Nụ cười của người lái xe lúc đó rất đẹp và phóng khoáng…

Hoa Lys  

 01.05.2021

Trong hình là khoảnh khắc đẹp của người đàn ông đang phơi tấm lưng trần, kiếm sống bằng chiếc xe ba gác tự chế tại Sài Gòn với những dòng triết lý sâu sắc :

“Khi tôi chào đời với hai bàn tay trắng

Lúc tôi trở về với cát bụi lại cũng hai bàn trắng tay.

Hành trang duy nhất tôi mang theo là cái Ác và cái Thiện mà thôi !”

Những hình ảnh này được phóng viên Hải An của Zing.vn chụp trưa ngày 27/12/2016 tại Sài Gòn mà HL vẫn giữ trong điện thoại. Được biết người đàn ông trong hình tên là Nam, sống tại quận 3, Sài Gòn. Tác giả vô tình ghi được khoảng khắc này khi ông đạp xe ba gác từ đường Cách Mạng Tháng 8 qua đường Nguyễn Thượng Hiền thuộc quận 3.

Theo tác giả bức hình, nụ cười của người lái xe lúc đó rất đẹp và phóng khoáng. Đó là khoảnh khắc Sài Gòn xưa được sống lại, để những con người hiện tại có cơ hội dạo chơi trên chuyến xe lịch sử, trở ngược về quá khứ. Cuộc sống luôn có những giây phút thú vị, ý nghĩa…

Không biết cuộc sống hiện tại của ông lái xe ba gác ra sao nhưng triết lý sống của ông thì hơn hẳn rất nhiều những bậc tự xưng giáo sư, tiến sĩ thời xã nghĩa này…

  BỐN MƯƠI NĂM SAU, NHÌN LẠI CUỘC NỘI CHIẾN (Nguyễn Gia Kiểng)

Không nên đổ hết lỗi cho các ông Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và những người lãnh đạo cộng sản khác. Họ tham quyền và thiển cận nhưng phần lớn những người khác nếu được cầm quyền cũng không khác gì họ. Tội ác chủ yếu đến từ sự tăm tối. Nguyên nhân chính là vì chúng ta đã thiếu một lớp trí thức chính trị, và một dân tộc không có một lớp trí thức chính trị cũng không khác một người mù hay một con tàu không phương hướng. Không tới được một bờ bến nào và tai nạn là chắc chắn. Chúng ta cần khẩn cấp những trí thức có kiến thức chính trị, có ưu tư với đất nước, biết suy nghĩ bằng cái đầu của chính mình và dám tranh đấu cho lập trường của mình.

Quan trọng hơn nữa, chúng ta cần hiểu rằng những vết thương của nội chiến vẫn còn nguyên vẹn và nếu không hòa giải được người Việt Nam với nhau thì Việt Nam sẽ không có tương lai. Chúng ta bắt buộc phải hòa giải cho bằng được dân tộc Việt Nam để có thể có hòa hợp dân tộc trong cố gắng xây dựng và chia sẻ với nhau một tương lai chung. Hòa giải là điều cực kỳ khó vì nội chiến đã quá dài và quá khốc liệt. Nhưng chúng ta không có chọn lựa nào khác hơn là thành công nếu muốn đất nước tiếp tục tồn tại.

May be a black-and-white image of 2 people, child and body of water

  BỐN MƯƠI NĂM SAU, NHÌN LẠI CUỘC NỘI CHIẾN (Nguyễn Gia Kiểng)

“…Cuộc nội chiến của chúng ta đã kéo dài 30 năm. Tệ hơn nữa nội chiến đã không chấm dứt ngày 30/4/1975, nó đã chỉ nhường chỗ cho một cuộc nội chiến khác, một cuộc nội chiến một chiều trong đó phe chiến thắng mặc sức huênh hoang, bỏ tù, đầy đọa, hạ nhục và cướp bóc.” (30/04/2015)

_____________

Rất nhiều điều đã được viết và nói ra về biến cố 30/04/1975, đặc biệt là trong lúc này nhân dịp kỷ niệm 40 năm. Tuy vậy biến cố này quan trọng và phức tạp đến nỗi không thể nào có thể nói đủ về nó. Một trong những điểm còn phải được mổ sẻ là bản chất nội chiến của cuộc chiến, buộc chúng ta nhìn một cách khác những hậu quả của nó cũng như những gì mà nó tiết lộ về đất nước và con người Việt Nam.

Trước hết phải khẳng định một cách thật dứt khoát rằng đây là một cuộc nội chiến. Trên điểm này không được có bất cứ một thắc mắc nào. Khi người trong một nước giết nhau trên một qui mô lớn và trong một thời gian dài thì đó là nội chiến, dù có hay không có sự can thiệp từ bên ngoài. Đó đã là trường hợp của chúng ta. Nhưng tại sao vẫn có người ngại gọi nó là một cuộc nội chiến? Vậy thì chúng ta cần thảo luận một lần cho xong.

Nội chiến là gì?

Theo định nghĩa hẹp nhất của nó nội chiến là sự kiện trong một quốc gia hai lực lượng vũ trang giao tranh với nhau trong một thời gian đáng kể và trên một qui mô khá lớn vì cả hai đều tự coi là chính đáng. Hai thí dụ điển hình nội chiến Hoa Kỳ (1861 -1865) và nội chiến Tây Ban Nha (1936 – 1939). Các sử gia và các nhà phân tích thường dùng một định nghĩa rộng hơn, họ cũng coi là nội chiến những cuộc chiến giữa một chính quyền và một hay nhiều lực lượng chống đối nếu chúng kéo dài và có qui mô khá lớn, như nội chiến Mexico (1910 -1920) hay các cuộc chiến tại Congo – Kinshaza, Ethiopia, Somalia và nhiều nước Châu Phi khác. Karl Marx còn gọi cả cuộc nổi dậy chỉ kéo dài hai tháng của Công Xã Paris năm 1871 là một cuộc nội chiến của nước Pháp.

Nói chung người ta coi là nội chiến những xung đột võ trang giữa hai lực lượng của cùng một quốc gia trong một thời gian khá dài và gây thiệt hại lớn. Dù có hay không có sự can thiệp của nước ngoài nội chiến vẫn là nội chiến một khi đa số những người tham chiến trong cả hai bên là người bản xứ. Vả lại phần lớn những cuộc nội chiến đều có can thiệp hoặc hỗ trợ từ bên ngoài, nhất là trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Như vậy trên tất cả mọi tiêu chuẩn cuộc chiến 1945 – 1975 là một cuộc nội chiến đúng nghĩa. Ngay cả nếu dùng định nghĩa hẹp nhất cũng thế: cả phe cộng sản lẫn phe quốc gia, hay Việt Nam Cộng Hòa, đều tự coi là chính quyền chính đáng của Việt Nam và đều được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận. Chế độ Việt Nam Cộng Hòa còn được nhiều nước nhìn nhận hơn chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cũng đừng quên rằng tuyệt đại đa số những người bắn giết nhau cũng như những nạn nhân vô tội đều là người Việt. Sự kiện chính quyền cộng sản gọi đối phương là “ngụy quyền” không đủ tư cách để đối thoại với họ là một thái độ nội chiến điển hình – không chấp nhận nhau – và chỉ nói lên một điều là họ muốn nội chiến đến cùng. Trách nhiệm trong nội chiến của họ càng lớn.

Hơn nữa chính họ đã chủ động gây ra nội chiến. Hội nghị trung ương 15, khóa II, tháng 01/1959, của Đảng Lao Động Việt Nam đã đưa ra nghị quyết 15 với chủ trương “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến” (người viết tô đậm cụm từ “lực lượng vũ trang”). Không thể rõ ràng hơn. Lúc đó chưa có quân đội Mỹ tại miền Nam, số cố vấn Mỹ cũng rất ít so với số cố vấn Liên Xô và Trung Quốc tại miền Bắc và phần lớn là dân sự. Chống Mỹ là lý cớ chứ không phải là lý do. Lý do thực sự là Đảng Cộng Sản muốn chiếm miền Nam và đóng góp mở rộng không gian cộng sản trên thế giới, như sau này Lê Duẩn đã nói: “ta đánh là đánh cho cả Liên Xô và Trung Quốc”.

Cũng nên hiểu cụm từ “Chống Mỹ” mà Đảng Cộng sản vẫn còn dùng cho tới bây giờ để chỉ giai đoạn sau của cuộc nội chiến. Nó là một chiêu bài tuyên truyền nhưng đồng thời cũng là một phần nhiệm mà họ nhận lãnh trong vai trò một bộ phận của phong trào cộng sản quốc tế. Chống Mỹ lúc đó là khẩu hiệu toàn cầu của khối cộng sản. Thật là ngược ngạo khi ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản mạt sát chế độ VNCH là tay sai của đế quốc Mỹ mặc dù chính ông hết lời tâng bốc những đảng cộng sản đàn anh. Như trong ngày kỷ niêm 30 năm thành lập Đảng Cộng Sản (05/01/1960) ông nói: “Trong đại gia đình vô sản quốc tế rực rỡ dưới ngọn cờ chủ nghĩa Mác- Lênin, Đảng ta có những người anh vĩ đại như Đảng Cộng sản Liên Xô, Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Pháp…”. Không một người lãnh đạo VNCH nào ca tụng Mỹ như thế. Những lời ca tụng Liên Xô và Trung Quốc của các cấp lãnh đạo cộng sản khiến ngay cả một người chống cộng cũng phải thấy ngượng. Thí dụ như những câu thơ gớm ghiếc của Tố Hữu trong đợt Cải Cách Ruộng Đất:

Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,

Cho đảng bền lâu, cả nước chung lòng,

Thờ Mao chủ tịch, thờ Sít-ta-lin vĩ đại.

Một viên chức miền Nam mà làm những câu thơ nịnh Mỹ như thế chắc chắn đã mất việc, nhưng ông Tố Hữu, người đứng đầu bộ máy tuyên truyền cộng sản, chỉ được khen thưởng, sau này lên rất cao. Đảng Cộng Sản lệ thuộc nước ngoài hơn hẳn các đối thủ của họ. Họ cũng dựa vào yểm trợ của nước ngoài để chiến đấu và sau cùng đã thắng vì Mỹ bỏ miền Nam trong khi Liên Xô gia tăng viện trợ cho họ.

Cũng đừng quên rằng nội chiến là một thành tố cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin. Lenin đã từng khẳng định: “Ai chấp nhận đấu tranh giai cấp thì cũng phải chấp nhận nội chiến vì nội chiến là sự tiếp nối, phát triển và tăng cường tự nhiên của đấu tranh giai cấp”. Ông Hồ Chí Minh coi Lenin là bậc thầy và ông cũng hoàn toàn ủng hộ đấu tranh giai cấp. Ông ca tụng cả cuộc bạo loạn Xô Viết Nghệ Tĩnh trong đó những người tự Việt xưng là Xô Viết tàn sát những người Việt khác và gào thét “trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ”(1).

Một lý do khác khiến ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản say mê nội chiến là vì do kiến thức và nhận thức nông cạn họ tin chắc rằng phong trào cộng sản sắp toàn thắng. Phát biểu trong đại hội Mặt Trận Tổ Quốc ngày 25/4/1961 vào lúc sắp sửa phát động chiến tranh thôn tính miền Nam ông nói: “Đế quốc Mỹ đang hung hǎng xâm phạm miền Nam Việt Nam, Nam Triều Tiên, Đài Loan, nước Lào, Cônggô, Cuba… Cái hung hǎng ấy chỉ là cái hung hǎng giẫy chết trước ngày chủ nghĩa đế quốc tắt thở”. Cuộc chiến này không chỉ đơn thuần là nội chiến, nó còn là nội chiến trong cuồng nhiệt.

Khái niệm nội chiến gắn liền với khái niệm quốc gia vì nó diễn ra trong phạm vi một quốc gia và giữa những con người của cùng một quốc gia. Chúng ta có thể lưu ý là từ “nội chiến” đã chỉ có trong ngôn ngữ chính trị thế giới từ hai thế kỷ gần đây thôi, cùng với những khái niệm quốc gia, dân tộc. Trong chiều sâu, khi phát động một cuộc nội chiến là người ta hoặc muốn phá vỡ quốc gia hoặc coi một cái gì đó còn quan trọng hơn tình dân tộc. Trong trường hợp của chủ nghĩa cộng sản, nội chiến là cốt lõi vì quốc gia bị coi như một giá trị của giai cấp tư sản cần phải xóa bỏ như Marx đã từng nói. Những người cộng sản chân chính không có quốc gia, họ chỉ có giai cấp. Có thể ông Hồ Chí Minh và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam không hiểu rõ chủ nghĩa Mác-Lênin nhưng ít nhất họ cũng coi chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản là quan trọng hơn cả.

Tác hại của các cuộc nội chiến là, khác với những cuộc chiến với nước ngoài, chúng hủy diệt tinh thần dân tộc và đồng thuận sống chung, nghĩa là chính lý do hiện hữu của một quốc gia. Ngoài những thiệt hại về nhân mạng và những tàn phá vật chất chúng còn gây những đổ vỡ tình cảm rất khó hàn gắn ngay giữa những con người phải xây dựng và chia sẻ với nhau một tương lai chung. Một quốc gia có thể phục hồi khá nhanh chóng sau một cuộc chiến tàn khốc với nước ngoài, như trường hợp của Đức và Nhật sau Thế Chiến II, nhưng sẽ suy nhược rất lâu và không bao giờ có thể hoàn toàn hồi phục sau một cuộc nội chiến, như Pháp sau Cách mạng 1789, hay Mexico sau nội chiến 1910 – 1920, hay Tây Ban Nha sau nội chiến 1936 – 1939, mặc dù sau đó cũng đã có cố gắng hòa giải dân tộc.

Kẻ viết bài này đã có dịp thăm viếng và quan sát nhiều quốc gia để tìm hiếu những lý do đã khiến một quốc gia tiến mạnh hay trì trệ. Câu trả lời bao giờ cũng thế: sức sống của một dân tôc chủ yếu tùy thuộc ở chỗ nó có hòa hợp hay không. Và hòa hợp chính là điều mà một cuộc nội chiến phá vỡ một cách lâu dài. Làm sao người ta có thể tin nhau và yêu nhau sau khi đã cố giết nhau?

Trường hợp nước ta còn bi đát hơn nhiều. Chúng ta không phải chỉ có nội chiến trong vài năm như phần lớn các dân tộc không may có nội chiến khác. Cuộc nội chiến của chúng ta đã kéo dài 30 năm. Tệ hơn nữa nội chiến đã không chấm dứt ngày 30/4/1975, nó đã chỉ nhường chỗ cho một cuộc nội chiến khác, một cuộc nội chiến một chiều trong đó phe chiến thắng mặc sức huênh hoang, bỏ tù, đầy đoạ, hạ nhục và cướp bóc. Và không hề nói tới hòa giải dân tộc nữa.

Sau khi đi tù cải tạo về tôi đã gặp cụ Mai, một người mà tôi coi như một mẫu mực của sự xuất chúng. Cụ một mình từ Bắc vào Nam năm 16 tuổi làm lao động tay chân để sống, đêm ngủ trên một chiếc ghế bố thuê một xu mỗi đêm. Khi đã khá giả hơn cụ trả thêm một xu nữa để chủ nhà phơi ghế bố trừ rệp. Cụ đã tự học để hiểu biết và cố gắng vượt bực để thành công. Năm 1975 cụ là chủ một hãng làm đồ điện với hơn 200 công nhân. Chính quyền cách mạng đã “tiếp thu” công ty mà cụ đã cố gắng cả một đời người để tạo dựng và cho cụ nghỉ việc. Ít lâu sau công ty tan rã. Cụ Mai may mắn không bị đi tù như nhiều chủ nhân khác. Sau này cụ vượt biên sang Canada. Trong thư viết cho tôi năm 1989 cụ vẫn chưa hiểu nổi sự cướp đoạt trắng trợn này. Cụ Mai chỉ là một trong hàng ngàn thí dụ về cách đối xử của Đảng Cộng Sản sau ngày 30/4/1975. Chế độ cộng sản đã tiêu diệt một lớp doanh nhân quí hiếm đã dần dần hình thành sau quá trình tiếp xúc với phương Tây.

Tuy tiếng súng đã im nhưng những đổ vỡ tình cảm còn lớn hơn nhiều sau ngày mà Đảng Cộng Sản gọi là Ngày Giải Phóng. Như lời cụ Mai nói: “Họ có súng và nhà tù, họ nói gì chẳng được”.

Chúng ta sẽ không bao giờ đánh giá được hết những đổ vỡ mà cuộc nội chiến 1945 – 1975 và cuộc nội chiến không có tiếng súng sau đó gây ra cho đất nước. Việc Đảng Cộng Sản còn tưng bừng kỷ niệm ngày 30/4/1975 như một ngày vui chứng tỏ rằng trong thâm tâm họ không tự coi là người Việt Nam mà như một lực lượng chiếm đóng.

Điều mà chúng ta có thể và cần làm là suy ngẫm một cách khiêm tốn về những gì mà cuộc chiến này tiết lộ về chính chúng ta, về đất nước và con người Việt Nam.

Tai sao vào năm 1945 tổ chức chính trị được nhân dân Việt Nam ủng hộ nhất lại là tổ chức theo một chủ nghĩa chủ trương xóa bỏ quốc gia? Câu trả lời thực thà có thể là một phần vì chúng ta không có tư tưởng chính trị và cũng không hiểu rõ chủ nghĩa cộng sản, nhưng phần lớn hơn là quần chúng bần nông Việt Nam đã bị dày đạp trong hàng ngàn năm và đã bị cuốn hút một cách vừa tự nhiên vừa dễ dàng bởi tiếng gọi hận thù giai cấp. Điều đáng nói là đã không có một đảng phái quốc gia nào nhìn thấy vấn đề này, trong số ít những người nhìn thấy thì phần lớn lại tưởng chủ nghĩa cộng sản là một giải đáp. Quần chúng Việt Nam không yêu nước vì không có lý do gì để yêu nước trong khi trí thức Việt Nam quá hời hợt.

Tại sao ngay sau Cách Mạng Tháng 8 Đảng Cộng Sản đã thẳng tay tàn sát hàng trăm ngàn người thuộc các đảng phái quốc gia, nghĩa là những người yêu nước chân chính nhất mà không gây phẫn nộ lớn và một số đông đảo trí thức vẫn tận tụy phục tùng và phục vụ họ? Sau này trí thức miền Bắc cũng có cùng một thái độ trong vụ Cải Cách Ruộng Đất. Vì khiếp sợ hay vì thiếu tinh thần dân tộc? Có lẽ cả hai.

Nghịch lý lớn nhất là tại sao ngay sau khi đã gây ra một cuộc nội chiến gần 10 năm (1945 -1954), dài hơn phần lớn các cuộc nội chiến tại các quốc gia khác, Đảng Cộng Sản lại phát động một cuộc nội chiến khác, lần này kéo dài hơn 15 năm, mà không bị lên án một cách nghiêm khắc và dữ dội như đáng lẽ họ phải bị lên án? Trái lại họ vẫn được một phần đáng kể của lớp người tinh hoa của đất nước ủng hộ, thậm chí ngưỡng mộ. Đó là vì đa số trí thức Việt Nam đã không nhìn thấy tác hại của nội chiến. Chúng ta đã không hiểu rằng nội chiến là tai họa lớn nhất của một dân tộc, gây ra nội chiến là tội lớn nhất trong mọi tội phản quốc. Phải công bình mà nói ít ai nhìn thấy điều này. Chính quyền Ngô Đình Diệm cũng như các chính quyền quốc gia trước và sau ông không hề lên án Đảng Cộng Sản là đã gây nội chiến mà chỉ lên án chủ nghĩa cộng sản và kêu gọi chống cộng. Tuy vậy tác hại của nội chiến là điều mà lịch sử của các quốc gia đã phơi bày, các sử gia và các nhà tư tưởng chính trị cũng đã nhấn mạnh từ lâu. Phải thú nhận chúng ta có thể có rất nhiều khả năng, bằng cấp và kiến thức chuyên môn nhưng về chính trị thì chúng ta rất kém, gần như vô học.

Tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc đã dần dần được chấp nhận và đang trở thành một đồng thuận dân tộc. Đó là một điều đáng mừng nhưng tại sao trong một thời gian dài, quá dài, lại có quá nhiều người chống lại? Tại sao nhiều người vẫn chưa chịu hiểu rằng một dân tộc sau một cuộc nội chiến chỉ có hai chọn lựa: hoặc hòa giải để đất nước tiếp tục hoặc không hòa giải và chấp nhận tan vỡ?

Không nên đổ hết lỗi cho các ông Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và những người lãnh đạo cộng sản khác. Họ tham quyền và thiển cận nhưng phần lớn những người khác nếu được cầm quyền cũng không khác gì họ. Tội ác chủ yếu đến từ sự tăm tối. Nguyên nhân chính là vì chúng ta đã thiếu một lớp trí thức chính trị, và một dân tộc không có một lớp trí thức chính trị cũng không khác một người mù hay một con tàu không phương hướng. Không tới được một bờ bến nào và tai nạn là chắc chắn. Chúng ta cần khẩn cấp những trí thức có kiến thức chính trị, có ưu tư với đất nước, biết suy nghĩ bằng cái đầu của chính mình và dám tranh đấu cho lập trường của mình.

Quan trọng hơn nữa, chúng ta cần hiểu rằng những vết thương của nội chiến vẫn còn nguyên vẹn và nếu không hòa giải được người Việt Nam với nhau thì Việt Nam sẽ không có tương lai. Chúng ta bắt buộc phải hòa giải cho bằng được dân tộc Việt Nam để có thể có hòa hợp dân tộc trong cố gắng xây dựng và chia sẻ với nhau một tương lai chung. Hòa giải là điều cực kỳ khó vì nội chiến đã quá dài và quá khốc liệt. Nhưng chúng ta không có chọn lựa nào khác hơn là thành công nếu muốn đất nước tiếp tục tồn tại.

Nguyễn Gia Kiểng (30/04/2015)

Ghi chú:

(1) Tuy đế quốc Pháp đã dập tắt phong trào đó trong một biển máu, nhưng Xô viết Nghệ – Tĩnh đã chứng tỏ tinh thần oanh liệt và năng lực cách mạng của nhân dân lao động Việt Nam. Phong trào tuy thất bại, nhưng nó rèn luyện lực lượng cho cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi sau này.(Hồ Chí Minh, Ba mươi năm hoạt động của Đảng, diễn văn ngày 06-01-1960)

(2) Thắng lợi của cách mạng Việt Nam còn là do nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhất là Liên Xô và Trung Quốc, đã hết lòng giúp đỡ. Nhân dịp này, chúng ta nhiệt liệt tỏ lòng biết ơn các nước xã hội chủ nghĩa anh em đứng đầu là Liên Xô vĩ đại. (Hồ Chí Minh, diễn văn khai mạc đại hội 3, ngày 05-9-1960)

Thêm một mộ tập thể 47 tử sĩ VNCH những ngày cuối cuộc chiến.

May be an image of 1 person and text that says 'Đại-tá Nguyễn Hữu Thông Trung Đoàn Trưởng 42 BB SĐ 22 BB Tự sát -3-1975 tại Quy Nhơn.'

30 tháng 4: Một Đại tá VNCH tự sát được an táng dưới cột cờ

Thêm một mộ tập thể 47 tử sĩ VNCH những ngày cuối cuộc chiến.

QUY NHƠN – Trong những ngày cuối của cuộc chiến, có một vị đại tá trung đoàn trưởng đã không chịu xuống tàu chạy loạn mà chịu ở lại với lính, và dùng súng tự sát. Xác ông được chôn trong một ngôi mộ tập thể khổng lồ, dưới chân cột cờ bên ngoài Quân Y Viện Quy Nhơn, trong đó có 47 thi hài tử sĩ. Câu chuyện này được một hạ sĩ quan pháo binh kể lại, đồng thời gợi lại ký ức đau buồn nơi một vị bác sĩ hiện đang hành nghề ở New York.

Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng TrĐ 42/SĐ 22BB, tự sát vào cuối tháng 3, 1975 bị chôn trong nấm mộ tập thể tại Quy Nhơn.

Vào đầu năm 1975, anh Dương Công An nguyên là một hạ sĩ quan Pháo Binh thuộc tiểu đoàn 223 Pháo Binh, nay anh đang sống tại Đức. Anh An cho biết, vào những ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1975, đơn vị của anh bị tan hàng trên bờ biển Quy Nhơn, anh và một số anh em binh sĩ khác đã lẩn trốn nhiều ngày trong Quân Y Viện Quy Nhơn.

Ở đấy, khi đó chỉ còn có một bác sĩ duy nhất, là Trung Úy Nguyễn Công Trứ. Ông Trứ hiện là bác sĩ quang tuyến tại một trường đại học ở New York. Khi tin về nấm mộ tập thể tại Quân Y Viện Quy Nhơn được tôi đưa lên net, nhiều người đã điện thoại cho Bác Sĩ Trứ. Những cú điện thoại này nhắc nhở cho ông quá nhiều chuyện kinh hoàng trong quá khứ, khiến ông nhiều đêm mất ngủ.

Sau nhiều lần gọi và nhắn trong máy là chúng tôi sẽ gọi lại, Bác Sĩ Trứ mới bốc máy. Ông kể, vào những ngày sau cùng, một buổi sáng ông được tiếp Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng Trung Đoàn 42 đi trực thăng đến thăm Quân Y Viện. Thấy tình cảnh y chỉ còn một bác sĩ và hằng trăm thương binh trong tình trạng thiếu ăn, thiếu thuốc, cũng như nhiều thương binh chết chưa được chôn cất, Đại Tá Thông đã khóc trước mặt Bác Sĩ Trứ.

Và chỉ một ngày sau đó, Quân Y Viện tiếp nhận một tử thi nữa, và đó chính là tử thi Đại Tá Thông. Binh sĩ đưa xác ông tới, và cho biết ông đã tự sát. Nhiều nguồn tin sau này cho biết, Đại Tá Thông đã từ chối xuống tàu vì binh sĩ dưới quyền ông còn kẹt lại quá nhiều, không di tản được.

Khi đó, tại quân y viện này, có cả hàng trăm bệnh nhân cho một mình Bác Sĩ Trứ. Đồng thời cũng có rất nhiều binh sĩ tử trận được mang về nằm từ trong nhà xác và rải rác ra khắp hành lang. Các thi hài tại nhà xác QYV đã bốc mùi, và chó đã vào nhà xác ăn, gặm các tử thi này, nên Bác Sĩ Trứ đã nhờ khoảng 20 anh em quân nhân còn sức khỏe phụ với Bác Sĩ Trứ đào một huyệt mộ rất lớn dưới cột cờ, gần khu quân xa của Quân Y Viện.

Ở đây gần biển các nên việc đào đất tương đối dễ dàng. Đầu tiên là những tử sĩ đã được khâm liệm trong quan tài có phủ quốc kỳ được sắp xuống trước, tiếp theo là những người chết nằm trên băng ca được đặt lên trên những quan tài, cứ thế mà sắp xếp. Tất cả là 47 thi hài tử sĩ, trong số này có Đại Tá Thông, là cấp chỉ huy trực tiếp của anh An.

Lúc bấy giờ Saigòn chưa thất thủ, ngay cả sinh mạng của anh em binh sĩ bại trận cũng không biết sẽ ra sao nên sự việc chôn cất anh em tử sĩ lúc đó chỉ được thực hiện rất sơ sài hầu như là lén lút và vội vàng. Sau đó vài ngày tất cả bị bắt làm tù binh.

Anh An cho biết câu chuyện đã đeo đuổi theo anh suốt bao nhiêu năm nay, tâm nguyện của anh là ước sao, có ai đó, có khả năng để cải táng được ngôi mộ tập thể này, đó cũng là dịp mà mình an ủi được phần nào linh hồn của những tử sĩ này, nhưng những hy vọng càng ngày càng bị thu nhỏ lại, vì qua tin tức báo chí đất đai ở Việt Nam đã bị lạm dụng xây cất bừa bãi, hay khu đất này thuộc phạm vi của bộ đội Cộng Sản thì không thể làm gì được.

Khi VC vào Quy Nhơn, họ bắt Bác Sĩ Trứ. Nhưng ông không chỉ bị bắt làm tù binh, mà còn bị buộc tội làm việc cho CIA vì mọi người đi hết sao chỉ còn một mình Bác Sĩ Trứ ở lại. Trong Quân Y Viện lúc ấy, có một lính Việt Cộng bị thương được một đơn vị đem gởi điều trị, nhưng lại bị khóa tay vào thành giường, Bác Sĩ Trứ không có chìa khóa mở còng nên nhóm vc càng căm thù Bác Sĩ Trứ. Ông bị tù 4 năm 11 tháng, ra tù ông vượt biển đến Mỹ từ năm 1981, lúc còn độc thân, hiện nay đã có ba con theo học đại học….

Trong những ngày qua, có nhiều điện thoại hỏi đến ông về câu chuyện cũ gần 36 năm về trước khiến cho ông có nhiều đêm bị mất ngủ vì những cơn ác mộng. Bác Sĩ Nguyễn Công Trứ nói rằng ông đã làm theo lương tâm và với tình đồng đội, đã chôn 47 tử sĩ dưới chân cột cờ của Quân Y Viện. Ông đã nhiều lần về lại Quy Nhơn, qua lại trước khu Quân Y Viện cũ, ngày nay đã là doanh trại của bộ đội Cộng Sản, mà không thể làm gì hơn.

Tin về ngôi mộ tập thể cũng đến tai bà quả phụ cố Đại Tá Thông, nhũ danh Phùng Ngọc Hiếu. Liên lạc được qua điện thoại hôm Thứ Năm, bà cho biết mấy ngày hôm nay, nhiều bạn bè đã chuyển cho bà về tin tức ngôi mộ tại Quân Y Viện Quy Nhơn, cũng là nơi yên nghỉ của Đại Tá Thông.

Từ 35 năm nay, bà cũng nghe nhiều tin tức về chồng và bà cũng có nghe tin ông tự sát. Bà cũng đã về Quy Nhơn tìm kiếm nhưng không có tin tức, và không biết xác ông được chôn cất ở đâu. Bà kể, trước khi mất liên lạc, Đại Tá Thông có liên lạc với vợ và than phiền rằng trung đoàn của ông đang chiến thắng, vì sao lại có lệnh rút bỏ Pleiku.

Đại Tá Nguyễn Hữu Thông sinh năm 1937, nguyên quán tại Thạch Hãn, Quảng Trị, tốt nghiệp khóa 16 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Ông được vinh thăng đại tá năm 1972. Hiện nay bà quả phụ cố Đại Tá Nguyễn Hữu Thông cư ngụ tại Sacramento và ông bà có 5 người con đã thành đạt.

Biden 100 ngày: Điều mà tất cả chúng ta nghĩ sai về Biden

Biden 100 ngày: Điều mà tất cả chúng ta nghĩ sai về Biden

Jon Sopel

North America editor

Đối với đội ngũ báo chí của Nhà Trắng, những người đã gắn bó suốt 4 năm với chương trình truyền hình mà Trump thủ vai chính, ba tháng qua là một thử thách.

Như tôi đã nhận xét, có lẽ không khôn ngoan, đối với khán giả quá trình chuyển đổi từ Trump sang Joe Biden giống như đang hút tẩu hàng ngày, chuyển sang uống một chai bia nhỏ nồng độ cồn thấp, mỗi tuần một lần.

Các cuộc họp giao ban hàng ngày của Nhà Trắng giờ đây vô cùng tẻ nhạt. Không có đánh nhau, không thóa mạ nhau.

Không có cơn bão Twitter lúc nửa đêm, không có tin về việc trả tiền cho các ngôi sao khiêu dâm, không có các cuộc biểu tình Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại (Make American Great Again).

Vì vậy, tất cả những điều này có nghĩa đây là một nhiệm kỳ tổng thống nhàm chán? Tuyệt đối không. Đây là một nhiệm kỳ tổng thống thú vị hơn rất nhiều – cho đến nay – hơn tôi nghĩ bất kỳ ai trong chúng ta đã tưởng tượng. Tôi muốn nói rằng nó rất rất hấp dẫn.

Điều đáng buồn, từ một quan điểm hoàn toàn ích kỷ, đây không phải là một chương trình trình diễn dành cho TV – thứ mà tôi đã xem trong suốt bốn năm qua.

Donald Trump luôn yêu chuộng hình ảnh và sự thái quá. Ông biết cách biến mình trở thành trung tâm của sự chú ý; Biden dường như lại thích thú với việc thiếu những màn kịch, và dường như ông nghĩ rằng điều quan trọng là mọi người tập trung vào những điều ông làm được, hơn là những gì ông nói. Thật lạ lùng.

Chúng tôi đã đưa ra nhận định rằng Joe Biden – với 78 tuổi đời – sẽ là một tổng thống chuyển tiếp. Ông nhậm chức chỉ để hạ độ nóng chính trị; tìm cách hàn gắn một quốc gia bị chia rẽ.

Loại bỏ việc chính trị hóa vô lý ra khỏi các cách phản ứng với dịch Covid. Cải thiện việc triển khai vaccine. Giải độc cho chính trị. Nhưng chỉ những điều này, không mang lại gì nhiều.

Ông đã bổ nhiệm một nội các chủ yếu là kỹ trị, có lẽ để thực hiện các chức năng quản lý. Có thể làm cho các con tàu chạy đúng giờ hơn một chút, nhưng không thể thay đổi toàn bộ đầu máy, chứ chưa nói đến việc thay năng lực vận hành của cả tuyến đường sắt.

Một tham vọng phù hợp cho Amtrak Joe.

Nhưng có lẽ tất cả chúng ta đã sai. Có thể nào còn hơn cả chuyển tiếp, ông Biden là một người mang lại sự ‘chuyển đổi’?

Và từ ‘chuyển đổi’ không mang hàm ý tích cực hay tiêu cực – nó chỉ đơn thuần là một tuyên bố dựa trên tham vọng về những gì chúng ta đã thấy cho đến nay. Những người bỏ phiếu sẽ sớm quyết định xem những chuyển đổi này tốt hơn hay tệ hại.

iểm nhấn của việc thông qua đạo luật khổng lồ này là gần như tất cả người Mỹ trưởng thành sẽ nhận được tấm séc trị giá 1.400 đôla để giúp họ đối phó với những khó khăn do đại dịch mang lại. Tấm séc này là tiền tiêu cần thiết cho rất nhiều người Mỹ và giành được sự tán thành lớn – từ các cử tri Đảng Dân chủ và Cộng hòa – mặc dù không một nhà lập pháp Đảng Cộng hòa nào ủng hộ đề xuất này.

Nhưng hãy nhìn xa hơn tựa những bài báo và nhìn vào bên trong chính sách này một chút. Có rất nhiều thứ cho ta thấy. Có lẽ quan trọng nhất là việc gia hạn các khoản tín dụng thuế trẻ em. Các gia đình nghèo có thể sớm nhận được tới 3.000 đôla mỗi trẻ em hàng năm. Người ta ước tính rằng biện pháp này sẽ giúp hàng triệu thanh niên thoát nghèo theo đúng nghĩa đen. Hiện giờ, biện pháp này chỉ áp dụng cho năm 2021 – nhưng trong nội bộ Nhà Trắng, rõ ràng Joe Biden muốn chính sách này trở nên vĩnh viễn.

Nó là một phần chính của chính sách xã hội. Nó là một điểm quan trọng.

Với việc thông qua gói kích thích kinh tế – hay còn gọi là Gói giải cứu Mỹ – Biden muốn sửa chữa điều gì đó mà ông cảm thấy Barack Obama đã hiểu sai khi lên nắm quyền và thừa hưởng hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2009. Đúng, Obama đã thông qua nhiều biện pháp khác nhau – nhưng suy xét lại, những biện pháp này bị coi là quá thận trọng; không đủ tham vọng.

Kinh nghiệm sâu sắc mà Biden có được từ thời làm phó tổng thống cho vị tổng thống người Mỹ gốc Phi đầu tiên của Mỹ, là đừng để một cuộc khủng hoảng trở nên lãng phí. Sự cấp bách của đại dịch đã tạo cho Biden cái cớ mà ông cần để thúc đẩy một kế hoạch lớn. Và ông ấy đã thực hiện được kế hoạch đó.

Bây giờ hãy xem những dự định xây dựng lại cơ sở hạ tầng của Biden. Một lần nữa, chi phí sẽ là hàng nghìn tỷ. Một lần nữa, tham vọng sẽ rất lớn – đây không chỉ thuần túy là việc sửa chữa cầu và đường (dù đó là điều quan trọng và sống còn); đó là việc làm cho truy cập kỹ thuật số trở nên công bằng hơn. Nhưng tham vọng này còn rộng lớn hơn thế nữa. Lớn hơn nhiều.

“Nó không phải là một kế hoạch mày mò sửa chữa thử nghiệm,” tổng thống nói với người ủng hộ bên ngoài Pittsburgh. “Đó là khoản đầu tư vào nước Mỹ mỗi thế hệ chỉ có một lần.”

Với những người theo Đảng Cộng hòa, đó là kiểu quá tay điển hình của chính phủ và nó nhắm vào việc thay đổi cấu trúc xã hội hơn là động thái chữa dân sự thông thường như sửa đường sửa cống.

Những điều mong ước mà Biden hy vọng đạt được từ kế hoạch cơ sở hạ tầng này dài lê thê. Danh sách này thể hiện mong muốn tạo ra hàng triệu công ăn việc làm trong ngắn hạn và tăng năng lực cạnh tranh của Mỹ trong dài hạn. Nó hướng tới việc đạt thêm được bình đẳng chủng tộc. Việc tập trung vào các nguồn năng lượng mới, sạch hơn, hứa hẹn sẽ giúp quốc gia chống lại biến đổi khí hậu.

Về chủ đề này, hãy nhìn lại cả những mục tiêu đầy tham vọng liên quan đến biến đổi khí hậu mà ông đã đặt ra trong hội nghị thượng đỉnh qua mạng được tổ chức vào tuần trước ở Washington. Đây không phải là hành động của một tổng thống không muốn tạo sóng gió. Việc cắt giảm 52% lượng khí thải vào cuối thập kỷ là UYỆN LỚN.

Ai biết liệu ông ta có đạt được điều đó hay không – nó sẽ đòi hỏi người Mỹ thay đổi cách lái xe; cách sưởi ấm và làm mát ngôi nhà họ. Cách thức mà nền công nghiệp vận hành. Nhưng nếu tham vọng này nhằm tới sự phô trương tham vọng của Mỹ, thì quả thực là rất tham vọng.

Đương nhiên, rõ ràng là có yếu tố đáp ứng nhu cầu căn bản người dân nào cũng thích trong danh sách những cải tổ này. Và đề xuất này cần phải thông qua Quốc hội, và điều đó chưa xảy ra.

Và trong khi tôi đang nói dài dòng, hãy để tôi bổ sung thêm điều này…. và có điều gì đó hơi nực cười về trọng tâm của 100 ngày đầu tiên.

100 ngày đầu tiên thường là một tuyên bố về ý định, một khoản đặt cọc làm tin trước cho những gì bạn có thể làm với phần còn lại của nhiệm kỳ. Nhưng thiệt tình mà nói, ai thèm quan tâm nếu bạn có 100 ngày đầu tiên lấp lánh trong khi 1.360 ngày tiếp theo bốc mùi và chìm nghỉm?

Tất cả đều cho thấy, chương trình nghị sự đầy tham vọng, và đây là điều khiến Joe Biden già nua nhàm chán trở nên thú vị.

Đây là một chuyên mục blog chứ không phải một cuốn sách, nhưng ý tưởng chủ đạo trong chính trị Mỹ suốt 40 năm qua được cho là đánh thuế thấp, giảm bớt quy định về kinh tế, cân đối ngân sách, khuyến khích cạnh tranh, hạn chế công đoàn theo đường lối chính phủ nhỏ của Ronald Reagan.

Điều này cũng đúng với sức ảnh hưởng của chủ nghĩa Thatcher ở Anh – vâng, đã có 13 năm chính phủ đảng Lao động nắm quyền kể từ khi Maggie về vườn, cũng như ở đây đã có các nhiệm kỳ của Clinton và Obama kể từ thời Reagan. Nhưng có thể cho rằng chúng hoạt động trong khuôn khổ, và được xác định bởi, tính chính thống của các kinh tế gia theo chủ nghĩa tiền tệ, những người thống trị tri thức ở cả hai bờ Đại Tây Dương: Milton Friedman, trường phái Chicago, đường cong Laffer, Huân tước Alan Walters.

Reagan and Thatcher

Nếu gói giải cứu của Obama không đi xa được (như nhận định của Biden), thì rõ ràng là do Obama quan tâm tới sức mạnh gây đỗ vỡ và ngày càng trỗi dậy của phong trào bảo thủ mang tên Đảng Trà. Cả Clinton và Blair đều thấy con đường đưa tới thắng lợi của họ thông qua “cách thứ ba” mơ hồ: chủ nghĩa tự do kinh tế cấp tiến với nhiều quan tâm đến giới ít khá giả nhất.

Sau những thất bại gây mất tinh thần vào thập niên 1980 – với cả Đảng Lao động ở Anh và Đảng Dân chủ ở Mỹ – người ta càng đau đầu về những gì cần làm để đạt được thắng lợi. Cả Bill Clinton và Tony Blair đều tin chắc rằng việc tăng thuế và các cam kết về chính phủ lớn sẽ không đảo ngược xu hướng đó.

Nhưng Biden – dù tốt hơn hay tệ hơn – có vẻ đang dùng đại dịch và tình trạng tồi tệ của cơ sở hạ tầng nước Mỹ để sỗ sàng nói với dân Mỹ rằng “vâng, chính phủ lớn đã trở lại”. Đó là lãnh địa mà các đối thủ từ Đảng Cộng hòa – vẫn đang cố gắng xác định danh tính của mình thời hậu Trump – sẽ luôn sẵn sàng chống trả.

Cựu chuyên gia thăm dò dư luận của Joe Biden thậm chí còn quyết liệt hơn khi cho rằng tổng thống nên thẳng thắn hơn về sự cần thiết phải tăng thuế với những người giàu có nhất để chi trả cho tham vọng này.

Xin đừng nhầm lẫn: đây là một cú đột phá lớn và là một canh bạc lớn. Cho đến nay, tỉ lệ ủng hộ Biden xét trên các mặt trận mà ông chọn để chiến đấu – đối phó đại dịch corona, kích thích kinh tế, các kế hoạch về hạ tầng – đang thực sự khả quan.

Với những hỗn loạn ở biên giới miền nam thì không được như vậy; điều mà bây giờ tổng thống thừa nhận là một cuộc khủng hoảng. Và vấn đề kinh niên về kiểm soát súng đang dẫn đến rất nhiều tranh cãi, nhưng thật khó để đoán được những gì ông sẽ có thể đạt được thông qua lập pháp, xét trên cán cân đang ngang ngửa tại Thượng viện.

Joe Biden luôn bám chặt vào các quy tắc giãn cách xã hội và đeo khẩu trang, đánh dấu một sự khác biệt lớn so với tình trạng bừa bãi và siêu lây lan ở Nhà Trắng của người tiền nhiệm. Các cuộc họp của tổng thống đều theo tinh thần giãn cách xã hội; các quy định được tuân thủ nghiêm ngặt.

Nhưng giờ này tháng trước, một buổi họp thú vị đã diễn ra ở Phòng Đông.

Jon Meacham, sử gia chuyên nghiên cứu về tổng thống, đã mời một số đồng nghiệp nổi tiếng đến tham gia cuộc đối thoại mà Joe Biden rất nóng lòng tổ chức. Ngay trong giai đoạn này, mới chỉ khoảng 60 ngày sau khi nhậm chức, mà Biden đã suy nghĩ về di sản của mình và những gì ông cần phải làm; giới hạn về thẩm quyền của tổng thống là gì; những bài học mà ông có thể học được từ những người đi trước.

Một lần, ông ta đã quay sang Doris Kearns Goodwin, người có lẽ được tôn kính nhất trong số các học giả nghiên cứu về tổng thống, và nói “Tôi không phải FD, nhưng…”

Có lẽ Joe Biden đang coi đây là thời điểm để đưa ra Chính sách Kinh tế mới kiểu như Franklin Delano Roosevelt đã thực hiện sau Đại Suy thoái, hoặc cuộc chiến chống đói nghèo và chống bất bình đẳng chủng tộc được Lyndon B Johnson thúc đẩy vào thập niên 1960.

Điều mà Donald Trump chế nhạo trong chiến dịch tranh cử là Biden có thể đã tham gia chính trị hơn bốn thập niên, nhưng nào đã có được thành tựu nào để mà tự hào.

Có vẻ như khi lên nắm quyền, Biden đang tìm cách đưa ra câu trả lời hùng hồn và rõ ràng cho câu hỏi đó – ngay cả khi nó không là một màn biểu diễn đầy kịch tích.

– Joe Biden trên đường trở thành Tổng thống thứ 46 của Hoa Kỳ

– Cầu đường ở Mỹ đang trong tình trạng thiếu thốn

– Biden gợi lại ký ức về FDR

https://www.bbc.com/news/world-us-canada-56903805

Tháng Tư… Ngu! – TẠP GHI HUY PHƯƠNG…

 

 

RẤT NHIỀU NGƯỜI TRONG CHÚNG TA THƯỜNG MỞ MIỆNG CHỈ TRÍCH VIỆT CỘNG LÀ NGU – CHÚNG TA KHÔN HƠN.

ĐÃ 46 NĂM, CHÚNG TA VẪN CHƯA LÀM LUNG LAY ĐƯỢC CHẾ ĐỘ… CHÚNG VẪN NGỒI ĐẤY VÀ NẮM QUYỀN?! AI KHÔN & AI NGU ĐÂY?

***

TẠP GHI HUY PHƯƠNG…

Tháng Tư… Ngu!

Trước hết, tôi xin tự kiểm điểm cái ngu của bản thân mình trước, trong hàng nghìn cái ngu của thiên hạ, vì ngu mà phải mất nước, “lỗi tại tôi mọi đàng” hay “tôi làm tôi mất nước.”

Là một cán bộ chiến tranh chính trị trung cấp, hết làm tâm lý chiến, rồi chính huấn, tức là huấn luyện chính trị cho hàng nghìn tân binh tại một trung tâm huấn luyện lớn nhất nước, mà khi nghe Cộng Sản vào đến Sài Gòn, không chịu tìm đường chạy, vì cứ nghĩ mình gốc nhà giáo, hòa bình rồi, đi ‘học” mấy ngày rồi về dạy học lại!

Tôi ngu vì đã suy diễn hay hiểu sai thời gian đi “học tập,” nên chỉ đem theo 10 gói mì ăn liền Vifon, để ăn sáng trong 10 ngày, ngày thứ 11 đã ăn cơm nhà rồi!

Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn-Gia Định ra thông cáo tất cả các quân nhân cấp úy phải trình diện đi “học tập cải tạo,” mang theo tiền ăn trong 10 ngày, cấp tá mang theo tiền ăn cho một tháng. Sau này có người đi tù 17 năm ròng rã, chúng ta “chửi” Cộng Sản lừa dối, nhưng xem kỹ lại các văn bản, không thấy đoạn nào nói, cấp úy chỉ đi tù 10 ngày, cấp tá một tháng, mà chỉ nói “đóng tiền ăn.”

Chẳng qua, vì chúng ta hay suy luận, và ngây thơ, khờ dại nên mắc mưu sự khôn lanh, xảo quyệt của kẻ thù, đó chính là vì chúng ta ngu!

Sau này, ra Bắc, chính tai tôi đã nghe một quản giáo cai tù nói rằng: “Đưa các anh ra biển thì cũng từ từ, trước hết là gần bờ, sau mới dần dần đưa các anh ra xa hơn, nếu không các anh chóng mặt, say sóng, chịu làm sao nổi!”

Tôi đoan chắc anh em chúng ta, nhất là quý vị tướng lãnh, nếu biết được những ngày tù không bản án, mà có người ra đi biền biệt 17 năm trời, chịu bao nhiêu khổ ải, nhọc nhằn, nhục nhã, thì một nửa trong chúng ta đã tự sát tại nhà mà chết, hoặc chạy vào rừng để rồi cũng chết vì súng đạn của Việt Cộng. May hay rủi, vì ngu mà chúng ta mới sống đến ngày hôm nay.

Khi đến các địa điểm trình diện, không ai nghĩ “đi tù” mà chỉ nghĩ “đi học.” Tại trường Trưng Vương, là nơi trình diện từ cấp phó giám đốc trở lên, hai vị, một từng là phó thủ tướng VNCH, dân biểu, một vị đã là thượng nghị sĩ, đi học còn mang theo gối ôm, và khi xếp hàng vào cổng, có vị đã giành đi trước, vì có giấy giới thiệu của Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn-Gia Định. Sau đó, bộ đội Cộng Sản mới ra lệnh: “Ai có giấy giới thiệu thì đứng qua một bên!” Giấy giới thiệu đây là giấy gọi “trình diện” cho các viên chức cấp cao, còn đối với cấp nhỏ thì chỉ có thông cáo chung trên báo chí, đài phát thanh.

Những ai còn đứng lấp ló ngoài cửa chưa chịu vào, còn nghi ngại dò la thì những chiếc xe mang tên nhà hàng Soái Kình Lâm, Đồng Khánh… mang thức ăn vào quý vị dùng bữa tối, hẳn đã đánh tan mối hoài nghi về thiện ý của người thắng trận.

Đến khi lên xe Molotova, phủ bạt kín rồi, chúng tôi vẫn còn lạc quan tin lời Cộng Sản được đưa đến chỗ đầy “đủ tiện nghi,” (chắc là có đủ điện nước, máy lạnh, sân bóng chuyền…) để học tập và khi biết đoàn xe ra đến xa lộ Biên Hòa, thì việc di chuyển lên Đà Lạt như cầm chắc trong tay. Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, trường Chỉ Huy Tham Mưu, trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị là những nơi lý tưởng nhất để “học tập.”

Khi đến nơi ở tù rồi, Cộng Sản đưa tù vào một cái nhà kho, một trại gia binh hay một cánh rừng thì vẫn tin tưởng vào số ngày trong thông cáo, chờ ngày ra sân vận động Cộng Hòa làm lễ mãn khóa: “Quỳ xuống hỡi những cải tạo viên – Đứng lên hỡi những công dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!”

Câu chuyện những người trên con tàu Việt Nam Thương Tín, Tháng Năm, 1975, sang đến đảo Guam rồi, lại đốt “barrack,” tuyệt thực để đòi “về với tổ quốc,” là một bài học xót xa cho những người trong cuộc, có người phải trả giá bằng 17 năm tù. Nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh kể chuyện, anh em “tù cải tạo” tại trại tù K2, Nghệ Tĩnh, gọi những người này bằng biệt danh “đội q…!”

Tại trại 15 NV. Long Thành, một nhạc sĩ đã hồ hởi sáng tác những bản nhạc được cai tù bắt cả trại hát: “Trồng rau, trồng đậu, trồng tình thương trong tâm hồn người…” Ra tới Bắc Thái lại thêm một bài “Ngày vui đã tới!” nhưng mà “ngày về” thì xa lắc xa lơ!

Thậm chí khi lên con tàu chở súc vật Sông Hương lưu đày ra Việt Bắc rồi, có người vẫn lạc quan “biết đâu nó chở tù miền Nam ra Đệ Thất Hạm Đội Hoa kỳ hay đi thẳng qua Guam để giao cho Mỹ!” Tàu chạy hơn một ngày một đêm rồi mà vẫn nghĩ là cập bến Đà Nẵng chứ không ai nghĩ là lên cảng Hải Phòng.

Ở trong nhà tù vẫn còn người tin tưởng “học tập, lao động” tốt thì được “Cách Mạng” cứu xét cho về với gia đình sớm, nên làm trối chết, kiệt sức, đấu tố anh em… để lấy điểm với cán bộ, cũng như đau xót cho quý bà ở nhà, dắt díu con cái đi vùng “kinh tế mới” cho chồng sớm được tha! Sau 10 “bài học tập,” tới buổi “thu hoạch” thì cứ nghĩ là viết hay thì được tha về, viết dở thì ở lại “học” tiếp.

Trước ngày 29 Tháng Ba, 1975, khi Cộng Quân chưa vào Đà Nẵng, một số người thuộc phe hòa hợp hòa giải tin tưởng thời cơ đã đến nên đã sắp đặt đưa Bác Sĩ Phạm Văn Lương lên làm thị trưởng Đà Nẵng, tin sau đó được đài BBC loan báo. Trong lần phỏng vấn bà quả phụ Phạm Văn Lương tại Nam California, bà xác nhận với chúng tôi Bác Sĩ Phạm Văn Lương chưa bao giờ là thị trưởng Đà Nẵng, nhưng có chuyện là khi có nguồn tin này, một vị trung tá đã đến gặp ông xin làm tài xế cho ông, để nhờ ông che chở, lánh nạn. Sao có người “ngu” đến mức như thế!

Ngày 5 Tháng Tư, 1975, Bác Sĩ Phạm Văn Lương cùng nhiều y sĩ khác bị đưa vào nhà tù Kỳ Sơn, và một năm vào ngày 3 Tháng Tư, 1976, Bác Sĩ Lương đã uống thuốc ngủ cùng 10 viên cloroquine để tự tử.

Trong những ngày cuối cùng của miền Nam, Tướng Dương Văn Minh vẫn còn tin tưởng Thượng Tọa Thích Trí Quang, người hứa sẽ đưa người “phía bên kia” đến thương lượng để thành lập chính phủ liên hiệp. Nhưng cuối cùng, tiếng than cuối cùng tuyệt vọng của “Tổng Thống” Dương Văn Minh là: “Thầy giết tôi rồi!”

Có những người làm lớn hoặc từng “làm rung rinh nước Mỹ” mà còn ngây thơ như vậy, thì đừng trách chi một thằng lính như tôi tin tưởng vào lời của “cách mạng” đem đủ 10 gói mì ăn liền, là… ngu!

Quân tử, ngay thẳng, ngây thơ mà đối đầu với tiểu nhân, xảo trá, độc ác thì không chết cũng bị thương.

Tôi đâm ra nghi ngờ những lời kêu gọi chúng ta rằng, hãy “đem đại nghĩa để thắng hung tàn,” để rồi từ đó cho đến ngày hôm nay mọi người đều biết và thấy nhan nhản chuyện “cường bạo áp đảo cả chí nhân!” !!!

Ở PHÒNG TẬP THỂ DỤC

Ở PHÒNG TẬP THỂ DỤC

Trần Mộng Tú

Tôi tới cái Gym gần nhà, cố giữ bốn, năm lần một tuần. Cuối tuần thì chắc chắn là khó đi lắm. Ở đó độ hai tiếng. Lên máy đi bộ khoảng 2 miles (45 phút), rồi đi lòng vòng trong đó, nâng cái máy này, đủn cái máy kia một chút, cho cả chân tay đều phải hoạt động. Con trai tôi nói, mẹ cứ nhấc cho con 5 lbs một bên. Cứ làm từ từ ít cái một theo sức mình. Bao giờ quen thì làm nhiều lần hơn. Mẹ già rồi nên tập đều đặn nhưng chầm chậm lại.

Ừ thì nhấc, xem được bao lâu. Giống như hồi trẻ chơi banh, chơi nhẩy giây hay túc cầu. Cái gì cũng háo hức thử, rồi bỏ.

Tôi bước vào phòng tập thể dục, lúc 2 giờ trưa. Giờ này thường vắng người. Đông nhất là sáng sớm và buổi chiều vì người ta tới đó trước khi đi làm hay sau khi ở sở về. Giờ này cũng là giờ của những người đã về hưu rồi.

Chưa kịp vào phòng thay quần áo, tôi chợt nhìn thấy trên hai cái máy chạy bộ trước mặt, có hai cụ già đứng cạnh nhau. Hai cụ tóc trắng phau, trông mong manh lắm. Cụ ông đứng trên máy, nhưng chưa bước vì còn lo cho cụ bà đứng vững đã. Cụ mở số chậm nhất rồi giữ tay cho cụ bà bắt đầu bước, bước thật chậm, từng bước một. Khi cụ bà đứng vững rồi, cụ ông mới mở máy của mình. Cũng thật chậm, từng bước một.

Hai cụ đứng trên hai cái máy, bước thật chậm, hai tay vịn hai bên then ngang, đưa lên đưa xuống. Hai cụ cùng gầy, khom khom lưng, quần áo mỏng màu trắng sữa nhàn nhạt, tóc bạc trắng lưa thưa. Cái máy giúp hai cụ bước chầm chậm, tay đưa lên đưa xuống chầm chậm. Trông như hai phi hành gia bay trên không gian, không có trọng lực, là là giữa gian phòng. Tôi ngẩn người ra nhìn hai cụ.

Cứ tưởng nơi này chỉ để cho những người còn trẻ, hay còn khỏe. Chạy máy rầm rập cả gian phòng. Hai cụ ít nhất ngoài 80 tuổi, cũng tới đây, leo lên máy mà không làm ra tiếng động nào.

Không biết có phải hai cụ, tự mình lái xe đến đây hay con cháu đưa tới.

Tôi thay quần áo ra tập được 15 phút thì thấy hai cụ sửa soạn tắt máy ra về. Cũng cụ ông tắt cái máy của mình trước, rồi tắt máy của cụ bà, đỡ cụ bà xuống hẳn máy mới buông tay ra. Cử chỉ từ tốn, nhẹ nhàng. Hai cụ không thay quần áo trong buồng tắm mà ra về thẳng.

Tôi nhìn theo hai cái lưng còng, hai bàn tay nắm lấy tay nhau, đi thật chậm ra cửa. Không có ai đón, tức là hai cụ tự lo cho nhau.

Tôi hình dung ra ở một khu chung cư nào gần đây. Trong một căn hộ nhỏ, hai cụ tự lo cho nhau miếng ăn, giấc ngủ. Vẫn lái xe, vẫn đi Gym thì chắc hai cụ phải còn những sinh hoạt khác trong những hội cao niên hay nhà thờ, trường cũ, bạn xưa.

Cứ chầm chậm mà bước. Càng bước chậm thì con đường trước mặt càng kéo dài ra hơn nữa. Tôi cần học cách chấp nhận khôn ngoan này của hai cụ.

Vì sao con đường hòa hợp- hòa giải dân tộc vẫn xa vời?

Vì sao con đường hòa hợp- hòa giải dân tộc vẫn xa vời?

Cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt gần nửa thế kỷ nay, thế nhưng kêu gọi ‘hòa hợp- hòa giải’ giữa hai phía với ý thức hệ khác nhau đến nay vẫn chưa thể thực hiện. Thanh Trúc ghi nhận ý kiến bình luận của nhiều nhà quan sát.

Thanh Trúc
2021-04-27

Vì sao con đường hòa hợp- hòa giải dân tộc vẫn xa vời?

Hình minh hoạ. Xe cổ động chào mừng ngày 30/4 trên đường phố TPHCM hôm 28/4/2015

 Reuters

Vì sao con đường hòa hợp- hòa giải dân tộc vẫn xa vời?

“Chuyện xảy ra năm 2016, ông Hữu Thỉnh là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam ở Hà Nội, qua điện thư đã mời tôi về Hà Nội  trong tháng 10/2016 và có buổi gặp gỡ thể hiện sự hòa hợp hòa giải”

“Tôi đã trả lời rằng cho dù tôi có cầm bút nhưng từ trước ’75, cũng như sau ’75 bây giờ ở hải ngoại, tôi chỉ xem mình là một quân nhân. Trong tư cách của người lính thì tôi từ chối vì từ trong lịch sử, trên lý thuyết cũng như trong thực tế, tôi thấy các cá nhân trong tổ chức của Đảng Cộng sản ở Hà Nội không hề có tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc với ai hết. Đó là một Đảng chủ trương: ‘Thề phanh thấy uống máu quân thù, Tiêu diệt quân thù để giải phóng miền Nam…’. Kẻ thù nào trong ngày 30/4/75?”.

Đó là lời ông Phan Nhật Nam, cựu quân nhân quân lực Việt Nam Cộng Hòa, được biết đến như một phóng viên chiến trường  thời chiến tranh Việt Nam. Làm sao hòa hợp hòa giải, ông nói,  khi những vết thương của dân tộc từ sự bội tín của người cộng sản chưa thể khép lại:

“Từ Chính Phủ Liên Hiệp 1946, Hiệp Định Genève 1954, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam 1960, đến Hiệp Định Paris 1975 đều bị xé bỏ một cách ngang nhiên. Từ cuộc di cư 1954, vụ Nhân Văn Giai Phẩm 1957, giải phóng miền Nam 1960  đến Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, rồi 1975 là đánh tư sản, lùa dân đi kinh tế mới, phong trào vượt biên gần 600.000 người chết. Suốt mấy chục năm như vậy Đảng Cộng sản không hòa hợp hòa giải với ai hết, cả chính bản thân của họ nữa”

“Từ đó tôi kết luận ông Hữu Thỉnh, dù có thực tâm đi chăng nữa, cũng không thể có khả năng tổ chức một cuộc hòa hợp hòa giải với những cá nhân mà ông ta gọi là nhà văn. Nói thật Đảng Cộng sản đặt ra vấn đề hòa hợp hòa giải thì không tin được. Không hề có sự kiện hòa hợp hòa giải dân tộc 46 năm sau”. 

2015-04-30T120000Z_569950304_GF10000078238_RTRMADP_3_VIETNAM-WAR-ANNIVERSARY.JPG

Hình minh hoạ. Duyệt binh kỷ niệm 40 năm kết thúc cuộc chiến Việt Nam 30/4/1975 ở TPHCM hôm 30/4/2015. Reuters

Câu chuyện nhà văn Phan Nhật Nam được mời về nước hồi 2016 được Facebooker Lưu Trọng Văn nhắc lại  trên tài khoản FB cá nhân, một lần nữa lôi kéo sự chú ý và phản hồi từ nhiều phía. 

Nhà thơ Hoàng Hưng, một trong những người đồng sáng lập Ban Vận Động Thành Lập Văn Đoàn Độc Lập Việt Nam, mà tiếng nói là trang mạng Văn Việt, cho rằng gọi là hòa hợp nếu đừng động tới ý thức hệ hay chính trị là những thứ mà người cộng sản chỉ muốn độc quyền lý luận:

“Trong tổ chức chúng tôi cũng có những nhà văn nhà thơ ở Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Đức… Tôi nhiều lần sang Mỹ và tiếp xúc với nhiều nhà văn nhà báo ở hải ngoại. Giữa chúng tôi, kể cả những người từng là sĩ quan, công chức Việt Nam Cộng Hòa, thì tự nhiên là chả khác biệt hoặc e dè gì cả. Như vậy chứng tỏ sự hòa hợp có thể có khi mà hai bên không có định kiến về chính trị, vế ý thức hệ”

“Nói như thế thì lập tức có thể hiểu ngay tại sao ông Hữu Thỉnh đưa ra lời mời ông Phan Nhật Nam. Tôi cho là ông Hữu Thỉnh thật tâm thôi và chưa chắc là có lệnh của ai đâu. Thế nhưng không được ông Phan Nhật Nam chấp nhận thì cũng dễ hiểu thôi. Là vì ông Hữu Thỉnh muốn hay không muốn cũng là người đại diện của ý thức hệ cộng sản, trực tiếp chịu sự lãnh đạo của Ban Tuyên Huấn Đảng Cộng sản. Với một người như ông Phan Nhật Nam và nhiều người khác, từng đi theo ý thức hệ  Việt Nam Cộng Hòa, thì khó lòng mà hòa giải được. Nền tảng hai thể chế, hai chế độ chính trị làm sao hòa giải được với nhau. Không thể có, rất khó có”.

Quả thực là khó nếu người ta, đúng ra là người cộng sản, cố ý mù mờ, lập lờ về cụm từ hòa hợp hòa giải, là phân tích của nhà quan sát chính trị Nguyễn Gia Kiểng, Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên ở Paris, Pháp:

“Hòa hợp dân tộc và hòa giải dân tộc là hai khái niệm khác nhau. Hòa hợp đồng nghĩa với đoàn kết, còn hòa giải là xóa bỏ hận thù. Vậy thì hòa giải phải đi trước hòa hợp. Muốn có hòa hợp dân tộc thì phải hòa giải dân tộc trước, người cộng sản dùng chữ hòa hợp hòa giải là sai”

“Nói hòa hợp mà không cần hòa giải, hoặc là hòa hợp trước rồi mới hòa giải thì cũng không khác gì nói tôi gọi anh là ngụy, tôi đã bỏ tù anh, tôi đã nắm độc quyền đất nước, bây giờ anh cứ chấp nhận, cứ hòa hợp với tôi đi rồi chuyện hòa giải chúng ta nói sau. Như vậy có nghĩa hòa hợp mà chưa hòa giải, nó đồng nghĩa với đầu hàng! Phải nói cho rõ là “hòa giải và hòa hợp dân tộc”, chứ nếu mà cứ lẫn lộn danh từ thì không thể nào thảo luận một cách đứng đắn được”.

Hòa hợp hòa giải chỉ có thể xảy ra khi Nhà nước Cộng sản này thay đổi cái tư duy tranh đấu giai cấp và cả lập trường ‘đich, ta’ là khẳng định của tiến sĩ Mạc Văn Trang, người vừa có hai bài viết kêu gọi lương tri lãnh đạo trên mạng:

“Nhưng mà điều này rất khó khăn, bởi vì bản chất Đảng Cộng sản bao giờ cũng phải lập trường ‘địch-ta’ rõ ràng. Đã là địch, ta tức là đấu tranh một mất một còn”

“Muốn hòa hợp dân tộc thì trước hết phải hòa giải với dân oan mất đất mất nhà. Người ta khiếu kiện mà không hòa giải, mà cứ cưỡng chế xong rồi còn bắt người ta đi tù, gọi người ta là thế lực thù địch. Những người bất đồng chính kiến, chỉ phản biện và đấu tranh ôn hòa thôi, cũng vu cho người ta tội tuyên truyền chống phá Nhà Nước, bắt đi tù thậm chí 10, 15 năm trong chế độ nhà tù hết sức ác nghiệt”

“Nếu một chế độ mà chấp nhận đa nguyên, chấp nhận khác biệt ý kiến, dân ở trong nước được nhân quyền, được tôn trọng, được bình đẳng thì tự nhiên nó sẽ hòa giải được cái xã hội ngay ở trong nước. Nếu chế độ không thay đổi thì bao nhiêu chủ trương chính sách cũng không thể nào thuyết phục, không thể nào giải quyết được vấn đề hòa hợp hòa giải dân tộc đâu”.

Nhức nhối là câu hỏi tại sao chưa thể hòa hợp- hòa giải mà rất, rất nhiều người có  tâm huyết đặt ra suốt 46 năm qua. Ông Kha Lương Ngãi, nguyên Phó tổng biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng thuộc Đảng bộ Cộng sản TPHCM, trao đổi qua điện thư như vậy:

“Hòa giải hòa hợp dân tộc chỉ đạt được khi ‘bên thắng cuộc’ không thể chỉ là bên có quyền ban phát  sự hòa giải”

“Không phải không nhắc đến, gạt bỏ quá khứ chiến tranh, thù hận ra khỏi suy tư là sẽ đạt được hòa giải hòa hợp dân tộc. Nhà cầm quyền phải có chủ trương, đường lối lãnh đạo đất nước theo xu hướng tiến bộ, dân chủ văn minh thì mới đoàn kết được toàn dân để  bảo vệ  chủ quyền quốc gia , dân tộc, bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân”

“Tôi buồn là vì tôi thấy rõ những tiêu chí để đạt được hòa giải hòa hợp dân tộc, để ngày 30/4 không còn là ngày “ triệu người vui, triệu người buồn”, thì đến bây giờ điều đó cũng vẫn chỉ là ước vọng viển vông”.

Nhà quan sát thời cuộc Nguyễn Gia Kiểng, từng bị chống đối khi lên tiếng kêu gọi về hòa giải trong ngoài trước khi muốn hòa hợp, cho rằng dù khó tới đâu thì hòa giải vẫn là điều bắt buộc:

“Một dân tộc sau khi đã giết nhau trong một cuộc nội chiến thì chỉ có hai giải pháp: hòa giải để đoàn kết dân tộc, để có thể nhìn lại nhau là anh em là bạn bè. Sức mạnh của một dân tộc bao giờ cũng là sự đoàn kết, đất nước Việt Nam sẽ không có tương lai nếu không có đoàn kết”

“Nếu người này làm người kia phá, người này thống trị người kia bị trị thì chúng ta sẽ không có tương lai nào trong thế giới hiện nay. Quốc gia phải được coi là một tình cảm, một không gian liên đới và một dự án tương lai chung. Không hiểu ý niệm quốc gia như thế thì chúng ta sẽ tan vỡ. Khó khăn tới đâu chúng ta vẫn phải tiếp tục vì đó là câu hỏi Việt Nam còn hay mất”.

Còn theo nhà thơ Hoàng Hưng thuộc Văn Đoàn Độc Lập, tổ chức nằm ngoài Hội Nhà Văn Việt Nam ở Hà Nội, muốn hòa hợp hòa giải thì người chủ động và trách nhiệm lớn nhất trước hết vẫn là ‘bên thắng cuộc.’

Nhà Nước và Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay phải chủ động, nhà thơ Hoàng Hưng nhắc lại, đừng “ta thắng – đich thua”, đừng phô trương rùm beng này nọ những dịp  30 tháng tư hàng năm, thì may ra có thể khiến người dân tin vào  thiện chí hòa giải thực sự của mình. 

YouTube player

Chuyện nhà chồng tôi – Một bi kịch không hồi kết sau ngày “kết thúc” tiếng súng chiến tranh

Chuyện nhà chồng tôi – Một bi kịch không hồi kết sau ngày “kết thúc” tiếng súng chiến tranh

Bởi  AdminTD

Phạm Thanh Nghiên

28-4-2021

“Mày có biết cái này là cái gì không?”

Sáng ngày 30-4-1975, gia đình ông Huỳnh Kim Sơn cả thảy 11 người đang ở trong nhà thì nghe tiếng ồn ào ngoài đường Phạm Thế Hiển. Ông Sơn là một thiếu úy cảnh sát, làm việc tại Quận 8 thuộc lực lượng Cảnh sát Quốc gia VNCH. Mặc dù ông đã dặn các con, các cháu không đứa nào được ra khỏi nhà, nhưng cậu bé Tú, khi ấy mới bảy tuổi, con trai thứ ba của ông vẫn rình lúc ông không để ý, rón rén mở cổng vọt ra ngoài. Từ nhà ông Sơn ra đường Phạm Thế Hiển đâu khoảng dăm trăm mét.

Cậu bé Tú thấy họ, những người mặc áo xanh, đội nón cối, đông lắm. Lớp thì đi bộ, lớp ngồi trên xe lam. Ai cũng vác theo súng. Có người còn mang cả cành cây cắm trên balo nữa. Cậu bé chưa từng chứng kiến cảnh tượng như thế tại Sài Gòn. Họ reo hò, la hét và ca hát vang cả phố phường, đại loại như: “Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù”, “Sài Gòn đây rồi”, “Đập tan bè lũ ngụy quân ngụy quyền”… Đó cũng là lần đầu tiên Tú nghe đến cái tên Hồ Chí Minh phát ra từ giọng nói rất khác của lũ người xa lạ kia.

Tú không phải đứa trẻ duy nhất hiếu kỳ đứng xem. Mấy đứa trẻ cùng xóm chen chúc trong đám đông, mắt ngơ ngác, láo liên nhìn ngó. Có mấy cái bàn ai đó đã kê sẵn trên vỉa hè, đặt những thùng bìa các-tông. Trong các thùng bìa ấy là những lá cờ xanh đỏ, không giống như lá cờ vàng ba sọc đỏ quen thuộc treo ở trụ sở cảnh sát, nơi ba của Tú làm việc, hay ở trường học mà cậu vẫn nghiêm trang giơ tay chào mỗi thứ hai đầu tuần.

Những nhóm người mặc áo xanh, đội nón cối hoặc đeo khăn rằn, vai mang súng bắt đầu đi phát cờ cho mọi người. Họ phát cả cho bọn con nít. Tú cũng được một cái. Cậu bé Tú mang lá cờ xanh đỏ ấy về, vừa đi vừa nhảy chân sáo. Mới bước vào nhà, chưa kịp khoe với ai thì ông Sơn đã giật phắt lá cờ trên tay thằng con, ném nó xuống đất rồi lấy chân giẫm lên. Vợ ông tái mặt, vội chạy ra cổng xem có ai đi ngang qua không. Tú ngơ ngác, tim đập thình thịch tưởng là sẽ bị ăn đòn can tội trốn đi chơi.

– Mày có biết cái này là cái gì không mà tha về đây?

Ông Sơn rít lên, cố nén cơn tức giận. Giẫm giẫm mấy cái cho bõ ghét rồi nhặt lên, vo viên lá cờ giấy trong tay trước khi mang xuống bếp, châm lửa đốt. Mới bảy tuổi, Tú chưa đủ khôn để biết chuyện gì đang xảy ra. Nhưng cậu bé đã lờ mờ cảm nhận về những điều bất thường đang đến với gia đình mình. Thảo nào mấy bữa nay ba không tới nhiệm sở, các anh chị em Tú cũng không đi học.

Sau ngày 30-4-1975, giống như các quân nhân cán chính chế độ VNCH, ba và ông ngoại của Tú đều phải đi “học tập cải tạo”, nghĩa là đi tù. Cả ba và ông ngoại của cậu đều là sĩ quan cảnh sát với cấp bậc thiếu úy, do đó bị chính quyền mới liệt vào thành phần “ác ôn”. Ông ngoại Phạm Văn Vinh từng là “Trưởng ban Tình Hình Ban Chỉ huy Cảnh sát quận 4”, một chức vụ thuộc bên tình báo.

Cậu bé Tú còn nhớ, hàng ngày ông ngoại đi làm đều có xe của nhiệm sở đến đưa đón. Ông ngoại Phạm Văn Vinh bị lưu đày ba năm ở nhà tù Hàm Tân. Trong Giấy Ra Trại mà nhà tù cộng sản cấp cho ông có ghi rõ: “Họ tên: Phạm Văn Vinh, sinh năm 1922. Trú quán tại: số 3 Cư Xá, Bến Vân Đồn – quận 4. Số quân, cấp bậc, chức vụ trong bộ máy chính quyền, quân sự và các tổ chức chính trị phản động của chế độ cũ: thiếu úy, Trưởng ban tình hình B.C.H.C.S quận 4”.

Giấy ra tù của ông ngoại Phạm Văn Vinh. Ảnh tư liệu của tác giả

Cơn thảng thốt của ngày 30-4

Ông Huỳnh Kim Sơn may mắn hơn nên chỉ đi tù vài tháng rồi được tha, do từng cứu mạng một viên cán bộ cộng sản Bắc Việt. Đó là một cuộc cứu mạng “bất đắc dĩ” xảy ra vào năm 1972. Một viên Việt cộng bị cảnh sát truy đuổi, trong lúc cấp bách đã chạy vào nhà ông trốn. Lúc cảnh sát ập vào, họ hỏi bà Kim Anh – vợ ông Sơn – xem có người lạ nào chạy vô không. Bà Kim Anh, khi ấy đang mang bầu người con thứ tư, dù sợ hãi nhưng vẫn cố trấn tĩnh, trả lời gọn lỏn một câu “không!”. Vừa lúc ông Sơn ở nhiệm sở về tới nhà, trên người vẫn mặc sắc phục.

Vì nể đồng nghiệp nên nhóm cảnh sát chỉ khám xét qua loa rồi bỏ đi. Bà Kim Anh vội ra đóng cổng, rồi trở lại vào trong nhà, lắp bắp nói với chồng “ổng… ổng… trong hồ nước”. Ông Sơn chết lặng người. Ông chạy ra sau nhà, thấy người đàn ông kia đang lóp ngóp từ trong bể nước ngoi lên. Bị vợ đặt vào “sự đã rồi”, ông không còn lựa chọn nào khác là phải thuận theo. Nếu kêu cảnh sát tới, vợ ông sẽ mang tội che giấu Việt cộng, mà thả đi cũng không cam lòng. Bà Kim Anh van lơn: “Em sắp sinh con, thôi thì mình làm phước cứu một mạng người. Để đức để phúc cho con sau này”.

Trước khi đi, viên cán bộ Việt cộng quỳ xuống, vái lạy hai vị ân nhân cứu mạng. Rồi ông ta đưa cho ông Sơn mảnh giấy, có ghi chép ký hiệu gì đó, dặn rằng nếu sau này có bề gì, tìm ông ta sẽ trả ơn. Đúng như lời đã hứa trước đó ba năm, viên cán bộ cộng sản trả ơn cho ông thật. Ông Sơn thoát cảnh tù đày, nhưng không thoát được cơn đau mất nước, không thoát được cảnh sống bị bủa vây với vô vàn tủi hờn, căm hận. Và chính đứa con còn trong bụng mẹ ngày nào, cái cớ để vợ ông lấy đó mà tha cho viên cán bộ nọ, 42 năm sau đã chết thảm trong tay nhà cầm quyền cộng sản. Trí chết sau khi vừa kết thúc 14 năm dài bị cầm tù. Cái “phúc” mà ông bà Sơn tạo dựng cho con, không lớn bằng cái “họa” của “bên thắng cuộc” giáng xuống gia đình họ.

Những gì tôi vừa kể là một phần câu chuyện diễn ra trong và sau ngày 30-4-1975 của gia đình chồng tôi, anh Huỳnh Anh Tú, do chính anh kể lại. Tất nhiên, ngày ấy anh Tú còn nhỏ nên có chuyện anh nhớ được, có chuyện phải hỏi lại ba anh. Chuyện nhà chồng tôi, không chỉ có thế. Nếu viết đủ, theo trình tự thời gian, nó sẽ là một cuốn sách dày, đẫm nước mắt.

Cuộc “giải phóng” của người cộng sản miền Bắc không chỉ khiến gia đình anh Tú lâm vào cảnh khốn cùng, nó còn khởi đầu cho những rạn nứt, ly tán và nhiều biến cố đau thương sau này. Số phận của gia đình chồng tôi, của ba má, của từng anh chị em bên chồng là những câu chuyện buồn trải dài trong suốt cuộc đời mỗi người. Đó là câu chuyện của một gia đình trong hàng vạn gia đình miền Nam khác đã bị một thứ “nhân mệnh” giáng xuống khi cơn thảng thốt của cái ngày 30-4 còn chưa kịp cất lời.

Ly tán trong cái gọi là nền “hòa bình” mới

Bi kịch của gia đình chồng tôi, của cả dân tộc này suốt 46 năm qua vẫn chưa chấm dứt. Gốc gác VNCH (người cộng sản gọi là “ngụy quân, ngụy quyền”) như một dấu gạch chéo trên gương mặt , ký hiệu để nhận biết về một hạng người phải bị loại trừ, phải bị vùi dập, phải bị khinh ghét dưới cái gọi là “chế độ XHCN”. Sau năm 1975, ba má chồng tôi phải bán dần bán mòn tài sản, của cải để lấy tiền nuôi các con. Đầu tiên bán nữ trang, rồi bán xe, sau đó bán nhà. Dần dà không còn thứ gì có thể bán ra tiền.

Sau gần 20 năm làm lụng cực nhọc, cố gắng đến kiệt lực vẫn không ngóc đầu lên nổi, gia đình chồng tôi lần lượt vượt biên sang Campuchia, rồi Thái Lan.

Duy nhất có một người chị ở lại Sài Gòn. Sau này, trong thời gian sống bên Thái Lan, chồng tôi cùng anh trai là Tuấn và em trai là Trí đều tham gia một tổ chức chống cộng. Năm 1999, trong lần nhận nhiệm vụ về nước, chồng tôi và Trí bị bắt, mỗi người bị kết án 14 năm tù. Trong thời gian ở tù, Trí bị nhiễm bệnh AIDS – hậu quả của những lần bị cùm chân có dính máu, thịt của người tù mang bệnh bị cùm trước. Ra tù được sáu tháng, Trí chết. Một cái chết đầy đau đớn, oan khuất và tức tưởi. Sau khi chồng tôi và Trí bị bắt, anh Tuấn mất tích.

Một số người hoạt động cùng anh nói rằng anh bị cộng sản giết. Vài năm sau khi anh Tuấn chết, vợ anh cũng qua đời để lại đứa con mồ côi cho cô Trang, em chồng tôi nuôi dưỡng. Má chồng tôi bị bệnh tiểu đường, do không đủ tiền thuốc thang nên bà qua đời tại Thái Lan năm 2010, khi anh Tú và Trí thụ án được 11 năm. Lúc còn sống, má chồng tôi bị cưa hai chân do bị hoại tử. Sau thời gian sống ở Thái Lan, ba chồng tôi lưu lạc sang Malaysia, thỉnh thoảng qua Thái Lan thăm má. Em chồng tôi lập gia đình, sinh được ba đứa con nhưng khi đứa út còn nhỏ, chồng cô ấy bạo bệnh rồi qua đời.

Sau khi lấy anh Tú, tôi những muốn đón ba chồng tôi về ở hẳn Việt Nam để thuận tiện cho việc phụng dưỡng. Ở trọ cũng được, khi nào có đủ tiền thì xây nhà. Ba tôi chấp thuận. Ông đặt vé về Sài Gòn vào ngày 9-2-2017, nhưng buổi chiều hôm trước, mồng 8-2, ông đột ngột qua đời tại Malaysia. Vuốt mắt cho ông cũng là một người lưu vong khác. Tháng 4-2016, khi chúng tôi chuẩn bị làm đám cưới, người em trai út của anh Tú đã hẹn sẽ về tham dự vì nhiều năm rồi cậu ấy chưa trở lại Việt Nam. Nhưng rồi lại là một giấc mơ không thành khác. Trước đám cưới chừng một tháng, chúng tôi nhận được tin Quốc bị tai biến. Suốt mấy năm nay, Quốc phải ngồi xe lăn, không thể đi làm kiếm tiền nuôi con. Mọi gánh nặng đổ dồn lên cô Trang, em gái chồng tôi.

Anh Tú kể, từ năm 1981 cho đến mãi về sau, gia đình anh chưa bao giờ có một ngày sum họp kể cả vào những sự kiện trọng đại nhất của đời người như cưới hỏi, tang chế. Cả ba và má đều chết trên xứ lạ quê người mà con cháu không thể đến tiễn đưa, vĩnh biệt. Anh Tú lấy tôi, lại cũng là một người tù, một kẻ “phản động” theo cách kết tội của nhà cầm quyền. Thỉnh thoảng tôi nói đùa “vợ chồng mình tiền án nhiều hơn tiền mặt”.

Và “nếu xét theo bên ngoại, bé Tôm là cộng sản con. Xét theo bên nội, nó mang gốc gác “ngụy quân ngụy quyền”. Tôm có ba mẹ, có chú đều là tù nhân chính trị dưới chế độ cộng sản. Tức là nhà tôi vừa có tù anh, tù em, tù vợ, tù chồng, vừa có tù em, tù chị, đủ cả. Nếu nhắc thêm sự kiện nhà tôi ở Vườn rau Lộc Hưng bị đập, thì bé Tôm cũng là một “dân oan nhí”. Vợ chồng tôi vừa là cựu tù chính trị, kiêm luôn danh hiệu bất đắc dĩ “dân oan”. Số phận cứ buộc chúng tôi vào cảnh ngộ éo le, bi đát.

***

Khi viết những dòng này, vào dịp tháng Tư năm 2021, chồng tôi vẫn là một người vô tổ quốc, vẫn phải sống lưu vong trên chính quê hương ruột thịt mình. Từ khi ra tù vào tháng 12-2013, anh Tú vẫn không có nổi một mảnh giấy tờ tùy thân. Gia đình tôi vẫn tiếp tục sống, cuộc sống của những phận người Việt với điệp trùng khốn khó, hiểm nguy vây bủa.

46 năm là một khoảng dài trong đời người, vậy mà nỗi đau cứ như vừa mới hôm qua. Làm sao quên được khi thế lực tà ác thay vì sám hối, lại reo rắc tư tưởng thù hận, vùi dập nạn nhân tới tận cùng của mọi nỗi đau. Nạn nhân nào có phải vài chục con người, đấy là triệu triệu con người. Biết bao giờ đất nước này mới thay da đổi thịt, người người mới biết ăn năn?

Cưu mang nỗi đau quá khứ không phải để thù hận, mà để nuôi dưỡng ước vọng tương lai. Tương lai cho gia đình bé nhỏ của tôi. Tương lai cho người Việt.

SAO CÁC ĐẠI GIA LẠI ĐI TU?

May be an image of 3 people

CAFE SÁNG: SAO CÁC ĐẠI GIA LẠI ĐI TU?

Ngày nghỉ, cafe sáng với vợ. Thị khen chồng pha cafe ngon. Tôi bảo, khỏi khen, vì sáng chủ nhật nào anh chẳng pha cafe cho em. Thị hỏi:

– Anh ơi, sao các đại gia lại đi tu? Đại gia Trung Nguyên Đặng Lê Nguyên Vũ, đại gia AVG Phạm Nhật Vũ, rồi lại đại gia Tôn Hoa Sen Lê Phước Vũ nữa…

Nghe toàn tên Vũ. Tôi nói:

– Mấy con gà ấy ăn chơi đến rụng hết lông thì thành anh trọc chứ có gì phải ngạc nhiên? Mà đâu chỉ đại gia. Các đại quan bốc hốt đã đời rồi cũng theo gót quy y để thành tín đồ của các đại gia đấy thôi.

Cafe làm cho vợ tỉnh táo hẳn ra. Nhưng thị vẫn thắc mắc:

– Đất nước mình 95 triệu dân thì đã có 90 triệu người mê tín. Lẽ ra mê tín thì người ta rất sợ thánh thần lẫn ma quỷ để mà lo hướng thiện. Nhưng mà sao ai ai cũng thi nhau làm việc ác, ác từ việc lớn đến việc nhỏ. Quan thì cấu kết với đại gia bốc hốt của dân, trí thức thì lưu manh cơ hội, còn dân thì bất tuân pháp luật, việc ác gì cũng làm được. Là sao?

Tôi ngậm cafe, chỉ còn nghe hương vị đắng chát:

– Là bởi triết lý của tôn giáo Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn. Không trực ngôn, nhưng cách làm của nhà chùa hiện nay là khuyến khích mọi người thi nhau làm việc ác. Cứ làm việc ác đi rồi mang tiền vào chùa cúng giải vong, giải nghiệp là xong. Cho nên nhà chùa hiện nay là kho lưu trữ tiền, vàng nhiều hơn cả ngân hàng nhà nước.

Lần đầu tiên tôi thấy trán vợ hằn lên những nếp nhăn, ra chiều suy tư lắm. Thị nốc cạn cả ly cafe và nói:

– Nhưng em thấy có giải vong, giải nghiệp được đâu? Kết quả là từ đại gia đến đại quan đều lần lượt vào lò mổ. Còn đám dân đen thì vẫn đau ốm, bệnh tật và nghèo hèn. Nhưng lạ là không thấy họ tỉnh ra?

Tôi cười:

– Thế mới gọi là mê tín. Không ngẫu nhiên mà chùa ngày nay toàn dung nạp những quan tham, những đại gia ăn bẩn, những bọn đầu trộm đuôi cướp. Bây giờ anh thấy ai siêng đi chùa đều nghi họ có âm mưu thủ đoạn gì đó. Tôn giáo thành nơi cứu rỗi của cái ác. Điều này chưa có nhà nghiên cứu tôn giáo nào nghĩ ra nhưng công trình thì khoe đủ loại như là hiểu tận gốc về tôn giáo vậy!

Chu Mộng Long

30/04: VNCH để lại nhiều di sản quý cho ngày nay và tương lai

 

 

30/04: VNCH để lại nhiều di sản quý cho ngày nay và tương lai

Dù không giữ được miền Nam thân yêu, nhưng chúng ta, những người miền Nam đã để lại di sản VNCH đáng kể cho cả đất nước và dân tộc hôm nay và tương lai.

***

30/04: VNCH để lại nhiều di sản quý cho ngày nay và tương lai

Vũ Thăng Long,

Trước tiên, di sản lớn nhất của VNCH đã để lại cho thế hệ sau 1975 phải nói đến là nền âm nhạc phong phú, đa dạng và chan chứa tình tự dân tộc và văn hóa dân gian.

Bất chấp chủ trương diệt tận gốc, triệt tgận ngọn của nhà cầm quyền VC sau tháng 4/1975, nét văn hóa bất diệt này vẫn tồn tại ở miền Nam và sau đó lan dần ra miền Bắc.

Ban đầu chỉ có một số nhỏ bài hát được phép trình diễn chính thức, nhưng danh sách này lớn dần và đến nay thì hình như không còn lệnh cấm giới hạn nữa. Phong trào nhạc Bolero, hay còn được gọi là “nhạc vàng” tràn ngập bây giờ là ví dụ hùng hồn nhất.

Nhưng trong giới hạn của bài này, chúng tôi chỉ muốn đề cập đến các di sản chính khác về giáo dục, kinh tế, chính trị hành chính và xã hội.

Tự hào tuổi trẻ và nền giáo dục Miền Nam

Đọc xong vài quyển sách gợi chuyện cũ, tưởng như đã được rũ sạch nỗi ấm ức cái “hội chứng Việt Nam” (Vietnam syndrome) từ lâu về một đất nước phú cường văn minh như Nam Hàn phải có trong giấc mơ cho xứ mình.

Thật sự từ trên 40 năm nay, sau khi du học ở tuổi 18 rồi ra trường, sống và đi làm nhiều nơi, tôi vẫn chưa tỉnh hay thoát ra khỏi “NÓ”. Tôi chưa giải tỏa được nỗi ấm ức của “giấc mơ xưa” ở tuổi thanh xuân. Tôi từng có những giấc mơ đội đá vá trời và lòng tự tin nhưng suốt đời vẫn chưa tìm thấy chốn “dung thân” để phục vụ lý tưởng tuổi trẻ.

Đã từng về làm việc ở Sài Gòn từ đầu thập niên 2000 cho đến 2014, tôi thấy hàng ngày sự phồn thịnh hơn của xã hội về vật chất so với những ngày tuổi trẻ miền Nam của tôi, nhưng tôi vẫn tò mò tìm hiểu nơi đám người tuổi trẻ hiện nay, xem họ có chia sẻ cái “phần hồn ngày xưa” của đám anh em chúng tôi đã lớn lên trong cùng thành phố này.

Chúng tôi lớn lên trong khung cảnh của một đất nước loạn ly, nhưng may mắn còn được hấp thụ một nền giáo dục, tuy mang tiếng “từ chương” lý thuyết nhưng vẫn có một giá trị tối thiểu nào đó được chứng minh sau này khi đàn chim non miền Nam chúng tôi tốt nghiệp trung học, bay ra khắp các chân trời thế giới đã ghi lại nhiều thành tích trong các trường đại học Âu Mỹ.

Chúng tôi còn may mắn lớn lên trong một nền lễ giáo cổ truyền Việt Nam còn sót lại, tôn trọng các giá trị gia đình cao đẹp từ ngàn xưa, những tin yêu vào tình đời tình người vẫn còn mạnh mẽ. Nhất là thời kỳ “vàng son” 1955-63 của nền Đệ nhất Cộng hòa trong thanh bình thịnh vượng của một VNCH dân chủ tương đối.

Đáng nói nhất là đám thiếu niên tuổi 15-16 thuở chúng tôi đã manh nha một lòng yêu nước mãnh liệt, muốn góp tay xây dựng một đất nước phú cường bằng sự chăm chỉ học hành trau dồi kiến thức, mơ tưởng đến một nền kinh tế hùng mạnh, một xã hội ấm no công bằng.

Chúng tôi chỉ có ý nghĩ đơn giản như đại đa số thanh thiếu niên trong các nước Á châu khác lúc ấy, là sẽ cố gắng học hành hay làm việc để xây dựng đất nước bằng một nền kinh tế vững chắc. Đó là lưu dấu kỷ niệm đậm đà nhất của tuổi thanh niên mới lớn ở miền Nam.

Sau này, khi có dịp về sống ở Sài Gòn rồi ngồi trầm ngâm hàng giờ bên ly cà phê ở quán Continental, tôi ngỡ ngàng xem từng đoàn xe máy phóng như đua chung quanh Nhà hát Thành phố -Trụ sở Hạ nghị viện VNCH trước 1975 – của những người trẻ tuổi bây giờ.

Họ la hét ầm ĩ, có vài cô mặc thiếu vải nhún nhảy tự nhiên trên băng sau của những chiếc xe máy Honda đắt tiền kiểu mới nhất, ăn mừng trận bóng tròn vừa thắng Thái Lan hay Malaysia. Họ hét to “Việt Nam vô địch” như thể hiện ý chí chiến thắng đó giống các nhóm khán giả đông đảo thường la to mỗi lần có mặt trên những sân vận động.

Nhóm đua xe đông quá và dường như tạo thành sức sống mãnh liệt cho cái thành phố quá tải của đất nước được mệnh danh là “non trẻ” này, khi các nhóm trẻ từ 20 đến 40 tuổi được ước tính chiếm 40% dân số, vẫn là một ẩn số lớn về xã hội và chính trị.

Những người trẻ bay lượn trong phố đêm trên những “mô tô bay” như biểu hiện của tự do, của văn minh còn được tìm thấy cho tuổi trẻ của mình trong đất nước đó. Tôi chợt hiểu tại sao họ thường “đi bão, xuống đường” tràn ngập với những rừng cờ đỏ, băng rôn hay tô son vẽ mặt đậm màu quốc kỳ để chào mừng một trận vừa thắng “kẻ địch”.

Bên trên những chiếc xe máy tốc độ giúp cái hừng khí ngắn ngủi chợt tìm thấy, lòng yêu nước được dịp tỏ rõ qua những sự kiện thể thao. Đam mê còn lại đó cùng những ly bia đầy giúp họ xóa đi cái vô cảm hàng ngày với những vấn đề lớn hơn của xã hội, và bớt đi cái mặc cảm thiếu trách nhiệm với một đất nước tụt hậu thua kém láng giềng. Họ có vẻ ít nghĩ xa như vậy.

Những người lớn tuổi xưa cũ của thành phố này thường tỏ lộ u hoài, nói với tôi là họ nhớ lại các thế hệ cùng tuổi như chúng tôi dạo 1960-1970. Ngay chính Chủ tịch Quốc hội đương nhiệm, Nguyễn Thị Kim Ngân, vốn gốc tỉnh Bến Tre thời VNCH, cũng phải tâm sự lên tiếng khen nền giáo dục cũ của miền Nam.

Những ý nghĩ vụn này đã tạo dịp cho tôi được sống lại những tự hào của một thời tuổi trẻ trong thành phố Sài Gòn, được hưởng nền giáo dục VNCH, với lý tưởng mộng mị cho một Việt Nam hùng mạnh tương lai.

Ra đi du học mong trau dồi kiến thức với tâm huyết hừng hực của một thanh niên tuổi 20, và sau này lúc ra đời làm việc ở nhiều nơi trên thế giới, vẫn mang trái tim phục vụ tuổi 30 dù mái tóc đã điểm sương. Và cùng với người Sài gòn bấy giờ, tôi vẫn thấy bừng lên sức sống với giấc mơ xưa: Biết đâu sẽ có một ngày?

********

Di sản Cộng Hòa cho Việt Nam nay là gì?

  1. VNCH và thành công kinh tế thị trường

Dù chưa được quen thuộc nhiều với các định chế kinh tế và tài chính quốc tế hay các nền kinh tế tư bản lớn, VNCH đã sớm biết theo các qui luật của nền kinh tế thị trường và nhất là nhấn mạnh vai trò khu vực tư nhân.

Điều này tương phản hoàn toàn với nền kinh tế VN bây giờ, sau 46 năm thống nhất, vẫn loay hoay với lý thuyết “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” mà không ai chứng minh được định hướng XHCN là như thế nào?

Các thay đổi lớn sau hơn ba thập niên Đổi Mới từ những năm 1986-1989 đã giúp VN có một bộ mặt tương đối phồn thịnh ở các thành thị, nhưng đi dần vào bế tắc nếu không có các cải cách thể chế song hành với cải cách kinh tế ở giai đoạn tới. So sánh thời kỳ 21 năm dưới VNCH với thời gian ít hơn một nửa so với 46 năm của nước VN thống nhất, hai di sản kinh tế nổi bật của VNCH là:

  1. Cách mạng Xanh

Đặc biệt là chính sách “Cải Cách Điền Địa” dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa được tiếp nối bởi “Người Cày Có Ruộng” dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, nhằm lấy lại các mảnh ruộng bao la nằm tập trung trong tay một số nhỏ đại điền chủ từ thời Pháp thuộc, phát đất rộng rãi cho các tầng lớp nông dân và khuyến khích tự do trồng trọt, nhất là lúa gạo, để miền Nam tự cường.

Ngoài ra, và quan trọng nhất, là những năm về sau Chính phủ VNCH đã cho áp dụng một chính sách qui mô cho gieo hạt lúa mới “Thần Nông” trên toàn vùng đồng bằng Cửu Long, làm tăng gia đột biến năng suất trồng lúa và mức sản xuất gạo của đất nước, đưa đến cả khả năng xuất cảng gạo bắt đầu vào năm 1974. Đây là thành tích kinh tế đáng kể của VNCH khi cuộc chiến tương tàn cũng đi vào giai đoạn ác liệt nhất.

Nước VN thống nhất sau tháng 4/1975 mới chỉ nhận ra tầm quan trọng của chính sách sản xuất lúa gạo tự do với Đổi Mới từ năm 1986 khi đến bờ vực của nạn đói, lúc không sản xuất đủ gạo ăn và dân chúng bắt đầu phải trộn cơm với bo bo từ những năm 1977-1980.

Từ khi đám lãnh đạo Bắc bộ phủ ở Hà Nội thay đổi chính sách bằng “ngòi bút” từ nghị quyết năm 1986 cho phép dùng giá cả và sản xuất tự do, di chuyển gạo từ vùng thừa sang vùng thiếu, đã làm lại cuộc “cách mạng xanh” nói trên của VNCH, khởi đầu toàn chiến lược đổi mới nông nghiệp và tiếp đó “lột xác” toàn nền kinh tế trong ba thập niên theo sau.

Điều đáng lưu ý là cuộc cách mạng này đã được thừa hưởng từ di sản có sẵn của chính sách tự do trồng trọt ở đồng bằng Cửu Long, diện tích trồng trọt đã được nhân rộng ở miền Nam, và nhất là kiến thức nông gia trong việc canh tác lúa “Thần Nông” đã có sẵn. Đáng kể hơn là việc có thể đem kỹ thuật và giống lúa này ra đồng bằng sông Hồng ngoài Bắc, khiến mức sản xuất lúa gạo của toàn cõi tăng kỷ lục, và không ngạc nhiên khi chỉ chục năm sau VN đang từ thiếu gạo ăn trong nước, trở thành xứ xuất cảng gạo hạng ba thế giới sau Thái Lan và Ấn Độ.

Khai thác dầu khí

VNCH đã tìm ra vài “túi dầu” đầu tiên vào các năm 1973-74 ở thềm duyên hải Vũng Tàu, chỉ tiếc là chưa kịp thì giờ và vốn đầu tư khai thác để tìm ra dung lượng lớn đáng kể đủ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, tình trạng thiếu an ninh do cuộc chiến tiếp diễn hàng ngày đã là yếu tố quyết định khiến các nhà đầu tư ngần ngại.

Nhiều quan sát viên quốc tế và nhà bình luận chính trị sau này đã tiếc cho VNCH là chưa đủ thời gian để khai thác các mỏ dầu và khí ngoài khơi khổng lồ, nhất là đủ để hấp dẫn các hãng dầu Hoa Kỳ.

Nếu có, và nếu các hãng này ký kết khai thác với chính phủ miền Nam dạo đó, chưa chắc gì có cảnh Henry Kissinger ký kết bán đứng VNCH vào năm 1972, sửa soạn cho hiệp định ngừng bắn Paris 1973 và ngày nhân dân miền Nam phải bỏ cuộc tháng 4/75.

Sau 1975, nước VN thống nhất thừa hưởng trọn vẹn và dầu khí từ miền Nam trở thành tài nguyên chủ lực của nền kinh tế VN lúc bấy giờ. Ngoài việc đem lại số xuất cảng đáng kể hàng năm và nguồn lực phát triển. Đáng tiếc là một phần lớn tài nguyên đó cũng bị mất mát do tham nhũng và đầu tư phung phí như các tài liệu điều tra mới đây về đầu tư ở Venezuela chỉ ra.

Không cần nhìn đâu xa phức tạp hơn, phải chăng một phần di sản của VNCH là đây?

*********

  1. Nền dân chủ của VNCH

Nền dân chủ phôi thai của Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963) trong khung cảnh mới dành lại độc lập và nền dân chủ được củng cố thêm của Đệ Nhị Cộng Hoà (1967-1975) tuy khiêm nhượng và tương đối, do bị đe dọa hàng ngày bởi cuộc chiến, vẫn cho phép nhân dân miền Nam sống hạnh phúc trong khuôn khổ nhân quyền được tôn trọng theo hiến chương Liên Hiệp Quốc và các quyền tự do căn bản nhất như bầu cử, ngôn luận, hội họp, biểu tình v.v…vẫn được thực thi.

Chủ trương pháp trị, hay thượng tôn pháp luật (rule of law) của cả hai nền Cộng hòa với bầu cử Quốc hội và Tổng Thống tương đối tự do; nền hành chánh trung ương và địa phương được điều khiển bởi các chuyên viên kỹ trị được đào tạo bài bản trong các trường chuyên môn (thí dụ nổi bật là trường Quốc gia Hành chánh của miền Nam). Ở mỗi tỉnh, người tỉnh trưởng là nhân vật chính trị hay quân sự do Chính phủ trung ương bổ nhiệm, nhưng Phó Tỉnh trường thường là những chuyên viên kỹ trị xuất thân từ các trường đào tạo chuyên môn.

Trái lại, Việt Nam thống nhất bây giờ mới chỉ cổ võ cho bầu cử tự do nhưng chưa bao giờ được thực hiện trong thực tế qua các cuộc ứng cử và bầu cử các Hội đồng Nhân dân và Đại biểu Cuốc hội.

Tương tự, Việt Nam bây giờ mới bắt đầu học hỏi kinh nghiệm về cải cách hành chánh như dưới thời VNCH và cử chuyên viên kỹ trị ở cấp trung ương và địa phương.

Cuốc hội Việt Nam bây giờ mới sửa soạn các dự thảo luật đề nghị bổ sung thẩm quyền của Thủ tướng trong việc áp dụng những mô hình mới về tổ chức bộ máy từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc chính phủ trung ương, và chính quyền địa phương cấp Tỉnh và cấp Huyện.

Theo đó, Thủ tướng cũng có thêm quyền thành lập, sát nhập, hay giải thể các cơ quan, tổ chức hành chính khác thuộc cấp Tỉnh và cấp Huyện.

*******

  1. Các tổ chức Xã hội Dân sự

Các tổ chức này dưới thời VNCH được tự do thành lập và hoạt động với qui chế tự trị về cả hành chính và tài chính. Ví dụ như Tổng liên đoàn Lao công hay các Tổ chức chính trị, xã hội và Hiệp hội.

Còn hiện nay, Nhà nước tìm mọi cách để trì hoãn không trình ra Quốc hội hai Dự luật Lập Hội và Biểu tình, mặc dù hai quyền này của dân đã quy định trong Hiến pháp 2013.

Người dân cũng không được quyền ra báo, như đã quy định trong “quyền tự do ngôn luận” ở Điều 25 Hiến pháp 2013 viết:

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”

Như nói ở trên, những dòng viết ngắn của tôi nhân dịp 46 năm từ biến động lịch sử 30/04/75 không phải là để thêm nước mắt cho một đau buồn còn ghi đậm dấu trong tâm hồn tôi, một con dân Việt Nam Cộng hòa cũ.

Với thời gian hơn 50 năm từ tuổi thiếu niên rời trường, ra nước ngoài du học, rồi bôn ba theo vận nước nổi trôi làm việc bên ngoài, tôi lại tìm cách “chim quay về tổ” trong 12 năm để lò mò xem xứ mình nó ra sao. Nhưng cuối cùng, sau những trải nghiệm với thực tế và con người “mới XHCN”, tôi lại phải ra đi tìm về một nơi qui ẩn để nghĩ lại đời mình và quê hương cũ một cách bình tĩnh hơn.

Tôi tự cho mình trên nguyên tắc là người thuộc “Bên Thua Cuộc” với hai cơ hội bỏ lỡ từ thời 1963 của Đệ nhất Cộng hòa và 1975 của thời Đệ nhị Cộng hòa. Nhưng không phải hoàn toàn do lỗi chúng ta, mà quan trọng hơn là do sự thao túng & phản bội của nước bạn “đồng minh” Hoa Kỳ không giữ lời cam kết ngăn chặn cuộc tấn công miền Nam của lực lượng cộng sản.

Lời hứa bằng giấy trắng mực đen của Tổng thống đảng Cộng hòa Richard Nixon lúc bấy giờ đã hứa bằng văn thư với Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, sau khi ông Thiệu bằng lòng ký Hiệp định Paris 1973. Do đó mà chúng ta đành chấp nhận kiếp tha hương hiện tại do số mệnh đi từ vận nước kéo dài suốt từ hơn 70 năm nay.

Dù không giữ được miền Nam thân yêu, nhưng chúng ta, những người miền Nam đã để lại di sản VNCH đáng kể cho cả đất nước và dân tộc hôm nay và tương lai.

Các kênh truyền thông và các cuộc tiếp xúc của tôi với người trong nước đều cho thấy đại đa số đồng bào ta đều hướng về di sản đó với lòng thán phục và thiện cảm, cũng như lòng ngưỡng mộ của họ với các nền dân chủ tiến bộ phương Tây.

Một cách công bằng, chúng ta cũng phải nhìn nhận về “legacy” của “Bên Thắng Cuộc” (như tựa đề cuốn sách của Huy Đức), nói đúng ra là huyền thoại “chiến thắng” của họ năm 1975 nhờ vào sự mệt mỏi bỏ cuộc của Mỹ do áp lực chính trị ngay từ trong lòng Washington, D.C. và tham vọng chính trị cá nhân của Henry Kissinger muốn bỏ rơi VNCH như “món quà chuộc” lấy lòng Trung hoa, mở ra chiến thắng chính trị và thương mại cho nước Mỹ với thị trường rộng lớn 1,3 tỷ dân Trung Hoa.

Phần khác, họ đạt được chiến thắng quân sự sau cùng nhờ sự yểm trợ tích cực bền bỉ của Liên Xô và Trung Quốc. Họ đã nắm được quyền hành chính trị, xét cho cùng thì cũng là một “legacy” thôi và nếu họ biết “góp vốn” bằng cái đó vào việc xây dựng một Việt Nam tương lai dân chủ và văn minh trong tình hòa giải dân tộc cả trong và ngoài nước, thì sẽ là công lao lớn cho dân tộc và đất nước.

Đã trải qua thời VNCH, cuộc sống ở hải ngoại và có dịp về Việt Nam ngày nay thường xuyên, tôi tin vào lẽ tuần hoàn của Trời Đất sẽ phải áp dụng cho quê hương cũ: “Cùng tắc biến, biến tắc thông…”

Nhiều người lãnh đạo cũ của VNCH ở tuổi 35-50 lúc ra đi năm 1975 đa số đã nằm xuống. Nhóm lãnh đạo 60-80 tuổi của VN bây giờ cũng phải ra đi vì quy luật thời gian trong 5-10 năm nữa.

Các tang lễ liên tiếp của thế hệ lãnh đạo cộng sản ‘kháng chiến’ gần đây và sắp tới cho thấy họ đang trở thành quá khứ, và không phải một mà hai ba thế hệ khác trẻ hơn đang trưởng thành, chỉ chưa có quyền được làm chủ quốc gia.

Đất nước không thể “tắc” mãi như thế này, và sắp đến lúc phải có chữ “THÔNG” mà thôi. Nhất là các thế hệ trẻ 25-55, lớp người quyết định vận mệnh của đất nước Việt Nam trong 5-10 năm nữa, sẽ nối tiếp bó đuốc lãnh đạo và, cùng với thế hệ trẻ gốc Việt lớn lên ở hải ngoại quay về, họ sẽ có thể hướng đất nước về một hướng tốt đẹp hơn nhiều.

Và tôi tin rằng họ sẽ để lại tên tuổi trong lịch sử một Việt Nam dân chủ, phồn thịnh, hùng cường trong vùng Đông Nam Á, Á châu và cả thế giơi….

HÌNH:

– Người Sài Gòn – ảnh chụp năm 1962 của Michael Ochs .

– Giới trẻ VN đang hướng về tương lai .

– Nồng nhiệt đón người Mỹ trở lại Sài Gòn: Vợ của diễn viên Hollywood, bà Pamela Hasselhoff bắt tay các cô gái Việt Nam trong lễ đón chiếc phi cơ của United Airlines, Boeing 747-400 trong chuyến bay thương mại đầu tiên của một hãng hàng không Hoa Kỳ trở lại Tân Sơn Nhất tháng 12/2004.

– Một ngôi chùa của người Hoa trong Chợ Lớn.

– Sinh viên biểu tình chống chính phủ Nguyễn Khánh, tháng 8/1964 ở Sài Gòn.

 HẦU HẾT GIỚI GIÀU CÓ TẠI VIỆT NAM ĐỀU LÀ TRỌC PHÚ.

 HẦU HẾT GIỚI GIÀU CÓ TẠI VIỆT NAM ĐỀU LÀ TRỌC PHÚ.

Vụ việc Nguyễn Thị Thanh Tuyền ( Nguyễn Phương Hằng) đăng đàn vạch trần lang băm Võ Hoàng Yên, sau đó tiện tay chửi luôn Trang Khàn và “đám” nghệ sĩ trong nước cũng mua vui cho dân mạng hóng chuyện thị phi được một vài trống canh. Nhưng qua những vụ kiện cáo của Huỳnh Uy Dũng với chính quyền Bình Dương trước đây và cũng như vụ phơi bày tình tiền, lừa đảo này ta nhận thấy hầu hết tầng lớp giàu có tại Việt Nam đều đi lên bằng thủ đoạn chứ không phải bằng học vấn để làm giàu chân chính.

Phạm Nhật Vượng thì dính đến chuyện làm ăn mờ ám tại Ukraine, Đoàn Nguyên Đức là chuyên gia phá rừng, Bầu Kiên là trùm lừa đảo ngành ngân hàng, băng nhóm Trần Bắc Hà , Trầm Bê và tay chân của Nguyễn Tấn Dũng đều là những dạng hung thần tác quái dưới quyền uy của Bố già.

Huỳnh Uy Dũng cũng chẳng hơn gì,đi lên nhờ tiếp quản công ty sơn mài Thành Lễ, một doanh nghiệp của nền tư sản dân chủ miền Nam để lại,sau đó chuyển sang làm lò vôi và có tàu biển buôn lậu Dũng cũng tích được một số vốn kha khá. Và tiếp tục là mua đất giá rẻ trong những dự án Khu công nghiệp Sóng Thần 1 và Khu công nghiệp Sóng Thần 3 rồi chuyển nhượng lại với giá cao đã khiến tiền chảy vào túi Dũng như nước Sông Đà. Tiếp đó là trò kinh doanh “buôn thần bán thánh” khi dồn tiền và được đất của nhà nước cho rẻ như bèo nên mở Khu Du lịch Lạc Cảnh Đại Nam để kinh doanh lĩnh vực Du lịch tâm linh Huỳnh Uy Dũng trở thành một trong những đại gia giàu nhất Việt Nam.

Sự đời “giàu đổi vợ ,sang đổi bạn” nên Huỳnh Uy Dũng chia tay vợ đầu tìm kiếm gái trẻ ,đẹp hơn là chuyện thường. Nguyễn Thị Thanh Tuyền cũng chia tay chồng cũ để rồi chồng cũ Thanh Tuyền tố đại da Huỳnh Uy Dũng trên mặt báo cũng ì xèo một thời.

Vậy nên hiện tại khi đối đáp với Trang Khàn, Nguyễn Phương Hằng khoe cà rá mấy chục cara, trên người mang nữ trang hàng chục triệu để chứng tỏ bản lĩnh kinh doanh của mình chỉ là nói dóc. Đó chẳng qua chỉ là những thương vụ đổi chác “tình tiền” mà thôi.

Nếu cơ chế đất đai của chế độ CSVN giống như ở Mỹ thì Huỳnh Uy Dũng không thể giàu lên nhanh chóng như thế và Nguyễn Phương Hằng không cần chia tay chồng cũ để cặp đại gia và được cử vào chức phó giám đốc Khu Lạc Cảnh Đại Nam để hốt bạc. Trong một nền kinh tế dưới các chế độ độc tài thì mánh khóe làm giàu chỉ là cậy nhờ quen biết với giới quyền lực để thi hành các dự án mờ ám mà không có thứ luật pháp nào có thể can thiệp ngoài luật rừng.

Và chuyện um sùm với Võ Hoàng Yên cũng là chuyện tình tiền mờ ám qua những đoạn ghi âm.Thời buổi này mà đưa chuyện bùa ngãi ra để biện minh là phản khoa học. Dũng Hằng là những tay mafia cùng với chính quyền lừa dân chiếm đất xây dựng cơ đồ. Sau đó cả hai thấy tiền bá tánh đổ về như nước nên quyết định dùng một phần làm từ thiện để ngăn ngừa tình trạng dân đói đi làm cách mạng và cũng để “tích đức” cho con trai. Đại bịp Võ Hoàng Yên thấy ngon ăn nhảy vào lợi dụng đòn “nắn bóp” và khả năng tình dục để chuyển tiền “từ thiện” của Dũng Hằng cho người tình là Tuyền mang sang Úc gởi.

Nói chung đó cũng chỉ là tiền của dân Việt. Các chú cừu bị vặt lông mà không đứng dậy nên các chủ chăn thỏa sức sắm hột xoàn đem lên mạng khoe mẽ và chứng tỏ bản lĩnh chăn cừu của mình. Cừu thấy tài sản, biệt thự,siêu xe, nữ trang của chủ chăn thì đem lòng ngưỡng mộ mong một ngày cũng có thể giàu có như thế.

Nhưng vụ việc cũng phơi bày văn hóa của bầy trọc phú khi ngôn ngữ “dân gian” như “đéo, con đĩ…” được tuôn xối xả từ mồm của những mệnh phụ đeo đầy kim cương.Một số tay youtube ở ngoài nước đánh hơi cơ hội tăng view,tăng like cũng nhảy vào “giây máu ăn phần”.

Nói chung cũng chỉ là màn khoe mẽ. Trong xã hội có luật pháp thì chỉ cần gởi đơn kiện ra tòa và cung cấp bằng chứng là mọi chuyện trắng đen sẽ được phân giải. Một là hòa giải ngoài tòa, hai là phán quyết của bồi thẩm đoàn.

Chỉ ở Việt Nam mới có chuyện tòa án bằng mồm mở trên mạng và 2 bên ra sức cung cấp bằng chứng, sau đó khán giả nhào vào ăn ké để rồi bị nạn nhân chửi luôn.Chính quyền thì cũng ra những cái án phạt 7,5 triệu nhẹ hều cho có bộ, để rồi lợi dụng trò mèo để dân tình quên đi những án oan bất công và khuyến khích tham vọng làm giàu bất chính của dân đen để rồi quên mất là phải đứng lên để dẹp bọn trọc phú này nhằm tạo ra một tầng lớp tư sản trí thức thực thụ.

46 năm sau, ‘ta’ vẫn chưa thể tử tế bằng… ‘ngụy’!

May be an image of 6 people, including Hangnga Lê and people standing

46 năm sau, ‘ta’ vẫn chưa thể tử tế bằng… ‘ngụy’!

Trân Văn

Bà Thiều Thị Tân, một trong những cựu tù nhân nổi tiếng thời Việt Nam Cộng hòa (VNCH) và là một trong những tấm gương của… chủ nghĩa anh hùng cách mạng (1) thành ra chẳng xa lạ gì với dân chúng Việt Nam, vừa liên lạc với ông Mạc Văn Trang (từng làm việc tại Viện Khoa học Giáo dục thuộc Bộ GDĐT Việt Nam khoảng 30 năm) đề nghị ông ghi lại và giới thiệu về giai đoạn bà bị giam ở Bệnh viện Tâm trí mà thiên hạ quen gọi là Nhà thương điên Biên Hòa năm 1972…

Bà Tân và chị gái (Thiều Thị Tạo) nổi tiếng cả ở trong lẫn ngoài Việt Nam từ thuở còn là thiếu nữ. Gia đình tuy nghèo nhưng học giỏi nên hai chị em bà học trường Tây từ bé đến lớn. Cả hai tự tìm – theo Việt Cộng, trở thành thành viên Biệt động Sài Gòn. Lúc đó, bà Tạo mới 16 tuổi đã được cử làm Đội trưởng Đội Binh vận, bà Tân chỉ 13 tuổi đã được cử làm Đội phó (2). Hai năm sau (1968), họ bị bắt vì mang chất nổ vào phá hoại Tổng nha Cảnh sát Quốc gia (giống như trụ sở Bộ Công an hiện nay)…

Cả hai bị Tòa án Quân sự Mặt trận của VNCH kết án và bị đưa ra giam giữ tại Trung tâm Cải huấn Côn Sơn (Côn Đảo). Việc giam giữ hai thiếu nữ đã khiến chính quyền VNCH bị báo chí cả trong lẫn ngoài chỉ trích trích kịch liệt… Chính quyền VNCH thừa nhận sự khắc nghiệt của môi trường lao tù khiến bà Tân, bà Tạo suy kiệt cả về thể xác lẫn tinh thần nên năm 1972, chuyển họ từ Trung tâm Cải huấn Côn Sơn về Trung tâm Cải huấn Tân Hiệp (Biên Hòa – nay là Đồng Nai)…

Chuyện chưa ngừng ở đó, áp lực từ dư luận khiến chính quyền VNCH phải mở cửa nhà tù cho các phái đoàn quốc tế đến kiểm tra các trung tâm cải huấn. Khuyến cáo của nhiều giới ở trong nước, của các chính phủ, tổ chức quốc tế khiến Bộ ngoại giao VNCH yêu cầu Bộ Nội vụ VNCH phải xem xét lại một số trường hợp, trong đó có trường hợp của bà Tân. Nha Cải huấn thuộc Bộ Nội vụ VNCH phải chuyển bà Tân đến Bệnh viện Tâm trí Biên Hòa…

Bà Tân đã cho ông Trang xem toàn bộ hồ sơ liên quan đến việc chuyển bà vào Bệnh viên Tâm trí Biên Hòa và đưa bà ra khỏi đó. Có rất nhiều công văn, công điện trao qua, đổi lại giữa Bệnh viện Tâm trí – Trung tâm Cải huấn Biên Hòa – Chỉ huy trưởng CSQG tỉnh Biên Hòa – Nha Cải huấn,… Những công văn, công điện ấy cho thấy, nhân viên y tế các cấp của Bệnh viện Tâm trí Biên Hòa không run sợ, không mệt mỏi trong việc sử dụng tư cách thầy thuốc để bảo vệ bà Tân – bệnh nhân của họ.

Theo ông Trang, sở dĩ bà Tân liên lạc với ông, mời ông đến để kể chuyện cho ông nghe, trao hồ sơ cho ông đọc để ông viết Chuyện người tù Việt Cộng trong Bệnh viện Tâm thần VNCH (3) vì bà đọc được Thư gửi các thầy thuốc có lương tri mà ông công bố hồi cuối tháng rồi. Từ những thông tin liên quan đến cách thức đối xử với một số tù nhân chính trị của “ta” như: Lê Anh Hùng, Phạm Thành, Trịnh Bá Phương,… bị cưỡng bức điều trị tâm thần, ông Trang hy vọng các thầy thuốc nhớ và thượng tôn y đức (4).

Đó không phải là hy vọng của riêng ông Trang. Bà Tân cũng vậy. Bà hy vọng như vậy nên mới liên lạc với ông Trang, kể chuyện cho ông nghe, đưa hồ sơ cho ông đọc để ông có thể dùng trường hợp của chính bà như một ví dụ trong nỗ lực thúc giục các bác sĩ, các nhân viên y tế ráng nhớ, ráng ý thức dù ở dưới bất kỳ chế độ nào thì họ hãy cố giữ đúng lời thề Hippocrate, cứu chữa bệnh nhân đúng với lương tri của người thầy thuốc… Ông Trang chỉ kể chuyện, không bình luận dù có biết bao điều lớn lao đáng suy ngẫm…

***

Cả hệ thống chính trị, hệ thống công quyền của “ta” đang hối hả chuẩn bị để cuối tuần này long trọng kỷ niệm 46 năm ngày “đánh cho Mỹ cút, ‘ngụy’ nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước”.

Sắp tròn nửa thế kỷ… toàn thắng nên dư dữ kiện thực tế để chính “ta” có thể so sánh – nhận định những khác biệt giữa “ta” với “ngụy”.

“Ngụy” tự điều chỉnh để hoạt động của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền được xem là văn minh như phần còn lại của nhân loại, không phớt lờ chỉ trích, khuyến cáo của dân chúng, các chính phủ, các tổ chức quốc tế, mở cửa – mời khảo sát hệ thống trại giam, thay đổi biện pháp tư pháp, không lên án những chỉ trích, khuyến cáo là… thù địch – xuyên tạc sự thật (5), hay gián tiếp chê bai những chỉ trích khuyến cáo là… ngu ngốc vì… dựa trên những thông tin không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam (6)…

“Ngụy” đã để tất cả các giới, kể cả trẻ con xem, nghe, tiếp nhận mọi thứ bất lợi cho mình, có lợi cho đối phương nên bà Tân, bà Tạo sớm… giác ngộ cách mạng khi còn là thiếu niên.

“Ngụy” cho những dân biểu (như bà Kiều Mộng Thu – giống Đại biểu Quốc hội của “ta”), những luật sư (như Luật sư Tòa Thượng thẩm Nguyễn Long) sự tự tin vào quyền hạn, chức trách, hiệu quả công việc để đòi hệ thống công quyền phải cung cấp thông tin, thay đổi cách hành xử với cả những cá nhân nguy hiểm cho an ninh quốc gia.

Sự tự tin vào quyền hạn, chức trách nghề nghiệp, vị thế mà “ngụy” tạo ra nơi công dân của VNCH cũng là lý do các nhân viên y tế từ trên xuống dưới ở Bệnh viện Tâm trí đồng loạt kháng cự hệ thống cải huấn để bảo vệ bà Tân một cách nhiệt thành. Luật pháp và cách quản trị, điều hành quốc gia của “ngụy” khiến Bộ Nội vụ, CSQG phải xem xét – phúc đáp cẩn thận mọi yêu cầu, tiết lộ cả những thông tin mật để thỏa mãn đòi hỏi của thường dân do họ có quyền của giới khoác blouse trắng.

Bệnh viện Tâm trí hay Dưỡng trí viện của “ngụy” khác rất xa với bệnh viện tâm thần của “ta”.

Thời “ngụy”, nhiều đồng chí của “ta” như bà Huỳnh Thị Ngọc – người mà năm 1972 ném lựu đạn vào đêm lửa trại của thanh niên (Hướng đạo, Gia đình Phật tử, Hội Hồng thập tự), học sinh trung học Quy Nhơn tại sân vận động Quy Nhơn khiến một nữ giáo sư, 10 học sinh mất mạng, hơn 100 học sinh khác bị thương (7) – giả điên để hệ thống tư pháp VNCH phải gửi vào Bệnh viện Tâm trí điều trị rồi trốn thoát (8)…

Thời “ngụy”, Bệnh viện Tâm trí hay Dưỡng trí viện là nơi mà dân chúng, các tổ chức chính trị cả trong lẫn ngoài VNCH, các chính phủ, đòi “ngụy” phải an trí nhiều phạm nhân nguy hiểm cho an ninh quốc gia tại đó vì lý do nhân đạo.

Thời “ta”, dân chúng, các tổ chức chính trị cả trong lẫn ngoài VNCH, các chính phủ không ngừng bày tỏ sự lo ngại, lên án “ta” vô nhân đạo, vi phạm nhân quyền khi biến bệnh viện tâm thần thành nơi đày ải, vô hiệu hóa những cá nhân bất đồng chính kiến.

Bà Ngọc – người theo lệnh của “ta”, vì muốn giết một tỉnh trưởng của “ngụy” mà liệng lựu đạn vào nơi có cả ngàn giáo sư, học sinh, rồi giả điên để né tránh trách nhiệm không chỉ được “ta” khen là… mưu trí dũng cảm mà còn được “ta” phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang. Hồ sơ liên quan đến bệnh án của bà Ngọc vẫn đang trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ (Quận 3, TP.HCM)! Có thể đến đó để tận mục sở thị và kiểm chứng về sự khác biệt giữa “ta” và “ngụy”.

Về ngữ nghĩa, “ngụy” là giả trá, xảo quyệt nhưng nếu không tử tế hoặc ít nhất là nỗ lực hướng đến sự tử tế thì “ngụy” không thể như đã thấy và trước những gì đang diễn ra trên thực tế dưới sự quản trị – điều hành của “ta”, bà Tân chẳng còn cách nào khác, đành phải dùng chính trường hợp của bà để khuyên đội ngũ nhân viên y tế của “ta”đối xử với những cá nhân bị “ta” cáo buộc là… chống phá đúng với lương tri thầy thuốc. Bao nhiêu người tin đội ngũ nhân viên y tế dám hành xử tử tế như lời khuyên của bà Tân?

Thậm chí bao nhiêu người dám đoan chắc một người như bà Tân có thể bình an vô sự sau khi vì muốn thấy sự tử tế mà mở miệng khuyên can. “Ta” có nên giữ mãi sự hãnh diện vì luôn luôn đi ngược hướng với “ngụy”, kể cả tử tế với những khác biệt, kễ cả đối lập, đối kháng như… “ngụy”. Thêm bao nhiêu năm nữa ta mới tử tế như… “ngụy”?

***

– Những người đang bị giam giữ tại Việt Nam; kể cả bị đưa vào bệnh viện tâm thần. Từ phải sang: Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Lê Anh Hùng, Phạm Đoan Trang, Hồ Sỹ Quyết. Photo Tập hợp từ Facebook.