Tuyệt đối không được mở rộng Saigon về phía Đông

  May be an image of 2 people and people standing

 

Đây là ảnh vợ chồng Kiến trúc sư trưởng Ngô Viết Thụ thời VNCH. Sau ngày ” giải phóng MN 30/4/1975 ông ấy không đi di tản. Mặc dù Mỹ đưa Trực thăng đến đón cả gia đình ông ấy sang Mỹ!

Mà ở lại góp ý cho chính quyền mới là: Hãy phát triển Saigon (tức HCM) về phía Tây – Bắc. Tuyệt đối không được mở rộng Saigon về phía Đông.

Nhưng họ không nghe, họ mở rộng TP HCM về phía đông (lấp hết ao hồ , kênh rạch)

PS: Vậy Tp HCM mới ngập lụt… như ngày nay! Cho dù đã chi 10.000 tỷ chống lụt… mà vẫn lụt!

Lấp ao hồ, kênh rạch làm nhà… là phá vỡ Quy luật tự nhiên ( Đại Kị ) … Hanoi và Tp HCM … đã trả giá đắt rồi đó. Tương lai sẽ … rất đắt!

PS: Người có tài, có tâm tướng mạo thật đẹp! Tiếc cho 1 nhân tài bị bỏ rơi… và tiếc cho Tp HCM vì đã không dùng ông ấy!

CHÚT HOÀI NIỆM XƯA – VĂN QUANG

Chút hoài niệm xưa nay còn đâu ?

CHÚT HOÀI NIỆM XƯA

VĂN QUANG

Cái “trục văn hóa” từ La Pagode, Givral đến Brodard khác nhau thế nào?

Nằm chung trên đường Tự Do xưa, có ba quán café cùng nổi tiếng như nhau. Bắt đầu từ nhà hàng La Pagode ở góc Lê Thánh Tôn – Tự Do, qua vài nhà hàng đến tiệm sách Xuân Thu, đến hành lang Eden, trong đó có rạp Ciné Eden từ hồi cựu hoàng Bảo Đại mới lên ngôi. Đến góc đường này là NHẢ HÀNG GIVRAL nằm đối diện với khách sạn Continental, sát bên trụ sở Hạ Nghị Viện (nhà hát lớn TP cũ), nhìn chéo sang phải là KHÁCH SẠN CARAVELLE sinh sau đẻ muộn. Đi quá chút nữa là NHÀ HÀNG BRODARD.

Ba tiệm cùng nằm trên một con đường rất gần nhau, chỉ cách khoảng trên dưới 100m và gần như có kiểu kinh doanh giống nhau.. Nhưng thật ra, nếu để ý kỹ, khách hàng thường chia làm 3 loại khác nhau. Ở đây tôi chỉ kể riêng về mặt “sinh hoạt văn hóa”.

NHÀ HẢNG LA PAGODE

Trước hết phải kể đến nhà hàng La Pagode, tôi cho là “cổ kính” nhất. Ngay từ những năm 1953, khi tôi mới biết taxi là “cái giống gì” (bởi ở miến Bắc hồi đó chưa có taxi), tôi đã biết La Pagode.

Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài hành lang, theo lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng đãng. Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt.

Phía trong có một bàn đánh “tin” dành cho khách giải trí chứ không có mục đích cờ bạc kiếm tiền. Ông Hoàng Hải, anh ruột của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, có thể kể là một “nhà vô địch về môn giải trí này. Chúng tôi chỉ cần mua một chục cái jeton, như đồng xu, bỏ vào khe là chơi triền miên. Cứ sắp hết lại kêu ông ông Hoàng Hải “cứu giá”, bonus lại đổ xuống hàng đống jeton tha hồ chơi.

Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết. Thật sự cái nhu cầu chính là đến đây gặp nhau, để… nói dóc, “bình loạn” vài cái tin văn nghệ, thời sự chính trị cho vui thôi.

Cả ba nhà hàng này với những cái “loa ngầm, loa không ai kiểm chứng” nên có thời người ta gọi những tin tức ấy là “radio catinat” (bởi con đường Tự Do, thời Pháp được đặt tên là đường Catinat). Tuy nhiên cũng có những nguồn tin “bí mật quốc gia” rất chính xác bên cạnh những nguồn tin chẳng bao giờ là sự thật. Nó cứ nhập nhằng như thế nên “radio Catinat” chưa chắc đã là “láo toét” như nhiều người kết tội nó.

Vậy tạm gọi Pagode dành cho giới viết lách gặp nhau, xả stress.

NHÀ HÀNG GIVRAL

Givral đông nhất và đáng kể nhất vào mỗi buổi sáng. Phóng viên trẻ thường tụ tập ở nhà hàng này vì nó ở ngay trước trụ sở Hạ Nghị Viện, các ông dân biểu thường ra ngồi giải lao tại đây và “thảo luận” đủ thứ chuyện bên lề. Và chuyện bên lề bao giờ cũng hấp dẫn hơn chuyện trong nghị trường. Chuyện “bí mật quốc gia”, chuyện phe nhóm, “gia nô” và không “gia nô”, chuyện tình bà nghị ông nghị…, cứ nghe mấy ông này là có đủ tin “giật gân” trong ngày. Cánh phóng viên thường bắt mối rất chặt chẽ với các ông bà dân biểu và nghị sĩ thượng hạ nghị viện. Thật ra họ có quyền lợi “hỗ tương”, anh cho tôi tin, báo tôi yểm trợ lập trường của anh.

Trong số những phóng viên, ngoài người Việt Nam còn có một số phóng viên người Mỹ, Pháp từ khách sạn Continental trước mặt ghé sang.

Hoặc cũng có một số phóng viên người Việt làm cho các đài truyền hình, truyền thanh nước ngoài săn tin tại đây.

Có một nhà thơ hàng đầu Việt Nam thời đó là thi sĩ Đinh Hùng, bình thường ông hay ngồi ở La Pagode, nhưng khi “hữu sự” ông lại ngồi ở Givral. Dáng người “thanh thoát” nhỏ nhắn rất thư sinh. Lúc nào ông cũng chải chuốt, complet, cravate, đầu chải mượt gọn gàng, tay luôn xách chiếc cặp da, ông còn giữ nguyên vẻ đỏm dáng, lịch lãm của “công tử Hà Nội” những năm 50. Ông thường hẹn gặp những người ái mộ ở đây.. Tôi để ý thấy hầu hết là những nữ độc giả rất trẻ, đẹp. Khi ông ngồi cùng 3-4 cô, khi ông lại rù rì với một người đẹp duy nhất. Đúng là ông có số đào hoa và dù đã ngoại ngũ tuần nhưng trái tim vẫn còn rất trẻ. Những lúc nhìn ông “say” như thế, tôi có cảm tưởng như ông cũng giống như những cậu trai 20 ngồi bên cô gái 18. Ông sống thật với rung cảm của mình.. Có lẽ vì vậy thơ ông bao giờ cũng mang cái óng mượt, thần thoại rất đặc trưng. Có thể, Givral chính là nơi bắt ngưồn cho những cánh thơ thăng hoa của cảm xúc này. Hôm nay ngồi ở Givral, hình bóng anh Đinh Hùng vẫn quanh quẩn đâu đây.. Nhớ lại, khi tôi viết truyện dài “Đời chưa trang điểm”, tiêu đề này chính là đã mượn trong câu thơ “đời chưa trang điểm mà xuân đã về” của anh. Lúc gặp nhau, anh Đinh Hùng nói với tôi: “Ừ, cái tít ấy có vẻ tiểu thuyết lắm, cứ lấy xài đi, đóng thuế cho tớ một cuốn thôi”. Mới đây mà đã hơn nửa thế kỷ rồi anh Đinh Hùng ơi!

NHÀ HÀNG BRODARD

Còn nhà hàng Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt, bà chị này hành nghề cai quản các em “ca nhe” từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm. Thỉnh thoảng một vài em vũ nữ, thường là loại có hạng như Lệ Hằng, Thủy Điên, Mỹ Khùng… ở mấy cái vũ trường gần đó như Tự Do, Mỹ Phụng, Olympia cũng la cà vào đây tán dóc.

Ba nhà hàng ấy là 3 sắc thái riêng biệt làm nên cái trục “văn hóa không tên”, cái linh hồn của Sài Gòn, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn.

NHÀ HÀNG THANH THẾ

Còn một địa chỉ nữa ở gần chợ Bến Thành là nhà hàng THANH THẾ, nơi này là chỗ gặp nhau của những ký giả thể thao như đàn anh Huyền Vũ, Thiệu Võ và một số những nhà báo miền Nam.

Dù sao cũng xin gửi đến bạn đọc nặng lòng với những hoài niệm cũ, với Sài Gòn xưa, một cái gì đã mất đi không thể tìm lại được./-

Văn Quang

From:TU-PHUNG

 CÔNG LÝ NƯỚC MỸ VÀ CÔNG LÝ VIỆT NAM.

 CÔNG LÝ NƯỚC MỸ VÀ CÔNG LÝ VIỆT NAM.

Hôm nay công lý nước Mỹ ra tay xử vụ án sĩ quan cảnh sát Derek Chauvin đè chết George Floyd với mức án dự đoán có thể lên tới 26,5 năm tù .Số tiền bồi thường cho gia đình nạn nhân là 27 triệu USD.

Sự việc này làm chúng ta nhớ đến vụ án công an cắt cổ anh Nguyễn Hữu Tấn. Chẳng có số tiền bồi thường nào cả và cũng chẳng có bản án nào được tuyên cho các đồng chí công an. Tương tự là 252 vụ nghi phạm bị công an đánh chết trong đồn cũng theo nhau chìm xuồng .

Nếu so sánh 2 sự việc này dân mạng Việt Nam sẽ bảo Công lý ở Việt Nam chỉ là một diễn viên hài.

Nhưng tại sao nó hài ?

Đa phần không biết nguyên nhân chủ yếu khiến một bên nghiêm túc một bên hài là hàng loạt cuộc biểu tình nổ ra trên khắp nước Mỹ sau cái chết của Floyd.Trong khi đó chẳng có cuộc biểu tình nào nổ ra sau cái chết của anh Nguyễn Hữu Tấn và 252 người kia.

Như vậy CÔNG LÝ đến từ đâu?

Chính là từ thái độ phản kháng không cam chịu, không hèn nhát của người dân nước Mỹ.

Đừng nghĩ rằng nước Mỹ sinh ra là có ngay Công lý. Sau khi thiết lập xong hiến pháp 1787 thì có ngay nội chiến.Và sau đó là phân biệt chủng tộc, là biểu tình,là đấu tranh dân sự liên miên không dứt.

Chính sức mạnh của người dân đã khiến chính quyền e sợ, sửa đổi và tôn trọng Công lý. Nếu không có những cuộc biểu tình của dân, Công lý ở Mỹ cũng chỉ là một diễn viên hài.

Nơi nào chính quyền sợ nhân dân nơi đó có luật pháp. Nơi nào nhân dân sợ chính quyền nơi đó có bất công.

Vì vậy khi dân mạng giễu cợt chính quyền cộng sản không có công lý chính là họ đang châm biếm sự hèn nhát của chính họ.

Không một chế độ độc tài nào ban cho bạn công lý mà bạn phải giành lấy nó bằng đấu tranh.

Người Việt chúng ta (hiện nay) là những người hung dữ.

Người Việt chúng ta (hiện nay) là những người hung dữ.

Khi tôi trả lời một cách đầy kiêu hãnh rằng mình là người Việt Nam, chị im lặng, cúi đầu, rồi ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt tôi, chậm rãi nói: “Xin lỗi bạn, nhưng tôi phải nói thật lòng với bạn rằng: Người Việt của bạn là những người hung dữ”.

Người Việt chúng ta là những người hung dữ.

Đấy là tình cảnh một dịp gần đây, trong buổi giao lưu giữa những người nước ngoài hiện sống và làm việc tại thành phố Jakarta (Indonesia), tôi gặp một người phụ nữ Mỹ gốc châu Phi. Trò chuyện vui vẻ với nhau một lúc, chị hỏi tôi từ đâu đến.

Câu nói của người phụ nữ làm tôi choáng váng. “Tại sao chị lại nghĩ vậy?” – Tôi vội hỏi và chị giải thích rằng vừa qua Việt Nam du lịch.

Đến TP.HCM, khi đang say sưa với cảnh vật và con người, chị đứng bên đường chụp ảnh khu nhà thờ Đức Bà bằng chiếc điện thoại vừa mới mua thì bị kẻ cướp lao đến giật phắt điện thoại, rồi vút đi bằng xe máy.

Vụ cướp giật không chỉ để lại cho chị những vết sẹo trên cơ thể (do bị kéo té ngã) mà còn cú sang chấn về tinh thần: Hiện nay, mỗi khi nhìn thấy hoặc nghe tiếng xe máy chị lại hoảng hốt.

Khi tôi xin lỗi chị và nói rằng chính quyền TP.HCM đang làm các bước để cải thiện sự an toàn cho khách du lịch, người phụ nữ ấy lắc đầu và nói cái cần sửa nhất là bản tính tham lam, bon chen và hung hăng của người Việt.

Chị cho biết, trong khoảng ba tuần ở Việt Nam, chị đã quan sát thấy cái bản tính ấy trong nhiều hoàn cảnh: Người ta không chịu xếp hàng mà sẵn sàng chen lấn, xô đẩy; người ta bóp kèn inh ỏi trên phố để cố nhanh hơn vài giây, vài phút.

Khi va quẹt vào nhau trên phố, thay vì nhã nhặn giải quyết vụ việc, người ta sửng cồ, sẵn sàng lao vào nhau.

Người ta sẵn sàng bắt chẹt khách du lịch chỉ vì lợi nhuận trước mắt: Khi trả giá để mua hàng, chị đã bị người bán nói những lời rất khó nghe, thậm chí còn xúc phạm đến nguồn gốc châu Phi của chị. Người phụ nữ thở dài nói rằng chị đã ở Indonesia 5 năm nhưng chưa bao giờ sa vào hoàn cảnh tương tự và so với những gì chị đã trực tiếp trải nghiệm, người Indonesia vô cùng hiền lành, tốt bụng, vui vẻ và tử tế.

Người Việt có hung dữ không? Câu hỏi ấy đeo đẳng tôi suốt nhiều tháng trời để rồi khi về Việt Nam lần gần đây nhất, tôi đã có câu trả lời.

Tại con hẻm nhỏ ở quận Gò Vấp, tôi chạy xe kế bên người mẹ vừa đón con đi học về. Giây phút hội ngộ của hai mẹ con sau một ngày làm việc và học tập vất vả đáng lẽ là những giây phút hạnh phúc, đầy ắp tiếng cười, nhưng không phải. Người mẹ vừa chạy xe vừa ra rả rủa xả con mình trong khi cô con gái nhỏ co rúm vì sợ hãi.

Người mẹ chửi con vì điểm kiểm tra toán hôm đó không như bà mong đợi. Nhìn nét mặt đau khổ của cô con gái, tôi tự hỏi người phụ nữ đang dạy con những gì? Hay bà đang cố gắng gieo mầm mống của sự hung dữ vào tâm hồn trẻ nhỏ?

Người Việt chúng ta là những người hung dữ. Khi chửi rủa con trẻ, phải chăng người mẹ đang gieo mầm tính xấu cho nó

Tôi tự hỏi có phải vì điều kiện sống quá áp lực, vì hoàn cảnh kinh tế bức bối mà con người ta dễ dàng trút giận lên nhau?

Trong những năm gần đây, tôi sống và làm việc ở hai thành phố lớn với môi trường khá tương tự TP.HCM. Đó là Manila (Philippines) và Jakarta (Indonesia).

Đây là hai thành phố có tình trạng người thất nghiệp khá cao, an sinh xã hội thấp, nhiều người nghèo và đặc biệt với tình trạng ùn tắc giao thông dễ khiến người ta nổi nóng.

Nhưng thật lạ, trong bốn năm sống ở Manila và một năm rưỡi sống ở Jakarta, tôi thấy trên đường phố, dù kẹt xe đến mấy, ít ai bóp còi.

Văn hóa xếp hàng ở hai thành phố này cũng vượt trội hơn hẳn các thành phố của Việt Nam và đặc biệt là tại các cơ sở kinh doanh, tôi chưa từng gặp tình trạng bị chèo kéo, hăm dọa và bắt nạt như tôi từng gặp mỗi khi về nước.

“Người Việt là những người hung dữ”, câu nói đó không hẳn là đúng, nhưng tôi thấy sự hung dữ ngày càng lộng hành và bột phát không chỉ ngoài đường phố mà còn trong các gia đình (bạo hành phụ nữ, trẻ em, người thân trong gia đình giết nhau vì mâu thuẫn hay tranh chấp tài sản), trong trường học (bạo hành học sinh), trên mạng xã hội (người ta có thể thoải mái mạt sát, thóa mạ lẫn nhau). Đặc biệt là các vụ giết người vì mâu thuẫn nhỏ ngày càng gia tăng.

Tôi đã nghe cha mẹ tôi kể những câu chuyện rất xúc động về sự tử tế của con người trong những năm tháng khi đất nước chúng ta còn chìm trong khói lửa chiến tranh.

Điều đáng buồn là khi chiến tranh lùi xa, sự tử tế cũng đang dần biến mất nhiều nơi. Bộ phim “Chuyện tử tế” của đạo diễn Trần Văn Thủy sản xuất năm 1985 đã cảnh báo về tình trạng ấy. Giờ đây, sau 34 năm, bộ phim vẫn còn nóng hổi tính thời sự.

Theo lời bình của bộ phim: “Tử tế có trong mỗi con người, mỗi nhà, mỗi dòng họ, mỗi dân tộc. Hãy bền bỉ đánh thức nó, đặt nó lên bàn thờ tổ tiên hay trên lễ đài của quốc gia. Bởi thiếu nó, một cộng đồng dù có những nỗ lực tột bực và chí hướng cao xa đến mấy thì cũng chỉ là những điều vớ vẩn…”.

Vâng, sự tử tế chính là cái gốc cho sự phát triển bền vững của một xã hội. Nếu chúng ta không sớm hành động để đánh thức và khích lệ sự tử tế trong mỗi con người, nền tảng đạo đức xã hội sẽ tiếp tục lung lay, khiến cho những thành tựu phát triển kinh tế của chúng ta trở nên vô nghĩa.

Nhà văn NGUYỄN PHAN QUẾ MAI

From: Phi Phuong Nguyen 

Ông gốc Việt ở Little Saigon tự thiêu, chết trong vườn sau nhà

Ông gốc Việt ở Little Saigon tự thiêu, chết trong vườn sau nhà

Apr 20, 2021

Đằng-Giao/Người Việt

SANTA ANA, California (NV) – Một ông gốc Việt tự thiêu chết trong vườn sau nhà trên đường Arden, giữa đường Lewis và đường Trask, Santa Ana, trong một khu xóm khang trang và yên tĩnh trong vùng Little Saigon, nơi có cộng đồng người Việt lớn nhất hải ngoại, hôm Chủ Nhật, 18 Tháng Tư.

Đường Arden, Santa Ana, nơi có một người Việt Nam tự thiêu. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Ông Anthony Bertagna, phát ngôn viên Sở Cảnh Sát Santa Ana, hôm Thứ Ba, 20 Tháng Tư, xác nhận với nhật báo Người Việt là một người gốc Á trong khu phố tự thiêu và qua đời trước khi cảnh sát và lính cứu hỏa đến nơi lúc 4 giờ 41 phút chiều Chủ Nhật.

Sự việc xảy ra vì ông này mắc chứng trầm cảm (depression), không phải là âm mưu phạm pháp (no foul play), tuy nhiên, sự việc vẫn đang trong vòng điều tra, ông Bertagna cho biết.

Ông Henry, một người hàng xóm, không muốn cho biết họ, cho biết trưa Chủ Nhật, khi vừa thay nhớt xe xong, trên đường thử xe, ông nghe tiếng la hét rất dữ dội ở hướng cuối phố.

“Thấy người ta chạy rần rần về hướng đó, tôi cũng thắc mắc, muốn biết chuyện gì xảy ra, nhưng tôi phải tiếp tục thử xe để tối hôm đó đi San Jose. Khi tôi quay lại thì thấy xe cứu hỏa và nhiều xe cảnh sát chặn kín cuối đường và nghe người ta nói là có người chết,” ông kể. “Nhà tôi không ở trên đường Arden nên tôi không biết gì về gia đình đó, chỉ biết là họ chưa làm phiền gì tôi cả.”

Được biết, trưa Chủ Nhật, một người hàng xóm trên đường Arden thấy lửa phựt lên trong vườn nhà nạn nhân và nghe tiếng la to nên lập tức gọi 911.

Qua nhiều nguồn thông tin của hàng xóm, nhật báo Người Việt được biết người tự thiêu tên Nguyễn Kim Lành, khoảng ngoài 60 tuổi, làm kỹ sư nhiều năm cho hãng ở Fountain Valley, và thường nói chuyện về hưu.

 Một đoạn của khu phố này bị phong tỏa đến đêm Chủ Nhật, 18 Tháng Tư, trong lúc cảnh sát làm việc. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Vợ chồng ông có hai con gái.

 

Hôm Chủ Nhật, khi vợ ông đi lễ ở nhà thờ về đến nơi thì xác ông đã được chở đi rồi. Vài người mủi lòng khi nhớ lại sự bàng hoàng ngơ ngác của bà vợ ông Lành khi hay tin dữ chiều hôm ấy.

Ông Lành tính tình chất phác, hiền lành, tốt bụng, ít nói.

Trong mùa COVID-19, thỉnh thoảng ông có chuyện trò, thăm hỏi xã giao với lối xóm và không lộ vẻ gì khác thường.

Vợ ông nói giọng miền Bắc trong lúc ông nói giọng miền Nam và hai người có vẻ rất hòa thuận. Vợ ông thường đi lễ ở nhà thờ, gần như là hàng tuần.

Khu xóm khang trang và yên tĩnh mà cũng có người không vui với cuộc sống. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Tin này ban đầu được một độc giả email báo cho nhật báo Người Việt biết, một ngày sau khi sự việc xảy ra, nhưng không cho biết chi tiết.

Hôm Thứ Hai, phóng viên Người Việt đến gõ cửa nhà ông Lành xin phỏng vấn, nhưng không ai mở cửa.

Sau đó, người email báo tin cho nhật báo Người Việt yêu cầu phóng viên không nên quấy rầy gia đình trong thời gian này vì họ đang trong lúc “tang gia bối rối.” [đ.d.]

—-
Liên lạc tác giả: ngo.giao@nguoi-viet.com

Việt Nam tiếp tục xếp cuối bảng về Chỉ số Tự Do Báo chí Thế giới

Việt Nam tiếp tục xếp cuối bảng về Chỉ số Tự Do Báo chí Thế giới

RFA
2021-04-20

Việt Nam tiếp tục xếp cuối bảng về Chỉ số Tự Do Báo chí Thế giới

Hình minh hoạ. Quân đội đứng canh gần tấm biển cổ động cho Đại hội 13 ở Trung tâm Hội nghị Quốc gia ở Hà Nội hôm 26/1/2021

 AFP

Việt Nam bị Tổ chức Phóng viên Không Biên Giới (RSF) xếp thứ 175 trong tổng số 180 quốc gia tên toàn thế giới về tự do báo chí trong báo cáo về Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới được công bố vào ngày 20/4.

Đây là năm thứ hai liên tiếp Việt Nam bị xếp thứ 175 trong báo cáo này của RSF.

Theo RSF, Chính phủ Việt Nam củng cố kiểm soát nội dung mạng xã hội trong khi tiến hành một làn sóng bắt bớ những nhà báo độc lập hàng đầu trước khi tiến tới Đại hội Đảng vào tháng giêng năm 2021. Trong số này có cô Phạm Đoan Trang, người được RSF trao giải Tác Động hồi năm 2019.

Theo báo cáo của RSF, ngành báo chí, một loại vắc xin chống thông tin sai lệch, đã bị chặn hoàn toàn hay một phần tại 73 phần trăm trong tổng số 180 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng.

Chỉ số đưa ra phản ánh tình trạng suy thoái về việc tiếp cận thông tin của người dân và sự gia tăng biện pháp ngăn trở đưa tin từ phía cơ quan chức năng. Dịch COVID-19 được sử dụng như căn cứ để chặn không cho các nhà báo tiếp cận nguồn tin và trực tiếp tác nghiệp ở hiện trường.

Dữ liệu đưa ra trong báo cáo cho thấy các nhà báo nhận ra rằng ngày càng khó tiến hành điều tra và loan những tin nhạy cảm; đặc biệt tại Châu Á, Trung Đông và Châu Âu.

Tổng thư ký Christophe Deloire của RSF được dẫn lời rằng hoạt động sản xuất và loan truyền tin  tức của báo chí thường xuyên bị chặn bởi những yếu tố kinh tế chính trị, kỹ thuật và đôi khi cả yếu tố văn hóa. Đề có thể đối phó với sự lan tràn thông tin sai lệch truyền đi khắp nơi trên những cơ sở số và thông qua mạng xã hội, báo chí cung cấp những phương tiện hữu hiệu nhất nhằm bảo đảm cho những cuộc tranh luận công cộng được dựa vào đa dạng những dữ liệu có xác lập.

Ba nhà báo độc lập thuộc nhóm Báo Sạch bị khởi tố và bắt giam(RFA)

Ba nhà báo độc lập thuộc nhóm Báo Sạch bị khởi tố và bắt giam (RFA)

RFA
2021-04-20

Ba nhà báo thuộc nhóm Báo Sạch: (từ trái qua) Nguyễn Thanh Nhã, Nguyễn Phước Trung Bảo, Đoàn Kiên Giang 

Ba nhà báo độc lập là Nguyễn Thanh Nhã, Đoàn Kiên Giang và Nguyễn Phước Trung Bảo vào ngày 20 tháng tư bị Công an Thành phố Cần Thơ khởi tố và bắt giam với lý do có liên quan đến nhà báo độc lập khác là ông Trương Châu Hữu Danh thuộc Báo Sạch. Ông Trương Châu Hữu Danh đang bị giam giữ để điều tra với cáo buộc vi phạm Điều 331 Bộ Luật Hình sự.

Báo Công An Nhân Dân cho biết cả ba nhà báo mới bị bắt giữ đều thuộc nhóm Báo Sạch. 

Báo Sạch là một báo mạng độc lập không thuộc kiểm soát của Chính phủ. Người đọc chủ yếu đọc thông tin của Báo Sạch qua mạng xã hội Facebook. Tuy nhiên trang báo đã biến mất khỏi Facebook trong khoảng thời gian nhà báo Trương Châu Hữu Danh bị khởi tố và bắt giam.

Mạng báo Pháp Luật trong cùng ngày cho biết biện pháp khởi tố và bắt giam như vừa nêu được tiến hành vì cả ba người bị phát hiện có liên can trong quá trình điều tra mở rộng vụ án ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền/lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân’ xảy ra tại thành phố Cần Thơ và một số tỉnh thành do nhà báo Trương Châu Hữu Danh và một số người khác thực hiện.

Tin cho biết nhà báo Nguyễn Thanh Nhã (sinh năm 1980, cư trú tại căn hộ 3.01 chung cư Flora Anh Đào, phường Phước Long B, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh), nhà báo Đoàn Kiên Giang (sinh năm 1985, cư trú tại căn hộ 5.04 tầng 6 chung cư 241/1/25C, Phường 11, Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh), và nhà báo Nguyễn Phước Trung Bảo (sinh năm 1982, cư trú tại 172 Hà Huy Giáp, phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng).

Các quyết định khởi tố, bắt tạm giam trên đều được Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phê chuẩn.

Cơ quan chức năng trong khi khám xét nơi ở của ba nhà báo vừa nêu đã thu giữ nhiều đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án.

Nhà báo Trương Châu Hữu Danh bị bắt vào ngày 17 tháng 12 năm ngoái. Ông là nhà báo duy nhất tiếp cận và đưa thông tin vụ án tử tù án oan Hồ Duy Hải xuyên suốt từ giai đoạn điều tra đến nay. Ông Trương Châu Hữu Danh cũng đi đầu trong tất cả các điểm nóng, đi đầu chống BOT bẩn, khai quật những bất công Thủ Thiêm, vào rừng đón ông Đặng Văn Hiến do phản đối việc cưỡng chế bắn chết người ra đầu thú …

VN: NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA VÀ HỘI CHỨNG BỎ VIỆC

VN: NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA VÀ HỘI CHỨNG BỎ VIỆC

  Câu chuyện Bạch Mai có hơn 200 nhân viên bỏ việc chưa kịp chìm xuống thì hơn 600 y bác sĩ xin nghỉ …

Câu chuyện Bạch Mai có hơn 200 nhân viên bỏ việc chưa kịp chìm xuống thì hơn 600 y bác sĩ xin nghỉ việc tại một bệnh viện ở TP HCM phải khiến chúng ta đặt ra những câu hỏi về cách thức sử dụng nguồn lực con người trong xã hội VN hiện nay.

Người Việt vốn ưu “ổn định”, ổn định là một trong những cái đích quan trọng nhất của những người làm công ăn lương, đặc biệt là ở hệ thống công. Nhưng khi tôi nghỉ việc thì đồng thời có 2 người nữa cùng tổ chuyên môn cũng đã rời đi ngay sau đó. Tại một trường học thuộc loại VIP nhất (trường chuyên) của hệ thống trung học mà mỗi năm có hàng chục người bỏ việc thì phải thấy rằng đó là một hiện tượng bất thường.

Tình trạng này ngày càng phổ biến trong hệ thống công lập. Nhưng đó chưa phải là vấn đề lớn nhất. Một nhà báo là bạn thân của tôi nói, chỉ ước có một công việc hay nguồn thu nhập gì khác đủ nuôi con là lập tức bỏ việc ngay. Cũng theo người ấy, dường như không có mấy đồng nghiệp của anh ta còn mặn mà với báo chí nữa. Tâm trạng chán nghề đang bao trùm lên xã hội.

Tại sao thế? Tôi nghĩ, vấn đề lương hay thu nhập là một trong những nguyên nhân quan trọng, nhưng không phải là quan trọng nhất. Đồng nghiệp tôi, nhiều người đang loay hoay tìm cách đổi nghề, họ tỏ rõ sự chán chường và mỏi mệt trong chính cái nghề mà họ đã đèn sách theo đuổi hàng chục năm trời. Cái cung cách quản lý mang tính chuyên chế, môi trường làm việc không có dân chủ, cùng với hàng tá những việc “tẹp nhẹp vô nghĩa lý” đè nặng mỗi ngày. Người lao động, mà lại là lao động trí óc, ngày nay dường như chỉ còn là những công cụ trong tay thủ trưởng, họ hoàn toàn bị phụ thuộc về mọi mặt. Một người giáo viên mà đến chuyên môn còn không có quyền tự chủ thì thử hỏi sẽ tìm niềm vui ở đâu trong nghề nghiệp của mình? Không những bị tước đoạt đi năng lực sáng tạo và sự tự tôn nghề nghiệp, họ còn bị đè ép bới bao nhiêu quy đinh nhiêu khê phiền hà, và lúc nào cũng có thể trở thành nạn nhân bởi sự vui buồn của người đứng đầu. 

Người trí thức bị xúc phạm, thậm chí bị nhục mạ, bị coi khinh, bị tước đi niềm vui trong những tìm tòi và lao động sáng tạo. Thân phận người lao động nói chung và người trí thức nói riêng chưa bao giờ bị rẻ rúng đến thế. Không những không được lao động đúng nghĩa mà còn phải làm những vô nghĩa; không những không được phát tiết trí tuệ mà còn phải làm cả những việc sai trái. Nó là một thảm trạng.

Thử hỏi ai có thể chịu đựng kéo lê mãi một cuộc đời như thế ? Thế mà có đấy, không những có mà còn có nhiều. Bên cạnh những người bỏ việc (thiểu số) là những người tồn tại bằng những cách tiêu cực. Một bộ phận nhân lực thuộc giới “tinh hoa” của xã hội đã buộc phải hạ thấp mục tiêu, tự mài mòn cá tính, và thỏa hiệp để tồn tại. Một tình trạng “làm việc cầm chừng” đang trùm phủ lên xã hội. Không những chỉ cầm chừng, mà tai hại hơn, đối phó – đối phó đang trở thành phương cách làm việc của họ. Đó là con đường của sự tha hóa.

Nguồn tài nguyên vô giá của quốc gia đang bị hủy diệt bởi cung cách quản trị sai lầm, Đó không chỉ là một sự “lãng phí” mà ghê gớm hơn, là một tội ác. Nó không chỉ chặn đứng tương lai đất nước mà quan trọng hơn là, phá hủy con người.

Nguồn nguyên khí thiêng liêng của quốc gia không thể tiếp tục bị hủy hoại nữa. Không thể tiếp tục duy trì một bộ máy với cách thức vận hành phản khoa học như thế nữa. Muốn đất nước phồn thịnh và nhân dân hạnh phúc, không có con đường nào khác ngoài việc cải cách thể chế.

Thái Hạo

From:TU-PHUNG

“XỨ ĐÔNG DƯƠNG” QUA “MẮT XANH” VƯƠNG HỒNG SỂN…

 No photo description available.

“XỨ ĐÔNG DƯƠNG” QUA “MẮT XANH” VƯƠNG HỒNG SỂN…

Tháng 6/2016, Báo Lâm Đồng Cuối tuần có đăng trong chuyên mục “Hồ sơ – Tư liệu” bài viết “Xứ Đông Dương – Một tài liệu tham khảo rất đáng quý” giới thiệu tập hồi ký “Xứ Đông Dương” của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1897-1902), Tổng thống Pháp (1931-1932) xuất bản lần đầu năm 1905 được dịch từ nguyên bản tiếng Pháp L’Indochine Frangcaise (Souvenirs). Tập hồi ký do NXB Thế giới phát hành ra mắt độc giả Việt Nam tháng 3/2016.

Tôi đã tìm mua được “Xứ Đông Dương” và say mê đọc bởi bị phong cách văn chương của Toàn quyền Paul Doumer quyến rũ trước nhiều sự kiện đầu thế kỷ XX ở Việt Nam. Một lần lục lọi kho sách tư gia, bất chợt thấy cuốn “Dỡ mắm” (di cảo, NXB Trẻ tái bản lần thứ nhất 2015) của học giả Vương Hồng Sển có lời tựa “Ngồi buồn dỡ mắm nhau ra/ Mắm ông thì thúi, mắm bà chẳng thơm”. Thấy lý thú nên tò mò lần dở mới hay nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng, học giả Vương Hồng Sển từng đọc hồi ký “Xứ Đông Dương” bằng tiếng Pháp khi phát hành vào thập niên đầu thế kỷ XX.

Nhận xét về tập hồi ký “Xứ Đông Dương”, học giả Vương Hồng Sển trần tình: “… Viết về ông Doumer, tôi đã sửa ngòi bút, suy nghĩ thật nhiều: viết sai thì hổ với lương tâm, bằng bốc thơm ông lại ngại tiếng gièm pha còn mến tiếc Tây đầm. Nhưng ở Hà Nội cầu Long Biên còn đó, ai giẫm chơn lên phải nhớ người xây dựng, mới không thẹn sao “uống nước nỡ quên nguồn”! Ở Huế, cầu Tràng Tiền đổi tên mấy lượt, nhưng vẫn còn sờ sờ, ở Sài Gòn này, cầu Bình Lợi cũng là kỳ công bất hủ của ông Doumer, chớ mấy ai khác. Vậy tôi biết gì, cứ nói.

Doumer qua Việt Nam khi tuổi chưa đầy 40. Người khỏe mạnh, làm việc bằng mười, thêm tài ba xuất chúng. Những kỳ công của ông là:

– Ông thấy xa, lập trường Viễn Đông Bác Cổ, để bảo vệ cổ tích, đền chùa khỏi bị phá phách cắp gỡ, tu bổ cổ tích còn lại. (Doumer từng than tiếc cổ tích Chàm ở Đà Nẵng bị cạy gỡ mất mát nhiều nên năm 1899, ký sắc lịnh cho lập trường Viễn Đông Bác Cổ).

– Ông lập trường cao đẳng ở Hà Nội, để tiện cho học sanh bên Trung Quốc qua học, thêm học trò miền Nam, con cháu điền chủ có tiền, dễ ra học hơn mở trường cao đẳng ở Sài Gòn, học trò Tàu chê xa, và học trò xứ Bắc xứ Trung, phần đông đều con ông đồ ông bảng thanh bạch, giàu chữ hơn giàu tiền làm sao gởi con vào Nam học được nhiều.

– Chính ông năm 1901 đã đến tại chỗ, chọn Đà Lạt thay vì Dankia và đốc thúc, tài trợ cho bác sĩ Yersin thành lập nơi nghỉ mát Đà Lạt như ngày nay đã thấy. Ba cây cầu sắt ông để lại, thật là kỳ công bất hủ:

– Ở Hà Nội, có cầu Long Biên, trước mang tên ông là Pont Doumer: hãng Daydé et Pillé de Creil (Oise) trúng thầu, đặt viên đá đầu tiên tháng 9/1898; cầu dài trên 2.500 m, khúc vào thành (hữu ngạn) trên đất liền, dài 800 thước, khúc giữa trên sông Hồng nối hai bờ, dài 1.680 m, gồm 19 nhịp, toàn sắt thép trứ danh Cantilever; 19 nhịp nằm trên 20 cột chống xây đá, móng cầu cừ đóng và trụ cây phải thọc sâu tới khi đụng đất nạc đất cứng, phải sâu hơn 30 m, từ mặt nước thấp nhất của Hồng hà và phía trên khỏi mặt nước là 13 m 50 nữa, tức cột đo 43 m 50. Một cầu dài nhất ở Á Đông, một kỳ công của kỹ sư thợ cái Pháp và của nhơn công người Việt, đáng mặt để đời. Cũng có thợ hồ, thợ sắt Tàu trợ lực. Khi đặt đá khánh thành, mọi người dự kiến đều hoài nghi sự thành công, nhứt là người An Nam đều cho là còn khó hơn chuyện vá trời, và khi cây cầu làm xong, lại le lưỡi nói: “Việc gì Tây muốn, họ đều làm được”; cầu ăn lễ lạc – thanh tháng 2/1902, một lượt với đoạn đường sắt xuyên Đông Dương sau này (đường sắt Hà Nội xuống Hải Phòng, dài độ 100 km, ông vui lòng được mắt thấy trước khi xuống tàu về Pháp), 5 năm nhiệm vụ đã tròn. (Phí tổn 6.000.000 quan Pháp, ăn 2fr50 mỗi 1$ (bạc 27gr).

– Ở Huế, ông để kỷ niệm lại cầu Tràng Tiền, bắc ngang sông Hương, nối liền xóm Tây qua xóm Việt và Thành nội và đưa đường xuống Đà Nẵng, cầu dài 400 m, cột cầu đóng xuống sâu 20 m, do hãng Pháp Creusot lãnh thầu và xây cất, chính ông làm lễ khánh thành và nhường vua Thành Thái cắt dây tượng trưng cho sự thông thương cho dân và ngày nay xe ô tô, thiết giáp đi (không có đường cho tàu hỏa). Không thấy ghi chi xuất bao nhiêu…

– Ở Sài Gòn, ông giúp cho một cầu sắt nối liền lên Biên Hòa, ấy là cầu Bình Lợi. Ông dự định cầu chịu nổi đường sắt xe lửa xuyên Đông Dương về tương lai, cột cầu dưới mặt nước thấp nhất đo được 31 m và do hãng Levallois-Perret thầu và xây cất, ăn lễ khánh thành vào tháng 2/1902. Cầu có 6 nhịp, một nhịp nơi giữa, dài đến 40 m, vẫn xây mở được để tàu thuyền thông thương.

Ngoài ra Doumer còn để lại nhiều công-tác cầu kỳ (tuy không quan trọng bằng ba cây cầu vĩ đại kia), thành tựu từ 1897 đến 1902, có thể gọi là thời kỳ mở mang Đông Dương, thời kỳ sắt và cầu sắt, đáng kể hơn là ở Bắc, cầu ở Hải Phòng, Hải Dương, Việt Trì, Lào Cai, miền Trung có cầu Thanh Hóa do hãng Daydé et Pillé xây cất, cầu này dài 160 m vòng cầu liên lạc một mạch nối hai bờ sông, không có nhịp ở giữa và khi ráp nối, trải ván rất cam go.

Riêng miền Nam, ông còn có thêm: năm 1901, con lộ đá Sài Gòn đi Tây Ninh để sau này thông thương với Cao Miên, và năm 1903, con lộ đá Sài Gòn đi Bà Rịa, mở thông lên Tánh Linh xứ gỗ súc, sau này sẽ thông thương với miền Trung. Ông còn dự định thiết lập một con đường sắt cho xe lửa chạy, nối liền Sài Gòn lên Nam Vang, nhưng việc này thời đại sau ông bỏ dở, tiếc thay”…

Với nhận xét sắc sảo, công tâm như vậy chứng tỏ người Việt mình rất có đôi “mắt xanh” khi đánh giá chính khách nước ngoài. Rất tiếc độc giả Việt Nam và cũng không mấy người phương Tây có trong tay và đọc “Dỡ mắm”!

NGUYỄN THANH

ĐỊA NGỤC GIÁO DỤC?…

ĐỊA NGỤC GIÁO DỤC?…

Đau xé lòng trước vụ em học sinh Trường Nguyễn Khuyến (TP. HCM) nhảy lầu tự vẫn vì áp lực học hành. Không biết bức thư tuyệt mệnh này có đúng là của em không, nhưng ít nhất đúng như tôi nghĩ lâu nay.

Không dưới một lần, tôi khẳng định triết lý “giáo dục toàn diện” là sai lầm tận gốc. Từ cái gốc này kéo theo Chương trình, Sách giáo khoa và cách đánh giá đã sai lầm một cách toàn diện, gây áp lực nặng nề cho con em chúng ta.

Đây không là vụ duy nhất học sinh tự vẫn. Những trường hợp không tự vẫn, theo tôi, tâm thần đều có dấu hiệu khủng hoảng nặng. Hãy cùng nhau lên tiếng, vì con tôi và con các bạn đều đang là nạn nhân của cách giáo dục này, nếu chúng ta còn chút lương tâm!

Một ngày kia phải ghi tội ác những kẻ làm chương trình và sách giáo khoa vào các trang sử.

CHU MỘNG LONG

————-

Nội dung bức thư:

“Kính thưa các bác lãnh đạo, các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo!

Con xin được trút hết nỗi lòng đã giấu diếm suốt bấy lâu nay và con, cũng như nhiều bạn học sinh khác mong chờ sẽ nhận được những lời chia sẻ, cũng như ý kiến của các bác lãnh đạo, các phụ huynh và các thầy cô.

Đã nhiều năm nay, hầu như cuộc đời của học sinh chúng con chỉ là thức dậy, đi học trên trường, đi học thêm, về nhà và lặp lại. Qua nhiều năm, niềm đam mê học tập của con dần mất đi.

Con bắt đầu kiệt sức, chán nản và tuyệt vọng khi nghe đến chữ HỌC.

Không biết tự bao giờ, thời gian chúng con đi học còn nhiều hơn khoảng thời gian chúng con được ngủ. Đối với con, càng học cao hơn, kiến thức càng trở nên vô nghĩa.

Con biết nói ra điều này thật vô ơn. Để có được những kiến thức hôm nay là công sức đầy gian lao của những người đi trước.

Nhưng con tự nghĩ, vì sao giáo viên chỉ có thể dạy một bộ môn nhưng bản thân một học sinh phải học những mười mấy môn?

Không chỉ vậy, chúng con còn chịu áp lực nặng nề từ thầy cô, phụ huynh và cả xã hội. Một lớp học phải có từ 40 học sinh đạt Giỏi, Khá và không được có học sinh Trung bình.

Đã đi học thì các môn tổng kết cả năm phải từ 8 điểm trở lên, thậm chí là cao hơn. Tỉ lệ tốt nghiệp của trường sau một năm phải đạt 90% trở lên, có trường phải giữ vững mục tiêu là 100%.

Con đã nhiều lần suy nghĩ về những gì chúng con đang được học. Càng nghĩ,con càng cảm thấy nản hơn khi con nhận ra mình gần như không thể tiếp nhận những kiến thức nhà trường dạy.

Bộ não của một người trưởng thành chỉ nặng gần 1400 gam nhưng những người của thế hệ đi trước lại mong chờ chúng con học đều, học tốt lượng kiến thức khổng lồ từ hơn mười môn học khác nhau.

Con sợ lắm! Con sợ mỗi khi ông mặt trời lại lên báo hiệu một ngày đi học nữa lại đến. Con sợ khi điều đầu tiên thầy cô làm khi bước vào lớp là khảo bài, kiểm tra một núi bài tập họ giao cho chúng con.

Con sợ khi tiếng trống giờ về không đồng nghĩa với việc chúng con được về nhà nghỉ ngơi mà nó chỉ đơn thuần là giờ ra chơi giữa giờ học chính khóa và giờ học thêm.

Con sợ khi nhìn các bạn đồng trang lứa ăn vội vàng cái bánh bao và ánh mắt họ đờ đẫn, xa xăm, vô hồn ngồi trên chiếc xe máy giữa dòng người kẹt xe lúc 5h chiều.

Thưa các bác, các bác phụ huynh, các thầy cô!

Còn biết bao nhiêu câu chuyện chưa được kể về những áp lực vô hình mà mọi người đang vô tình đặt lên vai chúng con.

“Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” – Đó là điều đầu tiên con học được khi bước vào lớp 1. Và cho đến giờ, khi đang ở độ tuổi 18, con căm ghét cái câu nói này kinh khủng.

Con xin lỗi khi nói ra những điều này, con biết việc này sẽ khiến cho những người đi trước khó chịu nhưng cho phép con được nói lên nỗi lòng mình: Con ghét đi học.

Con ghét cái cảm giác bước qua cổng trường, mở cuốn SGK, chép từng trang vở. Con cảm giác mình lạc hướng… Từng ngày đi học, chúng con quay cuồng với việc học bài, kiểm tra.

Những năm tháng dần trôi qua một cách vô nghĩa dưới áp lực của việc học hành, của thầy cô, của gia đình.

Chương trình học hiện tại không cho phép học sinh chúng con có quyền sáng tạo. Tất cả bị bó buộc vào những quy luật nhất định và chúng con – những người học sinh bắt buộc phải làm theo chứ không được thay đổi.

Chính bản thân chúng con còn không hiểu mình đang học vì cái gì, vì ai!

Học vì kì vọng của mọi người xung quanh, học vì điểm số, học để qua được một kì kiểm tra ư? Xong rồi sao nữa?

Cuối cùng sau hơn 20 năm học tập miệt mài, căng thẳng chúng con còn phải sống một cuộc đời rất dài và tới lúc đó, chúng con sẽ phải áp dụng những kiến thức đã học được vào cuộc sống.

Nhưng con đã nhiều lần tự hỏi, con có thể sử dụng “Chuyển động tròn đều”, “Chiều tăng giảm của hàm số” hay Vecto trong cuộc đời thật như thế nào?

Chúng con cứ học rồi lại quên, thầy cô thì cứ lao đầu vào giảng, giao bài tập về nhà nhưng họ chưa bao giờ nói cho chúng con nghe ứng dụng của những kiến thức này trong cuộc sống.

Từ một lúc nào đó, mọi người lại đánh giá nhau thông qua những con điểm.

Chì vì những con điểm vô giá trị mà đã đẩy biết bao số phận học sinh vào bước đường cùng, đã khiến cho mối quan hệ giữa cha mẹ – con cái và giáo viên – học sinh trở nên căng thẳng, ngột ngạt.

Cuộc sống của những học sinh giờ đây gần như chỉ xoay quanh HỌC. Chúng con không biết đến khái niệm nghỉ ngơi, thư giãn.

Chúng con gần như không còn hiểu được giá trị của những bữa ăn bên gia đình vì gần như suốt một tuần chúng cháu chỉ gần như học thêm đến khi trời tối mịt.

Người bạn ngồi kế con, bạn ấy học rất giỏi và các thầy cô đều rất yêu quý bạn ấy. Nhưng bạn ấy khổ lắm. Nhà bạn ấy ở Quận 12 và bạn ấy phải đi xe buýt tới Quận 1 để học thêm mỗi ngày.

Từng ngày đi học của bạn ấy bắt đầu từ 5h30 sáng cho tới 11h đêm. Bạn ấy đã kiệt sức rồi, con biết điều đấy. Khuôn mặt bạn phờ phạc, ánh mắt bạn bơ phờ, bạn bị thiếu ngủ và đau dạ dày.

Những người như bạn con không thiếu ngay tại chính TP.HCM này.

Học sinh chúng con sống thờ ơ, lãnh đạm, vô cảm và không có kĩ năng sống. Chúng con không biết phải làm gì nếu có động đất, sóng thần hay gặp một người bị đột quỵ ngay giữa đường.

Người lớn thất vọng vì cách ứng xử của thế hệ trẻ trong khi thế hệ trẻ chúng con lại thất vọng vì đang được giáo dục không có định hướng.

Thưa các bác, là một học sinh, con đã vô cùng xúc động khi nghe chủ trương không dạy thêm. Cái cảm giác vui mừng chợt chạy qua người con khi nghĩ đến cảnh chúng con không còn phải còng lưng ra học bài lúc 11h đêm nữa.

Nhưng hiện thực tàn khốc của việc học đã không cho con được vui mừng lâu.

Trước cảnh mỗi năm đề thi Đại học lại đổi mới một kiểu, trước cảnh cô giáo viên dạy Toán của chúng con quảng cáo về lớp dạy thêm của cô một cách bí mật, con nhận ra mọi chuyện sẽ không hề tốt lên được, sẽ không bao giờ tốt lên được.

Rồi sau tất cả, khi chúng con rời ghế nhà trường, đối diện với cuộc sống thật, chúng con lại lơ ngơ, hoang mang vì hoàn toàn không có những kĩ năng sống cần thiết.

Con cầu xin các bác, các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo: Xin hãy cho chúng con được SỐNG. Xin cho phép chúng con được sống trong những tháng năm tuổi học trò một cách trọn vẹn nhất có thể.

Xin đừng quá kỳ vọng vào tụi con để rồi chính những kì vọng ấy khiến cho mọi người thất vọng. Xin đừng chỉ trích chúng con khi bọn con bị điểm kém.

Xin hãy hiểu rằng mỗi người chỉ có những khả năng nhất định và bọn con không phải là thiên tài.

Cuối cùng, con xin mọi người hãy hiểu: “HỌC SINH CŨNG CHỈ LÀ CON NGƯỜI, KHÔNG PHẢI MÁY MÓC”.

May be an image of text that says 'tuöitre online f THỜI SỰ Nam sinh trường Nguyễn Khuyến viết thư tuyệt mệnh rồi nhảy lầu tự tử 11/04/2018 17:28 GMT+7 TTo Trước khi tự tử, nam học sinh để lại thư tuyệt mệnh với nội dung do áp lực học tập, điểm số và áp lực từ gia đình muốn con mình được học lớp đứng đầu khối.'
You and 163 others
50 Shares
Sad
Sad

 

Comment
Share

Navalny, người chỉ trích Putin có thể ‘chết trong vài ngày tới’? – BBC News Tiếng Việt

 

Các bác sĩ săn sóc cho Alexei Navalny, nhà hoạt động đối lập Nga đang bị giam cầm, nói ông “sẽ chết trong vài ngày tới” nếu không được chăm sóc y tế đứng mức.

Các bác sĩ nói kết quả xét nghiệm máu gần đây cho thấy tim ông có thể bị ngừng đập hoặc bị suy thận bất cứ lúc nào.

Navalny đã tuyệt thực trong 18 ngày, để yêu cầu được điều trị thích hợp cho chứng đau lưng cấp tính và tê chân.

Là một nhà chỉ trích Tổng thống Vladimir Putin nổi tiếng, ông Navalny bị bỏ tù vào tháng Hai vì những cáo buộc tội tham ô cũ.

Bốn bác sĩ, trong đó có Anastasia Vasilyeva, bác sĩ riêng của Nalvalny, đã viết thư cho các quan chức tại nhà tù để xin phép được khám bệnh khẩn cấp cho ông.

  MỘT BÀI HỌC TỪ BIẾN CỐ 30-4-1975 (Nguyễn Gia Kiểng)

May be a black-and-white image of child, standing and outdoors
 

  MỘT BÀI HỌC TỪ BIẾN CỐ 30-4-1975 (Nguyễn Gia Kiểng)

Ông chủ nhiệm báo Việt Luận hỏi tôi chúng ta có thể rút bài học nào từ biến cố 30-4-1975? Câu hỏi thực là khó. Có rất nhiều bài học lịch sử mà chúng ta có thể rút từ cuộc chiến tranh kết thúc ngày 30 tháng 4-1975. Tất cả đều là những bài học lớn cho cuộc vận động dân chủ hiện nay.

Nhưng trước hết xin có vài lời về những bài học lịch sử: phải rất thận trọng và khiêm tốn vì chúng thường sai. Tại sao ? Lịch sử rất quan trọng bởi vì cuộc sống của một quốc gia, cũng như cuộc sống của một người, chủ yếu là thực nghiệm. Tuy vậy chúng ta lại không thể thí nghiệm. Chúng ta không thể thử nghiệm sự sụp đổ hay sự phá sản của một quốc gia. Chúng ta không thể thử nghiệm trên đời sống của một dân tộc để xem cái gì sẽ xảy ra nếu thực hiện chủ nghĩa này hay chính sách nọ, như thế là vô trách nhiệm và cũng có thể là tội ác. Đó là sai lầm to lớn của các chế độ cộng sản. Họ đã đem số phận của các dân tộc để thử nghiệm một chủ nghĩa mà sau này thực tế chứng minh là rất sai.

Lịch sử giúp chúng ta bù lại phần nào sự kiện không thể làm thí nghiệm, một thiếu sót nghiệt ngã trong cố gắng rút ra những kết luận cho tương lai. Cần nhấn mạnh là một phần nào thôi vì các biến cố lịch sử chỉ xảy ra một lần trong khi chúng ta không thể kết luận sau chỉ một lần quan sát. Vả lại các biến cố lịch sử cũng được nhìn và cảm nhận một cách khác nhau ở từng con người tùy góc độ quan sát và kinh nghiệm cá nhân. Như vậy muốn rút ra một bài học lịch sử thì phải cố gắng vượt ra khỏi chính mình để nhìn các biến cố lịch sử dưới nhiều góc khác nhau, so sánh với những biến cố tương tự đã xảy ra trong những điều kiện tương tự tại các nước khác. Và cũng phải phối hợp với những kiến thức mà sự chính xác đã được chứng minh qua thời gian. Rút ra những bài học lịch sử là điều không giản dị chút nào.

Sau sự dè dặt đó và trở lại với câu hỏi được đặt ra, bài học mà tôi chọn để rút ra là một bài học mà đáng lẽ ra chúng ta phải biết mà không cần có biến cố 30 tháng 4-1975 bởi vì nó là một kết luận của tất cả mọi khảo cứu chính trị học, xã hội học và tâm lý học và cũng đã được kinh nghiệm của mọi dân tộc chứng minh. Chúng ta chỉ đã không biết một điều bắt buộc phải biết. Một lý do khác khiến tôi chọn bài học lịch sử này trong rất nhiều bài học lịch sử quan trọng khác là vì, theo nhận xét của tôi, đó là bài học lịch sử mà sau 33 năm chúng ta vẫn chưa hiểu. Đó là đấu tranh chính trị bắt buộc phải có một tư tưởng chính trị và một đội ngũ chính trị. Cuộc chiến vừa qua trước hết là một cuộc đấu tranh chính trị. Nó cũng là lần đầu tiên mà người Việt Nam tàn sát nhau không phải chỉ để tranh giành quyền lực mà còn vì ý thức hệ. Tuyên truyền đã quan trọng hơn các trận đánh, lời nói đã có tác dụng hơn súng đạn.

*

Những năm cuối cùng của tôi ở Paris trước khi về nước cũng là những năm diễn ra hội đàm Paris để giải quyết chiến tranh Việt Nam. Lúc đó tôi lãnh đạo phong trào sinh viên và trí thức Việt Nam ủng hộ chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Ở cương vị này tôi đã được tiếp xúc thường xuyên và một cách thân mật với các yếu nhân VNCH sang tham gia hoặc quan sát hòa đàm Paris. Nói chung họ là những người hiểu biết nhất về chính trị của chế độ này. Khi về Việt Nam phục vụ, ít lâu sau hiệp định Paris, tôi cũng có điều kiện thuận lợi để tiếp xúc và tìm hiểu môi trường chính trị VNCH. Nhận xét rất rõ rệt của tôi là những người cầm vận mệnh miền Nam lúc đó không biết ngay cả những kiến thức cơ bản nhất của đấu tranh chính trị và cũng không thấy cần phải học hỏi gì cả. Họ không phải là một đội ngũ và trong tuyệt đại đa số không phải là những người đấu tranh chính trị dù họ có thể giữ những vai trò chính trị rất quan trọng.

Họ sống co cụm trong một môi trường nhỏ hẹp cách biệt với quần chúng, đa số chỉ có một hiểu biết rất sơ sài về lịch sử và văn hóa Việt Nam, thậm chí ngôn ngữ Việt Nam. (Điều này không có nghĩa là họ nắm vững văn hóa và ngôn ngữ Pháp hoặc Mỹ). Tất cả đều là những người mà sự may mắn hoặc hoàn cảnh tình cờ đặt vào địa vị lãnh đạo trong một thời gian ngắn, tương tự như những nhân viên tạm thời, và không ý thức được rằng mình không thể là một người lãnh đạo. Làm chính trị đối với họ chỉ là quen biết và giao tế. Họ hãnh diện, có khi huênh hoang, tuyên bố là không thuộc đảng nào và không làm chính trị. Kiến thức chính trị của họ, khi có, chỉ là những kiến thức rất đại cương và một vài bài báo. Không một ai có suy tư chiến lược về sự sống còn của chế độ. Tôi cũng không gặp một người nào thực sự tin tưởng vào dân chủ. Chính quyền VNCH là một chính quyền không có nhân sự chính trị, trong khi đó là lý do hiện hữu và điều kiện tồn tại của mọi quốc gia. Tình trạng này đưa tới những yếu kém khó tưởng tượng.

Hãy thử lấy một thí dụ. Tất cả mọi cấp lãnh đạo, dân sự cũng như quân sự, mà tôi có dịp trao đổi đều phục sát đất phe cộng sản là tổ chức tiếp vận giỏi. Họ nói Mỹ dội bom B52 như thế mà “nó” vẫn vận chuyển được đầy đủ vũ khí và lương thực từ hàng ngàn cây số cho một đạo quân đông tới mấy trăm ngàn người. Sự thực thì đảng cộng sản chỉ tiếp vận vũ khí cho lực lượng của họ ở phía Nam mà thôi; còn lương thực, khó vận chuyển gấp nhiều lần so với vũ khí, thì họ mua ngay tại chỗ và bằng vàng. Miền Nam không có mỏ vàng, cũng không ai đem vàng vào Việt Nam mà chỉ có những người đem vàng ra nước ngoài. Vậy mà miền Nam vẫn có rất nhiều vàng và giá vàng thấp hẳn so với thế giới. Vậy ai đem vàng vào Việt Nam nếu không phải lực lượng cộng sản? Đó là một cách tiếp liệu rất thoải mái. Một kilô vàng có thể nuôi một tiểu đoàn đầy đủ quân số trong một tháng. Liên Xô, nước đỡ đầu cho quân đội cộng sản cũng là nước sản xuất vàng số 1 trên thế giới vượt rất xa các nước khác. Khi tôi lý luận như vậy thì mọi người, hành chính cũng như quân sự, đều thấy là rất có lý. Nhưng họ nghe để biết rồi thôi. Đó không phải là việc của họ, dù họ có thể là tướng lãnh hay bộ trưởng. Họ chỉ như những công chức và chỉ lo công việc của họ. Nếu các chính quyền miền Nam ý thức được điều này và có biện pháp đối phó thì chắc chắn quân đội cộng sản đã rất khốn khổ.

Một thí dụ khác là cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân. Quân cộng sản đồng loạt tấn công trên khắp lãnh thổ nhưng chính quyền Sài Gòn bị bất ngờ hoàn toàn, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng, các bộ trưởng và các tướng tá đang vui tết. Thế giới có lý do để khinh thường chế độ VNCH. Chính tôi lúc đó chỉ là một du học sinh tại Paris mà cũng thấy rất xấu hổ.

Đó chỉ là hai thí dụ trong hàng ngàn thí dụ khác. Sở dĩ có những sơ hở kinh khủng như vậy là vì những kết luận chiến lược, và những biện pháp cụ thể để thực hiện chúng, chỉ có thể có được nếu có một đội ngũ lãnh đạo ổn định, gắn bó và quyết tâm để cùng nhau theo dõi các chuyển động, thu thập và phân tích những dữ kiện và rút ra những kết luận. Nhưng VNCH đã chỉ có một lãnh đạo ô hợp không được sàng lọc, không thành đội ngũ, không gắn bó với nhau và do đó không có quyết tâm chung. Trái với một huyền thoại phe cộng sản tuyên truyền rất dở và tổ chức rất luộm thuộm, tình báo của họ cũng rất kém. Nhưng họ là một đội ngũ chính trị và trước mặt họ không có một đội ngũ chính trị nào.

Không phải là những người lãnh đạo VNCH kém. Nếu xét từng cá nhân thì có rất nhiều người giỏi. Trình độ văn hóa nói chung của họ cao hơn hẳn các cấp lãnh đạo cộng sản. Đại đa số trong đời thường cũng là những người lương thiện. Vấn đề là họ chỉ là những cá nhân, không gắn bó trong một tổ chức. Hậu quả là mỗi người lo lấy mình, là chủ nghĩa luồn lách trong đó mỗi người, hay mỗi nhóm bè bạn nhỏ, cố gắng để khôn hơn những người khác, mỗi người chống tất cả, tất cả chống mỗi người. Trong trò chơi không ai có thể tin ai này người tốt cũng thành gian. Và thực tế đã như thế. Nếu miền Nam có một đảng cầm quyền thì tình thế sẽ rất khác. Những người “không làm chính trị” sẽ chỉ có những trách nhiệm chuyên môn, quyền lực chính trị sẽ ở trong tay một đội ngũ của những người gắn bó với nhau trong một số phận và một quyết tâm chung, lấy dân tộc và đất nước làm lý tưởng, coi sự sống còn của VNCH như cuộc chiến đấu của đời mình. Và họ sẽ có bản lĩnh chính trị cao.

Tổ chức là môi trường hội nhập và là sức mạnh, nhưng cũng là một môi trường học hỏi và đào tạo, là nơi sản xuất và sàng lọc ý kiến. Nó cũng tạo điều kiện cho những quyết định và hành động mạnh bạo. Miền Nam không thiếu những người có thể và muốn là thành phần của một đội ngũ như thế, trong đó có những người đã có thể trở thành những cấp lãnh đạo xuất chúng, nhưng họ không có điều kiện để kết hợp với nhau. Kết quả là mặc dù có một khối lượng khổng lồ những người có tiềm năng, kể cả vô số bằng cấp đại học, với những kinh nghiệm để học hỏi hằng ngày, miền Nam vẫn thiếu nhân tài. Các cấp lãnh đạo tài giỏi chỉ có thể đào tạo được trong sinh hoạt tổ chức.

*

Một đặc điểm của các chính quyền quốc gia là không có đảng cầm quyền. Tình trạng này rất không bình thường vì phản ứng tự nhiên trong sinh hoạt chính trị là phải có chính đảng. Ngay trong những thập niên đầu thế kỷ 20 việc đầu tiên của những người muốn đấu tranh giành độc lập là thành lập các đảng. Tại sao lại có tình trạng này? Đó là do một đặc tính bẩm sinh của chính quyền Quốc Gia Việt Nam, sau đổi thành Việt Nam Cộng Hòa. Chính quyền này không do đấu tranh mà có mà chỉ là một bộ máy thuộc địa do người Pháp để lại, và khi để lại họ chuyển giao quyền hành cho những cộng sự viên thân tín và đắc lực nhất của họ, nghĩa là những người không những không quan tâm tới chính trị mà còn thiếu cả ý thức quốc gia dân tộc. Họ không hề biết đến những vấn đề đặt ra cho một quốc gia và cứ tiếp tục làm việc như thường lệ, kể cả coi những người yêu nước như kẻ thù hay ít nhất như những phần tử phải phòng ngừa. Kết quả là họ ngăn cản sự ra đời và phát triển của các chính đảng.

Mẫu người tốt trong các chính quyền quốc gia là mẫu người không có đảng phái và không quan tâm tới chính trị, có bằng cấp cao là tốt, có cha ông làm quan thời Pháp thuộc lại càng đáng tin cậy hơn. Dần dần hình thành một văn hóa chính quyền kỳ lạ trong đó lớp người cầm quyền không bận tâm tới đất nước. Họ cầm quyền như những quan chức ngoại quốc. Một thí dụ: tất cả các bộ trưởng giáo dục đều cho con cái đi học các trường tiểu học và trung học Pháp thay vì trường Việt mà không hề thấy ngượng. Ngô Đình Diệm không hề thay đổi tình trạng này. Ông là người do Pháp đưa lên cầm quyền để tiếp tục một chính quyền do Pháp để lại. Thái độ chống Pháp bề ngoài của ông chỉ là một sự dàn cảnh. Việc đầu tiên ông làm là truy lùng các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt. Sau khi người Mỹ lật đổ ông Diệm, họ đưa lên chính quyền những tướng tá chẳng có một văn hóa nào, chưa nói văn hóa chính trị, phần lớn xuất phát từ quân đội Pháp. Trong một chế độ dân chủ, sinh hoạt chính đảng là cốt lõi. VNCH được tổ chức như một nước dân chủ nhưng lại không có sinh hoạt chính đảng.

Không phải là miền Nam không có đảng phái, ít ra trong mười năm cuối hoạt động đảng phái không bị cấm, nhưng mười năm là một thời gian quá ngắn và bối cảnh cũng không thuận lợi. Hơn nữa các đảng phái cũ đều đã quá suy yếu và lỗi thời vì không đổi mới tư tưởng chính trị, trong khi các chính đảng mới cũng không phát triển được vì cùng một lý do: không có tư tưởng chính trị. Một ngộ nhận vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay trong phe đối lập là người ta cứ đinh ninh rằng có thể thành lập được một chính đảng mà không cần phải có một chủ thuyết chính trị, nghĩa là những định hướng lớn cho đất nước và các chiến lược để thực hiện chúng trong bối cảnh văn hóa, xã hội và lịch sử của mỗi quốc gia. Một chủ thuyết như vậy chỉ có thể là thành quả của một công trình nghiên cứu và suy tư tập thể lâu dài và nhức nhối. Người ta thấy chỉ cần một “chương trình hành động”, và trong hầu hết mọi trường hợp chương trình hành động không khác bao nhiêu so với một bản danh mục rao hàng.

Những người cầm quyền trong phe quốc gia là những người được đưa lên cầm quyền chứ không phải đã giành được chính quyền. Họ đều không có tổ chức. Sau khi đã cầm quyền họ mới khám phá ra sự cần thiết của một đảng cầm quyền. Ông Nhu lập ra đảng Cần Lao, ông Thiệu lập ra đảng Dân Chủ, nhưng đều thất bại. Các chính đảng đúng nghĩa chỉ có thể thành lập được trong đấu tranh khó khăn cho một lý tưởng. Không ai có thể thành lập được một chính đảng đúng nghĩa sau khi đã có chính quyền. Cả ông Nhu lẫn ông Thiệu đã bỏ rơi các đảng vô tích sự mà họ lập ra – để cầm quyền với anh em, họ hàng và bè bạn – trước khi bị đánh đổ. Trước sau các chính quyền quốc gia vẫn có chung một đặc điểm ít được nhấn mạnh dù có thể là độc nhất trên thế giới: đó là những chính quyền không có đảng cầm quyền.

*

Sự kiện những người không thuộc một chính đảng nào được đưa lên cầm quyền và chọn những người không đảng phái làm bộ trưởng là một một điều quái đản xuất phát từ một tật nguyền bẩm sinh của các chính quyền quốc gia. Nó gây tại họa cho đất nước mà họ cai trị và đem lại thất bại cho chính họ, có khi thất bại bi thảm như trường hợp hai ông Diệm và Nhu. Nhưng với thời gian nó đã tạo ra cả một triết lý và một tập quán hoạt động chính trị: chủ nghĩa nhân sĩ. Đó là cách làm chính trị mà không tham gia một chính đảng nào, chỉ cố tạo uy tín cho mình để được biết đến, kể cả cầu cạnh các thế lực ngoại bang, và hy vọng sẽ có lúc thời vận đưa mình lên nắm chính quyền hoặc sẽ có ngày được mời tham chính. Các nhân sĩ cũng có thể không có bất cứ một hoạt động chính trị và một kiến thức chính trị nào nhưng vẫn mong có ngày được làm bộ trưởng, dân biểu, nghị sĩ. Nếu có một di sản của chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà ta phải vứt bỏ một cách không nể nang thì chính là cái chủ nghĩa nhân sĩ này. Tiếc rằng chủ nghĩa nhân sĩ đã ăn rễ quá sâu. Có những người theo chủ nghĩa nhân sĩ mà không ý thức được. Rất nhiều người, trong cũng như ngoài nước, có học thức, có lòng với đất nước, có thiện chí, suy nghĩ lành mạnh và cũng rất muốn dấn thân nhưng không hề thấy nhu cầu phải tham gia một tổ chức chính trị nào cả.

Chủ nghĩa nhân sĩ vẫn còn tiếp tục cho đến nay trong môi trường Việt Nam hải ngoại và là lý do chính giải thích tại sao sau 33 năm chúng ta vẫn chưa có được một tổ chức dân chủ mạnh. Ngoài di sản VNCH cũng còn một lý do quan trọng khác. Đó là sự thiếu văn hóa tổ chức mà những người dân chủ trong nước cũng chia sẻ do hậu quả của một chế độ chuyên chính trong đó mọi kết hợp bị cấm đoán. Nhiều người cũng đã cố gắng thành lập tổ chức (đã có lúc người ta than phiền là có quá nhiều tổ chức chính trị) nhưng rồi đều khám phá ra những khó khăn không ngờ nên hầu như tất cả đều bỏ cuộc và triệt thoái trở lại tập quán nhân sĩ. Thực ra những khó khăn này chỉ không ngờ bởi vì chúng ta thiếu văn hóa chính trị và văn hóa tổ chức mà thôi, chúng chỉ là những vấn đề cổ điển của mọi tổ chức chính trị, hay chính đảng, đã được nghiên cứu kỹ và được trình bày trong nhiều tác phẩm. Thành lập một tổ chức chính trị có bao giờ dễ dàng đâu !

Phân tích các chính đảng không phải là mục đích của bài này. Chỉ xin tóm lược: đấu tranh chính trị bắt buộc phải có một tổ chức mạnh mới có hy vọng thành công; một chính đảng bắt buộc phải được xây dựng trên một tư tưởng chính trị và phải bắt đầu bằng một đội ngũ nòng cốt gắn bó và có bản lĩnh; trong những điều kiện lý tưởng nhất xây dựng một chính đảng cũng đòi hỏi ít nhất một hai thập niên. Xây dựng một chính đảng rất khó nhưng là điều kiện bắt buộc, nếu không thì hoạt động chính trị chỉ là vô ích, có thể còn có hại.

Theo tôi đó là bài học quan trọng nhất cần được rút ra từ biến cố 30 tháng 4-1975, một bài học mà đáng lẽ chúng ta đã phải biết mà không cần có biến cố này vì đó chỉ là một kiến thức cơ bản phải có ngay trong phản xạ của những người hoạt động chính trị. Ngày 30 tháng 4 đã chỉ nhắc lại sự thực hiển nhiên này, một cách rất tàn nhẫn. Những nạn nhân oan ức nhất chính là những quân nhân, công chức và cán bộ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Trong đại đa số họ là những người yêu nước, dũng cảm và đầy khả năng, một số đông đảo có tiềm năng lớn. Nỗi oan nghiệt của họ là đã không có được một lãnh đạo đúng nghĩa. Họ không đáng phải chịu số phận mà ngày 30-4-1975 đã dành cho họ.

Cũng xin được chia sẻ một bài học cá nhân bởi vì nó cũng là một bài học nhỏ trong bài học lớn này. Cho tới ngày 30-4-1975 tôi là một viên chức khá cao cấp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã chứng kiến đoàn quân cộng sản chiến thắng tràn vào Sài Gòn. Sự hân hoan và hãnh diện của họ chỉ có thể so sánh được với thất vọng và tủi nhục của tôi. Tôi nghe như có tiếng nói từ trong lòng mình: “thà làm lính trong một đạo quân chiến thắng còn hơn làm tướng trong một đạo quân chiến bại”. Tôi vẫn hiểu và hành động như thế, nhưng lúc đó tôi hiểu một cách thấm thía lạ lùng. Hình như vẫn còn rất nhiều người chưa hiểu như thế, thậm chí còn nghĩ ngược lại.

*

Chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nếu kể cả tiền thân của nó là Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại, cũng đã chỉ tồn tại được 27 năm và đã sụp đổ từ 33 năm rồi. Trong suốt cuộc sống ngắn ngủi đó, dù đã có rất nhiều người yêu nước và dũng cảm bỏ mình dưới lá cờ của nó, nó chưa bao giờ là một nhà nước Việt Nam đúng nghĩa. Nó do Pháp lập ra và cáo chung khi bị Mỹ bỏ rơi. Nó chưa bao giờ kiểm soát được cả lãnh thổ Việt Nam và cũng chưa bao giờ có được một lãnh đạo đúng nghĩa. Nó cũng là một chế độ rất tham nhũng, dù không tham nhũng bằng chế độ cộng sản hiện nay. Những người dân chủ và yêu nước không có lý do gì để thương tiếc chế độ này, càng không có lý do để lấy nó làm biểu tượng của cuộc đấu tranh vì dân chủ. Trong một giai đoạn, từ 1948 đến 1975, nó đã là một chọn lựa bất đắc dĩ để ngăn chặn sự thiết lập một chế độ cộng sản tại Việt Nam. Đó là một hợp đồng. Hợp đồng đó là tạm thời chịu đựng cái tồi dở để ngăn chặn cái độc hại. Nhưng cái tồi dở đã quá tồi dở và chúng ta đã không ngăn chặn được cái độc hại. Như vậy hợp đồng VNCH đã hoàn toàn chấm dứt. Cuộc vận động dân chủ hiện này là một cuộc đấu tranh hoàn toàn khác. Rút ra những bài học từ kinh nghiệm VNCH chỉ có ý nghĩa nếu có ích cho cuộc đấu tranh mới này. Bài học mà tôi đã chọn vẫn còn rất thời sự. Đáng buồn.

Nguyễn Gia Kiểng (30-4-2008)