Cuối cùng thuyền phó tàu Titanic cũng tiết lộ bí mật chưa ai biết!

Cuối cùng thuyền phó tàu Titanic cũng tiết lộ bí mật chưa ai biết!

Những câu chuyện trên chuyến tàu định mệnh Titanic năm nào đã được phó thuyền trưởng Charles Lightoller tiết lộ sau hơn nửa cuộc đời giữ kín.

Năm 1912, cả thế giới chấn động trước tin tàu Titanic gặp nạn. Suốt một thời gian dài sau đó, giai thoại về con tàu cùng những vị khách xấu số trên đó đã trở thành cảm hứng của không ít tác phẩm văn học và điện ảnh thời bấy giờ.

Vậy nhưng, những tác phẩm nghệ thuật ấy mới chỉ được xây dựng thông qua cảm quan cá nhân của tác giả.

Ít ai biết rằng, những câu chuyện thực sự phía sau con tàu mang tên Titanic còn bi thương và cảm động hơn nhiều so với các thước phim trên màn ảnh nhỏ.

Từ bỏ cơ hội được sống để cùng nhau bước vào cõi vĩnh hằng

Sau đêm định mệnh ngày 14, rạng sáng ngày 15/4/1912, trong số các hành khách đi trên con tàu Titanic, con số sống sót ghi nhận được chỉ có 710 người, còn 1514 hành khách xấu số khác hoặc là đã mất tích, hoặc đã xác nhận thiệt mạng.

Khi ấy, phó thuyền trưởng Charles Lightoller (38 tuổi) là người cuối cùng lên thuyền cứu sinh, cũng là người có chức vụ cao nhất trong đội ngũ thuyền viên làm việc trên tàu Titanic may mắn còn sống sót.

Chân dung Charles. (Ảnh: nguồn Internet).

Sau nửa đời chôn giấu những ám ảnh về đêm định mệnh ấy, trong những năm cuối cùng, Charles đã viết 17 trang hồi ức thuật lại chi tiết nhiều mẩu chuyện xảy ra trong đêm gặp nạn của con tàu Titanic.

“Đối mặt với sự thật là con tàu sắp chìm, thuyền trưởng đã phát thông điệp ưu tiên cho phụ nữ cùng trẻ em xuống thuyền cứu sinh. Trước lời đề nghị ấy, không ít hành khách chẳng mảy may lay động, vì họ không muốn chia cắt cùng thân nhân của mình.

Khi đó, tôi ra sức hét lớn: ‘Phụ nữ và trẻ em hãy tới đây!’ Nhưng tôi thấy nhiều người không tình nguyện từ bỏ người thân để nhìn phụ nữ và trẻ em bước lên thuyền cứu sinh…”

Nhắc về những ký ức trong đêm hôm đó, Charles vẫn không khỏi cảm thán:

“Chỉ cần tôi còn sống, tôi vĩnh viễn sẽ không bao giờ quên được cái đêm ấy…”

Cũng theo hồi ức của Charles, khi chiếc thuyền cứu hộ thứ nhất được hạ xuống, ông có hỏi một phụ nữ đang đứng trên boong tàu có tên là Straw rằng:

“Quý bà có muốn cùng tôi lên chiếc xuồng cứu nạn kia hay không?” Điều khiến Charles không ngờ là bà Straw cương quyết lắc đầu và đáp: “Không, tôi nghĩ rằng ở trên tàu vẫn tốt hơn”.

Bấy giờ, chồng của Straw hỏi: “Vì sao em không muốn lên thuyền cứu nạn?” Straw mỉm cười: “Không, em chỉ muốn ở bên anh”.

Từ đó về sau, Charles vĩnh viễn không còn được nhìn thấy đôi vợ chồng ấy, nhưng câu chuyện về tình yêu của họ chưa bao giờ phai nhạt trong ký ức Phó thuyền trưởng…

Những câu chuyện cảm động về tình yêu trên chuyến tàu định mệnh năm nào đã trở thành nguồn cảm hứng viết nên nhiều tác phẩm nghệ thuật. (Ảnh trong phim Titanic).

Tấm lòng cao thượng của tỷ phú giàu nhất thế giới

Trong những thập kỷ đầu năm 1900, Astor đệ tứ (John Jacob Astor IV) đã liên tục giữ danh hiệu người giàu nhất thế giới.

Và khi chuyến hành trình của Titanic được bắt đầu, ông đã không ngần ngại chi một khoản tiền khổng lồ để đưa vợ mình đi nghỉ trên con tàu sang trọng ấy mà không biết rằng bi kịch đang chờ họ ngay trước mắt…

Trong đêm Titanic gặp nạn, ở vào khoảnh khắc những chiếc thuyền cứu sinh được thả xuống, Astor đã đưa người vợ mang thai 5 tháng của mình lên thuyền.

Sau đó, ông đứng ở boong tàu cùng chú chó trung thành bên cạnh, châm một điếu xì gà, nhìn chiếc thuyền cứu hộ cuối cùng đang dần khuất xa và nói lớn: “Anh yêu em!”

Với quyền lực và số tài sản của mình, Astor từng được Phó thuyền trưởng Charles đặc biệt dành một vị trí trên chiếc thuyền cứu sinh đầu tiên. Nhưng ông đã cự tuyết một cách cương quyết và nói: “Đây chính là giải pháp mà tôi thấy hợp lý nhất”.

Sau đó, người đàn ông giàu nhất thế giới ấy đã đem tặng vị trí của mình cho một bé gái người Ireland.

Vài ngày sau tai nạn, vào một buổi sáng sớm ở Bắc Đại Tây Dương, thuyền viên đã phát hiện thi thể của Astor đệ tứ. Khi đó, phần đầu của ông thậm chí đã biến dạng vì bị ống khói của con thuyền đè vào…

Vì người thân mà kiên cường chiến đấu, đó chính là lựa chọn duy nhất của một người đàn ông vĩ đại.

Tài sản của Astor thậm chí có thể mua được tới 10 chiếc tàu Titanic, nhưng trong giây phút sinh tử kia, ông lại không hề trốn chạy mà tìm cách để bảo vệ phái yếu và gia đình của mình cũng như dành cơ hội cho người khác. (Ảnh: Nguồn Internet).

Mong muốn “ra đi như một quý ông” của trùm ngân hàng nổi danh

Cũng trên chuyến tàu định mệnh ấy, ông trùm ngân hàng nức tiếng một thời là Guggenheim ở vào thời điểm nguy nan vẫn vận trên mình bộ lễ phục đắt tiền và thản nhiên nói: “Ta phải chết sao cho đáng mặt một quý ông”.

Trong bức thư viết vội gửi cho vợ mình trước khi tàu chìm, Guggenheim bày tỏ:

“Anh sẽ không chiếm bất kỳ một chỗ nào của phụ nữ và trẻ em trên thuyền cứu sinh mà sẽ đứng trên boong tàu. Anh sẽ không chết như một con vật, mà sẽ ra đi như một quý ông chân chính”.

Tình vợ chồng “đến lúc chết không rời xa” của người sáng lập bách hóa Macy

Cũng trong đêm định mệnh ấy, người giàu thứ hai thế giới và cũng là nhà sáng lập thương hiệu bách hóa Macy nổi tiếng, ông Isidor Straus đã hết lòng khuyên vợ mình bước lên chiếc thuyền cứu sinh số 8.

Nhưng mọi nỗ lực của ông đều không thành, bởi phu nhân Ida Straus đã dứt khoát cự tuyệt: “Bao nhiêu năm qua anh đi đâu em luôn theo đó, em sẽ đi cùng anh đến bất kỳ nơi đâu anh muốn”.

Người phụ trách chiếc thuyền cứu sinh ấy cũng đã dành một vị trí tốt cho quý ông đại gia này và ra sức thuyết phục: “Tôi tin rằng sẽ không có ai phản đối một người lớn tuổi như ngài xuống thuyền cứu hộ”.

Nhưng Straus chỉ nói: “Tôi tuyệt đối sẽ không bước xuống thuyền cứu sinh như những người đàn ông khác”.

Và sau nhiều lần thuyết phục vợ không thành, người đàn ông 67 tuổi ấy đã nắm tay phu nhân 63 tuổi của mình, tập tễnh đi tới boong tàu và ngồi xuống ghế, bình thản chờ đợi thời khắc sinh tử.

Ngày nay, tại Bronx thuộc New York (Mỹ), một đài tưởng niệm những cặp vợ chồng qua đời cùng nhau trong thảm họa Titanic đã được dựng nên và khắc trên mình dòng chữ: “Nước biển dù nhiều tới đâu cũng không thể nhấn chìm được tình yêu”.

Bức ảnh chụp cuối cùng của vợ chồng Straus trước tai nạn Titanic. (Ảnh: Nguồn Internet).

Và còn nhiều câu chuyện cảm động khác…

Chuyến tàu này còn chở theo đôi vợ chồng mới cưới là Astrid Pasi và Reta Pasi trên hành trình đi nghỉ tuần trăng mật. Khi con tàu sắp chìm, cô Reta Pasi một mực ôm chặt chồng mới cưới và từ bỏ cơ hội xuống thuyền cứu sinh một mình.

Chồng của Reta đã bất đắc dĩ phải đánh bất tỉnh vợ rồi lặng lẽ đưa cô xuống thuyền. Sau khi tỉnh lại, Reta mới bàng hoàng phát hiện sự thật.

Từ đó về sau, cô không hề tái hôn với người đàn ông khác và dành nửa đời còn lại để tưởng nhớ người chồng của mình.

Trên con tàu mang tên Titanic năm ấy, một doanh nhân người Pháp là Navratil đã dùng những nỗ lực cuối cùng để đưa 2 người con của mình lên thuyền cứu sinh và nhờ các phụ nữ trên đó chăm sóc, còn bản thân thì ngồi lại nơi boong tàu.

Sau khi may mắn thoát nạn, hai người con của Navratil đã được báo chí khắp thế giới đăng ảnh và nhanh chóng gặp lại mẹ của mình. Nhưng nỗi đau mất cha và những ám ảnh về đêm định mệnh ấy mãi mãi khó có thể nguôi ngoai trong họ.

“Cô nhi Titanic” là bức ảnh chụp lại chân dung của Edmon cùng Michel, hai con của doanh nhân Pháp quốc may mắn sống sót sau tai nạn. (Nguồn: Internet).

Trong cuộc phỏng vấn những người sống sót sau tai nạn tại Thụy Sĩ, một quý bà tên Smith đã không kìm nén được xúc động khi chia sẻ về sự hy sinh của một người mẹ vô danh.

“Tôi bế hai con của mình và đưa chúng lên thuyền cứu sinh. Nhưng vì thuyền đã quá đông, tôi không thể lên được nữa. Khi ấy, một người phụ nữ đã đứng dậy nhường chỗ và giúp tôi xuống thuyền rồi nói lớn: ‘Xuống đi, bọn trẻ không thể không có mẹ…”.

Người phụ nữ vĩ đại ấy chẳng hề để lại tên tuổi. Để ghi nhớ sự hi sinh cao thượng ấy, một tấm bia tưởng niệm người mẹ vô danh đã được dựng nên.

Chuyến tàu Titanic năm nào còn chở theo nhiều nạn nhân khác trong chuyến hành trình định mệnh của mình như tỷ phú Acid, nhà báo William.T Stead, thiếu tá pháo binh, kỹ sư nổi tiếng…

Những con người ấy đề đã từ bỏ việc xuống thuyền cứu sinh của mình để dành cơ hội sống cho nhiều phụ nữ nông thôn nghèo và trẻ em.

Hơn 50 nhân viên phục vụ trên con tàu Titanic đều đã tử nạn, duy chỉ có Phó thuyền trưởng Charles may mắn còn sống sót.

Trong hồi ức của Charles, vào 2h sáng ngày xảy ra tai nạn, thuyền trưởng John Phillip nhận được điện báo thúc giục ông rời tàu và chạy trốn.

Nhưng thay vì làm như vậy, vị thuyền trưởng ấy vẫn bình tĩnh ngồi trong khoảng điều khiển, không ngừng nhấn nút điện báo phát đi thông điệp “SOS” và giữ nguyên tư thế ấy cho đến phút cuối cùng.

Chân dung thuyền trưởng Edward John Smith – người giữ vị trí thuyền trưởng tàu Titanic. (Ảnh: Nguồn Internet).

Vào năm 1912, trước tượng đài tưởng niệm các nạn nhân trên tàu Titanic, người đại diện công ty vận tải biển White Star Line đã phát biểu trước báo chí:

“Không có bất kỳ luật lệ nào ép buộc những người đàn ông phải phải dành ra những hy sinh lớn như vậy. Hành động của họ xuất phát từ sự kiên định mà phái mạnh dành để bảo vệ phái yếu. Đó chính là lựa chọn của họ”.

Trong tác phẩm mang tên “Unsinkable”, tác giả Danielle Allan Butler cũng cảm thán: “Trách nhiệm quan trọng hơn so với mọi thứ khác. Đó chính là điều mà họ được thụ hưởng bởi nền giáo dục ngay từ khi còn nhỏ”.

Đứng trước ranh giới giữa sự sống và cái chết, tất cả mọi thứ giữa chúng ta đều trở nên ngang hàng. Ở vào thời khắc ấy, gia tài bạc triệu hay quyền lực tối cao cũng chẳng còn mang ý nghĩa vốn có.

Nếu một tỷ phú lại tình nguyện buông tay vợ mình, liều mạng chen chúc lên chiếc thuyền cứu sinh đầy phụ nữ và trẻ em chỉ để ôm tiền của sống nốt nửa đời còn lại, liệu cuộc sống ấy có thực sự còn ý nghĩa?

Có lẽ, nếu sự thực diễn ra như vậy, chúng ta đã chẳng có nhiều câu chuyện cảm động về con tàu Titanic tới thế.

Khi đuôi con tàu bắt đầu chìm xuống nước, ở vào giây phút sinh ly tử biệt, câu nói người ta hét lên trong thảng thốt không phải là tiếng kêu cứu mà là thông điệp ngắn ngủi nhưng ý nghĩa: “I love you”.

Hãy tin rằng, cho dù đứng trước hiểm nguy hay bất kỳ khó khăn gì trên cuộc đời này, những người yêu nhau chân chính sẽ không bao giờ buông tay…

Trần Quỳnh, Theo Trí thức trẻ


 

Một bà ở Bắc Ninh bị bắt vì giết cha chồng, làm chồng bị thương

Báo Nguoi-viet

July 7, 2023

BẮC NINH, Việt Nam (NV) – Nghi can Nguyễn Thị Viên, 55 tuổi, ở huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, vừa bị bắt, khởi tố với cáo buộc dùng búa đánh chồng bị thương nặng và đoạt mạng cha chồng.

Theo báo VNExpress hôm 7 Tháng Bảy, bà Viên và chồng, ông Lê Duy Hợi, thường xuyên cãi nhau do bà này nghi ngờ chồng giấu tiền riêng đi đánh bạc.

Dao và búa bị cho là của nghi can Nguyễn Thị Viên dùng để tấn công chồng và cha chồng. (Hình: VNExpress)

Khi ông Lê Duy Mộc, 91 tuổi, cha chồng bà Viên, can ngăn, bà này ấm ức.

Ngày 25 Tháng Sáu, bà Viên dùng búa đánh vào đầu ông Hợi khi ông đang ngủ.

Khi ông chồng vùng dậy bỏ chạy, nghi can cầm búa đuổi theo đến đầu cổng thì dừng lại. Khóa cổng, bà Viên quay lại nhà tiếp tục dùng búa và dao bầu tấn công cha chồng.

Sau đó, nghi can Nguyễn Thị Viên uống thuốc sâu và tự đâm dao vào mạn sườn bên trái với ý định tự sát nhưng được đưa đi cấp cứu kịp thời nên bà này giữ được mạng sống.

Hai cha con ông Lê Duy Mộc bị thương nặng. Hai ngày sau, ông Mộc thiệt mạng tại bệnh viện.

Trong một vụ án mạng khác liên quan cha chồng, con dâu, báo Lao Động hồi Tháng Hai năm ngoái cho biết, nghi can Nguyễn Đình Thắng, 62 tuổi, ở huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, dùng súng tự chế bắn chết bà LTX, con dâu, 27 tuổi, rồi tự sát.

Vụ án mạng xảy ra sau khi con dâu mới xây nhà ở cạnh nhà ông Thắng. Thời điểm xảy ra án mạng, con trai ông này đang đi làm tại xã khác trong huyện.

Giới chức xã Thanh Vận cho biết thêm, hai ngày trước khi nổ súng, ông Thắng uống rượu, có xô xát với con dâu và cháu nội 3 tuổi. Sau đó, ông này bị công an xã triệu tập.

Giới chức xã cũng cho rằng nghi can Nguyễn Đình Thắng “thường xuyên uống rượu trong thời gian dài khiến thần kinh bị ảnh hưởng.”

Nghi can Nguyễn Thị Viên khi bị bắt. (Hình: VNExpress)

Liên quan vụ án mạng này, báo Công An Nhân Dân cho biết thêm, tại tỉnh Bắc Kạn, hầu như năm nào cũng có vụ dùng súng tự chế bắn người thân hoặc hàng xóm làm chết người.

Trong vòng 10 năm gần đây, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đã xảy ra hơn 20 vụ dùng súng tự chế để giết người, tự sát hoặc “bắn nhầm” làm chết và bị thương nhiều người.

Theo nhà chức trách địa phương, hầu hết những vụ án mạng bằng súng tại tỉnh Bắc Kạn đều có nguyên nhân từ mâu thuẫn trong gia đình hoặc giữa hàng xóm với nhau. (N.H.K)

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Biệt tăm biệt tích

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Hôm 25 tháng 5 năm 2016, Pearl Pinson (một nữ sinh 15 tuổi) bị bắt cóc khi đang trên đường đến trường và biệt tích luôn kể từ ngày đó. Tuy hơn 7 năm đã qua nhưng thân nhân của em vẫn cứ nuôi hy vọng là sẽ có ngày đoàn tụ, nhân viên điều tra vẫn không ngưng việc kiếm tìm, và báo giới (hàng năm) vẫn không ngừng nhắc nhớ đến câu chuyện buồn lòng này:

  • CBS: Family of Vallejo teen Pearl Pinson holds out hope 6 years after disappearance
  • NBC: Investigation ongoing in 2016 abduction of Pearl Pinson in Vallejo, California
  • The Mercury News: Bay Area community continues to search for kidnapped teen Pearl Pinson
  • Daily Republic: The fight to find Pearl Pinson remains strong 7 years after the teen was kidnapped

Thành phố Vallejo (nói riêng) hay California (nói chung) là một vùng đất phú túc nên tình người nơi đây cũng sâu đậm hơn hẳn nhiều nơi khác chăng?

Không nhất thiết thế đâu!

Hôm 10 tháng 6 vừa qua, mọi cơ quan truyền thông trên toàn thế giới đều hớn hở loan tin đã tìm thấy bốn trẻ em thất lạc, sau tai nạn khiến chiếc phi cơ Cessna 206 bị hỏng máy bất ngờ và rơi giữa xuống rừng sâu:

  • CBS NEWS:4 children lost in Colombian jungle found alive after being missing for 40 days
  • NBC NEWS: 4 children found alive 40 days after plane crashed in Amazon jungle
  • PBS NEWS: 4 Indigenous children found alive 40 days after plane crash in Amazon rainforest
  • The New York Times: 4 Missing Children Found Alive After 40 Days in Colombian Jungle

Lòng yêu thương và sự sự tận tụy của người dân Colombia (một xứ sở nghèo nàn) dành cho những công dân bản địa nhỏ bé của họ thật thiết tha,  và rất đáng trân trọng:

Các em nhỏ, tất cả đều thuộc bộ tộc bản địa Huitoto, đã bị mất tích kể từ khi một chiếc bay hạng nhẹ lao xuống rừng Amazon vào buổi sớm ngày 01/05. Thảm kịch đã khiến người mẹ qua đời, và ba đứa con, 13, chín, bốn và một tuổi, bị lạc trong một khu vực đầy rắn, báo đốm và muỗi.

Nhân viên cứu hộ ban đầu e sợ điều tồi tệ nhất sẽ xảy đến, nhưng những dấu chân, trái cây trong rừng bị ăn dở, và những tín hiệu khác sớm mang đến cho họ một hy vọng là các em có thể còn sống sót sau khi rời khỏi nơi chiếc máy bay rơi để tìm kiếm sự giúp đỡ…

Giới chức đã rải 10.000 tờ rơi với những lời khuyên về sinh tồn được viết bằng tiếng Tây Ban Nha và tiếng bản địa của bộ tộc Huitoto, và các trực thăng của quân đội phát đi thông điệp của bà các em nhỏ qua loa, để trấn an các em là công cuộc tìm kiếm vẫn đang tiếp diễn. (Matt Murphy. “Colombia: Làm Cách Nào Bốn Em Bé Có Thể Sống Sót Trong Rừng Thiêng Nước Độc?” BBC – 06/12/ 2003)

Câu chuyện cảm động về những đứa trẻ bị thất lạc, từ một quốc gia xa xôi, khiến tôi không khỏi mủi lòng khi liên tưởng đến những đồng bào biệt tăm/biệt tích của mình. Suốt mấy thập niên qua, hết thế hệ này đến thế hệ khác, họ cũng đã lần lượt và âm thầm biến mất khỏi cõi đời này nhưng không hề nhận được sự quan tâm của bất cứ ai – ngoài mấy người thân, nếu có!

Hơn 10 năm trước, vào hôm 12 tháng 11 năm 2009, Việt Báo (California) đã phổ biến một mẩu nhắn tin ngăn ngắn (“Cha Xin Giúp Tìm Con Gái Lạc 25 Năm Trước Ở Biển Thái Lan”) khiến không ít độc giả phải cảm thấy nặng lòng:

Bé Bích Hằng bị thất lạc từ năm 1984, 14 tuổi, cho đến nay… Đã xa gia đình và cha mẹ hơn 25 năm qua… Mong rằng Bích Hằng sẽ được đoàn tụ với gia đình trước khi ngày cha mẹ qua đời. Muôn ngàn đa tạ và mang ơn các bạn.  Email: chatimcon@gmail.com, tangbaocan@gmail.com. Mobile Number: 714 487 4241. Other: 714 839 1587.” Xin cầu nguyện và chúc lành.

Gần nửa thế kỷ đã qua, Bích Hằng vẫn biệt vô âm tín. Trang sử thuyền nhân đã đóng nhưng dân Việt vẫn tiếp tục thất tung, và mỗi lúc một thêm nhiều. Hôm 24 tháng 5 vừa rồi, trang FB Hung Tran có ghi lại một status ngắn:

Nhạn Ơi! Em Ở Đâu Về Với Gia Đình.

Em gái tôi là Nguyễn Thị Nhạn, sinh năm 1982. Quê quán xã Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Lúc nhỏ do gia đình khó khăn, em đã phải nghỉ học nhường cho tôi được đến trường, rồi e phải đi lao động kiếm sống xa gia đình từ 13 tuổi…

Đến khi tôi học Sư phạm e phụ giúp nuôi tôi ăn học, phụ giúp bố mẹ chi tiêu. Trong gđ so với e tôi là người may mắn hơn. Em cứng rắn, nghị lực hơn tôi. Cuối năm 2003 e viết cho mẹ một lá thư : “Mẹ đọc được lá thư này mẹ đừng khóc, con tặng mẹ 1 chỉ vàng làm kỉ niệm, hẹn một con giáp con sẽ về.”

Bố mẹ cứ đợi và hi vong nhưng đã 16 năm trôi qua em vẫn không về. E đang ở đâu ? Bố nhớ thương e chỉ biết ngậm ngùi nuốt nước mắt vào trong, còn mẹ cũng lặn lội khắp nơi để tìm em. Bố mẹ đã già, cạn nước mắt vì các anh, vì em. Chỉ mong những năm còn lại trên cuộc đời em sớm quay về để gd đoàn tụ. Cho dù e có là ai, thành công hay thất bại, dù giàu có hay bần hàn thì e mãi là e của chị. Thương và nhớ em rất nhiều ! Nhờ cộng động mạng bạn bè chia sẻ giúp. Gđ tôi xin cảm ơn. Xin liên hệ :0967315570. 0965708529.

Đã có bao nhiêu Nguyễn Thị Nhạn “phải đi lao động kiếm sống xa gia đình” rồi không bao giờ về nữa? Con số hẳn không nhỏ, theo như những bản tin đọc được hàng ngày qua báo chí:

Tuy số nạn nhân đã lên đến mức báo động và dân Việt “biến mất” khắp mọi nơi nhưng nhà đương cuộc Hà Nội hoàn toàn không hề quan tâm chi đến thảm trạng này, dù chính họ vẫn “dỗ ngon dỗ ngọt” để người dân rời nhà bằng mọi cách – kể cả những lời dối gạt:

Báo Vietnamnet đăng tin:

“Bộ mặt làng quê thay đổi với những ngôi nhà cao tầng mọc lên san sát, ô tô đỗ trước ngõ… từ nguồn tiền các em gửi về… Một cán bộ thôn ở xã Thạch Kim (huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh) cho biết: ‘Thôn có 463 người đang lao động ở nước ngoài, nhiều nhất xã, chủ yếu đi theo con đường không chính thống… Một số em vào đại học sau đó lại bỏ ngang, có em đã sở hữu tấm bằng cử nhân nhưng không tìm việc làm ở quê nhà mà sang Mỹ, Canada, Anh, Hàn Quốc… làm việc.”

Báo Dân Trí cho biết: “Phần lớn thanh niên trai tráng sang Lào làm thuê, dù chưa giàu nhưng thu nhập ổn định, đổi đời sau một thời gian làm việc… Nhờ đó, bộ mặt làng quê thay đổi hẳn. Đường bê tông được xây dựng. Nhiều người đi Lào đứng ra đóng góp tiền làm đường, kéo điện thắp sáng, góp sức đưa thôn 5 đạt đủ 19 tiêu chí nông thôn mới…”

Tuyệt nhiên không thấy một tờ báo, một ban ngành hay một giới chức lãnh đạo nào nhắc nhở chi đến những kẻ đã biệt tăm/biệt tích nơi đất lạ xứ người. Cứ như thể là họ chưa bao giờ có mặt trên cuộc đời này cả. So với với những người dân bản địa ở rừng mưa Amazon (Nam Mỹ) thì mạng sống của người Việt hiện nay, xem chừng, hơi rẻ.

Blogger Lê Anh Hùng nói ông bị ‘cưỡng bức điều trị tâm thần’ và ‘đầu độc’

Báo Tiếng Dân

VOA

6-7-2023

Bạn bè đến thăm ông Lê Anh Hùng (áo xanh, thứ ba, bên trái) ngày 5/7/2023. Photo Facebook Đặng Bích Phượng.

Blogger Lê Anh Hùng, cộng tác viên của VOA, hôm 5/7 mãn án tù 5 năm vì bị cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ”. Ông Hùng nói với VOA rằng ông bị chính quyền “cưỡng bức” điều trị tâm thần một cách “lén lút” mà không có sự đồng ý của ông, và họ cũng không thông báo cho gia đình và luật sư.

Nhà báo độc lập Lê Anh Hùng bị bắt vào ngày 5/7/2018 với cáo buộc “Lợi dụng quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của nhà nước…” theo Điều 331 của Bộ luật Hình sự. Nhưng mãi đến ngày 30/8/2022, ông mới được đưa ra xét xử, sau hai lần nhập viện tâm thần với thời gian điều trị hơn ba năm.

Ông Hùng nói với VOA ngay sau khi từ trại giam Ba Sao ở Hà Nam về nhà ở Hà Nội ngày 5/7.

“Ngay sau khi tôi bị bắt một thời gian ngắn họ cưỡng bức tôi đưa đi giám định tâm thần, giám định tâm thần hai lần. Việc đưa đi giám định họ cũng lén lút, không thông báo cho luật sư và gia đình tôi”.

Ông Hùng cho biết ông và gia đình phản đối việc ông bị cưỡng bức điều trị tâm thần, cho rằng đó là hành vi “đầu độc” người chưa được xét xử khi bị giam giữ ở trại Hỏa Lò ở Hà Nội:

“Việc họ cưỡng bức tôi đi giám định và cưỡng bức điều trị bắt buộc… tôi, gia đình và bạn bè và dư luận đều phản đối việc đó. Đã làm đơn này nọ nhưng đều không có tác dụng gì cả. Tôi vẫn bị cưỡng bức điều trị bắt buộc. Tôi phản đối dùng thuốc vì tiêm thuốc tâm thần rất độc hại vào người.

“Suốt thời gian hơn ba năm tôi sống trong tình cảnh bị đầu độc như thế”.

Ông Hùng nêu nhận định về lý do ông bị bắt và quy trình tố tụng trong vụ án của ông:

“Việc tôi bị bắt xuất phát từ hành vi ngày 23/5/2018 khi tôi treo biểu ngữ có nội dung tố cáo ông Hoàng Trung Hải, lúc bấy giờ là Bí thư Thành ủy Hà Nội, phạm tội gián điệp, theo Điều 110 BLHS, và tố cáo ông Nguyễn Phú Trọng, phạm tội phản quốc, theo Điều 108 BLHS…Nhưng họ không cho tôi cơ hội đưa ra bằng chứng, lý lẽ để bảo vệ lời tố cáo của mình, họ lại khởi tố vụ án và bắt tạm giam tôi ngay”.

“Đó là sự vi phạm pháp luật rất nghiêm trọng”, ông Hùng nhấn mạnh.

“Sau khi bị kết án ngày 30/8/2022, tôi có viết đơn đề nghị xem xét lại vụ án của tôi theo tình tự giám đốc thẩm. Đơn đã gửi ngày 25/2, cho đến nay đã hơn 4 tháng mà họ chưa trả lời tôi. Đây là sự vi phạm rất trắng trợn”.

“Bản án 5 năm tù của tôi, tôi nghĩ khi dấn thân vào con đường này thì tôi nhận thức rằng việc bị bắt bớ tù đày là một phần của cuộc đấu tranh này, nên tôi cũng không bất ngờ và đã sẵn sàng cho việc đấy”.

VOA đã liên lạc Bộ Ngoại giao Việt Nam, Công an thành phố Hà Nội, Tòa án Nhân dân cấp cao tại Hà Nội và đề nghị họ cho ý kiến về các phát biểu của ông Hùng, nhưng chưa được phản hồi.

Nhà hoạt động Nguyễn Vũ Bình, một người bạn của ông Hùng ở Hà Nội, chia sẻ ý kiến cá nhân của ông với VOA: “Tôi cũng như nhiều bạn bè của Hùng, rất vui mừng vì Hùng đã được trả tự do, kết thúc giai đoạn tù đày, nhất là giai đoạn trong bệnh viện Pháp Y tâm thần trung ương. Một người bình thường ở trong bệnh viện tâm thần hơn 3 năm, bị tiêm và uống thuốc tâm thần là điều ít ai tưởng tượng nổi. Hùng đã vượt qua, có thể nói là địa ngục trần gian để trở về với gia đình và bạn bè”.

Ông Hùng là một blogger khá nổi tiếng vì lên tiếng chỉ trích chính quyền Việt Nam và từng là cộng tác viên của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA).

“Chúng tôi rất vui vì ông Lê Anh Hùng đã được trả tự do,” một phát ngôn viên của VOA cho biết vào cuối ngày 5/7. “Chúng tôi rất mong được liên lạc với ông ấy.”

Trong một tuyên bố trước đây, Cơ quan Truyền thông Toàn cầu (USAGM), cơ quan chủ quản của VOA, kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do ngay lập tức cho các cộng tác viên của các đơn vị truyền thông trực thuộc, trong đó có ông Hùng, gọi đây là hành động nhằm bịt miệng những tiếng nói chỉ trích chính phủ.

“Việc bắt bớ nhằm bịt miệng những tiếng nói chỉ trích là điều đáng phê phán, và điều đó cần phải thay đổi ngược lại. Cuộc trấn áp tự do ngôn luận trên diện rộng ở Việt Nam là một cuộc tấn công trắng trợn vào quyền con người của công dân Việt Nam và tự do báo chí”, thông cáo của USAGM viết.

Ngoài blogger Lê Anh Hùng, còn có blogger Phạm Chí Dũng, một cộng tác viên khác của VOA, cũng bị chính quyền Việt Nam giam cầm. Các cộng tác viên khác của USAGM đang bị chính quyền giam cầm bao gồm blogger Nguyễn Văn Hoá, blogger Nguyễn Tường Thuỵ, blogger Trương Duy Nhất, là những người cộng tác với Đài Á châu Tự do (RFA), cơ quan truyền thông trực thuộc USAGM.

Chính quyền Việt Nam từ trước đến nay bác bỏ các cáo buộc vi phạm tự do báo chí, hay đàn áp tự do ngôn luận, cho rằng họ chỉ bắt giam và xét xử những ai “vi phạm pháp luật”.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Người & Rác

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

“Đồng chí Tổng Bí Thư nói nếu nhìn một phụ nữ đẩy xe bò mà lòng không xúc động thì không còn là người cộng sản nữa.” Bùi Ngọc Tấn – Chuyện Kể Năm 2000

Tôi “nhặt” được câu danh ngôn (thượng dẫn) trong Chuyện Kể Năm 2000, tập II, của Bùi Ngọc Tấn. Chỉ có điều đáng tiếc là tác giả quên ghi rõ là đồng chí TBT nào đã phát biểu một câu nói “đắt giá” tới cỡ đó. Mãi đến khi cùng cụng ly với tác giả ở California (ông chơi một ly sinh tố to đùng, ngó mà ớn chè đậu) tôi mới có dịp nêu thắc mắc, và nhận được câu trả lời hóm hỉnh : “Thì ông TBT nào mà chả  nói thế.”

Ah! Thì ra thế. Tuy thế, mọi người đều biết rằng mấy ổng nói vậy thôi chớ hổng phải vậy đâu. Bởi vậy nên những phụ nữ đẩy xe bò hay xe rác lềnh khênh, khắp mọi nẻo đường, từ hơn hai phần ba thế kỷ qua mà chả thấy có đồng chí nào xúc động (hay xúc cảm) gì ráo trọi. Cuộc cách mạng vô sản ở Việt Nam chỉ mang lại một thay đổi duy nhất cho giới người này là họ được đổi tên từ “phu quét đường” thành “công nhân vệ sinh đường phố” thôi.

Làm phu quét rác thì vô tư nhưng khi đã trở thành công nhân (lực lượng tiên tiến và tiên phong của Đảng) thì lại được Mặt Trận Tổ Quốc giao thêm rất nhiều trọng trách : “là lực lượng quan trọng, là tai mắt đường phố, có thể góp phần giữ vững an ninh chính trị, phòng chống, phát hiện các đối tượng tệ nạn xã hội… được công an quận tập huấn một số kỹ năng như: hướng dẫn nắm bắt vụ việc, nhận diện hiện tượng, con người liên quan đến an ninh chính trị; về hoạt động băng nhóm hoặc nghi vấn đối tượng trộm cắp, cướp giật tài sản cũng như công tác bảo vệ hiện trường.”

Vừa thôi chớ!

Họ vừa phải đẩy xe rác làm vệ sinh đường phố, lại vừa kiêm nhiệm luôn công việc của ngành an ninh tình báo, và bảo vệ hiện trường nữa nên (lắm lúc) không tránh được tai nạn giao thông thảm khốc – theo tin loan của trang Tin Tức Việt Nam:

“Đêm 22/4/2019, trên địa bàn Hà Nội, một chiếc ô tô Hyundai từ phố Vĩnh Hồ đi về đường Láng, hướng Cầu Giấy đã đâm liên hoàn nhiều phương tiện khiến chị Lê Thị Thu Hà (42 tuổi, Đặng Văn Ngữ, Hà Nội) đang là công nhân quét rác thuộc Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội – Chi nhánh Đống Đa tử vong…

Hoàn cảnh của chị Lê Thị Thu Hà rất đáng thương. Ly thân chồng, chị phải một mình nuôi hai con còn đang ăn học và mẹ già bị bệnh nặng. Gia đình bốn người sống trong căn nhà cấp 4 lụp xụp, lợp ngói dột nát, tường nhà toàn bộ bong tróc, nứt toác. Khi còn sống, chị Hà mong ước có thể sửa sang lại căn nhà cho mẹ và các con nhưng lại ngặt nỗi chẳng có tiền.

Tiền lương từ nghề vệ sinh môi trường không đủ để lo cho các con ăn học nên chị phải làm cả việc khác để kiếm thêm tiền. Hàng ngày, chị đi quét rác đến 2-3h sáng mới về. Chợp mắt được vài tiếng, chị gắng dậy, chạy xe ôm Grab…

Sự việc của chị Lê Thị Thu Hà như một hồi chuông cảnh báo xã hội cần quan tâm hơn nữa đến những công nhân vệ sinh môi trường. Để cho cuộc sống chúng ta sạch đẹp, họ phải đối mặt với nhiều nguy hiểm khi ngày ngày ra giữa đường phố quét rác. Chị Hà không phải người lao công đầu tiên gặp tai nạn giao thông.

Đã có rất nhiều trường hợp tương tự xảy ra khi các công nhân môi trường ra đường lao động để mang lại mỹ quan đô thị cho người dân. Đấy là chưa kể đến những mối tiềm tàng bệnh tật do hàng ngày đối mặt với rác thải độc hại.”

Úy Trời/Đất/Quỉ/Thần ơi! Cái xã hội này có ai dòm ngó gì đến đám phu quét đường bao giờ đâu mà nói “cần quan tâm hơn nữa đến những công nhân vệ sinh môi trường,” cha nội? Ngoài việc “đối mặt với rác thải độc hại” – hằng ngày – họ còn phải gánh chịu biết bao là nỗi tủi nhục và đắng cay khác nữa. Ngày 24 tháng 4 năm 2019, ký giả  Đào Thanh Tuy tường thuật:

“Có lần tận mắt chứng kiến một chiếc ô tô đẹp đi trong ngõ, ngang qua xe phu rác đang đẩy. Xe chậm lại, từ trong xe, một ả hạ kính rồi lẳng ngay chiếc bỉm vàng khè vào xe rác. Bởi xe không dừng hẳn nên cú ném ấy không trúng đích mà trúng đầu phu rác. Uất ức, phu rác chửi. Xe dừng, thằng chồng phi xuống vớ ngay cái xô rác ở gần đó vụt tới tấp vào đầu phu rác. Phu rác chỉ biết thụp xuống ôm mặt khóc.”

Hơn ba tuần sau, báo Pháp Luật (số ra ngày 20 tháng 5 năm 2019) loan tin:

“Một đoạn video xuất hiện trên mạng xã hội, được cho là quay tại Quảng Trị. Theo đó, khi chủ một shop quần áo vứt rác ra đường thì bị một công nhân vệ sinh nhắc nhở, sau đó chủ shop trên đã lao vào hành hung và mắng chửi người công nhân vệ sinh.”

Chả hiểu khi bị “hành hung và mắng chửi” hay bị ném “chiếc bỉm vàng khè vào đầu” (giữa phố đông người) đám phụ nữ đẩy xe rác có ai nghĩ đến lời khuyên của ông Bí Thư Thành Ủy Nguyễn Thiện Nhân không : “Những lúc khó, cực, lúc không hài lòng với công việc, hãy nghĩ tới Bác.”

Bác chính là vị Tổng Bí Thư đầu tiên của ĐCSVN và là tác giả Hồ Chí Minh Toàn Tập. Trong tác phẩm này (bản in lần thứ ba, do nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia tái bản năm 2011) nơi trang 12 có câu: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa.”

Đương kim TBT Nguyễn Phú Trọng lại vừa cập nhật “tình hình” (không mấy lạc quan) như sau : “Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa” nữa” Chuyện giải phóng phụ nữ ở VN, như thế, đành phải đợi đến … cuối thế kỷ sau vậy!

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Trường Chinh

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

Tôi vừa được đọc một bài viết thú vị (“Kiêu Ngạo Nhận Vơ”) của blogger Hà Hiển, với câu kết khá bất ngờ:

“Từ năm 1954 đến 1975, đúng là ‘ta’ đã chiến thắng được ‘hai đế quốc to’ cùng với được hơn chục nước trên thế giới đã đi theo con đường mà Lê nin đã chọn, tức theo CNCS, từ đó các Cụ nhà mềnh thấy CNCS ‘oách’ quá, cứ đà này cả thế giới gần 200 nước sẽ theo CNCS hết sạch, dưới ngọn cờ bách chiến bách thắng của chủ nghĩa Mác Lê nin sẽ đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác rồi tiến lên giải phóng cả Hoa Kỳ, Ý, Đức, Anh, Pháp… abc… thoát khỏi ách bóc lột của CNTB… Hu hu…!!!

Từ những nguyên nhân trên các Cụ lớn nhà mềnh mới sinh ra thói ‘Kiêu ngạo cộng sản’ tuy không tốt nhưng có cái để …kiêu ngạo, nhưng các cụ nối ngôi sau này chẳng có cái gì lận lưng để mà ‘kiêu ngạo’ cả. Chỉ là ăn theo thôi! Nên đúng là… ‘kiêu ngạo vì những cái không phải của mình’ hay còn gọi là ‘kiêu ngạo cộng sản!’ Sau Cụ Trường Chinh, nếu có thì chỉ là ‘kiêu ngạo nhận vơ!’ mà thôi!”

Nhận xét thượng dẫn về “Cụ Trường Chinh” khiến tôi chợt nhớ đến công trình biên soạn rất công phu (Bên Thắng Cuộc) của nhà báo Huy Đức. Tác giả đã dành nguyên một chương (chương 10, tập I) cho ông Trường Chinh, nhân vật được coi là đã đặt nền móng cho chính sách “đổi mới” và được mô tả như một vị thánh tử vì đạo:

“Trong những thời khắc khó khăn nhất của lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Trường Chinh đều đã có mặt: có khi là để lãnh đạo Việt Minh cướp chính quyền như hồi năm 1945, có khi đứng ra chịu trách nhiệm cá nhân về sai lầm của Đảng trong cải cách ruộng đất năm 1956, và trong thập niên 1980 là tự thức tỉnh và dẫn dắt Đảng thoát ra khỏi sự bế tắc bởi chính những đường lối của mình.”

Cách nhìn của những người ngoại đạo, hay đã bỏ đạo (cộng sản) lại hoàn toàn khác:

– Nguyễn Minh Cần: “Sau khi Lê Duẩn chết, Trường Chinh lên làm TBT. Ông vốn là một ‘lãnh tụ’ nổi tiếng ‘giáo điều.’ Ngay cái biệt hiệu của ông cũng nói lên đầu óc sùng bái họ Mao… Cũng trên cương vị TBTĐCSVN, hồi những năm 50, Trường Chinh đã lãnh đạo cuộc cải cách ruộng đất CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức (CĐTC) Ở NÔNG THÔN MIỀN Bắc rập khuôn theo hình mẫu trung quốc đã đem lại vô vàn tai hoạ cho nhân dân.” (Nguyễn Minh Cần. Đảng Cộng Sản Việt Nam. Arlington, VA: Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2016).

– Vũ Thư Hiên: “Về sau này, khoảng đầu thập niên 50, tôi tình cờ vớ được cuốn Chủ Nghĩa Mác Và Công Cuộc Phục Hưng Nền Văn Hóa Pháp (*) của Roger Garaudy. Đọc xong tôi mới ngã ngửa ra rằng ông Trường Chinh đáng kính của tôi đã làm một bản sao tuyệt vời của cuốn này trong trước tác Chủ Nghĩa Mác và Vấn Đề Văn Hóa Việt Nam, được ca tụng như một văn kiện có tính chất cương lĩnh. Bố cục cuốn sách gần như giữ nguyên, thậm chí Trường Chinh trích dẫn đúng những đoạn mà Roger Garaudy trích dẫn Mác, Engels, và cả Jean Fréville.

Tiếp đó là sự phát hiện đáng buồn của tôi về cuốn Trường Kỳ Kháng Chiến Nhất Định Thắng Lợi. Nó quá giống cuốn Trì Cửu Chiến Luận (Bàn về đánh lâu dài) của Mao Trạch-đông, trừ đoạn mở đầu rất đẹp, là một áng văn rất hay …” (Vũ Thư Hiên. Đêm Giữa Ban Ngày. 2sd ed. Westminster, CA: Văn Nghệ, 1997).

Riêng trong lãnh vực thi ca thì Trường Chinh hoàn toàn không bị tai tiếng gì ráo trọi. Ông sáng tác mình ên, không “mượn” câu chữ nào – nửa chữ cũng không – bất kể là của Tây hoặc của Tầu. Thơ của Trường Chinh, với bút hiệu Sóng Hồng, chỉ có chút khuynh hướng (và hơi hướng) Mạc Tư Khoa thôi:

Hỡi thi sĩ! Hãy vươn mình đứng dậy!
Thời rượu nồng, đệm gấm đã qua rồi.
Thôi thôi đừng khóc gió với than mây,
Hãy nhịp bước trên con đường tiến bộ.
Dùng thi khúc mà lạnh lùng soi tỏ
Những bệnh căn xã hội đã tràn đầy;
Cùng công nông vun xới cuộc tương lai
Đã chớm nở từ Liên-xô hùng vĩ.

(Ngoại thành Hà Nội, tháng 6-1942)

Hơn 40 năm sau, sau khi kêu gọi giới thi sĩ “cùng công nông vun xới cuộc tương lai,” đến năm 1986 (vào lúc cuối đời, chả hiểu sao) bỗng Anh Cả Trường Chinh đổi ý. Ông Tổng Bí Thư đến già mới chợt tỉnh, theo như cách nói của nhà báo Tống Văn Công:

“Hoàng Ước, thư ký của Trường Chinh bảo tôi là một hôm Trường Chinh nói với mấy người giúp việc rằng ta trả cho người lao động đồng lương bóc lột. Hoàng Ước bèn nói lương chúng tôi chỉ đủ sống mười ngày.

Trường Chinh cau mày khó tin – bóc lột thì có nhưng sao lại có thể ác nghiệt hơn cả đế quốc đến thế – nhưng hôm sau ông bảo Hoàng Ước: Tôi đã hỏi nhà tôi, nhà tôi nói không có chế độ cung cấp đặc biệt thì lương ông cũng chỉ đủ cho nhà này ăn mười ngày. Sau đó Trường Chinh đến nhà máy thuốc lá Thăng Long nói: Phải cứu giai cấp công nhân!” (Trần Đĩnh. Đèn Cù II. Westminster, CA: Người Việt, 2014).

Tiếc rằng ông không “tỉnh” được lâu. Chỉ hai năm sau, năm 1988, Trường Chinh đột ngột từ trần. Thôi thế cũng xong. Cuối cùng, rồi ông cũng thoát. Thoát khỏi cái XHCN do chính ông đã dụng công xây đắp nhưng giai cấp công nhân thì không. Họ kẹt: kẹt lớn, kẹt lắm, và (chắc chắn) sẽ kẹt luôn – nếu chế độ hiện hành vẫn tiếp tục tồn tại.

Báo Vietnamnet ái ngại cho hay: “Lương tối thiểu mới đáp ứng hơn 1/3 nhu cầu tối thiểu.” Và đó là mức lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, chớ giới công nhân thì còn tệ hơn thế nữa!

Thế họ sống làm sao?

Thưa họ “ăn thịt mình để sống” – như nguyên văn lời Phó Viện Trưởng Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia, PGS-TS Lê Bạch Mai:

“Những khảo sát của viện năm đó cho thấy chất lượng bữa ăn của công nhân không khác gì hai chữ “tồi tệ” khi trong khẩu phần ăn chỉ có 12% protein (chất đạm), 16% chất béo…

“Khi năng lượng khẩu phần ăn không đủ thì (cơ thể) phải sử dụng nguồn năng lượng dự trữ của mình. Khi đó khối cơ của người lao động bị bào mòn, bị lấy đi hằng ngày… và họ rơi vào thực trạng ‘như ăn thịt mình …’ Họ chưa chết đói. Nhưng sẽ đói đến lúc chết”.

Bản thân ông Trường Chinh (đôi khi) cũng đói, theo như lời của trưởng nam Đặng Xuân Kỳ – nguyên Ủy Viên Ban Chấp Hành Trung Ương:

“Ông cụ tôi ra ngoài không dám ăn uống bất cứ thứ gì. Họp Bộ chính trị với Trung ương cũng uống nước của nhà mang theo và nếu không về nhà ăn trưa được thì ông cụ nhịn.” (T. Đĩnh, trang 208).

Chung cuộc, may thay, ông Trường Chinh cũng đã cứu được chính mình. Ông qua đời vì tai nạn chứ không phải vì bị đầu độc – như rất nhiều đồng chí khác.

Nghĩa tử là nghĩa tận. Tôi đang không rảnh (lắm) và cũng chả thấy có chút hứng thú gì khi phải đụng chạm gì đến một người… đã chết. Vấn đề, chả qua, vì chẳng đặng đừng – như “lời trăng trối” của triết gia (ngoại đạo) Trần Đức Thảo:

Ta chỉ có thể thanh toán những điều xấu của quá khứ bằng cách thẳng thắn lôi nó ra ánh sáng của hiện tại, để cùng nhau nhận diện nó, để vĩnh viễn không cho phép nó tái diễn. Mà quá khứ cách mạng của ta thì đã tích tụ quá nặng nề những di sản xấu ấy.

Nạn cộng sản sẽ qua, và sắp qua. Chúng ta khó mà có thể tái thiết đất nước và xây dựng một tương lai ổn định nếu không nhìn cho thật rõ về quá khứ.

– Tưởng Năng Tiến

_______________

(*) Vì thấy nhà văn Vũ Thư Hiên đánh dấu hỏi (?) sau chú thích về cuốn sách của Roger Garaudy nên chúng tôi tìm hiểu thêm, và được biết tên chính xác của tác phẩm là Le communisme et la renaissance de la culture française –Paris, Éditions sociales, 1945 – chứ không phải là Le Marxisme et la Renaissance de la culture Française. Trong cuốn Những Lời Trăng Trối (trang 309) Trần Đức Thảo cho biết là ông được giao trách nhiệm “dịch ngược” tác phẩm Đề Cương Văn Hoá Văn Nghệ Cách Mạng ra Pháp ngữ, và được chính Trường Chinh mời gặp để “bắt tay” cùng với lời cảm ơn.


 

Cộng đồng gốc Việt trên bức tranh chính trị Mỹ

Mỹ Anh

3 tháng 7, 2023

Vấn đề đa số trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt thích Cộng hòa hơn Dân chủ, cụ thể là khoái ông Trump hơn ông Biden, chẳng là chuyện lạ. Mới đây, trong bài báo ngày 3 Tháng Bảy 2023 trên The Washington Post, cây bút Meena Venkataramanan lại mổ xẻ lại “hiện tượng” này, qua đó cho thấy sự hiện diện ngày càng đáng chú ý của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trên bức tranh chính trị Mỹ.

Trong nhiều thập niên, quy ước chính trị cho rằng dân số người Mỹ gốc Á ngày càng tăng luôn có xu hướng bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ. Tuy nhiên, có một ngoại lệ khi điều này rất không đúng với người Mỹ gốc Việt. Theo dữ liệu từ cuộc Khảo sát Cử tri Người Mỹ gốc Á năm 2022 và 2020, người Mỹ gốc Việt là nhóm sắc dân gốc Á duy nhất chiếm đa số – 39% vào năm 2022 – được xác định hoặc có khuynh hướng nghiêng về Cộng hòa hơn Dân chủ.

Trong khi đó, đa số trong mọi nhóm dân tộc châu Á khác được khảo sát – người Mỹ gốc Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Nhật và Hàn Quốc – lại được xác định hoặc có khuynh hướng nghiêng về Dân chủ. Một cuộc khảo sát lớn hơn của Trung tâm Nghiên cứu Pew công bố vào Tháng Năm cho thấy có đến 51% cử tri gốc Việt đăng ký đi bầu được xác định hoặc có khuynh hướng nghiêng về Cộng hòa, so với 42% được xác định hoặc có khuynh hướng nghiêng về Dân chủ. Trong khi đó, cũng theo kết quả cuộc thăm dò này, đa số cử tri người Mỹ gốc Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines và Hàn Quốc lại ngả sang Dân chủ.

Một số ý kiến giải thích rằng quá khứ chiến tranh cùng những ám ảnh của lịch sử nhập cư đầy bi thảm bởi hậu quả trực tiếp của chiến tranh và bởi chính sách đàn áp tàn bạo của cộng sản giai đoạn hậu chiến đã tác động mạnh mẽ đến khuynh hướng chính trị của lớp người lớn tuổi – những người tin rằng đảng Cộng hòa thường có khuynh hướng “đánh” cộng sản tốt hơn Dân chủ với những chính sách đối ngoại cứng rắn hơn.

Lập luận không thuyết phục này và thiếu cơ sở chứng minh một cách đúng đắn về mặt khoa học có thể dẫn đến những cuộc tranh cãi bất tận nhưng thực tế này lại được chính giới Hoa Kỳ ngày càng quan tâm và họ bắt đầu có những chiến lược cụ thể để giành phiếu cử tri người Mỹ gốc Việt – nhóm cộng đồng hiện chiếm 10% dân số người Mỹ gốc Á ở Mỹ, với tỉ lệ phát triển nhanh nhất nước Mỹ và trở thành khối cử tri ngày càng quan trọng. Với dân số khoảng 2.3 triệu vào năm 2021, theo dữ liệu điều tra dân số mới nhất, người Việt là cộng đồng gốc Á lớn thứ tư ở Mỹ, sau người Mỹ gốc Hoa, Ấn Độ và Philippines.

Những năm gần đây, Đảng Cộng hòa đã dồn sức đầu tư nhiều hơn trong việc giành phiếu cử tri Mỹ gốc Á khi xoáy mạnh vào các vấn đề như tội phạm, giáo dục và “cộng sản hóa”. Với một số chính trị gia Mỹ, việc khoác lên đối thủ chính trị chiếc áo cộng sản luôn là chiêu tranh cử hiệu quả, đặc biệt đối với người Mỹ gốc Việt – những người “rành sáu câu” về cộng sản và sự tồi tệ của chủ nghĩa cộng sản cũng như phiên bản quái thai của nó là “chủ nghĩa xã hội”.

Trong một chiến dịch quảng cáo tranh cử vào mùa Thu 2022, một nhóm bảo thủ thuộc cánh Cộng hòa đã tung ra một video về các cuộc tấn công nhằm vào người Mỹ gốc Á, với nội dung đổ lỗi cho chính quyền Biden thất bại trong việc ngăn chặn làn sóng bạo lực nhằm vào người châu Á, rằng phe Dân chủ quá mềm mỏng và nhẹ tay với tội phạm.

Cách này ít nhiều phát huy tác dụng: Cử tri người Mỹ gốc Á ngày càng nghiêng về Cộng hòa nhiều hơn trong các cuộc bầu cử gần đây, trong đó có mùa bầu cử 2020 và 2022. Chẳng phải tự nhiên mà Nainoa Johsens, phát ngôn viên của Ủy ban Quốc gia Đảng Cộng hòa, cho biết Ủy ban Quốc gia Cộng hòa, cam kết chi hàng triệu đôla trong cuộc chiến giành phiếu tại các cộng đồng người Mỹ gốc Á Thái Bình Dương tại các tiểu bang trọng điểm.

Phe Dân chủ cũng không ngồi yên. Tracy Falon King, Giám đốc truyền thông của AAPI (Cộng đồng các sắc dân đảo Thái Bình Dương và Mỹ gốc Á), cho biết phe Dân chủ “sẽ tiếp tục làm việc để thu hút và huy động các cử tri AAPI, trong đó có người Mỹ gốc Việt. Khi bước vào mùa bầu cử tổng thống, chúng tôi dự định tăng gấp đôi cam kết của mình và tiếp tục chia sẻ cách mà Dân chủ đã mang lại kết quả chưa từng có cho cộng đồng AAPI.”

Karthick Ramakrishnan, người sáng lập và đồng giám đốc của AAPI Data, một trong những nhóm tài trợ cho cuộc Khảo sát cử tri người Mỹ gốc Á định kỳ hai năm một lần, cho biết khuynh hướng “chọn phe” của người Mỹ gốc Việt cũng tương tự người Mỹ gốc Cuba – những người hiểu rõ bộ mặt chế độ cộng sản. Yếu tố chống cộng cùng với yếu tố xây dựng sức mạnh cộng đồng địa phương đã kết hợp lại với nhau để tạo nên thiên hướng chính trị của người Mỹ gốc Việt và giúp giải thích được lý do tại sao họ đặt niềm tin vào phe Cộng hòa.

Trong một cuộc chạy đua vào Quốc hội ở Quận Cam vào mùa Thu 2022, Dân biểu Michelle Steel và đối thủ Dân chủ Jay Chen đều tăng cường chiến dịch vận động nhằm vào người gốc Việt dù cả hai đều không phải người gốc Việt. Michelle Steel là người gốc Hàn; và Chen gốc Đài Loan. Trong chiến dịch tranh cử, Michelle Steel gọi Chen là “cái thứ theo đuôi cộng sản” trong khi Chen khẳng định rằng ông chống cộng sản Trung Quốc đến cùng. Kết quả, Michelle Steel tái đắc cử.

California có số lượng người Mỹ gốc Việt đông nhất nước Mỹ. Tại Quận Cam, cộng đồng gốc Việt là khu vực bầu cử chính trị quan trọng đại diện cho tỷ lệ ngày càng tăng của các nhà lãnh đạo địa phương. Tất cả thành viên Hội đồng thành phố Westminster (trừ một người) đều theo Cộng hòa, kể cả thị trưởng Chi Charlie Nguyễn. Phó chủ tịch Hội đồng giám sát viên quận Cam và hai dân biểu tiểu bang cũng là “dân” Cộng hòa.

Với cộng đồng Quận Cam và đa số trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt nói chung, Donald Trump là tổng thống nhận được ủng hộ nhiều nhất trong lịch sử tổng thống Hoa Kỳ. Trong cuộc khảo sát năm 2022, gần một nửa số người Mỹ gốc Việt cho biết họ “khoái” Trump (47%) so với vỏn vẹn 29% trong cộng đồng người Mỹ gốc Á nói chung. Với nhiều người Mỹ gốc Việt, chỉ có Trump mới “tiêu diệt” được cộng sản và chỉ có Trump mới “đủ tầm” “đánh” Tập Cận Bình.

Tuy nhiên, khi ngày càng có nhiều người Mỹ trẻ gốc Việt đi bỏ phiếu, khuynh hướng chính trị của cộng đồng có thể thay đổi. Một số người cho biết họ đã vỡ mộng vì Trump và một số người khác bắt đầu nhận thấy rằng Biden không “hèn” như họ tưởng và không “bán nước” cho Trung Quốc như những gì những nhân vật bảo thủ cực đoan trong Cộng hòa từng rao rêu.

Trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt, giới trẻ và thành phần trí thức luôn có khuynh hướng ngả về Dân chủ. Ông bà nghị sĩ Mỹ nào muốn kiếm phiếu người Mỹ gốc Việt thì không bao giờ quên tiếp cận nhóm đối tượng này. Một cuộc khảo sát của Pew được cung cấp cho The Washington Post cho thấy, trong khi 68% cử tri người Mỹ gốc Việt từ 50 tuổi ủng hộ Cộng hòa thì 58% cử tri trẻ nghiêng về Dân chủ.

Vài nhân vật tham chính trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt, với màu áo Dân chủ, cũng đã đạt được thành công. Năm 2022, ông Hoan Huynh, thuộc Dân chủ, đã trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên được bầu vào ghế dân biểu tiểu bang Illinois. Trong chiến dịch tranh cử, ông Hoan Huynh phát tài liệu vận động bằng tiếng Việt và tập trung vào các vấn đề kinh tế ảnh hưởng đến nhóm cử tri thuộc tầng lớp lao động cũng như chính sách trợ cấp các doanh nghiệp nhỏ. Ông Hoan Huynh, 33 tuổi, đến Mỹ với tư cách người tị nạn năm 1993, nói thêm rằng chiến dịch tranh cử của ông đã thu hút các cử tri người Việt thế hệ thứ nhất lớn tuổi, những người từng ủng hộ Trump vào năm 2016 và 2020 nhưng sau đó đã bỏ phiếu cho Dân chủ lần đầu tiên vào năm 2022.

WESTMINSTER, CA – March 17: Patrons exit with their groceries from the A Dong Supermarket where the American flag and the South Vietnam flag, of the former State of Vietnam, hang in the window in the Asian Village of Little Saigon, Westminster Wednesday, March 17, 2021. Asian and Asian-owned small businesses are fearful in light of recent hate crimes against Asians. (Allen J. Schaben / Los Angeles Times via Getty Images)

Nữ nhà văn Ukraine, Victoria Amelina bị tên lửa của Nga giết ở tuổi 37 -BBC

Nữ nhà văn Ukraine, Victoria Amelina chết vì vết thương nặng trong bệnh viện sau vụ tên lửa của Nga bắn vào Kramatorsk thứ Ba tuần trước.

Năm nay bà mới 37 tuổi và là cây bút được giới trẻ Ukraine mến mộ.

Bà là người thứ 13 chết vì vụ oanh kích của quân Nga vào các mục tiêu dân sự ở Kramatorsk, thành phố do Ukraine kiểm soát nhưng nằm gần vùng Nga chiếm ở Đông Ukraine.

BBC.COM

Nữ nhà văn Ukraine, Victoria Amelina bị tên lửa của Nga giết ở tuổi 37 – BBC News Tiếng Việt

DÂN NÀO THÌ CHÍNH QUYỀN ẤY!!!

DÂN NÀO THÌ CHÍNH QUYỀN ẤY

Sáng sớm, một bạn báo cho biết “Thanh Hóa đã thông báo tạm dừng xây dựng khu tượng đài trăm tỉ tại Sầm Sơn”. Vui vì tin này, dù biết là mới chỉ “tạm dừng” chứ không phải “hủy”. Tuy nhiên, trước mắt gần 300 tỉ đồng tiền dân và 32ha công thổ quý giá sẽ tạm thời chưa bị nướng mất vào một công trình có quá nhiều lý do để không nên hiện diện. Có mấy vấn đề muốn bàn rộng thêm xung quanh quyết định “tạm dừng” này của chính quyền Thanh Hóa.

  1. Dân nào thì chính quyền ấy.

Tôi đã nói quan điểm này nhiều lần, những quyết định của chính quyền sẽ chịu ảnh hưởng tùy vào mức độ nhận thức và thái độ của dân chúng. Nếu dân không lên tiếng một cách mạnh mẽ thì công trình sẽ vẫn được tiến hành xây dựng; và nếu chỉ có “chửi bới” thì chính quyền sẽ không những vẫn làm mà còn quy kết những cá nhân lên tiếng ấy là chống đối/chống phá. Phản đối cần lý lẽ và sự phân tích thấu lý để không ai có thể ngụy biện hoặc chụp mũ được nữa.

  1. Tượng đài này có thể vẫn sẽ bị tiến hành vào một thời điểm khác, bất chấp mong muốn của nhân dân trước những phi lý của nó. Tuy nhiên, dù thế, thì việc lên tiếng sẽ không bao giờ vô ích, vì nó chứng tỏ cho dân chúng thấy một chính quyền đang không đồng hành cùng nguyện vọng của họ; và nhất là giúp dân nhìn rõ hơn, sâu hơn vào bản chất của hệ thống công quyền.

Việc phân tích xác đáng là để bóc tách một cách thuyết phục những vô lý của một công trình, từ đó giúp dân chúng nâng cao hiểu biết, ý thức sâu sắc về quyền của mình, và “vỡ lẽ” về những dối lừa. Đây chính là một cách khai dân trí. Và nó đòi hỏi lòng kiên nhẫn, tâm thế trường viễn và sự bền bỉ trong hành trình khai phát các giá trị cho một cộng đồng còn nhiều rối loạn và mù mờ.

  1. Chính quyền chỉ thay đổi khi người dân thay đổi.

Nghĩa là từng người dân sẽ phải ý thức về trách nhiệm của mình trước các sự hành xử của chính quyền. Việc chạy theo sự kiện có thể sẽ là bất tận và chẳng mang lại một hiệu quả thật sự nào cả nếu nó chỉ thuần túy để xả cái ẩn ức bất bình hay tệ hơn, một thói quen.

Nhưng sẽ là hữu ích khi ta gắn việc lên tiếng về những sự kiện ấy một cách có ý thức với việc chỉ ra những sai lầm trong quản trị và đánh thức dân chúng. Nhìn ở góc độ này, việc “chạy theo sự kiện” sẽ trở thành một phương tiện, một cách thức hợp lý cho quá trình khai dân trí. Khi 1/3 dân số đã trưởng thành thì một cuộc thay đổi mới có thể diễn ra, và kết quả của nó mới bền vững và tươi sáng. Một dân chúng u mê làm “cách mạng” thì dân tộc ấy bất hạnh.

Tôi chỉ có một hi vọng rằng, những người đang mong muốn về một thay đổi triệt để cho tương lai hưng thịnh của đất nước và hạnh phúc ấm êm của dân Việt sẽ giữ được sự kiên trì và thường trực cái ý thức khai trí ấy.

Ngăn chính quyền làm bậy chỉ là phụ, nâng cao dân trí mới là chủ đạo. Xin đừng nói rằng, họ (dân) biết cả đấy, vấn đề là họ chỉ biết rồi để đó chứ không hành động, nên nói lắm cũng bằng thừa. Xin thưa, không có mấy người thật sự “biết” một cách đúng nghĩa đâu, có chăng phần lớn là những bất mãn mơ hồ được nuôi lớn trong một cực đoan do thiếu nền tảng văn hóa.

Nguồn: Thái Hạo

ĐỐT SÁCH – Nguyễn Ngọc Chính

Anh Tran–Tao Hoang

Nguyễn Ngọc Chính

“Nơi nào người ta đốt sách thì họ sẽ kết thúc bằng việc đốt sinh mạng con người”.

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, thừa tướng Lý Tư đã đề nghị dẹp bỏ tự do ngôn luận để thống nhất chính kiến và tư tưởng. Lý Tư chỉ trích giới trí thức dùng ‘sự dối trá’ qua sách vở để tạo phản trong quần chúng.

Chủ trương Đốt sách, Chôn nho (Phần thư, Khanh nho) của Tần Thủy Hoàng được thực hiện từ năm 213 trước Công nguyên. Qua đó, tất cả những kinh điển từ thời Chư tử Bách gia (trừ sách Pháp gia, trường phái của Lý Tư) đều bị đốt sạch. Lý Tư còn đề nghị đốt tất cả thi, thư, sách vở, trừ những quyển được viết vào thời nhà Tần. Sách trong lĩnh vực triết lý và thi ca, trừ những sách của Bác sĩ (cố vấn nhà vua) đều bị đốt. Những nho sinh dùng sử sách để chỉ trích chính quyền đều bị hành hình. Những ai dựa vào chế độ cũ để phê phán chế độ mới sẽ bị xử tội chém ngang lưng.

Lý Tư tấu: “Thần xin rằng sử sách không phải do Tần ghi chép đều bị đem đốt. Ngoại trừ quan chức không phải là tiến sĩ thì trong thiên hạ không ai được phép cất giữ Thi, Thư, sách của Bách gia, tất cả đều phải đem đốt. Nếu dám dùng những lời ngụ ngôn trong Thi, Thư thì chém bêu đầu ở chợ. Lấy xưa mà chê nay thì giết cả họ. Quan lại thấy mà không tố cáo sẽ bị coi là đồng phạm. Nay lệnh trong ba mươi ngày mà không đem đốt, sẽ bị xăm mặt và bắt đi xây dựng trường thành”.

Năm 212 TCN, Tần Thuỷ Hoàng phát hiện ở Hàm Dương có một số nho sinh đã từng bình phẩm về mình liền hạ lệnh bắt để thẩm vấn. Các nho sinh không chịu nổi tra khảo, lại khai ra thêm một loạt người khác. Tần Thuỷ Hoàng hạ lệnh đem tất cả trên 460 nho sinh đó chôn sống ngoài thành Hàm Dương. Đốt sách, chôn Nho là hành vi được người đời sau coi là tàn bạo nhất của Tần Thủy Hoàng. Đó cũng là tội danh hàng ngàn năm sau vẫn còn ghi nhớ. Không riêng gì người Hán mà cả nhân loại lên án.

Trong thâm tâm, Tần Thủy Hoàng cũng như Lý Tư đều biết rất rõ, lệnh đốt sách không thể nào xóa sạch những tư tưởng trong đầu óc dân chúng, những cuốn sách ‘khó đốt’ nhất là nằm trong tinh thần con người. Như vậy, việc đốt sách thực tế chỉ là một thủ đoạn chứ không tạo được tác dụng triệt để trong việc xóa sạch vết tích văn hóa-chính trị như mong muốn.

***

Việt Nam vốn tự hào là quốc gia có hơn 4000 năm văn hiến, nhưng sách vở của người xưa để lại thì rất ít. Nguyên nhân chính là vì quân nhà Minh bên Tàu đã ra lệnh hủy hết sách vở ngay trong những ngày đầu đô hộ nước ta để dễ bề cai trị. Sau này, cuộc Cách mạng Văn hóa tại Trung Hoa từ năm 1953 đến 1966 cũng đã gây nhiều ảnh hưởng đến miền Bắc. Do đó, xét về mặt lịch sử, Việt Nam đã trải qua rất nhiều thời kỳ sách vở bị tiêu hủy cho phù hợp với những thay đổi qua các giai đoạn chính trị.

Trên thực tế, tại miền Bắc, ngay sau khi tiếp quản Hà Nội, việc kiểm duyệt sách báo, bài viết trước khi đem phổ biến ra công chúng đã được thực hiện ngay từ năm 1954. Đối với các loại sách báo đã in ra từ trước 1954 dưới thời Pháp thuộc cũng đã bị đốt. Thế cho nên, việc đốt sách tại miền Nam năm 1975 chỉ là rập khuôn của chính sách cũ năm 1954.

Hồi ký của Một người Hà Nội ghi lại sự kiện đốt sách năm 1954 khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản miền Bắc: “Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số ‘lớp Chín hậu phương’, năm sau sẽ sáp nhập thành ‘hệ mười năm’. Số học sinh ‘lớp Chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức Hiệu đoàn’, nhận ‘chỉ thị của Thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’. Họ truy lùng… đốt sách!

Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn ‘kiểm tra’, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang ‘tập trung’ tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm ‘phấn khởi’, lời hô khẩu hiệu ‘quyết tâm’, và ‘phát biểu của bí thư Thành đoàn’: Tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là… ‘cực kỳ phản động!’. Vào lớp học với những ‘phê bình, kiểm thảo… cảnh giác, lập trường”.

*

Tại miền Nam, trong thời điêu linh ngay sau ngày 30/4/1975, việc đốt sách được thể hiện qua chiến dịch Bài trừ Văn hóa Đồi trụy-Phản động. Tự bản thân khẩu hiệu trong chiến dịch đã nêu rõ 2 mục đích: (1) về chính trị, bài trừ các luồng tư tưởng phản động chống đối chế độ và (2) về văn hóa, xóa bỏ hình thức được coi là ‘đồi trụy theo hình thức tư bản’.

Một trong những việc làm cấp thiết của chính quyền mới khi miền Nam sụp đổ là niêm phong, tịch thu sách tại các thư viện. Những tác phẩm của nhà in, nhà xuất bản và nhà sách lớn tại Sài Gòn như Khai Trí, Sống Mới, Độc Lập, Đồng Nai, Nam Cường, Trí Đăng… đều bị niêm phong và cấm lưu hành.

Đội ngũ những người cầm bút miền Nam phải nói là rất đông và bao gồm nhiều lãnh vực. Về triết học phương Tây có Lê Tôn Nghiêm, Trần Văn Toàn, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Trần Bích Lan… Triết Đông có Nguyễn Đăng Thục, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Khắc Kham, Nghiêm Toản, Kim Định, Nhất Hạnh…

Phần biên khảo có Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Lê Ngọc Trụ, Lê Văn Đức, Lê Văn Lý, Trương Văn Chình, Đào Văn Tập, Phạm Thế Ngũ, Vương Hồng Sển, Thanh Lãng, Nguyễn Ngu Í, Nguyễn Văn Xuân, Lê Tuyên, Đoàn Thêm, Hoàng Văn Chí, Nguyễn Bạt Tụy, Phan Khoang, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Văn Sâm…

Về thi ca có Nguyên Sa, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Tô Thùy Yên, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Viên Linh, Hoàng Trúc Ly, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn, Du Tử Lê…. Phê bình văn học có Tam Ích, Cao Huy Khanh, Lê Huy Oanh, Đỗ Long Vân, Đặng Tiến, Uyên Thao, Huỳnh Phan Anh…

Đông đảo nhất là văn chương với Võ Phiến, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Bình Nguyên Lộc, Mặc Thu, Mặc Đỗ, Thanh Nam, Nhật Tiến, Nguyễn Thị Vinh, Phan Du, Đỗ Tấn, Nguyễn Mạnh Côn, Sơn Nam, Võ Hồng, Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Minh Đức Hoài Trinh, Nguyễn Đình Toàn, Chu Tử, Viên Linh, Duyên Anh, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Vũ Hạnh, Y Uyên, Cung Tích Biền, Duy Lam, Thế Uyên, Lê Tất Điều, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang, Nguyễn Thụy Long, Phan Lạc Tiếp, Thế Nguyên, Thế Phong, Diễm Châu, Thảo Trường, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Ngô Thế Vinh…

Toàn bộ sách ấn hành tại miền Nam của những tác giả nêu trên (còn một số người nữa mà người viết bài này không thể nhớ hết) đều bị ‘đánh đồng’ là tàn dư Mỹ-Ngụy, văn hóa nô dịch, phản động và đồi trụy. Các cấp chính quyền từ phường, xã, quận, huyện, thành phố ra chỉ thị tập trung tất cả các loại sách vở, từ tiểu thuyết, biên khảo cho đến sách giáo khoa để hỏa thiêu.

Không có con số thống kê chính thức nhưng người ta ước đoán có đến vài trăm ngàn sách báo và băng, đĩa nhạc bị thiêu đốt trong chiến dịch truy quét văn hóa phẩm đồi trụy-phản động tại Sài Gòn. Sách báo trên kệ sách trong nhà của tư nhân bị các thanh niên đeo băng đỏ lôi ra hỏa thiêu không thương tiếc. Tại các cửa hàng kinh doanh, sách báo bị thu gom để thiêu hủy, coi như đốt cháy cả cơ nghiệp lẫn con người những cá nhân có liên quan. Tất nhiên, những người có sách bị đốt cũng có phản ứng quyết liệt. Trong hồi ký Viết trên gác bút, nhà văn Nguyễn Thụy Long ghi lại một diễn biến trong vụ đốt sách năm 1975:

“Một cửa hiệu chuyên cho thuê truyện tại đường Huỳnh Quang Tiên bên cạnh nhà thờ Ba Chuông tại Phú Nhuận phát nổ khi đoàn thu gom sách mang băng đỏ xâm nhâp tiệm. Ông chủ nhà sách mời tất cả vào nhà. Rồi một trái lựu đạn nổ. Chuyện xảy ra không ai ngờ. Đương nhiên là có đổ máu, có kẻ mạng vong. Những chú nhỏ miệng còn hôi sữa, những cô bé chưa ráo máu đầu là nạn nhân vô tội. Trên cánh tay còn đeo tấm băng đỏ, quả thật súng đạn vô tình! Cả chủ tiệm cũng mạng vong”.

Nguyễn Thụy Long là cháu ruột nhà văn Nguyễn Bá Học nổi tiếng với câu “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Những tiểu thuyết của Nguyễn Thụy Long như Loan mắt nhung, Kinh nước đen cũng gian truân không kém cuộc đời của tác giả, chúng được xếp vào loại ‘văn hóa nô dịch’ nên phải lên giàn hỏa.

Năm 1975, Duyên Anh (Vũ Mộng Long) bị chính quyền mới coi như ‘một trong mười nhà văn nguy hiểm nhất của miền Nam’ với hơn 50 tác phẩm văn chương, trong đó nổi bật có Luật hè phố, Dzũng Đakao, Điệu ru nước mắt, Vẻ buồn tỉnh lỵ, Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thúy. Chế độ mới cấm ông viết lách và bắt giam không xét xử suốt sáu năm qua các nhà tù và trại tập trung.

Vượt biển sang Pháp, Duyên Anh tiếp tục viết và cho xuất bản gần hai mươi tác phẩm, trong đó có Un Russe à Saigon và La colline de Fanta do nhà Belfond xuất bản. Báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Pháp viết nhiều, nói nhiều về ông. Sử gia Piere Chaunu, giáo sư Đại học Sorbonne, coi Duyên Anh là ‘nhà thơ lớn, vinh quang của quốc gia’.

Đầu năm 1997, Duyên Anh từ trần tại Pháp. Dù muốn dù không, nhiều người ngậm ngùi nghĩ đến tác giả của truyện ngắn đọc đến mủi lòng, có tựa đề là Con sáo của em tôi đăng trên Chỉ Đạo năm 1956. Những truyện ngắn, truyện dài thật trong sáng của tuổi ô mai như Dưới dàn hoa thiên lý hoặc du côn du đãng như Dzũng Dakao… Tất cả lần lượt được hóa kiếp bằng ngọn lửa.

Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa – tư tưởng xuất bản sau năm 1975 có đoạn viết:

“… Một số người như Duyên Anh, Nhã Ca… chấp nhận chủ nghĩa chống Cộng với một thái độ hoàn toàn tự nguyện. Nhưng nếu xét gốc rễ thái độ thù địch của họ đối với cách mạng, thái độ đó có nguyên nhân ở sự tác động của chủ nghĩa thực dân mới. Họ vừa là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân. Nhưng nếu xét đến cùng họ cũng vừa là một nạn nhân của đường lối xâm lược tinh vi, xảo quyệt của Mỹ.

Dù xét dưới tác động nào, hoạt động chống Cộng bằng văn nghệ của đội ngũ những cây bút này cũng là những hoạt động có ý thức. Ý thức đó biểu hiệu trước hết trong thái độ chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới, chống lại một cách điên cuồng chủ nghĩa Cộng Sản…

Họ cho văn nghệ là sự chọn lựa một phạm vi hoạt động, một phương tiện để đạt mục đích và tự nguyện dùng ngòi bút của mình phục vụ cho chế độ. Thái độ tự nguyện của họ cũng đã có nhiều người tự nói ra. Vũ Hoàng Chương tự ví mình là ‘viên gạch để xây bức tường thành ngăn sóng đỏ’, Doãn Quốc Sĩ coi mình như một ‘viên kim cương, răng Cộng Sản không sao nhá được’…”

Trong vụ án được mệnh danh là Những tên Biệt kích Cầm bút năm 1986, một số nhà văn ra tòa tại Sài Gòn với tội ‘gián điệp’. Chính quyền mới muốn dựng một vụ án điển hình để đe dọa các nhà văn miền Nam nhưng bất thành vì áp lực từ bên ngoài. Theo kịch bản được dàn dựng, họ muốn xử Doãn Quốc Sĩ mức án tử hình hay chung thân, Hoàng Hải Thủy (từ chung thân đến 20 năm), Dương Hùng Cường (18 năm), Lý Thụy Ý (15 năm), Nguyễn Thị Nhạn (12 năm), Hiếu Chân Nguyễn Hoạt (10 năm) và Khuất Duy Trác cùng Trần Ngọc Tự (8 năm).

Tính ra Hoàng Hải Thủy (còn có bút danh Công tử Hà Đông, Con trai bà Cả Đọi…) ngồi tù ngót nghét 10 năm sau đó tìm đường vượt biên sang Mỹ. Tác phẩm của ông gồm đủ thể loại: tiểu thuyết đăng nhiều kỳ trên các báo, truyện phóng tác, bình luận, phiếm luận… Bây giờ tuy đã già nhưng vẫn còn viết rất hăng ở Rừng Phong.

Những nhà văn như Hoàng Hải Thủy, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long thường sinh sống bằng nghề viết báo bên cạnh việc viết văn. Trong lãnh vực báo chí, Sài Gòn vẫn được coi là trung tâm của báo chí với những nhật báo lớn đã xuất hiện từ lâu như tờ Thần Chung (sau đổi thành Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai), Sài Gòn Mới của bà Bút Trà… Khi người Bắc di cư vào Nam có thêm tờ Tự Do, tiếp đến là Ngôn Luận. Đó là những nhật báo lớn có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Hoạt động báo chí ở Saigòn càng ngày càng phát triển, theo Vũ Bằng, đến tháng 12/1963, ở Sài Gòn có tới 44 tờ báo ra hàng ngày.

Một đặc điểm của văn học miền Nam là việc hình thành các nhóm văn học. Nhóm Quan Điểm do Vũ Khắc Khoan thành lập với Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ. Quan Điểm (cũng là tên nhà xuất bản do Mặc Đỗ điều hành) được người đương thời gọi là nhóm ‘trí thức tiểu tư sản’, bởi tác phẩm của họ, trong những ngày đầu chia cắt đất nước sau hiệp định Genève, thường có những nhân vật mang nỗi hoang mang, trăn trở của người trí thức tiểu tư sản trước ngã ba đường: theo bên này, bên kia, hay đứng ngoài thời cuộc?

Theo Trần Thanh Hiệp, nhóm Sáng Tạo là một nhóm sinh viên hoạt động trong Tổng hội sinh viên Hà Nội, trước 1954, gồm bốn người: Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền và Trần Thanh Hiệp. Di cư vào Sài Gòn, họ tiếp tục hoạt động văn nghệ với tuần báo Dân Chủ (do Trần Thanh Hiệp và Thanh Tâm Tuyền phụ trách), rồi tờ Người Việt (tiền thân của tờ Sáng Tạo). Sau đó Mai Thảo gia nhập nhóm với truyện ngắn Đêm giã từ Hà Nội, rồi đến Lữ Hồ, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Quách Thoại.

Trên tạp chí Sáng Tạo, ngoài những tên tuổi kể trên người ta còn thấy Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu, họa sĩ Thái Tuấn. Sáng Tạo số đầu ra tháng 10/1956 và tạm ngưng ở số 27 (tháng 12/58). Sáng Tạo bộ mới chỉ đến số 7 (tháng 3/62).

Nhóm Bách Khoa ra đời tháng 1/1957 và sống đến ngày Sài Gòn sụp đổ. Bách Khoa là nguyệt san văn học nghệ thuật có tuổi thọ dài nhất với 426 số. Bách Khoa do Huỳnh Văn Lang điều hành trong những năm đầu. Đến 1963, khi Ngô Đình Diệm đổ, Huỳnh Văn Lang bị bắt, bị tù, nên giao hẳn cho Lê Ngộ Châu.

Bách Khoa quy tụ được nhiều tầng lớp nhà văn khác nhau thuộc mọi lứa tuổi. Những cây bút nổi tiếng cộng tác thường xuyên với Bách Khoa là Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, Nguyễn Ngu Ý, Vũ Hạnh, Võ Hồng, Đoàn Thêm, Nguyễn Văn Xuân, Bình Nguyên Lộc…. Theo Võ Phiến, trong thời kỳ cực thịnh, tức là khoảng 1959-1963, mỗi số Bách Khoa bán được 4500 đến 5000 bản.

Đắt khách nhất là tạp chí Văn của Nguyễn Đình Vượng, ra đời ngày 1/1964 và sống đến 1975. Văn do Trần Phong Giao trông nom trong 10 năm đầu, đến 1974 chuyển lại cho Mai Thảo. Văn cũng quy tụ được nhiều nhà văn ở nhiều lứa tuổi thuộc nhiều khuynh hướng, từ Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền đến Thế Uyên, Nguyễn Mạnh Côn, Bình Nguyên Lộc… Văn đặc biệt quan tâm đến việc dịch thuật và giới thiệu văn học nước ngoài. Trần Phong Giao cũng là một dịch giả nổi tiếng, còn có thêm Trần Thiện Đạo, sống ở Paris, dịch và viết về những phong trào văn học đang thịnh hành ở Pháp.

Tạp chí Văn hoá Ngày nay của Nhất Linh ra đời ngày 17/6/1958, được 11 số thì đình bản. Nguyễn Thị Vinh tiếp tục chủ trương tiếp các tờ Tân Phong, Đông Phương, theo chiều hướng Văn hoá Ngày nay.

Tạp chí Đại học, tờ báo của Viện đại học Huế do Linh mục Cao Văn Luận, viện trưởng, làm chủ nhiệm, ra đời năm 1958 ở Huế, và sống đến năm 1964. Trên Đại học, xuất hiện những bài đầu tiên của Nguyễn Văn Trung, người sau này có ảnh hưởng lớn đến thế hệ sinh viên và trí thức.

Về các nhóm, Viên Linh trong cuốn Chiêu niệm văn chương, cho biết: “Các nhà văn xuất hiện thường xuyên, trên nhật báo, qua các nhà xuất bản, nhất là trên các báo định kỳ, và thành từng nhóm. Lý lịch văn chương và sắc thái địa phương của họ rất tương đồng, tùy theo nhóm tạp chí trên đó họ góp mặt”.

Đa số các nhà văn miền Nam qui tụ trên các tờ tuần báo Đời Mới, Nhân Loại, và nhật báo như Tiếng Chuông, Sàigon Mới (Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Kiên Giang, Lưu Nghi, Thẩm Thệ Hà, Trang Thế Hy…). Các nhà văn gốc miền Trung xuất hiện trên tờ Văn Nghệ Mới, Bách Khoa (Võ Thu Tịnh, Nguyễn Văn Xuân, Võ Phiến, Đỗ Tấn, Vũ Hạnh, Bùi Giáng, Võ Hồng, Nguyễn Thị Hoàng); các nhà văn ‘di cư’ có mặt trên các tờ Đất Đứng, Sáng Tạo, và trên các nhật báo như Tự Do, Ngôn Luận (Đỗ Thúc Vịnh, Nguyễn Hoạt, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Sỹ Tế, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền) hay Văn Nghệ (Lý Hoàng Phong, Dương Nghiễm Mậu, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn), Hiện Đại (Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Nhã Ca). Tờ Chỉ Đạo, Phụng Sự, Tiền Tuyến quy tụ các nhà văn quân đội hay quân nhân đồng hoá như Nguyễn Mạnh Côn, Mặc Thu, Thanh Nam, Phan Nhật Nam, Thảo Trường…

Khuynh hướng Phật giáo có các tờ Tư Tưởng, Vạn Hạnh với Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Hữu Hiệu; khuynh hướng Thiên chúa giáo La mã có Hành Trình, Đối Diện với Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Diễm Châu, Thế Nguyên. Mặc dù khi đó đảng Cộng Sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, song các nhà văn theo Cộng Sản như Nguyễn Ngọc Lương, Minh Quân, Vũ Hạnh vẫn tạo được diễn đàn riêng trên Tin Văn hay hiện diện trong tổ chức Văn Bút dưới thời linh mục Thanh Lãng làm chủ tịch.

Những tờ như Văn, Phổ Thông, Văn Học, qui tụ các nhà văn không có lập trường chính trị rõ rệt, họ thuần túy làm văn thơ cổ điển như Đông Hồ, Mộng Tuyết, Nguyễn Vỹ, Bùi Khánh Đản, hay văn nghệ thời đại, sinh hoạt thành phố như Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng. Những tờ về nghệ thuật hay về phụ nữ quy tụ các nhà văn như Tùng Long, An Khê, Lê Xuyên, Nguyễn Thụy Long, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang…

Về giới cầm bút sau 1963, Nguyễn Văn Trung viết: “Giới cầm bút sau 1963, họ là những người hồi 1954 trên dưới mười tuổi theo gia đình vào Nam hoặc sinh trưởng và lớn lên ở miền Nam hầu hết có tú tài và tốt nghiệp đại học. Số lượng giới trẻ cầm bút này càng ngày càng đông đảo theo đà thành lập các đại học ở các tỉnh Huế, Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Long Xuyên, Tây Ninh và các đại học tư ở Sàigòn như Vạn Hạnh, Minh Đức…”

Những nhà văn trẻ đã trưởng thành về tuổi đời và nhận thức sau 1963, trong hoàn cảnh nhiều xáo trộn chính trị-xã hội, chiến tranh mở rộng với sự can thiệp ồ ạt của quân đội nước ngoài. Thời cuộc và chính trị ảnh hưởng trực tiếp đến họ vì bị động viên hay quân dịch… Do đó, họ có lối nhìn thời cuộc đất nước và nghệ thuật văn học khác hẳn với lối nhìn của những đàn anh viết từ trước 1963… Thơ văn giới trẻ viết sau 1963 thường theo một xu hướng chung, phản ánh vũ trụ Kafka, như tên đặt cho một số đặc biệt về thơ văn của Hành Trình, hoặc phản ánh thân phận những nhân vật Việt Nam tương tự những nhân vật trong tiểu thuyết Giờ thứ hai mươi lăm của Gheorghiu.

Nhờ hệ thống báo chí phát triển, quần chúng độc giả bao gồm nhiều thành phần trong khi các nhà văn nổi tiếng như Mai Thảo, Bình Nguyên Lộc, Túy Hồng, Nhã Ca, Duyên Anh, Chu Tử, Thanh Nam… đều sống bằng ngòi bút một cách dư giả. Họ là những người viết chuyên nghiệp, thậm chí nhiều nhà văn có nhà xuất bản riêng.

Nguyễn Hiến Lê trong 30 năm biên khảo và dịch thuật đã viết được 100 quyển sách trước 1975, và 20 cuốn thời gian sau đó. Nguyễn Văn Trung, ngoài lượng sách về triết học, văn học, in trước 1975, trong những công trình sau 1975, có bộ Lục Châu Học, nghiên cứu về văn học miền Lục tỉnh Nam Kỳ. Những nhà văn như Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo… cũng đều có những số lượng tiểu thuyết trên dưới 30 cuốn. Về sáng tác, số lượng tỷ lệ nghịch với chất lượng và đó là cái giá mà nhà văn phải trả.

Về đối tượng độc giả, có thể nói, lớp trẻ ‘bụi đời’ thích đọc Duyên Anh, lớp sống vũ bão thích Chu Tử. Phụ nữ thích Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca vì họ phản ảnh đời sống người phụ nữ tân tiến. Lớp trí thức thích cách đặt vấn đề của Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng. Lớp trẻ lãng mạn giao thời thích đọc Mai Thảo. Tuy nhiên, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu là những tác giả đòi hỏi người đọc một trình độ trí thức cao. Quần chúng bình dân thích Lê Xuyên, Tùng Long… Học sinh trường Tây đọc văn chương ngoại quốc qua tiếng Pháp, tiếng Anh. Học sinh trường Việt đọc các tác phẩm ngoại quốc qua bản dịch hoặc phóng tác.

Bộ sách Văn Học Việt Nam Nơi Miền Đất Mới của Nguyễn Q. Thắng xuất bản sau năm 1975 có đề cập tới 53 ‘văn gia’ của VNCH, mỗi người được tác giả gắn cho một nhãn hiệu. Chẳng hạn, Nguyễn Văn Trung là ‘nhà văn nhập cuộc’, Cao Xuân Hạo ‘nhà lập thuyết ngữ học’, Nguyễn Ngọc Lan ‘nhà văn Công giáo, nhà báo dấn thân’, Thanh Việt Thanh (?) ‘nhà văn cần cù’, Thế Uyên ‘nhà văn nhập cuộc’, Viên Linh ‘hoàng đế’, ‘nhà độc tài’ văn học’ (!?), Hồ Trường An ‘dược sĩ (?), nhà văn’…

Những nhà văn nữ như Nguyễn Thị Thụy Vũ được khoác cho cái nhãn ‘nhà văn nữ giầu tình dục’, Túy Hồng ‘nữ văn sĩ giầu tính nhục cảm’, Nguyễn Thị Hoàng ‘nhà văn trẻ của tình lụy’, Thu Vân (?) ‘nhà văn dùng tính dục để giải quyết vấn đề’…

Một điều không ai có thể phủ nhận là miền Nam trước khi có chiến dịch đốt sách năm 1975 rất phong phú về sách báo, từ sáng tác đến dịch thuật, từ chính luận đến phiếm luận. Điều chắc chắn là trong số các tác phẩm đó ‘có vàng’ nhưng cũng ‘có thau’. Người đọc đủ sáng suốt để lọc ra những gì với họ là tinh túy để giữ lại, hoặc dấu nếu cần.

Khi người Bắc di cư vào Nam năm 1954, họ rất ngạc nhiên khi thấy những người đạp xe xích lô đến buổi trưa, tìm chỗ mát nghỉ ngơi. Họ ngồi gác chân đọc nhật trình. Người bình dân miền Nam có truyền thống đọc sách báo mà ở ngoài Bắc không có. Ngay từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 miền Nam đã là vùng đất của tiểu thuyết và báo chí trong khi ngoài Bắc, sách vở, báo chí phần lớn chỉ dành cho người có học.

Miền Nam vào những thập niên 60-70 lại có hiện tượng giao thoa giữa hai nền văn hóa Pháp và Mỹ với sự du nhập ồ ạt của các loại sách Livre de poche của Pháp và các loại sách soft cover của Mỹ. Giá sách nói chung tương đối rẻ vì mục đích chính là phổ biến văn hóa, thương mại chỉ là phụ.

Người đọc có thể tìm loại sách IC (Information & Culture) dưới hình thức sách bỏ túi (Livre de Poche) của Pháp bày bán tại các nhà sách Sài Gòn trước 1975 một cách dễ dàng. Nếu có chút vốn liếng về tiếng Pháp, người ta có thể tìm đọc những tác phẩm cổ điển của Platon, Homère hoặc các tác phẩm đương đại của Albert Camus, Jean-Paul Sartre, Saint Exupéry, Francoise Sagan…

Quân đội Mỹ ào ạt đổ bộ vào miền Nam, nhưng văn hoá Mỹ có vai trò áp đảo hay không? Theo giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, “Thời chiến tranh lạnh, với thế lưỡng cực trên thế giới, miền Nam nằm trong vùng ảnh hưởng Mỹ, và như vậy là có thêm tác nhân mới. Tuy nhiên, văn hoá Mỹ, theo gót đoàn quân viễn chinh, cũng chưa thể gọi là có ảnh hưởng gì sâu đậm. Ở lối sống, ở những giai tầng thấp thì có thể gọi là có ảnh hưởng một cách xô bồ, nhưng ở thượng tầng thì chưa”.

Hoa Kỳ thành lập cơ quan thông tin-văn hóa JUSPAO (Joint United States Public Affairs Office) và tạp chí Thế giới Tự do được phát hành miễn phí cho mục đích tuyên truyền. Đây là báo ảnh, được in ấn bằng phương tiện tối tân nên rất hấp dẫn người đọc.

Cũng có một nguồn cung cấp sách tiếng Anh hoàn toàn miễn phí nhưng rất ít người biết để đem về kệ sách riêng của mình. Đó là sách của Asia Foundation (Cơ quan Viện trợ Văn hóa Á Châu) một tổ chức phi mậu dịch, tặng không cho người đọc là quân nhân, công chức với số lượng hạn chế mỗi lần 5 quyển cách nhau 3 tháng.

Tôi là ‘khách hàng’ thường xuyên của Asia Foundation. Sách của Asia Foundation là loại sách viện trợ thuộc đủ mọi lĩnh vực, trên sách có đóng dấu bằng 2 thứ tiếng “Not for sale” và “Xin đừng bán”. Nếu gặp may, bạn có thể gặp những sách thuộc loại ‘quý, hiếm’.

Tôi còn giữ được một bộ 2 cuốn World Masterpieces (dày khoảng 3000 trang in lại những kiệt tác văn chương của thế giới qua các thời kỳ như Iliad của Homer, Don Quixote của Miguel de Cervantes, Hamlet của William Shakespeare, Thoughts (Les Pensées) của Blaise Pascal, Faust của Von Goethe, The Death of Iván Ilyich của Leo Tolstoy, Theseus (Thésée) của Andre Gide, Remembrance of Things Past của Marcel Proust, No Exit của Jean-Paul Sartre…

Một số sách xuất bản ở miền Nam trước 1975 nay đã được in lại, và càng ngày càng có một nhu cầu muốn tìm hiểu và phục hồi lại nền văn học đã mai một này. Hơn nữa, tên tuổi và tác phẩm của những nhà văn nổi tiếng ở miền Nam đã xuất hiện khá nhiều trên Internet. Sau 1975, Từ điển văn học bộ mới cũng được phép in một số mục từ về Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng…

Chỉ tiếc một điều là một số sách báo xưa đã biến mất sau đại họa 1975 và chỉ còn lưu giữ rất hạn chế tại các thư viện tại hải ngoại dưới hình thức microfilm. Rồi người ta cũng quên đi ‘bữa tiệc BBQ’ nhưng vấn đề là những thế hệ sau này sẽ mất hẳn sợi dây liên lạc bằng sách báo với quá khứ.

Kết thúc bài viết này, tác giả xin mượn ý thơ của Vũ Đình Liên than thở cho thân phận ông đồ trước cảnh tàn lụi của nền nho học:

Năm nay đào lại nở

Không thấy sách báo xưa

Ngọn lửa nào năm cũ

Lạc về đâu bây giờ?

Hoa Kỳ chính thức gia nhập trở lại UNESCO

RFI

Bất chấp sự phản đối của Trung Quốc và Nga, Hoa Kỳ đã chính thức gia nhập trở lại UNESCO, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc, vào thứ Sáu 30/06/2023, sau hơn 4 năm vắng bóng tại định chế quốc tế này.

Đăng ngày: 01/07/2023

Tổng giám đốc UNESCO Audrey Azoulay thông báo Hoa Kỳ xin được quay trở lại tổ chức. Paris, Pháp, ngày 12/06/2023. AFP – ALAIN JOCARD

Thùy Dương

AFP cho biết trong số 193 nước thành viên UNESCO, 15 nước bỏ phiếu trắng và 10 nước phản đối, nhưng 132 nước đã bỏ phiếu ủng hộ việc trở lại của Mỹ. Phát biểu với AFP, Denise Bauer, đại sứ Mỹ tại Pháp, nước đặt trụ sở UNESCO, khẳng định : « Chúng tôi thực sự hài lòng về sự hỗ trợ này. (…) Việc tham gia tổ chức đa phương này quan trọng đến mức chúng tôi rất vinh dự được gia nhập trở lại » UNESCO.

Về phía tổng giám đốc UNESCO, bà Audrey Azoulay nhấn mạnh : « Đây là một ngày quan trọng, một thời điểm lịch sử ».

Bên cạnh Trung Quốc và Nga, một số nước như Iran, Syria, Bắc Triều Tiên … cũng phản đối sự gia nhập trở lại của Mỹ. Riêng phái đoàn Nga đã nhiều lần phát biểu về thủ tục và về bản dự thảo nhằm làm chậm các cuộc tranh luận về sư trở lại của Washington. Một nhà ngoại giao Nga tuyên bố Mỹ đã làm « méo mó, biến dạng không gian này », rằng « những người bảo vệ nền dân chủ và pháp quyền đang bắt đầu dẫn chúng ta đến việc vi phạm các quy tắc này », đồng thời đòi hỏi Mỹ phải thanh toán đầy đủ các khoản nợ UNESCO trước khi tái gia nhập tổ chức này, trong khi Washington đề xuất trả nợ dần dần.

Iran thì xem « cách Mỹ đòi trở lại là không thể chấp nhận được » vì giống như việc « vi phạm tinh thần Hiến chương » của tổ chức UNESCO.

Xin nhắc lại, dưới thời tổng thống Mỹ Donald Trump, vào năm 2017, Washington đã rút khỏi UNESCO với lý do tổ chức này thiên vị, chống Israel. Quyết định của Mỹ chính thức có hiệu lực từ tháng 12/2018. Israel khi đó cũng tuyên bố rút khỏi UNESCO.