Lòng nhân ái, từ thiện của bác sĩ Nhật

Lòng nhân ái, từ thiện của bác sĩ Nhật

Từ bỏ công việc lương cao, bác sĩ Nhật đi khắp Việt Nam chữa mắt miễn phí cho người nghèo.

Bất kể nắng nóng hay giá lạnh, dù thiên nhiên có biến động bất thường thế nào cũng không thể ngăn được nỗ lực của vị bác sĩ người Nhật đến phẫu thuật cho các bệnh nhân có vấn đề về mắt tại VN.

Bác sĩ Tadashi Hattori sinh năm 1964 tại Osaka (Nhật Bản). Ông tốt nghiệp Y khoa tại Đại học Kyoto, một trong 8 trường đại học danh tiếng nhất ở Nhật.

Sau đó, ông được mời làm việc tại nhiều bệnh viện nổi tiếng ở Nhật. Được biết đến là một tài năng hiếm có trong lĩnh vực phẫu thuật cắt dịch kính (điều trị bong võng mạc, võng mạc tiểu đường và các bệnh về hoàng điểm), đặc biệt là kỹ thuật thuộc top 10 thế giới về sử dụng kính nội soi trong phẫu thuật cắt dịch kính, bác sĩ Tadashi Hattori là một trong số ít người có khả năng rút ngắn thời gian phẫu thuật xuống còn ⅓ bằng phương pháp nội soi. Các ca phẫu thuật của ông đều có tính chính xác cao và bệnh nhân hầu như rất ít biến chứng sau quá trình điều trị.

Cơ duyên với Việt Nam

Cuộc đời Bác sĩ Tadashi Hattori bắt đầu thay đổi kể từ buổi hội thảo khoa học vào năm 2001. 

Tại đây, ông gặp một bác sĩ người Việt và người này đã kể lại cho ông

những câu chuyện đau lòng của những bệnh nhân nghèo ở đây. 

“Người bác sĩ ấy nói rằng ở Việt Nam có rất nhiều người nghèo không có tiền chữa bệnh.  Họ phải chịu cảnh mù lòa, có khi mới chỉ ở độ tuổi trung niên”, 

Bác sĩ Hattori kể lại.

Nghe câu chuyện đó, ông đã về nhà suy nghĩ đến nửa năm, cuối cùng quyết định sang Việt Nam đi mổ mắt miễn phí cho bệnh nhân nghèo.

“Sau khi tính toán những việc cần làm cho 4-6 tháng, tôi quyết định sẽ đi. 

Nhưng giám đốc bệnh viện của tôi nói, nếu muốn đến Việt Nam, tôi sẽ phải xin nghỉ việc. Và đó chính xác là điều tôi đã làm. Tiền bạc không  phải là thứ quan trọng duy nhất trong cuộc đời. Với nhiều người, địa vị và tiền bạc là tất cả, nhưng với tôi, được làm điều gì đó giá trị còn quan trọng hơn rất nhiều”, bác sĩ Tadashi nói, theo Japan Times.

Sau đó, bác sĩ Tadashi đã có chuyến thăm đầu tiên tới Việt Nam kéo dài một tháng, ông ghi chép lại những gì liên quan đến thực trạng bệnh nhân có hoàn cảnh quá khó khăn không có tiền chữa trị mắt tại nhiều tỉnh thành của Việt Nam. 

Sau đó, ông quay lại Nhật và kêu gọi các công ty y tế tài trợ.

Tuy nhiên, vào thời điểm đó, ông đang không làm tại một bệnh viện nào và chẳng ai tài trợ cho ông. 

Ông tiếp tục nộp đơn xin hỗ trợ lên chính phủ Nhật Bản nhưng cũng bị từ chối. Đại diện văn phòng chính phủ cho biết, họ chỉ tài trợ các tổ chức NGO. 

Cuối cùng, bác sĩ Tadashi quyết định dùng tiền tiết kiệm của hai vợ chồng để mua thiết bị mang sang Việt Nam mổ miễn phí.

 Ở Nhật Bản, nghề bác sỹ được xem là nghề “hái ra tiền”, một bác sĩ không cần quá nổi tiếng cũng đủ để sống sung túc, giàu có. 

Tuy nhiên, vợ bác sĩ Tadashi lại không có cái “may mắn” đó, bởi chồng bà luôn có những mục tiêu thiện nguyện. Vậy nên, khi chồng nói về việc muốn dùng tiền tiết kiệm dưỡng già của họ để mua thiết bị phẫu thuật cho bệnh nhân nghèo ở Việt Nam, bà đã tức giận đến nỗi không nói chuyện với ông 3 ngày. Cuối cùng, bà đã đồng ý và bắt đầu ủng hộ ông trong những chương trình thiện nguyện ở Việt Nam sau này. 

Cha ông dạy: “Hãy luôn sống vì mọi người”

Thầy ông dạy: “Hãy coi bệnh nhân như bố mẹ mình”

Kể từ cuộc gặp gỡ định mệnh vào năm 2001, cuộc sống của bác sỹ Hattori đã chia ra làm 2 phần: phần ở Nhật Bản và phần ở Việt Nam.

Cứ nửa tháng ông lại về Nhật làm việc với tư cách là bác sĩ tự do, tham gia vào những ca bệnh khó tại Nhật Bản để kiếm thêm thu nhập.

Nửa tháng còn lại ông đi khắp Việt Nam để chữa trị miễn phí cho người nghèo. Nhìn chung, số ngày ông ở Việt Nam mỗi năm dao động từ 140 đến 180 ngày.

Nhờ nỗ lực không ngừng nghỉ của bác sĩ Tadashi, dần dà, những hoạt động thiện nguyện của ông tại Việt Nam càng được cộng đồng biết đến. Hiện tại, ông đã kêu gọi được rất nhiều hỗ trợ tài chính từ các bệnh viện công, phòng khám tư mà ông hợp tác chữa bệnh bán thời gian.

Bác sĩ Tadashi cho biết ông rất thương người bệnh ở Việt Nam, bởi vì họ quá nghèo mà phải đến khi tình trạng bệnh quá nặng, không còn cứu chữa được nữa, họ mới tìm đến bác sĩ.

“Chữa bệnh cho bệnh nhân Nhật dễ hơn nhiều vì họ thường tìm đến bác sỹ ngay khi họ thấy có vấn đề, vì vậy bệnh thường chỉ ở giai đoạn khởi đầu. Nhưng ở Việt Nam, bệnh nhân thường để đến khi gần mù rồi mới tìm đến bác sỹ.Thậm chí nhiều người không làm gì cho đến khi mù một con mắt. Chính vì thế, số người bị mù một mắt ở Việt Nam cao đột biến, cao hơn rất nhiều so với những nơi tôi từng chữa trị”, bác sĩ Tadashi chia sẻ.

Mang ánh sáng đến cho người Việt nghèo

Bác sĩ Hattori trải lòng, cha của ông đã ra đi đau đớn vì sự tắc trách của bác sĩ điều trị bệnh, điều này đã khiến ông quyết định theo đuổi ngành y.

 “Cha đã truyền cảm hứng để tôi sống nhiều hơn cho các mục đích thiện nguyện. Trước khi ông chết, ông bảo tôi “hãy luôn sống vì mọi người”. Sau này, một người thầy đã dạy tôi rằng: “Hãy luôn đối xử với bệnh nhân như cha mẹ của mình”.

Bác sỹ Hattori vẫn miệt mài cho những mục đích thiện nguyện tại Việt Nam.

Mặc dù đã ngoài 50 nhưng bác sĩ Hattori vẫn ngày đêm miệt mài với công việc thiện nguyện của mình tại Việt Nam. Ban ngày, người ta thấy ông thoăn thoắt phẫu thuật cho bệnh nhân, vận chuyển đồ đạc, đêm về lại cặm cụi viết báo cáo đăng lên website tổ chức từ thiện Asia Prevention of Blindness Association do chính ông sáng lập vào năm 2005.

Người Việt Nam thường gọi ông Hattori là “bác sĩ” hoặc “giáo sư”, nhưng ông còn có một tên gọi khác nữa là “aka hige sensei” . Trong tiếng Nhật, cụm từ để chỉ người lương y giàu lòng nhân ái, luôn giúp đỡ những bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn, và được ví như ông Bụt trong truyện cổ tích.

Nguồn: Lòng từ thiện của một bác sĩ Nhật ở VN

Gia Nguyễn chép lại từ mail của Bác sĩ Lê Ngọc Dũng 

Thanks Dr Dung.

From: HUNG TRAN

TNLT Lê Quý Lộc tố bị tra tấn trong trại An Phước bởi 11 cán bộ

Đài Á Châu Tự Do 

Trong cuộc gặp, ông Lê Quý Lộc nói rằng hồi tháng 5 năm 2021, ông đã bị đánh đập cùng lúc bởi 11 cán bộ tại trại giam An Phước. Lý do là vì ông đã lên tiếng đòi hỏi quyền được ra ngoài chơi thể thao vào thứ Bảy cho những người tù chính trị.

Thay vì đáp ứng đòi hỏi của ông này, thì phía cán bộ trại giam trừng phạt bằng việc chuyển ông sang giam giữ ở khu vực dành cho tù hình sự. Và cũng ở đây ông đã bị cán bộ trại giam đánh đập.

Theo bà Thủy mô tả thì trận đòn đã khiến mặt của ông Lê Quý Lộc bị bầm tím và sưng phù, ông này sau đó đã tuyệt thực trong tám ngày để phản đối việc mình bị hành hung.

Phóng viên Đài Á Châu Tự Do nhiều lần gọi vào số điện thoại của trại giam An Phước được công bố trên báo chí nhà nước, tuy nhiên một giọng nữ tự động thông báo “đường dây đang sửa chữa” nên không thể liên lạc được.

Một luật sư nhân quyền giấu tên vì lý do an ninh nhận xét về vụ việc:

“Theo quan điểm của tôi thì theo Luật Thi hành án Hình sự thì người phạm nhân có quyền được bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, và họ được quyền tham gia vui chơi, hoạt động thể thao, và sinh hoạt văn hoá văn nghệ.

Trong trường hợp trại giam không đáp ứng những yêu cầu của phạm nhân là trái quy định của pháp luật. Và những yêu cầu của phạm nhân, cụ thể ở đây là phạm nhân chính trị, là những yêu cầu hết sức chính đáng.”

#RFAVietnamese #lequyloc #Vietnam #Vietnamhumanrights

 Đọc hồi ức của bà quả phụ Ngô Quang Trưởng

Van Pham

 Đọc hồi ức của bà quả phụ Ngô Quang Trưởng

Trần Thị Nguyệt Mai

Tôi rất hân hạnh được là một trong những độc giả đầu tiên khi cuốn sách “Tháng Ngày Qua” – Hồi ức của Nhà văn Nguyễn Tường Nhung, chỉ mới là những trang bản thảo rời. Tác giả là trưởng nữ của Nhà văn Thạch Lam và cũng là phu nhân của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, một trong những vị tướng lãnh xuất sắc và trong sạch của Quân Lực VNCH.

Cuốn sách hé mở cho chúng ta rõ hơn không chỉ về thân thế của hai gia đình rất nổi tiếng – Thạch Lam và Ngô Quang Trưởng – mà còn như một cuốn phim quay lại hình ảnh xã hội thời kỳ chiến tranh Việt Pháp và chiến tranh Việt Nam cận đại, hiển hiện nỗi khổ đau tận cùng khi mất mát cả tài sản lẫn những người thân yêu nhất trong đời, nỗi lo âu của người vợ lính khi chồng ra chiến trận và phút giây lãng mạn hạnh phúc khi chinh nhân trở về…

Những ngày Tết Mậu Thân 1968 kinh hoàng thảm thương ở Huế cũng được ghi lại một cách sống động.

Khi viết về văn chương Thạch Lam, nhà văn Mai Thảo đã dùng những lời ngợi khen đẹp nhất: “bút pháp chuốt lọc, trong sáng và chính xác nhất của văn xuôi tiền chiến” (1). “Bút pháp chính xác ông mãi mãi là một vinh dự cho tiếng Việt, theo ý tôi” (2). “Những trang tiểu thuyết đôn hậu và chứa chan tình cảm của Thạch Lam” (3) đã đi vào và ở mãi trong tâm hồn người đọc với Gió Lạnh Đầu Mùa, Nhà Mẹ Lê, Hai đứa trẻ, v.v… Đọc “Tháng Ngày Qua” càng thấy rõ hơn “văn chính là người”, để càng yêu mến Ông hơn.

Trong đậm sâu trí nhớ của tác giả ngày ấy, khi còn là một cô bé 6 tuổi, vẫn còn hiện rõ hình ảnh Bố Thạch Lam:

Bố tôi rất cao, da trắng hồng trông như lai Tây vậy. Ông hay mặc bộ vét màu kem nhạt may bằng hàng vải đũi, đầu luôn đội cái mũ phớt, chân đi giày tây, lúc nào cũng bóng loáng. Quần áo của bố tôi lúc nào cũng phải là thẳng tắp. Bố tôi rất ngăn nắp, thứ tự và rất quý sách. Ông có một tủ sách bìa mạ chữ vàng được xếp rất ngăn nắp. (sđd, tr. 20)

Và Mẹ, bà Thạch Lam, người vợ mà Ông rất yêu thương:

Mẹ tôi hơn bố tôi vài tuổi. Bà tuy hơi thấp so với bố tôi, nhưng bà rất đẹp và rất khéo chiều bố tôi. Bà hiểu rõ rất tỉ mỉ từng chi tiết, những sở thích của bố tôi và tôn trọng tất cả những gì mà bố tôi quyết định. Cà phê mà bố tôi uống mỗi buổi sáng phải chính tay mẹ tôi pha. (sđd, tr. 22)

Cô vẫn nhớ như in sở thích ăn uống rất giản dị của Bố:

Thức ăn bố tôi không đòi hỏi phải nhiều thịt, cá hay thịnh soạn, nhưng món gì cũng phải thật tinh khiết, sạch sẽ, bày cho gọn và đẹp mắt. Bố tôi thích những món ăn thanh như canh giò sống nấu rau ngót, cải xanh nấu cá rô, rau muống luộc, đậu hũ chiên tẩm hành lá hay cá chép rán vàng, và tuyệt đối không bao giờ được dọn món ăn mà đã ăn ngày hôm trước. (sđd, tr. 23)

Cộng thêm thói quen đơn sơ nhưng rất hạnh phúc của Ông sau bữa cơm chiều:

Ăn cơm xong bố tôi có thói quen ra ngồi ngoài hiên trước nhà để ngắm cảnh. Tuy đã về chiều nhưng cũng còn một vài chiếc thuyền, trên chở những cặp tình nhân. Họ chèo thật chậm nhìn ngắm mặt trời lặn và thủ thỉ những lời âu yếm. Bố tôi lúc nào cũng rủ mẹ tôi ra cùng ngồi và trò chuyện tâm tình cùng mẹ. Bố tôi ít nói, nhưng khi nói thì đã diễn tả hết ý mình. (sđd, tr. 22)

Đặc biệt là tính thương người vô cùng tận của Ông, để thấy tại sao văn chương Thạch Lam cũng giống như người:

Bố tôi rất khó tính và ít khi cười nhưng lại rất thương người. Có thời gian nhà có một anh phu xe để kéo xe cho bố tôi đi làm hàng ngày. Nhưng khi trời mưa thì bố tôi bảo mưa ướt tội nghiệp, khi nắng thì bố tôi cũng bảo nóng quá kéo xe mệt, và thấy anh kéo xe đổ mồ hôi thì cũng không đành. Rút cuộc bố tôi lại đi xe ngoài để đi làm. (sđd, tr. 23)

Nhà văn Thạch Lam mất rất sớm lúc mới ngoài 30 tuổi, khi văn tài đang vào độ sung mãn. Ngày ấy tác giả chỉ mới 6 tuổi, có hai em trai, một lên 3 và một mới sinh được 3 ngày. Đang từ một cô bé được bố rất yêu chiều:

Tối nào sau khi ăn cơm xong bố tôi cũng gọi tôi vào phòng sách chỗ bố tôi ngồi hàng đêm để viết văn. Trên bàn viết của bố tôi ngoài những giấy, bút, đặc biệt có một lọ kẹo tây. Những viên kẹo đủ màu sắc hồng lạt, đỏ, xanh, trắng, đựng trong chiếc lọ bằng thủy tinh trông thật đẹp mắt và thật là muốn ăn. Bố tôi mở nắp lọ, mùi kẹo bay thật thơm. Bố tôi lấy ra cho tôi một cái… (sđd, tr. 23 & 24)

Cô trở thành đứa trẻ mồ côi cha. Sau đám tang vài tháng, “bà nội tôi cho người lên Hà Nội đón mẹ và ba chị em chúng tôi về trại Cẩm Giàng. Trại rộng hai mẫu tây, khang trang, nằm cách ga tàu hỏa khoảng hơn cây số. Hai cánh cổng chính của trại khá to, sơn màu xanh, giàn hoa tỉ muội màu hồng nhạt leo chung quanh” (sđd, tr. 27). Từ đây, gia đình cô rời bỏ “căn nhà nhỏ nhưng rất thơ mộng ở tại đầu làng Yên Phụ, ngay cạnh hồ Tây có cây liễu rủ, tàn liễu sà xuống gần mặt nước hồ… Đường từ ngoài vào làng toàn lót bằng gạch đỏ. Trên đường đi chỗ nào cũng nhìn thấy nước hồ… Đi sâu vào trong làng rất đẹp, hai bên là những hàng rào trồng bằng cây duối, được cắt thật bằng phẳng. Khi tới mùa quả duối chín vàng trông xa như những sợi tơ tằm óng ánh… Từ đó tôi chưa có dịp trở về lại làng Yên Phụ nữa” (sđd, tr. 25)

Hình ảnh Bà Nội, người Mẹ hiền sinh ra những người con thuộc nhóm khai sáng Tự Lực Văn Đoàn đã góp công rất lớn trong việc hiện đại hóa xã hội Việt Nam vào đầu thế kỷ XX qua báo chí và tiểu thuyết, với “tôn chỉ” được công bố trên báo Phong Hóa số 101 ngày 8 tháng 6 năm 1934 gồm 10 điểm, đúc kết lại trong nội dung: “Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ. Theo chủ nghĩa bình dân, không có tính cách trưởng giả quý phái. Tôn trọng tự do cá nhân. Làm cho người ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa. Đem phương pháp Thái Tây áp dụng vào văn chương An Nam” (4):

Bà Nội dáng người cao to, nước da trắng hồng, gò má hơi cao, đôi mắt sáng, sâu, trông như lai, toát ra một vẻ oai nghiêm cương nghị. Bà rất nghiêm khắc và ít khi cười. Nhưng khi bà cười thì nụ cười thật tươi, lộ hàm răng đen. Bà nói giọng Huế nghe hay hay và lạ. … Bà ăn uống cầu kỳ, kiểu cách. Bát ăn bằng men xanh trắng viền chỉ vàng, đũa ngà, mâm bằng đồng thau sáng loáng. Khi ăn phải từ tốn, thức ăn cũng phải sắp thứ tự, rau muống luộc để ra đĩa, cọng và lá không lẫn lộn, cắt ra làm hai, khi chấm chỉ vừa đụng vào nước chấm, cơm chỉ được xới một nửa bát… (sđd, tr. 30 & 31)

Bà rất kiên cường, thật giỏi, can đảm. Khi ông mất bà còn rất trẻ, chưa tới 40. Một tay bà phải chăm sóc mẹ chồng và bảy người con còn niên thiếu mà vốn liếng chỉ là một tiệm tạp hóa nhỏ, bán những thứ lặt vặt như kim chỉ, muối, đường, diêm, nến, vài lọ kẹo bột, kẹo gừng, v.v… lời lỗ chẳng được bao nhiêu. Nhưng nhờ vào việc cân gạo, cứ mỗi sáng sớm tinh mơ, những dân ở các làng lân cận đem gạo lên bán, từng gánh hoặc thúng có khi chỉ mươi đấu đựng trong cái bị đan bằng cói. Bà gom mua lại để bán lẻ, khách hàng là những gia đình nghèo sống rải rác quanh phố chợ. Nhờ tài quán xuyến bà đã cho các con ăn học… (sđd, tr. 32 & 33) Một tay bà đã gây dựng được một gia đình làm rạng danh cho dòng họ, những văn tài đã để lại cho những thế hệ nối tiếp (sđd, tr. 46). Sau này, khi các con trai đã thành danh, bà xuống tóc xuất gia cửa Phật và ít khi về lại trại. (sđd, tr. 33)

Cuộc sống êm đềm yên ả chẳng bao lâu thì loạn lạc xảy ra, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ. Năm 1946, một đêm phố chợ Cẩm Giàng bùng lên bốc cháy, khói bay mù mịt cả một góc trời (sđd, tr. 82). Giữa đêm đang ngủ, U (là vú em, người nuôi cậu em kế) lay cô dậy để cùng Mẹ, hai em và U gánh gồng đi lánh nạn, đến tạm cư ở Xóm Đìa, cách Nhã Nam khoảng 5, 7 cây số, “một xóm rất nghèo, chỉ có khoảng mươi căn, phần đông đều lợp bằng lá, và sống bằng ruộng nương nhưng là ruộng thuê lại gọi là cấy rẽ” (sđd, tr. 35). Đến đây, U từ biệt về quê. Và cuộc đời của cô bắt đầu lật sang một trang mới với rất nhiều vất vả, khó khăn.

“Khi đến Xóm Đìa, vài nhà quanh xóm cũng đã có mấy người tản cư tá túc. Chúng tôi được chủ nhà tên Nhâm cho ở nhờ. Ông cho dọn dẹp cho chúng tôi ở nhờ trong cái kho nhỏ, thường để chứa những dụng cụ nhà nông như cuốc, xẻng, cày, bừa, dao liềm, v.v… và chỗ nằm của con vện đen. Cái kho lợp bằng rạ, vách trát bùn trộn rơm đã cũ, vách có nhiều lỗ thủng, cửa là cái phên đan bằng nứa có gắn một thanh tre để chống lên chống xuống. Bên trong, vẻn vẹn chỉ có một cái giường bằng gỗ vừa đủ cho bốn mẹ con nằm, bên cạnh giường kê ba hòn gạch chụm lại gọi là ông đồ bếp (theo ngôn ngữ lúc đó) để thổi nấu. Tắm rửa hàng ngày thì ra ngoài ao. Nước uống và nước thổi cơm thì phải vào tận cuối xóm gánh về; cả xóm đều dùng nước giếng ấy (sđd, tr. 35).

Những ngày đầu thật bỡ ngỡ. Một khung cảnh quá cách biệt. Chúng tôi như rơi vào một cơn ác mộng. Căn nhà kho chứa đồ vật dụng bẩn thỉu, chật hẹp, một chỗ thua cả chuồng chó ở trại Cẩm Giàng của gia đình chúng tôi (sđd, tr. 64). Mùa đông đến đem theo hơi lạnh, gió rét của miền rừng núi. Bốn mẹ con co ro trên một cái phản gỗ, đắp một cái chiếu cũng đã cũ. Mẹ đầu bên này, tôi đầu bên kia, kéo qua kéo lại. Con ấm thì mẹ lạnh và ngược lại. Hai cậu em thì còn nhỏ ngủ vô tư. (sđd, tr. 69).

“Những năm đầu Mẹ còn có chút tiền đem theo, chúng tôi có cơm gạo trắng, có chút ít thịt, cá” (sđd, tr. 64). Đến khi hết tiền và bán đi tất cả những thứ đã mang theo, thì “Mẹ sắp xếp cho tôi theo mấy cô trong xóm đi buôn cà chua và su hào, mỗi tuần hai phiên chợ ngoài thị trấn Nhã Nam. Phải dậy từ sáng tinh mơ vào vườn cà chua hoặc su hào họ đã hái sẵn rồi tùy sức của mỗi người gánh được nhiều hay ít… tiền lãi cũng tạm để mua gạo có cơm trộn khoai hay sắn. Các em thì vào rừng nhặt củi khô và nấm hạt dẻ (sđd, tr. 36).

Thấy con quá vất vả mà chẳng kiếm được bao nhiêu, nên khi được chủ nhà cho mượn toàn bộ đồ nghề và có người cho mua thóc chịu, hai mẹ con chuyển qua nghề làm hàng xáo, tức là “xay thóc, sàng bỏ trấu đi. Sau đó bỏ vào cối giã rồi vần, sảy cho cám và tấm rớt ra” (sđd, tr. 67) cũng cực nhọc nhưng “lãi được tấm để ăn, cám bán lấy tiền mua rau, muối, tương, cà. Nếu được thóc tốt thì thừa ra một ít gạo. Những lần như vậy mấy mẹ con mừng lắm, nhưng cũng phải độn thêm khoai hoặc sắn. Khi mùa gặt đến chúng tôi đi mót lúa… Thỉnh thoảng tôi đi theo mấy đứa bạn đi hôi cá… Từ khi mẹ hết tiền chưa hôm nào được ăn no và được ăn không độn. Thịt lợn, thịt bò thì xa lánh hẳn, gặp mùa gà bị toi là lúc mới thấy mùi gà.

*********

Ngày tháng vẫn trôi qua. Mẹ tôi không dám tự mình hồi cư vì mịt mù tin tức, sợ bị Tây bắt. Thấm thoắt đã gần ba năm, chị em chúng tôi mỗi người chỉ có hai bộ áo quần đã rách tả tơi” (sđd, tr. 37).

Trong lúc ấy, Bà Nội “rất lo lắng vì từ khi chạy tản cư đã gần ba năm mấy mẹ con chúng tôi biệt vô âm tín”, nên “thuê người đi tìm mẹ con chúng tôi” (sđd, tr. 38). Bà Nội đã giữ gìn cho các cháu: “Nếu không có Bà Nội có thể tôi đã là một nữ cán bộ và các em có thể là bộ đội hay bệnh hoạn vùi thây nơi rừng thiêng nước độc này!” (sđd, tr. 39).

Về lại Phố Chợ Cẩm Giàng, gặp lại bạn cũ, cũng là lúc cô “thật ngỡ ngàng không thể tin được. Một trang trại rộng lớn đẹp như thế … bây giờ chỉ là bãi đất hoang.” Bạn cô cho biết, “Khi Việt Minh rút đi họ đã đốt, đập phá hủy tất cả những dinh thự họ gọi là tiêu thổ kháng chiến. Nghe nói vậy tôi ngẩn ngơ vì không hiểu tại sao Việt Minh lại làm như vậy. Phá mất đi một trang trại nổi tiếng là đẹp, nên khi những chuyến tàu chạy ngang đây có nhiều người giơ máy chụp ảnh, và tôi không còn được ở đây nữa.” (sđd, tr. 41).

“Bắt đầu từ khi rời khỏi trại Cẩm Giàng, líu ríu dắt ba đứa con chạy tản cư, hồi cư về thành, cơ nghiệp không còn gì. Mẹ rất nghèo, nhờ Bà Nội giúp một phần, mẹ tần tảo, bươn chải nuôi con ăn học” (sđd, tr. 92). Và năm 1953 Bà Nội đã “đích thân đến nhà ông Thám (Tổng Giám đốc Bưu điện Việt Nam) để xin cho mẹ tôi một việc làm… Lương tuy thấp nhưng cũng đủ sống cả mấy mẹ con và lại có nhà ở hai buồng nhỏ, có bếp, bể chứa nước, trong cư xá Bưu điện đằng sau Nhà Hát Lớn, trước cửa Nhà Bác Cổ Hà Nội.” (sđd, tr. 46 & 47)

Sau này, người thiếu nữ ấy gặp Trung úy Ngô Quang Trưởng và khi kết hôn với nhau thì ông đã lên cấp Đại úy, Tiểu đoàn phó tiểu đoàn 5 Nhảy Dù. Cuốn sách đã chia sẻ cuộc đời binh nghiệp của ông Ngô Quang Trưởng bắt đầu từ lúc này. “Anh tham gia trận chiến nhiều hơn làm việc ở văn phòng. Mỗi lần đi hai tới ba tuần mới trở lại đơn vị. Khi trở về anh đã gầy lại gầy hơn, mặt sạm đen, đôi khi bị nổi ngứa khắp cả người. (sđd, tr. 130). Sau đó, được “đổi về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn đóng ở Sài Gòn (sđd, tr. 139). “Khoảng thời gian này anh không phải ra trận liên miên như khi còn ở Tiểu Đoàn. Chỉ đi thị sát, và đôi lần anh phải bay ra miền Trung để cùng chỉ huy tham dự những trận đánh do quân Bắc Việt tấn công.” (sđd, tr. 140)

Hơn một năm sau, “khoảng đầu năm 1966, ngay tại thành phố Huế, tình hình khá gay cấn. Dân chúng biểu tình chống đối chính quyền bằng cách đem bàn thờ Phật để ngoài đường phố… Anh được Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (UBHPTU) bổ nhiệm chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1/BB, Bộ Tư Lệnh đóng tại Thành Nội Huế. (sđd, tr. 150)

Ở Huế 5 năm, Ông được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn 4 ở Cần Thơ và “rất bận rộn, thời gian ở trên trực thăng nhiều hơn dưới đất. Chỉnh đốn lại Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, thăm các tỉnh, các quận, đồn bót, v.v…” (sđd, tr. 196)

Sau hơn hai năm trấn nhậm ở miền Nam hiền hòa, “Anh nhận được lệnh thuyên chuyển không dự tính, không báo trước Tổng Thống bổ nhiệm làm Tư Lệnh Vùng 1 đóng ở Đà Nẵng… Đây là lần thứ tư đổi chỗ ở trong khoảng năm năm.” (sđd, tr. 201 & 202)

Tác giả đã ghi lại những diễn biến trong hai tháng cuối cùng của nền Đệ Nhị Cộng Hòa mà bà là một chứng nhân. Qua người tùy viên, chúng ta thấy được hình ảnh của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng trong ngày cuối trước khi mất Đà Nẵng:

Giờ phút cuối ở Đà Nẵng, chỉ có anh và chú đi bộ ra bên bờ biển Sơn Trà lặng vắng, mỗi người trên mình độc nhất chỉ một khẩu súng (sđd, tr. 263). Theo lời người tùy viên kể lại ngày cuối tại Đà Nẵng, anh và chú đã đứng tại chỗ này định kết thúc bằng viên đạn.” (sđd, 252)

Đọc những trang sách nói về cuộc đời binh nghiệp của Tướng Ngô Quang Trưởng, độc giả có thể dễ dàng nhận thấy tuy là tướng lãnh của một vùng, nhưng Ông thể hiện tác phong quân kỷ rất nghiêm chỉnh:

“Anh thức dậy sớm rất đúng giờ. Những cư dân trên con đường anh đến Bộ Tư Lệnh mỗi ngày có tiếng đồn không cần xem đồng hồ, mỗi lần thấy xe Tư Lệnh chạy ngang là biết đúng giờ đó anh di chuyển, không bao giờ có xe còi hụ, không người hộ vệ, chỉ có một tùy viên. (sđd, tr. 263)

“Thời gian ở Huế và Đà Nẵng, những ngày cuối tuần hay ngày lễ anh không bao giờ nghỉ. Tôi và các con không có bữa ăn trưa cùng anh. Những bữa cơm tối anh thường về muộn, các con ăn trước, ôn bài vở để đi ngủ sớm. Tuy sống cùng một nhà nhưng chúng chỉ gặp chào anh trước khi đi ngủ.” (sđd, tr. 264)

Những hành xử của Ông trong việc thi hành lệnh quân đội không vị tình riêng, không kết bè, vây cánh để tạo ảnh hưởng riêng:

“… Từ Sài Gòn đổi ra Huế đảm nhận chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh chỉ có một người tùy viên đi theo, ngoài ra không một người thân, … Chuyện chỗ ở, phương tiện, người giúp việc cho gia đình anh cũng để tùy văn phòng họ sắp xếp, tôi cũng không đòi hỏi, không lựa chọn.” (sđd, tr. 266)

Ông luôn luôn sát cánh, chia sẻ với thuộc cấp trong từng nhiệm vụ:

Mỗi khi ra lệnh cấm trại anh luôn luôn cùng ở trong trại với các anh em. (sđd, tr. 151)

Ông cũng không bao giờ lạm dụng chức vụ hay quyền thế để làm ảnh hưởng đến công quỹ nhà nước:

Mùa hạ khi ở Huế, tôi hay đưa các con ra bãi biển Thuận An. Trên đường xe chạy ngang những khu vườn xanh tươi cây trái hoa quả ẩn hiện thấp thoáng những căn nhà lợp ngói đỏ đã phai màu, không gian có vẻ thanh bình, các con thường mong anh đi cùng. Chúng hay hỏi sao Ba không đi, anh chỉ trả lời một câu, “Ba bận làm việc”. Tuổi thơ vô tư chúng không thắc mắc. Tôi biết nếu anh đi, phải có hộ tống, phải lo sắp đặt an ninh. Chỉ một lần vui chốc lát mà bao người phải lo như vậy, lạm dụng công sức của quân đội, một chuyện không thể có ở anh. (sđd, tr. 268)

Và sống rất khiêm nhường, giản dị:

Anh với chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1 ở Huế, Tư Lệnh Quân Đoàn 4 ở Cần Thơ, Tư Lệnh Quân Đoàn 1 ở Đà Nẵng, phương tiện di chuyển của tôi cũng chỉ là chiếc xe Jeep cũ mang bảng số dân sự. Thời gian làm Tư Lệnh vùng Một ở Đà Nẵng, người Mỹ có cho một xe du lịch Huê Kỳ màu đen khá rộng để gia đình sử dụng nhưng anh bảo tôi nhường xe ấy cho gia đình Tư Lệnh phó… (sđd, tr. 267 & 268)

Điều quan trọng nhất là Ông giữ gìn rất nghiêm mật đức tính thanh liêm, trong sạch của mình. Còn nhớ “trong thập niên 1960 tại Miền Nam, trong dân gian đã truyền tụng câu: ‘Nhứt Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng’ nói lên lòng ngưỡng mộ của người dân đối với bốn vị tướng lãnh này của QLVNCH” (5).

“… một điều quan trọng là không nhận quà biếu của bất cứ ai.” (sđd, tr. 157)

“… quan niệm sống của anh, anh dứt khoát không giúp một ai dù là người thân thích. Anh nói người nào cũng có gia đình, cũng có bố mẹ, cũng có con cái, trong thời chiến trận mình lo cho người thân về chỗ yên lành như vậy còn gì là kỷ luật và còn ai bảo vệ quê hương. Anh đã bị họ hàng thân thích trách hờn.” (sđd, tr. 297)

“Khi còn ở VN, sau bữa cơm tối ra ngồi ngoài sân, anh phân tách những sự việc, những thâm hiểm, những đòn phép của con người khó thể biết được mà vì vô tình hay vì sự tham lam, mình sẽ bị cạm bẫy. Nếu mình phạm vào một lần sẽ có cớ để họ gây khó dễ, họ ăn mười mình ăn một nhưng tiếng tăm mình lãnh hết và gây khó dễ cho công việc anh làm.” (sđd, tr. 271)

Sau đây là một ví dụ:

“Anh ăn giản dị không đòi hỏi nhưng tôi biết ý anh thích những món mặn theo cách chế biến của miền Nam. Hai đứa nhỏ nhất thì thích nấu theo kiểu Huế, còn tôi vẫn thích những món thanh nhẹ của miền Bắc… Tôi thường phụ với chú đầu bếp luôn tiện dạy cho chú cách nấu những món của miền Nam và miền Bắc. Món thịt gà là món mọi người ưa thích nhất, nhưng giá một con gà khoảng hơn một nghìn cho cả nhà không đủ, mà mua hai con thì nhiều tiền quá. Tiền chợ mỗi ngày đã chỉ định chỉ có một ngàn, vì vậy món thịt gà thường vắng bóng trong những bữa ăn.

Tướng Tư Lệnh một vùng mà thức ăn hàng ngày cũng phải tính toán vì còn phải để dành một ít. Thời gian ở miền Tây thực phẩm rẻ và có nhiều lựa chọn, đặc biệt là hải sản và rau củ trái cây, nhờ vậy thức ăn đầy đủ hơn. Tuy vậy, chú bếp cũng không vui, than phiền. Chú nói người tư lệnh trước đưa tiền chợ nhiều gấp hai mà lại ít người hơn, gạo ngon có người cung cấp, nước tương nước mắm họ biếu cả thùng, v.v… và v.v… Với tiền chợ tôi đưa gồm cả gạo mắm muối, chú phải tính mua những món ít tiền mới đủ mặc dù tôi nói chúng tôi không cần những thức ăn cầu kỳ đắt tiền.” (sđd, tr. 265, 266)

Thêm một ví dụ khác:

“Qua nhiều lần nói chuyện với Hòa, có những việc rất nhỏ làm tôi áy náy tự cảm thấy như thiếu bổn phận làm vợ. Chú nói hai thầy trò thường nhịn đói không có bữa ăn trưa. Bữa ăn sáng của anh là một bát cháo trắng với muối đường và một ly nước trà nóng pha đậm. Tôi có nói để mua một tô bún bò hay phở mì, anh hỏi giá bao nhiêu rồi nói mắc quá và mất công đi mua… Hàng ngày anh đến văn phòng rồi lên trực thăng thăm các tiền đồn, chỗ đóng quân, có khi đáp xuống một vài nơi đúng giờ ăn trưa họ mời nhưng không bao giờ anh ở lại ăn. Chú cho biết hôm nào Trung Tướng ăn một hộp trái cây thì Hòa ăn một hộp thịt. Những món đồ hộp thường có để một ít trên máy bay nhưng ít khi ăn vì vậy tùy viên cũng nhịn theo.” (sđd, tr. 264)

Tướng lãnh của một vùng mà bữa điểm tâm chỉ là “một bát cháo trắng với muối đường và một ly nước trà nóng pha đậm” thì đủ hiểu được con người chân chính, thanh liêm của Ông đến bậc nào.

Bằng một văn phong nhẹ nhàng, trong sáng và chân thật thừa hưởng từ Bố Thạch Lam, tác giả Nguyễn Tường Nhung đã chia sẻ về gia đình mình sau khi Nhà văn Thạch Lam mất cũng như về Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, “một người chồng đầy tình cảm lãng mạn, một người cha nhiều trách nhiệm, đã sống một cuộc đời khiêm nhường, khép kín nhưng có lẽ thật bình yên, hạnh phúc khi trở thành một di dân tị nạn tại Hoa Kỳ…” như lời giới thiệu của Nhà xuất bản Thạch Ngữ ở bìa sau sách. Hy vọng Tháng Ngày Qua sẽ góp thêm tài liệu cho những bạn trẻ hoặc những nhà viết sử tương lai khi muốn tìm hiểu về hai gia đình này hay thời kỳ chiến tranh Việt Pháp và chiến tranh Việt Nam. Cuốn sách cũng có thể dựng thành phim ảnh vì nói đến xã hội và con người Việt Nam ở một thời kỳ vô cùng nhiễu nhương. Có đầy đủ tình tiết của chết chóc, đau khổ lẫn vui tươi, sum họp… Có những phân đoạn thương cảm khiến lệ tràn mi mà cũng có những phân đoạn vui tươi với nụ cười hạnh phúc.

– Hình bìa hồi ức Tháng Ngày Qua.

Nhà Thơ Nguyên Sa và Hành Trình Tâm Linh – Nguyễn Đức Tuyên

Nhà Thơ Nguyên Sa và hành trình tâm linh

Những bài thơ cuối sáng tác đầu năm 1998, trước khi lìa đời, đã thể hiện những biến chuyển sâu thẳm trong tâm thức Nguyên Sa. 

Nguyễn Đức Tuyên

Thao thức về thân phận con người, sự vong thân của bản ngã, đời sau… có thể đã đánh động một nhà thơ nhạy cảm, một giáo sư triết học tài hoa, một nhà hành động thực tế…Ông đã từng nói: “Thời gian xóa bỏ nhiều thứ… Việc chấm dứt cho tất cả mọi sự sẽ phải tới… Tất cả sẽ chán chường. Võ sĩ lên đài mà không nghĩ đến chiến thắng, đến tiền thưởng mà chỉ nghĩ đến cái chết gần tới thì chắc chắn quả đấm của võ sĩ ấy phải khác.”

Mới đây, trong buổi phỏng vấn của Barbara Walters trong chương trình truyền hình 20/20 trên đài “ABC” đã được phát sóng ngày 6 tháng 7, 2012 với chủ-đề: “Thiên-Đàng là gì? Thiên-Đàng ở đâu? Làm sao đi đến đó?” Nhiều nhà lãnh đạo các tôn giáo đã phát biểu quan điểm của mình, tuy khác nhau, nhưng tựu trung là một thao thức lớn về “đời sau.”

Trở lại trường hợp Nguyên Sa, trong phần giới thiệu Thơ Nguyên Sa Toàn Tập có ghi lời ông: “Tôi thích được giới thiệu bằng cách đọc lên một bài thơ Nguyên Sa. Đó là cách giới thiệu được cả Nguyên Sa ý thức và vô thức, cho thấy bản ngã của người làm thơ tương đối đầy đủ nhất, cả bản ngã đã có, bản ngã đang có, và bản ngã muốn có.”

Thể theo ý nguyện đó, ta hãy tìm hiểu bài thơ Mật Khẩu của Nguyên Sa:

Mật Khẩu

Ngày nào Thượng Đế cũng tới,

Giờ khắc bất định,

Nhưng ngày nào ông cũng tới ít nhất một lần,

Ngày nào ông cũng mở banh lồng ngực tôi ra,

Thản nhiên bước vào trong,

Tôi không biết ông đi vào tim,

Hay ông đi vào phổi,

Hay cả hai ?

Tôi không biết khi ông đi vào tim, ông dừng lại ở đại động mạch,

Hay ông đi tới khu cổ ngữ của tâm thất trái,

Hay ông đi tới khu sấm ký của tâm thất phải ?

Tôi không biết khi ông đi vào phổi, ông dừng lại ở cuống phổi, 

Hay ông đi tới từng phế nang,

Phế nang có từng chùm, mỗi chùm có cửa đưa vào một nội tâm, mỗi chùm hội tụ theo mật khẩu,

Có những chùm phế nang mật khẩu tên người,

Có những chùm phế nang mật khẩu mang tên sông,

Có những chùm phế nang mật khẩu là tên phố, tên làng, tên hoa, tên cỏ…

Mỗi lần Thượng đế mở toang lồng ngực và bước vào
Tôi sợ đến nín thở,
Tôi sợ ông gọi cửa không được,
Tôi sợ ông quên mật khẩu,
Tôi sợ ông quay ra hỏi,
Tôi sẽ không biết trả lời sao,
Vì tôi cũng không nhớ.

Nguyên Sa

Trước hết, Nguyên Sa nhận ra Thượng Đế. Đó là một khởi sự tuyệt vời. Nhận thức của ông về Thượng Đế nơi bản thân ông không phải là nhận thức về một cái gì chợt có, chợt mất, thấp thoáng, mơ hồ. “Ngày nào Thượng Đế cũng tới… ít nhất một lần.” Ông chưa phải là người đắm chìm trong chiêm niệm thần thiêng như các chính nhân tôn thờ Thượng Đế nhưng đã đủ linh giác để nhận ra Thượng Đế đến với mình mỗi ngày dù vào ”giờ khắc bất định.” Sự liên hệ giữa Thượng Đế và ông đã khá đậm sâu.

Điều đáng chú ý là ông sợ Thượng Đế đến. “Mỗi lần Thượng Đế mở toang lồng ngực và bước vào, Tôi sợ đến nín thở.” Vì sao ông sợ? “Tôi sợ ông gọi cửa không được.” Một Thượng Đế có quyền năng mở toang lồng ngực người thơ, tiến vào các phế nang, tâm thất bằng các chìa khóa bí mật và phức tạp của “cổ ngữ, sấm ký, tên người, tên phố, tên sông, tên cỏ…” – mà lại có chỗ Ngài “gọi cửa không được” sao? Một Thượng Đế đến với nội tâm người thơ, “Thản nhiên bước vào trong,” ung dung, tự tại, vào ra thế nào chính người thơ còn phải băn khoăn theo dõi: “Tôi không biết khi ông đi vào tim ông dừng lại ở đại động mạch, Hay ông đi tới khu cổ ngữ của tâm thất trái, hay ông đi tới khu sấm ký của tâm thất phải, ông đi tới từng phế nang,”- mà bây giờ Ngài “gọi cửa không được” sao ?

Tuy nhiên, đọc bài thơ «Mật Khẩu» của Nguyên Sa, người ta không khỏi sững sờ trước một thực tại vừa cao xa huyền bí, lại vừa riêng tư, gần gũi lạ lùng. Thực tại đó có thể nằm bên trong một cuộc mật đàm lâu dài và kín đáo, hoàn toàn riêng tư giữa hai thực thể thoạt nhiên rất cách biệt nhau: đó là giữa Trời với người?! Bài thơ thật là khó hiểu, tuy lời lẽ mộc mạc, minh họa bằng những hình tượng thô thiển.

Hãy xem Thượng Đế đến với ông thế nào. “Ngày nào ông cũng mở banh lồng ngực tôi ra, thản nhiên bước vào trong.” Thượng Đế không xin hẹn, không bấm chuông, không xưng tên, không khách sáo. Mỗi ngày, vào giờ khắc bất định, Ngài tới mở banh lồng ngực của người thơ ra, thản nhiên bước vào. Đây là một quang lâm Thượng Đế hoàn toàn chủ động, vừa đầy uy quyền, vừa đầy thân thiết. Người thơ tự hỏi “… không biết ông đi vào tim, hay ông đi vào phổi, hay cả hai?” Tôi nghĩ “cả hai” vì những câu thơ sau đó cho thấy người thơ theo dõi bước đi của Thượng Đế trong tim phổi mình. Ngài không bước vào đầu óc, vào lý trí người thơ mà bước vào lồng ngực, căn nhà của phổi và tim. Phổi là nhà của hơi thở làm nên sự sống. Đó là hơi thở Thượng Đế đã thổi vào loài người khi Ngài tạo dựng nên họ từ cát bụi. Tim là ngai tòa ấm áp của tình yêu, cũng là ngai tòa của Thượng Đế vì Thượng-Đế-Là-Tình-Yêu. Ngài đi vào lồng ngực mở banh của người thơ để làm cho sự sống của ông thăng hoa, sung mãn, và để chinh phục tình cảm ông. Cho nên Ngài đến mỗi ngày. Dù ông chưa ý thức rõ ràng về Thượng Đế, Ngài thực đã tìm đến với ông bằng tình yêu của Ngài.

Quả vậy, trong bài thơ, chỉ có hai ngôi vị: «Thượng Đế» và «Tôi». Đôi bên chắc phải có một giao ước mặc nhiên về cuộc gặp gỡ riêng tư với nhau, theo thời khóa ít ra mỗi ngày một lần trong một thời gian dài, và có cả một thỏa hiệp về một «mật khẩu» để Thượng Đế dùng khi bất ngờ, bất định, bất thần gõ cửa muốn gặp Tôi nơi sâu thẳm của nội tâm.

Bài thơ mở đầu với xác nhận:

Ngày nào Thượng Đế cũng tới,

Giờ khắc bất định,

Nhưng ngày nào ông cũng tới ít nhất một lần,

Ngày nào ông cũng mở banh lồng ngực tôi ra,

Thản nhiên bước vào trong,

Và bài thơ kết thúc với khẳng định đã có «mật khẩu» được thỏa thuận để Thượng Đế xướng lên cho cửa lòng Tôi mở ra. Nhưng điều oái oăm là đôi bên có thể quên «mật khẩu» đó, nên Tôi sợ, «sợ đến nín thở», «Tôi sợ ông gọi cửa không được.» Thực vậy, đây là phần kết:

Mỗi lần Thượng đế mở toang lồng ngực và bước vào,
Tôi sợ đến nín thở
Tôi sợ ông gọi cửa không được
Tôi sợ ông quên mật khẩu
Tôi sợ ông quay ra hỏi
Tôi sẽ không biết trả lời sao
Vì tôi cũng không nhớ.

Với đoạn kết này, tác giả đưa nhân vật Tôi vào một ngỏ bí thật rùng rợn: vì “quên” cái chìa khóa mở cửa vào nội tâm, nên Tôi có nguy cơ lâm cảnh đánh mất chính bản thân mình mà chính Thượng Đế cũng không cứu được Tôi. Quả vậy, Thượng Đế tôn trọng giao ước về “mật khẩu” nên cũng đành bó tay trước cái “quên” dại dột của con người chăng?! Và như một sự an bài của định mệnh, con người cũng đành bó tay trước thân phận đọa đầy của mình như nàng Kiều: “đến phong trần cũng phong trần như ai” (Kiều, c. 1192) chăng?

Thật là trớ trêu, khốn đốn cho thân phận con người! Câu kết bài thơ «Vì tôi cũng không nhớ» dường như muốn thú nhận thân phận bi đát của Tôi đối mặt với Thượng Đế: đó là thân phận của cái Tôi quên, «không nhớ!» Tôi bé bỏng, yếu đuối trước mặt Thượng Đế, nhưng lại mang nhiều ngõ ngách ngoắt ngoéo, hiểm hóc, bí ẩn trong người. Tuy chứa đầy chữ nghĩa trong tim óc -cổ ngữ, sấm ký- nhưng Tôi hốt hoảng nói không ra lời, vì Tôi sợ đến nín thở mỗi lần Thượng Đế mở toang lồng ngực và bước vào… gặp cái Tôi «không nhớ» lời giao ước cũng như «không nhớ» chính bản thân mình…

Đúng vậy, Nguyên Sa nhìn nhận là Tôi sợ và Tôi quên, nếu Thượng Đế quay ra hỏi… «mật khẩu» mang tên người, tên sông, tên phố, tên làng, tên hoa, tên cỏ, Tôi quên béng nó đâu rồi! Đúng, Tôi phải thú nhận là Tôi quên các «mật khẩu» đưa vào sự sống mà Tôi đã trải qua và muốn quên đi chăng?!

Tóm lại, cuộc diện xảy ra như sau: Ngày nào Thượng Đế cũng tới,… mở banh lồng ngực tôi ra, thản nhiên bước vào trong. Nhưng, Tôi không biết ông đi đâu, vào tim hay vào phổi, hay cả hai… Tôi không biết khi ông đi vào tim, rồi dừng lại ở đâu, ở khu cổ ngữ hay khu sấm ký. Hay ông đi tới từng phế nang, phế nang có từng chùm, mỗi chùm có cửa đưa vào một nội tâm, mỗi chùm hội tụ theo mật khẩu. Mỗi lần Thượng Đế đến, Tôi sợ ông quên mật khẩu, và Tôi sợ… ông hỏi, tôi cũng không nhớ.

Thật quái lạ, oái oăm, khốn đốn cho thân phận con người Tôi: cái Tôi không biết, cái Tôi hay sợ, cái Tôi hay quên… Đó là cội nguồn của mọi hư đốn, bệ rạc! Nguyên Sa đi từ đâu… để đến nông nổi này?

Chắc khởi đầu, Nguyên Sa cũng như bao người Việt Nam thường ngước mặt lên kêu “Trời!” mỗi khi cần đến! Họ gọi nôm na Thượng Đế là ông Trời. “Ông” chỉ một ngôi vị; “Trời” chứa một bầu khí bao la. Mà không khí dùng để nuôi sống vạn vật. Và con người nhờ hít thở không khí mà sống; tắt thở tức là chết! – Dĩ nhiên, “Thác là thể phách, còn là tinh anh” (Kiều 116)-. Dân gian vẫn hình dung “không khí” là “tinh”, là “thần” (vì khí không có hình hài), từ Trời mang sức sống thấm nhuần vũ trụ và loài người. Thần khí chan hòa nối liền trời với đất, ông Trời với con người. Ở đâu người ta cũng cảm nhận có thần khí thâm nhập, mặc muôn hình vạn trạng, nhưng chỉ có một ông Trời. Đó là niềm tin dân giả truyền thống lâu đời của người dân Việt.

Bước thứ hai của nhà thơ Nguyên Sa là đã nhận chân ra được, không phải một ông Trời rộng lớn bao trùm khắp tất cả, mà một vị Thượng Đế có lòng đến thăm hỏi Tôi ít ra là mỗi ngày một lần. Đối với Nguyên Sa, Thượng Đế không đến tượng trưng như một chính khách muốn làm thân với người dân thuộc khu vực cử tri nào, mà đến để viếng thăm và tìm hiểu cặn kẽ từng vấn đề của nội tâm Tôi.

Hơn nữa, đối với Nguyên Sa, Thượng Đế không đến như là khách, mà đến như là chủ nhà, “giờ giấc bất định,” mở toang cửa “thản nhiên bước vào trong”, vào “tim”, vào “phổi,” và có thể vào từng “phế nang.”Tuy nhiên, ở tim chắc Thượng Đế đọc được “cổ ngữ” hay “sấm ký” sẵn có; còn ở phổi, nơi thông thương với khí Trời làm mạch sống, thì, lạ lùng thay, Thượng Đế lại cần “mật khẩu” để vào từng các phế nang! Thượng Đế tôn trọng sự sống của Tôi đến thế sao?

Theo niềm tin của Nguyên Sa, thật rõ ràng là chính Thượng Đế đi bước trước, trực tiếp can thiệp vào đời sống con người, vào chính bản thân Tôi. Quả vậy, Thượng Đế đường đường hành động như đã có một giao ước bất thành văn cho phép Thượng Đế mở toang lồng ngực và bước vào, gọi cửa. Nhưng phần tôi, Tôi sợ đến nín thở, Tôi sợ ông gọi cửa không được vì Tôi sợ ông quên mật khẩu đã ghi trong giao ước mà Tôi đã chấp nhận. Chắc Thượng Đế muốn thử lòng Tôi xem Tôi có sẵn sàng để Người dùng “mật khẩu” mà vào được nội tâm Tôi chăng?!

 Bài thơ «Mật Khẩu» của Nguyên Sa đến đây là chấm dứt. Bài toán chưa có đáp số! Bởi Nguyên Sa còn đang đi tìm hiểu tại sao Thượng Đế lại dấn thân đi bước trước đến với cái Tôi nhỏ bé của Nguyên Sa, và tại sao Ngài cần «mật khẩu» của Tôi để mở được cửa vào tận đáy lòng Tôi, tiếp xúc với sự sống thâm kín nơi Tôi? Vậy «mật khẩu» đó có tên gọi là gì để đại diện cho con người bé bỏng và vạn vật vô thường hầu có thể đối mặt với Thượng Đế cao cả?

Khi Nguyên Sa tìm ra được đáp số là lúc mà nhà thơ sẽ ngộ được chân lý vĩnh hằng: Thượng Đế là Thiên Chúa hằng sống, từ muôn thuở đã cùng với Thần Khí của Ngài mà sinh ra Con của Người (Ngôi Lời), mẫu thức cho việc tạo thành con người và vũ trụ. Lúc ấy hẳn Nguyên Sa sẽ hiểu được tại sao Thiên Chúa cần «mật khẩu» có tên là Con Người (Đức Giêsu Kitô) để đến tới tận cùng ngõ ngách của lòng người. Bởi không có Con Người thì vạn vật trong đó có Tôi sẽ không là gì trước mặt Thiên Chúa. Hơn nữa, Thánh Phaolô nói trong sách Tông Đồ Công Vụ: “Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv. 4,12).

Có thể nhận định một cách khác ngắn gọn hơn: Chúa biết mọi sự, kiểm soát tim phổi, hai cơ quan sinh động của con người, nhưng Chúa để cho con người tự do.

Nguyên Sa là một người công chính, kính sợ Chúa. Ông chôn chặt vào nhiều chùm phế nang những điều ông đã làm.

Ông đặt ra mật khẩu (password) để mở từng chùm phế nang. Đàng khác Chúa cho ông khả năng quên, có quên thì mới sống yên ổn.

Cho nên ông sợ ngày Chúa hỏi ông làm gì với cái tự do, đó là lúc ông phải dùng mật khẩu tìm lại những điều đã làm mà nay quên mất, quên cả mật khẩu để mở phế nang để tìm kiếm …

***

Nhớ lại, trong lễ an táng nhà thơ Nguyên Sa tại thánh đường Polycarp, Orange, California, linh mục Phạm Ngọc Hùng có kể lại đêm ban phép Thánh Tẩy cho Giáo sư Trần Bích Lan, đại để như sau: Vào một buổi tối đã khuya, một thanh niên đến gõ cửa xin linh mục đi làm phép Thánh Tẩy cho một bệnh nhân muốn tin nhận đạo Công giáo. Linh mục lật đật lên xe đi theo người thanh niên, là con trai của Nguyên Sa, cũng là một bác sĩ. Trên đường đi, qua câu truyện trao đổi, linh mục mới được biết bệnh nhân đó là nhà thơ Nguyên Sa. Thật xúc động vì không ngờ được làm phép Thánh Tẩy cho một nhà thơ, một giáo sư triết học nổi tiếng lẫy lừng mà linh mục hằng ngưỡng mộ, nhưng chưa một lần gặp mặt.

Gặp nhà thơ Nguyên Sa trong một căn phòng của bệnh viện, với sự hiện diện của một số thân hữu của nhà thơ cùng với một số anh chị em thiện chí Công Giáo – những người luôn sẵn sàng giúp đỡ những người muốn tìm hiểu Đạo Công giáo – linh mục Phạm Ngọc Hùng nói, “Thưa bác, bác còn đang đau yếu, xin bác cứ ngồi trên ghế để con cử hành nghi thức Thánh Tẩy cho bác.” Nhà thơ trả lời, “để tỏ sự kính trọng đối với một bí tích, xin cha cứ để con quỳ xuống, không sao”. Một cử chỉ thật đẹp, thật khiêm nhường của nhà thơ Nguyên Sa.

Tin theo Đạo Chúa, ông nhận thánh bổn mạng – tên thánh, theo ngôn ngữ Công giáo – là Giuse. Giuse Trần Bích Lan.

Người ta cũng đọc thấy phần ghi chú đơn sơ nhưng súc tích dưới tấm ảnh Nguyên Sa đội mũ casket quen thuộc trong cuốn Thơ Nguyên Sa như sau:

“Thi sĩ Nguyên Sa

Giuse Trần Bích Lan

Sinh ngày 1 tháng 3 năm 1932 tại Hà Nội

Chúa gọi về ngày Thứ Bảy, 18 tháng 4, 1998

Tại California, Hoa Kỳ”

Trong ngày tang lễ tiễn đưa ông, từ nhà thờ St. Polycarp ra nghĩa trang Peek Family trong một ngày nắng chói chang, đàng sau tang quyến là rất nhiều thân bằng, quyến thuộc. Họ là những giáo chức, nhà thơ, nhà văn, nhà báo và đông đảo cựu học sinh của ông; chắc hẳn nhiều người đã nhân dịp này suy nghĩ về cuộc đời và sự chọn lựa cuối đời của ông.

Theo tôi biết thì phu nhân của thi sĩ Nguyên Sa, G.S. Trịnh Thúy Nga, cũng đã tìm về Đạo Chúa cách đây mấy năm trong âm thầm, lặng lẽ, khiêm cung nhưng đầy xác tín.

Nguyễn Đức Tuyên

 Ghi Chú: Trong buổi ra mắt sách Hành Trình Đức Tin ngày 28.9.2014 tại Trung Tâm Công Giáo, Giáo Phận Orange, Hoa Kỳ, bà Trịnh Thúy Nga, phu nhân GS Nguyên Sa đã phát biểu 2 điều: thứ nhất, thi sĩ Nguyên Sa đã nhận lãnh phép Rửa Tội khi còn minh mẫn và sáng suốt, thứ hai, chính bà Trịnh Thúy Nga cũng đã tìm về Đạo Chúa sau thi sĩ Nguyên Sa 10 năm và nay bà cảm thấy an bình, hạnh phúc.

PHIÊN TÒA XỬ NHÀ BÁO PHẠM THỊ ĐOAN TRANG

PHIÊN TÒA XỬ NHÀ BÁO PHẠM THỊ ĐOAN TRANG

Rất hiếm khi được “xem” một phiên tòa xét xử người bất đồng chính kiến của VC! Ai chưa xem nên xem!

Phiên tòa là hình ảnh cuộc chiến của một người chống lại một chế độ. Thắng bại rõ ràng. Một chế độ bị xử nhục nhã. Bị cáo anh hùng. Bị bắt 25 lần. Bị đánh què chân. Bình tĩnh lên án cả một chế độ thú vật. Các luật sư dũng cảm. Luật sư ghi chép xuất sắc. Mong cho 2 triệu dân Việt tỵ nạn hải ngoại đọc được tin này. Xin đừng làm thinh. Mong cho Đoan Trang sẽ có một ngày hạnh ngộ đoàn tụ với gia đình. Với mẹ và anh. Mong cho…

 Đoan Trang đã chiến thắng tuyệt đối tại tòa như thế nào?

Không có tờ báo nhà nước nào ở Việt Nam dám miêu tả chính xác những gì diễn ra tại tòa trong phiên xử cô Phạm Đoan Trang. Tuy nhiên, biên bản tốc ký dưới đây của luật sư Ngô Anh Tuấn đã cho thấy nhiều chi tiết bật lên rõ sự can đảm kiêu hãnh đáng kính phục của cô Phạm Đoan Trang… 

BIÊN BẢN PHIÊN TÒA HÌNH SỰ SƠ THẨM

VỤ ÁN “TUYÊN TRUYỀN CHỐNG NHÀ NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM” ĐỐI VỚI BÀ PHẠM THỊ ĐOAN TRANG (ngày 14 Tháng Mười Hai 2021)

Người ghi tốc ký tại phiên tòa: Luật sư Ngô Anh Tuấn

QUANG CẢNH CHUNG

– Phiên tòa được trang bị an ninh nghiêm ngặt từ nhiều vòng xung quanh tòa án;

– Mẹ bà Phạm Thị Đoan Trang được triệu tập tới tòa, được cho vào nhưng vì tuổi cao, sức yếu cần người đi cùng. Ông Phạm Chính Trực, con trai bà xin vào cùng nhưng không được chấp nhận. Các luật sư cùng nêu ý kiến, thư ký tòa và nhân viên tòa án rất có trách nhiệm nên cuối cùng mẹ bà Trang cũng qua được các “ải” an ninh để vào dự phiên tòa.

Mọi người tham dự phiên tòa đều được test covid tại chỗ rất nhanh chóng. Thủ tục an ninh nghiêm ngặt nhưng thái độ của những người làm việc có tiến bộ rõ rệt so với các phiên tòa tương tự trước đó. Phiên tòa có sự tham gia của nhiều y, bác sỹ của Bệnh viện Tim cùng xe cứu thương do bà Phạm Thị Đoan Trang có tiền sử bệnh tim. Phiên tòa có sự tham gia của các tùy viên chính trị, nhân viên ngoại giao của một số quốc gia như Mỹ, Canada, Đức, đại diện EU…

Thành phần Hội đồng xét xử: Ba người (đều là nữ):

Chủ tọa: Bà Chử Phương Ngọc

Hai Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Thái và Bùi Thị Thu Giang

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Nghĩa Hải

Kiểm sát viên: Hai người là bà Lương Thị Hương và ông Đỗ Minh Tuấn

Luật sư: Năm người, gồm các luật sư: Phạm Lệ Quyên, Đặng Đình Mạnh, Nguyễn Văn Miếng, Lê Văn Luân và Ngô Anh Tuấn

Vắng mặt hai luật sư: Nguyễn Hà Luân và Trịnh Vĩnh Phúc

Người giám định: Vắng mặt

DIỄN BIẾN PHIÊN TÒA

KHAI MẠC PHIÊN TÒA (9h00)

Chủ tọa kiểm tra căn cước của bà Phạm Thị Đoan Trang

Chủ tọa đề nghị cảnh sát tư pháp tháo còng, bà Trang trả lời là không cần, cứ để im như vậy.

***

Chủ tọa hỏi: Bị cáo tên gì (giọng cứng):

Tôi tên Phạm Thị Đoan Trang, nguyên là nhà báo của báo VnExpress…

Chủ tọa: Bị cáo dừng lại, bị cáo trả lời từng câu hỏi của HĐXX (giọng cứng)

Tôi đề nghị chủ tọa giữ thái độ ôn hòa cần thiết

Chủ tọa: Hộ khẩu thường trú của bị cáo?

Tôi không trả lời

Chủ tọa: Trình độ văn hóa của bị cáo?

Tôi tốt nghiệp cử nhân kinh tế, Đại học Ngoại Thương Hà Nội

Chủ tọa: Tên bố mẹ của bị cáo?

Tôi không khai báo, ai làm người đó chịu

Chủ tọa đọc: Bị cáo đã có tiền án, tiền sự gì không?

Tôi không. Trong một số lần công an xử phạt, họ tự ý lập biên bản… Công an Việt Nam bắt giữ tôi 25 lần không có lý do chính đáng; trong một lần tôi bị đánh gãy chân

(Chủ tọa đọc một số tiền sự…)

Chủ tọa: Bị cáo bị bắt khi nào?

Tôi bị bắt vào ngày 6 Tháng Mười 2020 vào lúc 11h30 đêm

Chủ tọa: Bị cáo nhận được quyết định xét xử của tòa khi nào?

Tôi không nhận được. Tôi nghĩ có sự vi phạm tố tụng ở đây vì tôi không nhận được thông báo triệu tập của tòa ngày hôm nay

(Chủ tọa phổ biến nội quy phiên tòa cho bà Phạm Thị Đoan Trang)

Chủ tọa: Bị cáo hiểu rõ quyền và nghĩa vụ mình chưa?

Tôi nghĩ bà chủ tọa cũng nên hiểu quyền và nghĩa vụ của bị cáo

Chủ tọa: Bị cáo có cần thay đổi ai trong những người tiến hành tố tụng hay không?

Thôi không cần (sau khi liếc quanh một vòng)

Chủ tọa: Bị cáo có tiếp tục yêu cầu các luật sư tiếp tục bào chữa cho mình không?

Không

Chủ tọa: Bị cáo có xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ gì thêm không?

Không

Chủ tọa: Các luật sư là những người am hiểu pháp luật nên tôi không cần phổ biến lại quyền và nghĩa vụ nữa. Các luật sư có ý kiến gì không?

Luật sư Đặng Đình Mạnh: Đề nghị tòa trả lời yêu cầu triệu tập giám định viên và lý do tại sao không tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử?

Luật sư Lê Văn Luân: Đề nghị giống luật sư Mạnh. Đề nghị triệu tập thêm: Hai người làm chứng là bà Lâm Thúy Hà và ông Trương Xuân Thành; hai người dịch thuật là bà Vũ Thị Thu Hà và ông Lương Hoài Nam; Đại diện Cục An ninh nội địa Bộ Công an; Điều tra viên Công an thành phố Hà Nội là ông Vũ Văn Bính và bà Phạm Thị Quỳnh Trang.

Chủ tọa: Đại diện Viện Kiểm sát có ý kiến gì không? Việc vắng mặt của những người được nhắc tới không làm ảnh hưởng tới nội dung phiên tòa nên đề nghị tòa tiếp tục xét xử.

Luật sư Lê Văn Luân có ý kiến bổ sung: Đề nghị tòa cấp giấy bút cho bà Trang ghi chép nội dung để tự bào chữa; đề nghị trang bị thiết bị điện tử để trình chiếu vì trong hồ sơ vụ án có một số tài liệu là dữ liệu điện tử.

(HĐXX vào hội ý, mọi người trong phòng xử án nghỉ giải lao: 9h20; HĐXX ra làm việc tiếp: 09h30)

Chủ tọa trả lời các thắc mắc của bà Phạm Thị Đoan Trang và các luật sư:

– Giải thích việc bà Trang không nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử: Bị cáo không nhận được quyết định mở phiên tòa trước 10 ngày nhưng các luật sư đã nhận được nên không ảnh hưởng tới quyền lợi của bị cáo;

– Đề nghị trang bị thiết bị điện tử: Do điều kiện cơ sở vật chất có hạn, tòa không trang bị được các thiết bị điện tử để phục vụ việc trình chiếu theo đề nghị, mong các luật sư thông cảm;

– Yêu cầu thư ký tòa cấp giấy bút cho bị cáo nhưng đề nghị cảnh sát tư pháp giám sát kỹ để đảm bảo an tòan và đề nghị thu hồi lại giấy bút sau khi kết thúc phiên tòa;

– Đề nghị triệu tập các giám định viên: Giám định viên đã vắng mặt có lý do chính đáng, nhưng sẽ triệu tập khi cần thiết;

– Đề nghị triệu tập điều tra viên: Không cần thiết vì họ chỉ làm theo chức trách, không liên quan tới vụ án;

– Đề nghị triệu tập người làm chứng: Đã có lời khai đầy đủ nhưng sẽ triệu tập khi cần thiết;

ĐẠI DIỆN VIỆN KIỂM SÁT ĐỌC BẢN CÁO TRẠNG (9h40)

Kiểm sát viên Lương Thị Hương:  Đọc bản cáo trạng (9h40)

Kiểm sát viên Đỗ Minh Tuấn: Đọc tiếp bản cáo trạng (10h01)

Luật sư Đặng Đình Mạnh giơ tay đứng dậy: Đề nghị đại diện Viện Kiểm sát tạm ngừng đọc, đề nghị tháo còng cho bà Trang và cho bà Trang ngồi xuống vì lý do sức khỏe bà không tốt. (10h04)

Chủ tọa: Yêu cầu luật sư Mạnh ngồi xuống.

(Bà Trang cũng rời bục khai báo về ghế ngồi)

Chủ tọa: Yêu cầu bà Trang đứng dậy.

Tôi đau chân không đứng mãi được

Chủ tọa: Đau chân thì phải xin HĐXX.

(Bà Trang được chấp thuận tiếp tục ngồi)

Kiểm sát viên Lương Thị Hương: Đọc tiếp bản cáo trạng (10h07)

Kiểm sát viên kết thúc đọc bản cáo trạng (10h15)

(HĐXX HỎI)

Chủ tọa nhắc với luật sư: Bị cáo đã từ chối tháo còng.

Chủ tọa cũng hỏi lại bà Trang: Bị cáo cần tháo còng không?

Tôi không cần tháo

(Chủ tọa cho bà Trang ngồi khai báo do lý do sức khỏe)

Chủ tọa: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội gì?

Trong cáo trạng ghi rồi

Chủ tọa: Bị cáo trả lời HĐXX

Trong cáo trạng ghi rồi, không cần hỏi tôi nữa

Chủ tọa: Bị cáo có đồng ý với cáo trạng không?

Không có quốc gia nào quy định tội danh này, trừ Trung Quốc và Việt Nam

Chủ tọa: Ngày 17 Tháng Sáu 2020 bị cáo có làm việc với cơ quan công an không?

Tôi bị bắt cóc 25 lần, tôi không làm việc gì cả

Chủ tọa: Ngày 22 Tháng Sáu 2020, bị cáo có làm việc với cơ quan công an phường Hàng Bồ không?

Tôi bị bắt cóc 25 lần, tôi không làm việc gì cả…

Chủ tọa: Bị cáo bị giữ tài sản, đồ vật gì không?

Tôi bị thu giữ nhiều máy móc, tài sản, tiền bạc…

Chủ tọa: Bị cáo có bị thu giữ tài liệu gì không?

Có, nhưng tôi không ký biên bản gì

Chủ tọa: Trong các lần làm việc, có buổi làm việc nào có ghi âm, ghi hình không?

Những lần đánh tôi thì không ghi âm, ghi hình…

Chủ tọa: Bị cáo có tham gia các buổi phỏng vấn với BBC tiếng Việt không?

Tôi là nhà báo, tham gia phỏng vấn hàng nghìn người với hàng trăm tờ báo…

Chủ tọa: Bị cáo có tham gia phỏng vấn báo BBC Tiếng Việt ngày 19 Tháng Tám 2018 không?

Tôi không nhớ rõ

Chủ tọa: Bị cáo thường trả lời phỏng vấn của những tờ báo nào?

Rất nhiều tờ báo

Chủ tọa: Bị cáo có trả lời tờ báo RFA không?

Tôi trả lời nhiều tờ báo, không chỉ là RFA

Chủ tọa: Trong quá trình điều tra, các điều tra viên có thông báo cho bị cáo về các kết luận giám định không?

Tôi có được đọc cho nghe

Chủ tọa: Bị cáo đã từng ký, giao nộp tài liệu không?

Tôi không đưa tài liệu nào

Chủ tọa: Bị cáo nhớ lại có lần nào không?

Tôi không đưa gì cho công an cả, tất cả là cướp

Chủ tọa: Bị cáo có ý kiến gì về các kết luật giám định hay không?

Tôi nghĩ chỉ Việt Nam và Trung Quốc mới có giám định tư tưởng. Tôi không biết họ là ai, trình độ tới đâu mà đi giám định những tài liệu như vậy…

Chủ tọa: Bị cáo có quyền đồng ý hay không đồng ý nhưng không bình luận, phần này để dành qua phần tranh luận.

Tôi bật cười khi đọc kết luận giám định

ĐẠI DIỆN VIỆN KIỂM SÁT

Nội dung của ba tài liệu bằng tiếng Anh mà bị cáo bị thu giữ với mục đích gì?

Nền luật pháp Việt Nam có tồi tệ đi nữa nhưng tôi nghĩ, với những tài liệu, chứng cứ không được thu giữ hợp lệ, tôi tin nó cũng không thể là căn cứ để cáo buộc tôi hay bất kỳ ai. Những tài liệu mà cơ quan điều tra có được là bất hợp pháp và vô giá trị.

Bị cáo có ý kiến gì về kết luận giám định không?

Tôi nhận thấy có những thuật ngữ rất ngu xuẩn. Những từ ngữ kiểu như “Chiến tranh tâm lý” là không được phép có trong thuật ngữ pháp lý…

Chủ tọa nhắc: Bị cáo có quyền trả lời nhưng không có quyền đặt lại câu hỏi lại.

Tôi là nhà báo, tôi thấy nhiều cáo buộc là sai, ngu xuẩn

Kiểm sát viên: Bị cáo có làm ra ba tài liệu đó không?

Tôi không làm ra

Tài liệu thu giữ có chữ ký xác nhận của bà trên đầu trang, bà có xác nhận điều đó là thực không?

Nếu có chữ ký của tôi thì đó là của tôi

Chủ tọa nhắc nhở: Bị cáo xưng “tôi” hoặc “bị cáo”

Không, ngôn ngữ là do tôi kiểm soát, việc sử dụng thế nào là của tôi

Kiểm sát viên: Bị cáo đã đăng tải các tài liệu trên lên mạng xã hội đúng không?

Đúng. Có bài tôi đăng, có bài không. Không nhà báo nào nghĩ rằng khi phỏng vấn xong một nhà báo thì họ bị bắt cả

Động cơ của bị cáo khi phát biểu và đăng tải các thông tin lên mạng xã hội là gì?

Vậy tôi xin hỏi ngược lại, khi hỏi tôi, động cơ của bà là gì?

Chủ tọa đề nghị đại diện Viện kiểm sát dừng việc xét hỏi.

LUẬT SƯ HỎI

Luật sư Lê Văn Luân: Ngày 16 Tháng Mười Một 2017, ông Trương Xuân Thành có làm việc với bà không?

Tôi không biết đó là ai. Công an họ tự gọi vào…

Bà có nhận dạng được ông Thành không?

Không

Tài liệu mà bà ký ở trang đầu là tài liệu nào? Tài liệu đó là bà có được từ đâu?

Tài liệu đó là tôi tham dự cuộc họp của EU, có cái họ phát, có cái là tôi mua từ cuộc triển lãm trong cuộc họp

Các chữ ký trên các trang tài liệu của bà?

Tôi nghi ngờ công an ngụy tạo ra, không phải của tôi

Bà có yêu cầu giám định lại không?

Tôi biết cơ quan giám định Việt Nam nên có giám định lại cũng thế mà thôi

Luật sư Đặng Đình Mạnh: Bà có được điều tra viên thông báo kết luận giám định không?

Họ có đọc cho tôi trong trại tạm giam

Bà có yêu cầu gì về việc tiếp cận hồ sơ vụ án không?

Tôi có yêu cầu biết tên, tuổi, trình độ cũng những người giám định nhưng không ai cho tôi biết

Bà có yêu cầu đọc, xem tài liệu có trong hồ sơ vụ án không?

Không

Nếu được cho phép, bà có yêu cầu đó không?

Chắc không cần

Luật sư Nguyễn Văn Miếng: Khi bị bắt bà bị thu giữ gì không?

Bị bắt khi nào ạ?

Ngày 16 Tháng Mười 2020

23h30 tôi bị bắt đi lên phường rồi khi được đưa quay lại thì phòng trọ bị lục tan hoang nhưng không thu giữ tài liệu gì

Vậy những tài liệu bị thu giữ lấy từ đâu?

Tôi không rõ

Những tài liệu tiếng Anh bà dùng làm gì?

Những tài liệu này tôi không viết, không biết của ai, người dịch là của công an. Tôi dùng để tôi đọc chứ không phát tán, tuyên truyền cho ai. Người dịch và phổ biến chứ tôi không phổ biến

Bà có nghe hết cáo trạng không?

Tôi nghe không rõ và không quan tâm nhưng thấy có nhiều sai sót

Luật sư Ngô Anh Tuấn: Trong quá trình điều tra, bà có yêu cầu có luật sư không?

Trong suốt quá trình điều tra, tôi luôn khẩn thiết đề nghị nhưng không bao giờ được chấp nhận. Điều tra viên đưa ra lý do đây là vụ án liên quan tới an ninh quốc gia nên tôi không được quyền có luật sư. Mãi tới ngày 19 Tháng Mười 2021, khi vụ án sắp được đưa ra xét xử tôi mới được gặp luật sư lần đầu tiên

Trong quá trình điều tra bà có bị ép cung không?

Có. Trong nhiều lần bị bắt bớ trước đó, bị cáo bị đánh, ép ký văn bản nhưng không ký nên họ tự đưa người vào ký làm chứng

Việc ăn ở trong trại giam của bị cáo thế nào?

Sau khi có ý kiến của các luật sư thì trại giam đã đáp ứng một số yêu cầu thiết yếu của tôi với tinh thần hợp tác

Từ đầu tới giờ, bà nhiều lần chỉ trích nặng lời đối với nội dung của bản kết luận giám định, các luật sư cũng đề nghị tòa triệu tập giám định viên, chủ tọa cũng cho biết sẽ triệu tập khi cần thiết, vậy bà có thấy cần triệu tập họ tới phiên tòa này để tham gia xét hỏi hay không?

Những tài liệu không phải tôi làm ra, họ tự dịch thuật rồi tự phát tán rồi tự giám định, tôi không quan tâm lắm. Nếu họ tới để tranh luận thì tốt mà không tới cũng không sao cả

Luật sư Lê Văn Luân: Đề nghị HĐXX không tiếp tục trì hoãn mà cần xem xét các yêu cầu triệu tập của chúng tôi một lần nữa để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát: Đề nghị HĐXX công bố một số bút lục liên quan tới lời khai của bị cáo, người làm chứng có trong hồ sơ vụ án.

Chủ tọa phiên tòa công bố một số lời khai của bà Phạm Thị Đoan Trang tại bút lục 221, 222; công bố lời khai của người làm chứng Trương Xuân Thành tại bút lục 509, 510.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tòa công bố bút lục số 265, 266 về lời khai của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang. Kết thúc phần xét hỏi 11h20, chuyển sang phần tranh luận.

PHẦN TRANH LUẬN (11h20)

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Đề nghị HXX tuyên phạt bị cáo với mức án 7-8 năm tù về tội danh “Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”; trả lại một số tài sản đã thu giữ của bị cáo.

HĐXX tạm nghỉ buổi sáng lúc 11h30

PHIÊN TÒA BẮT ĐẦU LẠI (14h00)

Một nhân viên an ninh trước cổng tòa không cho ông Phạm Chính Trực, anh trai của bà Phạm Đoan Trang vào cùng mẹ vì giải thích ca sáng cho vào là việc của ca sáng, ca chiều không liên quan. Các luật sư đồng loạt đi ra ngoài cổng tòa để phản đối hành vi cứng nhắc này. Sau đó, thư ký tòa đề nghị luật sư đi vòng bằng cổng khác để vào tòa. Trên đường đi, chúng tôi gặp một số tùy viên chính trị của các đại sứ quán cũng đang đi lòng vòng vì chưa vào được. Họ cười với chúng tôi và lắc đầu ngao ngán. Khi chúng tôi vào được tòa, nhìn ra phía ngoài cổng, họ vẫn đang đứng ngoài…

CÁC LUẬT SƯ TRÌNH BÀY NỘI DUNG BÀO CHỮA

Luật sư Đặng Đình Mạnh

Về thủ tục tố tụng:

Các luật sư có yêu cầu triệu tập nhiều người có liên quan nhưng không có bất kỳ người nào có mặt tại tòa. Phía đại diện Viện Kiểm sát cho rằng việc họ vắng mặt không làm ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, thực tế, việc vắng mặt của họ ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc bào chữa của luật sư, điều này thể hiện sự bất bình đẳng trong việc buộc tội và gỡ tội đối với bị cáo.

Việc tiếp cận hồ sơ vụ án của bị can, bị cáo không được tôn trọng khi cơ quan tiến hành tố tụng không chấp nhận đề nghị của bị cáo.

Việc xung đột pháp luật: Điều 25 của Hiến pháp quy định quyền tự do ngôn luận của công dân nhưng Điều 88 của Bộ luật Hình sự 1999 lại đi ngược với tinh thần của Hiến pháp nhằm bắt bớ, xử lý người thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình. Điều 88 Bộ luật hình sự 1999 cũng mâu thuẫn với Điều 19 của Công ước về Tuyên ngôn nhân quyền 1966 mà Việt Nam tham gia ký kết. Một khi có sự mâu thuẫn giữa luật quốc nội và điều ước quốc tế thì ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế.

Giám định tư pháp: Không thể giám định về tư tưởng, quan điểm, nhận thức chính trị, pháp luật. Các nước trên thế giới cũng không thể thực hiện hình thức này. Những phương tiện mà các giám định viên đã sử dụng để giám định là khá phi lý: Trên cơ sở pháp lý nào mà có thể kết luận những đoạn văn, câu văn nào là phao tin bịa đặt, gây hoang mang dư luận…?

Những yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể bị xâm phạm):

Chính quyền nhân dân là một khái niệm mơ hồ, nó là thực thể nào? Nó là một tổ chức, một cá nhân hay một thứ nào khác?…

Kết luận: Tuyên bị cáo không phạm tội.

Đề nghị HĐXX kiến nghị hủy bỏ điều luật trái với Hiến pháp và trái điều ước quốc tế.

Luật sư Nguyễn Văn Miếng

Đồng tình với quan điểm của luật sư Mạnh. Quan điểm về bảy văn bản giám định và một công văn trả lời. Tám văn bản này đã kết tội bà Trang trước khi có phiên tòa này. Trong hồ sơ giám định kết luận có một số chữ ký trên hồ sơ không phải là chữ ký của bà Phạm Thị Đoan Trang. Hai clip được lưu giữ trong máy, cơ quan giám định cũng trả lời chưa phát tán nên không có cơ sở để giám định. 15 file tài liệu thu giữ cũng không được giám định nhưng vẫn đưa vào cáo trạng để kết tội bị cáo. Các tài liệu thu thập được trên mạng không được giám định trên bản tiếng Anh, không xác nhận nội dung của người viết ra mà giám định trên bản dịch theo chủ ý của cơ quan điều tra. Cách giám định này là không khách quan. Căn cứ vào Điều 25 của Hiến pháp và Điều 19 của Công ước quốc tế 1966 mà Việt Nam đã tham gia thì Điều 88 của Bộ luật hình sự 1999 là vi phạm những điều luật này.

Đề xuất: Tuyên thân chủ vô tội.

Luật sư Lê Văn Luân

Việc bảo vệ các nguyên tắc: Xét xử công bằng và tranh tụng.

Xét xử công bằng và tranh tụng: Một số vi phạm cơ bản không thể khắc phục. Việc triệu tập những người tham gia tố tụng đã không được thực hiện.

Quyền tự bào chữa và quyền bào chữa cho bị cáo: Quyền tự bào chữa của bị cáo không chỉ bị gián đoạn mà hoàn toàn bị che mờ. Quyền được tiếp cận hồ sơ của bị cáo không được chấp nhận.

Kết luận giám định, dựa trên pháp luật hiện hành đã vi phạm nghiêm trọng:

Thẩm quyền: Dùng cơ quan thông tin truyền thông thuộc UBND để kết luận an ninh thông tin là điều sai trái. Chức năng của cơ quan thông tin truyền thông là liên quan tới an toàn thông tin chứ không liên quan tới an ninh thông tin, việc giao cho họ quyền này là vượt quá khả năng của họ.

Địa phương hóa việc kết tội: Kết luận giám định được thực hiện bởi cơ quan chuyên môn cấp tỉnh.

Kết luận mặt khách quan của tội phạm: Kết luận mặt nội dung, kết luận luôn các yếu tố cấu thành tội phạm.

Trao quyền cho địa phương kết tội, bất kỳ Sở Thông tin Truyền thông nào cũng có quyền kết tội một người nào mà họ thích.

Cùng một cuốn sách “Cẩm nang nuôi tù” của bà Phạm Thị Đoan Trang được hai Sở Thông tin và Truyền thông của hai tỉnh khác nhau kết luận những nội dung khác biệt nhau (so sánh với vụ án của bà Cấn Thị Thêu tại tỉnh Hòa Bình).

Về chứng cứ: Vật chứng gốc của các USB không còn. Bản tiếng Anh được in ra trong USB hiện ở đâu? Tại sao không có trong hồ sơ vụ án? Một số tài liệu không kết luận được là chữ ký của bà Trang, vậy ai ký? Ai đã ký thay bà Trang? Đó là hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp, cần làm rõ.

Không xác định được nguồn của chứng cứ: Ba tài liệu tiếng Anh và một tài liệu tiếng Việt, không biết tài liệu tiếng Việt thu từ nguồn nào, ở đâu ra? Không xác định nguồn chứng cứ, không xác định được người tạo ra… Tôi đề nghị trình chiếu bản ghi hình buổi hỏi cung có ghi hình vào ngày 16 Tháng Mười Một 2017.

Người chứng kiến không có mặt trong ngày 16 Tháng Mười Một 2017. Bản khai của ông Trương Xuân Thành khai ở bút lục số 51 (có bản ghi hình 00812, 00813): Trong buổi làm việc 80 phút với bà Trang chỉ có bốn người, không có mặt ông Thành. Tại phút thứ 23 của bản ghi hình 00812, có người đàn ông nói “nếu bà không ký hồ sơ thì tôi sẽ mời người chứng kiến”, nghĩa là lúc này không có người chứng kiến, trái với lời khai của nhân chứng.

Ông Trương Xuân Thành khai là bà Trang đồng ý cho người chứng kiến ký nhưng tại phút thứ 36, bà Trang phủ nhận, không chấp nhận cho người làm chứng ký.

Buổi làm việc ngày 16 Tháng Mười Một 2017 bắt đầu từ 14h và kết thúc lúc 15h30 tại phường Cống Vị, tôi dùng ba hình ảnh chụp và cắt, trên đồng hồ của cán bộ tên Hương ghi thì thời gian chênh nhau là khoảng hai giờ, mâu thuẫn với bản làm việc. Như vậy, những bản ghi này vênh nhau, sai phạm lớn, không có giá trị làm chứng cứ. Ông Trương Xuân Thành khai có mặt toàn bộ buổi làm việc là gian dối và có thể bị khởi tố trách nhiệm hình sự về hành vi của mình, cần phải xử lý.

Đề nghị tuyên bà Trang không phạm tội. Đề nghị tòa xem xét trách nhiệm của những người gây ra những sai phạm này.

Luật sư Ngô Anh Tuấn

Việc cơ quan điều tra đã đưa ra yêu cầu trưng cầu giám định vượt quá khả năng, thẩm quyền của cơ quan thông tin truyền thông. Viện kiểm sát là cơ quan kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã không đảm bảo vai trò của mình, giờ là lúc cần xem xét lại.

Cần xem xét trách nhiệm của cơ quan điều tra, có hay không có sự ép buộc của cơ quan điều tra đối với Sở Thông tin Truyền thông để họ phải thực hiện công việc vượt ngoài khả năng và trách nhiệm của họ. Hơn thế nữa, cần xem xét kỹ việc họ không có mặt tại phiên tòa này và nhiều phiên tòa tương tự khác có phải là họ không muốn đối đáp và “minh oan” cho mình hay do một áp lực nào khác hay không?

Việc xem xét, đánh giá một hành vi có dấu hiệu tội phạm hay không là việc của cơ quan điều tra chứ không phải là cơ quan hành chính nào đó, càng không thể là trách nhiệm của cơ quan giám định vì họ chỉ làm công tác chuyên môn đơn thuần. Viện kiểm sát cần làm rõ khái niệm chính quyền nhân dân và nhân dân trong vụ án này để xác định rõ chủ thể bị hành vi vi phạm pháp luật (nếu có) xâm phạm tới quyền và lợi ích chính đáng của mình.

Bà Phạm Thị Đoan Trang bổ sung: Lời cung của người làm chứng Trương Xuân Thành cần phải kiểm chứng.

Chủ tọa: Bị cáo cần xưng tôi với HĐXX, và tôn trọng pháp luật.

Tôi tôn trọng các chị như những con người. Tôi là người nhìn thấy và cầm các tài liệu từ bàn hội nghị của EU nhưng tôi không làm ra, không phát tán. Việc phát tán là của cơ quan an ninh thực hiện, không phải tôi.

Trong 25 lần tôi bị bắt giữ trái pháp luật, nhiều lần tôi bị ép cung, mướn cung, dụ dỗ tôi khai báo thì những lời tôi nhận những tài liệu là do tôi làm ra thì đó là vô giá trị. Vụ án này kết tội tôi chủ yếu dựa trên lời khai của tôi và những người khác là vi phạm pháp luật, không dựa vào các chứng cứ khách quan khác có trong hồ sơ vụ án. Trong quá trình điều tra, tôi khai nhiều lời khai có lợi cho mình nhưng chưa một lần những lời khai đó được ghi nhận. Ngay cả việc tôi yêu cầu có luật sư cũng không được ghi nhận trong hồ sơ.

Tôi bị bắt và được thả nhiều lần nhưng chưa một lần được giải thích là bắt và thả là vì lý do gì, ngay cả việc tôi bị đánh gãy chân cũng không bao giờ được nhắc tới. Trong quá trình điều tra, một số điều tra viên đã đánh đập, ép cung tôi nhưng tôi không có chứng cứ để truy cứu vấn đề này.

ĐẠI DIỆN VIỆN KIỂM SÁT ĐỐI ĐÁP

Sáu nhóm vấn đề đối đáp:

– Không triệu tập các điều tra viên và những người làm chứng: Tòa đã giải thích, không đối đáp lại.

– Không có luật sư trong quá trình điều tra: Bị can bị khởi tố về tội liên quan tới an ninh quốc gia nên Viện Kiểm sát không cho luật sư tham gia trong quá trình điều tra là đúng.

– Khi tống đạt cáo trạng cho bị cáo, bị cáo không đề nghị tiếp cận tài liệu nên không có cơ sở để xem xét yêu cầu của bị cáo. Điều này bị cáo cũng xác nhận tại tòa rằng không có nhu cầu tiếp cận hồ sơ.

– Công tác giám định, thẩm quyền giám định: Việc dịch tiếng Anh sang tiếng Việt là đúng quy định. Cơ quan điều tra thực hiện việc dịch thuật là đúng, đủ thẩm quyền và trình độ để thực hiện. Việc dịch thuật là đúng, đủ, trung thực nên có căn cứ để làm chứng cứ.

– Thẩm quyền giám định: Đã có quyết định của cơ quan có thẩm quyền và được công bố công khai nội dung, danh sách trên Sở Tư pháp Hà Nội nên kết luận giám định là đúng pháp luật. Các tài liệu giám định khẳng định các chữ ký của bị cáo Trang có trên hồ sơ là đúng do bị cáo Trang ký.

– Về nội dung cáo trạng là đúng làm luật, có căn cứ và không oan. Đề nghị của các luật sư tuyên bị cáo không có tội là không có căn cứ pháp luật.

Kiểm sát viên Lương Thị Hương đối đáp thêm: Nguồn chứng cứ được thu thập từ các nguồn hợp pháp.

ĐỐI ĐÁP TIẾP

Bà Trang: Ngày 20 Tháng Mười 2021, có đề nghị tiếp cận chứng cứ, hồ sơ tài liệu và yêu cầu triệu tập điều tra viên, giám định viên và đề nghị cung cấp phương tiện để làm việc tại tòa nhưng không được chấp nhận. Việc Viện Kiểm sát nói tôi từ bỏ quyền của mình là không đúng. Hôm nay tôi từ chối tiếp cận là vì tôi đã đủ thất vọng với các vị nên không yêu cầu thêm làm gì nữa mà thôi. Nếu các anh, chị không dịch thuật tài liệu từ tiếng Anh sang tiếng Việt rồi rêu rao đó là vi phạm pháp luật, là phao tin bịa đặt gây hoang mang dư luận thì có ai biết không? Ai mượn, ai sai khiến quý vị đi dịch thuật, lan truyền rồi lại quy trách nhiệm cho tôi?

Luật sư Đặng Đình Mạnh: Việc có mặt của người giám định và những người có liên quan khác không được xem xét và các vị đại diện Viện Kiểm sát không tranh luận là một điều đáng tiếc. Thân chủ tôi có khai là bị đánh đập trong quá trình điều tra khiến hình ảnh của cơ quan điều tra xấu đi trong mắt nhân dân, nếu có mặt luật sư thì điều đó sẽ được giảm thiểu. Cần xem xét lại việc có mặt của luật sư trong các vụ án tương tự để tránh khả năng xảy ra oan sai. Về thẩm quyền của giám định viên: Chúng tôi phủ nhận vai trò của các giám định viên.

Luật sư Nguyễn Văn Miếng: Bản dịch được dịch qua công ty dịch thuật thiếu chuyên môn.

Luật sư Lê Văn Luân: Nhiều nội dung của tôi chưa được đối đáp. Thẩm quyền giám định. Nguồn chứng cứ được thu giữ không biết được thu giữ từ bà Trang hay được thu giữ từ một nguồn khác rồi đưa bà Trang ký? Nguồn chứng cứ không đảm bảo thì không thể làm chứng cứ để buộc tội. Cáo trạng chỉ căn cứ vào lời khai để buộc tội. Bút lục 1044, Kết luận số 2987 ghi rõ, chỉ trang đầu trong 41 trang tài liệu là chữ ký bà Trang, còn 40 chữ ký còn lại trong các trang sau không đủ cơ sở để xác định chữ ký là của ai. Thủ tướng Phạm Minh Chính đã cam kết sẽ cải thiện vấn đề nhân quyền để thu hút đầu tư nước ngoài, vì vậy HĐXX cần phải làm rõ sự thật khách quan của vụ án để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật và tinh thần thượng tôn pháp luật cũng như cam kết của ông Thủ tướng.

Bà Trang bổ sung thêm: Ông Phạm Minh Chính là học trò của mẹ tôi. Trong việc thẩm định văn chương, nghiên cứu là vô cùng khó khăn nếu tác giả bài viết không nhận thì tôi thách cơ quan giám định, cơ quan điều tra xác định được.

Chủ tọa: Tôi nhắc nhở bị cáo về cách sử dụng ngôn ngữ tại tòa.

Bà Trang: Tôi nói rằng không ai chứng minh được tác giả của bài viết nếu người viết không xác nhận. Cơ quan điều tra tự dịch tài liệu rồi phát tán rồi gán cho tôi là tác giả và quy chụp trách nhiệm cho tôi là sai trái.

Luật sư Ngô Anh Tuấn: Chúng ta phải thừa nhận rằng, vụ án hình sự nào cũng phải có bị hại, không có bị hại thì có thể có vụ án hay không? Vụ án này bị hại là ai? Theo hồ sơ vụ án, ta có thể hình dung ra hai “bị hại” được nhắc tới, đó là “Chính quyền nhân dân” và “Nhân dân”. “Chính quyền nhân dân” thì bị phỉ báng, còn “Nhân dân” thì bị gây hoang mang!  Nhưng “Chính quyền nhân dân” ở đây cụ thể là ai? Và họ đã bị phỉ báng thế nào, để lại hậu quả gì không, họ đã lên tiếng thế nào…?  “Nhân dân” ở đây là ai và họ đã bị gây hoang mang như thế nào, có ai lên tiếng hay không?

Một vụ án mới đây mà TAND tỉnh Hòa Bình đã xét xử, chúng tôi ghi nhận sự nỗ lực của cơ quan điều tra là đã chứng minh người dân đã bị gây hoang mang, dù chỉ hai người thôi nhưng dù sao thì đó cũng là một cơ sở để cáo buộc bị cáo, còn vụ án này, chúng tôi không thấy bất kỳ một nạn nhân hiện hữu nào! Một vụ án không có nạn nhân thì chúng ta xử tội gì với bị cáo, điều này liệu có công bằng? Đề nghị đại diện Viện kiểm sát đối đáp lại để HĐXX có cơ sở nhận định và ra phán quyết một cách công tâm, khách quan.

Luật sư Nguyễn Văn Miếng: Tại sao hành vi đã diễn ra từ những năm 2016 nhưng không được xử lý? Có chăng cơ quan có thẩm quyền chỉ định xử lý hành chính rồi tới lúc không thể làm gì khác lại đưa ra truy cứu trách nhiệm hình sự?

ĐỐI ĐÁP TIẾP CỦA ĐẠI DIỆN VIỆN KIỂM SÁT

Các tài liệu được thu thập bằng tiếng Anh nên được dịch qua tiếng Việt là đúng quy định của pháp luật. Chúng tôi không chỉ căn cứ vào lời khai của bị cáo để kết tội bị cáo mà còn căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhiều bài đăng trên Facebook của bị cáo đã phát tán trên mạng xã hội đã nhận được rất nhiều like và chia sẻ của cộng đồng mạng nên không cần thiết phải chứng minh ai hoang mang hay không. HĐXX tuyên bố chấm dứt phần tranh luận trong khi kiểm sát viên chưa dứt nội dung tranh luận của mình, chuyển sang phần nghị án.

(Kiểm sát viên và các luật sư không kịp phản ứng gì; trước khi chuyển sang phần nghị án, chủ tọa cho phép bị cáo nói lời nói cuối cùng)

LỜI NÓI CUỐI CÙNG CỦA BÀ PHẠM THỊ ĐOAN TRANG

Tôi đề nghị các luật sư, trong phần lời nói cuối cùng của tôi, nếu bị ngắt giữa chừng thì mong các luật sư bảo vệ quyền được nói của tôi.

Bà Trang nói:

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, lãnh tụ tinh thần của người Phật giáo Tây Tạng, từng nói một câu đại ý: Chúng ta hãy thử tưởng tượng một thế giới trong đó có cả sáu tỷ người đều theo cùng một tôn giáo thì điều gì sẽ xảy ra khi đó? Chắc chắn là trước sau cũng có một nhóm người thấy rằng tôn giáo đó không còn mang lại lợi ích cho họ nữa, thế là họ tách ra và thế giới có thêm một nhóm tôn giáo khác hoặc một nhóm người không theo tôn giáo nào.

Điều Đức Đạt Lai Lạt Ma nói là để chúng ta thấy rằng bản chất của thế giới này, bản chất của cuộc sống là đa nguyên, và bản chất của con người là hướng tới sự đa nguyên. Chỉ có những kẻ ngu xuẩn mới đi tranh cãi về sự đa nguyên và phủ định sự đa nguyên. Chỉ những kẻ độc ác mới tiêu diệt sự đa nguyên. Và chỉ có những chính quyền cực kỳ độc ác và ngu xuẩn mới tiêu diệt sự đa nguyên bằng cách đàn áp, cầm tù những người bất đồng chính kiến…

Chủ tọa nhắc nhở: Yêu cầu cáo dừng lại!

Bà Trang tiếp tục: Trong một xã hội dân chủ, nếu có một công dân viết sách, viết báo hoặc trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài nói lên những điều chính quyền không muốn nghe thì cách hành xử văn minh có thể là gì?

Chủ tọa nhắc nhở: Yêu cầu cáo dừng lại!

Bà Trang vẫn tiếp tục: Con người văn minh phải biết tôn trọng quan điểm của người khác. Tôi là nhà báo, tôi phải lên tiếng vì người yếu thế. Tôi không thể làm khác được. Nhân vật Nguyễn Trãi trong vở kịch “Bí mật vườn Lệ Chi” đã nói: “Con thú có thể cắn chết con người nhưng vẫn là con thú. Con người mang trong mình lẽ phải có thể bị sát hại vì lẽ phải, nhưng bảo vệ lẽ phải mãi mãi vẫn là thiên chức của con người”.

Chủ tọa nhắc nhở: Yêu cầu cáo dừng lại!

Bà Trang lại tiếp tục: Ngày hôm nay các vị có thể kết án tôi với bất kỳ mức án nào và hả hê đắc thắng vì đã xóa bỏ được một cái gai trong mắt các anh chị nhiều năm nay, nhưng mãi mãi các anh chị không xóa bỏ được tiếng xấu, độc tài, phi dân chủ, phản dân chủ.

Chủ tọa nhắc nhở: Yêu cầu cáo dừng lại!

Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo dừng lại và vào phòng nghị án trong khi bà Trang đang nói.

Ông Phạm Chính Trực, anh trai bà Phạm Đoan Trang ngồi hàng ghế dự khán vỗ tay và nói lời ủng hộ, động viên em gái liền bị cảnh sát tư pháp áp giải ra khỏi phòng xử án.

HĐXX vào phòng nghị án (15h55)

TUYÊN ÁN (17h)

HĐXX tuyên phạt bà Phạm Thị Đoan Trang mức án chín năm tù giam, cao hơn mức đề xuất của đại diện Viện Kiểm sát đề nghị.

P/S: Việc ghi chép của tôi không thể đầy đủ toàn bộ nội dung vì tôi vừa phải chuẩn bị nội dung công việc của mình đánh máy tài liệu nhưng những nội dung tôi ghi là hoàn toàn trung thực, khách quan như lâu nay tôi vẫn thường làm và như chính con người của tôi. Các luật sư đồng nghiệp sẽ bổ sung, nếu còn thiếu sót…

From: TU-PHUNG

NỮ BÁC SĨ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM

Lương Văn Can

NỮ BÁC SĨ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM: NGƯỜI ĐẸP THÔNG THẠO 7 THỨ TIẾNG, TÀI GIỎI GÂY CHẤN ĐỘNG MỘT THỜI

Bà Henɾiette Bùi biết ᵭến 7 ngoại ngữ, bao gồm: Tiếng Pháρ, tiếng Tɾung, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý, tiếng La Tinh và tiếng Hy Lạρ.

Bà Henɾiette Bùi Quαng Chiêu sinh ngày 8/9/1906 tại Hà Nội và lớn lên ở Sài Gòn. Bà xuất thân tɾong một gia ᵭình tɾi thức và giàu có nức tiếng thời bấy giờ. Điều khiến bà ᵭược người ᵭời nhớ tới là bởi, bà chính là nữ bác sĩ ᵭầu tiên ở Việt Nαm. Tài năng, năng lực học tậρ của nữ bác sĩ này từng gây chấn ᵭộng một thời…

Thông thạo ᵭến 7 thứ tiếng, tốt nghiệρ tɾường Y với luận án xuất sắc

Ngay từ nhỏ, bà Henɾiette Bùi Quαng Chiêu ᵭã ᵭược ăn học ᵭầy ᵭủ. Bà cũng ɾất sáng dạ và luôn có thành tích học tậρ xuất sắc. Thưở nhỏ, bà Henɾiette Bùi Quαng Chiêu theo học tại Tɾường Sαint Pαul de Chαɾtɾes (tɾường Nhà Tɾắng) tại Sài Gòn. Năm 1915, bà thi vượt cấρ và nhận bằng Ceɾtificαt d’Études sớm 2 năm, ɾồi vào học tɾường Collège des Jeunes Filles, tức Tɾường Tɾung học Gia Long, tɾường Áo Tím sau này, mà nay là Tɾường THPT Nguyễn Thị Minh Khai thuộc quận 3, TP.HCM.

Năm 15 tuổi, Henɾiette Bùi Quαng Chiêu ᵭược ᵭưa sang Pháρ du học tại Tɾường Lycée Fenelon ở Paɾis vào năm 1926. Năm 1927, bà vào học Y tại ĐH Y khoa Paɾis. Thời ᵭiểm ấy, việc ρhụ nữ học lên ᵭại học ᵭã ít, huống chi còn là ĐH Y, và còn là một nữ sinh người Việt. Chính vì vậy mà sự kiện này gây chấn ᵭộng thời ᵭó. Sự có mặt một ρhụ nữ Việt tại một tɾường ᵭại học danh tiếng của Pháρ cũng là bước ᵭột ρhá tɾong hệ thống giáo dục của nước này.

Sαu 7 năm miệt mài học tậρ, bà Henɾiette Bùi Quang Chiêu tốt nghiệρ tɾường Y với luận án ᵭạt loại xuất sắc vào năm 1934. Bản luận án thậm chí còn ᵭược Hội ᵭồng giám khảo khen ngợi và tặng thưởng huy chương. Từ ᵭây, Henɾiette chính thức bắt ᵭầu con ᵭường hành nghề y, tɾở thành nữ bác sĩ khoa sản ᵭầu tiên của Việt Nam.

Một ᵭiều ấn tượng nữa, ᵭó là bà Henɾiette Bùi Quang Chiêu biết ᵭến 7 ngoại ngữ, bαo gồm: Tiếng Pháρ, tiếng Tɾung, tiếng Anh, tiếng Tây Bαn Nha, tiếng Ý, tiếng La Tinh và tiếng Hy Lạρ.

Chọn cứu người, thay vì hạnh ρhúc ɾiêng tư

Năm 1935, Ьà Henɾiette về nước lấy chồng theo lệnh của chα mẹ. Chồng bà là ông Vương Quang Nhường, Tiến sĩ Luật khoa ᵭầu tiên củα Việt Nam. Thời ᵭiểm về nước, bà Henɾiette nhậm chức Tɾưởng khoa Hộ sinh cho một bệnh viện sản ở Chợ Lớn, và là người ρhụ nữ Việt Nαm ᵭầu tiên có tɾách nhiệm chăm lo hệ thống bệnh viện thuộc ᵭịa thời ấy.

Cuộc hôn nhân của Ьà và ông Nhường chỉ kéo dài ᵭược 2 năm vì bà Henɾiette ɾất bận ɾộn công việc, thường xuyên ρhải ɾa khỏi nhà vào ᵭêm hôm ᵭể ᵭi cứu người. Sαu ᵭổ vỡ, bà tái giá với kỹ sư, ᵭồng thời là bác sĩ Nguyễn Ngọc Bích. Ông Bích từng tốt nghiệρ kỹ sư cầu cống từ tɾường nổi tiếng bậc nhất xứ Pháρ “École Polytechnique,” vốn chỉ dành ɾiêng cho sinh viên ưu tú nhất củα nước Pháρ và thế giới thời ấy.

Được biết thời ᵭiểm làm việc tại bệnh viện sản ở Chợ Lớn, bà Henɾiette thường xuyên ᵭấu tɾanh tɾực diện với cấρ tɾên ᵭể yêu cầu những quyền lợi chính ᵭáng cho y bác sĩ Việt, cho bệnh nhân người Việt, tɾước sự bất công, thiên vị dành cho bác sĩ, bệnh nhân người Pháρ.

Tɾong suốt 44 năm theo nghề y, bà Henɾiette từng làm việc cả ở Việt Nam và Pháρ. Năm 1957, bà từng sang Nhật học thêm châm cứu ᵭể áρ dụng tɾong ngành sản khoa. Năm 1961, bà sang Pháρ sinh sống và mở ρhòng mạch ɾiêng.

Năm 1970, bà Henɾiette về nước, tình nguyện ρhục vụ không lương tɾong ngành hộ sản và nhi khoa tại Bệnh viện Phú Thọ. Năm 1971, bà lại sang lại Pháρ tiếρ tục làm nghề y ᵭến năm 1976 và mất vào ngày 27/4/2012 tại Pαɾis, thọ 106 tuổi.

Được biết, bà Henɾiette còn hiến tặng biệt thự tư gia củα bà ở số 28 ᵭường Testαɾd làm cơ sở cho Tɾường ĐH Y khoa Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Hiện nay, nơi này là ᵭịa ᵭiểm thuộc Bảo tàng Chứng tích chiến tɾanh ở ᵭường Võ Văn Tần, TP.HCM.

Theo: Vietnamnet

CÂY NÊU NGÀY TẾT

Rung Nga Nguyen

CÂY NÊU NGÀY TẾT

Hàng năm, cứ vào dịp Tết Nguyên đán ông Táo về trời là Quỷ vào quấy nhiễu đất liền, người ta trồng cây nêu để Quỷ không bén mảng đến chỗ Người cư ngụ còn mang tính chất trừ tà.

Trên cây nêu có treo khánh đất, có tiếng động phát ra khi gió rung để nhắc nhở bọn Quỷ nghe mà tránh. Trên ngọn cây nêu còn buộc một bó lá dứa hoặc cành đa mỏ hái để cho Quỷ sợ. Ngoài ra, người ta còn vẽ hình cung tên hướng mũi nhọn về phía đông và rắc vôi bột xuống đất trước cửa ra vào trong những ngày Tết để cấm cửa Quỷ.

Có người cho đó là hủ tục mê tín dị đoan, tuy nhiên nhìn sâu vào từng chi tiết bên trong câu chuyện để thấy được tính nhân văn của nó mà cảm nhận được ý nghĩa của việc trồng cây nêu ngày Tết như thế nào. Cây tre là biểu trưng cho tính chất dẻo dai bền bỉ và vững chắc là bản sắc của con người Việt Nam, Gió bão cực mạnh cũng không làm tre đổ hay bật rễ, biểu tượng của người quân tử, khí thế hiên ngang tâm hồn cao thượng, kiên cường trước gió cao ngạo với cái “sỹ” của người quân tử tính tình thẳng thắn như cây tre.

Trồng cây nêu đầu năm mới để đánh dấu những ngày vui, hạnh phúc nhất trong năm, những may mắn mới với ước mong nhiều đổi mới hơn, nhiều thành đạt hơn. Trên cây nêu còn treo đèn lồng vào buổi tối với ý nghĩa để soi đường cho hương linh ông bà tổ tiên thấy đường về nhà đón tết cùng con cháu. Đây cũng nói lên ý nghĩa cao quý qua tinh thần hiếu đạo, tưởng nhớ ông bà tổ tiên.

ST

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Cha Con & Đất Nước

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Cha Con & Đất Nước

Ảnh của tuongnangtien

Thứ Năm, 01/20/2022 – 12:36 — tuongnangtien

Với thời gian, tôi bắt đầu nhận ra (mỗi lúc một rõ thêm) những dấu hiệu bất thường của tuổi già. Tôi không biết sáng nay mình đã uống thuốc cao máu hay chưa? Cũng chả rõ bữa trưa hôm qua mình ăn cái gì (nữa) nhưng lại thường nhớ như in những chuyện đã xa lắc xa lơ, từ hồi năm một ngàn chín trăm … nào đó!

Chiều nay, may quá, trí nhớ của tôi bỗng hoạt động có vẻ bình thường trở lại. Tôi chợt nhớ đến một bài viết cũ (“Người Ra Đi Đầu Không Ngoảnh Lại”) nhưng không cũ lắm, mới cách đây không lâu, của Người Buôn Gió. Xin ghi lại vài đoạn chính:

Tôi đi vì tương lai của con trai tôi, thằng Tí Hớn.
Khi Tí Hớn sinh ra trong bệnh viện, tôi phải trải qua cảnh hối lộ cho bác sĩ tiền, người ta nói rất thẳng phải bồi dưỡng ca này, kíp kia ngần này, ngần kia.

Là dân giang hồ, tôi từng hối lộ cho công an nhiều lần. Khi sinh con ra, tôi phải hối lộ cho bác sĩ. Như một thói quen, chuyện hối lộ trở thành bình thường trong xã hội Việt Nam, nó bình thường đến nỗi tôi thấy nó là việc tự nhiên không có gì đáng phải nghĩ về nó cả. Những người nhận hối lộ ấy, họ cũng phải hối lộ cấp trên của họ để làm việc được chỗ ấy. Để cho họ yên tâm làm việc phục vụ mình, đóng góp cùng với họ để họ có vị trí ấy yên ổn thì có gì đâu.

 Nhưng rồi một ngày không lâu sau khi Tí Hớn ra đời, tôi nhận ra rằng, nếu con tôi lớn lên trong một xã hội mà những nghề cao quý như công an, nhà giáo, bác sĩ lại thản nhiên đòi tiền hối lộ như thế, con tôi sẽ sống thế nào. Tôi có phải dạy nó rằng chuyện hối lộ như vậy là điều bình thường không?
…
Bạn nghĩ xem, một đất nước mà đầy rẫy những kẻ dối trá từ y tế, hành pháp, giáo dục và cả tôn giáo nữa, tôi có nên để cho con mình ở đó không?

Những kẻ dối trá ấy để nhận bổng lộc và những ưu đãi, rồi sau chúng cũng cho con chúng rời khỏi xứ sở ấy để tìm một nơi khác ít dối trá hơn, không khí trong lành hơn để sống.

Vậy tôi thành một tên phản động để mang con tôi đi, chỉ là tôi làm điều ngược lại với những kẻ kia thôi, nhưng mục đích vẫn là mang con ra khỏi quê hương mình.

Tất nhiên phải nói đến những người không nghĩ chuyện đi hay những người có điều kiện không đi, họ có những suy nghĩ khác, có những nhân cách khác tôi và bọn dối trá kia. Họ có quyền lên án tôi làm phản động chẳng qua lo cho tương lai con mình. Cái này tôi xin nhận.

Mỗi ngày bạn đưa con bạn đi đến trường trong làn không khí mù mờ của các loại khí thải độc hại, bạn có thể tự lừa dối mình, nhưng đừng nói với con mình đó chỉ là sương mù của tự nhiên. Nói với con mình như thế, bạn cũng trở thành kẻ dối trá.
Đất nước mà một thằng thầy giáo dối trá trên Facebook rằng không khí ô nhiễm do bọn xấu vu khống đất nước mình mà được mấy nghìn like…!
Có gì mà phải ngoảnh đầu cơ chứ?

Vâng thì có gì đâu mà phải bịn rịn hay quyến luyến. Trong một đất nước mà từ cái cột đèn đến ông/bà dân biểu quốc hội đều nhấp nhổm muốn đi ráo trọi thì ai dám lên án ai chỉ vì “tương lai của con cái” mà phải bỏ đi? Hằng triệu người đã lạnh lùng rời bỏ quê hương chứ đâu phải ít, và có mấy kẻ đã ngoái đầu – dù chỉ một lần.

Chuyện cũng chả có gì nghiêm trọng đến độ Người Buôn Gió phải mượn giọng khinh bạc (có gì mà phải ngoảnh đầu) cả. Ông có nói “giọng” gì chăng nữa thì người đọc vẫn cảm được nỗi ray rứt xé lòng của kẻ đã quyết định ly hương. Partir, c’est mourrir un peu. Đi là chết ở trong lòng một ít nhưng ở là chết hết cả người, và (không chừng) dám chết chùm cả nhà luôn!

Đi, nói cho cùng, vẫn là chuyện dễ (nếu có cơ hội, và nếu muốn) so với tình cảnh của rất nhiều người ở lại. Bùi Văn Thuận là một trong những kẻ ở vào trường hợp “khó khăn” như thế, theo như cách dùng từ của chính ông, trong bức thư để lại cho đứa con vừa mới chào đời:

Con gái à, hôm nay con đã được 3 tháng 18 ngày, con chưa thể đọc những dòng chữ ba viết cho con, nhưng ba vẫn viết ra đây để sau này con có thể đọc, con có thể cho bạn bè con đọc…  

Khi con ngủ (tối qua con ngủ khá ngoan, con gái ạ), ba mẹ nấu cơm và ăn cơm tối lúc hơn 12h đêm. Mẹ con đói lắm vì con bú nhiều, một lần nữa ba lại muốn khóc. Khi ăn ba và mẹ con đã nói rất nhiều chuyện, trong đó có chuyện khi đi “làm việc” với an ninh, nhỡ ba không về với hai mẹ con nữa thì sao? …

Ba rất khó lựa chọn, thật sự rất khó con gái ơi! Nếu ba chấp nhận sống vì hai mẹ con con, cúi đầu im lặng để có thể chạy vạy lo toan cho hai mẹ con, thì đến thế hệ con, không biết các con làm sao mà sống được?

Không khí ô nhiễm, các con bị đầu độc từ nguồn nước đến thực phẩm, nguy hiểm hơn các con còn bị đầu độc cả lương tri, đầu độc cả nền văn hóa. Con sẽ lớn lên thế nào, sẽ sống ra sao?

Nhưng nếu ba lựa chọn lên tiếng, lựa chọn đấu tranh cho những quyền và nhu cầu căn bản của con người, thì ba lại là người vô trách nhiệm với hai mẹ con. Nếu ba vì lên tiếng mà bị bắt, bị những kẻ xấu bỏ tù thì hai mẹ con con sẽ sống ra sao?

Đó là một sự lựa chọn rất khó khăn cho ba, con gái ơi! Sau khi bàn bạc với mẹ con, ba mẹ đã quyết định: Bình thản đón nhận những gì sẽ đến…

Và chuyện phải đến đã đến, theo thông tin của VOA:

Chính quyền Việt Nam hôm 30/8 bắt giữ Facebooker Bùi Văn Thuận, người có nhiều các đăng tải chỉ trích lãnh đạo Đảng trên mạng xã hội, với cáo buộc “tuyên truyền chống phá nhà nước” …

Ông Thuận, một giáo viên dạy hoá trước khi trở thành một blogger có tiếng ở Việt Nam, từng được báo Los Angeles Time phỏng vấn vì bị Facebook chặn tài khoản cũng như xoá các bài viết chỉ trích chính quyền, gồm loạt đăng tải về vụ tranh chấp đất đai ở làng Đồng Tâm…

Bà Nhung cho biết chồng bà biết rằng sẽ có ngày bị bắt và gia đình đã chuẩn bị tâm lý cho việc này.

Chả riêng chi ông Thuận với bà Nhung, nhiều cặp vợ chồng khác cũng đã sống trong tình cảnh bất an tương tự (“biết rằng sẽ có ngày bị bắt”) và cũng đều đã “chuẩn bị tâm lý” để đón nhận những đòn thù ti tiện nhất từ những kẻ cầm quyền hiện nay, ở Việt Nam. Xin ghi lại vài ba trường hợp gần nhất, theo thứ tự alphabétique:

  • Lê Văn Dũng, còn được biết là Lê Dũng Vova, bị bắt sáng ngày 30/6/2021.
  • Lê Trọng Hùng, ứng cử viên Đại Biểu Quốc Hội Khóa 15 tại thành phố Hà Nội, bị bắt ngày 27/3/2021, lãnh án án 5 năm tù, 5 năm quản chế, với tội danh “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”
  • Trịnh Bá Phương bị bắt vào ngày 25 tháng 6 năm 2020, lãnh án 10 năm tù và 5 năm quản chế, cũng với tội danh tương tự.

Tất cả những nhân vật nêu trên đều là cột trụ của gia đình, đều phải đối diện với “những lựa chọn khó khăn” như nhau, và đều đã quyết định “lựa chọn đấu tranh cho những quyền và nhu cầu căn bản của con người” – theo như lời của thầy giáo Bùi Văn Thuận. Trong bức thư viết cho con gái (thượng dẫn) của ông, còn có câu sau: “Mong rằng con sẽ được ông bà nội ngoại đùm bọc, các bác, các cô, các chú mà ba quen biết yêu thương đùm bọc.”

Chắc cũng không nhiều người quen biết với những người cha dũng cảm (Lê Dũng, Lê Trọng Hùng, Trịnh Bá Phương, Bùi Văn Thuận …) này đâu nhưng tôi tin rằng tất cả các cháu sẽ được cả cộng đồng người Việt “đùm bọc” trong khi thân phụ của chúng vắng nhà. Đây là bổn phận tối thiểu của những kẻ may mắn, vẫn còn đang ở ngoài vòng lao lý của chế độ hiện hành.

Việt Á test kit là lỗi hệ thống

Việt Á test kit là lỗi hệ thống

Bởi  AdminTD

 Lê Minh Nguyên

22-1-2022

Ông Nguyễn Văn An, cựu chủ tịch Quốc Hội CSVN đã từng chỉ ra rằng chế độ chính trị Việt Nam có đầy lỗi hệ thống, nhưng sau đó ông bị khiển trách và không dám nói gì thêm nữa vì đó là điều cấm kỵ.

Mà lỗi hệ thống thì phải sửa hệ thống, tức hệ thống độc tài độc đảng là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, chứ không phải sửa cái ngọn là trừng trị những người gây ra bóc lột, hối lộ, tham nhũng của vụ Việt Á test kit. Nó là con voi ở trong phòng khách, có nghĩa là chuyện sai phạm sờ sờ ra đó và ai cũng thấy được và thấy được từ lâu.

Trước tiên, trách nhiệm trực tiếp là từ chỉ đạo của ông Phó thủ tướng Vũ Đức Đam, và có thể có sự dính líu của ủy viên Bộ Chính trị, thậm chí là cả Bộ Chính trị đã cùng nhau hát bản tình lờ. Bởi vì sự kiện xảy ra trên toàn quốc khắp 62 tỉnh thành, số tiền bóc lột rất lớn (kit mua của TQ khoảng 21.000 đồng tức chưa đầy một đôla, bán với giá từ 400.000 đến 600.000 đồng tức gần 20 đến 30 đôla), liên quan đến sức khỏe của toàn dân trong mùa đại dịch, thì không thể nào là Bộ Chính trị đảng CSVN không biết được.

Trong một thể chế chính trị không có tư pháp độc lập, tức là không có sự thật và công lý, không có báo chí tư nhân độc lập tức là không bao giờ sự thật được tìm ra, cho nên hệ thống được chạy bằng sự dối trá, và sự dối trá này do lỗi hệ thống mà ra.

Tin hôm 20/1 cho biết, Thành ủy TP HCM đã tổ chức họp mặt báo chí, xuất bản Mừng Xuân – Mừng Đảng năm 2022. Ông Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy thành Hồ, chủ trì buổi họp mặt và yêu cầu báo chí phải có tính độc lập, nghĩa là đối kháng với 4 đặc điểm: Bầy đàn, khuôn mẫu, ỷ lại và đổ lỗi. Nhưng ông có thay đổi được hay không trong khi chỉ là một thành viên của Bộ Chính trị và không khéo sẽ đi theo con đường của Võ Văn Kiệt, tức là bị loại.

Chiều 20/1, Ban Nội chính Trung ương CSVN tổ chức cuộc họp thông tin về kết quả phiên họp thứ 21 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, ông Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Thái Học lặp lại ý kiến của ông Trưởng ban Chỉ đạo TBT Nguyễn Phú Trọng rằng “Vì sao chúng ta chống tham nhũng mạnh mẽ, quyết liệt như thế nhưng những người thực hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực không thấy xấu hổ mà vẫn trơ ra đó?” Ông đặt câu hỏi “vì sao” nghe thật là ngụy ngây thơ và ngớ ngẩn, khi mà ông không dám đụng tới cái điều cấm kỵ là lỗi hệ thống.

Nếu không giải quyết được lỗi hệ thống thì không bao giờ giải quyết được vấn đề tham nhũng, vì có ai dám chỉ trích hay dám phơi bày sự thật ra đâu? nếu không muốn bị ở tù như nhóm Báo Sạch, như Lê Mạnh Hà, Mai Phan Lợi, Bạch Hùng Dương hay như Phạm Đoan Trang, nguời vừa nhận giải Martin Ennals 2022 – tương tự như Nobel về nhân quyền – hôm 19/1?

Hệ thống chính trị tạo ra một giai cấp đứng trên hiến pháp và luật pháp, giai cấp này tìm cách bảo vệ che chở cho nhau để hút máu mỡ người dân, làm giàu cho gia đình, tạo các sân sau cho những hoàng tử đỏ. Một hệ thống như vậy thì làm gì có sự kiểm soát độc lập để diệt trừ tham nhũng được, trừ khi có những người ăn mà chùi mép không sạch, để cho quá lộ liễu và dư luận phẫn nộ, ví dụ như chuyện khôi hài có thật: Trong một cuộc kiểm thảo ở cấp ủy để xử một cán bộ tham nhũng, người cán bộ tham nhũng này phát biểu rằng:

“Kính thưa quý đồng chí cán bộ

Kính thưa quý đồng chí chưa bị lộ…”

Với tình hình thế giới đầy biến động, với việc bắt đầu một cuộc chiến tranh lạnh thứ hai giữa Mỹ và Trung Quốc, thì Việt Nam không thể nào duy trì hệ thống chính trị hiện tại được, mà phải thay đổi để không trở thành một bãi chiến trường. Việt Nam nếu không như Nam Hàn, Đài Loan thì nên như những quốc gia Áo, Phần Lan, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Ái Nhĩ Lan để phát triển đất nước, tức là những quốc gia theo chế độ dân chủ với tất cả các định chế dân chủ như Tây phương, nhưng theo quy chế trung lập, nhất là trung lập pháp lý vĩnh viễn như Thụy Sĩ.

Việt Á test kit chỉ là một lỗ hổng trong thùng nước có đầy lỗ hổng khác. Các lỗ hổng như Việt Á khác đang được che đậy và sẽ tiếp tục nổ ra, bởi vì khi đã là lỗi hệ thống mà không sửa hệ thống thì không bao giờ chữa được lỗi.

Năm 2022 là năm mà nội bộ của các phe phái trong đảng CSVN tranh giành quyền lực dữ dội, khi ông Nguyễn Phú Trọng bước xuống trong Hội nghị trung ương 5 vào tháng Năm tới đây. Hiện giờ ta thấy phe của Vương Đình Huệ và phe của Nguyễn Xuân Phúc đang kịch liệt đấm đá nhau, những sân sau của Nguyễn Xuân Phúc như FLC (Trịnh Văn Quyết) và Tân Hoàng Minh (Đỗ Anh Dũng) bắt đầu bỏ của chạy lấy người.

Trong khi ông Bộ trưởng Công an Tô Lâm và Thủ tuớng Phạm Minh Chính thì như mặt trời, mặt trăng, vụ Việt Á test kit bị công an điều tra sau gần hai năm ăn dày, ngoài ông Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đích thân chỉ đạo ngoáy mũi toàn dân, người ta còn nghi ngờ rằng ông Tô Lâm muốn phơi bày sự dính dự của ông Chính, vì bộ Y tế và bộ Khoa học Công nghệ nằm dưới quyền điều khiển của ông Chính.

Quốc hội bù nhìn của CSVN đang có sự hiện diện của nhiều phe nhóm trong Đảng, cho nên cách sửa lỗi hệ thống dễ nhất là những phe nhóm này trở thành các đảng phái chính trị độc lập và Quốc hội bắt đầu có thực quyền. Đảng CSVN và Bộ Chính trị nên từ bỏ quyền lực và lui về phía sau, trở thành một đảng chính trị bình thường, thay vì lãnh đạo Nhà nước như hiện nay. Đảng chỉ là bệ phóng cho đảng viên ra tranh cử, đúng với bốn vai trò chính yếu của một đảng phái chính trị là (1) đào tạo cán bộ, (2) soạn thảo quốc sách, (3) vận động tranh cử và là, (4) nhịp cầu giữa chính quyền với quần chúng.

Quốc hội nắm chính quyền và là cơ quan quyền lực cao nhất của quốc gia. Nếu sửa lỗi hệ thống theo cách này thì đảng nào nắm đa số hoặc liên minh được đa số trong quốc hội sẽ nắm chính quyền giống như ở Nhật, Úc hay Anh, hệ thống chính trị theo chế độ đại nghị.

Có được một chính quyền dân chủ thì Việt Nam mới có cái thế để đi vận động với các đại cường để yêu cầu họ công nhận Việt Nam theo chế độ trung lập pháp lý vĩnh viễn. Sự trung lập này là do những siêu cường cam kết công nhận chứ không phải Việt Nam tự tuyên bố chính sách 3 lên 4 không, cho nên nó có giá trị và bền vững như Thụy Sĩ chẳng hạn.

Nhưng những hạm đội tham nhũng trong Bộ Chính trị và trong Ban Chấp hành Trung ương có cảm thấy là mình đã no đủ rồi và chấp nhận một chế độ như vậy để hạn chế rủi ro và bất trắc hay không? Nó vẫn còn là một dấu hỏi to đùng.

Đảng là một tổ chức và tổ chức là một sinh vật, nó có sự sinh ra, lớn lên, trưởng thành, già cỗi và khuất bóng theo luật tự nhiên của tạo hoá. Đảng CSVN đang già cỗi, bệnh tật và sẽ đi theo hướng tự nhiên là phải bị đào thải trong một ngày không xa.

Người chuyển sách của tác giả Phạm Đoan Trang bị án tù (RFA)

Đài Á Châu Tự Do 

Ông Nguyễn Bảo Tiên, người bị bắt do nhận và gửi những cuốn sách của tác giả, nhà báo độc lập/nhà hoạt động dân chủ Phạm Đoan Trang, vào ngày 21/1 phải ra tòa ở tỉnh Phú Yên và nhận hai án tổng cộng sáu năm sáu tháng tù giam.

Mạng báo Vietnam Plus của Thông tấn xã Việt Nam loan tin nói ông Nguyễn Bảo Tiên bị tòa tuyên án tù với hai cáo buộc: ‘tàng trữ, phát tán, tuyên truyền tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam’ theo Điều 117 và ‘chiếm đoạt, tàng trữ trái phép vật liệu nổ’ theo Điều 305 Bộ Luật Hình sự Việt Nam năm 2015.

Đối với cáo buộc thứ nhất ông Nguyễn Bảo Tiên bị tòa Phú Yên tuyên năm năm sáu tháng tù giam và cáo buộc thứ hai là một năm tù giam.

Cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Phú Yên cho rằng ông Nguyễn Bảo Tiên từng đọc báo nước ngoài rồi thường xuyên chia sẻ, đăng tải những bài viết mà theo cáo trạng là có nội dung xuyên tạc, chống Nhà nước CHXHCN VN.

Trong khoản thời gian từ tháng tám đến tháng mười năm 2019, Ông Nguyễn Bảo Tiên bị cho là đã năm lần nhận sáu kiện hàng là các sách có tựa ‘Chính trị Bình Dân’, ‘ Cẩm nang nuôi tù’, ‘Phản kháng phi bạo lực’ và ‘Chính đề Việt Nam’. Ba cuốn đầu là do nhà báo độc lập/nhà hoạt động dân chủ Phạm Đoan Trang viết. Bà này hiện đang phải thụ án tù chín năm với cáo buộc ‘tuyên truyền chống Nhà nước’.

Vụ tấn công Capitol : Tối Cao Pháp Viện Mỹ bác yêu cầu của Donald Trump ngăn tiếp cận tài liệu mật

 RFI Tiếng Việt 

Vai trò của cựu tổng thống Donald Trump trong vụ người biểu tình tấn công nhà Quốc Hội Mỹ ngày 06/01/2021 có khả năng được soi sáng hơn. Hôm qua, 19/01/2022, Tối Cao Pháp Viện Mỹ đã bác bỏ yêu cầu của cựu tổng thống, không chuyển cho ủy ban điều tra Hạ Viện về nhiều tài liệu liên quan đến các hoạt động của tổng thống Trump trong ngày 06/01, với lý do thuộc quyền « bí mật » của hành pháp.

Theo AFP, Tối Cao Pháp Viện Mỹ đã từ chối yêu cầu của cựu tổng thống Donald Trump giữ bí mật hàng trăm trang tài liệu, trong đó có danh sách những người đã đến gặp ông Donald Trump hoặc gọi điện cho cựu tổng thống trong ngày 06/01. Quyết định của Tối Cao Pháp Viện Mỹ được sự ủng hộ của 8 trên 9 thẩm phán. Trong số những người phê chuẩn quyết định này, có hai thẩm phán bảo thủ được ông Donald Trump bổ nhiệm.

Sau quyết định của Tối Cao Pháp Viện, các tài liệu nói trên, hiện do một cơ quan liên bang quản lý, phải được mở ra cho các nhà điều tra. Hai dân biểu đứng đầu ủy ban điều tra về vụ bạo loạn tại nhà Quốc Hội Mỹ ngày 06/01//2021, chính trị gia đảng Dân Chủ Bennie Thompson và chính trị gia đảng Cộng Hòa Liz Cheney, đã ra một thông báo, hoan nghênh « chiến thắng của Nhà nước pháp quyền và nền dân chủ Mỹ ». Ủy ban điều tra cho biết đã bắt đầu nhận được một số tài liệu « mà cựu tổng thống đã hy vọng giữ bí mật ».

Các thành viên của ủy ban điều tra về vụ bạo loạn mùng 6 tháng Giêng, đa số là dân biểu Dân Chủ, tìm cách xác định rõ cựu tổng thống, tỉ phú Donald Trump, đã đóng vai trò gì trong vụ hàng nghìn người ủng hộ ông tấn công điện Capitol, vào thời điểm các nghị sĩ đang tiến hành thủ tục xác nhận chiến thắng của ứng cử viên tổng thống đảng Dân Chủ Joe Biden.

Ủy ban điều tra phải làm việc khẩn trương, với hy vọng bằng mọi giá, công bố các kết luận trước cuộc bầu cử Quốc Hội giữa kỳ trong chưa đầy một năm nữa, bởi nhiều khả năng là một khi chiến thắng, phe Cộng Hòa được dự báo sẽ chấm dứt hoàn toàn cuộc điều tra.

Cựu tổng thống Trump đã tìm mọi cách để ngăn chặn việc ủy ban điều tra tiếp cận « tài liệu mật », và lên án một thủ đoạn chính trị nhắm vào ông.

Cho đến nay, theo các thăm dò dư luận, có đến 70% cử tri Cộng Hòa tin tưởng là « gian lận bầu cử » đã giúp ứng cử viên Joe Biden chiến thắng. Ông Trump cũng thường xuyên tố cáo « gian lận bầu cử », cho dù không có bằng chứng nào.

Tư pháp New York cung cấp bằng chứng Trump Organization gian lận thuế

Trong một diễn biến tư pháp khác liên quan đến cựu tổng thống, chưởng lý bang New York hôm thứ Ba, 18/01, đã công bố nhiều bằng chứng về hành vi gian lận thuế trong nội bộ công ty Trump Organization.

Trong hơn một trăm trang tài liệu liên quan đến vụ việc này, chưởng lý Letitia James cáo buộc ông Trump và các con đã khai báo thấp tài sản, để được trả thuế ít hơn, và đánh giá tài sản cao hơn trong các hồ sơ nộp ngân hàng để được vay tiền thuận lợi hơn.

Tội ác đang được dung dưỡng?

Tội ác đang được dung dưỡng?

Huyên, kẻ dùng tạ để đóng 9 cái đinh vào đầu bé gái 3 tuổi của tình nhân. Là con trai của một gia đình danh giá, có mẹ làm ở học viện Hậu Cần có bố là sĩ quan đang công tác ở Trường lục quân, gia đình cách mạng, yêu đảng yêu bác.

Sinh ra trong một gia đình có nòi giống cộng sản, lẽ nào Huyên không được giáo dục, chí ít phải biết tác động vào đầu một người khác bằng một lực có thể tước đoạt mạng sống của họ thì đó là hành vi phạm pháp, lẽ nào Huyên không biết?

Trách Huyên là một lẽ, nhưng cả hệ thống chính trị lẽ nào vô can?

Tháng trước- năm trước – một vụ bạo hành chấn động dư luận khi tình nhân đã tra tấn 4h đồng hồ con gái của một kẻ vũ phu tới chết.

Các hội bảo vệ trẻ em, các các tổ chức do nhà nước thành lập đã ở đâu khi các bé bị tra tấn?

Quốc hội đang họp cái gì để không đưa ra một điều luật đủ mạnh để răn đe những kẻ có xu hướng bạo lực? Hay quốc hội chỉ thích ngủ gật và giơ tay biểu quyết làm sao thu được thuế nhiều để tha hồ vơ vét, thoải mái tham nhũng sao?

Hay những nhà giáo dục đang bận học để lấy bằng giả mà quên mất giáo dục nhân cách con người, quên mất giáo dục việc hành vi đánh đập trẻ em là phạm pháp, hay, dù lời mắng chửi thôi cũng là điều cấm kỵ.

Những tội ác xảy ra ở Việt Nam với tần suất dày đặc và kinh hoàng lỗi lớn nhất thuộc về những người cầm quyền ăn thuế của Dân.

Phải chăng, thuốc trị ung thư giả còn được cấp phép bán, thì việc hành hạ người khác là điều bình thường?

Mà nếu để ý, mấy vụ bạo hành kinh hoàng gần đây, vượt xa sức tưởng tượng con người ở Việt Nam đều liên quan tới con cháu đảng viên cộng sản, V.A là cháu nội của một đảng viên, phó giám đốc một bệnh viện, và Huyên, là con cháu sĩ quan quân đội. Phải chăng tội ác được dung dưỡng bởi những kẻ cậy quyền cậy thế, nghĩ là có chức có quyền thì muốn làm gì cũng được?

– Phạm Minh Vũ