Tướng Mỹ lo ngại TT Trump ”tâm thần bất ổn” ra lệnh tấn công Trung Quốc

Tướng Mỹ lo ngại TT Trump ”tâm thần bất ổn” ra lệnh tấn công Trung Quốc (RFI)

Đăng ngày: 15/09/2021 – 16:38

Tướng Mark Milley phát biểu trước báo giới, ngày 21/07/2021, tại Washington, Mỹ. AP – Kevin Wolf

Trọng Thành

Trong « Peril », cuốn sách sẽ được xuất bản ngày 22/09/2021, nhà báo nổi tiếng người Mỹ Bob Woodward và phóng viên Robert Costa tiết lộ việc viên tướng có cấp bậc cao nhất trong quân đội Mỹ hoàn toàn không tin tổng thống Donald Trump là người tỉnh táo vào thời gian cuối nhiệm kỳ tổng thống.

Tướng Mỹ lo ngại tổng thống Trump « tâm thần bất ổn » bất ngờ ra lệnh dùng vũ khí hạt nhân tấn công Trung Quốc. Theo trích đoạn tác phẩm, được công bố trên Washington Post và CNN, tướng Mark Milley, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, đã bí mật chuẩn bị để không thực hiện mệnh lệnh sử dụng vũ khí hạt nhân tấn công Trung Quốc, kịch bản được dự đoán có thể xảy ra sau thất bại của ông Trump trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 03/11/2019.

Nhiều nguồn tin tình báo Hoa Kỳ khẳng định Trung Quốc coi khả năng Mỹ tấn công là điều có thể. Tướng Mark Milley đã phải đích thân gọi điện trấn an đồng nhiệm Trung Quốc Lý Tác Thành (Li Zuocheng) hai lần, trước và sau cuộc bầu cử.

Thông tín viên Guillaume Naudin tường trình từ Washington :

« Mark Milley đơn giản là chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân. Rõ ràng tướng Milley nghi ngờ về sự tỉnh táo của cấp trên, tổng tư lệnh và tổng thống Donald Trump. Sau vụ bạo loạn ngày 06/01/2021 trên đồi Capitol, tướng Mark Milley thậm chí còn đảm bảo với các tướng lĩnh cấp cao khác rằng thủ tục phát động các cuộc tấn công hạt nhân sẽ được tuân thủ – tức là mọi quyết định sẽ phải được thông qua ông.

Chỉ ít tháng trước đó, viên tướng cao cấp nhất trong quân đội Mỹ đã nói chuyện với người đồng cấp Trung Quốc để trấn an và khẳng định không có kế hoạch tấn công Trung Quốc. Một cuộc điện thoại khác với phía Trung Quốc sau vụ tấn công nhà Quốc Hội đồi Capitol, để cho phía Trung Quốc biết tình hình đã ổn định.

Cùng ngày hôm đó, 08/01, Mark Milley cũng đã có cuộc nói chuyện với bà Nancy Pelosi, chủ tịch Hạ Viện để trấn an lãnh đạo Hạ Viện và giải thích rằng tình hình đang được kiểm soát và quân đội sẽ không làm bất cứ điều gì bất hợp pháp hoặc điên rồ.

Lãnh đạo Hạ Viện Nancy Pelosi nói: « Ông ta bị điên rồi, ông biết là ông ta điên rồi và ông ta đã bị điên trong một thời gian dài ». Người được coi là cố vấn quân sự thân cận nhất của Donald Trump trả lời: « Tôi hoàn toàn đồng ý với bà ». Cựu chủ nhân Nhà Trắng đã từ chối trả lời các câu hỏi từ phía các tác giả cuốn sách ».

Yêu cầu tình báo theo dõi « ứng xử bất thường » của ông Trump

Trong cuốn sách sắp công bố, với nhân chứng là khoảng 200 giới chức Hoa Kỳ ẩn danh, các tác giả thuật lại tướng Milley đã họp bộ tổng tham mưu, để nhấn mạnh với tất cả các sĩ quan có mặt rằng, nếu tổng thống Trump ra lệnh tấn công hạt nhân Trung Quốc, ông sẽ phải là người được thông báo trước tiên. 

Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân cũng yêu cầu lãnh đạo cơ quan tình báo CIA, Gina Haspel, và lãnh đạo cơ quan tình báo quân sự, tướng Paul Nakasone, theo dõi nhất cử nhất động bất thường của tổng thống mãn nhiệm Donald Trump.

Theo các tác giả, một số người cho rằng tướng Milley đã « hành động vượt quá thẩm quyền của mình », tuy nhiên, rõ ràng là viên sĩ quan cao cấp nhất của Quân đội Mỹ hiểu rằng cần phải hành động như vậy để « không cho phép xảy ra một đổ vỡ lịch sử trong trật tự quốc tế, không có chiến tranh với Trung Quốc do bất cẩn, hay với bất cứ một quốc gia nào khác, và vũ khí hạt nhân sẽ không được sử dụng ».

Bắc/Nam Giữa Thời Mắc Dịch

Bắc/Nam Giữa Thời Mắc Dịch

Tưởng Năng Tiến

Tuy chào đời tại Sài Gòn – trước Hiệp Định Geneve – tôi vẫn có mặt trong đoàn người di cư từ Bắc vào Nam hồi năm 1954. Tuy đây không phải là một “giai thoại” ly kỳ hay thú vị gì sất cả nhưng vẫn xin được phép ghi thêm đôi dòng (cùng dặm thêm chút đỉnh mắm muối) để câu chuyện được tỏ tường, và đỡ phần nhạt nhẽo.

Tác giả Lê Duy San cho biết:

“Ngày 12/7/1946, theo lệnh của Trường Chinh, Việt Minh âm thầm cho công an đột nhập trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng ở số 9 phố Ôn Như Hầu. Hằng trăm người bị giết bằng cách trói lại và bị quăng xuống những con sông để họ chết chìm rồi loan tin là những người này bị VNQDĐ thủ tiêu.

Vụ này đã làm cho VNQDĐ tan rã, nhiều người phải chạy trốn sang Tầu trong đó có cụ Nguyễn Hải Thần, Huỳnh Thúc Kháng, Vũ Hồng Khanh, Hoàng Đạo, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và nhiều lãnh tụ của Việt Quốc và Việt Cách khác. Hàng ngàn người khác bị chúng bắt đem di giam giữ tại Hỏa Lò Hà Nội và nhiều nơi khác trong đó có nhà văn Khái Hưng Trần Khánh Giư.”

Tôi sinh sau đẻ muộn nên không được tường tận về những sự kiện thượng dẫn nhưng biết chắc rằng – ngoài những nhân vật nổi tiếng vừa nêu – còn có vô số những đảng viên cấp địa phương (của cả Việt Quốc lẫn Việt Cách) cũng bị truy lùng hay sát hại vì không “bung” kịp, hoặc không tìm được đường để ra đến nước ngoài.

Thân phụ tôi là một trong những kẻ thuộc cái đám đông vô danh tiểu tốt này. Thay vì chạy sang Tầu, như phần lớn những đồng chí ở trung ương, ông trốn vào Nam. Tuy tay trắng, không có chi để lận lưng, ngoài cái bằng tiểu học (Certificat D’Étude Primaires Complémentaires Indochinoises, C.E.P.C.I) ông vẫn kiếm được đôi ba chỗ kèm trẻ, và một nơi để trú thân, trong một cái xóm lao động nghèo nàn –  có tên là Xóm Chiếu – bên Khánh Hội.

Trong Thư Về Làng (viết năm 1956) nhạc sỹ Thanh Bình tâm sự: Từ miền Nam, viết thư về thăm xóm làng/ Sắt son gửi trong mấy hàng/ Thăm bà con dãi dầu năm tháng/ Từ Tiền giang thương qua đèo Cả thương sang/ Đêm đêm nhìn vầng trăng sáng …

Bố tôi không phải là nghệ sỹ nên ông chỉ đề cập đến chuyện cơm, áo, gạo, tiền … Thư ông viết: “Trong này có khi cơm ăn không hết, người ta đổ cho gà hay cho lợn”. Mẹ hiền, tất nhiên, không thể nào tin vào một chuyện “hoang đường” cỡ đó!

Bà vùng vằng, tức tối xé nát tờ thư trong tay (ấy là tôi đoán thế, nếu sai, xin má thứ tha và bỏ qua cho thằng con út) lầu bầu: “Lại phải lòng con đĩ nào trong ấy rồi, và chắc là định trốn vợ trốn con luôn đây, chứ thức ăn ở đâu ra mà lại phí phạm như vậy được?”

Nói xong, bất chấp mọi sự can ngăn/khuyên giải của họ hàng nội ngoại, bà tức tốc lặn lội vào Nam. Tới nơi, hiền mẫu tìm quanh quất mãi nhưng chả ra một con đĩ  (ngựa) nào ráo trọi mà nhìn đâu cũng thấy phố xá tấp nập, hàng quán tùm lum, và đồ ăn thức uống ê hề khắp chốn.  

Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến.

Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó :

– Người từ là từ phương Bắc đã qua dòng sông, sông dài/ Tìm đến phương này, một nhà thân ái/ Ơi! Tình Bắc duyên Nam là duyên tình chung muôn đời ta đắp xây… (“Khúc Hát Ân Tình.” Xuân Tiên & Song Hương).

– Em gái Bắc Ninh, anh trai Biên Hòa/ Em đất Thanh Nghệ, anh nhà Cà Mâu/
Đồi nương thương sức cần lao/ Se duyên Nam Bắc ngọt ngào tình yêu, ngọt ngào tình yêu
… (“Đất Lành.” Phạm Đình Chương)

Chuyện se duyên Nam Bắc có ngọt ngào tình yêu (thiệt) không thì chả ai dám chắc, và cũng không có chi bảo đảm cả nhưng với thời gian – rồi ra – ai cũng biết cái mền là cái chăn, cái mùng còn gọi là cái màn, cái phong bì với cái bao thư là một, cái bật lửa đã trở thành bựt lửa, cái hôn và cái hun cùng một nghĩa (và cùng đã) như nhau.

Cuộc chung đụng giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm … tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.

Kết quả của mối giao duyên tốt lành này là một phần tư thế kỷ sau – dù chả cần ai tuyên truyền, hay cổ động gì ráo nạo – chàng trai Biên Hoà Nguyễn Tất Nhiên vẫn cứ si mê “cô em tóc demi garçon,” và mê chết bỏ: Đôi mắt tròn, đen, như búp bê/ Cô đã nhìn anh rất… Bắc Kỳ/ Anh vái trời cho cô dễ dạy/ Để anh đừng uổng mớ tình si. (“Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ.” NXB Nam Á: Paris 1982).

Nền Đệ I Cộng Hoà ở miền Nam cũng có không ít những khiếm khuyết (vô cùng đáng tiếc) nhưng việc ổn định hằng triệu người dân di cư phải được coi là một điểm son của chế độ này, nhờ vào sự trợ giúp tận tình của cả nước Hoa Kỳ. Không phải thế lực ngoại bang nào đến Việt Nam cũng chỉ với mục đích xâm chiếm, cùng với chính sách chia để trị.

Chủ trương phân biệt vùng miền, mỉa mai thay, lại là đường lối xuyên suốt và nhất quán của cái nhà nước được mệnh danh là cách mạng hiện hành – theo như lời của nhiều công dân Việt :

  • FB Trần Đình Thu: “Để kỳ thị hai miền Nam Bắc xẩy ra ngày càng nghiêm trọng là do những chủ trương tuyên truyền hung hăng của nhà nước VN.”
  • Blogger Ku Búa: “Ai là người gây ra nạn phân biệt Bắc Kỳ Nam Kỳ? Đó không phải là sự khác biệt trong tư duy, trong môi trường sống, trong quan niệm sống hay con người. Mà chính là sự phân biệt trong chính sách chính phủ hiện tại.”
  • FB Thuc Tran: “Bất công là nguồn gốc của mọi sự thù ghét nhau giữa dân chúng hai miền và có lẽ đó cũng là ý đồ của đảng khi chia để trị.”

Họ có quá lời chăng?

Không dám “quá” đâu. Từ cuối thế kỷ trước, ông Vũ Đình Huỳnh (một nhân vật quan trọng của ĐCSVN) cũng đã từng nói những điều tương tự: “Sài Gòn là một thành phố bị chiếm đóng. Không phải là một thành phố được giải phóng. Chỉ vài năm thôi, nó sẽ giống Hà-Nội.” (Nguyễn Chí Thiện. Hỏa Lò. 7th ed. NXB Cành Nam, Virginia: 2007).

Thực sự thì Sài Gòn chưa bao giờ được Bên Thắng Cuộc xem “giống như Hà Nội” cả. Sự thực phũ phàng này được nhìn thấy rõ hơn trong những ngày tháng vừa qua.

Tác giả Nguyễn Khoa nhận xét:

“Dịch bệnh cũng làm bộc lộ mâu thuẫn chính trị vùng miền, với sự thống trị của miền Bắc, vốn là nơi phát xuất những đội quân chiến thắng năm 1975. Trong những năm 1990, người ta dành kinh phí quốc gia để xây dựng đường số 5 Hà Nội – Hải Phòng, hay đường số 18 Hải Dương – Quảng Ninh, thay vì con đường nhiều hàng hóa hơn là Quốc lộ 1 Sài Gòn – Mỹ Tho, hay liên tỉnh số 8 Sa Đéc – Long Xuyên.

Việc này có thể được thông cảm vì hệ thống đường sá miền Bắc quá tệ hại. Nhưng vào năm 2021, với một dân số gấp đôi, số người nhiễm bệnh gấp ba Hà Nội, mà số liều vaccine phân phối về Sài Gòn lại ít hơn là điều không thể tha thứ được.”

Bao giờ mà kẻ thống trị còn giữ được quyền bính thì họ chả cần đến sự “tha thứ” của bất cứ ai. Câu hỏi đặt ra là cái đạo quân chiếm đóng hiện nay sẽ còn tiếp tục duy trì được quyền lực ở Việt Nam thêm bao lâu nữa, và chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?

Tưởng Năng Tiến
8/2021

Tự Do cho TNLT Trần Huỳnh Duy Thức

May be an image of 1 person and text that says 'TỰ DO CHO TNLT TRẦN HUỲNH DUY THỨC "TÔI CẦN CÔNG LÝ VÀ NHÀ NƯỚC PHẢI THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT!" LUA "Tôi không LẬT ĐÓ CHÍNH QUYỀN gì cả tôi chỉ CHỐNG CƯỜNG QUYỀN và sẽ còn CHỐNG nó đến khi nào còn THẤY nó"'

Lê Vi

Tôi có thói quen tìm kiếm sự vô lý trong mọi thứ xung quanh mình, có anh bạn mỗi lần gặp mặt thường than túng thiếu trong khi mỗi ngày anh hút hết một gói Marlboro giá khoảng 11 đô Mỹ. Khi tôi nói ông túng thiếu vậy sao ngày nào cũng đốt khơi khơi 11 đô chỉ để rước bệnh vô người chi vậy thì anh bảo “Chứ giờ bỏ hổng được biết làm sao?”

Xưa lúc mới qua đi làm chung với một bà đồng nghiệp da đen, chồng bà ấy làm nghề rửa xe dạo nhưng mượn tiền tậu một chiếc BMW gần 60 ngàn đô rồi đem về trùm mền lại chứ không dám chạy, lần đó xe bả bị hư phải sửa nên bả phải đi nhờ xe tôi, tôi hỏi sao không lấy xe BMW đi cho nó oai thì bả bảo chồng bả không cho bả đụng đến chiếc xe cưng đó, tôi cười và hỏi “Chiếc xe mua chỉ để ngắm thì mua làm gì?”

Hai vợ chồng ông bà bảo trợ cho gia đình tôi ngày xưa là giáo viên về hưu, họ sống giản dị và chi tiêu mọi thứ rất cẩn thận nên chỉ với số tiền hưu ít ỏi mà họ vẫn có thể đi du lịch khắp nơi trên thế giới. Một lần họ đem hình họ chụp ở Miến Điện cho tôi xem, chỉ vào những cái chùa vàng chùa bạc gì gì nơi xứ ấy họ bảo cái xứ này nghèo bởi vì họ xài sang quá, họ đổ quá nhiều tiền vào những nơi như thế này.

Mỗi khi về Việt Nam chơi tôi hay bị người nhà nhắc nhở “…thôi mày đừng chê nữa, làm mất cuộc vui…”. Thực tình là không phải tôi thích chê bai nhưng mỗi khi thấy chuyện gì vô lý mà không nói thì bức rứt khó chịu bởi ở xứ mình sự vô lý hiện diện ở khắp nơi.

Chẳng hạn như mới sáng sớm gặp mặt mấy thằng em tụi nó đã rủ “nhậu đi!”, giờ làm việc mà quán cà phê đông nghẹt người, đến nơi công quyền mới một giờ chiều đã thấy thằng cán bộ mặt đỏ gay vì cữ nhậu giữa trưa, con đường thì nhỏ mà cái lề đường lại quá rộng và không có đường cho xe lăn leo lên leo xuống, mỗi cái cổng chào hoành tráng cho mỗi huyện chẳng biết để làm gì? Đi từ Sài Gòn ra Nha Trang mà đếm không hết mấy cái tượng đài với cổng chào luôn, ủy ban nhân dân một toà nhà vĩ đại thì đảng uỷ cũng một toà vĩ đại không kém, thác Cam Ly lại chỉ có toàn nước cống và nước đái ngựa hôi rình, chợ Đà Lạt thì ngập ngụa rác, xuống tắm biển thì mới vừa lặn xuống trồi lên đã vướng cái bịt ni lông ở trên đầu…

Còn nhiều lắm, ở đâu cũng có sự vô lý nhưng ở xứ mình thì nó nhan nhản xung quanh ta, nó hiện diện ở tất cả các ngành trọng yếu của đất nước từ giáo dục, y tế, tư pháp, lập pháp, hành pháp, công an, quân đội, du lịch, thể thao…nói chung là nhiều lắm. Một con người mà cứ ôm khư khư những điều vô lý thì cuộc đời con ngưòi đó khó mà khá lên được, một dân tộc mà mãi bám víu vào những điều vô lý thì dân tộc đó khó có thể bằng bạn bằng bè, một đất nước mà nhìn đâu cũng thấy đầy sự vô lý thì đất nước đó khó thoát phận tiểu nhược nghèo hèn.

Một chính quyền mà không dẹp bỏ được những điều vô lý là một chính quyền không chính danh, một chính quyền mà dung dưỡng những điều vô lý chỉ với mục đích duy trì quyền lực thì chính quyền đó là thứ chính quyền vô đạo không xứng đáng được tồn tại. Công an nhân dân mà hợp tác với côn đồ đi liệng cứt vào nhà dân là vô lý, quân đội nhân dân mà đi ra hỗ trợ doanh nghiệp cướp đất của dân là vô lý, nhân tài của đất nước đã không được trọng dụng lại còn bị giam cầm oan ức là vô lý, hạng dốt nát tham lam mà nhảy lên làm quan với lương ba cọc ba đồng nhưng thằng nào cũng sở hữu biệt phủ lầu đài là một điều hết sức vô lý không tài nào hiểu được.

Thấy điều vô lý mà không lên tiếng thì xứng đáng được hít khói bụi khi đi ra đường, bị bỏ mặc cho chết trong phòng cấp cứu nếu không có tiền, bị tra tấn khi phải nín tiêu nín tiểu khi không có toilet, bị hành xác khi kẹt xe, bị đè đầu móc bóp khi qua hải quan, bị chặn xe làm tiền khi lưu thông trên đường, bị đánh đập đến chết khi vào đồn công an…

Thấy điều vô lý mà không lên tiếng để thay đổi nó thì sẽ sống chung với những điều vô lý như cái anh chàng nói ở đầu bài lúc nào cũng ca bài ca túng thiếu trong lúc miệng phì phèo thuốc lá và ho sù sụ, thế thôi.

Đất nước nào cũng cần người tài ra lãnh đạo để phát triển nhưng ở VN lại giam cầm người tài là một điều hết sức vô lý cần phải lên tiếng.

Free Trần Huỳnh Duy Thức

Fb Thuc Tran

Đọc chuyện bà Mai để biết dân khổ ra sao

Đọc chuyện bà Mai để biết dân khổ ra sao

Bởi  AdminTD

Blog VOA

Trân Văn

15-9-2021

Tờ Công Luận – cơ quan ngôn luận của Hội Nhà báo Việt Nam vừa kể một câu chuyện mà nội dung khiến độc giả không biết nên xác định thân phận con người và đạo lý ở Việt Nam vào loại nào trong đại dịch…

Bà Trương Thị Tuyết Mai, 54 tuổi, cư trú ở phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM. Ngày 28/6/2021, bà Mai rời nhà, dùng xe hai bánh gắn máy về xã Tường Đa, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre để chăm sóc thân mẫu lâm trọng bệnh…

Thượng tuần tháng 7, chính quyền TP.HCM bắt đầu áp đặt những biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt theo yêu cầu “ai ở đâu ở đấy” của Thủ tướng nên bà Mai bị kẹt lại tại Bến Tre không thể về nhà.

Bà Mai dự tính sẽ chờ đến 15/9/2021 – thời điểm mà chính quyền TP.HCM nới lỏng các biện pháp hạn chế đi lại – nhưng chồng bà đột ngột lâm trọng bệnh. Ngày 11/9/2021, bà Mai đến Văn phòng UBND tỉnh Bến Tre, trình bày hoàn cảnh của mình và xin nơi này cấp cho bà Giấy đi đường. Chính quyền tỉnh Bến Tre đã cho bà một tờ giấy. Họ xác định bà Mai được rời Bến Tre vào ngày 12/9/2021 để về nhà ở phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, TP. HCM. Yêu cầu bà tuân thủ các qui định về phòng chống dịch. Đồng thời đề nghị Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch COVID-19 các cấp cho phép bà Mai được băng qua các trạm gác vì chồng bà cần người chăm sóc…

Có giấy xác nhận đã xét nghiệm COVID-19 với kết quả âm tính, có giấy đi đường, bà Mai dùng xe hai bánh gắn máy rời khỏi Bến Tre nhưng chỉ đi được đến thành phố Tân An, thuộc tỉnh Long An…

Một trạm kiểm soát đi lại ở thành phố Tân An, tỉnh Long An không cho bà Mai qua trạm vì… Giấy đi đường do UBND tỉnh Bến Tre không có… số văn bản! Muốn qua trạm này, bà Mai phải quay lại Bến Tre, xin giấy đi đường… hợp cách!

Thế là bà Mai phải lộn trở lại Bến Tre để xin Giấy đi đường mới. May cho bà là Văn phòng UBND tỉnh Bến Tre thông cảm, chấp nhận cấp lại Giấy đi đường có… số văn bản theo đòi hỏi của chính quyền tỉnh Long An…

Với Giấy đi đường mới, bà Mai hăm hở trở về thêm một lần nữa ngay trong ngày 12/9/2021. Lần này bà băng qua được tỉnh Long An nhưng khi xe hai bánh gắn máy của bà gặp trạm kiểm soát đầu tiên của TP.HCM ở huyện Bình Chánh thì bà không được đi nữa! Công an ở trạm này không chấp nhận cho bà Mai – cư dân TP.HCM – quay về nhà của bà để chăm sóc chồng vì theo họ, lý do đó… không chính đáng! Bà Mai kể với phóng viên của tờ Công Luận rằng: Công an dọa sẽ lập biên bản, phạt bà vi phạm quy định phòng, chống dịch nếu bà tiếp tục năn nỉ… Bà Mai đành ngậm đắng, nuốt cay quay về Bến Tre thêm một lần nữa.

TP.HCM đã quyết định kéo dài thời gian hạn chế đi lại thêm nửa tháng nữa. Chưa rõ sau 30/9/2021 bà Mai có được trở về nhà của bà không? Đến lúc đó chồng của bà có còn cần người chăm sóc nữa không hay đã…

Tờ Công Luận đã đem câu chuyện của bà Mai và những Giấy đi đường bà được chính quyền tỉnh Bến Tre cấp để hỏi đại diện Công an TP.HCM xem… vì sao lại thế? Một viên thượng tá tên Lê Mạnh Hà là Phó phòng Tham mưu của Công an TP. HCM, bảo rằng: Công an TP.HCM chưa nhận được… văn bản của chính quyền tỉnh Bến Tre! Chẳng lẽ ngoài Giấy đi đường đã cấp cho bà Mai, chính quyền tỉnh Bến Tre còn phải gửi văn bản cho Công an TP.HCM để thông báo họ cho phép bà Mai rời khỏi Bến Tre?

Viên thượng tá vừa đề cập nói thêm, công an ở các chốt, trạm chỉ làm theo qui định “ai ở đâu, ở đấy”. Giấy đi đường liên tỉnh chỉ có giá trị khi có cả sự đồng ý của bên cho đi và bên tiếp nhận! Dường như đây là chỉ thỉ của Bộ Công an nên viên thượng tá tên Hà cho biết, Công an TP.HCM đang đề xuất Bộ Công an có văn bản chỉ đạo, tránh tình trạng mỗi địa phương thực hiện một kiểu! Viên thượng tá bảo, những trường hợp như bà Mai thì… CÓ THỂ giải quyết linh động hơn, hỗ trợ người dân về nhà an toàn.

CÓ THỂ có nghĩa là chấp nhận cũng được và từ chối cũng… chẳng sao! Không chỉ bà Mai, hoàn cảnh của bà, mà sự chấp thuận – cho phép đương sự đi lại – của chính quyền một tỉnh cũng… chẳng là gì cả!

Đại dịch COVID-19 đã lột trần từ trí tuệ, khả năng đến bản chất phi nhân của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền từ trung ương đến địa phương tại Việt Nam. Khi Thủ tướng bật đèn xanh cho hệ thống truyền thông chính thức hướng dư luận vào việc chỉ trích hệ thống chính trị, hệ thống công quyền địa phương vì… xét nghiệm chậm, lỏng lẻo trong quản lý người về từ vùng dịch (2) thì chuyện xem việc ai đó muốn về nhà để chăm sóc thân nhân lâm trọng bệnh là… không chính đáng sẽ mang tính tất nhiên.

Không chỗ nương thân, đói khát, thiếu người chăm sóc nếu bệnh tật hay chẳng may nhiễm COVID-19, tuyệt vọng vì tương lai mù mịt, nhiều người Việt tìm đủ mọi cách để thoát khỏi vùng dịch, kể cả chấp nhận những phương thức nguy hiểm tới tính mạnh trốn trong thùng xe vận tải chở hàng đông lạnh (3). Hệ thống chính trị, hệ thống công quyền vẫn thế, vẫn bất chấp thực tại, răm rắp thực thi nghiêm lệnh của Thủ tướng dù nghiêm lệnh chỉ khiến thực trạng tồi tệ hơn để khỏi bị phê bình, khỏi bị Thủ tướng biến thành bung xung, thay chính phủ gánh trách nhiệm vì chiến lược và các giải pháp phòng ngừa chung chung, thiếu cụ thể, không hiệu quả nhưng vẫn khoác tấm áo choàng… chính đáng!

‘Tarzan Việt Nam’ Hồ Văn Lang chết vì ung thư gan, sau 8 năm về từ rừng sâu

‘Tarzan Việt Nam’ Hồ Văn Lang chết vì ung thư gan, sau 8 năm về từ rừng sâu

September 13, 2021

QUẢNG NGÃI, Việt Nam (NV) – Ông Hồ Văn Lang, người được báo chí cả trong nước và thế giới biết đến, với biệt danh là “người rừng” và “Tarzan Việt Nam” do từng sống tách biệt trong rừng sâu suốt hơn 40 năm, vừa qua đời hôm Thứ Hai tuần trước, do căn bệnh ung thư gan, theo bản tin của tờ Daily Mail hôm Thứ Hai, 13 Tháng Chín.

Giới chức chính quyền huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi, cũng như ông Hồ Văn Tri, em trai ông Lang, xác nhận điều này và cho biết ông Lang qua đời hôm 6 Tháng Chín, sau khoảng một năm chống chọi với căn bệnh quái ác.

Ông Hồ Văn Lang vào Tháng Tám năm 2013. (Hình: APF/AFP via Getty Images)

Vào năm 1972, ông Lang được cha là ông Hồ Văn Thanh, người thuộc sắc dân thiểu số Cor, dẫn vào rừng sâu trú ẩn, sau khi xảy ra cuộc oanh tạc khiến một nửa gia đình thiệt mạng, theo các cơ quan truyền thông.

Ông Alvaro Cerezo, một người bạn ngoại quốc quen biết sau này với ông Lang, nói với tờ Daily Mail rằng đời sống trong thế giới tân tiến có lẽ đã góp phần khiến ông sớm qua đời, qua việc uống rượu, hút thuốc, ăn các thực phẩm biến chế có đủ mọi chất hóa học.

Ông Hồ Văn Lang, giữa, khi vừa trở về sống với cộng đồng. (Hình: STR/AFP via Getty Images)

Ông Cerezo nói: “Tôi rất buồn khi ông ấy ra đi, nhưng đối với tôi thì cái chết cũng là sự giải thoát cho ông ta vì tôi biết ông đã rất đau đớn trong những tháng cuối.”

Người bạn này cũng nói rằng, “Tôi không thấy ông ta phù hợp với đời sống trong xã hội này. Tôi luôn lo ngại rằng ông ta và cơ thể của ông sẽ không thể nào đối chọi với sự thay đổi lớn lao khi trở về với cộng đồng.”

Căn chòi cao 5 m trong rừng sâu của hai cha con “người rừng.” (Hình: STR/AFP via Getty Images)

Hai cha con ông Hồ Văn Thanh và Hồ Văn Lang sống mấy thập niên trong khu rừng rậm thuộc huyện Trà Bồng, cho tới khi dân địa phương nhìn thấy họ lúc vào rừng kiếm củi.

Giới hữu trách nói rằng vào năm 2013 người em của ông Lang là Hồ Văn Tri khuyên nhủ người anh hãy đưa cha về sống với cộng đồng, do sức khỏe của ông Thanh ngày càng suy yếu. Ông Thanh qua đời năm 2017.

Các tấm khố làm bằng vỏ cây và dụng cụ hàng ngày do hai cha con chế tạo khi sống trong rừng. (Hình: STR/AFP via Getty Images)

Trong thời gian sống ẩn náu trong rừng, hai cha con sống sót bằng cách hái lượm rau quả và trồng bắp.

Họ mặc khố làm bằng vỏ cây, sống trong căn chòi trên đọt cây, cao hơn mặt đất khoảng 5 mét. (V.Giang) [kn]

Việt Nam/COVID: Số ca nhiễm và tử vong đi xuống trong 8 ngày

VOA Tiếng Việt

Bản tin về đại dịch COVID-19 của Bộ Y tế Việt Nam cho biết đất nước có thêm hơn 10.500 ca nhiễm và 276 ca tử vong trong thời gian từ 17h ngày 13/9 đến 17h ngày 14/9.

Đến nay, Việt Nam có tổng cộng hơn 635.000 người nhiễm virus và 15.936 người thiệt mạng vì dịch. Hầu hết các ca này xảy ra trong vòng 4 tháng rưỡi trở lại đây. Chiếm khoảng một nửa các con số vừa kể là ở thành phố Hồ Chí Minh, tâm dịch của đất nước.

Thống kê của Bộ Y tế cho thấy số ca dương tính được ghi nhận qua các cuộc xét nghiệm chính thức đang có xu hướng đi xuống trong 8 ngày gần đây, từ gần 14.200 ca hôm 7/9 xuống gần 10.500 hôm 14/9.

Trong cùng thời gian, đường đồ thị về số người tử vong trên toàn quốc đi từ con số 316 của ngày 7/9 và 335 của ngày 8/9 xuống 217 vào ngày 11/9, sau đó đi ngang trong 3 ngày từ 12 đến 14/9 với khoảng trên dưới 270 người thiệt mạng vì dịch mỗi ngày.

Xu thế giảm cũng khá rõ ở tâm dịch Tp.HCM, với số ca nhiễm trung bình là trên dưới 7.300 trong các ngày 7-10/9 xuống mức 5.500-6.500 trong những ngày gần đây, tương tự là con số tử vong từ trên 250 ca trong các ngày 7 và 8/9 xuống khoảng 200 trong vài ngày qua.

Mặc dù vậy, tình hình dịch vẫn bị xem là còn nghiêm trọng và chính quyền Tp.HCM tiếp tục áp dụng lệnh giãn cách ở mức độ cao trong ít nhất 2 tuần nữa kể từ ngày 15/9.

Thành phố có vai trò là đầu máy kinh tế của Việt Nam đã áp dụng các biện pháp giãn cách, phong tỏa nghiêm ngặt trong hơn 3 tháng, dẫn đến nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp và người dân.

Trong khi đó, chính quyền của thủ đô Hà Nội mới đây cho biết họ đang cân nhắc lộ trình nới lỏng giãn cách theo từng bước sau các thời điểm 15 và 21/9, nhưng chưa đưa ra kế hoạch nào cụ thể. Một quan chức kiểm soát bệnh dịch của Hà Nội nói với báo chí rằng thành phố này vẫn “chưa hết nguy cơ lây nhiễm”. Thủ đô của Việt Nam áp dụng lệnh giãn cách từ 24/7.

Cách Hà Nội không xa, chính quyền thành phố cảng Hải Phòng thông báo hôm 14/9 rằng họ cho phép một loạt dịch vụ công ích hoặc kinh doanh sinh lợi được hoạt động trở lại từ 0h ngày 15/9.

Đó là các vườn hoa, công viên, nhà hàng, các quán vỉa hè, các cơ sở kinh doanh dịch vụ thể dục, thể thao trong nhà, spa, chăm sóc sắc đẹp, các phòng khám chữa răng, tai mũi họng, v.v…

Nhà chức trách Hải Phòng nói cơ sở để nới lỏng lệnh giãn cách là thành phố đã đẩy mạnh tiêm vắc-xin, đến nay đã tiêm được gần 500.000 liều, và qua 21 ngày thực hiện nhiều xét nghiệm song không ghi nhận ca nhiễm mới trong cộng đồng.

Trên cả nước, Việt Nam đã tăng đáng kể số người được chủng ngừa COVID-19, với tổng số liều vắc xin được tiêm là hơn 30,3 triệu, trong đó hơn 24,7 triệu người tiêm được tiêm 1 mũi và hơn 5,6 triệu người đã tiêm 2 mũi. Với dân số hơn 98 triệu người, việc tiêm vắc-xin của Việt Nam còn tiếp tục diễn ra trong những ngày tháng tới.

https://www.voatiengviet.com/…/viet-nam…/6226001.html

Việt Nam/COVID: Số ca nhiễm và tử vong đi xuống trong 8 ngày

VOATIENGVIET.COM

Việt Nam/COVID: Số ca nhiễm và tử vong đi xuống trong 8 ngày

Theo Bộ Y tế VN, số ca dương tính đang có xu hướng đi xuống trong 8 ngày gần đây, từ gần 14.200 ca hôm 7/9 xuống gần 10.500 hôm 14/9. Đường đồ thị về số người tử vong trên toàn quốc cũng đi xuống.

NGƯỜI LÍNH MIỀN BẮC CÓ “ĐÁNH THUÊ” KHÔNG?

 Tôi Yêu Miền Nam

NGƯỜI LÍNH MIỀN BẮC CÓ “ĐÁNH THUÊ” KHÔNG?

Trần Trung Đạo

Các bạn trẻ tại Việt Nam nghe ba chữ “lính đánh thuê” từ khi mới tập đọc nhưng chắc không hiểu rõ định nghĩa quốc tế của ba chữ này.

Theo Nghị định thư (Protocol) 1977 được Liên Hiệp Quốc công bố ngày 8 tháng 6 năm 1977 để đính kèm theo Công Ước Geneva quy định các nguyên tắc hành xử trong một xung đột võ trang ra đời năm 1949, những điểm căn bản định nghĩa lính đánh thuê (mercenary) gồm (1) không thuộc quân đội chính thức của chính phủ, (2) được tuyển dụng tại địa phương hay nước ngoài để tham gia một cuộc xung đột võ trang chỉ vì ước muốn riêng tư và được hứa đền bù cao hơn một người lính cùng cấp trong lực lượng võ trang của chính phủ mướn người đó, (3) không phải thành viên hay đang cư ngụ trên lãnh thổ được kiểm soát bởi chính phủ.

Theo định nghĩa trong Nghị định thư 1977, người lính miền Nam không đánh thuê cho ai cả mà chỉ chiến đấu trong một cuộc chiến tranh tự vệ trên mảnh đất mà chính họ chọn làm quê hương và nhiều trong số họ đã chết trên mảnh đất đó.

Nếu gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa là lính đánh thuê cho Mỹ vì Mỹ trang bị vũ khí, tài trợ là không đúng với các định nghĩa quốc tế cũng như thực tế chiến tranh.

Trong Thế chiến Thứ hai, phần lớn trong khoảng 60 quốc gia trực tiếp hay gián tiếp đứng về phía đồng minh, trong đó có Liên Sô và đã nhận vũ khí của Mỹ qua đạo luật Lend-Lease Act nhưng không ai gọi họ là “lính đánh thuê” vì họ có kẻ đối đầu chung là Khối trục. Tương tự, từ khi bắt đầu cuộc chiến cho đến khi Hiệp định Paris ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, quyền lợi và mục đích chiến lược của Mỹ và VNCH giống nhau là ngăn chận làn sóng CS tràn xuống phía Nam Việt Nam. Sau khi Mỹ thay đổi trục chiến lược bằng việc thỏa hiệp với Trung Cộng, VNCH phải chiến đấu trong cô đơn và cô thế.

Nói rộng hơn, ngoại trừ các hoạt động gián điệp mà bất cứ cuộc chiến tranh lớn nào cũng có, Việt Nam Cộng Hòa không chủ trương đánh chiếm miền Bắc. Nếu CS miền Bắc, tính luôn các thành phần CS cài lại ở miền Nam sau 1954, để yên cho miền Nam ổn định và phát triển về mọi lãnh vực thì đã không có gì xảy ra.

Nếu áp đụng Nghị định thư 1977 trong Công Ước Geneva 1949, câu hỏi “Người lính miền Bắc có đánh thuê không?” lại có vẻ thích hợp hơn và đáng phân tích hơn.

Những người lính miền Bắc thỏa mãn các điều kiện căn bản của định nghĩa “lính đánh thuê” vì (1) “không thuộc quân đội chính thức” mà là các thành phần khủng bố, xâm lược, được lén lút đưa vào Việt Nam Cộng Hòa từ một quốc gia khác, trong trường hợp này là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH), (2) vô thừa nhận, đảng CSVN có một thời không thừa nhận những thanh niên nói giọng Hà Nội, Nghệ An, Hà Tỉnh, Cao Bằng v.v.. bị quân đội VNCH bắt được là từ miền Bắc mà cho họ là “nhân dân miền Nam tự đứng dậy”, (3) chỉ phục vụ cho quyền lợi của những kẻ trả lương và cung cấp vũ khí trong đó gồm đảng CSVN, Liên Sô và Trung Cộng.

Không chỉ rút ra từ Công ước Geneva mà từ cấp cao nhất của đảng CSVN cho đến cấp cao nhất của nhà nước VNDCCH đều thừa nhận “lính miền bắc là lính đánh thuê”.

Lấy các phát biểu của Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Nguyễn Mạnh Cầm để chứng minh.

Về phía đảng, Lê Duẩn, Tổng bí thư đảng CSVN thừa nhận quân đội CSVN là quân đội đánh thuê.

Nhân dịp “40 năm ngày ký Hiệp định Paris về Việt Nam”, Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Bộ trưởng Ngoại Giao CSVN, khi trả lời phóng viên Tuần Việt Nam đã nhắc lại câu nói của Lê Duẩn: “Ta đánh là đánh cả cho Trung Quốc, cho Liên Xô!”.

Để công bằng và trung thực cho câu nói của Lê Duẩn, xin lưu ý, một số tài liệu khi viết lại đã cố tình bỏ chữ “cả” để vạch ra bộ mặt đánh thuê của CSVN là “đánh cho Trung Quốc và Liên Sô”. Thật ra, trong câu đó có chữ “cả” nữa, nhưng “cả” gồm những ai, xin đọc tiếp.

Câu trả lời của Lê Duẩn có thể phân tích đầy đủ hơn gồm “cho ta”, “cho Trung Quốc” và “cho Liên Sô”:

(1) Quân đội CS miền Bắc “đánh cho ta” nhằm CS hóa toàn cõi Việt Nam. Nếu theo dõi dòng lịch sử đảng CS từ thập niên 1920 khi Hồ Chí Minh nước mắt chảy dài đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lenin viết ngày 5 tháng 6, 1920 cho đến hôm nay rồi đem so sánh giữa thực tế đất nước qua cách sống như vua chúa của tập đoàn cai trị CS bên cạnh những mái tranh nghèo của hơn 90 triệu dân còn lại, sẽ thấy “ta” trong câu của Lê Duẩn là đảng CSVN chứ không phải toàn dân Việt Nam.

(2) Quân đội CS miền Bắc đánh thuê cho Trung Cộng để bảo vệ vùng an toàn phía nam quan trọng của Trung Quốc và cửa ngõ ra Biển Đông. Chính sách bành trướng nhanh chóng của Tập Cận Bình ngày nay một phần do quan điểm Trung Quốc và Việt Nam như anh với em, như môi với răng, như nước với sữa mà CSVN đã lặp đi lặp lại từ lâu.

Nếu CSVN biết cứng rắn như Philippines hay kiên quyết như Bắc Hàn thì dù không chận đứng hẳn ít ra đã làm họ Tập chậm chân chứ không có những căn cứ, những phi trường quân sự trên đảo Chữ Thập của Việt Nam như ngày nay.

(3) Quân đội CS miền Bắc đánh thuê cho Liên Sô để giảm áp lực của Mỹ bằng một mặt trận nóng trong Chiến Tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Sô. Giới lãnh đạo CS Liên Sô biết không sớm thì muộn Liên Sô sẽ nguy khốn nếu không làm chậm cuộc chạy đua võ trang với Mỹ.

Về phía chính phủ CS, Phạm Văn Đồng, thủ tướng CSVN, cũng thừa nhận quân đội CS đánh thuê cho Trung Cộng.

Đoạn đối thoại dưới đây giữa Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng trích trong tác phẩm On China của Henry Kissinger. Chu Ân Lai nói với Phạm Văn Đồng: “Trong một thời gian dài, Trung Quốc bị Mỹ bao vây. Bây giờ Liên Xô bao vây Trung Quốc, ngoại trừ phần Việt Nam.” Phạm Văn Đồng cam kết: “Chúng tôi càng quyết tâm để đánh bại đế quốc Mỹ bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam.” Chu Ân Lai thỏa mãn: “Đó chính là lý do chúng tôi ủng hộ các đồng chí.”

Như vậy, cả đại diện cho đảng và nhà nước CS đều thừa nhận những người lính từ Bắc Việt và các thành phần cài lại ở miền Nam đều là lính đánh thuê, đúng theo tinh thần của Công ước Geneva 1949.

Quan điểm Mao Trạch Đông về chiến tranh tại Việt Nam phù hợp với cách giải thích của Lê Duẩn. Theo đó, giống như trong chiến tranh Triều Tiên, là tạo một vùng độn trong biên giới phía nam Trung Quốc. Để thực hiện chủ trương này, Trung Cộng đã chi dụng gần như hầu hết võ khí, đạn được cho CSVN. Trung Cộng là mẹ đỡ đầu của các chính sách và chiến lược chiến tranh của đảng CSVN từ 1949 đến 1954.

Giai đoạn đầu của chiến tranh, Mao chỉ muốn miền Bắc là phên giậu và thỏa mãn sau khi đạt được mục đích đó.

Theo nghiên cứu của Chen Jian trong China’s Involvement in the Vietnam War, 1964-69, Bành Đức Hoài, 24 tháng 12, 1955 thông báo cho Võ Nguyên Giáp biết các đoàn cố vấn quân sự Trung Cộng sẽ rút về nước hết vào tháng 3, 1956. Tuy nhiên khi chiến tranh leo thang, Trung Cộng cảm thấy vùng an toàn phía nam lần nữa bị đe dọa nên đổi ý và gia tăng viện trợ cho CSVN cho đến khi chấm dứt chiến tranh.

Quan điểm Liên Sô về chiến tranh Việt Nam xác định chủ trương mướn người Việt đánh người Mỹ.

Mặc dù trước đó tỏ ra lạnh nhạt trong nhưng khi cuộc chiến leo thang, Liên Sô từng bước trở thành phe có lợi trong chiến tranh tại Việt Nam. Liên Sô vượt qua cả Trung Cộng trong việc cung cấp vũ khí, viện trợ kinh tế và các phương tiện tuyên truyền cho CSVN. Để làm gì? Ngày nay các tài liệu cho thấy, Liên Sô muốn (1) dùng người Việt để đánh Mỹ, (2) cố gắng nhận chìm bộ máy quân sự của Mỹ, (3) cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Cộng trong các nước thuộc phe “xã hội chủ nghĩa”, và (4) quan trọng nhất là giảm ưu thế của Mỹ trong cuộc chạy đua vũ trang.

Tóm lại, quan điểm của Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Trung Cộng và Liên Sô về lý luận lẫn thực tế đều giống nhau.

Nhưng nếu đem câu “người lính miền bắc có đánh thuê hay không?” để hỏi một cựu cán binh CS đã từng chiến đấu ở miền Nam trước 1975, chắc chúng ta sẽ nhận câu trả lời “không phải.”

Nếu ai đó tiến bộ về nhận thức chính trị thì nhiều lắm chỉ thừa nhận họ bị gạt, bị lừa nhưng vẫn cho khẩu hiệu “đánh bại chính sách thực dân mới của đế quốc Mỹ” là đúng và “thống nhất đất nước” là tình cảm tự nhiên. Tuy nhiên, cho tới nay, chắc không bao nhiêu người hiểu “chủ nghĩa thực dân mới” là gì và tình cảm “thống nhất đất nước” kia từ đâu mà có.

Một số khác cũng trả lời “không”, không có nghĩa là họ không thấy, không biết, không nhận ra sự thật sau nhiều nghìn đêm mất ngủ, nhưng chỉ vì không đủ can đảm để từ chối một phần đời trai trẻ của mình và nhất là mất đi những gì họ đang có hôm nay.

Trần Trung Đạo

Một thảm họa nhân đạo…!

DuyHy  Luật Sư Nguyễn Văn Đài và Bạn Bè

Một thảm họa nhân đạo…!

Một đoàn 15 người quê Trị Thiên, bỏ ra 700k mỗi người để thuê xe đông lạnh chở từ Đồng Nai về quê, gặp chốt chặn và bị phát hiện, với tình trạng “khó thở” – khi trả lời với cơ quan chức năng, một người trong đoàn đã nói như vậy.

“Khó thở”, làm người ta liên tưởng tới tin nhắn cuối cùng của một nạn nhân trong vụ 39 người trong container đông lạnh ở UK, đã gửi đoạn chat cuối cùng với tiếng kêu trong tuyệt vọng “Mẹ ơi, con không thở được”.

Không biết, những người lãnh đạo quốc gia đang nghĩ gì? Ông trọng ông chính, miệng lúc nào cũng ca ngợi đây là thiên đường, có đảng quang vĩ đại lãnh đạo?

Các ông vĩ đại đang nghĩ điều chi khi thấy hình ảnh này? Khi đồng bào của mình, những người chủ đất nước phải chui trong xe đông lạnh để đào thoát khỏi nhà tù đang bao phủ khắp Miền Nam, và, với thành tích chống dịch giảm Dân số chưa có điểm dừng của các ông miệng đầy lý luận?

Không ai muốn mình phải nguy hiểm, nhất là trong lúc này, để mạo hiểm chui vào thùng xe với rủi ro chết người vô cùng lớn nhưng họ vẫn phải thử, mới biết ở lại còn kinh hoàng như thế nào? Có khi là cái chết từ từ đau đớn.

Hình ảnh này như cái tát vào những kẻ miệng mở ra lúc nào cũng vì Dân, Do Dân.. các ông vì Dân sao lại để ra nông nỗi thế này?

Hình ảnh này gợi ta nhớ nhiều điều tang thương của năm 2019, nhưng, nó nhắc ta rằng, ta đang sống ở một quốc gia không thở được đúng nghĩa. Một thảm hoạ đang trải khắp trên quê hương, không phải do dịch bệnh gây ra mà vì những kẻ gọi là lãnh đạo.

Nếu như, có cạnh tranh về học thuật, có tự do biểu đạt, công bằng trong môi trường việc làm tại Việt Nam, thì, làm sao 39 người phải chạy sang Uk và bỏ mạng, làm sao người ngoài trung lại chạy hết vào Nam?

Mọi tài nguyên quốc gia đều bị nhóm cầm quyền chiếm đoạt, lợi ích nhóm luôn đặt lên trên lợi ích Dân tộc, họ tước đoạt quyền bình đẳng của Nhân dân, để rồi tạo ra các cánh cửa chặn đường sống của Nhân dân, buộc Dân phải tha hương cầu thực, miễn sao tạo của cải, vật cho cá nhân những kẻ cầm quyền.

Dân ta bị vắt kiệt sức, bị đối xử không như một con người – rất khó thở. Ngay cả lúc dịch bệnh đang xảy đến, với bản tính tham lam vô độ, vừa ác lại thiếu trí tuệ, các chính sách chống dịch ban ra liên tục, cũng chỉ nhằm tạo ra lợi nhuận cho một nhóm người. Vì thế, một thảm hoạ nhân đạo xảy ra, một không gian ảm đạm một không khí ngột ngạt khó thở bao bùm lên mọi người Dân- vì họ là Dân đen.

Xin hãy đoái thương và nhìn đến những mảnh đời đang khốn khổ, họ đang ở đáy vực thẳm, hãy tìm cách thương lấy đồng bào mình. Vì họ đã ở tận cùng khốn khổ.

Phạm Minh Vũ

https://vnexpress.net/15-nguoi-ngoi-trong-xe-dong-lanh-de…

Những phút cuối cùng trên chuyến bay số 93 ngày 11/9

Chau Nguyen Thi

Những phút cuối cùng trên chuyến bay số 93 ngày 11/9

Ôi Chúa ơi … Không! Cơ trưởng Dahl thốt lên – Đoạn cuối rùng rợn trên chuyển bay khủng bố 11/9

Tiếng hét lớn tuyệt vọng: “Này, này! Đưa cho tôi…!”, sau đó có âm thanh rít rất mạnh, kính vỡ và một tiếng “KHÔNG” là những lời cuối cùng trước khi tất cả kết thúc.

Một nhóm tiếp viên và hành khách trên chuyến bay số 93 biết rằng máy bay sẽ đâm vào mục tiêu nào đó, họ quyết định nổi dậy khiến âm mưu của bọn khủng bố thất bại.

Sáng ngày 11/9/2001, 4 tên không tặc đã cướp chuyến bay số hiệu 93 của hãng hàng không United Airlines. Chuyến bay có lộ trình từ sân bay quốc tế Newark ở New Jersey đến sân bay quốc tế San Francisco, California.

Khoảng 46 phút sau khi cất cánh, 4 tên không tặc đã khống chế máy bay và định đâm vào một mục tiêu nào đó, có thể là Điện Capitol, hoặc Trại David. Nhóm tiếp viên và hành khách sau khi biết tin về vụ khủng bố ở tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC) đã quyết định nổi dậy.

Họ chiến đấu với 4 tên khủng bố để giành lại quyền kiểm soát máy bay, không cho chúng đạt được mục đích. Trong quá trình giằng co, những tên không tặc đã đâm máy bay xuống cánh đồng gần một mỏ khai thác bỏ hoang ở thị trấn Stonycreek, hạt Somerse, Pennsylvania.

Chuyến bay số 93 là chiếc máy bay duy nhất trong số 4 máy bay bị cướp hôm 11/9/2001 không đạt được mục tiêu dự kiến.

KẺ CHỈ HUY LÀ CON NHÀ GIÀU

Nhóm không tặc trên chuyến bay số 93 được chỉ huy bởi Ziad Jarrah, thành viên của tổ chức khủng bố al Qaeda. Jarrah sinh ra ở Lebanon trong một gia đình giàu có và có nền giáo dục thế tục.

Jarrah mơ ước trở thành phi công và chuyển đến Đức năm 1996 và đăng ký học tiếng Đức tại Đại học Greifswald. Một năm sau, Jarrah chuyển đến Hamburg và bắt đầu theo học ngành kỹ thuật hàng không, Đại học Khoa học Ứng dụng Hamburg.

Tại Hamburg, Jarrah trở thành tín đồ Hồi giáo sùng đạo và có liên hệ với chi nhánh Hamburg của al Qaeda. Năm 1999, Jarrah rời Hamburg đến Afghanistan. Tại đây, Jarrah được gặp trùm khủng bố bin Laden và được tuyển chọn vào đội cho kế hoạch khủng bố ngày 11/9.

Nhóm của Jarrah gồm 4 tên không tặc cơ bắp lên chuyến bay số 93 của hãng hàng không United Airlines vào lúc 7h48. Nhóm 4 tên không tặc đều ngồi ở khoang hạng nhất. Trước khi lên máy bay, Jarrah gọi 5 cuộc điện thoại đến Lebanon, một cuộc gọi tới Pháp và một cuộc gọi cho bạn gái ở Đức.

Một ngày trước khi lên máy bay để tấn công khủng bố, Jarrah gửi một lá thư chia tay cho bạn gái để nói rằng Jarrah yêu cô ấy.

CUỘC NỔI DẬY

Chuyến bay số 93 dự kiến cất cánh lúc 8h00 (giờ địa phương), nhưng bị hoãn cho đến 8h42 phút vì sân bay quá tải. 4 phút sau khi chuyến bay 93 cất cánh, chuyến bay số hiệu 11 của American Airlines đã đâm vào tháp bắc Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC).

9 phút sau khi chuyến bay số 93 cất cánh, chuyến bay 175 đâm vào tháp nam WTC. Khi bọn không tặc chờ thời cơ để cướp máy bay, bên trong buồng lái, phi công đã nhận được cảnh báo từ đài kiểm soát không lưu mặt đất về vụ không tặc ở WTC. Họ không hề biết rằng một nhóm không tặc đang ở trên chuyến bay.

Lúc 9h28 phút, nhóm không tặc xông vào buồng lái khống chế phi công và giành quyền điều khiển máy bay. Ở thời điểm đó, 2 chuyến bay số hiệu 11 và 175 đã đâm vào tháp đôi WTC. Lúc này, đài kiểm soát không lưu mặt đất ở Cleveland liên lạc với chuyến bay số 93 thì nghe thấy tiếng la hét trong buồng lái.

Cuộc gọi thứ hai vài giây sau đó, kiểm soát không lưu mặt đất nghe rõ âm thanh “mayday, mayday” (một thuật ngữ quốc tế dùng cho các tình huống khẩn cấp qua liên lạc vô tuyến), cùng với tiếng hét “biến khỏi đây, cút khỏi đây”. Sau này người ta xác định giọng nói trong vô tuyến là của cơ phó.

Trong số 4 chiếc máy bay bị không tặc tấn công hôm 11/9/2001, chuyến bay số 93 là máy bay duy nhất phát tín hiệu cấp cứu về đài kiểm soát không lưu mặt đất.

Người ta không thể xác định chính xác thời gian chuyến bay 93 nằm dưới sự kiểm soát của những tên không tặc. Lúc 9h31, Jarrah bật loa để thông báo với hành khách với nội dung.

“Thưa quý vị, đây là cơ trưởng, xin hãy ở yên tại chỗ. Chúng ta đang có một quả bom trên máy bay”. Nhưng Jarrah lại bấm nhầm công tắc và những gì hắn nói được truyền xuống đài kiểm soát không lưu mặt đất.

Lúc 9h39, Jarrah tiếp tục thông báo với hành khách rằng máy bay sẽ quay trở lại sân bay. Nhưng chúng tiếp tục gặp rắc rối với việc kiểm soát máy bay. Trong khi những tên không tặc đang loay hoay với việc kiểm soát máy bay, thông tin về vụ không tặc ở WTC đã được báo cho các tiếp viên và hành khách trên máy bay.

Họ hiểu rằng chiếc máy bay của mình cũng bị không tặc chiếm quyền điều khiển và chúng sẽ không trở lại sân bay như tuyên bố. Hành khách trên máy bay hiểu rằng họ khó mà sống sót.

Sau một cuộc biểu quyết ngắn, nhóm gồm các tiếp viên và hành khách thống nhất phải giành lại quyền kiểm soát máy bay, không cho những tên không tặc đạt mục đích.

Một cuộc chiến giữa nhóm hành khách và những tên không tặc đã diễn ra bên ngoài và trong buồng lái. Cuộc hỗn chiến trong buồng lái khiến máy bay mất kiểm soát, chao đảo nhiều lần trên bầu trời.

Những tên không tặc nhận thấy chúng khó mà khống chế được nhóm hành khách đang nổi dậy, Jarrah đã đẩy cần lái khiến máy bay đâm xuống cánh đồng gần mỏ khoáng sản bỏ hoang ở thị trấn Stonycreek, hạt Somerset, Pennsylvania lúc 10h03 phút.

Người ta tin rằng Điện Capitol hoặc Trại David là mục tiêu của chiếc máy bay này. Toàn bộ số người trên máy bay thiệt mạng. Hành khách và phi hành đoàn trên chuyến bay số 93 được trao tặng Huy chương Vàng của Quốc hội Mỹ. Hành động và sự hy sinh dũng cảm của họ đã cứu nước Mỹ khỏi một thảm kịch khác.

Đài tưởng niệm các nạn nhân trên chuyến bay số 93 đã được xây dựng tại hiện trường vụ tai nạn.

NHỮNG PHÚT CUỐI CÙNG QUA ÂM THANH

Cho đến nay, vẫn không ai biết tường tận về những gì đã xảy ra trên chuyến bay 93 của Hãng Hàng không United Airlines, mà chỉ có thể suy đoán qua những âm thanh, tiếng nói truyền đi từ hệ thống liên lạc nội bộ trong buồng lái cùng những tin nhắn, những cuộc điện thoại.

Tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận là nếu không nhờ vào những nỗ lực của phi hành đoàn và một số hành khách, con số người thiệt mạng trong vụ khủng bố ngày 11/9 chắc chắn sẽ không dừng lại ở gần 3.000 mà còn có thể nhiều hơn nữa…

9 giờ 27 phút, có vẻ cơ trưởng Dahl đã bị đánh bởi trong hệ thống thông tin nội bộ, Đài Kiểm soát không lưu Cleveland nghe thấy tiếng Dahl rên rỉ vì đau, kèm theo đó là những âm thanh giống như một cuộc vật lộn. 9 giờ 40 phút, Jarrah tranh luận với Ghamdi bằng tiếng Arab về việc cài đặt chế độ lái tự động.

Câu hỏi của một trong 2 tên không tặc: “Cái núm màu xanh này phải không?” lẫn với tiếng “bip bip” liên tục cho thấy dường như cả Jarrah lẫn Ghamdi đều gặp rắc rối bởi lẽ khi học lái chiếc Boeing 757 bằng thực tế ảo, chúng không hề được hướng dẫn cách xử lý sự cố này.

9 giờ 41 phút 56 giây, máy ghi âm buồng lái thu được tiếng kêu của cơ trưởng Dahl: “Ôi Chúa ơi”, giống như Dahl lại bị đánh. Liền sau đó là giọng của một tên không tặc: “Bảo anh ta nói chuyện với phi công và đưa phi công trở lại buồng lái”.

Chi tiết này cho thấy sau khi chiếm quyền điều khiển máy bay 93, bọn không tặc đã đưa cơ phó Homer xuống khoang hành khách. Một nhân viên thuộc Hãng United Airlines ở San Francisco gửi tin nhắn đến chiếc 93 lúc 9 giờ 46 phút: “Đã nghe báo cáo về sự cố. Xin xác nhận tất cả đều bình thường”. Tuy nhiên nhân viên này không nghe ai trả lời.

Trước tình hình ấy, Alessandro “Sandy” Rogers, điều phối viên kiểm soát không lưu Mỹ, phụ trách giám sát các chuyến bay ở bờ tây nước Mỹ lập tức thông báo cho Trung tâm Chỉ huy Herndon thuộc Cục Hàng không Liên bang Mỹ (FAA) tại bang Virginia rằng chuyến bay 93 không phản hồi các thông báo đồng thời bay sai hướng.

Một phút sau, hệ thống thu, phát tín hiệu trên chiếc 93 bị tắt nhưng Đài Kiếm soát không lưu sân bay Cleveland vẫn tiếp tục theo dõi chiếc 93 trên radar vệ tinh.

Dominic Del Rosso, phi công của Cơ quan Hàng không, Không gian Mỹ (NASA) cho biết lúc bay trên hồ Ontario, ông đã nhìn thấy chiếc 93 bay cách chiếc máy bay tiếp nhiên liệu KC-135 của ông chỉ khoảng 300m thay vì 610m như quy định an toàn. Dominic Del Rosso nói ông rất ngạc nhiên vì chiếc 93 im lặng sau khi ông phát đi tín hiệu cảnh báo.

10 phút trước khi chiếc 93 lao xuống đất, Glenn Cramer, điều phối viên thuộc một đường dây nóng xử lý các tình huống khẩn cấp ở bang Pennsylvania nhận được cuộc gọi di động từ một người đàn ông.

Người này cho biết ông đang ở trên máy bay và đang bị nhốt trong phòng vệ sinh, rằng đây không phải là trò bịp bợm: “Chúng tôi bị bắt cóc, máy bay đang lao xuống. Họ đang đánh nhau…”. Glenn Cramer nói ông nghe thấy nhiều tiếng la hét kéo dài cùng những tiếng động rất khó đoán. Cuối cùng là một tiếng nổ lớn, điện thoại mất liên lạc.

Cuộc đánh trả bọn không tặc của một nhóm hành khách trên chuyến bay số hiệu 93 hình như bắt đầu vào lúc 9 giờ 57 phút bởi lẽ 2 phút trước đó, Lisa Jefferson, nhân viên điều hành không lưu ở Cleveland nghe được tiếng nói của hành khách Todd Beamer: “Các bạn đã sẵn sàng chưa? Ok. Vậy thì cùng lên nào”.

Thời điểm này, chuyến bay 77 đã lao xuống Lầu Năm Góc còn chuyến 11 và 175 cũng đã đã đâm vào 2 tòa tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới.

Có vẻ nhóm hành khách trên chiếc 93 đã tấn công Haznawi và Nami – là hai tên khủng bố có nhiệm vụ canh giữ những hành khách ở khoang sau bởi lẽ lúc 9 giờ 57 phút 55 giây, có tiếng Jarrah hét lên: “Chuyện gì vậy? Đánh nhau à?”.

9 giờ 58 phút 57 giây, nữ tiếp viên CeeCee Lyles gọi cho chồng một lần nữa từ điện thoại di động rồi nói rằng các hành khách đang cố gắng vào buồng lái trong lúc tên không tặc Jarrah liên tục cho máy bay nghiêng sang phải rồi nghiêng sang trái nhằm làm cho nhóm đánh trả mất thăng bằng.

Trong hệ thống thông tin nội bộ, các điều phối viên không lưu ở sân bay Cleveland nghe một tên không tặc hét lớn: “Chúng muốn vào. Giữ từ bên trong, giữ chặt, giữ”.

Cũng ở sân bay Cleveland, lúc 9 giờ 59 phút 52 giây, dữ liệu radar vệ tinh cho thấy chiếc 93 hết ngóc lên rồi lại chúi xuống. Máy ghi âm buồng lái ghi lại những âm thanh va chạm, la hét, tiếng thủy tinh vỡ. Ba lần trong khoảng thời gian 5 giây, có những tiếng kêu đau đớn của một tên không tặc bên ngoài buồng lái, có thể là Haznawi hoặc Nami.

10 giờ 03 giây, chiếc 93 trở lại trạng thái ổn định. 5 giây sau, Jarrah hỏi: “Chúng giết Haznawi và Nami rồi à? Đúng vậy không? Chúng ta kết thúc đi”. Có tiếng Ghamdi trả lời: “Chưa, chưa! Khi chúng vào, ta sẽ kết thúc”.

10 giờ 25 giây, một lần nữa, Jarrah lại cho máy bay chúi xuống. Ai đó trong số hành khách vừa khóc vừa nói: “Vào buồng lái đi, Nếu không chúng ta sẽ chết”. 16 giây sau, lại một hành khách hét lên: “Đẩy nó đi” (ám chỉ xe đẩy suất ăn) vì máy ghi âm đã ghi được tiếng đập ầm ầm vào cửa buồng lái.

10 giờ 1 phút, Jarrah đọc kinh “Đức Allah là đấng vĩ đại nhất” 2 lần rồi hỏi Ghamdi: “Chúng ta sẽ đẩy nó xuống chứ, có phải vậy không?”.

Ghamdi đáp: “Ừ! Ấn vào rồi kéo xuống”. Đến 10 giờ 2 phút 17 giây, dường như nhóm đánh trả đã vào được bên trong buồng lái bởi có tiếng của một hành khách: “Kéo nó lên”. Một giây sau, vẫn giọng Jarrah: “Đẩy nó xuống”.

10 giờ 2 phút 33 giây, bằng tiếng Arab, Jarrah hét lớn với vẻ tuyệt vọng: “Này, này! Đưa cho tôi, đưa cho tôi! Đưa nó cho tôi”.

Các thông số trên radar ở Cleveland cho thấy chiếc máy bay lao xuống rồi ngoặt về bên phải, sau đó lộn ngược trong lúc hai tên không tặc vẫn tiếp tục đọc kinh.

Trong số những âm thanh thu được, có tiếng rít liên tục, rất mạnh, tiếng kính vỡ và một tiếng “không” bằng ngôn ngữ Arab. Những lời cuối cùng trước khi tất cả kết thúc bởi sự va chạm dữ dội là một giọng bằng tiếng Anh, rất bình tĩnh: “Kéo nó lên”.

Chiếc Boeing 757 số hiệu 93 rơi xuống một cánh đồng ở Stonycreek,bang Pennsylvania, cách Washington, DC khoảng 20 phút bay. Dữ liệu cuối cùng trong máy ghi âm buồng lái được thực hiện lúc 10 giờ 3 phút 9 giây.

Dữ liệu cuối cùng của chuyến bay được hộp đen ghi lại 1 giây sau đó. Kết quả điều tra của Ban An toàn Giao thông Quốc gia Mỹ cho thấy máy bay lao xuống với tốc độ 906 km/ giờ, mũi máy bay tiếp đất ở góc 40 độ.

Vụ va chạm để lại một hố sâu 3m, rộng 12m. Tất cả 44 người trên máy bay đều chết. Dựa vào thời điểm máy ghi âm, hộp đen ghi dữ liệu chuyến bay ngừng hoạt động cũng như phân tích dữ liệu radar, dữ liệu vệ tinh và kiểm soát không lưu, các nhà điều tra xác định thời điểm chiếc 93 rơi là 10 giờ 3 phút 6 giây.

Ảnh : nạn nhân trên chuyến bay 93, họ đã hy sinh không vô ích.

Bí mật cuộc đời của Nguyễn Tất Trung, con trai ông Hồ Chí Minh

Bí mật cuộc đời của Nguyễn Tất Trung, con trai ông Hồ Chí Minh

(Báo Tiếng Dân)

Bởi  AdminTD

Nông Văn Tiềm

13-9-2021

Dưới chế độ cộng sản, những chuyện thâm cung bí sử của đảng và đời tư của các lãnh tụ luôn là đề tài cấm kỵ đối với dân chúng. Nhưng càng cấm đoán, người ta càng đi tìm sự thật. Chuyện về những người đàn bà đi qua cuộc đời ông Hồ Chí Minh là một ví dụ. Dù xảy ra đã lâu, nhưng người đời vẫn luôn bàn tán, cất công đi tìm sự thật, bởi họ không tin hình ảnh “cha già dân tộc” của ông Hồ, do đảng CSVN nặn ra.

Tháng 6/2004, trên giường bệnh, ông Vũ Kỳ (1921-2005), từng là thư ký riêng của ông Hồ gần một phần tư thế kỷ, từ năm 1945 cho đến khi ông Hồ qua đời năm 1969, đã kể với bà Nguyễn Thị Tình, giám đốc Bảo tàng HCM về chuyện “kén vợ” của ông Hồ. Tính bà Tình cẩn trọng, nên đã cho ghi âm lại lời ông Vũ Kỳ và gởi lên cấp trên. Nội dung lọt ra ngoài, trong đó có các chi tiết đáng chú ý.

Ông Vũ Kỳ và ông Hồ. Ảnh chụp tháng 9/1960. Nguồn: Ban Dân vận

Báo cáo của bà Tình, giám đốc Bảo tàng HCM, gửi bộ trưởng Phạm Quang Nghị

Trong băng ghi âm, ông Vũ Kỳ cũng cho biết hai vấn đề chính: Một là cả ba đảng cộng sản VN, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên cùng tìm vợ cho ông Hồ. Hai là tiêu chí chọn vợ của ông Hồ là gái trẻ, đẹp, có học vấn, đạo đức tốt và ông muốn gặp trực tiếp, chứ không đồng ý xem qua ảnh. Vì vậy mới có ít nhất hai cô gái tuổi đôi mươi trong số nhiều cô gái được “tiến cung” đã để lại… dấu vết, trong đó có một cô “dính bầu” và sinh ra một đứa bé vô thừa nhận, về sau trở thành con nuôi của ông Vũ Kỳ. Vậy cô gái đó là ai?

Xâu chuỗi nhiều thông tin từ các nguồn tư liệu, từ các nhân chứng, sự thật câu chuyện dần dần lộ ra ánh sáng mà nhiều người đã biết, nhưng câu chuyện vẫn chưa thật đầy đủ. Trong bài viết này, chúng tôi xin cung cấp thêm một số thông tin để người dân có đầy đủ những mảnh ghép hiện đang thiếu.

***

Bà Nông Thị Xuân sinh năm 1932, dân tộc Tày, quê làng Hà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Năm 1954, bà Xuân làm công tác y tá trong một đơn vị quân nhu. Cuối năm 1954, Việt Minh tiếp quản thủ đô; Trung ương đảng cũng chuyển từ Việt Bắc về Hà Nội. Dinh Toàn quyền Pháp ở Đông Dương toạ lạc tại Hà Nội, được lấy làm Phủ Chủ tịch; ông Hồ Chí Minh sống và làm việc ở đó trong thời gian này.

Lúc bấy giờ, ông Trần Đăng Ninh là Uỷ viên Trung ương đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần đã gặp và thuyết phục bà Xuân về Hà Nội, giao trách nhiệm  “phục vụ Bác Hồ”. Một thời gian sau, bà Xuân có thai, sinh một cậu con trai vào tháng 3/1956, được đặt tên Nguyễn Tất Trung.

Thiên hạ thời đó quả quyết rằng, cậu bé đó chính là con trai ông Hồ, nhưng ông Vũ Kỳ phủ nhận, bảo rằng “không phải con Bác Hồ” mà là do “cánh cảnh vệ tấn công”, để lại hậu quả. Tuy nhiên, mọi người dễ dàng nhận ra lời nói dối của ông Vũ Kỳ, theo sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và của cả ông Hồ, lúc bà Nông Thị Xuân mang thai rồi sinh con. Bởi không có cậu cảnh vệ nào điên đến mức dám tấn công “bóng hồng” của ông Hồ ngay trong Phủ Chủ tịch, để đón nhận bản án… tử hình chờ sẵn.

Có lẽ vì “hào quang” hư ảo, vì thể diện của cấp cao Cộng sản hoặc Trung ương đảng muốn giữ “thanh danh” cho lãnh tụ, mà số phận bà Nông Thị Xuân kết thúc một cách thảm khốc và kinh hoàng vào ngày 12/2/1957. Hai cô gái vô tội ở cùng bà Xuân là cô Vàng (em ruột) và cô Nguyệt (em họ) cũng đã bị giết chết một cách dã man, tàn bạo sau đó không lâu.

Cậu chuyện về cái chết của những cô gái này, xin không kể ra đây. Chúng tôi chỉ muốn kể tiếp câu chuyện về thân phận của một đứa trẻ và cuộc đời của một con người, dù có cha nhưng không được phép nhận, bị bắt buộc phải hy sinh quyền được làm con, để người ta biến cha của mình trở thành “cha già dân tộc”.

Thời điểm bà Nông Thị Xuân phục vụ trong Phủ Chủ tịch, còn có nhiều cô gái trẻ cùng làm việc trong đó. Một người bạn rất thân với bà Xuân là bà Đặng Thị Ngọc Lan (1932-2020) quê ở Phú Trinh, Phan Thiết (nay là tỉnh Bình Thuận). Bà Lan đi theo Việt Minh làm y tá, tập kết ra Bắc năm 1954, cũng được đưa về “chăm sóc sức khoẻ” cho ông Hồ ở Phủ chủ tịch.

Chân dung ba nữ y tá “phục vụ ông Hồ”. Từ trái sang: Đặng Thị Ngọc Lan, Nông Thị Xuân và Trần Thị Hiền

Sau khi bà Xuân bị giết hại, cậu bé Nguyễn Tất Trung được giao cho bà Ngọc Lan nuôi nấng hơn một năm, rồi mới chuyển cho vợ chồng tướng Chu Văn Tấn (1910-1984), lúc đó là Uỷ viên Trung ương Đảng, Tư lệnh kiêm Bí thư quân khu Việt Bắc, nuôi. Nguyễn Tất Trung được tướng Tấn đặt tên Chu Văn Trung. Trong ký ức sơ khai và mãi đến sau này, Nguyễn Tất Trung luôn cho rằng, đó là những tháng ngày êm đềm và hạnh phúc nhất trong đời.

Nguyễn Tất Trung (cậu con trai nhỏ) hạnh phúc trong gia đình tướng Chu Văn Tấn. Nguồn riêng của tác giả

Cuối năm 1962, khi Nguyễn Tất Trung hơn 6 tuổi, lo sợ tung tích Trung bị lộ, trong lúc có quá nhiều đồn đoán về thân thế đứa con nuôi của tướng Chu Văn Tấn lan ra ở Việt Bắc, các lãnh đạo cấp cao lại tách Trung ra khỏi gia đình tướng Tấn, để đưa vào trung tâm trẻ mồ côi, thuộc Hội Phụ nữ Cứu quốc. Đó là chuỗi ngày cô đơn, vô gia đình, trôi nổi thê lương đối với một cậu bé lên sáu như Trung.

Mấy năm sau, người ta lại đưa Trung ra khỏi trung tâm trẻ mồ côi, giao cho ông Vũ Kỳ nuôi, lập khai sinh mới, lùi năm sinh hai năm. Từ đó, Trung theo họ ông Vũ Kỳ, mang họ tên mới là Vũ Trung, sinh năm 1954.

Tuổi thơ dữ dội, đớn đau và buồn tủi mà Trung đã trải qua, giúp Vũ Trung lờ mờ nhận ra rằng, mình chỉ là đứa con vô thừa nhận, dù có cha còn sống, nhưng cha con không được phép nhận nhau.

Năm 1968, khi 12 tuổi (tuổi thật), Vũ Trung được vào học lớp B6, khoá 8, Trường Văn hoá Quân đội Nguyễn Văn Trỗi, còn gọi là Trường Thiếu sinh quân Trỗi . Học dở dang, Vũ Trung được động viên vào “chảo lửa” miền Nam, in dấu chân trên nhiều chiến trường.

Mùa hè năm 1972, mới hơn 16 tuổi, Vũ Trung cũng đã có mặt để đánh nhau với quân lực VNCH ở Thành cổ Quảng Trị. Mặc dù may mắn sống sót trở về, nhưng đoạn đường phía trước vẫn đầy ghềnh thác, chứ không trải hoa hồng cho con trai của một lãnh tụ tối cao.

Trong hành trình theo dấu chân Nguyễn Tất Trung, chúng tôi đã tìm ra sự thật, không đúng như những thêu dệt, rằng Vũ Trung bị “tiêm thuốc lú”, bị “đầu độc thần kinh”. Ngược lại, anh ta hoàn toàn khoẻ mạnh, bình thường. Sau năm 1975, Vũ Trung quay về Hà Nội để đi học tiếp phổ thông trung học.

Chú bộ đội “trẻ em” Vũ Trung bên các em mẫu giáo. Ảnh chụp tháng 5/1975. Nguồn: Nông Văn Tiềm

Không có bất kỳ lãnh đạo cấp cao nào của Đảng và Nhà nước có thái độ ứng xử tốt đẹp, thừa nhận hay chiếu cố đến “giọt máu” của ông Hồ. Từ chiến trận trở về, Vũ Trung cũng phải cặm cụi học và tự bản thân phấn đấu để có chỗ đứng trong xã hội. Một mặt, nhờ núp dưới thân phận con ông Vũ Kỳ, mặt khác, với sự giúp đỡ từ các bạn bè trường Thiếu sinh quân năm xưa, nay thành đạt, nhờ đó Vũ Trung cũng có được ít nhiều ưu ái để tiến thân.

Năm 1995, Nguyễn Chí Vịnh, con tướng Nguyễn Chí Thanh, kéo Vũ Trung về Tổng cục Tình báo quân đội (Tổng cục 2) làm việc. Để giữ kín thân phận và tránh mọi soi mói của dư luận xã hội, dù quá tuổi khá lâu, Vũ Trung vẫn được giữ lại trong biên chế đương chức của TC2, cho đến tháng 6/2021, Trung mới được phép nghỉ hưu với quân hàm đại tá.

Vũ Trung với lon đại tá tại văn phòng làm việc. Nguồn: Nông Văn Tiềm

Về chuyện hôn nhân, mãi đến năm 1990, Vũ Trung mới kết hôn với một cô gái có tên Lưu Thị Duyên, sinh năm 1967. Họ có với nhau một con trai, sinh năm 1992, đặt tên Vũ Thành.

Điều khá bất ngờ là, Vũ Thành không thể chen chân vào được những chỗ “ngon ăn” như Hải quan, Công an, các tổng công ty nhà nước, hay một chức quan nào trong bộ máy công quyền. Con trai Trung phải đi làm “cu li”, hết chỗ này đến chỗ khác, điều đó chứng tỏ ông bố Vũ Trung thật sự không có quyền lực. Ở tuổi 29, cháu nội đích tôn của ông Hồ Chí Minh hiện đang kinh doanh một cửa hàng sửa chữa, mua bán điện thoại di động nho nhỏ ở thủ đô.

Cũng nói thêm rằng, thông qua nhiều manh mối, Vũ Trung trước đây cũng đã tìm được mộ mẹ, bà Nông Thị Xuân, được an táng ở Cao Bằng và gia đình bên ngoại.

Về phần y tá Đặng Thị Ngọc Lan, sau này bà Lan được cấp trên cho đi học chuyên tu lên bác sĩ, lấy chồng là đại tá hải quân Nguyễn Chương (1927-1985), sinh được một con trai và hai cô con gái. Sau năm 1975, bà về làm Phó Ban quân y, Xí nghiệp Ba Son, Bộ Tư lệnh Hải quân, đóng tại Tân Cảng, Sài Gòn.

Giấu kín bí mật mãi trong lòng đến năm 2017, ở tuổi 85, bà Đặng Ngọc Lan, cô y tá nuôi nấng Vũ Trung năm xưa trong Phủ Chủ tịch, mới dám tiết lộ cho các con mình một phần sự thật và họ đi tìm Vũ Trung. Nỗi khát khao tình mẹ của Vũ Trung cũng được bù đắp phần nào khi gặp lại bà Lan, người mẹ nuôi ẵm bồng mình thời thơ ấu.

Vài hình ảnh Vũ Trung bên mẹ nuôi Đặng Thị Ngọc Lan. Nguồn: Nông Văn Tiềm

Bà Đặng Thị Ngọc Lan qua đời ngày 4/12/2020. Vũ Trung đã lễ hiếu, đưa vợ con vào Sài Gòn chịu tang mẹ nuôi.

Vũ Trung cũng là người chịu khó trong việc đi tìm cội nguồn. Hàng năm, Trung đều đưa vợ con về dâng hương mộ bà nội Hoàng Thị Loan ở Nghệ An, mộ ông nội Nguyễn Sinh Sắc và dự giỗ ông tại Đồng Tháp.

Ảnh Vũ Trung bên mộ phần ông nội Nguyễn Sinh Sắc. Nguồn: Nông Văn Tiềm 

Ảnh Vũ Trung chụp bên mộ bà nội Hoàng Thị Loan. Nguồn: Nông Văn Tiềm

Vũ Trung cũng đã được Vương Chí Nghĩa, sinh năm 1927, là con trai út của ông Nguyễn Sinh Sắc với người vợ họ Mai, quê Đồng Tháp, cùng con cháu nhìn nhận huyết thống họ hàng. Ông Vương Chí Nghĩa hiện đang sống tại chùa Phật Quang trên núi Dinh, Bà Rịa-Vũng Tàu, cùng con trai Vương Tấn Việt (tức Thượng toạ Thích Chân Quang), sinh năm 1958.

Ảnh Vũ Trung gặp chụp với cha con cụ Vương Chí Nghĩa (trên) và Vương Tấn Việt (dưới). Nguồn: Nông Văn Tiềm

Hiện Vũ Trung cùng vợ và con trai đang sống cuộc sống tương đối khá giả, tại một căn biệt thự bốn tầng sang trọng, phía trước có vườn cây ăn quả sum suê ở Gia Lâm, Hà Nội.

Vũ Trung, cùng vợ Lưu Thị Duyên và con trai Vũ Thành. Nguồn: Nông Văn Tiềm 

Căn biệt thự bốn tầng ở Gia Lâm, Hà Nội, nơi Vũ Trung sống cùng vợ và con trai. Nguồn: Nông Văn Tiềm

Tạo hoá thật trớ trêu, sẽ không bao giờ Vũ Trung được công nhận là con ông Hồ, cũng như ông Vương Chí Nghĩa không được xác nhận chính danh là con cụ Nguyễn Sinh Sắc. Xa hơn, cụ Sắc cũng không hề được công nhận là con của Cử nhân Hồ Sỹ Tạo trong chính sử.

Bí mật cuộc đời của Nguyễn Tất Trung, tức Vũ Trung, được ví như một bức tranh mù sương, hư ảo theo năm tháng, phủ lên một gia tộc tột đỉnh vinh quang nhưng không kém phần bi kịch và cay đắng. Từ các tiền nhân đến Vũ Trung, con trai anh ta và có thể các thế hệ cháu con sau này, mãi mãi là những… người không được phép nhận cha mẹ ruột.

SÀI GÒN NGÀY PHONG TỎA THỨ SÁU MƯƠI SÁU

Van Pham

Bài viết khá dài, xin phép tác giả được ngắt đoạn để người đọc dễ theo dõi hơn…

***

SÀI GÒN NGÀY PHONG TỎA THỨ SÁU MƯƠI SÁU

Do Duy Ngoc

Chính quyền thành phố đã bắt đầu những chủ trương và đề ra các biện pháp giảm giãn cách. Mục đích là sẽ bình thường hoá đời sống của Sài Gòn sau thời gian dài thi hành nhiều biện pháp không mang lại hiệu quả. Thành phố đã bắt đầu chỉ thị 16 từ 9.7.2021.

Đến nay qua nhiều lần siết chặt, giới nghiêm đã đến ngày thứ 66. Mọi người đang mong muốn sẽ bình thường cuộc sống nhưng cuộc sống sẽ không còn bình thường như xưa được nữa. Cơn đại dịch đã mang đến thành phố này những đổi thay và mất mát quá lớn. Làm sao mà bình thường được khi có người đã mất vợ, mất chồng, mái ấm gia đình tan nát cả. Làm sao bình thường được nữa khi chỉ trong thời gian ngắn ngủi, cha mẹ già lần lượt ra đi, bạn bè, người thân cũng không còn. Làm sao bình thường trở lại khi những người con bỗng chốc trở thành kẻ mồ côi, bơ vơ lạc lõng giữa cõi đời.

Cũng khó có thể bình thường khi những đứa con mang nặng đẻ đau nuôi lớn bỗng một ngày tắt thở vì dịch bệnh. Bao ước vọng, bao ước mơ, bao tin yêu bỗng chốc sụp đổ. Cũng không thể bình thường khi trên bàn thờ của nhiều gia đình có thêm những hủ tro cốt xếp hàng và nhiều người chết giờ vẫn còn nằm trong ngăn lạnh.

Chúng ta sẽ không thể trở lại cuộc sống bình thường như cũ nữa. Đó là một thực tế phải chấp nhận. Kinh tế sa sút có thể một năm, hai năm hay năm năm, mười năm nữa sẽ phục hồi và phát triển. Những những người mất đi trong cơn đại dịch làm sao có thể tái sinh. Mất mát lớn nhất của dịch bệnh đi qua thành phố này là con số tử vong. Khu nào cũng có người chết, trẻ có, già có, giàu có, nghèo có. Tất cả lặng lẽ ra đi không lời tiễn đưa, không kinh cầu, không đèn hoa. Đó chính là bi kịch lớn nhất mà con người đã chứng kiến và cũng là nạn nhân khi con virus tung hoành ở thành phố này.

Có nhiều nguyên nhân để đưa đến những bi kịch, có nhiều vụng về, lúng túng, sai sót trong cách xử trí khủng hoảng. Cũng không thiếu những sai lầm cần rút ra những bài học. Nhưng rồi phải chấp nhận, chấp nhận những cái chết oan khiên không đáng có, chấp nhận những hoang mang, căng thẳng, lo âu, thiếu thốn và tù hãm thật ra cũng không đáng có. Thời gian cũng đang trôi đi, dịch bệnh cũng đang có dấu hiệu giảm dần, số người tử vong hàng ngày cũng đang dần ít đi. Còn được sống còn có quyền hi vọng. Nhưng có hi vọng được không?

Trong chuỗi ngày dài sống trong sợ hãi và âu lo, con người có thể sẽ có những thay đổi, có cái nhìn khác về cuộc đời, về tham vọng, về lợi danh. Con người sẽ thấm hơn về lẽ vô thường. Những cái chết nhanh chóng vì thiếu một hơi thở, vì thiếu sự chăm sóc kịp thời sẽ cho người ta thấy rõ hơn lằn ranh sinh tử chỉ là một khoảnh khắc, chỉ là một phút giây. Để rồi ngộ ra một điều tất cả là vô nghĩa. Buông hai tay là chẳng còn gì. Một thân xác mới thấy đó, hiện diện trong cõi đời với một số phận bỗng chốc chỉ còn là một nắm tro. Một con người trong phút chốc đã biến mất hẳn trên cõi đời này. Hơn thua, được mất, tiền tài, danh vọng, nhan sắc, lợi danh chẳng còn ý nghĩa chi nữa.

Con virus Vũ Hán bay lơ lửng đó đây và cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu hết về nó. Người chưa tiêm vaccine cũng nhiễm mà người đã tiêm vaccine đủ liều vẫn nhiễm, và cũng có người vẫn diễn biến nặng và tử vong. Loài người cứ nghĩ rằng vaccine là cứu cánh duy nhất của đại dịch. Nhưng rồi chưa hẳn thế. Mỹ rồi Israel đã tiêm chủng nhưng số người nhiễm vẫn liên tục. Khoa học đang tìm mọi cách để hiểu hơn về nó và tìm đủ biện pháp để ngăn chận nó. Nhưng cho đến giờ vẫn chưa tìm ra. Cấu trúc của virus Vũ Hán là một loại vi khuẩn đơn giản nên cứ sau 106 lần nhân lên của virus lại xuất hiện 1 đột biến mới. Như vậy thì hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng đều có chủng virus mới. Chủng virus mới này chưa đủ mạnh để gây thành dịch do biến chủng mới mà thôi.

Chỉ mới biến chủng Delta mà nhân loại đã rùng mình rồi, nếu giờ thêm biến chủng mạnh khác nữa chắc là bó tay thôi. Và đành phải sống chung với nó. Sống chung và rút ra những bài học cho cuộc sống. Tai nạn giao thông hàng năm chết chục ngàn người, ung thư hàng năm chết hàng trăm ngàn người, chết vì bệnh tim mạch cũng là con số lớn nhưng rồi người ta vẫn không sợ hãi, không hoang mang như nhiễm và chết vì con virus. Và cũng có người lại bảo rằng sao chỉ nói về tác hại của Covid mà rất ít người nhìn nhận khía cạnh tích cực của nó. Tôi cho rằng không nên có suy nghĩ khía cạnh tích cực về đại dịch mà chỉ là chấp nhận nó và tìm cách để sống chung bình thường với con virus đó mà thôi.

Đó là những kinh nghiệm để thích nghi với cuộc sống bị tù hãm, bị xáo trộn những sinh hoạt thường ngày. Tập thích nghi để tiếp tục sống được trong bất cứ hoàn cảnh nào. Tập bình thản không kêu ca để được tâm yên. Tập làm những việc mà trong cuộc sống bình thường ta không làm hoặc không muốn làm và giờ đây ta biết rõ là chuyện gì nếu muốn và cố gắng, ta vẫn làm được cả.

Tức là tạo cho bản thân kỹ năng sống trong mọi hoàn cảnh. Ăn thiếu một chút, ăn dở hơn bình thường, thiếu cái này, hụt cái kia rồi cũng xong một ngày, cũng qua một bữa. Càng thấm hơn cái triết lý cứ biết đủ là đủ. Hiểu được lẽ vô thường, chúng ta sẽ học cách bao dung hơn, yêu thương, quan tâm đến những người chung quanh hơn, quên bớt cái tôi của mình đi.

Chứng kiến cảnh nhiều người chết hàng ngày, chúng ta học bớt sân si, bớt tham lam, ích kỷ, bớt ham danh vọng bởi cái chết lúc nào cũng rình rập quanh ta. Hãy học thêm yêu thương, hãy mở lòng ra với những thân phận, hãy biết sẻ chia. Đừng đòi hỏi riêng cho mình nhiều quá mà học bài học cảm thông để chia sẻ cho mọi người và đồng cảm cho mọi hoàn cảnh. Dịch bệnh cũng cho ta tập kiên nhẫn và tập hoà hợp. Kiên nhẫn để có thể chịu đựng và hoà hợp để cùng mọi người chung lòng vượt qua những khó khăn.

Dịch bệnh còn cho ta thấy rõ đằng sau những cao ốc chọc trời, những chiếc xe trăm tỷ, những áo xiêm loè loẹt, những ký hột xoàn chiếu sáng, những cuộc ăn chơi thâu đêm của các thiếu gia, đại gia là hàng triệu con người thiếu ăn, sống lam lũ trong những căn nhà chật hẹp, những phòng trọ thiếu tiện nghi của một cuộc sống con người. Những số phận đó ngày thường đã bị che lấp bởi nhịp sống hối hả của Sài Gòn.

Và ta cũng nên biết sống cho mình, cứ làm những điều mình khao khát, mình ước mơ, mình ưa thích vì nhiều khi chúng ta sẽ chẳng còn cơ hội để thực hiện. Những bi thương của nhân loại đang gánh chịu duy cho cùng cũng do lỗi ở con người. Phá rừng, làm những dòng sông khô kiệt, đầu độc biển cả, phá hoại môi trường, vì lợi lộc mà tự đầu độc nhau, bắn giết lẫn nhau, đua nhau chế tạo những vũ khi giết người nhanh nhất, nhiều người chết nhất, nghiên cứu và phát triển những vi khuẩn độc hại để mong bá chủ thế giới..lỗi là từ con người cả.

Và cũng đã đến lúc loài người bị trừng phạt chính bởi những âm mưu của chính mình. Con người vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân. Dịch bệnh, chiến tranh như là một quy trình để sàng lọc loài người, thanh lọc nhân loại.

May be an image of text