Một chút để suy gẫm – Nhà báo Hoàng Nguyên Vũ

Nhà báo Hoàng Nguyên Vũ

Tôi từng ngồi ở hành lang bệnh viện vào một chiều oi ả, khi nghe thấy một câu nói mà đến giờ, mỗi lần nhớ lại, lòng tôi vẫn thắt lại một nhịp.

Một cô hộ lý trẻ nói với giọng bực dọc:

– Bác ơi, bác lại tè ra giường nữa rồi đó nha!

Cụ ông nằm trên giường, ánh mắt ngơ ngác như đứa trẻ bị bắt quả tang làm điều sai.

Ông quay mặt vào tường. Không nói. Chỉ lặng lẽ.

Ở giường bên, một người nuôi bệnh khẽ nói với con gái:

– Con nít tè dầm thì người ta thương. Người già tè dầm… lại bị mắng.

Cô gái gật đầu, rồi hỏi nhỏ:

– Sao lại vậy má?

Bà đáp, chậm rãi, như thể chạm vào một nỗi niềm mà chỉ ai từng già đi, từng lặng lẽ một mình, mới hiểu hết:

– Vì người già… không còn mẹ để thương nữa.

Người ta hay nói: “Già như con nít.” Nhưng không.

Trẻ con có mẹ.

Người già thì không.

Trẻ con lấm lem thì có người lau mặt, dỗ dành, xoa đầu mà bảo:

 “Không sao, mẹ đây rồi.”

 Người già lấm lem thì bị nhíu mày, bị nhắc nhở, bị những cái thở dài kéo dài đến rã rời.

Trẻ con được nâng niu vì còn cả một đời phía trước.

Người già bị bỏ mặc… vì chẳng còn bao nhiêu đời để mà mong chờ.

Tôi nhớ cha mình – một người thợ mộc từng thẳng lưng suốt đời, từng không biết cúi đầu trước ai – đứng run rẩy ở cửa phòng tôi, chỉ để thốt lên một câu:

“Con ơi, giúp ba thay áo với.”

Ông đứng đó, như thể xin một đặc ân.

Tôi bước ra, thấy bàn tay ông đã không còn vững, cúc áo cài lệch, vạt áo lộn trong ra ngoài.

Lòng tôi thắt lại.

Người từng dạy tôi cài khuy áo… giờ không cài nổi áo cho mình.

Ông xấu hổ. Không phải vì chiếc áo.

Mà vì lần đầu trong đời, ông cần con trai… như ngày xưa tôi từng cần ông.

Người già không đáng thương vì họ yếu.

Họ đáng thương… vì họ đã từng mạnh.

Từng đội mưa đạp xe mấy chục cây số chỉ để con kịp đến lớp.

Từng nhường miếng cá cuối cùng trong nồi canh chua cho đứa con thích ăn đầu.

Từng thức cả đêm chỉ để mở cửa khi ta đi chơi về muộn mà không một lời càm ràm.

Giờ đây, họ chỉ mong một bàn tay đủ dịu dàng để không gạt đi, đủ kiên nhẫn để không gắt gỏng.

Họ chỉ mong… một người chịu nắm tay họ đi qua đoạn đời cuối cùng – như chính họ đã từng nắm tay ta qua những tháng năm đầu tiên.

Chúng ta thương con bằng bản năng.

Nhưng lại thương cha mẹ già… bằng sự kiên nhẫn giới hạn.

Vì sao?

Vì ta đã quen thấy họ gồng gánh, mạnh mẽ.

Nên khi họ yếu mềm, ta bối rối.

Khi họ lẩm cẩm, ta khó chịu.

Khi họ phụ thuộc, ta lảng tránh.

Ta quên mất rằng…

Người từng là chỗ dựa, cũng cần được dựa lại.

Người từng thay ta tã, giờ chỉ cần ta lau cho họ một giọt nước tiểu mà không rít lên vì mệt.

Đừng đợi đến khi họ không còn… rồi mới thốt hai chữ “giá như”.

Giá như mình nhẹ giọng hơn một chút.

Giá như mình không gắt lên hôm đó.

Giá như mình chịu dắt mẹ ra ngồi nắng chiều trước cổng, chỉ vài phút thôi…

Người già không còn mẹ.

Và chúng ta – những đứa con – chính là phần dịu dàng cuối cùng họ còn.

Thương một người già, đôi khi không cần phải làm điều gì lớn lao.

Chỉ cần đủ kiên nhẫn để đừng khó chịu.

Đủ mềm lòng để không nhẫn tâm.

Và đủ tử tế… để không rời tay họ, khi họ bắt đầu run rẩy.

 Nhà báo Hoàng Nguyên Vũ

From: taberd & NguyenNThu

ÔNG SƯ NHÀ QUÊ – VŨ VĂN QUÝ

VŨ VĂN QUÝ

( Một tấm gương tốt lành rất đáng tôn vinh.)         

ÔNG SƯ NHÀ QUÊ

   “Tưởng niệm cố Hòa Thượng THÍCH THANH LONG –
một cựu Tù Nhân Chính Trị – nhân giỗ mãn phần 28 năm ( 29/11/1991 – 2019).”

BÀI CA KINH HÒA BÌNH
VŨ VĂN QUÝ

Tôn giáo nào cũng có những vị chân tu – những bậc lành thánh – suốt đời hiến thân cho lý tưởng thiêng liêng cao cả của mình đã chọn. Nhiều vị đã cùng sống chết với tha nhân và chết cho đạo pháp và trở nên hiển thánh được đời sùng bái tôn thờ chẳng hạn như thánh Maximilian Kolbe… (*). Tấm lòng vị tha chan chứa tình người của họ tỏa ra vô biên không vị kỷ, không đóng khung hạn hẹp ở lằn ranh tôn giáo. Biết bao công đức của họ được truyền tụng từ thế hệ này qua thế hệ khác được kể lại bằng những câu chuyện đầy cảm kích. 

Cách nay gần 3 thập niên trên tờ Đất Mẹ số 38 (Đất Mẹ là tờ báo nguyệt san Công Giáo) chúng tôi đã viết dưới đề tựa ” Nén Hương Cho Hòa Thượng THÍCH THANH LONG” ngay sau khi ngài viên tịch tại Sài Gòn. Từ sau ngày ấy đến nay, nhiều báo Việt ngữ tại Hoa Kỳ cũng có những bài viết về ngài, điểm đáng chú ý là những tác giả này đa số là những tù nhân chính trị người Công Giáo trong đó có một số các vị linh mục đang có mặt tại Hoa Kỳ, những người đã một thời sống cùng với cố hòa thượng ở các trại tù từ Nam chí Bắc, tất cả đều tỏ lòng tôn kính, ngưỡng phục. 

Tang lễ cố Hòa Thượng THÍCH THANH LONG  được mô tả như một đám rước hết sức trọng thể. Đoàn người tham dự đã phủ kín con đường dài 5 cây số từ cổng Chùa Giác Ngạn đường Trương Minh Giảng Sài Gòn tới Nghĩa Trang Bà Quẹo không chỉ gồm các đoàn thể Phật tử, các thiện nam tín nữ mà có mặt đủ mọi thành phần tôn giáo cũng như rất đông đảo các cựu Tù nhân Chính trị. 

Trước năm 1973, Hòa Thượng mang cấp bậc Trung Tá làm Phó Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo cho đến khi thượng tọa Thích Tâm Giác đi Nhật bản trị bệnh thì Hòa Thượng mới lên làm Giám Đốc và cũng được thăng cấp Đại Tá tuyên úy từ dạo đó. 

Ngày 13/6/1975 bị việt cộng bắt đi cải tạo và đem ra Bắc. Đến ngày 12/9/1987 được tha trở về lại Chùa Giác Ngạn Sài gòn và mãn phần tại đây. 

Ngược dòng thời gian gần 3 thập kỷ, năm ấy cũng vào mùa thu (1982), trại cải tạo Hà Tây tiếp nhận thêm khoảng 80 tù nhân chính trị (TNCT) từ trại tù Thanh Phong chuyển đến. Đa số thành phần thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị gồm các ngành Tâm Lý Chiến, An Ninh Quân Đội và Tuyên Úy của Quân Lực VNCH. 

Trại Hà Tây có tất cả 12 buồng giam. Số TNCT mới đến bị nhốt trong buồng số 7. Buồng này rất kín cổng cao tường bao quanh chằng chịt kẽm gai vì trước đó được dùng để nhốt các tù hình sự có trọng án nên được canh gác cẩn mật. Việt cộng coi những TNCT này là những đối tượng cực kỳ nguy hiểm. Khoảng một tháng sau khi được thanh lọc kỹ càng  thì việt cộng mới mở cửa cho đội Tuyên Úy ra ngoài lao động; tuy vậy buồng 7 vẫn chưa được ra sân lớn tập họp điểm số như các buồng khác. Đội Tuyên Úy lúc này do linh mục Nguyễn Quốc Túy – cha Túy là cựu Thiếu Tá Biệt Động Quân, một mẫu người trẻ năng nổ, ứng phó thần kỳ đã được các vị tu sĩ cử ra đứng mũi chịu sào để điều động đội này xử trí với những thủ đoạn thâm độc của việt cộng. Công việc chính của đội tuyên úy lúc đó là đào đất đắp đường và kéo xe thay thế trâu bò.

Lần đầu tiên tôi được cha Túy mời dự bữa cơm trưa thân mật tại sân buồng 7. Có khoảng chục người trong đó có linh mục Khổng Tiến Giám bào đệ của linh mục Khổng Tiến Giác tuyên úy Bộ Tổng Tham Mưu, linh mục Nguyễn Văn Thịnh cựu giám đốc nha tuyên úy Công giáo, các mục sư Xuân, Điểu Huynh và các đại đức Tâm, Khuê, Tùng và hòa thượng Long. Ngoài đội tuyên úy chỉ có 2 khách mời là tôi và Đại tá Trần Mộng Chu nha Quân Pháp. Hầu như không phân biệt tôn giáo và cấp bậc, tất cả các vị tuyên úy đều xem hòa thượng Thích Thanh Long như một người anh cả và xưng hô một cách chung chung là thầy Long. Mỗi khi nhắc đến thầy Long thì mọi người đều nói về thầy với niềm kính ái trọng vọng. 

Thoạt đầu khi chưa giới thiệu từng người trong bữa tiệc, tôi ghé vào tai cha Túy hỏi có phải người ngồi trước mặt cha là Thầy Long không thì cha lắc đầu. Cung cách bề ngoài và bộ quần áo mới màu đà còn tươi của vị này làm cho tôi lầm ông với hòa thượng Long. Rồi cha chỉ cho tôi người ngồi đối diện với tôi. 

Vóc gầy gò, dong dỏng cao, da ngăm ngăm, hàm răng nhỏ và đen huyền, tóc cạo đúng tiêu chuẩn sư tăng nhà Phật, mặc bộ đồ cũ đơn sơ, khuôn mặt hiền hậu nhưng khắc khổ, toát ra vẻ chân tu như thánh Găng Đi nhất là cặp mắt sáng, sâu, đen láy, rất ít nói nhưng quan tâm lắng nghe mọi người xung quanh. Đó là người ngồi đối diện với tôi. Người đó chính là Thầy Long. Tôi nhìn ông khẽ cúi đầu và ông nhìn tôi với đôi mắt hiền từ trìu mến. Ông đã trao cho tôi một nụ cười thật kín đáo.

Tháng 3/1983, trại Hà Tây sắp giải thể và chuyển hết các TNCT về Nam Hà. Các vị Tin Lành và Phật Giáo được phân tán về các đội lao động. Riêng các tuyên úy Công Giáo chờ phương tiện chuyển ngược về trại tù Thanh Phong. 

Năm 1985, tôi và thầy Long bị giam chung  tại Nam Hà và chính thời gian này tôi được biết thầy nhiều hơn. Có những người đã biết và nói rằng trước ngày di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, thầy đã trụ trì tại một ngôi chùa ở một làng tại tỉnh Nam Định và được đông đảo tín hữu mến mộ. Nhiều đêm tâm sự với thầy trong buồng giam, tôi cố gợi chuyện để biết thêm nhưng thầy là người điềm đạm khiêm tốn chỉ kể với tôi là thầy xuất gia đầu Phật từ lúc 12 tuổi. Quyết tâm tu hành, không muốn vương vấn nợ trần, thầy đổi tên là Nguyễn Văn Long và hầu như hoàn toàn không ai biết được tên thật và quê quán của thầy. Thầy thuộc nhiều địa danh ở Nam Định, khi tôi kể chuyện liên quan đến những vùng Cổ Lễ, Cổ Ra, Văn Tràng, Trực Ninh, Nam Trực, Quần Phương, Lạc Quần v.v. thì bỗng nhiên đôi mắt thầy rực sáng lên và có vẻ thích thú. Tôi đoán có lẽ thầy đã trải qua thời thơ ấu tại một trong những địa danh này chăng? 

Thầy nói năm 16 tuổi, thầy chỉ lén về nhà nhìn mặt thân phụ của mình từ trần rồi lại lặng lẽ ra đi. Lý tưởng của thầy là Phật pháp, tình yêu của thầy là tha nhân, thân bằng quyến thuộc của thầy là Phật tử. Thầy có một cuộc sống vô cùng mộc mạc, đơn sơ, đức độ, lúc đi tu cũng như lúc ở tù. Thầy thường nói với tôi : “Tù cũng là tu”. Vốn có một tâm hồn thanh tịnh như đóa sen nở trên mặt hồ không gợn sóng lúc nào cũng toát vẻ chân tu khiến người bàng quan thấy thầy là cõi phúc. Lúc nào thầy cũng tự nhận mình là một “Ông Sư Nhà Quê”.  Đúng như vậy. 

Trong thời kỳ đói khát, tù nhân chưa được gia đình tiếp tế thăm nuôi đã có kẻ lấy chiếc lon ghi gô đựng nước uống của thầy nhét đầy thịt heo đánh cắp của trại, lúc bị phát giác không ai dám nhận. Cuối cùng để tránh phiền lụy cho một số người, thầy không ngần ngại đứng ra nhận chiếc lon đó là của thầy mặc dù ai cũng biết thầy ăn chay trường và kẻ nào là tên ăn trộm lúc bấy giờ. Khi nào trại cho tù nhân chút ít thịt để “bồi dưỡng”, thầy thường nhường cho các anh em đau ốm bệnh hoạn.

Đến khi được thăm nuôi tiếp tế, Phật tử khắp nơi đến thăm thầy hầu như hàng tuần. Những quà tiếp tế, thầy đem chia cho các bạn tù. Quần áo chỉ giữ 2 bộ. còn bao nhiêu cũng đem cho hết. Thầy thường xuống bệnh xá thăm viếng những người đau ốm và đem quà bánh thuốc men  xuống cho họ. Thầy rất quan tâm đến những “con bà phước” (**) bị bỏ quên trong trại. 

 Một vài trường hợp điển hình:

– Anh Khương, Phó Quản Đốc Trung Tâm Cải Huấn Côn Sơn – một người Công Giáo – bị địch bắt ngay trong lúc còn đang mặc sắc phục và bị việt cộng đánh nhừ tử. Hậu quả của những trận đòn thù khiến anh Khương trở thành bại liệt, á khẩu, tay chân co rút. Anh bị mất liên lạc với gia đình từ ngày bị bắt. Gần 13 năm, anh mới bập bẹ nói được một tiếng “dôi, dôi” như đứa trẻ mới tập nói. Thầy Long đã đích thân chăm sóc đút cơm, tắm rửa cho anh Khương như một người thân, đặc biệt là khi trại đọc lệnh tha nhưng anh không biết về đâu và không thể đi được một mình. Chính thầy Long đã giúp anh một số tiền và nhờ đại đức Tâm được tha cùng một lượt với anh Khương về trước tìm kiếm thân nhân của anh ở tận miền Tây để ra đón anh. 

– Anh Nguyễn viết Tân, Đại tá hải quân QLVNCH bị bán thân bất toại và bệnh nặng trong lúc mọi người ai nấy đều lo cho bản thân mình và tình thương giữa con người đã trở nên mệt mỏi thì thầy Long cũng chính là người tình nguyện chăm sóc anh Tân cho đến khi anh được người nhà ra đón kịp  về rồi chết. 

Một trường hợp khôi hài khác là ở trong trại có một anh tên Nguyễn Huệ, “vô tông tích” tự xưng là trung tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 23B (?). Có một thời gian anh ta bị giam chung với các tướng lãnh QLVNCH nhưng sau việt cộng phát giác “tướng Nguyễn Huệ”  chỉ là một tên điên khùng  và bị loại ra khỏi đội. Thấy thầy thương người và dễ dãi, “tướng Nguyễn Huệ” thường hay chạy theo quấy quả xin xỏ cơm và thuốc lào. Hễ trông thấy anh ta là thầy tủm tỉm cười, thầy không hề tỏ vẻ khó chịu và còn đi kiếm thuốc lào cho anh ta, tuy thầy chẳng bao giờ hút thuốc. 

Tù nhân được tha dần nhưng vẫn còn tồn đọng một số khá lớn trong đó có các đại đức Tâm, Khuê, Xuân, Tùng, Trí, Bình, Ngự, Học, Diệu v.v. Mỗi lần thầy Long được thông báo có thăm nuôi thì các vị này đã sắm sẵn bao bị và tận tình giúp đỡ thầy. Thầy thường nói : ” Hôm nay tôi lại có thánh Veronica đến thăm nuôi “. Đây cũng là dịp thầy tập họp các tu sĩ Phật giáo ở trong trại tù để phân công đi thăm viếng bệnh nhân hoặc cắt cử họ đến tụng kinh và cầu siêu mỗi khi có người tạ thế.

Vào các dịp lễ Noel hay Tết âm lịch, thầy cũng dành dụm chút gạo, đậu xanh, đường tán và khởi xướng việc nấu chè ăn chung cả buồng mang niềm vui nhỏ bé đến cho mọi người và còn dốc hết “hầu bao” giúp các anh em nghèo đói nhất trong trại. 

Thầy rất thích nghe tôi đánh đàn và kể chuyện cuộc đời thánh Phanxicô Khó Khăn (Francis 0f Assisi) nhất là những câu hát ý nghĩa thâm thúy trong Kinh Hòa Bình. Cứ vào mỗi sáng sớm Chủ Nhật được nghỉ lao động, trong khi tất cả mọi người còn nằm trong mùng thì thầy đã đánh thức tôi và khẽ nói : “Ông Quý ơi ! Dậy cho anh em nghe đàn đi !” Thế rồi âm thanh của chiếc đàn gỗ tự tạo ở trong tù của tôi nhè nhẹ vẳng ra tiếng thay lời trong âm giai cung Mi buồn ” Lạy Chúa từ nhân, xin cho con…..” hầu như không làm cho ai khó chịu cả. 

Tấm lòng cao quý của thầy sáng như ngọn đuốc trong trại tù tăm tối, không những đối với các bạn tù chính trị mà còn lan tỏa  đến cả những tù hình sự giam chung cùng trại. 

Như một tấm huy chương vô giá mà trên cõi đời này không thể đem ra so sánh được, thầy đã đối diện với bọn cai tù khát máu, trước họng súng AKA mà không hề nao núng và không sợ chết. Thầy đã được các vị tuyên úy Công Giáo ca ngợi vì đức bác ái và lòng hỷ xả, quên mình và chấp nhận những gì bất hạnh xảy đến. Trong cuốn AKA và Thập Giá của linh mục Phan Phát Huồn, Dòng Chúa Cứu Thế trang 107-108 kể chuyện đám tang của Cha Nguyễn Văn Bản, Dòng Đa Minh, tuyên úy Tổng Y Viện Cộng Hòa chết tại trại giam Yên Bái. Sau khi chôn cất, việt cộng bắt các tù nhân cải tạo lên lớp hội thảo để lên án và làm nhục người đã chết. Chúng vu cáo cho Cha Bản là một tên ác ôn côn đồ, chạy theo Mỹ Ngụy giết hại đồng bào, một tên có nợ máu đối với nhân dân, một tên lường gạt vv.. Nghe tên Nha, công an việt cộng lải nhải nhục mạ một người đã khuất mà người đó vốn là một người đạo đức gương mẫu, không dằn nổi sự bất bình, thầy Long đã đứng lên bênh vực bằng một giọng ôn tồn nhưng cương quyết : 

” Tôi được biết Linh Mục Bản ngoài xã hội cũng như ở trong trại cải tạo là một con người đạo đức, được mọi người kính nể…” Tên việt cộng hống hách nạt nộ:

” Anh im mồm ngay. Anh Bản đã bị nhà nước cách chức linh mục của anh ta từ ngày anh bước chân vào trại cải tạo, còn anh, anh đừng có hòng đem cái bọn cha cố vào đây mà hù dọa cách mạng…”  nhưng thầy Long đâu có chịu im. Đợi cho tên việt cộng vừa dứt lời thì thầy nói tiếp:

” Nếu linh mục đều như cán bộ nói thì làm sao dân chúng tin tưởng và kính mến họ. Mặc dù  cán bộ đã cấm các trại viên gọi các linh mục là Cha và tự xưng mình là con, trại viên nào không tuân thì sẽ phải xử lý, nhưng thưa cán bộ, có ai chấp hành lệnh đó không? Trái lại, đối với công chức nhà nước, trước mặt họ gọi là cán bộ nhưng sau lưng họ gọi bằng thằng việt cộng thì cán bộ nghĩ sao?” 

Như một con hổ bị trúng đạn, hai mắt hắn đỏ ngầu giận dữ, nhảy chồm tới nhìn trừng trừng vào thầy Long, quát thật lớn văng cả nước miếng vào mặt người đối diện và hắn ra lệnh:

“À anh này hỗn thật, yêu cầu các đồng chí đem cùm tên này cho tôi, biên bản sẽ làm sau.” 

Thầy Long vẫn tiếp tục nói một cách hùng hồn cho đến lúc lính cảnh vệ việt cộng mang AK xông tới còng hai tay ông, ông không tự bênh vực cho mình, ông vẫn bình thản đưa hai tay cho chúng còng để chúng đem đi. Đây thật là hình ảnh một con chiên hiền lành đứng trước kẻ xắn lông mình mà không nói lời than trách như đã được diễn tả trong Kinh Thánh. (Cv.8.32-33). 

Cuối năm 1987, thầy Long được tha về. Cởi bỏ chiếc áo chàm cải tạo, thầy lại khoác chiếc áo màu đà. Từ khi trở về Chùa Giác Ngạn, thầy không giữ chức trụ trì như trước, thầy sống trên căn gác xép tại góc vườn nhưng hàng ngày rất đông người đến thăm viếng và ngôi chùa được trùng tu lại, trở nên đẹp đẽ khang trang hơn cũng nhờ uy tín và sự quan tâm của thầy. Hầu như ai cũng cảm mến gương hy sinh, lòng can đảm, tánh cương trực của thầy Long. Có những vị Linh Mục không đi cải tạo mà chỉ nghe tiếng thôi cũng muốn đến thăm thầy Long tại Chùa Giác Ngạn. Tôi hỏi Cha Vũ Ngọc Trân, Chánh Xứ Chu Hải tỉnh Phước Tuy, cha nghĩ thế nào khi đến thăm Hòa Thượng Thích Thanh Long tại Chùa Giác Ngạn? Cha đã trả lời một cách không dè dặt: ” Tôi nghĩ Chúa sẽ thưởng công cho bất cứ ai biết khao khát trọn lành, thương người và giúp đỡ bênh vực người. Chúa nói kẻ nào giúp đỡ người đều có công trước mặt Ta. Tôi nghe các cha tuyên úy đi cải tạo về có nói nhiều về ông. Tôi cũng mến mộ ông và việc tôi đến thăm cơ sở một tôn giáo khác đâu có gì làm suy giảm đi lòng kính mến Chúa nơi tôi đâu. Nếu nói đó là một hình thức trao đổi văn hóa thì cũng chẳng sao!” (Cha Đa Minh Vũ Ngọc Trân cũng đã qua đời tại Xứ Chu Hải Bà Rịa ngày 24/2/1992). 

Trong thời gian chưa mắc bệnh ung thư nơi xương tọa, phương tiện chính của thầy trong thành phố là “xe đạp ôm”. Thầy thường ngồi trên “poóc ba ga” phía sau để cho một chú tiểu chở đi. Người ta thấy thầy xuất hiện ở nhiều nơi và tình thương của thầy dường như vẫn đặc biệt dành cho bạn tù cải tạo còn trong trại giam hoặc đã được tha về. Khi biết có ai đi xuống trại Z30D thì thầy cũng nhắn lời thăm hỏi, có đôi lúc  thầy gửi một cần xé chôm chôm hoặc vài thùng mì gói xuống phân phát cho anh em chưa may mắn được về sum họp với gia đình. Khi nghe tin có người vừa mất, bất luận ở đâu, không phân biệt tôn giáo, nơi cầu siêu hay chốn làm phép xác, tại chùa hay nhà thờ thánh thất, thầy cũng đều có mặt để phân ưu với gia đình người quá cố, thầy không ngần ngại đến vì “nghĩa tử là nghĩa tận”. Tôi đã gặp thầy và cùng đứng chung với thầy dưới gốc cây xoài trước tượng đài Đức Mẹ trong khuôn viên Nhà Thờ Ba Chuông để chờ tiễn đưa linh cữu của cố Trung Tá Nguyễn Thủy Chung và cố Trung Tá Nguyễn Anh Ly mất vào những năm 1989-1990. 

Rất nhiều cựu TNCT nay đang có mặt tại Hoa Kỳ hoặc định cư rải rác trên khắp thế giới vẫn nhắc đến thầy Long. Ký giả Lô Răng tức cố Trung Tá Phan Lạc Phúc và Trung Tá nhà văn Hoàng Ngọc Liên, Ký giả Vũ Ánh… cũng có những bài viết rất sâu sắc về thầy.                                                                    

                                                    *    *     *

Tôi chẳng có tư cách gì và cũng chẳng dám đưa ra nhận xét nào để “phong thánh” cho một con người mà tôi quen biết trong một thời gian hạn hẹp. Dưới nhãn quan của một tín đồ Công Giáo, dù sao tôi cũng chỉ là một chứng nhân với biểu kiến riêng, tôi xem Hòa Thượng Thích Thanh Long là một tấm gương rất tốt lành, đáng kính và đáng tôn vinh mà thời đại ngày nay thắp đuốc giữa ban ngày đi tìm cũng khó kiếm. Một người đã hy sinh tất cả để trọn đời đi theo con đường giống như của thánh Phanxicô Khó Khăn tác giả bài ca KINH HÒA BÌNH đã đi. 

Thầy Long luôn đề cập KINH LỤC HÒA trong Diệu Pháp Liên Hoa cho các đệ tử. Chính vì thế mà thầy rất thích KINH HÒA BÌNH của thánh Phanxicô lúc ở trong tù thì sau này tôi mới nghiệm ra vì nó ẩn chứa những điều uyên thâm sâu xa nói về đức bác ái và lòng từ bi cũng giống như KINH LỤC HÒA. Tôi không ngờ thầy Long lại là một người bạn tri âm của tôi và ngày nay mỗi khi dạo nhạc hát lên bài ca KINH HÒA BÌNH tôi lại nhớ đến thầy. 

Từ cõi bên kia, tôi tin rằng thầy đang mỉm cười và chăm chú lắng nghe tôi hát:

“Lạy Chúa từ nhân! Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lạy Chúa xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm…”  

Tôi sẽ nhớ thầy mãi mãi cùng với bài ca KINH HÒA BÌNH trong tiếng tơ đồng của cung Mi buồn. 

VŨ VĂN QUÝ

(*) Cha Nguyễn Quốc Túy hiện nay làm cha xứ Tân Thái Sơn tại Sài Gòn.

(*) Con bà phước: tù nhân mồ côi, không người thăm viếngthiếu thốn.


 

Hồi xưa chợ Thủ Đức không có ngập…

Nguyễn Gia Việt

 Chợ Thủ Đức là một khu chợ cổ gắn liền với sự hình thành và phát triển của vùng đất Thủ Đức từ thuở lập ấp, lập làng đến hôm nay.

Hồi xưa chợ Thủ Đức không có ngập, ngập lút là của hôm nay khi quy hoạch chung quanh đã bít đường nước, hướng dòng nước mưa tập trung vào chợ Thủ Đức như cái ao.

“GIÁO DỤC LÒNG CĂM THÙ” – MỘT BI KỊCH CỦA NỀN GIÁO DỤC HẬU CHIẾN

Nguyễn Quốc Chính

                              ———-*¥¥. Gã Khờ

CỤM TỪ NGHẸN NGÀO..

Tôi đã từng uất nghẹn khi bắt gặp trong văn kiện, trong sách giáo khoa, thậm chí trong khẩu hiệu, cụm từ: “giáo dục lòng căm thù”.

Nghe qua, tưởng như đó là một mệnh lệnh mang tính “cách mạng”, như một thứ ngọn lửa để khích lệ chiến đấu. Nhưng càng nghiền ngẫm, càng thấy đau: căm thù vốn là phi giáo dục. Giáo dục là gieo hạt, là nuôi dưỡng, là khai mở nhân tính. Lòng căm thù chỉ làm chai sạn tâm hồn, làm con người thu hẹp vào hố sâu chia rẽ.

Đất nước ta từng trải qua hàng ngàn năm chống ngoại xâm. Nhưng chưa bao giờ tổ tiên dạy con cháu “căm thù”. Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo từng viết:

“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,

Lấy chí nhân để thay cường bạo.”

Sau chiến thắng, cha ông còn cấp thuyền, ngựa, lương thực cho quân giặc về nước. Đó là minh triết của kẻ chiến thắng: chiến đấu để giành độc lập, nhưng không gieo thêm hận thù. Vậy mà, thời hậu chiến, chúng ta lại biến “căm thù” thành một nội dung giáo dục. Ấy là một trượt dài – và cần phải nhìn thẳng.

TRUYỀN THỐNG NHÂN BẢN CỦA DÂN TỘC

Không phải ngẫu nhiên mà sử Việt luôn toát lên tinh thần khoan hòa sau chiến tranh.Thời Trần, sau khi đánh tan Nguyên Mông, thay vì tận diệt, triều đình mở hội nghị Diên Hồng, lo chuyện phục hồi đất nước, và còn cấp ngựa, lương thực cho tàn quân rút về.Nguyễn Trãi soạn văn kiện để tuyên bố với thiên hạ rằng người Việt “lấy nhân nghĩa làm gốc”, không lấy hận thù làm kim chỉ nam.Nguyễn Huệ sau khi đại phá quân Thanh ở Đống Đa, không đem xác thù ra phơi thây, mà cho chôn cất tử tế, rồi gửi biểu cầu hòa.

Từ cổ chí kim, dân tộc này đánh giặc không phải để nuôi căm thù, mà để giành lại sự sống cho mình. Đánh giặc xong, việc cấp thiết nhất là hàn gắn vết thương, chứ không phải truyền đời sự hận hằn.

Ấy vậy, truyền thống nhân bản ấy đã bị bóp méo trong một giai đoạn.

KHI GIÁO DỤC TRƯỢT KHỎI BẢN CHẤT

Sau 1975, trong khí thế toàn thắng, đất nước thống nhất, những tưởng giáo dục sẽ lấy yêu nước, yêu người, khoan dung, sáng tạo làm gốc. Nhưng không, một đường ray khác đã được dựng nên: giáo dục lòng căm thù giai cấp, căm thù “kẻ thù dân tộc”.

Trong sách giáo khoa, học sinh phải thuộc lòng những bài văn, bài thơ gieo mầm thù hận. Trong trường học, nhiều phong trào, khẩu hiệu vang lên với âm hưởng: “Nhớ ơn căm thù…”, “Đời đời căm thù đế quốc…”.

Câu hỏi đặt ra: lòng căm thù có nuôi dưỡng nhân cách không?

Không. Nó chỉ nuôi dưỡng sự đối lập và nghi kỵ. Thay vì giúp thế hệ trẻ hiểu quá khứ, để trân trọng hòa bình, nó lại biến quá khứ thành vết thương chưa khép.

Ở mức chính sách, “căm thù” còn được sử dụng như một thứ công cụ chính trị – để duy trì kỷ luật tư tưởng, để buộc người trẻ phải đi theo một “đường thẳng” có sẵn. Nhưng giáo dục mà thành công cụ, thì đã mất đi bản chất.

HỆ LỤY XÃ HỘI

Hãy nhìn những hệ quả:Chia cắt tâm thức dân tộc: “căm thù” khiến thế hệ trẻ nhìn đồng bào miền Nam, kiều bào hải ngoại bằng ánh mắt nghi kỵ. Thay vì hòa hợp, lại đào sâu hố ngăn cách.Nghi kỵ lẫn nhau: hận thù giai cấp khiến xã hội thiếu niềm tin. Người ta dè chừng nhau theo “lý lịch”, thay vì đánh giá bằng năng lực.Kìm hãm sáng tạo: căm thù nuôi dưỡng sự tiêu cực, không giúp con người cởi mở. Trong khi sáng tạo cần khoan dung, cần thấu hiểu.Làm nghèo đi tình người: khi “căm thù” trở thành giáo điều, thì lòng nhân ái, sự bao dung – vốn là phẩm chất cốt lõi của người Việt – bị lu mờ.

Nói một cách cay đắng: chúng ta đã trồng căm thù, và gặt cô đơn, chia rẽ, hoang mang.

SO SÁNH QUỐC TẾ – BÀI HỌC CẦN NHÌN

Thế giới không thiếu những dân tộc từng trải qua chiến tranh. Nhưng cách họ giáo dục thế hệ trẻ sau chiến tranh khác ta rất nhiều.Đức sau Thế chiến II: không dạy học sinh “căm thù” ai cả. Họ đưa trẻ em đến trại Auschwitz để hiểu bi kịch chiến tranh, để từ đó nuôi dưỡng tinh thần hòa bình, nhân bản, trách nhiệm. Họ nói: “Không bao giờ nữa” – chứ không gieo hận thù.Nhật Bản: sau Hiroshima, Nagasaki, trẻ em được dạy về hậu quả của bom nguyên tử, về giá trị hòa bình, chứ không phải “căm thù nước Mỹ”. Kết quả là Nhật trở thành quốc gia sáng tạo, vươn lên bằng tri thức, chứ không bị nhấn chìm trong oán hận.

Nếu Đức và Nhật gieo căm thù, liệu họ có thể hòa giải, có thể trở thành cường quốc kinh tế, có thể là bạn với cả thế giới?

TRÁCH NHIỆM VÀ NGUYÊN NHÂN

Ai phải chịu trách nhiệm về sự trượt dài ấy?Nhà hoạch định chính sách: đã chọn cách dễ nhất để duy trì sự trung thành – gieo hận thù, thay vì nuôi dưỡng trí tuệ.Người làm giáo dục: không dám phản biện, buộc phải “soạn bài giảng căm thù” như một bổn phận.Xã hội: thụ động chấp nhận, coi đó là lẽ thường.

Nguyên nhân sâu xa chính là tư duy chính trị hóa giáo dục. Khi giáo dục bị biến thành công cụ chính trị, thì mục tiêu “trồng người” bị lấn át bởi mục tiêu “củng cố chế độ”.

ĐIỀU CẦN SỬA SAI

Đã đến lúc cần dũng cảm sửa sai.Xóa bỏ khái niệm “giáo dục lòng căm thù” khỏi mọi văn bản, sách giáo khoa.Thay thế bằng “giáo dục lòng nhân ái, khoan dung, yêu nước, yêu hòa bình”.Học theo Đức, Nhật: dạy trẻ em nhìn thẳng vào bi kịch chiến tranh để rút ra bài học nhân bản, chứ không để nuôi hận thù.Trả giáo dục về đúng bản chất: dạy trẻ làm người tử tế, có trách nhiệm, biết tôn trọng sự khác biệt.

Quan trọng hơn: cần một sự thành thật trong chính sách. Đừng dùng giáo dục để duy trì hận thù. Hãy dùng giáo dục để tạo nên những thế hệ công dân biết xây dựng.

VÌ TƯƠNG LAI CON EM CHÚNG TA

Một dân tộc không thể mãi sống trong bóng tối của căm thù. Thế hệ cha ông đã trả giá bằng máu để đất nước được độc lập. Thế hệ hôm nay phải có trách nhiệm trả lại cho con trẻ một nền giáo dục nhân bản – chứ không phải giáo dục căm thù.

Nếu không, chúng ta sẽ tạo ra những con người mang nặng quá khứ nhưng hụt hẫng với tương lai.

Giáo dục là gieo trồng. Xin hãy trả lại cho giáo dục Việt Nam hạt giống yêu thương, nhân ái, sáng tạo và trách nhiệm. Đó mới là con đường để dân tộc đi xa.

Đã đến lúc phải thẳng thắn nói ra: “Giáo dục lòng căm thù” là một sai lầm. Và sai lầm ấy cần được sửa ngay – để chúng ta có thể ngẩng cao đầu trước thế hệ mai sau.

⏤ Gã Khờ


 

Bà Rịa: Con trai ‘ngáo đá’ sát hại mẹ, chém chị gái bị thương

Ba’o Nguoi-Viet

September 22, 2025

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Ngoài việc sát hại mẹ và chị ruột, một nghi can “ngáo đá” (say ma túy đá) ở phường Long Hương (thành phố Bà Rịa trước đây) thuộc TP.HCM, và còn chém luôn hai con chó nuôi trong nhà.

Hôm 22 Tháng Chín, Công An TP.HCM đã bắt giữ nghi can Vũ Văn Hà, 34 tuổi, để điều tra về tội “giết người.”

Đường dẫn vào hiện trường nơi xảy ra vụ án ở phường Long Hương, Sài Gòn. (Hình: Tuổi Trẻ)

Theo báo Tuổi Trẻ, nghi can Hà đã dùng dao sát hại mẹ ruột là bà NTN, 62 tuổi, và đâm trọng thương chị ruột là cô NTNg, 37 tuổi, vào rạng sáng cùng ngày.

Nghi can Hà từng nghiện ma túy nhưng đã cai nghiện xong, sống cùng cha mẹ và chị gái trong căn nhà cấp bốn ở khu phố Hương Sơn, phường Long Hương.

Khoảng 5 giờ 30 phút cùng ngày, nghi can Hà lấy dao trong nhà bếp bất ngờ tấn công, chém nhiều nhát vào vùng cổ, mặt của mẹ mình khiến nạn nhân thiệt mạng tại chỗ.

Sau đó, nghi can Hà tiếp tục dùng dao chém chị gái ở chung nhà gây thương tích nặng ở cổ. Chưa “đã nư,” anh ta còn dùng dao chém hai con chó của gia đình khiến một con chết, một con bị thương.

Sau khi gây án, nghi can Hà vứt bỏ hung khí trong vườn cây gần nhà.

Nhận tin báo, Công An Phường Long Hương đã đến nhà bắt giữ nghi can Hà khi để còn đang trong trạng thái “ngáo đá.”

Tuy không xảy ra thường xuyên, nhưng thi thoảng tại Việt Nam lại có vụ con nghiện giết người thân khi đang say ma túy.

Trước đó, hôm 30 Tháng Ba, 2023, Công An TP.HCM đã bắt giữ nghi can Lê Văn Vàng, 34 tuổi, ở phường Tân Thới Hiệp, quận 12 trước đây, với cáo buộc giết và cắt đầu mẹ ruột.

Theo báo Thanh Niên, sáng cùng ngày, người dân nghe tiếng la hét phát ra từ một ngôi nhà trong hẻm đường Tân Thới Hiệp ở quận 12. Sau đó, một cô gái tháo chạy ra khỏi căn nhà kêu cứu.

Người dân tụ tập tại hiện trường xem công an bắt giữ nghi can Lê Văn Vàng ở quận 12. (Hình: Kinh Tế Đô Thị)

Khi người dân xung quanh chạy đến gần thì thấy nghi can Lê Văn Vàng cầm dao dính máu, trong lúc thi thể bà N., mẹ ruột của anh ta, được phát giác trong tình trạng đầu bị cắt rời khỏi cổ.

Đến khi Công An Quận 12 xuất hiện tại hiện trường, nghi can Vàng vẫn không chịu buông dao mà còn chống trả. Công an phải bắn ba phát súng chỉ thiên trước khi khống chế, đưa nghi can này về đồn.

Hàng xóm cạnh nhà nạn nhân cho biết, bà N. sống cùng nghi can Vàng và các cháu trong căn nhà này. Trước khi bị con trai giết, bà N. làm nghề may quần áo tại nhà.

Theo hồ sơ của công an, nghi can Lê Văn Vàng có tiền án, tiền sự, thuộc diện “bị công an địa phương theo dõi.” Khi bị bắt sau khi giết người, anh ta “có biểu hiện ngáo đá, bất thường, không tỉnh táo.” (Tr.N) [kn]


 

Tiểu Tử – Tác Giả: Nguyễn Thị Cỏ May 

Tác Giả: Nguyễn Thị Cỏ May 

Ba’o Dan Chim Viet

21/09/2025

 Viết về Tiểu Tử không khó nhưng không thật đơn giản. Nếu nói « Tiểu Tử » là kỹ sư điện chuyên ngành Thủy điện, tốt nghiệp năm 1955, ở trường kỷ sư điện Marseille, thì không phải chúng ta nói chuyện về ông Tiểu Tử, nhà văn, mà đó là ông Võ Hoài Nam, năm nay 95 tuổi, an dưỡng tuổi già tại tư gia ở vùng Paris .

 Vừa ở Marseille về, ông dạy nhạc ở Pétrus Ký, qua năm sau, ông  dạy Lý Hóa các lớp Đệ II Cấp . Ông Cụ thân sanh của ông muốn ông theo nghiệp dạy học vì chính Cụ là giáo sư Sử Địa và Pháp văn ở Pétrus ký và một số trường Trung học tư ở Sài gòn như Lê Bá Cang, Lyceum Nguyễn văn Khuê, Đồng Nai, lúc ở Sài gòn còn học theo chương trình Đông dương, Trung học có các lớp từ 1ère Année, …4è Année, thi DEPSI (Diplôme d’Etudes Primaires Supérieures Indigènes – Văn bằng Cao Tiểu hay Thành chung) và/hoặc Brevet du 1er Cycle/Brevet Élémentaire .

Cụ Võ Thành Cứ muốn người con trai duy nhứt của mình, đậu kỹ sư ở Pháp, về xứ đi dạy học vì Cụ vẫn nặng tinh thần khai hóa cho thanh niên . Tham gia các hoạt động chống thực dân với các cụ Nguyễn An Ninh, Phan văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Trần văn Thạch, .. Cụ vừa dạy học để nuôi gia đình, vừa giúp bạn và gia đình bạn khi bạn gặp tù tội . Sau đó, Cụ mở một trường Trung học tư ở đường Dixmude, Sài gòn II (Đề Thám sau này) để làm nơi làm việc và gặp gở cho các bạn tranh đấu và nhứt là các bạn vừa ở tù ra có nơi làm việc tạm một thời gian .

Cuộc đời của Cụ Võ Thành Cứ cũng khá ly kỳ và đẹp lắm .

Vừa thi đậu DEPSI và cả Brevet Élémentaire, Cụ được bổ nhiệm làm thầy giáo cho trường Tiểu học ở Rạch giá . Lúc bấy giờ, người đi làm việc với bằng  Brevet Élémentaire ăn lương 90$ tháng, còn với bằng DEPSI, ăn lương chỉ có 45$ tháng .

Ông Đốc Giản là thầy dạy Cụ hồi lớp nhứt (Cours Supérieur) ở Tây ninh, cũng là thầy của nhiều người sau này có danh phận lớn, như Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Thủ tướng Nguyễn văn Tâm, …) nghe tin học trò củ được bổ nhiệm làm thầy giáo và biết học trò của mình vốn con nhà nghèo, Cụ Đốc bèn kêu học trò củ tới và bảo bà vợ lựa 2 bộ quần áo của Cụ còn mới đem cho học trò mặc đi dạy học tạm thời gian đầu.

Đi dạy học được vài năm, một hôm viên Thanh tra Học chánh Tỉnh tới xét trường. Hắn lấy tay chà cạnh bàn học của học trò, đưa ngón tay dính bụi quẹt vào mặt đứa học trò ngồi ở bàn đó và đưa lên cho thầy giáo coi . Không dằn lòng được, Thầy Cứ tiến tới đánh viên Thanh tra người pháp mấy phát tuy người của thấy cao chỉ hơn 1, 5m nhưng nhờ có tập nghề võ .Dĩ nhiên viên Thanh tra thưa Cụ nhưng chính viên Thanh tra bị xử có lỗi và bị đổi đi nơi khác .Câu chuyện một thầy giáo người an-nam-mít dám đánh Thanh tra người pháp chỉ vì tụ ái dân tộc lan truyền ra khắp Rạch giá.

 Một hôm, Cụ Ngô văn Thính, một nhà điền chủ lớn ở Rạch giá, tới thăm thầy giáo Cứ . Cụ Thinh hỏi thầy Cứ vậy thầy có thấy bằng lòng với địa vị hiện tại hay muốn tiến hơn nữa không?

Thầy Cứ thưa « Tôi nhà nghèo, nay được công ăn việc làm như vầy là quá rồi . Muốn tiến thêm, có muốn cũng không làm được » .

Cụ Thinh liền nói rõ: «Nếu thầy muốn, thiệt tình, thầy có dám bỏ việc làm này không, để đi qua Pháp học thêm vài năm nữa ? Tiền đi và ăn học, tôi lo hết . Nhưng khi về, thầy phải truyền bá chánh trị ở trong xứ, chống Tây» (Chuyện này, Cỏ May tôi tình cờ đọc được 1 báo cáo của an ninh pháp ở Văn khố về Đông dương ở Aix . Tên Thinh hay Thính, viết không có dấu rỏ ràng . Năm 1954, tới nhà thầy Cứ ở Gò Dầu Hạ chơi, có gặp Bà vợ bé của Cụ Thinh, thầy Cứ gọi bằng Dì, nhưng lúc đó, Cỏ May tôi chưa biết câu chuyện ly kỳ và đẹp như vừa kể) .

Cụ Cứ, xong Tú Tài ở vùng Toulouse, lên Paris học Sử Địa ở Sorbonne. Vừa xong Dự bị, thế giới bị kinh tế khủng hoảng, tiền mất giá, giá lúa xuống, điền chủ trắng tay. Thế là Cụ phải xuống tàu về xứ. Lúc đó đi qua Pháp học, học sinh và sinh viên đều đi tàu biển và phải mua vé đi và cả về. Đi hạng cá kèo, nằm võng dưới hầm tàu. Người nằm võng trên, khi say sóng, cho người nằm võng dưới ăn chè. Nhờ vậy mà nhớ mặt nhau, vế sau trở thành bạn thân khi gặp lại.

Cụ về Sài gòn, làm báo và dạy học, tham gia tranh đấu chống thực dân.

 Võ Hoài Nam

Đang học Seconde (Đệ Tam sau này), Võ Hoài Nam được cho qua Pháp học tiếp Trung học. Tới Marseille, ông qua vùng Garonne sur Lot và học Première theo tuổi tác. Lúc đầu, Tây giảng bài, ông thở dài vì theo không kịp nhưng nhờ toán, lý hóa học được nên ông bám trụ rồi cuối năm cũng đậu được Tú Tài I. Qua năm Tú Tài II, không còn thấy quá khó khăn nữa.

Trở lại Marseille, ông vào trường kỹ sư điện. Qua năm thứ hai, ông cùng với bạn bè đóng phim « Vì đâu nên nỗi » (Có chiều ở Sài gòn 1955).  Chủ đề Việt Nam nên phim cảnh phải Việt Nam. Mà ở Pháp làm sao có cảnh Việt Nam như ruộng lúa ngặp nước, có nông dân cấy lúa vừa hò? Cũng may, ở vùng Camargue, cách Marseille về hướng Tây, chừng 70 km, có ruộng ngập nước giống như ruộng lúa vùng Gia định, Long An. Năm 1942, Lính Thợ việt nam trồng lúa ở đây theo cách làm ruộng ở quê nhà. Tới mùa gặt năm đầu tiên thu hoạch được 40 tấn. Và số thu tăng lần, chỉ trong vài năm sau, số gạo Camargue đủ cho thị trường Pháp. Ngày nay vẫn còn gạo Camargue bán, với nhiều thứ như gạo lứt, gạo đỏ, gạo đen, hột dài, hột tròn, …

Sau phim « Vì đâu nên nỗi », Võ Hoài Nam bắt đầu mê văn nghệ, bỏ học. Nhà trường viết thư báo tin về gia đình. Dĩ nhiên ông bị ông Già rày la và ông Cụ viết thư qua nhà trường xin lỗi. Đọc lời lẽ cảm động của một đồng nghiệp xa xôi, nhà trường gọi cậu sinh viên bỏ học tới, la rầy, đưa cho ông coi thư của ông Già . Không thể làm gì khác hơn được, Võ Hoài Nam trở lại học tiếp. Và đậu kỹ sư điện năm 1955.

Về nước, sau 2 năm đầu dạy học ở Pétrus Ký, ông vào làm cho Shell ở Sài gòn. Lúc làm việc, ông học vẽ với vài họa sĩ tên tuổi ở Sài gòn. Cuối tuần, ông vác giá vẽ đi ra ngoại ô tìm đề tài tập vẽ. Ông say mê vẽ. Nhưng chưa kịp triển lãm tác phẩm của mình. Đến khi hưu trí ở Paris, ông vẽ trở lại, và vẽ nhiều về tĩnh vật. Tranh của ông có triển lãm ở Thị xã Paris 13 suốt nhiều ngày và bán được mươi bản.

Vốn mê văn nghệ, ông học đờn ca vọng cổ với nhạc sĩ mù Văn Vĩ, người mà sau 30/04/75, cỡi xe Honda chạy khắp đường phố Sài gòn .

Nhưng học chưa xong, tuy đã tới trình độ lên sân khấu ca 6 câu được rồi, thì bị đuổi vì một lý do rất vô duyên .

Khi tới xin học, ông giới thiệu mình với Văn Vĩ là làm thư ký hãng Shell. Thầy trò đang cơm lành, canh ngọt, bỗng một hôm, có một cô tới xin học ca vọng cổ và giới thiệu đang làm thư ký cho hãng Shell. Văn Vĩ hỏi có biết ông Võ Hoài Nam, đang học ở đây và cũng làm thư ký ở đó. Cô ấy bảo biết nhưng ông ấy làm lớn lắm, làm Giáo đốc, chớ không phải thư ký.

Thế là hôm sau, Võ Hoài Nam tới, Văn Vĩ đuổi ngay. Anh đi về đi. Đi khỏi nhà tui ngay. Anh thấy tui đui, anh khi dễ tui, phải không?

Ông Võ Hoài Nam ngớ người, không hiểu gì hết. Chuyện gì vậy?

Tới khi hiểu chuyện, Võ Hoài Nam giải bày với Văn Vĩ là chuyện ông làm việc đâu có liên hệ gì với việc học ca vọng cổ. Ông nói dối chỉ là cách nói đơn giản về mình mà thôi.

Nhưng Văn Vĩ không chịu bỏ qua.

Thế là bài ca vọng cổ phải xuống hò ở đây .

Tuy học chưa hết nghề của Văn Vĩ nhưng ông ca vông cổ vẫn mùi tận mạng .

Văn Vĩ thường nhắc ông là ít hôm nữa ông sẽ ca ăn khách và sắm liền xe Nash (loại xe tiêu chuẩn ngon của Sài gòn thủơ đó) .

Võ Hoài Nam học ca vọng cổ vì lúc đó ông đang mê cải lương. Ông có một tuồng được gánh Thủ Đô hát ở Sài gòn, khá ăn khách. Tuồng «Tình, Tiền và Sự nghiệp » .

Và cũng là lúc ông muốn nghỉ làm Shell để đi theo Cải lương . Có lẽ bị cú bất ngở của Văn Vĩ mà ông tiếp tục làm Shell cho tới ngày cuối của Sài gòn .

 Tiểu Tử

Tiểu Tử là bút hiệu ký dưới những bài «Trò Đời » (loại film du jour) đăng hằng ngày trên nhựt báo «Tiến» ở Sài gòn trước 75 của Đặng văn Nhâm . Hai người quen biết nhau vì Đặng văn Nhâm là học trò củ của Cụ Võ Thành Cứ ở Pétrus ký .

Ông  chọn tên «Tiểu Tử » hàm ý, rất đơn giản, xác nhận mình vốn không phải là «Đại Nhơn» . Ngày nay là «Đại Gia»!

 Ngày nay, Tiểu Tử là tên được quen biết rộng rải, trong Cộng đồng người Việt ở gần khắp thế giới . Nhưng Tiểu Tử hoàn toàn là nhà văn, có tiếng tăm nhưng vẫn không liên hệ xa gần gì với kỷ sư Võ Hoài Nam . Vì Tiểu Tử không phải là kỷ sư . Hơn nữa, Tiểu Tử cũng không phải người đóng phim ở Camargue năm 1954, cũng không phải họa sĩ, cũng không phải soạn giả cải lương. Vẫn biết đó là một người.

Vì nhiều người hiện nay chỉ biết Tiểu Tử là nhà văn. Truyện ngắn cùa ông rất đôc đáo về nội dung và cả hình thức.

Tiểu Tử là tác giả của  «Tiểu Tử Toàn Tập » 2 quyền, xuất bản năm 2017 ở Pháp. Trước đây, truyện ngắn của ông được in nhiều lần thành tập . Sau cùng, có một độc giả ở Hòa-lan, vì ngưởng mộ ông nên tự ý tập họp lại tất cả truyện của ông làm thành 2 cuốn, mỗi quyền hơn 300 trang, bìa màu xanh tươi, có hình tác giả ở góc mặt phía dưới.

Truyện ngắn của Tiểu Tử ở những lần xuất bản trước có tựa (Titre) khác nhau . Như quyển đầu tiên có tựa sách là «Bài Ca Vọng cổ».

Nay, trong «Tiểu Tử toàn Tập », tác giả cũng lấy «Bài Ca Vọng cổ » làm truyện số 1 ở trang  đầu tiên của « Tiểu Tử Toàn Tập », Quyển Thượng .

 Vì tác giả uu ái truyện « Bài Ca Vọng cổ » hơn những truyện khác?

Riêng Cỏ May tôi vẫn không quên trường hợp ông viết truyện ngắn này mà nhiều người yêu thích . Một câu chuyện đơn giản mà ăn khách mãnh liệt .

Tiểu Tử với Cỏ May tôi vẫn thường nói chuyện qua điện thoại nếu không gặp nhau về đủ thứ chuyện . Hôm ấy, tôi muốn biết chút ít về vộng cổ nên hỏi Tiểu Tử vì biết ông là nhà nghề về môn âm nhạc Nam kỳ này. Ông nói về kỷ thuật ca, cách đờn, … Và, bất ngờ, ông nói sẽ gởi cho tôi coi về vọng cổ .

Vài hôm sau, ông fax cho tôi « Bài Ca Vọng Cổ », một truyện ngắn, chớ không phải một bài lý thuyết về ca, đàn vọng cổ như tôi mong đợi .

Tôi in ra và đọc . Tôi liền liên lạc với một cậu thanh niên ở Stuttgart, gốc sinh viên Miền Bắc du học ở lại, nhờ đánh máy tiếng việt có dấu đầy đủ vì lúc đó chúng tôi chưa biết xài Computer . Đánh máy xong, cậu ấy fax qua cho tôi và tôi gởi cho tác giả để từ đó phổ biến (Nhắc lại chuyện củ, tôi không biết cậu này ngày nay ở đâu, sanh sống như thế nào, sau khi xin ở lại Đức, bị từ chối) .

 Đúng. Bài Ca Vọng cổ là một tuyện ngắn hay viết về một thanh niên da đen, lai Việt Nam, cha người Côte d’Ivoire nơi tác giả làm cho Công ty đường mía ở đó và sau qua làm cho Shell cho tới ngày hưu trí .

Người đọc, ai cũng nhìn nhận giá trị văn chương của nó. Nó đơn giản nhưng từng bước nhè nhẹ, nó len trọn vào tâm hồn người đọc. Nó đánh thức tình cảm về quê hương xứ sở của người Việt nam tỵ nạn đang sống ở xứ người .

Đọc Bài Ca Vọng  cổ, người đọc như bổng chốc sống trên quê hương của mình . Không bằng cảnh vật mà bằng tình cảm . Bằng sự rung động từ một chìu sâu thầm kín nào đó trong người :

 « Có chớ bác . Con có lai chớ bác.

Hắn xòe hai bàn tay đưa ra phía trước, lật qua, lật lại :

Bên nội của con là nằm ở bên ngoài đây nè .

Rồi hắn để một tay lên ngực, vỗ nhè nhẹ về phía trái tim:

Còn bên ngoại của con, nó nằm ở bên trong . Ở đây, ở đây nè bác.

Bổng hắn nghẹn lại:

Con lai Việt nam chớ bác!

Nhớ Sài gòn quá nên con ca vọng cổ cho đở buồn. Hồi nảy, bác lại đây là lúc con đang ca Đường về quê ngoại đó bác ».

 Truyện của Tiểu Tử nặng tình quê hương xứ sở . Vì đó là thứ tình cảm mà ông bị mất cũng như bà con Miền Nam của ông. 

 Có nói về sự thù ghét Việt cộng sau 30/04/75 của dân chúng Sàigòn, ông cũng nói một cách nhè nhẹ, châm biếm nhưng sâu sắc. Ít khi thấy ông bộc lộ sự thù hằn một cách hung hãn.

Thế mà trong truyện Chị Tư Ù, ông cho chị Tư Ù bửa đầu thằng công an việt cộng một cách ngọt xớt, gọn bâng, như cách chị Tư Ù chẻ đầu cá, không để lại những bầy nhầy:

 «Vừa thấy chị Tư bước vào, thím Út òa lên khóc:

 Tụi nó giết anh Út rồi, chị Tư ơi …

 Chị dang tay ôm hết ba mẹ con, ôm hết những gì còn lại của Út Cón .  Không còn nước mắt để khóc, nhưng còn đủ tỉnh táo để nhận thấy rằng từ đây chính mình phải thay Út Cón để bảo vệ gia đình này mặc dầu không ai gởi gắm hết.

 Nửa khuya đêm đó, chị Tư trở dây . Trong bóng tối, chị mò mẫm khoác áo bà ba đen máng sẳn trên cây cột từ đầu hôm, cập nách con dao phay quấn trong cái bao bố nhỏ đặt sẵn cạnh chân bộ ván gõ, bước ra đóng nhẹ cửa lại . Bên ngoài, trời đầy sao . Gió sông nhè nhẹ mát rượi . Chị bước đi tự nhiên, chẳng chậm rải, chẳng gấp rút . Giống như đi công chuyện bình thường . Ngoài đường vắng teo . Mấy con chó hoang ngủ dưới dãy thớt thịt trong nhà lòng chợ ngóc đầu lên nhìn, sủa vu vơ vài tiếng rồi lại nằm xuống . Chẳng có gì phải bận tâm . …

Chị Tư bước vào hàng ba, thấy trong nhà có ánh đèn . Nghĩ « chắc thằng trời đánh đó đang làm báo cáo . Không biết nó đang muốn hại ai nữa đây ? » . Chị đưa tay gỏ cửa . Có tiếng người hỏi :

 -Ai đó?

 Chị Tư trả lời như không trả lời:

 -Tui!

 Nghe giọng đàn bà, tên công an yên chí :

 -Chờ chút!

 Có tiếng khóa lọc cọc rồi cánh cửa mở ra . Ánh đèn dầu từ bên trong hắt lên người chị Tư, tuy không sáng lắm nhưng vẫn thấy rỏ nét trầm tỉnh tự nhiên trên gương mặt tròn trịa . Ở đó vừa hiện lên một nụ cười mà tên công an giàu tưởng tượng cho là đầy « nhiệt tình cách mạng » . Anh ta bước ra đảo mắt nhìn quanh rồi mới mời :

 -Vô đi!

 Tiếng đi vừa dứt là chị Tư đã bổ con dao phay vào ngay giữa đầu, nhanh gọn và chính xác như chị bổ cái đầu cá . Xong, chị bước vào thổi tắt cây đèn dầu rồi ra sàn nước rửa tay chơn, mình mẩy và con dao . Trước khi ra về, chị nhìn lại hàng ba : trong bóng tối, chị vẫn thấy «thằng trời đánh» nằm một đống, không nhúc nhích… ».

 Cũng trong  truyện « Chị Tư Ù», bất ngờ có một chi tiết khá ly kỳ là Tiểu Tử chi ra một hoạt động  « tình báo nhân dân » – thứ mà việt cộng khoe là hơn cả CIA, hơn cả Phòng Nhì Pháp – của tên công an việt cộng vừa bị chị bửa đấu, đem áp dụng khai thác chị để tìm lấy cho sạch tài sản của Út Cón, bạn của chị, mà hắn nghi chủ tiệm vàng còn cất dấu .

 « Rồi sực nhớ ra, chị Tư hỏi :

 -À ! Chút xíu nữa quên mất . Anh muốn gặp tui có chuyện gì không ?

 Tên công an như nắm được cái phao, vội vã đổi giọng ra chìu thân mật :

 -Chuyện này xin chị giữ kín cho . Người ta nói với tôi rằng Út Cón còn dấu vàng, không kê khai hết trong kỳ kiểm kê vừa rồi . Tôi cũng nghĩ như vậy bỡi vỉ thấy anh ta…thế nào ấy .

 Chị Tư nghiêm giọng :

 -Chuyện này …Anh là chánh quyền, anh phải đi hỏi ảnh chớ sao lại hỏi tui ?

 Tên công an thấp giọng :

-Người ta nói với tôi là chị thân với Út Cón lắm . Tôi muốn nhờ chị nói với anh ấy một tiếng để ảnh mang nạp cho Nhà nước số vàng còn cất dấu . Tôi sẽ giữ kín vụ này và không báo cáo lên cấp trên . Tôi muốn giải quyết như trong gia đình thôi . Chị hiểu không ? » .

Tiểu Tử là nhà văn đặc sệt miền nam

Nhận xét về Tiểu Tử, có khá nhiều người . Cỏ May tôi xin mời bạn đọc 2 người quen thuộc, hoàn toàn gốc ở quê hương của văn học và chữ nghĩa Việt nam, đánh giá Tiểu Tử .

-Cụ Từ Thức nhà báo (VN Press, Sài gòn) ở Paris nhận xét Tiểu Tử: 

« Tiểu Tử là một nhà văn miền Nam điển hình, con đường nối dài của những Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam. Văn của ông là lối kể chuyện của người miền Nam, bình dị nhưng duyên dáng, duyên dáng bởi vì bình dị, tự nhiên. Tiểu Tử không “làm văn”. Ông kể chuyện; không có chữ thật kêu, không có những câu chải chuốt. Với cách viết, với ngôn ngữ chỉ có những tác giả miền Nam mới viết được. Không hề có cường điệu, không hề có làm dáng. Người đọc đôi khi có cảm tưởng tác giả không mấy ưu tư về kỹ thuật viết lách. Ông viết với tấm lòng. 

Ngay cả tên những nhân vật cũng đặc miền Nam, không có Lan, Cúc, Hồ Điệp, Giáng Hương như trong tiểu thuyết miền Bắc, không có Nga My, Diễm My, Công Tằng Tôn Nữ như Huế, chỉ có những con Huê, con Nhàn, con Lúa, thằng Rớt, thầy Năm Chén, thằng Lượm, bà Năm Cháo lòng. Các địa danh cũng đặc Nam kỳ, không có Cổ Ngư, Vỹ Dạ, Thăng Long, chỉ có những Nhơn Hoà, Cồn Cỏ, Bò Keo, Bình Quới, những tên, những địa danh rất ”miệt vườn’’, chỉ đọc cũng đã thấy dễ thương, lạ tai, ngồ ngộ. Âm thanh như một câu vọng cổ ai ca bên bờ rạch. » (Từ Thức, « Những giọt nước mắt – Những tiếng thỏ dài ») .

-Cụ Nguyễn văn Lục, Giáo sư Văn chương và phê bình Văn học, viết về Tiểu Tử : Người tiếp lửa và giữ hồn của Miền Nam (DCV Online, 2023) :

« Tôi biết Tiểu Tử khá muộn khi ông đã thành danh và tích lũy một di sản văn học đáng nể như một loại trầm tích lắng đọng từ lâu. Nhưng khi biết rồi thì càng đọc văn của ông càng thấy gần gũi, gắn bó.

Hình như ông không viết truyện dài mà chỉ chuyên viết truyện ngắn. Mỗi truyện ngắn đều như nhắc nhở xa gần đến những cột mốc văn học đàn anh, xa xôi như Hồ Biểu Chánh, hay gaadn hơn như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên. Có thể vì cách thức diễn tả, ngôn từ xử dụng, tâm tình và cá tính của ông thì đặc sệt là dân Nam Kỳ.

Nhưng về nội dung cũng như mục đích viết của Tiểu Tử thì tôi xin vài thưa rằng: Nó hoàn toàn không giống các “nhà văn miệt vườn” ‒ không giống Bình Nguyên Lộc, càng xa Sơn Nam ‒ và còn có thể khác biệt với Lê Xuyên. Tôi không dám nói rằng tôi phủ nhận các nhà văn miền Nam tiền bối. Tôi đã từng mê truyện dài đầu tiên Chú Tư Cầu của Lê Xuyên ‒ cuốn truyện dài viết phơi-ơ-tông1 mỗi ngày ‒đã từng làm Lê Xuyên nổi tiếng.

… Bấy nhiêu năm lưu lạc ở xứ người. Vốn chữ nghĩa vẫn không bị han rỉ, xói mòn. Ông vẫn giữ được cá tính miền Nam: bình dân, giản dị, thật thà, dí dỏm. Ông vẫn giữ được cốt cách một lối viết chân chất, kiểu nghĩ sao viết dzậy, không màu mè, không kiểu cách, không uốn éo văn hoa làm dáng. Điều này cho thấy ông khác hẳn nhà văn Mai Thảo. Mai Thảo vẫn nghĩ rằng ông là nhà văn, Những người làm ra chữ.

Nhưng chính lối viết chân chất ấy quyến rũ người đọc. Chính chỗ bình dị làm nên vóc dáng văn học. Chữ của ông là có sẵn, chỉ khác nó nằm trong văn cảnh toàn bộ hỏi đáp trao đổi giữa những người dân bình thường. Đọc là gợi nhớ, đọc là thấy mình trong đó như tìm về như có người nhắc hộ » .

 Nay Tiểu Tử và Võ Hoài Nam, cả hai, đều vừa từ giả chúng ta hôm thứ năm 18 tháng 9/2025 (tại tư gia ở Noisy-le Grand, Pháp) !

 Nguyễn thị Cỏ May


 

Thanh Hóa: Thiếu niên 13 tuổi giết em họ 8 tuổi rồi giấu xác phi tang

Ba’o Nguoi-Viet

September 21, 2025

THANH HÓA, Việt Nam (NV) – Giới chức xã Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, xác nhận vụ một thiếu niên 13 tuổi giết đứa em họ 8 tuổi rồi nhét vào bao tải đem ra góc vườn phi tang.

Tờ Người Lao Động hôm 21 Tháng Chín, dẫn lời một giới chức ẩn danh cho biết, trong sự việc xảy ra vào chiều ngày hôm trước, bé gái 8 tuổi bị sát hại là con người chú, còn người anh họ, học lớp Tám, 13 tuổi, là con người bác.

Vài giờ trước khi vụ án mạng xảy ra, cha mẹ bé gái đi gặt lúa nên đem con sang nhà người anh và giao cho đứa cháu trai trông coi.

Sau đó, hai đứa bé bị cho là có mâu thuẫn khi tranh nhau đồ chơi nên xảy ra vụ việc đau lòng.

Giới chức nêu trên còn xác nhận chuyện thiếu niên đã cho thi thể em họ vào bao tải đưa đi giấu là có thật.

“Khi phát giác thi thể, cháu [thiếu niên] đã thừa nhận,” giới chức xã Yên Định cho hay.

Liên quan vụ án mạng, theo tờ Thanh Niên, sau khi giảo nghiệm tử thi, gia đình đã làm đám ma theo phong tục địa phương.

Báo này nhấn mạnh rằng Công An Thanh Hóa “chưa thông tin chính thức về vụ án trong lúc nhiều trang mạng xã hội đã lan truyền nhiều thông tin, và nhiều chi tiết rùng rợn cho rằng nạn nhân bị người thân sát hại.”

Hai ngày trước, công luận rúng động trước vụ một nam sinh lớp Bảy, được nêu tên tắt là em B., 12 tuổi, trường trung học cơ sở Đại Kim, phường Định Công, Hà Nội, đã túm tóc, quật ngã cô giáo ngay trong lớp vì bị tịch thu một vật sắc nhọn được cho là “đồ chơi.”

Theo báo Tuổi Trẻ và VNExpress hôm 19 Tháng Chín, trong đoạn video clip do camera an ninh của nhà trường ghi lại vào chiều 16 Tháng Chín, bà TH, cô giáo chủ nhiệm lớp 7A14, nhắc nhở một nữ sinh đang cầm một vật sắc nhọn nên yêu cầu em này giao nộp.

Sau đó, em B., người mang món đồ vào lớp, bất thình lình túm tóc và quật ngã cô giáo TH xuống sàn nhà để giành lại món đồ.

Sự việc xảy ra trước sự chứng kiến của nhiều học sinh trong lớp. Một số học sinh chỉ nhìn nhưng không dám can thiệp vì em B. to con. Cũng có học sinh tỏ vẻ thờ ơ ngồi làm việc khác như không quan tâm đến sự việc.

Theo báo cáo của nhà trường, lớp trưởng có can ngăn nhưng bất thành nên nhắc các bạn trong lớp kéo rèm cửa để người bên ngoài hành lang không nhìn thấy.

Vụ án mạng xảy ra tại xã Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. (Hình: Thanh Hóa)

Sau khi chạy ra khỏi lớp, bà TH báo cáo sự việc với hiệu trưởng và cùng người này quay lại lớp.

Tiếp đó, gia đình em B. đã đến trường xin lỗi bà TH và xin cho con họ nghỉ học ngày hôm sau để đi khám sức khỏe tinh thần.

Trong lúc nhà trường bàn biện pháp xử lý kỷ luật, gia đình nam sinh trình bày hoàn cảnh và nêu nguyện vọng đón con về dạy dỗ trong 10 ngày.

Đề cập về sự việc, một giới chức phường Định Công nói: “Cô giáo biết học sinh đang trong độ tuổi dậy thì, nên đã tha thứ. Ủy ban phường và nhà trường đang giải quyết để các học sinh khác yên tâm học tập.” (N.H.K) [kn]


 

Ông Trump và ông Tập điện đàm, bàn về TikTok và thương mại, cam kết thúc đẩy quan hệ Mỹ – Trung

Ba’o Dat Viet

September 21, 2025

Tân Hoa xã tối 19-9 đưa tin Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Donald Trump đã có cuộc điện đàm mang tính “thẳng thắn, tích cực và mang tính xây dựng”, nhằm tìm cách ổn định quan hệ song phương trong bối cảnh căng thẳng thương mại và tranh cãi về hoạt động của TikTok tại Mỹ.iệm trang sức

Hai nhà lãnh đạo đã trao đổi sâu về quan hệ Mỹ – Trung, thảo luận các vấn đề thương mại, an ninh và những quan tâm chung. Ông Tập khẳng định mối quan hệ Mỹ – Trung có vai trò then chốt đối với thế giới và kêu gọi Washington kiềm chế các biện pháp thương mại đơn phương, đồng thời tạo môi trường công bằng cho doanh nghiệp hai nước. Ông nhấn mạnh: “Trung Quốc và Mỹ có thể đạt được thành công chung, mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia và thế giới, với điều kiện đôi bên tôn trọng lẫn nhau, cùng tồn tại hòa bình và hợp tác cùng có lợi”.

Về phần mình, Tổng thống Trump đánh giá cao lễ duyệt binh kỷ niệm 80 năm chiến thắng phát xít do Trung Quốc tổ chức, đồng thời gọi quan hệ Mỹ – Trung là “mối quan hệ song phương quan trọng nhất trên thế giới”. Ông cho biết Mỹ mong muốn duy trì quan hệ lâu dài, lành mạnh với Trung Quốc và sẽ ủng hộ các cuộc tham vấn để giải quyết vấn đề TikTok. “Chúng tôi đã đạt tiến triển về nhiều vấn đề quan trọng, bao gồm thương mại, fentanyl, nhu cầu chấm dứt chiến sự Nga – Ukraine và việc phê chuẩn thỏa thuận TikTok”, ông Trump viết trên mạng xã hội.

Hai bên cũng thống nhất gặp trực tiếp bên lề hội nghị thượng đỉnh APEC tại Hàn Quốc vào cuối tháng 10 và cân nhắc các chuyến thăm cấp cao song phương trong năm tới. Theo ông Trump, cuộc gọi diễn ra “rất tốt đẹp”, và cả hai nhà lãnh đạo đều mong muốn duy trì kênh đối thoại.

Trước đó, Tổng thống Trump đã nhiều lần gia hạn thời hạn để ByteDance – công ty mẹ của TikTok – tìm đối tác mua lại mảng hoạt động tại Mỹ, thay vì cấm ứng dụng này hoàn toàn. Động thái mới cho thấy Washington và Bắc Kinh đang nỗ lực giảm căng thẳng và tìm giải pháp dung hòa cho các tranh chấp thương mại, đồng thời giữ vai trò ổn định trong quan hệ song phương quan trọng bậc nhất thế giới.

Khi bạn chết đi…

Phuong Tran

Đừng lo lắng về thân thể của bạn… người thân của bạn sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết tùy theo khả năng của họ. Họ sẽ cởi quần áo của bạn, tắm rửa, mặc quần áo cho bạn, đưa bạn ra khỏi nhà và đưa bạn đến địa chỉ mới.

Nhiều người sẽ đến dự đám tang của bạn để “nói lời tạm biệt”. Một số sẽ hủy bỏ các cam kết và thậm chí bỏ lỡ công việc để đến dự đám tang của bạn.

Đồ đạc của bạn, ngay cả những thứ bạn không muốn cho mượn, sẽ bị bán, cho đi hoặc đốt cháy.

Chìa khóa, dụng cụ, sách, giày, quần áo của bạn… Và hãy yên tâm rằng thế giới sẽ không dừng lại vì bạn. Nền kinh tế sẽ tiếp tục.

Trong công việc của bạn, bạn sẽ bị thay thế. Người có năng lực tương đương hoặc tốt hơn sẽ thay thế vị trí của bạn.

Tài sản của bạn sẽ thuộc về những người thừa kế của bạn…. Và đừng nghi ngờ rằng bạn sẽ tiếp tục bị trích dẫn, phán xét, chất vấn và chỉ trích vì những điều nhỏ nhặt và lớn lao mà bạn đã làm trong cuộc sống.

Những người chỉ biết đến bạn qua vẻ bề ngoài sẽ nói; Đàn ông hay đàn bà tội nghiệp!

Những người bạn chân thành của bạn sẽ khóc trong vài giờ hoặc vài ngày, nhưng sau đó họ sẽ trở lại cuộc sống vui vẻ và cười đùa bình thường.

Những con vật của bạn sẽ được cho đi và sẽ mất thời gian nhưng chúng sẽ quen với người chủ mới.

Những bức ảnh của bạn sẽ được treo trên tường hoặc lưu lại trên một món đồ nội thất trong một thời gian, nhưng sau đó có thể chúng sẽ được cất giữ ở đáy ngăn kéo. Và chúng ta sẽ chỉ sống trong ký ức của những người yêu thương chúng ta.

Người khác sẽ ngồi trên ghế của bạn và ăn tại bàn của bạn.

Nỗi đau sâu sắc trong ngôi nhà của bạn sẽ kéo dài một tuần, hai tuần, một tháng, hai tháng, một năm, hai năm… Rồi bạn sẽ được thêm vào những kỷ niệm và rồi, câu chuyện của bạn kết thúc.

Nó kết thúc ở giữa con người, nó kết thúc ở đây, nó kết thúc ở thế giới này.

Nhưng hãy bắt đầu câu chuyện của bạn trong thực tế mới… trong cuộc sống sau khi chết.

Cuộc sống của bạn, nơi bạn không thể di chuyển với những thứ từ đây bởi vì khi bạn rời đi, chúng đã mất đi giá trị mà chúng có.

Thân hình

Sắc đẹp

Vẻ bề ngoài

Họ

An ủi

Tín dụng

Tình trạng

Chức vụ

tài khoản ngân hàng

Trang chủ

Xe hơi

Nghề nghiệp

Tiêu đề

Bằng cấp

Huy chương

Cúp

Bạn

Địa điểm

Vợ chồng

Gia đình…

Trong cuộc sống mới, bạn sẽ chỉ cần tinh thần của mình. Và giá trị bạn tích lũy được ở đây sẽ là tài sản duy nhất bạn có ở đó.

Vận may đó là thứ duy nhất bạn mang theo bên mình và nó được tích lũy trong suốt thời gian bạn ở đây. Khi bạn sống một cuộc sống yêu thương người khác và hòa bình với hàng xóm, bạn đang tích lũy vận may tinh thần của mình.

Đó là lý do tại sao bạn nên cố gắng sống trọn vẹn và hạnh phúc khi còn ở đây vì :

“TỪ ĐÂY.. BẠN SẼ KHÔNG LẤY NHỮNG GÌ BẠN CÓ MÀ CHỈ LẤY NHỮNG GÌ BẠN ĐÃ CHO “…

Tác giả : Thi Thien

Ảnh minh họa


 

Vĩnh biệt nhà văn Tiểu Tử

Thu Doan 

  1. Nhà văn Tiểu Tử :

Họ tên : Võ Hoài Nam

Sanh năm : 1930

Nguyên quán : Gò Dầu Hạ (Tây Ninh )

Bút hiệu : Tiểu Tử

Ông là con trai duy nhứt của giáo sư Võ Thành Cứ, cựu giáo sư trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký, Sài Gòn.

– Tốt nghiệp Kỹ sư, Marseille năm 1955.

– Dạy lý hoá trung học Petrus Ký : 1955/1956.

– Làm việc cho hãng dầu SHELL Việt Nam từ năm tháng 10 năm 1956 đến 30/04/1975.

– Vượt biên cuối năm 1978. Ðịnh cư ở Pháp từ đầu năm 1979 đến nay.

– Làm việc cho hãng đường mía của Nhà nước Côte d’ Ivoire ( Phi Châu ) 1979/ 1982.

– Làm việc cho hãng dầu SHELL Côte d’ Ivoire từ năm 1982 đến 1991, về hưu ở Pháp.

– Trước 1975, giữ mục biếm văn ” Trò Ðời ” của nhựt báo Tiến.

– Bắt đầu viết truyện ngắn khi lưu vong qua Côte d’Ivoire.

– Tập truyện ” Những Mảnh Vụn ” ( Làng Văn Toronto xuất bản ) là tập truyện đầu tay.

Bài ca vọng-cổ

Cái Loa

Cái mặt

Cái miệng

Chị Tư Ù

Chiếc khăn mu-soa

Chợ trời

Chuyện Bình Thường

Chuyện chẳng có gì hết

Chuyện di tản 1975

Chuyện Giả Tưởng

Chuyện ở quê tôi

Chuyện thuở giao thời

Cơm nguội

Con Mẹ Hàng Xóm

Con Mén

Con số 3

Con rạch nhỏ quê mình

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

Đám cưới ngày xưa

Đạp xích lô

Đèn Trung Thu

Đi Xe Đò, Đi Xe Ôm

Giọt mưa trên tóc

Làm Thinh

Lẫn

Made in Việt Nam

Mài Dao Mài Kéo

Mũ “bảo hiểm”

Mùa Thu Cuộc Tình

Ngày nầy, năm 1975 …

Người Bán Liêm Sỉ

Người Viết Mướn

Ngụy

Những câu chuyện Di Tản của nhà văn Tiểu Tử – Tường An, thông tín viên RFA

Những chuyện nho nhỏ…

Những hình ảnh đẹp

Nói

Nói: Hết rồi!

Nói Láo

Nội!

Ông già ngồi bươi đống rác

Ông Năm Từ

Tấm vạc giường

Thằng Chó Đẻ của Má

Thằng dân

Thằng đi mất biệt

Thằng Khùng

Thầy Năm Chén

Thèm

Tiết Nhơn Quí

Tóc Trắng

Tô cháo huyết

Tôi đi bầu

Tôi nằm gác tay lên trán

Tôi … xém làm kép cải lương

Vẫn Còn Cái Gốc

Viết một chuyện tình

Vọng cổ buồn …

Xíu.

  1. Vĩnh biệt nhà văn Tiểu Tử

Người ta hay hỏi tôi: “Quê ông ở đâu? – Câu hỏi nghe giản dị, mà trả lời thì… khó hơn đi thi vô Petrus Ký. Bởi lẽ, cái quê của tôi, cái chỗ chôn nhau cắt rún, tôi đã bỏ ra đi từ lâu, từ cái thuở biển dâu, thời cuộc cuốn người ta ra khỏi vòng tay của ngõ xóm, của hàng dừa, hàng cau, của mái nhà lợp lá. Ấy thế mà, mỗi đêm khi nằm trên chiếc giường ấm áp, tôi vẫn thấy quê hương trở lại, rõ mồn một, như một bức tranh khắc sâu trong ký ức: nghèo trớt mùng tơi, mà vẫn thương, vẫn nhớ đến xót xa.

Có anh bạn văn thường nhậu nhẹt với tôi, hay hỏi vặn:

– Khi nào ông “dìa” quê?

– Muốn “dìa”, nhưng đâu biết quê đâu mà dìa!

Ảnh cười khề khà:

– Thôi thì ông tấp về quê tui đi, ngay đất Tân Định nè.

Nghe vậy mới ngớ người ra. Té ra, đối với ảnh, quê không phải là xứ khỉ ho cò gáy, chó ăn đá gà ăn muối, mà chính là mảnh đất Sài Gòn nơi mình cất tiếng khóc chào đời. Cái quê ấy có mùi khói thuốc rê, có tiếng guốc mộc của các bà, có những con hẻm nhỏ mà tuổi thơ rong chơi

đánh lộn tới u đầu sứt trán.

Tân Định – cái đất ấy đã nuôi lớn bao thế hệ. Từ đường Trần Quang Khải, quẹo qua Trần Nhật Duật, thẳng tới bờ kinh Nhiêu Lộc, những con đường nhỏ như Đặng Dung, Đặng Tất, Trần Quý Khoách, Trần Khánh Dư, đã in dấu chân của học trò trường Văn Lang, của những giấc mộng tuổi trẻ. Và cũng từ nơi ấy, bao nhiêu phận đời đã bước ra, đi khắp năm châu, mà khi tóc bạc vẫn còn ngoái lại, nhớ da diết từng mái hiên, từng ngọn đèn đường.

Trong số những người đi qua đất Tân Định, có một người đặc biệt: nhà văn Tiểu Tử.

Ông sinh năm 1932, tốt nghiệp kỹ sư tại Marseille, rồi về dạy tại trường Petrus Trương Vĩnh Ký vào những năm 1955–1956.

Sau biến cố 1975, ông vượt biên, định cư ở Pháp, và từ đó, văn chương trở thành cách để ông bắc nhịp cầu nối giữa quá khứ và hiện tại.

Tôi biết đến Tiểu Tử qua truyện ngắn “Tô cháo huyết”. Và khi nghe tin ông qua đời trên đất Pháp, lòng tôi bỗng dưng nghẹn lại.

Câu chuyện ông kể tưởng như vụn vặt, mà hóa ra thấm đẫm tình người, tình quê. Hình ảnh một người ngày xưa, trên đường đi làm về ghé xe cháo huyết của bà xẩm già ở gần rạp Casino Đa Kao. Bà bày cái nồi cháo nghi ngút khói, với vài miếng huyết vuông vức nổi lên trên. Ông múc một muỗng, vừa có cháo vừa có huyết, thổi cho nguội rồi cho vào miệng. Hương vị ấy, dân dã mà ấm áp, như gói cả hồn Tân Định.

Nhưng đời dân Sài Gòn sau cuộc đổi đời từ nghèo sang mạt sau tháng Tư năm 1975 đâu phải lúc nào cũng có tiền. Có khi cả tháng rỗng túi, ông né luôn cái xe cháo của bà xẩm, chỉ vì sợ mình thèm.  Cho đến một hôm, bà mời:

– Vô ăn đi thầy Hai, lâu quá mà…

– Tôi không có tiền! – Ông đáp, thật thà đến bật khóc.

– Không có thì cũng vô ăn, chừng nào trả cũng được. Mình quen mà!

Ông viết: “Miếng cháo tôi đang nuốt bỗng nghẹn ngang ở cổ, làm tôi ứa nước mắt.”

Chao ôi! Một tô cháo huyết mà chan chứa nghĩa tình. Nó không còn là món ăn của bụng đói, mà là của tình người nơi xóm cũ. Để rồi hơn nửa thế kỷ sau, ở tận trời Âu, ông vẫn còn nhớ như in, nhớ đến nhói tim, nhớ đến mức viết thành một truyện ngắn để gửi gắm nỗi lòng.

Tôi đọc truyện ấy mà thấy mình rưng rưng buồn trong tấc dạ. Bởi mỗi người tha hương đều có một “tô cháo huyết” riêng trong ký ức. Với nhà văn Tiểu Tử, đó chính là xe cháo huyết của bà xẩm Tân Định. Và khi ông kể lại, không phải chỉ kể một món ăn, mà là kể về một

quê hương đã mất, kể về cái tình người Sài Gòn xưa, kể về một thời mà “ăn chịu” không phải chuyện đáng xấu hổ, mà là biểu hiện của tin cậy, của chia sẻ, của đồng bào.

Tin ông mất khiến tôi buồn như mây chiều trôi. Hình dung nơi nghĩa trang lạnh lẽo ở Pháp, có một nấm mộ mới của một người từng viết: “Tôi đi để lại đường xưa.” Đường xưa ấy chính là Trần Quang Khải, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Văn Giai, Bùi Hữu Nghĩa… những con đường quanh Tân Định, đã nuôi dưỡng tâm hồn và văn chương của ông.

Có lẽ, trong giây phút cuối đời, ông vẫn còn nhớ tô cháo huyết năm nào. Và chúng tôi, những kẻ hậu sinh, đọc văn ông mà thấy trong cổ họng mình cũng nghèn nghẹn, như chính ông đã nghẹn ngày xưa.

Giờ ngồi viết những dòng này, tôi nhớ tới bạn bè, nhớ tới những buổi nhậu lai rai mà kể chuyện quê xưa. Tôi nhớ tới cảnh học trò chen chúc thi vào Petrus Ký nơi dạy của nhà văn Tiểu Tử với cái tên Võ Hoài Nam tiền định sống phải xa quê.

Tôi nhớ tới nhà văn Tiểu Tử, một kiếp người long đong phiêu bạt, nhưng đã kịp để lại cho đời những trang văn chan chứa tình quê, tình người. Cái tên “Tiểu Tử” nghe thì nhỏ nhoi, mà văn ông lại lớn lao, bởi ông đã nói hộ cho cả một thế hệ lưu lạc: quê hương không bao giờ mất, nó sống mãi trong từng mùi vị, từng ký ức, từng khói bốc lên từ nồi cháo huyết chiều nào.

Thưa Thầy, ở phương trời xa ấy, xin Thầy an nghỉ. Trần gian này thiếu vắng Thầy, nhưng những dòng chữ Thầy để lại, những ký ức về một tô cháo huyết bình dị, sẽ còn sống mãi. Để cho những đứa con xa quê, mỗi lần nhớ Sài Gòn xưa, lại tìm thấy bóng dáng mình trong câu văn mộc mạc mà rưng rưng của Thầy.

Hu hu… Tôi viết mà mắt cứ nhòa đi.

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.

 


 

Elena Goliakova – Từ nữ hoàng sân băng đến người phụ nữ lang thang trên phố

Anh Chi -Tâm Thức Việt 

 Vào những năm 1990, cái tên Elena Goliakova từng sáng rực như một vì sao trên bầu trời thể thao châu Âu.

Cô gái trẻ người Nga với gương mặt dịu dàng đã lướt trên sân băng như cánh bướm, thanh thoát như thiên nga – mê hoặc khán giả bằng những chuyển động kết hợp giữa sức mạnh và sự uyển chuyển. Mỗi lần Elena xuất hiện, cả khán đài như nín thở, bởi cô không chỉ là vận động viên trượt băng nghệ thuật – cô là thơ, là nhạc, là ánh sáng giữa mùa đông giá lạnh.

Nhưng số phận lại dẫn cô đi theo một con đường không ai ngờ tới…

Năm 2000, Elena rời Nga, mang theo tình yêu với người chồng kiêm huấn luyện viên – Nikolaï Svitov – và một giấc mơ lớn hơn: mang trượt băng nghệ thuật đến một nơi hầu như chưa từng biết đến môn thể thao này – Mexico.

Tại thành phố Monterrey, họ mở một học viện nhỏ. Những đứa trẻ Mexico lần đầu chạm chân lên băng, lần đầu nhìn thấy một thế giới kỳ ảo qua từng vòng xoay của Elena. Cô đã thắp lên một tia sáng mới cho một vùng đất chưa từng có mùa đông.

Thế nhưng, giấc mơ dù đẹp đến mấy cũng có thể vỡ vụn.

Học viện đóng cửa sau vài năm. Năm 2006, cuộc hôn nhân tan vỡ. Elena chìm dần trong nỗi buồn, rồi đến năm 2010, bi kịch thật sự ập tới: chẩn đoán tâm thần phân liệt thể hoang tưởng.

Căn bệnh cướp đi sự tỉnh táo, phá vỡ những cân bằng nội tâm mà cô từng giữ được trên sân băng. Cô không còn là nhà vô địch được tung hô nữa, mà là một người phụ nữ yếu đuối, đang vật lộn với những tiếng nói vô hình trong đầu.

Giờ đây, người ta có thể bắt gặp Elena lang thang trên đường phố Tepatitlán, một thị trấn nhỏ ở bang Jalisco – nơi cô đẩy một chiếc xe cũ kỹ chứa vài món đồ lặt vặt và những con vật nhỏ – những người bạn cuối cùng trong hành trình lặng lẽ này.

Người dân ở đó quen mặt cô. Họ thấy cô đi bộ mỗi ngày, tóc rối bời, ánh mắt mơ hồ, thỉnh thoảng nói tiếng Nga hoặc tiếng Anh – mà hầu hết mọi người không hiểu được. Có người từng muốn giúp, nhưng cô từ chối – vì rào cản ngôn ngữ, hoặc vì nỗi sợ hãi đã ăn sâu do căn bệnh kéo dài nhiều năm.

Câu chuyện của Elena – từ một nữ hoàng sân băng đến người phụ nữ vô gia cư – không chỉ là một bi kịch cá nhân. Đó là một hồi chuông cảnh tỉnh:

Ánh hào quang có thể vụt tắt.

Sức khỏe tinh thần là kho báu vô giá.

Và ranh giới giữa đỉnh cao vinh quang và vực sâu đổ vỡ… đôi khi mong manh đến không tưởng.

Một giấc mộng băng giá, nay tan thành sương sớm. Một đời người – từ ánh đèn sân khấu, giờ chỉ còn ánh mắt lạc lõng giữa phố thị xa lạ.

St


 

 XƯNG HÔ ĐÚNG CHẤT NGƯỜI MIỀN NAM…

Việt Luận – Viet’s Herald

Dân Miền Nam nào mà xưng hô đồng trang lứa là “cậu” vậy thím Tám?

Bực mình quá xá, phim truyền hình khung cảnh Nam Kỳ, nhà Nam rặc ròi mà cứ “nước dùng”, “chần thịt”, “thịt ba chỉ”, “nửa lạng thịt” rồi học trò Miền Nam mà cứ “cậu” và “tớ”, nhé, ấy, đằng ấy, cô ấy, anh ấy, thế ấy….

Người Miền Nam đâu có cậu và tớ. Bạn bè học chung mày tao hết. Có tin 80 tuổi gặp nhau còn mày tao không?

Mày tao là cách xưng hô rất thông dụng và thân thiết ở Miền Nam. Bạn bè mày tao, anh em mày tao, chú bác cũng mày tao với con cháu, vợ chồng đồng tuổi cũng mày tao tuốt.

“Dí dầu chồng thấp vợ cao

Qua kinh, nước lớn cõng tao bớ mầy!”

Người Miền Nam trang lứa còn xưng “tui” và “bạn”, “tui” và “ông”, “tui” và “bà”, “mình” và “bạn”, rồi xưng tên, thí dụ “Hòa” nói cho “Ngọc nghe nè!

Nam Kỳ khi chỉ ngôi thứ ba là “ổng”, “bả”, “chỉ”, “ảnh”, “cổ”, “con nọ”, “thằng kia”, “ông đó”, “bà kia kìa”, “con nhỏ kia”, “thằng đó”.

Không phải bực mình khi coi phim đâu, trên FB, trên những trang Miền Nam nữa. Vài bạn thiếu kinh nghiệm sống, nó dám khẳng định Nam Kỳ bạn bè gặp nhau xưng “cậu”.

Cậu cái đầu mày! Bạn bè Miền Nam xưng “cậu” khác gì lấy mắm tôm bỏ vô tô hủ tíu Mỹ Tho.

Chữ “cậu” chỉ được người Miền Nam xài trong ngôi xưng hô với người là anh trai hoặc em trai của mẹ mình. Có cậu ruột và cậu họ, cậu bà con.

“Nắng hạ đi mây trôi lang thang cho hạ buồn

Coi khói đốt đồng để ngậm ngùi chim nhớ lá rừng

Ai biết mẹ buồn vui khi mẹ kêu cậu tới gần

Biểu cậu ngồi, mẹ nhổ tóc sâu

Hai chị em tóc bạc như nhau”

 

Khi mẹ nói chuyện với những người mà mẹ cho là em thời mẹ cũng kêu “cậu” và xưng chị. Thí dụ “Chị nói cho cậu út nghe nè”

Người Miền Nam rất thích xưng hô với người đồng tuổi, đồng lứa mà mới quen là “bạn” và “mình”, không có kiểu “tui nói cậu nghe”.

Thí dụ gặp người mới quen ở chỗ cafe mà phát hiện ra đồng hương sẽ hỏi: “Bạn quê ở Mỹ Thuận hả? Tui dân Cái Vồn nè”.

Nếu hỏi “Cậu ở Mỹ Thuận hả?” là lai Bắc rồi.

Chữ “bạn” cũng là chữ dân Nam Kỳ hay xài, người giúp việc xưa kêu là “bạn ở”, kiếm người ở đợ kêu là “kiếm bạn ở”.

Người Miền Nam lớn tuổi hồi xưa hay xưng “qua” và kêu người nhỏ hơn là “chú em”. Thí dụ: Chú em làm ơn chỉ cho qua nhà ông bảy thiến heo.

Người Miền Nam lớn tuổi thích xưng “con” và “tui”, “con” và chú hay bác.

Thí dụ:

-Con mới ở trển về hả con? Con đi lên trển nhớ mua dùm chú hộp thuốc bổ.

Người Miền Nam lớn tuổi mà xưng “tui” và “cậu” cũng là bị lai Bắc rồi.

Chuyện của Sơn