký ‘Tháng Ba Gãy Súng,’ qua đời chiều Thứ Sáu 12 tháng 11, 2010, sau một thời gian bạo bệnh, tại tư gia ở Lake Forest, California.”“Tại hải ngoại, ông Cao Xuân Huy từng cộng tác với báo Người Việt trong nhiều năm, cũng như với tuần báo Việt Tide. Ông nhiều lần làm tổng thư ký tạp chí Văn Học và chủ biên tạp chí này.”“Tuy hoạt động rất nhiều với văn chương, ông ít khi tự nhận mình là nhà văn. Trong bài tựa cuốn hồi ký ‘Tháng Ba Gãy Súng,’ ông viết, ‘Tôi không phải là một nhà văn, mà tôi chỉ là một người lính, lính tác chiến đúng nghĩa của danh từ, và những điều tôi viết trong quyển sách này chỉ là một câu chuyện, câu chuyện thật một trăm phần trăm được kể lại bằng chữ.”“Nhà thơ Du Tử Lê cũng viết rằng ông Cao Xuân Huy ‘là người luôn từ chối hai chữ ‘nhà văn’ một cách thẳng thắn, với đôi chút khinh bạc của một Thủy Quân Lục Chiến, binh chủng ông từng vào sinh, ra tử, suốt tuổi thanh xuân, cộng thêm 5 năm tù ‘cải tạo!’”“Ông Cao Xuân Huy sinh năm 1947 tại Bắc Ninh, Việt Nam. Ông đi lính năm 1968, là cựu Trung Úy Ðại Ðội Phó ÐÐ 4 thuộc Tiểu Ðoàn 4 Thủy quân lục chiến. Tại mặt trận Quảng Trị vào tháng 3, 1975, ông bị bắt làm tù binh và bị cầm tù 5 năm.” “Năm 1982 ông vượt biên và đến Mỹ năm sau đó. Năm 1985, ông in cuốn hồi ký ‘Tháng Ba Gãy Súng.’ Bốn tháng trước khi qua đời, ông Cao Xuân Huy ra mắt cuốn ‘Vài mẩu chuyện,” do tạp chí Văn Học xuất bản…”

Tôi vốn ham chơi, và hay thích đàn đúm. Đ… mẹ, bạn bè – khi khổng khi không – nó bỏ đi (ngang hông và ngang xương) như vậy thì tôi còn biết uống với ai, và viết cho ai đọc nữa?

11/2010

 Tưởng Năng Tiến

 danlambaovn.blogspot.com

Biden ký dự luật $1,900 tỷ sớm hơn kế hoạch 1 ngày

Biden ký dự luật $1,900 tỷ sớm hơn kế hoạch 1 ngày

Mar 11, 2021 cập nhật lần cuối Mar 11, 2021

WASHINGTON, DC (NV) – Tổng Thống Joe Biden ký dự luật $1,900 tỷ trợ giúp chống COVID-19 vào chiều Thứ Năm, 11 Tháng Ba, sớm hơn dự trù một ngày, theo nhật báo The New York Times.

“Dự luật mang tính lịch sử này là nhằm xây dựng lại xương sống của quốc gia,” ông Biden nói, “cũng như đem đến cơ hội chiến đấu cho đất nước, người dân lao động, tầng lớp trung lưu, vốn là những người đã xây dựng quốc gia này.”

Tổng Thống Biden ký dự luật $1,900 tỷ tại Tòa Bạch Ốc ở Washington, DC, chiều Thứ Năm, 11 Tháng Ba. (Hình: AP Photo/Andrew Harnik)

Theo kế hoạch ban đầu, Tổng Thống Biden sẽ ký dự luật có tên “Kế Hoạch Giải Cứu Nước Mỹ” vào Thứ Sáu, sau khi xem xét lại một lần nữa rồi in ra.

 Tuy nhiên, hiểu được người dân Mỹ lợi tức thấp và trung bình đang mong nhận được khoản tiền trợ cấp $1,400 trong dự luật, Tổng Thống Biden cùng các cố vấn dời thời điểm ký dự luật lên chiều Thứ Năm.

Trước đó trong ngày Thứ Năm, ông Ron Klain, chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc, thông báo trên Twitter rằng dự luật được gửi đến Tổng Thống Biden tối Thứ Tư và ông Biden sẽ ký sớm hơn kế hoạch một ngày vì họ muốn “làm càng nhanh càng tốt.”

Tuy nhiên, ông Klain cho biết thêm: “Chúng tôi sẽ tổ chức buổi lễ mừng việc ký kết vào Thứ Sáu, như kế hoạch, cùng với các nhà lãnh đạo Quốc Hội!”

Tổng Thống Biden ký dự luật tại Oval Office vài giờ trước khi ông đọc bài diễn văn được truyền hình trực tiếp tối Thứ Năm, mở đầu chiến dịch lớn thông báo cho người dân biết lợi ích họ sẽ nhận được thông qua kế hoạch $1,900 tỷ này.

Trong chiến dịch đó, Tổng Thống Biden và Phó Tổng Thống Kamala Harris sẽ đi đến nhiều tiểu bang, một loạt thành viên nội các sẽ trình bày nội dung chính của dự luật, và các thị trưởng Cộng Hòa sẽ tuyên bố ủng hộ dự luật, theo các giới chức chính quyền.

Dự luật $1,900 tỷ trợ giúp chống COVID-19 được Hạ Viện thông qua hôm Thứ Tư, trong đó bao gồm $1,400 gửi trực tiếp cho nhiều người dân Mỹ, và $300 trợ cấp thất nghiệp mỗi tuần của liên bang đến Tháng Chín.

Ngoài ra, kế hoạch này còn gồm hàng trăm tỷ đô la cung cấp vaccine ngừa COVID-19 và chi phí điều trị, tài trợ cho trường học, trợ giúp chính quyền tiểu bang và địa phương và một số kỹ nghệ gặp khó khăn, gồm cả ngành hàng không dân sự. (Th.Long) [qd]

Covid-19 : Tổng thống Mỹ Biden thúc giục tăng tốc chiến dịch tiêm vac-xin

Phát biểu trước toàn dân hôm 11/03/2021, tổng thống Joe Biden thông báo sẽ có đủ vac-xin chống Covid-19 cho tất cả người Mỹ, không kể trẻ em, trước cuối tháng 5/2021 và mục tiêu nhắm tới là mỗi ngày phải có hơn 2 triệu người được tiêm chủng.

Nhà Trắng khuyến khích dân chúng chích ngừa với hy vọng mọi nhà sẽ được đoàn tụ một cách an toàn vào dịp lễ Quốc Khánh mồng 4 tháng 7.

Thông tín viên Anne Corpet tường thuật về phát biểu của tổng thống Biden :

« Cách nay một năm, chúng ta bị virus corona tấn công và đã lặng im không hề đáp trả ». Joe Biden tuyên bố như trên. Ông rút từ trong túi ra một cái thẻ với con số nạn nhân Mỹ thiệt mạng vì Covid-19. Nguyên thủ Mỹ nói : « 527.726 người chết. Con số này tương đương với số nạn nhân trong Thế Chiến Thứ Nhất, Thế Chiến Thứ Hai, trong chiến tranh Việt Nam và biến cố 11 tháng 9 năm 2001 cộng lại ».

Với thái độ đồng cảm, tổng thống #Mỹ đã nhắc đến những nạn nhân, đến gia đình của họ và những người bị mất việc vì virus corona. Ông lấy làm tiếc là « con #virus này đã ngăn cách và quá thường xuyên chia rẽ chúng ta ».

Tiếp theo, nguyên thủ Mỹ lên án những vụ tấn công nhắm vào cộng đồng người gốc châu Á tại Hoa Kỳ. Rồi với lời lẽ kiên quyết, Joe Biden thông báo « nhờ những nỗ lực chung, chúng ta sẽ có đủ vac-xin cho tất cả người lớn ở Mỹ từ nay đến cuối tháng 5 ».

Tổng thống #HoaKỳ nêu lên chiến dịch khổng lồ để vượt ngưỡng 2 triệu người được tiêm chủng mỗi ngày. Tuy nhiên ông cảnh báo : « Tôi cần quý vị, tôi cần mỗi người Mỹ đi chích ngừa » và kêu gọi dân chúng tiếp tục đề cao cảnh giác. Tổng thống #Biden hứa là nếu cùng nỗ lực thì mọi người và bạn bè có thể ăn mừng ngày lễ Quốc Khánh tới đây, quây quần bên những bếp thịt nướng ».

#vaccine

Ngoại giao và tuyên giáo Việt Nam qua câu chuyện Miến Điện

Ngoại giao và tuyên giáo Việt Nam qua câu chuyện Miến Điện

Bởi  AdminTD

Jackhammer Nguyễn

12-3-2021

Ngày 9/3/2021, hãng tin Reuters của Anh quốc loan tin, rằng Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã không ra được một tuyên bố mạnh mẽ để lên án các hành động bạo lực của giới quân nhân Miến Điện bắn giết người biểu tình.

Reuters cho biết, ban đầu bản tuyên bố được Anh soạn thảo, lên án mạnh mẽ giới quân nhân Miến Điện và dọa sẽ có những biện pháp (trừng phạt) tiếp theo. Thế nhưng có bốn quốc gia đã đề nghị sửa lại câu chữ và xóa đi phần đe dọa.

Bốn nước đó là Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và Việt Nam, trong đó hai nước đầu là thành viên thường trực có quyền phủ quyết, Việt Nam và Ấn Độ là hai thành viên không thường trực, không có quyền phủ quyết.

Thế nhưng những bản tin quốc tế trên báo chí Việt Nam về Myanmar (nếu có) lại lờ đi chi tiết quan trọng, rằng Việt Nam có tham gia vào việc cản trở thông điệp mạnh mẽ của Liên Hiệp Quốc về tình hình Miến Điện. Trang Vnexpress cho biết, Việt Nam có tham gia vào việc soạn thảo bản tuyên bố, nhưng không đề cập đến việc nó bị sửa đổi cho nhẹ nhàng.

Thú vị nhất là báo Tuổi Trẻ, trong bài nói về chuyện Trung Quốc kêu gọi xuống thang bạo lực ở Miến Điện, lại tiết lộ cho dân chúng trong nước biết rằng, chính Bắc Kinh là nước can thiệp để thay đổi những câu chữ lên án mạnh mẽ trong bản nháp đầu tiên do nước Anh soạn thảo. Báo Tuổi Trẻ giấu mất Nga, Ấn Độ, và chính… Việt Nam, đều là … đồng phạm!

Phải nói cho công bằng, rằng báo chí Việt Nam đưa tin khá đầy đủ về Miến Điện, nhưng ít có bài phân tích và bình luận. Qua những bản tin đó, người đọc trong nước chắc chắn hình dung được sự tàn ác của quân đội Miến Điện. Điều đó có lẽ làm cho cơ quan tuyên giáo Việt Nam lo ngại về một sự so sánh cuộc thảm sát Miến Điện với thảm sát Đồng Tâm (nơi nửa đêm có khoảng 3.000 công an Việt Nam kéo vào làng, hạ sát một nông dân, làm bị thương nhiều người khác)?

Hãy so sánh vụ đưa tin về các cuộc biểu tình khổng lồ ở Hồng Kông vào mùa thu năm 2019, có vẻ như tầng suất các bài viết về Miến Điện nhiều hơn những bài về Hồng Kông. Phải chăng có sự lo ngại trong việc đưa tin về Hồng Kông vì chính quyền Hoa Lục, nguồn cơn của các cuộc đàn áp, có cùng ý thức hệ như cộng sản Hà Nội? Còn Miến Điện là một thế giới khá xa lạ với người dân trong nước?

Trở lại câu chuyện ngoại giao, Việt Nam cản trở câu chữ mạnh mẽ ở Hội đồng Bảo an LHQ, và việc giấu nhẹm điều đó đi của báo chí dưới sự kiểm soát của cơ quan tuyên giáo Việt Nam, đặt ra cho chúng ta một vấn đề hết sức thú vị.

Một mặt, hành động ngoại giao đó của Việt Nam không khác gì kiểu cách “dĩ hòa vi quý” của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), núp dưới danh nghĩa không can thiệp vào chuyện nội bộ của nhau. Đó dường như cũng là kiểu hành xử của Ấn Độ, quốc gia cũng “dĩ hòa vi quý” và mong muốn mở rộng ảnh hưởng khối ASEAN.

Mặt khác, tại sao báo Tuổi Trẻ lại “trăm dâu đổ đầu” … Trung Quốc như vậy? Cũng có thể do Bắc Kinh đầu têu chuyện này, nhưng có lẽ thái độ của tuyên giáo Việt Nam (báo chí) có thay đổi trong thời gian gần đây, khi những bài báo khá mạnh mẽ chỉ trích Trung Quốc xuất hiện ngày càng nhiều. Điều này giúp cho Hà Nội giữ sự ủng hộ của dân chúng (với điều kiện là đừng đi biểu tình) vốn có tâm lý chống Bắc Kinh rất mạnh. Nên bây giờ đổ thêm cho Bắc Kinh một tội chung, cũng không sao.

Trong khi đó, thái độ của lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đối với lãnh đạo quân phiệt Miến Điện, lại là một chuyện khác. Nó giống như một nỗi mặc cảm vừa nhìn xuống vừa nhìn lên. Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã từng lên tiếng “kẻ cả” dạy bảo lãnh đạo Miến Điện về dân chủ, bầu cử tự do… từng dùng những mỹ từ như ‘lãnh tụ dân chủ’ để chỉ bà Aung San Suu Kyi, trong khi các tờ báo thuộc loại “bảo vệ đường lối” như Nhân Dân, Công An Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân,… lại hay dùng từ dân chủ để biếm nhẽ những người đấu tranh cho xã hội dân sự trong nước.

Mặc khác các nhà lãnh đạo Việt Nam có lẽ cũng cảm thông với các tướng lĩnh độc tài Miến Điện, muốn độc quyền cai trị, dưới chiêu bài “giữ vững ổn định”, có khác gì với Đảng Cộng sản Việt Nam đâu?

Thái độ đối với Miến Điện của Việt Nam có nhiều mặc cảm như thế, cộng với không gian văn hóa xa xôi cách trở, sự quan tâm không nhiều của dân chúng trong nước, làm cho tuyên giáo của đảng khá thoải mái trong việc cho phép đưa tin về Miến Điện.

Nhưng đôi khi sự thoải mái này lại vượt rào, làm cho tuyên giáo bị hố, như báo Tuổi Trẻ từng trích lời ngoại trưởng Singapore, lên án hành động bắn giết dân thường Miến Điện: “Cầm súng bắn người dân của mình là đỉnh cao nỗi ô nhục quốc gia“. Vài giờ sau, bài báo này biến mất, chứ nếu còn, độc giả lại so sánh với vụ Đồng Tâm thì nguy!

Ảnh chụp màn hình bài báo Tuổi Trẻ ngày 5/3/2021, hiện đã bị gỡ bỏ.