Tại sao tôi phản biện?-Nguyễn Hưng Quốc

Tại sao tôi phản biện?- Báo Tiếng Dân

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Hưng Quốc

16-2-2022

Lý do chính khiến tôi hay phê phán chính quyền trong nước xuất phát từ việc không đồng ý với vô số các chính sách đối nội và đối ngoại của họ, đặc biệt, trong quan hệ với Trung Quốc. Từ các chính sách ấy, toát lên một điều: Họ không biết cách lãnh đạo, không có khả năng lãnh đạo. Đó là điều mà rất nhiều học giả nghiên cứu về Việt Nam trên thế giới đều đồng ý: Đảng cộng sản chỉ biết cai trị chứ không biết lãnh đạo. Để cai trị, rất đơn giản, chỉ cần ba thứ: Công an, quân đội và nhà tù. Để lãnh đạo, người ta cần cái đầu và con tim. Cái đầu để biết nhìn xa, nghĩ rộng; và con tim để biết bao dung với những cái khác, từ đó, tạo nên sức mạnh bằng sự đồng thuận chung trong xã hội. Hơn nữa, lãnh đạo cũng cần rất nhiều kiến thức và kỹ năng cũng như một số đức tính phù hợp với một văn hóa chính trị dân chủ lành mạnh.

Thiếu khả năng lãnh đạo, Đảng Cộng sản phá hoại nhiều hơn là xây dựng. Đã có nhiều nhà kinh tế học vạch trần: Mảng kinh tế quốc doanh do nhà nước trực tiếp quản lý là mảng lỗ lã nhiều nhất, nợ nần nhiều nhất, và đặc biệt, thối nát nhất. Tất cả những thành tựu về kinh tế của Việt Nam đều đến từ những mảng tư nhân. Để phản ứng lại những sự phê phán của dân chúng trước các thất bại ấy, Đảng Cộng sản lại tăng cường vai trò cai trị bằng các biện pháp khủng bố tàn khốc.

Tuy nhiên, điều tôi phản đối nhất là tính chất độc tôn và độc tài của chế độ Cộng sản. Có nhiều lý do. Lý do đầu tiên, từ cái nhìn của một con người: Nó vô nhân đạo; từ cái nhìn của một công dân: Nó tàn phá đất nước hầu như trên mọi mặt, không những chỉ về kinh tế mà còn về xã hội, văn hóa, giáo dục và đạo đức; từ cái nhìn của một trí thức: nó ngu dân hóa; từ cái nhìn của một người cầm bút: nó giành độc quyền viết lịch sử một cách gian trá.

Tôi không có tham vọng cứu dân chúng, đất nước và nhân tính, tôi chỉ muốn làm một điều trong phạm vi khả năng và sở trường của mình: Quyết giành cho được cái quyền được góp phần tạo nên những tự sự (narrative) khác. Bằng chính ngòi bút của mình.

Trần Danh San – Tưởng Năng Tiến

Trần Danh San – Tưởng Năng Tiến

Sổ Tay Thường Dân – Tưởng Năng Tiến

Nơi chương 33, trong cuốn Đèn Cù I (Trần Đĩnh, Người Việt Books 2014) tôi đọc được câu: “Bị đánh đuổi sau Nhân văn – Giai phẩm, Nguyễn Mạnh Tường đói quá – có lần lả đi ở đường Trần Hưng Đạo…”

Bộ thiệt vậy sao?

Thiệt chớ! Chính người trong cuộc cũng khẳng định vậy mà:

“Chúng tôi có một con chó do bạn bè cho. Nó rất khôn và chúng tôi yêu nó lắm. Nhưng nó đã già và chúng tôi không còn khả năng mua cho nó thịt và những thức ăn tăng sức, nó không còn sức đứng lên trong chuồng, ngẩng đầu nhìn tất cả chúng tôi, với một ánh mắt tin yêu của loài vật, chắc chắn với những dòng nước mắt và một nỗi buồn sâu thẳm vì đã đến lúc phải rời chủ. Chúng tôi bật khóc khi nó nấc những hơi thở cuối cùng…” (Nguyễn Mạnh Tường, Un Excommunié – Hanoi, 1954 -1991: Procès d’un intellectuel. Trans Nguyễn Quốc Vĩ – Kẻ Bị Mất Phép Thông Công Hà Nội, 1954-1991: Bản Án Cho Một Trí Thức).

Ủa! Sao luật sư ở bên Tây về (với hai cái bằng tiến sỹ lận) mà đói dữ vậy cà?

Theo nhiều người thì vì Nguyễn Mạnh Tường có “dây dưa” với nhóm Nhân Văn nên bị trừng trị. Cũng không ít kẻ nghĩ rằng ông bị chế độ hiện hành “chôn sống” vì đã trót dại lên tiếng (“Qua Những Sai Lầm Trong Cải Cách Ruộng Đất – Xây Dựng Quan Điểm Lãnh Đạo”) trong một phiên họp của Mặt Trận Tổ Quốc, vào hôm 30 Tháng Mười, 1956.

Thực ra, số phận của Nguyễn Mạnh Tường (nói riêng) và đám luật sư miền Bắc (nói chung) đã được “an bài” trước đó:

 “Ngày 17-11-1950, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 158-SL, quyết định việc bổ sung cán bộ công nông vào ngạch thẩm phán và thăng bổ các thẩm phán toà án nhân dân huyện lên toà án nhân dân tỉnh… Từ đây, theo ông Vũ Đình Hòe: ‘các thẩm phán huyện, đa số là đảng viên cộng sản, chỉ qua lớp chính trị và nghiệp vụ’. Quan điểm lựa chọn thẩm phán chủ yếu ‘đứng trên lập trường nhân dân’ của Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng lâu dài đến nền tư pháp Việt Nam.” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, USA: 2012).

Muốn biết cái nền tư pháp công nông hóa của bác Hồ “ảnh hưởng lâu dài” ra sao, xin xem qua dáng điệu và cử chỉ của một vị thầy cãi (được “mời bào chữa” cho ông Hoàng Minh Chính) sau khi nhân vật này bị bắt lại, vào năm 1996:

“Hôm xử Chính tôi không ra đứng ở cổng toà mà đến Hồng Ngọc tối trước. Đang trò chuyện thì ông luật sư K. gia đình mời bào chữa cho Chính đi vào. Một cái bóng lúp xúp. Cụp vai, cúi đầu thì thào dăm ba câu, cái dáng sợ bị nghe trộm, nhòm trộm. Tuy nhớn nhác nhưng ông trung thực, trước sau chỉ khe khẽ chối (nhưng lại gắt): Tôi không cãi được… ý gia đình như thế thì không cãi được đâu.

Hà, con gái cả Chính kêu lên: Thế thì im hả bác? Lúng túng giây lát ông luật sư lại gắt giọng nhưng vẫn thì thào: Không cãi được mà. Tôi hỏi thế nghĩa là gia đình nhận tội thì cãi được? Ông nói: Đã nhận thì cần gì cãi. Rồi lúp xúp đi ra. Ông biết trong bóng tối quanh đây đầy những con mắt lúc này đang theo dõi chặt. Rồi máy ghi âm. Có khi chụp ảnh nữa. Qua tư thế ọp ẹp, ông cố để lộ rõ ông đầu hàng Nhà nước.” (T. Đĩnh, s.đ.d., tập II, chương 27).

Giới luật sư ở miền Nam thì không thế: không “nhớn nhác,” không “lúp xúp,” không “cụp vai,” không “thì thào” gì sất. Đã thế, họ còn nói rất to (“bằng loa phóng thanh”) cho cả bàn dân thiên hạ nghe luôn:

Sau sự kiện giới trí thức Tiệp Khắc ban hành Hiến Chương 77 chống lại nhà cầm quyền Cộng Sản Tiệp Khắc, tại Sài Gòn, trong vòng đai lửa của chế độ mới, hai Luật Sư Trần Danh San và Triệu Bá Thiệp không thể im lặng. Cả hai đồng hoàn thành văn bản “Tuyên Ngôn Nhân Quyền Của Những Người Việt Nam Khốn Cùng”

Hai anh và nhóm trí thức bất khuất gồm hơn mười luật sư, giáo sư, kỹ sư trước 1975 hành nghề tại Huế và Sài Gòn đã hẹn nhau chia làm hai ngã tiến theo hai đường tập trung trước Nhà Thờ Ðức Bà vào chiều ngày 23 Tháng 4, 1977. Trần Danh San dùng cái loa phóng thanh qua một máy ghi âm nhỏ đọc lên bản ‘Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Những Người Việt Nam Khốn Cùng’ đến cùng đồng bào Sài Gòn, cũng của miền Nam lẫn miền Bắc đang mong chờ lần phục sinh từ bãi lầy cộng sản…

Trong trại giam Phan Đăng Lưu anh nhận đòn tứ trụ với sức chịu đựng tưởng chừng như không thực: Với thân hình cao không quá “một thước-sáu” nhận đòn đánh hội đồng từ bốn tên lực lưỡng chuyên nghiệp tra khảo người.

Sau những trận đòn chạm tới điểm chết, sau những tháng kiên giam nơi hầm tối của anh, viên cán bộ trưởng trại Phan Đăng Lưu có câu hỏi: Anh có ngừng chống đối không? Trần Danh San trả lời chắc chắn: Chống đối là điều tất nhiên! Câu trả lời được nhiều bạn tù nơi Phan Đăng Lưu năm ấy hiện nay đang cư trú tại vùng Nam Cali nghe rõ.  (Phan Nhật Nam. “Trần Danh San, Tiếng Hò Khoan Đã Tắt”)…

Chưa hết đâu!

Sau đó, khi ở A20 – nơi còn được A-20 Nguyễn Chí Thiệp mệnh danh là Trại Kiên Giam – Trần Danh San còn tham gia vào việc làm báo chui (underground press) nữa kìa:

Anh đã chấp nhận đánh đu với tử thần để vừa cung cấp cho mọi người những thông tin cập nhật, những bài viết giúp họ mở mang kiến thức, kiên định lập trường, vừa giữ vai trò điều hợp một số hoạt động đấu tranh ở trong trại.

Sau khi Vũ Văn Ánh bị cùm trong xà lim rồi bị tuyên phạt ‘biệt giam vô thời hạn’, tôi được chỉ định làm ‘thư ký tòa soạn’ cho tờ báo. Nhiệm vụ của tôi là tuyển chọn bài, sửa chữa chút đỉnh chính tả, văn phạm rồi giao cho Hải Bầu, Ngọc Đen lên khuôn; sau đó tôi kiểm soát lại lần cuối và phát hành. Trần Danh San kín đáo giao cho tôi một bài viết rất hay: Vì Sao Chúng Ta Tranh Đấu. Tôi đã giao cho Hải Bầu, Ngọc Đen đăng trong Hợp Đoàn số 4. Bài viết được nhiều anh em tù, đặc biệt là những anh em tù chính trị có án, ưa thích. (Phạm Đức Nhì. “Nén Nhang Cho Một Anh Hùng”).

Đến tờ Hợp Đoàn số 5 thì cả đám lần lượt … vô cùm. Riêng Vũ Ánh, Trần Danh San, Nguyễn Chí Thiệp thì bị cùm hơi lâu khiến A-20 Nguyễn Thanh Khiết đâm ra sốt ruột và xót ruột: 

Sáu năm biệt giam
ba muỗng nước, ba muỗng cơm
chưa lần lung lay ý chí
một đời anh – một đời sĩ khí
bước thấp, bước cao cắn nhục mà đi
ngọn bút hiên ngang
thay làn tên mũi đạn
giữa trại thù nét mực chưa phai

Dù thế, dù “sáu năm biệt giam/ ba muỗng nước/ ba muỗng cơm” nhưng Trần Danh San vẫn không hề nao núng:

 “Tôi nhớ trại trưởng phân trại E của A-20, Lê Đồng Vũ mà chúng ta gọi là Tư Nhừ vì hắn mang lon thiếu tá công an, giọng lúc nào cũng nhừa nhựa như thằng say rượu, không biết nó sẽ rút cây K-54 ra bắn mình lúc nào, hỏi khích…: ‘Thế nào, anh San còn bẻ gậy chống trời nữa không’. Trần Danh San đáp tỉnh bơ: ‘Tất nhiên, cán bộ.’ Câu chuyện về bạn có thể viết được một cuốn tiểu sử rất dày về đời tư, đời công và đời tù của một nhà tranh đấu.”  (Vũ Ánh. “Bài Điếu Văn Cho Trần Danh San Một A-20 Vừa Ra Đi Vĩnh Viễn”).

Sao Trần Danh San lại quyết liệt và ngang tàng đến thế?  

Câu trả lời có thể tìm được qua câu tâm sự của chính ông với một người bạn đồng tù:

“Phải cho thế hệ sau biết để các em, các cháu có thêm nghị lực, dũng khí đi tiếp con đường chúng ta đi.”

Với ít nhiều chủ quan, tôi tin rằng không ít quí vị luật sư của thế hệ đến sau (Đặng Đình Bách, Nguyễn Văn Ðài, Lê Công Ðịnh, Võ An Đôn, Lê Trần Luật, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân, Nguyễn Bắc Truyển …) đều đã được thừa hưởng cái “dũng khí” từ những người đi trước như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Danh San…

Tưởng Năng Tiến
2/2022

Ngày Xuân: Viết về chuyện Đà Nẵng chưa ai kể

Ngày Xuân: Viết về chuyện Đà Nẵng chưa ai kể

Võ Hương An

Khi bắt tay viết về lịch sử Đà Nẵng, tôi thực không ngờ rằng cái vùng đất nhỏ bé này lại có nhiều chuyện lý thú , rất đáng để bỏ công tìm hiểu đến thế, và do đó , việc này đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm, nhiều gắn bó với đất với người của một miền đất nước đã nuôi gia đình tôi trong hơn hai mươi năm …Chẳng hạn chuyện Đảo Cô và chuyện Quan lớn Bảo hộ…

 Đảo Cô ở đâu?

Sau cuộc nổ súng thị uy của hai tàu Pháp là Gloire và Victorieuse tại vịnh Đà Nẵng vào ngày 15-4-1847, vua Thiệu Trị ra lệnh tăng cường phòng thủ Đà Nẵng bằng bảy pháo đài xây dựng ở bán đảo Sơn Trà với tên gọi là Trấn dương Thất bảo.

Trong bảy pháo đài đó, theo Đại Nam Nhất Thống Chí (quyển Quảng Nam) thì đảo thứ hai được đặt trên đảo Cô với tường cao 4 thước 3 tấc (chừng hơn 2m) và chu vi 41 trượng (164m).  Khi đọc được những dòng này, tôi tự nhủ:  Ủa, trong vịnh Đà Nẵng mà cũng có một hòn đảo tên là đảo Cô sao??  Sao mình không thấy mà cũng không nghe ai nói tới?  Bèn vội vã đi tìm bản đồ để xác định vị trí, nhưng thất vọng vì chả thấy gì cả.  Lại đoán già đoán non rằng hẳn bản đồ mình sử dụng có tỷ lệ nhỏ (1/100,000) mà hòn đảo cũng không lấy gì làm lớn nên chẳng có dấu vết nào, bèn đi kiếm bản đồ có tỷ lệ lớn hơn (1/25,000) với hy vọng sẽ tìm ra cái hòn đảo lần đầu tiên mới được nghe tên đó.  Lại thất vọng.Từ đó tôi bắt đầu một cuộc truy tầm bằng mọi phương cách, vừa tìm tài liệu và bản đồ để đọc thêm, vừa phỏng vấn những người lớn tuổi ở địa phương khi có dịp, với hy vọng nắm bắt được một manh mối nào đó.

Hơn một năm trời trôi qua trong vô ích.  Một hôm, vì nhiệm vụ, tôi phải tiếp xúc với hai nhân chứng, cụ Nguyễn văn Trách và cụ Đỗ Trọng Khai tự Bút, vốn là hào lão của làng An Hải, đều thuộc dòng dõi đã lập nghiệp ở địa phương từ trước đời Gia Long (1802-1820).  Xong việc giấy tờ, tôi cầm hai ông cụ nán lại một chút và mở cuộc mạn đàm bỏ túi:

– Hai cụ ở đây lâu, vậy có biết trong vịnh Đà Nẵng có hòn đảo nào tên là đảo Cô không?

– Biết chớ.  Đảo Cô là cái hòn đảo nho nhỏ nằm ở Sơn Trà chớ đâu.

Nói làm sao cho xiết nổi ngạc nhiên và sung sướng của tôi lúc đó.Tôi thầm đùa với chính mình: sao mà hên thế, đào đất cầu âu mà lại trúng ngay mạch vàng.  Tôi vội vã mang bản đồ Đà Nẵng trãi ra bàn, tay chỉ miệng nói:

– Đây là Đà Nẵng của mình đây.  Làng An Hải của hai cụ đây nè…Vịnh Đà Nẵng là đây…Sơn Trà là đây…Vậy chớ cái đảo Cô mà hai cụ nói nằm ở mô?

Cụ Khai lần ngón tay trên bản đồ rồi dừng lại ở vị trí Bộ chỉ huy Hải khu I ( Trại Chương Dương, trước 1975) và nói: “Nó đây nè” và đưa mắt nhìn cụ Trách như tham khảo ý kiến.  Ông này gật đầu: “Đúng rồi đó”  Tôi buột miệng hỏi:

– Đảo đâu mà đảo, chỗ này nối với đất liền mà.

– Thì nó nguyên là hòn đảo nhưng theo ông tôi kể lại thì vua Gia Long cho đắp một con đường nhỏ bằng đá để tiện đi lại canh phòng, sau Tây đắp rộng thêm, rồi Mỹ lấp vịnh thành đất liền, làm sao thấy ra hòn đảo nữa.

À ra thế!  Từ đầu mối đó, kết hợp với những tài liệu của Tây, ta, tôi có thể vẽ ra lý lịch của đảo Cô như sau:  ở phía Tây chân núi Sơn Trà có một mõm đất nhô ra khá lớn, dân địa phương gọi là núi Mõ Diều, Đại Nam Nhất Thống Chí gọi là đảo Mõ Diều.  Phía Nam của Mỏ Diều , cách một vịnh nhỏ, có một hòn đảo con nằm trơ trọi một mình, đó là đảo Cô.

Từ đời Gia Long , vua cho đắp một con đường đá nối đảo Cô với chân bán đảo Sơn Trà để tiện đi lại canh phòng.Đời Thiệu Trị đã xây một pháo đài trên đó, thuộc hệ thống Trấn dương Thất bảo.

Trong cuộc xâm lăng Đà Nẵng vào các năm 1858-1860, Pháp đã chiếm đảo này, đặt tên là l’Îlot de l’ Observatoire (đảo Quan sát), thường gọi tắt là l’Îlot  (xem hình).  Công binh Pháp đã cho phá hũy pháo đài của vua Thiệu Trị và xây một pháo đài khác, đặt tên là Fort de l’Observatoire (Pháo đài quan sát), đồng thời họ cũng đắp rộng thêm con đường đá cũ để tiện đi lại.Vị trí này, trước 1975, là Bộ Tư lệnh Hải khu I (Trại Chương Dương).  Năm 1965, công binh Hoa Kỳ đã lấp cái vịnh nhỏ, nồi liền đảo Cô và núi Mỏ Diều, thành ra không còn dấu vết gì  để nhận ra đó là một hòn đảo nữa.Quả thật là chuyện vật đổi sao dời, đời nào cũng có.

Chuyện Quan lớn Bảo hộ

Vụ giúp xác định đảo Cô  là bước mở đầu mối giao tình giữa tôi và các cụ Trách,   cụ Bút nói riêng và làng An Hải nói chung, từ đó dẫn đến những khám phá lý thú khác.

Sau lần tiếp xúc với các cụ tại chỗ làm việc, thời gian sau, cho đến ngày tan hàng rả đám năm 1975, những lúc rảnh rổi, từ cư xá nằm ở ngã tư Độc lập-Thống nhất, tôi thường thả bộ xuống bến phà máy Sông Hàn để qua làng An Hải thăm hỏi, chuyện trò cùng các cụ, nhất là cụ Bút, vì tôi đoán rằng còn có thể học hỏi nhiều ở các cụ nữa.  Ngay lần viếng thăm đầu tiên, tôi hỏi cụ Bút:

– Làng An Hải có di tích gì cổ xưa không cụ?

– Có chớ.  Có lăng Quan lớn Bảo hộ mà làng thờ làm hậu hiền , hàng năm cúng tế đàng hoàng vì ngài rất có công với làng.

Tôi ngạc nhiên:

– Ủa, Quan lớn Bảo hộ là ai?  Cụ có biết ngài húy là chi không?  Nếu biết được thì nói để tôi tra cứu trong sử sách coi sự nghiệp của ngài ra sao.

– Ờ, tôi vô tâm quá.cứ theo ông bà đời trước mà gọi, chưa bao giờ hỏi cha tôi hay ông tôi  ngài húy là chi, nhưng theo đời trước truyền lại thì ngài làm quan lớn lắm…À, thầy   có đọc được chữ Nho (Hán) không?  Trong giấy tờ do ông tôi để lại, có tờ trát của quan lớn Bảo hộ gởi cho làng, rồi làng giao cho ông tôi giữ, có chức tước của ngài nhưng không có húy.  Để tôi lục cho thầy coi, may ra biết ngài là ai.

Tôi đáp:

-Vâng, thế thì tốt quá.  Chữ Nho tôi chỉ đọc được lõm bõm nhưng tôi có ông bác thông Nho lắm, thành ra cụ khỏi lo.

Sau một hồi lục lọi trong chiếc rương gỗ mộc, cụ Bút lôi ra một tờ giấy bản sờn rách nhiều chỗ ngoài mép và đưa cho tôi.  Đọc lõm bõm, tôi tạm hiểu rằng tờ giấy này là một tài liệu hiếm, có liên quan đến Thoại Ngọc Hầu.  Tôi ngỏ ý xin mượn, cụ đồng ý ngay.

Về nhà, tôi vội lấy xe đi đến nhà cụ Nguyễn Văn Luân, Đốc sự thượng hạng hưu trí, bạn của nhạc gia tôi, mang theo tài liệu chữ Hán vừa mượn được.  May mắn, ông cụ không đi chơi tài bàn, đang nằm nhà đọc sách.Chìa tờ giấy ra, tôi nói:

– Nhờ bác đọc và dịch cho con tài liệu này.  Con cần lắm.  Bác đọc từ từ thì con ghi chép được.

Cụ Luân cầm tờ giấy liếc qua, đoạn nhìn tôi rồi hỏi:

– Tài liệu này hiếm lắm đây.  anh moi đâu ra vậy?

Sau khi nghe tôi thuật sơ về xuất xứ, ông già hắng giọng:

– Nghe đây này:

“Khâm sai Thống chế án thủ Châu Đốc Đồn, lãnh bảo hộ Cao Miên Quốc ấn, kiêm quản Hà Tiên Trấn biên vụ, gia nhất cấp, kỷ lục tứ thứ, quan …

“Vì trát tri sự …“

Thì ra đó là tờ trát của Khâm sai Thống chế Thoại Ngọc Hầu  Nguyễn Văn Thoại, bấy giờ đang trấn thủ Đồn Châu Đốc, lãnh nhiệm vụ bảo hộ nước Cao Miên (thuộc địa của Việt Nam dưới triều Minh Mạng) và kiêm luôn chức Trấn thủ Hà Tiên, gởi cho xã trưởng và hào mục xã An Hải, bày tỏ sự ủng hộ nguyện vọng của bảy xã thuộc tả ngạn sông Hàn ( An Hải, Mỹ Khê, Hóa Khuê, Mỹ Thị, Phước Trường, Tân An, Nam An) muốn đoàn kết lập chợ để chống lại sự cạnh tranh của xã Hải Châu.  Tờ trát đề ngày 20 tháng Tư năm Minh Mạng thứ 8, nhằm 15-5-1827 (xin xem hình).

Ảnh chụp tờ trát của Thoại Ngọc Hầu gởi cho hào mục làng An Hải, Đà Nãng (Ảnh của tác giả)

Phát giác này làm tôi ngạc nhiên muốn bật ngữa.  Tôi cảm ơn cụ Luân và chỉ nói “Thật con không ngờ Thoại Ngọc Hầu lại là người quê ở An Hải, Đà Nẵng”.  Thật sự thì tôi rất xúc động điều vừa khám phá, vì Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại là một khuôn mặt lớn trong lịch sử.Ông là một khai quốc công thần của vua Gia Long, tầm cở với Tả quân Lê Văn Duyệt và Trung quân Nguyễn Văn Thành, được phong tước Thoại Ngọc Hầu, là người có công khai phá miền Hậu giang, là người đã chỉ huy việc đào kinh Vĩnh Tế, nối liền Hà Tiên và Châu Đốc, một công trình vĩ đại khiến vua Minh Mạng rất đẹp ý, nên đã lấy tên vợ Bảo hộ Thoại (Châu Thị Vĩnh Tế) để đặt tên cho con kinh, lại cho khắc hình kỷ niệm vào Cao đỉnh, là đỉnh số 1 trong Cửu đỉnh của Thế miếu.  Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, Châu Đốc, đâu đâu cũng có dấu vết của ông.  Người ta tôn thờ và biết ơn ông.  Nếu có dịp đến những nơi này, nhất là Châu Đốc, bạn sẽ thấy được Quan lớn Bảo hộ hay Bảo hộ Thoại đã để lại dấu ấn tại những địa phương đó như thế nào.

Chính vì ông đã để lại một huân nghiệp như thế nên giáo sư Nguyễn Văn Hầu đã bỏ công trong hai mươi năm sưu tập tài liệu để viết cuốn “Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang”, một tác phẩm biên khảo công phu, có giá trị về mặt nhân văn và lịch sử.   Tôi còn nhớ (hiện giờ tôi không có sách đó trong tay) trong chương viết về dòng dõi Thoại Ngọc Hầu, khi nói đến quê quán , tác giả chỉ ghi Nguyễn Văn Thoại là người tổng An Lưu, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, với  lời chú thích, đại khái là mặc dầu đã bỏ công trong hai mươi năm để sưu tầm tài liệu (sử sách, gia phả, bi ký, bằng sắc …) nhưng ông cũng không thể xác định được Nguyễn Văn Thoại là người thuộc làng nào, xã nào của tỉnh Quảng Nam.  Cái điều giáo sư Nguyễn Văn Hầu săn tìm trong hai mươi năm mà không gặp, nay bỗng nhiên lại tình cờ ở trong tay tôi.

Vài hôm sau, được lúc rảnh rổi, tôi lại thả bộ qua An Hải gặp lại cụ Bút.  Tôi nhập đề ngay:

– Cụ ơi, tôi biết được húy của ngài rồi.  Quan lớn Bảo hộ của làng An Hải thật ra lớn lắm , tầm cở quốc gia chứ không phải riêng chi làng An Hải đâu…

– Đâu? Đâu?  Chuyện ra răng , thầy làm ơn kể cho tui nghe coi.

Tôi trả lại tờ trát và kể lại sự tích Thoại Ngọc Hầu.Có thể từ bao lâu nay làng An Hải cảm thấy hãnh diện về Thoại Ngọc Hầu như là một thân nhân làm lớn chứ chưa biết hết cái huân nghiệp của ông đối với một miền hoang dã nhưng trù phú của đất nước.  Do đó, trong câu chuyện, tôi nhấn mạnh về điểm này và ghi nhận ông cụ rất xúc động.  Ông dẫn tôi đi coi đình thờ (thờ chung các hậu hiền của làng) đang được tu sửa và than phiền rằng ngân khoản eo hẹp quá, chỉ làm sơ sơ thôi chứ chưa đúng mức như ý muốn.  Tôi góp ý:

– Cụ à, Quan lớn Bảo hộ không phải là một danh nhân của riêng chi làng An Hải mà còn chung cho cả Quảng Nam –Đà Nẵng nữa.  Tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng phải hãnh diện có một danh nhân như vậy, nên việc tu sửa này chính quyền cũng phải góp phần giúp đỡ.  Cụ và các cụ hương lão cùng ban hội tề nên có kế hoạch  quyên góp mở rộng để có được ngân khoản dồi dào hơn hầu việc trùng tu được tới nơi tới chốn.Nếu các cụ làm thì tôi xin giúp một tay, chẳng giàu có chi để giúp tiền giúp bạc, nhưng sẽ giới thiệu các cụ đến những nơi hằng tâm hằng sản, những nơi mình có thể gõ cửa được.

Đề nghị này về sau đã được các cụ thực hiện và Chương Trình Khuếch Trương Đà Nẵng và Vùng Phụ Cận, do anh Nguyễn Hà Hải làm Tổng Giám đốc, là thành phần chủ lực đã giúp đỡ hoàn thành ngôi đình khá bề thế.

Ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên các cụ có đề cập đến lăng Quan lớn Bảo hộ.  Nhờ đọc tác phẩm biên khảo của học giả Nguyễn Văn Hầu mà tôi biết rằng không thể có lăng của Thoại Ngọc Hầu ở An Hải, nhưng để kiểm chứng đó là lăng của ai thì mãi về sau mới có dịp.

Có dính một chút vào việc biên khảo nên tôi rất thông cảm với học giả Nguyễn Văn Hầu về nỗi buồn khi không tìm được tài liệu như ý và niềm vui, có khi còn sướng hơn bắt được vàng,  khi tìm được cái muốn tìm hoặc phát hiện ra những tài liệu chưa hề được công bố.Do đó, khi nắm trong tay thông tin và tài liệu mới mẻ về Thoại Ngọc Hầu  tôi đã viết một bài (lâu ngày quên mất nhan đề) định gởi cho bán nguyệt san Bách Khoa, nhưng rồi cứ phân vân mãi:  nên chăng, đăng báo “lấy tiếng”, hay là cung cấp tài liệu cho giáo sư Nguyễn Văn Hầu để ông có thể bổ sung tác phẩm được đầy đủ hơn, như vậy mới là thực sự cảm thông nghiệp cầm bút, dù chưa hề quen biết.  Một hôm, nhân công tác ở Huế, nghe nói giáo sư bảo trợ của tôi lúc đó là giáo sư Nghiêm Thẩm đang có giảng khóa ở Đại học Văn Khoa Huế, tôi đến cư xá thăm và hỏi ông:

– Em biết thầy quen ông Nguyễn Văn Hầu.  Vậy thầy có thể vui lòng cho em xin địa chỉ của ông ta được không?

-Anh xin địa chỉ của ông Hầu để làm gì?

Tôi lược thật câu chuyện và nói muốn liên lạc để cung cấp cho ông những thông tin  và tài liệu  vừa khám phá vì thấy ông đã đầu tư quá nhiều công sức vào tác phẩm mà vẫn chưa vừa ý, nên rất thông cảm.  Giáo sư Thẩm ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:

– Theo tôi, anh nên gởi bài cho Bách Khoa.

Trở lại Đà Nẵng, tôi gởi bài.  Tôi còn nhớ trong phần kết thúc có để lời nhắn  đại khái rằng nếu đọc bài này mà tác giả “Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang” muốn biết thêm chi tiết thì xin liên lạc với tôi theo địa chỉ…, tôi sẵn sàng trả lời.

Bài gởi đi chừng mươi ngày thì tôi nhận được thư, không phải của Bách Khoa mà là của giáo sư Hầu.  Ông cho biết Bách Khoa đã báo cho ông biết về bài báo  và để cho ông được đọc trước khi đăng.  Nhân câu nhắn tin của tôi, ông yêu cầu Bách Khoa tạm hoãn để ông liên lạc với tôi xem sao đã.Ông xin lỗi về việc đó và ngỏ ý mong muốn được tôi hợp tác, giúp đỡ, bằng cách cung cấp những tài liệu và hình ảnh đã và sẽ sưu tập , đồng thời trả lời những câu hỏi liên quan đến quê hương và thân quyến Thoại Ngọc Hầu mà ông thấy chưa được sáng tỏ.Tôi biết ông rất nóng lòng trông hồi âm nên vội trả lời vắn tắt là chấp nhận hết thảy mọi điều ông yêu cầu trong niềm thông cảm của kẻ cầm bút; riêng về hình ảnh và tài liệu, cùng là trả lời những câu hỏi do ông nêu ra thì phải chờ lâu hơn vì tôi cần thời gian để thu thập thêm những chứng dẫn cần thiết, đặc biệt có một số lăng mộ nằm trong khu quân sự thuộc loại mật, không dễ chi chụp hình ngay được.

Thật vậy, ngoài hai sở lăng nằm trên một nỗng đất cao cách nhà cụ Bút không xa mà tôi đã từng được dẫn đi thăm và biết là lăng của ông bà nội Thoại Ngọc Hầu, còn cái lăng mà các cụ nói là lăng của Bảo hộ Thoại lại nằm trong khu vực Tổng kho Đà Nẵng, được canh phòng cẩn mật và dĩ nhiên bảng cấm chụp hình yết la liệt.  Tôi không quen sĩ quan Chỉ huy trưởng nên chưa biết làm thế nào để có thể xâm nhập vùng cấm địa mà khảo sát đây.  Một hôm, nhân đi uống cà-phê với nhà văn Duy Lam (trung tá Nguyễn Kim Tuấn, Quân đoàn I) tôi than thở về cái “kẹt” của mình, và hỏi anh có quen với trung tá X.Chỉ huy trưởng Tổng kho Đà Nẵng không?  Anh cười thoải mái:

-Tay đó tôi quen thân lắm.Để trong tuần này hễ ngày nào thư thả, tôi sẽ điện thoại cho anh biết, chuẩn bị, rồi tôi chở vào đó, gặp anh ta nói chuyện.  Không có gì trở ngại đâu.

Quả như anh Duy Lam dự liệu, tôi đã vào được khu vực Tổng kho Đà Nẵng, khảo sát ngôi lăng cổ, ghi chép và chụp hình thoải mái nhờ sự thông cảm bạn bè.  Và đúng như tôi nghĩ, đó không phải là lăng Quan lớn Bảo hộ mà chính là lăng thân phụ ông ta.

Mấy chục năm đã trôi qua, thật khó mà nhớ hết những gì tôi đã gởi vào Long Xuyên cho giáo sư Hầu.Dĩ nhiên, ông rất sung sướng và cảm động về những gì tôi đã làm cho ông và cho biết với những tài liệu đó ông có thể viết thêm một chương mới để bổ sung cho tác phẩm khi tái bản.  Ngược lại, tôi cũng cảm thấy hoan hỷ vì trên đường đời lại nảy ra một mối giao tình mới.Tôi muốn đứng giữa làm gạch nối Châu Đốc và Đà Nẵng để hai bên, những người còn mang nặng lòng tri ân và tưởng nhớ tới Thoại Ngọc Hầu, có thể gặp gỡ nhau, mở rộng tình tương thân tương ái giữa hai quê hương của cùng một danh nhân.  Bây giờ thì không còn nhớ đã đem việc này ra bàn với các cụ ở An Hải và giáo sư Hầu chưa, nhưng dù rồi hay chưa thì mọi tính toán cũng đều tan theo mây khói trong cơn lốc mùa Xuân 75…

Sinh Nguyễn Tử Trần

Một buổi chiều, khoảng hai giờ, đang ngồi làm việc thì người trực an ninh vào báo có phái đoàn làng An Hải muốn vào gặp.  Tôi nói xin mời vào, và thoáng một chút ngạc nhiên:  sao không nghe cụ Bút nói gì cả?

Phái đoàn gồm có năm vị, trong đó tôi chỉ còn nhớ có hai người là cụ Bút và ông  Trần Văn Mẹo, nghị viên Thành phố Đà Nẵng.  Mục đích của phái đoàn là chính thức cảm ơn tôi và trao tặng bảng “Công Đức Vô Lượng” vì tôi đã có công trong việc giúp trùng tu đền thờ Thoại Ngọc Hầu.  Thôi thì không biết nói làm sao, đành “cung kính  bất như tuân mệnh”, xin nhận lãnh và cảm ơn làng vậy.  Trong câu chuyện, tôi lại nhấn mạnh về tầm vóc của Thoại Ngọc hầu đối với đất nước và nhân đó xin tặng làng cuốn sách của giáo sư Nguyễn Văn Hầu viết về Bảo hộ Thoại để làm kỷ niệm.  Họ đòi phải có con dấu chức vụ và chữ ký của tôi mới chịu nhận, thôi thì cũng chiều lòng.Không biết cuốn sách đó nay làng có còn giữ  không.

Chúng tôi chuyện trò khá lâu và bỗng một vị trong phái đoàn vừa cười vừa nói rằng:

– Thực ra, làng chúng tôi có đến hai danh nhân, mà hai danh nhân này lại đối nghịch nhau.  Quan lớn Bảo hộ là danh nhân thuộc phe chiến thắng, tiếng tăm lừng lẫy, sử sách ghi chép nên ai cũng biết;  còn ông kia là danh tướng thuộc phe chiến bại, không ai dám nhắc tới, lâu ngày rồi quên luôn.

Tôi ngạc nhiên quá đổi:

– Xin cho biết là ai vậy?

– Là tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu đó.  Ông Trần Quang Diệu cũng là người làng An Hải chớ đâu, nay con cháu vẫn còn.  Như ông nghị viên Trần Văn Mẹo đây là thuộc dòng dõi tướng Trấn quang Diệu đó.

Tôi ngạc nhiên thiếu điều bật ngữa.  Lòng tự nhủ: sao mảnh đất An Hải nhỏ bé hiền hòa vậy mà lắm chuyện ly kỳ đến thế!  Thoại Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại, danh tướng khai quốc công thần của Nhà Nguyễn người làng An Hải, mà viên dũng tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu cũng người làng an Hải!  Tướng Trần Quang Diệu cùng vợ là nữ tướng Bùi Thị Xuân đã từng nhiều phen làm vất vả điêu đứng quân của Nguyễn Vương (vua Gia Long sau này), gây cản trở lớn trên bước đường tiêu diệt Tây Sơn.  Vì vậy, khi bắt được cặp vợ chồng anh hùng đáng sợ này, nhà vua không những hành hình họ mà còn tàn sát thân nhân của họ bằng án tru di tam tộc.Theo lời kể của ông nghị viên Trần Văn Mẹo, khi nghe tin dữ ở kinh đô Huế, có người đã vội vã về ngay làng An Hải báo tin cho họ Trần biết để tìm cách lánh nạn trước khi lệnh truy nã đến.Nhờ hương lý và dân làng đều có cảm tình với họ Trần nên đã giúp một số gia đình đào thoát khỏi làng, thay tên đổi họ, đi lánh nạn phương xa.  Số còn lại, gồm những người không đi được hay không muốn đi, đều cải sang họ Nguyễn.  Do đó, khi lệnh truy nã tới thì không còn ai họ Trần để bị bắt giết.  Vì sự sống mà phải bất đắc dĩ mang họ Nguyễn, nên đến khi chết thì con cháu đều trở lại họ Trần để không mất gốc, tạo nên một tập tục mà hết thảy con cháu đều phải tuân theo , gọi là “Sinh Nguyễn tử Trần”.  Sau khi triều đình Huế nhường đất Đà Nẵng cho Pháp làm nhượng địa (1888), quyền lực địa phương không còn ở trong tay Nhà Nguyễn nữa, không có lý do gì để phải sợ hãi đề phòng nữa, nên một số đã trở lại họ Trần (chẳng hạn chi của ông Trần Văn Mẹo), phục hồi dòng tộc cũ của ông cha, số còn lại vẫn giữ tục “Sinh Nguyễn tử Trần”.

Khi nắm được thông tin lý thú này, tôi dự tính sẽ làm một cuộc sưu khảo về dòng dõi Trần Quang Diệu ở An Hải, vừa để xác minh những điều vừa mới ghi nhận, vừa hy vọng biết đâu lại tìm ra được những điều mới mẻ lý thú khác nữa ở cái vùng đất có bề ngoài hỏ bé khiêm tốn nhưng lại mang nhiều chuyện xưa tích cũ bất ngờ này.  Nhưng rồi tháng Ba gãy bút.

Võ Hương An

Cựu Thanh tra Giám Sát Viện Quân Khu I (VNCH)

Cựu Tù nhân Chính trị Quảng Nam-Đà Nẵng

From: TU-PHUNG

Sử gia Harari: Hướng đi của nhân loại đang được quyết định tại Ukraina (RFI)

Sử gia Harari: Hướng đi của nhân loại đang được quyết định tại Ukraina

Đăng ngày: 13/02/2022 

Sử gia Yuval Noah Harari. © wikipedia

Trọng Thành

Những tuần lễ đầu tiên của năm 2022, khi đại dịch Covid-19 có phần tạm lắng sau 2 năm hoành hành, nhân loại lại đứng trước một đe dọa lớn mới đáng sợ hơn bội phần : Chiến tranh. Nguy cơ nước Ukraina bị xâm lăng không chỉ là đại họa với người dân của riêng quốc gia này cùng những khu vực xung quanh, mà còn đe dọa toàn bộ thành tựu của thế giới từ hơn nửa thế kỷ qua: Nền hòa bình.

Đối với sử gia nổi tiếng người Israel, Yuval Noah Harari (*), « thành tựu chính trị lớn nhất » của nhân loại trong bảy thập niên qua là « tình trạng suy tàn của chiến tranh ». Chiến tranh, chinh phạt, xâm chiếm lãnh thổ, cướp bóc tài nguyên, lấy bạo lực để bảo đảm vị thế, sự thịnh vượng, bảo đảm vinh quang, vốn từng là hoạt động hết sức phổ biến trong lịch sử nhân loại hàng ngàn năm nay. Luật Rừng, nơi mạnh được yếu thua, đã từng là nguyên tắc chủ yếu chi phối lịch sử nhân loại trong một thời gian dài. Tuy nhiên, theo sử gia Harari, trong vòng một vài thế hệ gần đây, thế giới đã chuyển sang một hướng đi hoàn toàn khác, một thay đổi triệt để. Cụ thể là một bộ phận lớn của giới tinh hoa lãnh đạo thế giới hiện nay tin tưởng là chiến tranh là « cái ác có thể tránh được ».

Cho dù chiến tranh vẫn tiếp diễn giữa một số quốc gia, trong nội bộ một số quốc gia, nhưng xu thế chung của giai đoạn lịch sử hơn nửa thế kỷ qua là nền hòa bình đã trở thành tình trạng phổ biến, và chiến tranh xâm lược ngày càng trở nên chuyện gần như không thể. Theo tác giả, « sự suy tàn của chiến tranh » không phải là kết quả của một phép màu hay sự thay đổi của các quy luật mang tính tự nhiên, mà chính là do sự lựa chọn của con người.

Yuval Noah Harari sống tại Trung Đông, một khu vực mà bạo lực chiến tranh xảy ra khá thường xuyên. Tác giả phân biệt những gì là « ngoại lệ » với xu thế chung. Theo tác giả, « nền hòa bình mới » là điều chưa từng có với nhân loại. Chiến tranh xâm lược khó xảy ra hơn hiện nay khi tri thức đã trở thành « nguồn lực chủ yếu tạo ra của cải », chứ không còn là tài nguyên thiên nhiên như trước đây. Giờ đây, bạo lực do chiến tranh khiến ít người chết hơn là tai nạn giao thông hay bệnh béo phì. Chi phí cho giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội nhiều hơn hẳn ngân sách cho vũ trang, vốn chiếm tỉ lệ lớn nhất trong ngân sách của giới cầm quyền các thời kỳ lịch sử trước đây.

Yuval Noah Harari nhấn mạnh là « nền hòa bình mới » chưa từng có với nhân loại đang bị đe dọa: « Sự trỗi dậy của vũ khí mạng, các nền kinh tế do trí tuệ nhân tạo điều khiển và việc tái quân sự hóa nền văn hóa của chúng ta có thể mở ra một kỷ nguyên chiến tranh mới, tồi tệ hơn rất nhiều so với bất kỳ điều gì chúng ta từng biết trước đây ». Theo ông, hướng đi của nhân loại sẽ bị đảo chiều, nếu chiến tranh xâm lược bùng nổ tại Ukraina.

Tuy nhiên, nhà sử học nổi tiếng với tiếp cận lịch sử toàn cầu, xuyên nhiều thiên niên kỷ, cũng tin tưởng là chiến tranh, Luật Rừng không phải quy luật có trong tự nhiên, mà là sự lựa chọn của con người. Con người đã tạo lập được « nền hòa bình » kéo dài hơn nửa thế kỷ. Chiến tranh không phải là định mệnh, Luật Rừng không phải là luật tự nhiên. Khả năng hợp tác và xây dựng nền dân chủ có thể giúp cho nhân loại bảo vệ được hòa bình. Việc người dân Ukraina bất ngờ dựng nên nền dân chủ non trẻ, trỗi dậy lạ kỳ sau hàng thế kỷ bị đàn áp tưởng như không ngóc đầu lên được, cho thấy Ukraina có thể mang lại cho nhân loại những bài học bất ngờ.

Sau đây, xin giới thiệu với quý độc giả góc nhìn của sử gia Yuval Noah Harari trên The Economist, qua bài « Yuval Noah Harari argues that what’s at stake in Ukraine is the direction of human history » (tạm dịch là « Sử gia Harari: Hướng đi của lịch sử nhân loại đang được quyết định tại Ukraina »). Phần chuyển dịch dựa trên bản dịch tiếng Pháp trên Courrier International).

***

HƯỚNG ĐI của NHÂN LOẠI ĐANG ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH tại UKRAINA

Thành tựu chính trị lớn nhất của nhân loại trong bảy thập niên qua là tình trạng suy tàn của chiến tranh. Thành tựu đó hiện đang gặp nguy hiểm.

Trong tâm điểm của cuộc khủng hoảng Ukraina, có một câu hỏi căn bản liên quan đến bản chất của lịch sử và bản chất của nhân loại : Đó là thay đổi là có thể hay không thể ? Con người có thể thay đổi được ứng xử của mình ? hay lịch sử rút cục chỉ là sự lặp lại không ngừng, bởi nhân loại bị kết án mãi mãi lắp lại các bi kịch trong quá khứ, mà không có thể làm gì để thay đổi cả, có chăng chỉ là những gì không căn bản ?

Có một trường phái tư tưởng phủ nhận triệt để khả năng thay đổi của con người. Theo trường phái này, thì thế giới tuân theo Luật Rừng, nơi các loài mạnh ăn thịt các loài yếu, và sức mạnh vũ trang là phương tiện duy nhất ngăn cản một quốc gia này nuốt chửng một quốc gia khác. Lịch sử đã là như vậy, và sẽ luôn luôn tiếp tục là như vậy. Những ai không tin vào Luật Rừng sẽ không chì sống trong ảo ảnh, mà còn khiến sự tồn tại của chính mình lâm nguy. Họ sẽ không thể sống sót.

Một trường phái tư tưởng khác khẳng định rằng cái gọi là luật cạnh tranh sinh tồn đúng là rất phổ biến, nhưng lại không phải là một quy luật tự nhiên. Chính con người đã tạo ra nó, và như vậy con người có thể thay đổi nó. Ngược với những ý tưởng sai lầm đang tồn tại, theo các dấu hiệu khảo cổ học xưa nhất không thể phản bác, hoạt động chiến tranh có tổ chức chỉ xảy ra vào khoảng 13.000 năm trước Công nguyên. Và ngay cả sau niên đại này, trong nhiều khoảng thời gian dài, khó tìm thấy các dấu vết khảo cổ về chiến tranh. Ngược hẳn với « trọng lực » (một quy luật tự nhiên), chiến tranh không phải là một sức mạnh vốn có của thiên nhiên. Sự tồn tại của chiến tranh, mức độ căng thẳng của chiến tranh phụ thuộc vào các yếu tố công nghệ, kinh tế và văn hóa ngầm ẩn. Và khi các yếu tố này thay đổi thì chiến tranh cũng thay đổi.

Tri thức, nguồn lực chủ yếu sáng tạo ra của cải

Có nhiều bằng chứng cho sự thay đổi này xung quanh chúng ta. Trong vòng một vài thế hệ, vũ khí hạt nhân đã biến chiến tranh giữa các siêu cường thành một nguy cơ tự sát tập thể điên rồ. Đây là điều buộc các quốc gia hùng mạnh nhất hành tinh phải tìm ra các phương tiện ít bạo lực hơn để giải quyết các xung đột. Nếu như các cuộc chiến tranh giữa các đại cường, như kiểu Thế chiến Hai hay cuộc chiến tranh Punic lần thứ hai (từ 218 đến 201 trước Công Nguyên, tại Bắc Phi và Nam Âu, giữa Carthage và đế quốc La Mã –  người dịch bổ sung) đã từng là một đặc điểm nổi trội trong phần lớn lịch sử, thì 70 năm gần đây chưa từng chứng kiến bất cứ một xung đột trực tiếp nào giữa các đại cường.

Trong cùng một giai đoạn, nền kinh tế thế giới, trước đây vốn dựa vào các nguồn tài nguyên, nay đã chuyển hướng sang dựa vào tri thức. Trong lúc trước kia các nguồn tài nguyên chính là các tài sản vật chất, như mỏ vàng, đồng ruộng, các giếng dầu, thì giờ đây nguồn tài nguyên chính là tri thức. Mà, nếu như có thể dùng vũ lực để chiếm lĩnh các mỏ dầu, thì lại không thể làm như vậy với tri thức. Chính vì vậy, chinh phục lãnh thổ giờ đây ít mang lại lợi ích hơn.

Cuối cùng thì văn hóa thế giới đã trải qua một giai đoạn biến chuyển dữ dội. Trong lịch sử, một bộ phận lớn của giới tinh hoa – ví dụ như các thủ lĩnh của người Hun, người Viking, hay giới quý tộc La Mã – đã từng cho chiến tranh là điều tốt. Từ Sargon Đại Đế vùng Lưỡng Hà đến nhà độc tài Ý Benito Mussolini, các nhà lãnh đạo thường tìm kiếm danh tiếng bất tử thông qua các cuộc chinh phạt (…). Một số thành phần tinh hoa khác, như Giáo hội Thiên Chúa giáo, từng coi chiến tranh là cái ác không thể tránh được.

Tuy nhiên, trong vòng một vài thế hệ trở lại đây, lần đầu tiên thế giới được lãnh đạo bởi một bộ phận giới tinh hoa coi chiến tranh là một cái ác có thể tránh được. Cả các tổng thống Mỹ George W. Bush và Donald Trump, chưa kể đến những người như thủ tướng Đức Merkel và thủ tướng New Zealand Ardern. Đó là những chính trị gia khác hẳn với Attila Rợ Hung hay Alaric đệ nhất, vua của tộc Goth (tức các thủ lĩnh quân sự lừng danh châu Âu thế kỷ V – người dịch). Các chính trị gia đương đại (như Merkel nay Ardern) nhìn chung lên nắm quyền nhờ việc nuôi dưỡng niềm tin trong công chúng vào ước mơ có được các cải cách trong nước hơn là tiến hành các cuộc chinh phạt bên ngoài. Trong lúc đó, những cây đại thụ trong các lĩnh vực nghệ thuật và tư tưởng – từ danh họa Pablo Picasso đến nhà điện ảnh bậc thầy Stanley Kubrick – nổi tiếng đặc biệt là do đã mô tả sự ghê rợn phi lý của chiến tranh, hơn là tôn vinh những người gây ra chiến tranh.

Đường ăn khiến nhiều người chết hơn là thuốc súng

Tiếp theo những thay đổi như vậy, phần lớn các chính quyền đã ngừng coi các cuộc chiến tranh xâm lược, như một công cụ có thể dùng đến để bảo vệ các lợi ích của họ, và đa số các quốc gia cũng ngừng nuôi dưỡng tham vọng chinh phạt và sát nhập lãnh thổ của các láng giềng. Sẽ là sai lầm khi tin rằng lực lượng quân sự duy nhất đủ để ngăn cản Brazil chinh phục Uruguay, hoặc Tây Ban Nha xâm lược Maroc.

Các thống kê cho thấy sự suy tàn của chiến tranh không thiếu. Từ năm 1945, tương đối hiếm có việc các biên giới quốc tế bị vẽ lại do một cuộc xâm lược, và không có một quốc gia nào bị xóa sổ khỏi bản đồ do một cuộc xâm lặng từ bên ngoài. Dĩ nhiên là có nhiều loại xung đột khác, như nội chiến và nổi dậy. Tuy nhiên, ngay cả khi tính tổng cộng tất cả các nạn nhân của những cuộc chiến như vậy trong 20 năm đầu của thế kỷ XXI, bạo lực chiến tranh khiến ít người chết hơn là nạn tự sát, tai nạn giao thông hay bệnh tật liên quan đến béo phì. Giờ đây thuốc súng khiến ít người chết hơn là đường.

Tính chính xác của các số liệu này là đối tượng tranh luận trong giới khoa học, nhưng cần vượt ra khỏi chuyện này để nhắm đến câu chuyện căn bản hơn. Sự suy tàn của chiến tranh không chỉ là câu chuyện thống kê mà cũng là một hiện tượng tâm lý. Trước hết, có thể thấy có một thay đổi kỳ lạ trong bản thân nghĩa của từ « hòa bình », như một hệ quả. Trong suốt chiều dài lịch sử của nhân loại, « thời bình » đã từng là đồng nghĩa như « sự vắng mặt tạm thời của chiến tranh ». Năm 1913, khi mọi người nói rằng đã có « hòa bình » giữa Pháp và Đức, thì điều đó có chỉ nghĩa là hai quân đội Pháp và Đức đang trong tình trạng không đụng độ trực tiếp, nhưng tất cả đều hiểu rằng chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.

Kể từ vài thập niên trở lại đây, « hòa bình » cuối cùng đã mang nghĩa « chiến tranh là bất khả thi ». Nhiều quốc gia ngày nay khó lòng hình dung được là họ có thể bị xâm lược và chinh phục bởi các nước láng giềng. Tôi là người sống ở vùng Trung Đông, vì vậy tôi biết rõ rằng có những ngoại lệ với xu hướng này. Nhưng việc xác định các xu hướng cũng quan trọng không kém việc chỉ ra các trường hợp ngoại lệ.

Khi con người có những lựa chọn đúng hơn

« Nền hòa bình mới » không còn là một trạng thái bất thường xét về mặt thống kê, và cũng không còn là một ảo tưởng của giới hippy. Các ngân sách – được tính toán một cách lạnh lùng – cung cấp các bằng chứng rõ ràng nhất cho điều này. Trong những thập kỷ gần đây, các chính phủ trên toàn thế giới đã cảm thấy đủ an toàn khi chỉ chi trung bình 6,5% ngân sách cho vũ trang, và chi nhiều hơn hẳn cho giáo dục, y tế và phúc lợi xã hội. Điều mà chúng ta có thể dễ dàng coi là chuyện đương nhiên, trong khi đây là một điều mới lạ đáng kinh ngạc, nếu xét trên toàn bộ lịch sử nhân loại. Trong hàng nghìn năm, chi tiêu quân sự đã từng là khoản chi lớn nhất trong ngân sách của các hoàng tử, các đại hãn, các quốc vương, hoàng đế. Họ hiếm khi chi tiền cho giáo dục hoặc chăm sóc y tế cho đại chúng.

Sự suy tàn của chiến tranh không phải là kết quả của một phép màu thần thánh hay sự thay đổi của các quy luật tự nhiên. Mà đó là bởi vì con người đã có những lựa chọn tốt hơn. Có thể nói, chắc chắn đây là thành tựu chính trị và đạo đức vĩ đại nhất của nền văn minh hiện đại. Nhưng thật không may, bởi nếu điều đó được sinh ra bởi sự lựa chọn của con người thì cũng có nghĩa là nó có thể bị đảo ngược.

Công nghệ, nền kinh tế và văn hóa tiếp tục phát triển. Sự trỗi dậy của vũ khí mạng, các nền kinh tế do trí tuệ nhân tạo điều khiển và việc tái quân sự hóa nền văn hóa của chúng ta có thể mở ra một kỷ nguyên chiến tranh mới, tồi tệ hơn rất nhiều so với bất kỳ điều gì chúng ta từng biết trước đây. Để tận hưởng nền hòa bình, điều cần thiết là tất cả mọi người, hoặc hầu hết tất cả mọi người, có được những lựa chọn đúng đắn. Ngược lại, chỉ cần một người tham gia lựa chọn tồi có thể khiến chiến tranh bùng nổ.

Đây là lý do tại sao mối đe dọa xâm lược Ukraina của Nga có thể khiến tất cả cư dân trên hành tinh này lo lắng. Nếu các quốc gia hùng mạnh có thể đè bẹp các nước láng giềng yếu hơn mà không bị trừng phạt, thì các cảm xúc và hành vi trên toàn thế giới sẽ thay đổi. Hệ quả đầu tiên, và có lẽ là rõ ràng nhất, của sự quay trở lại của Luật Rừng sẽ là sự gia tăng mạnh chi phi quân sự gây bất lợi cho phần còn lại của thế giới. Số tiền đáng lẽ dành cho giáo viên, y tá và nhân viên xã hội sẽ được đầu tư vào xe tăng, tên lửa và vũ khí mạng.

Vòng xoáy luẩn quẩn có thể dẫn nhân loại chúng ta đến chỗ diệt vong

Việc quay trở lại luật rừng cũng sẽ làm suy yếu hợp tác toàn cầu, đặc biệt là khi liên quan đến việc ngăn chặn biến đổi khí hậu, hoặc điều chỉnh các công nghệ tiềm ẩn nguy hiểm như trí tuệ nhân tạo và kỹ thuật di truyền. Thật không dễ dàng để làm việc, khi phải sống cạnh các quốc gia đang chuẩn bị xóa sổ nước bạn khỏi bản đồ. Và khi biến đổi khí hậu và cuộc chạy đua trí tuệ nhân tạo tăng tốc, thì mối đe dọa xung đột vũ trang cũng sẽ chỉ có thể gia tăng, giam hãm chúng ta vào một cái vòng luẩn quẩn, có thể dẫn nhân loại chúng ta đến chỗ diệt vong. Nếu bạn tin rằng sự thay đổi lịch sử là điều không thể xảy ra và loài người chưa bao giờ rời khỏi rừng rậm và sẽ không bao giờ rời khỏi rừng rậm, thì sự lựa chọn sẽ là giữa chọn làm kẻ săn mồi hoặc chọn làm con mồi. Khi ấy nếu phải lựa chọn, hầu hết các nhà lãnh đạo sẽ thà đi vào lịch sử như những kẻ săn mồi đỉnh cao và bổ sung tên của họ vào cái danh sách thê thảm của thủ lĩnh các cuộc chinh phạt mà những học sinh nghèo phải học thuộc lòng để qua được các kỳ thi môn lịch sử.

Nhưng thay đổi cũng là điều có thể ? Có thể vì Luật Rừng là một sự lựa chọn chứ không phải là định mệnh ? Nếu như vậy, nhà lãnh đạo nào lựa chọn quyết định xâm lược quốc gia hàng xóm sẽ có một vị trí đặc biệt trong ký ức của nhân loại, tệ hơn rất nhiều so với Tamerlane (thủ lĩnh quân sự nổi tiếng tàn bạo (sinh 1336 – chết 1405), người sáng lập đế quốc Timurid ở vùng Ba Tư và Trung Á – người dịch bổ sung). Một kẻ như vậy sẽ đi vào lịch sử với tư cách là người phá bỏ thành tựu vĩ đại nhất của chúng ta. Sẽ đưa chúng ta trở lại thế giới của Luật Rừng, trong khi chúng ta tin tưởng là đã thoát khỏi nó.

Người Ukraina có nhiều điều để dạy chúng ta

Tôi không biết điều gì sẽ xảy ra ở Ukraina. Nhưng với tư cách là một nhà sử học, tôi tin vào khả năng thay đổi. Đây không phải là niềm tin ngây thơ, mà là chủ nghĩa hiện thực. Điều duy nhất bất biến trong lịch sử loài người đó là sự thay đổi. Và về chủ đề này, người Ukraina có thể có điều gì đó để dạy chúng ta. Nhiều thế hệ người Ukraina chỉ biết đến chế độ chuyên chế và bạo lực. Họ đã phải chịu đựng hai thế kỷ dưới chế độ chuyên chế Sa hoàng (cuối cùng đã sụp đổ trong cơn đại hồng thủy của Thế chiến thứ nhất). Nỗ lực giành độc lập ngắn ngủi của dân Ukraina đã nhanh chóng bị đè bẹp bởi Hồng Quân, lực lượng đã khôi phục quyền thống trị của đế chế Nga. Sau đó, người Ukraina đã trải qua nạn đói khủng khiếp do chính sách « Holodomor » (1932 – 1933) (chính sách gây chết đói hàng loạt), sự khủng bố của chế độ Stalin, sự chiếm đóng của Đức Quốc xã và nhiều thập niên bị đè nén dưới chế độ toàn trị cộng sản. Khi Liên Xô sụp đổ, đã có mọi lý do để tin rằng người Ukraina sẽ một lần nữa đi theo con đường của chế độ chuyên chế tàn bạo, vì đó là những gì duy nhất mà họ đã biết được.

Nhưng dân Ukraina đã có một sự lựa chọn khác. Bất chấp sức nặng của lịch sử, bất chấp tình trạng nghèo đói cùng cực và bất chấp những trở ngại dường như không thể vượt qua nổi, người Ukraina đã thiết lập được một nền dân chủ. Ở Ukraina, không giống như ở Nga và Belarus, các ứng cử viên đối lập đã nhiều lần lên nắm quyền. Đối mặt với mối đe dọa của một chế độ ngả sang độc tài, trong những năm 2004 và 2013, người Ukraina đã hai lần nổi dậy để bảo vệ quyền tự do của mình. Nền dân chủ với dân Ukraina là hoàn toàn mới mẻ. Cũng giống như « nền hòa bình mới » (của nhân loại từ hơn nửa thế kỷ nay – người dịch). Cả hai đều mong manh và có thể sẽ không tồn tại lâu. Nhưng cả nền dân chủ và hòa bình đều là điều có thể thành công, và có thể bắt rễ sâu. Chúng ta đừng quên rằng những gì cũ hiện nay trước đây đã từng là cái mới. Tất cả đều phụ thuộc vào những lựa chọn của con người.

GHI CHÚ

(*) Yuval Noah Harari (sinh năm 1976) là giáo sư Khoa Lịch sử tại Đại học Hebrew Jerusalem. Ông là tác giả của ba cuốn sách bán chạy hàng đầu thế giới: Sapiens: Lược sử loài người (2014), Homo Deus: Lược sử tương lai (2016) và 21 bài học cho thế kỷ 21 (2018).

‘Se Sẻ Nguyễn,’ cô sinh viên gốc Việt được học bổng tiến sĩ khi mới 18 tuổi

‘Se Sẻ Nguyễn,’ cô sinh viên gốc Việt được học bổng tiến sĩ khi mới 18 tuổi

February 13, 2022

Trà Nhiên/Người Việt

AVON, Connecticut (NV) – Học nhảy lớp năm bậc tiểu học, học trung học năm 12 tuổi, học đại học lúc vừa tròn 16, và mới nhận học bổng chương trình tiến sĩ khi mới 18 tuổi…đó là câu chuyện của “Se Sẻ Nguyễn,” cô sinh viên gốc Việt đam mê toán số.

Do học “nhảy” lớp nên “Se Sẻ Nguyễn” luôn là học sinh nhỏ tuổi nhất ở các trường em học. (Hình: Se Sẻ Nguyễn cung cấp)

“Se Sẻ Nguyễn” tên thật là Nguyễn Nam Huyên, sinh ra ở Việt Nam, theo cha mẹ qua Nhật năm 2 tuổi khi hai người hoàn thành chương trình cao học.

Sau đó, cô bé nhỏ, lúc đó 4 tuổi, theo cha mình qua Mỹ khi ông nhận được học bổng tiến sĩ tài chánh.

Em kể rằng từng sống ở tiểu bang Rhode Island và New Jersey, trước khi chuyển về Connecticut, nơi em tốt nghiệp thủ khoa trường trung học Avon High School, và được học bổng toàn phần bốn năm tại đại học University of Connecticut.

“Se Sẻ Nguyễn” đang chuẩn bị hoàn tất chương trình đại học chỉ trong ba năm với hai ngành chính là Kinh Tế và Xác Suất Thống Kê, với ngành phụ là Toán. Em cũng giữ điểm học GPA xuất sắc 4.0.

Khi hỏi về cái tên vừa độc, vừa lạ của mình, cô gái trẻ nhanh nhảu: “Em nghe kể rằng ông ngoại chơi với em lúc còn nhỏ và ông chỉ em con chim se sẻ, lúc nghe tên là em cứ cười suốt thôi.”

Và từ đó, “Se Sẻ Nguyễn” chính thức là tên tiếng Anh của cô bé đa tài này.

Cô nữ sinh 18 tuổi vừa được thông báo nhận học bổng toàn phần chương trình Tiến Sĩ Tài Chánh của đại học Rochester University. (Hình: Se Sẻ Nguyễn cung cấp)

“Luôn cố gắng hết mình”

Mới đây, cô nữ sinh cũng vừa nhận được thư mời nhập học chương trình Tiến Sĩ Tài Chánh của đại học Rochester University, New York, ngôi trường nổi tiếng về nghiên cứu, đứng hạng 34 trong danh mục trường đại học tốt nhất toàn quốc.

“Em rất vui khi nhận được thư mời của Rochester University. Đây như một món quà cho kỳ sinh nhật sắp tới,” Se Sẻ hào hứng cho hay.

“Sau cuộc phỏng vấn với trường, em có nói chuyện với giáo sư tài chính của chương trình tiến sĩ và rất thích cách giảng dạy và môi trường học ở Rochester University. Em chắc 99% là sẽ học ở đây nhưng em cũng còn phải hoàn thành vài cuộc phỏng vấn của các trường khác nữa,” Se Sẻ cho biết.

Được biết, em cũng hoàn tất phỏng vấn của các đại học danh giá khác như Massachusetts Institute of Technology (MIT), đại học Boston College, và đang trong danh sách chờ của đại học UC Berkeley.

Thêm vào đó, em cũng tham gia nghiên cứu ở Cơ Quan Bảo Hiểm Giao Dịch Ngân Hàng (FDIC), và cũng giành được học bổng tham dự khóa học của Hiệp Hội Kinh Tế Mỹ (AEA) cho khoá học sau đại học chuẩn bị cho chương trình tiến sĩ sau này.

Không chỉ chăm chỉ việc học ở trường, cô sinh viên còn làm gia sư để kiếm thêm thu nhập. Theo chia sẻ của gia đình, cô con gái kiếm được $20,000 qua công việc giảng dạy và các chương trình học bổng trong hai năm qua.

Se Sẻ chia sẻ là cũng từng chịu áp lực khi luôn là người nhỏ nhất ở trường.

“Có lúc em hơi tự ti, không biết là mình có đủ giỏi để học chung với mấy anh chị hay không,” Se Sẻ nhớ lại.

Nở một nụ cười tươi, Se Sẻ tiếp: “Đúng là thời gian đó có những lúc khó khăn và nhiều thử thách, nhưng em luôn quan niệm chỉ cần ‘cố gắng hết mình’ thì mọi chuyện sẽ tốt hơn.”

Tuy tất bật với chuyện học nhưng Se Sẻ vẫn luôn dành thời gian cho niềm đam mê trượt tuyết. (Hình: Se Sẻ Nguyễn cung cấp)

Chỉ cần có đam mê thì mọi chuyện đều có thể

Tất bật với việc học và làm thêm là thế, nhưng Se Sẻ cũng tích cực tham gia các hoạt động ngoại khoá như thổi kèn oboe và chơi quần vợt.

“Lúc ở  trung học thì em là đội trưởng đội tuyển quần vợt của trường và hay đi thi đấu. Từ khi học đại học, em tham gia câu lạc bộ quần vợt và thi với các trường đại học khác,” nữ sinh viên nói.

Se Sẻ cho hay có nhiều lúc cảm thấy rất “stress,” nhưng em luôn tập trung làm xong việc quan trọng trước, từng bước từng bước một.

Se Sẻ tiếp: “Điều quan trọng là sắp xếp thời gian một cách hợp lý và cân bằng mọi thứ để tránh bị quá sức.”

Là sinh viên nhỏ tuổi nhất ở trường đại học, và còn bận rộn dạy thêm, nhưng không có nghĩa cuộc sống học đường của cô bé này kém thú vị.

Những lúc rảnh rỗi, Se Sẻ sẽ vui thú với đam mê trượt tuyết.

“Em thích trượt tuyết lắm, và hầu như là trượt mỗi tuần những tháng mùa Đông,” Se Sẻ phấn khởi kể.

Ngoài ra, Se Sẻ cũng xem nhiều chương trình thể thao, và còn thích đan và móc áo.

Cô gái trẻ cũng chia sẻ chính gia đình là niềm khích lệ to lớn trong việc học và đam mê của mình.

“Em thường nói chuyện và đi chơi với gia đình. Họ luôn ở bên em và hỗ trợ em rất nhiều. Đặc biệt em trai là người bạn thân nhất của em,” Se Sẻ vui vẻ nói.

Cha em hiện là giáo sư Tài Chính, trưởng khoa Tài Chính Kế Toán của đại học Westfield University, Massachusetts. Còn mẹ là giáo viên trung học Avon High School.

Nối tiếp truyền thống gia đình, tương lai Se Sẻ cũng muốn trở thành giáo sư đại học để hỗ trợ các sinh viên trong lĩnh vực tài chính và để nghiên cứu những câu hỏi chưa được giải đáp.

Em cũng khuyên các bạn học sinh, sinh viên đang hoang mang với nghành học rằng điều quan trọng là học và làm việc mình đam mê.

“Chúng ta phải biết điều mình muốn là gì, khi đó chúng ta mới không mông lung mà tự tin theo đuổi nó,” em bộc bạch.

“Se Sẻ Nguyễn” (thứ ba từ trái) cùng những người bạn cùng đi chơi và trượt tuyệt để giải tỏa căng thẳng. (Hình: Se Sẻ Nguyễn cung cấp)

Em cũng cho biết thêm rằng mới đầu muốn trở thành bác sĩ nên học Y Khoa năm đầu đại học. Dần dần nhận thấy mình có đam mê và thích hợp với tài chính hơn nên em mạnh dạn thay đổi.

Theo Se Sẻ, nếu muốn hạnh phúc thì nên theo đuổi đam mê, làm điều mà mình thích và thoải mái chứ đừng nghe theo sự áp đặt của người khác vì hạnh phúc bản thân là trên hết.

“Nếu chúng ta có ý chí và đam mê thì chuyện gì cũng có thể làm được,” Se Sẻ Nguyễn chia sẻ. [đ.d.]

—

Liên lạc tác giả: nguyen.nhien@nguoi-viet.com

Thách thức nghiêm trọng nhất của Việt Nam là Đảng Cộng sản

Thách thức nghiêm trọng nhất của Việt Nam là Đảng Cộng sản

Bởi  AdminTD

 Jackhammer Nguyễn

14-1-2022

Ngày 11-2-2022, cây bút quen thuộc, Nguyễn Quang Dy có bài viết đăng trên trang Viet-Studies: Những thách thức năm Nhâm dần.

Bài mở đầu với những cảm xúc tích cực về các hiện tượng thiên nhiên đầu năm mới, và kết thúc bằng lời khuyên rằng, Việt Nam nên thay đổi thể chế để có thể vượt qua những thách thức trong năm mới.

Chúng ta có thể dễ dàng đồng ý với những phân tích về quan hệ bang giao quốc tế của tác giả, trong đó nhấn mạnh, việc Việt Nam đã khá thành công trong việc tạo cho mình một thế đứng trung gian giữa cuộc xung đột và cạnh tranh ngày càng mạnh giữa các siêu cường, quan trọng nhất là cuộc xung đột Mỹ – Trung. Nói một cách nôm na là, Hà Nội đã thành công trong việc đu dây giữa Washington và Bắc Kinh.

Không chỉ một mình ông Nguyễn Quang Dy nhận ra điều đó, tôi cũng có nghe rằng một trong những gương mặt chống Cộng có tiếng người Việt ở Mỹ, nói trong chỗ thân tình rằng: “Cộng sản Hà Nội đu dây tử thần, nên cho họ credit về chuyện đó”.

Ngày 11-2-2022, chính phủ Mỹ công bố sách lược Ấn Độ – Thái Bình Dương, trong đó Việt Nam được xem như một trong những đối tác khu vực hàng đầu (leading regional partners), ngang hàng với Singapore, Đài Loan.

Có thể nói không ngoa rằng, thái độ của Hoa Kỳ cộng với việc thành công của chính sách đu dây của Việt Nam đã làm cho Hà Nội chống được dịch Covid-19, với lượng vaccine của chính phủ Mỹ đến kịp thời.

Những đề cập về kinh tế Việt Nam cũng như những khuyến cáo (hoặc trích dẫn) mà ông Nguyễn Quang Dy đưa ra, cũng sẽ dễ dàng được độc giả đồng tình.

Nhưng không biết có phải vì do thời điểm đầu năm mới, cần có những suy nghĩ tích cực hay không, nhưng tôi cảm thấy tác giả đã giảm nhẹ điều gọi là thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay. Đó chính là vị trí một mình một chợ, ngày càng vững chắc của Đảng Cộng sản cầm quyền.

Sau một thời gian dài lưỡng lự, Đảng Cộng sản đã tống giam người thực sự đối kháng cuối cùng của chế độ là Phạm Đoan Trang vào năm 2020. Thừa thắng xông lên, Đảng Cộng sản dẹp luôn những tổ chức dân sự ít màu sắc chính trị quyền lực hơn, nhưng họ không kiểm soát.

Ngày 9-2-2022, Hà Nội tống giam bà Ngụy Thị Khanh, đứng đầu một tổ chức môi trường, từng nhận giải thưởng về bảo vệ môi trường quốc tế, với tội danh… trốn thuế! Cần nhớ rằng, tội danh loại này cũng từng được gán cho một số nhân vật đối kháng có tiếng trước đây như Nguyễn Văn Hải, Lê Quốc Quân, Trần Huỳnh Duy Thức (đối với ông Thức là cái nhãn gian lận thương mại).

Công bằng mà nói thì những thành phần thực sự đối kháng như tôi vừa đề cập không là bao nhiêu, sự lưỡng lự của Hà Nội trong hơn 10 năm qua, chỉ là sự đo lường sức ép quốc tế lên họ mà thôi, chứ thực ra họ vẫn kiểm soát tình hình, kiểm soát rất chặt phong trào đối kháng, một phong trào ra đời từ sự bắt nạt của Trung Quốc đối với Việt Nam, hơn là những nhu cầu dân sinh và xã hội trong nước. Đã ít ỏi, phong trào này lại rất hỗn tạp, không dựa trên những hiểu biết căn bản về một xã hội dân chủ.

Đầu năm 2022, một người Việt chống Cộng ở Mỹ là ông Dao Huyen, đưa ra nhận xét về những người gọi là hoạt động dân chủ ở Việt Nam trong những năm qua là họ “thiếu sự thiện lương và công chính của những người muốn đi làm cách mạng”. Dĩ nhiên ông Dao Huyen nói điều đó không bao hàm tất cả những người vào tù ra khám ở Việt Nam trong những năm qua. Dù sao năm 2020 cũng đánh dấu sự kết thúc của phong trào này.

Bên trong thì phong trào đối kháng, vốn đã yếu, nay thì tan rã. Bên ngoài, nhờ vào vị trí địa chiến lược đắc địa đối với phương Tây trong cuộc đối đầu với Trung Quốc, cộng với ngoại giao đu dây khéo léo, Hà Nội đang ở trong môi trường rất thuận lợi.

Nhưng trong những cái thuận lợi ấy, cái lợi cho Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều hơn so với người dân Việt Nam. Thậm chí đối với người dân Việt Nam, lợi lộc của Đảng Cộng sản là điều có hại cho dân rất rõ ràng. Đảng Cộng sản đã mạnh, đã một mình, nay càng mạnh thêm, càng một mình và càng tha hồ làm bậy.

Cùng năm với việc bắt giữ Phạm Đoan Trang, việc chống dịch Covid một cách bát nháo của Đảng làm cho hơn 20 ngàn người Việt thiệt mạng. Dịch bệnh cũng làm lộ rõ tình trạng người dân quê Việt Nam, những người làm thuê làm mướn trong các nhà máy, bị bóc lột tận xương tủy, trong đó có hơn 1 triệu người bỏ chạy tán loạn sau vài tuần lễ phong tỏa.

Năm 2021 lại chứng kiến hai sự việc tồi tệ một cách kinh hoàng là vụ công ty Việt Á bán bộ xét nghiệm dỏm, làm giàu trên tình trạng chết chóc của dân chúng, và vụ nâng giá vé máy bay cho người Việt ở nước ngoài muốn về nước giữa đại dịch, qua những chuyến bay mà chính quyền gọi là “giải cứu”.

Hai điều kinh hoàng nhất trong hai sự kiện này là sự mục ruỗng của cả hệ thống bao che cho những kẻ thủ ác, thứ hai là sự suy đồi đạo đức không còn giới hạn nữa của quan chức Đảng Cộng sản Việt Nam.

Không có gì bảo đảm rằng hai sự việc như thế sẽ không còn xảy ra trong tương lai, và người dân trong nước sẽ lại chịu hậu quả thảm khốc, trong tình trạng Đảng Cộng sản Việt Nam một mình một chợ, quyền lực không giới hạn, tự tung tự tác.

Và đó chính là thách thức nghiêm trọng nhất đối với Việt Nam hiện nay.

HIỆN TƯỢNG SÁM HỐI CỦA NHỮNG THẰNG NGƯỜI CÓ ĐUÔI!

HIỆN TƯỢNG SÁM HỐI CỦA NHỮNG THẰNG NGƯỜI CÓ ĐUÔI!

NGUYỄN THIẾU NHẪN

Trong bài “Hiện tượng sám hối”, Mặc Lâm, biên tập viên đài RFA đã phỏng vấn nhà văn, nhà phê bình Trần Mạnh Hảo về hiện tượng những lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam lên tiếng phủ nhận những gì mà họ theo đuổi trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.
Theo nhà văn Trần Mạnh Hảo thì: “Ông Phó Thủ Tướng Trần Phương là một người cũng đã tận tụy đi theo cách mạng. Làm đến Phó Thủ Tướng nhưng khi các ông ngồi lại để góp ý cho đảng thì ông ấy nói rằng cuộc đời trong mỗi cá nhân để vượt qua những sự kiện quan trọng trong đời mà cứ phải nói dối người thân, nói dối gia đình, nói dối mọi người đến mấy lần thì đến khi về già đã thấy ngượng, thấy xấu hổ lắm. Nhưng Đảng Cộng Sản của chúng ta từ khi sinh ra đến giờ toàn nói dối mà không biết tại sao đảng không biết ngượng, không biết xấu hổ,không biết sám hối”.
Thực ra, không phải tới bây giờ mới có những nhận xét “động trời” này! Những chuyện “Đảng CSVN” nói dối không biết ngượng miệng đã xảy ra từ thời con trăn miền Bắc chưa nuốt trọn con nai miền Nam rồi bị bội thực “xã hội chủ nghĩa theo định hướng kinh tế thị trường” cho tới nay.

Trước ông Phó Thủ Tướng Trần Phương rất lâu, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, người cộng sản gạo cội, con cưng một thời của Đảng CSVN đã phải nhận xét rằng người Cộng Sản bị phân đôi:
“Ngồi với nhau thì trao đổi chân thật, thì nói một đàng; mà khi họp lại bàn bạc, viết lên báo chí thì lại nói một nẻo. Trong mỗi người Cộng Sản có hai con người: con người thật và con người giả. Làm sao có thể xây dựng một xã hội mới với những con người giả. Làm sao có thể xây dựng một cái gì tốt đẹp và bền vững trên một nền tảng giả?”
Nhận xét của “ông bác sĩ cộng sản” Nguyễn Khắc Viện đem áp dụng vào “ông nhà thơ cộng sản” Tố Hữu thì không sai một chút nào: Chính ông ta đã là người đã làm cho bao nhiêu cuộc đời của những văn nghệ sĩ dính líu vào vụ Nhân văn – Giai phẩm bị “rạn vỡ. bị ruồng bỏ và bị lưu đày”; nhưng về cuối đời thì ông ta lại nói những lời “nhân nghĩa bà Tú Đễ” khiến ai nghe cũng muốn ứa gan và khinh bỉ về chuyện nói láo trắng trợn không biết ngượng của một kẻ đã từng “hét ra lửa, mửa ra khói” đối với những trí thức và văn nghệ sĩ hàng đầu miền Bắc.

Không ai tố cáo chồng chính xác bằng vợ. Người cộng sản tố cáo người cộng sản thì chắc chắn phải là sự thật. Ông Bùi Quang Triết, tức cố nhà văn Xuân Vũ là người miền Nam tập kết ra Bắc, sau khi thấy rõ mặt thật của thiên đường xã hội chủ nghĩa do “Bác” Hồ xây dựng, nhà văn bèn “tung cánh chim tìm về tổ ấm”. Ông nhà văn “chiêu hồi” Xuân Vũ khi định cư tại Hoa Kỳ đã viết về những nạn nhân của nhà thơ Tố Hữu, người đã từng làm Phó Thủ Tướng của nước Cộng Hoà Xã Nghĩa Việt Nam như sau:
“… Ai cũng biết ở miền Bắc có hai nhà trí thức lớn nhất dân tộc Việt Nam: Đó là cụ Nguyễn Mạnh Tường và cụ Trần Đức Thảo. Cụ Nguyễn được phép sang Paris chơi vài tháng đâu hồi 92 thì phải. Về Hà Nội cụ viết cuốn “Kẻ bị khai trừ”. Người ta hỏi, cụ không sợ bị tù à? Cụ bảo tôi 82 tuổi rồi còn sợ gì?

Cụ Trần cũng được Hà Nội cho sang Paris công tác (gì đó không hiểu – vận động trí thức Pháp và trí thức nước ta chăng?). Ở đây cụ đã nói chuyện trước nhiều loại thính giả. Trong một cuộc nói chuyện cụ bảo: “Chính Mác sai!” Người ta hỏi tại sao?
Cụ bảo: “Mác lấy các điểm trong duy tâm luận của Hégel (không phải Angels) ra làm duy vật biện chứng. Duy tâm áp dụng trên trời dù có sai cũng chẳng hại ai, còn duy vật đem ra dùng trên mặt đất sẽ làm chết người. (Mà chết người thật! Chết hàng trăm triệu người chớ không ít). Chỉ vài hôm sau, cụ qua đời.
Ai cũng biết Nhóm Nhân văn – Giai phẩm gồm toàn văn nghệ sĩ ưu tú của dân tộc đi kháng chiến 9 năm trở về Hà Nội, hãy còn chân ướt chân ráo đã quay ra chống Đảng quyết liệt: Hoàng Cầm, Văn Cao, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt.
Phần lớn là đảng viên. Thế có lạ không?

Tại sao họ không yêu Đảng của họ nữa? Hỏi tức là trả lời vậy.

Nhạc sĩ Văn Cao vừa mới qua đời. Trước khi nhắm mắt, ông nói: “Bây giờ tôi
không còn sợ gì nữa. Tôi cứ nói…. Tố Hữu đã ‘phạt’ tôi 30 năm không sáng tác được gì”.

Đau đớn cho ông là năm 1994, trong một buổi lễ phát phần thưởng về âm nhạc, ông được xếp hạng 13 (gần hạng bét) đáng lẽ phải là hạng nhất, không có hạng 2 đến hạng 10.

Trên đây tôi vừa liệt kê một vài trường hợp trí thức văn nghệ sĩ xã hội chủ nghĩa chống Đảng, thà chịu khổ nhục nhận “hình phạt đày ải” của đảng Cộng sản, chớ không thay đổi thái độ với nó kể từ khi họ bắt đầu “ghét” Đảng. Nhìn kỹ lại không thấy ai nói “ghét” thành “yêu” đối với CS bao giờ. Những người trước kia yêu, nay cũng ghét Đảng.

Khi đọc những bài tường thuật về các buổi nói chuyện của cụ Trần Đức Thảo ở Paris, tôi mới thấy não lòng. Một triết gia độc nhất của Việt Nam được người ngoại quốc kính nể trên thế giới lại không được dùng đúng chỗ ở chính quê hương mình.
Phải biết rằng chính cụ cũng mê Mác-xít khi còn ở Paris nên cụ đã xin về Việt Nam để phục vụ đất nước trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, xây dựng thiên đàng. Về đến nơi thì than ôi! Thiên đàng đâu không thấy chỉ thấy tang thương địa ngục. Nhiều người đứng ở ngoài xã hội chủ nghĩa cứ tưởng nó là thiên đường.

Nhưng khi nhảy vào sống với nó rồi mới biết mặt mũi nó mồm ngang, miệng dọc ra sao. Chừng đó có muốn thối lui cũng không được. Phải dũng cảm ghê gớm mới dứt nổi “đường tơ”. Nếu Mác bảo tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc con người thì Mác-xít chính là thuốc độc giết chết con người. Và tác hại vô cùng cho dân tộc nào cưu mang nó. Picasso về già mới trả thẻ đảng. Howard Fast cũng xin ra đảng lúc gần đất xa trời. Phải khó khăn lắm mới nhận ra được mặt thật của nó. Chẳng thế mà dân Liên Xô bị bịp trên 70 năm?

Tôi cũng đã sống 10 năm trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tôi không có lý luận như cụ Trần, nhưng bằng cảm tính nảy ra trong sinh hoạt hàng ngày, trước tiên tôi thấy chủ nghĩa Mác nó kỳ cục. Nếu biết trước nó như thế này thì không ai đi đánh Tây làm gì.

Bởi vì như Nguyễn Chí Thiện nói (đại ý):
“So với Đảng thì móng vuốt Thực dân êm dịu gấp 10 lần!”
Nhưng đã lỡ nhúng chàm rồi, có nhiều người đành cam chịu, không nói ra, để cho những người hậu tiến mắc lầm như mình. Dại rồi nên ngừa cho người khác đừng dại như mình.

… Người Cộng Sản hễ nói là nói láo. Nhưng trước đây vẫn có nhiều người tin. Tin rằng chính sách hợp tác xã, tổ chức quốc doanh đều tuyệt vời, tin rằng Liên Xô là số dách. Nay thì dân chúng đã thấy rõ giữa miền Bắc và miền Nam ai hơn ai, giữa Liên Xô và Hoa Kỳ ai đi trước ai (những 50 năm).
Tất cả nhân loại đều đã bừng mắt trước một sự thực vô cùng rõ rệt: chủ nghĩa
Cộng sản chỉ là một sự ngu xuẩn và chính những kẻ theo đuổi nó gần 1 thế kỷ
nay cũng không hiểu nó là cái gì…”
***
Nhà thơ cộng sản Tố Hữu đã chết!
Nhà văn Xuân Vũ “tay trót nhúng chàm” theo cộng sản – như lời tự thú của ông, sau đó đã từ bỏ thiên đường cộng sản, đã chết!
Những người trong nhóm Nhân Văn – Giai phẩm mà cuộc đời của họ đã bị ông Tố Hữu làm cho “rạn vỡ, bị ruồng bỏ và bị lưu đày” cũng đã chết!
Bi thảm nhất là cái chết của ông Nguyễn Hữu Đang, kẻ đã dựng lễ đài để ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn. Cả cuộc đời của ông đã bị trù dập đến tận cùng bằng số: “nhà” của ông là một lõm sâu bằng thân mình ông cạnh một khóm tre làng, cứ như là một huyệt mộ của ông ngay khi còn sống. Sinh kế của ông là mỗi ngày đi nhặt các bao thuốc để đổi cóc, nhái từ bọn trẻ con trong làng. Và ông đã sống như thế cho đến khi nhắm mắt lìa đời.
Viết đến đây tôi cảm thấy tim mình đau nhói.

“Tôi không biết khóc bao giờ
Mà sao giọt lệ ấm bờ mi thâm?

– nói theo cách nói của một nhà thơ nào mà tôi đã quên tên.
Những người trí thức, những văn nghệ sĩ của chế độ, đã góp phần xây dựng chế độ ngay từ đầu mà còn bị ruồng bỏ, bị trừng phạt thê thảm, khủng khiếp đến như thế thì còn nói gì đến những người đã từng đối đầu với chế độ!
***
Hình như nói dối là cái “gen” di truyền từ ông Hồ Chí Minh đến các lãnh tụ thừa kế của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Người thừa kế xuất sắc cái “gen” nói dối di truyền của “Bác” Hồ là nhà thơ Tố Hữu – nói dối không biết ngượng miệng, nói dối không chớp mắt, nói dối cứ như thiệt!
Cái “gen” nói dối của “Bác” Hồ, của cố Phó Thủ Tướng Tố Hữu đang di truyền qua thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chủ tỊch nước Trương Tấn Sang và tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Ông nói chống tham nhũng thì lại là Vua Tham Nhũng!
Ông thì tuyên bố “trừ sâu trong nồi canh”; nhưng chắc chắn là sẽ có hàng trăm bầy sâu do ông ta… đẻ ra vì ông ta là Vua Sâu Bọ!

Và ông Tổng bí thư Mạc Phú Trọng thì lúc nào cũng lăm le tự trói tay, trói chân quỳ lết đem giang san gấm vóc của tổ tiên đem dâng cho giặc phương Bắc để giữ vững ngai vàng!

Tài liệu tham khảo:
– “Dương Thu Hương và Con Hùm Ngủ”, tiểu luận của Nguyễn Việt Nữ.
– “Thằng Người Có Đuôi” một truyện ngắn viết về Trường Chinh (?) cố Tổng Bí Thư CSVN của nhà văn Thế Giang.

NGUYỄN THIẾU NHẪN

From: Truong Le

Phát giác thi thể 1 phụ nữ Ý ngồi chết trên ghế từ hơn 2 năm

Phát giác thi thể 1 phụ nữ Ý ngồi chết trên ghế từ hơn 2 năm

February 10, 2022

COMO, Ý (NV) – Nhà chức trách xác nhận đội cứu hỏa thành phố Como, Ý, tuần qua tìm thấy thi thể một người phụ nữ 70 tuổi, trong tư thế đang ngồi trên ghế tại nhà riêng gần Lake Como, phía Bắc nước Ý.

Theo bản tin của đài truyền hình SkyTg24, trong hệ thống CNN, hôm Thứ Hai, 7 Tháng Hai, thì kết quả giảo nghiệm cho thấy bà có thể đã chết vào năm 2019. Người phụ nữ này tên Marinella Beretta, bà sống một mình trong nhà.

Nhà dọc theo bờ hồ Lake Como, Ý. (Hình minh họa: Brigitte Hagemann/AFP via Getty Images)

Đội cứu hỏa phát hiện thi thể của bà sau khi nhiều người phàn nàn rằng một cái cây trong vườn nhà bà Beretta bị đổ và cây cối mọc um tùm.

Sau khi thông báo cho gia đình, vẫn chưa có người thân nào đến nhận thi thể. Cảnh sát đang tìm kiếm xem bà Beretta còn bất kỳ người thân nào hay không.

Hiện tại thi thể của bà vẫn giữ tại nhà xác và chưa công bố ngày tổ chức đám tang.

Ông Mario Landriscina, thị trưởng Como, thông báo chính quyền địa phương sẽ lo liệu đám tang bà Beretta và mời dân cư trong khu vực đến tham dự. Ông cho biết bà Beretta không nằm trong danh sách nhận hỗ trợ từ các dịch vụ xã hội ở địa phương.

Trên Facebook, bà Elena Bonetti, bộ trưởng Gia Đình Và Bình Đẳng của Ý, bày tỏ sự tiếc thương về cái chết cô đơn của bà Beretta.

“Tưởng nhớ cuộc đời bà Beretta là trách nhiệm của cộng đồng với mong muốn duy trì sự đoàn kết. Chăm sóc lẫn nhau là việc làm của gia đình, của các tổ chức và của mỗi công dân. Để không một ai phải chịu cảnh cô đơn,” bà chia sẻ. (V.Giang)

Cộng đồng gốc Việt tại Mỹ: Tổn thương và sa sút trí nhớ sau chiến tranh VN (BBC)

Cộng đồng gốc Việt tại Mỹ: Tổn thương và sa sút trí nhớ sau chiến tranh VN

  • Huyền Trân
  • BBC News Tiếng Việt

8 tháng 2 2022

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Thuyền nhân Việt Nam chờ được giải cứu vào năm 1978

Lần đầu tiên có một nghiên cứu về mối liên hệ giữa chấn thương từ chiến tranh Việt Nam với sa sút trí tuệ (dementia) trong cộng đồng người Việt đến Mỹ sau 1975. Đây là cộng đồng gốc Á đông thứ 4 tại Mỹ hiện nay với hơn 2 triệu người.

Phó Giáo sư Oanh Meyer, chuyên ngành Thần kinh học từ Đại học California-Davis, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu, từng trực tiếp chứng kiến căn bệnh sa sút trí tuệ (dementia) và triệu chứng bị ảo tưởng (paranoia) này xảy ra với mẹ – bà Anh Lê, hơn 70 tuổi – một người tới Mỹ vào năm 1975.

“Mẹ tôi nói rằng bà rất lo lắng khi thấy những người lính Việt Cộng đứng bên ngoài cửa sổ, luôn cảm thấy sợ hãi khi cho rằng những người lính này đang muốn làm hại gia đình mình.” Phó Giáo sư Oanh Meyer nói với BBC.

Đôi khi bà Anh Lê nói con phải nghỉ học vì trường học bị ném bom và mọi người phải trốn dưới gầm bàn.

NGUỒN HÌNH ẢNH,OANH MEYER

Chụp lại hình ảnh,

Phó Giáo sư Oanh Meyer (trái) và mẹ mình, bà Anh Lê

Từ trải nghiệm của bản thân và được biết đến nhiều trường hợp khác cũng mắc chứng bệnh giống bà Anh Lê, từ năm 2013, Phó Giáo sư Oanh Meyer bắt đầu phỏng vấn những người chăm sóc các bệnh nhân người Mỹ gốc Việt bị sa sút trí tuệ để có chương trình giúp họ hồi phục.

Cô đã luôn nghe được những câu chuyện về tổn thương sau chiến tranh Việt Nam trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

‘Quá khứ ám ảnh’

Một trong những người mà Phó Giáo sư Oanh Meyer phỏng vấn là bà Quyên Vương, 57 tuổi, Giám đốc Điều hành International Children Assistance Network (ICAN) hiện đang sinh sống tại San Jose, Mỹ.

Bà Quyên Vương rời Việt Nam đến Mỹ vào năm 1981 bằng con đường vượt biên. Khi đó, bà chỉ mới 16 tuổi, ra đi cùng em nhỏ mới 11 tuổi.

Cho đến tận hôm nay, bà Quyên cho biết khoảng thời gian sống 4 tháng ở một trại tị nạn trên đảo Pulau Bidong (Malaysia) vẫn in sâu trong tâm trí.

“Dù ở trong trại tị nạn có 4 tháng nhưng tôi thật sự hiểu cảm giác của một đứa trẻ mồ côi. Mỗi ngày Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc phát một bịch thực phẩm có chút gạo, khô, muối đủ ăn. Ở trại tị nạn, ai có tiền thì mua cá hay rau cải của người dân địa phương trên đảo. Đói thì không đói nhưng buồn thì rất buồn”, bà Quyên nói với BBC News Tiếng Việt.

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Trẻ em tị nạn Việt Nam trên đảo Pulau Bidong (Malaysia)

Bà Quyên cho biết khi mới qua Mỹ, bà từng có ý định nghỉ học để đi làm giúp gia đình có tiền trả tiền nhà.

“Sau khi qua Mỹ thì gia đình tôi rất nghèo, bị thiếu tiền trả tiền nhà, cả một sự khủng hoảng, khác với trước năm 1975 khi gia đình cũng đủ ăn.”

Bà cho biết stress, nặng nề, căng thẳng vào thời điểm mới đến Mỹ “đến từ mọi hướng” và “vô cùng mệt mỏi” như đi làm 30 giờ một tuần lúc học trung học.

“Cũng may lúc đó mình còn trẻ, sức chịu đựng còn dai thì mình dễ quên. Như mỗi tuần đến nhà bạn ăn phở, bún bò rồi mình cũng quên. Thế nhưng trong độ tuổi ngũ tuần, tôi thấy bắt đầu thấm mệt và có dấu hiệu quên.”

“Khi qua Mỹ thì nhu cầu phải sống còn quá mạnh cho nên mình gạt qua mọi sự bầm dập. Cho đến bây giờ khi mình lớn tuổi rồi thì mới thấm mệt và những stress, mental health [sức khỏe tâm thần] mới xuất hiện”, bà Quyên nói.

‘Tổn thương phổ biến’

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Những người tị nạn Việt Nam ra đi vào cuối những năm 1970 trên các con tàu gỗ

Theo Phó Giáo sư Oanh Meyer, nhiều người, giống như bà Quyên Vương, đã kể lại việc các thành viên trong gia đình mình bị những tổn thương tâm lý nặng nề từ chiến tranh Việt Nam do chứng kiến người thân hay bạn bè bị mất tích, tàu chở người tị nạn bị hải tặc tấn công hay hãm hiếp.

“Một người đang chăm sóc vợ ở tuổi 80 tại Mỹ kể lại với tôi rằng ông đã bị đi học tập cải tạo và khi đó vợ ông phải ở nhà một mình chăm sóc gia đình. Ông cho rằng vợ mình đã bị sa sút trí tuệ từ những tổn thương khi đó”, Phó Giáo sư Oanh Meyer nói với BBC News Tiếng Việt.

“Qua việc nói chuyện với gia đình những người Việt Nam và cả câu chuyện của gia đình mình, thì tôi thấy có sự liên quan giữa rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và tổn thương (trauma) và bệnh sa sút trí tuệ (dementia). Và cho đến nay không có nghiên cứu nào được thực hiện đối với cộng đồng người Mỹ gốc Việt”, Phó Giáo sư Oanh Meyer nói với BBC

“Cụ thể là chưa có nghiên cứu nào chỉ ra mối liên hệ những áp lực (stress), những tổn thương tâm lý thời trẻ có liên quan đến bệnh sa sút trí tuệ (dementia) ở tuổi già hay không? Cách căn bệnh này xuất hiện ở cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Tôi muốn nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng đó.”

NGUỒN HÌNH ẢNH,OANH MEYER

Chụp lại hình ảnh,

Nghiên cứu của Phó Giáo sư Oanh Meyer được thực hiện trên những người Mỹ gốc Việt từ 65 tuổi trở lên

Bắt đầu từ năm 2021, nghiên cứu của Phó Giáo sư Oanh Meyer đã nhận được khoản tiền tài trợ trị giá 7,2 triệu đôla Mỹ cho thời hạn 5 năm từ Viện Quốc gia về Lão hóa Hoa Kỳ (National Institute on Aging) để nghiên cứu nhóm người lớn tuổi ở San Jose, Sacramento và Santa Clara, thông qua phỏng vấn.

Đối tượng nghiên cứu là những người từ 65 tuổi trở lên là người Việt hoặc người Mỹ gốc Việt, sống tại Bắc California, nói tiếng Việt hoặc tiếng Anh, nhập cư từ Việt Nam.

“Hy vọng trong tương lai chúng ta có thể nhìn vào những thay đổi và dịch chuyển trong mô hình dân cư và thấy bệnh sa sút trí tuệ cũng thay đổi theo thời gian”, theo Phó Giáo sư Oanh Meyer.

Một số yếu tố khiến người Mỹ gốc Việt có nguy cơ mắc suy giảm nhận thức (cognitive impairment) cao được cho bao gồm chiến tranh và di cư, khủng hoảng tâm lý, khó khăn thời niên thiếu, trầm cảm, huyết áp cao, và bệnh tiểu đường.

NGUỒN HÌNH ẢNH,GETTY IMAGES

Chụp lại hình ảnh,

Người tị nạn Việt Nam trên đường từ Nhật Bản sang Mỹ vào năm 1975

“Cộng đồng người Mỹ gốc Việt có những điểm khác biệt so với các cộng đồng người tị nạn khác tại Mỹ. Nếu chúng ta hiểu được các nhân tố ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần thì sẽ có những chương trình can thiệp sớm giúp giảm nguy cơ bệnh sa sút trí tuệ (dementia) hay mất trí nhớ (memory loss) đặc biệt đối với cộng đồng người tị nạn hay nhập cư” Phó Giáo sư Oanh Meyer cho biết.

Hiện nay nhóm nghiên cứu vẫn đang trong quá trình thu thập dữ liệu và số người cần được phỏng vấn là hơn 500 người Mỹ gốc Việt trong vòng 2 năm tới.

Phó Giáo sư Oanh Meyer cho biết vào năm 2018 đã có một nghiên cứu về mối liên hệ giữa rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và bệnh sa sút trí tuệ của Giáo sư Rachel Whitmer từ Đại học California-Davis thực hiện đối với các thành viên hệ thống chăm sóc y tế. Và một kết quả quan trọng thu được đó là người lớn tuổi bị PTSD có nguy cơ bị sa sút trí tuệ cao hơn 70% với người không bị PTSD.

Nhiều người Việt Nam cho rằng sa sút trí tuệ (dementia) là một phần bình thường của quá trình lão hóa, nhưng đây là suy nghĩ sai.

“Sa sút trí tuệ (dementia) không phải là một phần bình thường của quá trình lão hóa (ageing). Ví dụ bạn có thể quên để quên chìa khóa nhưng nếu không biết chìa khóa dùng để làm gì là dấu hiệu bất thường”, Phó Giáo sư Oanh Meyer nói thêm.

Sau khi chính phủ Việt Nam Cộng hòa sụp đổ vào năm 1975, khoảng 800.000 người Việt Nam vượt biên bằng đường biển trên những con tàu đủ mọi kích cỡ, trong đó thậm chí có tàu gỗ thô sơ, và sống hàng tháng hay hàng năm tại những trại tị nạn ở Philippines, Malaysia…trước khi sang Mỹ hay nước khác. Họ được gọi là ‘thuyền nhân Việt Nam’.

Trong một bài viết của BBC News năm 2019, Hanh Trần, một thuyền nhân kể lại đã chen chúc cùng 86 người khác trên một con tàu dài 11 mét vào năm 1979 và gặp những tên hải tặc Thái Lan, bị tàu quân sự của Malaysia bắn và hải quân Singapore xua đuổi, gặp bão trước khi may mắn đến được một hòn đảo trên một con tàu rách nát.

“Chúng tôi rất sợ Cộng sản. Nếu nói gì sai thì sẽ bị mời lên đồn công an và không bao giờ trở về”, Hanh Trần hiện đang sống tại Anh nói với BBC năm 2019.

Không mua được bằng tiền thì có thể mua được bằng… rất nhiều tiền

Không mua được bằng tiền thì có thể mua được bằng… rất nhiều tiền

Bởi  AdminTD

Phạm Quang Tuấn

10-2-2022

Những gì không mua được bằng tiền thì có thể mua được bằng… rất nhiều tiền.Đây là phương châm của Trung Cộng, và họ áp dụng thành công rực rỡ.

Ở VN, họ mua được quan chức. Ở Úc, họ mua được dân biểu. Khắp thế giới, họ mua được đại học (bằng viện Khổng Tử). Và ở Mỹ, họ mua được cái quý giá nhất: thần tượng (idol).

Thật vậy, khó chối cãi rằng Eileen Gu – Cốc Ái Lăng – là thần tượng, siêu thần tượng, không những của Tàu mà của cả thế giới. Xinh đẹp như thiên thần, làm người mẫu cho những công ty sang trọng nhất, học giỏi, đàn giỏi, vô địch thể thao thế giới. Cô em là tiêu biểu “All American Girl” nhưng, dù sinh ở Mỹ, lớn lên ở Mỹ, học ở Mỹ, huấn luyện thể thao ở Mỹ, ở tuổi 15 cô em đã quyết định từ nay tranh giải cho Trung Cộng.

Eileen Gu tại Olympic Bắc Kinh 2022. Gu sinh ra và lớn lên ở Mỹ, mang quốc tịch Trung Quốc, thi đấu cho đội TQ. Nguồn ảnh: Newsweek

Có nghĩa là ở thế vận mùa đông kỳ này, có thể Mỹ sẽ mất ba huy chương vàng và Tàu sẽ được 3 huy chương đó. Có nghĩa là cô em sẽ giúp Tàu vượt Mỹ SÁU huy chương.

Thi đấu xong, cô em sẽ về Mỹ học ĐH Stanford. Ở Mỹ.

Dĩ nhiên cô em được phỏng vấn rất nhiều. Một điều kiện cô em đưa ra cho mọi phóng viên là: ĐỪNG HỎI GÌ VỀ CHÍNH TRỊ. Nên nhớ, đây là thốt ra từ một thiếu nữ Mỹ!

Tôi không kết tội em. Vì tất cả các chuyện đã xảy ra không phải là lỗi của em, mà là của bà mẹ. Một người Trung Quốc qua Mỹ du học, đẻ con, vì lý do gì đó con mang họ mẹ và sống với mẹ. Người cha không bao giờ được nói tới. Đương nhiên người mẹ này phải có một ảnh hưởng rất lớn.

Vì những người mẹ như thế này, người Mỹ gốc Tàu – và người Mỹ gốc Á nói chung – sẽ phải chịu thêm sự kỳ thị, dè bỉu của những người Mỹ khác. Họ sẽ coi là dân Tàu là những kẻ vô ơn bạc nghĩa. Nuôi ong tay áo.

Chắc là nghe lời mẹ, Eileen nói rằng cô đã chọn lựa như vậy để khuyến khích thể thao mùa đông ở Tàu. Nhưng đâu cần phải làm vậy? Đấu thủ tennis Emma Raducanu (Anh), cũng mang dòng máu Tàu, được ái mộ và rất có ảnh hưởng ở TQ mà đâu cần phải lấy quốc tịch và thi đấu cho Tàu?

Phạm Đoan Trang được Anh, Canada trao giải thưởng dù đang bị cầm tù

Phạm Đoan Trang được Anh, Canada trao giải thưởng dù đang bị cầm tù

February 11, 2022 

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Chính phủ Anh và Canada trao giải thưởng “Tự Do Truyền Thông 2022” (Media Freedom 2022) cho blogger, nhà báo tự do Phạm Đoan Trang – người đang bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam giam cầm.

Trang web của Bộ Ngoại Giao Anh hôm 10 Tháng Hai cho biết, tại Hội Nghị Tự Do Báo Chí ở Tallinn, Estonia, trong cùng ngày, Quốc Vụ Khanh Anh Lord Ahmad – người cũng là đại diện thủ tướng Anh – và Ngoại Trưởng Canada Melanie Joly, thông báo việc trao giải thưởng này.

Chân dung bà Phạm Đoan Trang trên trang Twitter Bộ Ngoại Giao Anh. (Hình: Twitter Foreign, Commonwealth & Development Office)

Bà Trang, tác giả cuốn “Chính Trị Bình Dân,” bị một tòa án ở Hà Nội tuyên phạt chín năm tù với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” sau một phiên xử chóng vánh diễn ra hồi Tháng Mười Hai, 2021.

Hôm 11 Tháng Hai, thông cáo báo chí do Đại Sứ Quán Anh tại Việt Nam phát đi cho hay: “Bà Trang được biết đến là tác giả những cuốn sách về dân chủ và các bài báo về xã hội dân sự và giới bất đồng chính kiến ở Việt Nam. Là một người ủng hộ nhân quyền và pháp quyền, bà Trang còn được biết đến là người viết về các vấn đề môi trường quan trọng. Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới đã trao Giải Tự do Báo chí cho bà Trang năm 2019 để ghi nhận sự đóng góp này.”

Bà Melanie Joly, ngoại trưởng Canada, được dẫn lời: “Các nhà báo đóng vai trò thiết yếu trong bất kỳ nền dân chủ nào bằng cách đề cập các vấn đề quan trọng của thời đại chúng ta. Thay mặt cho tất cả người dân Canada, tôi xin trân trọng cảm ơn sự can đảm và quyết tâm của bà Trang trong việc thể hiện quyền của nhà báo. Canada sẽ tiếp tục đấu tranh cho tự do báo chí rên toàn thế giới.”

Thông cáo của Sứ Quán Anh cũng đưa nhận định: “Nền dân chủ đang bị tấn công trên khắp thế giới, và những nhà báo rọi đèn vào những góc tối đó đang phải trả một giá đắt.”

Trước giải thưởng nêu trên, hồi trung tuần Tháng Giêng, bà Trang được một tổ chức ở Geneva, Thụy Sĩ, trao giải thưởng nhân quyền Martin Ennals 2022.

Blogger, nhà báo tự do Phạm Đoan Trang tại phiên tòa hôm 14 Tháng Mười Hai, 2021. (Hình: Phạm Kiên/Thông Tấn Xã Việt Nam)

Ban tổ chức giải thưởng này đặc biệt nhắc đến những sáng kiến truyền thông độc lập của bà Trang, bao gồm Luật Khoa tạp chí và nhà xuất bản Tự Do. Theo họ, trong một quốc gia độc đảng như Việt Nam, những tổ chức độc lập này đã truyền cảm hứng cho rất nhiều người khác cùng lên tiếng vì nhân quyền, và đó cũng là lý do khiến bà Đoan Trang trở thành mục tiêu trấn áp của chính quyền.

Ông Trịnh Hữu Long, người đồng sáng lập Luật Khoa tạp chí, viết trên trang này: “Giải thưởng Martin Ennals gửi đi thông điệp mạnh mẽ và rõ ràng đến chính quyền chuyên chế của Việt Nam, và quan trọng hơn là đến người dân Việt Nam, rằng những gì Trang đã làm là đúng đắn, và cộng đồng quốc tế đứng về phía bà ấy.”

Trang Luật Khoa cũng cho biết thêm, bà Trang vẫn đang bị giam tại Hà Nội, không được phép gặp gia đình và không được điều trị y tế trong khi sức khỏe ngày càng giảm sút. (N.H.K) 

TRẦN NGUYÊN THAO – HỆ LỤY ĐÈ LÊN KINH TẾ VIỆT NAM, DO NỢ XẤU NGÂN HÀNG GẤP ĐÔI

TRẦN NGUYÊN THAO – HỆ LỤY ĐÈ LÊN KINH TẾ VIỆT NAM, DO NỢ XẤU NGÂN HÀNG GẤP ĐÔI

       Hệ lụy đè lên Kinh Tế Việt Nam,

DO NỢ XẤU NGÂN HÀNG GẤP ĐÔI.

 Trần nguyên Thao

Tài sản của khối Ngân Hàng Thương Mại (NHTM) đang trở thành mối quan ngại lớn đối với nền Tài Chánh quốc gia. Tính đến ngày 30/9/2021, tổng nợ xấu của 27 ngân hàng ở mức trên 113 nghìn tỷ đồng, tăng gần 26% so với đầu năm. Nợ xấu toàn khối NHTM được xác định tăng khoảng 8% cao gấp đôi chỉ trong 12 tháng. Nếu xét tới cả nợ tiềm ẩn, tỷ lệ nợ xấu tại các NHTM lớn hơn nhiều so với những gì được nói tới trong báo cáo tài chính. Nợ xấu sẽ đẩy nền Tài Chánh Việt Nam vào một cuộc khủng hoảng tài chánh và góp phần vào “rủi ro lạm phát với áp lực rất lớn” năm 2022.

Hạ tuần tháng Giêng 2021, Tạp Chí Tài Chánh cho công luận thấy sự âu lo của Tiến Sỹ Cấn Văn Lực – Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV tính toán, hiện lượng nợ đang được cơ cấu lại thời hạn trả nợ vào khoảng 355 nghìn tỷ đồng. Nếu chia cho tổng dư nợ hiện nay là 8,5 triệu tỷ đồng thì nợ xấu tiềm ẩn từ nợ cơ cấu là 4%. “Dù hy vọng 50% số nợ cơ cấu quay lại nợ tốt, nhưng như thế tỷ lệ nợ xấu cũng khoảng 2%. Cộng với tỷ lệ nợ xấu nội bảng hiện tại là hơn 2% thì nợ xấu lên tới 4%. [1] Từ lúc đó giới chuyên ngành đã thấy khó khăn thách thức rất lớn đang chực chờ đối với NHTM vào dịp cuối năm 2021”. 

Sau khi khối NHTM đã thực hiện cơ cấu lại nợ, giãn hoãn theo hướng dẫn của Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN), Phó thống đốc NHNN, Nguyễn Kim Anh hồi cuối tháng 9/2021 đã xác nhận trước Ủy Ban Kinh tế Quốc Hội về tỷ lệ nợ xấu nội bảng và nợ xấu tiềm ẩn toàn khối NHTM đến cuối năm nay dự kiến sẽ ở mức từ 7,1% – 7,7%, xấp xỉ 8%. [2] Hệ lụy của nợ xấu tăng cao sẽ ảnh hưởng rất xấu lên nền Kinh Tế trong các năm kế tiếp.

Ngược dòng thời gian: năm 2016, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống ngân hàng là 2,46%, năm 2017 giảm xuống còn 1,99%, năm 2018 còn 1,91%, năm 2019 là 1,63% và năm 2020 là 1,76%. Nếu tính cả khoản nợ đã bán cho VAMC nhưng chưa xử lý được và nợ xấu tiềm ẩn thì năm 2016 là 10,58%, năm 2017 là 7,36%, năm 2018 là 5,85%, năm 2019 là 4,43% và sang đến năm 2020 là 3,81%.

So sánh nợ xấu ngân hàng ở hai thời điểm, tháng Giêng đến cuối năm 2021, đều do những tiếng nói thẩm quyền chuyên ngành, qua Tạp Chí Tài Chánh, trực thuộc Bộ Tài chính; Là cơ quan báo chí có bề dày truyền thống lâu đời nhất của ngành Tài chính với gần 60 năm trưởng thành và phát triển, cho thấy chỉ chưa tròn 12 tháng, nợ xấu toàn NHTM tăng gấp đôi.

Nợ xấu của khối NHTM được dự báo sẽ còn tiếp tục kéo dài sang các năm sau khi doanh nghiệp chưa thể phục hồi và những khoản nợ sau khi được tạo điều kiện cơ cấu lại nhưng vẫn không thể cải thiện sẽ buộc hệ thống phải chính thức ghi nhận là nợ xấu.

Đó là chưa tính đến tương lai khi gói kích cầu được chấp thuận bằng cách hỗ trợ lãi suất mỗi năm khoảng 20.000 tỷ, hai năm khoảng 40.000 tỷ. Nếu hỗ trợ 4% thì tín dụng có 1 triệu tỷ đồng đưa vào nền kinh tế, như Bộ Tài Chánh mong đợi.

Trong lúc Việt nam vẫn chưa kiểm soát được CoVid lây lan, khoản tín dụng lớn được hỗ trợ lãi suất như thượng dẫn, nếu không hoàn toàn dùng cho sản xuất, mà lại đem đầu tư “nóng” vào Thị Trường Chứng Khoán, Bất Động Sản dễ bị bong bóng hay dịch vụ thua lỗ, thì chẳng những NHTM không thu được lãi mà còn mất luôn vốn. Khi đó nợ xấu ngân hàng sẽ rất xấu. Ngành tài chánh sẽ rơi vào khủng hoảng trầm trọng.

Năm 2009, do nhu cầu đầu tư tiêu dùng, CSVN đưa ra gói kích cấu 122.000 tỷ đồng (6,9 tỷ Mỹ kim). Trong đó, riêng năm 2009, dành 106.600 tỷ đồng (5,7 tỷ Mỹ kim), tương đương 5,6% GDP lúc đó để kích cầu kinh tế. Bộ trưởng Kế Hoạch Đầu Tư Nguyễn Chí Dũng cho biết gói kích thích này khiến lạm phát tăng cao, năm 2010 và 2011 lần lượt là 9,2% và 18,6%. Đầu tư dàn trải gây nợ đọng lãng phí, nhiều dự án đình hoãn từ năm 2011 đến nay chưa giải quyết được hậu quả.

Do kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng năm 2009, hôm 12/11, trước Quốc Hội, Thống Đốc NHNN Nguyễn thị Hồng cảnh báo, năm 2022, “rủi ro lạm phát có áp lực rất lớn”.[3]

Tháng 9 năm 2020, báo cáo Tái Chánh ghi nhận Đảng CSVN nắm giữ 7 ngân hàng thương mại quốc doanh: Agribank, Vietcombank, VietinBank, BIDV, GPBank, CBBank và OceanBank có tổng tài sản lớn hơn toàn khối ngân hàng tư nhân, đạt trên 5,2 triệu tỷ đồng, tăng 7,12% so với đầu năm và giữ tỷ trọng lớn nhất với 43,4%. Trong đó có 3 ngân hàng là BIDV, VietinBank và Vietcombank, mang 40 ngàn tỷ đồng nợ xấu , mà 50% số nợ này đang đứng trước nguy cơ sẽ mất vốn hoàn toàn [4].

Báo cáo tài chính quý III/2021 (30/9/2021) vừa công bố, dư nợ xấu chỉ tính tại 27 NHTM niêm yết cổ phiếu và giao dịch trên thị trường chứng khoán đã tăng lên con số 113.006 tỷ đồng, tức cao hơn 26% so với thời điểm đầu năm. Trong đó, Nam Á Bank có mức nợ xấu cao nhất lên tới gần 150%, đạt 1.894 tỷ đồng. Số ngân hàng có nợ xấu tăng chiếm xấp xỉ 2/3. Vào thời điểm này năm 2020, mới có 23 NHTM mang nợ xấu.

Khối NHTM quốc doanh gây ra một khoản nợ xấu khổng lồ. Trong đó có 4 ngân hàng quốc doanh, năm 2020 từng mang “Bad Name” về nợ xấu, năm nay lại tiếp tục được “bảng vàng đề danh”:

  • Agribank giữ vị trí “quán quân” đứng đầu 10 ngân hàng có nợ xấu với gần 24.429 tỷ đồng, tăng 13,5% so với cuối năm trước (báo cáo tài chính riêng lẻ, Quý II/2021).  
  • BIDV, đoạt giải nhì, với 21.433 tỷ đồng, chiếm 1,61% tổng dư nợ cho vay khách hàng,
  • Vietcombank (VCB) và VietinBank (CTG) đứng vị trí tiếp theo với mức tăng lần lượt là 108% và 90% so với đầu năm.

Tổng nợ xấu của Vietcombank và VietinBank đạt xấp xỉ 30.000 tỷ đồng. Riêng số nợ tăng thêm của hai “ông quốc doanh” này lên tới trên 14.200 tỷ đồng, chiếm hơn 60% số nợ xấu tăng của gần 30 nhà băng thuộc khối NHTM.

 

Như vậy, quy mô nợ xấu của 4 ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, VietinBank và Vietcombank tính đến hết tháng 9 trên 67.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 58,1% tổng nợ xấu của các ngân hàng được thống kê.

Thống kê đến cuối tháng 9/2021, các tổ chức tín dụng đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 278.000 khách hàng với dư nợ 238.000 tỷ đồng. Nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng từ 23/01/2020 là khoảng 531.000 tỷ đồng.

Tính đến đầu tháng 10/2021, có 50 ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam, thì có 9 ngân hàng thuộc thuộc khối quốc doanh do Nhà Nước quản lý [5].

Ba trong số 4 nhà băng rất yếu kém, gồm: 3 ngân hàng Quốc Doanh là Xây Dựng (Contruction Bank); Đại Dương (Ocean Bank); Dầu Khí (Global Petrol Bank) và Đông Á Bank (ngoài Quốc Doanh) phải xây dựng hoàn thiện phương án cơ cấu lại để cơ quan liên bộ xem xét.

Năm 2015, từng có 3 Ngân hàng gồm, Xây dựng (Việt NamCB, nay đổi là CBBank), Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu (GPBank) và Ngân hàng Đại Dương (OceanBank), bị NHNN mua lại “0 đồng” nhằm tái cơ cấu, đảm bảo sự an toàn, ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, đồng thời góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Tháng 9 năm 2017, dân chúng từng xôn xao về Luật Các Tổ Chức Tín Dụng quy định người gửi tiền, bất kể tài khoản có hàng tỷ đồng, cũng chỉ được bồi thường 75 triệu đồng khi ngân hàng giải thể.

Chủ Tịch Quốc Hội Vuơng Đình Huệ hôm 12/10 đã yêu cầu Bộ Tài chính, NHNN nghiên cứu giải pháp cải thiện thể chế, luật pháp, ưu đãi… để moi vàng và ngoại tệ trong dân, bởi theo ông “nguồn lực trong dân còn nhiều”.

Năm ngày sau (17/10) báo Nhà nước đăng tin dân chúng “nháy” nhau giảm gởi tiền vào hệ thống NHTM. Kết quả là tiền từ dân gời vào NHTM đã giảm đến 1000 tỷ đồng. Như thế, đủ cho thấy toàn dân biết rõ Nhà Nước dùng chiêu bài cứu Kinh tế nhằm “nặn hầu bao” của dân là vô hiệu.

Tồn tại bằng “phỉnh lừa & chiếm đoạt” CSVN đã tùng xẻo nguồn tiền từ hàng ngàn dự án đầu tư công chậm tiến độ hàng chục năm, tăng vốn vô tội vạ; 14 hiệp định thương mại (FTA) hiêu lực 28 năm nay và biết bao nhiêu công ty quốc doanh khai lỗ . . . đều vào túi các đảng viên cộng sản. Trong lúc dân chúng tại 47 tỉnh được Bộ Trưởng Tài Chánh xác nhận đang đói khổ.

Mới đây, video dài 41 giây mô tả cảnh “thánh rắc muối” đút vào mồm Bộ Trưởng Công An Tô Lâm, miếng thịt bò dát vàng trị giá hàng ngàn Mỹ Kim tại một nhà hàng ở London hôm 3/11 càng làm cho dân chúng xác tín rằng, đảng CSVN là giai cấp “Mafia mới” cần loại bỏ, vì không thể hoàn thiện.

Trần Nguyên Thao

18 Nov

Tham khảo :

[1] https://tapchitaichinh.vn/ngan-hang/bat-ngo-no-xau-ngan-hang-331430.html

[2] https://tapchitaichinh.vn/ngan-hang/tong-no-xau-cua-27-ngan-hang-da-tang-gan-26-341494.html

[3] https://vnexpress.net/thong-doc-rui-ro-lam-phat-nam-2022-rat-lon-4384720.html

[4]https://firstnewsinworld.com/vi/no-xau-tai-3-ong-lon-ngan-hang-da-hon-40-000-ty-hon-nua-trong-so-do-la-no-co-kha-nang-mat-von/

[5] https://thebank.vn/blog/6448-danh-sach-ngan-hang-thuoc-so-huu-nha-nuoc-hien-nay.html