Làm chính sách hay tập làm văn

Làm chính sách hay tập làm văn

Huy Đức

2-6-2022

Từ khóa II đến khóa VII, Quốc hội ta cơ cấu đại biểu bao gồm cả người chăn bò và công nhân vệ sinh. Trong những lần trả lời phỏng vấn tôi, anh Hồ Giáo kể, khi cần ông phát biểu, Văn phòng thường chuẩn bị trước rồi đưa giấy cho ông, ông chỉ cần lên đọc. Bởi thế, ngay cả hồi đó mà cũng có mạng xã hội, chưa chắc đại biểu đã có khả năng “mua vui” như mấy ngày qua.

Lỗi không phải chỉ ở từng đại biểu.

Tôi tìm lại Luật Quy hoạch, Luật được nhắc nhiều nhất mấy ngày họp đầu. Hiếm có văn bản luật nào lại được trình bày một cách tăm tối như Luật này. Tôi cố gắng đọc đi đọc lại cả 59 điều mà không thấy rõ, đâu là “quy phạm”, đâu là “chính sách”. Luật Quy Hoạch không phải là cá biệt, nếu không thay đổi tư duy làm luật thì Quốc hội, nơi lẽ ra phải làm chính sách, chỉ có thể làm tập làm văn.

Một trong những luật ban hành sớm nhất kể từ sau Hiến pháp 1992 là Luật Đất Đai. Những chính sách tiến bộ hơn kể từ sau đổi mới được đưa một cách thận trọng vào luật này. Nhưng, một phần của những chính sách này gần như đã bị phá hỏng bởi Pháp lệnh 14-10-1994 (luật mẹ của Nghị định 18).

Tiến trình sửa đổi Nghị định 18, bãi bỏ Pháp lệnh 14-10-1994, trả lại cho các tổ chức (chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân) “quyền sử dụng đất” là một tiến trình đấu tranh chính sách (giữa cải cách và bảo thủ). Các văn bản liên quan đến Luật Đất Đai ở giai đoạn này vẫn khá mạch lạc và những lần sửa đổi chỉ là sửa đổi những điều luật chính, liên quan.

Luật Đất Đai 2003 là một bước lùi về chính sách, trao cho Nhà nước nhiều quyền thu hồi đất đai hơn. Nhưng, cái tôi muốn nói là tham vọng sửa đổi toàn diện Luật Đất Đai 1993 trong năm 2003 đã mở đầu một thời kỳ Quốc hội bị kéo vào công cuộc làm văn bản chứ không phải làm chính sách.

Tôi vẫn cho rằng, không gian chính trị này vẫn chưa đủ chín để đụng đến vấn đề “đất đai thuộc sở hữu toàn dân”. Tuy nhiên, vẫn có thể thay đổi nội hàm của nó, vẫn có thể sửa chính sách và có một cách tiếp cận khác để làm luật đất đai rõ ràng, ngắn gọn.

Không có cái gì có thể bán được hàng trăm triệu, hàng chục tỉ đồng mà không gọi là tài sản. Đất đai của một quốc gia tồn tại ở các dạng: tài nguyên và tài sản… Tài sản có tài sản công (đất công) và tài sản tư (đất tư). Đã là tài sản thì phải được hiến pháp bảo hộ và nó chỉ được quyết định bởi quan hệ dân sự và tư pháp.

Tuy nhiên, khác với động sản, bất động sản, ngay cả ở những quốc gia có đa sở hữu. Thì không phải cứ là chủ đất thì muốn làm gì thì làm. Nhà nước bảo hộ để người dân thực thi các quyền dân sự, sang nhượng, mua bán…; khi có tranh chấp (với nhau hoặc với nhà nước) thì chờ phán quyết của quyền tư pháp. Khi đã coi quyền sử dụng đất là tài sản thì không nên áp dụng quyền hành chánh thu hồi, mà nên áp dụng quyền trưng dụng, trưng mua mà Hiến pháp có trao cho Nhà nước.

Nhà nước chỉ nên sử dụng quyền hành chánh để kiểm soát mục đích sử dụng đất và quyền phát triển (trồng cây, xây nhà trên đất…).

Với cách tiếp cận này, luật đất đai chỉ cần dăm, bảy điều và luật quy hoạch cũng không nên “vẽ cả ngày mai thành bức tranh…” khi mà chưa biết nguồn lực từ đâu ra cả.

Thay vì quy hoạch, luật cần đưa ra những quy phạm rõ ràng, ví dụ: Nghiêm cấm chuyển đất nông nghiệp ở những nơi màu mỡ (Văn Giang, Ecopark…) thành đất đô thị; Nghiêm cấm lấp ao, hồ, sông ngòi tự nhiên; Trong quá trình phát triển đô thị cứ lấp một mét ao hồ ở chỗ này thì phải đào lại một mét ao hồ ở nơi khác trong phạm vi cùng chịu tác động của khu đô thị ấy…

Hoặc: Nhà ở không được xây bám theo các trục đường giao thông; các cụm dân cư phải được bố trí đường riêng và phải ở cách xa đường giao thông một khoảng cách nhất định (cao tốc xa hơn đường liên tỉnh, liên huyện…).

Nếu trong thập niên 1990s đã áp dụng nguyên tắc này thì bây giờ tai nạn giao thông đã không nhiều và muốn mở rộng đường sá đã không vất vả thế; khu Bàu Cát (Tân Bình), Kỳ Hòa (quận 10), Đinh Bộ Lĩnh (Bình Thạnh)… đã không ngập lụt. Và, thay vì cắm cúi làm quy hoạch, nếu ngay sau Đại hội VII, Quốc hội có luật cấm xây nhà riêng lẻ cách điểm tiếp nước Hồ Tây từ 3 – 5 trăm mét; kiểm soát xây cất từ chân đê tới mép dòng chảy sông Hồng đoạn đi qua Hà Nội thì giờ Thủ đô đã khác.

Đừng coi việc làm luật cũng là một cơ hội như làm… dự án. Tư duy chưa thay đổi, điều kiện chưa chín muồi thì chưa thể có thay đổi về chính sách (nhất là trong chính sách đất đai, có người muốn giữ sở hữu toàn dân vì sợ chệch hướng; có người muốn giữ quyền thu hồi đất của nhà nước vì lợi ích).

Chưa thay đổi về chính sách mà sửa luật thì chỉ làm tập làm văn. Và nếu không thay đổi chính sách một cách toàn diện thì đừng sửa toàn văn luật hay bộ luật mà chỉ cần ra một luật sửa đổi chỉ 1, 2 điều là đủ.

Bà Phan Thị Mỹ Dung, ĐBQH tỉnh Long An. Ảnh chụp màn hình báo Tuổi Trẻ

Phải có phương pháp làm việc khoa học để đừng làm mất thời gian của Quốc hội. Nên đưa các vấn đề chính sách ra để các nghị sĩ thảo luận (thay vì để đại biểu ăn nói như một đại cử tri). Khi đã hình dung quyết sách thì để các Ủy ban cùng đội ngũ chuyên môn thiết kế các “quy phạm” trước khi trình Quốc hội thông qua, biểu quyết.

Quyền lực của Quốc hội càng độc lập với Chính phủ càng tốt khi thực thi giám sát. Nhưng, chương trình nghị sự của Quốc hội mà nếu không bám sát chương trình hành động của Chính phủ (phản đối hay ủng hộ) thì các phát biểu ở Quốc hội rất dễ trở nên lạc lõng. Lạc lõng như những ông chồng thay vì nhặt rau, bế con, chỉ chăm chăm sang nhà khác nhìn xem vợ hàng xóm xinh hay xấu.

NGHĨ VỀ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC HIỆN NAY

 Lê Hoàng Nam

Bài viết hay và đầy trách nhiệm của một công dân

NGHĨ VỀ CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC HIỆN NAY

Từ đầu thập niên 1950 đến nay, đã hơn 70 năm trôi qua, với sự ra đời của khoảng 3 thế hệ tiếp nối nhau. Vậy mà những gì thế hệ sinh vào những năm 1940 -1950 tại miền Nam đã trải qua, so với những gì mà thế hệ hôm nay đang chứng kiến, tưởng như là một giấc mộng dài.

Còn nhớ rõ vào đầu thập niên 1950, khi chúng tôi học Tiểu học, quyển Quốc văn Giáo khoa thư (và nhiều sách học khác) sờn cả bìa, cả gáy, vì được chuyền từ nhiều lớp đàn anh xuống nhiều lớp đàn em, chuyền từ ông anh xuống cô em trong gia đình. Những quyển sách học đó đã tồn tại từ ngày phát hành đầu tiên năm 1926 cho đến thập niên 1960!

Thời đó, hàng năm, Bộ Quốc gia Giáo dục của chế độ miền Nam chỉ ban hành chương trình học chi tiết cho cả năm mà không hề kèm theo một bộ sách giáo khoa bắt buộc nào. Thầy cô giáo bằng vào kiến thức trong đầu, những sách vở mình có được, dạy sao miễn đáp ứng được yêu cầu do chương trình của Bộ đề ra, học sinh thi đỗ nhiều. Tôi còn nhớ rõ, năm 1959, thầy Nguyễn Duy Diễn dạy Việt văn, thầy Tạ Thanh Sơn dạy Sử Địa cho chúng tôi, khi vào lớp chẳng mang theo sách vở gì, cứ đứng trên bục giảng mà thao thao bất tuyệt.

Vào những thập niên 1950-1960, tại miền Nam, trong các kỳ thi Trung Học Đệ nhất cấp (Phổ thông cơ sở), Tú Tài I (hết lớp 11), Tú Tài II (Phổ thông Trung học), tỉ lệ số thí sinh thi đỗ thường chỉ đạt từ 25 – 45%, hầu như không bao giờ đạt đến mức 50%. Đó là tỉ lệ xác định đúng thực chất kết quả học tập của học sinh cả nước, đồng thời cũng là động lực thúc đẩy mỗi em phải cố gắng học tập để không phải ở lại lớp cũ nhiều lần.

Sách tham khảo để đọc bổ sung vào kiến thức nhà trường thì trăm hoa đua nở, do các thầy cô giáo, công lập cũng như tư thục, soạn thảo với tư cách cá nhân, sách nào học sinh thấy hay, phù hợp với nhu cầu kiến thức của mình thì mua về đọc. Sách của ông bà Tăng Xuân An, Nguyễn Sỹ Tế, Nguyễn Duy Diễn, Bùi Hữu Đột, Bùi Hữu Sủng, Trần Bích Lan, Trần Văn Hiến Minh, Nguyễn Văn Mùi … chen vai thích cánh trên thị trường sách đọc một cách thật bình đẳng và lành mạnh, Bộ QGGD không can thiệp vào quá trình biên soạn, in ấn và phát hành bao giờ.

Ngày nay, sau hàng 60-70 năm, nền giáo dục hiện đại đặt ra cho mỗi chúng ta nhiều điều để lo nghĩ. Đó là những chính sách giáo dục lấy thành tích ảo và lợi nhuận làm tiêu chí hàng đầu. Học sinh phải thi đỗ gần 100% thì nhà trường, thầy cô mới không bị khiển trách, từ đó, các em ỷ lại vào kết quả đoán trước được, không phấn đấu trong học tập, vì không ai dám đánh rớt mình. Lấy cớ cần phải “cải cách giáo dục” hàng năm, sách giáo khoa in xong, ngốn khối tiền của phụ huynh học sinh, qua năm sau trở thành mớ giấy lộn! Với vài chục triệu học sinh các cấp, hàng năm người ta thải ra hàng chục triệu mớ giấy lộn như thế!

Đất nước còn nghèo, nhiểu bậc cha mẹ còn lam lũ, khổ sở với từng miếng ăn, vậy mà cứ vào mỗi đầu niên học lại đối mặt với cơn ác mộng sách giáo khoa và nhiều thứ quỹ không tên của nhà trường. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật, nghiệp vụ, mà quan trọng hơn cả, còn là vấn đề đạo lý nữa. Bởi vì ai cũng biết rằng hàng năm, lượng sách giáo khoa in mới ngốn một ngân khoản khổng lồ từ túi tiền của đa số dân nghèo. Kết quả hoạt động giáo dục theo chiều hướng kinh doanh đó thu về cho ngân sách quốc gia bao nhiêu, còn bao nhiêu chảy vào túi người soạn sách, kẻ in sách, kẻ phát hành sách thì chỉ có … trời biết!

Điều khiến cho nhiều người dân … không vui là những vấn đề chúng ta nói đến hôm nay đã được nhắc đi nhắc lại từ rất nhiều năm trước. Vậy mà những người làm giáo dục vẫn bình chân như vại, xem như nước đổ lá khoai. Thậm chí không ít lần, dư luận dành cho cá nhân người cầm đầu nền giáo dục nước nhà những ngôn từ thiếu tôn trọng, khiến cho những ai quan tâm đến vận mệnh của thế hệ trẻ không khỏi đau lòng.

Thiển nghĩ, vấn đề giáo dục hiện nay, trong đó nổi cộm là vấn đề sách giáo khoa, nội dung chương trình giảng dạy và cách giảng dạy, cần được xem là vấn nạn lớn của cả nước, không chỉ riêng của Bộ Giáo dục. Toàn bộ bộ máy đầu não của quốc gia, từ Quốc Hội, Chính phủ, các cơ quan liên bộ trở xuống, cần được vận dụng để gỡ cho xong cái mớ bòng bong giáo dục đang thít chặt vào cuộc sống lầm than của đại bộ phận người lao động trong nước.

Với tư cách là những người đóng thuế để nuôi bộ máy chính quyền, mọi người dân có quyền đòi hỏi tinh thần trách nhiệm của những người sử dụng các đồng tiền thuế đó.

Lê Nguyễn

30.5.2022

Xây dựng chủ nghĩa xã hội, xã hội hóa và ơn… đảng!

Xây dựng chủ nghĩa xã hội, xã hội hóa và ơn… đảng!

Blog VOA

Trân Văn

1-6-2022

Một lớp học tại trường Nhị Đồng, Bình Dương. Hình minh họa. Nguồn: VNN

Học phí ở tất cả các cấp thuộc hệ thống giáo dục phổ thông (nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) đã tăng, đang tăng và sẽ còn tiếp tục tăng chưa biết đến khi nào thì ngừng, thậm chí tăng vài lần, có nơi như TP.HCM, học phí THCS tăng gấp năm lần (1). Học phí đại học cũng thế (2). Ngoài học phí, giá bán sách giáo khoa cũng tăng từ hai đến ba lần (3). Giáo dục tại Việt Nam đã, đang và sẽ không còn là cơ hội cho tất cả mọi người!

Ai cũng biết, không có bình đẳng trong giáo dục sẽ không thể nào đạt được bình đẳng trong xã hội. Làm sao có thể xây dựng một… “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” khi càng nghèo càng thua thiệt, đặc biệt là thua thiệt trong cơ hội thụ hưởng phúc lợi trong lĩnh vực giáo dục? Vì sao hoạt động giáo dục cho tất cả các cấp thuộc hệ thống giáo dục phổ thông của đa số quốc gia trên thế giới hoàn toàn miễn phí mà Việt Nam lại đi theo hướng ngược lại?

Vì sao hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam liên tục… “đổi mới”, liên tục… “cải cách” nhưng càng… “đổi mới”, càng… “cải cách” thì những phúc lợi công cộng vốn dĩ là nền tảng của một xã hội lành mạnh càng giảm? Chẳng hạn khi… “đổi mới sách giáo khoa” để “cải cách giáo dục” thì nội dung sách giáo khoa càng lắm điều để bàn và sách giáo khoa trở thành loại sản phẩm số đông không dễ chạm tới, phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” mới chạm được, khác với đa số trong phần còn lại của nhân loại – được cấp phát!

Sách giáo khoa vốn là loại sản phẩm cần cập nhật thường xuyên. Bởi hàm lượng tri thức trong sách giáo khoa cần phải vừa đủ, vừa đúng với thực tại, giá sách giáo khoa thường không rẻ. Thù lao không xứng đáng, không mấy người có khả năng muốn bỏ sức làm công việc vốn chẳng dễ dàng này. Tuy nhiên ở nhiều xứ khác, phụ huynh không cần phải bận tâm đến giá sách giáo khoa cũng như các ấn phẩm hỗ trợ con cháu họ học tập. Chính quyền – được trả lương để quản trị, điều hành – phải giải quyết điều đó.

Ở Việt Nam, “dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của đảng”, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền đã dùng… “xã hội hóa” chuyển nghĩa vụ của họ trong những lĩnh vực vốn là phúc lợi công cộng thành trách nhiệm công dân, chất gánh nặng giáo dục, y tế lên vai và lưng của dân chúng. Điểm khác biệt ấy giữa “chế độ xã hội chủ nghĩa” với đa số thuộc phần còn lại của nhân loại được định nghĩa là… “sự ưu việt”. Không thừa nhận… “sự ưu việt” này sẽ bị loại trừ.

Xét về bản chất, chỉ trích Bộ trưởng Giáo dục nói riêng và ngành giáo dục – đào tạo nói chung là… bất bình theo… định hướng. Chính phạm không phải là Bộ trưởng Giáo dục và ngành giáo dục – đào tạo. Phải chất vấn Tổng Bí thư, Chủ tịch Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng, rằng vì sao đảng giành quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối mà nghèo lại phải chịu thua thiệt về đủ mọi mặt, kể cả trong lĩnh vực giáo dục? Vì sao “đổi mới” và “cải cách” trong tất cả các lĩnh vực lại chỉ tạo ra cơ hội cho thiểu số có liên quan?

***

Giáo dục – đào tạo chỉ là một lĩnh vực vốn phải trở thành phúc lợi công cộng nhưng càng ngày càng xa tầm với của thành phần yếu thế. Y tế cũng vậy! Câu chuyện bé gái bốn tuổi, ngụ ở thôn Ma Y, xã Phước Tân, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên, mới uổng mạng vì bị rắn cạp nia cắn nhưng các bệnh viện từ huyện đến tỉnh bó tay chỉ vì không có huyết thanh kháng nọc rắn là một ví dụ cho thấy sự tàn bạo, phi nhân của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền đối với tính mạng, sức khỏe của công dân.

Giá huyết thanh kháng nọc rắn chỉ ngang với các loại dược phẩm thông thường. Không chỉ Bệnh viện huyện Sơn Hòa, Bệnh viện tỉnh Phú Yên không có mà các bệnh viện chuyên khoa nhi hàng đầu ở miền Nam Việt Nam như Bệnh viện Nhi đồng 1, Bệnh viện Nhi đồng 2 ở TP.HCM cũng không có. Lý do các bệnh viện không có được giải thích là vì nhu cầu tiêu thụ thấp, giá bán thấp, lợi nhuận không đáng kể nên các doanh nghiệp có quyền nhập cảng dược phẩm không mua và Bộ Y tế không thèm lo (4)!

Tổng Bí thư, Chủ tịch Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng chẳng bao giờ bận tâm đến những chuyện thuộc loại như vậy. Tại Việt Nam, các lĩnh vực vốn được thên hạ xác định là phúc lợi công cộng đều đã được… “xã hội hóa”, có nghĩa là dân chúng phải tự cứu lấy mình, không tự cứu được thì… thôi. Hệ thống chính trị, hệ thống công quyền chỉ bận tâm đến chuyện làm sao để đảng tiếp tục nắm giữ quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối để… tiếp tục xây dựng CNXH!

Cuối tuần vừa rồi, Hà Nội lại ngập nặng. Chỉ trong vòng một tuần, nhiều thứ tài sản cá nhân ở thủ đô Cộng hòa XHCN Việt Nam chìm sâu trong nước hai lần (5). Giống như nhiều lần trước và ở nhiều nơi khác trên khắp Việt Nam, thiệt hại đa dạng và không nhỏ do cả hai cơn mưa lớn (một vào 23/5/2022, một vào 29/5/2022) do các nạn nhân tự gánh vác, tự giải quyết. Dù rõ ràng đó là lỗi trong quản trị, điều hành của cả hệ thống, những chỉ trích gay gắt nhất cũng chỉ hướng vào chính quyền thành phố Hà Nội.

Giống như nhiều lần trước và ở nhiều nơi khác trên khắp Việt Nam, Không có bất kỳ viên chức nào trong số những cá nhân hữu trách từ trung ương đến địa phương xác định đó là trách nhiệm của mình hay của tập thể do mình lãnh đạo đã phạm sai lầm, thiếu trách nhiệm trong soạn – phê duyết – thực thi chính sách quản trị, điều hành hạ tầng đô thị. Sau khi bi bô về… “vị thế”, về… “đô thị thông minh”, những cá nhân này đang bận chuẩn bị để bi bô tiếp về… “chuyển đổi số nhằm thúc đẩy, tạo động lực đổi mới, sáng tạo” (5)!

Chú thích

(1) https://vnexpress.net/hoc-phi-o-tp-hcm-du-kien-tang-cao-nhat-5-lan-4463262.html

(2) https://zingnews.vn/hoc-phi-dai-hoc-tang-co-truong-cao-gap-doi-post1321339.html

(3) https://dantri.com.vn/giao-duc-huong-nghiep/phu-huynh-noi-ve-sach-giao-khoa-dat-gap-2-3-lan-nam-sau-co-tang-nua-khong-20220525211922594.htm

(4) https://tuoitre.vn/benh-nhi-tu-vong-do-ran-can-vi-sao-benh-vien-khong-co-huyet-thanh-20220524073426184.htm

(5) https://www.moha.gov.vn/tin-noi-bat/thu-tuong-chuyen-doi-so-la-dong-luc-thuc-day-doi-moi-sang-tao-47445.html

Đã là trường công thì sao còn thu học phí?

Đã là trường công thì sao còn thu học phí?

Hoàng Hải Vân

Học phí trường công đang rục rịch tăng bằng lần, giá sách giáo khoa cũng đang rục rịch tăng bằng lần. Hai năm qua công cuộc phong toả chống dịch khiến cho dân chúng nghèo đi, một bộ phận khá đông lâm vào cảnh điêu đứng, học phí trường công tăng giá, sách giáo khoa cũng tăng đè thêm gánh nặng cho dân trong khi thu ngân sách không những không giảm xu nào mà còn tăng cao đến mức Chủ tịch nước cũng lấy làm lạ.

Thu ngân sách tăng mạnh mà học phí trường công giá sách giáo khoa cũng tăng mạnh là điều lạ lùng, bất kỳ sự giải thích nào cũng không có sức thuyết phục.

Công cuộc Đổi mới đất nước đã mang lại rất nhiều thành tựu, nhất là thành tựu xoá đói giảm nghèo, nhưng sự nghiệp giáo dục thì rối như gà mắc tóc.

Nước ta từng có một nền giáo dục tiên tiến trước năm 1975, ở cả hai miền Nam Bắc. Ở miền Bắc, đã từng có một nền giáo dục hoàn toàn miễn phí từ mẫu giáo đến đại học với chất lượng không thể nói là không cao (sự miễn phí này đã kéo dài thêm một số năm sau khi Việt Nam thống nhất). Ở miền Nam, ngoài giáo dục tiểu học bắt buộc và miễn phí, toàn bộ trường công cũng hoàn toàn miễn phí, em nào không đủ năng lực thi tuyển vào trường công thì có thể học trường tư, dù học trường công hay trường tư đều thi lấy bằng cấp quốc gia như nhau.

Vì không một nền kinh tế thị trường nào có thể chịu đựng được việc học miễn phí toàn bộ ở mọi cấp học như miền Bắc trước đây, nên khi tiến hành công cuộc đổi mới chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường, lẽ ra Nhà nước áp dụng học miễn phí hoàn toàn ở giáo dục bắt buộc (hiện nay là bậc tiểu học) và duy trì trường công ở mức hợp lý, còn lại để cho trường tư phát triển cạnh tranh nhau cung cấp dịch vụ giáo dục tốt nhất cho trẻ em, thì nhà nước vẫn “tham lam” vừa muốn ôm hết sự nghiệp giáo dục vừa thi với tư nhân thu học phí, ngay cả bậc tiểu học. Hiến pháp quy định không thu học phí vẫn thu khoản này khoản kia không khác gì học phí.

Chi phí cho giáo dục hiện chiếm tới 20% tổng chi ngân sách, tỷ lệ đó thuộc hàng cao nhất thế giới. Nhưng do ôm đồm nên nhà nước phải trả lương cho một bộ máy gồm thầy giáo và người quản lý giáo dục lên tới 1,2 triệu người. Người dạy học lẽ ra phải được hưởng một mức sống trên trung bình của xã hội nhưng lại trở thành nhóm người có thu nhập thuộc hàng thấp nhất trong xã hội, rất ít người có thể sống được bằng tiền lương. Ngân sách chi cho giáo dục lại dành không ít tiền cho những dự án chỉ để thể hiện vai trò của ngành chớ không đóng góp gì cho chất lượng dạy và học. Đó là chưa kể đội ngũ tiến sĩ ra đời hàng năm đông một cách dị thường, tốn kém không biết bao nhiêu là tiền bạc từ ngân sách nhưng phần lớn các tiến sĩ đó không hề có đóng góp gì cho khoa học hoặc quốc kế dân sinh.

Hậu quả là nền giáo dục và đào tạo nước nhà yếu kém đến mức có không ít cán bộ cấp cao phải được đưa sang các nước tư bản học để lấy bằng cấp, nhiều người trong số đó đã trở thành Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Trung ương Đảng và Bộ trưởng. Và một loạt quan chức cấp cao phải cho con sang các nước tư bản học, được gọi là đi “tỵ nạn giáo dục”. Trong khi trong thế giới hiện đại, chỉ cần xoá bỏ các rào cản thì tất cả hệ thống tri thức, dù là tri thức mới nhất, đều có thể được liên thông.

Mấy chục năm nay các quan chức ngành giáo dục không hề có ý định thoát khỏi những nghịch lý gà mắc tóc đó, mà càng “cải cách” càng rối rắm, càng bị ăn chửi.

Một nền giáo dục hợp lý chỉ đơn giản như thế này:

Thứ nhất, thực hiện giáo dục cưỡng bách (bắt buộc) ở bậc học phù hợp với điều kiện của nền kinh tế. Ở nước ta hiện nay được ghi trong Hiến pháp là bậc tiểu học. Đã giáo dục bắt buộc thì học sinh đi học hoàn toàn không mất tiền, không những không trả học phí mà còn được phát không sách giáo khoa và không có bất cứ khoản đóng góp nào cho trường lớp. Chỉ có như vậy mới bảo đảm cho đứa trẻ nào cũng được đi học, mới gọi là giáo dục bắt buộc.

Thứ hai, duy trì hệ thống trường công từ phổ thông đến đại học một cách hợp lý phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và điều kiện ngân sách. Hệ thống trường công chỉ tuyển chọn học sinh giỏi nhằm đào tạo nhân tài. Hệ thống trường công này phải được bảo đảm đầy đủ các phương tiện và công nghệ tiên tiến nhất cùng đội ngũ thầy giáo giỏi. Học trường công cũng phải hoàn toàn miễn phí. Trường công nhiều hay ít phụ thuộc vào điều kiện ngân sách.

Thứ ba, sự giới hạn của trường công sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các tổ chức, các nhóm xã hội phát triển trường tư. Học sinh nào không đủ khả năng thi tuyển vào trường công sẽ vào học các trường tư. Các trường tư sẽ cạnh tranh về học phí và chất lượng đào tạo. Học sinh không đủ khả năng vào trường công không có nghĩa là các em dốt hơn, vì các trường tư tốt chắc chắn sẽ tạo ra các học trò giỏi.

Thứ tư, trên thế giới đã có phong trào học mà không cần đến trường (Homeschooling, Unschooling). Như đã nói, trong thế giới hiện đại, nếu không bị rào cản thì tri thức có thể liên thông khắp mọi nơi. Trẻ em không cần đến trường vẫn có thể tiếp nhận tri thức tại nhà thông qua phụ huynh hoặc tự học. Nhà nước không cần can thiệp vào cách học của các em mà bằng hệ thống thi cử để công nhận trình độ. Nhà nước tạo điều kiện để các em không đến trường vẫn có thể đi thi để lấy bằng cấp nếu các em có nhu cầu.

Đạo lý dễ hiểu nói trên không mới mẻ gì, mà đã từng được áp dụng ở miền Nam nước ta trước năm 1975.

Tóm lại, vấn đề không phải là tăng hay giảm học phí trường công. Mà đã là trường công thì phải hoàn toàn miễn phí. Người dân đã nộp thuế để Nhà nước thực hiện sự nghiệp giáo dục, bởi vậy thu học phí trường công thực chất là thuế chồng lên thuế.

H.H.V.

Nguồn: FB HOÀNG HẢI VÂN

Từ một con số nói lên nhiều vấn đề

Từ một con số nói lên nhiều vấn đề

Đỗ Ngà

31-5-2022

Theo báo Vietnambiz, trong 3 tháng đầu năm 2022, hệ thống ngân hàng bơm thêm 526.000 tỷ đồng vào nền kinh tế, tương đương với 23 tỷ đô la. Riêng ngành bất động sản chiếm đến 30%, tức tương đương 6,9 tỷ đô la. Như vậy câu hỏi đặt ra là 6,9 tỷ đô la mà ngân hàng đã bơm thêm vào thị trường bất động sản ấy, nó được phân bố ra sao?

Được biết, trong 6,9 tỷ đô la ấy, phần vay mua nhà chiếm đến 65% trong 6,9 tỷ đô, tương đương với 4,46 tỷ đô. Trong khi đó vay để phát triển nhà chỉ chiếm 8%, tương đương 550 triệu đô la mà thôi. Còn lại người dân vay để xây nhà chỉ 5%, tương đương 343 triệu đô và vay để mua đất cũng tương đương con số đấy. Phần còn lại là vay cho vấn đề khác. Đáng chú ý ở đây là khoản cho vay để phát triển nhà và cho vay để mua nhà. Phân tích 2 khoản vay này nó nói lên bức tranh của thị trường bất động sản Việt Nam rất rõ.

Ảnh: Dữ liệu cơ cấu cho vay bất động sản. Nguồn: VietnamBiz

Các doanh nghiệp vay 550 triệu đô để phát triển nhà nhưng người dân phải bỏ ra đến 4,46 tỷ đô để mua nhà. Vậy con số chênh lệch 3,91 tỷ đô đó đi đâu? Nó chui vào túi những ông trùm bất động sản và những nhà đầu cơ ém hàng, tạo khan hiếm giả để tăng giá. Tính con số gọn cho dễ hình dung là, ngành bất động sản Việt Nam bỏ ra 1 đồng xây nhà thì người dân phải bỏ ra hơn 8 đồng để mua nhà. Các đầu nậu ngành bất động sản chia nhau món lời đến hơn 700% so với giá trị thật. Kinh! Như vậy thì làm sao giá nhà Việt Nam lại không cao hàng top thế giới? Như vậy thì làm sao giá nhà không ngày càng vượt xa tầm với của người dân?

Nhà ở bỏ trống không có người ở thì nhan nhản, nhưng bất động sản thì vẫn khan hiếm. Nguyên nhân là do đâu? Do Chính quyền này đã nuôi một đám chuyên gom hàng, ém hàng rồi tạo giá. Những doanh nghiệp thân hữu, những nhóm lợi ích lớn có trong tay sự hỗ trợ của quyền lực chính trị thì làm sao họ lại bỏ lỡ cái mâm béo bở này chứ? Người ta nói “một vốn bốn lời” đã kinh khủng thì ngành bất động sản nó đã tạo ra biên độ “một vốn bảy lời” mới đáng sợ. Tất nhiên, các đầu nậu phải chuyền qua tay nhiều lần mới nâng giá lên đến như vậy chứ không phải qua một lần nâng giá.

Các nước trên thế giới họ đã lường trước những tình huống này nên họ có những sắc thuế chế tài. Các nước có thị trường bất động sản lành mạnh họ đánh thuế vào những căn nhà bỏ không rất nặng để cho những kẻ có âm mưu mua nhiều, ém hàng thật lâu để tạo khan hiếm giả tạo phải “ói hàng ra” vì không chịu nổi thuế. Chỉ có như thế mới loại bỏ những cơn sốt do sự thiếu hụt giả tạo của nguồn cung.

Không phải nhà nước CS không biết điều này, cái đáng nói là họ biết nhưng họ không làm. Vì sao? Vì những ông làm chính sách đều có những món lợi lớn từ những đầu nậu chuyên đầu cơ bất động sản. Ra luật, thực hiện nghiêm luật thì chính túi tiền của họ cũng bị ảnh hưởng nên dại gì họ thực hiện?! Kiếm hàng chục triệu đô ăn 3 đời không hết mà cái giá phải trả chỉ là “rút kinh nghiệm” thì dại gì họ không đánh đổi? Đặc trưng của nhà nước CS là, khi làm sai đổ lỗi cho tập thể. Xong, phủi tay!

“Bọn dân đen vô gia cư kệ nó! Ai bảo nghèo chi? Miễn sao tiền đầy túi, mua xe sang, xây biệt phủ, cho con du học, mua nhà và đầu tư quốc tịch cho con là được.” Tư tưởng của giới quan lại thời CS này là thế. Cho nên, sẽ không có chính sách nào có thể đưa thị trường bất động sản Việt Nam trở nên lành mạnh hơn được. Bởi vì bản chất của quan lại thời nay chính nó sẽ làm thất bại mọi chính sách đúng đắn.

Ivan Bạo chúa và Stalin: Putin tuyên truyền khủng bố nhà nước như một truyền thống quốc gia

Ivan Bạo chúa và Stalin: Putin tuyên truyền khủng bố nhà nước như một truyền thống quốc gia

Hubertus Volmer trò chuyện với Dina Khapaeva

Vũ Ngọc Chi, chuyển ngữ

29-5-2022

Matryoshkas (búp bê lồng nhau) với hình ảnh Stalin và Putin trong một cửa hàng ở St.Petersburg. Nguồn: AP

Nhà khoa học văn hóa Nga, Dina Khapaeva cho biết: “Niềm đam mê về phương Tây là cốt lõi của bản sắc Nga. Điều này không có nghĩa tích cực: “Nếu không có sự khước từ phương Tây, bản sắc Nga không tồn tại”.

Khapaeva nói đến chính trị tưởng nhớ của Putin, có mục đích “khôi phục đế chế, quân sự hóa dư luận và tuyên truyền khủng bố nhà nước như một truyền thống quốc gia lớn”. Bà nói: “Bởi vì Putin và lũ bạn của ông ta không có dự án nào cho tương lai, họ chỉ có thể nhìn lại lịch sử và bắt chước quá khứ”.

***

Nhà khoa học văn hóa đề cập đến một cuốn tiểu thuyết của Nga xuất bản năm 2006 phù hợp “hoàn toàn với chính trị tưởng nhớ của Putin”. Lấy bối cảnh tương lai, cuốn sách mô tả cách Nga khuất phục châu Âu. Trong đó, việc xây dựng đế chế Nga bắt đầu bằng cuộc chiến chống lại Ukraine.

Trong cuốn tiểu thuyết này, nước Nga bị cai trị và khủng bố bởi một lực lượng quân cảnh. Theo quan điểm của Khapaeva, nước Nga ngày nay đang trên đường đi đến một hệ thống như vậy: “Những gì chúng ta đang thấy ngày nay là nhu cầu về  khủng bố nhà nước”, bà nói trong một cuộc phỏng vấn với ntv.de. “Thật không may, một bộ phận đáng kể dân chúng tin rằng khủng bố nhà nước, khi nó xảy ra, là vì lợi ích của nước Nga”.

Dina Khapaeva là giáo sư tại Trường Ngôn ngữ Hiện đại, thuộc Học viện Công nghệ Georgia (Mỹ). Bà vừa hoàn thành một cuốn sách đề cập đến chính trị tưởng nhớ tân trung cổ của Putin và quá trình tái Stalin hóa (Nguồn riêng của NTV)

Ntv.de: Vài năm trước, bà đã viết trong một cuốn sách về “Lịch sử các quốc gia” rằng cốt lõi của lịch sử Nga là “sự mê hoặc thường xuyên đối với phương Tây, cùng với sự thôi thúc vượt qua nó để tránh ảnh hưởng của nó”. Nghe giống như một mối quan hệ yêu-ghét.

Dina Khapaeva: Ý tưởng của phương Tây là trọng tâm của bản sắc Nga. Nếu không có sự khước từ phương Tây, bản sắc Nga không tồn tại. Điều này làm cho họ rất khác biệt so với các nền văn hóa châu Âu khác. Sự say mê về phương Tây là cốt lõi của bản sắc Nga. Đó không chỉ là một mối quan hệ yêu – ghét: Nga không thể tưởng tượng ra được mình nếu không so sánh mình với phương Tây và không từ chối phương Tây. Đó là một nền văn hóa rất đặc biệt về mặt đó.

Ntv.de: Làm thế nào để Nga và phương Tây có thể có một mối quan hệ hòa bình bình đẳng?

Sau cuộc chiến ở Ukraine, tôi không nghĩ điều này có thể xảy ra. Theo tôi, cuộc chiến này là kết quả của một chính sách tưởng nhớ mà Putin đã theo đuổi rất nhất quán trong ít nhất hai mươi năm. Chiến tranh cũng là kết quả của việc không sẵn sàng chịu trách nhiệm về những tội ác của chủ nghĩa Stalin. Rất có thể Nga sẽ bị đánh bại về mặt quân sự trong cuộc chiến này. Nếu sau đó nó không còn tồn tại như một quốc gia, nó có thể giúp xóa bỏ tham vọng đế quốc của mình.

Ntv.de: Nga nên chấm dứt là một quốc gia?

Tôi nghĩ rằng rất có thể vì cuộc chiến này mà Liên bang Nga sẽ ngừng tồn tại và tách ra thành một số quốc gia độc lập. Ở Liên bang Nga có nhiều đơn vị quốc gia có thể trở thành quốc gia độc lập.

Ntv.de: Nhưng ý bà không phải là phương Tây nên tấn công và giải thể Nga?

Tất nhiên là không rồi. Tôi hy vọng rằng chế độ này sẽ sụp đổ sau thất bại ở Ukraine. Tôi cũng hy vọng rằng phương Tây sẽ hỗ trợ quân sự kiên quyết hơn cho Ukraine. Sau chiến tranh, phương Tây sẽ không bị lừa một lần nữa bởi luận điệu của Điện Kremlin rằng Nga cần “công nhận”, “bị xúc phạm” và phải “vương dậy”. Vào năm 2007, khi tôi và gia đình vẫn còn sống ở Nga, người bạn thân yêu của chúng tôi, Hans Ulrich Gumbrecht đã đến thăm chúng tôi …

… trí thức người Mỹ gốc Đức và giảng viên đại học.

Ông ấy đến thăm chúng tôi ở St. Petersburg. Chúng tôi rất quan tâm đến hướng đi của đất nước và ông ấy nói với chúng tôi rằng tạp chí Time vừa đặt tên cho Putin là “Người đàn ông của năm”. Việc đề cử Putin là “Người đàn ông của năm” là hoàn toàn không phù hợp: các cuộc tấn công của chế độ nhằm vào các tổ chức nhân quyền và tự do dân chủ đang diễn ra rầm rộ. Bây giờ khi tôi đọc được rằng các chính trị gia phương Tây đang hành hương đến Moscow để gặp Putin, hoặc rằng Macron dành hàng giờ để nói chuyện với Putin, tôi thấy điều đó thật đáng xấu hổ. Khi các chính trị gia phương Tây giao tiếp với tội phạm chiến tranh này trên cơ sở bình đẳng, họ phá hoại nền dân chủ ở chính quốc gia của họ. Một nhà nước mafia nên được đối đãi như những kẻ lừa đảo mafia.

Ntv.de: Vào ngày 9 tháng 5, trong bài phát biểu tại Moscow, Putin nói rằng Nga là “một quốc gia có tính cách khác biệt”. “Chúng tôi sẽ không bao giờ từ bỏ tình yêu đối với quê hương, niềm tin vào các giá trị truyền thống, phong tục của tổ tiên của chúng tôi và tôn trọng tất cả các dân tộc và các nền văn hóa”. Ông ta muốn nói gì qua điều đó?

Câu trả lời cho câu hỏi này có hai khía cạnh. Đầu tiên, tôi không nghĩ rằng quá trình suy nghĩ của Putin đủ phức tạp để chúng ta phải bận tâm phân tích nó. Tôi nghĩ những gì ông ấy nói chủ yếu là những gì mà đội ngũ nghiên cứu chính sách KGB của ông ấy sản xuất ra. Người ta không được quên: Putin không phải là Napoléon hay Alexander Đại đế. Đây chỉ là một kẻ lừa đảo của KGB, một cách tình cờ hay may mắn, đã vươn lên đứng đầu quốc gia rộng lớn này. Tôi không phủ nhận khả năng nắm và giữ quyền lực của ông ấy, nhưng chúng ta không nên cho rằng ông ấy có những ý tưởng phức tạp. Khi ông ta và băng đảng của mình lên nắm quyền, họ không quan tâm đến hệ tư tưởng. Họ muốn cướp của đất nước.

Tới một thời điểm nào đó, họ tin rằng Nhà thờ Chính thống sẽ cung cấp cho họ một loại tính hợp pháp, nhưng Nhà thờ đã không thể làm như vậy. Vì vậy, phe cực hữu của Nga bắt đầu cung cấp cho Putin và những kẻ lừa đảo khác những ý tưởng đơn giản nhất về nước Nga và lịch sử Nga. Và bởi vì Putin và bạn bè ông ta không có dự án nào cho tương lai, họ chỉ có thể nhìn lại quá khứ và mô phỏng quá khứ: hãy làm giống như tổ tiên của chúng ta, hãy gắn bó với những giá trị bảo thủ! Các sự kiện lịch sử yêu thích của họ bao gồm chủ nghĩa Stalin và Chiến tranh thế giới thứ hai, cũng như thời Trung cổ của Nga, đặc biệt là thời kỳ của Ivan IV “Bạo chúa”, 1565-1572. Đây là hai thời kỳ khủng bố nhà nước ở Nga. Theo phe cực hữu ở Nga, những thời điểm này được coi là nền tảng cho việc xây dựng đế chế Nga. Sự tôn vinh hai trường hợp trị vì khủng bố này được phản ánh rất rõ ràng trong cái mà tôi gọi là nền chính trị tưởng nhớ thời tân trung cổ và nền chính trị của thời kỳ tái Stalin hóa mà Putin đã theo đuổi trong hai mươi năm qua.

Ntv.de: Putin cũng cho biết, Nga sẽ hỗ trợ đặc biệt cho con em của các binh sĩ thiệt mạng hoặc bị thương ở Ukraine. “Cái chết của mỗi quân nhân và sĩ quan của chúng ta là một nỗi đau cho tất cả chúng ta và là một mất mát không thể thay thế đối với gia đình và bạn bè của họ”. Về khả năng thuyế t phục, điều đó không khác gì cách các chính trị gia Mỹ nói về những người lính đã ngã xuống, phải không?

Khi Putin nói về “sự tôn trọng đối với tất cả các dân tộc và nền văn hóa”, ông ấy sử dụng ngôn ngữ phương Tây. Đây là tầng cấp thứ hai cần được xem xét để hiểu những phát biểu của Putin: Công chúng và các chính trị gia phương Tây nghe ông ta nói và nghĩ rằng ông ta có vẻ giống họ. Nhưng họ không nên nghe lời ông ta mà hãy nhìn vào hành động của ông ta: Cuộc chiến khủng khiếp ở Ukraine đã diễn ra hơn ba tháng nay – ông có thiệt nghĩ như vậy khi nói “tôn trọng tất cả mọi người”? Dân thường Ukraine bị khủng bố, các thành phố bị tàn phá, quân đội Nga sử dụng nhà hỏa táng di động cho chính binh lính của mình. Thi thể của binh sĩ Nga bị bỏ lại. Những người đàn ông trẻ tuổi, lớn hơn một đứa con trai một chút, được đưa vào một cuộc chiến vô nghĩa, đôi khi không có thẻ xác nhận. Khi họ chết, họ thậm chí không thể được xác định, vì vậy mẹ của họ sẽ không bao giờ biết số phận của họ. Đó là mức độ giễu cợt mà tôi không thể tưởng tượng có được ở các chính trị gia Mỹ và châu Âu. Ngoài ra, nhiều binh sĩ chết ở Ukraine còn quá trẻ để có con. Vì vậy, không có gì to tát khi Putin nói rằng ông sẽ hỗ trợ các con của họ.

Điều này làm tôi nghĩ tới những tuyên bố thông thường của Putin về sự độc đáo của nước Nga. Đối với tôi, điều đó giống như sự khởi đầu của chủ nghĩa phát xít ở Đức và Ý. Ý tưởng rằng Nga khác biệt, rằng nó là duy nhất: Điều này rất quan trọng đối với Putin và các hệ tư tưởng của ông, nó giúp họ loại bỏ Nga khỏi các chuẩn mực quốc tế và tuyên bố rằng Nga có phiên bản dân chủ của riêng mình và phương Tây không thể phán xét nếu nhân quyền hay tự do dân chủ bị vi phạm ở Nga. Điện Kremlin tuyên bố có quyền làm theo ý mình vì Nga là một nơi độc nhất.

Ntv.de: Gần đây, bà đã viết một bài báo trên tạp chí “The Atlantic“, trong đó bà đã cho là một cuốn tiểu thuyết không tưởng từ năm 2006 là một hình mẫu cho chính sách đối ngoại của chủ nghĩa đế quốc Putin: “Đế chế thứ ba” của Mikhail Yuriev. Trong cuốn tiểu thuyết này, một nhà cai trị người Nga tên là “Vladimir II”. lập nền tảng cho một đế chế bao gồm cả châu Âu. Sự mở rộng này bắt đầu với một cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine. Có bằng chứng nào cho thấy Putin biết cuốn sách này không?

Năm 2014, nhật báo Vedomosti của Nga gọi cuốn tiểu thuyết này là “cuốn sách yêu thích của Điện Kremlin” và viết rằng có tin đồn rằng nhiều thành viên trong chính quyền tổng thống, bao gồm cả Putin, đã đọc cuốn sách.

Ntv.de: Mikhail Yuriev là ai vậy?

Yuriev là một trong những nhà tư tưởng của phe cực hữu Nga, người đã cung cấp Putin với những tư tưởng tân phát xít của họ. Trước khi qua đời vào năm 2019, Yuryev thuộc về cái được gọi là – trong ngoặc kép – “giới tinh hoa chính trị”. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã cố gắng gây ảnh hưởng đến Putin. Năm 2004, ông xuất bản một tập sách nhỏ có tựa đề “Pháo đài nước Nga. Một khái niệm cho Tổng thống” – một năm sau khi nhà tài phiệt Mikhail Khodorkovsky bị bắt và bỏ tù vì tội trốn thuế và biển thủ. Khodorkovsky đã tìm cách ủng hộ phe đối lập với Putin, và việc ông bị bắt giam là một phần trong quá trình chuẩn bị cho việc Putin tái đắc cử nhiệm kỳ tổng thống thứ hai. Đây là lúc nhiều người theo chủ nghĩa dân tộc Nga, bao gồm cả Yuryev, bắt đầu đưa ra các khái niệm tư tưởng của họ cho Putin.

“Đế chế thứ 3” phát hành 2006. (Ảnh bìa)

Yuryev là một trong những tác giả ẩn danh của bộ sách “Dự án nước Nga”, bộ sách cổ vũ tư tưởng của phong trào tân Âu-Á. Cùng một hệ tư tưởng chứa đựng trong cuốn sách Đế chế thứ ba của ông: Nga nên trở lại thời Trung cổ, Nga nên là một xã hội phụ hệ do một sa hoàng thần thánh lãnh đạo, Nga nên chinh phục phần còn lại của thế giới, phương Tây là kẻ thù không đội trời chung của Nga và phải bị phá hủy. “Dự án nước Nga” đã được gửi đến tất cả các cơ quan cao cấp trong chính phủ Nga vào năm 2005. Vài năm sau, nó được xuất bản thành sách bởi một trong những nhà xuất bản lớn nhất của Nga.

Ntv.de: Nghe có vẻ có ảnh hưởng khá lớn

Để cho bạn biết Yuriev thuộc nhóm quyền lực bên trong như thế nào, vào năm 1996, ông trở thành Phó Chủ tịch Duma. Cùng năm, Putin bắt đầu sự nghiệp của mình ở Moscow, trong chính phủ Yeltsin. Yuryev từng là thành viên ban điều hành của Đảng Á-Âu do “Rasputin của Putin” Alexander Dugin, một trùm phát xít khét tiếng, thành lập. Ông đã làm ăn với những người thân tín nhất của Putin: cùng với Alexander Voloshin, thành viên chính phủ của Putin từ năm 1999 đến 2003, và Roman Abramovich, một trong những nhà tài phiệt của Putin, Yuriev là nhà đầu tư vào công ty Ethane Company của Mỹ. Người bạn thân và cũng là người bảo trợ của Yuriev, Mikhail Leontyev, một nhà tuyên truyền khét tiếng có chương trình trò chuyện Odnako phát sóng vào khung giờ vàng trên Channel One, đã được CEO Igor Sechin của Rosneft bổ nhiệm làm phó chủ tịch công ty. Sechin thân thiết với Putin từ những ngày còn ở St. Petersburg và có lẽ là một trong những người có ảnh hưởng nhất xung quanh ông.

Ntv.de: Bìa cuốn sách của Yuryev cho thấy một thế giới được chia thành năm nước. Sự phân chia thế giới này có phải là kết cục của cuốn tiểu thuyết?

Cuốn tiểu thuyết bắt đầu với việc Nga chinh phục thế giới và khuất phục châu Mỹ và châu Âu. Nhưng đó không phải là chủ đề chính của cuốn sách. Hai phần ba quyển sách nói về trật tự xã hội mới ở Nga. Nó mô tả sự cai trị của oprichniks, một lực lượng quân cảnh do Ivan Bạo chúa thành lập vào thế kỷ 16. Cuốn sách tuyên truyền một chương trình xã hội tân trung cổ: Nga là một đế chế thần quyền và một xã hội giai cấp, trong đó mọi người sống theo tầng lớp xã hội kế thừa của họ. Các oprichniks cai trị đất nước với khủng bố trắng trợn, mà Juriev mô tả chi tiết đẫm máu. Họ có tất cả quyền lực chính trị. Hai giai cấp khác – các giáo sĩ chính thống và giai cấp thứ ba, bao gồm phần còn lại của dân chúng – không có bất kỳ quyền chính trị nào.

Ntv.tv: “Đế chế thứ ba” có phải là một phần chính trị tưởng nhớ mà bà đã đề cập đến không?

Cuốn sách hoàn toàn phù hợp với chính sách tưởng nhớ của Putin, việc Điện Kremlin chỉnh sửa ký ức lịch sử của người Nga, đã được thực hiện trong hơn hai mươi năm qua. Toàn bộ ý nghĩa  chính trị tưởng nhớ của Putin là làm cho người Nga tin rằng nước Nga thời trung cổ là một xã hội tuyệt vời, một sự thay thế tuyệt vời cho nền dân chủ, tốt hơn nhiều so với nền dân chủ. Mục tiêu của chính trị tưởng nhớ này là khôi phục đế chế, quân sự hóa dư luận xã hội và tuyên truyền khủng bố nhà nước như một truyền thống quốc gia vĩ đại.

Ntv.tv: Stalin có vai trò gì đối với hệ tư tưởng này và đối với công chúng Nga?

Có hai xu hướng quan trọng trong chính sách tưởng nhớ của Nga bổ sung cho nhau. Một là sự trở lại thời Trung cổ, được hỗ trợ bởi các bộ phim, phim truyền hình và các tượng đài. Xu hướng thứ hai là tái Stalin hóa: cam kết cởi mở với chủ nghĩa Stalin, đặc biệt là chủ nghĩa quân phiệt. Việc quân sự hóa công chúng thông qua việc sùng bái chiến thắng trong Thế chiến thứ hai là một khía cạnh quan trọng của quá trình tái Stalin hóa. Theo thông tin chính thức của Điện Kremlin, sự khủng bố của chủ nghĩa Stalin đã làm cho nước Nga trở nên mạnh mẽ hơn và giúp đạt được một đế chế Liên Xô của Nga. Vì vậy, khủng bố là tốt.

Ntv.tv: Người Nga trung bình không biết rằng Stalin phải chịu trách nhiệm về cái chết của hàng triệu người sao?

Có chứ. Có nhiều cuộc thăm dò dư luận – bao gồm cả cuộc thăm dò ý kiến ​​mà tôi đã thực hiện với Nikolay Koposov – cho thấy rằng người Nga được thông báo đầy đủ về mức độ của cuộc đàn áp.

Ntv.tv: Và họ vẫn thích ông ấy? Tưởng điều đó đóng một vai trò quan trọng.

Người ta có thể mong đợi điều đó, nhưng nó không xảy ra. Xã hội này chưa bao giờ bận tâm đến những câu hỏi về trách nhiệm lịch sử. Những gì chúng ta đang chứng kiến ​​ngày nay là nhu cầu khủng bố nhà nước, được xây dựng từ thời hậu Xô Viết thông qua chính trị tưởng nhớ. Thật không may, một bộ phận đáng kể dân chúng tin rằng khủng bố nhà nước, khi nó xảy ra, là vì lợi ích của nước Nga.

Ntv.tv: Có hai cách để dịch tiêu đề cuốn sách của Yuryev sang tiếng Đức, “The Third Imperium” hoặc “The Third Reich”. Đó có phải là một bản dịch bất công cho cuốn sách?

Ồ không, đó là một bản dịch tuyệt vời. “Đế chế thứ ba” gợi lên một ý nghĩa lịch sử rất phù hợp, đặc biệt là vì Yuriev – giống như nhiều nhà tư tưởng cực hữu khác của Nga – công khai nói rằng Đức Quốc xã đưa ra những mô hình tuyệt vời cho chính trị Nga. Càng nực cười hơn khi Putin và bộ máy tuyên truyền của ông ta gọi người Ukraine là “Quốc xã” – một dân tộc đã chọn dân chủ thay vì chủ nghĩa toàn trị của Putin.

Ntv.tv: Đó không phải là một kết luận đặc biệt đáng khích lệ cho cuộc phỏng vấn này.

Thời đại chúng ta đang sống và cuộc chiến ở Ukraine không đáng khích lệ. Thật không may, cho dù bạn có ở cách nước Nga bao xa, cho dù bạn có viết bao nhiêu bài chống lại chủ nghĩa Putin, thì khi bạn sinh ra trong nền văn hóa này như tôi, đều có ý thức trách nhiệm khủng khiếp này về cuộc chiến ở Ukraine, về tội ác của chủ nghĩa Putin, mà chúng tôi không thể ngăn cản được.

NA UY – NHỮNG DẤU CHÂN LƯU LẠC – Phạm Tín An Ninh

Kimtrong Lam   Lương Văn Can 75.

Nhà văn Phạm Tín An Ninh

Trong hình là hai vợ chồng nhà văn Phạm Tín An Ninh và sáu đứa con tại Trại Hawkins Road, Singgapore sau khi vượt biên thoát khỏi Việt Nam trong thập niên 80. Nhà văn Phạm Tín An Ninh vừa là huynh trưởng vừa là chiến hữu với tôi cùng màu cờ sắc áo trong quân đội VNCH. Bà xã anh Phạm Tín An Ninh tên Trương Thu Thức là bạn học cùng lớp cùng trường thời trung học tại trường Trần Bình Trọng Ninh Hoà với tôi . Nhìn hình thấy bà bạn của mình mới bây lớn mà có tới sáu đứa con cao gần ngang vai thật là đáng nể . Chắc trong thời chiến tranh đơn vị của anh bị việt cộng pháo kích quấy rối ngủ không được nên mới nhiều con như thế. Tại hạ xin bái phục bà bạn của mình

Nhà văn Phạm Tín An Ninh là tác giả của những tác phẩm : Ở Cuối Hai Con Đường – Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân – Sau Cuộc Biển Dâu rất nổi tiếng nơi hải ngoại. Trong những câu chuyện anh viết giống như thể anh đang bơi giữa dòng sông đầy cánh lục bình . Anh quơ tay gom lại nhưng vì hai tay ngắn quá nên vẫn còn nhiều đám lục bình trôi dật dờ quanh đây nên sức anh gom không xuễ . Tôi bắt gặp những niềm đau man mác của chính tôi giống như là tất cả những uẩn khúc trong lòng được anh thấu hiểu mặc dù truyện của anh được kết nối từ những mãng sống trôi trên dòng đời của chính anh

Mời quý bạn đọc bài viết mới nhất của anh viết về Na Uy quê hương thứ hai của mình

NA UY – NHỮNG DẤU CHÂN LƯU LẠC
Phạm Tín An Ninh

Như vậy là tôi sẽ phải rời xa Na-Uy, đất nước đã cưu mang tôi và sẽ còn mãi in đậm những dấu chân tôi trong cả một quãng đời hơn 30 năm lưu lạc? Cũng như tâm trạng của những ngày tìm cách vượt biên, rời khỏi Việt Nam, nơi chôn nhau cắt rốn, câu hỏi này đã làm tôi ưu tư trằn trọc nhiều đêm, như sắp phải cắt đi một phần máu thịt ràng buộc với chính sự sống của mình.

Sau bậc trung học ở Na-Uy, bốn đứa con lần lượt được học bổng sang Mỹ du học từ năm 1990. Có việc làm sau khi tốt nghiệp, nên ba cháu đã chọn ở lại đây lập nghiệp và trở thành công dân Mỹ, mong muốn bảo lãnh cha mẹ, khi về hưu, sang sống với các cháu những năm cuối đời, và với khí hậu ấm áp của vùng biển Cali sẽ làm người già đỡ căn bệnh đau nhức các khớp xương khi mùa đông Bắc Âu mang cái lạnh trở về. Mấy năm nay, sau khi về hưu, chúng tôi cũng chỉ sang Cali ở với các con sáu tháng mùa đông, còn sáu tháng mùa hè về lại với Na-Uy. Vậy mà trong những ngày mùa đông nắng ấm Cali, tôi vẫn da diết nhớ về Na-Uy với cả khung trời ngập đầy tuyết trắng, những hàng cây trước nhà, vào đêm Giáng Sinh, đóng băng, trở thành những cây thủy tinh lung linh dưới ánh đèn đường. Tôi nhớ cả cái không khí yên bình tĩnh mịch và những người bản xứ láng giềng tốt bụng. Nhiều lúc tôi ngồi bất động, thả hồn về Na-Uy, tìm lại từng dấu chân lưu lạc của mình.

Hơn ba mươi năm trước, khi phải đành lòng bỏ lại quê hương, bao nhiêu người thân và mồ mả cha mẹ ông bà, ra đi trên chiếc thuyền đánh cá mong manh, cũng như rất nhiều người, tôi không hề nghĩ là mình sẽ đến một đất nước xa lạ có tên Na-uy. Cái tên Norway, Norvège, tôi chỉ nhớ loáng thoáng qua phim The Vikings mà tôi đã xem qua lúc còn đi học, và cái giải Nobel Hòa Bình năm 1973 trao lầm cho Kissinger – Lê Đức Thọ, đã từng gây cho tôi cái ác cảm với đất nước xa xăm lạ lẫm này. Đặc biệt, năm 1978, khi đang ở tù ngoài Yên Bái, nhân một ngày lễ lớn của Cộng sản, tổ tù chúng tôi được phát một hộp thịt cá voi. Thấy ngoài hộp thiếc có ghi “Made in Norway”, bọn tôi càng ghét thêm cái tên này, vì nghĩ đó là một quốc gia thân Cộng

Chiếc thuyền nhỏ chở theo 52 người, gần một nửa là đàn bà và con nít, ra khơi hai ngày thì gặp bão. Cả bầu trời phủ kín mây đen. Những ngọn sóng bạc đầu từ trên cao phủ xuống, như muốn nuốt chửng con thuyền nhỏ mong manh. Mệnh số 52 con người chỉ còn biết phó thác cho trời nước mênh mông. Bóng tối tử thần bủa vây khắp phía. Con thuyền bây giờ như cánh bướm nhỏ rơi giữa dòng thác lũ, chìm xuống ngoi lên tả tơi, thoi thóp. Chưa khi nào con người lại quá nhỏ bé và bất lực trước thiên nhiên như lúc này đây. Người điều khiển chiếc thuyền là anh bạn tù, một sĩ quan Hải Quân trước 75. Dù từng làm hạm trưởng, giàu kinh nghiệm hải hành, nhưng bây giờ chỉ còn biết cố giữ cho chiếc thuyền không nằm ngang để bị sóng đánh vỡ. Khả năng đó trong lúc này đã là một điều tuyệt vời, nhưng lại quá nhỏ nhoi trước sức mạnh của phong ba. Đám thanh niên thi nhau tát nước tràn vào liên tục có lúc gần ngập cả con thuyền. Chỉ sau một ngày đêm, tất cả đều mệt lã, đuối sức. Mọi người chỉ còn biết nhắm mắt, miệng lâm râm lời cầu nguyện. Bất ngờ có người hét lên và chỉ ra phía trước mặt. Tất cả nhốn nháo nhìn về hướng ấy. Một cái gì to lớn màu đỏ chói chập chờn xuất hiện giữa trùng khơi sóng gió. Mới đầu chỉ thấy mấy cái bồn lớn, tưởng như những cây trụ cao to trong một ngôi chùa vĩ đại, cho mọi người cái cảm giác như đang ở trên một thế giới nào đó, huyễn hoặc, mơ hồ. Khi nhận ra chiêc tàu thật lớn, ai cũng thầm nghĩ là có điều gì màu nhiệm được Thượng Đế gởi đến để cứu vớt chúng tôi trong cơn khốn nguy tuyệt vọng.

(Tàu chở dầu Høegh Grandia cứu vớt chúng tôi trên biển Đông)

Chiếc tàu mang cái tên với vài mẫu tự rất lạ (Høegh). Có người nghĩ là chữ Nga. Nhưng trong hoàn cảnh này dù là tàu nước nào, cũng phải sống trước đã. Nhưng khi chúng tôi cố gắng cho thuyền đến gần tàu, thì họ lại tránh ra xa. Bao lần như vậy làm chúng tôi thất vọng và thầm oán trách. Nhưng cuối cùng chiếc tàu ngừng hẳn lại, hụ còi làm dấu hiệu cho thuyền chúng tôi chạy đến. Khi chiếc thuyền con cặp vào thành tàu cao chót vót, một số thủy thủ trên tàu thòng những chiếc thang giây và đu mình xuống để bồng những đứa con nít hoặc cõng trên vai những người đàn bà yếu mệt lên tàu. Một số khác, có cả vài người đàn bà, đứng trên thành tàu, đưa tay đón lấy từng người. Chúng tôi đã nhận ra đây phải là những con người từ tâm, đến từ một quốc gia giàu lòng nhân đạo.

Tôi và anh bạn Hải Quân là hai người cuối cùng lên tàu. Khi nói chuyện với vị thuyền phó, được biết chiếc tàu này thuộc Vương Quốc Na-Uy (Kingdom Of Norway) và đang trên hải trình công tác chở dầu từ Nhật sang Singapore. Và cơn bão chỉ mới bắt đầu. Trận bão chính khuya nay mới tới. Nếu tàu không vớt, chắc chắn chúng tôi không thể nào sống sót qua đêm nay. Ông cũng cho biết sở dĩ ông không cho chiếc thuyền nhỏ của chúng tôi lại gần khi tàu lớn đang chạy, vì lo ngại thuyền sẽ bị nhận chìm bởi sóng từ chiếc tàu lớn tạo ra, nên ông phải cho tàu dừng hẳn lại trước khi cho chúng tôi cặp vào

Chúng tôi đem tặng cho ông thuyền trưởng chiếc hải bàn, nói lời cám ơn và để làm kỷ niệm. Ông đưa hai chúng tôi ra sàn tàu để chứng kiến và từ biệt chiếc thuyền con, khi ông cho nhận chìm bằng cách cho rú mạnh máy tàu. Đứng nghiêm đưa tay chào vĩnh biệt, lòng chúng tôi thật bùi ngùi, khi nghĩ là chiếc thuyền mong manh ấy đã đưa chúng tôi vượt bao sóng gió, từng chạm mặt với tử thần, nhưng cuối cùng tất cả chúng tôi đã được an bình để tới bến bờ, còn chiếc thuyền thì lại bị nhận chìm vào đáy của đại dương . Và cũng kể từ giờ phút ấy, hai tiếng Na-Uy gắn liên với phần đời còn lại của chúng tôi

Sau khi tắm rửa xong, đám đàn ông con trai thì được phát cho những bộ quần áo kaki màu vàng của thủy thủ, phụ nữ thì những chiếc áo blue trắng của các cô y tá. Còn đám con nít thì được áo thun đủ màu và quần short. Chúng tôi được đưa xuống các phòng ngủ nghỉ ngơi, và chiều hôm đó được ăn một bữa cơm Tây thịnh soạn. Vị thuyền trưởng cho biết là sẽ đưa chúng tôi sang gởi tại trại tị nạn Singapore, và cho mỗi người được gởi ba cái điện tín về ba địa chỉ khác nhau để báo tin cho gia đình. Ông còn cho biết thêm, trước đây chiếc tàu này do ông làm hạm trưởng cũng đã từng cứu vớt bốn chiếc thuyền tỵ nạn từ Việt Nam. Đọc danh sách những thuyền nhân trong bốn chiếc thuyền này, hầu hết phát xuất từ miền Tây, chúng tôi không nhận ra có người quen biết.
Hai ngày đêm trên tàu với chúng tôi là cả một thiên đường. Mặc dù bên ngoài, cơn bão cấp sáu nhiều lúc làm con tàu lắc lư, nhưng trên tàu chúng tôi cảm thấy thật yên ả hạnh phúc. Chúng tôi được bác sĩ khám bệnh, cấp thuốc, ăn uống thịnh soạn Đám con nít có quà, bắt đầu đừa giỡn, vui chơi.

Đêm cuối cùng, ông thuyền trưởng mong muốn có một buổi cơm chung với tất cả thủy thủ trên tàu cùng những người tỵ nạn. Chúng tôi thành lập một tổ nhà bếp. Họ cung cấp mọi thực phẩm theo yêu cầu. Một bữa ăn với thực đơn hoàn toàn Việt Nam. Vừa thích thú vừa cảm động.

Sau hơn hai ngày đêm, tàu cặp vào cảng Singapore. Tất cả thủy thủ đoàn đứng thành hai hàng dài từ đài chỉ huy xuống tận cầu tàu, bắt tay và ôm từng người chúng tôi tiễn biệt. Nhiều người đã bật khóc. Tôi vừa cảm động vừa đau đớn trong lòng. Cảm động vì phải chia tay những ân nhân của mình, nhưng đau đớn vì nghĩ họ là những người xa lạ, không cùng ngôn ngữ, màu da màu tóc, mà đã cứu vớt, hết lòng yêu thương lo lắng cho chúng tôi, trong lúc những người anh em cùng một nhà lại thẳng tay đàn áp hành hạ đuổi xô chúng tôi đến bước đường cùng, đến nỗi phải đánh đổi cả mạng sống để bỏ nước ra đi. Nếu không có chiếc tàu Na-Uy này cứu vớt, chắc chắn 52 người chúng tôi đã bỏ mình trên biển khơi, cũng giống như hàng trăm ngàn người bất hạnh khác, không một ai hay biết.

Chúng tôi được gởi vào trại tị nạn Hawkins Road, một doanh trại cũ của quân đội Anh tại Singapore. Tòa đại sứ Na-Uy tại đây đến thăm nom, chăm sóc và gởi hai cô giáo thiện nguyện đến để sinh hoạt và dạy ngôn ngữ Na-Uy. Sau ba tháng, chúng tôi được chuyển sang trại chuyển tiếp Bataan ở Phi Luật Tân. Trại chia ra 9 Vùng. Riêng Vùng I được dành cho những người được tàu Na-uy vớt, và hầu hết sẽ đi định cư tại Na-Uy. Ông Đại sứ Na-Uy tại Phi Luật Tân thường xuyên đến thăm nom giúp đỡ chúng tôi. Có lẽ không có một vị đại sứ nào hiền lành, phúc hậu, và bình dị như ông đại sứ Na-Uy này. Một toán cô thầy giáo được chọn lọc, từ Na-Uy sang để dạy tiếng Na-Uy cũng như hướng dẫn chúng tôi về lịch sữ, địa lý, văn hóa, tập quán và nhiều hiểu biết khác về xã hội và đất nước này. Một số người tỵ nạn được chọn ra, học riêng thêm một số giờ, để làm phụ giảng và thông dịch.Tôi là một trong vài người may mắn được chọn

(Ông Đại Sứ – bà Bộ Trưởng Xã Hội và bà Giám Đốc Sở Tỵ Nạn NaUy đến thăm viếng chúng tôi tại Bataan -Philippine)

Sau tám tháng, chúng tôi lần lượt được đưa sang định cư chính thức tại Na-Uy. Gia đình tôi lúc ấy có 10 người, gồm vợ chồng tôi, 6 đứa con và 2 đứa cháu, đến phi trường Fornebu Oslo vào buổi chiều cuối hè. Trời nắng đẹp. Chúng tôi được hai người đàn bà thuộc văn phòng Thư ký Tỵ nạn và Phòng Xã Hội kommune Skedsmo, địa hạt nơi tôi đến định cư, đón chúng tôi tại khu nhận hành lý của phi trường. Khi bước ra cổng, tôi được một số phóng viên báo chí và đài truyền hình phỏng vấn. Hai người đàn bà mời gia đình chúng tôi đến ăn tại một nhà hàng Tàu. Khi về đến nhà, bất ngờ chúng tôi thấy các phóng viên lúc nãy đang chờ trước cổng. Căn nhà rộng, loại rekkehus (townhouse) hai tầng, có cả sân trước sân sau được trồng hoa và lát cỏ, trang bị đầy đủ nội thất, có cả một TV mới và trong tủ lạnh đầy đủ thức ăn nước uống. Các phóng viên mời chúng tôi vào phòng khách, vừa uống cà phê vừa để họ quay phim, chụp hình và phỏng vấn. Họ hỏi về nhiều đề tài, đặc biệt là chiến tranh Việt Nam và chuyện tù đày, khổ ải của người miền Nam sau ngày VNCH thất thủ vào tay Cộng Sản, cùng cảm tưởng khi đến Na-Uy. Với mớ vốn liếng tiếng Na-Uy và cả tiếng Anh ít ỏi, tôi cố gắng trình bày và chỉ hy vọng họ hiểu được những điều chính yếu mà mình muốn nói. Trước khi từ giả, mọi người đều cảm động ôm lấy chúng tôi cùng với những lời chúc tốt lành cho một đời sống mới. Tôi rất ngạc nhiên, khi bà Trưởng Phòng Tỵ Nạn đưa chúng tôi một xâu chìa khóa, và trao cho chúng tôi tờ giấy chủ quyền ngôi nhà, mà bà cho biết kommune đã đứng ra mượn tiền mua trước, và họ sẽ trả mọi thứ tiền cho đến khi nào chúng tôi đi làm và có khả năng tự trả được. (Vì họ được mượn từ quỹ gia cư của chính phủ nên tiền lời rất thấp)

Buổi tối, cơm nước xong, cả nhà quây quần trước cái TV. Thằng con trai lớn ra điều mới học được văn minh, bấm tới bấm lui tìm đài. Cả đám bất ngờ nhìn thấy dung nhan của mình trên màn ảnh. Thì ra chương trình phóng sự. Họ đang kể về gia đình chúng tôi: “những công dân mới của Na Uy, mà ông bố đã từng ở tù nhiều năm, giống nhiều người Na Uy bị nhốt trong các trại cải tạo của Đức quốc xã, cái thời Hitler làm mưa làm gió ở Âu Châu, và đã can đảm dắt theo mấy đứa con nhỏ vượt đại dương trên một chiếc thuyền đánh cá mong manh”. Nghe họ ca ngợi mình mà tôi xấu hổ. Dù gì tôi cũng là kẻ bỏ nước tha phương, với họ ít nhiều gì cũng là một cành tầm gởi. Còn chuyện vượt biển, vượt biên, đến bước đường cùng thì ai cũng phải liều mạng thế thôi, chứ có hàng triệu người còn can đảm gấp vạn lần tôi. Nhiều người đi bằng đường bộ, trèo núi, băng rừng, lội suối, bơi sông, qua Cam Bốt, Thái Lan, sống chết với bọn hải tặc, để vài năm sau mới đến được Singapore. Và dĩ nhiên đã có biết bao nhiêu người chẳng bao giờ tới bến.

Khi cả nhà ngủ vùi sau hai ngày di chuyển mệt nhọc (từ trại Bataan đến Manila và từ Manila đến Na-Uy), tôi một mình xuống ngồi ở phòng khách, suy nghĩ thật nhiều về những tháng ngày sắp tới, ưu tư cho chính bản thân mình và nhất là đám con nhỏ dại, sẽ lớn lên và chấp nhận xứ sở xa lạ này như một quê hương mới. Nước mắt tôi bỗng trào ra khi nghĩ đến quê nhà, hồi tưởng một quá khứ có quá nhiều biến đổi thăng trầm và mất mát, dù đã xa khuất sau lưng, nhưng chắc chắn mãi mãi không thể nào mờ nhạt. Tôi cũng nghĩ tới thân phận của những người bạn tù còn ở lại,rồi cuộc đời sẽ không biết ra sao. Thầm cầu mong cho họ sẽ gặp được nhiều may mắn.

(Ngày mới đến thị xã Skjetten – thuộc Kommune Skedsmo -NaUy)

Hôm nay, cả gia đình tôi đang ở trên một đất nước tận vùng Bắc Âu xa lạ để gầy dựng lại cuộc đời. Các đứa con thơ dại sẽ lớn lên ở đây. Tất cả sẽ bắt đầu học ngôn ngữ mới, tập quán mới. Tôi thực sự đã mất quê hương. Tất cả, nếu có còn chỉ nằm sâu một nơi nào trong tâm tưởng. Nhưng chúng tôi may mắn được đất nước này mở rộng vòng tay, để được nhận nơi đây làm quê hương mới. Cái diễm phúc ấy hy vọng sẽ xoa dịu vết thương còn đang đau đớn trong lòng, mà tôi biết sẽ mãi mãi không bao giờ lành được. Sáng hôm sau, bà trưởng phòng tỵ nạn trở lại thăm chúng tôi, dắt theo hai người đàn bà khác, mà bà giới thiệu là đến từ phòng giáo dục và phòng xã hội Thị Xã. Hai người sẽ đến thăm gia đình tôi thường xuyên trong hai tuần, để lo việc học hành cho các con, đưa chúng tôi đi khám bệnh, làm răng và sắm sửa thêm những gia dụng theo nhu cầu. Bà đưa tôi đến một ngân hàng gần nhà, mở cho tôi một trương mục, bỏ vào đó tiền ăn và mọi khoản chi tiêu dành cho gia đình chúng tôi trong hai tháng đầu. Sau đó, bà sẽ gởi tiếp, nhưng bà dặn bất cứ khi nào cần cứ ra rút tiền. Và nếu tiền hết vì bà chưa kịp gởi vào, ngân hàng này sẽ phải ứng trước theo giao ước của bà.

Thêm một điều rất may mắn cho tôi. Thời gian ở trại tị nạn, tôi đã được các thầy cô giáo dạy riêng thêm ngôn ngữ Na-Uy để giúp làm phụ giảng và thông dịch, nên khi sang Na-Uy tôi đã có một ít vốn liếng tiếng Na-Uy, dù chưa thông thạo lắm. Ngày đầu tiên khi chúng tôi cùng một số gia đình tỵ nạn khác được bà Trưởng Phòng Tỵ Nạn đưa đến Phòng Cảnh Sát Ngoại Kiều Thị Xã để được phỏng vấn làm thủ tục di trú. Vào giờ chót người thông dịch không đến được, nên tôi đã tình nguyện đứng ra giúp. Không ngờ đó lại là một cơ hội cho tôi sau này. Tôi được giới thiệu theo học khóa “Ngôn ngữ Mùa Hè” tại Đại Học Oslo. Sau đó được làm thông dịch cho Văn Phòng Xã Hội và Phòng Cảnh Sát, và được gởi theo học một khóa tài chánh kế toán trong 13 tháng, mà đa số học viên là những công chức hoặc nhân viên của các phòng sở, công ty gởi đến. Biết thân phận là người tị nạn, nên tôi cố gắng hết sức để theo kịp, nên khi mãn khóa nhận được chứng chỉ với số điểm ưu hạng.

Khi cả nhà đang hái dâu ở vùng Drammen, vừa tiêu khiển vừa kiếm thêm tiền gởi vể Việt Nam giúp cha mẹ vợ, bà cô, cùng một số bạn tù ngày trước, tôi nhận được thư của kommune thu nhận tôi làm việc tại Kommune Kasseren (Phòng Tài Chánh Thị Xã) trong một năm. Công việc thật nhàn nhã, nên tôi được phép đi làm thông dịch thêm theo yêu cầu của các cơ quan khác và được nhận thêm tiền trả riêng. Đặc biệt việc di chuyển đều được dùng Taxi do cơ quan ấy đài thọ. Có những ngày chẳng có việc gì làm, tôi lại ngồi đọc sách để học thêm ngôn ngữ mới. Sau một năm, tôi nôp đơn xin theo học và làm trong ngành Ngân hàng Bưu Điện (Postbanken) cho đến ngày về hưu

(Ba đồng nghiệp thân thiết nhất tại Postbanken – Anita – Reidun và Guldhaug)

Đến Na-Uy tôi mới biết đây là một Vương quốc có dân số chỉ hơn bốn triệu rưởi, nhưng đời sống khá cao và giàu lòng nhân đạo. Gia đình tôi được chăm lo đủ thứ. Tiền phụ cấp hằng tháng quá đầy đủ. Với chúng tôi có thể nói là thừa thãi. Ngay sau khi học xong, tôi được việc làm. Khi đi học vẫn được nhận đủ lương lại còn thêm phụ cấp. Vơ tôi được đi học thêm ngôn ngữ tại một trường trung học dành cho người lớn và sau đó học nghề tại trung tấm huấn nghệ dành cho người tỵ nạn, và ngay sau khi học xong cũng cnhận dược việc làm chuyên môn về điện tử tại Siemens, một công ty lớn của Đức. Lương bỗng hằng tháng của hai vợ chồng cộng lại chỉ hơn một nửa số tiến trợ cấp trước kia. Phòng Xã Hội có nhã ý giúp chúng tôi thêm vì có đông con, nhưng chúng tôi từ chối vì thấy đã đủ trả mọi chi phí cho đời sống gia đình. Điều thú vị hơn, đất nước này gồm rừng núi, sông hồ thơ mộng và quanh năm tĩnh mịch, thích hợp với những người cần sự yên tĩnh để chữa nhiều vết thương trong lòng còn đang đau đớn như tôi.

Mùa đông đầu tiên, khi tuyết bắt đầu rơi trắng bầu trời, chúng tôi được cấp áo quần, dụng cụ trượt tuyết, và có người đến dạy các con tôi trượt tuyết. Sau một năm, trong một kỳ thi dành cho tuổi thiếu niên, cậu con trai út của tôi được lãnh cúp hạng nhất, trở thành cậu bé trượt tuyết có tiếng trong vùng.Sau đó, chúng tôi còn được biết thêm, Nauy là quốc gia thường chiếm nhiều huy chương vàng nhất tại các Thế Vận Hội Mùa Đông.

(Huy Vinh trượt tuyết giỏi nhất giải thiếu nhi và em gái Ngọc Quỳnh)

Định cư được hơn ba năm. Lúc kinh tế gia đình và việc học hành của mấy đứa con tạm ổn định, hơn nữa các con đã lớn cần một ngôi nhà rộng rãi có đủ phòng ốc hơn, chúng tôi quyết định mua một ngôi nhà lớn nằm dưới thung lũng nhỏ Harabakken, bên bờ sông Nitelva yên tĩnh, bên kia sông là cánh đồng cỏ mênh mông tiếp giáp với núi rừng. Cái khung cảnh có mang một chút hình dáng và màu sắc quê nhà giúp tâm hồn tôi yên ả hơn mỗi khi thấy lòng trăn trở, nhung nhớ một điều gì. Những lúc buồn, tôi ngồi hằng giờ trong bao lơn nhìn ra cánh đồng và rừng núi phía xa xa, để ngỡ là quê hương mình như đang ở phía bên kia triền núi đó. Và cũng chính nơi đây, tôi đã bắt đầu tập tễnh cầm bút viết lại cuộc đời mình, thế hệ mình, cuộc chiến bất hạnh và cuộc tang thương dâu biển mà cả miền Nam Việt Nam đã trải qua.

Ở đất nước bé nhỏ này và với số người Việt tị nạn khi ấy khoảng 10.000 người, nhưng có một số nhà văn, nhà thơ tiếng tăm: Nguyễn Thị Vinh, Dương Kiền, Hoài Mỹ, Nguyễn Hữu Nhật, Tâm Thanh, Khánh Hà, Cung Vĩnh Viễn, Nguyễn Văn Thà… Bán ngôi nhà cũ của kommune mua giúp lúc ban đầu mới đến, chúng tôi may mắn lời được một khoản tiền đủ để trả hơn một nửa số tiền mua ngôi nhà mới. Ngôi nhà này nằm ở một kommune khác. Khi vừa dọn về nhà mới được hai tuần, tôi nhận được một Ngân Phiếu Trả Tiền (Utbetalingskort) gởi từ Phòng Xã Hội của kommune cũ, cấp cho tôi một số tiền gần bằng 10 tháng lương của tôi lúc ấy. Tôi ngạc nhiên, vì số tiền khá lớn nên nghĩ là có điều gì nhầm lẫn. Cầm tấm Ngân Phiếu Trả Tiền, tôi đến gặp ông Trưởng Phòng Xã Hội. Ông cho biết đó là món tiền mà Sở Tỵ Nạn cấp để lo cho gia đình tôi, nhưng kommune không chi tiêu hết cho chúng tôi, vì con đông nên không đủ phòng ốc và đồ dùng ở ngôi nhà cũ, hơn nữa chúng tôi đã đi làm quá sớm sau khi đến Na-Uy, nên ông quyết định gởi cho chúng tôi để sắm sửa cho ngôi nhà mới. Đã vậy ông còn xin lỗi, vì đã không lo lắng đủ cho chúng tôi trong thời gian mới tới. Tôi bắt tay ông từ giã mà trong lòng cảm thấy ngậm ngùi, khi nghĩ là ở trên quê hương mình bây giờ biết tìm đâu ra những công chức chính quyền thanh liêm và giàu tấm lòng như thế?

(Ngôi nhà mới dưới thung lũng Harabakken-NaUy)

Trong thung lũng nhỏ này chỉ có bốn ngôi nhà. Ngoài gia đình tôi, một gia đình người bản xứ, còn có gia đình người Thụy Điển và một gia đình người Đức. Tất cả những người láng giềng này rất tốt bụng, sau này đều trở thành những người bạn thân thiết của gia đình tôi.

Gần 30 năm làm việc, tôi may mắn được sắp xếp làm ở những chi nhánh rất gần nhà. Được hưởng bậc lương tính theo thâm niên từ khi bắt đầu làm việc tại Việt Nam. Hầu hết những đồng nghiệp người bản xứ đều luôn thân tình, giúp đỡ. Điều làm tôi cảm phục hơn là sự thành thật và tin tưởng lẫn nhau của họ. Công việc mỗi ngày liên quan tới tiền bạc. Có thời gian mấy năm tôi được giao cho trách nhiệm thủ quỹ. Vào những ngày trước Giáng Sinh hay thời điểm trả thuế, số tiền trong tủ sắt lên đến nhiều chục triệu kroner. Mới đầu, tôi rất ngạc nhiên, khi giao một số tiền lớn cho mỗi kasse (quày), mà họ chẳng bao giờ kiểm lại. Có khi, một vài cô cậu sinh viên làm thêm vào các ngày thứ bảy, hay ngày lễ, làm mất đến mấy chục ngàn, họ vẫn không bị la rầy hay đuổi việc. Chúng tôi được học và dặn dò, nếu có cướp (cho dù biết vũ khí là đồ giả), hãy luôn làm theo yêu cầu của kẻ cướp, đừng bao giờ có ý chống lại. Nhưng điều này chưa hề xảy ra. Họ rất quý sinh mạng con người. Không phải như dưới chế độ Cộng Sản trên quê tôi, sính mạng con người chẳng khác gì cỏ rác!

(Giáng sinh trước khi ba cháu lớn đi du học Mỹ)

Trong gần 30 năm làm việc, tôi chưa hề thấy những ông “sếp” nặng lời với bất cứ một nhân viên nào cho dù khi họ làm sai, thất thoát ít nhiều tiền bạc. Chỉ cần viết một đôi dòng giải thích là đủ. Ngược lại, đôi lần, trong các buổi họp, tôi thấy một vài nhân viên lại khiển trách “sếp” chỉ vì một đôi điều không được hài lòng. Phải nói, đây là một quốc gia có tinh thần dân chủ cao độ. Tôi nhớ mãi chuyện vợ chồng ông chủ tịch quốc hội bị nhân viên quan thuế phi trường Oslo chặn lại và buộc nộp tiền phạt khi hai ông bà đi công cán ở nước ngoài về, và bà vợ mang trên tay một chiếc nhẫn hột xoàn quên khai báo. Một bà bộ trưởng quốc phòng, mặc bộ quân phục khi đến thăm binh sĩ Na-Uy đang tham gia chiến trường khói lửa A Phú Hãn, bị nhiều quân nhân phê phán, bảo bà không phải là quân nhân, nên không có quyền mặc quân phục. Bà đã phải lên truyền hình chính thức xin lỗi. Tôi nghĩ chẳng có quốc gia nào dân chủ hơn . Điều này làm tôi rất hãnh diện để được trở thành công dân của đất nước này. Và biết đến khi nào mới có được trên quê tôi?

Sau bậc trung học, bốn đứa con của chúng tôi muốn sang Mỹ du học. Khi được một đại học ở Mỹ chấp nhận, tất cả đều được chính phủ Na-Uy cấp học bổng đủ để trả học phí, tiền bảo hiểm và di chuyển, đến bậc Cao Học.Vợ tôi làm công nhân cho một công ty điện tử. Có lẽ vì nhiều năm chỉ làm một động tác, nên vai cánh tay phải bị đau nhức. Bác sĩ xí nghiệp cho nghỉ một năm có lương để điều trị và sau đó được một hội đồng giám định y khoa quyết định cho nghỉ vĩnh viễn với hưu bệnh. Lại được công ty bảo hiểm của xí nghịệp bồi thường một số tiền sai biệt so với lợi tức hằng tháng trước đó .

(Cháu trưởng nam Phạm Hoàng Minh và cháu gái út Phạm Ngọc Quỳnh sau khi tốt nghiệp Đại học)

Bây giờ, tuổi đã già, nhìn lại quá khứ thăng trầm khốn khó, nhớ lại từng bước chân lưu lạc, lòng tôi bùi ngùi xúc động. Quê hương vẫn còn mịt mờ xa, khốn đốn trong bàn tay cai trị của bọn người CS không còn nhân tính. Mai này, tôi cũng sẽ gởi lại trên quê hương thứ hai này nắm xương tàn, hướng đầu về cố quốc mà tạ tội cùng núi sông tiên tổ.

(Các cháu trai – gái đã trưởng thành và có gia đình riêng)

Những đứa cháu nội, ngoại của chúng tôi sinh ra và lớn lên ở Na-Uy, dù không có một kỷ niệm nhỏ nhoi nào với Việt Nam. nhưng vẫn mãi có những ràng buộc máu thịt, bởi cha ông là người Việt. Dù nói được tiếng Việt, nhưng các cháu không thể thấy gần gũi với quê cha đất tổ. Nhiều lúc tôi thấy chạnh lòng khi nghĩ rồi các thế hệ sau này càng lúc càng xa dần nguồn cội. Nhưng tôi cũng tự an ủi mình, vì các cháu lớn lên, nhận đất nước này là quê hương, sẽ cố gắng chăm chỉ học hành để vừa đóng góp phần trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, vừa trả cái ơn cưu mang từ những ngày đầu thời ông bà cha mẹ lưu lạc đến đây. Quan trọng hơn, sẽ học tấm gương những người Do Thái, nối tiếp công việc dang dở của cha ông, góp sức đấu tranh cho no ấm tự do trên quê hương tiên tổ.

(3 cháu nội nhỏ nhất trong ngày Quốc Khánh NaUy 17-5)

Xin cám ơn Na-Uy, đất nước xa xôi, lạnh lẽo, nhưng rất nồng ấm tình người. Nơi in đậm mãi những dấu chân lưu lạc của tôi và cả gia đình. Đã cho chúng tôi, nhất là các con cháu tôi, một tương lai tốt đẹp như hôm nay, mà nếu còn ở lại trong nước sẽ phải khốn cùng dưới chế độ phân biệt đối xử của chinh quyền Cộng Sản. Xin cám ơn Na-Uy, nơi mà tất cả những người Việt tỵ nạn đến đây sung sướng và hãnh diện để được nhận là quê hương thứ hai của mình sau ngày phải đành lòng bỏ nước ra đi.

Một ngày buồn cuối tháng 4, sau đúng 38 năm lưu lạc.

Phạm Tín An Ninh

PHÓNG SỰ UKRAINE

Oanh Vy Lý

PHÓNG SỰ UKRAINE

Tóm tắt: Ở Kharkiv, Vladimir Putin đã “giải phóng” hàng nghìn người khỏi mạng sống và ngôi nhà của họ

Tay Yulia Rebenko đầy máu; và không giống như Lady Macbeth, cô ấy không bị ảo giác. Tốc độ suy nghĩ nhanh nhẹn đã cứu cô sinh viên tâm lý năm nhất này khỏi cái chết: cô chạy từ bếp vào phòng tắm ngay khi nghe thấy những tiếng động lớn đầu tiên.

Vào thời điểm vụ pháo kích tiến đến căn hộ của cô trên phố Shakespeare vào chiều ngày 26 tháng 5, xuyên qua những cây lạc và rơi xuống bên ngoài cửa sổ nhà cô, thì Rebenko vẫn còn cách vụ nổ hai bức tường. Cô vẫn còn sống với những vết cắt nhỏ. Ít nhất chín người khác đã bị đưa vào nhà xác.

Dina Kirsanova, nhân viên bán hàng tại một quầy bán sữa gần ga tàu điện ngầm 23 tháng 8, mục tiêu chính của các cuộc không kích, đã nhìn thấy ít nhất 15 tên lửa trên bầu trời. Cô nói, các lực lượng phòng không đã chặn được hầu hết chúng, ngăn chặn thiệt hại lớn hơn về nhân mạng: “Nó còn hơn cả tàn nhẫn. Không có vị trí quân sự nào ở đây. Chỉ là những con người giản dị, cố gắng tồn tại ”.

Các cuộc tấn công mới đây vào Kharkiv diễn ra như một phần của giai đoạn thứ hai của cuộc chiến. Sau khi rút lui khỏi thủ đô Kyiv và một số thành phố ở phía bắc khác trong tháng 4, Nga tập trung lại các đơn vị quân đã bị thương vong nặng nề và tập trung nỗ lực vào phía đông.

Cuộc giao tranh bùng phát dữ dội nhất đang diễn ra ở tỉnh Luhansk, một phần của khu vực Donbas, nơi Nga đang hy vọng giành quyền kiểm soát Severodonetsk và Lysychansk, những thị trấn cuối cùng có quy mô hợp lý mà Nga vẫn chưa chiếm được ở vùng này và bao vây quân Ukraina.

Nhưng Nga dường như cũng đang bị đẩy lùi xa hơn về phía bắc. Trong một chuyến công du hiếm hoi bên ngoài Kyiv, Tổng thống Volodymyr Zelensky đã đến thăm Kharkiv và quân đội trong khu vực vào ngày 29 tháng 5.

Do đó, thành phố thứ hai của Ukraina, một thành phố đáng tự hào, gan dạ, dành cho tầng lớp lao động, phải đối mặt với một tương lai không chắc chắn nhất. Bởi vì thành phố này chỉ cách Nga 40 km, ít người nghĩ rằng Kharkiv có thể đứng vững trước một cuộc xâm lược.

Trong trường hợp này, xe thiết giáp của Nga đã tiến đến ranh giới thành phố rộng lớn này chỉ trong vòng ba ngày đầu tiên của cuộc chiến. Nhưng sự kết hợp giữa tinh thần chống cự kiên cường và sự miễn cưỡng của Moscow trong việc sử dụng đủ số quân cần thiết để bao vây thành phố này đã khiến Kharkiv bằng cách nào đó vẫn sống sót. Vào giữa tháng 5, Ukraina phản công và chiếm lại một số ngôi làng ở phía bắc và đông bắc Kharkiv.

Nhiều người bắt đầu hy vọng cuộc sống bình thường có thể xảy ra; một số thậm chí đã bắt đầu quay trở về nhà. Thực tế tỏ ra là tệ hơn họ tưởng tượng. Các khu vực phía bắc của thành phố vẫn nằm trong tầm bắn của pháo binh tầm xa của Nga, và cuộc tấn công trên phố Shakespeare đã chứng minh điều đó. Quân Nga cũng đang đào hào, củng cố vị trí của họ và sẽ khiến việc đẩy lùi họ trở lại rất khó khăn.

Thống đốc Oleh Synyehubov cho biết cuộc chiến giành Kharkiv có vẻ như sẽ không kết thúc sớm. “Chúng tôi hiểu rằng chiến tranh không phải là câu chuyện diễn ra trong một tháng và chúng tôi sẽ cần phải sống trong thực tế mới này.” Cuộc sống riêng của thống đốc đã bị hủy bỏ; Synyehubov đã không có văn phòng kể từ khi một tên lửa hành trình của Nga bắn trúng trụ sở của ông vào tháng Ba. Ông gặp phóng viên để trả lời phỏng vấn tại một địa chỉ bí mật, chỉ được liên lạc vào phút cuối.

Synyehubov nói rằng chỉ hơn một nửa trong số 1,5 triệu người của Kharkiv đã rời đi. Tất cả những người ở lại đều dễ bị tổn thương do máy bay phản lực, tên lửa và pháo binh của Nga; họ nên ở nhà trừ khi họ có nhu cầu khẩn cấp phải ra đường. Một số người dường như đang chú ý đến lời khuyên này.

Nhưng những người khác cố chấp phớt lờ nó. The Ditch, một quán bar cocktail cách phố Shakespeare 2km, tiếp tục lên kế hoạch mở cửa trở lại sau ba tháng bất chấp các cuộc tấn công tên lửa mới. Daria Taran, người phục vụ và đồng sở hữu quán này cho biết: “Pháo kích không còn khiến chúng tôi khó chịu nữa. Chúng tôi biết một tên lửa có thể có tên của chúng tôi trên đó. Nhưng đó là số phận.”

Tại khu chợ Barabashova khổng lồ của thành phố, từng là trái tim của thương mại tại Kharkiv, nhưng giờ hầu như chỉ còn là đống đổ nát cháy xém, một vài chủ cửa hàng đã dám mở cửa trở lại. Iryna Petrovna đã bắt đầu bán lại bình chứa và chảo kim loại. Nhưng hàng trong kho của cô là hàng Trung Quốc và với việc các cảng của Ukraina đang bị Nga phong tỏa, cô biết mình khó có thể mua được hàng mới. “Chúng tôi rất sợ hãi, nhưng chúng tôi có thể làm gì khác? Chúng tôi cần phải làm việc”.

Ở cửa hàng bên cạnh, Sergei Ivanov đang tìm kiếm trong một mớ đồ sứ vỡ và mảnh đạn với hy vọng tìm được thứ gì đó để bán. Anh kể là mình đã mua hai container đĩa sứ trị giá cao từ Pháp để bán trong Ngày Phụ nữ 8 tháng 3. “Đó là những đồ xa xỉ. Hãng Luminarc.” Không rõ hai nhà kinh doanh trên có thể tìm thấy khách hàng ở đâu. Những người bán hàng khác ở chợ đang thu dọn đống đổ nát.

Timur, một người đàn ông với đôi mắt xanh thẳm và hơi thở nồng nặc mùi rượu, dẫn chúng tôi đến đống tên lửa Grad của Nga mà anh lấy được từ cuộc tấn công cuối cùng vào ngày 17/5. Người thợ xây cũ này cho biết anh ta được trả 500 hryvnia (17 đô la) một ngày cho việc này. Anh nói, tiền đó không đủ cho việc nuôi hai đứa con, nhưng hiện tại không có nhiều việc ở Kharkiv.

Chợ Barabashova nằm ở một đầu của quận Saltivka rộng lớn — một khu rừng các nhà lắp ghép chắc chắn do Liên Xô xây dựng. Do chúng ở vị trí phía bắc thành phố nên các tòa nhà này đã hứng chịu phần lớn pháo kích của Nga.

Nó từng được gọi là quận Matxcơva, nhưng giống như nhiều tên khác theo chủ đề Nga, đã được đổi tên vào tháng Năm. Ở những khu vực an toàn hơn của thành phố, mọi người đang quay trở lại, nhưng chỉ về rồi lại ra đi.

Cư dân đang quay trở lại để lấy đi bất cứ tài sản nào họ có thể lấy đi trước khi nó trở thành khan hiếm: tranh, ti vi, tủ lạnh, máy điều hòa không khí, phụ kiện nhà vệ sinh. Alla Yaroslavtseva, 57 tuổi, đi ra từ đống đổ nát cháy đen của nhà số 80 phố Natalii Uzvii, nơi bị bắn thủng một phần giữa, cầm trong tay một số ảnh và đồ kỷ niệm.

Yaroslavtseva không nghĩ rằng bà sẽ trở lại đây lần nữa. Bà nói rằng bà đã làm việc cả đời mình để mua đứt căn hộ của mình với hy vọng có thể để lại nó cho các con. “Bây giờ tôi phải bắt đầu lại vì Thế giới Nga chết tiệt đã quyết định đến và giải phóng tôi. Giải phóng khỏi cái gì chứ? Giải phóng tôi khỏi căn hộ của tôi sao?”

Sự tức giận của bà Yaroslavtseva là minh chứng cho sự thay đổi ở một thành phố mà nhiều người Ukraina cho rằng có thiện cảm với nước Nga. Hàng loạt người ở đây đang chuyển từ nói tiếng Nga sang nói tiếng Ukraina, mặc dù rõ ràng điều đó không đến một cách tự nhiên. Bohdan, một tài xế đến từ Saltivka, cho biết: “Tôi muốn con trai mình kinh tởm khi nghe thấy tiếng Nga, nhưng điều này rõ ràng là không thực tế.

Đối với Serhiy Zhadan, một tác giả và nhà thơ nổi tiếng ở đây, người vẫn ở lại mặc dù có khả năng là mục tiêu của các đội tấn công của Nga, các giả định luôn là sai. Bản sắc khu vực mạnh mẽ và sở thích ngôn ngữ có ý nghĩa hơn nhiều so với các bộ phận của họ, ông nói. “Người Nga cũng nghĩ rằng họ sẽ được người dân tặng hoa, và họ cũng không hiểu chúng tôi.” Ông nói rằng khi thành phố Kharkiv nhìn về tương lai của nó, cảm giác đoàn kết trong một bi kịch chung đã mang lại một chút hy vọng. Nhưng với việc pháo kích và chết chóc vẫn là hiện thực trong tương lai gần, người dân địa phương sẽ cần một tư duy “kiểu Israel” để tồn tại.

“Nước Nga sẽ không tự biến mất. Chúng tôi phải làm quen với việc sống chung với một gã hàng xóm điên rồ”.

FB CÙ TUẤN

– dịch từ The Economist.

Giám đốc CIA William Burns nói về tương lai hỗn loạn của thế giới

Giám đốc CIA William Burns nói về tương lai hỗn loạn của thế giới

Edward Luce, “What the CIA thinks: William Burns on the new world disorder,” Financial Times, 13/05/2022.

Biên dịch:Nguyễn Thị Kim Phụng

Năm mươi năm sau ‘cuộc đảo chính’ Chiến tranh Lạnh của Nixon, người Mỹ đang đối mặt với một trật tự toàn cầu mới.

Chúng ta không thường xuyên được gặp những người có số tuổi đạt đến ba chữ số. Henry Kissinger, người sẽ bước sang tuổi 99 vào tháng này, hiện đã già hơn bất kỳ chính khách nào còn sống trên thế giới. Tại Lễ hội FTWeekend ở Washington vào thứ Bảy tuần trước, chiến lược gia Chiến tranh Lạnh đã nhận xét rằng nhân loại “hiện đang sống trong một kỷ nguyên hoàn toàn mới.” Xét đến việc ông đã sống được 40% lịch sử nền cộng hòa Mỹ, Kissinger có quyền đưa ra nhận định đó – bất kể người ta nghĩ thế nào về hồ sơ đầy tranh cãi của ông.

Thế nhưng William Burns, 66 tuổi, Giám đốc CIA, mới là người mang đến tin tức chính của lễ hội. Burns nói rằng Tập Cận Bình, nhà lãnh đạo Trung Quốc, “đang lo lắng trước những tổn hại về danh tiếng có thể xảy đến với Trung Quốc khi họ ủng hộ sự tàn bạo trong hành động xâm lược của Nga đối với người Ukraine”.

Tuy nhiên, bất chấp việc Vladimir Putin đe dọa dùng đến vũ khí hạt nhân, Burns nói rằng Mỹ vẫn tiếp tục coi Trung Quốc, chứ không phải Nga, là đối thủ chính của mình. “[Putin] thể hiện theo một cách rất đáng lo ngại rằng các cường quốc đang suy yếu có thể làm loạn, chí ít cũng bằng với các cường quốc đang trỗi dậy,” ông nói. Nhưng Trung Quốc là mối đe dọa lớn hơn.

Một trong những lợi ích của lịch sử là nó cho phép bạn hình dung ngày hôm nay dưới một góc nhìn khác. Như câu nói của người Liên Xô: “Tương lai là tất định. Quá khứ mới là vô định.” Tuy nhiên, hiện tại của ngày hôm nay là điều mà người ta có thể định hình.

50 năm trước, Kissinger và Tổng thống của ông, Richard Nixon, đã thay đổi cục diện Chiến tranh Lạnh bằng cách mở cửa với Trung Quốc của Mao Trạch Đông. Bằng cách gia tăng sự chia rẽ giữa quốc gia cộng sản lớn nhất thế giới và quốc gia cộng sản hùng mạnh nhất thế giới, chuyến thăm Trung Quốc của Nixon được cho là nước đi hay nhất của Mỹ trên bàn cờ Chiến tranh Lạnh. Đã từng có thời người Mỹ và người Trung Quốc cùng nhau vui vẻ nâng ly, sau khi Nixon và Mao ký Thông cáo chung Thượng Hải năm 1972 – vốn đã được Kissinger bí mật lên kế hoạch bằng chuyến đi ẩn danh tới Bắc Kinh, qua ngả Pakistan. Nhưng ngày kỷ niệm 50 năm của sự kiện này đã trôi qua trong im lặng hồi tháng 2 năm nay. Nhà Trắng của Joe Biden đã phớt lờ đề nghị tổ chức lễ kỷ niệm chung của Trung Quốc.

Lịch sử giờ đã quay ngoắt 180 độ. Năm 1972, Nixon dễ dàng gạt bỏ những lời chỉ trích từ cánh hữu khi thực hiện một thỏa thuận với Mao ngay giữa bối cảnh Cách mạng Văn hóa của Trung Quốc. Bộ máy chính sách đối ngoại của Mỹ, theo bản năng, đã tận dụng được bước đi này, khiến Liên Xô bị cô lập và suy yếu hơn. Vô đạo đức nhưng hiệu quả. Tất nhiên, ví dụ tương tự thường được nhắc đến là liên minh Mỹ-Anh với Liên Xô của Stalin nhằm đánh bại chủ nghĩa Quốc xã.

Chủ tịch Mao Trạch Đông và Tổng thống Mỹ Richard Nixon tại Trung Quốc vào năm 1972 ©Everett/Shutterstock

Tổng thống Nga Vladimir Putin chào đón Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Điện Kremlin vào năm 2019 ©Tân Hoa Xã/Eyevine

Ngược lại, Washington ngày nay gần như nhất trí về một chính sách đối ngoại xem Trung Quốc và Nga là anh em sinh đôi, dù bây giờ Nga đã trở thành ‘cậu em’ yếu hơn. Tổng thống Biden xem chính trường toàn cầu là cuộc cạnh tranh giữa chuyên chế và dân chủ. Kissinger rõ ràng không đồng ý, dù ông luôn cẩn thận không bao giờ lên tiếng công khai về những vấn đề quan trọng. Vị chính trị gia đáng kính không chỉ trả lời bằng loại ngôn từ bí ẩn kiểu Yoda, mà tư thế khom lưng của ông cũng gợi nhớ về nhà hiền triết trong Chiến tranh giữa các vì sao. Sự khác biệt trong ý thức hệ không nên là vấn đề chính của cuộc đối đầu, ông nói, “trừ khi chúng ta sẵn sàng biến việc thay đổi chế độ trở thành mục tiêu chính trong chính sách của chúng ta.”

Vậy còn CIA nghĩ gì? Câu hỏi này thường có liên quan vì Burns – nhà ngoại giao chuyên nghiệp đầu tiên trở thành người đứng đầu cơ quan tình báo chính của Mỹ trong 80 năm tổ chức này tồn tại – luôn được đánh giá cao không kém bất kỳ ai trong chính quyền Mỹ. Một trong những người hâm mộ ông lâu dài nhất chính là Biden. Tuy nhiên, Burns đã được nhất trí bổ nhiệm bởi một Thượng viện Mỹ phân cực, một điều hiếm hoi tựa như việc nhìn thấy vật thể bay không xác định ở Washington ngày nay. Một số nhà ngoại giao nước ngoài gọi ông là “Ngoại trưởng thứ hai.”

Tháng 11 năm ngoái, khi lực lượng Nga tập trung đông đảo ở biên giới Ukraine, Biden đã cử Burns đến nói chuyện với Putin ở Moscow. Đây lại là một lần đầu tiên khác. Những người đứng đầu cơ quan tình báo thường không được tuyển dụng để gặp gỡ những người đứng đầu các quốc gia có vũ khí hạt nhân. Dù đúng là Putin từng đứng đầu FSB, trước đây được gọi là KGB, nhưng hai người không phải đồng cấp.

Tuy nhiên, Burns là một Giám đốc tình báo khác thường. Trải qua nhiều năm ở D.C., tôi chưa hề bắt gặp một nhân vật của công chúng nào mà không ai có thể nói xấu. Lần gần nhất tôi gặp ông là tại buổi ra mắt bộ phim James Bond cuối cùng của Daniel Craig, do Đại sứ quán Anh tổ chức vào tháng 10 – một bộ phim tưởng như còn kéo dài hơn cả Chiến tranh Lạnh, với những cuộc đối thoại chắc chắn tệ hơn nhiều. Burns đã vui vẻ tạo dáng chụp một bức ảnh iPhone bên cạnh một khung hình của Bond sắp hết thời.

Vladimir Putin ngồi vào bàn đàm phán bên cạnh Ngoại trưởng Sergei Lavrov, và đối diện với William Burns (lúc đó là Đại sứ Mỹ tại Moscow) vào tháng 03/2008 ©Pool /AFP/Getty Images

Tập Cận Bình (lúc đó là Phó Chủ tịch Trung Quốc) được Burns (lúc đó là Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ) chào đón tới Washington vào tháng 02/2012 ©Tân Hoa Xã/Eyevine

Việc lắng nghe Giám đốc CIA bình luận theo thời gian thực về một cuộc chiến gần như là chiến tranh ủy nhiệm giữa hai cường quốc vũ trang hạt nhân lớn là một trải nghiệm siêu thực (Nga có số lượng đầu đạn hạt nhân chiến lược nhiều như Mỹ; riêng về khoản này, Trung Quốc đứng thứ ba, với khoảng cách rất xa). Là một cựu Đại sứ Mỹ nói tiếng Nga tại Moscow, Burns hiểu Putin rất rõ. “Tôi đã đối phó và theo dõi Tổng thống Putin trong nhiều năm, và điều tôi thấy, đặc biệt là trong thập niên vừa qua, là ông ấy giống như một mồi lửa của buồn phiền, tham vọng, và bất an – tất cả được cuộn tròn lại cùng nhau,” Burns nói. “Mức độ chấp nhận rủi ro của ông ấy đã tăng lên trong những năm qua, khi quyền lực của ông ngày càng mạnh hơn, và vòng tròn cố vấn của ông ngày càng thu hẹp lại.”

Một phần vì Mỹ tích cực sử dụng “tình báo phủ đầu” – giải mật có chọn lọc các kế hoạch quân sự của Putin – nên Nga đã buộc phải bắt đầu lại từ đầu. Đối với Ukraine, và những người ủng hộ NATO của họ, triển vọng quân sự hiện tại đang lạc quan hơn bất cứ thời điểm nào kể từ khi cuộc xâm lược nổ ra ngày 24/02. Cuộc tấn công chớp nhoáng nhắm vào Kyiv của Putin đã bị hủy bỏ trong tháng 4, sau khi vấp phải sự kháng cự quyết liệt của người Ukraine, và còn vì lý do thương vong nặng nề. Các vấn đề về tiếp tế và tinh thần đã tạo ra vụ tắc đường dài nhất trên thế giới – đoàn xe tăng và xe bọc thép dài 65 km của Nga cuối cùng đã buộc phải lùi lại.

Nguyên nhân khiến Putin bị sỉ nhục đến từ việc Ukraine có nguồn thông tin tình báo phương Tây về các kế hoạch chiến đấu của Nga rất tốt. Theo Burns, thông tin tình báo phủ đầu cũng cướp đi những luận điệu mà Putin dùng cho cuộc xâm lược. “Tôi nghĩ rằng rất hữu ích khi tước khỏi tay Putin điều mà sau nhiều năm quan sát tôi biết rằng ông ấy đã thành thạo, đó là tạo ra những câu chuyện giả dối để mở đường cho những chiến dịch treo cờ giả (false-flag operations)” ông nói.

***

Hôm thứ Hai, Putin đã phủ nhận lo ngại về một cuộc tấn công mới và về việc mở rộng chiến tranh trong lúc ông phát biểu với dáng vẻ gần như cam chịu tại Quảng trường Đỏ. Lễ duyệt binh Ngày Chiến thắng 09/05 hàng năm, ngày kỷ niệm vai trò của người Nga trong việc đánh bại Đức Quốc xã trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, được coi là thời điểm để Putin tiết lộ thêm điều mà Kissinger gọi là quan điểm “gần như thần bí” của Tổng thống Nga về lịch sử. Về cơ bản, Putin đã viết lại quá khứ để phục vụ cho câu chuyện của ông về “phi phát xít hóa” Ukraine, cũng như liên kết NATO với thế giới quan bị cho là phát xít của Kyiv. Những sửa đổi của Putin đã tách Mỹ và Anh khỏi chiến thắng trước chủ nghĩa Quốc xã năm 1945. Chúng cũng ngó lơ Hiệp ước Bất tương xâm Xô-Đức năm 1939, trong đó hai chế độ đã đồng ý phân chia Ba Lan và các khu vực khác ở Đông Âu. Liên Xô thực ra đã chiếm Ukraine từ 20 năm trước.

Burns phát biểu hai ngày trước cuộc duyệt binh ở Moscow. Nhưng ông tin chắc rằng cuối cùng Putin sẽ quay trở lại tấn công. Ông nói, cuộc chiến có lẽ đang bước vào giai đoạn tiêu hao, trong đó Nga sẽ tìm cách củng cố và mở rộng vùng đất họ chiếm được ở phía đông, trước khi tập hợp lại để thực hiện một cuộc tấn công khác vào Kyiv. “Tôi nghĩ rằng ngay bây giờ, ông ấy bị thuyết phục rằng nếu quyết tâm, ông vẫn có thể đạt được tiến bộ,” Burns nói.

Binh lính Nga trong lễ duyệt binh Ngày Chiến thắng 09/05 ở Moscow trong tuần này ©Zuma Press/Eyevine

Cho đến nay, thành tích của tình báo Mỹ vẫn rất tốt. Ngoại trừ khả năng quân sự kém cỏi của Nga, điều khiến mọi người phải ngạc nhiên, chính quyền Biden đã đoán đúng gần như mọi động thái của Putin trước khi ông ta thực hiện chúng. Tuy nhiên, xác định lằn ranh đỏ cuối cùng của Putin có lẽ lại là câu chuyện của phỏng đoán. Có vẻ như ngay cả Putin, người chưa cho thấy ông đã nâng cấp chất lượng tình báo của chính mình – vốn còn tệ hơn cả tình báo Ukraine – cũng không biết đâu là lằn ranh đỏ của mình.

Điều này đặt ra một câu hỏi lớn hơn, về việc liệu Biden có đang đẩy sự can dự của Mỹ đi quá xa hay không. Khi chiến tranh nổ ra, Tổng thống đã rất nỗ lực để hạ thấp vai trò của Mỹ trong việc cung cấp vũ khí và dữ liệu cho Ukraine. Lính Nga càng bộc lộ nhiều điểm yếu quân sự, và nhiều hành vi tàn ác càng bị vạch trần, thì Biden càng trở nên táo bạo. Vào tháng 4, ông đã gọi Putin là tội phạm chiến tranh. Ông cũng mô tả cuộc chiến của Nga với Ukraine là “tội ác diệt chủng.” Tuần trước, các quan chức giấu tên tiết lộ với New York Times rằng tình báo Mỹ đã xác định được danh tính 12 tướng Nga đã thiệt mạng trong chiến tranh. Một nguồn tin khác của Washington Post nói rằng cơ quan tình báo Mỹ đã hỗ trợ điều phối để giúp đánh chìm Moskva, soái hạm của Nga trên Biển Đen, một trong những đòn tấn công hải quân tàn khốc nhất trong nhiều thập niên.

Biden đã khó chịu khi chứng kiến loạt thông tin rò rỉ, vốn không được giải mật hay được ủy quyền. Nhưng thật khó để không có ấn tượng rằng giọng điệu của Washington đã chuyển từ thận trọng sang khoe khoang. Burns chắc chắn không mong muốn điều này. “Thật là vô trách nhiệm,” ông nói. “Việc mọi người nói quá nhiều, cho dù là tiết lộ tin mật ở nơi riêng tư, hay thảo luận công khai về các vấn đề tình báo, đều rất nguy hiểm.”

Binh sĩ Ukraine mang cờ Mỹ ở Kyiv, ngày 07/03 © Polaris / eyevine

Điều này trở nên đặc biệt đúng khi đối thủ, vốn sở hữu vũ khí hạt nhân, đưa ra thật nhiều gợi ý về chuyện leo thang, vốn là điều mà Putin và các quan chức của ông đang làm. Dù Burns nói rằng tình báo Mỹ chưa phát hiện ra những dấu hiệu cụ thể cho thấy Putin đang triển khai vũ khí hạt nhân chiến thuật, nhưng tình hình có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Luận điệu tận thế của Moscow hiện trái ngược hẳn với phần lớn thời kỳ Chiến tranh Lạnh – chí ít là kể từ Khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962 – khi cả Washington và Moscow đều nói về vũ khí hạt nhân bằng thứ ngôn ngữ mơ hồ.

Burns nói, “Tôi nghĩ điều cực kỳ quan trọng mà cả người Nga và người Mỹ cần nhớ là, ngày nay, chúng ta vẫn là siêu cường hạt nhân duy nhất trên thế giới. Chúng ta cùng nhau kiểm soát 90% vũ khí hạt nhân trên thế giới, và ngay cả trong giai đoạn tồi tệ nhất của Chiến tranh Lạnh, các nhà lãnh đạo của Nga và Mỹ đều thể hiện nhận thức rằng chúng ta có những khả năng đặc biệt nhưng cũng có những trách nhiệm đặc biệt.”

***

Vậy tiếp theo là gì? Mục tiêu chính thức của Mỹ là muốn Nga bị đánh bại ở Ukraine. Còn mục tiêu không chính thức, mà Biden cũng chẳng buồn ngụy trang, là buộc Putin phải chịu trách nhiệm về tội ác chiến tranh của ông ta. Nói cách khác, Mỹ không muốn gì hơn là một sự thay đổi chế độ. Điều này cũng hoàn toàn đúng với Trung Quốc. Như Burns đã chia sẻ trong phỏng vấn với Financial Times, “Không một phút nào tôi không nghĩ rằng cuộc chiến Ukraine đã làm xói mòn quyết tâm giành quyền kiểm soát Đài Loan của Tập trong thời gian qua,” Trung Quốc của Tập Cận Bình vẫn là “thách thức địa chính trị lớn nhất mà chúng tôi phải đối mặt lâu dài với tư cách là một quốc gia.”

Giữa bối cảnh chiến tranh Ukraine, Biden dự kiến sẽ tới thăm Hàn Quốc và Nhật Bản vào tuần tới – chuyến đi nước ngoài đầu tiên của Tổng thống kể từ khi ông đến Warsaw vào tháng 4. Tuần này, ông sẽ tiếp các nhà lãnh đạo của ASEAN, Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á, tại Washington. Mục tiêu của Mỹ là cô lập Trung Quốc và sau đó thực hiện một số hình thức để “phân tách” kinh tế, dù vẫn còn thiếu nhiều chi tiết rõ ràng về cách thức triển khai trong thực tế.

Ngày nay, tinh thần chống Trung Quốc ở Washington cũng lên cao như xu hướng phân chia lưỡng đảng. Các thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa gọi Trung Quốc là “đế chế ma quỷ mới.” Tháng trước, một nghị sĩ Đảng Cộng hòa đề xuất một dự luật mới, gọi là luật AXIS – Đánh giá sự Can thiệp và Lật đổ của Tập (Assessing Xi’s Interference and Subversion) – trong đó yêu cầu Bộ Ngoại giao Mỹ báo cáo về mức độ hỗ trợ của Trung Quốc đối với Nga trong cuộc chiến. Tất nhiên, tên của dự luật là sự gợi nhớ đến liên minh phát xít giữa Đức, Ý, và Nhật trong Thế chiến II.

Mọi người chụp ảnh bài phát biểu của Henry Kissinger được chiếu trên TV tại Thượng Hải nhân kỷ niệm 50 năm Thông cáo chung Thượng Hải ©CNS/AFP/Getty Images

Trường phái chính sách đối ngoại “hiện thực”, mà Kissinger đại diện, đã gây được ấn tượng mạnh trong thời gian gần đây, và điều đó là xứng đáng. Ý tưởng rằng Nga nên có khu vực ảnh hưởng của riêng mình, bao gồm Ukraine, và việc phản đối sự mở rộng của NATO, có vẻ như là những luận điệu trơ trẽn nếu xét mong muốn chiếm đất rõ ràng của người Nga. Không chỉ là vô đạo đức, mà đó còn là hành động tự hại mình. Nếu Putin thắng ở Ukraine, toàn bộ châu Âu sẽ rơi vào bất ổn. Nhưng mọi thứ có thể sẽ khác, một khi Nga buộc phải thừa nhận thất bại quân sự của mình, vốn có vẻ là điều cuối cùng sẽ diễn ra. Tại thời điểm đó, Mỹ sẽ rơi vào một tình huống chưa từng có, khi phải đối đầu với hai cường quốc quân sự toàn cầu trong một liên minh mang tính tình thế nhằm chống lại Mỹ.

Cuộc xâm lược của Putin đã tạo ra hai phản ứng khác biệt trên khắp thế giới. Phương Tây hiếm khi nào đoàn kết hơn lúc này. Đức đã phá bỏ lập trường tồn tại hàng thập niên của mình – xoa dịu Nga thông qua thương mại và đầu tư. Thay vì nói về việc “Phần Lan hóa” Ukraine, đảm bảo tính trung lập của nước này, giờ đây có vẻ như Phần Lan sẽ tham gia NATO. Thụy Điển cũng đang cân nhắc sẽ làm như vậy.

Vladimir Putin với các nhà lãnh đạo đồng cấp tham gia hội nghị thượng đỉnh BRICS tại Brasília vào tháng 11/2019. Từ trái qua: Tổng thống Nam Phi Cyril Ramaphosa của,

Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, và Tổng thống Brazil Jair Bolsonaro ©Kyodo News/Getty Images

Tuy nhiên, ngoài phương Tây, thế giới đã phản ứng khác. Các nước lẽ ra thuộc phe dân chủ theo ranh giới phân chia toàn cầu của Biden, chẳng hạn như Ấn Độ và Mexico, đã bỏ phiếu trắng trong các cuộc bỏ phiếu của Liên Hiệp Quốc nhằm lên án hành vi xâm lược của Putin. Nhìn chung, những nước bỏ phiếu trắng hoặc phiếu chống để ủng hộ Nga đại diện cho hơn một nửa dân số thế giới. Nếu sau cùng chính quyền Biden buộc các nước thứ ba phải lựa chọn giữa Mỹ và Trung Quốc, trong bối cảnh phân tách kinh tế và công nghệ, thì không rõ phần lớn sẽ đi theo con đường nào. Ví dụ, các nước ASEAN có trao đổi thương mại với Trung Quốc gần gấp đôi so với Mỹ. Họ không muốn bị buộc phải lựa chọn. Nhưng nếu họ buộc phải chọn, thì câu trả lời có thể không phải là Washington.

Theo cách nói của Robert Kagan, Mỹ là một “quốc gia nguy hiểm” – đó là một cách nói khác rằng Mỹ đã sẵn sàng sử dụng vũ lực để xuất khẩu lý tưởng của mình. Tuy nhiên, lịch sử cho chúng ta biết rằng, Mỹ hoạt động hiệu quả nhất khi thực dụng, chẳng hạn như trong Chiến tranh Lạnh và Thế chiến II. Câu hỏi quan trọng thời hậu chiến đối với Mỹ sẽ là liệu họ có tìm cách thúc đẩy Nga và Trung Quốc xích lại gần nhau hơn, hay sẽ tìm kiếm những cách thức ngoại giao sáng tạo để phá lỏng sự liên kết này.

Với cả hai cách tiếp cận, rủi ro đều rất lớn. Kissinger nói, “Hiện chúng ta đang phải đối mặt với những công nghệ mà sự trao đổi nhanh chóng… có thể tạo ra mức độ thảm họa thậm chí không thể tưởng tượng được.” Thế giới đang chứng kiến việc lịch sử của Nga có thể khó lường đến mức nào. Nhưng việc Putin lạm dụng quá khứ có thể trở nên không là gì so với sự bất định đang bao trùm tương lai của tất cả mọi người.

E.L.

Edward Luce là biên tập viên về Mỹ của Financial Times

Nguồn:Nghiencuuquocte.org

Cảnh quay kinh dị cho thấy Nga sử dụng ‘bom mưa nhiệt rắn’ có thể đốt người đến trơ xương ở Ukraine

Cảnh quay kinh dị cho thấy Nga sử dụng ‘bom mưa nhiệt rắn’ có thể đốt người đến trơ xương ở Ukraine

29/05/2022

Vũ Quang / Thời báo.de Tổng hợp

Đoạn clip kinh dị cho thấy một cơn mưa nhiệt hạch

Đoạn phim kinh dị được cho là cho thấy Nga đang sử dụng những quả bom nhiệt rắn làm tan chảy xác thịt có thể đốt từ da thịt đến tận xương.

Đoạn video kinh hoàng xuất hiện cho thấy bầu trời đêm bừng sáng bởi một cơn mưa lạnh giá của nhiệt điện lấp lánh, đang cháy, một hỗn hợp hóa học giết người.

Thermite được cho là đã được phóng bởi các bệ phóng Grad của Nga bằng cách sử dụng tên lửa cháy 9M22S.

Đoạn clip, được chia sẻ bởi nhiều nhà báo có uy tín ở Ukraine, dường như được quay bởi một người lính trong đơn vị Vệ binh Quốc gia ở Donbas.

Nhà báo Euan MacDonald đã chia sẻ đoạn phim và nói trong chú thích: “Quân đội Ukraine đang phải đối mặt với một số loại vũ khí dã man, man rợ nhất từng được tạo ra.”

“Không có lý do gì để không nhanh chóng cung cấp vũ khí cho họ để chống trả.”

Một nhà báo khác là Illia Ponomarenko đã viết trên Twitter: “Bom, đạn Thermite được Nga sử dụng.”

Thermite, một hỗn hợp bột kim loại và oxit kim loại được sử dụng để chế tạo bom cháy.

Nó cháy ở nhiệt độ hơn 2.400C – quá nóng nó có thể cháy xuyên qua thép và bê tông.

Và nếu nó tiếp xúc với thịt người, nó có thể đốt cháy thịt và chỉ còn trơ xương.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền trước đó đã cảnh báo loại vũ khí chết người này có thể gây ra những vết bỏng cực kỳ đau đớn trên da người và có thể dẫn đến các vấn đề về hô hấp.

Việc sử dụng bom rất nguy hiểm vì phạm vi hoạt động rộng của chúng đồng nghĩa với việc không thể chứa chúng trên chiến trường – và tác động của nó có thể ảnh hưởng đến dân thường.

Các loại vũ khí sát thủ trước đây đã được quân Đồng minh và Đức sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ hai, kể cả trong vụ đánh bom Dresden vào tháng 2 năm 1945.

Những quả bom nổ mạnh và các thiết bị gây cháy đã được thả xuống thành phố khiến khoảng 25.000 người thiệt mạng.

Ngày nay, việc sử dụng thermite làm vũ khí gây cháy được coi là một tội ác chiến tranh.

Việc sử dụng nó đã bị cấm theo nghị định thư thứ ba của Công ước Liên hợp quốc về vũ khí thông thường năm 1980 tại Geneva.

Trước đó, Nga đã bị cáo buộc sử dụng bom phốt pho trong nỗ lực chiếm giữ nhà máy thép Mariupol Azovstal vào đầu tháng này.

Cảnh quay ấn tượng cho thấy một tên lửa của Nga phát nổ giữa không trung phía trên nhà máy với chất nổ rực lửa thả xuống.

Các quan chức Ukraine tuyên bố đoạn clip cho thấy lực lượng Nga thả bom cháy và phốt pho 9M22S xuống các xưởng luyện thép.

Nga cũng bị cáo buộc sử dụng vũ khí giết người sau khi xuất hiện cảnh quay được cho là cho thấy chất phốt pho trắng bốc cháy dữ dội trên mặt đất ở thành phố Kramatorsk, miền Đông nước này.

Phốt pho trắng gây thương tích và tử vong bằng cách đốt sâu vào mô, hít phải khói và ăn vào.

V.Q.

Nguồn: thoibao.de

Bộ trưởng Trần Hồng Hà “hô biến” sân vận động và cánh đồng thành “bể chứa nước”?

Bộ trưởng Trần Hồng Hà “hô biến” sân vận động và cánh đồng thành “bể chứa nước”?

Mai Bá Kiếm

30-5-2022

TP.HCM: SÁNG KIẾN CHỐNG NGẬP BẰNG LU!

Năm 2019, PGS.TS Phan Thị Hồng Xuân – đại biểu HĐND TP.HCM, hiến kế khi trời mưa, mỗi nhà hứng một lu nước sẽ góp phần làm giảm ngập cho TP.HCM. Mạng xã hội có dịp châm biếm, cười bể bụng vì sặc nước!

Sau đó, PGS.TS Hồng Xuân thanh minh thanh nga với Tuổi Trẻ: “Tôi dùng từ ‘cái lu’ vì muốn nhấn mạnh ở khía cạnh tri thức bản địa, theo phương diện dân gian, nhưng mọi người lại đẩy câu chuyện quá xa. Vì các chuyên gia JICA (Nhật) cho rằng nếu TP.HCM vận động mỗi hộ gia đình xây một bể chứa nước 1m3 sẽ góp phần làm giảm ngập”!

Bà Hồng Xuân chuyền “trái banh sáng kiến” sang JICA, tăng thể tích từ lu lên bể 1 mét khối. Tiếc quá, phải chi bà Xuân đề nghị mua lu từ năm 2015, thì năm 2016, TP.HCM không khởi công xây đê bao diện tích 570km2 và các cống ngăn triều ở hữu ngạn sông Sài Gòn, tốn 10.000 tỷ đồng mà vẫn trễ hẹn 4 năm, chưa hoàn thành!

Sau khi xây đê chống ngập xong, Sài Gòn sẽ không ngập trong nhiều thế kỷ, nhưng ở thiên kỷ sau, Sài Gòn sẽ giống y Hà Nội. Đáy sông Sài Gòn và Đồng Nai, Soài Rạp sẽ bị bồi lắng như sông Hồng (đáy sông Hồng cao bằng mặt đường Hà Nội).

BỂ CHỨA VÀ HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC MƯA THI CÔNG KHI KHỞI ĐẦU ĐÔ THỊ HÓA!

Khoảng năm 1993, TP.HCM tổ chức Hội thảo về “Nhà ở và môi trường” tại Dinh Thống Nhất. Một TS của Singapore cho biết, cuối thập niên 1960, Singapore thi công hạ tầng đô thị, với hệ thống mương hở thoát nước mưa, nắp bằng lưới thép (thoát nước nhanh và nhiều hơn hố ga thu nước). Nước mưa được gom về các bể chứa lớn, lọc thành nước sinh hoạt, và hệ thống cống kín thoát sinh hoạt, cũng được lọc thành nước tưới.

Khi người dân muốn xây nhà phải xin phép Cục thoát nước trước. Cục thoát nước sẽ cho mật độ xây dựng và cốt cao trình theo từng lưu vực dốc hay phẳng. Mục đích phải chừa đủ đất để nước mưa thẩm thấu xuống lòng đất, và cốt cao trình sẽ không cản dòng nước mưa chảy trên bề mặt. Sau khi Cục Thoát nước cấp các tiêu chí thoát nước, Cục Xây dựng mới cấp phép xây dựng.

THĂNG LONG NGÀN NĂM LẤY SÂN VẬN ĐỘNG VÀ CÁNH ĐỒNG LÀM BỂ CHỨA?

Khác với Singapore trẻ trung, xây bể chứa ngầm từ lúc đô thị hóa. Thăng Long đắp đê sông Hồng chống ngập từ thời Hai Bà Trưng! Đến thời Pháp, họ xây dựng Hà Nội còn chừa mấy trăm hồ lớn tích nước. Nay, nhiều hồ bị san lấp, lấn chiếm, mặt đường Hà Nội bằng đáy sông Hồng. Việc xây các bể chứa ngầm tích nước mưa và dùng cho mùa khô như Nhật là cực khó và tốn kém!

Vậy mà, bộ trưởng Tài – Môi Trần Hồng Hà, nói dễ như trở bàn tay: “Lấy sân vận động, trường học, cánh đồng làm bể chứa“. Theo “quy luật nước chảy về chỗ trũng”, các sân vận động phải thấp hơn mặt đường Hà Nội, thì nước mới tự chảy về đó được!

Các cánh đồng đương nhiên thấp hơn mặt đường, nhưng học sinh lớp 8 cũng biết theo “nguyên tắc bình thông nhau” mực nước trên các con đường sẽ bằng với mực nước trên cánh đồng, thì cánh đồng đã là bể chứa rồi?

Hà Nội và Tokyo “không cùng hàm lượng” về tri thức, khoa học, kỹ thuật, tài chính… mà ông Trần Hồng Hà vẫn khoái so sánh nhau: “Trong trường hợp thời tiết cực đoan hơn nữa thì phải có phương án xây dựng hệ thống để trữ nước. Như Nhật Bản có khu vực ngầm được bố trí, gọi là hầm chứa lớn ở dưới, vừa giữ lượng nước, vừa dự trữ nước để khi hạn hán thì sử dụng tưới cây.

Hoặc tại các trường học, sân vận động, cánh đồng, nếu có thể điều chỉnh van trong hệ thống để dẫn nước vào những nơi này, trở thành nơi chứa nước tạm thời để tránh ngập cho những nơi xung yếu”. Đọc đoạn cuối này, tôi biết ông Hà không hiểu “quy luật nước chảy về chỗ trũng” và “nguyên tắc bình thông nhau”!

Nước Mỹ nhiều súng quá! (VOA)

Nước Mỹ nhiều súng quá!

26/05/2022

Vụ thảm sát tại Uvalde là vụ án mạng trong trường học nặng nề nhất sau vụ tàn sát 20 học sinh tiểu học ở Sandy Hook, tiểu bang Connecticut năm 2012.

Nhưng chỉ có ở nước Mỹ họ có thể mua súng dễ dàng. Sau sinh nhật đủ 18 tuổi, Ramos đã đi mua hai khẩu súng máy AR-15. Nước Mỹ có 332 triệu dân, với 400 triệu khẩu súng trong tay tư nhân.

Trong năm 2021, cảnh sát Anh bắn chết hai người, cảnh sát Mỹ bắn 1,055 người, theo tuần báo The Economist. Số người chết chênh lệch như vậy – dù dân số Mỹ chỉ đông gấp bốn lần – vì phần lớn cảnh sát Mỹ phải đương đầu hoặc lo lắng họ đang phải đương đầu với những thường dân mang súng. Trong năm 2020, 45,000 người Mỹ chết vì súng; nhiều hơn số người chết vì tai nạn xe hơi. Số các vụ sát nhân ở Mỹ cao gấp 4, 5 lần ở các nước tiên tiến khác. Ở nhiều tiểu bang trong nước Mỹ, xin một con chó về nuôi bị nhiều luật lệ kiểm soát hơn là mua súng.

Mười ngày sau vụ Payton Gendron vào một siêu thị bắn chết 10 người da đen ở Buffalo, New York, Salvador Ramos dùng một khẩu súng tự động AR-15 vào một lớp học ở Uvalde (đọc là Yu Van Đi), Texas, bắn chết 19 học sinh lớp 4 và 2 cô giáo. Nhiều xác trẻ em nằm chất đống trên nhau. Cả hai thủ phạm đều 18 tuổi. Khoảng 30 phút trước khi ra tay, Ramos đã viết trên mạng báo trước sẽ bắn bà ngoại rồi đi bắn ở một trường tiểu học. Bà cụ may mắn chỉ bị thương.

Nhiều vụ bắn giết ở Mỹ không được mấy người chú ý. Theo tin Reuters cũng trong ngày 24 tháng 5, ba học sinh một trường tiểu học ở Washington D.C. bị thương vì súng bắn. Ngày hôm trước, ba học sinh trung học ở Philadelphia cũng may mắn thoát chết như vậy. Tuần trước, ba vụ nổ súng trong lễ bế giảng tại các trường ở tiểu bang Michigan, Louisiana và Tennessee. Từ đầu năm đến nay gần như ngày nào cũng xảy ra một vụ bắn giết, tổng công 137 lần, so với 249 vụ trong cả năm ngoái.

Salvador Ramos không tìm giết người vì kỳ thị chủng tộc như Payton Gendron. Cậu hận đời vì lớn lên luôn luôn bị bạn bè chế nhạo về tật nói lắp, đi học bị bắt nạt, không thể chịu được cả bà mẹ mình, sống với ông bà. Khắp thế giới không thiếu gì những thanh niên bất mãn với đời như vậy. Không ai có thể biết trước và ngăn cản được họ không hành động giết người để tự sát. Nhưng chỉ có ở nước Mỹ họ có thể mua súng dễ dàng. Sau sinh nhật đủ 18 tuổi, Ramos đã đi mua hai khẩu súng máy AR-15. Nước Mỹ có 332 triệu dân, với 400 triệu khẩu súng trong tay tư nhân.

Đây là vụ án mạng trong trường học nặng nề nhất sau vụ tàn sát 20 học sinh tiểu học ở Sandy Hook, tiểu bang Connecticut năm 2012. Năm 2018, 17 học sinh trung học bị giết ở Parkland, Florida. Năm 2017, 26 người bị bắn chết trong một nhà thờ ở Sutherland Springs, Texas… Năm nay, một người đàn ông 68 tuổi vào một nhà thờ ở Laguna Woods, California, bắn chết một tín đồ đang dự lễ. Năm 2018, một học sinh 17 tuổi vào một trường trung học ở Santa Fe, Texas giết 10 người. Năm sau, 23 người bị bắn chết trong một cửa hàng Walmart tại El Paso, Texas.

Hội Súng Toàn Quốc (NRA) luôn luôn bảo vệ quyền mua súng. Mỗi năm bầu cử quốc hội họ chi tiêu hàng triệu mỹ kim vận động cho các nhà chính trị cùng quan điểm. Họ nhắm triệt hạ các người muốn hạn chế việc bán súng, bằng cách moi móc các chuyện khác trong cuộc đời các ứng cử viên mà không cần nói gì đến súng.

Hội NRA và những người ủng hộ súng vẫn biện minh rằng “Súng không giết người! Người giết người!”

Nhưng nếu trong tay dân Mỹ không có sẵn súng thì không nhiều người bị bắn chết như vậy. Những kẻ trộm cắp không có súng thì khó giết người. Vợ chồng cãi cọ cũng không gây nên án mạng nếu không có sẵn súng. Có súng, người ta tự tử dễ dàng hơn. Các vụ sát nhân ở Mỹ cao gấp 4, 5 lần các nước tiên tiến khác.

Nước Mỹ cần áp dụng các biện pháp ngăn ngừa, như các nước khác. Ai mua một khẩu súng đều phải được giấy phép, sau khi điều tra lý lịch. Mua một khẩu súng phải được ghi danh, gia hạn hàng năm, như khi mua xe hơi. Tư nhân không cần phải mang súng, nhất là loại súng tự động giết hàng loạt.

Ở Anh quốc, sau vụ bắn chết 16 người ở Hungerford năm 1987 bằng súng AK-47 của Trung Cộng, cả nước kinh hoàng. Năm sau, Thủ tướng Margaret Thatcher đã ủng hộ một đạo luật cấm các loại súng tự động. Một vụ tàn sát 16 học sinh và thầy giáo ở Scotland bằng súng ngắn năm 1996 đưa tới các luật lệ gắt gao hơn. Chính phủ đã mua lại hàng chục ngàn khẩu súng của tư nhân. Từ năm 2005, sau khi lên cao nhất, số vụ bắn giết đã giảm bớt.

Ở Australia, sau khi 35 người bị giết ở Tasmania bằng súng AR-15 năm 1996, chính phủ John Howard đã hợp tác với các tiểu bang hạn chế quyền sử dụng súng tự động. Trong một năm, họ đã mua lại 650,000 khẩu súng; từ đó các vụ bắn chết người cũng giảm.

Tại New Zealand năm 2019, hai giáo đường Hồi Giáo bị bắn, 51 người thiệt mạng. Thủ tướng Jacinda Ardern kêu gọi và toàn thể quốc hội thông qua đạo luật cấm tất cả các loại súng tự động. Trước đó, trong dân số 5 triệu người có 250,000 giữ súng.

Tháng Tư năm 2020, một người Canada mặc giả đồng phục cảnh sát bắn giết 22 người trong 13 tiếng đồng hồ tại tỉnh Nova Scotia. Thủ tướng Justin Trudeau đã ban hành lệnh cấm 1,500 loại súng máy, kể cả AR-15.

Nhưng với thế lực rất mạnh của Hội Súng Toàn Quốc NRA, nước Mỹ khó lòng kiểm soát súng chặt chẽ như các nước khác.

Ngày Thứ Sáu này, NRA sắp họp đại hội ở Houston, Texas. Cựu Tổng thống Donald Trump và ông Thống đốc Greg Abbott sẽ tới dự. Các vị khách quý này có thể yên tâm đọc diễn văn. Vì cơ quan Mật Vụ có nhiệm vụ bảo vệ các vị cựu tổng thống, sẽ kiểm soát phòng họp bằng máy đo từ tính (magnetometers). Và họ đã ra lệnh cấm không ai được mang súng vào hội trường, những loại súng bắn tia laser, bắn hơi cay và kể cả súng đồ chơi của trẻ em. Người tham dự cũng không được mang túi đeo vai.

Nếu các trường học đều được kiểm soát kỹ như vậy, hy vọng số học sinh bị bắn giết sẽ giảm bớt.

Ngay sau vụ tàn sát ở Uvalde, Steve Kerr, nhà dìu dắt đội bóng rổ Golden State Warriors, đã lên tiếng, trước trận chung kết với đội Mavericks, Dallas. Theo nhật báo The Wall Street Journal, Kerr kêu gọi Thượng viện Mỹ hãy thông qua dự luật hạn chế quyền mua súng. Dự luật này đã bị ngâm tôm sau khi Hạ viện thông qua và chuyển lên từ năm ngoái. Nhưng Thượng viện Mỹ cần 60/100 lá phiếu ủng hộ, mà 50 nghị sĩ Cộng Hòa đều không đồng ý. Steve Kerr đã gọi đích danh Nghị sĩ Mitch McConnell, thủ lãnh khối thiểu số ở Thượng viện: “Tôi xin hỏi ông Mitch McConnell, quý ông còn tiếp tục đặt tham vọng chính trị lên trên mạng sống của trẻ em, của các cụ già đến bao giờ?”

Một ngày sau vụ tàn sát ở Uvalde, Đức Giáo Hoàng Francis ở xa xôi cũng phải kêu gọi: “Chúng ta phải cam kết với nhau không để cho thảm cảnh này diễn ra nữa. Đã tới lúc chúng ta phải lên tiếng chấm dứt việc buôn bán súng.”