Charles Kushner – Thông Gia của Trump, Cựu Tù Nhân Liên Bang, Được Bổ Nhiệm Làm Đại Sứ Mỹ Tại Pháp

Ba’o Dat Viet

May 21, 2025

Thượng viện Hoa Kỳ vừa phê chuẩn quyết định gây tranh cãi: ông Charles Kushner – cha của Jared Kushner và là thông gia của Tổng thống Donald Trump – chính thức trở thành tân Đại sứ Mỹ tại Pháp. Với tỷ lệ phiếu sít sao 51–45, cuộc bỏ phiếu ngày 20 Tháng Năm đã khép lại một tiến trình bổ nhiệm bị bao phủ bởi nhiều dư luận trái chiều.

Ông Charles Kushner, 71 tuổi, là một nhà phát triển bất động sản và cựu luật sư bị đình chỉ hành nghề. Từng là một nhân vật có tiếng tại New Jersey, ông sa ngã vào năm 2005 khi bị kết án với 18 tội danh liên bang, bao gồm trốn thuế, trả thù nhân chứng và khai man với Ủy ban Bầu cử Liên bang. Ông thụ án hai năm tù trước khi được Tổng thống Trump ân xá vào năm 2020.

Vụ án năm đó từng gây chấn động giới chính trị và pháp lý Mỹ vì tính chất nghiêm trọng và động cơ trả thù gia đình liên quan đến cuộc chiến nội bộ giữa các thành viên trong dòng họ Kushner. Tuy nhiên, giờ đây, ông trở lại chính trường với vị trí là đại diện ngoại giao cấp cao của Hoa Kỳ tại một trong những quốc gia quan trọng nhất châu Âu – nước Pháp.

Đáng chú ý, trong số 100 Thượng nghị sĩ, chỉ có duy nhất một đảng viên Dân chủ – ông Cory Booker (New Jersey) – ủng hộ việc phê chuẩn ông Kushner. Ngược lại, Thượng nghị sĩ Cộng hòa Lisa Murkowski (Alaska) là người duy nhất trong đảng bỏ phiếu phản đối. Đảng Cộng hòa hiện nắm thế đa số tại Thượng viện với 53 ghế, và đã nhanh chóng thông qua hầu hết các đề cử quan trọng của ông Trump kể từ nhiệm kỳ thứ hai của ông bắt đầu từ tháng Giêng.

Phát biểu trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện trong phiên điều trần, ông Kushner thẳng thắn thừa nhận: “Tôi không phải là người hoàn hảo. Tôi đã phạm những sai lầm nghiêm trọng và đã phải trả giá đắt cho chúng.” Ông cho rằng chính quá khứ sai lầm đã giúp ông rèn luyện khả năng phán đoán, và rằng “tôi tin mình có năng lực và sự trải nghiệm để đảm nhiệm trọng trách này.”

Dù gây tranh cãi, ông Kushner vẫn nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ chính quyền Trump. Trước Thượng viện, ông cam kết sẽ thúc đẩy mối quan hệ thương mại song phương với Pháp và “khuyến khích Paris đầu tư mạnh hơn vào năng lực quốc phòng,” cũng như đưa EU đến gần hơn với tầm nhìn an ninh của Washington.

Là người sáng lập Công ty Kushner năm 1985 – một tập đoàn bất động sản có tiếng – Charles Kushner có tầm ảnh hưởng rộng trong giới doanh nghiệp nhưng lại thiếu kinh nghiệm ngoại giao, khiến nhiều nhà quan sát lo ngại về khả năng ông điều phối hiệu quả một quan hệ ngoại giao phức tạp như Mỹ – Pháp.

Trong khi Pháp là một đồng minh lâu đời của Mỹ, hai bên cũng thường bất đồng sâu sắc về chiến lược an ninh, thương mại và khí hậu. Việc cử một nhân vật có quá khứ hình sự vào vị trí này không chỉ là quyết định táo bạo mà còn là tuyên bố chính trị mạnh mẽ từ Tổng thống Trump – người luôn coi trọng lòng trung thành cá nhân hơn hồ sơ chuyên môn trong các quyết định nhân sự cấp cao.

Dư luận tại Washington hiện vẫn chia rẽ, nhưng điều rõ ràng là: Charles Kushner sẽ bước vào Paris không chỉ với tư cách đại diện chính thức của nước Mỹ, mà còn mang theo cả bóng dáng của quá khứ gây tranh cãi và mối quan hệ gia đình gắn liền với trung tâm quyền lực Nhà Trắng.


 

Zelensky : – Dân tộc tôi đã làm gì sai ?

Xuyên Sơn

Zelensky :

– Dân tộc tôi đã làm gì sai ?

Chúng tôi chưa bao giờ mang quân sang Nước Nga hay bất cứ một đất nước nào, vì chúng tôi chỉ muốn có hòa bình. Tại sao dân tộc tôi lại phải chịu đựng chiến tranh?

Nước Nga quá mạnh so với đất nước chúng tôi, thậm chí họ có thể hủy diệt được cả thế giới.

Sống cạnh một đất nước quá mạnh nhưng lại rắp tâm chiếm đoạt đất của chúng tôi, thì lẽ đương nhiên chúng tôi phải tìm nơi dựa dẫm và nhờ vả ở những quốc gia mạnh hơn thì có gì sai?

Nếu nước Nga tốt đẹp thì sao chúng tôi lại phải chọn con đường đầy nhọc nhằn chông gai và đau khổ để thoát ra?

Nếu nước Nga tốt đẹp thì họ đã không cướp Crimea,

Donetsk

Luhansk

rồi lại muốn xâm lược cả đất nước Ukraine này.

Nếu nước Nga tốt đẹp thì ngày nay , Phần Lan và Thụy Điển đã không xin gia nhập NATO …

Người Nga và những kẻ ủng hộ Pu tin hãy tự tìm câu trả lời cho chính họ trước khi lên án chúng tôi.

Nguồn fb Joseph Bui


 

Có một Nick Út mà tôi biết-Tuấn Khanh

Ba’o Tieng Dan

Tuấn Khanh

17-5-2025

Ông Nick Út về nước ra sách và tặng cho ông Trương Tấn Sang (trái) cuốn sách về cuộc đời của em bé Napalm. Ảnh trên mạng

Câu chuyện về nhà nhiếp ảnh Nick Út và bức ảnh “Em bé Napalm”, trước khi bị đưa ra ánh sáng, đã có nhiều bài viết khẳng định rằng bức ảnh này không phải của ông ta. Năm 2015, nhà bình luận Đức Hồng viết trên BBC tiếng Việt, đã khởi đi rất nhiều tranh luận của người Việt trong và ngoài nước về sự thật ai là tác giả của bức ảnh này. Bằng giọng văn thuyết phục và quả quyết, ông Đức Hồng cho thấy sau bức ảnh “Em bé Napalm” đó còn nhiều điều chưa nói hết, khiến lâu nay nhiều người Việt Nam vẫn lầm tưởng.

Bài viết đặt một câu hỏi – rất hiển nhiên – mà cũng rất cay đắng, vì sao cái gọi là nạn nhân chiến tranh xâm lược của Đế Quốc Mỹ, cô Kim Phúc, cuối cùng đã tìm cách đào thoát và được giúp tỵ nạn ở phương Tây, chứ không ở lại Việt Nam. Nạn nhân đó cũng không muốn được hưởng vinh quang như một biểu tượng chống chiến tranh. Câu hỏi đặt ra là cô Kim Phúc, nhân vật chính trong bức ảnh đó, có hài lòng cho cuộc đời trở thành điểm tựa đẹp nhất về tuyên truyền cho quân đội miền Bắc Việt Nam hay không?

Sự thật là năm 1992, cô Kim Phúc đã thoát khỏi Việt Nam, tỵ nạn ở Canada để không biến mình thành công cụ truyên truyền cho một phía, cũng như tác giả Đức Hồng đặt lên một câu hỏi rất đáng chú ý rằng năm 1972, những người lính Cộng sản Bắc Việt đang làm gì ở đất của miền Nam trong một hiệp định phân chia đất nước vẫn còn hiệu lực. Và vì sao “các em nhỏ ấy lại chạy về phía lính Việt Nam Cộng hòa để kêu cứu mà không một chút sợ sệt, sao các em không chọn những người lính Cộng sản Bắc Việt cũng đang lẩn trốn ở ngay gần đó?”.

Sự thật ít người biết là gia đình cô Kim Phúc cũng bị đánh tư sản vào năm 1975. Cả nhà sống rất khó khăn. Năm 1982 khi một phóng viên người Đức đến Việt Nam để tìm lại nhân vật lịch sử trong bức ảnh “em bé Napalm” thì Kim Phúc bị đẩy thành một nhân vật tuyên truyền cho giai đoạn sau chiến tranh. Mọi thời gian sinh hoạt của cô Kim Phúc lúc bấy giờ đều bị công an kiểm soát chặt chẽ. Thậm chí Kim Phúc bị buộc thôi học trường đại học Y khoa ở Sài Gòn, về sống ở quê Trảng Bàng để tiện dễ kiểm soát ngôn ngữ tuyên truyền.

Sau đó, khi lấy chồng là một du học sinh sống ở Cuba, nhân một chuyến đi, máy bay ngừng chặng ở Gander, Newfoundland (Canada), Kim Phúc cùng chồng trốn khỏi sự kiểm soát của công an viên đi kèm và xin tị nạn. Mọi sự kiện này không là lời kể miệng, mà được bày tỏ công khai trên trang web riêng của Kim Phúc tên là Kim Foundation, quỹ từ thiện do cô sáng lập và cũng như trong quyền hồi ký The Girl in the Picture, hiện vẫn còn bán online trên các nhà sách lớn, như Amazon.

Cùng với những câu hỏi của tác giả Đức Hồng, cũng có một câu hỏi khác được đặt ra, là một người phóng viên của AP, vì sao từ vị trí là một nhiếp ảnh gia ghi chép sự kiện một cách trung dung, ông Nick Út dần dần biến mình thành một người quảng bá sai ý nghĩa của bức ảnh, biến mình thành một nhân vật tuyên truyền hơn cả cô Kim Phúc?

Trong cuộc tranh cãi về sự kiện ông Nick Út trở lại Việt Nam hồi Tháng Sáu 2015, họa sĩ Trịnh Cung nêu một ý kiến khác. “Nếu là một phóng viên có đạo đức, Nick Út đã phải có một thái độ khác. Trái lại, ông Út đã biến cơ hội giữ lại khoảng khắc thương đau của một sinh mệnh, tạo hào quang cho mình, mà không đứng về sự thật của nạn nhân trong suốt nhiều năm liền”, họa sĩ Trịnh Cung nói, “giả sử khi được trao giải Pulitzer, ông Nick từ chối và trao tặng cho nạn nhân mà ông chụp được, có lẽ ông đã giải bày được một cách khiêm tốn về cơ may – hơn là tài năng – và tỏa sáng gấp bội lần hơn lúc này”.

Nhưng điều quan trọng là bên cạnh sự thật ít ai biết về cô Kim Phúc khi phải đào thoát sang Canada – trong số ít đó có ông Nick – thì dường như ông cũng tảng lờ việc đứng về phía nỗi khổ và khó khăn của cô Kim Phúc, và chỉ bám chặt vào bề mặt bức ảnh, lấy câu chuyện để nuôi ánh hào quang cho mình, phản bội lại đạo đức nghề nghiệp báo chí, là phải nói thật về điều mình thấy, trình bày sự thật mà mình biết.

Đạo đức nghề nghiệp đó, đã từng được chứng minh như chuyện nhà nhiếp ảnh Eddie Adams với bức ảnh chấn động thế giới về tướng Nguyễn Ngọc Loan khi bắn phục binh Bắc Việt Bảy Lốp vào năm 1968. Sau khi biết được sự thật, nhất là khi nghe tin tướng Loan qua đời, Eddie Adamas đã nói với báo chí rằng ông đã rất hối hận vì bức ảnh đó làm hại một tướng quân và làm hại một chế độ.

Đạo đức con người cũng đã được thể hiện, khi diễn viên Jane Fonda đi ra miền Bắc Việt Nam cổ vũ cho cuộc chiến tranh tương tàn vào năm 1972. Nhiều năm sau, nhiều lần, người diễn viên này đã bày tỏ sự hối hận vô bờ bến về hành động của mình khi biết rõ tác hại từ chuyến đi của mình. Bà Jane Fonda vẫn lập lại lời xin lỗi đến các cựu chiến binh Mỹ, mỗi khi có dịp.

Nhưng Nick Út thì khác. Ông quay lại Việt Nam để làm triển lãm riêng, ra sách, chụp hình với các quan chức và đặc biệt là tảng lờ về cuộc đời thật của cô Kim Phúc mà ông lúc nào cũng quảng bá là thương mến và thân thiết.

Trong các buổi ra sách, và ký tặng, ông Nick cũng chưa bao giờ nói về sự thật của cuộc đời cô Kim Phúc, cũng như luôn mỉm cười im lặng, như một sự tán đồng với hệ thống truyên truyền Nhà nước rằng đó chính là bức ảnh ông chụp như để tố cáo tội ác xâm lược của đế quốc Mỹ.

Khi được hỏi về việc bị thế giới phát hiện ông là “kẻ cắp” của bức ảnh lừng danh, Nick Út nói ông sẽ đòi công lý “với nỗi đau của mình”. Nhưng có nỗi đau nào bằng chuyện công sức của một người bị cưỡng đoạt suốt nửa thể kỷ, và ông Nick Út thì bao giờ cũng cười tươi che hết ống kính khi nghe nhắc về bức ảnh này. Cũng như có nỗi đau nào diễn đạt được thành lời, khi cô Kim Phúc luôn bị ông giấu trong bóng tối, để làm sáng lòa hơn gương mặt của ông trước báo chí và ống kính truyền thông Việt Nam.


 

Tù Nhân Lương Tâm Tuyệt Thực Trong Bóng Tối Để Đòi Công Lý

Ba’o Dat Viet

May 17, 2025

VIỆT NAM – Trong những bức tường ngột ngạt của hệ thống trại giam Cộng Sản Việt Nam, những tiếng nói phản kháng lại tiếp tục vang lên bằng cách thầm lặng và đau đớn nhất: tuyệt thực.

Tù nhân lương tâm Lê Đình Lượng, 60 tuổi, hiện đang bước sang ngày tuyệt thực thứ năm trong trại giam, theo lời kêu cứu của con trai ông, anh Lê Đình Hiếu, đăng tải trên mạng xã hội hôm 15 Tháng Năm. “Sức khỏe và tinh thần của bố tôi đang suy kiệt nghiêm trọng,” anh Hiếu viết. “Ông đã nhiều lần xin được khám bệnh, nhưng tất cả đều bị từ chối.”

Bị bắt từ năm 2017 với cáo buộc “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền,” ông Lượng – một giáo dân và nhà hoạt động nhân quyền nổi bật trong các cuộc đấu tranh phản đối Formosa xả thải đầu độc biển miền Trung – bị kết án 20 năm tù giam và 5 năm quản chế. Sự im lặng của hệ thống tư pháp trước tình trạng giam giữ ông kéo dài trong biệt giam, cấm đoán sinh hoạt tôn giáo, và từ chối chăm sóc y tế là một bản cáo trạng về sự vô cảm của nhà cầm quyền đối với những người dám nói thật.

Cuộc gọi ngắn ngủi từ ông Lượng đến người vợ hôm 15 Tháng Năm chỉ đủ để ông thều thào “như lời kêu cứu cuối cùng,” theo lời gia đình.

Không riêng gì ông Lượng. Cùng thời điểm, một tù nhân lương tâm khác – ông Lê Trọng Hùng – bắt đầu cuộc tuyệt thực 30 ngày để phản đối việc chính quyền Hà Nội tìm cách sửa đổi hiến pháp mà không hỏi ý kiến thực sự từ người dân. Là một nhà báo độc lập từng ra ứng cử đại biểu Quốc hội, ông Hùng bị kết án 5 năm tù với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” vào năm 2021. Trong tù, ông đã nhiều lần dùng hình thức tuyệt thực để phản kháng.

Câu chuyện của họ chỉ là hai trong hàng loạt trường hợp tuyệt thực từng diễn ra trong các trại giam từ Bắc chí Nam. Những cái tên như Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư, Bùi Tuấn Lâm, Đặng Đình Bách hay Bùi Văn Thuận – những người đấu tranh vì môi trường, đất đai, tự do ngôn luận – đều đã phải dùng đến biện pháp cuối cùng: lấy thân thể và mạng sống của mình để buộc chế độ phải lắng nghe.

Trường hợp ông Trần Huỳnh Duy Thức, người từng tuyệt thực đến gần 4 tháng trước khi được thả vào Tháng Chín năm 2024, là một minh chứng cho cái giá đắt của tự do trong một thể chế mà nhân quyền vẫn là một khái niệm xa xỉ.

Tuyệt thực trong nhà tù cộng sản không phải là hành vi tự hành xác, mà là lời kháng cự cuối cùng – khi không còn một công cụ pháp lý nào để đấu tranh. Đó là khi thân thể gầy mòn trở thành biểu tượng cho sự bất khuất, khi từng hơi thở là một tiếng gào trong câm lặng.

Và trong sự câm lặng ấy, có cả tiếng gọi chúng ta – những người còn tự do – hãy lên tiếng thay họ.


 

Được giải oan sau 38 năm ngồi tù vì tội giết người

Ba’o VNEXPRESS

Người đàn ông Anh Peter Sullivan phải ngồi tù gần 4 thập kỷ vì tội danh giết người trước khi được minh oan nhờ bằng chứng ADN.

Tòa phúc thẩm ở London, Anh ngày 13/5 hủy bỏ bản án giết người với Peter Sullivan, 68 tuổi, và yêu cầu trả tự do cho ông ngay lập tức. Phán quyết được đưa ra sau khi bằng chứng pháp y từ hiện trường vụ án mạng năm 1986 được kiểm tra và cho kết quả không khớp với ADN của Sullivan.

Tòa Phúc thẩm ở London đã hủy bỏ bản án của ông Sullivan vào thứ Ba© PA

Sullivan, người đã ngồi tù 38 năm vì tội danh giết người, bật khóc khi nghe phán quyết của tòa. Ông theo dõi phiên tòa qua đường truyền video từ nhà tù Wakefield ở miền bắc nước Anh, nói với luật sư rằng ông không oán giận vì bản án oan và mong ngóng được gặp người thân.

“Vì Chúa là nhân chứng của tôi và người nói rằng sự thật sẽ mang đến cho bạn tự do. Thật không may khi chúng tôi đã mất một khoảng thời gian dài để giải quyết xong bản án oan. Tôi không oán giận hay cảm thấy cay đắng”, luật sư đại diện Sarah Myatt đọc tuyên bố của Sullivan bên ngoài tòa án.

Ảnh hồ sơ nhà tù của Peter Sullivan. Ảnh: Standard

Sullivan là tù nhân chịu án oan lâu nhất ở Anh, theo Myatt. Peter Sullivan năm 1987 bị kết án giết người phụ nữ tên Diane Sindall ở Bebington, gần Liverpool, phía tây bắc Anh.

Vào đêm 1/8/1986, Sindall, 21 tuổi, đang trở về sau khi làm thêm tại quán rượu thì xe của cô hết xăng. Cảnh sát cho biết một số nhân chứng thấy cô rời xe và đi bộ trên đường dẫn tới trạm xăng.

Xác của Sindall được phát hiện 12 tiếng sau đó trong một con hẻm. Cô bị tấn công tình dục và đánh đập dã man. Nguyên nhân tử vong được xác định là do xuất huyết não. Một ngày sau khi Sindall bị sát hạt, quần áo của cô bị phát hiện đang cháy trên đồi Bidston gần đó.

Sullivan sau đó bị xem là nghi phạm khi một nhân chứng nói rằng thấy Peter đang chạy gần nơi đốt quần áo của Sindall. Tinh dịch được tìm thấy trên cơ thể của Sindall khi đó không thể phân tích vì công nghệ hạn chế và được bảo quản như bằng chứng của vụ án.

Sau khi bị bắt, Sullivan ban đầu không được phép có luật sư bào chữa. Ông thú nhận giết Sindall nhưng sau đó rút lại lời nhận tội.

Ông Sullivan năm 2008 nộp đơn đề nghị Ủy ban Đánh giá Vụ án Hình sự (CCRC) xem xét lại phán quyết của ông, nhưng đơn bị từ chối. Năm 2019, ông gửi đơn kháng cáo, nhưng tòa án đã từ chối năm 2021.

Diane Sindall, nạn nhân vụ án mạng. Ảnh: NEWS

Cuối năm 2021, CCRC tiếp nhận đề nghị xem xét lại vụ án của Sullivan. Họ quyết định nên xét nghiệm các mẫu tinh dịch tìm thấy trên cơ thể của Sindall năm xưa dựa vào những tiến bộ công nghệ hiện tại. Kết quả xét nghiệm năm 2024 cho thấy nó không thuộc về Sullivan, theo luật sư bào chữa Jason Pitter.

Trong đơn gửi ủy ban năm 2008, Sullivan từng đề xuất kiểm tra bằng chứng ADN, nhưng các chuyên gia pháp y thời điểm đó nói rằng bất kỳ xét nghiệm nào đều không khả thi. Các kỹ thuật được sử dụng để kết luận ADN không trùng khớp đều không có vào thời điểm đó.

Cảnh sát đã mở lại cuộc điều tra, nhưng cho biết ADN được xác định trong vụ án không khớp với bất kỳ ai trong cơ sở dữ liệu quốc gia. Họ đã loại trừ vị hôn phu của Sindall, các thành viên gia đình cô và hơn 260 người đàn ông trong diện tình nghi.

“Chúng tôi đã mất Peter trong 39 năm và không chỉ có chúng tôi chịu thiệt. Peter không chiến thắng trong cuộc chiến này và gia đình Sindall cũng vậy. Họ đã mất con gái và không thể tìm lại. Chúng tôi giờ có lại Peter và cố gắng xây dựng lại cuộc sống với anh ấy một lần nữa”, Kim Smith, em gái của Sullivan, nói.

Thùy Lâm (Theo ABC News, NEWS


 

Thư viện ngựa thồ (Park Horse Library)

Chuyện tuổi Xế ChiềuCông Tú Nguyễn 

Những năm 1930 là thời kỳ Đại khủng hoảng. Nhưng bang Kentucky ở nước Mỹ vẫn lập ra một dự án là Park Horse Library- thư viện ngựa thồ. Dự án này có 2 ý nghĩa. Một là tạo việc làm cho người dân đang rất khó khăn và hai là đem sách tới cho các vùng xa xôi để nâng cao dân trí. Dự án này do phụ nữ tham gia vì đàn ông khi đó đã đi vào nhiều chương trình của dự án Kinh tế mới mà TT Mỹ Franklin D. Roosevelt đề ra để thoát khỏi đói khổ.

"Pack Horse Library Project": llevar libros y materiales de lectura a ...

Những người phụ nữ giao sách này đã mang sách tới các vùng hẻo lánh của dãy núi Appalachia. Mỗi con ngựa sẽ mang theo 100 cuốn sách. Họ đi theo một con đường núi dài từ 100-120 dặm mỗi tuần. Thư viện được vận hành bởi ngân sách công. Sách từ nguồn quyên tặng của những nhà hảo tâm. Lương của mỗi phụ nữ chuyển sách là 28 usd mỗi tháng. Có khoảng 1000 phụ nữ làm công việc này.

 

Những sách được ưa thích nhất là Kinh Thánh, các tác phẩm văn học kinh điển, sách nuôi dạy con, nấu ăn và chăm sóc gia đình, làm thủ công.

Ngoài việc đưa sách tới, nhiều phụ nữ chuyển sách còn đọc sách cho người dân và trẻ em nghe. Họ cũng mang thư và kể chuyện về những gì đang xảy ra ngoài các ngọn núi. Họ đem tới hy vọng.

Kentucky pack-horse librarians : Student Snippets : School of Library ...

Có khoảng 30 thư viện ngựa thồ khác nhau phục vụ khoảng 100.000 người khác nhau ở các vùng núi của tiểu bang Kentucky.  Tính đến năm 1937, các thư viện này cũng đã phục vụ khoảng 155 trường học ở các quận này.

Dự án từ khi bắt đầu vào năm 1935 đến khi kết thúc vào năm 1943, đã tiếp cận được 1,5 triệu người dân trong bang..

Bằng cách này, vùng miền núi xa xôi ở Kentucky khi đó có sách đọc. Và sau này ngựa thồ được thay bằng xe sách lưu động. Và cuối cùng là xây các thư viện.

The Pack Horse Librarians of Appalachia | KET

Đó là cách nước Mỹ nỗ lực vượt qua khủng hoảng và kiên cường nâng cao dân trí. Đói khổ không có nghĩa là ngừng học hỏi và ngừng tiến bộ.

Hình tư liệu 1 phụ nữ trong dự án đi giao sách cho độc giả tại một trang trại hẻo lánh ở Mill Creek, Kentucky năm 1938.

Nguyễn Thị Bích Hậu


 

GIÁO SƯ ĐOÀN VIẾT HOẠT QUA ĐỜI

Phạm Thanh Nghiên

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, một trong những biểu tượng tiêu biểu của phong trào dân chủ và nhân quyền Việt Nam trong vài thập niên trở lại đây, vừa qua đời vào chiều 14/5/2025 tại Nam Cali.

Ông sinh năm 1942 tại Hà Đông, từng là phụ tá Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh trước năm 1975. Sau năm 1975, ông bị bắt và bị giam cầm suốt 12 năm trong trại cải tạo mà không qua xét xử. Sau khi được trả tự do, ông tiếp tục đấu tranh ôn hòa cho tự do ngôn luận và dân chủ, dẫn đến việc bị kết án 20 năm tù vào năm 1993. Dưới áp lực quốc tế, ông được trả tự do và sang Hoa Kỳ năm 1998, nơi ông tiếp tục hoạt động cho đến cuối đời.  

Ông được mệnh danh là “Sakharov của Việt Nam” và từng nhận nhiều giải thưởng quốc tế danh giá như Giải Tự do Báo chí Quốc tế (1993), Giải Nhân quyền Robert F. Kennedy (1995), Giải Bút vàng Tự do (1998) và được vinh danh là Anh hùng Tự do Báo chí Thế giới năm 2000.

Khoảng 3 năm trước, ông chuyển từ Washington DC tới sinh sống tại Nam Cali , nơi có đông người Việt tị nạn cộng sản.

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt qua đời là một mất mát cho cộng đồng người Việt tị nạn tại hải ngoại. Di sản của ông chắc chắn sẽ là nguồn cảm hứng cho những người đi sau, trên hành trình tìm kiếm tự do cho quê hương.


 

NÊN CẢM ƠN AI?

Chuyện tuổi Xế Chiều – Công Tú Nguyễn

 

“Được thừa hưởng một nền giáo dục nhân bản, nên gương mặt rất Chân chất và đôn hậu.”

Trong hình là tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng Dương (Kelly Nguyễn), quê Quảng Ngãi.

Hiện cô làm việc tại MRC-Phòng thí nghiệm về sinh học phân tử tại Cambridge, Anh quốc. Báo chí loan tin cô sẽ được trao huy chương Colworth năm 2024 vì những kết quả nghiên cứu xuất sắc.

Cô là nhà khoa học người Việt đầu tiên nhận huy chương này trong lịch sử 60 năm của giải thưởng.

Con đường của tiến sĩ Hoàng Dương bắt đầu khi học xong lớp 10 ở tỉnh nhà, cô nhận học bổng toàn phần chương trình phổ thông tại Trường nữ sinh Wellington New Zealand.

Khi tốt nghiệp xong, cô có thành tích rất tốt và thi đậu học bổng toàn phần học Hóa học tại đại học danh giá Australian National University (ANU). Ở đây, cô học rất giỏi và tốt nghiệp với hạng đứng đầu khóa học First Class Honours với một huy chương University Medal. Thường 1 năm chỉ có 1 sinh viên của khoa nhận vinh dự này.

Từ kết quả đó, năm 2010 cô được nhận vào học tiến sĩ với học bổng toàn phần tại University of Cambridge (Trinity College).

 Cô tốt nghiệp tiến sĩ khi mới chỉ 26 tuổi và ở lại trường làm công tác nghiên cứu. Cô cũng từng qua nghiên cứu tại Đại học California Berkeley, Mỹ.

Là một nhà nghiên cứu về sinh học phân tử đầy tiềm năng, cô đã từng nhận rất nhiều giải thưởng quốc tế danh giá về chuyên ngành.

Trinity College, nơi cô theo học tiến sĩ và đang làm việc là đại học tốt nhất của Viện đại học Cambridge- trường đại học chất lượng bậc nhất thế giới. Thành lập từ 1546, trường này đã có 34 thành viên nhận giải thưởng Nobel (trong số 121 giải thưởng mà các thành viên của Đại học Cambridge nhận được). Đây là trường mà nhà vật lý Isaac Newton và rất nhiều vĩ nhân từng theo học.

Trường chỉ hiện có tổng số 180 sinh viên tiến sĩ, do đó được vào đây học hành và đỗ đạt là vô cùng vinh dự.

Có một nhà khoa học Việt tại nước Anh, trong 1 trung tâm khoa học lớn của thế giới như tiến sỹ Hoàng Dương thật quý báu. Chúc mừng cô và mong cô đạt nhiều thành tựu khoa học mới.

Nguyễn Thị Bích Hậu


 

NGUYÊN NHÂN CÔNG AN TỈNH LONG AN TRUY BỨC THIỀN AM

Việt Tân 

– Luật sư Mạnh Đăng-

Tôi đã nhiều lần bắt gặp câu hỏi rằng “Tại sao Thiền Am lại bị công an Long An truy bức đến mức độ như vậy?”. Vì thật khó hiểu khi Thiền Am chỉ là một cơ sở tu tại gia và một số thành viên có hoạt động văn nghệ giải trí cho công chúng mà thôi…

Thật ra, chỉ những ai đã từng quan tâm theo dõi đến các hoạt động của Thiền Am, từ cách họ mưu sinh bằng tài năng văn nghệ của mình, cũng như cách họ vụng về đối phó với những thị phi ập đến… mới có thể có câu trả lời đúng đắn và đầy đủ. Vì lẽ, nguyên nhân của sự việc đã trải dài theo nhiều năm.

Qua đó, theo nhận xét của tôi, có 6 nguyên nhân chính khiến cho Thiền Am bị truy bức:

– Sự nổi tiếng của Thiền Am, một cơ sở tu hành từ chối sự quản lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tiềm ẩn thách thức an ninh đối với chính quyền địa phương;

– Thiền Am từ chối cộng tác với Thích Nhật Từ và từ chối vào Giáo hội Phật Giáo Việt Nam khiến cho Thích Nhật Từ tố cáo trả đũa;

– Công an trả đũa vụ tai tiếng hối lộ 300 triệu bất thành làm mất uy tín ngành công an tại địa phương;

– Công an che dấu tội phạm trong vụ 50 côn đồ xâm nhập vào Thiền Am để hành hung người, đập phá, trộm cắp tài sản;

– Công an che dấu sự lạm quyền trong việc cưỡngbức đưa cô Bùi Ngọc Trâm đi khám phụ khoa;

– Công an che dấu sự lạm quyền khi bắt cóc cô Diễm My, một phụ nữ đã thành niên trái với ý muốn của cô ấy;

Cụ thể như sau:

  1. Đánh giá an ninh mang tính truyền thống của chế độ vốn không cho phép cá nhân, tổ chức được phép tồn tại nếu nổi tiếng và có khả năng hiệu triệu được công chúng. Cho dù hoạt động của các cá nhân, tổ chức đó không liên quan gì đến chính trị cả.

Sự tiềm ẩn về thách thức an ninh đối với chính quyền phải được triệt tiêu từ trong trứng nước.

Thiền Am đã trở nên rất nổi tiếng ở trong nước và nhất là ở ngoài nước, với những sản phảm video thu hút đến hàng chục vạn, thậm chí hàng triệu lượt xem và theo dõi đã vô tình trở thành mối tiềm ẩn về thách thức an ninh đối với chính quyền địa phương. Để triệt tiêu sự thách thức này, họ truy bức Thiền Am.

  1. Thiền Am đã thẳng thừng từ chối 2 lời mời của Thích Nhật Từ, trụ trì chùa Giác Ngộ và là một chức sắc thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, gồm:

– Sau những thành công của Thiền Am qua việc đoạt các giải thưởng cao trong game show truyền hình và trên trang mạng xã hội, Thích Nhật Từ đã mời Thiền Am cộng tác để cùng tham gia vào các hoạt động kinh doanh của chùa Giác Ngộ do Thích Nhật Từ trụ trì. Nhưng Thiền Am đã từ chối.

– Thích Nhật Từ cũng mời Thiền Am tham gia vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Nhưng Thiền Am cũng từ chối. Theo lời ông cụ Lê Tùng Vân: “Vì Giáo hội Phật Giáo Việt Nam không xứng đáng để tôi tham gia”!.

Sĩ diện, “Ăn không được thì đạp đổ”, Thích Nhật Từ đã trả đũa bằng cách trở mặt, liên tục xúc phạm, bôi nhọ, đặt điều gây tổn hại đến thanh danh của Thiền Am trong một thời gian dài. Sau khi Thiền Am khiếu nại, tố cáo không được giải quyết, đã có lời xúc phạm trả đũa liền bị Thích Nhật Từ tố cáo yêu cầu công an xử lý.

Sự tố cáo của Thích Nhật Từ phù hợp với ý đồ của Công an tỉnh Long An, do đó, họ đã truy bức Thiền Am.

  1. Công an địa phương đã đòi hối lộ 300 triệu đồng để làm chứng minh nhân dân cho một số thành viên của Thiền Am. Sự việc bị tố cáo khiến cho công an mất mặt, mất uy tín.

Để trả đũa, họ truy bức Thiền Am.

  1. Như chính Võ Văn Thắng thừa nhận, với sự gợi ý của công an địa phương, Võ Văn Thắng đã huy động 50 tên côn đồ tự tiện xâm nhập vào Thiền Am, hành hung người gây thương tích, trộm cướp, đập phá tài sản… Tất cả đều có clip ghi ảnh, ghi hình đầy đủ.

Dù Thiền Am đã tố cáo, nhưng công an tỉnh Long An đã làm ngơ, không điều tra, không khởi tố vụ án với lý do đã làm mất hồ sơ và chứng cứ vụ án.

Để chạy tội cho 50 tên tội phạm và để che dấu sự bao che tội phạm của chính mình, họ truy bức Thiền Am.

  1. Cô Bùi Ngọc Trâm là một nữ tu tại Thiền Am và chưa từng lập gia đình. Cô ấy tố cáo luật sư Trần Quốc Dũ có phát ngôn trên mạng xã hội xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm.

Đổi lại, công an địa phương cưỡng chế đưa cô ấy đi khám phụ khoa để chứng minh lời luật sư Trần Quốc Dũ xúc phạm cô Trâm là đúng. Như là cách để cứu ông Dũ!

Từ tư cách người tố cáo, cô Bùi Ngọc Trâm bị công an tỉnh Long An ngang nhiên xúc phạm thân thể, danh dự. Cho dù sau đó luật sư Trần Quốc Dũ đã thừa nhận lỗi của mình.

Để che đậy cho sự lạm quyền của mình, họ truy bức Thiền Am.

  1. Cô Diễm My là một thiếu nữ đã thành niên. Cô ấy có toàn quyền quyết định chọn nơi cư trú ở nhà cha mẹ hoặc ở Thiền Am mà cô ấy mong muốn.

Nhưng Công an địa phương đã lừa gạt, dùng xe cứu thương đưa cô ấy về giao cho cha mẹ.

Do Thiền Am không biết sự lừa gạt này nên đã có phát ngôn cho rằng công an bắt cóc Diễm My là có lý do và hoàn toàn bình thường.

Để che đậy hành vi lừa gạt, bắt cóc một thiếu nữ đã thành niên trái với ý muốn của cô ấy và trả đũa phát ngôn “công an bắt cóc người”, họ truy bức Thiền Am.

KẾT LUẬN :

Truy bức Thiền Am là cách công an tỉnh Long An trả đũa và đang tự cứu lấy mình để: Che dấu các hành vi lạm quyền cùng các hành vi che dấu tội phạm của chính công an tỉnh.

Trong một xã hội bất công, lực lượng công an thay vì là giải pháp lại trở thành nguồn gốc gây ra bất công. Nó khiến cho mọi quan hệ xã hội trở nên méo mó. Theo đó, thì ngay cả việc dân lành chọn cách sống lương thiện cũng trở thành khó khăn.

Manh Dang

——-///——-

Ảnh: Đại tá Văn Công Minh, Phó Giám đốc công an tỉnh, người chủ trương xóa sổ Thiền Am


 

Ba ‘cô tiên’ gốc Việt cứu người suýt chết trong nhà hàng ở Little Saigon

Ba’o Nguoi-Viet

May 14, 2025

Văn Lan/Người Việt

GARDEN GROVE, California (NV) – Ba cô gái Việt Nam vừa được vinh danh trong một buổi tiệc nhỏ ở nhà hàng Brodard Chateau, Garden Grove, lúc 7 giờ tối 23 Tháng Tư, vì trước đó cứu được một người suýt chết trong một buổi tiệc ở một nhà hàng khác trong vùng Little Saigon.

Cô Michelle Đỗ (bìa trái, đại diện GSV Janet Nguyễn) trao tặng bằng tưởng lục vinh danh ba “cô tiên” cứu người, từ trái, Tricia Hoàng, Jacqueline Ngọc Diễm Trần, và Vannessa Nina Rose Phạm. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Vì hành động anh hùng đó mà ba “cô tiên” Tricia Hoàng, Jacqueline Ngọc Diễm Trần, và Vannessa Nina Rose Phạm được Văn Phòng Giám Sát Viên Janet Nguyễn tuyên dương.

Tại buổi tiệc, cô Michelle Đỗ, đại diện vị dân cử gốc Việt, trao tặng bằng tưởng lục đến ba người này, và nói rằng: “Họ đã có hành động anh hùng, phản ứng nhanh chóng và vị tha trong trường hợp khẩn cấp đe dọa tính mạng người khác. Khi sự việc xảy ra, hô hấp nhân tạo (CPR) và sự hỗ trợ cần thiết của họ đã đóng vai trò quan trọng trong việc cứu sống một người. Lòng dũng cảm và lòng trắc ẩn mà bạn thể hiện phản ảnh lý tưởng cao nhất về tinh thần cộng đồng và lòng nhiệt huyết.”

Được biết, sự việc xảy ra tại nhà hàng White Palace, Westminster, hôm 15 Tháng Hai.

Cô Tricia Hoàng, y sĩ của bệnh viện UCI, nhớ lại: “Hôm đó ở nhà hàng rất đông người, rất ồn ào và náo nhiệt. Khi em đang cắt bánh sinh nhật, bỗng nhiên ông xã em chạy lại báo có một phụ nữ không được khỏe. Em chạy lại thấy người phụ nữ lúc đó còn tỉnh nhưng mặt mày phờ phạc y như người thiếu ngủ.”

“Rồi gương mặt cô ấy tái nhợt, cô không còn thở, té ngửa ra bất tỉnh kéo em té theo. Em đỡ cô ấy lên làm CPR (bằng miệng). Trong khi đó, cô Jacqueline Ngọc Diễm Trần, cũng là y sĩ, chạy tới làm phương pháp đập ngực để giúp tim bệnh nhân có nhịp đập trở lại. Khoảng hơn 5 phút sau, cô ấy bắt đầu thở lại được. Tiếp đến, cô Vannessa Nina Rose Phạm chạy tới nâng đầu cô ấy qua một bên, và cô ta nôn mửa lên người Nina. Mấy phút sau, xe cấp cứu tới chở cô ấy đi bệnh viện,” cô Tricia kể tiếp.

Cô Liên Nguyễn (ngồi, thứ hai từ phải), em cô Vân Nguyễn, đại diện chị ngỏ lời cám ơn ba “cô tiên” đã cứu sống chị cô. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Theo cô Tricia, “có thể cô ấy bị nhồi máu cơ tim, hoặc là gì khác nữa chăng, có nhiều nguyên nhân lắm. Ngay lúc nguy cấp đó em chỉ biết cứu người thôi. Nếu mình biết cách cứu chữa thì nên làm. Là người trong ngành y thấy người sắp chết không thể không cứu.”

Trong khi đó, cô Jacqueline Ngọc Diễm Trần, cũng là một y sĩ lâu năm, cộng tác với Trung Tâm Y Tế Michael Đào tám năm nay, cho biết khi cô chạy đến, bệnh nhân đã bất tỉnh, mặt tái ngắt và không còn hơi thở.

Cô tiếp: “Tricia đỡ cô ấy nằm xuống đất làm hô hấp nhân tạo, và em thăm dò coi mạch máu ở cổ còn đập hay không. Khi không thấy nhịp đập thì Tricia làm CPR, còn em kích thích nhịp tim bằng CPR, ấn lòng ngực nhiều lần để hồi sức tim phổi, kết hợp giữa ép tim trong lồng ngực và thông khí nhân tạo.”

“Sau đó, bệnh nhân có hơi thở trở lại nhưng rất yếu, tụi em ngưng làm CPR, lay cho đến khi cô mở mắt ra thì nạn nhân buồn nôn, phải đặt cô ấy nằm nghiêng một bên đề phòng khi ói không chảy ngược vào cuống phổi. Cô ấy ói rất nhiều, vài phút sau là xe cấp cứu tới đưa nạn nhân đi nhà thương,” cô Jacqueline Ngọc Diễm Trần kể.

Cô Jacqueline kể thêm: “Trường hợp này cho thấy triệu chứng của người bị nhồi máu cơ tim. Ví dụ như không còn hơi thở, không còn nhịp tim, mặt tái lại, nếu để nạn nhân nằm yên không can thiệp kịp thời thì nguy cơ tử vong rất cao vì não không có oxy. Nếu có cứu được thì não cũng bị tổn thương, tuy sống sót nhưng có thể bị đột quỵ, nếu chúng em không có ở đó, có thể chuyện không hay đã xảy ra.”

Nhóm bạn và đồng nghiệp của ba “cô tiên” cứu người, trong buổi tiệc mừng vinh danh. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Cô Vannessa Nina Rose Phạm, Hoa Hậu Nhân Ái California, cũng có mặt trong giây phút cấp cứu người bị nạn.

Cô cho hay cô cũng là y tá ở San Jose, California. Trong phút giây nguy cấp, cứu người là hành động tức khắc, chậm một giây phút nào là nguy đến tính mạng ngay lập tức.

Tại buổi tiệc, cô Vân Nguyễn, người bị ngưng tim trong tiệc sinh nhật hai tháng trước đã được cứu thoát trong gang tấc, vì bận việc không đến dự được, nên cô Liên Nguyễn là em của cô Vân, thay mặt chị ngỏ lời cám ơn ba “cô tiên” trong đời thường, đã kịp thời cứu chị cô qua cơn nguy hiểm.

Cô Michelle Đỗ cho hay hành động nhanh chóng, phản ứng kịp thời của ba cô này để cứu người đang cơn nguy cấp đến tính mạng rất đáng ca ngợi, vì không phải ai biết CPR cũng có thể làm với phản xạ cấp kỳ như vậy được.

Cô tiếp: “Văn Phòng Giám Sát Viên Janet Nguyễn khuyến khích mọi người nên biết đến phương pháp CPR này, ít nhất là trong gia đình để khi gặp trường hợp khẩn cấp có thể hành động nhanh được, cứu sống một mạng người rất quan trọng, mọi người nên để ý đến.” [đ.d.]


 

Nguy cơ vỡ nợ : Liệu Mỹ có lặp lại lịch sử năm 1933 ?

RFI

Ngày 10/05/2025, bộ trưởng Tài Chính Scott Bessent cảnh báo Mỹ có nguy cơ sẽ không còn khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài chính vào tháng 8 nếu không đình chỉ hoặc nâng trần nợ công. Trong thư ngỏ gởi đến chủ tịch Hạ Viện Mike Johnson, ông kêu gọi Quốc Hội sớm hành động nhằm « duy trì mức độ tin cậy và lòng tin » của cộng đồng quốc tế và các chủ nợ đối với Hoa Kỳ.

Đăng ngày: 14/05/2025 

Ảnh minh họa: Tờ một đô la Mỹ.

Ảnh minh họa: Tờ một đô la Mỹ. AFP – ANDY JACOBSOHN

Minh Anh

Lời kêu gọi này được ông Bessent đưa ra vào lúc Quốc Hội Mỹ đang thảo luận về việc điều chỉnh trần nợ, hiện đã ở mức 36.000 tỷ đô la – một giới hạn đã được Quốc Hội phê duyệt và đã bị vượt quá từ tháng Giêng năm 2025. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như Hoa Kỳ thực sự mất khả năng huy động thanh khoản ? Câu chuyện Mỹ bị vỡ nợ và đơn phương tái cấu trúc nợ năm 1933 vẫn còn ám ảnh giới chuyên gia cho đến ngày nay.

Vỡ nợ công là gì ?

Giáo sư Charbel Cordahi, chuyên ngành Tài Chính và Kinh tế, Trường Quản trị Kinh doanh Grenoble, trên trang The Conversation (07/05/2025) trước hết giải thích, vỡ nợ công diễn ra khi một quốc gia không thực hiện được mọi nghĩa vụ tài chính, bao gồm cả việc trả lãi cho các chủ nợ. Một trong nhiều lý do chính yếu khiến một nước vỡ nợ là do tình trạng trì trệ kinh tế kinh niên, được đặc trưng bởi tăng trưởng thấp, thâm hụt ngân sách liên tục và mất cân đối cơ cấu trong tài khoản vãng lai cũng như là mức độ mắc nợ quá mức.  

Việc « phớt lờ » các dấu hiệu cảnh báo là yếu tố « quyết định » dẫn đến việc mất khả năng thanh toán, chẳng hạn như một chính sách tiền tệ nới lỏng nhằm thúc đẩy mở rộng tiền tệ và giảm nhẹ gánh nặng nợ thông qua lạm phát hay giảm giá đồng nội tệ. Những lập luận ủng hộ cho việc vỡ nợ thường được dựa trên việc giảm bớt gánh nặng nợ nần, giảm dòng chảy vốn ra bên ngoài, bảo toàn dự trữ ngoại hối cũng như là nhu cầu đàm phán lại nợ.

Chuyện gì đã xảy ra giai đoạn 1840-1842 ?

Giai đoạn 1840 – 1842 đánh dấu một trong những sự sụp đổ ấn tượng nhất và bất ngờ nhất trong lịch sử nước Mỹ : 19 trong số 26 bang rơi vào tình trạng vỡ nợ. Nguyên nhân là do chi phí xây dựng kênh đào quá cao dẫn đến việc chồng chất nợ quá mức. Trong những năm 1830, nhiều bang Mỹ ký các khoản vay nợ để tài trợ các dự án hạ tầng và xây dựng kênh đào, thiết yếu cho sự phát triển kinh tế. Các dự án này chủ yếu được tài trợ thông qua việc phát hành trái phiếu Nhà nước. 

Một thế kỷ sau, trong suốt năm 1933, chính phủ Mỹ từ chối trả niên kim vàng nợ cho Panama theo hiệp ước 1903, tiểu bang Arkansas vỡ nợ và chế độ bản vị vàng bị tân tổng thống Franklin Roosevelt đình chỉ.

Sập sàn chứng khoán 1929 : Điểm xuất phát cho cuộc Đại Suy Thoái ?

Giới kinh tế gia thường coi vụ sập sàn chứng khoán Thứ Năm Đen Tối, xảy ra ngày 24/10/1929 như là điểm xuất phát cho cuộc Đại Suy Thoái Mỹ. Vào lúc đỉnh điểm, năm 1933, một phần tư dân số Mỹ trong độ tuổi lao động, tức khoảng 12,83 triệu người, bị thất nghiệp. Thu nhập của những lao động may mắn giữ được việc làm sụt giảm đến 42,5% trong giai đoạn 1929 – 1933. Tình trạng « đình lạm » đã xẩy ra, một hiện tượng hiếm gặp mà ở đó, đình trệ kinh tế diễn ra vào lúc lạm phát tăng cao.

Từ bỏ chế độ bản vị vàng

Trang mạng Le Temps (16/08/2018) nhắc lại rằng khi chính thức nhậm chức ngày 04/03/1933, tổng thống Franklin D. Roosevelt còn phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng ngân hàng gay gắt đến mức ông phải ra lệnh đóng cửa các ngân hàng nhiều ngày. Nguyên nhân : đồng đô la được bảo đảm bằng vàng. Do đô la mất giá, người dân chuyển đổi đô la thành vàng, dự trữ vàng của ngân hàng sụt giảm mạnh.

Vào thời điểm đó, vàng còn có một vai trò chủ chốt khác. Hầu hết các hợp đồng nợ, tư nhân và nhà nước, đều có điều khoản vàng, quy định trả nợ bằng vàng để bảo vệ nhà đầu tư trước nguy cơ đồng đô la trượt giá. Điều khoản này có liên quan đến một khoản nợ đáng kể, 120 tỷ đô la, tức chiếm đến 180% GDP nước Mỹ.

Để ngăn chặn tình trạng thất thoát kim loại quý này và bình ổn nền kinh tế quốc gia, tháng 4/1933, chính phủ Mỹ đã đình chỉ khả năng chuyển đổi của đồng đô la, đồng thời cấm những người nắm giữ đô la, bất kể là Mỹ hay nước ngoài, đổi tiền thành vàng. Biện pháp này đặt dấu chấm hết cho chế độ bản vị vàng, một hệ thống tiền tệ có hiệu lực từ năm 1879, theo đó, tiền tệ được bảo đảm bằng vàng.

Cùng lúc, tổng thống Roosevelt ra lệnh đổi tất cả các đồng tiền vàng và chứng chỉ vàng có giá trị hơn 100 đô la sang các loại tiền tệ khác. Ông bắt buộc tất cả những ai trữ đồng tiền vàng, thỏi vàng và chứng chỉ vàng phải « bán » cho Cục Dự trữ Liên bang trước ngày 01/05, với mức giá ấn định là 20,67 đô la/ounce. Đến ngày 10/05/1933, chính phủ Mỹ thu được 300 triệu đô la tiền vàng và 470 triệu đô la chứng chỉ vàng.

Trang Le Temps cho biết thêm, đến ngày 05/06/1933, Quốc Hội Mỹ hủy tất cả các điều khoản vàng của các hợp đồng có hiệu lực hồi tố, bao gồm cả những hợp đồng có liên quan đến chủ nợ nước ngoài. Một đòn sét đánh tại một nước được biết đến vì sự tôn trọng các cam kết của mình. Ngày 31/01/1934, tổng thống Roosevelt cho giảm giá đồng đô la đến 69% khi định giá vàng ở mức 35 đô la.

Những quyết định trên đã dẫn đến một cuộc chiến pháp lý giữa các nhà đầu tư với chính quyền Roosevelt, và làm dấy lên những chỉ trích cho đấy là « một hành vi vi phạm hợp đồng và chuyển giao tài sản từ chủ nợ sang con nợ », một quyết định « vi hiến »…

Mỹ « phủi » một phần nợ đối với Panama

Theo Charbel Cordahi, chính sách tái cấu trúc nợ đơn phương bằng vàng của Mỹ năm 1933, tuy phần nào đã làm giảm mạnh gánh nặng nợ của Mỹ, cho phép phục hồi nền kinh tế, nhưng cũng đã dẫn đến tình trạng vỡ nợ đối với Panama.

Quyết định của Mỹ hủy các điều khoản trả nợ bằng vàng đã làm cho những khoản nợ vay với Panama bị mất giá đến 41%. Chính phủ Mỹ từ chối thanh toán vào ngày đáo hạn bằng đồng vàng balboa, loại tiền tệ được định giá theo vàng và được sử dụng làm biểu tượng cho tiền tệ quốc gia Panama.

Việc bác bỏ một phần nợ đối với Panama đã gây ra những căng thẳng chính trị chưa từng có giữa hai nước. Phải đợi đến năm 1936, chính quyền Mỹ mới thực sự trả số tiền đã thỏa thuận bằng đồng vàng balboa.

Bang Arkansas mất khả năng thanh khoản

Trong cùng năm 1933, ngoài hai vụ vỡ nợ trên, còn xảy ra việc bang Arkansas mất khả năng thanh toán. Bang này, bị tác động mạnh bởi cuộc Đại Suy Thoái, đã không thể thanh toán các trái phiếu hạ tầng mà chính quyền bang Arkansas phát hành trong những năm 1920 để tài trợ cho các dự án xây đường cao tốc, được bảo đảm bằng nguồn thu thuế đất.

Tuy nhiên, nguồn thu thuế sụt giảm mạnh, kết hợp với khoản nợ ngày càng lớn đối với các ngân hàng của phố Wall khiến việc trả nợ trở nên bất khả thi. Ngay từ năm 1932, chính quyền bang không còn khả năng thanh toán khoản nợ gồm cả gốc lẫn lãi là 11 triệu đô la. Các nỗ lực của chính quyền bang như tái cấu trúc nợ, hay hợp nhất trái phiếu thành một đợt phát hành mới duy nhất đều bị phản bác.

Trong tình thế này, chính quyền Arkansas phải đình chỉ trả tiền nợ gốc và lãi đối với hàng triệu đô la trái phiếu. Và Arkansas trở thành bang duy nhất ở Mỹ bị vỡ nợ trong suốt cuộc khủng hoảng kinh tế của những năm 1930. Chỉ đến cuối thập niên 1930, bang này mới có thể quay trở lại thị trường tín dụng nhưng phải chịu các điều kiện ràng buộc hơn nhiều như phải tăng thuế và từ bỏ một phần quyền kiểm soát các nguồn thu từ đường cao tốc được dùng để trả nợ.

Liệu lịch sử có tái diễn ?

Dự phóng tương lai là một việc làm tế nhị và việc để vỡ nợ luôn phải trả giá. Trong trường hợp của Mỹ, việc mất khả năng thanh toán có thể làm dấy lên nghi ngờ về vị thế trụ cột của đồng đô la trong hệ thống tiền tệ quốc tế. Nhiều nước đã bắt đầu nghĩ đến nguy cơ vỡ nợ có chọn lọc đối với nợ của Mỹ. Hiện tượng này sẽ xảy ra khi một Nhà nước quyết định chọn không thanh toán một số khoản nợ trong khi vẫn tiếp tục trả các khoản nợ khác. Chiến lược này cho phép giảm nợ mà vẫn duy trì được niềm tin đối với các nhà đầu tư.

Giáo sư Charbel Cordahi kết luận : Chỉ có thời gian mới có thể trả lời…

(Nguồn The Conversation, Le Temps)


 

CÁI NƯỚC MÌNH NÓ THẾ ..

Hắn đưa ông bố viêm túi mật đi cấp cứu nhà thương. Bệnh cụ căng quá. Bác sỹ bảo phải mổ ngay.

“Gia đình mình cho cụ mổ CÔNG NGHỆ CAO nhé ?!”

“Ngoài công nghệ cao còn có mổ gì, thưa bác sỹ ?!” – Hắn hỏi một cách cầu thị.

Tay bác sỹ nhìn hắn như nhìn một thằng ngố lạc loài, đáp: “Mổ thường chứ còn mổ gì !”.

Vì lơ mơ không hiểu nên hắn định hỏi thêm về “Mổ Công nghệ cao” và “Mổ thường” khác nhau thế nào nhưng rồi kinh nghiệm đi viện khiến hắn ngậm miệng.

Hắn gọi điện nhờ tư vấn. Ông bạn thân quát lên trong máy: “Lăn tăn gì nữa! Công nghệ cao! Nhanh và luôn !”.

Ca mổ thành công rực rỡ. Tất nhiên chi phí “công nghệ cao” cũng… cao hơn vài chục triệu đồng. Mổ xong ắt phải nằm hồi sức.

“Gia đình cho cụ nằm hồi sức TÍCH CỰC hay hồi sức thường ?!”

Kinh nghiệm của “công nghệ cao” cho hắn quyết định nhanh gọn: “Vâng! Xin theo hồi sức tích cực”.

Quyết định của hắn thật sáng suốt. Phòng “Hồi sức tích cực” nằm ngay gần cầu thang chứ không xa xôi heo hắt như “hồi sức thường”. Phòng có cả… dép tổ ong đỏ thắm, cắt cụt mũi cho người nhà bệnh nhân. Ở đây đủ loại máy móc, thầy thuốc ra vào chăm sóc tận tình. Vì “tích cực” nên mấy cô osin cũng có vẻ sang chảnh hơn, móng chân, móng tay, điện thoại đều đời mới. Các cô đi lại chộn rộn và thường nhìn mấy cô osin “hồi sức thường” với con mắt rất… thường.

Chưa hết, ngày đầu ở phòng “tích cực” hắn bối rối khi bác sỹ hỏi:

“Gia đình mình cho cụ dùng THUỐC TỐT nhé ?!”;

Hắn giật mình: “Sao nhỉ! Đã tích cực thì thuốc phải tốt chứ ?!”. Dù thắc mắc vậy, trước mặt anh chị em, họ hàng, bạn bè, hắn vẫn dõng dạc tuyên bố: “Thuốc tốt tất nhiên !”

Tiếc rằng, dù mổ công nghệ cao, hồi sức tích cực và dùng thuốc tốt, bố hắn vẫn qua đời không lâu sau khi nhập viện.

Tưởng chết là hết ai ngờ khi gọi điện tìm nhà tang lễ, đầu dây bên kia có người hỏi:

“Gia đình mình dùng DỊCH VỤ TRỌN GÓI hay dịch vụ thường ?”.

Đang sẵn đau thương bối rối nên hắn trả lời cho xong: “Bình thường thôi !”. Hắn không ngờ không dùng “trọn gói”, dịch vụ bình thường lại không… bình thường chút nào. Nhưng chuyện đã dài rồi, để lúc khác kể tiếp…

Thực lòng chuyện này viết ra không phải để đau thương căm hận mà để hài hước đồng ý với danh ngôn: “Cái nước mình nó thế !…”

Nguồn: Tào lao kẻ chợ