Có những hệ lụy gì khi Mỹ không mời Việt Nam dự Thượng đỉnh Dân chủ?

VOA Tiếng Việt 

Mỹ không mời Việt Nam tham gia hội nghị thượng định về dân chủ sắp diễn ra, Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết khi công bố danh sách các nước được mời hôm 23/11.

Sẽ có 110 nước tham gia sự kiện được tiến hành qua mạng vào hai ngày 9 và 10/12, có mục tiêu ngăn chặn tình trạng dân chủ bị thụt lùi và các quyền tự do bị suy yếu trên toàn thế giới.

Một chuyên gia về quan hệ quốc tế nhận định với VOA rằng động thái của Mỹ có ‘ảnh hưởng hạn chế’ đến Việt Nam, trong khi một chuyên gia pháp lý cho rằng nó làm cho Việt Nam bị ‘bẽ bàng’ và có những tác động sâu xa, thậm chí ở tầm chiến lược.

Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp, nhà nghiên cứu cao cấp ở Singapore; và ông Trịnh Hữu Long, hiện làm việc ở Đài Loan và quản lý hai tổ chức liên quan đến pháp lý, nói trong các cuộc phỏng vấn riêng rẽ với VOA rằng việc Mỹ không mời Việt Nam tham gia Thượng đỉnh Dân chủ do Mỹ chủ trì là điều được tiên liệu từ trước.

Hai ông Hiệp và Long chỉ ra lý do là hồ sơ về dân chủ, tự do của Việt Nam còn có quá nhiều mảng tối hơn là những mảng sáng, lâu nay vẫn bị các tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế và Mỹ chỉ trích.

“Việt Nam không được coi là dân chủ, tự do theo định nghĩa của phương Tây”, tiến sĩ Hiệp, thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ISEAS – Yusof Ishak, nói.

Về phần mình, ông Trịnh Hữu Long, người lâu nay hoạt động tích cực để cổ súy cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, cho rằng Mỹ chưa thấy đảng cộng sản nắm độc quyền lãnh đạo ở Việt Nam có những động thái đủ để minh chứng rằng đất nước chuyển hướng trở thành nền dân chủ trong tương lai gần.

Củng cố cho lập luận của mình, ông Long, lưu ý rằng cả Việt Nam và Congo đều được tổ chức Freedom House đánh giá là “không tự do” trong bản báo cáo “Tự do trên thế giới 2021”, với số điểm lần lượt là 19 và 20/100, nhưng Congo được Mỹ mời tham gia Thượng đỉnh Nhân quyền vì Washington nhận thấy Congo đang cải cách chính trị và có cơ hội trở thành nền dân chủ.

–Ảnh hưởng nhiều đến hình ảnh Việt Nam–

Ông Long, hiện giữ chức vụ Đồng Giám đốc tổ chức Sáng kiến Pháp lý Việt Nam và cũng là Tổng Biên tập Luật khoa Tạp chí, nói thêm với VOA từ Đài Loan:

“Ít nhiều nó cũng làm Việt Nam hơi bẽ bàng. Việc không nằm trong hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về dân chủ là một chỉ dấu rõ ràng cho thế giới thấy rằng Việt Nam không nằm trong câu lạc bộ của các quốc gia dân chủ này. Nó sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến hình ảnh của Việt Nam trên thế giới. Điều này khẳng định một lần nữa rằng Việt Nam không những là một nước độc tài mà còn chưa thể hiện rõ quyết tâm hay chỉ dấu gì trong việc cải cách chính trị để trở thành nước dân chủ cả”.

Đây là lần đầu tiên có một hội nghị thượng đỉnh quốc tế về dân chủ như thế này và đó sẽ là phép thử về lời quả quyết mà Tổng thống Mỹ Joe Biden đưa ra trong bài phát biểu đầu tiên của ông về chính sách đối ngoại hồi tháng 2.

Khi đó, ông Biden nhấn mạnh rằng sẽ đưa Hoa Kỳ trở lại vị trí lãnh đạo toàn cầu để mặt đối mặt với các thế lực chuyên quyền do Trung Quốc và Nga cầm đầu. Trong danh sách khách mời của Bộ Ngoại giao Mỹ, không có tên Trung Quốc và Nga.

Theo ông Trịnh Hữu Long, nước Mỹ dưới thời Tổng thống Biden muốn dùng dân chủ, nhân quyền như một trong những công cụ chiến lược để xây dựng các liên minh quan trọng trên thế giới. Do đó, ông Long cho rằng việc Việt Nam không được mời vào Thượng đỉnh Dân chủ cũng đồng nghĩa là một mất mát cho đất nước này:

“Việc Việt Nam bỏ lỡ cơ hội này lại cho thấy Việt Nam, ít nhất cho đến thời điểm này, không được cân nhắc đến trong những lợi ích chiến lược mà Mỹ muốn dùng công cụ dân chủ, nhân quyền để khai thác. Với động thái này, Việt Nam còn xa mới có thể trở thành một nước có quan hệ chiến lược với Mỹ khi mà rõ ràng Việt Nam không chia sẻ các giá trị chung với Mỹ như vậy”.

–Quan hệ Việt-Mỹ nhấn mạnh hơn vào thực chất–

Khác với góc nhìn của ông Long, chuyên gia về pháp lý và là người cổ súy cho dân chủ, nhân quyền; tiến sĩ Lê Hồng Hiệp, nhà nghiên cứu các vấn đề quốc tế, đưa ra đánh giá với VOA rằng việc Mỹ không mời Việt Nam là điều đáng tiếc, song gây ra ảnh hưởng không đáng kể. Ông Hiệp nói thêm:

“Việc Việt Nam vắng mặt ở hội nghị dân chủ một lần nữa cho thấy sự khác biệt giữa hai nước về hệ thống chính trị. Liệu nó có ảnh hưởng đến hình ảnh, vị thế của Việt Nam hay không, tôi nghĩ là có nhưng sẽ rất hạn chế vì bản thân vấn đề này không mới. Việt Nam không phải là nước dân chủ, tự do, vẫn có có một số hạn chế về nhân quyền thì điều đấy ai cũng biết rồi, nó không hoàn toàn mới”.

Tiến sĩ Hiệp, hiện công tác tại Viện ISEAS – Yusof Ishak đặt tại Singapore, nêu ra thực tế rằng trong những năm trước, nước Mỹ dưới thời Tổng thống Trump hầu như không chỉ trích Việt Nam về dân chủ, nhân quyền, và chính quyền của Tổng thống Biden kể từ khi nắm quyền đến nay cũng không có những tuyên bố nặng lời vấn đề đó của Việt Nam.

Theo ông Hiệp, đó là vì Mỹ nhận thức được đúng mức về tầm quan trọng của Việt Nam trong những lĩnh vực chiến lược khác, cả trong quan hệ song phương lẫn ở trên bình diện khu vực. Nhà nghiên cứu này nói:

“Quan hệ Việt-Mỹ có những khía cạnh, chiều kích khác nhau, không phụ thuộc vào vấn đề giá trị, hệ thống chính trị. Trong thời gian qua, quan hệ Việt-Mỹ đã phát triển trong các lĩnh vực chủ chốt như kinh tế, giáo dục, an ninh, quốc phòng”.

Về chỗ đứng của Việt Nam ở cấp độ khu vực, tiến sĩ Hiệp dẫn lại những phát biểu của ông Kurt Campbell, điều phối viên về chính sách Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong chính quyền của ông Biden, nhìn nhận Việt Nam và Ấn Độ là hai quốc gia có thể định hình tương lai của khu vực cũng như định hình chính sách của Mỹ đối với khu vực trong tương lai. Từ đó, ông Hiệp nhận định:

“Đó là một trong những bằng chứng cho thấy Hoa Kỳ rất coi trọng quan hệ với Việt Nam cũng như vị thế, vai trò của Việt Nam trong chiến lược của Hoa Kỳ đối với khu vực, đặc biệt là trong cuộc cạnh tranh của họ với Trung Quốc. Vì vậy, bất chấp việc Hoa Kỳ không mời Việt Nam dự Thượng đỉnh Dân chủ, quan hệ song phương Việt Nam-Hoa Kỳ vẫn tiếp tục phát triển trong thời gian tới”.

–Hà Nội chưa phản ứng–

VOA cố gắng liên lạc với Bộ Ngoại giao Việt Nam để tìm hiểu về phản ứng của Hà Nội đối với quyết định không mời của Washington. Tuy nhiên, cho đến thời điểm bài báo này được đăng, VOA chưa nhận được hồi đáp từ phía bộ.

Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp dự báo rằng Việt Nam sẽ làm ngơ, không phản ứng gì, không coi đây là trở ngại trong quan hệ song phương, vốn chú trọng vào các vấn đề thực chất. Ông cho rằng cả hai bên đều có sự ngầm hiểu với nhau rằng hội nghị thượng đỉnh về dân chủ là sự kiện chỉ mang tính biểu tượng, đặc biệt là về cuộc đối đầu giữa Mỹ với Trung Quốc và Nga.

Ông Trịnh Hữu Long, chuyên gia pháp lý và cũng là nhà hoạt động cổ súy cho dân chủ, nhân quyền, có nhận định tương tự:

“Có lẽ Việt Nam sẽ chọn phương án an toàn, không nói gì, không tỏ ra giận dỗi hay phản đối gì, bởi vì cũng chẳng có gì để phản đối [cười], vì thế, tôi nghĩ họ sẽ chọn cách nói hoặc là né tránh, hoặc là an toàn”.

–Đài Loan – ‘tấm gương’ về dân chủ hóa, thoát Trung–

Trong khi Việt Nam không được mời, chính quyền của Tổng thống Mỹ Biden lại mời Đài Loan tham gia Thượng đỉnh Dân chủ. Động thái này khiến Trung Quốc nổi giận. Chính quyền Bắc Kinh lâu nay vẫn coi đảo Đài Loan theo thể chế dân chủ là lãnh thổ của Trung Quốc.

Ông Trịnh Hữu Long, sống và làm việc ở Đài Loan trong 5 năm qua, cho VOA biết từ người dân cho tới các quan chức và cả báo giới Đài Loan đều đón nhận và bày tỏ phản ứng tích cực, hân hoan về việc đảo quốc này được Mỹ mời.

Đối với họ, đó cũng là một sự công nhận về mặt quốc tế dành cho họ trong bối cảnh lâu nay Trung Quốc liên tục gây sức ép để các nước không công nhận Đài Loan và cũng thường xuyên đe dọa dùng vũ lực đánh chiếm hòn đảo, ông Long đưa ra quan sát.

Với những tìm hiểu và trải nghiệm của mình, chuyên gia pháp lý Trịnh Hữu Long chỉ ra rằng sau 35 năm dân chủ hóa, Đài Loan gắn kết với phương Tây không chỉ về các lợi ích chiến lược như kinh tế, địa-chính trị mà cả về các giá trị, vì vậy sự gắn kết này rất sâu sắc.

“Đây là chiến lược đối ngoại khôn ngoan và thực dụng, đồng thời cũng xây dựng lên căn tính của Đài Loan, đó là không chỉ có sự thịnh vượng mà còn có cả dân chủ và bảo vệ phẩm giá của con người”, ông Long nói.

Với căn tính này, Đài Loan có sự tự tin và tinh thần độc lập, đồng thời ngày càng tách khỏi Trung Quốc, không có điểm chung với Trung Quốc, nước lâu nay vẫn chịu nhiều lời lên án về vi phạm nhân quyền, vẫn theo ông Long.

Ông đưa ra quan sát rằng ở châu Á, Đài Loan là hình mẫu dân chủ hóa thành công nhất và đáng chú ý nhất để Việt Nam tham khảo, với thực tế là các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do đảng phái, tự do chính trị, tự do kinh tế trên hòn đảo được quốc tế đánh giá cao. Ông Long nói thêm:

“Nó cho chúng ta bài học vô cùng quý giá: Một quốc gia châu Á, một quốc gia Khổng giáo, một quốc gia nhỏ, một quốc gia sống cạnh Trung Quốc hoàn toàn có thể trở thành một nền dân chủ, vừa thịnh vượng vừa có thể bảo tồn các giá trị truyền thống của Á Đông. Đài Loan là hình mẫu để chúng ta bác bỏ các luận điệu cho rằng các giá trị của Á Đông không phù hợp với các giá trị dân chủ của phương Tây. Đài Loan là minh chứng rằng Việt Nam hoàn toàn cũng có thể trở thành như vậy”.

Chuyên gia pháp lý và nhà hoạt động vì dân chủ, nhân quyền Trịnh Hữu Long nhấn mạnh rằng từ Đài Loan có thể rút ra bài học lớn nhất cho Đảng Cộng sản Việt Nam là nếu họ chủ động dân chủ hóa, họ sẽ vẫn nắm quyền lực và mang lại nhiều lợi ích cho nhân dân.

Một nước Việt Nam dân chủ cũng sẽ thoát khỏi sự chi phối của Trung Quốc và gia nhập vào chuỗi giá trị về dân chủ, nhân quyền toàn cầu, vẫn theo quan điểm của ông Long. “Chúng ta sẽ có thêm bạn, đồng minh”, ông nói.

https://www.voatiengviet.com/…/co-nhung-he…/6331717.html

WHO cảnh báo biến thể Omicron sẽ ‘lây ra toàn cầu với hậu quả nghiêm trọng’

 VOA Tiếng Việt 

Biến thể Omicron của virus corona với nhiều đột biến có khả năng lây lan ra toàn cầu và có nguy cơ gây ra làn sóng lây nhiễm cao với ‘hậu quả nghiêm trọng’ ở một số nơi, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết hôm 29/11.

Chưa có trường hợp tử vong nào do Omicron được báo cáo, mặc dù cần nghiên cứu thêm để đánh giá khả năng kháng vaccine và miễn dịch có được do các lần nhiễm bệnh trước đó.

Dự trù số ca bệnh sẽ tăng lên khi biến thể mới, được báo cáo lần đầu tiên hồi tuần trước, lan rộng, WHO kêu gọi 194 quốc gia thành viên đẩy nhanh tiêm ngừa cho các nhóm ưu tiên cao.

“Omicron có số lượng đột biến chưa từng có trên protein gai, một vài trong số đó gây quan ngại do tác động tiềm tàng của chúng đối với quỹ đạo của đại dịch,” WHO cho biết.

“Rủi ro toàn cầu nói chung… được nhận định là rất cao”.

Ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, Tổng giám đốc WHO, cho biết sự xuất hiện của Omicron cho thấy tình hình ‘nguy hiểm và bấp bênh’ như thế nào.

“Omicron cho thấy lý do tại sao thế giới cần một thỏa thuận mới về đại dịch,” ông phát biểu tại phiên khai mạc hội nghị bộ trưởng y tế dự kiến sẽ khởi động các cuộc đàm phán về một thỏa thuận như vậy.

“Hệ thống hiện tại của chúng ta không khuyến khích các quốc gia cảnh báo các nước khác về các mối đe dọa chắc chắn sẽ xảy đến đất nước họ”.

Thỏa thuận toàn cầu mới, dự kiến sẽ được thông qua vào tháng 5 năm 2024, sẽ bao gồm các vấn đề như chia sẻ dữ liệu và trình tự bộ gen của các loại virus mới và của bất kỳ vaccine tiềm năng nào có được từ nghiên cứu.

Khoa học gia Richard Hatchett, Giám đốc điều hành của Liên minh Đổi mới Chuẩn bị cho dịch bệnh (CEPI), một quỹ tài trợ cho việc phát triển vaccine, nói sự xuất hiện của Omicron đã chứng minh lời tiên đoán rằng sự lây lan của virus ở những nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp sẽ đẩy nhanh sự tiến hóa của nó.

‘Nhu cầu quá lớn’

Omicron lần đầu tiên được báo cáo ở Nam Phi vào ngày 24/11, nơi các ca nhiễm đã tăng mạnh.

Kể từ đó, biến chủng này đã lan sang hơn một chục quốc gia, nhiều nước trong số đó đã áp đặt các hạn chế đi lại để cố đóng chặt cửa. Nhật Bản hôm 29/11 đã theo chân Israel khi tuyên bố sẽ đóng cửa hoàn toàn biên giới với người nước ngoài.

WHO nhắc lại rằng, trong khi chờ thêm khuyến cáo, các nước nên sử dụng ‘cách tiếp cận dựa trên rủi ro để điều chỉnh các biện pháp đi lại quốc tế’, đồng thời thừa nhận rằng sự gia tăng các ca nhiễm có thể dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao hơn.

“Tác động đối với nhóm dân số dễ bị tổn thương sẽ là đáng kể, nhất là ở các nước có độ bao phủ vaccine thấp,” báo cáo cho biết thêm.

Ngày làm đẹp các ngôi mộ để tưởng nhớ và ghi ơn

Le Tu Ngoc

Ai đã đọc “CUỐN THEO CHIỀU GIÓ” của bà Margaret Mitchell hẳn sẽ biết cuộc Nội Chiến của Mỹ đã diễn ra khốc liệt thể nào, khi nó kết thúc vào mùa xuân năm 1865 thì đã có hơn sáu trăm ngàn chiến sĩ của cả hai phe không thể trở về gặp mặt bạn bè lẫn người thân.

Những năm sau cuộc chiến, cứ đến độ hoa nở rộ trong vườn thì người Mỹ ở khắp nơi lại mang hoa ra cắm và cầu nguyện nơi mộ chí của những người lính đã ngã xuống trong cuộc chiến này bất kể là lính Nam hay lính Bắc. Người dân thành phố Waterloo của tiểu bang New York vào ngày 5 tháng 5 năm 1866 đã đóng cửa các tiệm bán buôn trong thành phố để mọi người có thể mang hoa và cờ đến cắm lên các ngôi mộ của những người lính tử trận, sự kiện này sau đó được tổ chức hàng năm ở nơi đây.

Ngày 5 tháng 5 năm 1868, Tướng John A. Logan, người đứng đầu một tổ chức cựu chiến binh miền Bắc đã kêu gọi một ngày tưởng nhớ trên toàn quốc để mọi người có thể mang hoa và cờ đi trang điểm những ngôi mộ chiến sĩ, ông chọn ngày 30 tháng 5 và gọi nó là “Ngày làm đẹp các ngôi mộ để tưởng nhớ và ghi ơn” (Decoration Day).

Trong Ngày Decoration Day được tổ chức lần đầu tiên ở nghĩa trang quốc gia Arlington, hơn 5 ngàn người gồm những goá phụ, cựu chiến binh cùng bạn bè lẫn người thân đã đến để đặt hoa và các dải ruy băng lên 20 ngàn ngôi mộ của những người chiến sĩ của cả hai phe.

Sau Thế Chiến thứ I thì ngày 30 tháng 5 dần được biết đến với cái tên Memorial Day (Ngày Tưởng Niệm) và là dịp để người Mỹ tưởng nhớ đến tất cả các chiến sĩ đã ngã xuống trong các cuộc chiến chứ không riêng gì cuộc Nội Chiến. Năm 1968 Quốc Hội thông qua đạo luật Uniform Monday Holiday Act, đạo luật này quy định lấy ngày thứ hai làm ngày nghỉ mỗi khi có dịp lễ lộc với mục đích giúp dân chúng được nghỉ liên tục 3 ngày cuối tuần đặng ăn chơi cho nó đã. Kể từ đó thì Ngày Tưởng Niệm (Memorial Day) hàng năm ở Mỹ sẽ rơi vào ngày thứ hai cuối cùng của tháng năm.

Kể sơ sơ chuyện xứ Mỹ để nói đến cái ngày 30 tháng 4 của xứ mình. Nếu tôi mà là ông tổng Trọng thì tôi sẽ gọi tên cái ngày cuối cùng của tháng tư này là ” Ngày Tiếc Thương”. Tôi sẽ khuyến khích người dân cả nước trong ngày đó đi đến tất cả các nghĩa trang lớn nhỏ mà cắm những bông hoa lên trên mộ của bất cứ ai đã bỏ mình vì những cuộc chiến tương tàn trên xứ Việt mà chẳng cần phân biệt phe nào.

Nếu tôi mà là ông tổng Trọng, tôi sẽ cách chức bất cứ quan chức nào cho phép đốt pháo hoa hay treo cờ phướng loè loẹt khắp phố phường vào cái ngày này, tôi sẽ cho người vả vào miệng bất cứ quan chức nào vẫn còn bô bô những từ “Giải Phóng, Chiến Thắng, Bản Anh Hùng Ca, Vô địch với Vĩ Đại”.

Bởi cho dù đối với người dưng kẻ lạ thì cũng chẳng có một sự phỉ báng nào vô liêm sĩ cho bằng chính vào cái ngày mà người ta tiếc thương cho thân bằng quyến thuộc đã ngã xuống của người ta còn mình lại cứ bắn pháo hoa ăn mừng, cứ lên gân hò hét lải nhải những từ ngữ mất dạy như thể cố khoét cho sâu thêm nỗi đau của những người có thân nhân chết trận, cũng như khoét cho sâu thêm những mối thù mà bất cứ một chính quyền tử tế nào cũng phải quan tâm xoa dịu.

Kiểu cách đó đối với người dưng kẻ lạ đã là hạ tiện, huống hồ gì giữa người mình mang ra để đối với người mình.

Fb Thuc Tran

Lịch sử “Dư luận viên”

Lịch sử “Dư luận viên”

00:17 | Posted by BVN1

Nguyễn Văn Tuấn

Mạ Thủ 罵手

Tôi mới học được một danh từ mới: mạ thủ. Một cách ngắn gọn, mạ thủ là một kẻ chuyên nghề chửi, giống như “dư luận viên” ngày nay. Lịch sử ra đời của mạ thủ vẫn còn mang tính thời sự ngày nay.

“Mạ Thủ” – Theo tác giả Huy Phương (báo Người Việt), danh từ này xuất phát từ thời Hán Sở tranh hùng và Tam Quốc Chí bên Tàu. Thời đó, nhà cầm quyền huy động những người có lá phổi lớn, tiếng nói vang, và có cách chửi độc địa để làm ‘mạ thủ’. Mạ thủ chỉ có một việc đơn giản là chửi bới đối phương. Họ trong tư thế trần truồng, xông lên phía trước, sát cổng thành của đối phương, và tung ra những lời chửi bới tục tĩu và dơ bẩn nhất nhắm vào đối phương. Mục đích là hạ nhục và khiêu khích đối phương bằng cách thoá mạ ông bà tổ tiên của đối phương, sao cho họ mở cửa thành để lính xông vào. Điều trớ trêu là mạ thủ là những người bị chết đầu tiên vì họ không có vũ khí khi xông trận. Họ có thể xem như là những con chốt thí cho bọn cầm quyền.

Tàu ngày xưa là nơi sản sinh ra những mạ thủ, thì Tàu ngày nay cũng có những đội quân mạ thủ, nhưng họ mang một danh xưng văn hoa hơn: dư luận viên. Tiếng Hoa là “wumao“. Báo chí phương Tây gọi họ là “50 cent Army” (“Lực lượng 50 cent”). Tại sao là ’50 cent’? Tại vì mỗi mạ thủ được trả lương 50 cent cho mỗi ‘bình luận’ họ viết trên mạng.

Ai là những mạ thủ thời nay? Theo nghiên cứu của GS Gary King (ĐH Harvard), họ là những nhân viên, cán bộ của Nhà nước. Nhưng họ không phải cán bộ bình thường, mà phải qua một quá trình tẩy não sao cho họ không còn khả năng suy nghĩ một cách logic. Nói tóm lại, bọn mạ thủ là những kẻ không có khả năng đánh giá đúng sai, họ chỉ đơn giản là những cái máy phun ra những câu chữ mà có khi họ không hiểu.

Theo ước tính của GS King [1], Tàu có chừng 500,000 đến 2 triệu mạ thủ, túc trực 24/24 trên mạng để theo dõi và … chửi. Chiến trận của họ là trên mạng. Phương tiện của họ không còn là tiếng nói mà là chữ viết. Mỗi năm, đội quân phi chính thống này tung lên mạng 450 triệu thông tin giả. Họ đặc biệt nhắm đến thoá mạ những cá nhân và nhóm chỉ trích đảng cộng sản Tàu. Họ tận dụng nguỵ biện tối đa để tấn công đối phương, thay vì bàn luận. Thật ra, mạ thủ không có khả năng nghị luận, vì mục đích tồn tại của họ đơn giản là chửi bới và nhục mạ đối phương. Họ trong thực tế là những tên hề rẻ tiền, những kẻ tâm bệnh.

Bọn mạ thủ cũng rất thích làm ra vẻ ‘worldly’ bằng những bình luận về quan hệ quốc tế. Đối với họ, biến cố Thiên An Môn là không có thật, mà chỉ là sản phẩm tưởng tượng của bọn phản động phương Tây. Đài Loan phải là của Tàu. Biển Đông là của Tàu, còn bọn “nước nhỏ” như Việt Nam và Phillipine chỉ là đám thừa cơ hội gặm nhấm lãnh hải của Đại Quốc.

Ngoài chửi, các mạ thủ cũng có khi tung ra những thông tin đánh trống tinh thần quốc gia và giấc mơ một Trung Hoa Vĩ Đại. Họ rất thích chỉ trích nhạo báng các nền dân chủ phương Tây, các giá trị phương Tây, nhưng hết lời ca ngợi các lãnh đạo cộng sản Tàu. Họ cũng thích lan truyền những bản tin về hoạt động thường ngày của các cấp cán bộ cộng sản như là những kẻ yêu nước thương dân. Những bài viết ca ngợi cán bộ cộng sản và quảng bá sự tiến bộ của Tàu chiếm chừng 60% tổng số tin tức do bọn mạ thủ tung ra.

Phải nói rằng sự ra đời của mạ thủ 罵手 hay wumao 五毛 là một quái thai xã hội. Thử tưởng tượng một thể chế như chính phủ Úc mà tung tiền ra để tổ chức và mướn những kẻ hạ cấp và những lưu manh mạng chỉ để tung ra những lời ca ngợi mình và tấn công đối phương. Một viễn cảnh không thể nào xảy ra, vì người dân sẽ nổi giận với chính phủ dùng tiền thuế của họ cho chuyện … tào lao. Chỉ có những chính phủ bất tài và thiếu tự tin, những chính phủ hắc ám biết mình làm điều ác với xã hội mới có những đội quân wumao, bởi nếu chính phủ chánh nghĩa và có thực tài thì cần gì đến bọn hạ cấp đó. Mà, thực ra, một chính phủ được những kẻ hạ cấp ca ngợi thì chính phủ đó cũng thuộc loại hạ cấp mà thôi. Thành ra, sự hiện diện của đội quân mạ thủ hay wumao không chỉ là một căn bệnh ung thư xã hội, mà còn là tín hiệu mạnh nhất về một chính phủ bất chính và bất tài.

N.V.T

[1] Nghiên cứu về đội quân wumao – mạ thủ:

https://gking.harvard.edu/files/gking/files/50c.pdf

“Mạ Thủ” theo Báo Người Lao động, Thanh Niên

 Các báo này cũng nói về “Mạ thủ” nhưng tránh nhắc đến đội quân “Mạ thủ” VN ăn lương hoặc phụ cấp ngày nay

Đọc Tam quốc chí [diễn nghĩa] hay Hán Sở tranh hùng của văn học cổ Trung Quốc, người đọc không thể không tức cười về một thứ quân đặc biệt luôn luôn có trong bất cứ một đội quân nào của những phe phái khác nhau.

Mạ thủ

Người ta chọn ra những sĩ tốt có buồng phổi to, tiếng nói khỏe và đặc biệt là có “kiến thức” về những câu chửi bới thô lỗ, tục tĩu nhất. Cánh quân ấy chuyên ra trận để… chửi bên địch. Những sĩ tốt này được phong một danh hiệu khá lạ lùng là “Mạ thủ”. Vậy mạ thủ là những tên quân ra trận không dùng đao thương, chỉ chuyên chửi bới, thóa mạ kẻ địch; chửi cho sướng miệng mình và vui dạ tướng chỉ huy của mình.

Khi tướng thủ thành hoặc nhà vua bên địch tự cảm thấy thế lực của mình yếu, bèn đóng cửa thành, treo miễn chiến bài (bảng không đánh nhau nữa). Viên tướng chỉ huy phe bên công thành muốn đánh cho nhanh, bèn đưa quân mạ thủ ra “chiến đấu”. Thông thường thì các mạ thủ này mặc áo quần tử tế, cũng có khi theo lệnh tướng chỉ huy, họ phải… ở truồng để lâm trận. Cứ vậy, họ đưa “bộ đồ nghề” ra tô hô, tiến sát cửa thành phía bên địch; hoặc đứng, hoặc nằm, hoặc ngồi; cùng kêu tên nhà vua hay tướng chỉ huy thành bên địch ra mà chửi bới.

Về hình thức, đây là một thứ tâm lý chiến, phải ngoác miệng ra mà chửi, chửi làm sao cho có ca có kệ, có vần có điệu theo cái kiểu hợp xướng một giọng cho phía bên kia nghe được. Thời ấy làm gì có loa phóng thanh cho nên các mạ thủ phải học “bài bản” cho thuộc, chửi lên cùng một giọng càng lớn càng tốt để nhà vua hay tướng thủ thành bên kia thủng màng nhĩ.

Về nội dung, bài chửi làm sao phải đạt yêu cầu “đào mồ cuốc mả” của kẻ địch, đem hết cái xấu, cái dơ, cái bẩn trút lên đầu lên cổ người ta. Tất nhiên, những bài chửi này có quyền xuyên tạc, vu khống, đục cây tra cành để lung lạc lòng sĩ tốt bên địch. Nhà vua hoặc tướng thủ thành bên địch nghe chửi nín nhịn không nổi, phải mở cửa thành nhảy ra đánh nhau. Nhiệm vụ của mạ thủ được coi là thành công. Món võ ấy được gọi là võ lưỡi (thiệt chiến).

Mạ thủ là một loại chiến tranh đặc biệt của người Trung Quốc xưa, một hình thái chiến tranh mà không quốc gia nào học tập và làm theo. Sách vở Trung Quốc cũng ghi nhận nếu nhà vua hay tướng thủ thành bên kia đột ngột mở của thành xông ra đánh thì quân mạ thủ ưu tiên… chết trước. Bởi vì bọn họ phải áp sát cửa thành bên địch mà chửi nên chạy không kịp về trận địa của mình. Cho nên những chiến sĩ ấy cơ bản là “dũng cảm hy sinh”, chỉ tội nghiệp là có người hy sinh khi đang lõa lồ thân thể, thành thử hoàn cảnh của các mạ thủ nói riêng và chiến trường nói chung là rất lu bu.

Thế kỷ 20, Kim Dung viết Lộc đỉnh ký. Bộ tiểu thuyết này có mấy chương thuật lại cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Nga La Tư. Vua Khang Hy dặn tư lệnh Vi Tiểu Bảo: “Ngươi biết nhiều trò huê dạng, phải làm sao để quân ta từ trên xuống dưới đều khinh khi quân man tử”. “Quân man tử” ở đây là sĩ quan và binh lính của Sa hoàng Nga. Để đám tướng sĩ Thanh binh có thể khinh khi người Nga, Vi Tiểu Bảo áp dụng mọi cách làm nhục tướng sĩ của Sa hoàng Nga, trong đó có vai trò chửi bới của quân mạ thủ.

Vi Tiểu Bảo học cách của người xưa, cho quân mạ thủ Trung Quốc chửi bới tư lệnh quân Nga là A Lịch Tư Đồ Nhĩ Bố Thanh (Alexei Tolbusin) đang đồn trú tại thành Nhã Tác Khắc (Nertohinsk). Bọn mạ thủ này chửi bằng tiếng… quan thoại mà người Nga thì không biết thứ tiếng này. Vi Tiểu Bảo bắt được một số quân Nga, buộc họ phải làm mạ thủ chửi lại Đồ Nhĩ Bố Thanh. Hàng binh và tù binh Nga ra trước thành chửi bới nhưng họ lại khiến Vi Tiểu Bảo thất vọng tràn trề. Lý do là ngôn ngữ chửi bới của người Nga rất nghèo nàn, quanh đi quẩn lại chỉ có mấy câu “Ngươi là đồ heo, đồ chó”; hoàn toàn thua xa “bài bản” lâm ly biến ảo của mạ thủ Trung Quốc! Vi Tiểu Bảo nghiệm ra chỉ có người Trung Quốc chửi bới mới nghe… được.

Đó là chuyện của mạ thủ cổ điển, chỉ chửi bới trên trận địa cho kẻ thù nghe. Trong 40 năm qua, Trung Quốc đã có hành động xâm lấn, gây hấn vùng lãnh thổ và biển đảo của Việt Nam. Năm 1974, họ đánh chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Năm 1979, họ gây ra cuộc chiến tranh biên giới. Năm 1988, họ tiến đánh đảo Gạc Ma. Lần nào cũng như lần nào, các mạ thủ đời mới ở Trung Quốc cũng có những bài bình luận đao to búa lớn, ngôn ngữ thóa mạ hằn học khiến người tự trọng nghe qua phải nổi da gà.

Trong vòng nhiều năm liên tiếp trở lại đây, Trung Quốc không ngừng gây ra những sự cố tranh chấp với các lân bang Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines, Việt Nam. Hết đòi đảo, họ đơn phương công bố đường “lưỡi bò” chín đoạn trên biển Đông. Sau đường “lưỡi bò”, họ đơn phương công bố khu vực nhận diện phòng không trên biển Hoa Đông.

Ngày 1.5.2014, lợi dụng những ngày nghỉ lễ 30.4 và 1.5 của Việt Nam, họ rê giàn khoan Hải Dương 981 vào đặt ngay trong vùng biển Việt Nam, chỉ cách đảo Lý Sơn của Việt Nam 117 hải lý. Cùng với giàn khoan, Trung Quốc cho máy bay, tàu hải giám, hải cảnh, tàu quân sự hù dọa, o ép, va đâm, xịt vòi rồng vào các lực lượng thi hành pháp luật trên biển của Việt Nam và ngư dân Việt Nam đang đánh bắt hải sản trên ngư trường Hoàng Sa truyền thống.

Cái lạ của Trung Quốc là họ ngang nhiên tấn công ngư dân, đâm chìm ghe cá, phá hoại tài sản đánh cá của ngư dân, khiêu khích các lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam mà không hề nhớ rằng họ đã thò tay ký vào các công ước quốc tế như Công ước luật Biển năm 1982.

Cùng với những hành động sai trái, ngang ngược trên hiện trường, lực lượng mạ thủ của họ mà đặc biệt là tờ Global Times đưa ra những thông tin xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật, chửi bới các lân bang, trong đó ưu tiên chửi Việt Nam. Cứ theo cái anh mạ thủ to mồm này thì Trung Quốc đang bị các lân bang xâm lược, Trung Quốc đang là nạn nhân của sự xâm lấn bởi nhiều nước nhỏ ở khu vực Đông Nam Á, thật là kỳ.

Trong Đối thoại Shangri-La mới đây ở Singapore, tướng Vương Quán Trung – Phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc đã to tiếng… xái bạc lớn ngay cả với Thủ tướng Abe của Nhật Bản và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel. Bỏ hẳn bài diễn văn được soạn trước, ông Vương đã ứng khẩu độc diễn lên án Mỹ và Nhật “có hành động khiêu khích với Trung Quốc” khi hai vị này lên tiếng cảnh báo những nguy hiểm mà Trung Quốc đang thể hiện trên vùng biển Việt Nam.

Vui nhất là chuyện ông Vương nói đường “lưỡi bò” chín đoạn trên biển Đông đã có từ 2.200 năm trước (thời nhà Hán) nhưng đến năm 1947 Trung Quốc mới công bố. Trong khi đó, ông Chu Thành Hổ – một thành viên khác của Trung Quốc trong đối thoại này, tỏ ra rất hiếu chiến khi nói “Nếu Mỹ coi Trung Quốc là kẻ thù thì Trung Quốc sẽ trở thành kẻ thù của Mỹ”.

Nhìn một cách nào đó thì hai vị này cũng là… mạ thủ đời mới, với một thứ ngôn ngữ ngoại giao quái chiêu, nặng về khiêu khích. Thương thay, họ đã… nói ngọng trước Đối thoại Shangri-La, khiến các phái đoàn quốc tế phì cười. Nhà phân tích chiến lược quốc tế Bonnie Glaser nhận định: “Có lẽ phần tuyên bố của ông Vương chủ yếu nhắm vào khán giả trong nước Trung Quốc nhiều hơn… Ông ta dành mười phút nói vòng vo về đường chín đoạn nhưng cuối cùng cũng không giải thích được nó là cái gì”.

(Vũ Đức Sao Biển)

https://tinnong.thanhnien.vn/giai-tri/ma-thu-9803.html

Báo Người Lao động, Thanh Niên cũng nói về “Mạ thủ” nhưng tránh nhắc đến đội quân “Mạ thủ” ăn lương hoặc phụ cấp ngày nay

Sách vở ghi lại nhiều tích bên Trung Hoa, thời Tam Quốc, khi các vương triều tranh đoạt cương thổ, quyền lực đã biết dùng đến “mạ thủ”.

“Mạ thủ” là đội quân chuyên về chửi bới đối phương, kiểu như tâm lý chiến, để đối phương tức giận dẫn tới ra quyết định sai hoặc xuống tinh thần, dễ thua cuộc. Lực lượng “mạ thủ” thường đóng vai trò tiền quân khi công đồn, vây thành. Trong “Tam thập lục sách” – tập hợp 36 kế sách quân sự của Trung Hoa cổ đại – có đúc kết chuyện Tào Tháo sử chiêu khi đánh Viên Thuật thành kế thứ 26 là “Chỉ tang mạ hòe” (chỉ cây dâu mà mắng cây hòe, nghĩa khác: chỉ chó nhưng mắng mèo), nhờ đó mà thắng. Ấy cũng từ “mạ” mà ra. Tóm lại, từ xưa, chửi càn đã được sử dụng như là một thứ vũ khí.

Ở xứ ta, lấy chửi bới để ăn thua đủ, công kích hay hạ bệ người khác cũng là chuyện phổ biến. Dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945 có nhân vật Chí Phèo (“Chí Phèo” – Nam Cao) gắn chặt với hình ảnh tiêu cực “Hắn vừa đi vừa chửi”; hay nâng tầm lên thành “nghệ thuật” là bài chửi mất gà có lớp lang, vần điệu của bà mụ nhà quê trong “Bước đường cùng” (Nguyễn Công Hoan). Học giả Nguyễn Văn Vĩnh, trong bài “Ăn nói thô tục”, đăng Đông Dương tạp chí năm 1914, đã thở dài về một thói xấu của người Việt: “… Lắm câu chửi rủa của ta, không tiếng nước nào dịch nổi…”!

Tất nhiên, đã là thói xấu thì phải phê phán, không học theo. Nếu thành cố tật thì phải gắng tìm mọi cách tẩy trừ nó khỏi đời sống cộng đồng. Trong xã hội văn minh, chửi là hành động phản cảm, đi ngược lại toàn bộ các giá trị cao đẹp chung mà cộng đồng đang xây dựng, hướng về.

Nhưng bao giờ cũng vậy, cuộc sống muôn mặt, bên cạnh cái tốt đẹp và thiện lành vốn chiếm ưu thế thì con người – không còn cách nào khác – buộc phải chung sống với cái xấu, cái ác. Nó là một phần của xã hội, thời nào cũng thế.

Sống chung nhưng không có nghĩa là chấp nhận chịu đựng mãi mãi, mà phải chế ngự, đấu tranh và đẩy lùi nó. Không lên án hành vi xấu, như vô cớ lăng nhục người khác, tức là sống thiếu trách nhiệm; hào hứng đón nhận, hùa theo đám đông hoặc cá nhân nào đó để thóa mạ tha nhân, cũng là một kiểu sống xấu, sống ác. Thực tế, đã có không ít nạn nhân tự kết liễu đời mình vì không chịu nổi sức ép từ sự miệt thị của đám đông, trong đó có những trường hợp bị chửi bới, lên án một cách oan ức.

https://nld.com.vn/…/thoi-xau-chui-can…

Nguồn: FB Hoàng Hưng BVN bổ sung chữ Hán.

Thượng đỉnh vì Dân chủ thế giới: Hoa Kỳ chọn địa chính trị và giá trị tự do

Thượng đỉnh vì Dân chủ thế giới: Hoa Kỳ chọn địa chính trị và giá trị tự do

23:07 | Posted by BVN1

BBC Tiếng Việt

Danh sách quốc gia được mời dự Hội nghị Thượng đỉnh vì Dân chủ (The Summit for Democracy) do Hoa Kỳ tổ chức 9-10 tháng 12 năm nay phản ánh cách nhìn của chính quyền Joe Biden về thế giới.

Việc không có Việt Nam trong danh sách mời cũng được một số chuyên gia quốc tế nêu ra, trong khi Trung Quốc kịch liệt phản đối việc Hoa Kỳ mời Đài Loan.

Ảnh: REUTERS/GETTY

Nhà báo Philippines Maria Ressa và biên tập một báo Nga, Dmitry Muratov nhận Nobel Hòa bình 2021 cho các nỗ lực vì tự do báo chí ở quê hương của họ. Thế nhưng Philippines được Joe Biden mời tới dự Thượng đỉnh Dân chủ, còn Nga thì không.

Không phải lần đầu

Dù đây không phải là thượng đỉnh quốc tế duy nhất và đầu tiên về dân chủ – đã có hội nghị liên minh dân chủ tương tự tại Copenhagen, Đan Mạch trong các năm 2019, 2020, 2021 – nhưng đây là sự kiện đầu tiên của nhiệm kỳ tổng thống Joe Biden, do Hoa Kỳ chủ trì.

Mục tiêu là của ông Biden là mời đại diện hơn 100 quốc gia đến bàn về cách ngăn không cho các giá trị dân chủ, tự do “tụt dốc” trên toàn cầu.

Nhưng việc một số quốc gia có chế độ độc đoán cũng được mời, như CH Dân chủ Congo (DRC), và Pakistan, làm nảy sinh cách diễn giải rằng chính quyền Biden muốn “mở rộng vòng tay” để khuyến khích dân chủ, chứ không chỉ mời các nước đã đạt tiêu chuẩn cao về thể chế dân chủ.

Ảnh: AFP

Phong trào Trà Sữa tại Myanmar lấy cảm hứng từ Hong Kong và Đài Loan để đòi các quyền dân chủ

Mặt khác, có thể địa chính trị đã góp phần định hình danh sách khách mời lần này của Hoa Kỳ.

Danh sách “ai được mời, ai không” mà Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố tại địa chỉ ‘The Summit for Democracy‘ đã hôm 23/11/2021 nhanh chóng trở thành chủ đề bình luận của báo chí và giới nghiên cứu.

Theo Reuters, việc Hoa Kỳ công khai và chính thức mời Đài Loan đến dự Thượng đỉnh đánh dấu thay đổi trong cách nhìn nhận chính quyền ở hòn đảo này, bất chấp phản ứng từ Trung Quốc.

Còn theo đánh giá của Stephen Feldstein trên trang Carnegie Center, thì chính quyền Biden đã mời ít số quốc gia Trung Đông, Bắc Phi, Trung Á và Nam Á.

Nhà báo tự do Phạm Đoan Trang, người từng được trao giải thưởng của tổ chức Phóng viên Không Biên giới tại Berlin (khiếm diện) hiện đang ngồi tù trong bệnh tật ở VN

Cả vùng Nam Á và Ấn Độ Dương chỉ có bốn nước được mời: Ấn Độ, Maldives, Nepal và Pakistan.

Ở Trung Cận Đông, chỉ có Israel và Iraq được mời.

Vùng châu Á-Thái Bình Dương có 21 quốc gia được mời.

Việt Nam, Thái Lan, Campuchia và cả Indonesia không có tên trong danh sách, nhưng thành viên Asean là Philippines lại được mời.

Nhà báo Philippines Maria Ressa và biên tập một tờ báo Nga, Dmitry Muratov nhận Nobel Hòa bình 2021 cho các nỗ lực vì tự do báo chí ở quê hương của họ.

Thế nhưng Philippines, nước là đối tượng của nhiều chỉ trích về việc thiếu tự do báo chí, được TT Joe Biden mời tới dự Thượng đỉnh Dân chủ, còn Nga thì không. Nga thậm chí còn là mục tiêu của một liên minh bảo vệ dân chủ mà Hoa Kỳ chủ trương cùng các nước châu Âu.

Vùng Hạ Sahara thuộc châu Phi có 17 nước được mời.

Địa chính trị có vai trò quan trọng?

Theo Thomas Pepinsky, viết trên trang của Viện Brookings thì “địa chính trị” đóng vai trò quan trọng.

“Thượng đỉnh vì Dân chủ có tham vọng lớn hơn về địa chính trị (chứ không chỉ nói về giá trị). Nó phản ánh quan điểm chủ đạo của chính quyền Biden rằng tập hợp một liên minh toàn cầu của các nền dân chủ có thể chống lại sự trỗi dậy của Trung Quốc và các hoạt động hung hăng không dừng của Nga”.

Tuy thế, tác giả này tỏ ra nghi ngờ sự thành công của mục tiêu địa chính trị mà Thượng đỉnh vì Dân chủ muốn đạt được:

“Có các lý do tốt để nhấn mạnh đến lợi ích chung của các nền dân chủ mới, và các nền dân chủ đã định hình chắc chắn, nhưng tham vọng của Thượng đỉnh về địa chính trị chắc chắn sẽ đem lại thất vọng”.

Một trong những lý do việc pha trộn mục tiêu địa chính trị với ý thức hệ (tự do, dân chủ) khó đem lại thành công là cấu trúc an ninh vùng, liên quan đến chính Việt Nam, theo ông Pepinsky.

Tác giả này cho rằng ông Tập Cận Bình nỗ lực xây dựng chế độ độc đoán “một lãnh đạo cứng rắn, độc đảng” ở Trung Quốc, Bắc Kinh không coi ý thức hệ là yếu tố trọng yếu trong ngoại giao, mà tỏ ra rất thực tiễn.

“Đối thủ chiến lược quan trọng nhất của Trung Quốc ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) là Việt Nam, quốc gia có thể chế độc đoán một đảng hệt như Trung Quốc”.

Riêng về quan hệ Mỹ-Việt trong phạm vi nhân quyền, dân chủ, có ý kiến nói nhu cầu cạnh tranh, ngăn ngừa Trung Quốc khiến chính quyền Biden “nương nhẹ” Hà Nội về nhân quyền.

Trả lời BBC News Tiếng Việt gần đây, Giáo sư về quan hệ quốc tế Robert Sutter, từ Elliott School of International Affairs, Đại học George Washington, Hoa Kỳ, nói rằng nhân quyền vẫn là quan tâm của chính phủ Joe Biden nhưng không muốn chủ đề này tạo trở ngại quan hệ:

“Ông Biden và đảng Dân chủ của ông rất quan tâm đến nhân quyền và dân chủ. Tuy nhiên, ông Biden cũng muốn mối quan hệ với Việt Nam tiến xa hơn vì họ có nhiều điểm chung. Vấn đề nhân quyền là quan trọng đối với chính quyền hiện nay nhưng nó không phải là trở ngại lớn để tăng cường quan hệ với Việt Nam” (Xem thêm bài: Nhân quyền ở Việt Nam: Trò chơi Joe Biden không muốn thắng?).

Cho đến nay, Trung Quốc không bình luận gì nhiều về Thượng đỉnh vì Dân chủ của Hoa Kỳ, ngoài việc phản đối lời mời của ông Biden gửi tới Đài Loan.

Phát ngôn viên Triệu Lập Kiên của Bộ Ngoại giao TQ cho rằng, qua việc mời Đài Loan, “một lần nữa, các hành động của Hoa Kỳ cho thấy dân chủ chỉ là vỏ bọc và là công cụ để Mỹ theo đuổi các mục tiêu địa chính trị, chia rẽ thế giới…”.

Nguồn: BBC Tiếng Việt

Lạm phát ở Mỹ cao nhất trong 30 năm: nguyên do vì đâu?

Lạm phát ở Mỹ cao nhất trong 30 năm: nguyên do vì đâu?

26/11/2021

Người dân mua sắm cho ngày Lễ Tạ Ơn tại một siêu thị Walmart ở Las Vegas. Giá cả tăng cao khiến bữa tiệc Lễ Tạ Ơn năm nay đắt đỏ hơn những năm trước

Gián đoạn chuỗi cung, nhu cầu tăng sau đại dịch, giá xăng tăng do khủng hoảng năng lượng toàn cầu, nhiều gói kích thích khổng lồ để hỗ trợ kinh tế, lãi suất bị kiềm hãm ở mức thấp trong nhiều năm và chính phủ tiếp tục tung tiền mua trái phiếu là những nguyên nhân đẩy lạm phát ở Mỹ tăng cao, các nhà phân tích nhận định.

‘Tăng chóng mặt’

Chính phủ Mỹ cho biết chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 6,2% so với năm trước – mức tăng cao nhất trong vòng 30 năm qua.

Trong nhiều tháng, nhiều kinh tế gia phát ra thông điệp trấn an rằng giá hàng hóa tiêu dùng tăng đột biến, vốn đã không xảy ra ở Mỹ trong một thế hệ, sẽ không kéo dài. Nó chứng tỏ sẽ chỉ là ‘tạm thời’, theo lời trấn an của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Jerome Powell và các quan chức Tòa Bạch Ốc, khi kinh tế Mỹ đi từ hỗn loạn trong dịch COVID-19 sang gần như bình thường.

Tuy nhiên, bất kỳ người Mỹ nào đã mua sữa, đổ xăng hoặc mua xe cũ đều có thể thấy lạm phát ảnh hưởng đến túi tiền của họ. Và các nhà kinh tế giờ đưa ra thông điệp nản lòng hơn: giá cả cao hơn có thể sẽ kéo dài đến sang năm, nếu không muốn nói là lâu hơn nữa.

“Đó là cú giáng lớn vào thông điệp lạm phát là tạm thời,” ông Jason Furman, người từng là cố vấn kinh tế hàng đầu trong chính quyền Obama, nói với hãng tin AP. “Lạm phát không chậm lại. Nó đang đi với tốc độ chóng mặt.”

Và cú sốc giá cả hiển hiện ở những chỗ các hộ gia đình bị ảnh hưởng nhiều nhất. Đồ ăn sáng chẳng hạn: giá thịt xông khói tăng 20% trong năm qua, giá trứng tăng gần 12%. Giá xăng tăng 50%. Mua máy giặt hoặc máy sấy sẽ phải trả thêm 15% so với một năm trước. Còn xe cũ? Mắc hơn 26%.

Mặc dù lương cũng tăng nhiều đối với nhiều người lao động, nhưng mức tăng đó gần như không theo kịp giá cả. Tháng trước, mức lương theo giờ trung bình ở Mỹ, sau khi tính đến lạm phát, thực sự giảm 1,2% so với tháng 10 năm 2020.

Giá cả tăng cao đang làm tăng áp lực lên Cục Dự trữ Liên bang (Fed) phải từ bỏ chính sách cho vay dễ dàng. Và nó cũng đặt ra mối đe dọa cho Tổng thống Joe Biden, phe Dân chủ ở Quốc hội và kế hoạch chi tiêu đầy tham vọng của họ.

Điều gì khiến giá tăng?

Phần lớn nguyên do lại là tin tốt. Bị COVID-19 tàn phá, kinh tế Mỹ sụp đổ hồi mùa xuân năm 2020 khi phong tỏa bắt đầu, các doanh nghiệp đóng cửa hoặc cắt giảm giờ làm và người tiêu dùng ở nhà tránh dịch. Các công ty cắt giảm 22 triệu việc làm. Sản lượng kinh tế đã giảm với tốc độ tàn phá là 31% hàng năm trong quý 2 năm ngoái.

Ai cũng chuẩn bị tâm lý rằng khó khăn sẽ kéo dài hơn. Các công ty cắt giảm đầu tư. Nhiều trung tâm mua sắm hoãn lấy thêm hàng. Theo sau là suy thoái tàn khốc.

Tuy nhiên, thay vì chìm vào suy thoái kéo dài, kinh tế Mỹ đã có sự phục hồi bất ngờ, do các gói chi tiêu khổng lồ của chính phủ và một loạt các động thái khẩn cấp của Fed. Đến đầu năm nay, triển khai chích ngừa đã khiến người tiêu dùng mạnh dạn trở lại nhà hàng, quán bar và cửa hàng.

Bất thình lình, các doanh nghiệp vật lộn để đáp ứng nhu cầu dâng cao. Họ không tìm đủ người để lấp đầy các chỗ trống – 10,4 triệu vào tháng 8, gần mức kỷ lục, hoặc không lấy đủ hàng để đáp ứng các đơn hàng. Khi doanh nghiệp phục hồi mạnh mẽ trở lại, các hải cảng và bãi tập kết hàng không đảm đương nổi lượng hàng đến. Chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn.

Chi phí tăng lên. Và các công ty chuyển những chi phí cao hơn đó sang người tiêu dùng với giá cả cao hơn. Trong khi đó, nhiều người Mỹ đã dành dụm được cũng kha khá trong đại dịch.

“Một nguyên nhân đáng kể gây ra lạm phát mà chúng ta đang nhìn thấy là kết quả không tránh khỏi của việc thoát khỏi đại dịch,” AP dẫn lời ông Furman, hiện là kinh tế gia tại Trường Kennedy của Đại học Harvard, cho biết.

Tuy nhiên, Furman cho rằng chính sách sai lầm của chính phủ cũng góp phần vào lạm phát. Các nhà hoạch định chính sách rất muốn ngăn kinh tế suy thoái đến nỗi họ ‘coi nhẹ lạm phát một cách có hệ thống’, ông nói.

“Họ đổ thêm dầu vào lửa,” ông nói.

Chi tiêu ồ ạt của chính phủ – bao gồm gói cứu trợ virus corona trị giá 1,9 nghìn tỷ đô la của Tổng thống Joe Biden, với khoản chi trả 1.400 đô la cho hầu hết các hộ gia đình hồi tháng 3 – đã kích thích nền kinh tế quá mức, Furman nói.

“Lạm phát ở Mỹ cao hơn rất nhiều so với ở châu Âu,” ông lưu ý. “Châu Âu cũng bị cú sốc tương tự về cung cầu như ở Mỹ, và cũng gặp vấn đề về chuỗi cung ứng tương tự. Nhưng họ không kích thích kinh tế quá nhiều.”

Tổng thống Biden thừa nhận ‘lạm phát làm tổn thương túi tiền người dân Mỹ, và đảo ngược xu hướng lạm phát là ưu tiên hàng đầu của tôi’. Ông Biden nói rằng gói cơ sở hạ tầng trị giá 1 nghìn tỷ đô la mà ông thúc đẩy, bao gồm chi tiêu cho đường sá, cầu, cảng, sẽ giúp giảm bớt tắc nghẽn chuỗi cung ứng.

‘Nhiều yếu tố cộng dồn’

Trao đổi với VOA, Giáo sư-Tiến sỹ Khương Hữu Lộc, vốn giảng dạy chương trình Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh tại Keller Graduate School of Management, nhận định rằng ‘một loạt các yếu tố xảy ra cùng một lúc thúc đẩy lạm phát ở Mỹ tăng cao’.

“Sau bất kỳ cuộc khủng hoảng nào đó mà kinh tế phục hồi trở lại thì lạm phát gia tăng,” ông Lộc giải thích là dẫn chứng là sau cuộc khủng hoảng tài chính hồi năm 2008 thì giá cả ở Mỹ cũng gia tăng tạm thời.

“Đó là do người dân quay trở lại tiêu xài trong khi chính phủ đã đưa ra mấy gói cứu trợ liên tiếp để cho tiền người dân tiêu xài,” ông nói thêm và cho biết đó là ‘demand-pulled inflation’, tức lạm phát do nhu cầu tăng cao.

Không may là ‘demand-pulled inflation’ lại được cộng hưởng bởi ‘cost-pushed inflation’, tức lạm phát do giá đầu vào tăng cao, càng khiến lạm phát tăng mạnh, ông Lộc phân tích.

“Bao nhiêu quốc gia cung cấp hàng cho Mỹ bị gián đoạn cung ứng (do dịch bệnh). Mà khi thiếu nguồn cung thì giá thành hàng hóa ở Mỹ sẽ gia tăng,” ông nói.

Ngoài ra giá xăng dầu đang tăng cao ‘cũng ảnh hưởng rất mạnh đến lạm phát’ vì nó liên quan đến giá đầu vào của hầu hết hàng hóa và dịch vụ, cũng theo lời vị giáo sư này.

Bên cạnh những yếu tố này, lạm phát ở Mỹ còn có nguyên nhân chủ quan, mang tính hệ thống là chính sách của Fed ‘giữ lãi suất thấp một cách nhân tạo từ thời cựu Tổng thống Trump đến nay để kích thích nền kinh tế’.

“Trước đây lãi suất thấp nhưng kinh tế trì trệ thì không bị lạm phát nhưng bây giờ kinh tế tăng trưởng trở lại thì nó thúc đẩy lạm phát,” ông nói.

Ông nói với các nguyên nhân ở trên có sẵn thì chuỗi cung ứng bị gián đoạn là ngòi nổ để châm ngòi lạm phát.

Khi được hỏi về trách nhiệm của chính quyền Tổng thống Joe Biden khi tung tiền ra quá nhiều tiền, ông Lộc nói: “Chính quyền nào cũng vậy chứ không phải Biden. Chính quyền Trump cũng vậy. Thực sự số tiền tiêu xài nhiều nhất là 6 ngàn tỷ dưới thời Trump. Biden mới tung ra mấy ngàn tỷ thôi nhưng toàn là tiền chưa xài nên không ảnh hưởng vào con số lạm phát hiện nay.”

Tuy nhiên, ông bày tỏ lo ngại việc chính quyền Biden đang tiếp tục thông qua gói chi tiêu xã hội vào khoảng 2-3 ngàntỉ đô la và nói rằng ‘vô cùng tai hại’ vì nó sẽ làm cho lạm phát tiếp tục kéo dài qua những năm sau.

Lạm phát kéo dài bao lâu?

Lạm phát giá tiêu dùng có thể sẽ còn kéo dài chừng nào các công ty còn khốn đốn theo kịp nhu cầu hàng hóa và dịch vụ chưa từng thấy của người tiêu dùng. Thị trường lao động đang hồi sinh – các công ty đã tạo thêm 5,8 triệu việc làm trong năm nay – có nghĩa là người Mỹ có thể tiếp tục vung tiền vào mọi thứ từ đồ gỗ cho đến xe mới. Và các nút thắt chuỗi cung ứng không có dấu hiệu được giải tỏa.

“Bên cầu của kinh tế Mỹ sẽ tiếp tục là điều cần phải để ý,” ông Rick Rieder, giám đốc đầu tư tại Blackrock, được AP dẫn lời nói, ‘và các công ty sẽ tiếp tục chuyển chi phí thành giá cả.’

“Tôi nghĩ rằng nó sẽ là ‘tạm thời’,” bà Megan Greene, kinh tế gia trưởng tại Viện Kroll, nói về lạm phát. “Nhưng các nhà kinh tế phải rất trung thực khi định nghĩa ‘tạm thời’ là gì, và tôi nghĩ nó có thể dễ dàng kéo dài thêm một năm nữa’.

Sự tăng giá hàng tiêu dùng đã gợi lên bóng ma tình cảnh những năm 1970 sẽ trở lại. Đó là khi giá cao hơn xảy ra cùng lúc với thất nghiệp.

Tuy nhiên, tình hình hiện nay có vẻ rất khác. Tỷ lệ thất nghiệp tương đối thấp, và nhìn chung các hộ gia đình đang ở trong tình trạng tốt về tài chính. Conference Board, một công ty nghiên cứu kinh doanh, phát hiện ra rằng kỳ vọng lạm phát của người tiêu dùng trong tháng trước là cao nhất kể từ tháng 7 năm 2008. Nhưng họ dường như không lo lắng: chỉ số niềm tin của người tiêu dùng cũng tăng, do lạc quan về thị trường việc làm.

“Ít nhất, vào lúc này, họ cảm thấy lợi ích đang nhiều hơn mặt xấu,” Lynn Franco, giám đốc cấp cao về các chỉ số kinh tế của Conference Board, nói với AP.

Tăng trưởng kinh tế, sau khi chậm lại từ tháng 7 đến tháng 9 trước biến thể Delta dễ lây lan, được cho là sẽ phục hồi trong quý cuối cùng của năm 2021.

“Hầu hết các nhà kinh tế đang kỳ vọng tăng trưởng sẽ tăng tốc trong quý tư,” bà Greene nói thêm.

Áp lực đang đè nặng lên Fed, vốn có trách nhiệm kiềm giữ lạm phát, là phải kiểm soát giá cả.

“Họ cần ngừng nói rằng lạm phát là tạm thời, bắt đầu lo lắng hơn về lạm phát, sau đó hành động một cách phù hợp,” Furman nói.

Chủ tịch Fed, ông Powell đã thông báo Fed sẽ bắt đầu giảm mua trái phiếu hàng tháng mà họ bắt đầu mua hồi năm ngoái như một cách khẩn cấp để thúc đẩy kinh tế. Vào tháng 9, các quan chức Fed dự báo cho đến trước cuối năm 2022 họ sẽ tăng lãi suất từ mức gần bằng 0, sớm hơn nhiều so với dự đoán.

Nhưng lạm phát cao, nếu kéo dài, có thể buộc Fed phải đẩy nhanh việc tăng lãi suất; Các nhà đầu tư dự kiến Fed sẽ tăng lãi suất ít nhất hai lần vào năm tới.

‘Cần giảm áp lực giá xăng dầu’

Theo nhận định của Giáo sư Khương Hữu Lộc thì lạm phát sẽ kéo dài ‘chừng khoảng 2-3 năm chứ không phải trong 5-6 tháng’.

“Nếu chính phủ giảm được áp lực lên giá xăng dầu thì giá cả hàng hóa sẽ giảm,” ông nói và cho biết ông ủng hộ động thái mới nhất của chính quyền Biden là mở kho dự trữ xăng dầu chiến lược để đối phó với việc các nước xuất khẩu dầu ‘cấu kết với nhau giữ giá xăng dầu cao’.

“Nếu chính phủ giải quyết được điểm nghẽn chuỗi cung ứng, nâng cấp các hải cảng, đường sá, hệ thống hỏa xa, kho bãi, tăng nhập hàng từ những nước gần như Mexico hay Canada thì lạm phát sẽ giảm,” ông nói thêm và cảnh báo chính quyền Biden đừng nên vì lạm phát mà chấp nhận gỡ bỏ thuế quan cho hàng Trung Quốc để hàng giá rẻ của nước này ồ ạt đổ vào Mỹ như trước.

Ông dự đoán ‘khoảng quý 3 hay quý 4 năm sau Fed sẽ tăng lãi suất tượng trưng đôi chút’. “Điều này sẽ ảnh hưởng đến sự phục hồi kinh tế, nhưng nếu Fed trấn an rằng họ chỉ tăng nhẹ và còn lâu mới tăng lần nữa thì giới đầu tư sẽ không phản ứng quá mạnh.”

Khi được hỏi liệu người lao động có nên được tăng lương để giúp cuộc sống họ bớt chật vật trước tình trạng giá cả tăng cao hay không, ông Lộc nói: “Khi lương gia tăng thì lạm phát càng bị đẩy lên cao nữa nên thành ra đó là con dao hai lưỡi.”

 

Mỹ áp đặt lệnh cấm du hành với tám nước Châu Phi vì biến thể Omicron

VOA Tiếng Việt 

Mỹ sẽ cấm hầu hết du khách đến từ tám quốc gia ở khu vực nam Châu Phi bắt đầu từ ngày thứ Hai, sau khi một biến thể virus corona mới có khả năng lây lan mạnh hơn được xác định ở Nam Phi, Tổng thống Joe Biden nói vào ngày thứ Sáu.

Các hạn chế du hành không cấm các chuyến bay hoặc áp dụng cho công dân Mỹ và thường trú nhân hợp pháp ở Mỹ.

Chưa có ca Omicron nào được xác định tại Mỹ tính đến thời điểm này, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật (CDC). Cơ quan này hi vọng họ sẽ nhanh chóng xác định được biến thể B.1.1.529, nếu nó xuất hiện trong nước.

Các nước khắp thế giới đã vội vàng đình chỉ du hành từ khu vực nam Châu Phi sau khi Tổ chức Y tế Thế giới nói Omicron là “đáng lo ngại.” Nhiều nước đã ban hành lệnh cấm du hành có hiệu lực ngay lập tức, không như lệnh cấm của Mỹ.

Các hạn chế áp dụng cho Nam Phi, Botswana, Zimbabwe, Namibia, Lesotho, Eswatini, Mozambique và Malawi. Hầu hết những người không phải công dân Mỹ đã ở các quốc gia đó trong vòng 14 ngày trước đó sẽ không được phép vào Mỹ.

“Như một biện pháp phòng ngừa cho đến khi chúng tôi có thêm thông tin, tôi ra lệnh ban hành thêm các hạn chế du hành bằng đường hàng không từ Nam Phi và bảy quốc gia khác,” ông Biden nói trong một phát biểu.

Trước đó, quan chức hàng đầu về bệnh truyền nhiễm của Mỹ, Bác sĩ Anthony Fauci nói Mỹ đang gấp rút thu thập dữ liệu về biến thể COVID-19 mới.

Có thể mất hàng tuần để các nhà khoa học hiểu cặn kẽ về các đột biến của biến thể này. Các nhà chức trách y tế đang tìm cách xác định xem Omicron có khả năng lây truyền hoặc lây nhiễm nhiều hơn các biến thể khác hay không và liệu vaccine có hiệu quả với nó hay không.

Mỹ chỉ mới dỡ bỏ các hạn chế du hành đối với 33 quốc gia bao gồm Nam Phi, Trung Quốc, phần lớn Châu Âu, Ấn Độ, Brazil, Ireland, Anh và Iran vào ngày 8 tháng 11, sau khi cấm nhập cảnh hầu hết công dân nước ngoài gần đây đã ở các quốc gia đó kể từ đầu đại dịch vào đầu năm 2020.

(Nếu không vào được VOA, xin hãy dùng đường link https://bit.ly/VOATiengViet1 hoặc https://bit.ly/VOATiengViet2 để vượt tường lửa)

Ơn hoán cải của nữ hoàng trượt băng Hàn Quốc, Kim Yuna

Make Christianity Great As Always is in South Korea.

{Ơn hoán cải của nữ hoàng trượt băng Hàn Quốc, Kim Yuna}

Câu chuyện của nữ vận động viên người Hàn Quốc, nữ hoàng trượt băng đã trở lại Công giáo. Sau khi giải nghệ đã dành một phần tài sản cho các dự án liên đới Công giáo.

Đối với Kim Yuna, sân trượt băng là môi trường sống của cô. Mọi người nhận xét dường như cô được sinh ra cùng với đôi giày trượt băng. Vóc dáng phù hợp với bộ môn thể thao, sự dẫn dắt nhiệt tình của các huấn luyện viên, kết hợp với sức mạnh ý chí đã làm nên những chiến thắng trên sân ở các giải thi đấu quốc gia và quốc tế của Kim Yuna.

Thiếu nữ Hàn Quốc đã nhiều lần ở trên bục cao danh dự, chạm tới những đỉnh cao chiến thắng, nhưng đối Kim Yuna, Thiên đàng thực sự là khi cô khám phá sự bình an trong đức tin Công giáo.

Kim Yuna bắt đầu trượt băng khi mới lên 5 tuổi. Các huấn luyện viên đã nhìn thấy nơi vóc dáng hoàn hảo của cô rất phù hợp cho bộ môn thể thao này. Vì vậy họ đã thuyết phục cha mẹ cô để cô được tập luyện trở thành vận động viên chuyên nghiệp.

Năm 2002, lần đầu tiên tham gia một cuộc thi đấu quốc tế, cô đã giành huy chương vàng. Ngay sau đó, khi tròn 12 tuổi, Kim Yuna đã trở thành vận động viên trượt băng nghệ thuật trẻ nhất giành chức vô địch Hàn Quốc.

Từ lúc đó, cuộc sống của cô trở thành một vòng xoáy của những chuyến du lịch, tập luyện và đi đấu. Trong những lần đi đấu đó, thường xuyên cô giành chiến thắng, nhận được nhiều huy chương vàng. Cô trở thành thần tượng cho các thiếu nữ khác.

Kim Yuna ngày càng nổi tiếng trong làng thể thao thế giới nói chung và Hàn Quốc nói riêng. Mọi thứ chạm vào cô đều trở thành vàng. Các công ty lớn tìm mọi cách để mời cô làm người mẫu quảng cáo cho mặt hàng của họ. Tất cả tin rằng sự hiện diện của cô bảo đảm cho sự thành công đem lại lợi nhuận cho công ty.

Tuy nhiên vào thời điểm thành công rực rỡ đó, Kim Yuna lại cảm thấy lạc lõng, cô đơn. Cô phải thường xuyên di chuyển trên máy bay và lưu lại khách sạn một mình.

Năm 2007, ở giải vô địch trượt băng nghệ thuật thế giới, khán giả chứng kiến trước khi vào sân đi đấu, nữ hoàng trượt băng đã làm dấu Thánh Giá. Mọi người còn thấy cô đeo nơi cổ một hình Đức Mẹ. Sau này cô tiết lộ đây là món quà của một nữ tu.

Trong lần thi đấu đó, do bị chấn thương cô không thể thi đấu tốt và giành chiến thắng như những lần trước. Cô chia sẻ, lần đó cô đã cầu nguyện rất nhiều và Đức Mẹ đã giúp cô hoàn thành cuộc thi và đứng vị trí thứ ba.

Một năm sau đó, Kim Yuna và mẹ cô đã lãnh Bí tích Rửa tội, gia nhập Công giáo.

Cô cho biết, cô học yêu Chúa từ bác sĩ, một người có đời sống đạo tốt, và từ các nữ tu đã chăm sóc cho cô khi cô nằm điều trị trong bệnh viện. Từ những người này, Kim Yuna đã tìm được sự bình yên điều cô đang cần. Từ lúc đó, ngày qua ngày, Kim Yuna ngày càng cảm nhận tình yêu Chúa và học yêu Chúa. Cô đã quyết định học giáo lý Công giáo với mong muốn được trở thành Kitô hữu. Cô đã lãnh Bí tích Rửa tội và tiếp tục sự nghiệp thể thao nhưng trong tinh thần mới, tinh thần Kitô. Tinh thần Kitô được nữ hoàng trượt băng thể hiện trong mỗi trận đấu, qua việc thể hiện nét đẹp của thể thao theo đúng nghĩa của nó. Nghĩa là chiến thắng bằng nỗ lực tập luyện và say mê nghệ thuật, không chiến thắng bằng những thủ thuật làm tổn hại đến sự trong sáng của thể thao, làm mất niềm tin nơi khán giả. Vinh quang trong chiến thắng không phải là đích đến cuối cùng, nhưng là một khích lệ để tiếp tục tiến bước với sự thanh thản và bình an, là nguồn cảm hứng cho những người trẻ khác, giúp cho họ không bỏ cuộc trong những thất bại trong mọi lĩnh vực.

Ngày 09/02/2018, Kim Yuna được vinh dự lớn thắp sáng ngọn đuốc Olympic tại Thế vận hội Bình Xương. Ban tổ chức quyết định dành cho cô vinh dự này vì muốn ghi nhận sự nghiệp mà cô đã đạt được trong những lần vô định thế giới và huy chương vàng tại Thế vận hội Vancouver năm 2010.

Năm nay, ở tuổi 30, Kim Yuna đã tạm dừng các giải thi đấu lớn, nhưng không ngưng các hoạt động khác, các hoạt động xã hội đem lại phúc lợi cho người khác. Thực tế, trong nhiều năm qua, nữ vận động viên đã cộng tác với nhiều tổ chức bác ái và các hội dòng để biến các dự án ở các khu vực nghèo trên thế giới thành hiện thực.

Cô quan tâm đặc biệt đến hoàn cảnh của các trẻ em nghèo, bị bỏ rơi. Vì vậy, cô đã thúc đẩy việc thành lập các trường học và hợp tác chặt chẽ với Unicef để hỗ trợ các trẻ em. Và tất nhiên nữ hoàng trượt băng vẫn tiếp tục bảo vệ và sống đức tin Công giáo, điều đã làm cho cuộc đời cô thay đổi mãi mãi.

(Ngọc Yến – Vatican News)

Frank Snepp: Ngày cuối cùng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở Việt Nam

Frank Snepp: Ngày cuối cùng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở Việt Nam

  • Tina Hà Giang
  • Gửi bài cho BBC từ California, Hoa Kỳ

14 tháng 11 2021

Năm nay 78 tuổi, ông Frank Snepp trả lời phỏng vấn của BBC tại Nam California vào cuối tháng 10/2021

Ngày 30/4/1975, Frank Snepp đứng trên nóc Tòa Đại Sứ Mỹ, thất thần chờ chiếc trực thăng cuối cùng đến bốc ông, đưa ra chiến hạm USS Denver, rời Nam Việt Nam, đất nước ông đã phục vụ hai lần, 1969-1972 và 1972-1975.

Nhà phân tích chính về chiến lược Bắc Việt của CIA trong Cuộc chiến Việt Nam trở về Mỹ nhưng có lẽ chưa bao giờ ‘rời khỏi’ Việt Nam. Giờ đây 78 tuổi, Frank Snepp sống một mình trong một chung cư ở West Los Angeles với con chó nhỏ.

Trong phòng làm việc chứa đầy dấu tích của hai chuyến công tác đã thay đổi cả đời mình, Frank Snepp cho chúng tôi biết ông đang viết một cuốn sách nữa về cuộc chiến VN, và cũng đang làm việc với một hãng phim của Úc về sự tham gia của ông trong cuộc chiến này.

Đã gần 50 năm rồi thì còn gì để viết thêm trong sách nữa?

“Tôi còn bị dằn vặt nhiều về những gì đã xảy ra. Tôi thấy mình còn nợ Việt Nam một món nợ tinh thần. Khuôn mặt của bạn bè, người thông dịch, những người đã cộng tác và trung thành với Hoa Kỳ, kể cả những điệp viên, bị bỏ lại trong những ngày cuối cùng hoảng loạn ấy đến giờ vẫn ám ảnh tôi trong những giấc mơ…” Ông tâm sự.

‘Ngày cuối cùng của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn’ mở đầu loạt bài Trò chuyện với Frank Snepp chúng tôi thực hiện cho BBC tại Nam California vào cuối tháng 10/2021.

Đầu tiên là câu hỏi về tình hình Nam VN trước ngày 25/4, khi Frank Snepp đưa ông Nguyễn Văn Thiệu rời khỏi thủ đô Sài Gòn.

Frank Snepp: Ngày 25/4/1975, còn bốn ngày nữa là chiến tranh kết thúc, tình hình thật hỗn loạn. Chúng ta [Mỹ – BBC] chưa thực sự bắt đầu cuộc di tản đáng kể nào. Đã có một số người Mỹ được đưa ra khỏi VN, nhưng nhiều người Việt đã không tìm được đường đi vì Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin tin rằng sẽ có một thỏa thuận với Bắc Việt, và từ đó Mỹ có thể dễ dàng giúp một số người Việt di tản. Ông Martin tin rằng chỉ cần đưa ông Nguyễn Văn Thiệu khỏi hiện trường, thì sẽ có được thỏa thuận, bất kể những gì điệp viên giỏi nhất của VNCH đã cảnh báo trước đó.

Ông Thiệu đã từ chức hôm 21/4. Ông bị áp lực từ chức vì Đại sứ Martin đưa cho ông xem một nghiên cứu tôi đã thực hiện cho CIA. Nghiên cứu cho thấy nhiều người ở Sài Gòn muốn lật đổ Thiệu vì tình hình chiến sự rất tồi tệ. Lực lượng 140 ngàn quân Bắc Việt đang bao quanh Sài Gòn.

Từ chức rồi nhưng ông Thiệu vẫn chưa ra đi và vẫn còn ảnh hưởng. Phe cộng sản Bắc Việt không biết điều gì sẽ xảy ra. Họ không rõ liệu ông có tìm cách nắm quyền trở lại. Đối thủ chính trị của ông Thiệu, như Nguyễn Cao Kỳ, cũng không biết ông Thiệu sẽ có dở trò gì để tiếp tục quay lại nắm quyền. Trước tình hình đó, ông Trần Văn Hương, tổng thống mới lên thay ông Thiệu, đến gặp đại sứ Martin nhờ đưa ông Thiệu rời khỏi hiện trường, vì sự có mặt của ông lúc đó tại VN, theo ông Hương, bị đánh giá là khiến cho tình thế khó lường.

Ông chính thức nhận được lệnh phải đưa ông Thiệu rời khỏi VN lúc nào, trong hoàn cảnh ra sao?

Frank Snepp: Đại sứ Martin đến gặp ông Thomas Polgar, Trưởng Văn phòng CIA tại Sài Gòn, thượng cấp của tôi, 24/4, một ngày trước khi chúng tôi đưa ông Thiệu đi. Ông Martin nói phải làm thế, vì ông Thiệu đang là yếu tố gây ra rối loạn.

Chụp lại video,

Ngày cuối cùng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở Việt Nam

Ông Thiệu lúc ấy buồn khủng khiếp. Ông Hoàng Đức Nhã, em họ của ông ấy khuyên ông đừng có động tĩnh gì, hãy giống như Napoléon ở Elba, ngồi yên và chấp nhận số phận. Bà Thiệu thì lo rằng ai đó sẽ sát hại gia đình bà hoặc chồng bà, và đã rời khỏi VN, bay qua Bangkok.

30/04: Tổng thống Minh và văn thư yêu cầu Mỹ rút khỏi Việt Nam

Xung quanh vụ Hoàng Phủ Ngọc Tường ‘xin lỗi’ về Mậu Thân

Có những ngày 30/04 trước 1975 và mãi mãi về sau

Tối ngày 24/4, Đại sứ Martin bắt đầu làm việc với CIA để di tản ông Thiệu. Việc đưa ông Thiệu đi khỏi Việt Nam lúc đó là một trong những hoạt động nguy hiểm nhất mà CIA chúng tôi phải thực hiện.

Tại sao việc đưa ông Thiệu rời khỏi VN lại là một công tác nguy hiểm như vậy, thưa ông?

Frank Snepp: Sếp tôi, ông Polgar sau này kể lại rằng việc đưa ông Thiệu đi diễn ra rất nhịp nhàng, nhưng điều đó không hoàn toàn đúng. Việc ông Polgar nói là nhịp nhàng là việc thu xếp sao để có một chiếc máy bay. Đó là chiếc máy bay mà chính ngài đại sứ từng dùng khi đi ra nước ngoài. Nó là chiếc máy bay tầm ngắn, nhưng có thể bay đến Đài Loan, nơi mà anh trai ông Thiệu làm đại sứ, vì vậy được cho là một nơi trú ẩn an toàn cho ông Thiệu. Chiếc máy bay đó được đưa đến, và giấu kín trong một khu của phi trường Tân Sơn Nhất.

Bí mật là điều tối quan trọng trong việc đưa ông Thiệu đi, chúng tôi lo là nếu ai đó, như ông Nguyễn Cao Kỳ, biết được việc này, họ có thể thực hiện một cuộc đảo chính vào phút cuối và ông Thiệu có thể bị ám sát.

Tình hình như thế nào trong ngày 25/4, ngày ông Thiệu được CIA đưa ra khỏi VN, ông còn nhớ không?

Frank Snepp: Một số việc xảy ra sáng ngày 25/4 khiến tình hình thêm rối rắm. Người Nga phản hồi đề nghị của Mỹ, nói rằng có vẻ như Bắc Việt sẽ không cố làm bẽ mặt Hoa Kỳ. Henry Kissinger, cố vấn an ninh đặc biệt của Tổng thống Ford, diễn giải thông điệp này của Liên Xô là chúng ta (Hoa Kỳ) vẫn còn thời gian để thương lượng một thỏa thuận với Bắc Việt. Một lần nữa, đây là một phán đoán hết sức sai lầm. Nhưng việc đưa ông Thiệu đi khỏi VN lúc đó với hai ông Kissinger và Martin là một phần của kế hoạch biến cuộc dàn xếp chính trị mà họ nghĩ là sẽ có ngày thành hiện thực. Vì vậy, sáng hôm đó có sự phấn khích rất lớn, với suy nghĩ là phe Liên Xô cũng đang chuẩn bị cho điều này, bắt phía Bắc Việt phải có một thỏa thuận nào đó.

Yếu tố thứ hai tạo ra căng thẳng lớn ngày hôm đó, là chúng tôi nhận được tin từ Hà Nội – một tín hiệu giả, rằng Bắc Việt sẵn sàng cho phép Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở lại Sài Gòn sau khi ngừng bắn. Điều đó có nghĩa là có vẻ như Bắc Việt sẽ không xóa sổ miền Nam VN, họ sẽ cho phép một chính phủ Nam VN được tồn tại ngay cả khi Bắc Việt chiếm xong được Sài Gòn. Và nếu chính phủ này tồn tại, thì Tòa Đại sứ Hoa Kỳ có thể tiếp tục hoạt động tại Sài Gòn. Vì vậy, giới lãnh đạo nuôi kỳ vọng vào sáng 25/4, là đơn giản chỉ cần ông Thiệu biến mất, thì một phép màu sẽ xảy ra.

NGUỒN HÌNH ẢNH,FRANK SNEPP’S BOOK

TT VNCH Nguyễn Văn Thiệu (bìa phải) trong một cuộc họp với Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin, người thứ nhì trong hình từ phải sang, đang nhìn vào ông.

Chiều hôm đó, sếp CIA Polgar và đại sứ Martin bảo tôi là phải tham gia vào điệp vụ này. Tôi sẽ là tài xế của ông Thiệu, và đi cùng xe với ông Thiệu sẽ có cựu Thiếu tướng Charles Timmes, người đã giải ngũ, hiện đang làm việc cho CIA, và cũng là người biết ông Thiệu rất rõ.

Chuyến đi cuối cùng của ông Thiệu ra phi trường:

Cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm được thu xếp làm thành phần của đoàn xe này. Ông Khiêm sẽ ngồi trong chiếc xe đi đầu, do một đồng nghiệp CIA của tôi cầm tay lái. Sếp tôi, ông Tom Polgar, sẽ ngồi trong chiếc xe đi đầu đó. Ông Polgar cũng đã mời một sĩ quan cảnh sát cao cấp của VNCH tham gia công tác này, vì ông dự trù là lỡ đoàn xe bị chặn trên đường đến phi trường Tân Sơn Nhất, thì sẽ có sẵn một sĩ quan cảnh sát cấp cao của Nam VN giúp chúng tôi thoát hiểm. Lúc đó những con đường quanh nơi ông Thiệu trú ẩn, cách không xa phi trường Tân Sơn Nhất lắm, đã bị chặn khắp nơi, và với giới nghiêm, không ai được ra khỏi nhà khi màn đêm buông xuống.

Sài Gòn là một trong bốn cuộc thoái lui lớn của người Mỹ

Ngài đại sứ và Thái Lan trong cuộc chiến VN

Nếu mất Huế TT Thiệu ‘đã sụp đổ’ từ 1972

Nixon đã cản trở hòa đàm ở Việt Nam thế nào?

Chương trình là chúng tôi sẽ lái xe khoảng 10 phút từ điểm hẹn đến một khu vực đen kịt không thắp đèn của Tân Sơn Nhất. Chúng tôi phải di chuyển trong bóng tối, và phải đưa hai ông Thiệu, Khiêm an toàn lên máy bay.

Nhận được lệnh vào khoảng 5 giờ chiều hôm đó, tôi vô cùng lo lắng, vì biết có nguy cơ rất lớn là có thể sẽ có nỗ lực ngăn chặn đoàn xe, và chúng tôi có khi sẽ phải nổ súng để thoát. Vì vậy tôi dấu vũ khí trong túi và một khẩu súng lục bên dưới chỗ ngồi. Tất cả những người Mỹ khác tham gia vào điệp vụ này, và những người đi cùng xe với ông Trần Thiện Khiêm, cũng trang bị vũ khí, sẵn sàng cho một cuộc đọ súng khủng khiếp.

Không ai có ảo tưởng nào, rằng nếu thực sư có âm mưu đảo chính, hoặc âm mưu ám sát ông Thiệu, chúng tôi sẽ thoát hiểm dễ dàng. Bởi chúng tôi nghĩ rằng bất cứ kẻ nào tìm cách ngăn chặn đoàn xe cũng sẽ bị trang bị vũ khí tận răng. Kẻ thù ở khắp nơi. Quân đội Bắc Việt lúc ấy chỉ còn cách Sài Gòn khoảng 20 phút.

Bối cảnh xung quanh việc đưa ông Thiệu ra khỏi VN đã diễn ra như thế nào, thưa ông?

NGUỒN HÌNH ẢNH,FRANK SNEPP’S BOOK

Phi trường Tân Sơn Nhất những ngày cuối cùng của VNCH

NGUỒN HÌNH ẢNH,FRANK SNEPP’S BOOK

Frank Snepp (bìa phải) và Tướng Nguyễn Cao Kỳ (giữa)

Frank Snepp: Khi đoàn xe bắt đầu đi, dọc theo ngoại ô Sài Gòn tên lửa bắn vút lên trời. Và khi tập trung tại tư dinh của Thủ tướng Trần Thiện Khiêm tại Bộ Tổng Tham Mưu của VNCH, điểm khởi đầu của cuộc hành trình, khá gần Tân Sơn Nhất, qua radio chúng tôi nghe thấy tiếng đạn nổ, dấu hiệu cho thấy đang chạm súng ngay tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở trung tâm Sài Gòn, cách đó khoảng năm dặm.

Tình hình lúc đó căng thẳng khủng khiếp. Sếp tôi, ông Polgar đã quên viết giấy thông hành (parole) cho ông Thiệu. Thời đó, nếu muốn được Hoa Kỳ bảo trợ và di tản, bạn phải có giấy thông hành, nhưng trong lúc vội vàng, ông Polgar đã quên. Vì thế Polgar và tướng Timmes hôm ấy phải bước vào căn nhà nơi mọi người tụ họp, loay hoay ký giấy tờ để ông Thiệu có thể hợp pháp đáp chuyến máy bay của Hoa Kỳ rời Việt Nam. Khung cảnh hết sức hỗn loạn.

Chiếc xe tôi lái là xe của Tòa Đại sứ đã được ngụy trang. Chúng tôi đã thay bảng số để nó trông giống như một chiếc xe ngoại giao bình thường. Tất cả xe khác cũng được ngụy trang tương tự. Chúng tôi làm thế để giảm thiểu nguy hiểm.

Ông Thiệu đợi chúng tôi ở một ngôi nhà gần đó. Tôi thì đứng bên ngoài căn nhà ở điểm hẹn, chờ ông đến. Tôi nhớ là ông Thiệu đến bằng xe Mercedes, nhưng có người nói là ông Thiệu đi bộ tới. Ông Thiệu trang phục đẹp đẽ, trông như một người mẫu của tạp chí Quý ông Lịch lãm (Gentlemen’s Quarterly) vùng Viễn Đông. Tóc ông vuốt ngược ra đằng sau, và mặt bôi kem, trông ông cực kỳ ấn tượng và tự chủ.

Nhưng người bạn của chúng tôi, vị cựu tổng thống, đã uống một chút, vì từ người ông tôi ngửi thấy mùi rượu whisky và mùi nước hoa đắt tiền. Tôi nhớ rõ như in điều này, bởi vì cảm quan của tôi lúc ấy cực kỳ bén nhậy, tôi cảm nhận được mọi thứ quanh mình, được môi trường chung quanh, rằng bóng tối lúc đó đang buông xuống và những loạt đạn pháo đang được bắn ra, tên lửa xẹt qua lại, chỉ cách đó một quãng ngắn.

Hai ông đến gần đoàn xe và ông Thiệu chui vào sau xe của tôi. Tướng Timmes, người Mỹ được cử tháp tùng ông Thiệu, cũng là một người bạn cũ của ông, cùng ngồi ghế sau với ông ấy. Tôi nhớ là hình như một hay hai vệ sĩ của ông Thiệu cũng đã ngồi vào phía sau. Tôi không nhớ rõ lắm là vì lúc đó đang ngồi ghế tài xế và luôn nhìn chằm chằm vào kính chiếu hậu, để xem có ai tiến gần đến xe của chúng tôi từ hai bên. Chỉ nhớ rõ là tướng Timmies ngồi cạnh ông Thiệu, và trước khi tôi kịp tra chìa khóa vào xe, một vài phụ tá của ông Thiệu từ đâu xuất hiện khiêng những chiếc vali. Họ mở cửa sau xe của tôi và bỏ vali vào.

Trong cuốn ‘Decent Interval’ ông viết là những chiếc vali này chứa đôla hay vàng, ông có thể nói rõ về việc này?

Frank Snepp: Khi viết phiên bản đầu tiên của hồi ký về sự kiện này, tôi nói mình nghe thấy tiếng kim loại va vào kim loại. Trước đó, tôi cũng đã được nghe nói rằng ông Thiệu có thể sẽ mang theo một số vàng của ông lên xe khi ra đi. Thực thế, ông Polgar, cấp trên của tôi, người sắp đặt tất cả mọi việc, đã nói điều này có thể xảy ra. Sau này có rất nhiều tranh cãi về việc những vali đó có vàng không. Tôi phải nói cho bạn biết điều này, là không ai biết chắc về việc này ngoại trừ ông Thiệu, tôi, và có thể một vài người khác.

Tất cả những người bình luận về sự việc, gồm cả ông Polgar, cũng không biết rõ. Tôi là người ngồi trong xe, tôi thấy mọi người bước ra từ bóng tối và tôi thấy họ bỏ vali vào xe và nghe thấy tiếng chạm của kim loại từ những vali đó. Nhân tiện, tôi cũng muốn nói thêm là tôi chưa bao giờ có ý nói là ông Thiệu mang vàng từ Ngân khố Quốc gia đi theo. Tôi nghĩ ông chắc chắn đã mang theo một số tài sản của riêng mình, bởi vì ông không chắc sẽ bao giờ quay trở lại Việt Nam. Vì vậy, điều đó hoàn toàn hợp lý. Ngoài ra, Ngân khố Quốc gia của VNCH vẫn nằm nguyên trong Ngân hàng Quốc gia ở Sài Gòn.

Đoàn xe đưa ông Thiệu và tùy tùng đi có đông không, và khung cảnh Sài Gòn lúc đó thế nào?

NGUỒN HÌNH ẢNH,FRANK SNEPP’S BOOK

Frank Snepp trên nóc Toà Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn trước ống kính phóng viên BBC của Anh Quốc thời đó

Frank Snepp: Đoàn có bốn chiếc xe. Xe chở ông Khiêm đi đầu, xe tôi là xe thứ hai, có chiếc xe thứ ba, và tôi nghĩ còn có một chiếc xe thứ tư đi theo sau chúng tôi. Khi chúng tôi ra khỏi khu Bộ Tổng Tham Mưu hướng tới phi trường Tân Sơn Nhất, thì đã khoảng bảy hoặc tám giờ tối. Đường phố tương đối vắng vẻ, ngoại trừ các trạm kiểm soát. Nhìn đâu tôi cũng thấy trạm kiểm soát. Quân lính miền Nam VN và cảnh sát có mặt khắp nơi. Và nỗi lo sợ của chúng tôi là, một trong những người ở các kiểm soát này sẽ tìm cách làm nên lịch sử, ngăn chặn đoàn xe và giết chết ông Thiệu. Tôi được giao trọng trách đưa ông an toàn ra khỏi VN, và tôi cảm được trách nhiệm nặng nề khủng khiếp này.

Khi xe chuyển bánh, tướng Timmes bắt đầu trò chuyện với ông Thiệu. Họ nhắc lại chuyện ngày xưa, lúc ông Thiệu còn là tư lệnh Quân khu I, một trong những vùng phe cộng sản hiện đang chiếm giữ. Và ngay giữa lúc đó, tướng Timmies giới thiệu tôi với ông Thiệu, nói tôi là nhà phân tích giỏi nhất của Tòa Đại sứ, và vì thế, ông Thiệu đang được một ‘tài xế hạng sang’ chở ra phi trường. Ông Thiệu nói đùa một cách mơ hồ rằng tài xế ở đây lái xe giỏi hơn ở Bangkok nhiều, và tài xế ở Bangkok khá bạt mạng. Đó là cảnh tượng kỳ quái nhất mà bạn có thể hình dung được. Tôi thực sự sững sờ trước cuộc trao đổi qua đó ông Thiệu trông có vẻ rất thoải mái, nhưng đồng thời, cũng rất căng thẳng. Tôi có thể nhìn thấy gương mặt của ông trong gương chiếu hậu.

Đoàn xe phóng về phía trước, chúng tôi qua một trạm kiểm soát, một trạm nữa, và được vẫy tay cho đi. Có ông đại tá cảnh sát người Việt ngồi trong chiếc xe dẫn đầu vẫy tay chào và dẫn đường, không ai nhìn xem trong đoàn xe có những ai. Tôi nghĩ có lẽ họ nghĩ đây là một đoàn xe ngoại giao đang trên đường đến một cuộc họp ngoại giao nào đó. Họ không nhận ra rằng chúng tôi đang đưa cựu Thủ tướng Chính phủ và cựu tổng thống của đất nước họ đến nơi an toàn.

Khi đến gần phi trường, chúng tôi đi ngang qua đài tưởng niệm có hàng chữ “Sự hy sinh cao cả của đồng minh sẽ không bao giờ bị lãng quên’‘, được xây để tưởng niệm những người lính Mỹ đã chết ở VN. Khi xe vượt hẳn khỏi qua nơi này, tôi chợt liếc vào gương chiếu hậu, và nhìn thấy những giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt ông Thiệu.

Sau này, một số người không có mặt ở đó bàn rằng ông Thiệu chắc chẳng bao giờ khóc. Tại sao không? Ông ấy đang rất đau buồn. Ông đang mất đi đất nước của mình. Ông giống như Napoléon bị đày lên đảo Elba. Ông hoàn toàn là một kẻ lưu vong. Ông bị mọi người ghét. Người Mỹ cho rằng ông là chướng ngại vật của một thỏa thuận có thể cứu mạng sống của mọi người, muốn tống cổ ông đi, địch thủ chính trị muốn giết ông, và ông bị người tham gia vào công tác này ghét bỏ.

Cảm nhận của cá nhân ông về ông Nguyễn Văn Thiệu lúc đó ra sao?

Frank Snepp: Tôi không ghét ông ấy. Tôi chỉ đơn giản muốn ông được an toàn đến sân bay. Nhưng tôi không có ảo tưởng nào về sự thù địch mà ông Thiệu phải đối diện ở khắp nơi. Với tư cách cá nhân tôi vô cùng xúc động khi thấy một người đang lâm cảnh tột cùng tuyệt vọng. Tôi cũng kinh ngạc thấy ông có thể tự chủ được đến vậy. Ý tôi là, đang phải đối mặt với sự sỉ nhục lớn nhất mà bất kỳ tổng thống nào của một nước phải đối mặt mà ông vẫn kiềm chế được, nhưng lại rơi nước mắt cho những người Mỹ đã hy sinh ở VN. Khoảnh khắc ấy tôi không bao giờ quên.

Đoàn xe tiếp tục đi. Có lúc chúng tôi bị chặn lại. Thấy ông đại tá cảnh sát người Việt trong xe đi đầu nói chuyện với những người ở trạm kiểm soát, tôi đã nghĩ chết cha, có thể gặp chuyện rồi, đây có thể là lúc súng sẽ nổ và mọi người sẽ chết. Nhưng chúng tôi được vẫy tay cho đi. Rồi cũng đến khu vực của phi trường, nơi chúng tôi sẽ bàn giao ông Thiệu, ông Khiêm và những người còn lại trong nhóm họ. Tất cả đèn thình lình tắt ngúm. Trời tối đen như mực. Tôi làm mờ đèn xe đi như được yêu cầu và cứ thế lái trong bóng tối, không nhìn thấy gì.

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu hồi tháng Hai 1975

Bỗng nhiên, ngay phía trước xe, trong bóng tối mù mờ, tôi thấy sếp Polgar đang chạy xuống phi đạo. Xe tôi suýt nữa đụng vào ông. Tôi thắng gấp và mọi người ở đằng sau bay về phía trước, đập vào lưng ghế của tôi. Ông Thiệu và tướng Timmes bị trượt khỏi ghế ngồi. Quang cảnh lúc ấy giống một khúc phim hài, nhưng đồng thời cũng rất khủng khiếp. Tôi xin lỗi, và xe nhích về phía trước.

NGUỒN HÌNH ẢNH,ẢNH TƯ LIỆU

TT Thiệu trong một lần trao tặng huân chương cho ông Hoàng Đức Nhã

Cuối cùng tôi thấy dáng chiếc máy bay đợi đón ông Thiệu, và dừng xe lại. Đại sứ Graham Martin đã đến đây bằng nẻo đường khác, vì chúng tôi không muốn tất cả các vị chức sắc này tụ họp ở cùng một chỗ và cùng bị giết chết, nếu có một cuộc phục kích. Đại sứ Martin đang chờ để nói lời từ biệt với vị tổng thống cuối cùng của đất nước mà chúng tôi ủng hộ. Tướng Charles Timmes ra khỏi xe. Ông Thiệu vươn tay nắm lấy tay tôi, nói bằng thứ tiếng Anh có giọng Pháp. Cảm ơn bạn. Cảm ơn bạn.

Tôi thật xúc động. Biết đâu ông Thiệu chẳng có lúc ngờ rằng tôi có mặt trong chiếc xe đó để giết ông. Ông không thể nào biết chúng tôi là ai, mà chỉ có một lựa chọn là phải tin rằng người Mỹ sẽ cứu và đưa ông đến chốn an toàn. Trên thực tế, nếu chúng tôi giết ông thì cũng giải quyết được vấn đề. Phe cộng sản chỉ muốn ông Thiệu biến mất. Họ không quan tâm là chúng tôi đưa ông di tản hay cho ông ‘nằm đất’. Vì vậy, nếu tôi là ông Thiệu, chắc tôi đã rất lo không biết người đàn ông lái xe này đưa mình đi là ai. Nhưng ông cảm ơn tôi. Tôi không nói gì, nhưng tự hỏi có phải ông cám ơn vì 55,000 người Mỹ đã bỏ mình ở VN? Những ý nghĩ này tôi nhớ rõ, do luôn mang theo mình một cuốn sổ tay, và sau đêm đó, tôi viết ngay xuống những gì đã xảy ra, vì biết mình vừa sống qua những thời khắc của lịch sử.

Sau gần 50 năm giờ ôn lại việc Hoa Kỳ đưa ông Thiệu ra khỏi VN lúc đó, ông có những suy nghĩ gì?

Frank Snepp: Phải nói tôi mãi bị ám ảnh với dằn vặt và hối tiếc. Suy nghĩ lúc đó của Đại sứ Martin, và của Ngoại trưởng Henry Kissinger là sự biến đi của ông Thiệu sẽ giúp họ có được một thỏa thuận với phe cộng sản. Họ tin như vậy bất kể việc Võ Văn Ba, điệp viên giỏi nhất của VNCH, người mà tôi đích thân tiếp xúc, đã cảnh báo họ hai lần, trong hai luần lễ trước đó, rằng phe cộng sản sẽ không thương lượng gì cả, mà sẽ tiến chiếm Sài Gòn kịp để ăn mừng sinh nhật Hồ Chí Minh. Họ bị đối phương lừa ngay từ đầu và tin kẻ thù hơn tin chính người của mình.

Điều này có nghĩa gì? Việc khăng khăng ôm lấy ý tưởng sẽ đạt được một thỏa thuận với Bắc Việt sau khi đưa ông Thiệu ra khỏi VN, đã khiến đại sứ Martin cảm thấy không cần phải có ngay một kế hoạch lớn để di tản một cách có trật tự những người Việt đã làm việc với và trung thành với Hoa Kỳ. Đại sứ đã trì hoãn kế hoạch đó cho đến những phút cuối hoảng loạn.

Chỉ vài giờ sau khi ông Thiệu ra đi, Henry Kissinger nói chúng ta sẽ có ba tuần để tiếp tục sơ tán, rồi sẽ có các cuộc đàm phán, sau đó chúng ta sẽ có một chính phủ liên minh. Graham Martin cũng tin như vậy. Điều đó điên rồ, và rất nhiều người Việt Nam tôi biết đã phải trả giá cho sự điên rồ đó bằng mạng sống của họ. Nhiều người bị giam giữ, nhiều người khác bị giết chết, kể cả đặc vụ giỏi nhất mà chúng tôi có. Nỗ lực đưa ông Thiệu rời VN là một trong những công tác nguy hiểm nhất của CIA ở Việt Nam, nhưng nó là điều vô nghĩa, mà chỉ củng cố cho ảo ảnh là chúng tôi vẫn còn nhiều thì giờ để hành động.

Tôi còn nhớ rõ cảnh ông Thiệu ra khỏi xe bước về hướng máy bay tối hôm ấy. Đoàn tùy tùng của ông làm theo, và tôi cũng ra khỏi xe. Đạn và tên lửa vẫn bay vèo vèo dọc theo vành đai thành phố. Đại sứ Martin không nói gì với ông Thiệu ngoài lời từ giã. Và khi ông Thiệu mất hút vào lòng máy bay, ông đại sứ thình lình bước xuống khỏi thang máy bay, rồi cúi người, nắm lấy chiếc thang (ramp), dựt băng nó ra khỏi chiếc máy bay. Tôi chạy đến hỏi tôi có thể giúp gì ông được không. Không! không! Ông xua tay.

NGUỒN HÌNH ẢNH,FRANK SNEPP’S BOOK

Frank Snepp nhận huy chương trong thời gian phục vụ ở VNCH

NGUỒN HÌNH ẢNH,BETTMANN

Graham Martin là đại sứ Hoa Kỳ cuối cùng tại VNCH bước lên trực thăng rời thành phố Sài Gòn

Tôi nhớ đã nghĩ hình như những gì vị đại sứ Mỹ đang làm là xé đứt chúng tôi khỏi tất cả những gì đã trói buộc nhau trong quá khứ. Ông vừa từ biệt vị tổng thống mà Hoa Kỳ đã ủng hộ trong 5, 6 năm. Mọi hình ảnh trong tôi đến giờ còn rất sống động. Đại sứ Martin lúc đó đeo kính gọng sừng. Trông ông giống như một giáo sư, chứ không giống một vị đại sứ đã chủ trì một trong những khoảnh khắc xấu hổ lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, và chắc chắn là của lịch sử VNCH. Tôi hỏi đại sứ còn cần tôi làm gì nữa không. Ông nói không. Xong rồi. Xong rồi. Xong rồi…

Bài do nhà báo tự do Tina Hà Giang và người quay phim Dân Huỳnh thực hiện cho BBC. Mời quý vị đón xem bài tới về điệp vụ mà Frank Snepp cho là quan trọng nhất của CIA ở Việt Nam trước 1975.

Pháp kêu gọi láng giềng hỗ trợ sau vụ 27 di dân thiệt mạng ở biển Manche

RFI Tiếng Việt 

Hôm qua 25/11/2021 Pháp thông báo huy động lực lượng cứu hộ dự bị nhằm ngăn chặn những thảm kịch khác ở biển Manche, nơi 27 người đã chết hôm 24/11/2021 khi tìm cách vượt biển từ Pháp sang Anh. Chính quyền Pháp cũng kêu gọi tăng cường hợp tác với các nước láng giềng, bắt đầu từ Vương quốc Anh, trong cuộc chiến chống lại nhập cư bất hợp pháp.

Khinh trí thức

Khinh trí thức

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Hưng Quốc

26-11-2021

Ở giới lãnh đạo Việt Nam, có một nghịch lý: một mặt, họ có vẻ chuộng bằng cấp, ai cũng có vẻ muốn có bằng cấp thật cao và tạo cơ hội cho các cán bộ dưới quyền có bằng cấp thật cao, kể cả bằng giả hoặc bằng dỏm; nhưng mặt khác, họ lại không che giấu được sự khinh bỉ cố hữu đối với trí thức.

Nói “cố hữu” vì nó gắn liền với bản chất giai cấp của đảng Cộng sản. Có lẽ không ai không biết câu ví trí thức với cục phân của Mao Trạch Đông tại cuộc hội nghị văn nghệ ở Diên An năm 1943. Mấy năm sau, câu nói ấy được du nhập vào Việt Nam và được giới văn nghệ sĩ, trí thức học tập ngay những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nhà văn Nguyễn Thành Long kể:

“Khi đọc tài liệu Văn nghệ Diên An của Mao Trạch Đông, tôi còn nhớ nguyên văn một câu gây ấn tượng dai dẳng trong tôi: ‘Trí thức là cục phân’. Chúng tôi phải tin theo điều này và tự phủ nhận bản thân mình.” (Phong Lê (chủ biên) (1995), Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học 1945-1854, Hà Nội: nxb Khoa học xã hội, tr. 527)

Nhìn lại lịch sử Việt Nam từ năm 1945, đặc biệt, từ 1954 về sau, người ta có thể dễ dàng tìm thấy vô số bằng chứng về chính sách đối xử tàn tệ đối với giới trí thức, kể cả những trí thức được coi là cực kỳ xuất sắc, là những niềm tự hào hiếm hoi mà dân tộc Việt Nam có được. Thì cứ nhìn lại cuộc đời của Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997), Trần Đức Thảo (1917-1993), Đào Duy Anh (1904-1988) và Trương Tửu (1913-1999) mà xem. Có thể nói họ là bốn đỉnh cao trong lãnh vực khoa học xã hội và nhân văn trước cách mạng tháng Tám.

Người đầu tiên nổi tiếng là học giỏi (22 tuổi có hai bằng tiến sĩ ở Pháp) và là luật sư giỏi; người thứ hai được xem là triết gia duy nhất có tầm vóc quốc tế của Việt Nam cho đến thời điểm này; người thứ ba, bằng con đường tự học, trở thành một dịch giả, một sử gia, một nhà từ điển học và văn hoá học lừng lẫy; còn người cuối cùng là một nhà phê bình và lý thuyết văn học vừa uyên bác vừa tài hoa. Vậy mà, suốt mấy chục năm, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tất cả đều bị hắt hủi, thậm chí, dập vùi một cách vô cùng tàn bạo. Họ không những đói, khổ mà còn bị nghi ngờ và khinh bỉ. Công việc duy nhất mà một vài người trong họ có thể làm được là dịch thuật. Nhiều khi dịch mà vẫn không được phép ghi tên trên tác phẩm mình dịch.

Tất cả chỉ được khen ngợi sau khi… chết.

Khi khen ngợi, người ta cũng tảng lờ đi những năm tháng họ bị ruồng rẫy.

Và người ta cũng tảng lờ đi là, cho đến sau này, nhiều tài năng khác, hay trí thức nói chung, vẫn tiếp tục bị khinh rẻ.

May, không phải ai cũng tự lừa mình hay lừa người khác như vậy.

Đã có nhiều người lên tiếng. Trước, lên tiếng ở những chỗ riêng tư. Sau, dần dần, họ lên tiếng một cách công khai.

Người lên tiếng nhiều và cay đắng nhất có lẽ là nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh. Ông nói đi nói lại nhiều lần. Một lần, trong bài viết “Phê bình văn học trong trong tình hình mới” đăng trên báo Văn Nghệ (Hà Nội) số ra ngày 29-8-1987, ông viết: “Người ta thích nói một cách chung chung, nền văn học của ta đã trưởng thành, văn nghệ sĩ của ta là những chiến sĩ, những anh hùng, nhưng đối với văn nghệ sĩ thì coi như con nít”. Lần khác, trong một cuộc hội thảo bàn tròn do báo Văn Nghệ tổ chức cũng được tường thuật trên số báo vừa dẫn, ông lại nói: “Nhà văn cũng bị coi là con nít: sợ họ hư nên người ta thích bật đèn đỏ, đèn vàng, chứ ít khi bật đèn xanh cho văn nghệ phát triển.” Lần khác nữa, trong buổi họp mặt giữa Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng bí thư đảng, với khoảng 100 văn nghệ sĩ Hà Nội, vào tháng 10 năm 1987, Nguyễn Đăng Mạnh phát biểu: “Lãnh đạo khinh bỉ sâu sắc văn nghệ sĩ.”

Sau này trong cuốn Hồi ký được phổ biến rộng rãi trên internet, Nguyễn Đăng Mạnh lại lặp lại ý kiến ấy khi nói đến sự kiện một số cán bộ lãnh đạo sử dụng một số cây bút đàn em để đánh phá những văn nghệ sĩ và học giả mà họ không thích:

“Trình độ văn hoá, trình độ nhận thức thấp tất đẻ ra lối lãnh đạo văn hoá một cách thô bạo. Chẳng hiểu gì cả mà dám can thiệp sâu vào chuyên môn […]. Và họ khinh bỉ trí thức đến thế là cùng: không mời tôi và bất cứ một nhà nghiên cứu văn học nào đến để tham khảo ý kiến.”

Liên quan đến chuyện khinh bỉ giới trí thức, những lời kể của Vũ Thư Hiên trong cuốn “Đêm giữa ban ngày” về Đinh Đức Thiện, em ruột của Lê Đức Thọ, khá thú vị:

“Trong cuộc đời không dài Ðinh Ðức Thiện đã giữ những chức vụ rất quan trọng – bộ trưởng Bộ Cơ khí và Luyện kim, Trưởng ban xây dựng Khu gang thép Thái Nguyên, Phó chủ nhiệm Tổng cục hậu cần, Tổng cục trưởng Tổng cục dầu khí, hàm thượng tướng. Ông ít học. Trình độ học vấn không quá bậc sơ đẳng. Thế nhưng Ðinh Ðức Thiện khinh trí thức lắm. Ông hạ lệnh cho các kỹ sư điện tính toán thời hạn lắp đặt đường dây cao thế Thái Nguyên – Hà Nội. Họ tính kỹ rồi báo cáo lên Ðinh Ðức Thiện: không thể dưới hai năm. Ông ta nghe xong liền nổi khùng: ‘Rặt một lũ ăn hại đái nát! Làm chó gì mà mất những hai năm. Tôi mà ra lệnh cho công binh làm ấy à, chỉ hai tháng là cùng. Tính với chả toán, tính như con c… Các anh lúc nào cũng cúi đầu làm theo sách vở của bọn thực dân đế quốc. Vào rừng chặt cây về mà làm cột, mắc điện vào. Là xong. Trí thức với chả trí ngủ!’ Người kể lại chuyện này là một kỹ sư tốt nghiệp Cao đẳng kỹ thuật thời Pháp, hôm ấy được nghe Ðinh Ðức Thiện trực tiếp quát mắng.

[…]

“Có một thời sự thiếu học được coi là niềm tự hào – người ít học là người có quá khứ trong sạch, không dính với thực dân, phong kiến. Ðinh Ðức Thiện tự hào về sự thiếu học của mình lắm. Ông vỗ ngực đồm độp: ‘Xem tao đây này, tao chẳng có cái bằng chó nào hết, thế mà tiến sĩ kỹ sư sợ tao một phép. Chúng nó ỷ có học, nhưng học gì lũ chúng nó, học vẹt ấy thì có, rời sách vở ra là chịu chết. Trí thức mà không có thực tế chỉ là cục c… Chính tao này, tao chỉ đạo kỹ thuật cho chúng nó, chứ ai? Nghe cái bọn quen bơ thừa sữa cặn ấy chỉ có mà ăn cháo, ăn cháo!’’

Đọc xong câu chuyện ấy, tự dưng tôi nhớ đến câu chuyện do Huỳnh Thúc Kháng kể trong cuốn “Thi tù tùng thoại”: Khi bị giam ngoài Côn Đảo, ông và một số người khác – toàn là dân khoa bảng chống Pháp – bị bắt đi đập đá. Thấy mọi người làm việc vụng về, tên cai ngục, vốn là một đứa vô học, cầm roi gõ vào đầu từng người hỏi: “Mày làm gì?” Người kia đáp: “Dạ, Cử nhân.” Hắn quất cho một roi, rồi nói: “Cử nhân nè!” Hỏi người khác: “Mày làm gì?” Đáp: “Dạ, Tiến sĩ” Hắn quất cho một roi và nói: “Tiến sĩ nè!”

Cứ thế, hết người này đến người khác.

Đau xót, Huỳnh Thúc Kháng làm bài thơ:

Tấn sĩ nhỉ hà vật
Ngôn ngữ thái ngạo mạn
Tặng nhỉ nhứt trường tiên
Sử tri ngã thủ đoạn

Ông tự dịch:

Tiến sĩ là cái gì
Ăn nói rất vô lễ
Cho mày một ngọn roi
Mày biết tay tao nhé!

Đọc, cứ tưởng như chuyện hài hước.

Vậy mà chúng có thực. Có thực, thời Pháp thuộc. Có thực, thời cách mạng. Và không chừng cũng có thực, cả đến tận bây giờ nữa.

Canada: Chuyện về viên cảnh sát thiện lương và những người dân khiêm nhường.

Làm người bảo vệ thực thi pháp luật không phải lúc nào cũng là vung dùi cui, còng số 8 để trấn áp tội phạm, tình người còn có sức mạnh nhiều hơn thế!

 Canada: Chuyện về viên cảnh sát thiện lương và những người dân khiêm nhường.

 07/09/2021 410 lượt xem

Ảnh minh hoạ: VTC news.

Một viên cảnh sát Canada, trong ca trực của mình, anh bắt được một cậu bé 17 tuổi con nhà nghèo khi cậu đang định lấy trộm một bộ đồ để hôm sau sẽ mặc đi phỏng vấn xin việc, nhằm giúp đỡ cho gia đình đang đói khổ của mình…!

Viên cảnh sát đã bỏ tiền túi ra trả cho cửa hàng và thả cậu bé ra. Ngày hôm sau cuộc phỏng vấn diễn ra tốt đẹp và cậu bé đã có việc làm.

Làm người bảo vệ thực thi pháp luật không phải lúc nào cũng là vung dùi cui, còng số 8 để trấn áp tội phạm, tình người còn có sức mạnh nhiều hơn thế!

Lại nói về con người Canada. Họ có lẽ là những người lịch thiệp và tử tế nhất thế giới. Các nghiên cứu chỉ ra rằng từ mà người Canada dùng thường xuyên nhất, đó là ‘sorry’. Họ xin lỗi vì bất cứ lý do gì, có lẽ vì họ không muốn làm tổn thương người khác.

Một nhà báo người Canada có tên là Michael Valpy đã từng thừa nhận “Tôi xin lỗi cái cây mà tôi đâm vào,” ông cũng nói rằng những người hàng xóm của ông cũng xin lỗi vì điều tương tự như vậy.

Khi tham gia giao thông trên các đường phố ở Toronto và Montreal, có những lúc cũng xảy ra tình trạng rất tệ nhưng “hầu như bạn sẽ không bao giờ nghe một tiếng còi xe thậm chí trong những tình huống bị kẹt xe mệt mỏi nhất”, ông Jeffrey Dvorkin, một giáo sư dạy báo chí Canada tại Đại học Toronto cho biết. Hành vi bấm còi xe ở Canada được xem là hung hăng một cách không cần thiết.

Ngoài ra, trên các phương tiện truyền thông của Canada cũng thường xuyên đăng những câu chuyện thể hiện sự tốt bụng của người dân với nhau. Ví dụ như tờ báo National Post đã đăng bài về một sinh viên luật ở Edmonton có tên là Derek Murray đã bật đèn pha xe hơi suốt ngày. Khi Derek trở lại, anh nhận một lời nhắn để lại trên kính chắn gió: “Tôi thấy anh để đèn xe suốt ngày. Có lẽ xe không đủ pin để  máy chạy . Tôi để lại ở đây một cái sạc pin bên trong hộp cạc tông bên cạnh hàng rào.”

Hay như ở Ontario, một tên trộm đã gửi trả lại món đồ với một bức thư kèm theo 50 đô la: “Tôi không thể nói thành lời tôi hối lỗi đến mức nào. Hãy mở rộng tấm lòng tha thứ cho kẻ lạ mặt đã gây hại cho quý vị.”

Trần Phong.

From: TU-PHUNG