Việt Nam: Hàng loạt báo lớn tường thuật, rồi gỡ bỏ tin ông Tô Văn Lai, người sáng lập trung tâm Thúy Nga, qua đời (BBC)

BBC News Tiếng Việt 

Tin tức về sự ra đi ngày 19/7 của ông Tô Văn Lai, người sáng lập Trung tâm Thúy Nga nổi tiếng với chương trình ca nhạc Paris By Night, đã bị gỡ bỏ khỏi các trang Thanh Niên, Pháp Luật, Dân Trí, Tiền Phong… ngay trong ngày đăng 20/7.

Từ Sài Gòn, nhà văn Nguyễn Viện cho rằng một nguyên nhân có thể các bài viết về ông Tô Văn Lai bị gỡ hàng loạt là do ông Tô Văn Lai là một nhân vật “có ảnh hưởng nhưng ngoài luồng”.

“Khi báo chí đưa tin về sự qua đời của ông Tô Văn Lai không khác gì là tuyên dương một người không nằm trong hệ thống nhà nước”, nhà văn Nguyễn Viện nói.

Trong khi đó, trao đổi với BBC News Tiếng Việt sáng 21/7, nhạc sĩ Tuấn Khanh, một công dân ở Việt Nam, cho rằng đây là “ý kiến của một cá nhân mà đủ sức tác động tới toàn bộ một hệ thống”.

Theo nhạc sĩ, trên đà dần dần cởi mở của Việt Nam đối với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, gần đây đã có nhiều văn nghệ sĩ hải ngoại, tuy từng bị Đảng Cộng sản xem là ‘chống Cộng’, cũng đã được báo đài đưa tin và giới thiệu.

“Về tin tức ông Tô Văn Lai qua đời, tôi nghĩ rằng có một người nào đó muốn giới thiệu sự thông minh của mình, mang tính là “tôi là người phát hiện được điều này”, chứ không phải là xu hướng chung của nhà nước Việt Nam trong công cuộc cố gắng hòa hợp – hòa giải với cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Tôi nghĩ đây là quyết định của một cá nhân nhưng gây ảnh hưởng đến bộ mặt toàn bộ nhà nước Việt Nam”, nhạc sĩ Tuấn Khanh nhận định.

Các bạn đọc lại bài viết tại đây: https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-62248101 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Dép Râu

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Dép Râu

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Thỉnh thoảng, tôi vẫn nghe rằng: “Giầy dép cũng đều có số, nói chi đến con người.”

Quả là có thế!

Chả thế mà tiếng Việt không thiếu những hạn từ liên quan đến vận mạng, định mệnh, số kiếp, số mạng, số phận, vận số, mệnh số, phần số: số xui, số hên, số đen, số đỏ, số mạt, số nghèo, số giầu, số làm quan, số làm đĩ, số ăn mày, số xa nhà, số đi tu, số ở tù …

Tuy thế, loại dép râu (hay còn gọi là dép lốp, dép cao su, dép Bình Trị Thiên) thì chả có số má gì ráo trọi. Mẫu mã cũng không luôn. Đôi nào ngó cũng vậy. Cứ nhắm vừa chân ai là người đó xỏ đại vô – one size fit all – già trẻ, lớn bé, gái trai đều giống như nhau.

Thô kệch, trần trụi vậy thôi nhưng đôi dép lốp đã từng được thi hào Tố Hữu cho “lên tầu vũ trụ” và có tên trong Wikipedia, phiên bản tiếng Anh: 

“The Ho Chi Minh sandals (Vietnamese dép lốp ‘tire sandal’) are a form of sandal made from discarded tires. Along with the khăn rằn scarf, they were a distinctive clothing of Viet Cong soldiers. These shoes were often called ‘Ho Chi Minh sandals’ or ‘Ho Chis” by Americans.”

Vỏn vẹn có đôi ba câu ngắn ngủi (chỉ gồm 48 từ) như vậy thì e chưa đủ liều lượng để ba hoa thiên tướng nên Wikipedia – phiên bản nội hóa – tự động chêm vào vài ba đề mục nữa (Đôi Dép – Dép Lốp – Đôi Dép Bác Hồ) tổng cộng là ba ngàn bốn trăm từ, với không ít hình ảnh, và toàn là những lời có cánh:

  • Đôi dép ấy rất đỗi bình dị, mộc mạc đơn sơ, nhưng thật nhiều ý nghĩa như chính cuộc đời Bác kính yêu. Bởi đôi dép cao su đã gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng vì dân, vì nước của Bác. Ngày nay, đôi dép ấy đã trở thành kỉ vật thiêng liêng và vô giá của dân tộc ta.
  • Đôi dép này được xem như là một trong những biểu tượng về “cuộc đời cách mạng” của Hồ Chí Minh, được đề cập trong nhiều bài báo cũng như một số bài hát, bài thơ.

Tự điển bách khoa toàn thư của người ta mà Ban Tuyên Giáo vẫn thản nhiên nhẩy xổ vào thêm thắt/thêu dệt trắng trợn tới cỡ đó thì thiệt là quá đáng, và quá quắt! PTT Vũ Đức Đam, Chủ Tịch Hội Đồng Chỉ Đạo Biên Soạn Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam, đã từng tuyên bố (không ngượng miệng) rằng:

“Bộ Bách khoa toàn thư phải là tri thức cơ bản về Việt Nam đặc biệt là tri thức ứng dụng cho đất nước, phải đúng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.”

Tạm thời, khi chưa có bộ sách này thì cứ nhào nặn Wikikipedia tiếng Anh thành ra tiếng Việt (luôn) cho nó khoẻ. Mẹ nó, sợ gì ?

Tuy không có gì đáng sợ nhưng cũng chả có hiệu quả chi. Bên cạnh những lời lẽ thương râu nhớ dép hết sức thiết tha của đám văn nghệ sỹ cung đình (Hà Nội) vẫn có những câu thơ truyền miệng, phổ biến trong văn hóa dân gian: Đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ/ Nón tai bèo che khuất nẻo tương lai.

Nghe vậy tưởng đã quá tệ nhưng blogger Trương Nhân Tuấn còn diễn giải sự việc một cách tệ hại hơn vậy nữa: “Nón cối hay nón tai bèo, cùng đôi dép râu, đã ‘viết nên trang sử’, trên lý thuyết là đưa cả nước lên ‘xã hội chủ nghĩa’. Mà thực tế là đưa tất cả ‘xuống hàng chó ngựa’, như hai câu ‘thơ’ thời thế : ‘Đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ, Chiếc nón tai bèo phủ kín nẻo tương lai.”  

Thế mới biết dép râu tuy không có số má chi nhưng kẻ xỏ chân thì đều có cả. Tuy tuyệt đại đa số đều “xuống hàng chó ngựa” nhưng lại có kẻ được cơ hội xưng vương, và xưng tụng như thần:

“Vào năm 1970, một năm sau ngày Bác đi xa, nhà thơ Nam Yên đã viết một bài thơ lời lẽ dung dị nhưng rất mực thắm thiết, gợi lên cảm xúc thương mến Bác vô bờ. Bài thơ được nhạc sĩ Vân An phổ nhạc: Dép Bác, đôi dép cao su/ Bác đi từ ở chiến khu Bác về/ Phố phường trận địa/ Nhà máy đồng quê/ Đều in dấu dép Bác về, Bác ơi…

Bác Hồ là biểu trưng của tất cả những gì dung dị, mang một bản sắc dân tộc Việt Nam nhuần nhị, sâu xa nhất. Ngay cả quần áo, đồ dùng tiện nghi của Bác cũng đơn sơ, mộc mạc trong đó đôi dép của Bác trở thành một hình tượng thân quen, thắm thiết đối với chúng ta…” (Trung  Đức. “Đôi Dép Bác Hồ Đôi Dép Cao Su.” Việt Nam Mới).

Nào có riêng gì “với chúng ta!” Người nước ngoài cũng thế, cũng mê mẩn chết bỏ:

“Chuyện là, khi Bác tiếp các quan chức cấp cao trong Chính phủ Ấn Độ, họ đều chú ý nhìn vào đôi dép dưới chân Người, họ luôn liếc nhìn với vẻ lạ lùng và rất đỗi trân trọng. Báo chí nước ngoài khi đó thì nói về đôi dép cao su của Bác như một chuyện lạ, một huyền thoại về một con người tuyệt vời của thế kỷ lúc bấy giờ. 

Người dân Ấn Độ đã tỏ rõ lòng ngưỡng mộ đến lạ kỳ về đôi dép cao su. Khi Bác tới thăm một ngôi đền lớn và cổ kính của Ấn Độ, lúc Bác bước vào trong đền, để lại đôi dép bên ngoài thì bất ngờ có hàng trăm phóng viên báo chí, nhiếp ảnh, quay phim ập đến vây kín đôi dép cao su của Bác. Họ như phục sẵn từ rất lâu rồi, một số phóng viên còn cúi xuống dùng tay sờ, nắn đôi dép tỏ vẻ lạ lùng và trịnh trọng.” (Huyền Chi. “Huyền Thoại Hồ Chí Minh Trong Trái Tim Các Nhà Báo Quốc Tế.” Công An Nhân Dân).

Sự “ngưỡng mộ” mà bạn bè quốc tế đã dành cho đôi dép của Bác – thực ra – chả là cái đinh gì, nếu so với lòng sùng kính của người dân bản địa (nơi vùng xa, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng) ở Việt Nam:

 “Không dối lòng đâu, mỗi lần đi ‘dép Bác Hồ’ là thấy bụng không nghĩ điều trái, chân không đi hai đường. Chẳng riêng mình, cả làng này ai cũng vậy. Chiến tranh khỏi nói, hòa bình rồi có biết bao chuyện khó… Bông Rẫy hồi chiến tranh chỉ có 50 hộ, bây giờ đã lớn lên gần 120 hộ mà không còn ai đói, chỉ còn 10 hộ nghèo. Ai cũng có xe máy, hơn một nửa đã làm được nhà xây.

 Không ai nghe lời kẻ xấu vượt biên trái phép… Không nhờ phép lạ ‘dép Bác Hồ’ sao được thế? Có ‘dép Bác Hồ’ là thắng tất! Đinh Ngút cất lên một tràng cười sảng khoái. Ông nâng niu đôi dép mòn vẹt trên tay nói tiếp:

– Bông Rẫy bây giờ hãy còn gần hai chục người giữ được ‘dép Bác Hồ’ năm sáu chín như mình. Năm ngoái huyện đội vào xin mấy đôi, nói để làm bảo tàng, dân làng mới cho…” (Lê Quang Hồi. “Làng Bông Rẫy Mang Dép Bác Hồ.” Quân đội Nhân dân).

Trời ơi! Tưởng gì? Chớ dép lốp thì cần chi phải đi xin để bỏ vô viện bảo tàng. Thiếu mẹ gì đây nè, theo như những bản tin nhan nhản hàng ngày qua báo chí:

Cuộc chiến đã chấm dứt gần nửa thế kỷ, xương cốt của đám con bỏ xác dọc Đường Trường Sơn đã trở thành mùn đất (các bà mẹ tìm con nay cũng đều đã khuất) nhưng những chiếc dép cao su thì hẳn vẫn còn nguyên, và còn nhiều lắm:

  • Nhà văn Xuân Vũ: “ Để vun bồi ‘uy tín’ (hão) cho một người hoặc một vài người trên dãy Trường Sơn này, núi rừng đã phải nhận hàng vạn bộ xương khô, hằng vạn nấm mồ, không có nấm, không có bia.”  
  • S. Nguyễn Văn Lục: “Người ta phỏng đoán có khoảng 300.000 vừa là TNXP, vừa là cán binh bộ đội đã đào ngũ hay mất tích hoặc chấm dứt đời sống. Bệnh tật như kiết lỵ, sốt rét đã nhanh chóng hoàn tất cuộc đời của họ mà có thể chưa một ngày lâm trận.”
  • Nhà báo Rajiv Chandrasekaran cũng ghi nhận con số tương tự: “Chừng 300 ngàn người lính miền Bắc chết trong chiến tranh mà di hài của họ vẫn chưa tìm được – và chắc sẽ không bao giờ tìm ra cả. About 300,000 North Vietnamese soldiers killed in the war whose remains have not yet been located – and likely never will be. (“Vietnamese Families Seek Their MIAs.” Washington Post 3 April 2000: A01).

Nhà đương cuộc Hà Nội chỉ muốn mọi người biết đến và tôn thờ một đôi dép râu duy nhất của Hồ Chí Minh thôi nhưng dân Việt sẽ không bao giờ quên số phận thảm thương của hằng triệu sinh linh (chả may) buộc phải xỏ chân vào cái thứ dép oan nghiệt này.

Tưởng Năng Tiến

Tịnh Thất Bồng Lai: Bỏ tù cụ ông 90 tuổi – một điểm mới trong trấn áp nhân quyền ở Việt Nam

Tịnh Thất Bồng Lai: Bỏ tù cụ ông 90 tuổi – một điểm mới trong trấn áp nhân quyền ở Việt Nam

2022.07.22

RFA Tiếng Việt

Các tổ chức nhân quyền quốc tế hôm 22/7 lên tiếng phản đối bản án mà toà án Nhân dân huyên Đức Hoà, tỉnh Long An, vừa áp đặt lên sáu người thuộc một nhóm tu tại gia là Tịnh thất Bồng lai hay còn gọi là Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ. Human Rights Watch thậm chí gọi đây là một điểm mới trong chiến dịch trấn áp nhân quyền ở Việt Nam khi bỏ tù một cụ ông ngoài 90 tuổi chì vì ông dám bày tỏ chính kiến của mình.

Hôm 21 tháng 7, sáu thành viên thuộc Tịnh thất Bồng Lai bị tuyên phạt tổng cộng hơn 23 năm tù với cáo buộc “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Khoản 2, Điều 331, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 117 về tuyên truyền chống Nhà nước và Điều 331 là các điều khoản về an ninh quốc gia trong Bộ Luật Hình sự. Từ đầu năm đến nay, có ít nhất 19 người đã bị chính quyền Việt Nam bắt giam với cáo buộc vi phạm các điều này, theo thống kê mà RFA tổng hợp được.

Ông Lê Tùng Vân tại Toà án Nhân dân huyện Đức Hoà vào tháng 7/2022. Công An Nhân Dân

Việc toà tuyên những bản án nặng nề, đặc biệt là bản án năm năm tù giam đối với ông Lê Tùng Vân, người đã ngoài 90 tuổi, đã gây chú ý.

Cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Long An cáo buộc những người thuộc Tịnh thất Bồng Lai cầm đầu bởi ông Lê Tùng Vân đã đăng tải nhiều bài viết, clip trên mạng xã hội Facebook và YouTube trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2021 có thông tin sai sự thật, bịa đặt, xuyên tạc, nhằm tuyên truyền, kích động xúc phạm uy tín của cơ quan Công an huyện Đức Hoà, xúc phạm Phật giáo, xúc phạm danh dự và nhân phẩm của ông Trần Ngọc Thảo (tức Thượng toạ Thích Nhật Từ).

Điều 331 của Bộ luật Hình sự vốn được sử dụng trong các vụ án có yếu tố chính trị, nhằm buộc tội những người bất đồng chính kiến với Đảng Cộng sản. Các tổ chức nhân quyền quốc tế đã liên tiếp chỉ trích và yêu cầu chính quyền Việt Nam bãi bỏ điều luật này.

Trao đổi với Đài Á châu Tự do qua email, ông Phil Robertson, Phó giám đốc phân ban Châu Á của tổ chức Theo dõi Nhân quyền, cho biết bằng việc bỏ tù những người ở Tịnh thất Bồng Lai vì các phát ngôn của họ cho thấy chính quyền Việt Nam đã trở nên độc đoán hơn:

Tống một ông cụ 90 tuổi vào tù chỉ vì dám nói lên suy nghĩ của mình cho thấy chính quyền Việt Nam đã đưa chiến dịch trấn áp nhân quyền đến một điểm mới.

Bằng việc sử dụng điều luật hà khắc để bịt miệng những người dân bình thường, những người chỉ đơn giản đã than phiền về công chức địa phương, chính quyền Việt Nam cho thấy giờ đây họ không chỉ đàn áp những nhà hoạt động”.

Thông qua việc những cá nhân phi chính trị như các thành viên ở Tịnh thất Bồng Lai giờ đây cũng bị bắt bớ vì phát ngôn trên mạng, ông Phil Robertson cho rằng chế độ ở Việt Nam đang cho thấy họ càng ngày càng trở nên thù nghịch đối với những chỉ trích.

Vị đại diện của tổ chức nhân quyền có trụ sở tại Hoa Kỳ cũng kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho những người bị cầm tù:

Việt Nam cần phải đảo ngược các phán quyết lố bịch và những bản án không thể chấp nhận được nhắm vào tất cả những cá nhân ở Tịnh thất Bồng Lai”.

Đồng thời, tổ chức Ân xá Quốc tế, một tổ chức nhân quyền quốc tế có trụ sở ở Anh Quốc, cũng bày tỏ sự phản đối trước kết quả phiên toà hôm 21 tháng 7. Bà Ming Yu Hah, Phó giám đốc khu vực Đông và Đông Nam Á của tổ chức Ân xá Quốc tế, cho biết:

Việc cáo buộc ai đó là lợi dụng các quyền tự do dân chủ, thực chất là cái cớ để bịt miệng những tiếng nói chỉ trích chính quyền. Chỉ trong nửa đầu năm nay thì các điều 331 và 117 đã liên tục được lạm dụng để bắt bớ và truy tố bloggers, tín đồ tôn giáo, và người sử dụng Facebook vì những hoạt động của họ trên mạng xã hội.

Ngày nay, bất cứ ai ở Việt Nam đều có nguy cơ bị bỏ tù nhiều năm trời chỉ vì thực hành quyền tự do biểu đạt”.

Tình trạng này được bà Ming Yu Hah cho là “không thể chấp nhận và không thể dung thứ”. Bà cũng kêu gọi chính quyền Việt Nam phải chấm dứt việc đàn áp quyền tự do biểu đạt, và trả tự do cho những người bị bắt bớ.

Điều 117 về tuyên truyền chống Nhà nước và Điều 331 là các điều khoản về an ninh quốc gia trong Bộ Luật Hình sự. Từ đầu năm đến nay, có ít nhất 19 người đã bị chính quyền Việt Nam bắt giam với cáo buộc vi phạm các điều này, theo thống kê mà RFA tổng hợp được.

Nguồn: RFA Tiếng Việt

Hồng Đăng, Hồ Hoài Anh được Sứ Quán CSVN ‘hỗ trợ thủ tục lưu trú’

Hồng Đăng, Hồ Hoài Anh được Sứ Quán CSVN ‘hỗ trợ thủ tục lưu trú’

July 21, 2022

MAJORCA, Tây Ban Nha (NV) – Đại Sứ Quán Việt Nam tại Tây Ban Nha “vẫn đang giữ liên lạc và đang hỗ trợ thủ tục lưu trú cho hai công dân Việt Nam bị tố cưỡng hiếp ở đảo du lịch Majorca,” theo tờ Tuổi Trẻ hôm 21 Tháng Bảy.

Thông tin được bà Phạm Thu Hằng, phó phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao CSVN, loan báo nhưng vẫn giấu tên hai nghệ sĩ nổi tiếng bị cáo buộc cưỡng hiếp cô gái 17 tuổi ở Tây Ban Nha.

Diễn viên Hồng Đăng đăng hình chụp trước nhà thờ chính tòa Milan, Ý, trên trang cá nhân vài ngày trước khi ông này bị bắt tại đảo Majorca, Tây Ban Nha. (Hình: Pháp Luật TP.HCM)

Lần duy nhất mà giới chức chính phủ Việt Nam xác nhận ông Hồng Đăng, Hồ Hoài Anh chính là hai nghi can trong vụ này là khi ông Tạ Quang Đông, thứ trưởng Bộ Văn Hóa – Thể Thao và Du Lịch, được cho là “hớ miệng” tại một cuộc họp hôm 5 Tháng Bảy.

Trước đó, các báo địa phương của đảo Majorca đưa tin cảnh sát địa phương đã tạm giữ một diễn viên 37 tuổi và một nhạc sĩ 42 tuổi người Việt Nam đã ra tòa lần đầu hôm 28 Tháng Sáu, với cáo buộc “cưỡng hiếp.”

Liên quan vụ này, bà Hằng cho biết thêm hiện tại, Sứ Quán Việt Nam tại Tây Ban Nha “tiếp tục theo dõi sát vụ việc, giữ liên lạc với các công dân, chính quyền địa phương và sẵn sàng hỗ trợ công dân theo các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và nước sở tại.”

Phát ngôn của bà Hằng là chỉ dấu cho thấy ông Hồng Đăng và Hoài Anh sẽ còn phải ở Tây Ban Nha trong một thời gian dài và không có cơ hội được về nước, trước khi tòa án địa phương mở phiên xử.

Báo Zing hôm 6 Tháng Bảy dẫn lời bà Patricia Faraldo Cabana, giáo sư Luật Hình Sự tại đại học University of A Coruna, Tây Ban Nha: “Tôi không thể đưa ra con số cụ thể vì thời gian điều tra phụ thuộc vào các tình tiết và bối cảnh vụ án, cũng như hồ sơ tồn đọng nếu có của tòa án. Trên thực tế, thường phải mất vài tháng, thậm chí vài năm trước khi vụ án được đưa ra xét xử.”

“Trong trường hợp của hai nghệ sĩ Việt Nam, đến thời điểm này, họ vẫn chưa được tố tụng nhanh. Điều đó có nghĩa trường hợp này khá nặng,” bà Patricia Faraldo Cabana nhấn mạnh.

Nhiều nhãn hàng ở Việt Nam đã gỡ hình ảnh Hồ Hoài Anh làm đại sứ thương hiệu cho họ ngay sau khi ông này bị cáo buộc cưỡng hiếp ở Tây Ban Nha. (Hình: Zing)

“Việc hai nghệ sĩ này được tại ngoại có nghĩa là thẩm phán thấy hai người không có dấu hiệu tái phạm, đi về nước hoặc gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng trong lúc được tại ngoại,” bà Cabana nói.

Bà Cabana cũng nhấn mạnh: “Tội phạm tình dục được coi là tội nghiêm trọng ở Tây Ban Nha. Khi được tại ngoại, thông thường, họ sẽ phải báo cáo thường xuyên với cảnh sát. Điều này tùy thuộc vào yêu cầu của tòa án.” (N.H.K) [qd]

Nhóm Tịnh Thất Bồng Lai tội gì ???

Lmdc Viet Nam

* Nhóm Tịnh Thất Bồng Lai tội gì ???

– Bọn bò đỏ và đám DLV vu khống họ cái tội loạn luân:

* Nhưng sau khi thử nghiệm ADN, không có trường hợp nào phạm tội loạn luân hết.

– Cáo trạng tại tòa, được báo chí nhà nước dẫn lại, nói từ năm 2019 đến 2021, bị cáo Lê Tùng Vân đã chỉ đạo Hoàn Nguyên, Nhất Nguyên lập tài khoản Youtube 5 Chú Tiểu – Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ và Nhất Nguyên – Hoàn Nguyên Official.

* Từ lúc nào lập tài khoản Youtube để post những bản nhạc ca hát của mình lên mạng là có tội ???

– Biết bao nhiêu người ở VN trong nước cũng làm như vậy nhưng không bị ghép tội ???

– Bộ Luật nào bắt buộc những người “tu tại gia” phải đăng ký cái gọi là GH Phật giáo quốc doanh ????

*** Rốt cuộc rồi Nhóm Tịnh thất Bồng Lai bị tuyên án nhưng họ không có và cũng không nhận tội gì hết, trừ cái tội bị công an hành hạ, đánh đập, ép cung…

– Bảng án “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo khoản 2 Điều 331 Bộ luật Hình sự chỉ là một cái cớ “mơ hồ & vô lý” để nhà nước CSVN “đàn áp Tự Do Tôn Giáo” và “bắt bớ & bỏ tù” những ngườic công dân vô tội không tuân phục cái chế độ thối nát độc tài đảng trị CSVN.

TL BBC & RFA

‘Trầm cảm’ và ‘thất nghiệp,’ một ông ở Phú Quốc giết vợ con

‘Trầm cảm’ và ‘thất nghiệp,’ một ông ở Phú Quốc giết vợ con

July 21, 2022

KIÊN GIANG, Việt Nam (NV) – “Không có việc làm” và “bị trầm cảm,” ông Hoàng Minh Vĩ, 37 tuổi, ở phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, đã chém chết vợ cùng con trai 7 tuổi rồi gọi điện báo công an, theo VNExpress hôm 21 Tháng Bảy.

Báo này cho biết thêm, Công An thành phố Phú Quốc đã bắt ông Vĩ với cáo buộc “giết người.”

Nghi can Hoàng Minh Vĩ tại đồn công an. (Hình: An Thới/VNExpress)

Sáng cùng ngày, người vợ 37 tuổi của ông Vĩ chuẩn bị bữa sáng cho chồng trước khi ông này dự kiến ra phi trường bay đi Hà Nội, để khám bệnh trầm cảm. Bất ngờ, ông Vĩ cầm một cái chảo đánh vào đầu vợ rồi dùng dao chém chết tại chỗ.

Sau đó, ông Vĩ tiếp tục cầm dao qua phòng con trai 7 tuổi đang ngủ, chém cậu bé tử vong.

Tại đồn công an, ông Vĩ khai rằng mình đưa vợ con từ quê ở tỉnh Bắc Kạn vào Phú Quốc, giữ nhà nghỉ cho người quen. Nhiều tháng qua không có việc làm, ông rơi vào trầm cảm, lo không có tiền trị bệnh nên nảy sinh ý định sát hại vợ con rồi tự sát.

Trước vụ này, các vụ giết người thân hoặc tự sát do trầm cảm diễn ra thường xuyên tại Việt Nam, với tần suất gần như mỗi tháng.

Hồi tháng trước, tờ Tuổi Trẻ loan tin ông ĐMT, 33 tuổi, bị trầm cảm, đã giết con trai 5 tuổi trong phòng ngủ một căn hộ ở tầng 9 chung cư 4S Linh Đông, phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Sài Gòn, rồi tự tử.

Tại hiện trường, công an thu giữ một lá thư tuyệt mệnh được cho là của ông T. để lại.

Ngoài vụ này, liên tiếp xảy ra các vụ mẹ giết con do “trầm cảm sau sinh” tại nhiều tỉnh thành.

Theo tờ Tuổi Trẻ hôm 8 Tháng Bảy, các nghiên cứu ở một số bệnh viện phụ sản tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ trầm cảm sau sinh là từ 11.6-33%. Đáng lo ngại là ước tính có gần 50% phụ nữ bị trầm cảm sau sinh không được chẩn đoán bởi chuyên gia y tế.

Phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc. (Hình minh họa: VOV)

Theo báo Dân Trí hôm 3 Tháng Bảy, bệnh trầm cảm là nguyên nhân khiến gần 40,000 người Việt tự tử mỗi năm, gấp bốn lần số ca chết do tai nạn giao thông.

Con số nêu trên được công bố tại buổi tọa đàm “Thực trạng sức khỏe-hạnh phúc của người Việt Nam và giải pháp kiến tạo nếp sống khỏe- sống an,” do Hội Tâm Lý Trị Liệu Việt Nam tổ chức tại Sài Gòn. (N.H.K)

Chỉ có một “Việt Á” trong Bộ Khoa học và Công nghệ?

Chỉ có một “Việt Á” trong Bộ Khoa học và Công nghệ?

21-7-2022

Ảnh trên mạng

Năm 2018, Công ty Thu Đức của ông Nguyễn Bình Dương đăng ký một loạt nhãn hiệu: Thu Đức Ga, My Tra Petro, OIRIGIN GAS, VINSIN trùng với tên viết tắt hoặc tương tự với tên thương mại của một số doanh nghiệp khác đã nổi tiếng trên thị trường hàng chục năm như THỦ ĐỨC GAS, MỸ TRÀ GAS, ORIGIN GAS, Vinashin.

Điều đáng ngạc nhiên là, cho dù hoạt động “cùng lĩnh vực kinh doanh”, lại sử dụng tên thương mại và nhãn hiệu “rất dễ gây nhầm lẫn” với những nhãn hiệu đã nổi tiếng nhiều thập niên, “có tính chất lừa dối về nguồn gốc, xuất xứ…” mà các nhãn hiệu của ông Nguyễn Bình Dương lập ra vẫn được Cục Sở hữu Trí tuệ Bộ Khoa học và Công nghệ cấp “giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa”.

Không dừng lại ở mức độ “gian lận thương mại”, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, ngày 5-7-2021, khi kiểm tra một cửa hàng của Gas Thu Đức ở Hòa Bình, Đoàn kiểm tra liên ngành (Cục Quản lý thị trường phối hợp với PC03 Công an tỉnh Hòa Bình) đã bắt quả tang Công ty Thu Đức có hành vi làm giả, làm nhái nhiều loại thương hiệu gas nổi tiếng trên thị trường, như Thủ Đức gas, Mỹ Trà gas, ORINGIN GAS và Vinashin.

Ngoài việc làm giả, làm nhái, ông Nguyễn Bình Dương còn thu gom bình gas của nhiều doanh nghiệp về “cưa tai, mài vỏ, mài số chế tạo, bỏ logo cũ, dán lô gô của mình vào, rồi sang chiết gas không nguồn gốc rõ ràng để cung cấp ra thị trường”.

“Cưa tai, mài vỏ” không phải là “tội phạm mới” trong ngành kinh doanh gas. Nhưng, “cưa tai, mài vỏ” với “căn cước” được cấp bởi Cục Sở Hữu Trí Tuệ của Bộ Khoa học và Công nghệ thì hành vi gian lận đã được nâng lên một quy mô mới.

Các nạn nhân của Gas Thu Đức và Hiệp hội kinh doanh Gas đã nhiều lần gửi văn bản lên ông Cục trưởng Cục Sở hữu Trí tuệ đề nghị rút lại các giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa; gửi C03 đề nghị “xử lý hình sự người đại diện pháp luật của công ty này, ông Nguyễn Bình Dương”. Nhưng, đến nay sự việc vẫn chưa giải quyết.

Giả mạo các nhãn hiệu nổi tiếng không phải là câu chuyện riêng của Việt Nam nhưng ít có ở đâu, việc giả mạo lại ngang nhiên tồn tại như ở Việt Nam.

Trong thập niên 1990s, không mấy ai tới Hà Nội mà không biết phố thịt chó Nhật Tân. Khởi nghiệp thành công ở “ngành công nhiệp” này là “Anh Tú”. Bắt đầu một mình với một “mái lều tranh” nhưng khi “Anh Tú” được nâng cấp thành khu nhà sàn 2 tầng, Nhật Tân ngay lập tức trở thành “liên hiệp các xí nghiệp thịt chó Hà Nội” với gần 50 quán khác. Không chỉ có Trần Mục, Hồ Kiếm, A Trang… “thương hiệu Anh Tú” đã bị nhái bởi những Anh Tú Xịn, Anh Tú Nhà Kính, Anh Tú Nhà Lá…

“Kinh đô thịt chó” vì nhiều lý do nay đã không còn nữa. Nhưng, ngay giờ đây ở Hà Nội, bên cạnh “Lạc rang húng lừu gia truyền bà Vân” vẫn có “Thương hiệu bà Vân lạc rang húng lừu gia truyền”. Ở Hà Tĩnh, bên cạnh cửa hàng của một thương hiệu cu đơ uy tín, Thư Viện, mọc thêm ngay sát một Thư Viện khác.

Hẳn nhiều người còn nhớ, năm 2010, khi xuất hiện “thương hiệu Vincon” nhái Vincom, Chánh thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ đã ra quyết định xử Vincon với mức phạt tiền 14 triệu và yêu cầu loại bỏ “Vincon” trên biển hiệu, giấy tờ giao dịch… Không lẽ, Bộ Khoa học và Công nghệ giờ đây không còn khả năng vận hành như 12 năm trước.

Tôi không rõ, ông bà Thư Viện và “Bà Vân” chính hiệu đã từng đăng ký nhãn hiệu hay thưa kiện hay chưa; nhưng, trong một môi trường kinh doanh mà những kẻ lười biếng (sử dụng trí tuệ), kiếm tiền bằng làm nhái, ăn cắp, gian lận… được dung túng thì sẽ không bao giờ có kinh tế thị trường.

Trong nhiệm kỳ trước, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thường xuyên nói đến “nhà nước kiến tạo”, cho đến nay, người dân vẫn chưa thực sự hiểu rõ nội hàm của nhà nước kiến tạo là gì. Trước khi có thể kiến tạo cơ hội kinh doanh cho người dân, người dân và doanh nghiệp chỉ mong nhà nước làm đúng trách nhiệm của mình, không tiếp tay cho các hành vi gian dối, lừa đảo để chiếm đoạt thành quả kinh doanh của họ.

Không chỉ có dấu hiệu gian lận thương mại, hành vi của Thu Đức Gas có nhiều dấu hiệu chiếm đoạt tài sản của các công ty như Thủ Đức Gas, Mỹ Trà Gas… Khởi tố những vụ án tương tự (ở nhiều ngành khác nhau) không chỉ là cách duy nhất để dần thiết lập một môi trường kinh doanh lành mạnh, để thực sự có kinh tế thị trường, mà còn có thể giúp phát hiện ở Bộ Khoa học & Công nghệ thêm những vụ án khác có “mùi Việt Á”.

CHUYỆN CON BÒ TRONG TÒA – Bài của Khanh Nguyen (Nhạc sĩ Tuấn Khanh)

CHUYỆN CON BÒ TRONG TÒA

Bài của Khanh Nguyen (Nhạc sĩ Tuấn Khanh)

Trong phiên tòa xử Tịnh Thất Bồng Lai ngày 20/7, luật sư Âu Quang Phục, người được gọi là bảo vệ cho bị hại Trần Ngọc Thảo tức ông Thích Nhật Từ, đã đặt một vấn đề với những người ở Tịnh Thất Bồng Lai, trước mặt phiên tòa, điều mà ai nấy đều phải ngỡ ngàng:

“Nếu như bây giờ tôi nói Chúa ngu như bò thì các ông thấy sao?”

Luật sư Phục đưa ra câu hỏi này, bởi đơn tố cáo vì cho là bị xúc phạm của ông Trần Ngọc Thảo, nói rằng thành viên của Tịnh Thất Bồng Lai đã phát biểu nói “Thích Nhật Từ ngu như bò”. Tức giận do bị so sánh với con bò nên ông Thích Nhật Từ đã làm đơn khởi kiện, nói bị xúc phạm danh dự cá nhân, nhất định hoàn toàn không thể là bò.

Thế nhưng câu hỏi được đặt ra mang tính đối chiếu của luật sư Phục khiến ai nấy ngỡ ngàng, thậm chí phải bật cười vì sự ấu trĩ – và phải nói rõ là ngu xuẩn về trình độ nhận thức – vì Chúa Giêsu dù được đặt ra ở bất kỳ vị trí nào cũng không hề liên quan gì với những người trong Tịnh Thất Bồng Lai.

Nhưng cần nhớ, câu hỏi kém cỏi của luật sư Phục cũng có thể đáng bị đặt vào tình trạng bị khởi tố theo Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm C “Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội”.

Chuyện cố ý đưa Đức Chúa Giêsu vào trong nội dung này chính là mang tính xúc phạm vô cớ, vì nhân vật Chúa Giêsu không liên quan đến vụ án, và không thể hiện bất kỳ sự suy luận kiến giải nào về việc so sánh ông Thích Nhật Từ ngu như bò, ngoại trừ khi ông Thích Nhật Từ tự coi mình ngang hàng với Chúa, và đặc biệt là hoàn toàn khác con bò.

Cần nói rõ là nội dung quyết định ở đây, đang được cân phân giữa ông Thích Nhật Từ và con bò, là hai thực thể rất rõ ràng.

Vấn đề là phía bị hại cần phải xác định rằng con bò có những điểm xấu như thế nào mà người ta so sánh với mình khiến mình cảm thấy bị xúc phạm, kể cả chuyện “ngu” ở mức nào là được so sánh với con bò.

Tuy vậy, ở một góc nhìn khác, việc so sánh một con người với một con vật đó là chuyện thường tình mang đầy tính văn hóa dân gian vẫn diễn ra trong xã hội, ví dụ người ta vẫn so sánh “Anh A làm việc chăm chỉ như một con ong” hoặc “Anh B suốt cuộc đời cặm cụi như một con kiến”, hoặc “Hắn làm việc như con trâu”. Sự kiện ông Thích Nhật Từ tức giận đâm đơn kiện, có thể coi là vụ kiện đầu tiên trong lịch sử tòa án Việt Nam về việc bất đồng so sánh với thú vật.

Trở lại câu hỏi rất “bò” của luật sư Âu Quang Phục, chắc chắn sẽ không ai ở phiên tòa xử Tịnh Thất Bồng Lai buồn nghĩ gì cả, vì câu chuyện này không liên quan với vụ án. Hơn nữa, câu hỏi này đầy tính khiêu khích, thể hiện chủ trương thù hằn tôn giáo.

Ông Trần Ngọc Thảo / Thích Nhật Từ trong các bài giảng của mình cũng đã có rất nhiều lần vô cớ công kích Chúa Giêsu và nội dung của tín ngưỡng Công giáo. Thế nhưng phía Công giáo Việt Nam đã đối xử với ông không khác gì người lớn thấu hiểu, nhìn thấy đứa con nít cứ chòi chọc bám đít tìm cách gây khó. Vì vậy không loại trừ là luật sư của ông Thảo cũng đã được hướng dẫn cách trình bày quan điểm so sánh tín ngưỡng như vậy ở phiên tòa này – dĩ nhiên trình bày kiểu như vậy thì rất “bò”.

——–

Ảnh: LS Âu Quang Phục, trong vòng tròn

ĐƯỜNG SẮT RĂNG CƯA THÁP CHÀM -ĐÀ LẠT

Lịch sử sẽ không quên lũ ăn tàn phá hại.

_______________________________

NHỮNG TÊN TÂM THẦN.

ĐƯỜNG SẮT RĂNG CƯA THÁP CHÀM -ĐÀ LẠT

Bán 650.000 đô la.

Mua lại 1.200.000.000, một Tỷ hai đô la.

..………….

Đà Lạt vừa “giải phóng”, ông Phạm Khương thay mặt ban quân quản tiếp nhận ga Đà Lạt khi đầu máy, toa xe và toàn bộ tuyến đường đã nằm phơi sương suốt từ năm 1969 vì chiến tranh. Dầu mazut, thứ dầu đặc chủng để chạy đầu máy răng cưa, cũng không còn. Vậy mà chỉ hai tháng sau, ngày 6.6.1975, chiếc đầu máy răng cưa lại lần đầu tiên lăn bánh gần 70km, vượt D’ran, vượt Eo Gió, vượt Krongpha về tới Tân Mỹ, chỉ còn chờ cầu Tân Mỹ hoàn nhịp là lăn bánh về đến ga cuối Tháp Chàm. Không có dầu mazut, ông Khương đã cùng anh em kỹ sư còn lại ở ga Đà Lạt mày mò hoán đổi cho tàu chạy bằng than củi. Vậy mà tàu lăn bánh gọn gàng, công nhân đi hái trà ở Cầu Đất, cán bộ đi công tác xuống Phan Rang, rồi lâm nông sản xuôi ngược Phan Rang – Đà Lạt được tiếp tế cho nhau sau ngày giải phóng đều nhờ những toa tàu răng cưa vừa hồi sinh chở miễn phí.

Nhưng tàu chỉ chạy được đúng 27 chuyến. Cuối năm 1975, khi vừa chuyển giao tuyến đường cho Liên hiệp Xí nghiệp đường sắt VN thì ông nhận được lệnh sét đánh : ngừng chạy tàu, tháo toàn bộ tà vẹt trên tuyến đường Phan Rang – Đà Lạt để chuyển ra tu bổ cho đường sắt Thống Nhất đoạn Bình Định – Quảng Nam. Không chỉ ông Khương mà cả chính quyền tỉnh Lâm Đồng lúc đó cũng bàng hoàng. Một sự đánh đổi cấp tốc được đề ra, Lâm Đồng quyết định hạ cây rừng, cấp 230.000 thanh tà vẹt gỗ cho ngành đường sắt. Nhưng số tà vẹt ấy vẫn không làm thay đổi được quyết định ban đầu.

Tàu răng cưa ngưng chạy. Đường sắt răng cưa vẫn bị tháo tà vẹt. Ông Phạm Khương một lần nữa gửi công văn hỏa tốc năn nỉ lần cuối cùng : xin tháo 70% tà vẹt để những thanh ray còn có điểm tựa ( không bị gỡ đi vì khác kích cỡ với tuyến đường sắt Thống Nhất ). Nhưng tất cả đều bị khước từ. Sau đó thì gần như toàn bộ tuyến đường từ ga Trại Mát trở về Tháp Chàm đều bị gỡ sạch tà vẹt. Còn những thanh ray và cả những đoạn răng cưa mười mấy cây số thì được hóa giá đưa về các nông trường, nhà máy tận dụng làm các công trình và sau đó tiếp tục được người dân “tiếp sức” cho vào những xưởng phế liệu.

Quá khứ bị bán rẻ

Vậy là tuyến đường răng cưa huyền thoại đã tan hoang chỉ sau một quyết định. Bảy đầu máy Fuka lầm lũi nằm lại ga Đà Lạt, Tháp Chàm và Krongpha phơi sương gió. Những đầu máy răng cưa ấy có thể bị quên lãng trên chính xứ sở nó từng hoạt động, nhưng với những kỹ sư hỏa xa Thụy Sĩ, nơi cũng có một tuyến đường sắt răng cưa nhưng lại không còn chiếc đầu máy răng cưa hơi nước nào còn vận hành được, thì “đống sắt” trên những nhà ga ở miền cao nguyên Việt Nam là một báu vật.

Ông Khương nhớ đầu năm 1988, Ralph Schorno, một kỹ sư hỏa xa người Thụy Sĩ, đã tìm đến ga Đà Lạt và Tháp Chàm để xem những chiếc đầu máy răng cưa. Trong số bảy chiếc đầu máy, Ralph Schorno chấm được bốn cái còn tốt có thể khôi phục và một số toa tàu của Mỹ để lại. Và sau chuyến thị sát ấy của kỹ sư Ralph Schorno, những cuộc mặc cả đã được đẩy đi nhanh chóng với sự trợ giúp của Đại sứ quán Thụy Sĩ tại Hà Nội bởi một lý do rất đơn giản : cả một tuyến đường đã bị phá dỡ, chỉ còn mấy đầu máy hoen gỉ bỗng dưng có người mang đến những khoản USD lớn xin mua thì tại sao phải ngại ngần. Số tiền đề nghị bán là 1 triệu USD nhưng sau nhiều lần đàm phán đã được chốt giá 650.000 USD, cả lúc đó và muôn đời sau, đó là một cái giá rẻ bèo cho các báu vật nầy.

Thương vụ diễn ra nhanh chóng đến mức không ai kịp can thiệp. Ông Phạm Khương kể khi tỉnh Lâm Đồng một lần nữa hay biết về quyết định đó đã triệu tập một cuộc họp suốt 3 ngày liền để tìm cách giữ lại những chiếc đầu máy răng cưa. Nhưng “tiền trao cháo múc”, tháng 8.1990 khi mọi người đang họp thì phía Thụy Sĩ đã đưa xe đặc chủng lên tới Đà Lạt. Và cứ vậy, lần lượt những chiếc đầu máy và toa tàu răng cưa rời D’ran, rời Eo Gió, vượt Kronphra về Tháp Chàm rồi thẳng cảng Vũng Tàu, xuống tàu biển Thụy Sĩ. Câu chuyện về thương vụ bán những đầu máy răng cưa ấy đã vĩnh viễn đóng chặt giấc mơ nối lại tuyến đường xe lửa răng cưa trong ông Phạm Khương và rất nhiều người. Nhưng với người Thụy Sĩ lại mở ra một chương mới về sự hồi sinh của tuyến đường răng cưa mà từ nhiều thập kỷ trước đó, họ đã không còn đầu máy để chạy.

Chỉ hai tháng sau khi những đầu máy răng cưa rời Đà Lạt, ông Phạm Khương đã nhận được bưu phẩm của kỹ sư Ralph Schorno từ nhà ga Jungfraujoch. Đó là một cuốn sách rất dày, in những tấm ảnh màu trên nền giấy tốt, kể lại hành trình tìm ra đầu máy răng cưa ở Đà Lạt, đưa về Thụy Sĩ. Và cuối sách là những hình ảnh về hai trong bốn chiếc đầu máy răng cưa mà họ đã khôi phục thành công đang nhả khói trên đường đèo vượt dãy Alpes. Và rất lịch sự, người Thụy Sĩ đã không quên đính kèm một tấm bảng trên thành đầu máy, với dòng chữ về mốc thời gian mà chiếc đầu máy từng chạy trên tuyến đường Phan Rang–Đà Lạt. Như một sự nhắc nhớ về nguồn cội, nhắc nhớ về cả một nỗi đau trong những người Việt Nam từng yêu mến và tự hào về con đường răng cưa đã mất.

* Trong quá trình xây dựng và khai thác Thiết lộ Lâm Viên, Công ty Hỏa xa nhà nước CFI nhập cảng vào Việt Nam các đầu máy chạy được trên đường rầy răng cưa theo bốn đợt như bảng bên. Các đầu máy HG 4/4 được xem là vật hiếm không thể tìm đâu ra ngoài Việt Nam vì công ty SLM ở Winterthur của Thụy Sĩ ( Schweizerische Lokomotiv und Maschinenfabrik ) chỉ chế tạo 7 chiếc đầu máy kiểu HG 4/4 và công ty MFE ( Maschinenfabrik Esslingen ) của Đức chế tạo thêm 2 đầu máy HG 4/4 dựa trên giấy phép nhượng quyền của SLM trong chương trình bồi thường chiến tranh cho Pháp khi Đức bại trận trong Đệ nhất Thế chiến theo hoà ước Versailles. Tất cả 9 đầu máy nầy đều được đem sử dụng ở Việt Nam và không có ở nơi nào khác trên thế giới. Tất cả cũng đều là những đầu máy hơi nước mạnh nhất thế giới chạy được trên hệ thống răng cưa Abt.

* Đây không phải chỉ là một sai lầm lớn mà còn thể hiện sự ngu xuẩn cực độ. Bởi vì đường rầy xe lửa đoạn Sông Pha – Đà Lạt được chế tạo đặc biệt cho đường xe lửa răng cưa với tính toán kỹ lưỡng về thiết kế cho địa thế dốc. Để có thể chịu được lực kéo khủng khiếp khi xe lửa leo núi trong một khoảng thời gian dài nên bản thân các tà vẹt đỡ phải được làm bằng thép có chất lượng cao nhất. Ngay cả đến những con ốc và bù lon cũng khác với loại dùng cho đường rầy xe lửa thông thường.

Do sự không hiểu biết về kỹ thuật cơ khí đường sắt của lãnh đạo, mặc dù có sự phản đối của các nhân viên hoả xa miền Nam cũ, Cục Đường Sắt vẫn ra lệnh tháo gỡ toàn bộ tuyến đường để đưa vào việc phục hồi tuyến đường sắt Xuyên Việt. Thời kỳ nầy tiếng nói của những nhân viên làm việc cho chính quyền cũ không được xem xét. Ngay cả phản ứng của chính quyền cấp tỉnh mới ở sở tại cũng không mang lại hiệu quả, họ đành nhìn địa phương mình mất đứt đi một báu vật mà ngay trong thời điểm khó khăn về kinh tế, đây là một tuyến giao thông kinh tế huyết mạch mang tính sinh tồn.

Và có thể đoán chuyện gì xảy ra tiếp theo sau đó. Đường rầy đặc biệt này không thể ăn khớp khi kết nối với loại đường rầy ở nơi bằng phẳng. Họ quyết định biến chúng thành sắt phế thải, chất đống tại các kho chứa, nơi lũ kẻ cắp cưa vụn ra và các quan tham bán chúng đi với giá sắt vụn rẻ như bèo. Đúng là một thảm kịch của lịch sử hỏa xa Đông Dương! Nếu đường xe lửa này không bị tháo gỡ, thì giờ đây đã có thể dễ dàng khôi phục để có những chuyến xe lửa du lịch kỳ thú từ các khu nghỉ dưỡng vùng duyên hải Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né đi lên cao nguyên Lâm Viên.

Copy từ Hung Phan

SỰ HÌNH THÀNH BỆNH-VIỆN VÌ DÂN

SỰ HÌNH THÀNH BỆNH-VIỆN VÌ DÂN

Bác Sĩ Phạm Ngọc Tỏa

Bệnh Viện Vì Dân (BVVD) thành lập trên ba mươi năm nay bởi Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội (PNPSXH), Chủ Tịch Hội là Bà Nguyễn Văn Thiệu, với sự trợ giúp của nhiều cơ quan, đoàn thể thiện nguyện, các nhà hảo tâm trong nước và ngoại quốc, các phái bộ quân sự đồng minh, và nhất là phủ Tổng Thống (TT). Một đồng nghiệp sống nhiều năm ở Pháp bảo chúng tôi viết về sự hình thành của bệnh viện này. Vì thời gian đã qua lâu, chúng tôi có thể bỏ sót một vài chi tiết hay bị lầm lẫn, độc giả nào nhận thấy xin cho chúng tôi biết để chúng tôi bổ túc hay đính chánh, chúng tôi xin đa tạ.

Khoảng đầu năm 1969, Đại tá Võ Văn Cầm, Chánh Văn Phòng Phủ Tổng Thống có mời tôi lên nói là Bà Nguyễn Văn Thiệu muốn thành lập một bệnh viện tư làm việc thiện với danh nghĩa Chủ Tịch Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội, ông bà Tổng Thống thấy tôi có kinh nghiệm trong việc thành lập Bệnh Viện Trưng Vương cho Hội Bảo Trợ Gia Đình Binh Sĩ năm 1967, nên muốn tôi tham gia vào việc này. Lúc đó tôi đã giải ngũ được hơn một năm, có ý định xin đi tu nghiệp để về gia nhập ban giảng huấn của YKĐH Saigon. Tôi phân vân vì nghĩ là việc này sẽ kéo dài nhiều năm, bắt đầu từ số không, sẽ gặp nhiều khó khăn về đủ mọi phương diện và đòi hỏi rất nhiều thì giờ, nếu làm đàng hoàng thì không còn thì giờ hành nghề tư, và xong việc có khi bị thay thế, đó là thường tình ở các nước chậm tiến! Nhưng tôi cũng có một ý nghĩ khác là khi mới bước chân vào trường Đại Học Y Khoa Hà Nội năm 1951, đến tập sự tại Bệnh Viện Yersin (Phủ Gioãn) thấy dụng cụ giải phẫu, máy móc cũ kỹ, thiếu thốn do Pháp để lại từ trước Đệ Nhị Thế Chiến, tôi vẫn tâm niệm làm sao cho có được một bệnh viện trang bị đầy đủ để các thầy thuốc làm việc thoải mái, có cơ hội tiến về kỹ thuật, cứu được bệnh nhân đến mức tối đa. Thêm vào đó khi còn học PCB tại Khoa Học Đại Học Hà Nội tôi đã được nghe một lời phê phán nghiêm khắc của một Giáo Sư Pháp, GS P.L., về khả năng của người Việt như sau: “Người Việt Nam chẳng làm được việc gì nên hồn cả”, câu này đã in sâu vào tâm khảm tôi. Ngoài ra BVVD sẽ giúp đỡ nhiều cho bệnh nhân nghèo, đó là ba động cơ thúc đẩy tôi hy sinh thì giờ để nhận việc này.

Một Ủy Ban xây cất được thành lập gồm có:

  • Đại Tá Võ Văn Cầm, Chánh Văn Phòng phủ T T, Chủ Tịch
  • Ô. Nguyễn Đình Xướng, Tổng Thư Ký phủ T T, Ủy viên
  • Phạm Ngọc Tỏa, Bộ Y Tế, Ủy viên
  • Kiến Trúc Sư Nguyễn văn Chuyên, phủ T T, Ủy viên

Ủy ban này thường họp vào buổi trưa hay sau giờ làm việc công sở, tổ chức các buổi hội họp với các bộ Y Tế, Công Chánh và các ban Giám Đốc các bệnh viện tư Saigon, Chợ Lớn (Triều Châu, Sùng Chính v.v…) để học hỏi các kinh nghiệm của họ vào buổi tối. Riêng phần tôi còn phải lo về lập quy chế của bệnh viện, lo trang bị dụng cụ máy móc y khoa, vật dụng văn phòng, tổ chức tiếp liệu, tuyển dụng nhân viên chuyên môn và hành chánh. Tất cả khởi sự từ số không, trong thâm tâm tôi nghĩ là không thể nào khánh thành đợt đầu kịp vào tháng chín 1971 được, thời hạn này do phủ TT ấn định!

  • Đặt tên bệnh viện:

Ông Nguyễn Đình Xướng đề nghị nên đặt tên là Bệnh Viện Vì Dân. Phủ TT chấp thuận tên đó.

  • Kiếm địa điểm để xây cất:

Sau mấy tháng tìm kiếm mới chọn được lô đất trống ở đường Lý Thái Tổ cũ Chợ Lớn, gần mấy nhà Ủy Hội Quốc Tế Đình Chiến ở, chủ đất là người Trung Hoa vui lòng cho xử dụng một nửa, còn một nửa họ tính xây khách sạn nếu giải tỏa được, và họ hứa sẽ yểm trợ bệnh viện. Lô đất đó hình như dành để xây cất một trường Đại Học Kinh Doanh và Thương mại thì phải, nhưng vì chưa có ngân khoản nên chưa thực hiện được. Thủ tục chưa làm xong, anh em Thương Phế Binh chiếm đất xây nhà lên lô đất đó, đành phải tìm nơi khác. Cũng may sau tìm được ở góc đường Lê Văn Duyệt nối dài và đường Nguyễn Văn Thoại, gần Ngã Tư Bảy Hiềàn, thuộc Gia Định một khu đất bị trưng dụng từ lâu, hiện dùng làm Kho Đạn cho Sư Đoàn Dù, bom đạn được chứa trong những hầm bê tông tường dầy một thước, nóc cũng vậy. Lô đất thuộc quyền sở hữu của nhà Chung. Sau khi được sự chấp thuận giải tỏa của Bộ Quốc Phòng, phải điều đình với nhà Chung. Nhà Chung bằng lòng bán cho Hội PNPSXH khu đất đó khoảng gần 2 mẫu tây với giá tượng trưng một đồng bạc. Có đất rồi phải lo phá các hầm bê-tông bằng cách nổ mìn rồi san bằng. Công tác này làm gãy chân vợ một quân nhân. Người này được bồi thường thỏa đáng.

  • Kiến trúc sư vẽ kiểu:

Hội PNPSXH mướn KTS Trần Đình Quyền, vừa tu nghiệp về xây cất bệnh viện ở Hoa Kỳ về, để vẽ kiểu. Tôi phải góp ý về một số chi tiết với KTS. Sau khi sơ đồ được bà Chủ Tịch Hội chấp thuận thì nhà thầu xây cất khởi công. Việc kiểm soát công trường xây cất là của KTS Nguyễn Văn Chuyên. Sau này Đại Tá Võ Văn Cầm có yêu cầu tôi lưu tâm cả về việc này nữa.

  • Việc gây quỹ xây cất và điều hành:

Hội PNPSXH chỉ góp phần nhỏ thôi như thỉnh thoảng có tổ chức chợ phiên chẳng hạn, như chợ phiên Đồng Tâm v.v.. Các buổi tiếp tân tại phủ TT để gây quỹ xây cất BVVD mới quyên được nhiều: như mời các nhà tài phiệt gốc Hoa (các ông Trần Thành, Lý Long Thân v.v…), mời các ngân hàng nhân dịp đầu năm. Riêng ngân hàng Việt Nam Thương Tín đang xây cất trụ sở mới còn cho thêm đá cẩm thạch nữa để trang trí bệnh viện. Ngoài ra mỗi vé xi-nê lấy thêm mấy đồng cho BVVD. Trường đua ngựa Phú Thọ thỉnh thoảng tổ chức một cuộc đua đặc biệt để ủng hộ BVVD. Đông Phương Ngân Hàng ứng trước từng đợt hai chục triệu để xây cất. Đồng bào cư ngụ ở Nouvelle Calédonie về thăm Miền Nam cũng ủng hộ một số tiền lớn (hình như là một triệu đồng thì phải) v.v… Tóm lại việc gây quỹ thành công là nhờ ở thế lực của phủ TT. Vì tiền có dư dả nên lúc đầu chỉ định xây 5 tầng lầu cho Khu Điều Trị, sau xây thành bảy tầng.

  • Việc trang bị bệnh viện:

Tôi được ủy quyền đi gặp các cơ quan thiện nguyện, các phái bộ quân sự đồng minh để xin viện trợ y cụ và vật dụng. Đầu tiên tôi đến tiếp xúc với phái bộ quân sự Hoa kỳ, tôi được một vị Thiếu Tướng Quân Y tiếp đãi rất nhã nhặn, sau khi nghe tôi trình bày việc xin yểm trợ cho BVVD, ông ta trả lời vấn đề viện trợ ông không rành và kêu một vị Đại tá Hành Chánh Quân Y ra tiếp tôi. Vị này hỏi tôi là định thiết lập một bệnh viện mấy trăm giường, gồm những khoa nào, tôi trả lời chúng tôi có kế hoạch làm một bệnh viện toàn khoa 500 giường, ông bèn tham khảo cuốn sách về bảng cấp số các quân y viện, rồi đưa cho tôi xem nhu cầu trang bị một bệnh viện như vậy gồm có những thứ gì, trong cuốn sách có ghi đầy đủ hết không thiếu một thứ gì. Xong ông ta cho biết là rất tiếc hiện không có chỉ thị nào cho cơ quan của ông viện trợ một bệnh viện tư, nếu làm sai luật các thanh tra của Quốc Hội Mỹ sẽ khiển trách cơ quan ông. Mới ra quân lần đầu đã thất bại, tôi ra về lòng tràn ngập lo âu, thất vọng, vì đồng minh lớn nhất và giàu có nhất từ chối không giúp thì ít hi vọng nơi khác trợ giúp cho mình được gì! Tôi báo cáo cho ĐT Cầm biết và khuyến cáo TT nên biếu cho BVVD một trang bị có giá trị để cho các Mạnh Thường Quân khác noi gương, như châm ngôn “mình tự giúp mình, rồi Trời sẽ giúp mình” (Aide-toi le Ciel t’aidera). Vài bữa sau ĐT Cầm cho tôi biết là TT hỏi nên cho BVVD cái gì, tôi trả lời quý nhất là đồ trang bị cho Khu Quang Tuyến X, vì trang bị này đắt tiền ít người cho nếu có thì có khi là đồ cũ lỗi thời dễ hư hỏng khó bảo trì không xứng đáng với một bệnh viện tối tân. TT chấp thuận lời đề nghị này.

Với các phái bộ đồng minh khác và các cơ quan thiện nguyện thì cuộc vận động của tôi có kết quả như sau:

– Phái bộ quân sự Úc và Tân Tây Lan: trang bị cho hai phòng chữa răng và phòng thí nghiệm nha khoa với các dụng cụ đều mới và nhập cảng từ Tây Đức.

– Phái bộ quân sự Đại Hàn: bàn ghế mới cho khu Hành Chánh, một xe Hồng Thập Tự kiểu mới, và toàn bộ một nhà máy giặt cũ giao cho BVVD khi Sư đoàn của họ rút khỏi Việt Nam (nhà máy này giặt quần áo cho quân số một Sư Đoàn do ĐT Cầm điều dình xin được)

– Trung Hoa Quốc gia (Đài Loan): một xe HTT mới

– Cơ quan UNICEF: trang bị cho khu Nhi Khoa khoảng 100 giường bệnh trẻ em, 20 lồng ấp (couveuses) cho trẻ sơ sinh thiếu tháng, dụng cụ cho Nhi khoa và Sản Phụ Khoa.

– Hội Việt Hoa Thân Hữu Hương Cảng: trang bị cho phòng cấp cứu tim mạch gồm 4 máy điện tâm ký (electrocardiographe) cho 4 giường bệnh, mỗi máy được nối với một máy điện tâm ký trung ương đặt trong phòng y tá trực ở phòng kế bên để theo dõi 4 bệnh nhân, khi có một bệnh nhân trở bệnh nặng thì y tá trực làm ngay điệân tâm đồ ở máy trung ương và kêu Bác sĩ ngay.

– Hãng Schimadzu (sản xuất máy quang tuyến X) và ngân hàng Sumitomo: trang bị cho một phòng mổ đặc biệt có máy quang tuyến X giúp Bác sĩ nhìn rõ chỗ phải chẩn đoán qua màn truyền hình của máy quang tuyến X rồi mổ. Nếu muốn chụp phim ngay lúc đó để lưu trữ cũng được. Thật là tiện lợi và nhanh chóng cho các trường hợp giải phẫãu chỉnh hình, hay mổ lấy đạn v.v…

– Hãng Roussel Vietnam: trang bị cho phòng thí nghiệm máy chụp quang phổ (spectrophotometre) v.v…

Tất cả các tặng phẩm nhận được chúng tôi đều gắn danh hiệu của quốc gia, cơ quan hay cá nhân đã tặng cho BVVD. Một số vật dụng như dụng cụ vật lý trị liệu thì BVVD bỏ tiền ra mua.

Riêng việc trang bị Khu Quang Tuyến X (do TT tặng) định đặt mua của hãng CGR Pháp rồi hãng Phillips Hòa Lan đều không được, họ trả lời không đủ thời gian để giao hàng trước tháng chín năm 1971 được, vì đơn đặt hàng của hãng họ quá nhiều rồị. Thế là đầu 1971, ĐT Cầm cử tôi đi Nhật với lời dặn phải làm sao mua cho bằng được đồ trang bị cho Khu Quang tuyến X và ráp xong trước tháng chín 1971, đúng là làm việc theo lối nhà binh (système D). Tôi tiếp xúc với hãng Schimadzu là hãng sản xuất lớn nhất máy móc quang tuyến X ở Nhật. Nhà máy tọa lạc ở Osaka, khởi thủy chỉ là một nhà nhỏ lợp mái tranh, thành lập một năm sau khi nhà bác học Đức Rontgen tìm ra được tia X hồi cuối thế kỷ thứ 19. Bây giờ nhà máy choán một diện tích lớn như một thành phố và sản xuất cả nhiều bộ phận điện tử cho hãng Boeing Mỹ, sản xuất máy quang tuyến chỉ chiếm một khu thôi. Sau khi xem nhà máy, họ dẫn tôi gập vị Giám đốc kỹ thuật để cho biết nhu cầu của BVVD, và sơ đồ của khu Quang Tuyến X. Đại cương khu này có 4 phòng vây quanh một trung tâm điều khiển máy móc, đó là nơi làm việc của Bác sĩ và chuyên viên, tường của trung tâm này làm bằng kính cản tia X để có thể nhìn sang các phòng khác, tường của các phòng này bằng bê-tông dầy 25cm, đủ cản tia X. Về máy móc thì dự trù như sau:

– phòng số 1: một máy hoàn toàn tự động, có máy truyền hình, chuyên viên điều khiển máy ngồi tại phòng điều khiển và liên lạc với bệnh nhân qua một hệ thống âm thanh, trong phòng này có máy truyền hình liên hệ với máy quang tuyến X ở phòng số 1.

– phòng số 2: trang bị một máy bán tự động, có máy truyền hình

– phòng số 3: trang bị một máy chụp X-quang cắt lớp (tomographie)

– phòng số 4: trang bị một máy chụp phổi phim nhỏ.

Sau khi biết nhu cầu của BVVD, ông Giám Đốc Kỹ Thuật trả lời ngay là vì có nhiều đơn đặt hàng quá từ trước rồi, không thể giao hàng kịp thời hạn ấn định. Tôi đã thất vọng, nhưng vẫn bình tĩnh cố níu kéo ông ta, cho ông ta biết là BVVD là một bệnh viện làm việc thiện, tối tân nhất Đông Nam Á, khi khánh thành sẽ có mặt toàn thể ngoại giao đoàn, nếu ông cố gắng giúp chúng tôi, đó là một dịp chúng tôi quảng cáo không công cho hãng của ông, nhất là máy phòng số 1 là kiểu mới nhất của loại này như ông nói, chúng tôi lại là người đầu tiên đặt mua. Sau một lúc suy nghĩ ông ta trả lời sẽ ráng thu xếp công việc, để ưu tiên cung cấp cho BVVD kịp ngày khánh thành. Giá cả là 220.000 đô la, phải đặt trước 20.000 đô la sau một tháng, hai tháng sau sẽ nhận được hàng, kỹ sư sẽ tới ráp ngay khi hàng tới. Thế là tôi yên tâm về Saigon.

Hãng Schimadzu gửi ngay một kỹ sư đến BVVD xem vị trí xây cất của khu Quang Tuyến X, lúc đó khu này đã xây cất xong ở tầng 1 Khu Ngoại Chẩn. Mọi chi tiết đều được cả, trừ một điểm là các máy sẽ được đặt lên một tấm thép dầy mấy phân để cản tia X không đi xuống tầng trệt, nên phải phá một khúc tường của tầng 1 để câu các tấm thép này lên.

Khi các máy móc về đủ , hãng Schimadzu cử 3 kỹ sư tới làm việc: một chuyên về máy phát tia X, một chuyên về điện và một chuyên về máy truyền hình. Họ bắt tay ngay vào việc ráp máy. Tôi gửi họ 3 chuyên viên về quang tuyến X để phụ tá cho họ và nhờ họ huấn luyện luôn trong lúc làm việc để những người này biết điều khiển các máy sau khi ráp xong. Ngày 3/9/71 họ hoàn tất công việc sau hai tháng trời làm việc cực nhọc. Ngày hôm sau là ngày khánh thành BVVD đợt đầu (khu Ngoại Chẩn).

Sau này hãng Schimadzu cho tôi biết tính ra còn dư 20.000 đô la, xin tôi quyết định, tôi đề nghị cung cấp cho một máy rửa phim tự động, còn dư tiền thì dùng hết vào việc mua phim và các hóa chất xử dụng cho việc rửa phim.

  • Quy chế và tuyển dụng nhân viên:

BVVD là một bệnh viện tư thuộc Hội PNPSXH dành 25% sô’ giường cho bệnh nhân nghèo (gia đình tiểu công chức, gia đình hạ sĩ quan và binh sĩ, gia đình nghèo có giấy chứng nhận của khu phố) được giảm phí hay miễn phí tùy trường hợp do sự cứu xét và quyết định của Ban Xã Hội hàng ngày tới BVVD làm việc. Bệnh nhân nghèo được săn sóc, ăn uống như bệnh nhân hạng trả tiền, chỉ có khác là hưởng thuốc miễn phí do Bộ Y Tế hay các tổ chức thiện nguyện cho và nằm phòng 4 giường.

Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị (HDQT) là Chủ Tịch Hội PNPSXH tức là bà Nguyễn Văn Thiệu, các thành viên của HDQT đều là hội viên của Hội .

Giám Đốc bệnh viện có hai Phụ tá: một Phụ tá Kỹ Thuật (Bác sĩ Lê Phước Thiện) và một Phụ tá Hành Chánh (Trung tá Hành chánh Quân Y Phạm văn Sinh).

Các nhân viên chuyên môn như Bác sĩ , Dược sĩ, Nha sĩ, Nữ Hộ Sinh, Chuyên Viên Gây Mê, Chuyên viên Quang Tuyến X, Chuyên viên Phòng Thí Nghiệm, Y tá và Tá Viên Điều Dưỡng trong giai đoạn đầu xin Bộ Y Tế và Cục Quân Y biệt phái. Ngoài lương bổng do cơ quan gốc đài thọ, họ được hưởng thêm một phụ cấp do Hội PNPSXH đài thọ. Các Giáo Sư, Giảng Sư Đại Học Y khoa có thể gửi bệnh nhân của mình tới nằm BVVD để điều trị dưới sự săn sóc của họ.

Trong thời kỳ đang xây cất, BVVD có nhờ Bộ Y Tế huấn luyện cho một khóa Tá Viên Điều Dưỡng, chương trình một năm, học viên là những cô nhi quả phụ quân nhân có bằng Trung Học Đệ Nhất cấp, do BVVD tuyển dụng. Trong tương lai BVVD sẽ thành lập một trường Cán Sự Điều Dưỡng, chương trình học ba năm và tuyển dụng các cô nhi, quả phụ quân nhân có bằng tú tài cho đi học để làm nhân viên cốt cán cho bệnh viện. Tầng thứ bảy của Khu Điều Trị sẽ xây cất nhiều phòng để làm lớp học, và một thính đường lớn 500 chỗ dùng làm nơi hội nghị. Trên nóc Khu này có bãi đáp trực thăng để nhận bệnh nhân cần cấp cứu từ các nơi khác đưa tới, có thang máy đưa ngay xuống phòng mổ hay khu cấp cứu ở các tầng dưới.

Chúng tôi phải tuyển dụng khoảng 400 nhân viên đủ các loại: chuyên môn, hành chánh, y công, thợ thuyền v.v… (nếu bệnh viện hoạt động với 400 giường thì trung bình mỗi giường bệnh có một nhân viên). Sau khi họ đã được xét là đủ tiêu chuẩn thì được nhận việc tạm thời, đợi kết quả điều tra của An Ninh Quân Đội , nếu không có hoạt động cho Việt Cộng thì được tuyển dụng chính thức.

  • Tiếp liệu :

Vì các nguồn cung cấp vật dụng, y cụ, thuốc men rất phức tạp, đa nguyên, nên chúng tôi áp dụng kế toán sổ sách, phiếu xuất nhập theo kiểu Hoa Kỳ như ở các đơn vị Quân Y QLVNCH, để dễ kiểm soát bất thần, bất cứ lúc nào cũng có thể biết rõ số lượng tồn kho, biết rõ các nơi đã được phân phối của mỗi món hàng. Theo hệ thống tiếp liệu này ngay từ đầu, việc quản trị vật dụng không có khó khăn gì cả.

Riêng về dược phòng phải làm 2 phòng riêng biệt:

1/ Phòng thuốc miễn phí: quản trị các thuốc men do Bộ Y Tế, các cơ quan thiện nguyện cung cấp để phát miễn phí cho các bệnh nhân nghèo.

2/ Phòng thuốc trả tiền: cho các bệnh nhân nằm hạng trả tiền , thuốc do các Bác Sĩ Điều Trị kê toa và các Hãng Bào Chế OPV, Trang Hai và Tenamyd cung cấp, nếu các hãng này không đủ món nào thì BVVD có thể mua ở ngoài theo giá thị trường. Đây là quyết định của HĐQT. Đầu tiên chúng tôi có đề nghị cho đấu thầu phòng thuốc thứ hai này, nhưng không được HĐQT chấp thuận.

  • Khánh thành BVVD:

Ngày 4/9/1971 TT đến cắt băng khánh thành khu Ngoại Chẩn BVVD do Hội PNPSXH mời. Quan khách có Ngoại Giao Đoàn, các Phái Bộ Quân Sự Đồng Minh, các Tổng Bộ Trưởng, các vị Đại Diện Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp, các cơ quan thiện nguyện, các nhà hảo tâm, các thân hào nhân sĩ v.v… Đại Sứ Mỹ Bunker cũng tới dự.

Bà Chủ Tịch đọc diễn văn trình bày mục tiêu của BVVD, diễn tiến việc thành lập xây cất bệnh viện và cảm ơn các Phái Bộ Quân Sự Đồng Minh, các cơ quan thiện nguyện, các nhà hảo tâm trong nước và ngoại quốc đã giúp nhiều trong việc trang bị và xây cất BVVD, những tặng phẩm như xe cộ vật dụng máy móc gì đều kể ra hết, lẽ dĩ nhiên là không nói tới Phái Bộ Quân Sự Hoa Kỳ vì không có tặng phẩm nào cả.

Khu Ngoại Chẩn có hai tầng, hình chữ L, một phần chạy song song với đường Lê Văn Duyệt nối dài, phần kia song song với đường Nguyễn văn Thoại , Gia Định. Ngoài một số phòng dùng để khám bệnh: Ngoại khoa, Nội khoa, Sản Phụ khoa, Nhi khoa, Tai Mũi Họng, Nhãn khoa, Bệnh Tiêu Hóa, Bệnh Phổi v. v., phòng phát thuốc, phòng băng bó, ở tầng trệt còn phòng Vật Lý Trị Liệu, tiếp giáp vơi Khu Cấp Cứu. Trên tầng 1 là khu Nha Khoa với hai phòng khám và chữa răng, và phòng làm răng giả, kế bên là Phòng Thí nghiệm của Bệnh Viện, tiếp theo là khu Quang Tuyến X, rồi tới tám phòng mổ và phòng Hồi Sinh.

Sau bài diễn văn của Bà Chủ Tịch , quan khách được hướng dẫn đi thăm bệnh viện. Hôm đó quan khách đều chú ý tới khu Quang Tuyến X, các máy móc đều do Kỹ sư Nhật trình bày và cho chạy thử. Buổi tiếp tân kéo dài đến quá trưa mới chấm dứt.

  • Sau khi khánh thành:

Khoảng hơn hai giờ chiều, tôi đang ngồi nghỉ ở trong văn phòng thì có hai người Mỹ của phái bộ viện trợ Hoa Kỳ USAID xin gặp tôi. Một người là quan chức hành chánh và một người là Thiếu Tướng Quân Y Hải Quân hồi hưu tên là Iron. Hai người cho biết là nếu BVVD cần gì sẽ viện trợ cho. Tôi bèn hỏi họ sao trước chúng tôi xin viện trợ thì không được giúp. Họ trả lời bây giờ tình thế đã thay đổi: Hiện nay Việt Nam Hóa chiến tranh, Quân Đội Mỹ rút khỏi Việt Nam, nên có thể giúp cho BVVD các dụng cụ của Quân Y Hoa Kỳ.

Chúng tôi xin được vài chiếc xe vận tải để chuyên chở vật dụng cho bệnh viện, mấy trăm giường bệnh đủ trang bị cho mấy tầng lầu đang xây cất, các máy móc dụng cụ trang bị đầy đủ cho một phòng thí nghiệm và nhất là ba máy phát điện 250 KW để làm một nhà máy điện nhỏ đủ cung cấp điện cho những nơi quan trọng như các khu Cấp Cứu, Giải Phẫu, Hồi Sinh, Quang Tuyến X và Thí Nghiệm khi điện thành phố bị cắt.

Chúng tôi cho thực hiện ngay một phòng bảo trì để sơn phết lại các giường bệnh và vật dụng nhận được, sơn luôn cả phù hiệu hai bàn tay nắm chặt cùng với quốc kỳ Mỹ-Việt như trên các hàng viện trợ Mỹ cho dân chúng. Sau mỗi lần nhận hàng và tân trang lại thì sắp đặt vào các nơi sẽ xử dụng, chúng tôi mời B.S. Iron lại xem để ông biết là hàng không bị thất thoát.

Sau này B.S. Iron tín nhiệm BVVD, cho luôn cả những vật dụng dành cho bệnh viện thực tập tương lai của Y Khoa Đại Học, vì chờ mãi không có ngân khoản để xây cất bệnh viện này! Ngoài ra BVVD có xuất tiền ra mua một số giường có máy điện tự động thay đổi tư thế nằm cho bệnh nhân để trang bị cho một số phòng một giường. Bệnh viện chỉ có ba loại phòng: hạng một giường, hạng hai giường và hạng bốn giường.

  • Nhận bệnh nằm điều trị :

Khi đã có tạm đủ đồ trang bị và xây cất gần xong, chúng tôi bắt đầu nhận bệnh nhân nằm điều trị. Trước đó chúng tôi xin Cục Quân Y biệt phái cho một số bác sĩ chuyên môn làm nòng cốt. Các vị này thường quá 15 năm quân vụ, nhưng vì chiến tranh triền miên họ chưa được giải ngũ. Danh sách dưới đây có thể thiếu sót vì đã trên ba mươi năm rồi, xin lỗi đồng nghiệp nào mà chúng tôi quên không ghi tên:

Y Sĩ Đại Tá Lưu Thế Tế, chuyên khoa tim mạch

Y Sĩ Đại Tá Nguyễn Quang Huấn, giải phẫu ung thư, thường trú ở ngay trong BVVD

Y Sĩ Trung Tá Lê Thế Linh, giải phẫu chỉnh hình

Y Sĩ Trung Tá Trịnh Cao Hải, giải phẫu chỉnh hình

Y Sĩ Trung Tá Phạm Hữu Phước, giải phẫu thần kinh

Y Sĩ Trung Tá Trần văn Khoan, giải phẫu tổng quát

Y Sĩ Trung Tá Hồ Hữu Hưng , nhãn khoa

Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Thế Huy, Tai Mũi Họng

Y Sĩ Trung Tá Vũ Ban, Quang Tuyến X

Các vị trên đây có nhiều kinh nghiệm chuyên môn và từng đã đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ, ngoài ra một số bác sĩ vẫn làm việc trong ngành Quân Y nhưng giúp BVVD ngoài giờ làm việc như các B.S. Cao Xuân An (bệnh lý học), B.S. Đặng Như Tây (Vi Trùng Học), B.S. Bạch Toàn Vinh (Vi Trùng Học), Ngô Tôn Liên (Gây Mê , Hồi Sức)

Bộ Y Tế biệt phái cho BVVD:

B.S. Phạm Ngọc Tỏa, Giám Đốc, Sản Phu. Khoa, năm 1972 có đi tu nghiệp tại Singapore về giải phẫu triệt sản qua âm đạo (sterilisation par voie culdoscopique) do Ford Foundation tổ chức, mang về cho BVVD một bộ đồ giải phẫu theo thủ thuật này, do Ford Foundation tặng.

Nha Sĩ : Bà Nguyễn đình Hiệu, Cô Võ thi Văn (?)

Các đồng nghiệp trong Ban Giảng Huấn của Y Khoa Đại Học Saigon cộng tác với BVVD có:

G.S. Trần Kiêm Thục , Bệnh Tiêu Hóa

G.S. Trần Hữu Chí, Bệnh Phổi

G.S. Bùi Thị Nga, Nhi Khoa

G.S. Nguyễn Bích Tuyết, Sản Phụ Khoa

G.S. Vũ Thiện Phương, Sản Phụ Khoa

G.S. Trương Minh Ký, Tai Mũi Họng

BVVD có tuyển dụng:

B.S. Nguyễn Xuân Xương, Nội Khoa và tim mạch

Bà Nguyễn Gia Kiểng, B.S chuyên về Huyết học mới ở Pháp về

Dược sĩ Nguyễn Thị Dung, coi Dược Phòng

Dược sĩ Tôn Nữ Duy Thạnh, Phòng Thí Nghiệm (Hóa Học)

Ngoài ra còn một số quân y sĩ chuyên làm việc trực ngoài giờ làm việc của công sở.

Tóm lại có gần ba chục Y Nha Dược sĩ tham gia vào việc điều hành chuyên môn trong giai đoạn đầu.

Các y công được huấn luyện xử dụng máy móc lau chùi nhà cửa luôn luôn sạch sẽ chẳng kém gì các bệnh viện ngoại quốc. Hồi đó Việt Cộng thường kiểm soát các khu rừng ở miền Nam, sách nhiễu các người khai thác nên gỗ rất đắt, do đó tất cả các cửa đều làm bằng alumimium nhập cảng từ bên Nhật, vừa đẹp, vừa bền lại dễ bảo trì.

Vấn đề thực phẩm cho bệnh nhân lúc đầu do chủ nhân nhà hàng Đồng Khánh ở Chợ Lớn và Lê Lai ở Saigon cung cấp. Tôi thấy thức ăn phẩm lượng rất kém, lại không hợp vệ sinh, nên đề nghị HĐQT tìm nhà cung cấp khác vì thực phẩm bổ túc cho việc điều trị và cần cho việc phục hồi sức khỏe của bệnh nhân. HĐQT đồng ý, bèn cử hội viên ra đảm nhiệm việc nấu ăn cho bệnh nhân, nên sau này thức ăn rất tinh khiết ngon lành.

Trong giai doạn đầu khi các giường bệnh hạng trả tiền chưa choán hết, lại cho miễn phí, giảm phí rất nhiều, để giữ cho bệnh viện ở mức độ cao việc bảo trì rất tốn kém, đó là nguyên nhân lỗ vốn của giai đoạn này.

Một vài thân chủ đặc biệt là: vợ một Tham vụ Ngoại giao Mỹ nhờ một Bác Sĩ Quân Y Mỹ đỡ đẻ tại BVVD, trả giá đặc biệt; con Bà Chủ tịch HĐQT mổ cesarienne ở BVVD, khi ra về Bà Chủ Tịch tặng cho Quỹ Xã Hội một số tiền rất lớn; hãng Air America nhờ BVVD săn sóc sức khỏe cho nhân viên của hãng.

  • Vài sự kiện đáng ghi nhớ:

1/ Trường Y Khoa Đại Học Minh Đức muốn xin HĐQT cho sinh viên đến tập sự HĐQT hỏi ý kiến chúng tôi, chúng tôi trình bày muốn thu hút nhiều bệnh nhân hạng trả tiền để quân bình ngân sách nên tránh thâu nhận sinh viên y đến tập sự. Sau này nên mở các lớp chuyên khoa cho các Bác sĩ đã ra trường, muốn theo chương trình thường trú (resident) dự trù sẽ được tổ chức tại BVVD với sự cộng tác của các trường Đại Học Âu Mỹ. BVVD đã dự trù xây cất các phòng ở cho các B.S. thường trú tương lai. Như vậy họ vừa được huấn luyện tại chỗ các chuyên khoa, sau rồi ở lại làm việc tại VN, đỡ thất thoát chất xám. Ngược lại các trường Y khoa Đại Học ngoại quốc có dịp cử Giáo Sư đến VN dạy học, có thể nghiên cứu thêm bệnh lý đặc biệt của người Việt. Đề nghị này đươc chấp thuận.

2/ Có một phái đoàn Bác Sĩ Mỹ sang VN để giải phẫu tim (hình như là thuộc trường Đại Học Loma Linda thì phải) cho bệnh nhân VN. Xong việc họ mới biết Saigon có BVVD, họ đến thăm và không ngờ có một cơ sở tốt như vậy. Họ hứa lần sau sẽ đến mổ tại BVVD, rồi để lại cho bệnh viện các dụng cụ giải phẫu tim

3/ Trong đầu thập niên 70 Pháp tái lập bang giao với VN, muốn tân trang lại BV Grall, cử một phái đoàn của bộ Y Tế Pha’p trong đó có một Giáo Sư Đại Học Y Khoa, một ky õsư Bách Khoa. Ông Giám Đốc BV Grall điện thoại cho tôi xin phép cho phái đoàn đến thăm BVVD. Tôi dẫn họ xem các phòng ốc, đồ trang bị và trình bày diễn tiến của việc thành lập BVVD. Khi ra về họ nói không ngờ trong nước còn đang có chiến tranh mà đã làm được một cơ sở quá tốt như thế này.

4/ Khoảng năm 1973 bà Chủ Tịch HDQT có hỏi tôi: BVVD nên có một cái gì khác các bệnh viện khác. Tôi trả lời quý bà là Hội PNPSXH thì nên giúp cho phụ nữ VN, mà phụ nữ thì hay bị ung thư, hiện nay Viện Ung Thư Quốc Gia được Cơ Quan Y Tế Quốc Tế (OMS) viện trợ cho một bom Cobalt để trị liệu, nhưng không có ngân khoản để xây cất chỗ chứa và cơ sở tiếp bệnh nhân. Nếu bây giờ mình có khả năng xây cất nhanh chóng thì nên mở thêm khu điều trị ung thư. Đúng vào thời điểm đó một Bác Sĩ kiêm Kiến Trúc Sư chuyên về xây cất bệnh viện, làm việc cho OMS, lại thăm BVVD thấy còn nhiều đất trống, ông ta hỏi sao không xử dụng bỏ phí quá. Tôi có kể lại với ông là đang dự trù làm cơ sở dùng bom Cobalt trị liệu ung thư. Ông ta sốt sắng xung phong vẽ kiểu cho và hứa sẽ tìm người viện trợ trái bom này. Ít lâu sau tôi rời khỏi BVVD, nghe đâu ông ta đã vận động xin Hoàng Gia Đan Mạch viện trợ cho thì phải.

Khoảng tháng mười 1974 ĐT Cầm nói với tôi Ủy Ban Xây Cất chấm dứt nhiệm vụ vì việc xây cất đã xong. Tôi nghĩ mình làm việc gần năm năm rồi từ trước khi kiếm được địa điểm xây cất, nay đã hoàn thành việc tổ chức, trang bị và điều hành giai đoạn đầu, mỗi ngày làm việc trung bình 9, 10 giờ, nên tôi đệ đơn xin trở về Bộ Y Tế. Tôi phải chờ hơn hai tháng, đến 31/12/1974 HĐQT mới tìm được người thay thế: đó là Giáo Sư Đặng Văn Chiếu, cựu Khoa Trưởng Y Khoa Đại Học Saigon. Có sự thay đổi trong Sơ Đồ Tổ Chức BVVD: Dược Sĩ Nguyễn Thị Hai được Hội PNPSXH cử ra làm Giám Đốc BVVD, G.S. Đặng Văn Chiếu làm Giám Đốc Kỹ Thuật và Dược Sĩ Nguyễn Tiến Đức, có bằng Cao Học Y Tế Công Cộng Mỹ (MPH), làm Giám Đốc Hành Chánh.

Ngày 21/4/1975 TT Nguyễn Văn Thiệu trao quyền cho Phó TT Trần văn Hương. Ngày 22/4/1975 bà Nguyễn Văn Thiệu trao BVVD cho Bộ Y Tế. Ngày 30/4/1975 Cộng Sản cưỡng chiếm Saigon, BVVD được chúng đổi tên là Bệnh Viện Thống Nhất (BVTN). Như vậy danh hiệu BVVD sống được 3 năm 7 tháng 26 ngày tính từ ngày khánh thành đến 30/4/1975, trong thời gian đó tôi phục vụ được 3 năm 3 tháng.

  • Vài hàng về BVTN:

Khi tiếp thu, theo lời các nhân viên cấp nhỏ còn được ở lại làm việc, thì CS vào ở bừa bãi trong bệnh viện, thấy phòng Thí Nghiệm luôn luôn cho chạy máy điều hòa không khí, họ chỉ trích tư bản phung phí tiền của nhân dân, họ đâu có biết trong đó có nhiều máy móc điện tử cần lúc nào cũng phải điều hòa không khí. Họ lạm dụng thang máy, những thang máy để chuyên chở một giường bệnh lớn hay hơn 10 người, họ xử dụng bừa bãi. Cuối tháng tiền điện tăng lên quá cao, họ la lối có địch phá hoại, phải điều tra! Thật là “Ngọc để Ngâu vầy”, không biết vật dụng có mất mát gì không hoặc có bảo trì đúng mức không ! Có một đồng nghiệp nghe người nhà cũng ở trong ngành y ở lại làm việc ở miền Bắc kể lại trong thời chiến miền Bắc có được một nước bạn Đông Âu viện trợ cho toàn bộ đồ trang bị một bệnh viện nhỏ, sau vài tháng đến thăm vật dụng bị mất cắp gần hết!

Sau 30/04/1975 trong vài tháng đầu, để mị dân BVTN nhận tất cả mọi người vào nằm điều trị. Được vài tháng, họ tuyên bố BVTN chỉ thâu nhận đảng viên và cán bộ cao cấp, cán bộ trung cấp thì được nằm ở BV Trưng Vương, còn nhân dân thì nằm BV Bình Dân. Thật là phân chia giai cấp rõ ràng, đến nỗi một cán bộ nhỏ không được nằm BVTN phải than rằng: “Thời Thiệu Kỳ ai muốn nằm BVVD cũng được, bây giờ BVTN chỉ dành cho mấy ông lớn!”. Thê’ mới biết: BVVD thì lo điều trị cho Dân, còn BVTN chỉ lo phục vụ cho Đảng!”

Sau mấy tuần họ tưởng là đã học hết công việc điều hành của bệnh viện rồi , nên họ chỉ giữ lại các y công, còn thuyên chuyển đi nơi khác tất cả các nhân viên trung cấp như một số y tá phải đổi lên nhà thương điên Biên Hòa, trong số đó có một nữ chuyên viên Gây Mê Hồi Sức rất giỏi ! Vì họ chú trọng “Hồng hơn chuyên”, nên chính những cán bộ cao cấp nằm điều trị tại BVTN, tuy nằm ở đó, mà không tin tưởng vào B.S. của họ, nên vẫn tìm B.S. “ngụy” để chữa trị!

Kết luận :

Trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa, chiến cuộc gia tăng mạnh mẽ, BVVD ra đời nhờ sự cố gắng của trong nước và sự yểm trợ của các nước đồng minh, các cơ quan thiện nguyện và các vị hảo tâm trong và ngoài nước để bù đắp một phần nào sự thiếu thốn một hệ thống An Sinh Xã Hội (Securité Sociale). Ở thời điểm đó BVVD tương đối đầy đủ nhưng chưa thể so sánh được với các bệnh viện tối tân hiện đại của các nước Âu Mỹ ngày nay. Riêng phần tôi vì muốn làm việc xã hội mà không làm chính trị và muốn thực hiện những gì mình ấp ủ từ lâu nên đã nắm lấy cơ hội để thử sức mình. Kết quả: mang tiếng chạy theo chế độ và mất hết thân chủ phòng mạch tư, nên bị bà xã trách móc cho đến tận bây giờ!!!

Chuyện Suy Ngẫm –  Đông Quyên phiên dịch

Chuyện Suy Ngẫm

“…Những người anh hùng trên một đất nước anh hùng, dù thắng hay bại vẫn được coi trọng, “luận anh hùng không dựa theo thành bại”. Người Nhật người Đức, sau khi bại trận vẫn được người Mỹ kính trọng. Còn Việt nam mình thế nào? …

Đây là một câu chuyện có thật, xảy ra trong thế chiến thứ hai, một câu chuyện đầy tình người, đáng cho chúng ta đọc và suy ngẩm.

Trung uý Charlie Brown 21 tuổi, trưởng phi cơ chiếc B17F Flying Fortress tên phi cơ (Ye Olde Pub) thuộc phi đoàn 527th United States Army Air Force (USAA) đồn trú tại Kimbolton England.

Ngày 20 tháng 12 năm 1943. Trung uý Charlie Brown cất cánh từ Kimbolton cùng phi hành đoàn 10 người, trong một phi vụ đánh bom khu kỷ nghệ gần thành phố Bremen Đức Quốc, thành phố được bảo vệ dầy đặc phòng không và 250 chiến đấu cơ gồm Bf 109, Fw 190 và GJ 11.

Trên vòm trời Bremen chiếc B17 của Charlie Brown bį phòng không của Đức bắn gần gãy lìa đuôi, mủi phi cơ bị hư hại nặng, phi cụ không còn hoạt động, điện, thủy điều hoàn toàn hư hỏng. Ba trong bốn động cơ không còn hoạt động được. Sau đó chiếc B17 bị các chiến đấu cơ Đức vây quanh, bắn nát như tổ ong, chiếc phi cơ B17 mất cao độ chúi xuống, trong lúc hỗn loạn không còn phi cụ, phi cơ lạc hướng bay sâu vào nội địa nước Đức. Trung uý Charlie Brown hồi tưởng:Phi cơ trong tình trạng tuyệt vọng nhưng anh không thể ra lệnh cho phi hành đoàn nhảy dù được, vì trên tàu còn 4 phi hành đoàn bị thương, một rất nặng, nên anh quyết định bay tiếp cho đến khi nào không còn bay được, anh sẽ đáp ép buộc, và tất cả phải chịu chung số phận với con tàu.

Anh Franz Stigler, người phi công lái chiếc Bf 109. Một anh hùng không chiến của không lực Luftwaffe (Đức Quốc) từng hạ 27 phi cơ của đồng minh, đang tiếp tế nhiên liệu, nạp đạn cho phi cơ dưới đất, được lệnh cất cánh khẩn cấp, bắn hạ chiếc B17, đang lảo đảo bay trong không gian vô định.

Trung uý Charlie hồi tưởng: tôi phải vất vã lắm mới kéo được con tàu trở lại bình phi, thì lù lù bên trái của tôi một chiếc Bf109 của Đức kèm sát cánh

Trong giây phút kinh hoàng, tôi nhắm mắt lại, hy vọng đây chỉ là giấc mơ. Khi mở mắt ra chiếc Bf109 vẫn còn đó, và người phi công ra lệnh cho tôi phải đáp ép buộc xuống phi trường Đức, hay phi trường nước trung lập Sweden, tôi không đồng ý. Cuối cùng tôi thấy người phi công lái chiếc Bf109 bay nhanh phía trước, lắc cánh ra hiệu cho tôi theo, không còn lựa chọn tôi bay theo, độ hơn một giờ sau tôi nhìn thấy biển Bắc. Chiếc phi cơ Bf109 bay chậm lại song song với tôi, đưa tay chào, rồi lắc cánh nhẹ vài cái, dấu hiệu tạm biệt của người phi công, rồi mất dạng trong sương chiều.

Như một phép lạ, anh Charlie Brown bay được 250 miles(400 km) qua biển Bắc. Sau cùng đáp ép buộc xuống phi trường của hoàng gia Anh ở Seething, nơi đồn trú của phi đoàn 440th bomber group, chỉ có một người chết, còn tất cả những người bị thương đều được cứu. Sau đó tất cả phi hành đoàn báo cáo với sỉ quan chỉ huy ở đây, họ được chỉ thị giữ kín chuyện này, vì nói ra sự thật có vẽ phản tuyên truyền, vì không thể có một phi công Đức nào hào hùng và độ lượng với kẻ thù như vậy

Sau chiến tranh Charlie Brown ở lại phục vụ trong không lực Hoa Kỳ cho đến năm 1972 giải ngũ với cấp bậc trung tá sống tại Florida.

Câu chuyện không chấm dứt ở đây. Trở về lại quê hương, anh Charlie Brown viết rất nhiều thư để mong tìm ra tông tích người phi công Đức đã không cướp đi mạng sống của cả phi hành đoàn chiếc B17 của anh. Tìm một người phi công sau một cuộc chiến tranh tàn khốc, không tên họ, chỉ có một câu chuyện, đâu phải dể tìm. Không nản lòng anh vẫn tiếp tục. Cuối cùng vào năm 1989, sau 46 năm tìm kiếm, anh Charlie Brown đã tìm ra được người phi công bí mật, lái chiếc Bf109. Một anh hùng không chiến của không lực Luftwaffe (Đức) cũng là một thiên thần độ lượng trên vòm trời Bremen vào những ngày cận giáng sinh năm 1943. Đó là anh Franz Stigler.

Sau khi chiến tranh chấm dứt anh Franz Stigler di dân sang sống ở Vancouver Canada. Trong bức thư đầu tiên anh Franz Stigler viết cho Charlie Brown “suốt bao nhiêu năm dài tôi luôn tự hỏi, không biết chiếc B17 đó có đưa phi hành đoàn về đáp an toàn hay không “

Họ gặp nhau sau 46 năm tìm kiếm diễn ra rất cảm động. Anh Franz Stigler hồi tưởng: tôi được lệnh cất cánh rượt đuổi bắn hạ chiếc B17, tống ga đuổi kịp, thì tàu của tôi báo hiệu máy đã nóng vượt bực, tôi đến từ phía sau quan sát chiếc B17. Một cảnh tượng thật tang thương, phần đuôi của con tàu gần như tan nát, một lổ hổng lớn có thể nhìn từ đuôi cho đến cockpit, người xạ thủ tail gun turret nằm chết đong đưa, nửa trong nửa ngoài trên pháo tháp. Tôi bay lên quan sát bên thân tàu, cả một vùng thân đầy lổ đạn to lớn, tôi có thể thấy cả phi hành đoàn bị thương nằm la liệt bên trong, người trưởng phi cơ đang vật lộn với con tàu mong giữ được bình phi, tôi ra hiệu cho anh ta theo tôi đáp xuống một căn cứ gần đó, để cứu những phi hành đoàn bị thương, anh ta nhìn tôi chăm chăm rồi nhè nhẹ lắc đầu, tôi không có can đảm giết những người anh hùng không còn vũ khí để tự vệ, tôi là một người phi công hào hùng, tôi chém giết để bảo vệ quê hương tôi, nhưng không hề có thù hận, khi còn chiến đấu ở Bắc Phi, người chỉ huy của tôi đã nói, nếu tụi mầy bắn một người phi công đã nhảy dù ra khỏi phi cơ, đó là một hành động tồi tệ, tao sẽ là người bắn rơi tụi mầy, trong trường hợp nầy cũng vậy, chiếc B17 nầy không còn tự vệ được, tôi phải để cho họ có một cơ hội, ngày mai tôi sẽ bắn họ khi họ ngang ngửa với tôi. Biết là không thể thuyết phục được người trưởng phi cơ B17 tôi bay ra phía trước lắc cánh, tôi cũng mừng khi thấy anh đã bay theo tôi, hướng dẫn chiếc B17 độ một giờ sau thì tôi thấy biển Bắc, tôi bay chậm lại song song, chào anh ta rồi quay trở về đáp, dĩ nhiên là tôi phải báo cáo với cấp trên, là tôi đã bắn hạ chiếc B17 trên biển.

Anh Charlie Brown và Anh Franz Stigler trở nên đôi bạn thân, họ đã gặp lại nhau nhiều lần, sau đó họ đã được không lực Hoa Kỳ bạn tặng những huy chương cao quý

Anh Charlie Brown mất ngày 24 tháng 11 năm 2008

Anh Franz Stigler mất ngày 22 tháng 3 năm 2008

Những người anh hùng trên một đất nước anh hùng, dù thắng hay bại vẫn được coi trọng, “luận anh hùng không dựa theo thành bại”. Người Nhật người Đức, sau khi bại trận vẫn được người Mỹ kính trọng. Còn Việt nam mình thế nào? Những người lính miền nam bại trận được đối xử ra sao? Nếu không có người Mỹ và thế giới tạo áp lực, chắc chắn người Nga, đã để cho cộng sản Việt Nam giết chết hết hai triệu Quân Cán Chính của miền Nam trong tù, mà họ gọi là trại cải tạo, giống như họ đã làm ở Tiệp khắc, Ba Lan, và ngay tại Liên bang sô-viết. Thật là xấu hổ cho bọn Cộng sản hèn hạ.

httpv://www.youtube.com/watch?v=_lp9-cN_Oog

The Franz Stigler and Charlie Brown Incident

 Đông Quyên phiên dịch

From: TU-PHUNG