CHUYỆN… THỜI KỲ BAO CẤP!

No photo description available.

CHUYỆN… THỜI KỲ BAO CẤP!

Đây là một cái đơn viết ngày 22/2/1986, để xin phép chính quyền Thanh Hoá cho vận chuyển cái tủ gỗ cũ đi Hà Nội. Người viết đơn này cũng là chủ nhân của cái tủ cũ cam đoan rằng đây là cái tủ cũ và cho anh trai.

Những người chưa sống qua thời bao cấp thấy đây là chuyện hết sức kỳ quái. Chỉ là cái tủ cũ thôi mà chứ có phải hàng quốc cấm đâu, sao phải làm đơn từ khổ thế! Nhưng nếu đặt vào không gian thời bao cấp thì chuyện này hết sức bình thường.

Suốt thời kỳ bao cấp, những người lãnh đạo đất nước dựng lên những rào cản, cấm sự tự do lưu thông phân phối. Nhà nước quản lý hàng hoá và phân phối theo kế hoạch, kể từ hạt lúa, mét vải, cái kim sợi chỉ, quyển sách vở học trò, chiếc xe đạp, điếu thuốc lá, cái bát ăn cơm, con gà con lợn… Ai tự vận chuyển, bán những thứ do mình sản xuất được hoặc mua đều vi phạm luật của nhà nước, bị tịch thu hàng và phạt nặng.

Thậm chí, người con bị bệnh, mẹ muốn đưa con đi đến bệnh viện chữa trị cũng phải làm đơn xin phép chính quyền.

Sau này Chính phủ bỏ tình trạng đó và gọi là “Đổi mới”.

Đó là lý do tại sao ông em cho ông anh cái tủ cũ phải viết đơn cam đoan là tủ cũ của mình “cho” chứ không phải “mua bán” là như vậy.

ST/ Tv THANH LƯƠNG chuyển đăng

Bùi Giáng, Đại Lão Cái Bang

Bùi Giáng, Đại Lão Cái Bang

 

Vương Trùng Dương

(Đặc San Lâm Viên)

Lời Tác Giả: Bài viết Bùi Giáng, Ðại Lão Cái Bang cho Giai Phẩm Xuân Bính Tý (1996) của tuần báo Tình Thương của nhà văn Lâm Tường Dũ (hiền thê của anh, bà con với Bùi Giáng) gợi ý tôi viết bài nầy để có món quà kỷ niệm người anh vào tuổi thất thập. Nhờ tài liệu của anh Bùi Như Hải lưu trữ hỗ trợ cho bài viết.

 Sau khi Bùi Giáng qua đời (tháng 10 năm 1998) có nhiều bài viết cũng tựa đề nầy vì hình ảnh và cuộc sống cá biệt của ông tựa như nhân vật trong tác phẩm võ hiệp của Kim Dung trong Võ Lâm Ngũ Bá đến Anh Hùng Xạ Điêu… Bang chủ Cái Bang đời thứ 18 xuất hiện trong chốn võ lâm. “Lão ăn mày” ăn mặc rách rưới, võ công thâm hậu, thích rượu, lúc say, lúc tỉnh, khi tĩnh lặng, khi ồn ào náo nhiệt giữa đám quần hùng. Con người như vậy nhưng hành hiệp đạo nghĩa, bệnh vực kẻ yếu, trừ ác gian tà.  

Ở Sài Gòn, khi chính quyền ban hành “Sắc Luật 007” để kiểm soát báo chí, Hội Chủ Báo, Hội Ký Giả Việt Nam, Hội Ký Giả Nam Việt và Hội Ái Hữu Ký Giả xuống đường ngày 10/10/1974 “Ký Giả Đi Ăn Mày” tại Sài Gòn. Lợi dụng thời cơ, phần từ năm vùng, phản kháng, a dua bị gậy phản đối chính quyền. Từ đó, hình ảnh “cái bang” trở thành quen thuộc.

 Nay, với tuyển tập về Quảng Nam, dù 25 năm trôi qua (1996-2021) nhưng với nhân vật Quảng Nam nổi tiếng trong nhiều lãnh vực thơ văn, dịch giả và triết học: Bùi Giáng. Con người bất hạnh trong cuộc sống nhưng sáng tác của ông là gia tài quý báu trong dòng sinh mệnh văn học của miền Nam Việt Nam 

 — VTrD

 “Mùa xuân hẹn thu về em trở lại

Bên đời đi còn giữ mãi hay không

Giòng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại

Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng”

(Bùi Giáng)

Bước vào năm Bính Tý (1996), Bùi Giáng vừa tròn tuổi thất thập. Với cuộc sống lang bạt kỳ hồ, túi vải, chân đất, lang thang giữa chợ đời, gầm cầu, hè phố, dầm sương dãi nắng, bữa đói bữa no gần 4 thập niên, qua bao thăng trầm bệnh tật, vẫn còn sáng tác ở tuổi cổ lai hy, đó là một hiện tượng. Ông ký nhiều bút hiệu, trong đó có: Trung Niên Thi Sĩ, Thi Sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bàng Giúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng (truyện dịch Khung Cửa Hẹp, Hoàng Tử Bé)…

Trong sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật, Bùi Giáng để lại cho đời biết bao giai thoại từ trí tuệ đến con người, đó là một hiện tượng. Ngôn ngữ thi ca của Bùi Giáng là một hiện tượng. Tình yêu (nếu có) dù dơn phương cũng là hiện tượng. Chữ nghĩa, tư tưởng Bùi Giáng có sẵn trong đầu, khi yêu cầu bài viết, lấy giấy viết ngay. Hiện tượng Bùi Giáng.

Bùi Giáng, nhà giáo, dịch giả, nhà văn, nhà phê bình văn học, triết học nhưng đó chỉ là quán bên đường, người bạn tri kỷ tri bỉ: thi ca.

Ngược Dòng Thời Gian

Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại Vĩnh Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam. Thân phụ là ông Bùi Thuyên, thường gọi là Cửu Tý. Ông Cửu Tý thỉnh thoảng bị bệnh “điên” và khi “điên” thì làm bộ cưỡi ngựa bằng mo cau đi từ làng Trung Phước đến làng Cà Tang đọc thơ, làm câu đối thích chọc ghẹo cô gái cho vui. Ông Cửu Tý lấy người vợ kế Huỳnh Thị Kiền, sinh ra Bùi Giáng. Theo thứ tự trong gia đình, ông thứ sáu nên gọi là Sáu Giáng. Nhà thờ Tộc Bùi với gia phả ghi lại nơi đây và sau này có thêm ở Sài Gòn.

Năm 1933 bắt đầu đi học tại trường làng Thanh Châu với thầy Cù Đình Quý. Năm 1936 học ở trường làng Bảo An với thầy Lê Trí Viễn. Tiếp tục theo học tiểu học ở Hội An, Quảng Nam rồi sau đó chuyển sang học trung học ở Thuận Hóa, Huế. Năm 1945 đậu bằng Thành Chung (Văn bằng này thời đó gọi là Cao Đẳng Tiểu Học, tiếng Pháp là Diplôme d’Etudes Primaire Superieur Franco-Indigènes, còn gọi là Brevet Primaires, người Việt thường gọi là bằng Thành Chung, bằng Diplôme). Trong năm này, ông 19 tuổi, cưới vợ là bà Phạm Thị Ninh, gọi là Vãn Ninh, rất xinh, con ông bà Phán Trai ở Hội An.

Thời điểm nầy, tình hình biến động, ông đưa vợ về quê sinh sống, nhưng tai họa ập đến, vợ qua đời! Ông đau khổ, chán chường rời cố hương. Thiên tình sử của ông rất đặc biệt. Khi còn học ở trường Viên Minh, Hội An. Nữ sinh Phạm Thị Ninh, học sau ông một lớp, nổi tiếng xinh đẹp, quen biết nhau rồi cưới làm vợ tại Hội An. Năm 1945 gia đình bà Phạm Thị Ninh tản cư lên Trung Phước, ông đem vợ lên rồi mua một đàn dê để đi chăn. Ông nuôi dê để rong chơi và còn đặt tên cho mỗi con dê rất kỳ lạ.

Theo nhà thơ Tường Linh, học trò học tiếng Pháp của Bùi Giáng, vào một buổi sáng, trời mưa dầm dề, Bùi Giáng đang ở trên núi thì nghe tin vợ mình qua đời. Ông hốt hoảng chạy ra ngoài trời và vấp vào một gốc cây, ngã xuống bất tỉnh. Người vợ mà ông rất yêu thương, sau này ông thường gọi là “con mọi nhỏ”, bị bạo bệnh và mất vào năm 1952, lúc mới 26 tuổi. Ông thôi hẳn việc chăn dê, chia tay hẳn với cỏ hoa hồn du mục để xuôi về phố thị rộn ràng.

Năm 1950 ông đỗ Tú Tài II (Baccalauréat Deuxième Partie). Ông ra Liên Khu IV (Thanh Nghệ Bình Trị Thiên) theo học đại học nhưng khi nghe Viện Trưởng đại học đọc diễn văn, ông bỏ ý định theo học và theo đường núi Trường Sơn trở lại cố hương. Tháng 5 năm 1952, ông ra Huế thi lấy bằng tú tài tương đương cho hợp lệ.

Theo lời người bào đệ, cùng cha khác mẹ, ông Bùi Vịnh, trong ngày Hội Thi Văn & Tư Tưởng Bùi Giáng ngày 21 tháng 10 năm 1995 tại Majestic, Huntington Beach, California, Bùi Giáng “Có vợ vào lúc còn rất trẻ, sau năm 1945. Nhưng vì đi tản cư ở vào những nơi rừng thiêng nước độc, người vợ trẻ đã qua đời sau cơn bạo bệnh”. Ông chung tình chung nghĩa với “mộng ban đầu”, suốt nửa thế kỷ ôm vọng tưởng, điên loạn bởi “hồn nguyên tiêu” bao nhiêu hình ảnh mang dáng dấp của người tình muôn thuở vào cõi thiên thu, ngôn ngữ Bùi Giáng trở thành kỳ bí.

“Vào tháng Năm 1957, ông quyết định bỏ vùng Việt Minh trốn qua vùng Quốc Gia. Và tại Huế, ông thi lại bằng Tú Tài tương đương, rồi vào Sài Gòn, ghi danh vào đại học Văn Khoa. Cả lần này nữa, sau khi nhìn danh sách các giáo sư giảng dạy, ông đã quyết định chấm dứt việc học ở trường của mình tại đây. Ông bắt đầu viết khảo luận, sáng tác và đi dạy học ở các trường trung học tư thục…” (Bùi Vịnh).

Với dòng tộc Bùi lúc đó nổi danh với bác sĩ Bùi Kiến Tín, trưởng nam của ông Bùi Biên (ông Cửu Thứ) và bà Phan Thị Yến. BS Tín tham gia vào nội các của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm với chức vụ Bộ Trưởng Bộ Thông Tin (1954). Sau khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa được thiết lập, ông không tham chính và phục vụ trong quân đội với cấp bậc Y sĩ Trung Tá, sau đó giữ chức Y sĩ Trưởng Phủ Tổng Thống và Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống (1960). Bùi Giáng đã tham gia trong thời kỳ Việt Minh nhưng có lẽ “cái bóng” của người anh bà con nên chính quyền không theo dõi ông nhưng ông nhờ vả gì vào “cái bóng” để lập thân.

Ông có năng khiếu về ngoại ngữ, tinh tường về Anh, Ðức, Pháp và Hán văn, không biết ông theo học tiếng Ðức và tiếng Anh lúc nào nhưng khi nghiên cứu triết học Ðức, thơ văn Anh Mỹ, ông dịch và viết rất tài tình. Ông có trí nhớ kỳ lạ và “trí quên” rất độc đáo. Quên của ông cũng là hiện tượng và có lúc không biết gì cả, cùng với cử chỉ, hành động kỳ quái, người điên thời đại.

GS Vũ Ký, thầy dạy của ông, trong bài “Nhớ Về Ba Người Em Lỗi Lạc” trong Giai phẩm Quảng Ðà 94 “Từ năm 1943 ấy, Bùi Giáng thôi học ở Hội An, rồi lui về cố hương làm Tô Vũ mục dương ở Trung Phước, miền rừng núi xứ Quảng. Theo nhiều người cho biết, Bùi Giáng nghêu ngao làm thơ, ca hát, điên khùng suốt năm tháng. Lúc tôi gặp lại ở Sài Gòn thì Bùi Giáng đã nghỉ dạy học tư để cầm cọ bôi mực loay hoay vẽ tranh trong căn nhà lụp xụp ỏ ngõ hẻm Trương Minh Giảng và Bùi Giáng cũng vừa mới in xong mấy cuốn sách giáo khoa”.

“Với Tất Cả Bùi Giáng” của Trần Phong Giao, Bùi Giáng “Lập gia đình năm 18 tuổi, nhưng không được hưởng hạnh phúc bao lâu vì chiến tranh và nạn lụt đã cướp mất vợ và hai đứa con thơ của ông”.

Ðó là mốc thời gian tuổi niên thiếu của ông được đề cập qua ba người có liên quan với ông nhưng đã khác nhau. Theo sự ghi lại của “người thầy cũ và cũng là người anh” thiếu chính xác thời điểm quan trọng trong giai đoạn trong 9 năm “kháng chiến” đã ảnh hưởng sâu đậm trong cuộc đời Bùi Giáng. Ông tham gia “kháng chiến”, theo Việt Minh nhưng khi đụng chạm thực tế, ông ngán ngẫm, gặp bất hạnh trong tình yêu, tâm hồn điên loạn…

Sau 3 năm “chia cắt” đất nước, phân ranh Quốc/Cộng, ông mới chọn lựa quyết định ranh giới giữa 2 miền. Bài thơ “Nỗi Lòng Tô Vũ” của ông đã ghi “Kỷ niệm một đoạn đường mười năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt”.

Không bao giờ muốn và để ai đề cập “tiểu sử”, theo ông “Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây ly kỳ, và chết đi giữa cỏ cây ly kỳ, gay cấn”. Và hai câu thơ của ông: “Người điên mang một nỗi buồn. Chưa bao giờ biết cội nguồn từ đâu” để trả lời với tha nhân. Tuy nhiên, công việc của nhà nghiên cứu văn học cần phải tìm hiểu chính xác, nhìn lại Văn Học Việt Nam, ông là khuôn mặt đặc biệt trong văn giới. Từ tuổi thơ đến thời điểm “tam thập nhi lập” (1926-1956) trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, nỗi đau tột cùng trong tình yêu. Vì vậy, trước năm 1975, nhiều cây bút viết về tư tưởng, thơ văn Bùi Giáng nhưng không đề cập về “tiểu sử” nên có nhiều nghi vấn cùng với giai thoại quanh ông.

Tháng 5,1973, Mai Thảo và Nguyễn Xuân Hoàng của tờ Văn thực hiện “Số báo đặc biệt về thiên tài thi ca Bùi Giáng”, 10 câu hỏi của Nguyễn Xuân Hoàng về Bùi Giáng có tính cách khác lạ và cả hai cùng hỏi và nói “Chuyện rong chơi”. Nhận định thơ văn của ông với Thanh Tâm Tuyền, Nam Chữ, Trần Tuấn Kiệt, Tuệ Sĩ… Với ông, sáng tác chẳng có liên quan gì với tiểu sử, trong thơ đã chứa đựng đoạn đường trải qua.

Có nhiều tác phẩm đã đề cập đến ông, điển hình như Cao Thế Dung với Văn Học Hiện Ðại: Thi Ca & Thi Nhân; Năm Sắc Diện, Năm Ðịnh Mệnh của Du Tử Lê; Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay của Tạ Tỵ; Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại của Trần Tuấn Kiệt…

Sau tháng Tư năm 1975, cái bang Bùi Giáng với nhiều giai thoại và mỗi giai thoại nói lên cái điên, cái tỉnh trong cảnh khốn cùng của xã hội. Một Bùi Giáng quằn quại, một Bùi Giáng ngông nghênh, một Bùi Giáng vào tù ra khám… và một Bùi Giáng cuồng sĩ bất khuất.

Tác Phẩm

Gần hai thập niên ở Sài Gòn, tác phẩm của ông với số lượng đáng kể:

  • Sách Giáo Khoa, Luận Đề:
    • Bà Huyện Thanh Quan, 1956
    • Lục Vân Tiên, 1956
    • Chinh Phụ Ngâm & Quan Âm Thị Kính, 1956
    • Truyện Kiều & Truyện Phan Trần, 1957
    • Cung Oán Ngâm khúc, 1957
    • Nguyễn Công Trứ, 1957
    • Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, 1958
    • Phan Bội Châu, 1958
    • Chu Mạnh Trinh, 1958
    • Tôn Thọ Tường & Phan Văn Trị, 1958…
  • Sách Dịch:
    • Cõi Người Ta của Saint-Exupéry, 1966
    • Trăng Tỳ Hải của Albert Camus, André Gide, Martin Heidegger, 1966
    • Khung Cửa Hẹp của A. Gide, 1966
    • Hoa Ngõ Hạnh của Shakespeare, 1966
    • Bạo Chúa Caligula của Albert Camus, 1967 – 1974
    • Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh, 1967
    • Ngộ Nhận của A. Camus,1967
    • Con Người Phản Kháng của A. Camus, 1968
    • Mùa Hè Sa Mạc của A. Camus , 1968
    • Kẻ Vô Luân của A. Gide, 1968
    • Orphélia Hamlet của Shakespeare, 1969
    • Hòa Âm Ðiền Dã của A. Gide, 1969
    • Sương Bình Nguyên của các tác giả Âu Mỹ, 1969
    • Hoàng Tử Bé của Saint-Exupery, 1973
    • Mùi Hương Xuân Sắc của Gerald de Narval, 1974…

Ông dịch rất thoáng, có khi không theo nguyên tác mà theo ý văn để diễn đạt. Còn sáng tác thơ tặng tác giả. Ông dịch Kim Kiếm Ðiêu Linh của Ngọa Long Sinh để học thêm chữ Hán. Tác phẩm Nhà Sư Vương Lụy của nhà văn Trung Hoa, nhà sư tên là Tô Mạn Thù (Su Manshu), Bùi Giáng dịch từ nguyên tác, Quế Sơn xuất bản năm 1969. (Có bản dịch sang tiếng Anh The Lone Swan của Geoege Kin Leung

  • Sáng Tác:
    • Thơ: Mưa Nguồn, 1962
    • Ngàn Thu Rớt Hột, 1962
    • Bài Ca Quần Ðảo, 1962
    • Lá Hoa Cồn, 1963 – Màu Hoa Trên Ngàn, 1963
    • Sa Mạc Trường Ca, 1969
    • Rong Rêu, 1970
    • Ðêm Ngóng Trăng, 1972…
  • Biên Khảo, Tạp Văn, Tùy Bút:
    • Tư Tưởng Hiện Ðại, 3 quyển, 1960 & 1962
    • Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Ðại, 2 quyển, 1963
    • Sao Là Không Có Triết Học Heidegger, 1969
    • Ði Vào Cõi Thơ, 1969
    • Thi Ca Tư Tưởng, 1969
    • Sa Mạc Phát Tiết, 1969
    • Sương Bình Nguyên, 1969
    • Trăng Châu Thổ, 1969
    • Mùa Xuân Trong Thi Ca, 1969
    • Thúy Vân, Tam Hợp Ðạo Cô, 1969
    • Mùa Thu trong Thi Ca, 1970
    • Biển Ðông Xe Cát, 1970
    • Ngày Tháng Ngao Du, 1971
    • Ðường Ði Trong Rừng, 1972
    • Lời Cố Quận, 1972
    • Lễ Hội Tháng Ba, 1972
    • Con Ðường Ngã Ba, 1973…

Năm 1965 nhà ông bị cháy làm mất nhiều bản thảo của ông. Năm 1969 ông “bắt đầu điên rực rỡ” nhưng được các nhà xuất bản in nhiều tác phẩm nhất. Sau đó, ông “lang thang du hành Lục Tỉnh”, trong đó có Long Xuyên, Châu Đốc… cho thỏa ý nguyện. Thầy Thanh Tuệ, giám đốc nhà xuất bản An Tiêm, rất thân với Bùi Giáng và lo ấn hành tác phẩm. Nói đến Bùi Giáng, con người nhập tâm Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du. Có lần ông dạy Việt Văn, khi đề cập đến Thúy Kiều bán mình chuộc cha, ông khóc nức nở. Ngay trong tác phẩm viết về triết học, ông cũng dẫn chứng tư tưởng đó có trong thơ Kiều. Và, trong các tác phẩm Âu Châu qua bản dịch của ông cũng thấp thoáng “hồn Nguyễn Du”. Với những tác phẩm được ấn hành, tuy có nhiều tiền tác quyền nhưng ông “thú vui kẻ sĩ” không lưu giữ, “nướng” cho thú vui trong lối sống giang hồ bạt mạng trên đường phố…

Năm 1970, Bùi Giáng phải đưa vào chữa trị ở nhà thương điên Biên Hòa. Khi vào bệnh viện ông đối đáp với bác sĩ nên không biết đâu là “trí óc rối loạn”. Và trong năm đó, ông đã cho in Biển Đông Xe Cát và Mùa Thu Trong Thi Ca. Kế tiếp với những tác phẩm cho đến năm 1973… (Theo người bạn thâm niên Bùi Như Hải thì dòng họ anh có vài người bị bất thường “điên” nhưng chỉ khoảng thời gian nào đó thôi, và thường tái phát vào mùa hè, trời nóng bức).

Sau biến cố tang thương năm 1975, Bùi Giáng điên nặng. Cái điên vì thời cuộc của ông “hành khất Cái Bang” được ghi lại với nhiều giai thoại. Vừa điên vừa khôn trong “bức tranh vân cẩu” vừa thương ông vừa nể phục. Từ đó, Bùi Giáng sống lang thang bên lề xã hội!.

Người điên Bùi Giáng cũng bị nhốt 3 tháng ở trại giam Gia Ðịnh. Ông bất chấp tất cả. Ông gọi mày tao khi bị hỏi cung, thản nhiên với thức ăn “cặn bả” của con người mà không bị nhiễm trùng. Thế rồi, tháng ngày sau đó, theo Phạm Xuân Ðài “Cuộc sống của anh tại Sài Gòn hiện nay là của một cuồng sĩ, khi thì thu mình trong túp lều của anh tạ một khu vườn bên Gia Ðịnh, khi thì lang thang vô định trong cơn điên… Ði lang thang hàng chục cây số bất kể nắng mưa, múa may la hét suốt mấy ngày liền, kẻ lực sĩ chưa chắc đã làm được”. Thế nhưng “Bùi Giáng như một ngọn lửa cháy liên tục mấy mươi năm nay trong thế giới thơ ca – của anh và của chúng ta. Ngọn lửa có khi thu lại thành một đám nhỏ, có khi bùng lên dữ dội, có khi bị gió bão lắt lay, nhưng vẫn là nguyên một ngọn lửa ấy từ đầu cho đến bây giờ”.

Hình ảnh ông già tuy mới năm mươi lúc đó, mặc quái dị, đủ màu sắc, đeo đủ thứ, tóc tai dài phủ ót, rối bù, mang kính cận thị nặng, cầm một cái gậy múa may quay cuồng trên đường…

Nơi nào ông xuất hiện, đám đông vây quanh, nhất là trẻ con bu quanh “diễn viên Cái Bang” náo nhiệt. Ông xuất thần với những câu thơ, được truyền tụng lại, thật hư không biết nhưng cái điên của ông mới bạo gan chửi chế độ như vậy. Từ đó “Cái Bang 9 túi” lang bạt suốt hai thập niên. Bất kể mưa nắng, màn trời chiếu đất, thân xác gầy còm… thế mà sống thọ qua tuổi thất thập.

“Có hôm gặp ông ngoài đường. Ông mặc quân phục chế độ cũ, lon lá huy chương đầy mình. Mọi người sợ hết hồn, vì thời gian ấy các sĩ quan chế độ cũ phải lên đường đi học tập cải tạo kẻ nào trốn cũng khó thoát khỏi lưới tình báo nhân dân” (Nguyễn Thụy Long – Giữa Đêm Trường).

Ông cũng tự giải thích:

“Tôi điên là bởi tôi điên

Cầm tay cô hỏi cho phiền lòng nhau

Tôi điên từ trước đến sau…”

(Bùi Giáng, “Thơ Bùi Giáng, hải ngoại 1990”)

Sống chết với ông như lời tự nguyện:

“Hãy mang tôi tới giữa đời

Giết tôi chết giữa cõi đời mốc meo

Hãy mang tôi tới nắng chiều

Giết tôi chết giữa một chiều khe nương”

(Sa Mạc Trường Ca, 1969)

Tại hải ngoại, có 3 tuyển tập về thơ Bùi Giáng sáng tác vào sau năm 1975:

  • Thơ Bùi Giáng, năm 1990, nhóm Việt Thường ở Canada thực hiện, gần 200 bài thơ.
  • Thơ Bùi Giáng, Thế Kỷ 1994, Phạm Xuân Ðài thực hiện, gồm 106 bài thơ.
  • Thơ Bùi Giáng, California 1995, Bùi Vịnh & thân hữu thực hiện, gồm 81 bài thơ, tranh bìa “Thiếu Nữ” do Bùi Giáng vẽ.

Suốt 4 thập niên, Bùi Giáng đã cống hiến cho đời, cho nền Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam thật nhiều tác phẩm gồm đủ mọi thể loại. Một con người không có nơi nương tựa ổn định, thể chất gầy gò, bệnh tật, tâm tính lúc bình thường khi điên loạn mà tạo dựng “kho tàng quý báu” cho Văn học Việt Nam, điều rất lạ, không thể hiểu được.

Ngôn Ngữ & Cuộc Sống

Gần gũi, tiếp xúc với Bùi Giáng, mỗi lần, có thể nói giai thoại về ông, thương mến, cảm quý con người tài hoa nhưng sống đầy khổ hạnh.

Viết về Bùi Giáng, với Mai Thảo: “Bùi Giáng chất ngất một trời chữ nghĩa, Bùi Giáng trùng trùng một biển văn chương… Sự hình thành một tác phẩm nơi Bùi Giáng cuối cùng vẫn còn là một bí ẩn hoàn toàn trong cái vùn vụt, cái bất tuyệt thao thao, cái chớp mắt đã là của nó… Bùi Giáng đã đem lại cuộc đời biết bao nhiêu châu ngọc. Bằng tài thơ trác tuyệt. Bằng ngôn ngữ ảo diệu, không tiền khoáng hậu. Có ông, thi ca mới đích thực có biển có trời. Từ ấy, thi ca mới không cùng không tận”. 

Thế mà, chân dung, đời sống của nhà thơ “Mái tóc ông đổi màu. Mấy chiếc răng cửa bị gãy, nụ cười vừa trẻ thơ vừa móm mém. Cặp mắt sâu hoắm xa khuất dần với mọi hình hài thực tế… Ông ấy chỉ còn da bọc xương trong quần áo thùng thình, mái tóc dài đạo sĩ, cái túi vải còn thêm cây gậy… Có lúc thấy nói ông đeo một xâu chuỗi toàn giày dép và quần áo phụ nữ quanh cổ như một vòng gai quái dị, đám con nít reo hò chỉ chỏ người điên, người điên. Có khi nghe thấy, ông ẩn lánh ở ngôi chùa vùng ngoại ô thành phố, ăn chay niệm Phật cả ngày không nói”. Bùi Giáng cũng tạo được một cái lạ mà theo tôi là một cái ngang…

“Trần gian lắm kẻ không cơm áo

Mà con thờ thẩn cứ nhìn trăng.”

Bùi Giáng có cái giọng bạt đó và cái giọng bạt đã ảnh hưởng vào âm vận của thơ Giáng” (Uyên Thao – Thơ Việt Hiện Ðại).

Nhà giáo Vũ Ký, vị thầy của bộ ba Bùi Giáng, Tạ Ký, Nguyễn Thùy từ lúc ở cố hương đến khi cùng làm thấy giáo tại Sài Gòn, viết nhiều giai thoại về Bùi Giáng, một Bùi Giáng thông minh, tài hoa, điên khùng, lang bạt… một Bùi Giáng với tình yêu ảo tưởng trong thơ văn và một Bùi Giáng lãng mạn với bóng hồng ở tuổi 60. Không hiểu vì cơn gió nào, bỗng nhiên có hai cô, một cô là ÐNLH (giáo viên trung học, người Huế) và một cô là HHTV, cháu của nhà văn Cung Giũ Nguyên xách đồ đạc đến nhà Thùy ở luôn 2 tháng. Thùy là bạn học, đồng hương với Bùi Giáng, thường gặp gỡ nhau. (Bùi Giáng, Tạ Ký và Nguyễn Thùy gặp nhau thì “Quảng Nam hay cãi” tuy bất đồng nhưng không bất hòa, rất chân tình, quý mên nhau). Thế rồi cô LH “Lại rất mến trọng Giáng, thường la cà với Giáng tại nhiều quán cà phê, nhiều lúc tình tứ khiến mọi khách trong quán rất ngạc nhiên”. Ðó cũng là một hiện tượng, thử tưởng tượng hình ảnh Ðại Lão Cái Bang ăn mặc rách rưới kỳ dị lại song bước cùng bóng hồng tuổi còn đôi mươi, tâm tình với nhau.

Bùi Giáng sống trong cảnh khốn cùng của tuổi già mà ông tự chọn vì không muốn liên lụy với người thân muốn lo cho ông. Khi tuổi già sức yếu ông đành tá túc tại nhà người anh em chú bác (Bùi Võ) tại Bình Thạnh, người thân lo chu đáo cho ông nhưng không thích bị gò bó trong nhà trước khi qua đời sau khi bị đột quỵ (stroke), sau những năm tháng sống “điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang” (chữ của Bùi Giáng). Thế nhưng, hơn hai thập niên ở trong nước đã có vài bài viết về ông với hình ảnh con người điên loạn, con người phản kháng sống bên lề cuộc đời! Những tác phẩm của ông bị chôn vùi theo thời gian trong cuộc sống tuổi già nhưng thơ văn của ông với người Việt hải ngoại vẫn giữ thế đứng trong nền Văn Học của đất nước. Văn Chương, Nghệ Thuật của ông như một cõi trời bao la, khác xa với tư tưởng của người cầm bút theo giáo điều chủ trương “hiện thực xã hội”!

Dẫn chứng vài cây bút tượng trưng viết về ông ở trên cho thấy con người của ông bất thường, đời sống của ông bất định, nay đây mai đó, ngôn ngữ của ông có lúc thật huyễn hoặc, kỳ bí, lúc thật bình dị, nhẹ nhàng, lúc thanh lúc tục. Quan niệm sáng tác của ông “chơi mà thôi”, chẳng có gì bận tâm, chẳng có gì để bàn. Cuộc đời của ông ở giữa trần thế chỉ là Ngày Tháng Ngao Du, rong chơi, ung dung tự tại.

Trước kia, Thượng Tọa Thích Minh Châu dành cho ông căn phòng ở đại học Vạn Hạnh, ông chỉ để sách vở rồi rong chơi đầu đường xó chợ, gặp đâu ngủ đó bất kể nắng mưa, đêm ngày. Sau này, thân nhân lo cho ông túp lều trong vườn ở Gia Ðịnh, căn phòng nhỏ trên lầu ở đường Trần Quang Diệu Sài Gòn, ông để đó, rong chơi dưới gầm cầu Công lý, vỉa hè.

Với ông, tư tưởng triết học của M. Heidegger, Nietzsche, thi ca của Holderlin, Walt Whitman, Emily Dickinson… Văn chương Pháp của A. Gide, St Exupery, A. Camus, văn chương Anh của Shakespeare… Ông chọn lựa và chuyển ngữ rất linh động, tài tình. Cuộc đời của ông điên, tỉnh, ông đã đề cập trong tác phẩm, tình yêu huyễn hoặc thấy bàng bạc trong thơ văn. Tư tưởng triết học, tư tưởng cao siêu của con người, theo ông, đều có đề cập trong Kiều của Nguyễn Du. Với Bùi Giáng, Truyện Kiều là một thứ “mê hồn trận thị phi”. Bùi Giáng tôn thờ Nguyễn Du và M. Heidegger như “thánh nhân tư tưởng”. Tác phẩm Martin Heidegger & Tư Tưởng Hiện Ðại dày hơn một nghìn trang là một công trình biên khảo triết học từ năm 1963, còn xa lạ với bộ môn nầy ở miền Nam VN. Đôi lần tôi hỏi anh Trần Văn Nam, sau khi tốt nghiệp cử nhân giáo khoa Triết Học Tây Phương, vừa đi dạy, tiếp tục với luận án cao học về Hiện Tượng Luận từ quan niệm của Husserl được thay đổi bởi M. Heidegger, anh nói bộ môn nầy rất nhức đầu nhưng cũng từ tác phẩm của Bùi Giáng nên anh chọn đề tài cho luận án.

Sức sáng tạo của ông rất kỳ diệu. Như một tay võ công tuyệt luân khi xuất chiêu liên tục bất tận. Trong một đêm, ông viết cả trăm trang cho một tác phẩm. Gặp ông, hỏi thơ để đăng, ông sáng tác ngay tại chỗ, viết như đã nhập tâm từ trước.

Với năng khiếu về ngoại ngữ và cách học của ông, chọn tác phẩm để học, đọc, tra cứu. Biết hết chữ nghĩa của tác phẩm là biết được ngôn ngữ nước đó. Vì vậy, khi tìm hiểu M. Heidegger, ông học tiếng Ðức mới hiểu được tư tưởng. Văn chương Pháp, Anh, ông chuyển dịch từ nguyên tác. Chuyển ngữ lại từ tác phẩm được chuyển ngữ (không nguyên bản) thì không còn thoát được cái ý của nó. Chẳng hạn thi phẩm Ngàn Thu Rớt Hột của ông nghe rất văn chương bóng bẩy, đó là “hình ảnh cứt dê” bao năm ông gần gũi với nó trên núi rừng. Làm sao chuyển ngữ thoát được cái âm điệu, hình ảnh bóng bẩy đó được, hay thi phẩm “Lá Hoa Cồn”, ẩn ngữ bí hiểm.

“Bây giờ đành chịu chia xa

Em vào hang núi tôi ra hố ngàn

Gửi linh hồn lại nhân gian

Ôi người Hải Ngoại ôi nàng Phương Tây”.

(Bây Giờ Còn Lại – Lá Hoa Cồn, 1963)

Có lần Huy Tưởng, nhà thơ Tam Kỳ, Quảng Nam, gặp và hỏi chơi với ông chuyện chăn dê có thi phẩm “rớt hột”, nghe nói ông có chăn bò ở quê đúng không? – Đúng! Đúng? đúng với cái đầu của họ. Rồi cười thoải mái, xem như hỏi chơi, nghĩ chơi, đáp chơi rồi thôi.

Nguồn thơ của ông dạt dào, bất tận, ông viết nhiều về hình ảnh ở quê hương, ở núi rừng Trung Việt. Ðiều bắt gặp trong thơ của ông với chữ Kim ở đầu. “Người tình trong thơ” Kim Novak, Kim Cương. Ngài ra với vài hình bóng các cô Kim… thấp thoáng:

“Ôi phương cảo! Ôi Kim Liên

Cảo thơm Kim Thúy diện tiền Kim Hoa!

Ôi Kim Ngọc! Ôi Kim Nga

Chắc gì mai hậu mà ra phụ lòng”.

(Ra Hoa)

“Tuy nhiên hồn mộng chan hòa

Ðầu tiên Kim Thúy, Kim Hoa thập thành

Cuối cùng thừa thượng Kim Thanh

Ði về vô tận tập thành Kim Liên

Kim Nga, Kim Ngọc diện tiền

Ðầu sương cuối tuyết thần tiên bấy chầy”.

(Cuối Ngày Em Ði)

Ông lang thang với thời gian quá dài cho một đời người, xem cuộc sống nhẹ như tơ hồng, xem cuộc đời ảo thật, thật hư, thế gian đảo điên nhưng đôi lúc tìm trong thơ ông mới cảm nhận được nỗi thống khổ thiết tha cho mối tình đầu đời đã hoài công tìm lại:

“Chắp tay tôi lạy ông trời

Tìm người yêu giúp giùm tôi một lần”

(Tìm Em)

Khi làm kẻ chăn dê và hình ảnh nơi cố hương được mô tả qua dòng thơ rất tuyệt:

“Ðồi tăm tắp chạy về ôm chân núi.

San sát đồi phủ phục quấn núi xanh.

Chiều xuống rồi tơ lòng rộn ràng rối.

Trời núi đồi ngây ngất nhảy dê nhanh

Thôi từ nay tha hồ em mặc sức

Nhảy múa tung sườn núi vút giòng khe

Thôi từ nay tha hồ em mặc sức

Vang vang lên đồi núi giọng be be”.

(Nỗi Lòng Tô Vũ)

Và, trong khung cảnh đó, ông bày tỏ nỗi niềm cùng hình ảnh người yêu:

“Em nhớ hay không hồn hòa dại cỏ

Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya

Vàng cao gót nai đầu truông hãi sợ

Gió cây rung trút lá mộng tan lìa”

(Nỗi Lòng Tô Vũ)

Ông lấy hình ảnh Tô Vũ đời Hán Vũ Ðế, đi sứ sang Hung Nô bị giữ lại và đày đi chăn dê gần hai thập niên. Vì vậy, nỗi lòng Tô Vũ là nỗi lòng của kẻ lưu đày giữa chốn trần gian.

Hình ảnh người vợ, người tình ban đầu, yêu thương say đắm, đã vĩnh viễn ra đi để lại cho ông nỗi thống khổ với tình, với thủy chung hình bóng cũ:

“Em chết bên bờ lúa

Ðể lại trên đường mòn…

… Ðêm cuồng mưa khóc điên

Trăng cuồng khuya trốn gió…

… Anh đi về đô hội

Ngó phố thị mơ màng

Anh vùi thân trong tội lỗi

Chợt đêm nào gió bờ nọ bay sang”

(Bờ Lúa – Mưa Nguồn, 1962)

“Miền cát lạnh chân lạc đà bé bỏng 

Bóng hình em tơi tả dưới trăng rằm”.

(Người Xưa – Mưa Nguồn)

Chỉ có Bùi Giáng và duy nhất chỉ có ông mới gọi những “bóng hồng” bằng mẹ. Hiện hữu hay ở phương trời xa xôi. Ông ngông đến thế, bỡn cột hay lòng thành kính, huyễn hoặc với ngôn ngữ thi ca, cũng là hiện tượng.

Phùng Khánh và Phùng Thăng là hai dịch giả nổi tiếng qua vài tác phẩm văn học, Phùng Khánh là ni sư giữa thập niên 60. Ông ngưỡng vọng hai dịch giả này:

“Mẹ còn nhớ nữa con chăng

Mẫu thân Phùng Khánh con hằng chẳng quên

… Phùng Thăng mẹ chớ xui nên

Từng cơn điên dại khôn đền cho con”…

“Con thương Phùng Khánh vô ngần

Phùng Thăng thân mẫu cũng gần như nhiên”…

Có lúc Bùi Giáng gọi là mẫu thân Phùng Khánh, có lúc gọi là Trí Hải ni cô. Cùng lúc với Marilyn Monroe, Kim Novak, Kim Cương nương tử… nên ông yêu điên cuồng, nguyện làm đệ tử của thần ái tình.

Nhưng có khi ông coi mình như vị vua với người tình:

“Trẫm ghé thăm em

Một bận này

Mai sau Trẫm sẽ

Nhớ hôm nay

Một lần Trẫm ghé

Thăm em thế

Suốt một bình sinh

Trẫm nhớ hoài”…

(Trẫm Ghé Thăm – Lá Hoa Cồn)

“Trẫm nhớ em như 

Nhớ một người 

Rất gần mà cũng 

Rất xa xôi”…

(Trẫm Nhớ Em – Lá Hoa Cồn)

Bất hạnh trong tình trường, ông rong ruổi trong nỗi bất hạnh đó qua ngôn ngữ bằng thơ, văn, bằng trái tim rướm máu, bằng tài hoa lỗi lạc của Bùi Giáng và có lẽ duy nhất với cái tên Bùi Giáng.

“Văn thơ cùng tư tưởng của Bùi Giáng đi vào lịch sử văn học đất nước, đánh dấu một giai thoại về Bùi Giáng sống cùng những cái ‘điên loạn, ngông khùng’ của Bùi Giáng, cũng sẽ được nhắc nhở hoài trong văn chương, văn học” (GS Vũ Ký). Phải hiểu con người Bùi Giáng mới cảm nhận được ý thơ, văn và tư tưởng của ông, ông sáng tạo lúc tỉnh, ngao du lúc động để mãi mãi đi tìm hình ảnh xa thẳm, mịt mù! Hồn thơ luôn luôn chất chứa trong Bùi Giáng, bất luận ngày đêm, gặp đối tượng khơi động, dòng thơ tuôn trào. Tâm hồn Bùi Giáng chu du, mộng mị khắp bốn phương trời để “thơ và giai nhân” kết tinh thành “thiên cổ lụy” ngất ngây, nồng nàn, say đắm hòa cùng điên dại trong ngôn ngữ thi ca. Viết về bản thân, ông phơi bày cái tốt, cái xấu, khi tỉnh, khi điên… nhưng mọi người vẫn quý mến, thán phục tài năng của ông.

Với thi ca, nó nhập vào trái tim, tâm hồn, định mệnh ông khi điên, lúc tỉnh, khi hoan lạc, lúc khổ đau… Ý thơ, hồn thơ, chất thơ… của Bùi Giáng nếu đề cập không đơn giản qua bài viết, cũng vài trăm trang sách.

Một hình bóng, suốt cả cuộc đời trôi nổi với hệ lụy khổ đau, một nhân tài không bao giờ có được mùa xuân nhưng với tâm hồn thanh thoát, ông không quan tâm mọi người nhìn ông với đầu tóc bù xù, áo quần tả tơi, kỳ quái trên đường phố… mà tự bản thân ông cho mình rong chơi trong cõi ta bà mộng mị với “Ngày Tháng Ngao Du”…

Khi còn sống ở giai đoạn cuối đời, Bùi Giáng bị bỏ quên từ con người đến tác phẩm ở trong nước. Khi ông qua đời, nhiều người “làm văn tế ruồi” như Kim Cương với “nước mắt cá sấu” được báo chí tung hê. Tình đời là vậy! Bùi Giáng bỏ lại bao mối tình đơn phương cô độc để trở về với người vợ năm xưa nơi cố hương, vĩnh viễn bên nhau nơi cõi thiên thu.

Vương Trùng Dương

(1996 – viết thêm khi Bùi Giáng mất 1998)

Lần đầu tiên một cô gái Việt đạt danh hiệu ‘Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia’ Mỹ

Lần đầu tiên một cô gái Việt đạt danh hiệu ‘Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia’ Mỹ

May 21, 2021 

Trà Nhiên & V.Giang/Người Việt

SACRAMENTO, California (NV) – “Danh hiệu Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia là cách mà em kể câu chuyện chính mình, rằng người Việt không hẳn chỉ là người tị nạn mà chúng ta còn luôn ‘vươn lên’ tại đất nước này. Câu chuyện của chúng ta cũng đáng được kể.”

“Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia” Alexandra Huỳnh ví Việt Ngữ như những áng thơ. (Hình: Alexandra Huỳnh cung cấp)

Đó là tâm sự của Alexandra Huỳnh, cô gái gốc Việt đầu tiên được trao tặng danh hiệu Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia (National Youth Poet Laureate) năm 2021, với phóng viên nhật báo Người Việt vào chiều Thứ Sáu, 21 Tháng Năm.

Tổ chức văn học nghệ thuật và phát triển Urban Word, vốn thành lập chương trình nhà thơ trẻ quốc gia vào năm 2017, cùng với trung tâm Kennedy Center loan báo việc cô Alexandra Huỳnh được chọn để trao danh hiệu Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia năm nay. Trong vai trò này, cô sẽ viếng thăm học sinh các trường trung học và sẽ có các buổi hội thơ trên khắp nước Mỹ. Cô Alexandra từng nói rằng một trong những điều cô muốn thực hiện được là phổ biến các kinh nghiệm của chính mình đến những người khác.

Cô Alexandra, 18 tuổi, là người Mỹ gốc Việt, thế hệ thứ nhì, sống tại thành phố Sacramento, thủ phủ tiểu bang California. Cô cũng là tân sinh viên của đại học Stanford University.

Trong cuộc phỏng vấn qua điện thoại dành cho phóng viên nhật báo Người Việt, cô Alexandra Huỳnh nói rằng đối với cô thơ cũng là một khí cụ để giúp đối phó với các thách đố của đời sống.

“Em tự hào vì em có thể đại diện người Việt trẻ nhận được vinh dự này ở ‘đấu trường’ văn thơ Hoa Kỳ,” cô Alexandra nói.

Cô cũng cho biết thêm: “Tiếng Việt tự nó đã là ngôn ngữ giàu chất thơ.”

“Trong văn hóa Việt Nam, em cảm thấy thể như chúng ta đàm đạo thơ trong đời sống hằng ngày,” cô chia sẻ.

Thể hiện cảm xúc qua những vần thơ là cách cô thi sĩ trẻ Alexandra Huỳnh bộc lộ bản thân. (Hình: Alexandra Huỳnh cung cấp)

Nhà thơ trẻ bộc bạch rằng, cô đã bắt đầu viết lời các bài hát từ khi 7 tuổi, và thực sự ưa thích làm thơ khi vào trung học, nhất là sau khi đã đọc thơ trước công chúng và cảm thấy sức mạnh của chữ nghĩa khi được trình bày.

Ông Aaron Brown, thầy giáo và là cố vấn hội nhà thơ ở trường trung học của cô Alexandra, cho biết một số bài thơ của cô đã làm ông xúc động.

“Thơ của Alexandra không ‘khuôn mẫu’ cũng chẳng ‘xa hoa,’ mà nó đậm khí chất khi được tác giả thể hiện với phong thái bình tĩnh và an nhiên,” ông Brown kể lại.

“Cô bé này có một khả năng độc đáo là chạm đến các ‘sợi dây’ cảm xúc của con người và kết nối chúng lại để tạo thành sự thấu hiểu lay động tâm can,” ông Keith Carmona, giáo viên dạy văn của Alexandra, cho biết.

Cô cũng tiết lộ rằng ông ngoại cô cũng là một nhà thơ.

“Cách nay hai năm, khi em thắng giải nhì trong cuộc thi thơ đầu tiên em tham gia ở trường Mira Loma High School, lúc đó mẹ kể rằng ông ngoại chính là thi sĩ Duy Năng,” cô cười nói.

Cô tự hào vì mình có thể ‘kế thừa’ tố chất thơ văn của ông ngoại, rằng “cứ như thể thơ đã chảy  trong máu vậy,” Alexandra cho biết.

Thơ là cách cô tân sinh viên chuyển hóa cảm xúc của mình. Bao “hỉ, nộ, ái, ố” đều được cô bày tỏ qua những vần thơ.

“Làm thơ là cách em chấp nhận thực tại (reality) và cũng là cách thể hiện một thực tại khác (fantasy) cho bản thân,” cô Alexandra giải thích.

Cô Alexandra Huỳnh (phải) trong lần biểu diễn tại cuộc thi thơ “Sacramento Area Youth Speaks” năm 2019. (Hình: Alexandra Huỳnh cung cấp)

Cô được chọn trong bốn nhà thơ vào chung kết, đại diện cho bốn khu vực, để được trao danh hiệu vốn đã lần đầu tiên được trao cho nhà thơ Amanda Gorman. Gorman được cả thế giới biết đến hồi Tháng Giêng năm nay, sau khi đọc bài thơ của cô tại buổi tuyên thệ nhậm chức của Tổng Thống Joe Biden, và trở thành niềm khích lệ cho cô Alexandra.

Cô Alexandra nói sự kiện cô Gorman được đón nhận nhiệt thành đã thay đổi điều cô nghĩ về những gì một nhà thơ có thể đạt được, giúp cô có những ước mơ lớn hơn.

Cô tốt nghiệp trung học hồi năm ngoái và tạm nghỉ một năm trước khi vào trường đại học khóa mùa Thu tới đây.

Cô Alexandra dự định theo học ngành kỹ sư để học thêm về “sustainability,” hướng đến môi trường xanh, sạch, và tiết kiệm tối đa các tài nguyên.

Những lúc “xa rời” thơ văn thì cô Alexandra thích nướng bánh và làm thiện nguyện. Cô là thành viên của The Farmlink Project, một tổ chức bất vụ lợi cung cấp thực phẩm cho người nghèo từ các nông trại.

Cô cũng đam mê làm thí nghiệm khoa học và hiện là nghiên cứu viên của trường đại học UC Davis.

Thêm vào đó, Alexandra nêu tên Ocean Vương và Diana Khôi Nguyễn là hai nhà thơ trong số những người cô ngưỡng mộ, và cũng bày tỏ hy vọng là sẽ có tác phẩm để được ấn hành và rồi chuyển dịch sang Việt Ngữ, “ngôn ngữ mẹ đẻ” của cô. [qd]

—–

Liên lạc tác giả: nguyen.nhien@nguoi-viet.com

Luật sư: ‘Thầy mo Qanon’ và người bạo loạn tin Trump đều bị ‘tâm thần’

Luật sư: ‘Thầy mo Qanon’ và người bạo loạn tin Trump đều bị ‘tâm thần’

May 21, 2021 

WASHINGTON, DC (NV) – Chánh Án Liên Bang Roy Lamberth, địa hạt Washington, DC, hôm Thứ Sáu, 21 Tháng Năm, ra lệnh khám nghiệm thẩm định tâm thần cho ông Jacob Chansley, biệt danh “Thầy mo QAnon,” người đội nón có hai sừng thú tham gia cuộc bạo loạn tại Quốc Hội, theo Reuters.

Trước đó, Luật Sư Albert Watkins, đại diện cho “Thầy mo QAnon,” viết đơn xin tòa trả tự do với lập luận rằng thân chủ, hiện đang bị giam vì tham gia bạo loạn tại Quốc Hội ngày 6 Tháng Giêng, và những người đồng cảnh ngộ đều có vấn đề “tâm thần.”

Luật sư đại diện xin tòa trả tự do cho “Thầy mo Qanon” (giữa) vì thân chủ cùng những người đồng cảnh ngộ đều có vấn đề “tâm thần.” (Hình: Saul Loeb/AFP via Getty Images)

“Đây là những người có não bị tổn thương,” vị luật sư viết trong đơn gửi tòa (link: https://storage.courtlistener.com/recap/gov.uscourts.dcd.225845/gov.uscourts.dcd.225845.12.0_6.pdf).

Luật Sư Watkins cho rằng những người tham gia bạo loạn rất “đáng thương. Họ không phải là thành phần xấu xa,” theo nhật báo Washington Post.

“Họ hành động như vậy” vì bị “tuyên truyền” tẩy não, cách chưa từng thấy, kể từ thời Adolf Hitler, lãnh tụ Phát Xít Đức, ông Watkins lý giải.

Đây là nỗ lực mới nhất nhằm cứu thân chủ khỏi trại giam của Luật Sư Watkins sau nhiều đơn xin với những lý do như “Thầy mo” đến Quốc Hội theo lời tuyên truyền kích động của cựu Tổng Thống Donald Trump.

Ông Watkins cũng gửi thư kêu gọi cựu tổng thống ân xá cho thân chủ trước khi mãn nhiệm, tuy nhiên ông trách cứ nhà tỷ phú đã “phản bội” lòng tin của người ủng hộ khi tên của “Thầy mo” không nằm trong danh sách ân xá.

Ông Chansley được cả thế giới chú ý với hình ảnh một người cởi trần, mũ lông thú có hai sừng, cầm một ngọn giáo dài 6 foot có gắn lá cờ Mỹ đứng bên trong tòa nhà Quốc Hội hú vang và sau đó ngồi vào chiếc ghế chủ tịch Thượng Viện của cựu Phó Tổng Thống Mike Pence vào ngày 6 Tháng Giêng.

“Thầy mo” Chansley hiện đang bị truy tố với các cáo buộc: Xâm phạm trái phép vào khu vực cấm, đánh cắp tài sản công, dùng bạo lực xâm nhập và có hành vi mất trật tự tại tòa nhà Quốc Hội. (MPL) [qd]

Chuyện chỉ có ở Việt Nam cộng sản

Chuyện chỉ có ở Việt Nam cộng sản.

Trịnh Đình Thi, Trưởng phòng Tư Pháp 1 huyện thuộc tỉnh Hưng Yên tốt nghiệp Đại Học trước khi tốt nghiêp Trung Học… 6 năm.

Hình trên: Bằng Tốt Nghiệp Đại Học (Cử Nhân Luật) 20/04/1999 của Trịnh Đình Thi.

Hình dưới: Bằng Tốt Nghiệp Trung Học Phổ Thông 01/09/2005 của Trịnh Đình Thi.

Quỷ Ám

Quỷ Ám

Tưởng Năng Tiến

 Nhà báo Chu Vĩnh Hải vừa gửi đến độc giả xa gần một status ngắn, tóm lược về cuốn Lenin A New Biography (của Dmitry Volkogonov) với dăm ba tình tiết tuy không có gì “thú vị” nhưng khá bất ngờ :

“Phân tích những tài liệu chưa từng được xuất bản trước đó, Volkogonov cho rằng rõ ràng lãnh tụ giai cấp vô sản trên thực tế rất khác với chân dung huyền thoại mà những người cộng sản tôn vinh. Một số trong những minh chứng cho kết luận đó là:

– Sắc lệnh của Lenin về phá hủy hơn 70.000 nhà thờ Chính thống giáo.
– Vào lúc cuối đời, Lenin đã yêu cầu cho xyanua để tự vẫn.
– Lenin đã đồng ý nhượng hàng triệu km vuông lãnh thổ, khi Đức đe dọa chiếm đóng Nga nhằm duy trì quyền lực bằng bất cứ giá nào.
– Đáp lại cuộc tấn công xảy ra năm 1918 nhằm vào ông, Lenin đích thân ra lệnh hành quyết hàng nghìn đối tượng … Cuộc ‘thanh trừng Đỏ’ đó được Stalin tiếp tục cho đến khi ông này qua đời với kết quả là hàng triệu người đã bị thiệt mạng.
– Lenin đã ủng hộ việc lập ra GULAG, phát triển hệ thống lao động cưỡng bức và quyết định đuổi trí thức cũ ra nước ngoài, gọi những người này là ‘cứt’ ….

‘Thật khó để ngờ rằng Vladimir Lenin đã cố gắng phấn đấu trao tặng hạnh phúc và sự phồn vinh cho toàn thể mọi người, hoặc chí ít là cho lực lượng mà ông gọi là giai cấp vô sản. Tuy nhiên, giờ đây chúng tôi hiểu rằng để xây dựng cái gọi là hạnh phúc đó, ông coi việc đổ máu, sử dụng bạo lực và tiêu diệt tự do là hành động hoàn toàn hợp pháp’, tác giả Volkogonov kết luận.”

Kết luận như trên e có phần hơi hời hợt. Từ Việt Nam, nhà báo Nguyễn Thông có nhận định thấu đáo hơn: “Với người cộng sản, nhất là những ông trùm như Karl Marx, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông… thì cách mạng phải sắt máu, quyết liệt, một mất một còn, đổ máu hy sinh. Đã cách mạng là phải đánh nhau, giết chóc.”

Dù Hồ Chí Minh chưa đạt tầm mức quốc tế, so với những nhân vật thượng dẫn (và số nạn nhân của Bác cũng còn hơi ít ỏi) nhưng xét về bản chất thì sự dã man và tàn độc của Người – đối với đám dân Việt – cũng chả kém cạnh chi ai.

“Trong những điều khoản của Hiệp định Genève 1954 không nói đến lực lượng tập kết là thiếu nhi, học sinh, nhưng với tầm nhìn chiến lược, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn một số con em cán bộ, gia đình chính sách… đưa ra miền Bắc.” (“Bác Hồ Ươm Mầm ‘Hạt Giống Đỏ” Cho Cách Mạng Miền Nam.” Vietnamnet 12 May 2020).

Sau khi “nướng” gần sạch đám  trẻ con này, Bác và Đảng liền kiếm ngay “mớ” khác – vẫn theo như nguyên văn lời của tác giả Vũ Thị Kim Yến :

“Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, dự báo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể còn kéo dài, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị quyết định tiếp tục đưa con em cán bộ, chiến sĩ miền Nam ra Bắc đào tạo. Hàng chục nghìn con em từ 9-10 tuổi và đồng bào miền Nam đã lội bộ vượt Trường Sơn đầy máu lửa ra Bắc, ngược đường với các đoàn quân của miền Bắc nườm nượp chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.”

Nhà báo Việt Hoài Tuổi Trẻ Online cho biết thêm chi tiết :

“Từ 1954-1974, đã có ba đợt đưa các em ra Bắc với qui mô lớn: 1954-1955: đưa ra theo con đường tập kết, chủ yếu bằng tàu biển; 1960-1964: đưa ra qua đường công khai đi Campuchia, từ Campuchia bay về Hà Nội; 1968-1972: đi bằng đường giao liên vượt Trường Sơn. Suốt 21 năm cho đến ngày đất nước thống nhất, gần 30.000 học sinh miền Nam – những núm ruột của miền Nam đau thương, ngoan cường, bất khuất – đã được những nếp nhà, vòng tay của các bà mẹ, người cha, các thầy cô giáo miền Bắc nâng niu đùm bọc.”

 Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh!

Tình cảm của Người dành cho giới phụ nữ Việt Nam cũng bao la và đậm đà không kém :

“Tập kết theo nguyên tắc: Đưa ra Bắc hạng trai trẻ có thể làm việc đắc lực và sản xuất giỏi cùng hạng có uy tín có khả năng; bỏ lại trong Nam hạng lão nhược có thể làm một gánh nặng cho quốc gia. Cố ý gây phân ly chia cách, làm thế nào để mỗi gia đình đều có kẻ đi người ở.

Gấp rút tạo thêm nhiều liên hệ giữa thành phần tập kết ra Bắc và dân chúng Miền Nam: đặc biệt là tổ chức những đám cưới cấp tốc khiến cho hàng chục vạn binh sĩ và cán bộ Việt cộng ra đi bỏ lại trong Nam bấy nhiêu cô vợ trẻ, có những cô chỉ ăn ở với chồng được đôi ba hôm. Bấy nhiêu cô vợ trẻ và gấp đôi gấp ba chừng ấy cha mẹ già cùng cô cậu chú bác v.v… là một lực lượng đáng kể. Bằng chính sách tập kết và gây liên hệ này, cộng sản cưỡng bức một số người về sau phải làm nội tuyến cho chúng…

Như vậy, cuộc chiến hiện nay không hề khởi đầu từ những bất mãn chống một chế độ độc tài gia đình trị, không hề khởi đầu từ sau việc chính quyền Sài Gòn từ chối cuộc tổng tuyển cử 1956, không hề khởi đầu từ ngày khai sanh mặt trận nọ mặt trận kia.

Cuộc chiến này xuất hiện ngay từ những cuộc liên hoan chia tay giữa kẻ ở người đi trong thời hạn 300 ngày tập kết, những cuộc liên hoan có hát có múa, có bánh trái tiệc tùng… Nó xuất hiện ngay từ những đám cưới vội vã sau ngày đình chiến, những đám cưới lắm khi tổ chức tập thể, do trưởng cơ quan, trưởng đơn vị chủ tọa. Nạn nhân đầu tiên của cuộc chiến này không phải là những kẻ ngã gục vào 1958, 1959, mà là những cô gái tức khắc biến thành góa bụa từ 1954. (Võ Phiến.“Bắt Trẻ Đồng Xanh.” Tạp Chí Bách Khoa Oct. 1968).

Hiệp Định Geneve, cũng như Hiệp Định Paris, đối với Bác và Đảng – rõ ràng –  đều chỉ là một mớ giấy lộn. Tổng Tuyển Cử (1956) hay Đình Chiến (1973) cũng thế. Hoà bình là từ ngữ không hề có trong tự điển của những người cộng sản. Họ nhất định phải nhuộm đỏ hết cả nước VN (bằng mọi giá và mọi cách) thì mới thoả lòng.

Cứu cánh biện minh cho mọi phương tiện. Phương tiện ở đây không chỉ là sinh mạng của hằng triệu thanh niên trai trá́ng mà còn là những vành khăn tang trên đầu góa phụ, và vô số những mảnh đời thơ ấu (bị thẳng tay cướp đoạt) của đám nhi đồng nước Việt.

Dù vậy, số nạn nhân của chiến tranh giải phóng (tại Việt Nam) vẫn không đáng kể – nếu so với cuộc Cách Mạng Tháng Mười. Sự dị biệt cần phải nêu ra ở đây là chính phạm ở Nga đã bị nhận diện nhưng kẻ thủ ác ở nước ta thì vẫn ở trong tình trạng tại đào.

Hôm 21 tháng 4 năm 2020, BBC cho hay: “Nhiều quốc gia từng thuộc Liên bang Xô Viết đã tháo bỏ tượng Lenin khỏi các nơi công cộng.” Cũng trên diễn đàn này, một nghị sĩ Nga, bà Natalya Poklonskaya nhắc lại lời kêu gọi … đã đến lúc cần đưa thi hài Lenin khỏi Quảng Trường Đỏ.

Cũng cùng thời điểm này, vào năm 2020, giới truyền thông VN vẫn đồng loạt đưa tin :

Bao giờ mà những tội đồ của một dân tộc vẫn còn được sùng kính (cho dù là sự sùng kính giả tạo chăng nữa) thì đất nước khó mà tránh cảnh lầm than!

Tưởng Năng Tiến
5/2021

Đấu tranh bất bạo lực và hòa giải vì công lý và hòa bình

Đấu tranh bất bạo lực và hòa giải vì công lý và hòa bình

Bởi  AdminTD

Ngô Văn Hiếu

21-5-2021

Tổng thống Biden nói chuyện với dân biểu Rashida Tlaib (bên trái – người Mỹ, gốc Palestine) và dân biểu Debbie Dingell ngày 18/5/2021. Nguồn: Doug Mills/NYT

Đấu tranh vì nhân quyền, công lý và bình đẳng từ trong lòng đồng đảng của mình đã bắt Tổng thống Biden phải đứng lại, lắng nghe, đối thoại, và ngỏ lời ngưỡng mộ bà dân biểu Rashida Tlaib (đảng Dân chủ, bang Michigan). Bà là người sanh tại Mỹ, có gốc Palestine ở Trung Đông.

Trong tám phút tổng thống Biden trò chuyện với dân biểu Rashida Tlaib, người Mỹ gốc Palestine duy nhất trong Quốc hội, ông Biden nói: “Tôi ngưỡng mộ sự thông minh của cô, tôi ngưỡng mộ niềm đam mê của cô và tôi ngưỡng mộ sự quan tâm của cô đối với rất nhiều người khác. Và cảm ơn cô, một người tranh đấu“.

Tổng thống Biden là một người vốn có lập trường mạnh mẽ ủng hộ Do Thái, nhất là quyền tự vệ của quốc gia Do Thái, ở Trung Đông. Ông và người Mỹ nói chung, ủng hộ chủ trương hai nước Do Thái và Ả Rập Palestine đồng sống chung, nhưng lập trường của bà Tlaib thì chủ trương một đất nước “Do Thái Palestine” tựa như kiểu Nam Phi, nghĩa là một nước cộng hòa dân chủ pháp trị, ai cũng bình đẳng, và được tôn trọng nhân quyền và dân quyền.

Thật ra, theo chủ trương nào cũng bất lợi cho Do Thái bởi vì ngoài sự mạnh mẽ trong việc điều hành và bảo vệ đất nước “của dân tộc Do Thái ở Trung Đông”, đặc biệt là vùng gọi là nước Israel (gồm Canaan, Tel Avi, Galilee, và Nazareth) cũng như sự hỗ trợ của Âu Mỹ, người Do Thái ở vùng từng được gọi là Levant (giữa sông Jordan và Địa Trung Hải) vẫn là thiểu số. Đó là chưa nói đến cả khối Ả Rập, Ai Cập, và Ba Tư (Iran) ở chung quanh.

Giả như vùng Levant này được thành lập và theo dân chủ như Nam Phi, thì dân Do Thái sẽ trở thành thiểu số như người Da Trắng ở Nam Phi. Còn chia ra làm 2 – 3 nước như hợp thức hóa hiện trạng là Israel, Gaza (Hamas), West Bank (Fatah), v.v… thì ngoài việc các nước thuộc dân Palestine này sẽ được công pháp quốc tế bảo vệ còn có sự bình đẳng của dân chúng ở Israel. Vấn đề là sự chia rẽ giữa Gaza và West Bank sẽ vừa làm lợi cũng như hại cho Do Thái.

Sau khi Do Thái hòa giải được với Ai Cập, họ còn hòa giải với Thổ, Ả Rập Saudi, Jordan, Qatar, v.v… ngoại trừ Iran và Syria cũng như chính người Palestine tại Do Thái, Tây Ngạn, và nhất là dải Gaza. Dân Palestine trong vùng Trung Đông và Iran xét ra là hai đối tác hiện nay Do Thái và Âu – Mỹ cần hòa giải nhất.

“Thần y” Võ Hoàng Yên, lỗi tại ai?

“Thần y” Võ Hoàng Yên, lỗi tại ai?

Bởi  AdminTD

Đoàn Bảo Châu

22-5-2021

Mấy năm trước tôi có stt về “hiện tượng Võ Hoàng Yên” và đã nhận được không ít gạch đá. Khi một đám đông đang trở nên cuồng tín thì tiếng nói thật của một vài cá nhân sẽ chìm nghỉm yếu ớt như đá ném ao bèo.

Tôi viết ở đây không chỉ để nói về Võ Hoàng Yên mà muốn cộng đồng hãy cảnh giác với tất cả những bậc thầy đang khoác những cái áo cao siêu, huyền bí trước công chúng. Một chỉ dấu có thể nhận thấy một người thầy có chân chính hay không là cách ông ta ứng xử với đồng tiền. Với người “đắc đạo” và có năng lực thì đồng tiền ít khi là mục đích.

Người dân thấp cổ bé họng bao giờ cũng là những người thiệt thòi nhất trong một xã hội đầy đạo đức giả, đầy những kẻ khoác trên mình một cái áo lộng lẫy hay nghiêm cẩn của cán bộ, thầy cúng, sư sãi.

Trước hết, hãy nói về sự phi lý trong phương pháp của Võ Hoàng Yên. Ai đã từng tìm hiểu về não bộ con người, về thần kinh học sẽ thấy ngay sự phi lý. Mỗi một chức năng nói, nghe, nhìn, điều khiển cơ bắp, phản xạ có điều kiện đều là một chuỗi liên hệ của mấy chục tỉ, thậm chí toàn bộ cả 90 tỉ tế bào nơ ron. Một người bị câm, điếc, liệt thì có nghĩa cả một mảng não, hay cả tỉ tế bào nơ ron đã chết, hay đường truyền tín hiệu giữa các nơ ron về một chức năng nào đấy đã bị hỏng, vậy tại sao mấy cái véo tai, vặn đầu, vặn cổ lại có sức mạnh thần thánh để là sống lại cả tỉ tế bào đã chết, cả mảng não đã hỏng như vậy?

Chỉ có mấy trường hợp là các diễn viên được sắp đặt cho những clip quảng cáo, hay ồ, à ngọng nghịu để tán thưởng sự hò reo của dám đông với hy vọng làm thế sẽ được thầy chữa trị và tiến triển trong tương lai, hay đơn giản là đau thấy ông bà ông vải khi bị tra tấn thì phải rên lên mà thôi.

Nhưng câu hỏi quan trọng cần đặt ra là tại sao lại có “hiện tượng Võ Hoàng Yên” và khi cả một cộng đồng bị lừa thì trách nhiệm thuộc về ai? Trách nhiệm này thuộc bộ y tế. Khi thấy một hiện tượng như vậy, các vị lãnh đạo ngành y tế phải lập ra một uỷ ban để xác minh tính chân thực của một phương pháp, chỉ khi được kiểm chứng, có giấy phép mới được hành nghề. Nhưng ở Việt Nam, một xã hội khi cán bộ thường làm việc thiếu trách nhiệm, thường chỉ làm việc gì mà có lợi trước mắt hay bị thúc giục bởi sức ép công luận thì mấy cái trò lừa đảo rẻ tiền sẽ có đất để “thăng hoa” thành “thần y”, thành những “cao nhân” rồi mặc sức ăn trên ngồi trốc trên những đồng tiền mà người nghèo chảy máu mắt mới có được.

Người dân luôn phải cảnh giác. Ra đường, lớ ngớ là mất tiền với công an giao thông, vào chốn công quyền là phải có phong bì, vào chùa là có sư sãi kiểu “Ba Vàng” phán bao kiếp trước có lỗi, giờ phải làm lễ để chuộc lại, dính với việc luật pháp là phải chạy chọt đến sức tàn lực kiệt rồi kết quả vẫn chẳng ra sao. Một xã hội luôn rao giảng “do dân, vì dân” nhưng thằng dân là những thằng muôn đời lầm than khốn khổ.

Võ Hoàng Yên chỉ là một cá nhân mọc lên bởi sự vô trách nhiệm của cơ quan chức năng, của lòng tin ngây thơ của những người dân ít học, bởi sự thờ ơ của đa phần người Việt “khôn ngoan”, của cả một hệ thống “báo chí” nửa vời, viết không cần biết tới sự thật cuối cùng là gì, chỉ cần có chương trình lên sóng, có bài in cho ngày mai, cho tuần sau là xong. Trong khi ấy thì tiếng nói của vài người có lương tri trên mạng xã hội thì nhợt nhạt và dễ bị chìm nghỉm bởi cả một đội ngũ DLV đông như quân Nguyên, một đội quân ngu dốt, mất dạy, thô bỉ, rồi cả một đội ngũ cuồng tín của những ông thánh sống sẵn sàng đánh đòn hội đồng những tiếng nói thẳng thắn, trung thực.

Đừng vội tin những gì mà cộng đồng ca ngợi. Hãy đặt lòng tin vào khoa học, hãy tư duy như những nhà khoa học. Cả tin, cuồng tín là việc cá nhân, nhưng việc tuyên truyền những điều giả dối vô tình hay cố ý thì đều là tội ác.

Câu Thần Chú Sống Còn Trong Thời Đại Xả Súng Điên Cuồng Tại Mỹ….

Câu Thần Chú Sống Còn Trong Thời Đại Xả Súng Điên Cuồng Tại Mỹ….

Thanh Thư Chuyển Ngữ

Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.

Có ba chiến thuật bạn có thể sử dụng để giữ an toàn cho bản thân và những người khác trong một cuộc tấn công bằng súng đang xảy ra. Đó là “Chạy, Ẩn núp, và Đánh lại.”

Hãy giả dụ như: Bạn đang đi mua sắm với bạn bè trong một trung tâm thương mại. Hoặc đang vào một tiệm tạp hóa nhỏ mua cái gì đó cho bữa ăn tối. Thình lình, bạn nghe thấy tiếng súng.

Bạn phải làm gì?

Đó là một thực thể mà nhiều người trong chúng ta hiện nay phải đối đầu để chấp nhận, khi hàng loạt những vụ xả súng đang diễn ra ở Hoa Kỳ. Các chuyên gia cho rằng ấy là điều bạn cần lưu ý xem xét.

Trên thực tế, FBI đã đặt ra một câu thần chú để giúp mọi người ghi nhớ phải làm trong trường hợp một tình huống xả súng đang xảy ra là: “Chạy. Ẩn núp. Đánh lại.” (Các em học sinh được dạy một bài học khác hơn.). Trong thời đại của những tay súng đang hoạt động một cách tích cực, câu thần chú cũng tương tự như những lời chỉ dẫn quan trọng mà các nhân viên cứu hỏa đã được dạy trong nhiều thập kỷ, “dừng lại ngay, nằm xuống và lăn”.

“Bạn nên chuẩn bị cho những khoảnh khắc khó khăn và nguy hiểm như phải làm gì trong cơn lốc xoáy hoặc hỏa hoạn, vì vậy bạn cần chuẩn bị sẵn sàng cho một tình huống xả súng đang diễn ra”, Cảnh sát trưởng Michael Bouchard của Oakland County, Michigan, nói với đài CNN. “Bạn cần phải có một chiến lược để thoát, một kế hoạch.”

Chạy

Điều thứ hai khi bạn nghe thấy tiếng súng, chạy. “Đứng chết cứng tại chỗ là điều tồi tệ nhất bạn có thể mắc phải. Vài giây cũng rất quan trọng”, Jeff Butler, cựu sĩ quan Navy SEAL và CIA, đã nói với CNN. “Điều đầu tiên là chạy. Đừng nằm trốn một chỗ, nếu có một lối ra khả thi gần đó giúp bạn an toàn thoát khỏi chỗ đó, nên dời đi.” Bất kể vị trí của bạn ở đâu- cho dù đó là rạp chiếu phim, ngân hàng, trường học hay nơi khác – hãy tự làm quen với môi trường xung quanh bạn. Trong sách chỉ dẫn của Bộ An ninh Nội địa (DHS) có nói. “Nếu bạn cảm thấy có điều gì đó không ổn, hãy tin vào bản năng của mình, báo cáo những gì bạn thấy và rời đi ngay lập tức.”

DHS cho biết, luôn ghi chú vị trí của ít nhất hai lối ra. Khi sơ tán, hãy để lại tất cả đồ đạc của bạn. Và nếu bạn đang đi cùng với người cần bạn giúp thoát ra, bạn nghĩ có thể giúp họ, hãy dẫn họ đến lối thoát gần nhất. Nhưng đừng di chuyển bất cứ ai đã bị thương. Khi chạy, hãy để tay bạn lộ rõ (không cầm súng), để nhân viên thực thi pháp luật không nhầm lẫn bạn với một tay súng đang hoạt động và tuân theo mọi chỉ đạo của cảnh sát. DHS nói, Khi bạn đã an toàn, hãy gọi 911 nếu cảnh sát không có mặt tại hiện trường.

Ẩn nấp

Nếu bạn không thể chạy, lựa chọn tốt nhất tiếp theo là ẩn ấp. Các chuyên gia cho biết việc lập kế hoạch nơi bạn sẽ ẩn náu cũng quan trọng như việc lưu ý các lối ra. Luôn tìm kiếm những điểm có thể che chắn và an toàn trong trường hợp nổ súng xảy ra ở khu vực mà bạn không thể thoát được. Jean-Paul Guilbault, Giám đốc điều hành của công ty quản lý an toàn và khẩn cấp Navigate360, nói với CNN: “Sự kiện xả súng thường kéo dài khoảng ba phút và bạn phải biết chính xác mình sẽ làm gì trong những khoảnh khắc đó.” . Điều này bắt đầu bằng việc hình dung chính bạn đang trong tình huống đó, hãy có một kế hoạch thoát hiểm và biết nơi bạn sẽ tìm kiếm sự an toàn nếu bạn không thể sơ tán.”.

Navigate360 chuyên cung cấp những buổi đào tạo và huấn luyện cách phản ứng lại những cuộc xả súng để giúp những thường dân như chúng ta còn sống sót sau các cuộc tấn công. Bouchard cho biết một nơi ẩn nấp tốt là nơi giúp bạn tránh khỏi tầm nhìn, bảo vệ khỏi trúng đạn và đủ rộng rãi để thoát ra và chạy khi có thể. Nếu bạn đang ở trong một không gian kín, hãy tắt đèn, đóng và khóa cửa và đặt một thứ gì đó nặng – chẳng hạn như đồ đạc – chặn cửa, ông nói thêm. Đừng quên tắt tiếng điện thoại và bất kỳ thiết bị điện tử nào khác có thể làm mất đi vị trí ẩn náu của bạn, DHS nói. Hãy bình tĩnh và nếu có thể, hãy gọi 911 để thông báo cho cơ quan chức năng về vị trí của kẻ xả súng. Nếu bạn không thể nói chuyện, chỉ cần giữ điện thoại để điều phối viên có thể nghe thấy những gì đang xảy ra.

Đánh lại

Nếu bạn không thể chạy, và không có nơi nào để trốn, chỉ còn một lựa chọn: Chiến đấu đánh lại tới cùng. Bởi vì đối đầu với một tay súng đang xả xúng là hành động cực kỳ nguy hiểm, các chuyên gia cho rằng nó chỉ nên được thực hiện như một biện pháp cuối cùng. Butler, người giúp thiết kế các kế hoạch phản ứng chống lại kẻ xả súng cho biết: “Nếu bạn cố gắng đánh lại, hãy đợi lúc hắn tải đạn trở lại. “Dùng cái gì làm vũ khí trong tay, một thứ gì đó cứng và nặng mà bạn có thể vung chúng vào hắn.” Butler nói, thực hiện hành động của bạn trong khi người bắn súng đang nạp lại vũ khí sẽ giúp ích cho cả cuộc chiến, Butler nói. Trong cuộc tấn công của bạn, hãy hét tiếng hét to nhất mà bạn có thể và ném những gì bạn có thể ném, Ready, một chương trình của FEMA nói vậy. Hãy cố gắng ứng biến vũ khí bằng cách sử dụng các vật dụng gần đó như ghế, bình cứu hỏa hoặc dao kéo. Hãy dấn thân vào cuộc chiến và sẵn sàng một cuộc chiến sinh tử mà bạn có thể bị thương hay mất mạng. Ready nói. “Chiến đấu không chỉ có nghĩa là đánh lại. Nó có nghĩa là chinh phục,” Guilbault nói. “Khi bạn ở cùng phòng với kẻ bắn súng, hãy gây ồn ào, tạo ra sự hỗn loạn, sử dụng bất cứ thứ gì bạn có để khiến kẻ tấn công bối rối.” Bạn có quyền làm bất cứ điều gì cần thiết để cứu mạng sống của bạn hoặc của những người xung quanh bạn, ngay cả khi điều đó có nghĩa là vũ lực gây chết người, Bouchard nói.

“Tất cả những gì quan trọng trong một tình huống xả súng đang diễn ra là sự sống còn.”

Tài liệu tham khảo

In the age of active shooters, a new mantra has emerged: ‘Run. Hide. Fight.’

– Súng nổ….

– “Chạy, Ẩn núp, và Đánh lại.”. Hình minh hoạ của Leanza Abucayan, CNN.

– Chạy. (Hình minh hoạ của Leanza Abucayan, CNN)

– Ẩn nấp.(Hình minh hoạ của Leanza Abucayan, CNN)

– Đánh lại. (Hình minh hoạ của Leanza Abucayan, CNN)

Cô gái 14 tuổi sinh con, mang vào tiệm ăn, trao cho người lạ rồi bỏ đi

Nếu cô bé 14 tuổi này không muốn giữ và tự đi phá thai. Chúng ta sẽ lên án hay tha thứ? Và nếu không may sinh mạng cô bé có mệnh hệ gì khi phá thai lén lút hay biến chứng từ thai nhi thì ai gánh trách nhiệm? Giữ đứa bé nhưng bỏ mặc sinh mạng người mẹ, thì kẻ nào đạo đức, kẻ nào đáng bị lên án?

***

Cô gái 14 tuổi sinh con, mang vào tiệm ăn, trao cho người lạ rồi bỏ đi

GLEN GARDNER, New Jersey (NV) – Một thiếu nữ 14 tuổi, ngay sau khi sinh đứa con đã bước vào một tiệm ăn ở New Jersey và đưa đứa bé cho một người lạ, trước khi bỏ đi.

Theo bản tin của Newsweek thì vụ này xảy ra lúc khoảng 4 giờ chiều Thứ Tư, 19 Tháng Năm, ở tiệm ăn El Patron Restaurant, tại thành phố Glen Gardner, tiểu bang New Jersey, và toàn bộ sự việc được máy ghi hình an ninh của tiệm thu lại.

Ông Frankie Aguilar, chủ tiệm này, nói với Penn Live rằng thiếu nữ kia bước vào El Patron và “có vẻ tuyệt vọng,” trong lúc ôm đứa nhỏ mới sinh trong tay.

Ông Aguilar cho biết thiếu nữ 14 tuổi này sau đó nhờ các thực khách và nhân viên tiệm giúp đỡ, và người trong tiệm gọi cho sở cảnh sát.

Nhưng trước khi cảnh sát tới nơi, cô gái này trao đứa bé, vẫn còn nguyên cuống rốn chưa cắt, cho một khách hàng là bà Alease Scott và sau đó nhanh chóng rời khỏi tiệm.

Bà Scott, lúc đó đang ăn trong tiệm cùng người bạn trai là Walter Cocca, thì thấy việc này, bà hỏi cô gái 14 tuổi kia là có thể cho bà xem tình trạng sức khỏe đứa bé hay không.

Cô gái ngay lập tức chuyển đứa nhỏ cho bà Scott, và trong lúc bà đang chăm chú xem xét đứa nhỏ, cô này bỏ đi.

Bà Scott báo với cảnh sát là thấy đứa nhỏ bị khó thở, và được giao cho bình dưỡng khí.

Bà kể lại với truyền thông rằng: “Ngay sau khi tôi úp mặt nạ dưỡng khí lên mặt đứa bé, chúng tôi nghe thấy tiếng khóc tuyệt vời nhất trong đời, và đứa bé bắt đầu cựa quậy.”

Sau đó trong ngày, cảnh sát tìm ra cô gái 14 tuổi kia, đưa cô này đến bệnh viện Jersey City Medical Center, sau khi bị tạm giữ ở sở cảnh sát trong thời gian ngắn. Đài truyền hình ABC 7 ở địa phương nói cô này sẽ không bị truy tố về tội gì và đứa bé sẽ được cho nhận làm con nuôi.

Tiểu bang New Jersey cho phép người mẹ không muốn nuôi con sơ sinh, nếu chưa tới 30 ngày, có thể giao đứa bé cho nhân viên bệnh viện, trạm cảnh sát, trạm cứu hỏa hay nhân viên cấp cứu.

– Tiệm El Patron nơi cô gái 14 tuổi để lại đứa con nhỏ. (Hình: Google Map)

– Cảnh sát & nhân viên Cứu thương đưa đứa bé đến bệnh viện để chăm sóc…

https://www.cleveland.com/…/teen-mom-gives-newborn-to…

Viết bài ‘ảnh hưởng’ đến bầu cử, một blogger Việt Nam bị bắt

VOA Tiếng Việt 

Công an ở tỉnh Vĩnh Phúc vừa bắt giam ông Trần Ngọc Sơn, người dùng Facebook với tên Trần Giảm, vì đăng nhiều bài viết “đả kích chính quyền”, “ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh liên quan cuộc bầu cử” sắp diễn ra.

Cổng thông tin Công an Vĩnh Phúc hôm 20/5 loan tin rằng ông Trần Ngọc Sơn, 56 tuổi, bị bắt với cáo buộc “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân,” theo Điều 331 Bộ luật hình sự.

Chính quyền Vĩnh Phúc cho rằng ông Sơn “đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh, video có nội dung đả kích, xuyên tạc, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan, tổ chức của Đảng”.

Những bài viết và video của ông Sơn bị cho là “có tác động tiêu cực đến an ninh trật tự, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh liên quan cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kì 2021-2026”.

Trong một đoạn bình luận hôm 8/5 về việc so sánh bầu cử Việt Nam và Mỹ, trang Facebook Trần Giảm viết: “Bọn Mỹ lắm chuyện, bầu cử xong rồi mà luật pháp vẫn soi mói nhau để phế truất người thắng cử. Bọn ta cộng sản văn minh hơn, bầu lúc nào cũng 89%-99% thành công tốt đẹp, còn nhìn xa trông rộng đến 2045 và lâu dài hơn nữa, kể cả nhiều kẻ ngu tham, không hiểu biết Hiến pháp và pháp luật, nhưng vẫn làm lãnh đạo tốt.”

Trong diễn biến liên quan, hôm 20/5, tổ chức nhân quyền Article 19 có bài viết “Việt Nam cần chấm dứt đàn áp tiếng nói độc lập trước bầu cử”, trong đó kêu gọi Hà Nội nên trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho những người có nguyện vọng ứng cử nhưng đang bị giam giữ như Trần Quốc Khánh, Lê Trọng Hùng, Lê Chí Thành, và thực hiện các bước để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, kể cả trên mạng, trong mọi vấn đề liên quan đến bầu cử Quốc hội.

Ông Matthew Bugher, Trưởng Chương trình châu Á của tổ chức Article 19, nói: “Việc giam giữ những ứng cử viên tự ứng cử chỉ vì đã thảo luận về luật pháp và chính trị của Việt Nam trên mạng xã hội là bằng chứng cho thấy cuộc bầu cử sắp tới sẽ chẳng có gì khác ngoài một trò hề”.

“Chắc chắn không ai có thể mong đợi một cuộc bầu cử tự do và công bằng ở Việt Nam, nhưng các biện pháp đàn áp khốc liệt của nhà cầm quyền đối với giới bất đồng chính kiến là rất đáng báo động.”

Theo tổ chức Article 19, làn sóng đàn áp gần đây của Việt Nam trước thềm bầu cử Quốc hội ngày 23/5 trái với các nguyên tắc quốc tế về tự do ngôn luận và bầu cử cũng như nghĩa vụ của Việt Nam theo Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị.

“Đối thoại cởi mở và quyền tự do bày tỏ ý kiến phản biện là những yếu tố nền tảng của nền dân chủ và đặc biệt quan trọng trong thời gian bầu cử,” ông Bugher nói. “Việt Nam nên chấm dứt tình trạng quấy rối các ứng cử viên độc lập và thực hiện các bước ngay lập tức để thúc đẩy một nền truyền thông tự do, độc lập và đa dạng.”

Truyền thông Việt Nam hôm 19/5 dẫn lời Trung tướng Tô Ân Xô, Phát ngôn viên Bộ Công an cho biết: “Các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu ngày càng có nhiều âm mưu, hoạt động chống phá quyết liệt, ngày càng manh động, liều lĩnh”, và kêu gọi cảnh giác với “những âm mưu, phương thức, thủ đoạn chống phá cuộc bầu cử, lợi dụng cuộc bầu cử để chống phá Đảng, Nhà nước.”

(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link voaviet2019.com

hoặc vn3000.info để vượt tường lửa)

Viết bài ‘ảnh hưởng’ đến bầu cử, một blogger Việt Nam bị bắt

Công an ở tỉnh Vĩnh Phúc vừa bắt giam ông Trần Ngọc Sơn, người dùng Facebook với tên Trần Giảm, vì đăng nhiều bài viết “đả kích chính quyền”, “ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh liên quan cuộc bầu cử” sắp diễn ra.  

CHỤP ẢNH GIÙM TÔI

Le Thien is feeling pained.

Bà ngoại quê ở Nha Trang năm nay 82 tuổi rồi mà mỗi ngày vẫn phải còng lưng bán từng cái bánh bèo ngọt để nuôi đứa cháu

Tôi nhìn tấm hình này mà thấy đau xót đứt ruột

CHỤP ẢNH GIÙM TÔI

Anh về Nước chụp giùm tôi tấm ảnh

Cảnh người tù lao động chốn rừng sâu

Áo tả tơi, gầy ốm, mặt xanh xao

Anh hãy chụp giùm tôi hình ảnh ấy

Anh đừng bảo đã chưa lần được thấy

Cảnh quê nhà đói rách mỗi lần thăm

Vì Cộng nô che giấu cảnh điêu tàn

Hay anh thích về khoe cùng hàng xóm?

Chụp giùm tôi những nấm mồ lồi lõm

Nơi nghĩa trang đổ nát đã bao mùa

Người anh hùng Quân Lực thuở năm xưa

Bao năm vắng không nén hương sưởi ấm

Chụp giùm tôi cô nữ sinh tóc ngắn

Tà áo dài trinh trắng thật dễ thương

Nào ngờ đâu là gái đứng bên đường

Đưa rước khách kiếm ăn vì cuộc sống

Anh hãy chụp cụ già đang gồng gánh

Lưng đã còng còn vác nặng trên vai

Cụ bán bưng để kiếm sống từng ngày

Anh đừng bảo quê hương giờ đổi khác

Hãy nhìn xem trẻ em ngồi bươi rác

Từng ve chai, mãnh giấy vụn bên đường

Tim tôi đau quằn quại thật xót thương

Chúng tìm bánh, món ăn thừa sót lại

Nếu còn thương Quê hương nghèo quằn quại

Xin anh đừng chụp ảnh bên nhà cao

Hãy đứng lên, nhìn thẳng bọn cường hào

Và hãy đợi một ngày mai tươi sáng

Giòng máu anh nếu còn nuôi uất hận

Bởi Cộng nô loài khát máu vô tình

Xin chụp giùm cảnh sống đời điêu linh

Của dân Việt bao năm dài đói rách.

Nguyễn Vạn Thắng