Một số nghị sĩ Cộng hòa bị dọa giết vì ủng hộ dự luật được TT Biden cổ xúy

VOA Tiếng Việt 

Một số nghị sĩ Đảng Cộng hòa đối mặt với những lời hăm dọa ám sát vì biểu quyết ủng hộ một dự luật nâng cấp cơ sở hạ tầng của Mỹ được Tổng thống Đảng Dân chủ Joe Biden cổ xúy, phản ánh một bầu không khí chính trị độc hại ở Mỹ.

Dự luật 1 ngàn tỉ đôla được soạn thảo phần lớn bởi một nhóm nòng cốt gồm 10 nhà lập pháp thuộc cả hai đảng của Thượng viện Hoa Kỳ, dẫn đầu là Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ Kyrsten Sinema và Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa Rob Portman. Hạ viện đã thông qua dự luật này vào tuần trước với sự ủng hộ của 13 dân biểu Đảng Cộng hòa.

Dự luật dự kiến sẽ tạo ra công ăn việc làm trên khắp cả nước Mỹ bằng cách cung cấp hàng tỉ đôla cho các chính quyền cấp bang và địa phương để sửa chữa những cây cầu và con đường xuống cấp, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận internet băng thông rộng cho hàng triệu người Mỹ.

Đây được xem là một thành tựu lưỡng đảng đối với ông Biden, người đã vận động tranh cử với hình ảnh người theo Đảng Dân chủ có lập trường trung dung, và những người theo Đảng Cộng hòa có lập trường ôn hòa giúp soạn thảo.

Nhưng nó cũng trở thành tâm điểm đả kích mang tính đảng phái.

13 nghị sĩ Cộng hòa phớt lờ chỉ thị của các nhà lãnh đạo đảng họ để biểu quyết ủng hộ dự luật này đã bị cựu Tổng thống Donald Trump và một số đồng nghiệp của họ nhắm mục tiêu. Họ bị gọi là “những kẻ phản bội” vì giúp trao cho ông Biden một chiến thắng lập pháp quan trọng.

Nhiều người trong số những người này đã nhận được những lời đe dọa ám sát họ và các thành viên trong gia đình họ.

Cảnh sát ở Quận Nassau của bang New York ngày thứ Sáu cho biết họ đã bắt giữ một người đàn ông và cáo buộc ông quấy nhiễu trầm trọng vì đã dọa giết Dân biểu Đảng Cộng hòa Andrew Garbarino, người đã biểu quyết ủng hộ dự luật này.

Thượng nghị sĩ Cộng hòa Lindsey Graham của bang South Carolina, người vốn là đồng minh thân thiết của ông Trump, bị Đảng Cộng hòa của bang ông khiển trách vì ủng hộ dự luật.

Nhà Trắng đang lên kế hoạch cho một buổi lễ long trọng vào ngày thứ Hai để Tổng thống Joe Biden kí ban hành dự luật này với sự tham gia của những người đã góp phần viết nên nó và “một nhóm đa dạng các nhà lãnh đạo khắp cả nước đã nỗ lực giúp nó được thông qua, từ các thống đốc và thị trưởng thuộc cả hai đảng cho tới các nhà lãnh đạo công đoàn và doanh nghiệp.”

Nhưng không rõ có bao nhiêu nhà lập pháp Cộng hòa sẽ tham dự buổi lễ. Các thượng nghị sĩ Cộng hòa Susan Collins và Lisa Murkowski, hai trong số những đồng tác giả của dự luật, dự định sẽ tham dự, các phụ tá của họ cho biết, theo Reuters.

Lãnh đạo phe Cộng hòa tại Thượng viện Mitch McConnell không định tham dự buổi lễ ở Nhà Trắng. Ông nói trong một cuộc phỏng vấn trong tuần này rằng ông có “những việc khác mà tôi phải làm.” Nhưng ông thể hiện rõ sự ủng hộ kiện định của mình đối với dự luật.

“Dự luật này về cơ bản được viết tại Thượng viện bởi một nhóm lưỡng đảng gồm các nghị sĩ Cộng hòa và Dân chủ – tất cả những gì Hạ viện đã làm vào tuần trước chỉ đơn giản là đưa dự luật của Thượng viện ra và thông qua nó. Dự luật này được viết tại Thượng viện, 19 nghị sĩ Cộng hòa đã biểu quyết ủng hộ nó, tôi là một trong số họ, tôi nghĩ nó tốt cho đất nước và tôi mừng là nó đã được thông qua,” ông nói với Đài WHAS ở Louisville, bang Kentucky.

Lao động Việt mắc kẹt tại Algeria: “Kêu cứu trong vô vọng”!

Đài Á Châu Tự Do 

Nhiều lao động Việt tại Algeria mới đây liên lạc với RFA cho hay họ đang trong tình cảnh ‘tiến thoái lưỡng nan’ khi chủ sử dụng lao động không trả lương và cất giữ hộ chiếu, nên họ không làm gì được. Chưa kể, nếu muốn về nước họ phải tự bỏ tiền túi, mà điều này trái hoàn toàn với quy định đã được ký kết trước đây với phía công ty hỗ trợ.

Nước Mắt Biển Đông  

Nước Mắt Biển Đông  

* Miếu Thờ 11 Thiếu Nữ Việt Nam Bị Hải Tặc Thái Lan Hãm Hại & Vứt Xác Xuống Biển Tha Sala – Đêm chôn vùi tội ác

Ngày hai mươi mốt tháng Chạp năm Kỷ Tỵ, xác mười một cô gái Việt Nam tuổi từ mười chín đến hai mươi ba, trôi dạt vào bờ biển Tha Sala, Thái Lan, trên người không một mảnh vải che thân.

Những người con gái Việt Nam, cổ bị trói chùm vào nhau, sau khi bị bọn hải tặc Thái Lan mất nhân tính hãm hiếp, bị đẩy xuống biển, và sau khi hơi thở còn thoi thóp sự sống, sau tột cùng của đau thương ô nhục, các cô đã bị kéo theo tàu hải tặc, thân thể chập chùng theo sóng nước từ đuôi tàu, cho đến một lúc, linh hồn buốt lạnh rời khỏi thân xác đau thương, bọn hải tặc man rợ chặt dây, để xác người nhận chìm trong đại dương loang màu máu.

Những ngày chuẩn bị vào Xuân Canh Ngọ (1990), một mẩu tin rất ngắn trên báo Úc loan tin người ta tìm thấy xác mười một cô gái Việt Nam chết trần truồng trên bờ biển Tha Sala. Người ta đoán tuổi các cô gái từ mười chín đến hai mươi ba, cổ bị dây thừng trói chùm vào nhau..

Tôi đã viết một bài tưởng niệm để người bạn thân Trung Chính đọc trên đài phát thanh SBS với lời mở đầu như trên. Giọng đọc dù rất lão luyện, nhưng chợt nghẹn ngào của Chính, đã gửi đi toàn nước Úc một thông điệp buồn, đúng chương trình phát thanh đặc biệt vào giờ khắc giao thừa.

Hôm nay tôi đang ngồi trên bờ biển Tha Sala để viết những dòng này. Bao nhiêu năm dài đã trôi qua..

Trên bờ biển, dưới một tán cây dương liễu lớn, có dáng một chiếc thuyền dài gần mười thước đã rã mục, chỉ còn trơ ba lớp ván đáy thuyền. Người ta kê miếng ván thuyền này trên các cột thấp, phía trên lợp mái tranh, hai đầu mũi thuyền có hai cái am nhỏ, một cái hướng vào bờ, một cái hướng ra biển.

Lúc tôi đến thì đúng lúc một bà lão người Thái đang cùng hai cậu nhỏ bưng đồ cúng gồm trái cây và xôi trắng phía trong bờ đi ra. Bà cụ sắp đồ cúng lên hai cái am, kê một cái bàn vuông nhỏ ngay phía mũi thuyền hướng biển, đặt mâm ngũ quả lên, thắp hương vái rồi đi vào.

Tôi không biết bà cúng ai vì bà không nói được, có lẽ miếng ván thuyền để trong chòi tranh là di tích một thuyền cá nào đó trôi vào bờ. Có lẽ có người chết trên thuyền nên người địa phương mới chưng thờ miếng ván một cách trang trọng dù mái che và cột chống tơi tả nhuộm một màu buồn bã và nghèo nàn.

Đột nhiên, tôi thấy rùng mình.

Bờ Tha Sala không phải là chốn nghỉ dưỡng. Người Thái chê bờ biển này vì có nhiều thuyền đánh cá, bờ cát sạch nhưng đáy biển là lớp bùn dày. Người nước ngoài qua đảo Ko Samui không xa lắm. Hai chục cái nhà sàn không một người khách nào khác đến thuê ở qua đêm. Con đường từ đường quốc lộ vào đây phải đi bộ trên hai cây số. Có lẽ những căn nhà sàn gỗ đỏ mái tôn dành cho người địa phương gần đâu đấy vì bên trong không có gì, ngoài một cái giường có treo mùng trắng và cái quạt bàn.

Một bờ biển rất buồn. Một làng chài lạc lõng trên bản đồ vùng duyên hải phía nam của Thái Lan, thuộc tỉnh Nakhon Si Thammarat.

Tôi ra dấu xin bà cụ một ít nhang. Cụ sai một đứa nhỏ chạy vào trong cầm ra ba nén nhang.

Nếu như có một ai đó đang đốt nén hương dâng lên bàn thờ Tổ, xin thắp thêm nén hương lòng, cắm vào hư không cho thơm linh hồn của những người nằm xuống trên cuộc hải trình tuyệt vọng. Có ai đó đang đi lễ chùa đêm nay, hãy dừng lại, thả vào không gian tiếng thở dài, để sưởi ấm những hương hồn cô đơn lạnh lẽo. Có ai đó đang ngập ngừng trước cổng thánh đường, hãy xin Chúa ban phát tình yêu cũng như niềm đau khổ đồng đều cho hết thảy nhân loại..

Chính đã đọc những lời trên ở đất Úc yên bình hai mươi hai năm trước, hướng về những linh hồn thảm tử Việt Nam trôi vào bờ Tha Sala.

Hôm nay tôi đưa giọng trầm buồn của Chính vang trên bờ Tha Sala vắng lặng. Hôm nay tôi cắm một nén hương trên bờ biển Tha Sala vắng lạnh giữa trời mai nắng cháy.

Chợt nghẹn ngào. Mặt biển xa phẳng như mặt nước hồ. Sóng nhẹ không thành tiếng.

Một vị sư ở Việt Nam khi biết ý định, đã chỉ cho tôi cách tịnh thủy và cầu nguyện.

Tôi ngồi sau nén hương, hướng ra biển. Những tàng dừa biển mọc sát đất xào xạc trong gió. Lá bàng vàng võ rơi rụng trên những vỏ sò đá cuội trắng..

Tôi cám ơn bà cụ đã cho tôi nén hương làm từ vùng đất của những tên cướp biển. Nhưng những người Thái mà tôi gặp hết sức hiền lành và tốt bụng. Mấy ngày qua tôi ở nhờ gia đình một bà bác sĩ trong khu vực dành cho bác sĩ và sinh viên y khoa bên trong khuôn viên nhà thương Maharat ở trung tâm tỉnh Nakhon Si Thammarat. Bà chỉ cho tôi đến bờ Tha Sala, chỉ cách trung tâm thành phố vài chục cây số. Nhưng khi tôi hỏi cách qua đảo Koh Kra thì bà chịu. Bà cũng không biết có một hòn đảo có tên như thế nằm trong ranh giới tỉnh nhà.

Koh Kra, người Thái đọc là Cỏ Cả (Koh là đảo). Năm 1981, các nhà văn Nhật Tiến, Dương Phục, và Vũ Thanh Thủy đã viết một bản tường trình từ trại tị nạn Songkhla miền cực nam nước Thái về thảm trạng kinh hoàng của thuyền nhân trên đảo này. Bản tường trình hải tặc trong Vịnh Thái Lan của họ đã dóng lên tiếng kêu đau đớn, tiếng chuông hy vọng và tuyệt vọng nhất của thời đại chúng tôi.

Mười một cô gái chết thảm nơi đây thuộc thế hệ chúng tôi.

Họ sinh ra trong thời chiến, chết trong thời hậu chiến trên biển người và đất lạ.

Buổi trưa, mắt nửa nhắm nửa mở, tôi ngồi trên ghế dựa nhìn ra biển vắng. Căn nhà sàn tôi ở nằm sát mép nước, tận trong cùng của khuôn viên, chỉ cách cái chòi thờ miếng ván thuyền độ 20 thước.

Chợt thấy hai cô gái phục sức theo kiểu Hồi Giáo, khăn trùm kín đầu, đi dạo trên bờ biển. Một cô trùm khăn trắng, một cô khăn đỏ rực. Họ nắm tay nhau đứng nói chuyện trước chòi thờ ván thuyền.

Những người con gái Việt Nam đã chết trần truồng trên bờ biển này. Những người con gái đạo Hồi kín đáo từ đầu đến chân đứng nhởn nhơ trên bờ biển này.

Chờ gần chiều khi biển chỉ còn một màu vàng đỏ, tôi đi lần xuống nước, tính lấy toàn cảnh từ biển trông vào bờ. Nhưng khi ngẩng đầu lên thì giật nảy mình. Ngay nóc chòi thờ chiếc ván thuyền, có di ảnh mờ mờ của một cô gái. Có lẽ do nắng gió từ biển khơi lâu ngày nên hình hài trên ảnh đã mờ, nhưng trông kỹ vẫn thấy đúng là ảnh một cô gái. Cả thân hình cô được bao phủ bởi một thân cây già, các tán cây mọc sau cô xòe những lá cây như hoa trắng trùm lên mái tóc dài thả xuống hai vai, cô quỳ hai gối trên một chiếc thuyền buồm đang vượt đại dương, miệng mỉm cười, đôi mắt đen to nhìn thẳng ra biển.

Tôi rùng mình trong thoáng giây. Tôi đã quan sát hai cái am nhỏ hồi sáng. Không có tượng Phật. Thì ra họ thờ cô gái này.

Tôi chụp nhanh một tấm thì đúng lúc, trời đổ mưa lắc rắc, mây từ đâu kéo đến đen cả bầu trời. Rồi những hạt mưa to trút xuống cả biển khơi, rơi đồm độp trên mái lá mái tôn và bãi cát. Một tia chớp sáng lóe bầu trời. Gió nổi mạnh trong khi ngoài biển xa bầu trời vẫn vàng ươm ánh chiều tím mịn.

Tôi chạy vội vào căn nhà bán thức ăn. Lúc này không có gì hơn là một lon bia Thái. Một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi mang bia ra, tiện thể ngồi xuống bên cạnh để hỏi chuyện.

Tôi hỏi tại sao có cái chòi thờ chiếc chuyền đã rã mục, lại có hai cái am. Có phải thờ cô gái có di ảnh hướng ra biển không.

Ông ta là con trai độc nhất của bà cụ hồi sáng. Ông trầm ngâm, nói tới đâu tôi lạnh mình tới đấy.

Ông kể rằng cách đây mười bảy năm, gia đình từ đảo Samui qua đây lập nghiệp. Khi đào cát để lập chòi thì thấy xác một chiếc thuyền vùi sâu trong cát. Ông nói trước đây có một số thuyền Việt Nam qua đây, nhưng không chắc có phải là thuyền của người Việt hay không.

Cả nhà khi đào thấy chiếc thuyền cũng không chú ý, chỉ để trơ ra đấy. Thế rồi một hôm, có một vị sư kêu mẹ ông đến, bảo rằng hãy thờ chiếc thuyền ấy.

Vị sư nói ông nằm mộng thấy một cô gái hình vóc như thế này thế kia, đến nhờ ông nói lại với gia đình là những người đi trên thuyền, trong đó có cô, đã chết thảm, nên xin được thờ phụng. Vị sư kêu người vẽ lại chân dung cô gái như ông thấy, rồi bảo bà cụ hãy thờ cô gái này nơi chỗ xác thuyền tìm thấy.

Bà cụ là người mộ đạo nên làm theo. Cả mười bảy năm nay, mỗi ngày bà cụ đều cúng hai mâm như thế cả.

Tôi xúc động nói với người đàn ông, dù gia đình ông không chắc người chết trên thuyền kia là ai, nhưng tôi chắc là những thuyền nhân Việt Nam, vì mười bảy năm trước thuyền đã mục, nghĩa là chiếc thuyền đã vùi trong cát lâu lắm, có lẽ từ khoảng thời kỳ mà thuyền nhân Việt ồ ạt ra đi.

Người đàn ông lặng thinh, ngẫm nghĩ. Rồi ông vào trong nhà mời bà cụ ra. Bà bảo khi bà lập chỗ thờ thuyền cùng di ảnh cô gái, người trong làng cá này đều bảo bà điên. Nhưng bà không màng, bà bảo bà tin có Phật, nhất là vị sư không bao giờ đặt chuyện như thế.

Trời đã sụp tối, tiếng sóng biển rì rào. Tôi về lại căn nhà sàn của mình, phải đi ngang lại chiếc chòi thờ thuyền. Bất chợt, dù cả đời không sợ ma vì biết ma chê mình, người tôi lạnh xương sống.

Nhìn quanh không một bóng người. Tiếng song vỗ rì rào, tiếng chó tru trong đêm rờn rợn.

Nhưng rồi tôi cũng đứng lại hồi lâu trước di ảnh cô gái trong bóng tối nhá nhem. Có lẽ từ một tiếng gọi nào đấy đã đưa chân tôi lưu lạc chốn này để thấy lại một thảm cảnh hiển bày.

Tha Sala, em ơi, đêm nay sóng cuồng điên ngoài biển, miếng ván thuyền rã mục trên bờ vắng.

Mưa đã ngưng nhưng cát vẫn ướt.

Tôi vào nhà lấy cái máy đem ra để cạnh cái chòi thờ, mở lại giọng đọc của Chính. Trong đêm vắng, giọng của người bạn tôi như tiếng kinh cầu chiêu niệm những oan hồn lẩn khuất đâu đây. Tiếng của anh chậm buồn như sóng biển ngoài kia đang thổn thức.

Đêm nay, đêm oai linh, đêm hồn thiêng sông núi, đêm của tổ tiên nghìn năm sống lại, đêm của những bước chân phiêu lãng trở về bên đốm lửa quê nhà..

Đêm đào huyệt chôn vùi tội ác và ích kỷ. Đêm của những tấm lòng nở hoa nhân ái.

Xin hãy bàn giao hiện tại tối tăm và phù phiếm, cho ngày mai rạng rỡ bài đồng ca thơm ngát tình người. Để mùa xuân được trải đều khắp chốn.

Để thiện tâm nở đầy trên lòng bàn tay, thúc giục những bước chân trần tiến về những cuộc hải trình tuyệt vọng, cho mùa xuân chia đều trên mỗi một sinh mệnh của đồng bào.

Tha Sala, tôi thắp nén hương này, nói vào hư không bài văn tế không thành tiếng.

(Saigon trong tôi/ Lê Đại Lãng – Tha Sala)

Đại học Fulbright huỷ sự kiện giới thiệu sách của cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam

VOA Tiếng Việt 

Đại học Fulbright Việt Nam lặng lẽ huỷ bỏ sự kiện bàn luận với cựu Đại sứ Mỹ Ted Osius về cuốn hồi ký mới ra mắt của ông trong lúc báo chí trong nước không được phép viết về cuốn sách được cho là có thể “gây rắc rối” cho một số quan chức chính phủ.

Sự kiện trực tuyến được Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) dự kiến tổ chức vào ngày 4/11 nhưng trường đã huỷ bỏ buổi bàn luận được lên kế hoạch là mở đầu cho một chuỗi các buổi trò chuyện với nhiều diễn giả được mời.

Chia sẻ thông tin về sự kiện này hôm 30/10 trên trang Facebook cá nhân, Tiến sỹ Vũ Minh Hoàng, hiện đang giảng dạy tại FUV, viết rằng “rất hân hạnh được cùng Đại sứ Ted Osius bàn luận về cuốn sách mới của ông!” nhưng phần thông tin về buổi trò chuyện này đã không còn truy cập được nữa.

Trả lời yêu cầu bình luận của VOA qua email, FUV cho biết lý do huỷ buổi nói chuyện với cựu ĐS Osius, người từng là phó chủ tịch của đại học này sau khi từ chức đại sứ vào cuối năm 2017, là “vì một số lí do kĩ thuật không lường trước.” Trường cho biết họ đã thông báo gửi diễn giả và những người đăng ký tham dự sự kiện cũng như “cân nhắc thời điểm phù hợp trong tương lai.”

Tuy nhiên không có bất cứ một thông báo công khai nào của FUV trên trang web cũng như trang Facebook chính thức của trường về việc huỷ bỏ này. Thông báo trên trang web của trường mặc dù vẫn hiện ra khi tìm kiếm trên Google nhưng đường link sẽ dẫn tới trang chủ của FUV.

TS Hoàng nói với VOA rằng ông lấy làm “tiếc” vì buổi trò chuyện với ĐS Osius bị huỷ bỏ nhưng cho biết FUV “có rất nhiều sự kiện và vì nhiều lý do không phải sự kiện nào cũng chạy được.” Trong khi đó, nói với BBC, ĐS Osius cho biết ông “thất vọng về sự việc” và cho rằng “có vẻ như ai đó không thích nội dung cuốn sách.”

Cuốn sách bằng tiếng Anh mới ra mắt của ĐS Osius, “Nothing is Impossible: America’s Reconciliation with Vietnam” (Không gì là không thể: Quá trình hoà giải của Mỹ với Việt Nam) là những câu chuyện hậu trường về các nỗ lực xây dựng lòng tin và hoà giải giữa hai cựu thù Mỹ và Việt Nam.

Tuy nhiên, theo một phóng viên trong nước, các báo ở Việt Nam “bị cấm” đưa tin về cuốn sách này. Phóng viên muốn ẩn danh này cho biết rằng chỉ đạo được đưa ra từ ban tuyên giáo Trung ương, nơi đưa ra quan điểm và đường lối tuyên truyền của Đảng cho báo chí.

Tương tự, một tổng biên tập ở Việt Nam nói với Nhật báo Người Việt rằng các báo trong nước được lệnh “không khai thác sách của cựu ĐS Osius” vì dù có “nhiều điểm tích cực như hoà giải Việt-Mỹ” nhưng còn có “một số điểm chưa phù hợp.”

Một trong những câu chuyện được kể trong cuốn sách mới của ĐS Osius, người có nhiệm kỳ đại sứ ở Hà Nội từ 2014-2017, là những gì xảy ra sau cánh gà của cuộc gặp tại Nhà Trắng hồi tháng 5/2017 giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc. Trước khi diễn ra cuộc gặp có sự tham dự của phóng viên và nhà báo, ông Trump đã không biết mình sẽ gặp ai và trêu đùa về tên của ông Phúc với một từ có nghĩa thô tục trong tiếng Anh.

Trả lời phỏng vấn VOA ngay khi cuốn sách có mặt trên các kệ sách ở Mỹ hôm 15/10, ĐS Osius, người có gần 30 làm ngoại giao ở Việt Nam, nói rằng “có thể có một số phần trong cuốn sách gây rắc rối cho một số người nào đó trong chính phủ.” Tuy nhiên ông cho rằng “các quan chức chính phủ, những người có thể không thích một số phần trong cuốn sách,” sẽ hiểu được rằng ông viết nó “từ tình yêu của mình với đất nước.” Ông cho biết ông đã “nói ra sự thật một cách đầy đủ nhất có thể” với khả năng và kiến thức tốt nhất của ông.

Ngoài ông Phúc, các lãnh đạo Đảng Cộng sản như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh và nhiều quan chức cấp cao khác trong chính phủ Việt Nam được nhắc đến trong cuốn hồi ký này. Tuy nhiên, ĐS Osius cho rằng ông “không thấy sự nhạy cảm lớn nào từ phía chính phủ Việt Nam” đối với việc ông nói ra sự thật, và rằng ông “không giương cú đấm nhắm vào ai” và “không nhắm vào nhân quyền.”

Cựu ĐS Osius từng có buổi thuyết giảng với các sinh viên cao học tại FUV vào cuối tháng 9 vừa qua, trong đó ông kể lại một nội dung của cuốn sách mới và trả lời các câu hỏi từ sinh viên về “phong cách lãnh đạo thích ứng, chấp nhận rủi ro, vấn đề Trung Quốc và thương mại.”

FUV, thành lập năm 2016 với phần lớn vốn nước ngoài, được xây dựng theo mô hình dựa trên nền tảng truyền thống giáo dục đại học của Mỹ về tranh luận cởi mở, nghiên cứu về phân tích phản biện, nhưng đồng thời vẫn dựa trên những di sản và truyền thống văn hoá phong phú của Việt Nam.

Một trong những mục tiêu của FUV là “minh bạch và công bằng”, theo Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ USAID nơi tài trợ cho trường gần 12 triệu USD từ năm 2017. Theo Bộ Ngoại giao Mỹ, FUV được kỳ vọng như là một nền tảng tuyệt hảo cho việc phát triển vốn nhân lực mạnh mẽ trong khu vực.

ĐS Osius, người được trao huân chương hữu nghị của Chủ tịch nước Việt Nam vào năm 2018, cho biết rằng ông sẽ ra mắt cuốn sách bằng tiếng Việt vào năm tới và hy vọng không có sự kiểm duyệt nào từ chính quyền đối với phiên bản này.

(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link bit.ly/VOATiengViet1 hoặc bit.ly/VOATiengViet2 để vượt tường lửa)

Đại học Fulbright huỷ sự kiện giới thiệu sách của cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam

Thị trưởng gốc Việt 22 tuổi trẻ nhất trong lịch sử TP Maribyrnong và nước Úc

Van Pham is with Đinh Thị Ánh and  

HÃNH DIỆN CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN TẠI ÚC & HẢI NGOẠI. CHÚC MỪNG TÂN THỊ TRƯỞNG THÀNH PHỐ MARIBYRNONG – TRONG ĐÓ CÓ KHU VỰC FOOTSCRAY, NƠI ĐÔNG NGƯỜI VIỆT NHẤT TẠI MELBOURNE….

***

Thị trưởng gốc Việt 22 tuổi trẻ nhất trong lịch sử TP Maribyrnong và nước Úc

Anthony Tran, một gương mặt trẻ của cộng đồng người Việt Tự do, vừa tròn 22 tuổi, trưởng thành từ khóa lãnh đạo hai nguồn gốc đã trở thành thị trưởng trẻ nhất trong lịch sử của hội đồng thành phố Maribyrnong, tiểu bang Victoria.

Tự hào đại diện cho người Việt

Thị trưởng Anthony Trần sinh ra và lớn lên tại Maribyrnong trong một gia đình có nguồn gốc tị nạn. Anh tốt nghiệp ngành luật và thương mại tại đại học Latrobe.

Là một hạt giống của khóa lãnh đạo hai nguồn gốc DILP, một sáng kiến do VCA khởi xướng, Anthony từng bước dấn thân vào con đường chính trị.

“Tôi cảm thấy vô cùng hân hạnh khi được trao trọng trách đại diện cho hội đồng thành phố, nơi mà tôi đã sinh trưởng. Tôi mãi biết ơn sự giúp đỡ và hỗ trợ của những người bạn, cộng đồng người Việt, VCA đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong suốt chiến dịch tranh cử.

Tôi hạnh phúc được đại diện cho cộng đồng người Việt nói riêng và cộng đồng đa văn hóa khác ở Maribyrnong”.

Là thị trưởng trẻ nhất trong lịch sử Maribyrnong, bên cạnh những nghị viên gạo cội và dày dạn kinh nghiệm, Anthony Tran chia sẻ với SBS đó là một cơ hội chứ không phải áp lực.

“Tôi không hề cảm thấy áp lực vì mình còn rất trẻ. Lý do là vì không chỉ tôi mà có rất nhiều nghị viên khác là những người lần đầu tiên giữ chức vụ nghị viên.

Tất cả nhân viên, thành viên của hội đồng thành phố Maribyrnong đã giúp cho tôi và những nghị viên mới cảm thấy rất dễ dàng trong quá trình chuyển tiếp vào làm việc tại hội đồng thành phố. Không có bất kỳ trở ngại nào ngoài việc tôi rất hào hứng về những điều mới mẻ sắp tới”, Anthony Tran nói với SBS.

Việc giữ vị trí là một nghị viên độc lập ở cấp độ lãnh đạo địa phương giúp tôi có thể phản ánh một cách chính xác những gì mà cộng đồng kỳ vọng, mà không có bất kỳ ảnh hưởng từ quan điểm chính trị hay các vấn đề nghị sự của đảng phái nào.

Trao đổi với SBS về những nỗ lực mà thị trưởng 22 tuổi sẽ bắt tay ngay sau khi nhận vị trí lãnh đạo, anh cho SBS biết:

“Với cộng đồng gốc Việt, tôi sẽ ra sức hỗ trợ dự án Viện bảo tàng Người Việt. Tôi đã có nhiều thảo luận với ban dự án Vietnamese Museum Australia (VMA), để giải quyết một số vấn đề khó khăn. Không có dự án nào là hoàn hảo cả. Những người dân sống xung quanh khu vực xung quanh đất để xây dựng bảo tàng có những quan điểm khác nhau.

Do đó, tôi sẽ làm việc chặt chẽ với VMA và cộng đồng người Việt Tự do VCA để khi có bất cứ điều gì xảy ra, nó đều được giải quyết để mang lại lợi ích cho cộng đồng người Việt và cư dân ở trong vùng.

Với các cộng đồng đa sắc tộc khác, hội đồng thành phố chuẩn bị ra mắt dự án với tên gọi Next project, một tòa nhà phức hợp Footscray Library, Cultural and Community Hub để tổ chức các hoạt động văn hóa, sự kiện. Đây là một dự án lâu dài. Không chỉ tôi mà tất cả hội đồng thành phố khác cũng rất ủng hộ dự án này.”

Mang lại sinh khí, hơi thở và bản sắc cho Maribyrnong

Thị trưởng Anthony mong muốn mang lại lễ hội Tết nguyên đán cho người Việt vào năm 2022.

“Hội đồng thành phố Maribyrnong trước giờ được biết đến với tên gọi Festival City. Chúng tôi mong muốn mang lại bản sắc này và nhiều lễ hội, sự kiện trong thời gian tới, hỗ trợ cho doanh nghiệp và các con phố sầm uất buôn bán trở lại, việc ăn uống ngoài trời.

Maribyrnong sẽ chấp thuận các kế hoạch xây dựng khuôn viên ăn uống ngoài trời cho thực khách, do hội đồng thành phố hỗ trợ hoặc các doanh nghiệp tự bỏ tiền, hay hình thức chung sức của hai bên.

Chúng tôi sẽ nỗ lực bằng mọi giá để giúp các tiểu thương và doanh nghiệp địa phương hồi phục, làm việc và liên hệ với các Hội thương gia Á Châu Footscray và Footscray Traders Association.

Vào thời điểm này tôi chưa thể trả lời có lễ hội Tết hay không. Điều này còn phụ thuộc vào tình hình COVID và các hướng dẫn an toàn cũng như giới hạn của chính phủ. Nhưng chúng tôi trông đợi sẽ tổ chức lễ hội Tết nguyên đán. Tôi rất muốn nói có vì tôi mong chờ được cùng gia đình mình tham dự lễ hội tết này, hy vọng như vậy”.

Thị trưởng Anthony Trần nhấn mạnh việc là ứng viên độc lập giúp anh tận tâm với cộng đồng.

“Vào thời điểm này tôi muốn giữ vị trí là một ứng viên độc lập hơn. Lý do cho việc giữ vị trí là một nghị viên độc lập ở cấp độ lãnh đạo địa phương là tôi có thể phản ánh một cách chính xác những gì mà cộng đồng kỳ vọng, mong muốn, mà không có bất kỳ ảnh hưởng từ quan điểm chính trị hay các vấn đề nghị sự của đảng phái nào cả”.

Được biết Thị trưởng trẻ nhất nước Úc trước đây là một Sinh viên ĐH La Trobe, cô Emilia Lisa Sterjova. Cô đắc cử Nghị viên HĐTP City of Whittlesea tháng 11 năm 2016. Phó Thị trưởng năm 2017-2018 và Thị trưởng tháng 9-2019 măm cô 23 tuổi.

https://www.latrobe.edu.au/…/la-trobe-student…

Như vậy, Tân Thị trưởng Anthony Tran đã phá kỷ lục không chỉ tại TP Maribyrnong mà còn phá kỷ lục của nước Úc.

HOAN HÔ CHÁU ANTHONY TRAN…. THẬT TUYỆT VỜI.

– Mayor Cr Anthony Tran Source: Maribyrnong Council

– Thị trưởng trẻ nhất nước Úc trước đây là một Sinh viên ĐH La Trobe, cô Emilia Lisa Sterjova lúc đó 23 tuổi.

https://twitter.com/maribyrnongcc?lang=ar

Hôm nay giỗ 42 năm Cha Giáo Gioan Baotixita Trần Học Hiệu bị cộng sản xử tử hình

Duong Hoa is with Xạc Bình and ND Nguyen.

“Một trái tim lớn đau cái đau của cả dân tộc

Một trái tim âm thầm với một tình yêu lớn lao”

Xin cầu nguyện cho LM Gianbaotixita Trần Học Hiệu- Tiến sĩ- Giáo sư- Nhạc sĩ đã bị cộng sản hãm hại, tử hình mà rất it người biết.

Can Ngoc Tran

Hôm nay giỗ 42 năm Cha Giáo Gioan Baotixita Trần Học Hiệu bị cộng sản xử tử hình. Xin đăng bài viết ngắn của cô Phạm Minh Tâm nói về cuộc đời của Cha Giáo.

Đại-học chi đạo…

Phạm Minh-Tâm

Làm gì thấy Người khi núi sông ngút khói

Máu xương ngập lối, ôi những ngày hấp-hối

Ghét ghen tham tàn, gây bất công nghèo đói

Con thấy Nhan Người trong nỗi đau tràn đầy

(Ôi Giê-su)

Khi tôi chống cưỡng luật Người

Luật Người khắc trong tim tôi

Lạc-viên êm-ái hồn tôi, tan-vỡ như ảo-mộng

Nay toàn thấy sỏi đá gai nhọn

(Từ vực thẳm hư-vô)

Ngày 05-11-2021 năm nay là ngày giỗ thứ 42 của linh-mục Gio-an Bao-ti-xi-ta Trần Học Hiệu với cái chết bằng các viên đạn xử bắn vào xế chiều ngày 05-11-1979 tại ấp Bà Thức, Suối Máu, Biên-hoà. Đây là khu đất nằm trong vùng phi-quân-sự phía sau phi-trường Biên-hoà mà sau 1975 chính-quyền cộng-sản huyện Thống-nhất, dùng làm bãi xử bắn dã-chiến.

Bản-thân tôi là con út trong gia-đình năm người con thiêng-liêng của linh-mục Trần Học Hiệu, được xếp theo thứ-tự nhận trước hay sau; gồm có anh Cao Kim Động, sau này là Đan-trưởng Đan-viện Thiên-hoà ở Ban-mê-thuột, anh Phạm Văn Tuyền đang sống tại Hoa-kỳ, chị Nguyễn Thị Phương sang Pháp từ trước 1975, chị Lê Thị Thu Hương một tân-tòng…

Hôm nay, khi viết về linh-mục Gio-an Bao-ti-xi-ta Trần Học Hiệu, tôi không nhắm vào mối liên-hệ là cha linh-hồn, cha thiêng-liêng, bố đỡ đầu… hay gì-gì khác theo cảm-xúc cá-nhân. Mà vì, đã 42 năm sau khi ông đã thành-toàn sứ-vụ ở trần-gian, tôi thấy cần phải viết, dù hơi trễ, về một con người linh-mục trí-thức Việt-Nam nơi ông, có thể xem như một tổng-hợp của đức tin tông-truyền hoà với nhân-cách một người Việt-Nam đúng nghĩa. Tóm lại, là của một công-dân linh-mục ý-thức rõ và dung-hoà được bổn-phận với Thiên Chúa và Tổ-quốc – Deus et Patria.

Cũng đồng-thời, muốn nhân đây, trước là chính-thức điều-chỉnh lại đôi ba chi-tiết liên-quan đến những ngày tháng tù-đầy và cái chết của linh-mục Trần Học Hiệu vào bốn năm sau ngày cộng-sản cưỡng chiếm Miền Nam, mà ông đã được vài ba nguồn tài-liệu nhắc đến, như sách Rồng Xanh Ngục Đỏ (trang 234-242) của linh-mục Vũ Đình Trác; Đoá Hồng Gai (trang 86-89) của Nguyễn Thanh Nga; Thư-viện Phạm văn Thành (Toàn cảnh Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam – Mặt Trận Liên Tôn kháng cộng sau 1975) trên mạng lưới thông-tin điện-tử với tấm ảnh không phải là chân-dung mà là vẽ truyền-chân. Tiếp sau, để chính-thức gửi đến những thân-hữu xa gần đã từng một thời biết, quen hay thân-thiết với ông từ sau cuộc di-cư 1954, từng cùng ông góp sức vào những sinh-hoạt của Giáo-hội, của xã-hội Miền Nam trong các điạ-hạt mục-vụ, Công-giáo tiến-hành, thánh-nhạc, giáo-dục, văn-học nghệ-thuật đến ngày 30-4-1975, rồi sau đó ông biệt tăm theo cơn xoáy chính-trị ở Miền Nam mà không mấy ai rõ-ràng.

Cổ-nhân khi nói “quốc-gia hưng-vong thất-phu hữu-trách” là hiển-nhiên xác-nhận vận-mệnh đất nước mạnh yếu hoặc mất còn đều hệ tại thái-độ chung phần trách-nhiệm của mỗi ngưòi dân; có nghĩa là không loại-trừ hay đặc-miễn cho bất-kỳ ai và càng không lý-giải theo thân-phận sang hèn hay giỏi dốt, mà là tinh-thần yêu đất nước, thương anh em cùng chung một bọc theo nghĩa hai chữ “đồng-bào”. Song riêng với thành-phần được gọi là sĩ-phu, là trí-thức theo mức-độ ăn học cao thấp thì còn có thêm một cách nhìn khác, nói đúng ra là một đòi hỏi khác gọi là con đường của kẻ sĩ, của giới trí-thức, gọi là “đại-học chi đạo”.

Mở đầu sách Đại-học có viết: Đại-học chi đạo, tại minh minh-đức, tại tân dân, tại chỉ ư chí thiện…Hai chữ “đại-học” ở đây có nghĩa là học vấn uyên-bác, tinh sâu; đạo là con đường. Con đường của kẻ đã có học-vấn cao hơn người thì truớc hết phải làm sáng tỏ cái đức, phải giúp dân biết đổi mới nếp sống và chỉ được ngừng khi đã tận hảo.

Linh-mục Gio-an Bao-ti-xi-ta TRẦN HỌC HIỆU

Linh-mục Trần Học Hiệu sinh năm 1927 tại Ninh-cường, Bùi-chu. Thụ-phong linh-mục năm 1958 tại Sài-gòn. Ông còn có một người em là linh-mục Trần Ngọc Quỳnh, thuộc tu-hội Saint Sulpice, giáo-sư Đại-chủng-viện Huế.

– Sau khi chịu chức linh-mục, ông giữ nhiệm-vụ Tuyên-uý Hiệu-đoàn tại

trường Nguyễn Bá Tòng, chuyên-trách các sinh-hoạt tâm-linh và các hoạt-động Hiệu-đoàn của mấy ngàn học-sinh, kiêm tuyên-uý đoàn Thanh Sinh Công tại đây. Ông là người đầu tiên và hình như cũng là duy-nhất chịu khó dịch tập Hiến-chương Dakar là Thủ-bản của Phong-trào Thanh Sinh Công thế-giới, thường biết đến với tên viết tắt là JECI (Jeunesse Étudiante Catholique Internationale) thành ấn-bản song-ngữ với lời đề biệt tặng các bạn Thanh Sinh Công của tôi.

– Là tác-giả hai tập sách dịch mang tên Ngày Quỷ Vương và Lạy Chúa con

nghe đây…dưới bút-hiệu Mặc Huy, xuất-bản vào thập-niên 60 tại Sài-gòn. Ông giải-thích, Mặc Huy là ánh sáng của ngọn đèn chầu, tuy leo-lét nhưng liên-lỉ.

Lễ mở tay của linh-mục Trần Học Hiệu tại trường Nguyễn Bá Tòng.

Bốn người hàng đầu từ trái, người em Trần Ngọc Quỳnh, cụ Hiếu thân-sinh, người chú, đức giám-mục Phạm Ngọc Chi.

– Là người có nếp sống đúng tinh-thần khó nghèo. Thậm chí, sau khi chiụ chức linh-mục, ông đã chọn

nơi dâng lễ mở tay là khu tiền-sảnh đơn-sơ của trường Nguyễn Bá Tòng.

– Là một người chống cộng và hăng say hoạt-động trong lãnh-vực văn-hoá và nghệ-thuật Công-giáo

– Năm 1964, ông rời trường Nguyễn Bá Tòng, đi làm Tuyên-uý Quân-đội, tùng-sự tại Nha Tuyên-úy

Công-giáo với cấp-bâc đại-uý tượng-trưng theo quy-định. Ông giữ nhiệm-vụ Trưởng Phòng Giáo-vụ Nha Tuyên-uý Công-giáo và đặc-trách nội-dung nguyệt-san Tinh Thần của Nha Tuyên-úy Công-giáo.

– Thành-lập ca-đoàn Hương Quê. Tổ-chức hai đêm đại-hợp-xướng tại Thảo-cầm-viên Sài-gòn và một

tuần Triển-lãm hội-hoạ do nhiều hoạ-sĩ tên tuổi góp mặt, như Bé Ký, Hồ Thành Đức, Hiếu Đệ….tại Nhà Văn Hoá là trụ-sở Hạ-nghị-viện trước và kết-thúc bằng đêm trình-diễn hợp-ca âm-nhạc Việt-Nam.

– Cùng với Giám-mục Huỳnh văn Nghi, chính-thức cổ-động Phong-trào Đạo Binh Xanh, do Đại-tá Đỗ

Sinh Tứ làm Giám-đốc.

– Chủ-trương tờ “Người Mới” bộ mới.

– Tháng 10 năm 1966, được Đức Tổng Giám-mục Nguyễn Văn Bình cho đi du-học bên Pháp bốn năm và được cho thêm hai năm để học về âm-nhạc.

– Năm 1972, về nước với văn-bằng Tiến-sĩ Đệ-tam-cấp Đại-học Sorbonne (Doctorat Troisième Cycle)

và Chứng-chỉ tốt-nghiệp khoá đào-tạo ca-trưởng tại Học-viện Ba-lê (Conservatoire de Paris).

– Vừa về nước, lập ban Hợp-ca “Đẹp Bình Minh” và tổ-chức buổi trình-tấu hợp-ca Thánh-nhạc tại trường Taberd.

– Dạy tại Đại-học Huế và xin về làm mục-vụ cho một số gia-đình thương phế binh đang sinh sống tại khu trại chăn nuôi bỏ hoang ở quận Tân-bình mà sau được phép lập thành giáo-xứ Tân Dân. Linh-mục Phan Văn Lợi cho biết…Cha Hiệu và cha Quỳnh tôi đều quen biết, vì cha Quỳnh là thầy của tôi nhiều năm tại Đại chủng viện Xuân Bích – Huế. Còn cha Hiệu thì tôi có nghe ngài thuyết trình một lần cho các đại chủng sinh, vào năm 1973 và vẫn còn nhớ chuyện ngài kể về các giáo dân thương binh giáo xứ Tân Dân của ngài. …Về chuyện của ngài, tôi nghe khoảng năm 1980, nhưng không nhiều chi tiết như chị cho biết. Ai cũng cảm thương và cảm phục ngài như đối với cha Nguyễn Văn Vàng DCCT, cha Nguyễn Quang Minh, cha Trần Đình Thủ và mọi cha bị tù tội vì cộng sản sau 1954 và 1975.

– Tổ-chức khóa huấn-luyện đầu tiên về Phong-trào Cursillo Việt-Nam tại nhà Betania Chí-hoà và mở tiếp khoá huấn-luyện Cursillo nữ đầu tiên tại Long-khánh.

Mấy anh em gia-đình thiêng-liêng chúng tôi thường được ông bố đỡ đầu nhắc-nhở mục-đích khi làm việc là đặt ý-nghĩa vào kết-quả đem lại chứ không ở tên-tuổi mình có được tiếng vang hay không. Bản-thân tôi nhớ mãi lời ông hướng-dẫn…giả như một hoạ-sĩ kia có biệt-tài vẽ nhưng thiếu nhiệt-tình phục-vụ nghệ-thuật thì mình nên cố gắng tìm cách khích-lệ anh ta…hầu-hạ cũng được, như rửa cọ, pha sơn, căng vải lên khung, pha cà-phê…miễn sao anh hoạ-sĩ chịu cầm cọ vẽ những nét đầu để hy-vọng anh sẽ vẽ nên một tác-phẩm nghệ-thuật để cho đời. Dĩ nhiên mình không có một dấu nào ghi trên hoạ-phẩm đó, song Thiên Chúa đã nhìn thấy sự đóng góp của mình là đủ.

Vào đầu thập-niên 70, Giáo-hội Công-giáo tại Miền Nam như mùa hoa nở rộ với khá nhiều thành-phần linh-mục trí-thức. Linh-mục Trần Học Hiệu tuy vẫn thuỷ-chung với thiên-chức linh-mục và tâm-thức Việt-Nam, song từ nhận-thức thủ-đắc trong thời-gian du-học, ông cũng gợi cho anh em chúng tôi ý-thức về một số cần thay đổi trong nếp sống đạo cũ bằng phong-cách dấn-thân nhập-cuộc mới.

Sau ngày 30-4-1975, nhiều biến-cố dồn-dập xẩy đến cho Giáo-hội bên cạnh niềm đau của dân-tộc. Ủy-ban Quân-quản Thành-phố đã bắt đầu chiếu-cố đến nhiệm-vụ Phó Tổng-giám-mục thừa-kế của Đức cha Nguyễn Văn Thuận. Một số linh-mục và giáo-dân trí-thức hùng-hổ theo “cách mạng”, kéo nhau đi trục-xuất Đức Khâm-mạng Toà-thánh. Rồi họ viết tâm-thư 1, tâm-thư 2, tâm thư 3…gửi Ủy-ban Quân-quản, tố-cáo Giáo-hội không dung-nạp lý-thuyết cộng-sản, tố-cáo Đức cha Thuận là có dòng máu chống cộng vì là con cháu trong gia-đình Tổng-thống Ngô-đình Diệm và thêm một tội nữa là tôn-sùng Đức mẹ Fa-ti-ma mà Đức Mẹ Fa-ti-ma là Đức Mẹ chống cộng …

Linh-mục Trần Học Hiệu khi ấy đang ở giáo-xứ thương-phế-binh trong trại chăn nuôi, trả lời ngay các thư này. Mỗi khi soạn xong thư trả lời, ông đạp xe đến giao cho tôi đánh “stencil” và dùng máy “ronéo” quay tay nhỏ của chúng tôi in ra nhiều bản, rồi đem đến các xứ để nhờ phổ-biến trong cộng-đoàn tín-hữu. Tôi nhớ rất kỹ hai người nhiệt-tình tiếp-nhận các thư trả lời và hăng-hái góp tay giúp là linh-mục Lã Quang Hiệu giáo-xứ Lộc-hưng và Đức cha Phạm Văn Nẫm khi còn là linh-mục, làm giám-học tại trường Thánh Mẫu ở Bà Chiểu.

Chính-quyền mới bắt đầu “rà từng đối tượng” linh-mục bằng các “nhãn” do họ dán cho để hoặc là kiếm cớ quản-thúc hay giới-hạn trong mục-vụ. Chẳng hạn, xuất-thân từ Trường Truyền-giáo Rô-ma, trong ban điều-hành và giảng dạy ở Giáo-hoàng Học-viện là di-sản tư-tưởng của Hội Thừa-sai Ba-lê, viết báo và ủng-hộ các đoàn-thể chống cộng…nghĩa là đủ cớ để loại trừ sau cái lý-do chính là linh-mục trí-thức Công-giáo. Linh-mục Trần Học Hiệu biết mình còn nhiều “tội” hơn nữa như gốc Bùi-chu chống cộng cực-đoan, là tuyên-uý Công-giáo, người điều-hợp chính của Phong-trào Đạo Binh Xanh…Đại-để như Nguyễn Ngọc Lan đã nói sống với xã-hội chủ-nghĩa, chúng ta mới hiểu “tội tổ tông” một cách thấm-thía hơn….

Một sáng sớm trong tháng 8, được tin ông bị bắt hụt, chúng tôi đến ngay giáo-xứ Tân Dân. Bà nấu bếp nhà ở ngang nhà xứ đã sang, đang ngồi khóc dưới bếp. Bà kể, sáng sớm công-an quân-quản đến bắt ông chủ-tịch Hội-đồng giáo-xứ. Cô con gái ông chủ-tịch đi lễ sớm, về gần đến nhà thấy lạ vội quay lại nhà thờ báo tin vừa kịp lúc cha Hiệu đang từ phòng áo bước ra nên ông không về nhà xứ, song không ai biết ông đi đâu. Tôi ra trước thềm nhìn thấy hai người đang ngồi câu cá trên bờ ao trước nhà xứ nên quay vào bàn với bà bếp cứ mở toang cửa phòng khách và xách giỏ đi chợ như mọi ngày, gọi mấy bà hàng xóm bảo họ thay nhau ra vào tự nhiên như không biết sự gì xẩy ra. Nhà tôi đem cuốc ra bụi chuối gần chỗ người câu cá ngồi, vừa đánh cây chuối con vừa khua náo khi nào cha về cô nói giúp con xin một cây về trồng. Hôm sau, bà bếp cũng sang mở cửa nhà xứ bình-thường, nhưng thay vì đi chợ thì xách giỏ đến nhà tôi, cho biết tối hôm qua, rất khuya cha mới về thu xếp giấy tờ, giao hết các chìa khóa cho bà và ra đi. Thật ra từ hai tháng trước, ông đã nói với chúng về một “chiến khu” và ông sẽ vào; song có lẽ sự việc đến mau nên ông chưa kịp sắp xếp.

Một buổi tối gần cuối năm 1975, cả khu phố bị cúp điện, chúng tôi có người khách ghé thăm. Vừa buớc vào nhà, ông yêu cầu đóng cửa lại và nói ngay một hơi …Tôi chỉ nói miệng vì cha Hiệu không muốn viết giấy hay thư. Cha đã vào đến nơi bình an và khoẻ. Cha không cần tiền bạc hay bất cứ gì khác. Nếu có ngay bây giờ thì gửi cho cha chiếc “radio transitor”. Cha dặn lúc nào đi Fa-ti-ma thăm hai cha Nguyễn Văn Lập và Trần Nguyên Khôi….Đó là lần cuối cùng tạm coi như tôi còn được liên-hệ với ông.

Tôi đến Fa-ti-ma gặp linh-mục Nguyễn Văn Lập, cựu Viện-trưởng Viện Đại-học Đà-lạt và linh-mục Trần Nguyên Khôi, như lời dặn. Nhờ vậy, được biết rõ hơn, linh-mục Trần Học Hiệu đã có người liên-lạc đón vào rừng an-toàn vào đầu tháng 9-1975. Còn thêm chi-tiết không ai ngờ là lúc từ phòng áo ra đi thì nguyên tuần đầu tiên ông vẫn ở khu trại chăn nuôi, trong ngôi chùa cũng mới xây trong thời-gian xây nhà thờ Tân Dân. Điều này đối với tôi không lạ vì ngay từ khi còn ở Phòng Giáo-vụ Nha Tuyên-úy Công-giáo, không biết duyên-do nào, ông và Hoà-thượng Thích Tâm Giác, Giám-đốc Nha Tuyên-uý Phật-giáo, có tương-quan giao-hảo nên thỉnh-thoảng tôi được giao việc đem bài viết của ông sang cho nguyệt-san Đại Từ Bi của Nha Tuyên-uý Phật-giáo, hay ngược lại sang nhận bài về cho nguyệt-san Tinh Thần. Còn khi làm mục-vụ ở giáo-xứ Tân Dân cũng thế, có buổi chiều hai vợ chồng tôi vào thăm, vừa gặp lúc ông lững-thững đi bộ về và mỉm cưới ý-nhị cho biết là sang thăm “sư cụ chùa Long-giáng”.

Đầu năm 1977, người dân tại nhiều quận Sài-gòn, đi họp tổ dân-phố đều được cảnh-giác không được liên-lạc hay chứa-chấp mà phải tố-cáo ngay các dư-đảng của “tên phản-động đội lốt thầy tu để chống phá cách-mạng Trần Học Hiệu”. Thời gian này ông bị giam ở Tổng Nha Cảnh-sát cũ, sau đó đem về Chí-hoà và vì ông bị bắt tại vùng Hố-nai nên đã bị đưa ra xét-xử trong một phiên toà công-khai tại huyện Thống-nhất, tỉnh Đồng-nai vào tháng 11-1978. Có thể vì muốn dằn-mặt công-luận nên chính-quyền huyện Thống-nhất gửi giấy mời Giám-mục Xuân-lộc và các linh-mục trong huyện Thống-nhất đi nghe xử. Đức giám-mục Nguyễn Văn Lãng sau này cho biết ông cũng rất muốn đến toà cho biết sự-thể, song nghĩ lại nên để cha Hiệu tự-nhiên ăn nói giữa toà. Những người có mặt trong phiên-xử này đã chúng-kiến thái-độ ung-dung tự-tại của linh-mục Trần Học Hiệu với những lý-luận giữa toà, nhất là khi nói về vụ án Galilée. Nhiều người thân, quen đã chép miệng trong toà …giáo-sư đại-học có khác, phải “minh minh-đức” như thế mới đúng nghĩa tâm-linh.

Linh-mục Trần Học Hiệu bị tuyên xử tử-hình. Một mục-sư cùng bị giam với ông, vì bị bệnh nặng sắp chết, được cho về nhà để chữa bệnh, đã đem theo lời cha Hiệu nhắn về là sẽ không viết đơn xin ân-xá.

Năm 1981, tôi được tin từ Tân-mai Biên-hoà nhắn lên gặp gấp. Rồi được một cậu nhỏ bán cà-rem dẫn đi tìm mộ cha Hiệu. Tôi được cho mượn chiếc xe đạp cùng ra đi. Vừa đạp xe, cậu nhỏ vừa kể vì ngày-ngày đạp xe đi bán rong, la-cà đến cả các khu trại bộ-đội sau phi-trường Biên-hoà. Một hôm đang đứng bán kem cho bộ-đội ở cổng trại thì có mấy chiếc xe công-an chạy qua. Họ bảo là xe đi xử bắn và rủ đi xem, từ đó mới biết bãi xử bắn ở phía trong sâu này, cho nên sau đó cứ gặp xe như thế là chạy theo xem. Đây là nơi ngày trước thuộc vùng phi-quân-sự, nên có một khu đất bị bom làm thành một hố trũng khá lớn, thấp hơn mặt đường đi bốn năm thước, đang được dùng làm bãi xử bắn và cứ lâu-lâu họ lại đem đến bắn mấy người rồi vùi luôn xác tại đây nên dân địa-phương ít dám lai-vãng. Cậu nhỏ nói đâu có biết cha Hiệu là ai, chỉ là lần đi xem xứ bắn đó, thấy có người vừa bị bịt mắt và tróí vào cột xong là hát rất to bài “Kinh Hoà-bình” nên đoán là ông cha mới về kể lại thôi.

Pháp-trường vẫn còn ba cái cột chôn sẵn với các mẩu giây trói bị cắt nát vương-vãi và chỉ có thể đếm được gần 30 nấm mộ bằng-phẳng như mặt đất, là nhờ các miếng gỗ tạp cắm làm bia khuất trong bãi cỏ cao đến đầu gối. Cậu bán cà rem lưu ý đi cẩn-thận vì đã có lần người bị bắn xong thì vùi ngay xuống, không có quan tài gì cả. Tôi chăm-chú lần từng tấm bia gỗ với sự hồi-hộp giữa hy-vọng và thất-vọng lẫn-lộn cả khi tìm được mộ hay không.

Cuối cùng chúng tôi thấy được mộ linh-mục Trần Học Hiệu, dù hơi khó tìm vì cọc gỗ bị gẫy, tấm bia gỗ rộng khoảng 50 cm rơi lẫn trong cỏ, song nhờ mặt ghi chi tiết bằng sơn đen lại úp sấp trên đất nên còn rõ nét. Tôi thấy lạ khi đọc hai chữ Khánh Hạ viết trước tên cha Hiệu trong hàng chữ đầu. Linh-mục Trần Ngọc Quỳnh xác-nhận Khánh Hạ là tên gọi của linh-mục Trần Học Hiệu lúc nhỏ.

Trên đường về, tôi ghé báo tin cho gia-đình ông Cự, một người em con dì ruột của cha Hiệu sống ở giáo-xứ Bùi-vĩnh. Rồi về lần-lượt đi xác-nhận với Đức Tổng-giám-mục Nguyễn Văn Bình, linh-mục Trần Văn Hiến Minh Đại-diện Bùi-chu, các Bề-trên dòng Mân-côi Chí-hoà, Trinh Vương Bùi-môn, linh-mục Trần Thái Hiệp Giám-đốc Đại-chủng-viện…Lễ phát-tang được cử-hành tại nhà nguyện Mai-khôi của Dòng Đa-minh chi Lyon. Linh-mục Phạm Long Tiên mở đầu Thánh-lễ với câu…trong Thánh-lễ hôm nay, xin cộng-đoàn đặc-biệt nhớ đến linh mục Gio-an Bao-ti-xi-ta Trần Học Hiệu, người đã nhận một cái chết đau thương….

Lợi-dụng thời-gian chính-quyền đang có chương-trình giải-toả các khu nghĩa trang, gia-đình ông Cự đứng xin cải-táng. Lá đơn cần sáu con dấu, năm con dấu thuộc các ban cấp xã, ấp…cứ thấy chữ “đơn xin cải táng” thì đóng dấu, nhưng lên tới Huyện Thống-nhất, là nơi đã thi-hành án thì chúng tôi ngại ba chữ Trần Học Hiệu không xong, cho nên phải dùng tiền cho xong. Thực ra, nếu không xin giấy thì cũng có thể được vì nơi đó hoang-vắng không ai để ý, song chỉ sợ có khi đang làm thì chính-quyền tỉnh Đồng-nai lại đem ngưòi đến bắn, sẽ phiền-phức.

Hôm cải-táng về đất-thánh xứ Bùi-vĩnh, linh-mục Mat-thêu Bùi Tiến San vốn trước là học trò của cha Hiệu ở chủng-viện, đã dành cho mọi sự dễ-dàng, song chỉ khuyên vì còn mới quá nên bia mộ để đơn giản là cố “Gio-an Bao-ti-xi-ta HIEU”. Tôi cũng liên-lạc được với gia-đình ông giáo Nhâm, ở gần Trảng-bom là nơi đã giúp linh-mục Trần Học Hiệu thời-gian trong rừng và cả nhà họ sau đó đều bị bắt, ông giáo suýt bị tử hình, bà giáo và cô con gái cũng đi tù ít năm. Thêm vài người nữa tôi được biết như linh-mục Đa-minh Trần Văn Nguyện, phó xứ Tân-mai bị 20 năm tù, chỉ vì liên-lạc về nhu-cầu phụng-vụ của một linh-mục như đem rượu và bánh lễ vào cho cha Hiệu; ông Trần Trọng Thi trước 1975 là nhân-viên hành-chính của trường Nguyễn Bá Tòng, đã bị bắt giam ở Chí-hoà vì lý-do “đồng bọn” của linh-mục Trần Học Hiệu, nhưng không đưa ra tòa, hỏi cung và điều-tra chán thì thả về.

Xin được trân-trọng cùng tưởng-niệm nơi đây.

Đang giữa bữa ăn trưa trong ngày bốc mộ linh-mục Trần Học Hiệu, ông Cự đem túi đựng các thứ còn gom được trong quan-tài như sách đọc thiêng-liêng, tràng hạt, bàn chải đánh răng, hai vòng dây trói ở cổ tay và đôi dép nhựa đã đứt quai hậu…cho mọi người xem. Khi vừa nhìn thấy đôi dép cao su, bà vợ ông giáo đánh rơi bát đũa xuống đất và ôm mặt khóc vì chính bà mua gửi vào trong rừng.

Năm 1985, một linh-mục – tạm nhớ tên là cha Nhung – ở Long-khánh, tìm đến nhà, giao cho tôi ba bản nhạc viết tay do chính ông ghi lại. Ông cho biết, cũng bị đi tù 20 năm vì lý-do tôn-giáo và bị biệt-giam cạnh phòng giam cha Hiệu. Hai người dùng cách gõ “morse” mà nhận ra nhau là linh-mục. Cha Hiệu đã viết ba bản nhạc… Ôi Giê-su, Tù vực thẳm hư vô và Tâm-ca Mai-đệ-liên…rồi cũng gõ “morse” “hát” cho ông nghe hàng ngày để góp ý, thêm lời và hai người cứ hát đi hát lại. Rồi cha Hiệu nhờ ông khi nào được về thì giao lại cho tôi, vì cha nói không còn nhớ được địa-chỉ nào nữa. Thấy vậy, cha Nhung cố gắng ghi từng chi-tiết về cả nhạc và lời vào đầu. Sau khi linh-mục Trần Học Hiệu bị đem đi xử bắn thì ngày nào cha Nhung cũng hát nhẩm trong đầu như một cách dâng lời cầu nguyện cho cha Hiệu. Khi được tha, ông vội-vã viết ngay xuống giấy để khỏi quên, chờ tìm cách liên-lạc với tôi.

Hai đoạn trích-dẫn ngay ở đầu bài viết này là hai phiên-khúc của bài hát Ôi Giê-su và Từ vực thẳm hư-vô mà khi Đức Tổng-giám-mục Ngô Quang Kiệt đọc xong đã chia sẻ….thật là hào hùng. Một trái tim lớn đau cái đau của cả dân tộc. Bài “Từ vực thẳm hư vô” rất tha thiết. Đúng tấm lòng bị vò xé của ngài… Một trái tim âm thầm với một tình yêu lớn lao.

Trước khi chấm hết bài viết về linh-mục Trần Học Hiệu với những gì còn lưu lại nơi cõi đời này, tôi không thể không tỏ-bày đôi dòng cảm-nghĩ của một người con thiêng-liêng trong tương-quan tâm-linh …Lại thêm một ngày giỗ của cha đến trong khi con vẫn chưa quen được với những cảm-nghĩ rằng cha đã thực sự khuất vắng hẳn trong cuộc đời này. Là linh-mục bên cạnh đời sống tâm-linh của tín-hữu nói chung và của đám anh em chúng con cách riêng, cha đã thể-hiện được những gì của vai trò chứng-nhân cần có. Để ngay lúc này con có thể thưa với cha rằng trong cuộc hành-trình của chúng con, đôi lúc con cũng cảm thấy hun-hút, vô-định và mịt-mờ; nhưng hình ảnh và lời nói của cha đã nói tiếp với con về một cái gì không phải là hư-vô vì con nghĩ cha vẫn tiếp-tục đi về hướng trước mặt trên cùng con đường ấy…

Israel: Một đất nước thần kỳ

                   Israel: Một đất nước thần kỳ

Một ngày thôi, chúng ta hãy tạm quên đi khung trời tự do thiên đường của Mỹ và hãy thôi thèm thuồng sự hào nhoáng ngọt ngào từ các bộ phim Hàn.  Một ngày thôi, chúng ta hãy thôi ca tụng nếp sống văn hóa của Nhật và quên luôn gã khổng lồ đáng ghét Trung Cộng đang lặn ngụp ngoài biển đông.  Một ngày thôi, hãy quên những đất nước đang sôi sục say men chiến thắng mùa world cup và thậm chí hãy tạm lơ luôn cả đất nước Việt Nam máu thịt mà ta đang ngự trị.  Chỉ một ngày thôi, hãy nhìn sang một đất nước khác, một đất nước nghe tên đã thấy nhàm chán và xa xôi, một đất nước chỉ có chiến tranh và sa mạc nóng bỏng trải dài tít tắp. Một đất nước nhỏ bé và chẳng có mấy tin tức hay ho về nó trên báo đài nhưng phần lớn sự kiện quan trọng trên thế giới đều có liên quan đến những con người xuất thân từ đó.   Đó là đất nước Israel, nơi con người đã chiến thắng thiên nhiên và theo tôi, chiến thắng cả thế giới về tính cần cù, bền bỉ, vượt khó, khả năng sáng tạo và không bao giờ dừng lại.  Những thông tin sau đều là tin tổng hợp nên chắc nhiều bạn biết rồi nhưng tôi tin cũng rất nhiều người chưa hề được biết, và chắc chắn, sẽ có điều khiến bạn phải ngạc nhiên về đất nước này.

 Một nền nông nghiệp thần kỳ

  Israel Có diện tích rất nhỏ, trên 20.000 km2, tức là chỉ lớn hơn tỉnh Nghệ An của Việt Nam chút ít. Tuy nhiên Israel lại được mệnh danh là “thung lũng silicon” của thế giới trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghệ nước. Chỉ với 2,5% dân số làm nông nghiệp nhưng mỗi năm Israel xuất khẩu chừng 3 tỷ USD nông sản, là một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới. Ít ai biết rằng, những sản phẩm rau quả từ Arava – một trong những nơi khô cằn nhất thế giới – lại chiếm tới trên 60% tổng sản lượng xuất khẩu rau của Israel và 10% tổng sản lượng hoa xuất khẩu.

  Thung lũng Arava. Địa danh khá lạ tai đối với khách du lịch, nhưng lại là cái tên rất tự hào của mọi người dân Israel vì tại đây, phép màu đã làm nở hoa giữa sa mạc – những phép màu thực sự của khoa học công nghệ. Là phần khô hạn nhất của hoang mạc Negev với lượng mưa bình quân chỉ từ 20-50mm mỗi năm (Việt Nam là 1500mm/năm). Độ ẩm cực thấp và sự chênh lệch nhiệt độ khiến đá cũng phải vỡ vụn mà khắp hoang mạc phủ một lớp đá vụn và cát đặc thù sa mạc. Arava là một trong những vùng đất khô cằn nhất thế giới. Cảm giác đầu tiên khi đặt chân đến vùng đất này, là miền Trung Việt Nam với những dải đất bạc màu và đồi cát, hóa ra vẫn còn là miền đất trù phú!

Ấy thế mà nơi đây mọc nên những nông trại trồng đủ loại cây từ rau củ, cây ăn trái đến hoa hòe. Tất cả đều xanh tốt và cho sản lượng không nơi nào sánh được. Không từ nào có thể diễn tả đúng hơn về một “vườn địa đàng” đã được tạo ra giữa thung lũng Arava, đúng như Tổng thống Israel Shimon Peres đã thốt lên khi đến thăm nơi này năm 2009: “Hãy đến và thấy chính con người cũng có thể tạo nên vườn địa đàng! (Garden of Eden)” Ông Ezra Ravins, người đứng đầu cộng đồng hơn 3.000 người tại khu vực này cho biết, từ một nhóm thanh niên Israel “bồng bột”, mang theo bánh mì và nước quyết định định cư tại thung lũng Arava năm 1959, cả một cộng đồng đã được xây dựng với nhiều thế hệ, tạo thành một trong những trung tâm nông nghiệp lớn nhất cả nước. “Khi những người đầu tiên đến đây, quyết định đó được xem là “điên rồ” nhất và chính những nhà khoa học cũng khẳng định con người không thể sống được ở vùng đất này.”

 Ấy vậy mà họ đã làm được, không chỉ làm được, mà còn tuyệt đối thành công, trồng trọt mà không cần đất và không cần nhiều nước, thoạt nghe cứ như chuyện của thế giới nào đó không phải trái đất này.

 Nhưng không, đó là sự thật, đó là Israel!

Thần kỳ cách họ trữ nước và sử dụng nước

Thiên đường nông nghiệp tại Arava gắn liền với một công trình xứng đáng ghi nhận như một kỳ công mà con người đã tạo ra giữa sa mạc: Bể chứa nước khổng lồ mang tên Shizaf. Với khả năng dự trữ 150.000 m3 nước sạch, bể chứa này có nhiệm vụ cấp nước sạch cho sinh hoạt và tưới tiêu. Bể được thiết kế để tích trữ nước từ giếng khoan vào thời điểm nhu cầu giảm.  Bể có đáy chìm 3,5 m dưới mặt sa mạc và chia thành nhiều lớp khác nhau, tạo nên bề mặt nổi 10m. Một khối lượng công việc khổng lồ được thực hiện để đào bỏ 320.000 m3 đá và đất sa mạc. Độ sâu của giếng khoan lên tới 1,5 km mới tới túi nước ngầm. Kỹ thuật thiết kế đặc biệt của bể chống lại chế độ bốc hơi tự nhiên cũng như thu gom nước một cách hoàn hảo.

Điều kiện tự nhiên của Israel đặc biệt khô hạn với lượng mưa rất thấp và thay đổi theo từng mùa: Phía Bắc quốc gia này lượng mưa khoảng 800mm/năm và ở phía Nam chỉ khoảng 50 mm/năm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 11 đến khoảng tháng 3 năm sau và lượng bốc hơi tự nhiên lên tới 1.900-2.600 mm/năm. Không có gì ngạc nhiên khi nước ngọt ở Israel được coi như vàng trắng và được quản lý một cách chặt chẽ hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới. Chính phủ xây dựng hẳn một bộ luật để đo lường mức tiêu thụ nước, kiểm soát việc khai thác nước ngầm, ngăn chặn ô nhiễm nước. Công nghệ xử lý nước của Israel thuộc hàng hiện đại nhất thế giới với tỷ lệ tái chế tới 75%.

 Dọc ngang Israel, ở những thành phố lớn hay những vùng nông thôn, hoang mạc, hệ thống tưới nước hoàn hảo đến mức gần như không bỏ phí một giọt nước nào. Đại diện công ty công nghệ tưới Naan DanJain cho biết 75% hệ thống nước nông nghiệp của Israel áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, 25% còn lại tưới nước bằng ống dẫn và vòi tưới các loại phun mưa nhỏ, không hề có chế độ tưới ngập nước. Israel cũng là quốc gia phát minh ra hệ thống tưới nước nhỏ giọt điều khiển bằng máy tính, kết hợp với các thiết bị kiểm soát độ ẩm trong đất, có thể tính toán chính xác nhu cầu nước và tiết kiệm tối đa.

 Tại công ty Netafim, người viết được chứng kiến những thành quả đáng ngạc nhiên về hiệu quả của việc sử dụng công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel trên khắp các dự án ở những vùng khô hạn trên thế giới. Hệ thống ống dẫn nước như những mao mạch dẫn tới từng gốc cây, được vận hành chính xác bằng công nghệ cao cũng như sử dụng tối ưu năng lượng mặt trời. “Đạt năng suất cao hơn với chi phí thấp hơn” (grow more with less) là khẩu hiện của Netafim và có lẽ cũng là hướng đi của phần còn lại của thế giới, khi nguồn tài nguyên nước đang ngày càng suy giảm.

  Israel giải quyết được sự thiếu nước, biến nước thành tài sản, đang dẫn đầu thế giới về tái chế nước thải, hơn 70% lượng nước được tái chế, gấp 3 lần quốc gia đứng thứ hai Tây Ban Nha.

 “Cây đũa thần” khoa học

 Một con số dễ hình dung về năng lực của “cây đũa thần’’ khoa học. Năm 1950, một nông dân Israel cung cấp thực phẩm đủ cho 17 người, hiện đã là 90 người. Một hecta đất hiện cho 3 triệu bông hồng, hay 500 tấn cà chua/vụ. Một con bò cho tới 11 tấn sữa/năm – mức năng suất mà không một nước nào trên thế giới có được.  Những thực tế tại công ty NaanDanJain đã đem lại một bài học khác về sự phối hợp: nhà khoa học, nhà doanh nghiệp có sự tách biệt khó phân định với nhà nông.  Đa phần các nước nhập khẩu công nghệ của NaanDanJain chỉ biết rằng đây là một trong những công ty hàng đầu Israel chuyên về giải pháp tưới, hệ thống công nghệ kiểm soát khí hậu nhà kính, mà không biết rằng chính công ty cũng đang sở hữu những đồn điền rộng lớn, nơi chính những tiến bộ khoa học của công ty được triển khai đầu tiên, nhằm đảm bảo sự thích ứng hoàn hảo nhất đối với nhu cầu của người trồng trọt.

 Một trong những lợi thế của sự phối hợp giữa khoa học và nhà nông tại Israel là tính cộng đồng rất cao. Nhà khoa học rất gần gũi với đồng ruộng và nhiều trong số họ cũng chính là nông dân hoặc giữ vai trò tư vấn trực tiếp cho nông dân. Các trung tâm nông nghiệp lớn, thậm chí cả các “làng nông nghiệp” (từ địa phương là kibbutz) đều có sự xuất hiện của các phòng nghiên cứu hoặc đại diện của các viện khoa học. Những giống cây mới hay các nghiên cứu mới về hệ thống nhà kính trước hết được thí nghiệm, kế đó sẽ áp dụng thử nghiệm với một số nhỏ hộ nông dân bằng nguồn vốn hỗ trợ của hệ thống tài chính vi mô hoặc từ chính quỹ của viện thí nghiệm, trước khi triển khai thương mại đại trà.

 Tại Israel phần lớn các nhà khoa học nông nghiệp làm cho chính phủ. Có tới hơn 60% các công trình nghiên cứu nông nghiệp là của Cơ quan Nghiên cứu Nông nghiệp hay trung tâm Volcani thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.  Israel cũng là nước có mức đầu tư cho nghiên cứu thuộc loại lớn nhất thế giới với gần 100 triệu USD mỗi năm, chiếm khoảng 3% tổng sản lượng nông nghiệp quốc gia. Nguồn lực này đến từ ngân sách và cộng động (50 triệu USD/năm), các hợp tác quốc gia song phương (12 triệu USD/năm), các tổ chức nông nghiệp cấp địa phương và quốc gia (6 triệu USD/năm) thông qua nguồn lợi từ thu hoạch cây trồng. Khu vực tư nhân cũng đóng góp khoảng 25 triệu USD hàng năm.

    Nguồn lực này được cung cấp trực tiếp cho việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm ứng dụng và các nhà đầu tư giữ bản quyền sáng chế. Phần lớn các nghiên cứu đều do những công ty sản xuất sản phẩm đầu tư, như hệ thống tưới tiêu, phân bón, nhà kính… triển khai. Sự phối hợp giữa kinh doanh và nghiên cứu đảm bảo cho các nhà khoa học một mức ưu đãi đủ để phát huy tối đa năng lực hoạt động chuyên môn. Thậm chí các chuyện các chuyên gia nông nghiệp đi tư vấn trực tiếp cho các nông trại là điều không hiếm.

 Việc chăn nuôi tại Israel:

 Nuôi cá trên sa mạc

 Khi đào giếng sâu gần nửa dặm, người Israel phát hiện nguồn nước ấm mặn. Một giáo sư đại học chỉ ra đây là nguồn nước hoàn hảo để nuôi cá nước ấm. Các nông trang bơm nước nóng 37 độ vào trong bể, nuôi cá thương mại. Nước chứa chất thải của cá được tưới cho rau, cây ăn quả. Nhờ vậy, nước được sử dụng tới 2 lần thay vì dùng 1 lần rồi bỏ.

 AfiMilk chính là công ty đã mang lại cho Israel thương hiệu độc tôn trong ngành chăn nuôi bò sữa, đặc biệt là ở khu vực châu Á, nơi mà thói quen uống sữa đang được hình thành. Những công nghệ của AfiMilk đã và đang giúp người nông dân chăn nuôi bò sữa kiểm soát được loại sữa đang được sản xuất từ trang trại của mình; cũng như kiểm soát được liệu mỗi con bò đã có đủ dinh dưỡng không, sữa bò có đủ lượng protein tiêu chuẩn không, tình trạng sức khỏe của bò ra sao, mỗi con bò đang cần được chăm sóc thế nào… Hệ thống giám sát thời gian thực do AfiMilk sản xuất đã giúp người nông dân đảm bảo duy trì chất lượng và sản lượng, đồng thời đáp ứng những nhu cầu cơ bản của đàn bò sữa.

 Ở trang trại nuôi bò sữa của Kibbutz Mashabbe Sade thuộc vùng Negev, bò được huấn luyện rất kỹ, cứ đến giờ là tự tìm đường về trạm cho sữa, thậm chí không cần người dẫn dắt. Họ gọi những con bò này là “bò có giáo dục”.

 Tiện nghi cho chó

Israel đã phát triển một loạt các sáng tạo với những sản phẩm out of the box (những sản phẩm sáng tạo không gò bó theo khuôn phép) cho những người nuôi chó trên toàn thế giới, từ DogTV (kênh truyền hình dành cho chó) đến pooper-scooper (một thiết bị mang tính cách mạng giúp bạn tự động dọn sạch phân chó – đã có trên thị trường).

 Khi bạn đi ra ngoài và để chú chó của mình ở nhà một mình, chúng sẽ không còn cảm thấy chán nhờ vào kênh DogTV – kênh truyền hình dành cho những chú chó đã đạt những thành công phi thường của Israel.

 Và khi bạn lái xe, một việc không ai muốn làm đó là dọn phân cho những chú chó, sẽ trở nên dễ dàng với thiết bị của Paulee CleanTec: biến chất thải thành chất không màu, không mùi, bột vô hại chỉ với một nút nhấn.

 Dẫn đầu thế giới về công nghệ sạch

 Họ được xếp hạng cao nhất với chỉ số 4,34, tiếp theo là Phần Lan 4,04, Mỹ 3,67, Thụy Điển 3,55 và Đan Mạch 3,45. Trong vòng 3 năm qua, Israel có 19 công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ sạch được lọt vào danh sách rút gọn của GCII. “Israel đứng đầu chỉ số năm 2014. Ngoài bản năng sinh tồn, đất nước này còn tạo ra nền văn hóa, giáo dục và những nền tảng cần thiết khác để nuôi dưỡng sự sáng tạo”, báo cáo cho biết.

Những điều hay ho về con người, tính cách, bản sắc văn hóa và nền kinh tế:

  Kinh doanh từ niềm đam mê sáng tạo nên cái mới, chứ không hẳn vì tiền

  1. Ze’ev Ganor, một giảng viên cao cấp tại Viện Công nghệ Technion-Israel và đồng sáng lập của Urginea Ventures, người đã phân tích dữ liệu về các doanh nhân nối tiếp ở Israel từ năm 2005 nói rằng: Hiện tượng một doanh nhân thành lập nhiều công ty rất phổ biến ở Israel. Khoảng 10% doanh nhân Israel có ít nhất hai công ty trở lên, gấp đôi con số 5% ở Mỹ. Tương tự như vậy, có khoảng 7,5% các doanh nhân Israel khởi nghiệp từ ba công ty hoặc nhiều hơn, trong khi chỉ có 3,75% các doanh nhân Mỹ làm như vậy.Trên sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ, số doanh nghiệp Israel nhiều hơn cả 4 nước Nhật, Hàn, Trung Cộng, và Singapore cộng lại. Không ít những ông chủ khổng lồ nhất thế giới có mặt trên đất nước này đến từ Mỹ, Ấn độ, Đức… Xuất khẩu hướng vào thị trường cao cấp và sản phẩm mà Israel thu lợi nhuận cao nhất là bán các ý tưởng, được kết hợp chặt chẽ từ hai yếu tố sáng tạo và táo bạo. Và hình như, đây chính là tinh thần Do thái.Israel có tỷ lệ doanh nhân bình quân đầu người cao hơn bất kì một quốc gia nào khác. Vậy đâu là những yếu tố thúc đẩy sự thành công của họ?

  “Tôi cho rằng giá trị chung cơ bản mà những người liên tục tạo ra các công ty khởi nghiệp nằm ở sự đam mê tạo ra giá trị mới chứ không phải đam mê kiếm tiền. Kiếm tiền chỉ là một yếu tố phụ, không phải là mục tiêu phấn đấu của những doanh nhân tiếp nối ở Israel.” GS. Amnon Shashua của Đại học Hebrew, người sáng lập ra các công ty Cognitens, OrCam và Mobileye nói.

 Hay như theo cách mà ông Wurtman giải thích thêm về triết lý kinh doanh của họ: “Điều khiến bạn thích thú không phải ở việc tạo ra của cải, mà là tạo ra những cái mới.” “Đặc điểm của những doanh nhân tiếp nối là họ không bao giờ ngừng liên kết những ý tưởng mới vào doanh nghiệp mới và họ coi trọng cuộc hành trình của mình hơn là cái đích. Theo tôi, đây là một đặc điểm mang tính dân tộc, vì bản thân tôi đã luôn xem những gì tôi làm như là một phần của cuộc hành trình để phục vụ nhà nước Do Thái. Thành công, theo tôi, được đo bởi số lượng việc làm có chất lượng được tạo ra.” Wurtman khẳng định.

 Chuyện nói và chuyện làm. Khi người Israel có ý tưởng, anh ta sẽ triển khai nó ngay trong tuần. Tổng thống S. Peres, người đã sang Việt Nam, nói thế này: diễn văn rất hay, nhưng anh định làm gì tiếp theo?. Tỷ phú hàng đầu Israel, ông Stef Wertheimer, lời khuyên đầu tiên với người Việt cũng là, nói ít thôi làm nhiều lên. Ông là nhà sản xuất vũ khí và chủ một khu công nghệ còn đẹp hơn bất cứ công viên giải trí nào ở Việt Nam. Điều này hơi ngược với triết lý của ta khi bắt đầu kinh doanh cần phải có kinh nghiệm. Người Israel không cần kinh nghiệm, họ cần ý tưởng nhiều hơn, và sẵn sàng thất bại để học hỏi từ thất bại đó.

  Người Israel mê sáng tạo, và không sợ trí tưởng tượng. Họ biết kinh nghiệm là quý báu, nhưng kinh nghiệm dễ thành lối mòn. Họ không ngại thay đổi, luôn hướng về phía trước, không nằm im gặm nhấm thành công quá khứ. Họ biết “nỗi sợ hãi mất mát luôn lớn hơn niềm hy vọng nhận được” để bỏ đi cái cũ không còn phù hợp, kiến tạo cái mới cho hiện tại và tương lai. Trong những buổi gặp mặt cựu binh hay bạn học, họ ít hồi tưởng về quá khứ huy hoàng, mà hướng về tương lai phía trước. Những đơn vị thành công thì thuyết trình về công ty để người khác được chia sẻ kinh nghiệm. Họ xây dựng mạng luới làm ăn, kiến tạo những cơ hội kinh doanh.

 Tiếp nhận sự khác biệt và đa dạng trong cộng đồng

  Một trong những giá trị của Israel đó là lịch sử dân tộc. Chỉ với khoảng 8 triệu dân nhưng lại có nguồn gốc từ 70 nước trên toàn thế giới. Họ là quốc gia duy nhất thực thi luật di trú mà bất cứ người Do thái nào đặt chân lên Israel, ngay lập tức trở thành người Israel. Họ biết chiêu dụ những người Israel sống ở nước ngoài về phục vụ tổ quốc, trọng dụng họ và không bao giờ bỏ rơi họ. Israel thực sự là một đất nước đa dạng về văn hóa, sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc.   Vì là nạn nhân của chủ nghĩa bài Do thái, họ thấu hiểu việc tôn trọng sự đa dạng quan trọng như thế nào. Chính vì vậy, sự khác biệt không cản trở họ, mà ngược lại là nguồn gốc của sự sáng tạo. Đây chính là cốt lõi khởi tạo mọi thành công của người Israel.

Quá trình tuyển chọn lãnh đạo của Israel dựa trên tài năng chứ không phải dựa trên mối quen biết hay sức mạnh tài chính. Quá trình tuyển chọn rất minh bạch và dân chủ. Cộng với văn hóa tranh luận và đặt câu hỏi “tại sao ông là sếp của tôi; tại sao tôi không phải là sếp của ông?” đầy thách thức, làm cho người sếp không đủ tài năng sẽ phải nhường chỗ cho người khác. Quá trình này giúp tìm ra được người lãnh đạo tốt nhất cho công ty, tập đoàn hay chính phủ. Khi có lãnh đạo giỏi, việc trao quyền cho cấp dưới được thực hiện dễ dàng hơn, các thông tin, ý tưởng, giải pháp được đến từ nhiều người hơn là chỉ một số người có trách nhiệm.

 “Mục tiêu của nhà lãnh đạo là tối đa hóa sự chịu đựng – trong khi khuyến khích sự bất đồng chính kiến.” Là một phương châm lãnh đạo rất sâu sắc. Tinh thần này có nghĩa, lãnh đạo phải chịu được những điều “chướng tai gai mắt”, những khác biệt thậm chí bất đồng, thì nhân viên mới thỏa sức sáng tạo. Còn nhân viên, phải phát huy tính tự chủ độc lập của mình, không sợ khác biệt về nhận định hay giải pháp, vì đó chính là khởi nguồn của sáng tạo. Văn hóa này đã nuôi dưỡng tinh thần chiến đấu và hướng tới cái mới hơn, tốt hơn và hiệu quả hơn.

Ở Israel, các sinh viên đại học nói chuyện với giảng viên, nhân viên thách thức ông chủ, binh lính chất vấn sĩ quan chỉ huy, thư ký sửa lưng các bộ trưởng, đây không phải là sự cả gan, mà là điều hết sức bình thường. Ai mới tới Israel thường có cảm giác người bản xứ rất thô lỗ, thẳng thắn quá trớn. Nhưng nếu hiểu được bản chất và văn hóa của người Israel thì ta sẽ cảm thấy thoải mái, xem đây là biểu hiện của sự chân thành.

 Hiện tượng cấp dưới có quyền đưa ra quyết định vượt cấp trong quân đội Israel là kết quả của nhu cầu thực tế cũng như bản chất của lực lượng này. Việc quân đội Israel có ít chỉ huy, đồng nghĩa với việc có nhiều sáng kiến hơn đến từ binh lính cấp dưới. Mức độ trao quyền hạn vượt cấp trong quân đội Israel đã làm lãnh đạo các quốc gia ngạc nhiên. 

 Giá trị của binh lính Israel không phụ thuộc quân hàm, mà được quyết định bởi năng lực của họ. Ở đây, bí quyết lãnh đạo là niềm tin của binh lính đối với chỉ huy của mình. Nếu không có niềm tin, binh lính sẽ không bao giờ tuân phục. Trong doanh trại quân đội Israel, các viên tướng, sĩ quan và binh lính thường ngồi quây quần bên nhau, ít kiểu cách nhưng thân thiện và bao dung hơn. Đó là tinh thần Chutzpah trong quân đội. Điều này lý giải tại sao Shvat Shaket, một người đã sống nhiều năm trong quân đội, có thể giảng cho chủ tịch PayPal về sự khác nhau giữa “người tốt và kẻ xấu” trên internet. Hay nhóm kỹ sư Israel của Intel thực hiện cuộc cách mạng lật đổ kiến trúc cơ bản của sản phẩm của chính công ty mình. 

 Tinh thần chiến đấu của người Israel không chỉ được thể hiện trên chiến trường, bàn ngoại giao, mà còn thấm đẫm vào công việc kinh doanh của họ. Khi bị ban lãnh đạo Intel từ chối giải pháp làm nguội con chíp, nhóm làm việc Israel không chịu lùi bước. Họ kiên trì thuyết phục, cải tiến và chứng minh viễn kiến và giải pháp của họ là đúng, tạo bước ngoặt cho Intel và thế giới khi đưa ra các sản phẩm chip mới. Trong những công ty khởi nghiệp, khi thất bại họ “thất bại có tính xây dựng” hay “thất bại thông minh”, cộng với tính khoan dung của người Israel, nên những người thất bại được trao cơ hội làm lại. Theo thống kê, những người đã thất bại lần đầu mà khởi nghiệp lại, tỉ lệ thành công của họ sẽ tăng lên 20%. Đây chính là lý do góp phần để Israel thành một quốc gia khởi nghiệp.

Mô hình kinh tế Kibbutz

 Về kinh tế, mô hình kinh tế Kibbutz được hình thành từ những năm 1960 và tới nay vẫn còn duy trì hiệu quả. Đây là mô hình tổ chức nông-công nghiệp nông thôn độc nhất vô nhị trên thế giới chỉ có tại Israel. Hiện nay trên toàn Israel có khoảng 270 Kibbutz, trung bình mỗi Kibbutz này có trên dưới 300 xã viên hoạt động tương tự như nhau, sở hữu những cánh đồng trồng cây nông nghiệp, trại chăn nuôi gia súc, các nhà máy chế biến sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp nhẹ như sản xuất bột giặt, đồng hồ đo nước xuất khẩu, van và khớp nối ống nước… Mọi thành viên của gia đình các xã viên được cung cấp miễn phí hai bữa ăn sáng và trưa tại một bếp ăn tập thể giữa làng. Riêng bữa tối các gia đình tổ chức ăn ở nhà để cho gắn bó tình cảm giữa các thành viên trong gia đình mình.

  Buổi sáng, các xã viên và trẻ em trong làng lũ lượt kéo đến các nhà ăn tập thể dùng bữa sáng. Nhà ăn được tổ chức hiện đại và sang trọng với đầy đủ các món ăn cao cấp không khác mấy so với các phòng ăn ở khách sạn 5 sao. Sau khi ăn xong, mỗi người tự mang bát đĩa, khay, thìa đến những chỗ quy định để “tổ bếp núc” rửa. Sau đó, trẻ em thì đến trường, người lớn đến nơi làm việc. Khoảng 12h30 trưa, trẻ em đi thẳng từ trường học tới nhà ăn, cùng người lớn dùng bữa trưa. Các gia đình không nhất thiết ngồi ăn cùng bàn, họ thoải mái tự chọn món mình thích và tùy chọn chỗ ngồi trong bữa ăn, không hạn chế số lượng và hoàn toàn theo nhu cầu.

 Ngoài ra còn những điều cực kỳ lý thú, việc giặt giũ của mỗi gia đình được phụ trách bởi một tổ có tên “tổ giặt giũ” đảm nhiệm. Họ phân loại quần áo, dùng máy móc giặt sấy và trả về cho mỗi gia đình theo số thứ tự được đánh dấu của mỗi nhà. Các xã viên cũng không cần mua ô tô khi các Kibbutz luôn có sẵn khoảng 60 ô tô con các loại để tại bãi đậu xe có người trông coi. Ai cần đi xe chỉ việc chọn xe, đăng kí trên website và tới bãi để lấy xe chạy thoải mái. Ngoài ra, các khoản như xăng, sửa chữa và các chi phí khác hoàn toàn do Kibbutz chịu trách nhiệm. Nếu thích một loại xe nào đó khác, chỉ việc yêu cầu, Kibbutz sẽ chịu trách nhiệm đi thuê xe cho bạn, và đương nhiên, hoàn toàn miễn phí, Kibbutz sẽ thanh toán cho bạn.

  Kibbutz còn xây dựng và cấp nhà miễn phí cho các gia đình xã viên. Khi cần mở rộng hoặc muốn cải tạo theo ý mình, chủ nhà trao đổi với ban quản trị, sau đó sẽ có một đội xây dựng đến thực hiện theo yêu cầu của chủ nhà, Kibbutz thanh toán chi phí toàn bộ, bao gồm cả tiền điện, nước, gas sinh hoạt trong các gia đình. Mỗi căn nhà này ở Mashabbe Sade là một biệt thự cao cấp, đầy đủ tiện nghi.

 Ngày Shabbat bình yên

 Chiều thứ sáu, đường phố ở Haifa vắng tanh, mọi người đều về nhà để chuẩn bị một bữa tối linh đình cho gia đình. Các cửa hàng, siêu thị, công sở đều đóng cửa, thậm chí các phương tiện giao thông công cộng cũng ngưng hoạt động. Người lần đầu đến Israel đúng những ngày này sẽ cảm thấy bất ngờ và hụt hẫng. Muốn mua sắm hay đi chơi đều phải chuẩn bị từ đầu hoặc giữa tuần. Nếu chẳng may phải đi đâu, phương tiện công cộng duy nhất là taxi với giá 5 shekel (tiền Israel, bằng khoảng 5.000 đồng VN).Một người dân tên Roi Ariel cho biết, theo phong tục, người Israel thường ở nhà nghỉ ngơi, thư giãn, đọc sách, đi thăm người thân hoặc bạn bè, đi du lịch nhân ngày Shabbat. Cánh thanh niên tận dụng những ngày Shabbat để đi ra biển hoặc khám phá những thành phố mới. Roi Ariel đang trong thời gian quân ngũ và phục vụ trong hải quân. Tham gia quân đội cũng là cách các chàng trai, cô gái xứ sở này có được một khoản thu kha khá. Sau 3 năm tại ngũ, họ sẽ dùng số tiền tiết kiệm được để đi du lịch hoặc đăng ký học tại một trường đại học nào đó. Và trường đại học tại Israel thì có chất lượng không thua kém bất cứ đại học danh tiếng nào trên thế giới.

 Theo lời Erik – một người dân Israel thì, đàn ông Israel không có thói quen tụ tập tại các quán bar sau giờ làm việc, trừ những ngày cuối tuần. Hầu hết đều trở về nhà,

giúp đỡ vợ những công việc gia đình, xem tivi, đọc sách và ngủ. Làm việc quên giờ giấc cũng là một đặc tính nữa của người Israel. Chắt chiu trong cuộc sống thường ngày, nhưng bù lại họ có niềm đam mê trong việc du lịch và khám phá những vùng đất khác. Chả thế mà người Israel được xem là dân tộc đi du lịch nhiều nhất thế giới.

  Tạm kết

  Quả thật là lý thú và kỳ diệu, đất nước này, những con người nơi đây. Họ có xứng đáng cho chúng ta học hỏi, từ công việc nông nghiệp, cách dụng người tài, khả năng sáng tạo tuyệt đỉnh cho đến thói quen sinh hoạt thường ngày? Thật đáng khâm phục đúng không?

 Con người Israel với khả năng kinh doanh tuyệt vời và những vĩ nhân ảnh hưởng lớn đến thế giới thì chắc hẳn bạn nào yêu thích kinh doanh và từng đọc các cuốn sách “Bí mật người Do Thái dạy con làm giàu, Tủ sách của người Do Thái…” đều được biết. Tuy nhiên, thật không thể ngờ đi sâu vào đất nước ấy lại có nhiều điều thú vị đến vậy. Thiết nghĩ, Việt Nam ta cũng là một quốc gia nông nghiệp thì ta nên học hỏi đất nước này. Ta có một nền tảng tốt hơn, tại sao ta lại không thể làm tốt hơn? Phải chăng cũng vì cái nền tảng tốt đẹp sẵn có mà ta không còn cần phấn đấu và sáng tạo nữa?

From: Do Tan Hung & KimBằng Nguyễn

Phân Ưu Bác Sĩ Phùng Văn Hạnh

Được tin Bác sĩ Phero PHÙNG VĂN HẠNH

được Chúa gọi về hôm nay 07-11-2021 tại Montreal, Canada

Hưởng thọ 90 tuổi

CHÚNG CON CẬY VÌ DANH CHÚA NHÂN TỪ, XIN CHO LINH HỒN PHERO ĐƯỢC LÊN CHỐN NGHỈ NGƠI – ĐƯỢC XEM THẤY MẶT ĐỨC CHÚA TRỜI SÁNG LÁNG VÔ CÙNG. AMEN

Ban Biên Tập Kẻ Đi Tìm

Thành Kính Phân Ưu cùng tang quyến

và nguyện xin linh hồn PHERÔ sớm hưởng Hạnh

Phúc Thiên Đàng Vĩnh Cửu

HÁO HỨC

Lê Vi

HÁO HỨC

Nhà cai trị ít nhiều đã thành công trong việc dùng phương tiện báo chí truyền thông tâng bốc đường sắt Cát Linh-Hà Đông, dụ khị được khá đông dân chúng leo lên nó.

Từ khóa của 2 ngày qua là “háo hức”, chưa bao giờ báo chí tivi thể hiện sự đĩ thõa đến thế.

Dân chúng, những người “háo hức”, tò mò, vô tư mau chóng quên rằng con đường dài 13 cây số ấy đã đội vốn lãng phí gấp 3 lần so với ban đầu, tiêu tốn gần 1 tỉ đô (Mỹ) từ chính tiền thuế mà họ đóng góp, suốt mười mấy năm qua gây quá nhiều tai tiếng. Họ không hiểu rằng nhà cai trị đang xoa tay thở phào khi cho tàu chạy, coi như thế là xong, không bị thiên hạ bới đống rác Cát Linh-Hà Đông ra ngửi nữa.

Tôi nói thật, với kiểu dân háo hức an phận dễ quên như thế, đừng mong gì vào cái gọi “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân”. Chính dân tự tước cái quyền làm chủ của mình, tự cúi đầu trước kẻ cai trị, chứ không có ai bắt ép họ cả, trừ những trường hợp bị lừa. Tham một chút mồi dử “miễn phí” để tiếp tay cho những kẻ chủ trương ngu dân, ngu muội.

Thông cáo (Nguyễn Thông)

Ảnh: Một thủ đô hiện đại thế kỷ 21 mà con tàu trông giống như con sâu, không khác gì con sâu rau muống, xấu đau xấu đớn, còn coi những ảnh chụp trong tàu thấy nó không hơn tàu điện bờ Hồ-Hà Đông từ thời Pháp.

May be an image of train and outdoors

“Trí thức là cục phân” là do Lê nin viết lần đầu vào năm 1919, Mao chỉ là… nói lại!

Trần Bang

“Trí thức là cục phân” là do Lê nin viết lần đầu vào năm 1919, Mao chỉ là… nói lại!

BBC (25/1/2020):

Trong lá thư viết hôm 15/09/1919, Lenin bàn luận với nhà văn Maxim Gorky về nhà thơ Vladimir Korolenko và lên án “giới trí thức tư sản”.

Mở đầu thư, Lenin cập nhật cho Gorky một số tin nhân sự và giải thích việc bắt nhóm Đảng Dân chủ Lập hiến:

Aleksei Maksimovich thân mến,

Tôi gặp Tankov, và trước khi ông ấy tới thăm, và trước khi nhận thư của anh, chúng tôi đã quyết định tại Tseka (Trung ương Đảng) bổ nhiệm Kamenev và Bukharin vào phụ trách công tác đánh giá lại các vụ bắt giữ bọn trí thức tư sản thuộc nhóm Kadet (Constitutional Democrat), rồi đã cho thả ra.

Điều quá rõ ràng là có những sai lầm đã phạm phải trong vụ việc.

Nhưng cũng rất rõ ràng rằng việc bắt nhóm này là cần thiết và đúng đắn.

Khi đọc ý kiến thẳng thắn của anh[Gorky phản đối việc bắt giữ], tôi nhớ lại cuộc tranh luận của chúng ta ở London, Capri và câu nói của anh khi đó để lại ấn tượng rất mạnh với tôi.

“Bọn văn nghệ sĩ chúng tôi là những kẻ vô trách nhiệm.”

Lenin tìm cách lý giải vụ bắt ” vài trăm quý ông Kadet và giả Kadet” là để phòng ngừa một âm mưu như vụ ở pháo đài Krasnaia Gorka, và nói đó chẳng phải là “bi kịch gì cả”.

Tiếp theo, Lenin chuyển sang câu chuyện về tác phẩm Chiến tranh, Đất mẹ và Nhân loại của Vladimir Korolenko (1853-1921) ấn hành tháng 8/1917.

Trong thư, Lenin gọi Korolenko, người Gorky coi như đàn anh, là kẻ “giả Kadet, gần như là một tay Menshevik”(phái chống Bolshevik trong Đảng Xã hội Nga).

Nhân đó, Lenin lên án “trí thức tư sản” và nói với Gorky rằng chỉ có “tri thức của công nông” mới là sức mạnh thực sự:

“Các lực lượng trí thức của công nhân và nông dân đang vươn lên, ngày càng mạnh hơn trong cuộc chiến đấu lật đổ bọn tư sản, những kẻ đồng phạm của chúng -tức là giai cấp có giáo dục, tay sai của đồng vốn tư bản -những kẻ cứ nghĩ chúng là bộ não của dân tộc.

Nhưng trên thực tế, chúng không phải là não, mà là cục phân của dân tộc.”

Lenin kết thúc lá thư bằng lời kêu gọi Gorky hãy bỏ ngay quan hệ trí thức tư sản càng sớm càng tốt.

Coi trí thức tư sản là ‘cục phân’ trong hoàn cảnh nào?

Nước Nga sau Cách mạng 1917 rơi vào cảnh hỗn loạn, nội chiến và bị bao vây.

Korolenko

NGUỒN HÌNH ẢNH, FOTOSOYUZ

Chụp lại hình ảnh,

Vladimir Korolenko sinh ở Zhitomir trong gia đình gốc Ukraine – Ba Lan và qua đời tại quê hương sau thời gian thất vọng nặng nề với hành xử của chính quyền Xô Viết

Tháng 2/1919, Maxim Gorki trong “Lời kêu gọi gửi ra toàn thế giới đã ca ngợi Lenin và cách mạng Nga vốn đang phải đối mặt với nhiều kẻ thù:

“Lãnh đạo chiến dịch chống lại Nga là Woodrow Wilson. Vladimir Lenin đang nắm chắc ngọn đuốc của Cách mạng Nga trong tay và rọi chiếu ánh sáng ra toàn thế giới. Giai cấp vô sản và người lao động trí thức (intellectual workers) cần chọn giữa những kẻ bảo vệ trật tự cũ, những kẻ đại diện cho chính phủ của thiểu số kiểm soát đa số, chế độ cũ không có tương lai, và những người phá đổ tất cả thứ văn hóa đó, những người kiến tạo lý tưởng xã hội mới, và là hiện thân của của ý tưởng hạnh phúc, việc làm tự do, tình huynh đệ của nhân dân với công nhân.”

Tuy thế, cũng từ năm 1919, Gorky và nhiều trí thức Nga ủng hộ cách mạng đã lo ngại trước làn sóng bắt bớ của chính quyền Lenin nhắm vào nhóm cựu Kadet, gồm nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà giáo dục Nga nổi tiếng.

Đảng Kadet là lượng chính trị trung hữu, ủng hộ tự do cá nhân, bảo vệ thiểu số Do Thái, có mặt trong Viện Duma Nga từ 1906.

Sau Cách mạng 2/1917, Kadet có bốn thành viên vào chính phủ lâm thời, nhưng sau bị chính quyền Bolshevik cho là bất hợp pháp.

Từ năm 1919, chính quyền của Lenin ra lệnh bắt hàng loạt trí thức, nhà khoa hoặc, văn nghệ sĩ Nga, gồm cả những người theo Kadet.

Chính quyền trục xuất những cựu thành viên Kadet và các đảng Xã hội Chủ nghĩa Cách mạng, Menshevik và Dân tộc chủ nghĩa.

Các đợt trấn áp này bị trí thức từng ủng hộ Cách mạng tháng 10 phản đối.

Vì những người đã bị đuổi sang Phương Tây tiếp tục viết bài, lên tiếng phê phán chế độ ở Nga, Lenin cấm những người ở lại được xuất cảnh.

Lenin qua đời đầu năm 1924 sau thời gian sức khoẻ suy yếu nghiêm trọng.

Hè năm 1918, ông bị nữ đảng viên Xã hội Chủ nghĩa Cách mạng Fanny Kaplan bắn trọng thương trong vụ ám sát không thành.

Cho đến lúc chết năm chưa đến 54 tuổi, trong người Lenin vẫn còn hai viên đạn.

Lenin và vợ, bà Nadezhda Krupskaya

NGUỒN HÌNH ẢNH, GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Lenin và vợ, bà Nadezhda Krupskaya. Lenin qua đời đầu năm 1924 sau thời gian sức khoẻ suy yếu nghiêm trọng vì bị nữ đảng viên Xã hội Chủ nghĩa Cách mạng Fanny Kaplan bắn trọng thương trong vụ ám sát không thành năm 1918.

Những tâm hồn Nga

Ngày nay, nước Nga đã có cái nhìn khác về di sản bạo lực một thời và những nhân vật nổi bật thời kỳ trước và sau năm 1917.

Sau 1990, việc phục hồi các trí thức Kadet và nhiều nhân vật khoa bảng thời trước cách mạng đã diễn ra.

Trên thực tế, dù bị Lenin phê phán, Korolenko vẫn có uy tín lớn với các nhân vật cộng sản châu Âu.

Rosa Luxemburg, một lãnh tụ cộng sản châu Âu gốc Do Thái, đã viết về Korolenko khi ngồi tù ở Breslau (nay là Wroclaw, Ba Lan) tháng 7/1918, ca ngợi và so sánh hai tài năng của văn học tiếng Nga:

“Tác phẩm Thời thơ ấu của Maxim Gorky có thể so sánh ở nhiều góc độ với Lịch sử đương đại của Korolenko. Về mặt nghệ thuật, họ thật khác nhau một trời một vực. Korolenko, như Turgenev mà ông luôn ngưỡng mộ, có tâm hồn mẫn cảm, có bản tính đầy chất thơ, con người của nhiều tâm trạng. Gorky, theo đúng truyền thống Dostoevsky, nhìn đời đầy kịch tính, là người đàn ông của các nguồn năng lượng và hành động rất tập trung…”

Là bậc đàn anh của Maxim Gorky, Korolenko, nổi tiếng với nhiều tác phẩm trong đó có Russkoe Bogatstvo, đã rút lui về quê nhà ở Ukraine sau cách mạng 1917 và qua đời năm 1921.

Sau khi Lenin chết, Maxim Gorky (sinh năm 1868) thì trở thành gương mặt của văn học công nông Liên Xô, và được Stalin tôn trọng, đề cao.

Tuy thế, các lá thư ông trao đổi với Stalin và Genrikh Yagoda (bộ trưởng an ninh Liên Xô) được công bố trong thập niên 1990 cho thấy Gorky vào những năm cuối đời cũng dần mất hết ảo tưởng rằng tự do có thể tồn tại trong thể chế Xô Viết và viết nhiều hơn về các chủ đề trước cách mạng 1917.

Qua đời năm 1936, đến 1938 tên tuổi Gorky lại bị lôi ra trong một vụ án với cáo buộc chính nói là Yagoda đã chủ mưu giết ông.

Các sử gia ngày nay cho rằng đó chỉ là vụ việc do Stalin dàn dựng.

Nguồn https://www.google.com.vn/…/culture-social-51211733.amp

May be an image of 2 people and text that says 'BBC BBCNEWS|TIÉNGVIỆT NEWS TIẾNG VIỆT Lenin lần đầu gọi 'trí thức là phân' trong thư gửi Gorky'