CHÍNH THIÊN CHÚA ĐÃ NÂNG ĐỠ TÔI TRONG CHỐN LAO TÙ- Tu Huynh Anh

Tu Huynh Anh is with Chim Toc Trang

 (Tính không đăng nhưng một số người sau khi nghe lại muốn đọc thêm nên tôi post ở đây.  Bài phát biểu tại Thượng viện Hoa Kỳ hôm 1 Tháng Năm, 2025. Nhan đề tôi vừa đặt).

CHÍNH THIÊN CHÚA ĐÃ NÂNG ĐỠ TÔI TRONG CHỐN LAO TÙ

Kính thưa quý vị!

Trước tiên, tôi xin cảm ơn quý vị đã cho tôi cơ hội hiện diện tại đây hôm nay.

Thật khó để truyền tải chặng đường 14 năm tù đày chỉ trong vài phút ngắn ngủi. Tôi ra tù đã gần 12 năm, có những điều đã phai mờ, nhưng cũng có những ký ức sẽ theo tôi suốt đời.

Tôi và người em trai, Huỳnh Anh Trí, bị bắt vào đêm 29/12/1999. Sau đó, họ đưa anh em tôi đến hai địa điểm khác nhau để tra khảo. Hơn mười viên an ninh thay nhau hỏi cung tôi suốt 72 giờ không ngừng nghỉ. Suốt ba ngày ba đêm, tôi không được ăn, không được ngủ. Nhiều lúc không thể chịu đựng nổi, tôi gục xuống bàn. Mỗi lần như thế, họ lại nắm tóc dựng tôi dậy và hắt nước vào mặt tôi.

Một trong số họ đã đánh tôi, trong khi những viên an ninh khác thì chửi bới, đe dọa: nếu không nhận tội, tôi sẽ đối mặt với bản án 20 năm tù, hoặc chung thân, thậm chí tử hình.

Sang ngày thứ tư, họ đưa tôi vào buồng biệt giam rộng chừng 6 mét vuông, không cửa sổ, ăn uống và tiêu tiểu tại chỗ. Sau 72 giờ bị tra khảo liên tục, tôi tưởng rằng mình sẽ được nghỉ ngơi. Nhưng vừa thiếp đi, lập tức trong đầu tôi vang lên thứ âm thanh rất đáng sợ, lúc thì như là tiếng tru tréo kinh hoàng, khi thì giọng cười ma quái. Tôi cố bịt tai lại, nhưng âm thanh ấy càng lúc càng rợn người. Hơn mươi sáu năm đã trôi qua, đôi khi âm thanh đó vẫn bất ngờ quay lại, khiến tôi hoảng loạn.

Tôi bị biệt giam khoảng một năm rưỡi trước khi ra tòa. Tám tháng đầu, tôi liên tục bị gọi đi cung lúc 1–2 giờ sáng. Gần sáng họ đưa tôi trở lại buồng, và chỉ vài tiếng sau lại có nhóm khác đến tiếp tục lôi tôi đi thẩm vấn. Chúng tôi gọi hình thức này là “xa luân chiến” – một người phải đấu trí với cả chục an ninh.

Tôi từng bị chuyển qua 5 nhà tù khác nhau, chưa kể các lần chuyển buồng, chuyển trại.

Ký ức ám ảnh nhất đối với tôi là ĐÓI, RẤT ĐÓI.

Không ai có thể sống nổi ngần ấy năm tù nếu chỉ dựa vào khẩu phần ăn của nhà tù cung cấp.

Chúng tôi sống được là nhờ sự đùm bọc của các tu sĩ Công giáo – những người bị bắt sau năm 1975 chỉ vì là linh mục. Đói và thèm ăn đến mức, có hôm tỉnh dậy, tôi thấy miệng mình dính thứ gì như chất bột màu trắng. Tôi chợt nhớ, đêm trước mình đã mơ được ăn no, và trong mơ tôi đã nhai thật – điều ấy giải thích vì sao quanh miệng tôi dính chất màu trắng vào sáng hôm sau.

Kính thưa quý vị!

Tôi và em trai bị kết án 14 năm tù. Cùng vụ còn 38 người khác, bị kết án từ 2 đến 20 năm. Gần 10 người đã chết vì đói, vì lao động khổ sai, vì bệnh tật không được chữa trị. Chưa kể những người chết trong các vụ án khác, như ông Nguyễn Minh Tân – hàng ngày vẫn lao động cuốc đất, nuôi cá, gặt lúa… nhưng chết vì đói.

Tù chính trị và cả tù hình sự đều phải lao động khổ sai, làm các việc như khai hoang, cuốc đất, đào ao, trồng rau… nhưng những năm đầu, chúng tôi chưa bao giờ được ăn những gì mình làm ra – dù chỉ là vài cọng rau. Nhiều khi chúng tôi phải hái cỏ non        để ăn thay rau.

Chúng tôi đã  nhiều lần tuyệt thực để phản đối sự ngược đãi, yêu cầu cai tù thực thi đúng chính sách, quy định do chính nhà nước đề ra.

Cuộc tuyệt thực lâu nhất kéo dài 14 ngày tại trại giam Xuân Lộc, năm 2010, với hàng chục tù chính trị tham gia. Sau sự kiện đó, Tôi bị đưa về nhà tù An Phước, tỉnh Bình Dương.

Thưa quý vị!

Mười bốn năm tù không chỉ là sự chịu đựng bi kịch của cá nhân mình , mà tôi đã chứng kiến nỗi đau của biết bao người đồng cảnh ngộ. Tôi chưa từng thấy ai bị đánh đến chết, nhưng có nhiều người chết vì bị ngược đãi, một cách đàn áp tinh vi và có hệ thống”. Ví dụ, người mắc bệnh tim mạch, cao huyết áp bị cấm mang thuốc vào buồng giam – và họ chết, như ông Lê Thân, ông Phan Văn Trước. Nguồn nước bẩn, thực phẩm ôi thiu, bồn cầu hỏng không sửa … ,tất cả đều có chủ đích và sự chịu đựng kéo dài đã hủy hoại sức khoẻ của tù nhân.

Tù đày không chỉ là tra tấn, bệnh tật, chết chóc – mà còn là sự cô lập tinh thần. Chúng tôi bị cách ly khỏi tù hình sự, bị kiểm soát mọi giao tiếp với nhau. Vì không được sử dụng giấy bút, không đuọc nhận sách báo nên chúng tôi không thể viết, không thể đọc, không thể ghi chép lại bất cứ điều gì tai nghe mắt thấy, hoặc chỉ đơn giản là giãi bày những cảm xúc của chính mình.

Không ít lần tôi có ý định tự tử và từng chuẩn bị một cái chết cho mình. Nhưng có một sức mạnh vô hình mà sau này tôi tin đó là Thiên Chúa, đã nâng đỡ tôi. Tôi phải sống để chiến thắng, chí ít là để không thất bại trước thế lực tà ác.

Thưa quý vị!

Chúng tôi kể lại những điều này không chỉ cho bản thân mình, mà còn cho những người đã chết – như em tôi, Huỳnh Anh Trí; ông Trương Văn Sương, Nguyễn Văn Trại, Bùi Đăng Thủy, Đinh Đăng Định và nhiều người vô danh khác.

Chúng tôi kể thay cho những người vẫn đang bị giam giữ – những người không có cơ hội cất tiếng nói của chính mình.

Tôi mong rằng quý vị – những tiếng nói mạnh mẽ vì tự do, sẽ không quên những nơi còn trong bóng tối, những con người vẫn đang chịu cảnh tù đày vì tranh đấu cho tự do, dù ở đất nước xa xôi như Việt Nam.

Xin chân thành cảm ơn quý vị.


 

ANH CÒN NỢ EM….- Phan Công Tuấn

Việt Luận – Viet’s Herald

Phan Công Tuấn

Đó là bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Anh Bằng, phổ thơ Phạm Thành Tài. Nhưng có lẽ không nhiều người biết Phạm Thành Tài không chỉ là nhà giáo, nhà thơ mà còn là lương y tham gia sinh hoạt và viết sách xuất bản ở Câu lạc bộ Châm cứu Sông Bé vang bóng một thời.

Trưa nay, thấy trên mạng xã hội dẫn lại một bài viết có thông tin Thi sĩ Phạm Thành Tài sinh năm 1932 và mất năm 1997. Quê quán ở quận Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa. Ông từng bị tù cải tạo sau năm 1975, đi qua Mỹ qua diện HO và học lấy bằng Đông Y Bác Sĩ (OMD- Oriental Medical Doctor).

Tôi liền vùng dậy, lục tìm cuốn sách “Phối Huyệt Châm Cứu Chữa Bệnh Kinh Đới Trong Phụ Khoa” của lương y Phạm Thành Tài trong tủ sách của mình, và thêm vài cú nhấp chuột tôi mới khẳng định được vị lương y này chính là tác giả lời ca của nhạc phẩm nổi tiếng đó.

Về bối cảnh ra đời bài thơ, có thông tin cho biết có một phụ nữ kể lại câu chuyện tình của cô bạn thân của cô với một thanh niên học cùng trường nhưng hơn mấy lớp ở Ninh Hoà. Chàng và nàng quen nhau từ thủa học trò. Đỗ tú tài, chàng vào Sài Gòn, rồi sau đó du học Mỹ, nàng thì ở lại quê làm cô giáo trường làng. Ra đi, chàng bảo nàng yên tâm đợi chàng về. Nhưng rồi sau đó được tin chàng đã lấy vợ, một người con gái học thức, sang giàu, nàng đau khổ một thời gian rồi cũng lấy chồng.

Sau 1975, một lần họp đồng hương Ninh Hoà ở Mỹ, người phụ nữ kể chuyện gặp lại chàng, biết cô sắp về thăm quê, chàng gửi ít tiền về biếu nàng ngày xưa, vốn là bạn thân của cô. Nàng sống ở quê cùng chồng là thương phế binh chế độ cũ, với năm con, nghèo lắm nhưng từ chối món tiền của chàng.

Qua Mỹ, đến thăm chàng trong ngôi nhà cao đẹp, nhưng một mình vì đã li di vợ, có đứa con trai cũng sống với mẹ. Người phụ nữ kể lại câu chuyện, chàng ngậm ngùi nói “anh còn nợ em”.

Nhạc sĩ Anh Bằng kể rằng đọc tập thơ nhỏ của Phạm Thành Tài, có mấy bài thơ ngắn, rồi thích thú phổ thành bản Anh Còn Nợ Em.

“Anh còn nợ em, công viên ghế đá, công viên ghế đá, lá đổ chiều êm. Anh còn nợ em, giòng xưa bến cũ, giòng xưa bến cũ, con sông êm đềm. Anh còn nợ em, chim về núi nhạn, trời mờ mưa đêm, trời mờ mưa đêm. Anh còn nợ em, nụ hôn vội vàng, nụ hôn vội vàng, nắng chói qua rèm. Anh còn nợ em, con tim bối rối, con tim bối rối, anh còn nợ em. Và còn nợ em, cuộc tình đã lỡ, cuộc tình đã lỡ, anh còn nợ em.”

Trong mỗi đoạn nhạc, có 4 câu thơ mà có câu lập lại hai lần, toàn bài câu “anh còn nợ em” lập lại 8 lần; đó là nét riêng của ca khúc và lập lại mà nghe không chán.

Khi bài hát phổ biến, nhạc sĩ Anh Bằng nhờ người tìm tác giả bài thơ và khi tìm được thì thi sĩ Phạm Thành Tài đã qua đời hơn mười năm. Ông chép tay bài nhạc Anh Còn Nợ Em và tặng cho người vợ của thi sĩ làm kỷ niệm.

Phan Công Tuấn


 

SỤP ĐỔ VÌ CÁI SIÊU THỊ

Nếu Boris Yeltsin, thành viên Xô Viết Tối cao Liên Xô, không đến thăm Hoa Kỳ vào năm 1989, lịch sử thế giới có thể đã đi theo một con đường khác.

Nếu Yeltsin không dừng lại ở một siêu thị Mỹ trên đường tới sân bay, ông có thể đã không bao giờ trở thành Tổng thống Nga và không bao giờ khởi xướng việc giải thể Liên Xô.

Chuyến đi tới Mỹ đó, và lần dừng chân định mệnh tại Randall’s, đã gây ấn tượng mạnh với Yeltsin đến mức ông vỡ mộng với chính ý tưởng về chủ nghĩa cộng sản.

Vào tháng 9 năm 1989, Boris Yeltsin đến thăm Hoa Kỳ trong chuyến thăm không chính thức đầu tiên. Ông không phải là tổng thống Nga, mà chỉ là một trong những quan chức hàng đầu của Đảng Cộng sản trong Hội đồng Tối cao Liên Xô, một trong hơn 500 người trong số họ.

Vì vậy, ông ta giống như một thành viên bình thường của Duma Quốc gia hiện nay. Trong thời gian ngắn ở Mỹ, Yeltsin chưa từng đến bất kỳ cửa hàng tạp hóa nào. Vì vậy, ông ta quyết định tìm xem một cửa hàng trên đường đến sân bay trước khi bay về nhà.

Xe buýt dừng lại ở một siêu thị bình thường của Mỹ ở Houston, TX. Cửa hàng khiến Yeltsin bị sốc. Ông ta đã rất sửng sốt. Ở tuổi 58, ông chưa bao giờ chứng kiến ​​điều gì như thế này trong đời.

Và Yeltsin không phải là thường dân. Ông đã lãnh đạo một trong những khu vực liên bang chiến lược trong một thập kỷ, trước khi trở thành người đứng đầu thành phố Moscow. Ông thậm chí còn được đưa vào danh sách trở thành một trong những thành viên của Bộ Chính trị toàn năng. Ông là thành viên chân chính của giới tinh hoa Cộng sản Liên Xô. Nhưng lượng thực phẩm và hàng hóa dồi dào như vậy trong một cửa hàng bình thường ở Mỹ lúc đó đã thực sự khiến ông ta bị sốc.

Yeltsin liên tục giơ tay lên vì ngạc nhiên. Ông cho rằng ngay cả các thành viên Bộ Chính trị cũng không có dư giả như vậy. “Ngay cả Gorbachev cũng không được vậy!”, Yeltsin nói.

Sau đó, trên máy bay, Yeltsin im lặng một lúc lâu. Ông ngồi ôm đầu, trên mặt hiện rõ sự giằng xé cảm xúc.

Một số người dân Liên Xô sau khi từ các nước phương Tây trở về Liên Xô đã rơi vào tình trạng trầm cảm nặng. Vì có một xung đột tâm lý không thể giải quyết được giữa cách một người sống cả đời – và việc anh ta có thể sống như thế nào nếu anh ta sinh ra ở một đất nước khác.

Khi Yeltsin tỉnh lại, ông nói một cách cay đắng: “Những người dân tội nghiệp của chúng ta đã bị đưa đến đâu?”.

“Cả đời tôi đã kể những câu chuyện cổ tích, cả đời tôi đã cố gắng bịa ra mọi thứ. Nhưng mọi thứ trên thế giới đều đã được phát minh rồi”, Yeltsin than thở.

Phụ tá của Yeltsin đã mô tả:

“Khi chúng tôi vừa quay lại sân bay, ma quỷ đã thúc giục chúng tôi đi xem một siêu thị điển hình của Mỹ”.   

Nó được gọi là Siêu thị Randall. Trong nhóm của chúng tôi, chỉ có Boris Nikolaevich và tôi chưa bao giờ đến những cơ sở buôn bán kiểu này.

Hơn nữa, đây không phải là một đô thị, càng không phải là một cửa hàng ở New York và theo tiêu chuẩn, một cửa hàng tỉnh lẻ rất “bình thường”. Tất nhiên, nếu Houston có thể được coi là một tỉnh.

Xuống xe, tôi bắt đầu tìm kiếm một đám đông người và thứ gì đó tương tự như hàng dài chờ đợi của chúng tôi. Tuy nhiên, không có xếp hàng chờ đợi – xung quanh cũng như trong chính cửa hàng.

Đó là một tòa nhà một tầng làm bằng kết cấu kim loại nhẹ. Đương nhiên, không ai trong số các nhân viên phục vụ biết về việc chúng tôi đến và do đó không thể có chuyện “khoe khoang” được. Một ngày bình thường, một loại hàng “bình thường”, những vị khách “bình thường”…

Chuyến đi tới Mỹ đó – và lần dừng chân định mệnh tại Randall’s, đã gây ấn tượng mạnh với Yeltsin đến mức ông vỡ mộng với chính ý tưởng về chủ nghĩa cộng sản.

Tôi ngay lập tức bị ấn tượng bởi sự dồi dào của ánh sáng. Và nhìn chung, cách phối màu của mọi thứ đều tươi sáng và ấn tượng đến mức khiến chúng ta có cảm giác như đang đi xuống vực sâu của kính vạn hoa.

Sự phong phú của các loài hoa cũng đầy mê hoặc – mọng nước, rực rỡ, như thể vừa được cắt ra từ bồn hoa. Hơn nữa, những bông hoa không phải để bán mà như một vật trang trí.

Ngay khi chúng tôi bước vào siêu thị, họ đã gọi cho ai đó từ ban quản lý. Từ đâu đó trong phòng tiện ích xuất hiện một chàng trai trẻ rất đẹp trai trong chiếc áo sơ mi trắng như tuyết, chải chuốt gọn gàng và tất nhiên là đang mỉm cười. Đó là quản trị viên trưởng.

Chúng tôi tự giới thiệu và nói muốn tìm hiểu về công việc của cửa hàng.

Không vấn đề gì: người quản lý đã mời một cô bán hàng trẻ đến hỗ trợ chúng tôi và cô ấy dẫn chúng tôi qua các lối đi.

Điều chính khiến chúng tôi quan tâm là sự đa dạng. Và về vấn đề này, Yeltsin đã đặt câu hỏi cho nhân viên cửa hàng.

Những câu trả lời chân thực của họ đã khiến chúng tôi bị sốc, và Boris Nikolayevich thậm chí còn hỏi lại: – Anh có dịch đúng không đấy ?! Và người quản lý nhắc lại một lần nữa rằng phạm vi sản phẩm thực phẩm của siêu thị vào thời điểm đó đúng là có số chủng loại lên tới khoảng 30 nghìn mặt hàng.

Khi chúng tôi đi dọc theo dãy hàng, mắt chúng tôi không biết dừng lại ở đâu. Tôi có thể đoán được nhiều điều khác nhau, nhưng những gì tôi nhìn thấy trong siêu thị này cũng không kém phần kinh ngạc so với chính nước Mỹ.

Một số người trong chúng tôi bắt đầu đếm các loại dăm bông. Chúng tôi đã mất số đếm.

Tôi nhớ đến cửa hàng xúc xích của chúng tôi ở Krasnaya Presnya, nơi vào năm 1963 bạn có thể mua “Brunswick”, “Stolichnaya”, “Tambov”, “Uglich”, “Krakov” và một số loại xúc xích khác. Lúc đó, tôi nghĩ đây là đỉnh cao trong giấc mơ của con người và những dấu hiệu đầu tiên của chủ nghĩa cộng sản đã nở rộ. Công bằng mà nói, theo năm tháng, các kệ hàng của cửa hàng bắt đầu trống rỗng và giờ chỉ còn lại những ký ức về quá khứ tươi sáng của nó. Tôi nhớ đến cửa hàng Liên Xô đó và so sánh nó với cửa hàng này ở Houston, và nhận ra rằng sự phong phú mà Khrushchev hứa sẽ dẫn dắt chúng tôi đã vượt qua chúng tôi.

Vào thời điểm đó ở Liên xô tất cả 300 viện và phòng nghiên cứu có nhiệm vụ chỉ ra những lợi thế của chủ nghĩa xã hội so với chủ nghĩa tư bản có thể đang tiếp tục cố gắng thuyết phục tôi, nhưng từ bây giờ những nỗ lực của họ sẽ là vô nghĩa.

Thực tế của Mỹ, trên ví dụ về siêu thị này, có vẻ thuyết phục hơn 100 lần so với bất kỳ lý thuyết nào của Liên Xô. Chắc chắn, con người sống không chỉ nhờ bánh mì… Không chỉ nhờ xúc xích, không chỉ nhờ pho mát…

Nhân tiện, bạn đã thấy phô mai màu đỏ, nâu, cam chanh chưa? Bạn nghĩ chúng tôi đã thấy bao nhiêu loại phô mai ở Houston? Còn giăm bông thì sao? Tất cả món ngon không thể tưởng tượng được này mà mọi người đều có thể thử ngay tại cửa hàng và quyết định – liệu nó có đáng để chi tiền không?

Chúng tôi không thể đếm được tên các loại kẹo, bánh ngọt, không thể nhận biết được sự đa dạng về màu sắc cũng như sức hấp dẫn ngon miệng của chúng bằng mắt.

Và mặc dù tôi đang cố gắng truyền đạt ấn tượng của mình, nhưng tôi hiểu rằng đây chỉ là một nỗ lực thảm hại, bởi vì lời nói bất lực trước thực tế những gì cửa hàng Mỹ đó có thể cung cấp.

Thỉnh thoảng, tôi liếc nhìn Yeltsin và nhận thấy đây là một bài kiểm tra khó khăn đối với ông. Và khi một người phụ nữ đi trên xe đẩy đuổi kịp ông ta, trên đó có một cậu bé đang ngồi, Boris Nikolaevich, xin lỗi và bắt đầu tra hỏi cô ấy:

  – Cô ấy có thường xuyên đến cửa hàng này không? Hóa ra, chỉ vào thứ bảy.

  – Gia đình bạn có lớn không?

3 người: cô, chồng và con.

  – Thu nhập của gia đình bạn là bao nhiêu?

Người phụ nữ giải thích rằng cô tạm thời không làm việc và sống bằng tiền lương của chồng, 3.600 USD một tháng.

   Yeltsin hỏi cô thường chi bao nhiêu cho thực phẩm? Hóa ra gia đình này đã chi khoảng 170 USD cho thực phẩm trong một tuần. Từ thứ bảy đến thứ bảy. Cô vẫn phải trả tiền thuê nhà, bảo hiểm…

Ở khu vực rau quả, chúng tôi thực sự bị sốc bởi chất lượng của sản phẩm.

Một củ cải có kích thước bằng một củ khoai tây lớn được chiếu sáng bằng ánh sáng rực rỡ và nước được rải lên nó từ những “linh hồn” nhỏ.

Củ cải thực sự rực rỡ, và bên cạnh chúng là hành, tỏi, cà tím, súp lơ, cà chua, dưa chuột.

Bạn muốn lươn hun khói – đây.

Bạn có muốn cá mút đá không? Hay gan của bạn đã quen với cá tầm và hàu? Dứa, chuối…

Và ở khu vực bánh kẹo, người ta có thể đứng hàng giờ: nó có thể vượt qua cả Hollywood về mặt giải trí. Một chiếc bánh khổng lồ tượng trưng cho một đấu trường khúc côn cầu đang chờ khách hàng trên khán đài. Các hình tượng người chơi được làm bằng sô cô la. Một tác phẩm nghệ thuật thực sự và quan trọng nhất – dễ tiếp cận, khá dễ tiếp cận.

Nói chung, đây là một chủ đề tăng huyết áp. Đối với Boris Nikolaevich và tôi, việc đi siêu thị là một cú sốc thực sự.

Khi tôi đang viết cuốn sách này, vợ tôi hôm nay (tháng 9 năm 1991) đến cửa hàng mua sữa lúc 7 giờ sáng nhưng vẫn có hàng dài người xếp hàng. Xếp hàng khắp nơi: bạn phải đứng 2 ngày để mua đường. Và đây là ở đây – ở Moscow, vào nửa sau thế kỷ 20, 73 năm sau Cách mạng vĩ đại. Vào thời điểm đó, theo tính toán của Khrushchev, tất cả chúng ta lẽ ra đã sống dưới chủ nghĩa cộng sản rồi. Hoặc có thể những gì chúng ta đã xây dựng ở Liên Xô là chủ nghĩa cộng sản thực sự?

Ở lối ra khỏi siêu thị Mỹ, cô gái ngồi ở quầy tính tiền không cần phải đếm gì cả. Trên tay cô cầm một thiết bị nhỏ giống như máy sấy tóc, cô nhanh chóng xem qua mã giá trên bao bì. Sau thao tác này, giá xuất hiện trên màn hình máy tính tiền, khách hàng thanh toán và có thể tự do đi qua cửa quay điện tử. Chà, còn gì có thể đơn giản và thông minh hơn một hệ thống như vậy?

Khi chúng tôi rời siêu thị, người quản lý đã tặng chúng tôi một món quà: một chiếc túi nhựa lớn đựng những gói thực phẩm từ cửa hàng này.

Tôi hoàn toàn tin rằng chỉ sau khi đi siêu thị Randall, lúc ở trên máy bay, niềm tin cuối cùng của Yeltsin vào lối suy nghĩ Bolshevik của ông cuối cùng đã sụp đổ.

Có lẽ, trong những giây phút rối loạn tinh thần đó, quyết định rời bỏ Đảng Cộng sản và tham gia cuộc tranh giành quyền lực tối cao ở Nga đã chín muồi trong ông ta”.

Sau đó, Yeltsin nhận ra rằng tất cả những câu chuyện của các “nhà báo quốc tế” về những công nhân Mỹ được cho là đang chết trong cảnh nghèo đói khủng khiếp và chỉ mơ được chuyển đến Liên Xô, tất cả những câu chuyện này chẳng qua chỉ là tuyên truyền. Ngay cả những người “tinh hoa” trong đảng cũng không biết điều đó (Báo chí liên xô thuốc luôn cả lãnh đạo – Dựa trên cuốn sách của Lev Sukhanov – trợ lý của Boris Yeltsin: “3 năm với Boris Yeltsin”)

Sau chuyến thăm Mỹ, Yeltsin đã trở thành Tổng thống đầu tiên của Nga.

Với tư cách là tổng thống Nga, Yeltsin đã đàm phán và ký thỏa thuận giải tán Liên Xô cùng với các tổng thống mới đắc cử của Ukraine và Belarus. Chỉ 3 người trong số họ đã phá hủy nhà nước mà hàng triệu người cộng sản đã xây dựng trong hơn 70 năm.

(cop từ fb Đặng Văn Dũng)

‘Giấc Mơ Mỹ’ đang hấp hối – Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi- Viet

May 11, 2025 

Trúc Phương/Người Việt

Nếu có thuật từ nào xứng đáng được chọn là một trong những đại diện cho xã hội văn minh hiện đại được nhắc nhiều nhất, từ đó chắc chắn là “Giấc Mơ Mỹ” (American Dream).

Người nhập cư vào Mỹ từ nhiều quốc gia trên khắp thế giới qua lao động nặng nhọc để tìm kiếm “Giấc Mơ Mỹ.” (Hình minh họa: Brent Stirton/Getty Images)

Tác giả thuật từ, James Truslow Adams, trong quyển The Epic of America (1931), đã định nghĩa: “‘Giấc Mơ Mỹ’ là niềm mơ ước về một vùng đất, nơi mà cuộc sống trở nên tốt hơn, giàu có hơn và đầy đủ hơn cho tất cả, với cơ hội cho mỗi người đều có thể có được chỉ bằng tài năng.”

“Giấc Mơ Mỹ” trở thành khái niệm quen thuộc tượng trưng cho sự thành đạt được đền bù xứng đáng từ nỗ lực bền bỉ. “Giấc Mơ Mỹ” đưa nước Mỹ trở thành cường quốc thịnh vượng. Bây giờ, sự thịnh vượng đó đang tan hoang…

Lý tưởng của “Giấc Mơ Mỹ”

Nhắc đến “Giấc Mơ Mỹ,” người ta thường liên tưởng đến hình ảnh cơn sốt đào vàng thế kỷ 19, đến sự thành đạt từ bàn tay trắng cần cù và nghị lực phi thường, đến sự khát vọng làm giàu, đến hình thái chính trị-xã hội tự do dân chủ đích thực mang lại sự phóng khoáng trong tư duy, đến mô hình kinh tế thị trường tự do và còn nhiều điều tốt đẹp khác.

Khi Franklin Delano Roosevelt nhậm chức tổng thống năm 1933 với chương trình cải tổ toàn diện New Deal đưa nước Mỹ thoát khỏi cuộc Đại Suy Thoái, “Giấc Mơ Mỹ” bắt đầu đâm hoa thật sự. Dân Mỹ được chăm lo tốt hơn bằng những chính sách cụ thể. “Giấc Mơ Mỹ” chưa dừng lại ở đó.

“Giấc Mơ Mỹ,” được hiểu đơn giản là những câu chuyện đổi đời ngoạn mục trên đất Mỹ, bắt đầu hình thành khi nhiều gia đình bồng bế nhau trực chỉ hướng Tây ngọn Rocky để mua hàng hecta đất với giá rẻ trong cơn sốt tìm vàng. Ðổi đời từ vàng là làn sóng ban đầu của khái niệm “Giấc Mơ Mỹ.”

Làn sóng thứ hai bắt đầu từ những người di cư. Mong muốn thoát cảnh quanh năm ruộng vườn, đặc biệt bởi nhiều yếu tố trực tiếp chẳng hạn hậu quả nạn đói kinh khủng từ trận thất mùa khoai tây lịch sử tại Ireland;tình trạng hậu chiến sau thời Napoleon, nhiều gia đình Châu Âu bắt đầu lên đường sang Mỹ. Tính năng động và thoáng mở của xã hội Mỹ là sức hút đầu tiên. Sau Châu Âu, đến lượt nhiều gia đình Châu Á cũng đến Mỹ (tạo ra những khu phố Tàu như thấy hiện nay). Như trong ý nghĩa phổ biến về “Giấc Mơ Mỹ,” bất kỳ ai cần cù, quyết chí học và có gan làm giàu gần như chắc chắn sẽ được toại nguyện ước mơ đổi đời.

Có rất nhiều ví dụ về “Giấc Mơ Mỹ.” Andrew Carnegie là một trong số đó. Sinh tại Scotland trong gia đình với bố làm nghề dệt tay, Carnegie lớn lên trong cảnh gia đình giật gấu vá vai và đong gạo từng bữa. Sự xuất hiện của máy dệt khiến gia đình Carnegie thêm lận đận. Cuối cùng, bố Carnegie quyết định đến Mỹ, sau khi bán tất cả tài sản khiêm tốn và vay thêm 20 bảng Anh. Tháng Năm, 1848, gia đình Carnegie đến New York và bố Carnegie xin làm việc tại một nhà máy bông vải.

Andrew Carnegie cũng phải đi làm, với lương $1.2/tuần. Năm 1851, Carnegie làm người phát điện tín cho Ohio Telegraph Co với mức lương $2.5/tuần. Tự học kỹ thuật điện tín, Carnegie sau đó được công ty hỏa xa Pennsylvania Railroad Co thuê với lương $4/tuần (lúc này Carnegie 18 tuổi). Lần lần, Carnegie được bổ nhiệm giám sát khu vực Pittsburgh. Dành dụm từng xu, năm 1864, Carnegie bắt đầu đầu tư số tiền tiết kiệm $40,000 vào nông trại Storey (Pennsylvania).

Khi Nội Chiến Mỹ bùng nổ, Carnegie được ông chủ công ty Pennsylvania Railroad Co (Thomas A. Scott, lúc đó là thứ trưởng Bộ Chiến Tranh phụ trách vận chuyển quân sự) đưa lên Washington, DC với vai trò giám sát hệ thống hỏa xa quân đội và hệ thống điện tín chính phủ. Cuộc Nội Chiến Mỹ giúp nhiều ngành công nghiệp phát triển nhanh, trong đó có công nghiệp sắt thép.

Triển vọng công nghiệp thép không lọt khỏi quan tâm Carnegie. Dùng tất cả vốn liếng, Carnegie đầu tư vào ngành thép. Và đến cuối thập niên 1880, công ty Carnegie Steel đã trở thành nhà sản xuất gang, than cốc và thanh ray hỏa xa lớn nhất thế giới! Ở giai đoạn đỉnh cao sự nghiệp, Carnegie là người thứ hai giàu nhất thế giới, chỉ xếp sau vua dầu lửa John D. Rockefeller (cũng thuộc thành phần di cư từ Pháp – hoặc Ðức, như một số tài liệu ghi). Nước Mỹ đem lại cơ hội và mở cửa đón những người như Andrew Carnegie và cũng chính những điển hình Andrew Carnegie đã đem lại thịnh vượng cho nước Mỹ ngày nay. Tuy nhiên, như nhiều phóng sự gần đây, “Giấc Mơ Mỹ” thời nay dường như khó đạt được…

Ai đang phá nát “Giấc Mơ Mỹ”

Tính ổn định trong nghề nghiệp trong xã hội Mỹ, theo Griff Witte (Washington Post), trở nên ngày càng bất an. Bi kịch lên voi xuống chó xảy ra như cơm bữa. Không ít người lao động Mỹ không biết chắc đời sống mình an toàn đến chừng nào. Trình độ và bằng cấp đại học cũng không hứa hẹn.

Theo David R. Francis (Christian Science Monitor), gần 1/5 gia đình Mỹ hiện có giá trị tài sản là zero và vài trường hợp thậm chí còn nợ nhiều hơn những gì mình sở hữu. “Tính ổn định trong thu nhập đã giảm trong 20 năm qua,” theo Bhashkar Mazumder, nhà kinh tế thuộc Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang Chicago (Federal Reserve Bank of Chicago).

Từ 1950-1980, thế hệ Mỹ sau thường thành công hơn thế hệ trước. Bố mẹ thường thấy con cái họ thành đạt hơn. Bây giờ, cần đến 5-6 thế hệ để xóa bớt khoảng cách giữa thành phần nghèo và lớp trung lưu. Ảnh hưởng từ chính sách là một phần nguyên nhân cho thái độ bi quan về “Giấc Mơ Mỹ.”

Donald Trump luôn hứa hẹn về một sự bùng nổ kinh tế ngay sau khi ông trở lại Tòa Bạch Ốc, hồi sinh “Giấc Mơ Mỹ” và sẽ tạo ra bốn năm thịnh vượng “chưa từng có.” “Tiền lương của các bạn sẽ cao hơn, đường phố của các bạn sẽ an toàn và sạch sẽ hơn, cộng đồng của các bạn sẽ giàu có hơn và tương lai của các bạn với tư cách là người Mỹ sẽ tốt hơn nhiều so với trước khi tôi nhậm chức,” Trump phát biểu trong cuộc vận động tranh cử cuối cùng tại Grand Rapids, Michigan. “Bởi vì đây sẽ là thời kỳ hoàng kim của nước Mỹ.”

Tuy nhiên, giọng điệu của Trump đã thay đổi đáng kể gần đây, khi đề cập đến sự “hy sinh” và “giai đoạn quá độ” cho đến khi chính sách thuế quan của ông mở đường cho “một sự bùng nổ.”

Trump đã nói về “nhu cầu” nước Mỹ phải “uống thuốc” trước khi có thể “khỏe” trở lại. “Đây là giai đoạn chuyển tiếp,” Trump nói trong chương trình “Meet the Press” của NBC ngày 4 Tháng Năm. “Tôi nghĩ chúng ta sẽ làm rất tốt… Tôi chỉ muốn nói rằng họ (người dân Mỹ) không cần phải có 30 con búp bê. Họ có thể chỉ có ba con. Họ không cần phải có 250 cây bút chì. Họ có thể chỉ có năm cây.”

Toàn cảnh, người Mỹ ngày càng hoài nghi về khái niệm “Giấc Mơ Mỹ.” Theo khảo sát của Trung Tâm Nghiên Cứu Pew năm 2024, 41% người Mỹ cho biết giấc mơ không còn khả thi nữa và 6% nói rằng giấc mơ không bao giờ khả thi. Bất bình đẳng thu nhập ở Mỹ đã tăng đáng kể. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội cho biết 10% người giàu nhất nước Mỹ đang kiểm soát gần 60% tài sản quốc gia, trong khi “một nửa dưới” chỉ nắm 6% (Newsweek ngày 9 Tháng Năm).

Một phóng sự của Vanity Fair thuật vài câu chuyện điển hình cho thấy giấc mơ Mỹ đang vỡ vụn như thế nào. Ông Greg Dillon, 49 tuổi, sống tại Marietta thuộc bang Georgia, là nhà tư vấn nghề nghiệp. Ông từng tình nguyện làm việc tại những trung tâm giới thiệu việc làm thuộc giáo hội để giúp người xin việc điền tờ khai và tư vấn chiến lược tìm việc. Bây giờ, chẳng ai có thể tư vấn để giúp ông không thất nghiệp! Vào ngày trước sinh nhật lần thứ 49, Dillon bị sa thải khỏi Forum Co., lần mất việc thứ hai trong 18 tháng…

Trả lời một cuộc phỏng vấn (“What Has Happened to the American Dream?” The New York Times ngày 3 Tháng Năm, 2025), Malinda Burke, 40 tuổi, ở Raleigh (North Carolina) nói, “Tôi có cảm giác như nó đang tuột khỏi tầm tay.”

Vài ngày trước Lễ Tạ Ơn, Malinda Burke “mất job.” Trong nhiều tháng tìm việc làm, đặc biệt trong một thị trường đột nhiên tràn ngập nhân viên liên bang thất nghiệp, Burke phải dùng tiền tiết kiệm hưu trí để trả tiền nhà và khoản nợ sinh viên. Lần đầu tiên trong đời, Burke bắt đầu hoang mang về cái gọi là “Giấc Mơ Mỹ.”

“Tôi luôn nghĩ rằng nếu làm việc đủ chăm chỉ, tôi có thể đạt được ‘Giấc Mơ Mỹ.’ Tôi đã có thể tự mua được nhà… Và rồi trong chớp mắt, tôi nghĩ, ‘Ôi trời, nếu tôi mất nhà thì sao?’… Tôi thuộc tầng lớp trung lưu vốn ngày càng bị thu hẹp. Tôi nghĩ hầu hết chúng ta đều muốn có một cuộc sống thoải mái, nhưng điều đó thực sự khó khăn trong thời buổi ngày nay…”

Năm 1941, Henry Luce (người sáng lập tờ Time) tung ra bài bình luận nổi tiếng The American Century trên tạp chí Life với nội dung rằng nước Mỹ không nên đứng ngoài lề Thế Chiến Thứ II mà nên dùng sức mạnh mình để hoằng dương “lòng yêu tự do, sự công bằng trong tận dụng cơ hội, truyền thống độc lập tự chủ và thái độ hợp tác.” Luce cũng đề nghị “Giấc Mơ Mỹ” cần được sử dụng như một cách để quảng bá lối sống Mỹ, thứ mà những quốc gia phi dân chủ nên noi theo.

Gần như trong cùng thời gian, trong diễn văn Thông Điệp Liên Bang năm 1941, Tổng Thống Roosevelt cũng gián tiếp mở rộng khái niệm “Giấc Mơ Mỹ” với việc đưa ra “bốn sự tự do tối cần thiết cho con người” mà nước Mỹ thề sẽ chiến đấu giành cho được đến cùng, gồm: Tự do ngôn luận; Tự do tôn giáo; Tự do yêu thích và Tự do sợ hãi. Bây giờ, nước Mỹ chỉ còn lại “Tự do sợ hãi,” sợ đủ thứ, và nỗi sợ đến từ chính những kẻ luôn mồm nói nước Mỹ sẽ lại thịnh vượng và “Giấc Mơ Mỹ sẽ hồi sinh.” [kn]


 

BIỂU HIỆN CỦA NÔ LỆ HIỆN ĐẠI TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI – Nguyen Anh Tuan

 Đặng Huệ Như  

Bài viết hay của  Nguyen Anh Tuan

1. Thờ ơ với thời cuộc:

“Chính trị không liên quan đến tôi”, “Miễn tôi sống yên là được”. Đó là suy nghĩ phổ biến trong xã hội độc tài, nơi người dân bị tước quyền can thiệp vào các vấn đề công cộng, và dần đánh mất nhu cầu lên tiếng. Họ sống trong im lặng, coi bất công là chuyện “bình thường”, và không còn đặt câu hỏi vì sao đất nước mãi trì trệ.

  1. Vô cảm với đồng loại:

Khi thấy người khác bị oan sai, bị đàn áp, họ chỉ nói: “Tránh xa ra cho an toàn”. Sự vô cảm này không bắt nguồn từ sự ác, mà từ nỗi sợ hãi và tâm lý sinh tồn trong môi trường không an toàn. Nhưng chính sự vô cảm đó đã làm tê liệt sức mạnh cộng đồng.

  1. Không quan tâm chính trị:

Họ không biết ai là người nắm quyền, ai chịu trách nhiệm cho sự yếu kém của quốc gia. Họ không bầu chọn thật sự, không dám phản biện. Họ tin rằng “chuyện đó để nhà nước lo”, và vô tình trao toàn bộ vận mệnh vào tay kẻ khác.

  1. Khôn vặt, khôn lỏi để tồn tại:

Thay vì đòi hỏi một xã hội công bằng, họ học cách “luồn lách”, “biết điều”, “né rắc rối”, “chắc nó trừ mình ra”…. Đó là kỹ năng sinh tồn trong hệ thống bất công, nhưng đồng thời cũng làm lệch chuẩn đạo đức và suy giảm nhân cách xã hội.

  1. Sống trong sợ hãi thường trực:

Họ sợ bị theo dõi, sợ bị ghi nhận phát ngôn, sợ bị mất việc, sợ bị “xử lý hành chính”, sợ bị gán nhãn “phản động”. Sự sợ hãi khiến họ tự kiểm duyệt bản thân, không còn khả năng phản kháng, và dần chấp nhận kiếp sống lệ thuộc như điều tự nhiên. Nô lệ hiện đại không cần kẻ canh gác, bởi con người đã trở thành người canh giữ chính tư tưởng của mình. Và một khi con người không còn biết mình đang bị trói buộc, thì chính họ sẽ tiếp tục truyền lại sự nô lệ ấy cho thế hệ mai sau.

  1. 6. Nguy hiểm nhất của nô lệ hiện đại là khi người dân không chỉ bị kiểm soát bằng bạo lực, mà còn bị dẫn dắt trong vô thức. Họ tin rằng đất nước đang ổn định và phát triển dù thực tế đầy rẫy bất công; tin lãnh đạo là thiên tài bất chấp sai lầm hiển hiện; tin phản biện là nguy hiểm, tự do là gây loạn, “lên đồng tập thể” có khi chỉ một trận bóng đá hay một thú vui bị định hướng dẫn dắt nho nhỏ…. Mọi tiếng nói khác biệt bị gán nhãn “phản động”. Họ tự hào vì “biết chịu đựng”, vì “không cần dân chủ kiểu phương Tây”, mà không nhận ra mình đang bảo vệ chính cái hệ thống khiến họ sống trong nghèo đói, sợ hãi và bất lực. Khi người bị áp bức quay sang tôn vinh kẻ áp bức, khi xiềng xích trở thành niềm tin thì đó không còn là sự phục tùng đơn thuần, mà là tâm trí đã bị chiếm đóng.

Không ai sinh ra để làm nô lệ. Một dân tộc chỉ thật sự phát triển khi từng người dân hiểu rằng tự do không phải là đặc ân mà là quyền bất khả xâm phạm. Độc tài có thể bành trướng, nhưng lịch sử chưa từng dung thứ cho nó mãi mãi. Hãy sống như một con người đúng nghĩa chứ không chỉ tồn tại như một công cụ thoi thóp thở.


 

Người Nga và nước Nga – Tiến sĩ vật lý Nguyễn Đình Đăng

Nguyễn Hoành

Người Nga và nước Nga dưới ngòi bút của Tiến sĩ vật lý Nguyễn Đình Đăng con rể bà Nguyễn Thị Bình nguyên Phó chủ tịch nước:

“Tôi đã từng học và nghiên cứu ở Nga (Liên Xô) cũ tổng cộng 11 năm, từ năm 18 tuổi tới năm 31 tuổi (1976 – 1989) (Hai năm 1985 – 1987 làm việc ở Việt Nam). Tiếng Nga đối với tôi cũng trôi chảy gần như tiếng mẹ đẻ. Khi còn ở Nga, các bạn Nga từng nói với tôi: “Nếu chỉ nghe tiếng mày nói ngoài hành lang, không nhìn thấy mặt, thì bọn tao tưởng đó là người Nga nói.”

Nước Nga không chỉ mở cho tôi cánh cửa bước vào khoa học mà còn cả nghệ thuật. Chính tại đây lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với nghệ thuật lớn: nghệ thuật của các bậc thày cổ điển châu Âu, như Leonardo da Vinci, Botticelli, Titian, Rembrandt, trong nguyên bản, với âm nhạc của các nhà soạn nhạc vĩ đại, qua tiếng đàn của các bậc thày trứ danh biểu diễn sống, như Leonid Kogan, Danill Shafran, Shura Cherkasky, v.v., với văn học và thi ca của Toltstoy, Turgheniev, Tshekhov, Leskov, Dostoevsky, Pushkin, Lermontov, Esenin, Pasternak, Blok, Svetaeva,v.v. qua bản gốc tiếng Nga.

Tôi có nhiều bạn bè và đồng nghiệp là người Nga cũng như người Ukraine. Thày của tôi, cố GS Vadim Soloviev là người Nga. Phản biện luận án tiến sỹ năm 1985 của tôi, GS Anatoly Ignatyuk, là người Ukraine. Hai phản biện luận án tiến sỹ khoa học của tôi năm 1989, là GS A. Ignatyuk và GS. Grigory Yakovlevich Korenman, người Nga gốc Do Thái.

Ông Konstantin Gavrilovich, hoạ sỹ và kiến trúc sư, là người Nga đầu tiên phát hiện ra tài vẽ của tôi và đã không tiếc thời gian cũng như sức lực đưa tôi tới gặp các giáo sư tại các trường đại học mỹ thuật Surikov, Stroganov, và đại học kiến trúc.

Bạn gái đầu tiên của tôi là người Nga.

Tất cả họ đều là những con người chính trực, cao thượng, hào hiệp, tốt bụng, trí tuệ, có văn hóa học vấn cao và đáng ngưỡng mộ.

Nói vậy là để các bạn thấy nước Nga từng rất gắn bó với tôi.

Tuy nhiên đừng lẫn lộn người dân Nga với chế độ của những người cai trị họ.

Khoảng thời gian hơn một thập niên đó cũng đã cho tôi thấy rõ người Nga cũng như người dân các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ, trong đó có Ukraine, đã bị o ép khổ sở về tinh thần và vật chất như thế nào dưới một chế độ quan liêu hách dịch điều khiển một nền kinh tế trì trệ. Nước Nga là một quốc gia rộng lớn, nhưng chưa bao giờ thoát khỏi mặc cảm của một nước nông dân, trong đó thủ đô Moskva được ví như cái làng của châu Âu. Người Nga trong lịch sử chưa bao giờ thoát khỏi ách áp bức từ chế độ Tsar Hoàng, tới chế độ cộng sản thời Lenin, Stalin, toàn trị thời Brezhnev, và cuối cùng là chế độ độc tài của Putin.

Sự yếu kém về kinh tế và hành chính của Ukraine là hậu quả của một thời kỳ dài dặc phụ thuộc vào Nga ở Liên Xô cũ. Cho tới năm 2006, tức 15 năm sau khi Liên Xô sụp đổ, tới Kiev dự hội thảo vật lý hạt nhân, tôi vẫn thấy sự trì trệ và phong thái làm việc trịch thượng hống hách kiểu Nga ở đó, bắt đầu từ khâu nhập cảnh tại sân bay, sinh hoạt dịch vụ công cộng, tới cách điều hành hội thảo.

Lẽ dĩ nhiên, nhìn sang châu Âu, trước hết là người dân nước hàng xóm Ba Lan, người Ukraine cũng muốn một cuộc sống độc lập, tự do, dân chủ và hạnh phúc như vậy. Việc Ukraine lựa chọn gia nhập EU hay NATO là quyền tự do của một quốc gia độc lập.

Vì thế đừng vội vàng đổ lỗi cho tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky hay nguyên tổng thống Petro Poroshenko về tình trạng này. Trên thực tế công cuộc “thoát Nga” của Ukraine mới chỉ thực sự bắt đầu từ cuộc nổi dậy ở Maidan từ tháng 11 năm 2013 tới tháng 2 năm 2014, tức cách đây tám năm về trước, quá ngắn để có thể tẩy rửa những căn bệnh do 74 năm chế độ cộng sản để lại, nhất là trong sự hà hiếp của chính quyền Putin.

Cá nhân tôi chưa bao giờ có thiện cảm với Putin, ngay từ những ngày đầu, khi Putin được tổng thống Nga Boris Yeltsin tiến cử. Lý do của tôi rất đơn giản: Putin nguyên là sĩ quan KGB, gia nhập KGB ngay sau khi tốt nghiệp đại học năm 1975. Vào thời perestroika của Gorbachev cho tới khi Liên Xô bắt đầu tan rã (1985 – 1990), Putin làm gián điệp của KGB tại Dresden. KGB khét tiếng tàn ác trong toàn bộ lịch sử của nó. Bố của Putin cũng là một sĩ quan của NKVD, tiền thân của KGB. Mẹ của Putin là công nhân. Ông của Putin nấu bếp cho Lenin và Stalin.

Tham vọng của Putin là khôi phục lại hào quang của đế quốc Nga đã mất trong đó y là độc tài bạo chúa. Nước Nga dưới chế độ Putin là một nước bị cô lập với toàn thế giới. Người dân Nga chưa bao giờ có tự do dân chủ. Các đảng đối lập bị chèn ép, các nhà đấu tranh dân chủ bị bắt bớ, đầu độc, ám sát. Cuộc xâm lược Ukraine đang diễn ra do Putin ra lệnh là khởi đầu của chiến dịch nhằm thực hiện mưu đồ bành trướng của Putin sang phương Tây, kéo lại đêm đen của chế độ độc tài cộng sản trong đó Nga là bá chủ. Vì thế Ukraine, từ một đất nước đứng lên chiến đấu chống ngoại xâm, nay đã trở thành biểu tượng của đại nghĩa chống lại hung tàn.

Bất kể Putin có thôn tính được Ukraine hay không, cuộc chiến tranh này do Putin khởi xướng đã, đang và sẽ khiến y muôn đời bị nguyền rủa như một tên Hitler t.k. XXI. Hay nói như đại sứ Ukraine tại Liên hiệp quốc, hắn sẽ đi thẳng xuống địa ngục vì không có luyện ngục (purgatory, nơi thanh tẩy tội lỗi sau khi chết) nào cho hắn cả.

*** Copy từ Fb Trần Quốc Quân


 

  ƯỚC GÌ MẸ CÓ MƯỜI TAY – CA DAO MƯỜNG – HÌNH ẢNH VCH

(CA DAO MƯỜNG – HÌNH ẢNH VCH)

 Nhân Ngày Của Mẹ, mời các bạn đọc lại bài ca dao của người Mường. Lời ru con đầy chất dân ca, chứa đựng cả một trời tâm sự của mẹ…

MƯỜI TAY

Bồng bồng con nín con ơi
Dưới sông cá lội, ở trên trời chim bay
Ước gì mẹ có mười tay
Tay kia bắt cá, còn tay này bắn chim
Một tay chuốt chỉ luồn kim
Một tay đi làm ruộng, một tay tìm hái rau

Một tay ôm ấp con đau
Một tay vay gạo, một tay cầu cúng ma
Một tay khung cửi guồng xa
Một tay lo bếp nước, lo cửa nhà nắng mưa
Một tay đi củi muối dưa
Còn tay để van lạy, để bẩm thưa, đỡ đòn
Tay nào để giữ lấy con
Tay nào lau nước mắt, mẹ vẫn còn thiếu tay
Bồng bồng con ngủ cho say
Dưới sông cá vẫn lội, chim vẫn bay trên trời

(Ca dao dân tộc Mường, Cầm Giang dịch)

From: taberd- & NguyenNThu


 

Sài Gòn có mưa lớn nhất 8 năm, khắp nơi ngập nặng, xe chết máy

Ba’o Nguoi-Viet

May 10, 2025

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Cơn mưa vào sáng 10 Tháng Năm kéo dài một giờ rưỡi với lượng nước đo được gần 230 mm được xác nhận là “lớn nhất từ năm 2018 đến nay” khiến nhiều nơi ở Sài Gòn ngập nặng, các loại xe chết máy nằm la liệt.

Hình ảnh do các báo trong nước đăng tải cho thấy tại những khu vực như phường Tam Bình (thành phố Thủ Đức), quận Bình Thạnh, nước ngập hơn nửa mét, qua thắt lưng người lớn, thậm chí một số nơi nước ngập quá nửa căn nhà, gây thiệt hại nhiều tài sản.

Chỉ còn xe buýt chạy được trên đường trong lúc xe hơi, xe gắn máy chết máy la liệt ở Sài Gòn do mưa lớn hôm 10 Tháng Năm. (Hình: VNExpress)

Phóng viên báo VNExpress mô tả, nước ngập tràn vào nhà, cửa hàng cạnh xa lộ Hà Nội và cả vùng ven như huyện Hóc Môn, Củ Chi, khiến nhiều người phải vất vả tát nước.

Nhiều chủ cửa hàng hoặc tiểu thương bán ở chợ phải căng nylon, dựng tấm ván, đắp đê ngăn nước ngập làm hư hỏng hàng hóa.

Trên nhiều tuyến đường ở Sài Gòn, nước ngập khiến xe hơi, xe gắn máy chết máy, trong lúc chỉ còn xe buýt chạy được.

Còn theo ghi nhận của phóng viên báo Tiền Phong, nhiều ống cống ở Thủ Đức xuống cấp, lại bị rác thải và bùn đất bít kín khiến nhiều khu vực trở thành “rốn ngập,” nước dâng cao đến ngực người lớn, mỗi khi xảy ra mưa to.

Nước ngập hơn thắt lưng người lớn hôm 10 Tháng Năm tại phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức, Sài Gòn. (Hình: Tiền Phong)

Ông Nguyễn Ngọc Huy, chuyên gia thời tiết, cho hay những ngày qua tại Sài Gòn có nắng nóng oi bức cùng “hiệu ứng đô thị,” khiến hơi ẩm bốc lên cao tích tụ rất nhiều.

Hiện tượng này kết hợp với “rìa của khối khí lạnh và khô hơn” ở trên tầng khí quyển hội tụ cực mạnh tạo nên “mưa dị thường” như trong hôm 10 Tháng Năm.

Chợ Thủ Đức nằm trong biển nước. (Hình: VNExpress)

Ngoài Sài Gòn, các tỉnh Đông Nam Bộ như Bình Dương, Đồng Nai cũng mưa lớn từ 100 đến 150 mm, gây ngập nặng ở các vườn trái cây, cô lập một số khu dân cư.

Ông Huy cũng đưa dự báo rằng từ nay đến ngày 14 Tháng Năm, tần suất mưa tại Sài Gòn và khu vực Nam Bộ sẽ gia tăng, người dân cần chuẩn bị ứng phó với hiện tượng gió giật mạnh, lốc xoáy, sấm sét hoặc mưa đá. (N.H.K) [qd]


 

KATYN: 70 NĂM DỐI TRÁ VÀ HÀNH TRÌNH HOÀN TRẢ SỰ THẬT LỊCH SỬ

Lê Thọ Bình

Một thảm sát âm thầm, bị quên lãng:

Mùa xuân năm 1940, tại những khu rừng tĩnh lặng Katyn gần Smolensk, Liên Xô đã hành quyết bí mật hơn 22.000 sĩ quan, trí thức và công chức người Ba Lan, những người bị xem là mối đe dọa tiềm tàng đối với quyền lực Xô viết ở phần lãnh thổ miền Đông Ba Lan mà Liên Xô vừa chiếm đóng.

Cuộc thảm sát do chính lãnh tụ Joseph Stalin phê chuẩn và được thực hiện bởi cơ quan mật vụ NKVD trong thời gian chưa đầy hai tháng.

Thế nhưng, suốt gần nửa thế kỷ sau đó, cả thế giới bị dẫn dụ vào một màn kịch tuyên truyền tinh vi khi thủ phạm thực sự, chính quyền Liên Xô, cố tình đổ lỗi cho phát xít Đức, kiểm soát truyền thông, tiêu hủy chứng cứ, và đàn áp bất kỳ tiếng nói nào dám đặt nghi vấn.

Hành trình để khôi phục sự thật về Katyn là một câu chuyện bi tráng của lịch sử, nơi những tài liệu mật chôn vùi trong hòm sắt của Đảng, những hồi ký nghẹn lời của người sống sót, và những cái chết oan khuất giữa ranh giới ý thức hệ, tất cả đã góp phần khắc họa một trong những tội ác chiến tranh bị che đậy lâu nhất trong thế kỷ XX.

Từ hiệp ước Molotov- Ribbentrop đến lệnh hành quyết của Stalin:

Ngày 23/8/1939, chỉ vài ngày trước khi phát xít Đức tấn công Ba Lan, Liên Xô và Đức đã ký Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau Molotov–Ribbentrop, kèm theo một nghị định thư bí mật phân chia Đông Âu thành hai vùng ảnh hưởng.

Hệ quả là vào ngày 17/9/1939, Hồng quân Liên Xô tràn vào miền Đông Ba Lan, bắt giữ khoảng 250.000 quân nhân, cảnh sát, trí thức và công chức Ba Lan.

Trong số này, hơn 22.000 người được chuyển về các trại tù như Kozelsk, Starobelsk, Ostashkov. Họ là những thành phần tinh hoa: sĩ quan quân đội, bác sĩ, luật sư, giáo sư đại học, những người, theo mắt nhìn của Stalin và Beria, không thể cải tạo, không thể sử dụng, mà chỉ có thể thủ tiêu.

Ngày 5/3/1940, Lavrenty Beria, người đứng đầu NKVD, gửi lên Bộ Chính trị đề xuất xử tử 25.700 tù nhân Ba Lan. Bản đề xuất ấy được Stalin, Molotov, Voroshilov, Mikoyan và Kalinin đồng loạt ký tên, ghi rõ: “Không xét xử. Không trì hoãn.”

Tài liệu này-,về sau được biết với tên gọi “Biên bản số 13”- là văn bản tử hình tập thể quy mô lớn hiếm hoi có chữ ký trực tiếp của Stalin.

Thảm sát diễn ra tại ba địa điểm chính: rừng Katyn (gần Smolensk), Kalinin (nay là Tver), và Kharkov. Các nạn nhân bị bắn vào sau gáy, thi thể chôn trong các hố tập thể kín đáo giữa rừng sâu.

Màn kịch tuyên truyền: “Đức là thủ phạm”:

Tháng 4 năm 1943, phát xít Đức công bố phát hiện các hố chôn tập thể tại Katyn sau khi chiếm được khu vực này.

Một nhóm điều tra quốc tế do Hội Chữ Thập Đỏ dẫn đầu, bao gồm các chuyên gia từ Thụy Sĩ, Croatia, và Thụy Điển, xác nhận thời điểm tử vong rơi vào năm 1940, khi Liên Xô còn kiểm soát khu vực.

Phản ứng của Liên Xô rất nhanh chóng: phủ nhận toàn bộ, khẳng định Đức mới là thủ phạm, và cắt đứt quan hệ ngoại giao với chính phủ Ba Lan lưu vong vì “theo lời địch”.

Liên Xô lập ra một Ủy ban “điều tra” riêng dưới sự chỉ đạo của học giả Nikolai Burdenko, thực chất là một cơ quan ngụy tạo, bóp méo thời gian, dựng lại chứng cứ giả để kết tội phát xít Đức.

Mọi nỗ lực của các học giả, nhà báo hay cựu chiến binh phương Tây muốn điều tra độc lập đều bị cấm cản hoặc vô hiệu hóa trong bối cảnh chiến tranh.

Sự im lặng kéo dài qua các đời Tổng bí thư:

Sau chiến tranh, vụ Katyn tiếp tục là một “vùng cấm”. Tại Tòa án Nürnberg (1946), Liên Xô cố gắng đưa vụ Katyn ra làm bằng chứng chống lại Đức, nhưng các thẩm phán quốc tế từ chối tiếp nhận vì nghi vấn lớn về tính xác thực.

– Dưới thời Nikita Khrushchev (1953–1964), dù khởi xướng phong trào phi Stalin hóa, ông vẫn không đả động gì đến Katyn.

Theo tài liệu từ hậu trường, Khrushchev đã tiếp cận được hồ sơ mật nhưng nhận thấy vụ việc quá nhạy cảm để công bố, đặc biệt trong bối cảnh Ba Lan là đồng minh thuộc khối XHCN.

– Leonid Brezhnev (1964–1982) tiếp tục chính sách che đậy. Các tài liệu lưu trữ về Katyn được đưa vào “Gói số 1”, hệ thống hồ sơ tuyệt mật chỉ vài người trong Bộ Chính trị được phép tiếp cận. Cơ quan tuyên truyền của Đảng thậm chí còn tổ chức sản xuất phim tài liệu “chứng minh” Đức là thủ phạm.

– Yuri Andropov (nguyên lãnh đạo KGB, Tổng bí thư 1982–1984) tiếp tục bảo vệ hệ thống dối trá này, ra lệnh kiểm soát các nghiên cứu lịch sử độc lập và ngăn chặn những tài liệu nước ngoài đề cập đến Katyn.

Từ Khrushchev đến Chernenko, ba thế hệ lãnh đạo Liên Xô đã đồng thuận trong sự im lặng: sự thật về Katyn không thể xuất hiện.

Gorbachev: Khi lịch sử trở thành cơn ác mộng:

Chỉ đến cuối thập niên 1980, dưới làn sóng cải tổ (Perestroika) và công khai (Glasnost) của Mikhail Gorbachev, hy vọng làm sáng tỏ vụ Katyn mới dần manh nha.

Trước áp lực của sử gia, báo giới và đặc biệt từ chính phủ Ba Lan thời hậu cộng sản, Gorbachev chấp thuận mở lại kho lưu trữ và cho phép kiểm tra “Gói số 1”.

Theo lời kể của Anatoly Chernyaev, cố vấn thân cận của Gorbachev, trong một phiên làm việc tại Kremlin năm 1989, khi Gorbachev lần đầu đọc “Biên bản số 13”, ông “rợn tóc gáy” và “lặng người rất lâu”. Ông nói: “Tôi không thể tin rằng người ta có thể ký cái này như ký một công văn hành chính.”

Năm 1990, Gorbachev chính thức công nhận rằng vụ Katyn do NKVD thực hiện, nhưng tránh nêu đích danh Stalin. Một phần sự thật đã được trả lại, nhưng vẫn thiếu điểm mấu chốt: ai ra lệnh?

Yeltsin và sự công bố muộn màng nhưng cần thiết:

Sau khi Liên Xô tan rã năm 1991, Tổng thống Boris Yeltsin kế nhiệm một di sản đầy dối trá.

Trong một hành động táo bạo và có ý nghĩa biểu tượng, ngày 14/10/1992, Yeltsin trao lại cho Tổng thống Ba Lan Lech Wałęsa bản sao tài liệu “Biên bản số 13”, có chữ ký của Stalin, Molotov và toàn bộ Bộ Chính trị, phê duyệt lệnh xử bắn 21.857 công dân Ba Lan.

Yeltsin phát biểu trong buổi lễ:

“Không có tương lai cho một đất nước che giấu quá khứ. Sự thật dù đau đớn đến đâu cũng phải được đưa ra ánh sáng. Đó là nghĩa vụ đạo đức của chúng tôi.”

Đây là lần đầu tiên chính quyền Nga thừa nhận bằng tài liệu chính thức rằng Stalin và nhà nước Liên Xô chịu trách nhiệm trực tiếp về vụ thảm sát Katyn.

Nghị quyết của Quốc hội Nga: Thừa nhận lịch sử, nhưng không đoạn tuyệt:

Phải đến tận ngày 26/11/2010, Quốc hội Nga (Duma Quốc gia) mới thông qua một nghị quyết chính thức công nhận vụ thảm sát Katyn là tội ác của chính quyền Stalin. Trong nghị quyết, Duma tuyên bố:

“Các tài liệu mật từ kho lưu trữ của Kremlin cho thấy rõ: vụ hành quyết hơn 22.000 công dân Ba Lan tại Katyn là hành động tội phạm có chủ đích, được thực hiện theo lệnh trực tiếp của Stalin và giới lãnh đạo Liên Xô.”

Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Nga phản đối dữ dội, cáo buộc rằng “các tài liệu có thể bị làm giả”, cho thấy việc đối diện với sự thật vẫn còn là quá trình đầy đau đớn và chia rẽ trong chính nội bộ nước Nga.

Katyn – dấu vết của sự thật và bóng tối của quyền lực:

Vụ thảm sát Katyn là tấm gương soi chiếu nhiều tầng lớp của lịch sử thế kỷ XX: từ sự tàn bạo của các chế độ toàn trị, sự ngoan cố của dối trá, cho đến sức mạnh không thể đảo ngược của sự thật.

70 năm sau thảm sát, chỉ đến khi hệ thống sụp đổ, sự thật mới được trả về với những người đã chết trong âm thầm.

Không chỉ là một vụ giết người hàng loạt, Katyn còn là một lời nhắc nhở: lịch sử có thể bị che giấu một thời gian, nhưng không thể bị vùi lấp vĩnh viễn. Và mỗi thế hệ đều có trách nhiệm giữ gìn, công bố và học hỏi từ sự thật ấy.

Bản đồ các địa điểm liên quan đến vụ thảm sát Katyn


TRÍCH ĐOẠN NỘI DUNG CHÍNH BIÊN BẢN SỐ 13:

(Dịch sang tiêang Việt)

Tuyệt mật

5 tháng 3 năm 1940

Ủy ban Nhân dân Phụ trách Nội vụ Liên Xô (NKVD)

Gửi đồng chí Stalin

Trong các trại tù binh và nhà tù ở các khu vực phía tây của Ukraine và Belarus hiện đang giam giữ một số lượng lớn cựu sĩ quan quân đội Ba Lan, cảnh sát, nhân viên tình báo, thành viên các đảng phản cách mạng, và những người khác. Tất cả đều là kẻ thù không thể hòa giải của chính quyền Xô viết.

Đề nghị:

1- Xét xử theo thủ tục đặc biệt, không triệu tập bị can, không đưa ra cáo buộc, và không ban hành phán quyết, đối với 14.700 người bị giam giữ trong các trại tù binh và 11.000 người bị giam giữ trong các nhà tù, với hình phạt tử hình bằng cách xử bắn.

2- Giao việc xét xử cho một “Troika” đặc biệt gồm các đồng chí Merkulov, Kobulov và Bashtakov.

Ký tên: L. Beria

Đã phê duyệt:

Stalin – Tán thành

Voroshilov – Tán thành

Molotov – Tán thành

Mikoyan – Tán thành

Ghi chú bên lề:

Kalinin – Tán thành

Kaganovich – Tán thàn

Основные источники:

(Các Tài liệu tham khảo chính)

1- Берия, Лаврентий. Меморандум Сталину, 5 марта 1940 г. Архив Президента Российской Федерации (Пакет №1).

2- Специальный комитет Палаты представителей США. Резня в Катынском лесу, 1952 г.

3- Черняев, Анатолий. Мои шесть лет с Горбачёвым, 1993 г.

4- Наумов В., Яковлев А. Лубянка — Сталин — Катынь: Особые папки, 1995 г.

5- Государственная Дума Российской Федерации. Резолюция о Катынском расстреле, 2010 г.

Tù binh Ba Lan bị Hồng quân bắt giữ trong cuộc tấn công Ba Lan


 

Những ‘người con’ của Trường Xuân sau nửa thế kỷ tha hương

Ba’o Nguoi-Viet

May 10, 2025

Trà Nhiên/Người Việt

MISSION VIEJO, California (NV) – Trường Xuân là tên con tàu cuối cùng rời cảng Sài Gòn ngày 30 Tháng Tư, 1975, chở theo hơn 3,600 người vượt biển đến bến bờ tự do. Trên chuyến hải hành nghìn trùng ấy, một hài nhi đã ra đời. Trên tàu còn có một thiếu niên 16 tuổi.

Trường Xuân và hàng ngàn “người con” dìu dắt nhau đến bến bờ tự do (hình trái) và tàu Trường Xuân chờ tàu Clara Maersk của Đan Mạch giải cứu. (Hình: Chiêu Anh Vũ-Lieberman cung cấp)

Giờ đây, sau hơn nửa thế kỷ tị nạn và thành danh nhưng trong tâm khảm của hai số phận vẫn mãi khắc khoải hai chữ “Trường Xuân.”

Vết lăn trầm

“Khoảng 2 giờ sáng 2 Tháng Năm, 1975, tôi chào đời trên tàu Trường Xuân giữa đại dương mênh mông. Mẹ tôi không có sữa cho con. Đôi mắt và rốn tôi bị nhiễm trùng, xương vai tôi bị gãy, vai cụp vô sau khi chú phi công dùng hai tay ôm chặt tôi để những người cứu hộ kéo chúng tôi từ tàu lên máy bay cứu hộ,” cô Chiêu Anh Vũ-Lieberman, “em bé Trường Xuân” năm nào tường thuật.

Lieberman là họ phu quân. Chữ Vũ được cô Chiêu Anh lấy từ tên bà ngoại khi cô ngoài 30 tuổi.

“Tôi đã có thể chết vô số lần…,” cô Chiêu Anh bồi hồi kể.

Ngày 27 Tháng Tư, 1975, bà Nguyễn Thị Mùi, mẹ cô Chiêu Anh, ôm bụng bầu chín tháng vào bệnh viện chờ lâm bồn, nhưng đến ngày 29 thì chồng bà báo phải di tản. Bác sĩ phân vân giữa hai lựa chọn là chích thuốc cho sinh sớm hoặc cứ để em bé trong bụng. Cuối cùng, gia đình nhất trí cứ để em bé nguyên trong bụng.

“Mẹ tôi ôm bụng bầu đi di tản cùng cha tôi và anh trai 2 tuổi vào ngày định mệnh ấy. Chúng tôi đến Tòa Đại Sứ Mỹ để đợi phi cơ, nhưng phi cơ không đáp được vì Cộng Sản nhắm bắn. Gia đình tôi trốn trong một chiếc tủ. Mẹ tôi nghe tiếng bước chân của Việt Cộng nên phải che miệng anh trai tôi. Cuối cùng, chúng tôi lên chiếc phi cơ khác. Mẹ tôi phải khệ nệ bụng bầu leo cầu thang dây để lên phi cơ,” cô Chiêu Anh thuật lại.

Gia đình bà Mùi bị lỡ chuyến tàu đầu tiên đưa đoàn người đi vượt biển vì họ đến trễ 10 phút, nhờ thế mà gia đình thoát được vì chiếc tàu ấy bị Cộng Sản bắt được.

Bà Mùi ôm cô Chiêu Anh khi mới lọt lòng cùng người con trai 2 tuổi sau khi được cứu từ tàu Trường Xuân. (Hình: Chiêu Anh Vũ-Lieberman cung cấp)

Như định mệnh, gia đình bà Mùi cùng hơn hàng ngàn mảnh đời leo lên tàu Trường Xuân. Sau hai ngày lênh đênh trên biển, bà Mùi trở dạ và “vượt cạn” giữa đại dương. Cô Chiêu Anh ra đời trong sự thiếu thốn trăm bề. Chỉ có một cây kéo để cắt dây rốn và nước biển được dùng để sát trùng.

“Chúng tôi sống được…, tôi sống được là sự nhiệm màu,” cô Chiêu Anh nhìn xa xăm nói. “Tôi tự hỏi vô số lần rằng tại sao lại là tôi?”

Khi trưởng thành, “em bé Trường Xuân” năm nào quyết tâm thu thập những mảnh ghép về sự ra đời của mình cũng như câu chuyện của quê hương. Cô lần dò được người ký giấy khai sinh ở trại tị nạn Hồng Kông là ông David Weeks. Cô cũng dốc lòng tìm đúng tọa độ hải phận để biết chính xác nơi mình chào đời. Nhờ Internet, cô cũng gắn kết được với gia đình vị phi công chở cô và gia đình đến bệnh viện lúc cô mới lọt lòng.

Năm 2010, cô tham dự “Đại Hội Trường Xuân Thế Giới,” buổi kỷ niệm những thuyền nhân của Trường Xuân sau 35 năm, được tổ chức tại Úc. Tại đây ban tổ chức đã tặng kỷ yếu “Hành Trình Tìm Tự Do – Trường Xuân – Journey to Freedom,” bao gồm những câu chuyện về các “người con” của Trường Xuân và gia đình của họ sau hơn ba thập niên tị nạn. Cô Chiêu Anh cũng đến dự sinh nhật mừng thượng thọ 95 tuổi của vị thuyền trưởng tàu Trường Xuân là ông Phạm Ngọc Lũy.

Cô Chiêu Anh Vũ-Lieberman (trái) cùng thuyền trưởng tàu Trường Xuân, ông Phạm Ngọc Lũy lúc sinh thời. (Hình: Chiêu Anh Vũ-Lieberman cung cấp)

Những mảnh ghép dần hình thành nhưng số phận thường trêu ngươi. Biến cố lúc gần sinh đã khiến mẹ cô Chiêu Anh bị tổn thương tâm lý dẫn đến việc cô con gái cũng bị ảnh hưởng. Cả gia đình, ai cũng mang “vết lăn trầm” với nỗi đau mất nước và cố gắng hòa nhập vào cuộc sống mới ở Canada, nơi gia đình cô được bảo lãnh. Duy chỉ có cha cô Chiêu Anh không thoát ra được vết thương tâm lý.

“Lúc tôi 8 tuổi, cha tôi để lại mảnh giấy rằng ông dẫn tôi và anh trai đi cắm trại, nhưng chúng tôi không bao giờ quay lại… Cha đã bắt cóc chúng tôi,” cô điềm tĩnh nhớ lại. Sau một năm, mẹ cô và cơ quan công lực mới tìm ra hai anh em cô.

“Chiến tranh đã qua đi, nhưng trong tâm trí cha tôi thì mọi thứ vẫn đang tiếp diễn,” cô nói. Trải qua “bao cuộc bể dâu,” và bao cơn “thập tử nhất sinh,” cô Chiêu Anh thành danh, trở thành nhà thiết kế thời trang.

Từng du học ở Paris, cô tốt nghiệp trường thiết kế danh giá Parsons School of Design ở New York City. Cô cũng được nhiều giải thưởng cao quý của ngành thời trang. Trước đó, cô nằm trong top 5% sinh viên khi tốt nghiệp trường Marianopolis College ở Quebec, Canada.

Hiện gia đình cô sống tại Mission Viejo, miền Nam California. Cô là một trong những lãnh đạo cấp cao của công ty nhu liệu Nogin. Cô cũng đang cho “ra đời” ứng dụng tư vấn tâm lý để hỗ trợ những người phải ngày đêm vật lộn với cơn khủng hoảng tâm trí.

“Em bé Trường Xuân” Chiêu Anh bên một mẫu thiết kế tâm huyết của mình. (Hình: Trà Nhiên/Người Việt)

Người di tản buồn

Trên chuyến hải hành của nửa thế kỷ trước cũng có một chàng trai 16 tuổi chưa hiểu sự đời nhưng đứng trước phận nước, anh đành thoái thác cho số phận. Đó là câu chuyện của tài tử Long Nguyễn. Tài tử này được biết đến qua các vai diễn trong các phim truyền hình Mỹ, nhưng nổi bật nhất là vai chính trong phim “Vượt Sóng” của đạo diễn Hàm Trần, tái hiện câu chuyện của những thuyền nhân và gia đình có thân nhân đi tù cải tạo.

Ông từng hai lần thắng giải Nam Diễn Viên Xuất Sắc Nhất cho phim “Vượt Sóng” tại Newport Beach Film Festival và cho phim “Vai Diễn Đổi Đời” tại Viet Film Fest – Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam Quốc Tế. Dù đã bay cao, bay xa với đam mê nghệ thuật nhưng ông Long vẫn luôn mang nặng nỗi niềm khi nhắc tới cái tên Trường Xuân.

“Có những mốc thời gian làm ta thay đổi, biến cố 1975 là cột mốc thay đổi nhận thức một con người,” tài tử Long nói. Tàu Trường Xuân từng rất nguy kịch khi bị nước tràn vào khoang, hết lương thực, hết nước uống, và cố gắng cầm cự trôi dạt trên Biển Đông cho đến khi được tàu Clara Maersk của Đan Mạch cứu, đưa người tị nạn đến Hồng Kông.

“Không chỉ riêng tôi mà ai phải bỏ quê hương ra đi trước thế sự cũng đều chịu tổn thương. Khi khổ đau quá, con người ta sẽ gồng lại, siết chặt tâm can, để tự vệ. Càng nhạy cảm thì càng bị đau,” ông Long trầm mặc. Như bao người tị nạn, chàng thanh niên năm ấy đè nén cơn đau để hòa nhập vào cuộc sống mới ở Mỹ. Khoảng năm 1980, ông học lấy bằng kỹ sư, nhưng theo ông, ngành này khiến ông bị “bí.”

“Cuối thập niên 1980, tôi loay hoay mãi không biết đời nên làm gì, vì sao mình ở nơi đây. Tôi bị bí từ tinh thần lẫn thể chất. Rồi tôi quyết định cho mình được tự do, thả lỏng cơn đau bị siết chặt ấy,” ông kể. “Tôi vượt qua sự tội lỗi để tâm trí được tự do ‘bay bổng.’”

Tài tử Long Nguyễn. (Hình: Trà Nhiên/Người Việt)

Năm 1985, ông lấy bằng cao học về nghệ thuật, trở thành họa sĩ. Ánh dương lại từ từ xuất hiện vì ông được tự do với đúng đam mê. Lúc đó, ông sống với các họa sĩ trong một khu nhà kho ở Oakland, miền Bắc California, mà ông đùa vui gọi là “khu nghệ sĩ.”

Hiện ông sống ở Huntington Beach, miền Nam California. Ông còn theo đuổi diễn xuất và kịch nghệ vì cảm thấy mình được tự do khi hóa thân vào các nhân vật. Song song với diễn xuất, ông vẫn “giữ lửa” với đam mê cầm cọ. Các tác phẩm nghệ thuật của họa sĩ Long Nguyễn được triển lãm ở các viện bảo tàng ở Oakland và các tiểu bang khác.

“Khi ở Việt Nam, tôi là người rất bảo thủ. Những mốc thời gian đã thay đổi tôi. Tôi giờ đây nhìn mọi việc thoáng hơn, tích cực hơn, không ghét hay trách móc ai cả. Mình phải bình an trước thì mới chia sẻ bình an cho người khác,” ông cười nói.

(Trà Nhiên) [qd]

—–
Liên lạc tác giả: nguyen.nhien@nguoi-viet.com

Con tàu định mệnh

Câu chuyện của cô Chiêu Anh và tài tử Long Nguyễn là hai trong vô số mảnh đời của hàng ngàn “người con” của Trường Xuân, và cũng chỉ là một phần định mệnh của hơn 1.5 triệu mảnh đời vượt biên khỏi cố hương, dắt dìu nhau đến Tự Do. Trường Xuân – con tàu của sự hãi hùng và hy vọng – đã chứng kiến cái chết của ba sinh mạng nhưng cũng là nơi hai sinh linh ra đời. Trường Xuân mãi là một phần lịch sử của người Việt tị nạn sau nửa thế kỷ tha hương nơi xứ người.


 

TT Nga đề nghị đàm phán trực tiếp với Ukraina, Kiev hoan nghênh « dấu hiệu tích cực » từ phía Matxcơva

  RFI

Tổng thống Nga Vladimir Putin không hồi đáp yêu cầu ngừng bắn 30 ngày, mà Ukraina và các đồng minh đưa ra hôm qua, 10/05/2025, nhưng trong cuộc họp báo tối hôm qua, ông Putin đã đề nghị nối lại các đàm phán trực tiếp Nga – Ukraina tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ.

Đăng ngày: 11/05/2025 

Tổng thống Nga Vladimir Putin phát biểu tại điện Kremlin ở Matxcơva, Nga, ngày 11/05/2025.

Tổng thống Nga Vladimir Putin phát biểu tại điện Kremlin ở Matxcơva, Nga, ngày 11/05/2025. © Sergey Bobylev/Host agency RIA Novosti/Handout via REUTERS

Trọng Thành|Chi Phương

Theo Reuters, tổng thống Nga không loại trừ việc hai bên đạt thỏa thuận về « một đợt ngừng bắn » mới với điều kiện đàm phán phải cho phép « loại bỏ các gốc rễ sâu xa của xung đột », để hướng đến « việc thiết lập một nền hòa bình bền vững ». Ông Putin cho biết sẽ trao đổi với tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan hôm nay, 11/05/2025, để chuẩn bị cho các đàm phán.

Về tuyên bố của tổng thống Nga, thông tín viên Jean-Didier Revoin từ Matxcơva cho biết cụ thể :

« Sau khoảng 20 cuộc họp song phương với lãnh đạo các nước tới Matxcơva dự lễ kỷ niệm ngày 09/05, Vladimir Putin đã có bài phát biểu dài 20 phút trước một nhóm các nhà báo Nga và nước ngoài được tuyển chọn. Đây là cơ hội để tổng thống Nga đưa ra đề xuất phản hồi lại đề xuất ngừng bắn 30 ngày do Kiev và các đồng minh phương Tây yêu cầu, nếu không sẽ phải chịu lệnh trừng phạt mới.

Ông Putin nói : ‘‘Chúng tôi đề nghị chính quyền Kiev nối lại không chậm trễ các đàm phán mà chúng tôi đã từng nỗ lực tiến hành với họ, tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, vào ngày 15/05 này, tại chính nơi mà các cuộc đàm phán trước đây đã từng diễn ra và bị gián đoạn.’’

Như vậy là phía Nga đề nghị đàm phán trực tiếp, nhưng không kèm theo ngừng bắn. Để biện minh cho việc từ chối ngừng bắn này, tổng thống Nga đã trích dẫn 5.000 vụ vi phạm lệnh ngừng bắn do Matxcơva đề xuất, về các cơ sở hạ tầng năng lượng, vào dịp lễ Phục sinh hay trong lễ kỷ niệm chiến thắng vừa qua. Điều rõ ràng nhất mà ta có thể thấy là tổng thống Nga đã bỏ ngoài tai các áp lực của phương Tây.

Ông Putin nói : ‘‘Chúng tôi đã đưa ra đề xuất. Câu trả lời bây giờ phụ thuộc vào chính quyền Ukraina và những người giám hộ họ. Tôi nhắc lại : Nga sẵn sàng đàm phán mà không cần các điều kiện tiên quyết’’.

Hiện tại vẫn phải chờ xem Kiev và Matxcơva thực sự sẵn sàng đàm phán về những gì. »

Quan điểm của Nga : Cần dựa vào dự thảo thỏa thuận Istanbul 2022

Reuters dẫn lại tuyên bố hôm nay, 11/05, của cố vấn chính sách đối ngoại điện Kremlin, Yuri Uchakov, theo đó quan điểm của Matxcơva là đàm phán cần tính đến các thay đổi trên thực địa, và dự thảo về thỏa thuận hòa bình Nga và Ukraina đã sơ bộ đạt được hồi 2022. Theo dự thảo mà Reuters tham khảo được, Ukraina phải chấp nhận quy chế trung lập vĩnh viễn để đổi lấy bảo đảm an ninh của năm thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An (Mỹ, Nga, Trung Quốc, Pháp và Anh).

Ukraina hy vọng Nga sẽ chấp thuận ngừng bắn 30 ngày

Sáng nay, tổng thống Ukraina Volodymir Zelensky hy vọng rằng Nga sẽ chấp thuận ngừng bắn 30 ngày kể từ thứ Hai, ngày 12/05, và Kiev sẵn sàng đàm phán trực tiếp với Matxcơva theo đề xuất của tổng thống Nga. Nguyên thủ Ukraina cũng cho rằng đây là dấu hiệu tích cực, cho thấy Nga đã bắt đầu xem xét việc chấm dứt chiến tranh.

Từ Kiev, thông tín viên Emmanuelle Chaze cho biết thêm thông tin :

« Trước đề xuất của tổng thống Nga, Ukraina và đồng minh trên thực tế, đã đề xuất với Nga một lệnh ngừng bắn toàn diện, vô điều kiện trong vòng 30 ngày kể từ thứ Hai và các cuộc giao tranh phải được chấm dứt trước bất cứ cuộc đàm phán nào về hòa bình.

Về phần mình, tổng thống Nga Vladimir Putin không đề cập đến lệnh ngừng bắn trong bài phát biểu của mình, mà thay vào đó đề xuất đàm phán trực tiếp với Ukraina, nhưng vẫn tiếp tục oanh kích Ukraina. Trong đêm qua, tại thủ đô Kiev, người dân có thể nghe thấy một số vụ nổ sau cuộc tấn công bằng drone. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron coi đề xuất của ông Putin là không thể chấp nhận được đối với Kiev và chỉ ra rằng Matxcơva vẫn luôn cố áp đặt điều kiện của mình, và điều này, về cơ bản trái ngược với đề xuất lệnh ngừng bắn vô điều kiện.

Về phía Hoa Kỳ, Donald Trump hôm nay nhận định rằng đó có thể ‘là một ngày quan trọng đối với Nga và Ukraina’, ngay cả khi Washington là bên đầu tiên đề xuất lệnh ngừng bắn 30 ngày từ tháng Ba vừa qua. Tổng thống Mỹ tin vào một giải pháp nhanh chóng đối với cuộc xâm lược của Nga. Trong khi đó, đại sứ Hoa Kỳ tại Kiev thì cảnh báo về nguy cơ Matxcơva đang chuẩn bị một cuộc không kích quy mô lớn nhắm vào Ukraina, trái ngược hoàn toàn với các mong muốn hòa giải từ Nga. »

Sau khi lệnh ngừng bắn ba ngày mà Matxcơva ban hành hết hạn, trong đêm qua, không quân Ukraina cho biết Nga đã tấn công bằng 109 drone shahed và các loại drone khác và 60 trong số đó đã bị bắn hạ. Còi báo động phòng không vang lên tại nhiều khu vực, đặc biệt là Kiev.