Theo tôi thì phải gọi là đất nước đang đến hồi tàn mạt và sụp đổ!

Van Son

Nếu gọi là đất nước trên đà suy thoái thì e rằng không chính xác. Theo tôi thì phải gọi là đất nước đang đến hồi tàn mạt và sụp đổ!

Nguyễn Văn Tuấn nguyên giảng sư Đại Học Y Khoa New South Wales & University of Technology, Sydney:

Tôi vừa có một chuyến đi gần 1 tháng ở bên nhà. Đó là một thời gian tương đối dài đối với tôi, một phần là vì công việc, và một phần khác là nghỉ hè. Chính vì hai việc này mà tôi có dịp đi đây đó, và có dịp quan sát quê hương — không phải từ phòng máy lạnh, mà từ thực địa. Tôi e rằng những quan sát và cảm nhận của tôi hơi bi quan. Thú thật, tôi không thấy một Việt Nam sẽ “tươi sáng”, mà chỉ thấy một đất nước sẽ tiếp tục tụt hậu và lệ thuộc, nhất là trong bối cảnh cộng đồng kinh tế ASEAN

  1. Một đất nước trên đà suy thoái.

Cái ấn tượng chung và bao quát trong chuyến về thăm quê là đất nước này đang trên đà suy thoái hầu như về mọi mặt. Mặc cho những con số thống kê kinh tế màu hồng được tô vẽ bởi Nhà nước, trong thực tế thì cuộc sống của người dân càng ngày càng khó hơn.. Hơn 70% dân số là nông dân hay sống ở miệt quê, nên chúng ta thử xem qua cuộc sống của một gia đình nông dân tiêu biểu, gồm vợ, chồng và 2 con. Gia đình này làm ra gạo để các tập đoàn Nhà nước đem đi xuất khẩu lấy ngoại tệ (và chia chác?) nhưng số tiền mà họ để dành thì chẳng bao nhiêu..

Gia đình này có thể có 5 công đất (hoặc cao lắm là 10 công đất), sau một năm quần quật làm việc “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, cả nhà chỉ để dành khoảng 10-15 triệu đồng, có khi còn không bằng một bữa nhậu của các quan chức. Cuộc sống của người nông dân là nợ triền miên.. Đầu mùa thì vay ngân hàng để mua giống, mua phân, mua thuốc trừ sâu; Thu hoạch xong thì phải trả nợ cộng tiền lời cho ngân hàng. Rồi đến mùa vụ kế tiếp thì cái vòng vay – trả nợ lại bắt đầu. Con của người nông dân đi học, thì mỗi đứa phải gánh ít nhất là 10 loại phí khác nhau, có khi lên đến 20 phí!

Các trường, các uỷ ban nhân dân, các cơ quan công quyền, v.v. đua nhau sáng chế ra những loại phí để moi móc túi tiền người dân vốn đã quá ít ỏi. Họ không cần biết người dân có tiền hay không, phí là phí, và phải đóng phí. Không ít gia đình không có tiền đóng phí nên cho con nghỉ học. Đã có tình trạng người dân không đủ tiền trả viện phí nên tìm đến con đường tự tử. Môi trường sống xuống cấp thê thảm. Sự gia tăng dân số gây áp lực vô cùng lớn đến môi sinh. Mật độ dân số tăng nhanh, ngay cả ở vùng nông thôn. Có thể nói rằng hầu hết các con sông ở VN đang chết. Tất tần tật, kể cả heo gà và có khi cả người chết, cũng bị vứt xuống sông.

Những con sông VN đang chết vì chúng đã biến thành những bãi rác di động khổng lồ. Đó là chưa nói đến sự xâm nhập của nước mặn vào các con sông vùng Đồng bằng sông Cửu Long, một phần là do mấy cái đập lớn Tàu xây trên thượng nguồn của sông. Tôi cho rằng sự suy thoái về môi trường là mối đe dọa lớn nhất đến sự tồn vong của đất nước. Ở đất nước này, chính quyền đã mắc cái bệnh vô cảm quá lâu, và bệnh đã trở thành mãn tính, rất khó cứu chữa.

Cái bệnh vô cảm của chính quyền nó còn lan truyền sang cả xã hội, mà trong đó mọi người dùng mọi phương cách và thủ đoạn để tranh nhau ngoi lên mặt đất mà sống… Có thể nói cả xã hội đang chạy đua. Cái chữ “chạy” ở VN đã có một ý nghĩa khác… Dân chạy để đưa con cái vào đại học, vào cơ quan Nhà nước để hi vọng đổi đời. Quan chức cũng chạy đua vào các chức vụ trong guồng máy công quyền, và họ chạy bằng tiền. Tiền dĩ nhiên là từ dân. Thành ra, cuối cùng thì người dân lãnh đủ. Sự suy thoái ở VN diễn ra trên mọi mặt, từ kinh tế, môi trường, y tế, giáo dục, đến đạo đức xã hội.

  1. Đất nước đang bị “bán”

Một anh bạn tôi vốn là một doanh nhân (businessman) thành đạt cứ mỗi lần gặp tôi là than thở rằng đất nước này đang bị bán dần cho người nước ngoài. Mà, đúng là như thế thật. Ở khắp nơi, từ Đà Nẵng, đến Nha Trang, tận Phú Quốc, người ta “qui hoạch” đất để bán cho các tập đoàn nước ngoài xây resort, khách sạn, căn hộ cao cấp. Một trong những “ông chủ” mới thừa tiền để mua tất cả của Việt Nam là người Tàu lục địa. Chẳng những đất đai được bán, các thương hiệu của VN cũng dần dần bị các tập đoàn kinh tế nước ngoài thu tóm và kiểm soát.

Chẳng hạn như các tập đoàn Thái Lan đã thu tóm những thương hiệu bán lẻ và hàng điện tử của Việt Nam.. Tuy nhiên, người dân có vẻ “ok” khi người Thái kiểm soát các cửa hàng này, vì dù sao thì người Thái đem hàng của họ sang còn có phẩm chất tốt và đáng tin cậy hơn là hàng hoá độc hại của Tàu cộng.

Đó là chưa kể một loại buôn bán khác: buôn bán phụ nữ. Phụ nữ Việt Nam được quảng cáo ở các nước như Tàu, Đài Loan, Singapore và Đại Hàn. Chưa bao giờ người Việt Nam chịu nhục khi con gái VN được cho đứng trong lồng kiếng như là những món hàng để người ta qua lại ngắm nghía và trả giá ! Thử hỏi, có người Việt Nam nào tự hào được khi đồng hương mình bị đem ra rao bán như thế… Xin đừng nói đó là những trường hợp cá biệt; đó là tín hiệu cho thấy một đất nước đang bị suy thoái về đạo đức xã hội.

  1. Tham nhũng tràn lan

Không cần phải nhờ đến tổ chức minh bạch quốc tế chúng ta mới biết VN là một trong những nước tham nhũng nhất thế giới. Chỉ cần tiếp xúc với hải quan, hay bất cứ cơ quan công quyền nào, người dân đều có thể nếm “mùi tham nhũng”. Tham nhũng từ dưới lên trên, từ bên này sang bên kia, từ cấp thấp đến cấp cao. Có khi tham nhũng công khai, và kẻ vòi tiền mặc cả cái giá mà không hề xấu hổ.

Các cơ quan Nhà nước phải hối lộ các cơ quan Nhà nước khác, và họ xem đó là bình thường. Ngay cả những ngành dịch vụ tưởng như là “trí thức” như giáo dục và y tế mà cũng tham nhũng, và vì họ có học nên tham nhũng ở hai ngành này còn “tinh tế” hơn các ngành khác! Có thể nói là tham nhũng (và hối lộ) đã trở thành một thứ văn hoá. Cái văn hoá này nó ăn sâu vào não trạng của cán bộ Nhà nước. Đã là văn hoá thì nó rất khó xoá bỏ một sớm một chiều. Ngay cả ông tổng Phú Trọng còn thú nhận rằng trạng tham nhũng như “ghẻ ruồi, rất ngứa ngáy, khó chịu”, nhưng cho đến nay ông cũng không làm được cái gì để giảm tình trạng này.

  1. Xã hội bất an

Có thể nói không ngoa rằng VN là một xã hội bất an. Đọc báo hàng ngày thấy tin tức về tội phạm dày đặc khắp nơi. Chẳng những sự phổ biến của tội phạm, mà sự manh động của các vụ án càng ngày càng táo tợn. Chưa nơi nào có những vụ giết người vô cớ như ở VN: Chỉ một cái nhìn cũng có thể dẫn đến cái chết! Đáng ngại nhất là tội phạm đã lan tràn về tận vùng quê.

Ở quê tôi, nơi mà ngày xưa là một làng êm ả, ngày nay là một cộng đồng bất an vì những vụ chém giết xảy ra hầu như hàng tuần ! Người dân dưới quê cảm thấy mệt mỏi, không muốn nuôi trồng gì nữa, vì nạn trộm cắp hoành hành triền miên. Nuôi cá chưa đủ lớn thì đã bị trộm câu mất. Trồng một cây mít, trái chưa chín thì đã có trộm hái dùm. Chưa bao giờ tình trạng trộm cắp phổ biến như hiện nay ở vùng nông thôn.

Đó là chưa nói đến tai nạn giao thông vốn còn kinh hoàng hơn cả trộm cắp. Ở VN, bước ra đường là chấp nhận rủi ro tai nạn, thậm chí chết vì sự hỗn loạn của hệ thống giao thông. Thật vậy, tai nạn giao thông ở VN đã và đang trở thành nỗi kinh hoàng của không chỉ người dân địa phương mà còn ở du khách. Một dạng bất an khác là (mất) an toàn thực phẩm.

Có thể nói rằng đây là vấn đề làm cho cả dân số quan tâm nhất (theo như kết quả của một cuộc điều tra xã hội chỉ ra).. Đi đến đâu, ở bất cứ thời điểm nào, người ta cũng nói đến những loại hàng hoá độc hại được tuồn vào thị trường Việt Nam từ một cái nguồn quen thuộc: Tàu cộng. Ngay cả ở dưới quê tôi, người dân còn không dám mua trái cây có xuất xứ từ Tàu.. Không có một nông sản nào của Tàu sản xuất được xem là an toàn.

Ngày nay, ngay cả các bợm nhậu cũng e dè những món ăn ở nhà hàng, quán nhậu, vì không ai dám chắc đó là hàng hoá của VN hay của Tàu. Nhưng điều đáng buồn nhất là sự tiếp tay của các doanh nghiệp Việt Nam để cho hàng hoá Tàu hoành hành đất nước ta và dân tộc ta. Thật không ngoa khi gọi những doanh nghiệp này là “gian thương”. Cũng không ngoa để nói rằng gian thương cấu kết với những cán bộ tham nhũng đang giết chết kinh tế nước nhà và người dân.

  1. Trí thức không có tiếng nói, không có phản đối

Theo dõi báo chí ở VN, dễ dàng thấy sự trống vắng tiếng nói của giới trí thức. Trước một sự kiện tương đối quan trọng như đại hội đảng csvn, mà không hề có bất cứ một bình luận độc lập nào, không hề có một bài phân tích về các nhân vật chóp bu trong đảng, hoàn toàn không có một phát biểu mang tính viễn kiến của bất cứ một nhân vật “lãnh đạo” tương lai nào!

Thay vào đó là những tiếng nói của những người mang danh “sư sĩ” nhưng cách họ nói và ngôn ngữ của họ thì chẳng khác sự “cò mồi” là bao nhiêu.. Trước hiện tình đất nước, giới có học nói chung có vẻ lãnh đạm. Họ không quan tâm. Họ thường chạy trốn thực tế bằng cách biện minh rằng “chỉ lo việc chuyên môn”… Thật ra, cũng khó trách họ, vì nếu họ nói ra những ý kiến thì có thể sẽ bị phạt nặng nề, thậm chí tù đày. Ngay cả yêu nước là một tình cảm thiêng liêng mà cũng phải được tổ chức và … cho phép. Một xã hội đối xử với giới trí thức như thế thì làm sao bền vững được.

  1. Guồng máy quản lý bất tài

Thật ra, sự bất tài của quan chức Nhà Nước không còn gì là bí mật. Vì bất tài, nên họ thường “sản xuất” ra những quy định hài hước, và có khi cực kỳ vô lí và phi khoa học. Chúng ta còn nhớ trước đây, họ cho ra quy định mang danh “ngực nở chân dài” để được lái xe ô-tô, gây ra một trận cười cấp quốc gia. Tưởng như thế đã là hi hữu, ai ngờ họ lạ tái xuất với một quy định “trời ơi”: Xe ô-tô 4 bánh phải có bình chữa cháy. Quy định này làm trò cười cho cả thế giới và các hãng sản xuất xe hơi.

Tưởng quy định như thế đã là vô lý, họ còn cho ra một quy định “trên trời” như xe trên 10 chỗ ngồi phải có găng tay và khẩu trang lọc độc! (Tất nhiên, không phải ai trong guồng máy Nhà nước đều là bất tài, vẫn có người tài đó, nhưng cái ấn tượng chung mà người dân có thì đó là một guồng máy gồm những người bất tài, ăn bám nhân dân).

  1. Tuy bất tài, nhưng guồng máy đó rất giỏi trong việc hành hạ dân

Sự hành dân của guồng máy quản lí & hành chính của Việt Nam phải nói là vô song trên thế giới. Đối với người dân, có việc đến cổng công đường là một nỗi sợ, một cơn ác mộng. Hầu như không có một việc gì, từ nhỏ đến lớn, mà trôi chảy lần đầu khi đến gặp các quan chức Nhà nước. Tôi về quê và nghe nhiều câu chuyện hành dân mà nói theo tiếng Anh là “incredible” — không thể tin được.

Chỉ cần cái họ viết sai dấu (như “Nguyển” thay vì “Nguyễn”) là cũng bị hành và tốn tiền triệu! Những lỗi sai chính tả đó là của họ (quan chức, cán bộ), nhưng họ vẫn hành dân một cách vô tư.. Họ tìm mọi cách, mọi lúc để“đá” dân từ cơ quan này sang cơ quan khác, và biến dân như những trái banh để họ làm tiền. Thực dân Pháp ngày xưa có lẽ cũng không hành dân như cán bộ nhà nước ngày nay.

Năm 2016 này Việt Nam sẽ tham gia cộng đồng Kinh Tế ASEAN (ASEAN Economic Community hay AEC). Mục tiêu là hình thành một cộng đồng kinh tế có khả năng cạnh tranh cao, hàng hoá và dịch vụ, đầu tư sẽ tự do lưu chuyển giữa các nước thành viên. Tôi ghé thăm một đại học lớn ở Thái Lan vào năm 2013, và giới trí thức bên đó đã bàn rất nhiều về viễn cảnh này, họ tư vấn cho chính phủ để chuẩn bị hoà nhập vào AEC…

Nhưng ngạc nhiên thay, ở VN rất ít thảo luận về AEC và những tác động của nó đến cuộc sống của người dân! Nhưng với tình trạng suy thoái, đất nước bị “bán”, tham nhũng tràn lan, xã hội bất an, trí thức không có tiếng nói, guồng máy quản lý bất tài nhưng giỏi hành dân, thì không nói ra, chúng ta cũng biết là khả năng cạnh tranh của VN không cao trong AEC. Khả năng cạnh tranh không cao rất có thể dẫn đến nguy cơ lệ thuộc.

Tái bút : Nhiều người khi đọc những bài và ý kiến như thế này thường hỏi một cách hằn học rằng “ông có phải là người Việt Nam hay không mà phê phán đất nước như thế”, “ông đã làm gì cho đất nước này”, hay “nói thì hay, vậy giải pháp là gì”, v.v.

Tôi nghĩ những câu hỏi đó không tốt mấy, và có phần … lạc đề. Vấn đề là cái xấu đang hoành hành đất nước này, chứ đâu phải tôi là ai hay tôi đã làm gì cho đất nước. Chẳng lẽ chỉ có người có công và đóng góp cho đất nước mới được“phép” phê bình sao.

Nghĩ như thế thì e rằng quá nhỏ mọn. Mà, muốn biết tôi đã làm gì thì cũng chẳng khó khăn gì trong thời đại google này. Giải pháp nó nằm ngay ở mỗi cá nhân chúng ta. Mỗi người cần phải làm tốt và sống tử tế là giải pháp tốt nhất để đẩy lùi cái ác, cái xấu, cái bất công, cái bất cập trong xã hội.

Gs/Bs Nguyễn Văn Tuấn

Cựu Đại Sứ VNCH Bùi Diễm qua đời, thọ 98 tuổi

Cựu Đại Sứ VNCH Bùi Diễm qua đời, thọ 98 tuổi (Báo Nguoi-Viet)

October 24, 2021

ROCKVILLE, Maryland (NV) – Ông Bùi Diễm, cựu đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ, giai đoạn 1967-1972, vừa qua đời vào 8 giờ sáng Chủ Nhật, 24 Tháng Mười, tại nhà riêng ở Rockville, tiểu bang Maryland, thọ 98 tuổi.

Ông Boone La Qui Dung, con rể của ông Bùi Diễm, xác nhận tin này với nhật báo Người Việt, và cho hay: “Cha vợ tôi qua đời an lành trong lúc ngủ.”

Cựu Đại Sứ Bùi Diễm, hình chụp Tháng Tư, 2021. (Hình: The Jimmy TV)

Theo gia đình, ông Bùi Diễm qua đời, để lại người vợ 73 tuổi cùng hai con gái và một con trai, và hiện chưa có chương trình tang lễ.

Theo trang Wikipedia, ông Bùi Diễm sinh năm 1923, quê ở Hà Nam, miền Bắc Việt Nam.

Thân phụ ông là nhà nho Ưu Thiên Bùi Kỷ, dòng dõi phó bảng Bùi Văn Quế và Bùi Ân Niên. Ông có người cô ruột là Bùi Thị Tuất, phu nhân của học giả, thủ tướng Trần Trọng Kim (1945).

Ông từng học trường Bưởi – Chu Văn An, tham gia Trường Lục Quân tại Yên Bái.

“Ông từng làm chủ nhiệm báo Saigon Post xuất bản ở Sài Gòn bằng Anh ngữ (1954-1963). Đây là tờ báo tiếng Anh đầu tiên ở Việt Nam. Ông cũng thành lập hãng phim Tân Việt, sản xuất cuốn phim Chúng Tôi Muốn Sống.”

Về chính trị, ông giữ chức tổng trưởng Phủ Thủ Tướng (1965) trong nội các Thủ Tướng Phan Huy Quát. Còn trong nội các của Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, ông là ủy viên ngoại giao (1965-1967). Ông cũng là đảng viên Đảng Đại Việt.

Thời Đệ Nhị Cộng Hòa, ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm làm đại sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Washington, D.C., thay thế đại sứ Vũ Văn Thái. Chức vụ này ông đảm nhiệm từ năm 1967 đến năm 1972 thì chuyển làm đại sứ lưu động cho đến năm 1975.

Sau khi Sài Gòn thất thủ năm 1975, ông định cư tại Hoa Kỳ, sống tại Rockville, Maryland.

Tại Hoa Kỳ, ông là học giả tại Trung Tâm Học Giả Quốc Tế Woodrow Wilson và tại Viện Doanh Nghiệp Hoa Kỳ, đồng thời là giảng viên tại Đại Học George Mason.

Ông xuất bản cuốn hồi ký chính trị “The Jaws of History,” sau đó được dịch ra tiếng Việt tựa đề “Gọng Kìm Lịch Sử”. Cuốn sách thứ hai là “Vietnamese Economy and Its Transformation to an Open Market System” xuất bản năm 2004.

Ông từng trả lời phỏng vấn Stanley Karnow, tác giả “Vietnam: A Television History” và từng được phỏng vấn trong loạt phim “The Vietnam War” (Chiến Tranh Việt Nam) của nhà làm phim Ken Burns năm 2017.

Ông cũng tham gia nhiều hoạt động, là một thành viên trong Ban Cố Vấn của National Congress of Vietnamese Americans (NCVA, Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ). Ông tiếp tục hoạt động trong Đảng Đại Việt và từng giữ chức chủ tịch Ban Chấp Hành Trung Ương của Ðại Việt Cách Mạng Ðảng. (TL) [kn]

Lê Văn, biên tập viên kỳ cựu của VOA, qua đời ở tuổi 84

VOA Tiếng Việt 

Lê Văn, biên tập viên kỳ cựu của ban Việt ngữ Đài Tiếng nói Hoa Kỳ với giọng nói thân thuộc với hàng triệu thính giả Việt Nam suốt nhiều thập niên, qua đời ngày thứ Bảy, 23 tháng 10, thọ 84 tuổi.

Ông ra đi thanh thản trong giấc ngủ và sau hai năm mắc bệnh ung thư, vợ của ông cho biết. Bà không cho biết thêm chi tiết về bệnh tình của chồng.

Làm việc cho VOA từ năm 1964 đến khi về hưu vào năm 2002, ông được các đồng nghiệp thuộc mọi thế hệ kính trọng về tác phong chuyên nghiệp và vốn hiểu biết sâu rộng, và được thính giả gần xa tin tưởng và quý mến về những thông tin mà ông đem tới cho họ.

Ông được xem là một trong những tượng đài trong lĩnh vực phát thanh tin tức tiếng Việt ở Mỹ. Với kinh nghiệm gần 40 năm trước micro, ông là một trong những tiếng nói tiêu biểu nhất của ban Việt ngữ, mang đến cho thính giả những tin tức mới nhất và đáng tin cậy nhất từ những thời khắc nóng bỏng của Chiến tranh Việt Nam cũng như khơi lên hy vọng cho những người dưới đáy vực tuyệt vọng trong những năm hậu chiến.

Trong những phát biểu cuối cùng của ông trước khi qua đời, ông trò chuyện với VOA về những kỷ niệm đáng nhớ của ông trong lúc tác nghiệp, nêu bật sức lan tỏa và tác động to lớn từ những chương trình phát thanh của ông.

“Sau năm 1975, mỗi một lần tôi có dịp lên sân khấu phát biểu về một điều gì đó thì đến khi tôi đi xuống rất nhiều người tới nói với tôi rằng là ông Lê Văn, tôi xin phép cho tôi ôm ông một cái,” ông nói trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 9.

“Tôi mới bảo ủa tại sao có người muốn tới đây ôm mình một cái, thì họ mới nói là bởi vì hồi xưa tôi ở Việt Nam tôi nghe ông nói về những chương trình ở bên Mỹ này giúp cho người Việt có cơ hội thoát khỏi chế độ cộng sản và đi ra nước ngoài, thì cái điều đó khiến chúng tôi nức lòng phấn khởi bởi vì đã có lúc nhiều người trong bọn chúng tôi, những người đi tù cải tạo thất vọng muốn tự tử.

“Nhưng mà đến khi tôi nghe ông loan tin về những chương trình của chính phủ Mỹ thương thuyết với Việt Nam để đưa những người trước kia từng cộng tác với Mỹ, từng làm việc cho các cơ quan của Mỹ hay là những người muốn được sang thế giới tự do thì có thể ra đi theo những chương trình mới đó, lúc đó chúng tôi nhớ có những tin tức như vậy mà chúng tôi sống sót, chúng tôi bỏ ý định tự tử đi.

“Đấy là cái tác động tâm lý lớn nhất và nó cũng là một niềm an ủi đối với tôi bởi mình đã đem đến cho đồng bào những tin tức mà họ rất mong muốn, họ rất cần được biết.”

‘Tiếng nói’ của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ

Những người từng làm việc với Lê Văn nói họ mãi biết ơn ông về sự giúp đỡ mà họ từng nhận được từ ông. Ông được mô tả là một ký giả tài năng luôn hết lòng với công việc và tận tâm hướng dẫn những đồng nghiệp ít kinh nghiệm hơn.

Cựu phát thanh viên Lan Phương, nhân viên của VOA Tiếng Việt từ năm 1986 đến năm 2012, nói đến giờ này bà vẫn xem Lê Văn như một người anh cả trong gia đình. Bà nói những chỉ dẫn của ông trong tư cách chủ biên là những bài học quý giá đầu tiên khi bà bắt đầu sự nghiệp của mình.

“Trong vấn đề dịch thuật, khi mình dịch tin bác ấy chỉ dẫn cho mình sửa đổi làm sao cho thoát ý. Trong những bài phóng sự mình viết, bởi vì mình không có thì giờ nhiều cho bài viết để phát thanh, bác ấy luôn luôn hướng dẫn viết làm sao cho nó cô đọng, súc tích, đầy đủ và phải trong một thời lượng cho phép. Bác ấy chỉ dẫn từng chút từng chút một,” bà chia sẻ.

Đó cũng là những nhận xét của nhà báo Nguyễn Văn Khanh, cựu giám đốc ban Việt ngữ Đài Á Châu Tự do. Ông từng được Lê Văn tuyển mộ và làm việc tại ban Việt ngữ của VOA trong những năm 1990. Đến giờ ông vẫn nhận mình là học trò của ông.

“Anh ấy bắt tôi phải ngồi xuống, đưa cái bài tôi biết và bảo rằng cái chỗ này thêm một dấu phẩy, chỗ kia phải thêm một dấu chấm. Những điều nhỏ nhoi như thế đã khiến tôi học hỏi được rất nhiều từ anh,” nhà báo kỳ cựu này chia sẻ.

“Ông ấy rất bình tĩnh khi ông ấy ngồi trước micro. Điểm đó tôi tập mãi mà không được. Điểm thứ nhì là giọng nói của ông ấy rất đặc biệt, một giọng nói rất là dịu dàng. Kể cả những lúc ông phải đưa ra những lời lẽ đầy cương quyết thì ông cũng vẫn rất là dịu dàng, không chỉ với anh em chúng tôi mà với cả khán giả của đài VOA trong suốt bao nhiêu năm trời.”

“Có thể nói ông thầy tôi là ‘tiếng nói’ của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ.”

Lê Văn tên thật là Lê Lai. Ông sinh ngày 28 tháng 4 năm 1937 ở Nam Định. Ông lấy bằng cử nhân luật và văn chương sau khi di cư vào miền Nam năm 1954. Năm 1961, ông sang Mỹ học cao học lấy bằng thạc sĩ về Khoa học Chính trị tại Đại học Georgetown ở thủ đô Washington. Sau khi về hưu, ông dọn về sinh sống ở thành phố Houston bang Texas cho đến khi qua đời.

Người thân và bạn bè cho biết ông là người có tính tình nồng hậu, ấm áp, biết tận hưởng cuộc sống. Ông đặc biệt am hiểu về rượu vang và đã viết một cuốn sách về nó.

Gia đình dự định tổ chức tang lễ cho ông vào ngày 12 tháng 11 ở Houston và sau đó sẽ hỏa thiêu. Tro cốt của ông sẽ được an táng tại bang Virginia, nơi ông từng sống phần lớn cuộc đời khi ông làm việc tại VOA.

“Chồng tôi có nhắn nói lại với VOA rằng ông ấy rất cảm ơn ân tình của tất cả thính giả mọi nơi,” bà Lê Văn nói trong niềm xúc động nghẹn ngào.

Lê Văn, biên tập viên kỳ cựu của VOA, qua đời ở tuổi 84
VOATIENGVIET.COM

Lê Văn, biên tập viên kỳ cựu của VOA, qua đời ở tuổi 84

Lê Văn, biên tập viên kỳ cựu của ban Việt ngữ Đài Tiếng nói Hoa Kỳ v

THẦN KINH!

THẦN KINH!

Đang chạy vòng vòng tìm nhà người thợ khoan giếng thì gặp ông bạn cũ. Sau khi biết mình có nhu cầu khoan giếng, lão nói:

– Ông khoan làm gì cho tốn tiền? Nhà tôi đang có 2 cái đấy, cái nào nước cũng tốt cả, ông qua lấy 1 cái về dùng!

– Haahaa ha! Ông cũng biết đùa nhỉ!

– Đùa gì, tôi cho thật chớ không đùa đâu!

– Ông khùng quá đi! Tôi làm sao đem được cái giếng ấy về mà ông cho?

– Ủa, thế sao nhà nước mình xuất khẩu bất động sản qua tận Châu Âu, Trung Đông được, mà cái giếng của tôi cách nhà ông non cây số ông không đem về được? Giếng của tôi cũng thuộc diện bất động sản chứ gì?

– Ông bì nhà nước với tôi sao được!

– Thế nhà nước mình được lãnh đạo bởi…. những Thần Đèn à?

– Thần kinh chứ Thần Đèn cmg!

Fb Ngô Trường An

May be an image of text that says 'Tiênphong I NHỊP SỐNG PHƯƠNG NAM Chuyển Việt Nam sẽ sớm 'xuất khẩu' bất động sản sang châu Âu và Trung Đông 21/10/2021 08:00'

Một vài kỷ niệm về phu nhân Tổng Thống Thiệu

Một vài kỷ niệm về phu nhân Tổng Thống Thiệu (Báo Người Việt)

October 22, 2021

Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng

Mùa Đông năm 1976, chúng tôi bay sang London, Anh, để thăm ông bà cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Trước khi đi, chúng tôi viết thư cho ông biết ngày giờ tới phi trường Heathrow và số chuyến bay. Ông trả lời là sẽ có người ra đón. Tới nơi thì vừa ra cửa đã thấy ông đứng ngay ở đó vẫy tay chào. Thật là cảm động gặp lại ông sau hơn một năm trời và sau bao nhiêu biến cố.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phu nhân tại phi trường Heathrow, London, Anh, ngày 11 Tháng Tư, 1973. (Hình minh họa: Evening Standard/Hulton Archive/Getty Images)

Sau khi bắt tay nhau thật chặt và trao đổi mấy lời thăm hỏi, ông tự lái xe đưa chúng tôi về nhà. Đây là một căn nhà nho nhỏ, xinh xinh nằm ở vùng Surrey, ngoại ô London. Một cái bảng treo trên cửa với mấy chữ khá lớn “The White House.” Chúng tôi hỏi ông là bảng này vẫn có từ trước hay ông treo vào? Ông nói villa bên này hay mang tên cho dễ nhận, và cái bảng này là của chủ cũ để lại. Ông tự tay xách giúp cái valise và đưa chúng tôi lên một phòng trên lầu hai, vặn hộp sưởi điện cho ấm, rồi dặn là nếu thấy vẫn còn lạnh thì cứ vặn thêm cái hộp sưởi thứ hai.

Buổi chiều hôm ấy ông nói nên đi ngủ sớm cho đỡ mệt sau chuyến bay dài từ Washington, DC và nói là sáng hôm sau thì cứ thủng thẳng lúc nào dậy cũng được.

Sáng hôm sau, từ trên tầng thứ hai xuống nhà, chúng tôi thấy ông đang đọc báo. Còn bà thì loay hoay trong bếp. Chỉ mấy phút sau đã thấy hai tô hủ tiếu đúng hương vị miền Nam và cà phê thơm phức bày trên bàn. Bà Thiệu là người Mỹ Tho mà hủ tiếu Mỹ Tho thì ngon có tiếng.

Bà mời chúng tôi tới ăn cho nóng. Khi hỏi sao bà không cùng ăn thì bà nói: “Tôi ăn rồi, để cho hai ông dễ nói chuyện.” Câu nói giản dị nhưng phản ảnh thật rõ cái lối sống của bà trong suốt thời gian 10 năm ông là người lãnh đạo của VNCH. Chúng tôi không biết nhiều nhưng có cảm tưởng là bà luôn luôn xa cách, không xen vào chính trị, vào những công việc của ông, chỉ đứng sau để lo cho gia đình và tham gia vào công việc xã hội. Trong thời gian chúng tôi làm việc ở Dinh Độc Lập thì ít khi thấy bà xuất hiện, kể cả khi Tổng Thống Thiệu tiếp khách xã giao ngoại quốc.

Ngồi xuống bàn ăn buổi sáng hôm ấy, thấy ông hết còn căng thẳng như những buổi ăn sáng hồi Tháng Ba, Tháng Tư năm trước. Chỉ hơn một năm không gặp mà thấy ông cũng có phần già đi, tuy phong độ vẫn còn chững chạc như ngày còn tại chức. Còn bà thì hầu như không thay đổi. Vẫn trẻ trung, vẫn dịu dàng, nồng ấm.

Lưu lại nhà ông bà cả tuần lễ, chúng tôi bắt đầu bằng những câu chuyện vui vui về các món ăn bên Anh, bên Mỹ, nhiều khi không hợp khẩu vị. “Tổng thống còn nhớ cái món ‘pín voi hầm thuốc bắc’ không,” tôi hỏi. Ông hỏi lại là tôi ăn món ấy bao giờ? Khi tôi nhắc là ăn trong bữa tiệc mừng sinh nhật của ông cuối năm 1974 gần ven sông Sài Gòn, ông nhớ ngay và phá ra cười: “Ừ thì họ nói là pín voi chứ tôi cũng chẳng biết là pín gì.”

Trong bữa cơm chiều, bà Thiệu cho ăn canh chua, cá kho tộ. Năm 1976 thì ở London cũng chưa có chợ búa Việt Nam nên bà phải cố gắng thì mới có được gia vị để nấu ăn. Hình như là phải nhờ người từ bên Pháp gửi sang. Bà nói ông thích ăn canh chua nấu với lá me non như mẹ ông thường nấu ở Phan Rang, nhưng “làm sao tôi tìm được lá me non ở bên Anh.” Để làm cho ông vui, tôi gợi ý nói đến một đề tài mà ông rất ưa thích: hải sản, làng chài và ngư nghiệp ở Việt Nam. Ông kể lại những kỷ niệm đi câu cá ở sông Sài Gòn và đôi khi câu được cả cá thu ở ngoài Côn Sơn. 

Bệnh viện Vì Dân

Còn bà thì hay nói đến bệnh viện Vì Dân. Đối với bà thì đây là một niềm vui lớn và nó còn ghi dấu ấn trong tâm trí. Đây cũng là một di sản quý hóa mà bà để lại cho người dân, nhất là những người nghèo. Chúng tôi đã có dịp tới thăm nhà thương này và thấy nó được xây cất theo tiêu chuẩn quốc tế, được trang bị rất hiện đại, với 400 giường bệnh. Người khám bệnh và chữa bệnh luôn được miễn phí. Các bác sĩ, y sĩ, y tá được chọn lọc cẩn thận. Ngoài ra, lại còn những sinh viên y, dược, xung phong làm việc từ thiện.

Bà kể là sở dĩ nảy ra ý muốn xây một bệnh viện là vì bà hay vào nhà thương Chợ Rẫy thăm bệnh nhân. Nhiều khi thấy hai người phải chen chúc nhau nằm trên một cái giường nhỏ, làm bà hết sức mủi lòng. Vì vậy, ba bỏ ra nhiều công sức đi vận động để xây nhà thương như là một bước đầu để cải thiện nền y tế Việt Nam.

Tài trợ cho bệnh viện này hoàn toàn không dính dáng gì đến ngân sách quốc gia mà do sự đóng góp của những cơ quan từ thiện, những người có lòng hảo tâm trong nước cũng như ngoại giao đoàn. Bà nói tới sự đóng góp đặc biệt của bốn tòa tòa đại sứ Đài Loan, Nam Hàn, Nhật, và Hòa Lan. Bà đi vận động xây nhà thương là do sự đam mê công tác xã hội, hoàn toàn không có mục đích chính trị như một số người đồn thổi. 

Ném bom Dinh Độc Lập

Nói tới chính trị, có một biến cố làm bà rúng động và còn nhớ mãi. Đó là vụ ném bom Dinh Độc Lập ngày 8 Tháng Tư, 1975 do một phi công VNCH nổi loạn thực hiện. Một trong hai quả bom thật to chọc thủng bãi trực thăng trên nóc dinh, lọt xuống rồi nổ tung. Ông Thiệu vừa ngồi xuống ăn sáng ở một bàn nhỏ ở ngoài hành lang, lấy đôi đũa gắp sợi bánh đầu tiên trong bát phở nóng thì cận vệ vội tới đưa ông vào ngay thang máy để xuống lầu hầm. Bà Thiệu kể lại là ngay chỗ gần thang máy, một quả bom “dài thòng” rơi sát bên nhưng không nổ. Đầu Tháng Tư là thời gian có nhiều chống đối từ mọi phía đòi ông Thiệu phải từ chức. Ông vẫn bình tĩnh, chỉ hơi cáu kỉnh khi nghe báo cáo về một số quý vị thuộc đảng Dân Chủ “thân chính” tại Quốc Hội quay lại chống ông.

Về biến cố ngày hôm ấy, bà kể là trái bom rơi trúng ngay chỗ mỏng nhất của bãi trực thăng. Mùi khét tỏa ra khắp nơi khi những tấm thảm dầy bốc cháy dữ dội. Lúc ấy bà bị kẹt cứng trong cái phòng của gia đình “vì cháu bé người làm đang lo sắp xếp quần áo đã sợ quýnh lên, tay run lẩy bẩy, không tìm và mở được cái khóa vào cầu thang.” Một lúc sau mới có sĩ quan đến giúp bà xuống hầm trú ẩn. Khói bay lên nghi ngút làm bà như ngạt thở. 

“Ông già định ở lại”

Chưa tới hai tuần sau vụ ném bom, ngày 20 Tháng Tư, 1975, Đại Sứ Graham Martin của Mỹ, theo chỉ thị của Ngoại Trưởng Henry Kissinger, tới Dinh Độc Lập thuyết phục ông Thiệu từ chức (với kế hoạch là để Đại Tướng Dương Văn Minh lên thay) và nói: “Nếu ông không chịu từ chức thì các tướng lãnh dưới quyền ông sẽ bắt buộc ông làm điều này.”

Ông Thiệu hỏi ông Martin: “Nếu tôi từ chức thì liệu viện trợ có đến hay không?”

Ông Martin trả lời: “Tôi không dám hứa nhưng cũng có thể.”

Ông Thiệu kể lại rằng ngày hôm sau, ông mời các tướng lãnh đến Dinh Độc Lập. Trong buổi họp, ông cho họ biết về những chuyện Đại Sứ Martin đề cập tới. Ông Thiệu nói nếu các tướng lãnh coi ông như một chướng ngại vật cho hoà bình của đất nước thì ông sẽ từ chức. Không ai phát biểu gì hết. “Thế là đã rõ họ không muốn tôi ngồi lại ghế tổng thống nữa, cho nên tôi tuyên bố từ chức để Phó Tổng Thống Trần Văn Hương lên thay, theo đúng Hiến Pháp.”

Chiều ngày 22 Tháng Tư, 1975, ôngThiệu lên TV tuyên bố từ chức. Với tâm tư thật cay đắng, ông tố cáo Hoa Kỳ đã thất ước, đã phản bội VNCH, và nói các ông đã cắt hết quân viện, “để chiến sĩ của chúng tôi chết đuối dưới làn mưa đạn của địch. Đó là một hành động vô nhân đạo.”

Trong bài diễn văn từ chức, ông nói sẽ cùng với nhân dân và quân đội chiến đấu, và “tôi từ chức nhưng tôi không đào ngũ.” Vậy tại sao ông lại ra đi?

Nhiều anh em chiến sĩ và đồng hương vẫn còn đặt vấn đề “ông Thiệu đào ngũ” cho nên  chúng tôi đã viết chi tiết về bối cảnh lịch sử của việc Tổng Thống Thiệu ra đi (sách Tâm Tư Tổng Thống Thiệu, Chương 18). Ông ra đi ngày 25 Tháng Tư là vì chính tân Tổng Thống Trần Văn Hương đã làm áp lực, yêu cầu ông phải ra đi. Ông Thomas Polgar (giám đốc CIA ở Sài Gòn) cũng thuật lại là Tổng Thống Hương gọi cho ông Thiệu khuyên ông sớm rời khỏi Việt Nam, vì “nếu không, Cộng Sản sẽ nói tôi đang điều khiển một chính phủ Thiệu không Thiệu.” Về phía Đại Tướng Dương Văn Minh thì lúc ấy chưa lên tổng thống, cũng muốn ông Thiệu phải ra đi. Trong cuốn “Decent Interval,” tác giả Frank Snepp (nhân viên cao cấp của CIA ở Sài Gòn) viết lại (trang 435): “Ông Minh yêu cầu tướng Charles Timmes là người của CIA phải làm cách nào để ông Thiệu đi lưu đầy (He asked the CIA’s Timmes to see to it that Thiêu was sent into exile).”

Nhân tiện có một cơ hội: Tổng thống Đài Loan là ông Tưởng Giới Thạch vừa qua đời. Tổng Thống Hương liền viết sắc lệnh: “Nay đề cử cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm đại diện tổng thống VNCH đến Đài Bắc để phân ưu cùng chánh phủ và nhân dân Trung Hoa Dân Quốc nhân dịp Tổng Thống Tưởng Giới Thạch tạ thế…” Bản văn do Đại Tá Cầm viết tay. May mắn là Thiếu Tá Nguyễn Tấn Phận (một người trong đoàn tùy tùng đi theo cựu Tổng Thống Thiệu) còn giữ được một bản sao của sắc lệnh này.

***

Chỉ ba tuần trước đây, ngày 26 Tháng Chín, khi viết một đôi lời về cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nhân dịp lễ giỗ lần thứ 20 của ông, chúng tôi có nói: “Rất tiếc rằng vì lý do sức khỏe, ngày hôm nay phu nhân Tổng Thống Thiệu không thể tới đây để dự buổi lễ tưởng niệm này. Trong cảnh về hưu cô đơn ở gần San Clemente, California, thỉnh thoảng chúng tôi có tới thăm bà.

Bà sống rất thanh đạm và một mình với một con chó, trong căn nhà nhỏ bé. Trong bếp chúng tôi thấy mì ăn liền Mama chất đầy từng đống. Bà nói cũng không buồn vì quen rồi. Quen từ lúc “ông già’ còn làm tổng thống.

Bà hay dùng hai chữ “ông già” để nói về người chồng. Có lần chúng tôi hỏi bà về ngày bà ra đi khỏi Sài Gòn, bà kể: “Ông già định ở lại.” Hỏi thêm thì bà nói: “Sau khi từ chức, ông già mặc cái quần xà lỏn và nói: ‘Mẹ con mày đi đi, tôi ở lại.’”

Chúng tôi chưa hề biết chuyên này nên hỏi thêm thì bà mới kể: “Ông già ngậm một cái cục gì ở trong hàm răng.” Chúng tôi giật mình, vì ý bà muốn nói là ông ngậm một loại thuốc độc mà điệp viên thường dùng để phòng hờ trường hợp phải đối đầu với tình huống bi cực nhất.

Dọn sang Mỹ sau khi ông Ronald Reagan lên ngôi

Ông bà Thiệu chọn nước Anh để lưu vong trong giai đoạn đầu. Chính phủ Anh cũng rất kính trọng đời sống riêng tư của ông và gia đình. Bà Thiệu kể lại là ngay từ khi tới London, chính phủ đối xử với gia đình ông bà rất chu đáo, lại còn cử một đại úy coi về an ninh để tiếp cận và yểm trợ, hướng dẫn ông cùng gia đình về đời sống xã hội trong thời gian tới trên một năm.

Gia đình chỉ dọn sang Mỹ dưới thời Tổng Thống Ronald Reagan. Bối cảnh là như thế này: Sau Hiệp Định Paris, Tổng Thống Richard Nixon mời ông Thiệu sang thăm Hoa Kỳ. Nhưng ông Nixon lại mời ông về tư dinh là Casa Pacifica ở San Clemente chứ không đón tiếp ông với tư cách là một vị quốc trưởng ở Washington, DC. Tiệc khoản đãi ông Thiệu ở Casa Pacifica chỉ vỏn vẹn có 12 người, kể cả chủ lẫn khách. Lý do đưa ra là “không đủ chỗ ngồi.” Điều yên ủi đối với ông Thiệu là thái độ và tình cảm của Thống Đốc Ronald Reagan lúc đó. Trước đó, ông Thiệu đã đón tiếp ông Reagan nồng hậu khi ông thăm viếng Sài Gòn. Nhân dịp này, ông có tặng ông Reagan một cặp ngà voi và nói đùa với ông: “Một ngày nào đó, ngài sẽ lên voi.”

Năm 1976, ông Reagan ra vận động làm ứng cử viên của đảng Cộng Hòa để tranh chức tổng thống, nhưng ông không được đảng chọn, và thua ông Gerald Ford dù rất ít phiếu. Vì uy tín của đảng Cộng Hòa xuống quá thấp trong thời Nixon và thời Ford, cho nên ông Jimmy Carter trúng cử. Dưới triều đại Carter, uy tín của Hoa Kỳ lại tiếp tục suy giảm hơn nữa, phần lớn vì thù địch đã coi thường nước Mỹ sau khi tháo chạy khỏi Việt Nam.

Sau cùng thì ông Reagan thắng trong cuộc bầu cử Tháng Mười Một, 1980. Ngày 20 Tháng Giêng, 1981, ông Reagan lên ngồi chắc trên lưng voi và lời tiên đoán của ông Thiệu đã đúng.

Ra đi sau biến cố 9/11

Ở Boston khi chớm Thu thì cũng đã bắt đầu lạnh. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ông bà Thiệu thành hôn, cháu Nguyễn Quang Lộc mời bố mẹ sang du lịch bên Hawaii. Vừa tới nơi vài hôm là biến cố 9/11 xảy ra. Bà Thiệu kể lại là ông rất “lo ra” khi thấy chiếc máy bay cất cánh ngay từ phi trường ở Boston (là nơi ông đang cư ngụ) rồi đâm vào Trung Tâm Thương Mại Quốc tế tại New York và một chiếc khác lại nhào vào Ngũ Giác Đài. Xúc động này ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe của ông.

Trong mấy năm ông bị bệnh tim, bà Thiệu phải lái xe chở ông vào nhà thương. “Tiếc rằng không còn bệnh viện Vì Dân để chị săn sóc cho ông già,” bà tâm sự. Bây giờ tuổi đã cao, bà phải lái xe ban đêm một mình trên xứ người, đi vòng vèo khá lâu mới tới bệnh viện. Bà kể có hôm mãi tới 1 giờ sáng mới về tới nhà. Lúc về lại phải đi tìm xe ở dưới cái hầm nhà thương tối lù mù nên bà còn sợ ma, có lúc phải đi giật lùi. “Thôi thì cũng còn tôi để lái xe cho ông tổng thống,” bà nói cho ông vui hôm sau trở lại nhà thương thăm ông. “Cám ơn bà,” ông Thiệu nhoẻn nụ cười đáp lại.

Sau vụ 9/11, ông rất muốn rời Hawaii để trở về Boston ngay, nhưng tất cả các máy bay đều án binh bất động, cả tuần sau mới về được. Về tới nhà thì bệnh ông thêm nặng. Thứ Năm, ngày 27 Tháng Chín, 2001, ông bị té xỉu, rồi hôn mê. Tại Trung Tâm Y Tế Beth Israel Deaconess, ông đi vào giấc ngủ ngàn thu chiều Thứ Bảy, 29 Tháng Chín, 2001.

Tổng Thống Thiệu ra đi chưa tới ba tuần sau biến cố 9/11. Trong một bài bình luận thật dài đăng trên mạng với tựa đề “Nguyễn Văn Thiệu và Cuộc Khủng Bố 11 Tháng Chín,” tác giả David Bennett bình luận: “Cái chết của ông Thiệu trong Tháng Chín vừa qua nêu lên một câu hỏi: Liệu Hoa Kỳ có quyết tâm để chiến thắng cuộc chiến chống khủng bố này (tại Afghanistan) hay không…và liệu Hoa Kỳ có nhất định giúp xây dựng lâu dài một quốc gia Afghanistan hay không?” Lúc ấy thì ở thế giới bên kia, ông Martinô Nguyễn Văn Thiệu đã có câu trả lời.

Sau khi ông mất, trong cảnh cô đơn giá lạnh ở Boston vào mùa Đông, chúng tôi cùng người bạn là Tiến Sĩ Tạ Văn Tài ở đại học Harvard University đến thăm bà. Bà sống đạm bạc, vẫn giữ nguyên bộ xa lông cũ kỹ nay đã sờn. Trên một cái bục cao bà để hình ông và một chai rượu xâm banh. Hỏi về chai rượu thì bà kể là cứ mỗi năm khi đến ngày kỷ niệm thành hôn của hai vợ chồng, ông mua một chai sâm banh, tự tay mở ra và mời bà uống với ông một ly, dù bà không biết uống rượu. Như vậy là bà muốn cùng ông giữ lại suốt đời cái kỷ niệm không bao giờ nhạt nhòa. Bà nói là người ta dèm pha là ông già với bà này cô kia, nhưng bà cũng chẳng để ý vì “tía đi rồi tía lại về.” Nghe vậy, anh bạn Tài phá ra cười, còn tôi thì lúc ấy cũng không hiểu tía là gì nên không cười. Thì ra con người bình dị, hiền hậu vùng đồng bằng Cửu Long còn khoan dung cả với người chồng.

***

Có lần ông Thiệu hỏi người Mỹ nghĩ thế nào về ông, chúng tôi nói về một hai khía cạnh: Khen có, chê có, rồi thêm: “Tôi nghe một tướng Mỹ nói là tổng thống nhu nhược.” Ông Thiệu hỏi tại sao? Tôi trả lời là ông ấy nói “Tổng thống không cương quyết đủ để ra lệnh tử hình khi cần thiết để làm gương.” Ông nhìn tôi giây lát rồi chậm rãi nói: “Suốt đời, tôi đã tránh không có cái nợ máu.”

Xét ra thì trong suốt thời gian 10 năm ông lãnh đạo, thực sự đã không có tội nhân nào phải ra pháp trường. Trên bàn thờ nhà bà Thiệu ở Newton, Massachusetts, vẫn còn treo một cái bảng với phương châm do chính ông viết rồi cho người thêu chữ thật to “Đức Lưu Quang” (Ánh sáng của đạo đức tồn tại mãi). Bà luôn chỉ vào đó mà dạy con cái phải ăn ở cho có đức.

Nếu chúng ta tin rằng mọi việc trên cõi đời này đều do Trời an bài xếp đặt, thì Trời cũng phù hộ ông Thiệu trải qua nhiều nguy hiểm trong gần 10 chèo lái con thuyền miền Nam Việt Nam qua bao nhiêu sóng gió. Theo như những chuyện ông kể lại thì đếm ra cũng có tới sáu lần ông bị đe dọa làm ông cảnh giác về đảo chính. Như vậy thì Trời cũng đã giúp cho bà Thiệu không phải trở thành quả phụ của một tổng thống khi còn đương nhiệm.

Ngày 15 Tháng Mười, 2021, bà đã theo ông về thế giới bên kia. Ở đó thì “Cô Bảy Mỹ Tho” Nguyễn Thị Mai Anh sẽ mãi mãi được gần “Cậu Tám Phan Rang” Nguyễn Văn Thiệu. [đ.d.]

Ai cho quan làm người lương thiện?

Ai cho quan làm người lương thiện?

Bởi  AdminTD

Dương Quốc Chính

21-10-2021

Trường hợp anh Nguyễn Quang Tuấn giám đốc BV Bạch Mai bị bắt khá giống trường hợp anh Đinh La Thăng. Tức là có sai phạm nhưng vẫn được lên chức to hơn rồi bị bắt ở vị trí to hơn đó. Ở vị trí đương nhiệm thậm chí các anh còn muốn lập công chuộc tội.

Anh Thăng không có tì vết khi làm Bí thư HCM, thậm chí còn có nhiều động thái dân tuý, khiến cho nhiều người dân xúc động, tưởng chừng đã có một quan phụ mẫu vì dân. Như việc đập hè phố bởi anh Hải “cẩu” hay việc yêu cầu Vinamilk mua sữa của nông dân…

Anh Tuấn thì cải tổ BV Bạch Mai theo hướng giảm chi phí cho người bệnh, vừa rồi đích thân vào HCM chống dịch nhiệt tình. Anh còn nằm trong danh sách được thủ tướng khen thưởng (số 44 trong danh sách!) nhưng chưa kịp nhận thì đã bị bắt. Chắc bằng khen sẽ được trao trong trại? Hay bị tước bỏ?

Cả hai đều dùng SG làm nơi lập công chuộc tội nhưng đều không thoát, đều bị bắt vì những lỗi trong quá khứ chứ không phải ở vị trí đương nhiệm.

Trường hợp anh Tuấn kể ra cũng đau đớn khi người ta chờ cho lãnh đạo chống dịch xong rồi bắt, ngay trước khi kịp nhận bằng khen. Chuyện này làm mình liên tưởng đến trường hợp ông Vũ Ngọc Hải, nguyên Bộ trưởng Bộ Năng lượng, bị bắt vì để thất thoát trong dự án đường dây 500KV, rồi nhận kỷ niệm chương của Thủ tướng trong trại giam.

Anh Chung “con” cũng vào lò sau khi chống dịch ở HN. Nhiều người vẫn nhớ tới phong cách chống dịch với những phát ngôn kiểu không còn gì để mất của anh. Đến mức thủ tướng phải lên tiếng cảnh cáo.

Vừa rồi có doanh nghiệp lập công tặng rất nhiều vaccine cho HCM. Nhưng liệu có thoát tội do liên quan đến một số quan chức thành củi?

Mình dự đoán là thời gian tới người ta sẽ thanh tra, kiểm toán ngân sách chống dịch và chắc chắn sẽ có một mớ quan lại vào lò. Vì dịch bệnh là cơ hội để anh em đốt tiền ngân sách, chỉ định thầu bừa bãi, ăn uống mạnh bạo hơn qua sân sau. Như việc test nhanh vô tội vạ chẳng hạn.

Thời gian qua đã có anh Nguyễn Nhật Cảm giám đốc CDC Hà Nội vào lò, đã để lại bao nuối tiếc với giới Y tế, vì liên quan đến việc thất thoát trong việc mua sắm thiết bị y tế. Không hiểu vụ đó có làm anh em chùn tay?

Ai cho quan làm người lương thiện?

Đáng tiếc một tài năng

Đáng tiếc một tài năng

Bởi  AdminTD

Phan Ngọc Minh

22-10-2021

Ông Nguyễn Quang Tuấn là một tài năng y học. Ông đã từng đi tu nghiệp chương trình tại Đại học Toulouse, Pháp học về ngành Tim mạch can thiệp.

Năm 2010, nhóm của ông Nguyễn Quang Tuấn và tiến sĩ Phạm Mạnh Hùng được trao giải nhất Giải thưởng “Nhân tài đất Việt” trong lĩnh vực y tế cho đề tài “Can thiệp động mạch vành qua đường ống thông (đặt stent)”.

Năm 2017, ông là Chủ tịch Hội Tim mạch can thiệp Việt Nam, Chủ tịch Hội Tim mạch Hà Nội, Thành viên Ban cố vấn Hội Tim mạch học can thiệp châu Á-Thái Bình Dương (FAPSIC), Thành viên Hội Tim mạch học can thiệp Hoa Kỳ (FSCAI).

Từng thấy nhiều lần trong diễn đàn họp Quốc hội ông có nhiều ý kiến tâm huyết. Tôi là hàng xóm, thường đi tập GYM cùng. Hiếm có một quan chức nhà nước nào chăm chỉ tập luyện như ông. Trong khi phần lớn quan chức bụng bia ì ạch, mặt bóng nhẫy vì nhậu nhẹt. Ông Tuấn là người tập luyện chăm chỉ nhất trong nhóm chăm chỉ của phòng tập. Nhiều bạn bè tôi trong ngành y thường nói chuyện về ông với sự vị nể rất sâu đậm…

Nghe đứa em kinh doanh vật thêu y tế nói một cái stent tim mạch giá bị đẩy lên 5,7 lần thì với vị trí giám đốc BV Tim ông Tuấn không thể vô can, bị khởi tố, tù nặng là đúng rồi…

Nhưng…

Ngành y mất đi một thầy thuốc giỏi. Các trường Đại học Y mất một người thầy đào tạo ra nhiều bác sĩ giỏi để cứu người. Cái mất mát này quá lớn. Và có biết bao nhiêu người kiểu như ông Tuấn. Đau thương gia đình buộc phải gánh chịu. Nhưng thiệt hại cho xã hội là vô cùng lớn. Khởi tố tống giam dễ lắm. Nhưng có được một nhà khoa học, một giáo sư đầu ngành để cứu người thì lâu, lâu và hiếm lắm…

Vì sao?! Cơ chế, tổ chức xã hội phải được vận hành khoa học, dân chủ minh bạch để sử dụng tốt nhất nguồn nhân lực con người cho phát triển đất nước. Việc từng dây từng chùm cán bộ nhà nước sai phạm, khởi tố, đi tù… chứng tỏ cơ chế vận hành có vấn đề. Cơ chế gì mà đầu vào là nhân tài, đầu ra toàn tội phạm?! Thay vì nuôi dưỡng, làm bệ phóng cho con người thì toàn thấy người tài, anh hùng, tướng tá, bộ trưởng, bí thư, chủ tịch… bị tống giam.

Từng chùm…

Từng chùm dắt díu nhau ra toà…

Ra đi

Ra đi

October 21, 2021

Nguyễn Quang Chơn

Và lần này, 2021, những cuộc tháo chạy, giải cứu, ra đi…, (Hình: Chi Pi/AFP via Getty Images)

“Ra đi, ấy là chết trong lòng một ít!” (partir c’est mourir un peu! ngạn ngữ Pháp). Vâng, mỗi lần ra đi là mỗi lần buồn, khi phải lìa xa nơi mình vốn quen thương, yêu dấu. Ba hôm nay, nghe, đọc, nhìn, những hình ảnh người tạm cư Sài Gòn ùn ùn “trốn chạy” về quê nhà, thấy đau xót làm sao!…

…

Đất nước ta đã ít nhất có ba lần ra đi. Lần thứ nhất, 1954, hơn một triệu người dân miền Bắc lên tàu vào Nam. Nước mắt và lòng yêu thương thấm đẫm làng quê, đau xót thân nhân ở lại. Đi, chết nửa hồn người. Nhưng cuộc ra đi lần này trật tự, an toàn trong giám sát của một uỷ ban quốc tế…

Lần thứ hai, 30 Tháng Tư, 1975, hơn một triệu người miền Nam bỏ nước. Họ ra đi mà chẳng ngóng ngày về. Hàng ngàn người mất mạng trên biển khơi, trong rừng rậm, bởi thú hoang, bởi thiên nhiên, bởi những hải tặc, lâm tặc tàn ác, vô lương. Và, bởi những họng súng vô nhân của công an đồng loại. Máu chảy, tù đày, và nước mắt, sự ra đi đối mặt với chết chóc trên hành trình tìm đến tự do. Sự ra đi bị chính quyền quê nhà đóng tên: “phản quốc!…”

Và lần này, 2021, những cuộc tháo chạy, giải cứu, ra đi…, với biết bao ngàn người khốn khó vạ vật, hốt hoảng, rời xa vùng đất từng cưu mang họ, mà chắc chắn đầy ắp yêu thương, đầy ắp nghĩa tình. Cuộc ra đi lần này là chẳng đặng đừng, là bất lực, là đói kém, khi chính quyền bất khả cứu giúp họ giữa đại dịch cúm tàu. Đi, và sẽ trở về. Mong là sẽ trở về, trong may mắn!…

…

Cả ba cuộc ra đi của dân Việt từ 1954 đến 2021 bởi chỉ vì muốn được giải thoát khỏi một thể chế duy nhất, đều trong lo sợ, mất lòng tin. Dẫu sao, mọi chuyện đã đến, đã thế, đã qua, mong là những bậc cầm quyền hiểu cho rằng, đừng để dân lại phải ra đi. Họ đi, các người cũng chẳng được gì, và, đến một lúc không lâu, đến lượt các người cũng phải trốn chạy ra đi trong ô nhục đớn hèn, nếu niềm tin trong lòng người dân mất hẳn!…

Hãy nhớ cho, đó là qui luật bất biến của cuộc đời!…

04.10.21

Hơn 20% doanh nghiệp dùng vốn nhà nước Việt Nam thua lỗ gần 34.000 tỉ đồng

Hơn 20% doanh nghiệp dùng vốn nhà nước Việt Nam thua lỗ gần 34.000 tỉ đồng

20/10/2021

Vietnam Airlines bị nêu tên là tập đoàn nhà nước thua lỗ hơn chục ngàn tỉ đồng năm 2020.

Tới 21% trong số các doanh nghiệp thuộc nhà nước Việt Nam hoặc có một phần vốn nhà nước bị thua lỗ đến hơn 30 nghìn tỉ đồng trong năm 2020, các báo trong nước đưa tin.

Dẫn lại một báo cáo của chính phủ Việt Nam gửi tới quốc hội nói về hoạt động của các doanh nghiệp sử dụng vốn nhà nước trong năm 2020, các báo trong nước cho hay Việt Nam có 807 doanh nghiệp hoạt động với toàn phần hoặc một phần vốn do nhà nước góp.

Trong đó, chiếm hơn một nửa là các doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước, chiếm gần 1/4 là các doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ trên 50% vốn, số còn lại là các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn.

Mảng tối trong bức tranh mà báo cáo của chính phủ đưa ra là có 124 doanh nghiệp hoàn toàn thuộc nhà nước làm ăn kém hiệu quả và vẫn còn lỗ lũy kế trong năm 2020 lên đến tổng cộng gần là 31 nghìn tỉ đồng.

Nếu tính chung cả những doanh nghiệp có một phần vốn nhà nước, có 169 trên 807 doanh nghiệp, tương đương xấp xỉ 21%, còn lỗ lũy kế với tổng số là gần 34 nghìn tỉ đồng.

Một số doanh nghiệp có số lỗ lũy kế lớn bị nêu tên là Tập đoàn Hóa chất Việt Nam lỗ gần 5.400 tỉ đồng, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam lỗ gần 3.200 tỉ đồng, và Tổng công ty Đường sắt Việt Nam lỗ hơn 1.200 tỉ đồng.

Vẫn bản báo cáo cho biết rằng trong cùng năm, 15% trong số 807 doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp gắn với nhà nước chịu lỗ phát sinh với tổng cộng lên đến gần 16 nghìn tỉ đồng. Chiếm hầu hết con số đó, tới hơn 15 nghìn tỉ đồng là số lỗ phát sinh của 79 doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ từ 50% vốn trở lên.

Gây chú ý trong bản báo cáo gửi quốc hội được báo chí trích đăng là một số doanh nghiệp, tập đoàn lớn dùng vốn nhà nước. Trong đó, riêng Tổng công ty Hàng không Việt Nam chịu lỗ phát sinh là hơn 11 nghìn tỉ đồng.

Ở mức độ lỗ nghìn tỉ có Tập đoàn Hóa chất Việt Nam thua lỗ phát sinh hơn 1.600 tỉ đồng, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam lỗ phát sinh gần 1.200 tỉ đồng.

Số các hãng, tập đoàn nhà nước lỗ ở mức trăm tỉ được nêu ra gồm Tổng công ty Du lịch Sài Gòn lỗ phát sinh 318 tỉ đồng, Công ty TNHH Truyền hình số vệ tinh Việt Nam (Đài Truyền hình Việt Nam) lỗ phát sinh 265 tỉ đồng, Tổng công ty Lương thực Miền nam lỗ phát sinh 210 tỉ đồng, Tổng công ty cổ phần Xây dựng và công nghiệp Việt Nam lỗ phát sinh 154 tỉ đồng, Công ty cổ phần Thương mại dầu khí Đồng Tháp lỗ phát sinh 102 tỉ.

Bên cạnh đó là rất nhiều các hãng nhà nước lỗ ở mức vài tỉ đến vài chục tỉ đồng.

Mảng sáng của bức tranh, theo báo cáo của chính phủ, là tính chung các doanh nghiệp dùng vốn nhà nước có lãi phát sinh trước thuế đạt gần 163 nghìn tỉ đồng trong năm 2020. Tuy nhiên, báo cáo lưu ý rằng con số này bị giảm 22% so với năm 2019.

Vẫn bản báo cáo cho biết tính tới hết năm 2020, tổng vốn mà nhà nước Việt Nam đầu tư vào 807 doanh nghiệp là xấp xỉ 1,6 triệu tỉ đồng.

THĂM GẶP BÀ PHẠM ĐOAN TRANG

Trần Bang

PHẠM ĐOAN TRANG BỊ NHIỀU BỆNH HÀNH HẠ TRONG TRẠI TẠM GIAM (GIẢM 10KG …) NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC CHỮA TRỊ (tin từ luật sư mới gặp được PĐT trong tù hôm qua, sau hơn một năm bị giam cầm, không người thân nào được gặp)

Mọi người hãy cùng lên tiếng đòi trả tự do cho Phạm Đoan Trang – một trí thức công chính nhiệt thành hiếm có đã dấn thân vì dân vì nước mà phải bị đoạ đầy! PĐT đã lao động miệt mài viết những cuốn sách, những bài báo có giá trị, được thế giới đánh giá cao giúp thúc đẩy công cuộc khai dân trí, chấn dân khí vì tự do dân chủ của nhân dân, vì môi trường sống trong lành & công bằng cho người Việt Nam!

#FreePhamDoanTrang

* * *

FB của Ls Luân Lê:

THĂM GẶP BÀ PHẠM ĐOAN TRANG

Hôm nay, 19/10/2021, tôi vào Trại tạm giam số 1 Hà Nội để gặp bà Phạm Đoan Trang với tư cách luật sư của bà.

Về tình hình chung, bà Trang vẫn giữ tinh thần lạc quan và tỏ ra minh mẫn đến các chi tiết. Bà nhớ từng ngày hỏi cung và một số sự việc điển hình mà bà phải đối mặt trong các buổi hỏi cung này.

Bà luôn nói: “Tôi sẽ không khai gì cho đến khi có mặt của luật sư”. Và vì thế các cuộc làm việc không có gì khác ngoài sự im lặng của bà.

Về sức khoẻ, bà Trang cho biết, hai chân bà vẫn bị đau vì thời tiết lạnh làm cho xương khớp đau nhức hơn, do vài năm trước đó bà bị tấn công đến cả gãy xương ống chân.

Bà nói, từ khi bị bắt giam, và đến lúc này, bà bị chảy máu (phụ nữ) nhiều, liên tục tới 15 ngày mỗi tháng, cộng thêm với tình trạng huyết áp thấp nên khá mệt và rõ ràng bà cho biết là có dấu hiệu của khối u (trước đó bà khám đã được bác sỹ nói có u nang) mà không được thăm khám và điều trị gì, và với tình trạng này kéo dài bà đã sụt 10 cân, từ 58kg xuống còn 48kg).

Bà Trang bị cáo buộc bởi một số tập tài liệu bằng tiếng Anh, hai bài phỏng vấn trên đài RFA và BBC; bà không bị cáo buộc về các cuốn sách và các bài viết trên Facebok Pham Doan Trang vì bà không xác nhận rằng đó là tài khoản của mình (do đó không có cơ sở để xử lý).

Một số thủ tục và quyền tố tụng của bà đã được tôi trao đổi với tư cách luật sư để bà thực hiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước phiên toà sắp tới. Về cơ bản, bà tỏ ra quan tâm tới mọi người hơn là cá nhân bà, mặc dù bà đang bị giam giữ mà bà cho biết rằng “nằm nền bê tông thật khó chịu và lạnh”.

Bà Trang vẫn giữ ánh mắt và giọng nói mạnh mẽ và thỉnh thoảng vẫn bật cười khi nói tới các sự kiện của bản thân, có vẻ như với bà, không có sự giam cầm và những vấn đề của các cáo buộc luôn là một thứ nằm ngoài các suy tư của bà.

Sau suốt hơn một năm bị giam, hôm nay là lần đầu tiên bà gặp mặt luật sư của mình và trao đổi các vấn đề liên quan tới vụ án. Và theo hướng dẫn của luật sư, bà đã hiểu rõ các vấn đề tố tụng và một số quyền liên quan để thực hiện việc bào chữa cho phiên toà sắp tới.