Cỗ tràng hạt quý chôn theo Công nương Diana

 Cỗ tràng hạt quý chôn theo Công nương Diana

TGPSG / Aleteia — Tử nạn tại Paris cách đây 25 năm, ngày 31.8.1997, công nương Diana, còn được gọi là Lady Di, từng cất giữ một cách thành tín một tràng hạt Mân Côi mà Thánh Têrêsa Calcutta đã tặng cho Lady, và đã được người thân đặt vào quan tài của công nương.

CỖ TRÀNG HẠT QUÝ


Nhìn qua thì chẳng có gì có thể báo trước một tình bạn khắng khít giữa Công nương xứ Wales và Nữ Thánh thành Calcutta, nhưng thực ra thì hai người phụ nữ đó đã gắn kết với nhau bằng mối dây lo toan chung cho những người cùng khổ. Nghe tin Lady Di tử nạn, Mẹ Têrêsa đã gởi lời chia buồn, và nói về Diana rằng: “Cô ấy đúng là đã từng rất lo cho người nghèo. Cô rất mong được làm cái gì đó cho họ và điều đó thật là đẹp. Vì vậy, cô thật gần gũi với tôi.”

Vị nữ tu đã từ trần sau đó vài ngày, ngày 5.9.997. Hai tháng trước, tháng 6/1997, hai người đã gặp nhau ở New York.

Theo báo The Independent, Diana và Mẹ Têrêsa “đã bước đi, tay trong tay, trên đường phố khu Bronx, TP New York… Họ đã choàng tay nhau, ôm nhau và cùng nhau cầu nguyện khoảng 40 phút. Nhân dịp này, Mẹ Têrêsa đã chúc phúc cho công nương”. 
Mẹ Têrêsa có biết rằng cỗ tràng hạt mà Mẹ tặng cho Lady Di đã đồng hành cùng công nương đến nơi an nghỉ cuối cùng không?

Những giờ phút sau cái chết của vị công nương đã được tường thuật chi tiết trên tờ Daily Mail:

Đêm ngày 30 rạng sáng 31.8.1997, khi vị quản gia Paul Burrell của Diana từ cung điện Kensington, Luân Đôn, nhận được tin về cái chết  bi thảm của công nương, ông được lệnh phải đem mọi vật dụng mà Diana yêu thích nhất sang bệnh viện La Pitié-Salpêtrière ở Paris, nơi công nương được đưa tới. Lòng tan nát, ông đi vào căn hộ của Lady Di, “nhìn cái bàn làm việc của công nương trên đó có cây viết và một lọ mực, bên cạnh là tờ giấy ghi danh sách những từ ngữ vốn dùng để cải thiện vốn từ vựng của Lady. Ông cầm vội lấy một chuỗi hạt Mân Côi – mà Mẹ Têrêsa tặng cho công nương, treo trên một bức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh – và bỏ vào túi.”

Vừa đến bệnh viện, chính Colin Tebbutt, tài xế riêng của Diana, đã đưa cỗ tràng hạt cho một nữ điều dưỡng mà dặn rằng phải đặt nó vào tay công nương. Cũng được đặt trong quan tài của bà là một tấm ảnh 2 đứa con trai mà công nương vẫn giữ trong ví của mình.

LINH MỤC TUYÊN ÚY BỆNH VIỆN

Được gọi khẩn cấp đến bệnh viện La Pitié-Salpêtrière, Paris, cha Yves-Marie Clochard Bossuet, với tư cách linh mục tuyên úy trực đêm 31.8.1997, đã canh thức 8 giờ liền cạnh thi thể của Lady Di.

Năm nay 73 tuổi, cha Bossuet chánh xứ Notre-Dame des Foyers ở Paris, Pháp, đã tâm tình cùng Aleteia về những ơn thiêng được ban xuống trong đêm đó.

Nhận cuộc gọi vào lúc 2 giờ sáng 31.8.1997, cha Yves-Marie Clochard Bossuet lúc đầu nghĩ đây là trò đùa. Nhưng viên trực ban của bệnh viện cứ gọi lại, nài nỉ và cuối cùng đã cho ngài biết danh tính của người mà ngài được mời đến bên: Lady Diana, Công nương xứ Wales, được đưa đến bệnh viện La Pitié-Salpêtrière trong tình trạng rất nặng, sau một tai nạn xe hơi trong đường hầm dưới cầu Alma, TP Paris. 

From: tao ngo & Kim Bang Nguyen

ĐỈNH CAO TRÍ TUỆ

Nghệ Lâm Hồng

ĐỈNH CAO TRÍ TUỆ

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, có nhiều xáo trộn trong cuộc sống, nhưng trước mắt cũng như trong tâm tưởng, mình vẫn còn hiển hiện nhiều hình ảnh xinh đẹp về con người xứ Huế hiền hòa và hình ảnh một Sài Gòn hoa lệ.

Bỗng dưng, cuối tháng 9/1975 tôi có mặt ở Hà Nội một thành phố chỉ có 3 màu: đen (áo quần công nhân và hầu hết dân chúng), xanh ô liu (bộ đội), và vàng (công an). Đại đa số dân chúng không biết gì về tiện nghi vật chất và rất ngờ nghệch về một cuộc sống hiện đại của miền Nam.

Tôi đến ở trọ một nhà người quen, buổi tối nấu nước tắm, bà cụ trong nhà mở rương ra lấy cho tôi một lát xà bông cục được gói mấy lớp giấy báo, họ bảo tôi là khách quý mới được mời dùng cái này. Vài lần tôi uống cà phê ở một cửa hàng ăn uống quốc doanh ở Khu nhà tập thể Kim Liên. Một lần tôi yêu cầu ly cà phê sữa, cô bán phiếu xé cho 2 phiếu và tính tiền hai ly. Đó là ly cà phê đen và ly sữa nước sôi. Bà mậu dịch viên pha cà phê vào một ly rồi chế nước sôi vào ly sữa, xong đỗ ly cà phê vào ly sữa thành một ly cối to đùng.

Hôm sau tôi cũng mua cà phê sữa, nhưng tôi bảo đổ cà phê vào sữa, đừng đổ nước sôi vào, thế là bị một câu mắng chua lè: “Để tôi tự chế biến, không mượn ông góp ý”.

Một hôm tôi vào cửa hàng ăn uống trên đường Thanh Niên. Tôi yêu cầu cà phê sữa đá. Cô gái trẻ đứng tại quầy chanh chua: “Ông này buồn cười nhỉ. Sữa thì uống với nước sôi, làm gì uống với đá”. Thế là tôi đành phải uống một ly to đùng phối hợp 1 ly cà phê đen và 1 ly sữa nước sôi và phải trả tiền cho hai ly.

Tôi khá buồn cười với cái ngờ nghệch của họ. Ngay những người có vai vế trong xã hội cũng thế. Năm 1993, một đoàn gồm bốn nhà thơ rất nổi tiếng được tổ chức phản chiến William Joiner mời sang thăm trụ sở của họ tại Đại học Massachusetts, Boston, Hoa Kỳ. Hồi đó tôi đang học tại Đại học Simmons được mời đến nghe buổi trò chuyện. Giờ giải lao chúng tôi gặp riêng, một nhà thơ trong đoàn nói với chúng tôi rằng:

– Bọn Mỹ đối xử với bọn mình thật tốt, nhưng có một cái mình bất mãn là họ bố trí mình ở đâu cũng đặt máy nghe lén.

Tôi nói: Họ đặt máy nghe lén thì làm sao các anh biết được?.

– Họ đặt ngay giữa phòng trên trần nhà, chứ có dấu diếm gì đâu.

Tôi bật cười, thì ra đó là thiết bị báo cháy (smoke detector). Khổ thân cho bốn nhà thơ vĩ đại nước ta, mấy ngày qua không giám ăn nói gì hết, vì sợ bị nghe lén!.

Minh Nguyễn

Thiết bị nghe lén

“Dừng hút thuốc ở khắp nơi đi…”

“Dừng hút thuốc ở khắp nơi đi…”

13-9-2022

Tôi muốn dành bài phát biểu này cho những người đã dũng cảm đứng vững trong 200 ngày, vì đó chính là lý do Ukraine đứng vững – Tổng thống Volodymyr Zelenskyy phát biểu vào ngày 11/9.

Nataliya Zhynkina

Dưới đây là bài phát biểu của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskyy vào ngày 11/9, đúng 200 ngày quân đội Ukraike chiến đấu chống quân Nga xâm lược. Bài dịch được bà Nataliya Zhynkina – Đại biện lâm thời Ukraine tại Việt Nam đưa lên trang Facebook.

Tiếng Dân

Người dân Ukraine thân mến!

Hôm nay tròn 200 ngày kháng chiến của chúng ta, cuộc đấu tranh của chúng ta, cuộc chiến tranh của nhân dân chúng ta vì tự do, vì độc lập, vì lẽ phải. Trong 200 ngày qua, chúng ta đã đạt được rất nhiều nhưng điều quan trọng nhất, và khó khăn nhất, vẫn đang ở phía trước. Và tôi muốn dành bài phát biểu này hướng tới những người đang ở phía trước và những ai đang gặp khó khăn nhất lúc này, bởi vì họ đang làm điều quan trọng nhất.

Tất cả họ đều là những người bảo vệ Ukraine. Tất cả họ đã can đảm đứng vững trong 200 ngày, đó chính là lý do Ukraine vẫn đang đứng vững. Tất cả là những người mạnh mẽ thế nên chúng ta là những người tự do. Tất cả là những người bất khuất thế nên chúng ta là những người độc lập. Các chiến sĩ của chúng ta, những người đã anh dũng chống lại kẻ thù và giờ đây họ đang không kìm nén mình. Và họ đang đánh đuổi những kẻ chiếm đóng ở phía bắc, phía nam và phía đông. Ở mọi hướng nhưng chỉ di chuyển theo một hướng – tiến lên phía trước và hướng tới chiến thắng.

200 ngày kháng chiến của Ukraine. Gần 5 nghìn giờ. Gần 300 nghìn phút. Gần 20 triệu giây. Và có biết bao nhiêu lý do để nói “lời cảm ơn” ngày hôm nay với tất cả những người mà nhờ họ điều này đã thành hiện thực. Hàng triệu lần. Không có bất kỳ từ “gần như” nào. Để nói rằng chúng ta tin ở họ, tin vào chiến thắng của họ. Không có bất kỳ từ “gần như” nào.

Đó là tất cả những chiến binh của chúng ta, của Lực lượng vũ trang Ukraine.

Lực lượng lục quân, bộ binh của chúng ta. Các bạn hiểu rõ hơn ai hết: có rất ít sự lãng mạn trong chiến tranh và rất nhiều công việc khó khăn. Ngày nay, các lữ đoàn cơ giới hóa biệt lập của chúng ta đang thực hiện công việc này một cách dũng cảm và quên mình. Lữ đoàn 92 – được đặt theo tên của Kish Otaman [thủ lĩnh] Ivan Sirko. Lữ đoàn 54 – được đặt theo tên của Hetman Ivan Mazepa. Lữ đoàn 14 – được đặt theo tên của Hoàng tử Roman Đại đế. Lữ đoàn bộ binh biệt kích 60 Inhulets. Từng bước một tại vùng Kharkiv, vùng Kherson, Donbas, với vũ khí, cuốc xẻng, đôi bàn tay, hàm răng – các bạn đang “gặm nhấm” từng mét đất, từng phòng tuyến, từng thành phố và làng mạc của chúng ta.

Đó là những người lính tăng của chúng ta. Những người rèn nên chiến thắng tương lai bằng găng tay sắt. Và hôm nay đã trở thành ngày lễ của binh chủng. Đó là các lữ đoàn tăng biệt lập 3, 4, 5, các trung đoàn và các tiểu đoàn tăng, các đại đội tăng trong thành phần lực lượng đổ bộ đường không, lữ đoàn xe tăng biệt lập Kryvyi Rih số 17 được đặt theo tên của Kostiantyn Pestushko. Và đặc biệt – lữ đoàn tăng biệt lập Siversk số 1. Tôi xin chân thành chúc mừng tất cả các bạn và tất cả những người liên quan nhân Ngày lễ của lính tăng.

Đó là lính tên lửa và pháo binh của chúng ta. Các bạn được gọi một cách chính xác là “những vị thần của cuộc chiến”. Các bạn đang đưa những kẻ chiếm đóng đến phiên tòa thánh thần. Các bạn đang đưa những con quỷ trở lại địa ngục. Ngày nay, lữ đoàn pháo binh biệt lập 406 được đặt theo tên của lữ đoàn trưởng, thiếu tướng Oleksiy Almazov đang thực hiện công việc này với sự nhiệt thành đặc biệt và ánh lửa trong mắt họ. Chúng tôi biết ơn các chiến binh của lữ đoàn và nói chung với tất cả những người mà chúng tôi nồng nhiệt gọi là “pháo thủ của chúng tôi”.

Làm thế nào để một người mô tả được công việc tinh vi của bạn trong hai từ? Chuẩn xác và vang dội. Chúng tôi cảm ơn bạn vì mỗi sự “chuẩn xác” và mỗi sự “vang dội”, vì tất cả các đoàn xe, kho, căn cứ và sở chỉ huy của địch bị phá hủy. Các giao lộ và cầu đường trọng yếu, nơi bị bắn cháy bởi những nỗ lực của các bạn và nơi đối phương vi phạm nội quy an toàn phòng cháy chữa cháy. Người dân và cư dân mạng đều mong bạn tính toán chính xác và có những cú đánh trúng mục tiêu mới và họ nói với những kẻ chiếm đóng bằng ngôn từ dễ hiểu: “Dừng hút thuốc ở khắp nơi đi. Hãy hút thuốc ở nơi chưa bị bắn trúng ấy”.

Đó là Lực lượng Không quân của chúng ta. Ném bom, cường kích, tiêm kích, do thám, vận tải quân sự hàng không. Các bạn luôn ở trên tầng cao khi bảo vệ Ukraine.

Đó là các lực lượng đổ bộ đường không của chúng ta. Các bạn luôn là những người đầu tiên! Bởi không phải ai khác ngoài các bạn! Những khẩu hiệu này không chỉ là lời nói. Kẻ thù đã nhận thức được điều này trong tám năm và 200 ngày. Và ngày nay, những kẻ chiếm đóng đặc biệt cảm nhận được sức mạnh và sự vững chắc của lữ đoàn đổ bộ đường không 79, lữ đoàn 25 và 80. Đặc biệt, vùng Kharkiv, nơi các bạn đang giải phóng thành công khỏi quân thù. Và ở vùng Donetsk, nơi các bạn đang đẩy lùi thành công kẻ thù.

Chúng tôi chắc chắn rằng: cả ở đây và ở đó sẽ có một trận kết – chiến thắng của các bạn. Để đạt được điều này, các bạn không cần phải đọc bản dự báo, chỉ cần đọc lời tuyên thệ của các bạn là đủ. Các bạn là lính dù của Lực lượng vũ trang Ukraine. Các bạn sẽ không bao giờ chấp nhận thất bại. Các bạn sẽ không bao giờ lùi bước khi đối mặt với khó khăn. Các bạn sẽ không bao giờ để một đồng đội gặp nguy hiểm. Các bạn luôn sẵn sàng tiêu diệt kẻ thù của Ukraine trong trận chiến. Các bạn là lính dù của Lực lượng vũ trang Ukraine!

Đó là Lực lượng Hải quân của chúng ta. Các bạn đã chứng minh rằng hạm đội nào của kẻ thù, chỉ huy hạm nào của chúng đều không quan trọng một khi Neptune – Hải Vương Tinh ở bên bạn. Những người bảo vệ bờ biển quê hương. Tàu hộ vệ tên lửa, tàu pháo, tàu quét mìn, hàng không hải quân, pháo binh hải quân và tất nhiên là cả lính thủy đánh bộ. Và tôi đặc biệt muốn lưu ý đến tiểu đoàn biệt lập 503 lính thủy đánh bộ. Trên phù hiệu của bạn có dòng chữ: “Nếu tấn công – thì có chúng tôi”. Trong trái tim của chúng ta luôn là câu nói: “nếu là các bạn – thì luôn là thành công và chiến thắng”.

Đó là lực lượng phòng không của Ucraine. Binh chủng tên lửa phòng không, binh chủng kỹ thuật vô tuyến điện, lực lượng phòng không trên bộ và Hải quân. Bạn nghe thấy cảnh báo không kích khác với đa số mọi người. Hầu hết mọi người xuống hầm trú ẩn. Còn các bạn thì hướng ánh mắt của mình lên phía trên để tiêu diệt tên lửa, máy bay, trực thăng và máy bay không người lái của đối phương.

Đó là lực lượng trinh sát tình báo của chúng ta. Vì những lý do dễ hiểu, rất ít người biết tên các bạn, khuôn mặt của các bạn. Các hoạt động của các bạn thường không được viết trong các bản tin, nhưng chúng chắc chắn sẽ được viết trong các giáo trình khoa học quân sự. Những chiến công của các bạn thường thầm lặng và khó nhận thấy đối với người dân của chúng ta nhưng luôn gây đau đớn và đáng kể đối với kẻ thù của chúng ta.

Ngày nay, các sĩ quan tình báo đang thể hiện mình một cách đặc biệt. Tiểu đoàn trinh sát biệt lập 131 của tình báo quân sự Ukraine. Những người luôn đi trước. Tôi cảm ơn các bạn, tôi cảm ơn tất cả các đơn vị của Tổng cục Tình báo và tất cả các sĩ quan tình báo của chúng ta, nhờ họ mà chúng ta luôn thấy, luôn nghe, luôn biết, luôn hành động. Và chúng ta chắc chắn sẽ giành chiến thắng.

Đó là những người lính đặc nhiệm của chúng ta, Lực lượng Tác chiến đặc biệt. Họ là những người tấn công. Những người chiếm ưu thế không phải ở số lượng, mà ở chất lượng. Những người có một sức mạnh đặc biệt để chiến đấu ở ranh giới có thể và không thể.

Đó là các lực lượng phòng vệ lãnh thổ. Và chúng tôi đặc biệt lưu ý đến các chiến sĩ của lữ đoàn phòng vệ lãnh thổ biệt lập số 115 và 117.

Đó là những quân y đang cứu sống các chiến sĩ của chúng ta. Đó là những tăng lữ quân đội, những giáo sĩ, những người cầu nguyện cho cuộc sống của các chiến sĩ của chúng ta. Đó là những kỹ sư, sĩ quan thông tin liên lạc, không gian mạng quân sự của chúng ta.

Đó là những người đã bảo vệ và phụng sự quốc gia sát cánh cùng Lực lượng vũ trang Ucraine trong 8 năm, trong 200 ngày và hiện nay. Tôi cảm ơn tất cả các chiến binh của Vệ binh Quốc gia, các lực lượng đặc biệt của Vệ binh quốc gia, đặc biệt là trung đoàn 15 Sloviansk. Tôi cảm ơn tất cả những người lính biên phòng của chúng ta, các sĩ quan và nhân viên của Cơ quan An ninh Ukraine, Cảnh sát Quốc gia, Cơ quan Tình trạng khẩn cấp nhà nước, các nhân viên cứu hỏa, cứu hộ, công binh của chúng ta. Và nói chung – gửi đến tất cả các chiến binh, những người bảo vệ của chúng ta, những người con trai và con gái tốt nhất của Ukraine, những người đang giải phóng miền bắc, miền nam và miền đông của Ukraine ngày nay.

Gửi đến tất cả những ai trong 200 ngày qua đã tiêu diệt hơn 2.000 xe tăng địch, 4.500 xe bọc thép chiến đấu, hơn 1.000 hệ thống pháo của địch, 250 máy bay và 200 trực thăng, gần 1.000 máy bay không người lái, 15 tàu và thuyền, hàng nghìn đơn vị thiết bị khác của địch.

Họ đã giải phóng hàng trăm thị trấn và làng mạc của chúng ta. Những ai đã phá vỡ kế hoạch của kẻ thù, chính là những người không thể bị phá vỡ. Tất cả những ai đã giữ vững phòng thủ và bảo vệ Kyiv, bảo vệ thủ đô của chúng ta, nghĩa là họ đã bảo vệ niềm tin của chúng ta vào chiến thắng của chúng ta.

Với việc bảo vệ Kharkiv, Mykolaiv, Chernihiv, Odesa, Zaporizhzhia, Dnipro, tất cả đã củng cố và nhân lên niềm tin. Tất cả những ai bảo vệ Mariupol và Azovstal, là những người giải phóng vùng Kyiv, vùng Zhytomyr, vùng Chernihiv, vùng Sumy. Bucha, Irpin, Borodyanka, Vorzel, Hostomel, Makariv. Okhtyrka, Sumy và bây giờ – Balakliya, Izyum, Kupyansk.

Tất cả những ai đã giải phóng, đang giải phóng và sẽ giải phóng tất cả các vùng lãnh thổ bị tạm chiếm của Ukraine. Mang cờ Ukraine trở lại Kherson, Berdyansk, Melitopol, Luhansk, Horlivka, Yenakijeve, Mariupol và Donetsk, Yalta, Dzhankoy, Kerch, Yevpatoriya, Simferopol, là những người đã làm việc bằng 200% trong suốt 200 ngày qua.

Kẻ thù nói rằng họ bị lạc lối, rằng họ đang đi tập trận. Các bạn đã dạy họ rất nhiều. Biết đóng gói và cuốn xéo nhanh chóng rời khỏi vùng đất của chúng ta và hiểu rằng, chỉ bằng cách từ bỏ thiết bị và vũ khí thì mới có thể hành động nhanh hơn và dễ dàng hơn nhiều.

Nhiều người trong số họ đã lĩnh hội được rằng việc nói đúng không phải là “trên Ukraine” mà là “ở tại Ukraine”. Tôi đang nói về tất cả những người đã đặt chân lên mảnh đất của chúng ta và ở lại đó. Nhiều người ghi nhớ mãi những gì đang chờ đợi tất cả những vị khách không mời ở Ukraine. Đó là những chiến binh của chúng ta.

Ngày nay, mọi người đều nhìn thấy và ghi nhớ hành động của các bạn ở phía bắc, nam và đông Ukraine. Thế giới rất ấn tượng. Kẻ thù đang hoảng loạn. Ukraine tự hào về các bạn, tin tưởng vào các bạn, cầu nguyện cho các bạn và đang chờ đợi các bạn.

Con đường dẫn đến chiến thắng là một con đường khó khăn. Nhưng chúng ta chắc chắn rằng: các bạn có khả năng làm được điều đó. Các bạn sẽ đến biên giới của chúng ta, tất cả phần đất của chúng ta. Bạn sẽ thấy biên giới của chúng ta và lưng của kẻ thù. Bạn sẽ thấy ánh mắt của người dân của chúng ta sáng ngời và gót chân của những kẻ chiếm đóng. Người ta sẽ gọi đó là “những cử chỉ thiện chí”. Chúng ta sẽ gọi đó là một chiến thắng.

Chúng tôi tin tưởng vào các bạn, vào những người đã và đang làm công việc của mình, không tiếc mạng sống, bảo vệ đất nước trong suốt 200 ngày qua dù nhiệt độ -15°C hay + 35°C, lúc 2 giờ sáng hay 6 giờ sáng, vào thứ hai bình thường hay vào ngày Ngày lễ Độc lập, bất chấp mệt mỏi, căng thẳng và nguy hiểm.

Tất cả những người chắc chắn đã sẵn sàng, những người chẳng để ý đến những lời đồn thổi và đàm tiếu. Những người không đọc tin giả trên mạng mà viết lịch sử trong đời thực. Lịch sử của nền độc lập. Lịch sử của chiến thắng. Lịch sử của Ukraine. Các chiến binh của chúng ta, các chiến sĩ của chúng ta, những người bảo vệ của chúng ta. Đối với chúng tôi, các bạn chắc chắn là đội quân đầu tiên của thế giới.

Vinh quang cho các bạn!

Vinh quang cho Ukraine!

NguồnFB Nataliya Zhynkina

Xem thêm bản tin mới:

httpv://www.youtube.com/watch?v=23L0XY5kGSU&t=3s

Quá tốt: Tuyệt vọng, chỉ huy Nga ở Kherson ra lệnh cho binh sĩ ngưng bắn, điều đình xin đầu hàng

Trường Học Trường Ðời – Gs. Nguyễn Văn Tương

Bang Uong

Trường Học Trường Ðời

Gs. Nguyễn Văn Tương

Kính Thưa Quý Anh Chị,

Nhân được tin buồn Cố Gs. Nguyễn Văn Tương vừa từ trần, kính gởi đến Quý Anh Chị vài đoạn trích trong cuốn Hồi Ký 2 ” Trường Học Trường Ðời”

để Quý Anh Chị biết thêm chi tiết về sinh hoạt của Cố Giáo Sư sau khi định cư tại Pháp Quốc.

Thân kính,

NT Hà

TIỂU SỬ : NGUYỄN VĂN TƯƠNG (1929 – 2022)

Sinh quán làng Tân hựu Ðông, quận Châu Thành, tỉnh Sa đéc. Con thứ trong một gia đình có 9 Anh Chị em.

  • Cựu học sinh trường Chasseloup-Laubat-Saigon (1951)
  • Tốt nghiệp Khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Ðức (1952)
  • Cử Nhân Luật (1955), Cao Học Công Pháp (1960)
  • Tốt nghiệp Tiến sĩ Luật khoa ban Công Pháp (1965)
  • Cựu Giáo sư Công Pháp tại Học viện Quốc gia Hành Chánh Sài Gòn – các trường Ðại Học Luật tại Sài Gòn , Huế – Phân Khoa Luật của Ðại Học Paris, Poitiers, Brest & Angers
  • Tham gia các chính phủ Phan Huy Quát, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Văn Lộc

Sau 30 tháng 4, 1975 đi cải tạo từ 1975 đến 1981 Ðịnh cư tại Pháp từ 1983 đến nay.

DẠY HỌC TẠI PHÁP (trang 65..)

…Gia đình tôi sang Pháp ngày 08 tháng 07 năm 1983. Lúc bấy giờ nhà tôi 48 tuổi, còn tôi 54 tuổi. Già thì không già lắm, mà trẻ thì không còn trẻ nữa, Hành lý là những vali quần áo cũ, nồi niêu xoong chảo vợ tôi gói ghém đem theo. Lúc tôi đi cải tạo vợ tôi thuê người đem đổ xuống sông Thị Nghè tất cả hàng trăm sách của thư viện cá nhân tôi, kể cả mấy quyển luận án tiến sĩ của tôi. Trước ngày đi Pháp tôi có đến trường luật xin lại một bổn luận án đem theo. Chủ mới cho biết đã bán hết sách của thư viện cho bọn tàu Chợ-lớn . Cũng may là nhà tôi còn giữ một số giấy tờ của tôi, như bằng cấp, Nghị định bổ nhiệm.

Người ta thường nói “Trời sanh voi sanh cỏ”, ngặt vì mình không phải là voi làm sao ăn cỏ được. Các con lớn của tôi có báo tin cho nhiều gia đình quen Pháp lẫn Việt, nhờ họ giúp đỡ lúc ban đầu. Thêm vào đó có sở xã hội và các đoàn thể địa phương cứu trợ trong lúc tìm việc làm. Tôi viết thư cho toàn thể các Khoa trưởng trường luật tại Pháp và hải ngoại để xin một chỗ dạy, kèm theo tiểu sử ngắn gọn và Nghị định bổ nhiệm dịch ra tiếng Pháp. Lúc ấy vào khoảng bãi trường nên chậm có thư trả lời. Qua tháng 9 năm ấy mới có thư hồi đáp, nhưng là thư khước từ vì quá trễ cho năm 1983 . Chủ sở trợ cấp thất nghiệp ở Rambouillet yêu cầu tôi cho biết đã có vận động gì trong mấy tháng qua. Khi tôi trình cho xem một sắp thư trả lời từ chối thì mới thấy tôi quả có thiện chí tìm việc.

Bao giờ cũng vậy trong cái rủi có cái may. Trường đại học Panthéon-Sorbonne yêu cầu tôi trình bày cho Ban Cử nhân Công Pháp trước cuối năm đề tài ” Nền ngoại giao của Nhật bổn và nền ngoại giao của Trung Quốc”. Là người Á châu từng theo dõi thời cuộc trong mấy chục năm qua, tôi chuẩn bị dễ dàng hai đề tài ấy với tài liệu phong phú của một người bạn Pháp. Phải nói rằng tôi đã nhờ giáo sư Vũ Quốc Thúc cố vấn tôi rất nhiều…

… Bỗng dưng có Khoa trưởng trường luật Poitiers, phía Tây Nam Paris, đề nghị tôi nhận trình bày trong 6 tháng cho lớp hậu Cử nhân về đề tài “Vấn đề phát triển dân chủ tại các nước Á châu”. Buồn ngủ gặp chiếu manh, tôi nhận lời ngay mà không ngờ đã phóng lao mình phải theo lao. Ông Khoa trưởng nói rõ môn này sẽ không được đưa ra thi cuối năm, không thể làm khác hơn vì phải tôn trọng nội quy của trường. Làm sao giữ nổi sinh viên hậu Cử nhân (tức sau 3 năm đại học) trong 6 tháng, trừ phi cao tăng giảng kinh xuất chúng!

Than ôi tôi chỉ là một giáo sư thất nghiệp đi tìm việc, chớ nào phải là cao tăng đâu! Nghĩ cho cùng ban giảng huấn các đại học đã có lòng cứu vãn đồng nghiệp sa cơ vậy thôi! Tôi căn cứ vào luận án tiến sĩ của tôi trình bày vấn đề đặt ra. Chỉ tiếc là thiếu một họa đồ để tiện vị trí hóa các nước, dầu là sinh viên trình độ đại học cũng chưa biết nước nào ở đâu ? Chính tại quốc hội pháp một dân biểu tên tuổi còn nói rằng Nhật bổn ở Nam bán cầu! Mọi việc đều có kết thúc. Khởi sự bài giảng hiện diện khoảng 40 sinh viên, chấm dứt còn phân nửa! Ông Khoa trưởng mừng cho tôi còn giữ được đệ tử! Nhóm sinh viên này còn mời tôi một bữa cơm trưa tại quán ăn tàu ở Poitiers…

… Gia đình tôi trọ trong một căn phòng chung cư tại thành phố Rambouillet. Có sở xã hội và các bà phước cho chút ít bàn ghế, tủ giường, quần áo cũ. Tôi làm đơn xin việc, vợ tôi nấu ăn dã chiến. May mà lúc ấy nhằm mùa hè ấm áp, chớ chưa phải mùa đông lạnh buốt. Các con nhỏ đi học mà ban đầu chẳng biết một chữ tiếng Pháp. Vậy mà nhờ ơn trời phật gia đình dần dần cũng gỡ rối được. Như con thuyền không bến của Ðặng Thế Phong rồi cũng tạm có bến đậu.

Ðó là trường luật đại học Brest, vùng Bretagne tận cùng phía Tây nước Pháp. Tôi biết ơn giáo sư Nguyễn Quốc Vinh đã hết lòng giúp đỡ tôi, có thể vì tình đồng bào cũng như vì nghĩa đồng nghiệp. Tôi xin được giới thiệu ân nhân trẻ của tôi. Ðó là con trai của giáo sư Nguyễn Quốc Ðịnh, gốc người Nam Ðịnh, trước giảng dạy tại Viện Ðại học Pathéon-Sorbonne Paris. Giáo sư Ðịnh là tác giả quyển sách nổi danh ”Droit Public International” (Luật Quốc Tế Công Pháp), tám lần tái bản, đâu đâu cũng dùng, một thời kiêm nhiệm Ðại sứ Việt Nam Cộng hòa ở Unesco. Giáo sư Vinh ân cần chỉ dẫn tôi lập hồ sơ xin cộng tác với Ðại học Luật khoa Brest. Ông Vinh lúc ấy là giáo sư Công pháp, phó khoa trưởng rồi lên khoa trưởng rất có uy tín ở đây. Sau này giáo sư Vinh đỗ thạc sĩ về dạy ở viện đại học Maine tại Le Mans, cách Paris hơn 200 cây số về hướng Tây, rồi được bổ nhiệm làm phó Viện trưởng đại học này.

Trong lúc chờ đợi quyết định của Hội đồng Giáo sư địa phương rồi Hội đồng Giáo sư Paris, tôi được sắp xếp dạy môn Ðịa dư kinh tế năm thứ hai Ban Cử nhân, thù lao lấy trên tài khoản liên khóa 1982-83. Môn này liên quan đến các nguồn tài nguyên kinh tế thiết yếu trên thế giới, các hệ thống chuyển vận liên lục địa đường bộ, hàng không, hàng hải, ít có giảng dạy tại các phân khoa đại học khác. Sau đó Hội đồng Giáo sư Paris chấp thuận cho tôi dạy tại trường Luật khoa Brest về các môn Công pháp thù lao theo mức lương giáo sư thực thụ, qua sự chấp thuận ngân khoản thường niên .

Tôi phụ trách nhiều môn Luật hành chánh, Tố tụng hành chánh, Công pháp kinh tế, Hành chánh địa phương đối chiếu, miễn đủ số giờ ấn định cho cấp giáo sư. Tôi cộng tác với trường Luật khoa Brest từ năm 1983-84 đến năm 1992- 93. Trong thời gian ấy tôi còn lãnh dạy thêm ở viện đại học Maine-et-Loire, miền Tây Nam Paris, thủ phủ là thành phố Angers về môn Thuế vụ và Hành chánh địa phương là một môn tôi rất thích bởi có nhiều điểm tâm lý xã hội liên quan đến nền văn minh nước Pháp là nước đang mở rộng vòng tay cứu giúp gia đình tôi…

LÀM NHÀ HÀNG Ở PHÁP

Khi còn ở với cha mẹ cũng như khi đã lập gia đình, không có lúc nào vợ tôi nghĩ đến việc nấu ăn bởi lúc nhỏ lo đi học, lúc lớn lên lo đi làm việc. Nhưng một khi đã qua đất Pháp vợ tôi phải nghĩ đến sinh kế gia đình. Phải làm nghề gì kiếm sống để phụ giúp chồng nuôi con nhỏ dại. Do đó vào năm 1990 chúng tôi vay tiền ngân hàng mở nhà hàng cơm Việt Nam ở Chalon-sur-Saône, tỉnh Saône-et-Lorie, vùng Bourgogne, cách Paris hơn 400 cây số ngàn về phía Nam.

Do một người cậu vợ tôi sang lại, nhà hàng tọa lạc ngay trước ga hỏa xa, đi hướng Bắc là về Paris, còn đi hướng Nam là đi Marseille. Vợ tôi học ôn cấp tốc các bài nấu ăn thịt bò, thịt heo, tôm kho, chả giò, gỏi cuốn, cách làm nước sauce. Tại phòng ăn có thuê người chạy bàn, biết pha rượu, nước ngọt. tính tiền. Nhà hàng đắt khách qua bốn mùa xuân hạ thu đông chẳng những khách tại địa phương còn khách từ Bắc Âu đi Vùng Ðịa Trung Hải, khách từ Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha đi lên miền Bắc Âu.

Những lần đi dạy về tôi chịu khó ghé Paris mua sắm các món cần dùng đem về nhà hàng. Những ngày nhà hàng nghỉ bán tôi chở nhà tôi đi Lyon miền Nam bổ túc các thứ cần dùng như gạo, nước mắm. Ðó là thú vui chạy xe theo xa lộ mặt trời, qua những vùng đồng quê, với những tháp chuông nhà thờ cao nhất từng xanh, ghé qua những nhà dừng chân dọc theo xa lộ, ngắm cảnh để nhớ đồng quê cỏ bay thẳng cánh hồi trước của mình. Chúng tôi đã có dịp bách bộ từ nhà hàng đến bờ sông Saône ngồi trên bờ cẩn đá ngắm dòng nước chảy, xem cánh chim bay trên nền trời xanh biếc mà nhớ Sông Tiền Sông Hậu bên nhà. Biết bao giờ mình trở về hay là gửi lắm xương tàn trên đất Pháp này?

Việc gì cũng đến chỗ kết thúc. Các con tôi sau khi thi đỗ tú tài ước ao được về vùng Paris học có nhiều chọn lựa hơn. Vợ chồng tôi sang gấp nhà hàng cơm về tậu nhà vùng Essonne, phía nam thủ đô Paris để các con có điều kiện theo học Ðại học. Giờ này đây các con đã thành gia thất, có nghề nghiệp sinh sống. Nguyễn Thị Kim Oanh, bào chế dược viên, Nguyễn Thị Kim Phượng, Tiến sĩ dược khoa, Nguyễn Thị Kim Loan, quang học viên, Nguyễn Thị Phương Thảo, Tài Chánh kế toán viên, Nguyễn Trung Chánh, kỹ sư Tin học, Nguyễn Thị Thanh Nga, y khoa Bác sĩ. Còn vợ chồng tôi xin hưởng hưu bổng, ít nhiều gì cũng được miễn sống cần kiệm là đủ. Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm, đó là sự thật muôn đời ở đâu cũng vậy thôi !

KẾT LUẬN

Tại sao tôi để tựa quyển sách mỏng này ” Trường học Trường đời “. Tôi học ở trường rất nhiều, từ lớp 5 Trường làng, lấy bằng tiểu học ở trường tỉnh Sa Ðéc, bằng trung học ở Mỹ Tho, bằng tú tài, bằng cử nhân, bằng tiến sĩ ở Sài Gòn, mong giúp ích xứ sở, giúp đỡ cha mẹ, anh em, các con. Từ trường làng Tân-hựu-Ðông đến Viện đại học Panthéon Sorbornne Paris con đường xa thăm thẳm, phải trải qua Mấy Dặm Sơn Khê. Ðã học nhiều ở trường học, tôi học càng nhiều hơn nữa ở trường đời, cho đến lúc nghiễm nhiên lãnh trách nhiệm góp phần xây dựng nền Ðệ Nhị Cộng hòa miền Nam, rồi bị đưa vào trại tù cải tạo, ăn cơm trộn đá sạn, để nằm gai nếm mật, tưởng chừng như giấc chiêm bao! May mà có nước Pháp ra tay cứu giúp trong cơn phong ba bão táp dập vùi!

Tôi xin độc giả hãy cùng tôi xem lại mấy dòng này của nhà văn Nguyễn Khắc Hiếu trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư của giáo sư Dương Quảng Hàm: “Người ta ở trong đời khi nổi khi chìm, lúc may lúc rủi, không rồi lại có, đầy rồi lại vơi, lên lên xuống xuống như cây thụt máy tàu. Tiền chôn bạc chứa chưa là giàu, nhà tranh vách đất chưa là nghèo, võng lọng ngựa xe chưa là vinh , xiềng xích gông cùm chưa là nhục. Những cái đó chỉ làm cho ta đương mừng hóa lo, đương buồn hóa sướng, say mê chìm đắm khóc hão thương hoài.”

Mùa đông Kỷ Hợi 2019 Les Ulis 91940 FRANCE

NGUYỄN VĂN TƯƠNG

TỰU TRƯỜNG LÀ GÌ HẢ MẸ…?

Lmdc Viet Nam

 *** Những mảnh đời bất hạnh vì lỡ được sinh ra trong thiên đường CH XH CN CSVN

***

TỰU TRƯỜNG LÀ GÌ HẢ MẸ…?

Về đi con, nhà mình còn lon gạo

Về nhà đi, mẹ nấu cháo cho ăn

Nhà mình nghèo khó nhọc kiếm miếng ăn

Con mơ chi chuyện cung hằng sao hỏa.

Về đi con, cả đêm qua đói lả

Mà sáng nay còn tất tả đến trường

Không có tiền, đừng cầu cạnh tình thương

Không học phí thì ra đường mà đứng.

Về đi con, đừng rưng rưng nước mắt

Lòng mẹ đau như ai cắt con ơi

Bởi mẹ cha sinh ra “bất phùng thời”

Lại vô tâm sinh con, đời con khổ.

Về đi con, chữ nghĩa đều vô bổ

Con người ta hùng hổ được nhờ tiền

Người hơn người nhờ cơ cấu, ưu tiên

Học cho giỏi, quá hiền đành thất nghiệp.

Về đi con, lật sách cha đọc tiếp

Chữ nghĩa nhân trong số phận con người

Học yêu thương, học khóc lẫn học cười

Học chân thật giữa kiếp người lừa lọc…

NVQ.

FB Doan Quoc Bao 

 

Phóng Viên Không Biên Giới: CSVN độc ác, tàn bạo vô giới hạn

Phóng Viên Không Biên Giới: CSVN độc ác, tàn bạo vô giới hạn

September 13, 2022

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) lên án nhà cầm quyền CSVN là “độc ác và tàn bạo vô giới hạn” về mặt nhân quyền.

Hôm Thứ Ba, 13 Tháng Chín, RSF chỉ trích bản án năm năm tù áp đặt lên đầu ông Lê Anh Hùng trong một phiên xử kín hồi cuối Tháng Tám vừa qua, bất chấp dư luận quốc tế.

Blogger Lê Anh Hùng trước khi bị bắt. Ông từng là cộng tác viên của Ban Việt Ngữ Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA Tiếng Việt). (Hình: Hội Anh Em Dân Chủ)

Nhà cầm quyền CSVN trước khi kết án tù đã nhốt ông trong bệnh viện tâm thần suốt bốn năm. Không những vậy, nhiều khi còn cột chặt người ông xuống một chiếc giường nan sắt từ ngày này sang ngày khác vì ông không chịu uống thuốc tâm thần. Ông cả quyết với họ là đầu óc ông tỉnh táo, bình thường chứ không bị tâm thần, hoang tưởng như họ gán ghép.

Nhà cầm quyền CSVN, cũng như Trung Quốc và Nga hiện nay vẫn có thói quen nhốt những người bất đồng chính kiến vào bệnh viện tâm thần để trả thù cho những phát biểu làm chế độ độc tài tức giận. Nhốt người vào bệnh viện tâm thần vốn có từ thời nước Nga còn là đế quốc Cộng Sản ở thế kỷ trước.

Tuy coi ông là kẻ tâm thần nhưng lại đem ra tòa kết án. Khi kết án ông năm năm tù ngày 30 Tháng Tám vừa qua, lại ngang nhiên xử kín dù lúc nào chế độ cũng thông báo là “phiên tòa xét xử công khai.” Trong trường hợp ông Lê Anh Hùng, bà mẹ ông chỉ biết được có phiên tòa xử khi bà gọi điện thoại cho công an hỏi thăm về trường hợp của ông.

RSF kêu gọi báo cáo viên đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về tra tấn và các hình thức tàn ác khác “hành động để bảo đảm 38 nhà báo độc lập có thể sống còn trong các nhà tù CSVN.”

Khi ông Lê Anh Hùng bị bắt năm 2018, Hà Nội cũng bắt nhà báo độc lập Đỗ Công Đương. Ông cũng bị vu cho tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ…” với bản án bốn năm tù. Sức khỏe của ông xấu đi nhanh chóng và không được chữa trị khi bị giam tại nhà tù ở huyện miền núi Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, nên qua đời ngày 2 Tháng Tám, 2022.

Tại bản xếp hạng về tự do báo chí thế giới hằng năm, năm nay CSVN hạng 174 trên tổng số 180 nước được RSF thực hiện chấm điểm. Hà Nội luôn luôn nằm trong nhóm cuối bảng cùng với những nước Cộng Sản, độc tài hay quân phiệt, tôn giáo cuồng tín khác như Bắc Hàn, Trung Quốc, Cuba, Iran, Lào, Miến Điện…

Blogger Lê Anh Hùng bị trói cả người trên giường sắt ngày 16 Tháng Bảy, 2020, vì từ chối uống thuốc tại bệnh viện Tâm Thần Hà Nội. (Hình: Facebook Nguyễn Vũ Bình)

Ông Lê Anh Hùng là thành viên của hai tổ chức dân sự như Hội Anh Em Dân Chủ và Hội Nhà Báo Độc lập. Trước khi bị bắt, ông từng là cộng tác viên viết blog bình luận, phân tích các vấn đề thời sự chính trị tại Việt Nam.

Sự chỉ trích của ông hiển nhiên dẫn đến sự trả thù. Trong mấy năm liên tiếp, ông gửi hàng trăm đơn tố cáo ông Hoàng Trung Hải, ủy viên Bộ Chính Trị, có thời là phó thủ tướng, tội buôn lậu và làm gián điệp cho Trung Quốc.

Theo RSF, nhà cầm quyền CSVN lạm dụng hệ thống tư pháp để áp đặt các bản án nghiệt ngã nhằm trừ khử các nhà báo độc lập dùng mạng xã hội đả phá độc tài đảng trị. (TN) [qd]

Tại sao Việt Nam lại tệ như thế?

Tại sao Việt Nam lại tệ như thế?

14-9-2022

Cứ mỗi lần xem hình ảnh, hay tin tức về tổn thất kinh hoàng của quân đội Nga trong cuộc xâm lược Ukraine, tôi lại đặt ra câu hỏi: Vì đâu nên nỗi?

Cùng câu hỏi ấy, tôi cũng đặt ra khi xem tin tức về vụ 39 người Việt chết thê thảm trong thùng xe đông lạnh ở nước Anh.

Ký ức lại dắt tôi về câu chuyện mấy mươi năm về trước, khi tôi đi thăm hai người bạn ở Sofia, Bulgaria. Lúc ấy nước này đã không còn sự cai trị độc đảng của người cộng sản nữa. Đi giữa những phố phường cũ kỹ, rải rác những “di tích” bê tông xấu xí thời cộng sản (lăng Dimitrov chẳng hạn), Milene, bạn tôi cứ nhiếc móc thậm tệ người … Nga, những kẻ mà theo họ đã gây ra sự èo uột của nước Bulgaria mấy mươi năm.

Tôi bèn thử phản biện: Này, tôi thấy các bạn không công bằng, cái gây ra khổ nạn cho Bulgaria là chế độ cộng sản Soviet, chứ đâu phải người Nga. Họ cũng chịu nạn cộng sản như các bạn vậy? Tôi thấy người Nga họ cũng dễ mến mà!

Milene nhìn sững vào tôi: Họ có thể dễ mến, nhưng họ ngu ngốc quá, cứ để cho cái bọn độc tài nó đè đầu cưỡi cổ, từ Sa hoàng, cho đến Lenin, Stalin…

Tôi không bao giờ quên câu mắng nhiếc một dân tộc thậm tệ như thế của Milene. Cứ mỗi lần nhớ tới nó, tôi lại chột dạ: Không biết có ai nói dân Việt Nam cũng là những người dễ mến, nhưng ngu ngốc vì để bọn độc tài đè đầu cưỡi cổ không?!

Đã có nhiều tranh cãi vì sao người Việt lại “cam tâm” nằm dưới sự cai trị của đảng Cộng sản gần nửa thế kỷ như thế (đối với miền Bắc Việt Nam thì đã gần 70 năm), thậm chí là có cả một lý giải khá siêu hình là chuyện quả báo của người Việt, vì họ là thủ phạm tiêu diệt cả một nền văn minh Champa rực rỡ, gần như diệt chủng cả một giống nòi.

Người Việt thì không bị diệt chủng, mà họ ngày càng đông lên, nhưng lại không tạo được một cuộc sống xã hội bình thường như những người bình thường nghĩ đến.

Trước đây, nông dân nghèo từ những vùng “toàn cát” như Nghệ Tĩnh, Quảng Bình,… đổ vào các khu công nghiệp mới mở vùng Đông Nam Bộ để bán sức lao động rất rẻ của họ cho tư bản nước ngoài. Bây giờ thì đến cả nông dân vùng sông nước vang bóng một thời là miền Cửu Long, cũng đổ lên phố kiếm việc, để lại cả một vùng quê xơ xác.

Mà lên phố như vậy cũng có đổi đời được là mấy. Chỉ mấy mươi ngày cách ly chống dịch Covid hồi giữa năm 2021, đã làm cho cả triệu công nhân chạy nháo nhào vì… đói.

Học trò giỏi, sau khi được ra nước ngoài học hành, thì tìm cách ở lại, vì về nước để làm gì?

Mà đâu chỉ học trò giỏi, học trò không giỏi đi làm thuê ở nước ngoài (gọi cho sang là hợp tác lao động), cũng tìm cách ở lại.

Trước đây các em gái ít học vùng Cửu Long lớn lên thì theo mai mối đi lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, nay có vẻ khuynh hướng này chuyển sang cả các em có học. Mới đây thành phố Mungyeong ở Hàn Quốc đề ra “chính sách” khuyến khích các nông dân già, ế vợ, lấy nữ du học sinh Việt Nam để gia tăng dân số.

Trên đây tôi chỉ liệt kê ra những gì liên quan tới vật chất, đo đếm được, chứ không bàn đến chuyện tinh thần. Chuyện này rất khó tranh cãi vì nó tùy thuộc vào quan điểm, quan niệm,… chẳng hạn như những ồn ào gần đây về cúng vong, giải hạn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Đương nhiên đảng Cộng sản Việt Nam là người chịu trách nhiệm cho tất cả những sự khổ ải ấy của người dân Việt Nam, vì có ai khác ngoài họ cầm quyền đâu.

Tuy nhiên sẽ có một câu hỏi được đặt ra là tại sao họ (đảng Cộng sản Việt Nam) cầm quyền tệ hại như vậy mà không ai làm gì được họ cả?

Điểm lại những thay đổi triều đại ở Việt Nam từ khi có sử ghi chép đến nay, chúng ta không thấy có bất cứ triều đại nào bị dân chúng lật đổ cả, mà chỉ kết thúc bằng những cuộc xâm lăng từ bên ngoài, hoặc bằng những thanh toán cung đình, như từ triều Lý chuyển sang triều Trần, triều Trần chuyển sang triều Hồ, hay là cuộc nội chiến kéo dài Trịnh và Nguyễn, Tây Sơn và Nguyễn Ánh.

Tóm lại là không có … cách mạng!

Đó là mẫu số chung của nền văn minh Trung Hoa mà Việt Nam sống trong ảnh hưởng của nó cả ngàn năm.

Trong nền văn minh của những … quan phụ mẫu, dân chúng rất vâng lời, không phản kháng. Trước kia không phản kháng các vị tiên chỉ, thì nay cũng không phản kháng các vị bí thư chi bộ xã.

Chủ nghĩa cộng sản, một sản phẩm thất bại của nền văn minh Do Thái Ki Tô phương Tây đến với Trung Quốc, Tiều Tiên và Việt Nam trong bối cảnh “giải thực”, nên đã thắng thế. Tại miền đất mới, nó biến dạng và lai tạp với đám quan phụ mẫu phương Đông. Đứa con lai ấy chính là chế độ gọi là cộng sản ở Việt Nam.

Nó lai thêm lần nữa sau biến cố Đông Âu năm 1989, để biến thành kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dân chủ tập trung, trong đó vẫn còn các quan phụ mẫu, và vẫn còn đám dân chúng không bao giờ cãi cơ quan công quyền.

Cuộc đô hộ trăm năm của người Pháp, cuộc can thiệp chống cộng sản 20 năm của người Mỹ, tạo nên một nhóm người Việt có ý thức khác với các “quan phụ mẫu”. Nhưng nhóm này vẫn là một thiểu số rất ít trong xã hội Việt Nam. Với cái số ít đó, những ai muốn phản kháng thì phản kháng… bằng chân. Nói hoa mỹ là bỏ phiếu bằng chân.

Nhưng đừng tưởng bỏ phiếu bằng chân, sang đến “bến bờ tự do” rồi thì sẽ không còn các “tiên chỉ” nữa. Trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại cũng có đầy các “tiên chỉ”. Chỉ có điều là trong môi trường xã hội mới, sự “tinh tướng” của các “tiên chỉ” này bị giới hạn rất nhiều, vợ con họ không còn bị họ tác oai tác quái nhiều như khi còn ở cố hương.

Trở lại câu hỏi tại sao của tôi ở đầu bài, tôi không đủ kiến thức để trả lời chuyện người Nga cứ húc đầu vào chỗ tai ương (thời thế chiến thứ nhất, quân đội Nga bị các ký giả phương Tây gọi là cái cối xây thịt, vì họ chết rất nhiều).

Đối với Việt Nam thì thủ phạm cho cái chết của các cô gái Việt trong thùng xe đông lạnh ở Anh, hay cô du học sinh Việt nào đó lấy ông nông dân Hàn Quốc già (có gì khác nhau?), chính là các… “tiên chỉ”.

Có người sẽ không đồng ý với tôi mà hét lên rằng: Thủ phạm là cộng sản.

À vâng, cộng sản!

Putin, Gorbachev, và hai tầm nhìn về sự vĩ đại của nước Nga

Putin, Gorbachev, và hai tầm nhìn về sự vĩ đại của nước Nga

 

Gideon Rachman, “Putin, Gorbachev and two visions of Russian greatness,” Financial Times, 05/09/2022

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Điện Kremlin đã quay trở lại với các phương pháp và mục tiêu dựa trên sự chinh phạt, sự sợ hãi và tàn bạo.

Donald Trump từng hứa sẽ làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại. Khẩu hiệu yêu thích của Tập Cận Bình là hướng đến “sự phục hưng vĩ đại” của dân tộc Trung Hoa. Vladimir Putin cũng được thúc đẩy bởi một mong muốn tương tự: hồi sinh nước Nga vĩ đại.

Nhưng thế nào là một quốc gia vĩ đại? Putin và Mikhail Gorbachev, người vừa qua đời vào tuần trước, lại có suy nghĩ khác nhau.

Đối với Putin, sự vĩ đại của một quốc gia được xác định bằng lãnh thổ, sức mạnh quân sự, và khả năng khiến các nước láng giềng khiếp sợ hoặc khuất phục. Nhà lãnh đạo Nga tin rằng đất nước ông có quyền trở thành một trong những cường quốc trên thế giới. Ông cho rằng nước Nga đã “bị cướp” khi Ukraine giành độc lập, và chìa khóa để xây dựng lại sức mạnh và tầm vóc quốc gia là giành lại lãnh thổ đã mất. Quyết định xâm lược Ukraine là đỉnh điểm của nỗi ám ảnh này.

Đối với Gorbachev, sự vĩ đại của một quốc gia lại tập trung nhiều hơn vào phẩm giá của những công dân bình thường. Trong một cuộc phỏng vấn hồi năm 2001 với nhà sử học Daniel Yergin, ông nhắc đến việc Liên Xô không có khả năng cung cấp cho công dân của mình những nhu yếu phẩm hàng ngày: “Hãy tưởng tượng một quốc gia có thể bay vào vũ trụ, phóng Sputniks, tạo ra một hệ thống phòng thủ mạnh mẽ … [Nhưng] không có kem đánh răng, không có bột giặt, không có những hàng hóa cơ bản cho cuộc sống. Thật không thể tin được và thật nhục nhã khi phải làm việc trong một chính phủ như vậy.”

Việc thường dân Nga không còn phải chịu đựng cảnh thiếu thốn như xưa phần lớn chính là nhờ các cải cách kinh tế của Gorbachev, dù chúng đã được triển khai một cách khá do dự. Những người đổ lỗi cho ông vì đã phá hủy nền kinh tế Liên Xô nên nhớ lấy điều đó.

Ý tưởng về phẩm giá con người của cựu lãnh đạo Liên Xô cũng đã mở rộng sang quyền tự do ngôn luận. “Thật không thể tin được và thật nhục nhã,” khi mà dưới chế độ Xô-viết, những người có học thức phải sống trong một thế giới của những lời nói dối, khẩu hiệu và sự kiểm duyệt chính thức. Gorbachev đã thay đổi điều đó bằng cách giải phóng báo giới và ngành công nghiệp sáng tạo, trả tự do cho những người bất đồng chính kiến, và cho phép tiếp tục những nghiên cứu lịch sử thực sự. Còn Putin đang đưa nước Nga trở lại với sự đàn áp theo kiểu Liên Xô – khi ông cho đóng cửa các phương tiện truyền thông độc lập còn sót lại, bỏ tù những thành viên đối lập, và biến việc thừa nhận rằng Nga đang có chiến tranh trở thành một hành vi phạm tội.

Quan trọng hơn, ý tưởng về phẩm giá con người của Gorbachev đã vượt ra ngoài biên giới nước Nga. Quyết định quan trọng nhất, chính trực nhất mà ông từng đưa ra là không gửi xe tăng Liên Xô đến Ba Lan, Hungary, hoặc Đông Đức vào năm 1989 khi các phong trào dân chủ nở rộ.

Trong một thời gian ngắn ngủi, một nhà lãnh đạo Nga đã trở thành một biểu tượng quốc tế của tự do chính trị. Khi Gorbachev đến thăm Đông Berlin vào tháng 10/1989, một tháng trước khi Bức tường Berlin sụp đổ, đám đông đã hô vang “Gorby hãy giúp chúng tôi.” Khi ông đến thăm Bắc Kinh vào tháng 5, những sinh viên biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn đã ca ngợi ông như một anh hùng – một nhà lãnh đạo đã chứng tỏ rằng các chế độ chuyên chế cũng có thể cải cách và không cần phải giết chết người biểu tình trên đường phố. Nhưng giấc mơ ấy đã kết thúc bằng vụ thảm sát ở Quảng trường Thiên An Môn chỉ một tháng sau đó.

Đúng là những phản ứng của Gorbachev không phải lúc nào cũng cao thượng và bất bạo động. Ông được nhớ đến cùng sự ghét bỏ ở các nước Baltic, vì đã mang quân đội Liên Xô đến đây hồi năm 1991 trong một nỗ lực (thất bại) để ngăn chặn phong trào giành độc lập của họ.

Tuy nhiên, những người ủng hộ Putin sẽ là những người đầu tiên chỉ ra, Gorbachev thiếu sự tàn nhẫn để tiếp tục chiến đấu và giết chóc cho đến khi quyền lực của Moscow được khôi phục. Putin quyết tâm không lặp lại “sai lầm” đó, và kết quả là Ukraine đã phải trả một cái giá khủng khiếp về nhân mạng. Khi câu chuyện về những gì thực sự đã xảy ra trong chiến dịch bao vây Mariupol của quân Nga bị vỡ lở, nó có thể vạch trần một tội ác chiến tranh có quy mô lịch sử – với hàng nghìn dân thường bị giết và chôn vùi trong những ngôi mộ tập thể.

Đối với Putin, những vụ thảm sát như Mariupol chỉ là một dấu chấm nhỏ khi so sánh với sứ mệnh lịch sử của ông là khôi phục nước Nga vĩ đại. Những kỳ vọng ban đầu của ông về chiến thắng trước Ukraine chỉ trong vài ngày đã bị tiêu tan. Nhưng ông đã sớm gạt bỏ thất vọng bằng cách so sánh mình với Peter Đại đế, người đã giành chiến thắng cuối cùng trong Đại chiến phương Bắc kéo dài hơn 20 năm.

Đó là một so sánh hàm chứa nhiều điều. Peter Đại đế là một bạo chúa, khét tiếng bởi sự thờ ơ tuyệt đối trước những thiệt hại về nhân mạng. Hàng nghìn người đã chết trong quá trình xây dựng thủ đô mới của ông, St. Petersburg. Peter cũng áp dụng chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc để tiến hành các cuộc chiến của mình. Đây là một bước đi mà Putin cho đến nay vẫn không muốn thực hiện. Bất chấp những luận điệu kiểu Sa hoàng của mình, có lẽ ông ta vẫn hiểu được sự nguy hiểm của việc đối xử với những công dân thế kỷ 21 như nông nô thế kỷ 18.

Putin có thể tin rằng chiến thắng trên chiến trường và trong cuộc chinh phục lãnh thổ là những cách thức duy nhất để khôi phục sự vĩ đại của quốc gia. Nhưng điều mà Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ gọi là “sự nghiêm túc tôn trọng ý kiến của nhân loại” cũng cần được cân nhắc. Nước Nga hiếu chiến không được đánh giá cao ở điểm này. Một cuộc khảo sát quốc tế do Đại học Pennsylvania và nhiều tổ chức khác thực hiện vào năm ngoái cho thấy ba quốc gia được ngưỡng mộ nhất trên thế giới là Canada, Nhật Bản, và Đức.

Cả ba nước đều được đánh giá cao dựa trên các tiêu chí như chính phủ trong sạch, tôn trọng nhân quyền, và công bằng xã hội. Đây là những điều ít được coi trọng ở nước Nga của Putin, nhưng lại được những cá nhân và chính phủ quan tâm đến phẩm giá con người coi trọng.

Putin đã thể hiện sự khinh thường của mình đối với những giá trị này – những giá trị mà Gorbachev đề cao – bằng cách tuyên bố rằng mình quá bận rộn, không thể đến tham dự lễ tang của vị cựu tổng thống. Hàng nghìn người Nga thinh lặng đứng trước quan tài mở của Gorbachev đã thể hiện sự bất đồng của họ.

G.R.

Nguòn bản dịch: nghiencuuquocte.org

Quân Nga ‘bỏ chạy như những vận động viên chạy Olympic’ khi Ukraine chiếm lại vùng Đông – Bắc

Quân Nga ‘bỏ chạy như những vận động viên chạy Olympic’ khi Ukraine chiếm lại vùng Đông – Bắc

Financial Times

12-9-2022

Lính Ukraine đứng chào cờ tại Balaklyia, Kharkiv trước khi di chuyển tới Kupyansk. Ảnh: Getty images

Chỉ huy Ukraine Petro Kuzyk biết bí mật của cuộc tấn công dẫn đến sự sụp đổ của quân Nga ở phía đông bắc đất nước này – đó là sự kết hợp của quyết tâm gan dạ, kế hoạch cẩn thận và sử dụng khôn khéo các thiết bị quân sự phương Tây với số lượng hạn chế.

Kết quả là, cuộc tiến công của quân đội Ukraine đã giải phóng 3.000 km vuông chỉ trong sáu ngày, là chiến thắng lớn nhất của Ukraine kể từ khi đẩy lùi quân đội Nga khỏi Kyiv vào tháng 3. Nhiều người Ukraine hy vọng cuộc tấn công này có thể đóng vai trò một bước ngoặt trong cuộc xung đột kéo dài gần 7 tháng qua.

Kuzyk, chỉ huy lực lượng phản ứng nhanh Svoboda của lực lượng vệ binh quốc gia Ukraine tham gia cuộc tấn công cho biết: “Cuộc phản công của chúng tôi đã được chuẩn bị từ lâu. Chúng tôi đã làm suy giảm khả năng phản kích của họ với những pha tấn công liên tục và chính xác… Bộ tham mưu [cũng] đánh lạc hướng, làm họ nghĩ rằng cuộc phản công lớn sẽ đến từ phía nam“.

Vào thời điểm Kuzyk và các chiến sĩ tấn công hồi tuần trước, quân Nga xung quanh góc đông nam của tỉnh Kharkiv đã rất hoảng sợ. Nhiều người bỏ chạy vội vã đến nỗi các bữa ăn vẫn còn nguyên trên bàn căng tin, và có những thùng đạn dược có giá trị và vũ khí khác được bỏ lại gần chiến hào.

Kuzyk nói với Financial Times: “Chúng tôi đã hy vọng vào một thắng lợi nhưng không ngờ quân Nga lại hèn nhát đến vậy”, giọng nói của anh chùng xuống vì kiệt sức sau sáu ngày chiến đấu. “Họ đã bỏ lại xe tăng và thiết bị quân sự… thậm chí còn lấy xe đạp để tẩu thoát. Việc quân đội Nga đã hoàn toàn tự tan rã khiến công việc của chúng tôi trở nên dễ dàng hơn; họ bỏ chạy như những vận động viên chạy nước rút Olympic”.

Theo Tướng Valeriy Zaluzhnyi, chỉ huy quân đội Ukraine, cuộc tấn công của Ukraine xung quanh Kharkiv đã đẩy quân Nga trở lại trong phạm vi 50 km tính từ biên giới ở biên giới phía đông bắc. Cuộc tấn công này được thực hiện sau khi có các cuộc tấn công khác vào vị trí chiến lược Kherson ở phía nam.

Chiến dịch dùng vũ khí tổng hợp, trong đó Ukraine triển khai một cuộc tấn công phối hợp với xe tăng, bộ binh và lực lượng yểm trợ trên không, đã làm những người hay hoài nghi, vốn cho rằng quân đội Ukraine thiếu quân và thiết bị để phá vỡ thế bế tắc quân sự hiện tại, đã phải im lặng.

Cuộc tấn công này đã biến chiến lược có chủ ý của Kyiv thành sự thật, đó là ăn mòn sức mạnh quân số và dàn pháo khổng lồ của Nga bằng cách sử dụng các cuộc tấn công bằng tên lửa và pháo chính xác hơn của phương Tây cũng như các cuộc tấn công của quân du kích để phá hủy các bãi chứa đạn, căn cứ hậu cần và sở chỉ huy quan trọng của Nga phía sau chiến tuyến.

Bộ trưởng Quốc phòng Oleksii Reznikov đã gọi đó là chiến lược “David đấu với Goliath”. Trong cuộc tấn công ở phía đông bắc Ukraine, điều đó có nghĩa là phải chiếm được các tuyến đường sắt và các trung tâm hậu cần mà quân Nga sử dụng để di chuyển lượng vũ khí và nhiên liệu khổng lồ mà Nga cần để duy trì lợi thế về pháo binh và quân số trước những người lính Ukraine được trang bị kém hơn.

Serhiy Kuzan, cố vấn quân sự của Bộ Quốc phòng Ukraine, người vừa trở về từ mặt trận phía đông, cho biết: “Nếu bạn tiêu diệt được lợi thế bất đối xứng mà quân Nga có được nhờ pháo binh, họ không chỉ ngừng chiến đấu mà thậm chí còn bỏ chạy. Đây là bí mật của chiến dịch này. Quân đội Nga chỉ là một quả bóng bay xì hơi”.

Điều khiến mọi người ngạc nhiên là tốc độ mà quả bóng Nga đã xì hơi, ít nhất là trong đoạn đường dài 1.300 km này. Lúc đầu, quân lính Ukraine di chuyển đến Balakliia, và Kuzyk nói rằng tại đây các lực lượng phòng thủ của Nga “được tổ chức một cách hỗn loạn… với tuyến đầu tiên được canh phòng cẩn mật” nhưng tuyến thứ hai và thứ ba chỉ là “các chốt quan sát lẻ tẻ”.

Khi Balakliia bị bao vây, quân Ukraine đã tiến vào Kupyansk, một trung tâm đường sắt và đường bộ cung cấp quân khí cho hệ thống phòng thủ của Nga ở phía đông bắc. Điều này khiến quân đội Nga đóng tại Izyum gần đó bị ảnh hưởng.

Kuzan nói: “Toàn bộ kho vũ khí của họ dọc theo trục Izyum đã bị khống chế. Người Nga có lợi thế về vũ khí, nhưng tốc độ của lực lượng của chúng tôi không cho phép họ khai thác nó.”

Hỗ trợ đà tiến quân của Ukraine, Bộ Quốc phòng Nga sau đó cho biết hôm 9/9 rằng, họ đã ra lệnh cho quân đội của mình rút lui khỏi Balakliia và Izyum, tuyên bố rằng điều này sẽ cho phép họ tập trung vào một chiến tuyến khác. “Họ nói rằng đó là một cuộc sơ tán. Nhưng đó là [một] cuộc rút lui trong hoảng loạn,” Kuzan nói.

Cả Kuzyk và Kuzan đều cho rằng Ukraine cần thêm vũ khí để tiếp tục đẩy lùi quân Nga. Kuzyk nói: “Nếu chúng tôi đạt được điều đó, thách thức của quân Nga sẽ là ngăn chặn lực lượng của chúng tôi ở biên giới“.

Hiệu quả chiến lược của những gì cuộc tấn công này đã đạt được – ngoài những dải đất rộng lớn tự do trên lãnh thổ Ukraine còn thưa thớt dân cư – vẫn còn chưa rõ ràng. Reznikov cho biết: “Sự phát triển của chiến dịch này đã tốt hơn những gì chúng tôi mong đợi và điều đó có nghĩa là Bộ tổng tham mưu lục quân cũng sẽ thay đổi kế hoạch của họ tùy theo kết quả thành công của chiến dịch”.

Xe bọc thép quân Nga bỏ lại ở Balaklyia, Kharkiv. Ảnh: AFP

Mark Galeotti, một nhà phân tích quân sự và quan sát Điện Kremlin kỳ cựu, cảnh báo: “Bạn không bao giờ được đánh giá thấp hoàn toàn người Nga, ngay cả khi họ có vẻ giống như một đội quân của Keystone Cops.

Nhưng [cuộc tấn công] tạo ra cho Ukraine động lực quân sự thần kỳ, điều này đã khiến cho người Nga mất công suy đoán xem điều gì có thể xảy ra tiếp theo và Nga sẽ buộc phải phân tán quân đội của mình theo đủ các cách khác nhau”.

Những gì Nga đã làm được là mang lại cho Ukraine một động lực lớn về mặt tinh thần – cho quân đội của họ và cho các đối tác phương Tây – đồng thời làm suy giảm nghiêm trọng lòng tin của Nga. Ramzan Kadyrov, nhà lãnh đạo mạnh mẽ của Chechnya, nằm trong số những người đang chỉ trích quân đội Nga về việc rút lui. Kadyrov nói rằng nếu chiến lược của quân Nga không thay đổi, ông sẽ nói chuyện với “lãnh đạo của đất nước Nga”.

Cuộc tấn công đã “tàn phá tâm lý và tinh thần của binh lính Nga – và tinh thần chiến đấu là chìa khóa cho các binh sĩ bộ binh, nếu không có nó, họ không có cơ hội nào”, Kuzan nói. Cuộc tấn công cũng đã đánh gục “tinh thần của xã hội Nga; chúng tôi đã thấy họ đang tìm kiếm ai đó để đổ lỗi”.

Giáo dục đơn nguyên và chuyện cô cháu gái

Giáo dục đơn nguyên và chuyện cô cháu gái

Nguyễn Ngọc Già

Bốn tin tức về giáo dục mới nhứt, như dưới đây:

1. Tỉnh Hưng Yên đang xác minh hàng trăm gia đình đồng loạt cho con nghỉ học [1]

2. Một thầy giáo dạy môn Ngữ Văn cấp III đã dùng thước và nón bảo hiểm đánh vào đầu học sinh [2].

3. Thầy giáo đâm chết đồng nghiệp tại căn tin nhà trường [3].

4. Khởi tố nữ sinh 16 tuổi đã lột đồ, hành hung và làm nhục bạn giữa đường [4]

càng khiến người dân hoang mang hơn bao giờ hết, khi toàn bộ học trò vừa khai giảng cho niên khóa mới 2022 – 2023.

Người dân không hiểu tại sao giáo dục gần nửa thế kỷ qua đi, với sự lãnh đạo của ĐCSVN, sáng suốt là như thế – trí tuệ là như vậy, bỗng ngày càng ghê rợn khủng khiếp như một xã hội vô chính phủ, khiến người dân bất an vô cùng!

Song song bốn tin trên, thêm 2 tin liên quan về giáo dục:

1. Hà Nội dự kiến chi 1.130 tỷ đồng hỗ trợ 50% học phí năm nay [5].

2. Nhà cầm quyền CSVN đang xem xét để kỷ luật ông Phùng Xuân Nhạ – nguyên là Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo – trong quãng thời gian ông ta chịu trách nhiệm về giáo dục toàn cõi xứ thiên đàng [6];

liệu số tiền hơn ngàn tỷ đó và việc kỷ luật cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo sẽ thay đổi được gì (?).

Giáo dục phi triết lý – phản triết học

Thể chế chính trị nào sanh ra cơ chế giáo dục đó. Với thể chế đơn nguyên độc đảng tại Việt Nam, dĩ nhiên, giáo dục chắc chắn là một nền giáo dục đơn nguyên. Tính đơn nguyên đã loại bỏ tất cả những gì gọi là “sáng tạo” và “phong phú” trong việc dạy học, ngay từ những ngày trẻ chập chững bước vào lớp Một – lớp học vô cùng quan trọng cho tất cả trẻ em, để hình thành nhân cách và phẩm hạnh làm người.

Xứ thiên đàng với giáo dục XHCN, dù có đài thọ 100% học phí hay kỷ luật cấp cao nhứt trong giáo dục cũng không thể thay đổi gì cả là vậy. Bởi giáo dục XNCH không dạy “LÀM NGƯỜI” – trước khi cung cấp các môn học khác – ngay từ lớp thấp nhứt trong hệ thống giáo dục căn bản – vốn là điểm khởi đầu. Điều này có nghĩa, khi trẻ đã bước qua tuổi 15, vô cùng khó khăn để dạy về nhân cách. Cho nên – tới chương trình cấp Ba – những chương trình thuộc lãnh vực “giáo dục công dân” nhằm dạy và hình thành cho trẻ ý thức làm công dân – ngưỡng cửa của tuổi 18 – chứ không dạy về đạo đức nữa. Vì vậy, cho tới đại học, những bài giảng về đạo đức Hồ Chí Minh trở nên thừa thãi – nhàm chán và không hề có tác dụng gì, ngoài việc sinh viên buộc phải có đủ tín chỉ để ra trường.

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, tính từ 1975, nền giáo dục của nhà nước CHXHCNVN dường như không có lối thoát và con đường đi lên hay đi tới vẫn nằm đâu đó xa ngái và đầy chập chùng, hiểm nguy cùng với rủi ro đầy ắp, trên “con đường đến lớp” vốn được vẽ lên thật êm đềm và lãnh mạn, dành cho học trò – phụ huynh – thầy cô. Tuy vậy, “nền giáo dục XHCN” hoàn toàn logic, bởi chịu sự lãnh đạo của ĐCSVN mà cho tới nay vẫn loay hoay con đường tiến lên XHCN, lại không hề có một tia sáng le lói nào cho người Việt Nam, bất chấp “hết mưa là nắng hửng lên thôi” của ông Nguyễn Xuân Phúc – Chủ tịch nước CHXHCNVN – vừa phát ngôn trong lễ khai giảng năm học này [7].

Chuyện cô cháu gái

Bất chấp cải cách, bất chấp đầu tư giáo dục, bất chấp sự quan tâm của đảng và nhà nước, nền giáo dục XHCN chưa hề làm cho người dân an tâm trong hiện trạng xã hội đang đối diện với quá nhiều xáo trộn.

Người dân quèn và người dân nghèo buộc phải tự xoay xở, lo lắng cho tương lai có vẻ mờ mịt và vô định của con em mình. Dười đây là câu chuyện thật về cô cháu gái từ năm 2019.

Cô cháu gái lên 15, còn vài tháng nữa sẽ thi. Cô bé không chịu học nữa. Ba mẹ nó hỏi ý kiến tôi.

Lâu ngày, mới gặp cô bé. Tuổi 15, nó lớn phổng phao, ra dáng thiếu nữ với cặp giò dài, da ngăm ngăm – đúng “mốt” trẻ hiện nay. Cô bé cũng facebook như bao đứa trẻ khác. Nó thật sự sốc với hiện trạng học đường hiện nay, khi xem clip nữ sinh đánh nhau không thua đám đánh mướn.

Tôi khuyên nó:

– Còn vài tháng nữa thôi, con ráng học cho xong đi.

Nó lắc đầu quầy quậy và buông một câu nghe choáng váng:

– Tại bác hổng biết chớ! Bây giờ trong trường còn phức tạp hơn ngoài xã hội nữa!

Tôi trợn tròn mắt. Nó tiếp:

– Bác tưởng ngoài xã hội phức tạp hơn à? Không! Ở ngoài xã hội, người ta còn có quyền chọn bạn mà chơi. Trong trường mà hổng chịu chơi với mấy bạn “đầu gấu” là ăn đập liền!

Nghe mà đau điếng!

Tôi nói với ba mẹ nó:

– Nó đã nói vậy thì cũng nên cho nó nghỉ học đi.

Ba nó phân vân:

– Nhưng nhỏ quá! Nó nghỉ học rồi làm gì bây giờ, anh?

Tôi khuyên:

Hãy cho nó đi học nghề. Chọn những nghề nữ công gia chánh như: nấu ăn, làm bánh, cắm hoa, may vá hoặc học nail. Còn không cho nó học làm tóc, make-up, thiết kế thời trang.

Thời buổi này, đừng nghĩ đến mảnh bằng đại học nữa. Vô giá trị, vô dụng. Hãy nhìn các ông bà “giáo sư tiến sĩ” các loại mà coi! Và biết bao nhiêu sinh viên ra trường thất nghiệp, chạy grab và làm đủ thứ nghề mưu sinh. Bốn năm đại học, chỉ phí tiền. Quan trọng nhất là đứa trẻ sẽ chán ngán, bỏ nửa chừng càng nguy hiểm.

“Thời đại kỹ sư, bác sĩ” mà thế hệ chúng ta mong muốn đã quá lạc hậu rồi. Hơn nữa, cho nó học những nghề như nấu ăn, bartender, khi tốt nghiệp rất dễ kiếm việc, vì nhà hàng, khách sạn, resort bây giờ rất nhiều.

Nhưng học gì thì học, nhớ phải cho nó học tiếng Anh. Thế hệ tụi nhỏ mà không có tiếng Anh không được. Khi nó giỏi tiếng Anh và giỏi nghề càng có cơ hội làm việc nước ngoài, vì các quốc gia văn minh hiện nay họ rất coi trọng những nghề mang tính nghệ thuật. Tương lai của con bé là chỗ đó

Giáo dục bây giờ nát bấy! Đừng làm khổ xấp nhỏ nữa! Đây cũng là lời khuyên chân

thành của tôi đến các bậc phụ huynh.

N.N.G.

Nguồn: RFAvietnam

[1] https://thanhnien.vn/hung-yen-xac-minh-viec-hang-tram-gia-dinh-dong-loat-cho-con-em-nghi-hoc-post1498037.html

[2] https://thanhnien.vn/xon-xao-vu-viec-thay-giao-dung-thuoc-non-bao-hiem-danh-vao-dau-hoc-sinh-post1497991.html

[3] https://thanhnien.vn/tam-giu-hinh-su-thay-giao-day-the-duc-dam-dong-nghiep-tu-vong-tai-can-tin-cua-truong-post1497419.html

[4] https://tuoitre.vn/khoi-to-nu-sinh-16-tuoi-lam-nhuc-ban-giua-duong-20220907203728665.htm

[5] https://thanhnien.vn/ha-noi-du-kien-chi-1130-ti-dong-ho-tro-50-hoc-phi-nam-nay-post1498054.html

[6] https://congan.com.vn/tin-chinh/vi-pham-cua-nguyen-bo-truong-gddt-phung-xuan-nha-den-muc-phai-xem-xet-ky-luat_136650.html

[7] https://danviet.vn/chu-tich-nuoc-nguyen-xuan-phuc-gui-thu-nhan-dip-khai-giang-het-mua-la-nang-hung-len-thoi-20220904161746202.htm

Chân dung văn nghệ sĩ Việt qua họa sỹ trẻ Trần Thế Vĩnh

Chân dung văn nghệ sĩ Việt qua họa sỹ trẻ Trần Thế Vĩnh

Là một họa sĩ hãy còn trẻ tuổi đời nhưng rất vững tay cầm cọ, Trần Thế Vĩnh đang chuẩn bị ra mắt những người yêu nghệ thuật một tuyển tập gồm 51 chân dung văn nghệ sĩ Việt Nam thành danh từ trước năm 1975.

Chân dung gồm những người đã mất nhưng cũng có những người vẫn còn tiếp tục sự nghiệp văn chương – văn nghệ cho đến ngày hôm nay. Họ đến từ khắp các miền đất nước, lại còn có những người đang sinh sống tại hải ngoại.

Tất cả sẽ góp mặt trong bộ chân dung được phác họa bởi một họa sĩ “tuổi trẻ – tài cao”, tràn đầy nhựa sống. Họa sĩ sáng tác 51 chân dung trong 2 năm 2018-2019 và đến năm nay đã có giấy phép xuất bản. Hy vọng một ngày rất gần chúng ta sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng những khuôn mặt văn nghệ sĩ quen thuộc.

Họa sĩ Trần Thế Vĩnh sinh ra tại Quảng Trị, học vẽ tại Huế và hiện ở Sài Gòn. Ngoài tài vẽ chân dung, anh còn có những tác phẩm về phong cảnh, tĩnh vật và một chút hội họa trừu tượng.

Bộ sưu tập 51 chân dung văn nghệ sĩ là một con số không nhiều nhưng cũng không ít. Phải nói đây là bộ sưu tập vừa phong phú lại vừa quý hiếm đối với những người quan tâm đến nghệ thuật và cả những người làm nghệ thuật.

Người xem tranh có thể cảm nhận cái thần thái “nửa điên nửa tỉnh” của Bùi Giáng; vẻ “tiên phong đạo cốt” của Văn Cao, Hữu Loan, Phùng Quán, Trần Dần; nét đạo mạo của Phạm Công Thiện, Nguyễn Hiến Lê, Cung Trầm Tưởng; vẻ khắc khổ của Phan Khôi, Phạm Đình Chương, Nguyễn Bắc Sơn hay chân quê của Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử…

Chúng tôi xếp 51 chân dung văn nghệ sĩ theo danh sách từng nhóm theo mẫu tự để các bạn tiện theo dõi.

***

Hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí (1908-1993), cùng với Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn tạo thành “bộ tứ họa sĩ nổi tiếng thời kỳ đầu của nền mỹ thuật Việt Nam”.

Học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984), ông còn là một dịch giả, nhà ngôn ngữ học, nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập, với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế…

Nhà phê bình văn học Đỗ Long Vân (1934‒1997), có lẽ là tác giả tài năng nhưng lặng lẽ bậc nhất của Sài Gòn, và cả Việt Nam trong thế kỷ 20. Ngoài gia đình, ông còn vài ba người bạn khác là Nguyên Sa, Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Trịnh Công Sơn, Đinh Cường, Hoàng Anh Tuấn, Khánh Ly.

Nhà thơ, nhà báo Phan Khôi (1887-1959), thành viên nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm, cháu ngoại của Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu, đỗ Tú tài chữ Hán năm 19 tuổi nhưng lại mở đầu và cổ vũ cho phong trào Thơ mới.

Nhà thơ Bùi Giáng (1926-1998), ông còn là dịch giả và là nhà nghiên cứu văn học của Việt Nam. Các bút danh khác của ông: Trung niên thi sĩ, Thi sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng… Ông nổi tiếng từ năm 1962 với tập thơ “Mưa nguồn”.

Nhà thơ Cung Trầm Tưởng (1932) , năm 15 tuổi (1947), ông bắt đầu làm thơ, và có tập thơ đầu tay tên là “Sóng đầu dòng”. Năm 1952, sau một năm học đại học, ông sang Pháp du học tại Trường Kỹ sư không quân ở Salon-de-Provence. Năm 1957, ông tốt nghiệp trở về nước làm trong ngành không quân của Việt Nam Cộng hòa. Trong năm này, hai bài thơ của ông là “Mùa thu Paris” và “Vô đề” (thơ trường thiên) xuất hiện trong tuyển tập “Đất đứng” của nhóm Quan Điểm (gồm Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng), và đã làm người đọc chú ý.

Nhà thơ Đinh Hùng (1920-1967) ông còn dùng bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết.

Nhà thơ Du Tử Lê (1942-2019) làm thơ từ rất sớm, khi đang còn học tại trường tiểu học Hàng Vôi tại Hà Nội. Sau khi di cư vào Sài Gòn, Du Tử Lê bắt đầu sáng tác nhiều tác phẩm dưới nhiều bút hiệu khác nhau. Bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức lần đầu tiên vào năm 1958 cho bài “Bến tâm hồn”, đăng trên tạp chí Mai.

Nhà thơ Hàn Mặc Tử (1912-1940), ông khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng ra Trường thơ Loạn. Hàn Mặc Tử cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là “Bàn thành tứ hữu”, nghĩa là bốn người bạn ở thành Đồ Bàn.

Nhà thơ Hoàng Cầm (1922-2010) nổi tiếng với vở kịch thơ “Hận Nam Quan”, “Kiều Loan” và các bài thơ “Lá diêu bông”, “Bên kia sông Đuống”. Bài thơ “Bên kia sông Đuống” được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông. Ngoài bút danh Hoàng Cầm, ông còn có các bút danh: Bằng Việt, Lê Thái, Lê Kỳ Anh, Bằng Phi. 

Nhà thơ Hữu Loan (1916-2010) sau khi phong trào Nhân văn – Giai phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan phải đi học tập chính trị, tiếp đó bị quản thúc tại địa phương. Cuối đời ông về sống tại quê nhà ở tỉnh Thanh Hóa. Ông nổi tiếng với bài thơ “Màu tím hoa sim” do ông sáng tác trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp và được lưu hành rộng rãi trong vùng kháng chiến. 

Nhà thơ Lưu Quang Vũ (1948-1988) – Các tác phẩm của ông đã để lại một dấu ấn đáng kể trong lòng công chúng Việt Nam. Tác phẩm ông nổi bật lên từ những năm sau chiến tranh, đặc biệt là những năm 80. Ông đã từng sống những năm tháng tuổi trẻ trong chiến tranh, vào bộ đội chiến đấu và trở về sống trong một thời kỳ khó khăn của nước nhà: thời hậu chiến, kinh tế bao cấp với chồng chất khó khăn, cơ cực. Các vở kịch, truyện ngắn, thơ của Lưu Quang Vũ giàu tính hiện thực và nhân văn cũng như in đậm dấu ấn của từng giai đoạn trong cuộc sống của ông. Với tuổi đời còn khá trẻ, 40 tuổi ông đã là tác giả của gần 50 vở kịch và hầu hết các vở kịch của ông đều được các đoàn kịch, chèo gây dựng thành công dưới sự chỉ đạo của nhiều đạo diễn nổi tiếng. Rất nhiều các tác phẩm của ông đã làm sôi động sân khấu Việt nam thời kỳ đó như: “Hồn Trương Ba da hàng thịt”, “Lời thề thứ 9”, “Bệnh sĩ”, “Khoảnh khắc và vô tận”, “Ông không phải bố tôi”, “Tôi và chúng ta”, “Tin ở hoa hồng”, “Nàng Sita”. Giữa lúc tài năng đang vào độ chín, Lưu Quang Vũ qua đời trong một tai nạn ô tô trên quốc lộ số 5 tại Hải Dương, cùng với người bạn đời là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ. 

Nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh (1930-2017), trước tác của bà thuộc nhiều thể loại như thơ, truyện ngắn, truyện dài. Có lẽ trong các tác phẩm của bà, được biết đến nhiều nhất là một số bài thơ được các nhạc sĩ phổ nhạc trong đó có Phạm Duy: “Đừng bỏ em một mình” và “Kiếp nào có yêu nhau” và Phan Văn Hưng: “Ai trở về xứ Việt”. Sau năm 1975 khi lưu vong sang Pháp bà sáng lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải ngoại. Năm 1982 bà sang Mỹ định cư và mất tại Quận Cam.

Nhà thơ Nguyên Sa (1932-1998) là một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng từ thập niên 1950, với những tác phẩm như “Áo lụa Hà Đông”, “Paris có gì lạ không em”, “Tuổi mười ba”, “Tháng sáu trời mưa”, “Hư ảo trăng”… Thơ Nguyên Sa có một số bài được biết đến nhiều hơn qua những bài hát do nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ nhạc (Áo lụa Hà Đông, Tuổi mười ba, Paris có gì lạ không em…). Những nhạc sĩ khác có phổ nhạc vào thơ Nguyên Sa là Phạm Duy (Vết sâu), Phạm Đình Chương (Màu Kỷ Niệm), Anh Bằng (Mai Tôi Đi), Song Ngọc (Tiễn đưa) Hoàng Thanh Tâm (Tháng sáu trời mưa), Phạm Anh Dũng (Hư Ảo Trăng)… 

                                                             

Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn (1944-2015), trước năm 1975 Nguyễn Bắc Sơn là binh nhì, lính địa phương quân ở Sài Gòn, thời gian này ông có tập thơ phản chiến in năm 1972 “Chiến tranh Việt Nam và tôi”, gây được tiếng vang trong giới văn nghệ miền Nam. Thơ Nguyễn Bắc Sơn từng được nhiều bạn đọc ưa thích, ngâm nga trong các quán văn nghệ ở Đà Lạt, Vũng Tàu, Sài Gòn, Cần Thơ… 

Nhà thơ Nguyễn Bính (1918-1966) được coi như là nhà thơ của làng quê Việt Nam với những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc. Bài thơ của ông được đăng báo đầu tiên là bài “Cô hái mơ”. Năm 1937 Nguyễn Bính gửi tập thơ “Tâm hồn tôi” tới dự thi và đã được giải khuyến khích của nhóm Tự lực văn đoàn.

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (1937) được giới văn nghệ miền Nam trước năm 1975 gọi là một trong ba kỳ nhân của thời đó (hai người còn lại là Bùi Giáng và Phạm Công Thiện). Nguyễn Ðức Sơn bắt đầu công việc viết của mình với bút hiệu Sao Trên Rừng. Ông được coi là một người có cá tính đặc biệt. Trả lời trong bài phỏng vấn của tạp chí Bách Khoa, ông nói: “Tôi viết vì bị thúc đẩy bởi một lực ở đằng sau và được thu hút bởi một lực ở phía trước. Ðó là những ma lực làm tôi cảm khoái huyền diệu xa xăm. Thứ cảm khoái này kéo dài được chứ không ngắn như nhục cảm. Viết được một đoạn hay tôi đi lên đi xuống thưởng thức và khoái chí. Nên tôi nghĩ rằng sáng tác cho mình trước hết.”

                                                                                

Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên (1952-1992), thi sĩ đã gặp một cô gái người miền Bắc tên là Duyên và có với cô này một tình cảm nhẹ nhàng nhưng không thành công vì hoàn cảnh gia đình và cả tính nghệ sĩ của Tất Nhiên. Dù vậy, cô gái tên Duyên này cũng đã là cảm hứng cho Tất Nhiên sáng tác khá nhiều bài thơ “Khúc tình buồn”, hay các bài “Cô Bắc Kỳ nho nhỏ”, “Linh mục”, “Em hiền như ma sơ”. 

Nhà thơ Phạm Công Thiện (1941-2011), ông còn là nhà văn, triết gia, học giả và cư sĩ Phật giáo với pháp danh Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận vai trò triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia “thần đồng”, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 1960 với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. 

Nhà thơ Phùng Cung (1928-1997), tham gia phong trào Nhân văn – Giai phẩm tại miền Bắc vào những năm 1955 – 1957. Sau đó ông bị kết án lợi dụng các bài viết của mình để kích động bạo loạn, và bị bắt giam 12 năm trong nhà tù Hỏa Lò. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông là “Con ngựa già của Chúa Trịnh” và “Dạ Ký”, có ngụ ý đả kích những văn nghệ sĩ bẻ cong ngòi bút, bị lưu đày trong cõi tung hô. 

Nhà thơ Quang Dũng (1921-1988) là tác giả một số bài thơ nổi tiếng như “Tây Tiến”, “Đôi mắt người Sơn Tây”, “Đôi bờ”… Ngoài ra Quang Dũng còn là một họa sĩ, nhạc sĩ. Ông thuộc thế hệ các nhà thơ miền Bắc trưởng thành và nổi danh sau Cách mạng tháng Tám.  

Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền (1936-2006) được biết đến với những cách tân thơ ca táo bạo. Năm 1956, lúc tròn 20 tuổi, ông đã nổi tiếng với tập thơ “Tôi không còn cô độc”, và năm 1957, lúc 21 tuổi, với tiểu thuyết “Bếp lửa” (viết năm 1954) mô tả khung cảnh Hà Nội trước 1954, với những người ra đi cũng như những người ở lại, cả hai đều bị giằng co bởi những chọn lựa miễn cưỡng, sự chia ly hay cái chết. Thanh Tâm Tuyền có ảnh hưởng lớn trên văn học Việt Nam giai đoạn 1956-1975 và cả những năm về sau này.  

Nhà thơ Tô Thuỳ Yên (1938-2019) là tác giả bài thơ “Chiều trên phá Tam Giang” mà một phần của bài thơ đã được Trần Thiện Thanh phổ nhạc. Ông cũng là tác giả bài “Trường Sa hành” sáng tác vào Tháng Ba, 1974, không lâu sau khi Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa để vinh danh những chiến sĩ bảo vệ đất nước ngoài biển khơi. 

Nhà thơ Trần Dần (1926-1997) – Năm 1955, Trần Dần viết đơn đề nghị được giải ngũ, ra khỏi Đảng và kết hôn với bà Bùi Thị Ngọc Khuê (gia đình bà Khuê có người di cư vào Nam, nên chi bộ Đảng không cho phép kết hôn). Theo báo Nhân dân, việc Trần Dần đòi ra khỏi Đảng đã làm cho một số người đi theo. Tham gia Phong trào Nhân văn-Giai phẩm, Trần Dần lên tiếng đòi thay đổi quan điểm lãnh đạo văn nghệ trong quân đội, đòi xuất bản các tác phẩm mang tính cách tân của mình. Chỉ huy đơn vị nhiều lần cảnh cáo nhưng ông vẫn giữ quan điểm, ông liên tiếp cho ra đời các tác phẩm phê phán như “Lão rồng” và chuyện “Anh Cò Lấm” phê phán cải cách ruộng đất. Sau đó ông bị đơn vị giam 3 tháng do không tuân lệnh chỉ huy, cũng theo báo Nhân dân, trong tù ông kéo da cổ, lấy một lưỡi dao cạo râu cứa ngoài da rồi dọa tự tử. Sau đó ông viết thư cho tướng Nguyễn Chí Thanh, và vị tướng này ra lệnh thả ông. 

Nhà thơ Trần Vàng Sao (1942-2018) hầu như không cho xuất bản thơ nhưng vẫn nổi tiếng với “Bài thơ của một người yêu nước mình” ký bút danh Trần Vàng Sao, sáng tác tháng 12 năm 1967 và được chọn trong 100 bài thơ xuất sắc nhất Việt Nam thế kỷ 20. Năm 2008, Nhà xuất bản Giấy Vụn đã cho in tập thơ này.  

Nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916-1976) – Văn phong của ông được cho là sang trọng, có dư vị hoài cổ, giàu chất nhạc, với nhiều sắc thái Đông phương. Ngày 13/4/1976, ông bị Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam bắt giam tại khám Chí Hòa. Bệnh nặng đưa về nhà được 5 ngày thì ông mất tại Sài Gòn. Hoài Thanh – Hoài Chân trong “Thi nhân Việt Nam” đã nhận xét: “… Ý giả Vũ Hoàng Chương định nối cái nghiệp những thi hào-xưa của Đông Á: cái nghiệp say. Người say đủ thứ: say rượu, say đàn, say ca, say tình đong đưa. Người lại còn “hơn” cổ nhân những thứ say mới nhập-cảng: say thuốc phiện, say nhảy đầm. Bấy nhiêu say sưa đều nuôi bằng một say sưa to hơn mọi say sưa khác: say thơ…. cái say sưa của Vũ Hoàng Chương là một thứ say sưa có chừng mực, say sưa mà không hẳn là trụy lạc, mặc dầu từ say sưa đến trụy lạc đường chẳng dài chi. Nhưng trụy lạc hay say sưa đều mang theo một niềm ngao ngán. Niềm ngao ngán ấy ta vốn đã gặp trong thơ xưa”.  

Nhà thơ Xuân Quỳnh (1942-1988) nổi tiếng với nhiều bài thơ được nhiều người biết đến như “Thuyền và biển”, “Sóng”, “Thơ tình cuối mùa thu”, “Tiếng gà trưa”… Xuân Quỳnh mất năm 1988 trong một vụ tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, thị xã Hải Dương, tỉnh Hải Dương, cùng với chồng Lưu Quang Vũ và con trai Lưu Quỳnh Thơ mới 13 tuổi.             

       

Nhà văn hoá Nguyễn Hữu Đang (1913-2007) là người chỉ huy dựng Lễ đài Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, nơi Hồ Chí Minh và Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt quốc dân. Ông đã bị kết án 15 năm tù vì tội kích động bạo loạn trong vụ án Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm. 

Nhà văn Phùng Quán (1932-1995), tác phẩm đầu tay “Vượt Côn Đảo” của ông được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1955. Trong di cảo hồi ký “Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào” do Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2007, ông kể nhiều chi tiết rất thú vị về sự ngẫu nhiên và tình cờ đưa ông từ một người lính trở thành một nhà văn và những biến cố phải gánh chịu nhưng với giọng kể rất hóm hỉnh, không một chút trách móc hay thù hận. Không lâu sau đó, Phùng Quán tham gia phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm bằng hai bài thơ “Lời mẹ dặn” và “Chống tham ô lãng phí” (1957). Khi phong trào này chấm dứt, Phùng Quán bị kỷ luật, ra khỏi quân đội, sau đó mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động thực tế ở nhiều nơi.

Nhà văn Vũ Trọng Phụng (1912-1939) đã để lại một kho tác phẩm đáng kinh ngạc: hơn 30 truyện ngắn, 9 tập tiểu thuyết, 9 tập phóng sự, 7 vở kịch, cùng một bản dịch vở kịch từ tiếng Pháp, một số bài viết phê bình, tranh luận văn học và hàng trăm bài báo viết về các vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa. Một số trích đoạn tác phẩm của ông trong các tác phẩm “Số đỏ” và “Giông tố” đã được đưa vào sách giáo khoa môn Ngữ văn. Tuy nhiên, cũng vì phong cách “tả chân” và yếu tố tình dục trong tác phẩm mà khi sinh thời ông đã bị chính quyền bảo hộ Pháp tại Hà Nội gọi ra tòa vì “tội làm tổn thương phong hóa”. Về sau này, tác phẩm của ông lại bị cấm xuất bản, cấm đọc vì là “tác phẩm suy đồi” tại miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 và cả nước từ ngày 30/4/1975 cho đến tận cuối những năm 1980 mới được chính quyền cho lưu hành.

Nhạc sĩ Cung Tiến (1938) được xem như nhạc sĩ trẻ nhất có sáng tác được phổ biến rộng với bài “Hoài cảm” năm 14 tuổi. Mặc dù Cung Tiến chỉ xem âm nhạc như một thú tiêu khiển nhưng ông đã để lại những nhạc phẩm rất giá trị. Ra hải ngoại, Cung Tiến viết nhạc tấu khúc Chinh phụ ngâm năm 1987, soạn cho 21 nhạc khí, được trình diễn lần đầu vào ngày 27/3/1988 tại San Jose, California với dàn nhạc thính phòng San Jose, và đã được giải thưởng Văn Học Nghệ thuật năm 1988. 

Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (1924-2001) là một nghệ sĩ biểu diễn guitar Hawaii, song được biết đến nhiều hơn cả như một nhạc sĩ Việt Nam với số lượng sáng tác ít ỏi nhưng đều trở thành những giai điệu thuộc nằm lòng của nhiều thế hệ. Tất cả ca khúc của ông đều được ghi tên tác giả là “Đoàn Chuẩn-Từ Linh”. Thực ra Từ Linh không trực tiếp tham gia sáng tác, nhưng Đoàn Chuẩn ghi tên chung hai người để tôn vinh người bạn tri âm của mình, tôn vinh tình bạn đã góp phần tạo cảm hứng nghệ thuật. Hiện đã xác định được tổng cộng là hai mươi mốt ca khúc của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, trong đó các sáng tác của ông thường đề cập nhiều đến mùa thu. Những nhạc phẩm nổi tiếng: Tình nghệ sĩ (1947), Gửi gió cho mây ngàn bay (1952), Lá đổ muôn chiều (1954), Tà áo xanh (1955)… 

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ (1929-2001) có nhiều sáng tác ca ngợi quê hương, đất nước, con người Việt từ trước 1975. Hoàng Thi Thơ sáng tác trên 500 ca khúc từ tình ca đến nhạc quê hương, dân ca đến nhạc thời trang, đoản khúc đến trường ca, nhạc cảnh đến nhạc kịch. Ngoài ra, tại Sài Gòn, ông có thực hiện ba băng nhạc mang tên ông với những giọng ca thượng thặng thời đó: Hoàng Thi Thơ 1: Rước tình về với quê hương, Hoàng Thi Thơ 2: Việt Nam như đóa hoa xinh, Hoàng Thi Thơ 3: Đưa em qua cánh đồng vàng. 

Nhạc sĩ Lam Phương (1937 – 2020) là một nhạc sĩ tiêu biểu của nền tân nhạc Việt Nam với gần 170 tác phẩm phổ biến từ giữa thập niên 1950 đến nay. Nhạc sĩ Lam Phương trong một lần lên Đà Lạt biểu diễn văn nghệ, ngồi trên khu nội trú nhìn xuống thung lũng ông viết bài “Thành phố buồn” và bán với giá 12 triệu đồng, tiền hồi đó. Ngoài ra còn rất nhiều bản khác như “Tình bơ vơ”, “Duyên kiếp”… khiến ông có một tài sản lớn. Ông nói rằng người ta đi tị nạn chính trị còn tôi tị nạn ái tình. Ở Pái ông đã gặp được một người phụ nữ tên Hường và viết hàng loạt ca khúc vô cùng tươi vui như “Bé yêu”, “Bài tango cho em”. Điển hình là bài “Mùa thu yêu đương” với câu hát “Đường vào Paris có lắm nụ hồng”. Tuy nhiên cuộc tình này không đi đến đâu, nên sau cùng ông viết “Tình vẫn chưa yên”. 

Nhạc sĩ Lê Uyên Phương (1941-1999) – Lê Uyên Phương là nghệ danh chung của vợ chồng nhạc sĩ Lê Minh Lập và ca sĩ Lê Uyên Lâm Phúc Anh. Lê Uyên Phương nổi tiếng bởi việc sáng tác và trình diễn những tình khúc ca ngợi tình yêu nồng nàn, lãng mạn tại Sài Gòn trước năm 1975. Những nhạc phẩm nổi tiếng: Tình khúc cho em, Uống nước bên bờ suối, Vũng lầy của chúng ta, Yêu nhau trong phận người… 

Nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên (1948), một số ca khúc đáng chú ý như: “Giáng ngọc”, “Mùa thu này cho em” (sau đổi là “Mùa thu cho em”), “Gọi nắng” (sau đổi là “Giọt nắng hồng”), “Dấu vết tình yêu” (sau đổi là “Dấu tình sầu”), “Cho những mùa thu” (sau đổi là “Thu trong mắt em”), “Tình khúc tháng 6”, “Mùa thu về trong mắt em” (sau đổi là “Mắt thu”) và “Ngày mai em đi”… Tiếp theo, Ngô Thụy Miên có những nhạc phẩm phổ từ thơ của nhà thơ Nguyên Sa như: “Áo lụa Hà Đông”, “Paris có gì lạ không em”, “Tuổi 13″…

Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 (1940-2016) là nhạc sĩ kiêm nhạc công chơi dương cầm. Nguyễn Ánh 9 bắt đầu sự nghiệp viết nhạc một cách rất tình cờ trong một chuyến đi Nhật biểu diễn cùng ca sĩ Khánh Ly. Sau buổi diễn tại hội chợ Osaka, khi cùng với Khánh Ly đứng chờ thang máy lên phòng khách sạn, thấy người bạn mình mang vẻ mặt buồn buồn, Khánh Ly lên tiếng hỏi: “Còn thương nó không bạn?”, ý muốn hỏi về một người bạn gái quen biết Nguyễn Ánh 9 vào thời đó. Sẵn cây đàn ghi-ta trên tay, Nguyễn Ánh 9 gảy ngay rồi cất tiếng hát: “Không! Không! Tôi không còn, tôi không còn yêu em nữa…”. Đến khi trở về Việt Nam, Khánh Ly đề nghị ông soạn nhạc phẩm này. 

Nhạc sĩ Phạm Duy (1921-2013), thường được coi như nhạc sĩ lớn nhất của nền Tân nhạc Việt Nam với lượng sáng tác đồ sộ cũng như đa dạng về thể loại, trong đó có rất nhiều ca khúc trở nên kinh điển và quen thuộc với người Việt. Câu mở đầu của bài “Tình ca”, ca khúc của Phạm Duy viết trong giai đoạn trước 1954 trở thành quen thuộc với mọi người: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi!…”. Thi sĩ Chế Lan Viên nhắc tới Phạm Duy trong một bài báo tên “Hồi Ký” đăng tại tạp chí Sông Hương ngày 22 tháng 6 năm 1986: “Tất cả về cội, không mất mát gì ư? Có chứ, mất Phạm Duy! Chúng ta tiếc lắm, vì anh có tài lớn. Nhưng chúng ta làm sao được! Anh ấy bỏ chúng ta, chứ chúng ta đâu có bỏ anh.”

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương (1929-1991), ông còn là một ca sĩ với nghệ danh Hoài Bắc trong ban hợp ca Thăng Long. Phần nhiều những tác phẩm của Phạm Đình Chương thường được xếp vào dòng tiền chiến bởi mang phong cách trữ tình lãng mạn. Hai sáng tác đầu tiên “Ra đi khi trời vừa sáng” và “Hò leo núi” đều có không khí hào hùng, tươi trẻ. Phạm Đình Chương cũng phổ nhạc từ thơ. Nhiều bản nhạc phổ thơ của ông đã trở thành những bài bất hủ, có một sức sống riêng như: “Đôi mắt người Sơn Tây” (thơ Quang Dũng), “Mộng dưới hoa” (thơ Đinh Hùng), “Nửa hồn thương đau” (thơ Thanh Tâm Tuyền), “Đêm nhớ trăng Sài Gòn” (thơ Du Tử Lê)… Phạm Đình Chương cũng đóng góp cho tân nhạc Việt Nam bài trường ca bất hủ Hội Trùng Dương nói về ba con sông đại diện cho ba miền: sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long.

Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng (1937-2000) – Năm 1966, Trầm Tử Thiêng gia nhập Cục Tâm lý chiến thuộc Tổng cục Chiến tranh Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Thời gian này ông viết các bản nhạc như: “Quân trường vang tiếng gọi”, “Đêm di hành”, “Mưa trên Poncho”. Sự kiện Tết Mậu Thân 1968, Trầm Tử Thiêng viết bài “Chuyện một chiếc cầu đã gãy” nói về cầu Trường Tiền bị giật sập. Năm 1970, ông viết “Tôn Nữ còn buồn” về trận bão tàn phá miền Nam. Ngoài ra, ông cũng tham gia vào phong trào Du ca Việt Nam. 

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh (1942-2005) còn là ca sĩ với nghệ danh Nhật Trường và được xem như là một trong bốn giọng nam nổi tiếng nhất của nhạc vàng. Về sáng tác, hai chủ đề lớn trong sáng tác của Trần Thiện Thanh là tình yêu và tình lính. Ông sáng tác nhiều nhạc về lính, nhưng nhạc lính của ông không có thù hận, gay gắt, kích động hoặc u uất, bi thảm mà thường là trong sáng vui tươi, làm thi vị hóa và lãng mạn hóa đời lính gian khổ. 

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1939-2001), hiện nay chưa có thống kê chính xác về số tác phẩm để lại của ông. Tuy nhiên số ca khúc của ông được biết đến rộng rãi là 236 ca khúc. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ, một ca sĩ và một diễn viên không chuyên. 

Nhạc sĩ Trúc Phương (1933-1995) – Nhiều ca khúc viết bằng giai điệu Bolero của ông trở thành bất hủ và vẫn được yêu thích cho đến tận nay. Năm 1976, Trúc Phương vượt biên nhưng không thành công và bị tịch thu nhà. Những năm sau, ông vượt biên thêm 2 lần nhưng vẫn không thành công. Lúc ra tù, vợ con ly tán, ông sống không nhà cửa, không giấy tờ tùy thân rồi lưu lạc về Trà Vinh, Vĩnh Long và vài nơi khác. Tác phẩm tiêu biểu: “24 giờ phép”, “Ai cho tôi tình yêu”, “Chiều cuối tuần”, “Đò chiều”, “Nửa đêm ngoài phố”, “Tàu đêm năm cũ”, “Tình thắm duyên quê”… 

Nhạc sĩ Từ Công Phụng (1942) là một nhạc sĩ thuộc dân tộc Chàm. Ông cũng là tác giả của các ca khúc trữ tình được nhiều người biết đến như “Bây giờ tháng mấy”, “Mắt lệ cho người”, “Giọt lệ cho ngàn sau”, “Trên ngọn tình sầu”, “Mùa xuân trên đỉnh bình yên”… Ông cũng hát một số trong những bài hát của chính mình. Có một thời ông hát chung với Từ Dung trở thành một cặp song ca nổi tiếng tại Sài Gòn.

Nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995), ông là tác giả của ca khúc “Tiến quân ca”, quốc ca chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời ông cũng là một trong những cây bút có sức ảnh hưởng lớn nhất của nền Tân nhạc Việt Nam. Ông được giới chuyên môn và công chúng yêu nhạc đánh giá là một trong ba nhạc sĩ nổi bật nhất của nền âm nhạc hiện đại Việt Nam trong thế kỷ XX, cùng với Phạm Duy và Trịnh Công Sơn. Những ca khúc trữ tình lãng mạn như “Bến xuân”, “Suối mơ”, “Thiên Thai”, “Trương Chi”… nhanh chóng trở thành một trong những gương mặt tiên phong, nổi bật nhất của trào lưu lãng mạn trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, đặc biệt là để lại những dấu ấn mang tính khai phá của ông trong tân nhạc Việt. 

Nhạc sĩ Vũ Thành An (1943) với các “Bài không tên” là những tác phẩm nổi tiếng của ông. Hiện nay, ông là một phó tế của Giáo hội Công giáo Rôma, đã ngừng sáng tác nhạc tình ca mà chỉ sáng tác thánh ca. Ông cũng là người có nhiều tai tiếng trong thời gian đi học tập cải tạo… 

Nhạc sĩ Xuân Tiên (1921) là một nhạc sĩ có nhiều đóng góp cho nền tân nhạc Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Ngoài sáng tác nhiều bản nhạc có giá trị được nhiều người yêu thích như “Khúc hát ân tình”, “Duyên tình”, “Về dưới mái nhà”, … ông còn có khả năng chơi 25 loại nhạc cụ, đồng thời cải tiến và sáng tạo một số nhạc cụ mới. Năm 1976, lúc còn ở Việt Nam, ông chế tác cây đàn 60 dây chơi được tất cả âm giai. Tiếng đàn tương tự tiếng đàn tranh nhưng mạnh và chắc hơn. Năm 1980, ông cải tiến cây đàn bầu cổ truyền với thân đàn làm từ trái bầu dài làm hộp khuếch âm. Đàn này đã nhiều lần được đem đi triển lãm ở Úc, thường được gọi là Đàn bầu Xuân Tiên. Ông vừa mừng sinh nhật tháng 1/ 2021 đại thọ 100 tuổi.

Nhạc sĩ Y Vân (1933-1992) – Y Vân có nghĩa là “Yêu Vân”, tên tiểu thư Tường Vân – người yêu đầu tiên của ông. Ông chọn tên này từ khi chuyện tình giữa ông và cô tan vỡ. Một số ca khúc của ông đã được viết lên để nói lên tâm sự này: “Đò nghèo”, “Ảo ảnh”, “Nhạt nắng”… Bài hát “Lòng mẹ” của ông rất nổi tiếng và được xem như một trong những ca khúc tiêu biểu, sâu sắc và thiêng liêng nhất về tình mẹ, được sáng tác năm 1957. Từ đó đến nay, bài hát đã được nhiều ca sĩ thể hiện, vì thế nó còn là một bài hát rất quen thuộc với người Việt Nam từ ngày ra đời đến bây giờ.

Thầy Tuệ Sỹ (1943): Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, tục danh Phạm Văn Thương, sinh ngày 15/2/1943 tại Paksé, Lào, quê tại Quảng Bình, Việt Nam. Ông là một học giả uyên bác về Phật giáo, nguyên giáo sư thực thụ của Đại học Vạn Hạnh tại Sài Gòn, nhà văn, nhà thơ, dịch giả và là một người bất đồng chính kiến với chính quyền. Ông được giới học giả Việt Nam đánh giá cao vì đã công bố nhiều tiểu luận, chuyên khảo, thơ và nhiều công trình dịch thuật Phật giáo từ tiếng Phạn, tiếng Trung Hoa và tiếng Nhật. Lúc bị bắt năm 1984, ông và Thích Trí Siêu, được coi là 2 nhà sư uyên bác nhất của Phật giáo Việt Nam, đang soạn thảo quyển Bách khoa Phật học Ðại Tự điển.

Triết gia Trần Đức Thảo (1917-1993) – Năm 1957-1958, ông bị kết án dính líu đến phong trào Nhân văn-Giai phẩm khi công bố hai bài báo có bàn đến một số vấn đề về tự do, dân chủ. Sau vụ Nhân văn-Giai phẩm, ông bị cách chức Phó Giám đốc trường ĐHSP Hà Nội, chức Trưởng khoa Lịch sử chung cho cả ĐHSP và ĐHTH Hà Nội. Trần Ðức Thảo bị cấm giảng dạy, phải dịch thuật lặt vặt để sống, phải bán dần bán mòn những bộ từ điển. Ông hạn chế liên hệ với người khác, bị cô lập trong cuộc sống.

Hoạ sĩ Vĩnh Phối… thầy tôi 

(Theo chú thích của họa sĩ Trần Thế Vĩnh)

Chân dung tự họa của Trần Thế Vĩnh

Họa sĩ Trần Thế Vĩnh

Họa sĩ Trần Thế Vĩnh
Đào Nguyên Thông sưu tập
From: TU-PHUNG

Steve Bannon, từng được Trump ân xá, bị New York truy tố tội lừa đảo

NEW YORK, New York (NV) – Ông Steve Bannon, người từng là chiến lược gia của cựu Tổng Thống Donald Trump, dự trù sẽ ra trình diện văn phòng công tố ở New York vào Thứ Năm, 8 Tháng Chín, vì các cáo buộc liên quan đến nỗ lực quyên góp xây tường biên giới phía Nam nước Mỹ, theo các nguồn tin thông thạo.

Báo Washington Post cho hay ông Bannon, người vừa bị kết tội khinh thường Quốc Hội chỉ mấy tuần trước đây, và gần hai năm sau khi được ông Trump ân xá về tội lừa đảo cấp liên bang, nay bị truy tố tội hình sự mới, cũng liên quan đến vụ quyên góp này, nhưng ở cấp tiểu bang.

Ông Stephen Bannon. (Hình: Tasos Katopodis/Getty Images)

Theo bản tin của CNN, văn phòng biện lý ở Manhattan mở cuộc điều tra về ông Bannon và các nỗ lực quyên góp có tên “We Build The Wall” sau khi ông được ân xá.

Trong mấy tháng gần đây, có mấy người thân cận với ông Bannon phải ra trình diện trước đại bồi thẩm đoàn tiểu bang.

Ông Bannon vào chiều tối Thứ Ba đưa ra bản thông cáo trong đó nói rằng việc truy tố là dựa trên các tội danh “giả tạo” và “chỉ là việc dùng hệ thống pháp lý làm công cụ tấn công đảng phái.”

Ông Bannon nói tiếp rằng ông hãnh diện “là tiếng nói hàng đầu trong việc bảo vệ biên giới của chúng ta và xây bức tường để giữ cho đất nước chúng ta được an toàn, khỏi bị sự đe dọa của thành phần buôn bán ma túy và các tay tội phạm hung hãn.”

Ông Bannon và ba người khác trước đây bị chính quyền liên bang truy tố là lừa đảo những người đóng góp khoảng hơn $25 triệu cho việc xây tường.

Ông Bannon bị truy tố là chuyển hơn $1 triệu cho người đồng lõa và chi nhiều trăm ngàn đô la cho các mục đích cá nhân, trong khi những người đóng góp, gồm cả những người ở tiểu bang New York, được hứa hẹn là tất cả số tiền thu được sẽ dùng vào việc xây tường.

Các công tố viên ở Manhattan đã đòi hồ sơ ngân hàng và tiến hành cuộc điều tra. Tuy nhiên, họ chờ cho tới khi giới chức liên bang hoàn tất cuộc truy tố ba người được coi là đồng lõa với ông Bannon, nhưng không được ân xá.

Hồi Tháng Tư, hai người đồng lõa là Brian Kolfage và Andrew Badolato nhận tội. Trong khi đó, phiên xử người thứ ba là Timothy Shea được tòa tuyên bố hủy bỏ sau khi bồi thẩm đoàn không đồng ý được là có kết tội hay không. (V.Giang)